9. BẤY GIỜ CÁC ÔNG SẼ BIẾT LÀ TÔI HẰNG HỮU
Ngay trước lễ Phục Sinh, tôi đang cử hành Thánh Thể trong một đan viện; trong bài Phúc Âm hôm ấy, Đức Giêsu nói: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy” (Ga 8,28).
Sự kiện những từ “Tôi Hằng Hữu” được viết bằng chữ hoa trong sách bài đọc đã làm tôi choáng váng và đột nhiên tôi được soi sáng. Những từ này “dội lên” trong tâm hồn tôi và từ ngày đó, tôi nghe chúng vang vang bên trong và bên ngoài tôi, trong thời gian và ngoài thời gian, như một giai điệu uy nghi và trọng thể: đó là tiếng kêu của Đấng Phục Sinh công bố: “Tôi Hằng Hữu, Tôi Hằng Hữu!” Đó đã là lễ Phục Sinh thực sự của tôi. Giờ đây tôi cảm thấy được thúc đẩy phải làm cho cả anh em nữa, anh em cũng nghe thấy tiếng kêu này. Nhân danh Đức Giêsu tôi kêu to cho mọi người: “Epheta! Hãy mở ra! Hãy mở ra để đón nhận tiếng kêu cứu thoát anh em”. Tiếng kêu chứng minh chân lý về mọi sự, vì chân lý về mọi sự là: Thiên Chúa “là”, còn con người “không là”; Thiên Chúa là tất cả và con người không là gì hết nếu không có Thiên Chúa.
Tôi xác tín rằng tiếng kêu của Đấng Phục Sinh: “Tôi Hằng Hữu” có điều gì đó quan trọng để nói với chúng ta, những thành viên của cuộc Canh tân, vào lúc đặc biệt này trong lịch sử của chúng ta. Nhưng trước tiên, chúng ta hãy cố gắng hiểu rõ hơn ý nghĩa của tiếng kêu này dưới ánh sáng của Phúc Âm Gioan và của tất cả Kinh Thánh.
Kiểu nói “Tôi Hằng Hữu” thường được Đức Giêsu nói trong Phúc Âm Gioan, và hầu như luôn đưa về biến cố thập giá: “Khi các ông giương cao Con Người lên”, có nghĩa là: khi các ông đóng đinh Ngài, “khi đó các ông sẽ biết Tôi Hằng Hữu!” Người ta có thể nói rằng toàn bộ Phúc Âm Gioan là một bước chuẩn bị lâu dài cho cảnh đồi Canvê; tất cả đều hướng về “giờ” này, bắt đầu bằng câu hô lên của Gioan Tẩy Giả: “Đây Chiên Thiên Chúa” (x. Ga 1,29). Chương 13 cũng của Phúc Âm này viết: “Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, để khi sự việc xẩy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu” (Ga 13,9). Trong chương 18, khi Đức Giêsu bị bắt, tác giả sách Phúc Âm thuật lại cuộc đối thoại này: “Các anh tìm ai?” Họ đáp: “Tìm Giêsu Nadaret”. Người nói: “Chính tôi đây!” (bản gốc bằng tiếng Hy lạp luôn dùng cùng một kiểu nói: “Ego eimi”, “Tôi Hằng Hữu”). Khi Người vừa nói: “Chính tôi đây! Thì họ lùi lại và ngã xuống đất” (Ga 18,6). Chính vì những từ này, Tôi Hằng Hữu, mà kẻ thù của Ngài lùi lại và ngã xuống đất: sức mạnh như sét đánh của Hữu Thể thần linh, ngay khi Thiên Chúa cho Ngài được tự do biểu lộ!
Thế nhưng có gì mầu nhiệm trong những từ này? Tại sao chúng bắt đầu bằng chữ hoa trong các Phúc Âm? Cuối cùng, đây là về một chủ ngữ “tôi” và một vị ngữ “là”, tức là về một mệnh đề sơ đẳng của ngôn ngữ con người, đơn giản như bánh mì trong lãnh vực dinh dưỡng. Mầu nhiệm ở chỗ: “Tôi Hằng Hữu” là danh xưng của Thiên Chúa và trong danh xưng, theo Kinh Thánh, ẩn chứa mầu nhiệm con người và quyền năng của Ngài. Con người chúng ta không bao giờ nói hai từ này một mình; chúng ta nói: “Tôi là đàn ông, tôi là phụ nữ, tôi mệt mỏi, v.v.”, không bao giờ cụt ngủn: “tôi là”. Chỉ mình Thiên Chúa có thể nói như vậy, không buộc phải thêm bất cứ điều gì.
Thiên Chúa nói với Môsê: “Ta là Đấng Hiện Hữu”; và Ngài thêm: “Ngươi nói với con cái Israel thế này: Đấng Hiện Hữu sai tôi đến nói với anh em” (x. Xh 3,14tt). Ý nghĩa danh xưng này của Thiên Chúa là: “Ta là Đấng thực sự hiện hữu, Đấng có đó, Đấng hằng sống, Đấng cứu độ”; tất cả những điều đó đối nghịch với các thần tượng, những thần tượng này, ngược lại, không có uy tín nào bên ngoài suy nghĩ của con người.
Nhưng chúng ta hãy nghe chính Thiên Chúa giải thích tên mình thế nào trong một số đoạn Kinh Thánh. Trong bài ca của Môsê, trong sách Đệ nhị luật, chúng ta đọc: “Đâu rồi các thần của chúng? […] Bây giờ hãy coi đây: Ta chính là Ta, bên cạnh Ta, chẳng có thần nào khác!” (x. Đnl 32,37.39). Trong Isaia, Thiên Chúa hô lên với sức mạnh tương tự: “Há chẳng phải Ta, chẳng phải Đức Chúa. Ngoài Ta ra không có thần nào nữa, chẳng có thần công minh cứu độ, ngoại trừ Ta [..] vì Ta là Thiên Chúa, chẳng có chúa nào khác… (Is 45,21-23). Chỉ một Đấng trong toàn thể vũ trụ có thể tập hợp những từ này: “Ta là Thiên Chúa Hằng Hữu.” Tiên tri Amos nói về Thiên Chúa: “Sư tử đã gầm lên, ai mà không sợ hãi?” (x. Am 3.8). Đó là những tiếng gầm thét của sư tử làm rung chuyển trời đất. Tiếng gầm thét này đã quăng Satan xuống: “Ai bằng Thiên Chúa?” Tôi rất thích một câu trong Thánh vịnh 46: “Dừng tay lại: Hãy biết Ta đây là Thiên Chúa” (Tv 46,11). Thiên Chúa như người cha mời gọi chúng ta “dừng lại” (bản Phổ thông cũ nói “Hãy dành một thời gian nghỉ ngơi”, vacate) để khám phá điều duy nhất thực sự quan trọng là biết rằng Ngài là Thiên Chúa.
Khi Đức Giêsu công bố “Tôi Hằng Hữu”, Ngài áp dụng cho mình Tên của Thiên Chúa; như thể Ngài nói, “Tôi là Thiên Chúa! Ngài, Đấng “thừa hưởng muôn vật muôn loài” (x. Dt 1,2; Mc 12,7), trước hết Ngài thừa hưởng Tên của Cha mình. Yêu cầu của Ngài mang Tên của Thiên Chúa dựa trên một yếu tố có trước, là sự tiền hữu của Ngài với tư cách Ngôi Lời: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời” (Ga 1,1); Quả thực Đức Giêsu có lần đã nói: “Trước khi có ông Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,58). Nhưng rất thường thì tước hiệu này dựa trên một biến cố sẽ đến, biến cố Vượt Qua: Khi các ông giương cao Con Người lên…” Nhưng giữa hai biến cố có một sự khác biệt lớn: sau Phục Sinh, Đức Giêsu là “Đấng là”, không chỉ là Ngôi Lời Thiên Chúa, mà còn là một con người; đó là sự thật lạ lùng: một người chia sẻ chính tên của Thiên Chúa.
Đức Giêsu Nadaret chỉ mạc khải chân tính thực sự của mình trên thập giá. Nhưng làm sao có thể như thế được? Trên thập giá, Đức Giêsu là “Đấng không là”, “một con sâu chứ không phải một con người”, “một người mà trước mặt người đó người ta giấu mặt […]”. Mầu nhiệm chính xác là ở đó. Hữu thể của Đức Giêsu hoàn toàn dựa trên thái độ không là gì hoặc không làm gì cả, phụ thuộc vào Chúa Cha theo cách hoàn toàn và tuyệt đối: “Bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy” (Ga 8,28). Đức Giêsu là “Tôi Hằng Hữu” vì Ngài vâng phục. Vì Ngài “vét rỗng” chính mình và đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban cho ngài danh hiệu (x. Pl 2,6tt). Danh hiệu gì vậy? Không chỉ danh hiệu Giêsu, mà còn nhiều hơn thế: Chúa, Kyrios, Adonai; danh hiệu không thể thốt ra: Yahve, Đấng là!
Ngài trao Thần Khí
Giờ đây chúng ta sẽ đi theo Gioan, người sẽ dẫn chúng ta lên đồi Canvê để chiêm ngưỡng lúc mà tất cả những điều đó được hoàn tất. Đức Giêsu đã nói: “Khi các ông giương cao Con Người lên …”: thì đây, cuối cùng, Con Người đã được giương lên; điều gì lại xảy ra nữa đây? Trong Phúc Âm Gioan, chương 19, câu 30, chúng ta đọc: “Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí”. Chính là nơi phát sinh Thánh Thể; chính đó là nguồn gốc, nếu chúng ta muốn đi ngược lên dòng sông không gián đoạn của tất cả mọi Thánh lễ – hai ngàn năm Thánh lễ – để xem dòng sông Thánh Thể này đã vọt ra từ “tảng đá” nào, thì nó ở ngay trước mắt chúng ta: “Họ cùng uống nước chảy ra từ tảng đá linh thiêng vẫn đi theo họ; tảng đá ấy chính là Đức Kitô” (1Cr 10,4). Từ tảng đá này vọt ra “thức uống thiêng liêng” là Chúa Thánh Thần, Đấng ban các bí tích, và ban mình qua các bí tích. Câu “Ngài trao Thần Khí” có một nghĩa kép, như thường thấy nơi thánh Gioan: một nghĩa tự nhiên và một nghĩa thần bí. Trên bình diện tự nhiên, điều đó có nghĩa là: “Ngài đã trút hơi thở cuối cùng, Ngài thở hắt ra; trên bình diện thần bí, thì có nghĩa là: “Ngài trao Chúa Thánh Thần”. Hơi thở cuối cùng của Đức Giêsu là hơi thở đầu tiên của Giáo Hội, hơi thở này bắt đầu có vào chính lúc này. Nó được tượng trưng bằng nước và máu, mà, ngay sau đó, vọt ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô.
Có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa “Tôi Hằng Hữu” của Đức Kitô và sự tuôn đổ Thần Khí; cả hai tùy thuộc vào sự kiện Ngài được giương cao trên thập giá. Gioan nói: “Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giêsu chưa được tôn vinh” (Ga 7,39). Điều đó có nghĩa là Đức Giêsu “là”, Ngài là Chúa, vì Ngài ban Thần Khí. Việc trao ban Thần Khí cho thấy Ngài “là”, Ngài là Đấng Hằng Sống, Ngài “sống trong Thần Khí” (x. 1Pr 3,8), hoặc “sống theo Thần Khí” (x. Rm 1,4). Đức Giêsu thực hiện quyền làm chúa và sự cứu độ trong Thần Khí; Chúa, Đấng Cứu Chuộc, Đấng Cứu Độ, nơi Ngài không phải là những tước hiệu pháp lý trừu tượng hay những ký ức thuần túy về các biến cố đã qua, nhưng là những thực tại sống động và hiện tại. Giờ đây, Đức Giêsu là Chúa của tôi vì Ngài hoạt động trong tôi, trong Giáo Hội, trong thế giới: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta, đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta” (1Ga 4,13). Như vậy, “Tôi Hằng Hữu” được bao bọc bằng tình yêu, vì Đức Giêsu xuất hiện như một Đấng “là cho chúng ta”, Đấng yêu thương chúng ta.
Hiện hữu trong Đức Giêsu Kitô
Giờ đây chúng ta phải thực hiện bước quyết định, đi sâu hơn vào mầu nhiệm này, chuyển từ chiêm niệm sang bắt chước. Đức Giêsu đã trở thành “Tôi Hằng Hữu” bằng cách trải qua việc chối bỏ chính mình, qua sự vâng phục hoàn toàn nhất. Tôi cũng phải làm như vậy; phải trải qua việc chối bỏ chính mình, sự “không là” (non-être) của mình, để cuối cùng có thể thực sự là (être vraiment). Nhưng là ai, là cái gì? Phải chăng là một cái tôi mới, mạnh mẽ hơn? Không phải! Để Đức Giêsu “là” trong tôi, tôi phải không là. Để Đức Giêsu là “Tôi Hằng Hữu” cho tôi, tôi phải nhỏ đi và Ngài phải lớn lên, như thánh Gioan Tẩy Giả nói. Cuối cùng, tôi phải có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Nhận thức bản thân, tìm thấy nhân cách của mình: đây là những từ khóa trong văn hóa thế giới ngày nay. Nhưng trong những lời này lại vang lên tiếng rít của con rắn xưa: “Ông bà sẽ […] ông bà sẽ nên giống Thiên Chúa”, tức là độc lập với tất cả, không cần phải cảm ơn bất cứ ai về những gì mình đang là. Chủ nghĩa vô thần đang lan tràn khắp nơi trên thế giới đặc biệt phát xuất từ gốc rễ độc hại này.
Nhưng Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta con đường dẫn đến thành công, một con đường chống lại con đường do con rắn đề nghị. Ngài đã cho thấy một cây khác mà những hoa trái của nó làm cho chúng ta trở nên “giống Thiên Chúa”: cây thập giá, cây của sự vâng phục, của ý muốn không sống cho chính mình. Kitô hữu là những người “hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu”. Thánh Phaolô viết: “Chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu (1Cr 1,30); “Bình an cho anh em, những người đang sống trong Đức Kitô” (1Pr 5,14). Hiện hữu trong Đức Kitô, không phải trong chúng ta, có nghĩa là hiệp thông với chính Hữu Thể của Đức Giêsu.
Điều này phải khơi dậy trong lòng chúng ta một khát vọng lớn lao là không còn sống cho chính mình nữa, tách “cái Tôi” khủng khiếp của chúng ta ra khỏi những gì chúng ta nói và làm, đến độ coi “cái Tôi” này gần như một “người thứ ba” và nói: “cái Tôi nói, cái Tôi làm…” thay vì “tôi nói, tôi làm…” Mong muốn bỏ qua “cái Tôi” này để quan tâm đến “cái Tôi” đích thực của chúng ta, là “cái Tôi” của Đức Kitô. Mong muốn giết chết “con sâu” làm hư tất cả các hoa quả của chúng ta…
Một lời cho cuộc Canh tân
Ngay từ đầu tôi đã nói rằng “Tôi Hằng Hữu” của Đức Giêsu có điều gì đó muốn nói với cuộc Canh tân vào lúc này, chúng ta sẽ xem nói về vấn đề gì. Không khó: chỉ cần khám phá xem, đối với cuộc Canh tân, cám dỗ “ăn trái cây cho biết điều thiện điều ác” ẩn núp chỗ nào. Để cho lời Chúa tra vấn và xét xử chính là một dấu chỉ cho thấy sức khỏe tốt và sức sống. Cần phải có can đảm để Chúa khiển trách mình: “Khi Chúa xét xử là Người sửa dạy chúng ta, để chúng ta khỏi bị kết án cùng với thế gian” (1Cr 11,32). Chúng ta thoát khỏi sự xét xử của Thiên Chúa không phải như người thắng cũng không phải như kẻ thua: chỉ có lời Chúa mới chiến thắng. Vì vậy, chúng ta hãy hạ mình xuống dưới bàn tay quyền năng của Thiên Chúa, để Ngài được tôn vinh và để Ngài tôn vinh chúng ta khi nào Ngài muốn.
Sự cám dỗ ăn trái cây biết điều thiện điều ác hệ tại ở chỗ – đối với cuộc Canh tân – muốn là một cái gì đó cho chính mình, muốn nhìn vào chính mình, muốn thống kê, muốn tránh nhìn mặt trời để nhìn vào cái bóng. Khi cuộc Canh tân nhìn vào chính nó – khi tranh luận về chính nó, khi tự vệ – nó nhìn vào cái bóng chứ không nhìn vào mặt trời là Đức Giêsu Kitô là Chúa. Vào chính lúc này, chúng ta có thể là một cộng đoàn nhìn vào mặt trời, hoặc một cộng đoàn nhìn vào cái bóng.
Thánh Phaolô đã viết: “Những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có” (1Cr 1,28): vấn đề là xem cuộc Canh tân có muốn là cái “không đáng kể” này về phương diện nhân bản, mà Thiên Chúa có thể sử dụng để “hủy diệt những gì hiện có”; hoặc xem nó muốn trở thành một trong những gì “hiện có”, “đáng kể”, làm cho tiếng nói của nó được nghe, tạo thành một sức mạnh về con số và tổ chức, quan trọng về phương diện xã hội học, nhưng bị Thiên Chúa thẳng tay hủy diệt.
Thật không may, phải nói rằng có một cái gì đó không thể tránh khỏi ở đây. Một khi đi vào lịch sử và được giao cho con người, công việc của Thiên Chúa – tất cả công việc của Thiên Chúa – có xu hướng ngày càng trở nên của con người hơn; lời tiên tri có xu hướng trở thành định chế. Đây là những gì đã xảy ra trong giáo đoàn Galat.
Tuy nhiên, điều đó không ngăn cản được thánh Tông Đồ – và cả chúng ta nữa – đau buồn mà kêu lên: Sớm vậy sao? Anh em đã có đủ công việc để bước đi trên những dòng nước đức tin tinh tuyền, thế mà tất cả anh em lại bị những công việc chi phối sao? Công việc của anh em thuộc về anh em! “Hỡi những người Galat ngu xuẩn, ai đã mê hoặc anh em […] Anh em ngu xuẩn như thế sao? Anh em đã khởi sự nhờ Thần Khí, nay lại kết thúc nhờ xác thịt sao? Bấy nhiêu kinh nghiệm anh em đã trải qua, lại uổng công sao?…” (Gl 3,1tt).
Thành thật mà nói, tôi không biết “kết thúc trong xác thịt” có nghĩa gì trên bình diện cụ thể, chúng ta sẽ phải cùng nhau khám phá nó; nhưng tôi biết nguy hiểm này có thực, đe dọa tất cả cuộc Canh tân, và không chỉ ở Ý. Chính vì thế, giống như một lính canh, tôi lên tiếng báo động để ngày nguy hại ít nhất được đẩy lui: Thiên Chúa vẫn là Chúa duy nhất, là chủ duy nhất nơi chúng ta, càng lâu càng tốt, Ngài phải được tôn vinh, “chỉ mình Ngài mà thôi”.
Đôi khi tôi tự hỏi Đức Giêsu thích gì trong một số nhóm cầu nguyện của chúng ta hoặc trong những mầm non của cộng đồng đang phát triển hầu như khắp nơi trong cuộc Canh tân, đến độ bày tỏ ở đó nhiều quyền năng và những điều kỳ diệu. Và tôi đã có cảm tưởng rằng bí mật khiến cho Thiên Chúa mến họ là sự nghèo khó tuyệt đối của họ, sự kiện khiến họ không có quá khứ cũng không có tương lai. Họ gần như “không là gì”, giống như một số hình thức sống ra đời buổi sáng và biến mất buổi chiều, giống như một đám mây âm thầm tan biến trên bầu trời sau khi trút hết nước xuống trái đất.
Các dòng tu truyền thống có một quá khứ, thường vinh quang; những tu hội gần đây nhất (những tu hội đời, những phong trào giáo hội) có một tương lai, và đôi khi họ ý thức được điều đó. Trong số những sự việc lớn và vững chắc (được Thiên Chúa yêu thương và sử dụng cho việc tốt), Chúa tìm kiếm một sự việc khác rất nhỏ bé, mà Ngài có thể có sao sử dụng vậy, không cần phải lo lắng cả quá khứ lẫn tương lai của nó. Ngài tìm kiếm một sự việc giúp Ngài chỉ trong một khoảnh khắc, một sự việc cho không, không muốn là gì cả, không đòi hỏi gì bù lại, vì đã làm cho Chúa hạnh phúc và cho phép quyền năng và sự sáng tạo của Ngài rạng rỡ trên thế giới.
Cuộc Canh tân trong Thần Khí có muốn là sự việc rất nhỏ bé này, nhưng làm cho Thiên Chúa hài lòng chăng? Có muốn là dụng cụ này (một dụng cụ chẳng là gì) trong tay toàn năng của Ngài chăng? Này nhé, khi đó đừng lo “sắp xếp công việc”, bảo đảm cho cuộc Canh tân một tương lai trong số các thực tại của Giáo Hội hôm nay; đừng quan tâm tới những thống kê.
Chính tương lai của Giáo Hội phải được chúng ta coi là đủ; tương lai ấy đã được bảo đảm và đủ cho mọi người. Chính Giáo Hội phải đáp ứng đủ cho chúng ta ở cấp độ tổ chức. Về phía chúng ta, trong mức độ có thể, chúng ta hãy tìm cách duy trì lời tiên tri cho Giáo Hội. Chúng ta hãy tiếp tục kín múc tất cả những gì cần để sống sự sống của Thần Khí (các bí tích, quyền bính, thừa tác vụ, học thuyết) trực tiếp trong Giáo Hội, đặc biệt trong Giáo Hội địa phương, mà không đặt những rào cản hoặc cơ cấu trung gian. Chúng ta hãy tiếp tục trút tất cả những gì chúng ta là, cho dù những cái đó không đáng kể, trực tiếp vào trung tâm của đời sống là Giáo Hội. Tất cả điều này làm trong thinh lặng, hoặc công khai nếu có thể hoặc nếu đòi chúng ta làm như thế. Chúng ta hãy tìm cách trở thành đám mây nhỏ sẵn sàng tan đi, khi đã trút hết nước xuống trên Giáo Hội.
Đôi khi tôi quan sát những gì đang xảy ra trong các tu hội và các dòng tu, những thực thể có cả một quá khứ phải quản lý. Một phần lớn năng lực của họ (đôi khi thậm chí toàn bộ năng lực) dấn thân vào việc duy trì và đổi mới dòng (các nhà và công việc phải điều hành, các thỉnh sinh phải đào tạo…); Chỉ còn đôi chút sự việc trực tiếp đổ vào kho tàng của toàn thể Giáo Hội. Người ta không yêu cầu chúng ta “tích lũy vốn”: chúng ta phải hao tốn tất cả để làm lợi cho Giáo Hội và làm điều đó ngay lập tức.
Có hôm, ngay sau cuộc gặp gỡ của tôi với công cuộc Canh tân, tôi đã cầu nguyện và những suy nghĩ rất chính xác xuất hiện trong trí; Tôi có ấn tượng khi nhìn thấy những gì Chúa đang làm trong Giáo Hội qua cuộc Canh tân. Tôi lấy một mảnh giấy, cầm bút ghi chú một vài suy nghĩ khiến tôi ngạc nhiên, vì chúng không phải là kết quả của bất cứ suy niệm nào. Những suy nghĩ ấy cho biết: “Chúa Cha muốn tôn vinh Con mình là Đức Giêsu Kitô trên thế gian theo một cách mới, bằng một phát minh mới. Chúa Thánh Thần chịu trách nhiệm về sự tôn vinh này, vì có lời chép: “Ngài sẽ tôn vinh tôi và chính từ điều tốt đẹp của tôi mà Ngài sẽ nhận được.” Một đời sống Kitô giáo hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa, không có người sáng lập mới, không có quy luật mới, không có hội dòng mới. Người sáng lập là Đức Giêsu. Quy luật là Phúc Âm, được Chúa Thánh Thần diễn giải. Hội dòng là Giáo Hội. Không phải lo lắng cho tương lai. Đừng tìm cách làm những việc còn lại, tham gia vào các cơ quan được công nhận, là những cơ quan trường tồn nhờ những người kế vị… Đức Giêsu là người sáng lập không bao giờ chết, vì vậy Ngài không cần người kế vị. Phải để Ngài làm mọi việc luôn luôn mới mẻ, ngay cả trong tương lai. Chúa Thánh Thần cũng sẽ ở trong Giáo Hội ngày mai!”
Để không phải “kết thúc trong xác thịt”
Chúng ta có thể chỉ ra những nguy hiểm đáng đề phòng và trên thực tế, chúng có thể đưa chúng ta trở lại với những thói quen cũ và khiến chúng ta “kết thúc trong xác thịt”. Nguy hiểm lan rộng nhất là muốn “thuần hóa” công cuộc Canh tân và chính Thần Khí. Nhờ cuộc Canh tân, người ta – mỗi người theo cách riêng của mình – đã cảm nghiệm được sự thánh thiện của Thiên Chúa như “lửa thiêu hủy”. Người ta thậm chí có thể nói rằng cuộc Canh tân Đặc sủng trong Giáo Hội công giáo phát sinh từ một kinh nghiệm như kinh nghiêm đó. Một trong những người tham gia vào cuối tuần nổi tiếng ở Duquesne đã mô tả kinh nghiệm sống của nhóm tụ tập trong nhà nguyện: “Sự kính sợ Chúa đã tác động mạnh đến chúng tôi; một loại khủng bố thánh ngăn cản chúng tôi nhìn lên. Ngài ở đó, hiện diện cá nhân và chúng tôi sợ không thể chịu đựng được tình yêu thương như vậy. Chúng tôi đã tôn thờ Ngài, lần đầu tiên khám phá ra ý nghĩa của việc tôn thờ. Chúng tôi đã có một kinh nghiệm nóng bỏng về thực tại đáng sợ và sự hiện diện của Chúa. Từ đó chúng tôi đã hiểu theo một cách mới những hình ảnh về Đức Chúa, Đấng, trên núi Sinai, đến trong sấm sét và vang lên từ ngọn lửa của Hữu Thể Ngài, cũng như kinh nghiệm của Isaia và câu nói rằng “Thiên Chúa chúng ta là “lửa thiêu hủy”. Nỗi sợ thánh này, cách nào đó, cũng giống như tình yêu, ít nhất đó là cảm tưởng của chúng tôi. Đó là một cái gì đó vô cùng đáng yêu và đẹp đẽ, mặc dù không ai trong chúng tôi đã nhìn thấy bằng một hình ảnh nhạy cảm. Như thể thực tại ngôi vị của Thiên Chúa, rực rỡ và chói lọi, đã xuống trên căn phòng này để lấp đầy nó và cùng lúc lấp đầy chúng tôi.[48]
Nhưng con người không thể ở yên lâu trong một bầu không khí như vậy và trước mặt một sự hiện diện như vậy, một sự hiện diện xét xử mọi sự và tiết lộ mọi sự. Do đó, con người kêu lên như Isaia: “Ai trong chúng ta ở gần được lửa thiêu? Ai trong chúng ta ở gần được hỏa hào muôn kiếp?” (Is 33,14). Không thể chịu đựng được lửa thiêu này, con người tội lỗi làm gì? Anh ta thuần hóa nó, che mình đi, tránh xa nó. Anh xoay sang những sự việc anh ít ngán hơn. Ngọn đèn như vậy được đặt “dưới đáy thùng” của các lời nói và các sáng kiến của con người. Dần dần, con người dành lại thế thượng phong bằng cách hoạt động uổng công. Khi đó phát sinh giai đoạn ý thức hệ: người ta quan tâm đến những ý tưởng về sự việc hơn là chính sự việc. Một điều rất có ý nghĩa là thấy rằng lúc đầu, từ khi hai hoặc ba anh em tham dự cuộc Canh tân đã ở bên nhau, bắt đầu cầu nguyện; Bây giờ, trong tình huống tương tự, rất thường khi họ bắt đầu nói về tầm quan trọng của lời cầu nguyện! Sự khác biệt về thái độ này dường như không quá lớn, nhưng thực ra lại rất lớn!
Trong giai đoạn này xuất hiện một thứ vụ hình thức: chúng ta làm những việc tương tự như trước đây, nhưng không có sức mạnh của ngày xưa, bởi vì bên trong chúng ta không có Thần Khí và sự sống. Ở cả hai bờ đại dương, chúng ta đều thấy mệt mỏi và “kiệt sức” như nhau. Đôi khi tôi có ấn tượng rằng Mẹ Maria theo dõi các buổi nhóm cầu nguyện của chúng ta và Mẹ hơi buồn mà nói với Con Mẹ, khi Mẹ lặp lại lời kêu cầu tại Cana xứ Galilê: “Họ hết rượu rồi!”
Chúng ta phải đấu tranh, để không phải kết thúc trong xác thịt; đấu tranh để trả lại cho Thiên Chúa quyền năng của Ngài. Bất cứ sự xâm nhập nào của xác thịt mà chúng ta thấy nơi chúng ta, đều không phải là một thất bại, nhưng đúng hơn, là một chiến thắng, bởi vì đánh bật kẻ thù là đã đánh bại chúng. Đó là một hành động giải phóng mà lời Chúa đang thực hiện.
Một cách đặc biệt “kết thúc trong xác thịt” là tính ngoại tại. Qua thuật ngữ này, tôi không nói đến việc giơ tay lên hoặc một kiểu cách nào đó, những cử chỉ đi kèm với lời cầu nguyện của chúng ta, nhưng đến một sự quan tâm quá mức về hình ảnh bên ngoài của chúng ta, về những gì người ta nói hoặc nghĩ về chúng ta; hoặc, tôi nghĩ đến việc công khai hóa (và ngay lập tức) tất cả những gì Chúa làm tốt ở trong lòng mỗi người hoặc trong nhóm, ngay cả khi là về những việc hẳn là tốt nếu giữ thận trọng, vì chúng là “bí mật của nhà vua”. Đôi khi phải nhớ lại một số lời của Đức Giêsu, chẳng hạn: “Đừng khua chiêng gióng trống…” hoặc “Đừng cho tay trái biết việc tay phải làm.” Sự kiện việc gì cũng công khai hóa (trừ những việc có thể hoặc phải minh chứng để góp phần vào việc xây dựng mọi người) làm cho những công việc của Thần Khí chịu cùng số phận như những hạt giống gieo vãi trên đường: Những con chim sà xuống và mang chúng đi mất. Và chúng ta biết ai là những con chim này…
Cách hành xử này rất thường phát xuất từ những ý định tốt: ý định làm cho mình được biết đến trong Giáo Hội, ý định làm chứng cho những điều kỳ diệu của Chúa. Nhưng đó là bước đi khó khăn. Sự quý trọng và chấp thuận của Giáo Hội – của Giáo Hoàng và các giám mục – là một điều tốt, là một quà tặng của Thiên Chúa; không thể thiếu nó nếu chúng ta muốn hành động trong sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội và nếu chúng ta muốn chắc chắn đi đúng đường. Nhưng mong muốn và tìm kiếm quá mức sự quý trọng và chấp thuận đó có thể không còn tốt nữa; việc đó có thể tương đương với việc “tìm cách lấy lòng người đời hơn là Thiên Chúa”, điều mà thánh Phaolô khiển trách người Galat (x. Gl 1,10). Thánh Phaolô viết cho tín hữu Rôma: “Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi” (Rm 13,3). “Hãy làm điều thiện” là điều liên hệ đến chúng ta. Sự kiện nhận được lời khen ngợi chỉ đến sau và không tùy thuộc vào chúng ta. Không được tìm cách thấy khói trước khi thấy lửa: chúng ta được kêu gọi quan tâm đến “lửa” trong Giáo Hội, chứ không phải khói; đến vinh quang của Thiên Chúa, chứ không phải danh tiếng của chúng ta! Chúng ta hãy nhớ những lời của Đức Giêsu và sống theo lời đó: “Tôi không tìm vinh quang cho mình. Có Đấng tìm cho tôi và xét xử cho tôi” (Ga 8,50), Đấng ấy là Chúa Cha.
Một cách khác “kết thúc trong xác thịt” đang đe dọa chúng ta là cám dỗ muốn làm mọi sự, trở thành một sức mạnh của Giáo Hội bao trùm mọi lãnh vực, hiện diện trong mọi khâu. Có những anh em muốn – với thiện ý – rằng cuộc Canh tân chăm lo cho các công trình văn hóa xã hội, công việc thiện nguyện, trường học, thanh thiếu niên, ma túy… Kinh nghiệm của Giáo hội cho thấy bình thường đây là cách tốt nhất san bằng các dòng tu khác nhau, tước đi đặc sủng riêng của họ, và như vậy, tước đi sức mạnh nguyên thủy của họ. Cuối cùng – như đôi khi xẩy ra ngày nay – mọi dòng tu đều làm cùng một việc và các dòng tu chiêm niệm hầu như không phân biệt được với các dòng tu hoạt động. Đây cũng là một cám dỗ kiêu ngạo: muốn là mọi sự và làm mọi sự!
Một hôm, hồi thánh Phanxicô còn sinh tiền, các bề trên (“ministres ou supérieurs) đã cùng đi với một Hồng y đến gặp ngài. Họ thúc giục ngài đưa những quy tắc phải giữ rút ra từ các quy luật của thánh Bênêđitô, thánh Augustinô và thánh Bênađô vào trong “Dòng Anh Em Hèn Mọn”, để làm cho cuộc sống của các anh em được “trật tự” hơn và việc học của họ nghiêm túc hơn. Người Nghèo cầm tay vị Hồng y, dẫn đến trước hội đồng anh em đang tập trung trong tổng tu nghị và kêu lên: “Thưa các anh em, những người anh em của tôi, xin hãy nghe; Thiên Chúa đã kêu gọi tôi đi theo con đường đơn sơ. Ngài đã cho tôi thấy tôi phải giống như một người điên mới trên thế giới! Ngài sẽ làm anh em bẽ mặt vì sự thông thái của anh em […] và khi đó anh em sẽ xấu hổ mà trở lại với ơn gọi của mình[49]”; Thánh Phanxicô coi trọng các dòng tu khác, đến độ xét rằng, đối với một số nhiệm vụ, Giáo Hội đã chuẩn bị những gì phải có và do đó không cần phải thiết lập một loại cạnh tranh.
Ai biết đâu rằng Thiên Chúa kêu gọi đổi mới, và tất cả chúng ta, những người đang sống nó, phải là “những người điên mới” trên thế giới; những người điên có sự điên rồ đặc biệt mà thánh Phaolô đề cập khi ngài nói với người Corintô: “Chúng tôi điên dại vì Đức Kitô, còn anh em thì khôn ngoan trong Đức Kitô” (1Cr 4,10).
Khi ấy chúng ta tự hỏi: “đặc sủng”của chúng ta là gì, đâu là mục đích Chúa gợi ra cuộc Canh tân? Tôi thiết nghĩ không một ai nghi ngờ rằng “chúng ta đã khởi đầu theo Thần Khí”; để không “kết thúc theo xác thịt”, phải trở về với những gì đã bắt đầu, trở về với điều thiết yếu, trở về với ngày – không quá xa vời – chúng ta còn trẻ. Ơn của chúng ta hệ tại ở chỗ khẳng định quyền làm chúa sống động hiện nay của Đức Giêsu nhờ Thần Khí của Ngài trong Giáo Hội; hệ tại ở chỗ “trả lại quyền năng cho Thiên Chúa” hoặc “nhìn nhận sức uy hùng của Thiên Chúa” (x. Tv 68,35); chính là quả quyết rằng Thiên Chúa là Thiên Chúa, và đó là tất cả. Để công bố điều đó, chỉ cần trở nên như trẻ em và người nghèo, giống như những người đã chào đón Đức Giêsu khi Ngài vào thành Giêrusalem. Vì nếu người ta làm thinh, thì Đức Giêsu sẽ buộc phải làm cho sỏi đá kêu lên.
Phép rửa trong Thần Khí
Có những khoảnh khắc và cử chỉ mà quyền năng này của Thiên Chúa được tuyên bố một cách tinh tuyền hơn. Đây là sự tuôn đổ Thánh Thần, hay phép rửa trong Thánh Thần! Chúng ta đã làm gì với sự tuôn đổ Thánh Thần? Chính sự tuôn đổ đó đã che giấu ân sủng riêng của cuộc Canh tân. Qua sự tuôn đổ đó, Đức Giêsu cho thấy mình là Đấng “hiện hữu”, là Chúa ban Thần Khí. Trong đó con người không là gì cả và Thiên Chúa là tất cả. Nếu có thể thu thập kinh nghiệm của rất nhiều anh em, nhất là những anh em đầu tiên, chúng ta sẽ phát hiện ra bao nhiêu cuộc đời đã được đổi mới, bao nhiêu ơn gọi đã được sự tuôn đổ gợi ra.
Nhưng giờ đây, sự “tuôn đổ” đã được đưa xuống hạng hai. Có những nhóm mà ít anh em đã đón nhận nó và coi nó không quan trọng lắm đối với việc sống sự Canh tân. Người ta tiếp tục nói: “Này, chúng ta đã lãnh nhận phép rửa và đó là nơi Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta…” Đức Giêsu cũng được đầy Thánh Thần từ lúc thụ thai trong lòng Đức Maria; tuy nhiên, Ngài đã muốn nhận phép rửa tại sông Giođan và Thánh Thần ngự trên Ngài một lần nữa. Mỗi sứ mệnh và ơn gọi mới tương ứng với một sự tuôn đổ mới của Thần Khí, cho dù chỉ có sự tuôn đổ đầu tiên có tính bí tích.
Tôi tin rằng cuộc Canh tân mất đi sức mạnh bắt nguồn từ việc lơ là với phép rửa trong Thần Khí; vì không có nó, cuộc Canh tân không khác mấy so với các phong trào khác của Giáo Hội. Điều này khiến chúng ta muốn nhắc lại lời thánh Phaolô đã nói với tín hữu Galát: “Bấy nhiêu kinh nghiệm anh em đã trải qua, lại uổng công sao?” (Gl 3,4). Phải bắt đầu đánh giá lại quà tặng này. Phải đánh thức các đời sống Kitô hữu đang ngủ yên hoặc bị dập tắt. Khi đó, con người sẽ có thể làm mọi sự, tùy theo tâm thái riêng của mỗi người: dấn thân vào xã hội, truyền giáo, ơn gọi tu trì. Nhưng khi ấy tất cả những điều đó sẽ là một biểu hiện của sự năng động của Thần Khí hơn là một hình thức hiếu động của con người. Trong cảnh mà tôi vừa nhắc đến, khi các anh em yêu cầu thánh Phanxicô xin Đức Giáo Hoàng ban đặc ân được giảng và giải tội trong các nhà thờ khác nhau (vì các linh mục không cho phép), “Người Nghèo” trả lời: “Đừng lo: những người hoán cải không khó tìm được cha giải tội đâu![50] Vì vậy, mối quan tâm chính của chúng ta trên hết phải là giúp cho người ta hoán cải, thức tỉnh đức tin, tin chắc rằng mọi người sẽ tìm thấy trong Giáo Hội tất cả những gì họ cần để nuôi dưỡng đời sống mới họ đã tìm lại được.
Chúng ta phải có một ước muốn lớn lao trong lòng: cuộc Canh tân phải là, hoặc phải trở thành, nơi mà Đấng Phục Sinh có thể tuyên bố “Tôi Hằng Hữu”, danh xưng không thể tranh cãi của Ngài. Chớ gì Ngài vui mừng mà nói: “Ở đây chỉ có mình Tôi Hằng Hữu, không ai khác như thế!”
Lạy Chúa Giêsu, Vua vinh quang, Phu Quân rạng rỡ của Giáo Hội, chúng con đã thực sự đưa Chúa lên thập giá và giờ đây chúng con biết rằng Chúa Hằng Hữu. Lạy Chúa Giêsu! Xin ngự trong con, trong nhóm của con, trong cuộc Canh tân, trong Giáo Hội! Chúng con vui mừng, vì Chúa Cha đã ban cho Chúa Danh hiệu và trước Danh hiệu này, chúng con cùng quỳ gối tôn thờ. Amen!
