2. TỪ TỐN VÀ KHIÊM NHƯỜNG
Chúng ta sắp nói về sự khiêm nhường, vì khiêm nhường là cách chuẩn bị tốt nhất để đón nhận Chúa Thánh Thần. Tôi cũng muốn bổ túc giáo huấn về “cơn say từ tốn Thần Khí”, bằng cách khai triển một điểm vừa mới đề cập trong dịp này: ý nghĩa của tính từ “từ tốn”. Việc có “cơn say” Thần Khí, như đã xảy ra vào chính ngày lễ Ngũ Tuần, là tùy thuộc vào Thiên Chúa; nhưng chính chúng ta phải “từ tốn” và điều đó cũng có nghĩa là “khiêm nhường”.
Sự khiêm nhường của Đức Giêsu
Đức Giêsu kết luận dụ ngôn về những khách được mời dự tiệc bằng cách quả quyết rằng ai đưa mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được đưa lên. Nhưng hạ mình nghĩa là gì? Tôi chắc nếu hỏi nhiều người xem sự khiêm nhường có nghĩa gì đối với họ, thì có bao nhiêu người là có bấy nhiêu câu trả lời, mỗi người nói lên một phần sự thật, nhưng câu trả lời không đầy đủ. Nếu tôi hỏi một người đàn ông mà, do tính khí, có xu hướng bạo lực và áp đặt quan điểm của mình bằng vũ lực, có lẽ anh ta sẽ trả lời: “Khiêm nhường là không lên giọng, không áp chế gia đình, dịu dàng và hòa giải hơn…” Nếu tôi hỏi một thiếu nữ cùng câu hỏi đó, có lẽ cô ấy sẽ trả lời: Khiêm nhường không phải là hợm hĩnh, không muốn thu hút ánh mắt của người khác, không chỉ sống cho bản thân hoặc với vẻ bề ngoài…” Một linh mục sẽ trả lời: “Khiêm nhường có nghĩa nhận mình là tội nhân.” Nhưng người ta thấy rõ: như vậy, vẫn chưa đi tới tận gốc rễ của sự khiêm nhường.
Để khám phá ra gốc rễ thực sự của khiêm nhường, cũng như mọi khi, chúng ta phải nhìn về vị Thầy duy nhất: Đức Giêsu. Ngài nói: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Tôi thú thực đôi khi câu nói này của Đức Giêsu đã làm tôi vô cùng kinh ngạc. Là vì, Đức Giêsu cho thấy sự khiêm nhường của mình ở chỗ nào? Đọc trong Phúc Âm, người ta không bao giờ thấy Đức Giêsu thú nhận mình mắc một lỗi lầm nào. Đây là một trong những bằng chứng thuyết phục nhất về duy nhất tính và thần tính của Đức Kitô: Đức Giêsu là người duy nhất đã đi qua trên thế gian, đã gặp cả bạn lẫn thù mà không cần phải thú nhận: “Tôi đã sai!”, không bao giờ cần xin tha thứ, ngay cả với Chúa Cha. Lương tâm của Ngài tinh tuyền và trong sáng như pha lê: không một tình cảm tội lỗi nào lướt qua Ngài. Người ta không thể nói như thế về bất cứ ai khác, về bất kỳ nhà sáng lập tôn giáo nào.
Do đó, Đức Giêsu không khiêm nhường, nếu chúng ta hiểu khiêm nhường là đánh giá thấp bản thân, thú nhận mình sai. “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8,46). Thế mà cũng chính Đức Giêsu này đã đã dám bảo đảm: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Vậy điều này muốn nói rằng sự khiêm nhường không phải như chúng ta thường nghĩ, nhưng là điều gì khác phải khám phá trong Phúc Âm.
Đức Giêsu đã làm gì để có thể là và cho mình là “khiêm nhường”? Một điều rất đơn giản: Ngài đã hạ mình. Nhưng không phải trong tư tưởng hay lời nói. Không phải vậy! Chính trong những việc làm mà Đức Giêsu đã hạ mình, đã chịu nhục. Mặc dù Ngài đang mang thân phận Thiên Chúa, trong vinh quang, nghĩa là trong điều kiện mà người ta không thể muốn gì hơn hoặc không có gì tốt hơn, thì Ngài đã hạ mình; Ngài đã mặc lấy thân nô lệ, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết (x. Pl 2,6tt). Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận nô lệ, nhưng sự hạ mình của Ngài không dừng lại ở đó; Ngài đã tiếp tục hạ mình trong suốt cuộc đời. Ngài quỳ xuống rửa chân cho các tông đồ và nói: “Thầy ở giữa anh em như người phục vụ” (Lc 22,27). Ngài tiếp tục hạ mình cho đến chỗ vượt qua điểm mà không thụ tạo nào có thể chạm tới: cái chết. Chính ở đó, vào lúc tột cùng của sự hạ mình, Ngài được trở lại nhờ quyền năng của Chúa Cha, nghĩa là Chúa Thánh Thần, Đấng chộp lấy thi hài Đức Giêsu trong mộ, làm cho xác sống và sống lại, đưa lên tầng trời cao nhất, ban cho Danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu và truyền cho mọi người phải bái quỳ trước mặt Ngài. Đây là một mẫu gương cụ thể, là sự thực hiện hoàn hảo lời nói: “Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.”
Nhìn dưới góc độ hành động của Đức Kitô, sự khiêm nhường không còn là vấn đề của tình cảm, cho mình là hèn mọn. Đúng hơn, nó trở thành một vấn đề về sự kiện, về những hành động cụ thể; không phải là vấn đề của từ, nhưng là vấn đề của thực tế, của hành động. Khiêm nhường là sẵn sàng hạ mình, trở nên nhỏ bé và phục vụ anh em; khiêm nhường là ý muốn phục vụ. Và làm điều đó chỉ vì một mục đích: tình yêu. Ngay cả những người không phải Kitô hữu cũng có thể đi tới chỗ phục vụ anh em mình và trong một số trường hợp, họ thậm chí còn là tấm gương cho chúng ta trong cách đối xử với những người nghèo và những người sống bên lề. Sự khác biệt nằm ở chỗ đối với một Kitô hữu, sự sẵn sàng phục vụ này phải được gợi hứng và có thể nói là được tóm gọn trong tình yêu.
Một cách nào đó, người ta có thể nói rằng khiêm nhường là cho không, đó là việc hạ mình mà không tìm kiếm lợi ích cá nhân và không tính toán. Dụ ngôn những vị khách dự tiệc tiếp tục bằng những lời của Đức Giêsu: “Khi ông đãi tiệc, hay mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc” (Lc 14,13tt). Đây là một dịch vụ miễn phí, bởi vì không mong được đền ơn. Khi đó, sự khiêm nhường trở thành chị em song sinh của lòng bác ái, một khía cạnh của agapè mà thánh Phaolô ca ngợi trong chương 13 của thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô. Khi thánh Tông Đồ nói rằng bác ái “không ghen tương, không vênh vang, không làm điều gì bất chính…”, thì ngài muốn nói rằng bác ái là khiêm nhường, và khiêm nhường là bác ái.
Vậy, khiêm nhường theo gương Đức Giêsu có nghĩa là tiêu hao sức lực cách nhưng không, không chỉ sống cho mình (x. 2Cr 5,15). Khi người ta tìm kiếm sự tán thành và công nhận của anh em, người ta thiếu khiêm nhường vì vi phạm sự nhưng không. Ở đó người ta tìm kiếm phần thưởng riêng của mình. Tôi có thể đến một nơi nào đó để có bài phát biểu và trở về nhà với phần thưởng gấp đôi: hoặc bằng tiền hoặc bằng cách hài lòng với bản thân. Trong cả hai trường hợp, Đức Giêsu nói với tôi: ngươi đã nhận được phần thưởng của mình.
Khiêm nhường và từ tốn
Sự khiêm nhường hiếm khi trong sáng và tinh tuyền như vậy. Nó cũng luôn liên quan đến điều gì đó phủ định, một sự từ bỏ bản thân, phủ nhận những gì không ngay thẳng trong ý định và hành động của chúng ta. Một sự hạ mình, trước khi đi tới người khác. Khi Đức Giêsu hạ mình, Ngài làm như vậy từ một tầm cao thực sự, khách quan, vì Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa (Ga 6,69). Ngược lại, khi con người chúng ta hạ mình, chúng ta làm như vậy không từ một tầm cao thực sự, tầm cao thật, mà từ một tầm cao giả, một tầm cao không thật; chúng ta hạ mình so với tầm cao mà chúng ta đã tự nâng mình lên một cách không chính đáng bằng sự kiêu ngạo, phù phiếm, tức giận… Vì vậy, khiêm nhường bao giờ cũng là một đức tính “phủ định”, nhằm phủ nhận điều gì đó không tốt nơi chúng ta, khiến chúng ta đưa mình lên trên người lân cận.
Theo nghĩa này, người ta nói đúng rằng khiêm nhường là sự thật. Đó là tái lập sự thật về bản thân, nhận ra rằng chúng ta không ở trên người khác, mà đúng hơn là ở dưới. Thánh Têrêxa Avila viết: “Một ngày nọ, khi tôi đang thắc mắc tại sao Chúa chúng ta lại yêu mến đức khiêm nhường đến vậy, dường như tôi không suy xét trước, thì đột nhiên điều sau đây có vẻ hiển nhiên đối với tôi, đó là: Thiên Chúa là Sự Thật tối cao, và khiêm nhường chính là ở trong Sự Thật”[7]. Thánh Phaolô cũng nói về sự khiêm nhường bằng những lời như sau: “Ai tưởng mình là gì, mà kỳ thực không là gì hết, thì là lừa gạt chính mình” (Gl 6,3). Đối với thánh Tông Đồ, người ta hẳn có thể nói rằng khiêm nhường trên hết là từ tốn theo nghĩa thiêng liêng, nghĩa là một tình cảm từ tốn, lành mạnh, không thái quá, không cuồng nhiệt trong tương quan với chính mình. Ngài nói: “Đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức” (Rm 12,3). Nguyên văn tiếng Hy lạp nói: “Hãy đánh giá mình cho từ tốn.” Thánh Phaolô nhấn mạnh khi nói: “Anh em đừng cho mình là khôn ngoan” (Rm 12,16)
Sự khiêm nhường–từ tốn này cho phép mỗi người ở trong sự thật trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta không theo đuổi một chân lý trừu tượng, không muốn như nhà phân tâm học tìm cách dẫn dắt một người đi đến sự thật về bản thân, để giải thoát anh ta khỏi những mặc cảm. Chúng ta theo đuổi một sự thật khác; sự thật trước mặt Thiên Chúa ngay cả trước khi đối diện với chính mình và những người khác. Kinh Thánh cho biết Thiên Chúa nhân từ và rộng lượng đối với người chân thành, nhưng Người trở nên “mưu mẹo” đối với kẻ gian ngoan, nghĩa là đối với kẻ có tấm lòng dối trá (x. Tv 18,27). Trên hết Thiên Chúa đòi hỏi nơi tất cả những ai đến gần Người một “tâm hồn chân thật” (x. Tv 51,8).
Sự khiêm nhường của Thiên Chúa
Tôi nói sự khiêm nhường có những khía cạnh phủ định nơi chúng ta, những khía cạnh khước từ, hy sinh, thập giá, chính vì chúng ta là tội nhân và chúng ta phải loại bỏ những điều xấu trong mỗi hành động của chúng ta. Nhưng nếu vậy, chúng ta có thể tìm thấy sự khiêm nhường này ở đâu, sự khiêm nhường thậm chí sẽ không chết vào lúc chết và không liên quan gì đến tội lỗi?
Câu trả lời đầu tiên xuất hiện ngay trong trí là: nơi Đức Giêsu Nadaret! Nhưng suy cho kỹ, chúng ta thấy rằng ngay cả nơi Đức Giêsu, chúng ta cũng không tìm thấy sự khiêm nhường này trong trạng thái tinh tuyền, không liên quan gì đến tội lỗi. Đúng là Đức Giêsu không có tội, vô tội và thánh thiện; Ngài đã không có tội, nhưng đã gánh lấy tội lỗi của mọi người và, trước mặt Thiên Chúa, Ngài bị coi là “tội lỗi”. Do đó, ngay cả nơi Đức Giêsu, sự sỉ nhục bằng cách vâng lời cho đến chết cũng cho thấy một khía cạnh chuộc tội, và nhắc tới tội. Chỉ khi nào Ngài trở lại trong vinh quang, ngày tận thế – như thư Do thái nói – Ngài sẽ không còn liên hệ gì với tội lỗi nữa (x. Dt 9,28).
Vậy chúng ta sẽ – và cho phép tôi nhấn mạnh điểm này – tìm thấy ở đâu sự hạ mình tinh tuyền và nhưng không dẫn đến việc phục vụ vì tình yêu? Phải đi tới nguồn mạch, nơi mà đức khiêm nhường múc lấy tất cả sức mạnh của nó. Sự khiêm nhường, người ta thấy nó nơi Thiên Chúa, nơi Ba Ngôi!
Có một lời cầu nguyện của thánh Phanxicô Assisi, chắc chắn rất xác thực (do tay ngài viết và được lưu giữ tại Assisi trong Vương cung thánh đường thánh Phanxicô), được gọi là Ca ngợi Thiên Chúa, trong đó thánh nhân ca lên một bài tuyệt vời ngợi khen Một Thiên Chúa Ba Ngôi, một trong số những lời của bài ca như sau: Chúa là bác ái, Chúa là khôn ngoan, Chúa là khiêm nhường, Chúa là kiên nhẫn, Chúa là vẻ đẹp, Chúa là bảo đảm, Chúa là công chính, Chúa là tiết độ…” Khi tôi đọc câu: “Chúa là khiêm nhường” lần đầu tiên tôi tự nhủ: “Ôi thánh Phanxicô, Cha của con, con không còn hiểu Cha nữa! Có lẽ Cha đã để mình bị bắt chôp; Cha đã liệt kê các nhân đức thấy nơi Thiên Chúa và Cha đã đặt trong đó sự khiêm nhường, mà không nghĩ rằng khiêm nhường là một nhân đức không thể có nơi Ba Ngôi, vì Ba Ngôi chỉ là vinh quang, thánh thiện, huy hoàng.” Nhưng chính tôi đã lầm! Thánh Phanxicô đã đúng. Với những lời này, ngài thậm chí đã cho chúng ta một trong những định nghĩa nhạy cảm và tuyệt vời nhất về Thiên Chúa: Thiên Chúa là khiêm nhường!
Nếu khiêm nhường có nghĩa là vì yêu mà hạ mình, thì khi ấy Thiên Chúa là khiêm nhường vì từ địa vị của Ngài, Ngài chỉ có thể hạ mình mà thôi; không có gì ở trên Ngài, Ngài không thể vươn lên trên. Khi làm điều gì đó “hướng ngoại” (ad extra), Thiên Chúa chỉ có thể “hạ mình”, tự hạ. Và Ngài đã luôn làm như vậy kể từ khi tạo thành thế giới. Lịch sử cứu độ chỉ là lịch sử của những “sỉ nhục” mà Thiên Chúa đã phải chịu. Thánh Phanxicô đã nhìn lịch sử này như thế: “Này đây mỗi ngày Ngài hạ mình như khi từ ngai vàng của Ngài, Ngài đã vào trong lòng Đức Trinh Nữ. Mỗi ngày từ trong cung lòng của Chúa Cha Ngài đã xuống trên bàn thờ trong tay linh mục”[8]; và nói về Thánh Thể, thánh nhân kêu lên: “Này anh em, hãy nhìn xem sự khiêm nhường của Thiên Chúa!”[9]
Đó là một ý tưởng người ta đã thấy nơi các Giáo Phụ. Các ngài nói về synkatàbasis của Thiên Chúa, được dịch là “hạ cố”, nghĩa là làm cho bản thân trở nên nhỏ bé để có thể đến gần con người và xuống vào hàng ngũ con người. Thánh Gioan Kim Khẩu – người đặc biệt thích từ này – nói rằng chính sự sáng tạo đã là một hành động hạ cố của Thiên Chúa; rằng sự mạc khải Kinh Thánh – sự kiện Thiên Chúa bắt đầu lắp bắp tiếng nói của con người – là một hành vi hạ cố của Thiên Chúa; cũng hệt như vậy, đặc biệt là sự Nhập Thể.
Ngay cả lễ Ngũ Tuần cũng là một hành vi khiêm nhường của Thiên Chúa. Tại sao người ta lại nói Chúa Thánh Thần “xuống”, nếu không phải vì cùng một lý do, nghĩa là vì mọi sự can thiệp của Thiên Chúa làm lợi cho con người đều là một sự hạ cố, một sự sỉ nhục? Trong trường hợp lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần hạ mình, mặc lấy những dấu chỉ hèn mọn như lửa, gió, tiếng nói. Ngài hạ mình đến nỗi cư ngụ nơi người trần mắt thịt, biến họ thành đền thờ của mình.
Khi đó tôi hiểu tại sao thánh Phanxicô viết trong Bài ca Tạo vật: “Lạy Chúa, xin ngợi khen Chúa vì chị nước của chúng con, chị rất hữu ích, khiêm nhường, quý giá và tinh sạch.” Nước thì khiêm nhường vì, cũng như Thiên Chúa, nó không bao giờ đi lên so với vị trí của nó, nhưng nó đi xuống, luôn đi xuống, cho đến khi nó đạt đến điểm thấp nhất; nó luôn có xu hướng chiếm chỗ cuối cùng.
Thiên Chúa là khiêm nhường. Và chúng ta, chúng ta phải khiêm nhường để là con cái của Cha chúng ta, để “giống” Cha chính đáng của chúng ta. Chúng ta phải khiêm nhường để giống Cha chúng ta trước nguy cơ người ta nói cho chúng ta nghe những gì Đức Giêsu đã nói với những người Pharisêu, những người nghĩ mình là con cái Abraham: “Còn các ông, các ông làm những việc của một người cha không phải là Abraham…” (x. Ga 8,38tt).
Thực tập khiêm nhường
Giờ đây chúng ta có thể một lần nữa đặt ra câu hỏi ban đầu: “Khiêm nhường là gì?”, nhưng từ một quan điểm khác, sâu sắc hơn nhiều. Khiêm nhường có phải là một thái độ đối với chính mình, đối với người khác, hay đối với Thiên Chúa không? Cách đây vài năm, tôi đã viết một bài suy niệm về sự khiêm nhường, trong đó tôi lập luận rằng đó không phải là một thái độ đối với mình hay đối với người khác, nhưng chỉ đối với Thiên Chúa mà thôi. Giờ đây tôi muốn đính chính lại điều tôi đã nói: khiêm nhường cùng một lúc là tất cả những đối tượng đó, nó là một cách để tự định vị đối với chính mình, đối với người khác và đối với Thiên Chúa.
Trước đó tôi đã khẳng định khiêm nhường là chị em song sinh của bác ái; bác ái được thể hiện qua hai thái độ có liên hệ rất mật thiết với nhau: “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng ngươi và người lân cận như chính mình”, khiêm nhường cũng phải vậy. Sự khiêm nhường thực sự hệ tại ở chỗ khiêm nhường đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận. Người ta không thể khiêm nhường trước Thiên Chúa, trong kinh nguyện, nếu người ta không khiêm nhường trước anh em. Bởi vì nếu bạn không khiêm nhường đối với người anh em mà bạn thấy, làm sao bạn có thể nói rằng bạn khiêm nhường đối với Thiên Chúa mà bạn không thấy? Nếu bạn không rửa chân cho người anh em mà bạn thấy, thì bạn muốn rửa chân cho Thiên Chúa mà bạn không thấy, điều đó có nghĩa gì? Chân của Thiên Chúa, đó là anh em của bạn! Người ta có thể nói về sự khiêm nhường như thánh Gioan nói về bác ái (x. 1Ga 4,20).
Có những người (trong đó chắc chắn có tôi) có khả năng nói ra tất cả những điều xấu có thể có và tưởng tượng ra được, về bản thân họ; những người, trong khi cầu nguyện, tự buộc tội mình với sự thẳng thắn và can đảm đáng ngưỡng mộ. Đó là dấu hiệu của sự khiêm nhường đối với Thiên Chúa và đối với chính mình. Nhưng ngay khi một người anh em nhận xét những người đó thú nhận như vậy là đúng, hoặc dám nói một phần rất nhỏ những gì họ đã nói về bản thân họ, thì chắc là có chuyện! Quả thực, đây không phải là khiêm nhường thật. Người thật sự khiêm nhường là người nhìn mình trong Thiên Chúa, khám phá ra nơi Thiên Chúa mình là gì, và sau đó sống sự thật này trong mối liên hệ của mình với các anh em.
Sự khiêm nhường mà chúng ta khám phá ra là một điều tốt từ trời cao mà đến; nó là “phúc lộc hoàn hảo từ trên, tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên mọi tinh tú” (x. Gc 1,17). Đó là một cây không tình cờ mọc trên trái đất này; thế giới không biết đến nó. Chính sự khôn ngoan của Phúc Âm đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian chưng hửng. Trên trận địa này, hai sự khôn ngoan va chạm thẳng vào nhau, đến mức thánh Phaolô có thể nói: “Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ, để được khôn ngoan thật. Vì sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa” (1Cr 3,18tt).
Chúng ta thấy rõ điều đó xung quanh mình: thay vì vun trồng sự khiêm nhường, thế gian lại đề cao sự kiêu ngạo. Thế gian dựa trên tham vọng, tranh đấu cho sự nghiệp, tiến dần trên bậc thang xã hội. Ngay từ khi mới vào học, các bạn trẻ được dạy gì, nếu không muốn nói là tạo sự nghiệp, khẳng định mình, đứng ở hàng đầu?
Tư tưởng của Đức Giêsu hoàn toàn trái ngược với tất cả những điều đó. Nhưng cũng phải hiểu cho đúng. Mục đích của sự khiêm nhường theo Phúc Âm là gì? Tạo ra một cộng đồng những con người cam chịu, vô định hình, không có đà tiến, không có khát vọng nào đánh đổi tài năng của mình chăng? Tuyệt đối không phải! Nietzsche, triết gia đã quả quyết như thế, không hiểu gì về Phúc Âm. Sự khiêm nhường theo Phúc Âm không có nghĩa là người ta không được làm sinh lợi những tài năng đã lãnh nhận, mà ngược lại. Điều khác biệt so với thế gian là những tài năng này, người ta không sử dụng chúng chỉ cho riêng mình, để ở trên người khác và thống trị họ, nhưng dùng chúng để phục vụ người khác; không sử dụng chúng để được phục vụ, nhưng để phục vụ.
Khiêm nhường giữa vợ chồng
Ở đây tôi muốn đề cập một vài lãnh vực mà sự khiêm nhường là đặc biệt quan trọng. Trước hết là gia đình: làm thế nào và tại sao khiêm nhường trong hôn nhân.
Hôn nhân, được hiểu là dây liên hệ yêu thương giữa một người nam và một người nữ, bắt nguồn từ sự khiêm nhường. Yêu một ai đó – nếu là yêu thương thực sự – là hành vi khiêm nhường triệt để nhất có thể tưởng tượng ra được. Nó có nghĩa là đến với một ai đó và nói với người ấy rằng: Anh (em) thấy mình không đủ; anh (em) cần em (anh). Như thể người ta đưa bàn tay ra xin một người khác nhận một phần nhỏ bản thân mình làm của bố thí. Thiên Chúa tạo ra con người nghèo túng và ăn xin; Ngài đã khắc ghi sự khiêm nhường trong chính xác phàm của họ, khi tạo ra họ có nam có nữ, nghĩa là không đầy đủ. Ngay từ đầu, từ hai con người đó, Ngài đã làm ra những con người chuyển động, người này tìm kiếm người kia, mỗi người đều “không hài lòng” về chính mình. Do đó, Ngài đã đặt thụ tạo con người trên một mặt phẳng nghiêng lên trên chứ không phải nghiêng xuống dưới, vì sự kết hợp phải nâng thụ tạo thuộc giới tính khác lên tới Đấng khác tuyệt vời là chính Thiên Chúa.
Vì vậy, hôn nhân bắt nguồn từ sự khiêm nhường và nếu nó bắt nguồn từ sự khiêm nhường của thân phận con người, thì hôn nhân chỉ có thể tồn tại trong sự khiêm nhường. Thánh Phaolô đã nói với những vợ chồng Kitô hữu: “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia” (Cl 3,12tt). Sự khiêm nhường và tha thứ, một cách nào đó, là một chất bôi trơn, cho phép ngày qua ngày làm tan biến mọi khởi đầu rỉ sét, phá vỡ những bức tường nhỏ của sự không hiểu biết nhau và oán giận nhau, trước khi chúng trở thành những bức tường lớn không thể phá vỡ. Vợ chồng phải cảnh giác điều mà “người cha khác”, người cha giả, dựng nên giữa họ thứ lôgíc của sự trả thù vụn vặt, của sự báo thù… Đừng nghe tiếng nói bên trong: Tại sao tôi lại là người luôn phải đầu hàng và nhượng bộ? Nhượng bộ, đó không phải là thua, nhưng là chiến thắng, là đánh bại kẻ thù thực sự của tình yêu là sự vị kỷ của chúng ta, cái ‘tôi’ của chúng ta.
Khiêm nhường trong cuộc Canh tân
Cuộc Canh tân cần những gia đình được đổi mới và những gia đình, như chúng ta đã thấy, cũng được đổi mới nhờ sự khiêm nhường. Tất nhiên, chính tình yêu đổi mới các gia đình, nhưng chính sự khiêm nhường mới làm cho tình yêu thành khả dĩ.
Giờ đây tôi muốn nói một lời về sự khiêm nhường trong cuộc “Canh tân”. Nếu Canh tân, như người ta đã nói rất đúng, có nghĩa là “trao quyền cho Thiên Chúa”, thì người ta hiểu sự khiêm nhường cấp bách như thế nào nơi cuộc canh tân trong Thần Khí. Sự khiêm nhường là điều ngăn cản cuộc Canh tân biến thành một công việc thuần túy của con người. Chúng ta cần thường xuyên lại đặt quyền trong tay Thiên Chúa, và điều đó được thực hiện nhờ khiêm nhường. Phải học cách nói, như sách Khải huyền và phụng vụ của Giáo Hội đã làm: “vương quốc, quyền năng và vinh quang thuộc về Chúa đến muôn thuở muôn đời!”
Mỗi lần chúng ta quên điều đó và chỉ dựa vào con người, thì đó là thảm họa, như trường hợp của Côrintô. Sự khiêm nhường trong cuộc Canh tân cũng quan trọng như chất cách điện. Hiệu số điện thế của dòng điện chạy qua dây càng lớn thì độ dày và hiệu năng của lớp cách điện phải càng lớn; nếu không, là chập mạch! Tôi nhớ loáng thoáng đến những ý niệm mà giáo sư vật lý cũ thời tôi học trung học đã dạy chúng tôi về chủ đề này. Ông nói: “Chất cách điện là một chất liệu trơ và không quý, nhưng lại tuyệt đối cần thiết, cũng như dây đồng tải dòng điện. Những dây đó có chức năng tải dòng điện, chất cách điện có chức năng không làm phân tán nó. Sự tiến bộ đạt được trong kỹ thuật dẫn điện luôn phải đi kèm với sự tiến bộ tương xứng trong kỹ thuật cách điện. Nếu không, là chập mạch!”
Đặc biệt, sự khiêm nhường phải có nơi những người có trách nhiệm và những người thi hành các tác vụ riêng biệt. Phải để mình bị chất vấn mà không được các anh chị em giải đáp, tiếp thu và sửa sai; phải để mình bị thay thế và thậm chí đi trước những người chịu trách nhiệm về điểm này.
Trong cuộc Canh tân, người ta có thể bị cám dỗ luôn muốn ở chính nơi mà, theo chúng ta nghĩ, dòng chảy của Thần Khí đang đi qua, muốn ở trong tâm bão, nghĩa là nơi có người nổi tiếng nhất, có nhóm tài năng nhất… Nếu Chúa cho chúng ta hiểu tất cả điều đó, thì chính là vì Ngài muốn giải thoát chúng ta khỏi nó. Thật tốt khi muốn ở chính nơi Thần Khí Thiên Chúa hành động; nhưng nơi Thần Khí hành động chính xác không phải là nơi con người được thấy rõ nhất, vì Thần Khi Thiên Chúa được thấy ưu tiên trong cuộc sống ẩn dật. Vì vậy nếu muốn thực sự ở trong tâm bão Thần Khí, chúng ta hãy nhanh chóng chiếm lấy chỗ cuối cùng. Chính tại đó, Chúa Thánh Thần đã tìm thấy Đức Maria và ban cho Người đầy quyền năng của mình.
Cuộc Canh tân cần những ơn gọi sống ẩn dật. Người ta phải khó lòng kéo chúng ta ra khỏi nơi cuối cùng; các anh chị em chúng ta phải vấp phải sự phản kháng của chúng ta, khi kéo chúng ta xa khỏi nơi cuối cùng, chứ không phải nơi đầu tiên.
Sự khiêm nhường cũng cần thiết trong các mối quan hệ giữa chúng ta, những người đang trong công cuộc Canh tân, và những anh chị em đang phục vụ Chúa trong các nhóm khác và trong các thực tại của Giáo Hội. Đừng bao giờ cho mình thuộc loại tinh hoa (élitiste), là điều làm hỏng mọi sự. Đừng coi mình là người có “đặc sủng” theo nghĩa nắm giữ những quyền năng đặc biệt, có khả năng huấn luyện người khác, nhưng đúng hơn theo nghĩa phục vụ Thần Khí.
Sự khiêm nhường làm Thiên Chúa hài lòng. Cái nhìn của Thiên Chúa về người khiêm nhường là cái nhìn của một người cha, cái nhìn của sự dịu dàng và nhân từ. Tiên tri Isaia cho chúng ta thấy cái nhìn của Thiên Chúa rảo khắp vũ trụ để tìm kiếm nơi có thể đáp xuống, nhưng tìm không ra, vì mọi sự là của Người, mọi sự đều do tay Người làm ra; cho đến giây phút Người tìm thấy một “tâm hồn nghèo khó và khiêm nhường” và đoái nhìn người ấy (x. Is 66,2). Có lời chép rằng “Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn; đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Người đã biết” (Tv 138,6). Từ nơi Người ngự, Chúa không thể vượt lên trên chính mình; cũng vậy, Người không thể hướng cái nhìn của mình lên trên chính mình; Người chỉ có thể đi xuống, và chỉ có thể nhìn xuống. “Nếu bạn đưa mình lên, Người lìa xa bạn, ngược lại nếu bạn hạ mình xuống, Người quan tâm đến bạn”[10]. Đây là lý do tại sao Đức Maria nói: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới” (Lc 1,48).
Để kết thúc, tôi dùng lời Thánh vịnh 131 ca ngợi hoa trái của sự khiêm nhường, để cùng với anh chị em cầu nguyện:
Lòng con chẳng dám tự cao
Mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi
Đường cao vọng chẳng đời nào bước
Việc diệu kỳ vượt sức chẳng cầu
Hồn con, con vẫn trước sau
Giữ cho thinh lặng giữ câu an bình
Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ
Trong con, hồn lặng lẽ an vui
Cậy vào Chúa Israel ơi
Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm.
