1. “CHÚNG TA HÃY VUI MỪNG UỐNG SỰ DỒI DÀO TỪ TỐN THẦN KHÍ”
Ngày lễ Ngũ Tuần, thứ Hai năm 1975, khi kết thúc Đại hội Thế giới để Canh tân Đặc sủng Công giáo, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã đọc trước mười ngàn người tham dự đang tụ tập tại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô một bài diễn văn mà, đối với cuộc Canh tân, vẫn còn là điểm tham chiếu về những gì phẩm trật Giáo Hội nghĩ và mong đợi nơi cuộc Canh tân. Sau khi đọc bản văn chính thức này, ngài nói thêm: “Trong bài thánh thi chúng ta đọc sáng nay trong sách nguyện và có từ thời thánh Ambrôsiô, ở thế kỷ thứ 4, có câu này rất khó dịch nhưng rất đơn giản: “Laeti bibamus sobriam profusionem Spiritus.” Laeti, có nghĩa là “với niềm vui”; bibamus, “chúng ta hãy uống”; sobriam, “được xác định rõ ràng và vừa phải”; profusionem Spiritus, tức là sự dồi dào Thần Khí. Đây hẳn sẽ là phương châm của các bạn: một chương trình và sự công nhận của chính phong trào.”
Vậy, qua miệng vị Mục Tử tối cao của mình, Giáo Hội đã vạch ra một chương trình dành cho chúng ta. Chúng ta không thể bỏ sót một từ nào trong bản văn này. Trái lại, chúng ta phải tìm cách đào sâu toàn bộ nội dung của nó, đặc biệt nội dung của từ latinh đề cập sự dồi dào từ tốn Thần Khí.
“Cơn say từ tốn” nơi các Giáo Phụ
Đức Giáo Hoàng đã xác định rõ cho chúng ta là ngài lấy chương trình này từ đâu: từ các tác phẩm của thánh Ambrôsiô, một trong những Giáo Phụ, từ kho tàng vô tận là Truyền Thống sống động của Giáo Hội. Các Giáo Phụ muốn nói gì khi nói về “cơn say từ tốn Thần Khí”? Đây có phải là ý tưởng của một giám mục riêng rẽ, hay còn hơn thế nữa?
Khi tìm cách trả lời cho câu hỏi này, tôi đã khám phá ra một điều đáng ngạc nhiên. Có một thời kỳ trong đời sống Giáo Hội – khoảng một thế kỷ – khi tất cả Kitô giới trải nghiệm về một cơn say thuộc linh, cơn say Chúa Thánh Thần. Một vài tiếng nói giữa lòng Truyền Thống sẽ giúp chúng ta hiểu về cơn say đó.
Giêrusalem, năm 384: Cyrillô, giám mục địa phương, khi bình giải cho các người dự tòng những lời của Phêrô trong trình thuật về lễ Ngũ Tuần: “Những người này không say rượu như anh em nghĩ” (Cv 2,15), đã nói: “Nếu họ say, thì không phải theo nghĩa anh em hiểu … Họ say bằng một cơn say từ tốn (nefalios methe) bị tội lỗi giết chết, nhưng trái tim lại làm cho nó sống động, bằng một cơn say đối lập với cơn say của thân xác. Là vì cơn say này khiến chúng ta quên ngay cả những gì chúng ta biết, trong khi cơn say kia khiến chúng ta biết ngay cả những điều chúng ta đã không biết. Họ say vì đã uống rượu của cây nho thần bí, Đấng đã nói: ‘Thầy là cây nho, anh em là cành’ (Ga 15,5)”[1].
Do đó, cơn say do Chúa Thánh Thần ban là một tình trạng trong đó con người được rửa sạch tội lỗi của mình; trái tim của họ cháy bỏng tình yêu dành cho Thiên Chúa, tư tưởng của họ được đưa lên tới chỗ hiểu biết đặc biệt về Thiên Chúa: một sự hiểu biết không phải do biện luận, nhưng do trực giác, gần như thực nghiệm, đi kèm với sự bình an nội tâm.
Từ Giêrusalem, chúng ta chuyển sang Milano. Đức Giáo Hoàng đã lặp lại câu trong một bài thánh thi của thánh Ambrôsiô. Không phải đó là lần duy nhất giám mục Milanô nói đến cơn say từ tốn Thần Khí. Khi giảng cho các người tân tòng, ngài nói: “Mỗi lần anh em uống, anh em được tha tội và được Thần Khí làm cho say. Chính vì thế mà thánh Tông Đồ đã nói: “Chớ say sưa rượu chè, nhưng hãy say sưa Thần Khí” (Ep 5,18). Bởi vì kẻ nào say rượu thì lảo đảo và loạng choạng, còn người say Thần Khí thì bén rễ trong Đức Kitô. Vậy đây là một cơn say tuyệt vời tạo ra sự từ tốn của tâm hồn!”[2]
Các Kitô hữu ở Milanô cũng có kinh nghiệm tương tự: Chúa Thánh Thần được lãnh nhận trong các bí tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, mang đến cho tâm hồn một sự say sưa không vô trật tự hay hời hợt tí nào, một sự say sưa đưa tâm hồn ra khỏi thói quen, sự nghèo khó và bất lực của nó, để vào trong một “tình trạng ân sủng”, nơi không còn chỗ cho những nghi ngờ, hối tiếc, thu mình lại, mà chỉ có chỗ cho niềm vui và cảm tạ. Linh hồn “cắm rễ” trong Đức Kitô.
Còn đây là một tiếng nói khác từ Truyền Thống, tiếng nói của thánh Augustinô. Thánh nhân nói với các người tân tòng: “Chúa Thánh Thần đến cư ngụ trong anh em (hôm đó là lễ Phục Sinh và họ vừa lãnh nhận phép rửa!); đừng để Ngài lìa xa anh em; hãy cẩn thận đừng loại Ngài ra khỏi lòng anh em. Ngài là một vị khách tốt: Ngài thấy anh em nghèo và Ngài làm cho anh em nên giàu; Ngài thấy anh em đói, và Ngài làm cho anh em được no; Ngài thấy anh em khát và Ngài làm cho anh em đã khát. Ước gì Ngài làm cho anh em được say sưa! Thánh Tông Đồ nói: “Chớ say rượu, vì nó đưa tới trụy lạc.” Sau đó, như thể ngài muốn dạy chúng ta phải say sưa cái gì, thì ngài nói thêm: “Hãy thấm nhuần Thần Khí. Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng. Hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5,18tt). Ai vui mừng trong Chúa và ca hát rất hân hoan, lại chẳng giống như người say hay sao? Tôi thích cơn say này […]. Thần Khí Thiên Chúa vừa là thức uống vừa là ánh sáng.”[3]
Thánh Augustinô tự hỏi tại sao Kinh Thánh lại sử dụng một hình ảnh táo bạo như say rượu, và ngài trả lời: đó là vì tình trạng của một người say rượu đến chỗ mất trí có thể cho thấy một ý tưởng – mặc dù theo nghĩa tiêu cực – về những gì xảy ra trong lý trí con người khi nhận được niềm vui khôn tả của Chúa Thánh Thần; lý trí gần như biến mất, nó trở nên thần linh, say sưa về sự phong phú của nhà Thiên Chúa, có nghĩa là bằng cách nếm thử trước một cái gì đó trong những thú vui của Giêrusalem trên trời.[4] Trong cơn say thiêng liêng, con người thoát ra khỏi mình, nhưng không phải để sống mà mất trí (như trường hợp say rượu hoặc ma túy), nhưng để vượt qua nó trong ánh sáng của Thiên Chúa.
Vài câu trích dẫn trên đây cho chúng ta một ý tưởng về nhận thức, vào thời kỳ đó, liên quan đến đời sống Kitô hữu. Không chỉ là về một vài người được ưu đãi, về các nhà thần bí, nhưng là về đời sống của tất cả những người đã được rửa tội (nói chung là về những lời nói dành cho người dự tòng và tân tòng). Rõ ràng người ta đang đứng trước một Kitô giáo đặc sủng, vốn tin chắc, cùng với tất cả Tân Ước, rằng ân sủng là khởi đầu của vinh quang và kinh nghiệm trực tiếp nào đó về Thiên Chúa là điều có thể.
Những vị chủ chăn trong các Giáo Hội không những không sợ sự nhiệt tình này và kìm hãm nó, nhưng còn nuôi dưỡng nó. Họ trở thành những người thúc đẩy và hướng dẫn khai sáng nó. Các nhà sử học gọi thời này là “thời kỳ hoàng kim” của lịch sử Giáo Hội, nhưng hẳn là họ không tự hỏi từ đâu mà có sự nở rộ bất thường của các thiên tài trong Giáo Hội, những nét huy hoàng về giáo lý trong những tác phẩm của các Giáo Phụ, khả năng vô song đọc Kinh Thánh “theo hướng thiêng liêng”, để từ đó rút ra của ăn nuôi dưỡng đời sống cho toàn thể dân Chúa. Tất cả là do vào thời kỳ này Chúa Thánh Thần đã “đi lại” tự do trong Giáo Hội, như mật trên các tầng ong, theo một hình ảnh được nhiều người biết đến vào thời đó; người ta chưa vạch ra những lối đi bắt buộc (các kênh ân sủng!) bằng một sự thể chế hóa cứng nhắc, những luật pháp và những khoản luật do con người đặt ra. Đức tin của Giáo Hội không dựa quá nhiều vào hiệu năng tổ chức của mình – hiệu năng của một xã hội hoàn hảo – nhưng là đáp lại sự hiện diện của Chúa Thánh Thần nơi mình, nghĩa là một xã hội thuộc linh, một thân thể được Chúa Thánh Thần huy động.
Việc công nhận đầy đủ và dứt khoát thần tính của Chúa Thánh Thần vào lúc này mang lại cho Giáo Hội – như một phần thưởng – kinh nghiệm về một lễ Hiện Xuống mới. Đã có lúc người ta có thể nghe thấy một giám mục (vậy không phải là một nhà thần học đơn thuần) nói với dân của mình bằng cách thốt lên: “Cho tới khi nào chúng ta còn giấu đèn (Chúa Thánh Thần) dưới đáy thùng […] trong khi nó phải được đặt trên giá đèn để soi sáng cho tất cả các Giáo Hội, tất cả các linh hồn, toàn thế giới”.[5] Vài năm sau, trong Công đồng chung Constantinôpôli năm 381, lời tuyên xưng đức tin vào thần tính trọn vẹn của Chúa Thánh Thần đã được đưa vào Kinh Tin Kính một cách dứt khoát: ngọn đèn lớn đã được đặt trên giá cao nhất của Giáo Hội.
Thời đó những tình cảnh khốn cùng của con người không thiếu; tình cảnh đó có rất nhiều, thậm chí rất nghiêm trọng: những lạc giáo, những tranh chấp giữa các Giáo Hội, những vụ tiểu ly khai, nhưng tất cả đều không thể ngăn cản công việc của Thiên Chúa, cũng như không thể khiến cho Giáo Hội phải thu mình lại. Giáo Hội “có thể làm được mọi sự” (nói như thánh Phaolô), nhờ Đấng nâng đỡ mình, nghĩa là Đấng đã ban sức mạnh và an ủi cho Giáo Hội: Chúa Thánh Thần. Giữa lòng Giáo Hội có một loại núi lửa đang phun trào, nhờ những dòng chảy nóng sáng của nó, đã thanh tẩy và làm sạch mọi sự, không cho cỏ dại tội lỗi của con người mọc lâu trên sườn của nó.
Bằng cách đề xuất lý tưởng về một cơn say từ tốn, như thể người đứng đầu tối cao của Giáo Hội đã yêu cầu chúng ta – cũng như tất cả những người Kitô hữu – làm sống lại trong Kitô giáo hôm nay một kinh nghiệm nhiệt tình thiêng liêng tương tự như kinh nghiệm đã làm cho thế kỷ V trở thành “thời kỳ hoàng kim” của lịch sử Kitô giáo.
Sự từ tốn thiêng liêng trong Tân Ước
Các Giáo Phụ đã nói đến “cơn say”, nhưng không xác định rõ thế nào là “từ tốn” (sobre) như các ngài muốn nói. Để giúp người ta hiểu từ này, các ngài nại tới Kinh Thánh, vì Kinh Thánh thường nói về sự từ tốn. Đối với các ngài, ý nghĩa của cơn say từ tốn là rõ ràng, vì các ngài vẫn sử dụng cùng một ngôn ngữ như Kinh Thánh; các thuật ngữ vẫn giữ nguyên ý nghĩa như nơi thánh Phaolô. Đối với chúng ta, thì không còn như vậy nữa; chúng ta đã đánh mất ý nghĩa của toàn bộ thái độ mà Kinh Thánh gọi là “sự từ tốn”; từ này chỉ còn là một sự điều độ mơ hồ, liên hệ đến nói năng hoặc (ăn) uống. Do đó, chúng ta phải khám phá lại ý nghĩa này, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, bằng cách xem xét Tân Ước.
Trong tiếng Hy Lạp, “từ tốn” (sofron) chỉ đơn giản có nghĩa là “lành mạnh và liêm khiết”, hoặc “hợp lý”. Nhưng trong Kinh Thánh, nó không chỉ có nghĩa là lương tri, sự cân bằng tự nhiên hay sự tự chủ. Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô nói: “Đừng vui mừng (fromùntes) tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn, và đừng vui mừng (fronimoi) cho mình là khôn ngoan” (Rm 12,16). Trong bản văn này, từ tốn có nghĩa là khiêm tốn, đừng đề cao mình, ý thức về những giới hạn của mình, ý thức mình là gì; đừng quên rằng tất cả đều là quà tặng và tất cả những gì tốt lành, con người đều đã lãnh nhận (1Cr 4,7), nên “ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa” (1Cr 1,31).
Trong một bản văn khác, Phaolô nói về sự từ tốn chính xác trong tương quan với “những người thuộc thần khí”, nghĩa là những người có đặc sủng, những người, trong sự nhiệt thành của Thần Khí và những biểu hiện quyền năng của Ngài, có xu hướng đi đến một chủ thuyết tĩnh tịch (quiétisme) nào đó hoặc đi đến tính khách quan bên ngoài, do đó, lơ là với việc dấn thân tích cực trong cộng đồng. Phaolô nói: “Thật vậy, chúng tôi có điên (đó là cơn say, hoặc xuất thần thiêng liêng!), thì cũng là vì Thiên Chúa; chúng tôi có khôn (đó là sự từ tốn!) thì cũng là vì anh em. Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết. Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5,13tt).
Thánh Tông Đồ muốn nói gì? Muốn nói rằng trong Kitô giáo, cơn say thiêng liêng mà người ta cảm thấy khi cầu nguyện phải được thể hiện bằng một cam kết tích cực và đầy đủ có lòng bác ái đối với anh em. Nếu không, cơn say đó là đáng ngờ. Cũng chính ngài, ngài biết sự nhiệt tình nói tiếng lạ (ngài cho biết mình nói tiếng lạ hơn tất cả những người khác), sự nhiệt tình của các tiên tri, biết xuất thần lên đến tầng trời thứ ba; nhưng ngài không thể hãnh diện về những điều đó (đấy là “ân huệ” của Thiên Chúa, sáng kiến và vinh quang thuộc về Thiên Chúa), nhưng hãnh diện về thập giá (x. Gl 6,4), nghĩa là do không còn sống cho chính mình nữa, nhưng cho người khác, như Đức Giêsu. Thế rồi, ngài xướng lên bài thánh thi mà chúng ta không bao giờ quên: “Giả như tôi nói được thứ tiếng của các loài người và các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến…” (1Cr 13,1tt).
Chúng ta bắt gặp ý nghĩa cuối cùng của “từ tốn” trong các thư mục vụ, trong đó có vấn đề về sự trong sạch, nghĩa là về sự thánh thiện trong đời sống tình cảm và tình dục. Một đời sống khiết tịnh, trong sáng, phù hợp với bậc sống của mỗi người, phải là phản ánh tự nhiên của đời sống trong Thần Khí, và, theo những thư này, phải cho thấy “vẻ đẹp” của ơn gọi Kitô hữu. Đối với người cao tuổi nhất, đây là một sự từ tốn đồng nghĩa với xứng đáng và chừng mực, chẳng hạn trong việc uống rượu (Tt 2,2); đối với cô dâu trẻ, người ta khuyên sống khiết tịnh, một đức tính được thể hiện bằng tình yêu và sự chung thủy với chồng con (Tt 2,4tt); đối với những người trẻ chưa lập gia đình, người ta đòi hỏi sự từ tốn như một khả năng làm chủ các đam mê và sống phù hợp với đức tin (Tt 2,6). Quả thực trong các thư mục vụ, chúng ta thấy cách diễn đạt này rất giàu ý nghĩa: “Vì Thiên Chúa đã không ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên hèn nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và từ tốn “(2Tm 1,7). Một Thần Khí can đảm và hăng hái, nhưng thể hiện bằng tình bác ái huynh đệ và sự từ tốn. Chính đó là “Thần Khí làm cho anh em trở nên nghĩa tử” (Rm 8,5).
Như vậy, “cơn say từ tốn” Thần Khí là một tình trạng mà con người cảm thấy được Thiên Chúa bắt chộp và dẫn dắt; nhưng là một tình trạng, thay vì làm cho chúng ta vong thân khiến chúng ta quay lưng lại với việc dấn thân nơi các anh em, lại thúc đẩy chúng ta dấn thân, thậm chí đòi hỏi chúng ta phải làm điều đó và thường làm cho sự dấn thân này trở nên dễ dàng và vui vẻ hơn. Để sử dụng các thuật ngữ truyền thống hơn, thì đây thực sự là sự nhiệt thành (entheos = tràn ngập Thiên Chúa) nhưng là một sự nhiệt thành dựa trên thập giá (“thập giá” có nghĩa là tất cả những gì đã liệt kê ở trên: khiêm nhường, bác ái, khiết tịnh), do đó được giải phóng khỏi tất cả những dè dặt mà từ “nhiệt thành” luôn khơi dậy nơi các tín hữu, giữa những người hăng hái bảo vệ lý trí, hiệu năng và sự điều độ.
Ở đây, nói một cách ngắn gọn, là những gì các Giáo Phụ đã truyền cho các Kitô hữu thời bấy giờ và những gì Đức Giáo Hoàng truyền cho chúng ta, những Kitô hữu ngày nay; một lòng nhiệt thành, nhưng sự nhiệt thành được xây dựng trên thập giá và được nuôi dưỡng bằng thập giá.
Chúng ta có tin đó thực sự là điều Kinh Thánh nói không?
Có phải chúng ta đang đi giật lùi, đang “dập tắt Chúa Thánh Thần” bằng cách liên kết Ngài với các yếu tố phụ thuộc vào con người, chẳng hạn như khiêm nhường, phục vụ lẫn nhau hoặc khiết tịnh? hay chúng ta đang đối mặt với một ý muốn và đòi hỏi rõ ràng nhất của Thiên Chúa trong Tân Ước? Con đường này là bắt buộc: mọi sự khác đưa chúng ta trở lại với chính mình, với trí tưởng tượng của mình và đưa chúng ta đến thất bại về đường thiêng liêng. Ân huệ của Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần – chỉ vì Ngài là một ân huệ – đòi hỏi một sự chấp nhận tự do, cũng như quà tặng ngày cưới của người chồng đòi hỏi sự “đáp lại” tự do của người vợ; nhưng sự đáp lại của con người chỉ thật sự và sâu sắc khi được tuyên bố trên thập giá. Như chúng ta thấy, vấn đề thật nghiêm trọng: liệu phong trào tổng quát hóa này đang xuyên qua dân Chúa, để đổi mới sâu xa về đường thiêng liêng, có sẽ kết thúc chớp nhoáng (như đã xảy ra đối với rất nhiều đà vươn lên “được chiếu sáng và đặc sủng” trong quá khứ) hay nó sẽ bén rễ và thực sự đổi mới các Kitô hữu, như đã xẩy ra trong “thời hoàng kim”?
Vấn đề không phải là từ bỏ bất cứ điều gì: hát, giơ tay, hoặc nói tiếng lạ, nếu điều đó được Chúa ban, hoặc ngay cả sự vui mừng hoặc nhiệt thành; nhưng vấn đề là không “tự hào” về những chuyện đó, không dừng lại ở đó, không chú ý đến chúng, không xem chúng như một làn gió nhẹ trên mặt, mà đúng hơn như một cơn gió mạnh thổi căng buồm để con thuyền (của chúng ta và toàn thể Giáo Hội) tiến lên mạnh mẽ và can đảm, kéo theo thế giới đã lạc mất và vô vọng.
Một lần nữa phải tra vấn Kinh Thánh. Tra vấn về điểm cụ thể này: tại sao lòng nhiệt thành của chúng ta nhất thiết phải đi qua thập giá của sự khiêm nhường, bác ái huynh đệ và sự trong sạch?
Tân Ước trả lời: vì chính qua thập giá mà Đức Giêsu Kitô đã đi tới vinh quang của phục sinh và cuộc sống “theo Thần Khí”. Ngài “bị giết chết theo thân xác, nhưng đã được phục sinh nhờ Thần Khí” (1Pr 3,18). “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Chúng tôi tuyên xưng “Đức Giêsu là Chúa”. Lời tuyên xưng này, được thực hiện “trong Thần Khí và quyền năng” trong Đại hội ở thành phố Kansas, đang chứng tỏ là linh hồn của cuộc Canh tân, sức mạnh lớn nhất của cuộc Canh tân. Nhưng chúng ta phải ý thức rõ rằng Đức Giêsu mà chúng ta, sau thánh Phaolô, tuyên xưng là “Chúa” (Pl 2,11), không phải là một Giêsu tầm thường, một Giêsu của nghệ thuật Xuân Bích, hay của tình cảm mầu mè; đó là Đức Giêsu bị đóng đinh! Chính Đức Giêsu này mà Chúa Cha ban cho chúng ta để làm Chúa.
Thập giá không chỉ là cây gỗ mà Đức Giêsu được treo trên đó. “Cả cuộc đời của Đức Giêsu Kitô – như sách Gương Chúa Giêsu chỉ rõ – là thập giá và tử đạo.” Cả cuộc đời khiêm nhường và vâng phục Chúa Cha, cách Ngài trở thành “tôi tớ” của con người (x. Mc 10,45; Ga 13,13tt), toàn bộ việc loan báo Tin Mừng, tất cả đều là thập giá. Để hoàn thành sứ mệnh, Đức Giêsu đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần (x. Lc 4,18tt) và khi thi thành sứ mệnh này, lúc sống lại, Ngài đã trở nên “Thần Khí ban sự sống” (1Cr 15,45), Đấng ban Thần Khí cho Giáo Hội.
Người ta không thể đi đến lễ Ngũ Tuần mà không qua lễ Vượt Qua. Thật xúc động khi thấy cộng đồng Kitô giáo, ngay sau lễ Ngũ Tuần, được thúc giục quay trở lại với Đức Giêsu, tái khám phá Ngài, thu thập lời nói và ký ức của Ngài. Chúa Thánh Thần chỉ được ban cho những ai nên giống Đức Giêsu.
Làm thế nào để đạt tới chỗ giống Đức Giêsu? Đây là cách Tân Ước trả lời: bằng cách chết cho xác thịt, để sống theo Thần Khí; “xác thịt” là con người cũ, ích kỷ, hướng chiều về sự xấu và dục vọng, là con người có thái độ chống lại Thiên Chúa và đầu hàng thế gian. “Ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,24tt). “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những việc làm của thân xác, anh em sẽ được sống” (x.Rm 8,13). Cũng như vào thời Êlia (x. 1V 18,38), lửa từ trời xuống chỉ đậu tại nơi nào đã chuẩn bị sẵn củi cho lễ tế hy sinh!
Cái chết thường hay nói đến này tương ứng với điều gì? Không có gì u ám và buồn bã cả; đó là một sự “sinh” vào sự sống thật; một sự “tái sinh”, như lời Đức Giêsu nói với Nicôđêmô; một cách cụ thể hơn, theo thánh Phaolô, điều đó có nghĩa là không còn sống chỉ cho mình, nhưng là sống phù hợp với Đức Kitô phục sinh, nghĩa là mở lòng mình với anh em trong sự khiêm nhường, vâng phục, bác ái, phục vụ huynh đệ: tóm lại, bằng cách mở lòng với tất cả những gì đã liệt kê ở trên, khi tra vấn về ý nghĩa của từ “từ tốn” trong Tân Ước.
Lịch sử Giáo Hội cho chúng ta những ví dụ cụ thể về những người, trong cuộc đời của họ, đã sống theo lý tưởng “cơn say từ tốn” được đề ra cho chúng ta ở đây. Tôi nghĩ tới thánh Ignatiô Antiôkia, người sắp chịu tử đạo và viết cho các anh em ở Rôma, xin họ đừng làm gì để ngăn cản cái chết của ngài. Ngài nói: “Thật là đẹp khi chết cho thế gian để được sống lại trong Thiên Chúa. Hãy để tôi làm mồi cho thú dữ, nhờ chúng mà tôi sẽ có thể tìm thấy Thiên Chúa. Tôi là lúa mì của Thiên Chúa, và tôi được răng thú nghiền nát để trở thành bánh tinh khiết của Đức Kitô. Bây giờ tôi bắt đầu trở thành một môn đệ chân chính; hãy để tôi noi gương sự thương khó của Thiên Chúa tôi; hãy để tôi gặp được ánh sáng tinh tuyền […] Ước muốn trần thế của tôi đã bị đóng đinh thập giá và không còn ngọn lửa nào trong tôi để yêu mến vật chất, mà chỉ còn một nguồn nước hằng sống thì thầm trong tôi: “Hãy đến với Chúa Cha!” (chính là những lời Thần Khí nói với Tân Nương trong sách Khải huyền!)
Và này, những gì chúng ta vừa nghe chắc chắn thuộc về cơn say thiêng liêng; đúng là tiếng nói của một kẻ có đặc sủng thực sự, nhưng là một cơn say đưa đến tử đạo; đúng là sự điên rồ, nhưng là “sự điên rồ của thập giá” (x. 1Cr 1,18), nghĩa là sự điên rồ duy nhất có thể được gán cho Chúa Thánh Thần, và có quyền được kể đến trong Giáo Hội.
Tôi cũng nghĩ đến thánh Phanxicô, người trên đường đến Assisi, vào mùa đông, đi chân trần, gần như đóng băng, giải thích cho anh Lêô biết “niềm vui trọn vẹn” là ở đâu: không ở chỗ thực hiện các phép lạ và làm cho người chết sống lại; cũng không ở chỗ nói tiên tri và nói mọi thứ tiếng trên trái đất; nhưng đúng hơn, ở chỗ sẵn sàng đón nhận mọi lời sỉ nhục từ những người anh em trong tu viện nơi họ đến, vẫn giữ tình bác ái khi đối mặt với hành vi xúc phạm, và điều đó – như ngài giải thích – chính là vì: “Trên mọi ân sủng và quà tặng của Chúa Thánh Thần, mà Đức Kitô dành cho bạn hữu của mình, có một ân huệ là chiến thắng bản thân và sẵn sàng, vì yêu mến Đức Kitô, chịu đựng những đau đớn, những sỉ nhục, những áp bức, những bất tiện”[6]. Chỉ cần đọc đoạn văn trong những bông hoa nhỏ của thánh Phanxicô về sự “canh tân trong Thần Khí” hẳn là đủ, thay vì “niềm vui trọn vẹn” để biết liệu đó có phải là, và khi nào là, một sự canh tân hoàn hảo hay không.
Do đó, bí mật của cuộc canh tân (giống như bí mật về sự thánh thiện) nằm ở chỗ cân bằng giữa sự nhiệt thành, hoặc phó mặc cho hành động của Thần Khí, và sự dấn thân tích cực của cá nhân; không phải theo nghĩa tước đoạt cái của người này mà cho người khác, nhưng theo nghĩa người này phải nuôi dưỡng người kia, tất nhiên, quyền ưu tiên luôn thuộc về sáng kiến của Thiên Chúa. Rượu của thập giá là loại rượu duy nhất đem lại cơn say Thần Khí!
Nhãn quan cho cuộc Canh tân
Từ những lời của Đức Giáo Hoàng được nhắc tới ở phần đầu của giáo huấn này và từ các bản văn của Kinh Thánh, xuất hiện một “nhãn quan” cho tương lai: Cuộc Canh tân phải đi từ giai đoạn khởi đầu, có đặc tính là một cơn say có thể giải thích được, đến giai đoạn từ tốn, hoặc tốt hơn, giai đoạn cơn say từ tốn. Lời cầu nguyện tự phát và sáng tạo, ca hát, tiếng lạ, niềm vui được sống với nhau như bạn hữu, được uống sữa tinh tuyền của Lời Chúa, tất cả những việc đó kèm theo một sự dấn thân ngày càng mạnh mẽ hơn để xây dựng vương quốc của Thiên Chúa nơi ta và trong Giáo Hội; nói cách khác, để “lớn lên”. “Lớn lên vươn tới Đức Kitô, vì Người là Đầu”, như lời thánh Tông Đồ nói (Ep 4,15).
Một ngày nọ, Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài hàn huyên với nhau như sau:
Các môn đệ: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.”
Đức Giêsu: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”
Các môn đệ: “Thưa được.”
Đức Giêsu: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu” (Mc 10,37-39)
Cuộc đối thoại này – giống như tất cả các cuộc đối thoại mà Đức Giêsu tham gia – chưa kết thúc, nó vẫn luôn diễn ra. Bất cứ môn đệ nào xin được ở bên cạnh Ngài trong vinh quang và trong niềm vui của Thần Khí Ngài, đều được Đức Giêsu chỉ cho con đường tình yêu: uống chén của Ngài, lãnh nhận cùng một phép rửa như Ngài. Do đó, cần phải khám phá nơi Thần Khí kêu gọi các môn đệ của Đức Giêsu, và phải can đảm dấn thân theo hướng này; phải lắng nghe những gì Thần Khí nói với các Giáo Hội vì Thần Khí nhắc lại những gì chính Đức Giêsu đã nói: “Ai muốn trở thành môn đệ của tôi…” và những đòi hỏi đi kèm với việc này:
Một đời sống cá nhân thánh thiện, đặc biệt trong lãnh vực tình dục, mà ngày nay người ta đánh giá thấp tầm quan trọng của nó đối với sự tăng trưởng (hoặc không tăng trưởng) về đường thiêng liêng. Làm chứng Đức Giêsu là Chúa của cuộc đời chúng ta, ngay cả ở mức độ thân mật và thường bị che giấu, nơi – như có người đã viết – cuộc chiến diễn ra hàng ngày hơn và chiến thắng khó khăn hơn. Sống trong sạch như một ân huệ, một đặc sủng, nhưng hãy sống nó! Tôi thậm chí dám nói: hãy ngừng đến với nhóm cầu nguyện, nếu sau một thời gian nhất định, người ta tiếp tục sa ngã một cách dễ dàng, dù điều đó không đặc biệt làm phiền chúng ta trên bình diện thiêng liêng, trong những lỗi nghiêm trọng ở cấp độ này, nếu thường xuyên vi phạm các đòi hỏi của bậc sống mình (cho dù đó là đính hôn, kết hôn hay độc thân). Về một thành viên của cộng đồng Côrintô, Phaolô viết: “Hãy loại trừ kẻ làm điều ấy ra khỏi cộng đoàn anh em. Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy men lên sao?” (1Cr 5,6). Hồng y Suenens đã nói trong một cuộc phỏng vấn về sự Canh tân: khi bạn thắp đèn ban đêm, luôn có nguy cơ thu hút các con bọ nhỏ. Trong cuộc Canh tân vẫn còn lẫn lộn quá nhiều con bọ nhỏ; chúng có thể làm hại rất nhiều cho công việc của Thần Khí, đặc biệt nếu chúng không có ý ngay.
Sự khiêm nhường, trên hết là hình thức khiêm nhường chiến đấu chống lại cám dỗ muốn chiếm đoạt công việc của Thiên Chúa, luôn muốn ở nơi mà hành động của Thần Khí rõ ràng nhất; khiêm nhường duy trì sự phục vụ để “phục vụ” các anh em, và không nắm quyền hoặc thống trị các anh em; khiêm nhường khiến chúng ta sợ có thể có người gắn bó với chúng ta, quên rằng chỉ có một Thầy duy nhất, còn tất cả chúng ta đều là anh em; đây là những điều tạo ra các phe phái: “Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôllô, tôi thuộc về ông Kêpha” (1Cr 1,12).
Bác ái huynh đệ trong nhóm, và không chỉ lúc họp nhóm mà cả ở nhà, chỗ làm việc, mọi nơi. Một bác ái kiên nhẫn, bao dung, không ghen tương, không khoe khoang, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả (x. 1Cr 13,4-7), dấn thân nơi những người nghèo được Đức Giêsu rất mực yêu thương mà ngày nay hầu như không được ai chăm sóc, nghĩa là những người bị áp bức bởi những thứ nô lệ khác nhau cho tội lỗi và ma quỷ, những kẻ bị ruồng bỏ, những tâm trí đau khổ, những người bị tước mất hy vọng hơn là bị tước mất sung túc vật chất.
Một khía cạnh khác của bác ái là phục vụ Giáo Hội: phục vụ các giáo xứ, các công trình của Giáo Hội; không chỉ trong một số hoạt động, nhưng còn trong các việc thiêng liêng liên quan đến đời sống thực tế của cộng đồng: truyền giáo, dạy giáo lý, cầu nguyện, linh hoạt phụng vụ, phục vụ người nghèo. Nói cách khác, tham gia tích cực vào “sứ mệnh” của Giáo Hội.
Phải có thể vượt qua một cách tự nhiên từ cơn say “cho Thiên Chúa” – như thánh Phaolô nói – tới sự “từ tốn cho các anh em”, nghĩa là tới tình trạng tỉnh thức, trong đó chúng ta luôn mở to đôi mắt và đôi tai để phát hiện những nhu cầu của người lân cận.
Nơi nào các dấu hiệu của Thần Khí dường như cho thấy cần những cộng đồng Kitô hữu mới, thì phải nghĩ đến việc thành lập các cộng đồng này, nơi người ta có thể sống sự Canh tân trong tất cả sự phong phú và sức mạnh của nó, có liên hệ với các giám mục và được các ngài đồng ý. Cộng đồng đã luôn là dụng cụ được Thần Khí sử dụng để thực hiện những công cuộc đổi mới vĩ đại trong lịch sử Giáo Hội (thế kỷ thứ IV, nhờ các cộng đồng đan viện; thời Trung cổ, nhờ các huynh đoàn hành khất, Phan Sinh và Đa Minh; sau cuộc Cải Cách, nhờ các cộng đồng chiến sĩ Dòng Tên). Để việc đó xảy ra, cần phải cầu nguyện, để nhiều mục tử, cha sở và bề trên các nhà dòng “đổi mới chính mình”, vì có lẽ, trước khi tạo lập các cộng đồng mới, Thần Khí muốn canh tân các cộng đồng “cũ” đã có, phục hồi sự sống cho “các xương khô” trong Giáo Hội.
Ngày nay cộng đồng phải là giá trên đó người ta có thể đặt ngọn đèn lớn là Chúa Thánh Thần, để có thể ”soi chiếu cho mọi người trong nhà” (Mt 15,15). Đặt đèn trên giá là kinh Tin Kính thì không còn đủ nữa…
Ở cấp độ quốc gia, cấp độ nhóm và, trong một số trường hợp, thậm chí ở cấp độ thành phố, chúng ta đã là một cộng đồng, cho dù là một cộng đồng tinh thần chứ không phải pháp lý. Bởi vì chúng ta chia sẻ nhiều điều, chúng ta cảm thấy một sự kết hợp nhờ các mối dây bác ái sâu xa và, trên hết, chúng ta hy vọng được Chúa Thánh Thần hiện diện, Đấng là – trong Giáo Hội cũng như trong Ba Ngôi – mối dây hòa bình và niềm vui hiệp thông.
Nhưng không phải từ cộng đồng này, hoặc từ các cộng đồng, mà chúng ta hy vọng được thấy tình cảm thuộc về Giáo Hội của chúng ta phát sinh và tùy thuộc vào đó. Cộng đồng cơ bản của chúng ta đã tồn tại và vấn đề là Giáo Hội của chúng ta. Mặc dù bất xứng, chúng ta là một phần sống động của Giáo Hội đó. Chúng ta không muốn tạo thành “một hội thánh nhỏ của riêng chúng ta”, nhưng muốn ở trong Giáo Hội! Tôi biết các anh em đau khổ và trải qua những thời kỳ khó khăn vì bị ngờ vực hoặc bị từ chối trong một số môi trường của Giáo Hội. Tôi muốn nói là hãy bình tĩnh; chúng ta không phải là những cô nhi; chúng ta đã mồ côi, nhưng giờ đây chúng ta đã trở thành con cái của Thiên Chúa và do đó con cái của Giáo Hội; chúng ta đã không là một dân, nhưng giờ đây chúng ta là dân Thiên Chúa; dân tư tế và tiên tri này được Chúa kêu gọi từ bóng tối ra ánh sáng để loan báo những kỳ công của Chúa (x. 1Pr 2,9tt). Chúng ta có một mái nhà, một ngôi nhà và một mái ấm: cung lòng của Mẹ Thánh Giáo Hội; một người mẹ không thể xua đuổi đứa con đang bám vào váy của mình. Chúng ta phải rúc vào trong lòng Giáo Hội; chính đó là nơi của những người tìm kiếm Chúa Thánh Thần.
Giáo Hội giống như một khoảng nước rộng, một biển cả; giống như nước, nó có khả năng lạ lùng này là “cân” các vật thể rơi xuống nước: các vật thể “vật chất” và nặng buộc phải chìm xuống; nhưng những vật nhẹ, những vật trống rỗng, những vật nhỏ bé, không chìm xuống đáy. Nếu “kinh nghiệm” này đến từ Chúa Thánh Thần, nó sẽ trôi nổi trong Giáo Hội.
Chúng ta phải yêu mến Giáo Hội và chuẩn bị sẵn sàng chịu khổ và chịu chết cho Giáo Hội. Nhưng không ai có thể “dập tắt Thần Khí”, hay các đặc sủng đích thực, để làm hài lòng người nào đó, ngay cả hàng giáo phẩm của Giáo Hội. Vả lại, đây không phải là điều mà hàng giáo phẩm mong muốn; hàng giáo phẩm muốn biết chúng ta như chúng ta là, và với những mục tiêu chúng ta đặt ra cho mình. Vào lúc thích hợp, hàng giáo phẩm sẽ xét đoán và chúng ta sẽ được yêu cầu tuân theo. Theo cách này, các thực tại thiêng liêng và mới mẻ luôn được sinh ra trong lịch sử Giáo Hội.
Vậy, đó là con đường được vị Mục Tử tối cao của Giáo Hội chỉ ra cho chúng ta; ngài đã đề nghị với chúng ta sự từ tốn, nhưng trong cơn say; ngài đã đề nghị cho chúng ta thập giá, nhưng trong sự nhiệt thành. “Laeti bibamus sobriam profusionem Spiritus“, ngài đã nói với chúng ta như vậy. Chúng ta hãy vui mừng uống cạn cơn say từ tốn Thần Khí.
