10. HÃY XÂY LẠI NHÀ CỦA TA
“Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Dân đó dám nói: “Bây giờ chưa phải lúc tái thiết Đền thờ kính Đức Chúa”. Nhưng có lời Đức Chúa phán, qua trung gian ngôn sứ Khác-gai, rằng: “Bây giờ có phải là lúc để các ngươi ở trong các nhà có ghép gỗ đóng trần, còn Đền thờ thì lại hoang tàn đổ nát không? Vậy giờ đây, Đức Chúa các đạo binh phán thế này : Các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi. Các ngươi gieo vãi nhiều, nhưng thu hoạch chẳng bao nhiêu. Các ngươi ăn mà không đủ no, uống không đủ say, mặc không đủ ấm. Đồng lương của người làm thuê lọt qua túi thủng. Đức Chúa các đạo binh phán thế này : các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi. Hãy lên núi, đưa gỗ về tái thiết Đền thờ cho Ta. Ta sẽ vui thích và tỏ vinh quang Ta ở đó, Đức Chúa phán” (Kg 1,2-8).
Lời tiên tri này, đọc cách “thiêng liêng” ngày hôm nay trong Giáo Hội, có tất cả quyền năng của một sự phán xét từ Thiên Chúa: lời đó “phán xét” tình trạng của chúng ta, phán xét chúng ta. Tương tự như vậy hôm nay, cũng như hôm sau khi từ cuộc lưu đầy trở về, một công cuộc tái thiết đang được tiến hành, một sự thức tỉnh giữa lòng dân Chúa. Nhưng việc tái thiết này diễn ra như thế nào? Nhiều người bận rộn xây “nhà riêng” của họ, không thèm để ý đến Nhà của Thiên Chúa đang đổ nát. Theo nghĩa đen, nhà riêng của họ có thể có nghĩa là nơi ở của họ (có những Kitô hữu sống trong lâu đài, được trang bị mọi thứ tiện nghi, nhưng không bao giờ bỏ tiền giúp cho công cuộc truyền giáo, cho việc xây dựng các nhà thờ mới, hoặc để bảo dưỡng giáo xứ của họ), nhưng theo nghĩa bóng, nhà riêng đó cũng có thể có nghĩa là nhóm riêng của họ, kinh nghiệm riêng của họ, dòng tu riêng của họ, nghĩa là thế giới nhỏ bé mà mỗi người chúng ta bị cám dỗ tạo ra trong Giáo Hội, mà quên đi mọi sự khác. Ngày nay Thiên Chúa cũng có nhà của Ngài trong thế giới, là Giáo Hội. Thánh Phaolô viết cho Timôtê: “Tôi muốn anh biết phải ăn ở thế nào trong nhà của Thiên Chúa, tức là Hội Thánh của Thiên Chúa hằng sống, cột trụ và điểm tựa của chân lý” (1Tm 3,15). Thiên Chúa mời gọi chúng ta làm việc cho ngôi nhà vĩ đại này, Ngài muốn nó ở trong lòng trí chúng ta. Như thể Thiên Chúa đang nói với chúng ta: “Trước hết hãy tìm kiếm Giáo Hội, rồi mọi sự khác sẽ được ban thêm cho ngươi! Nó sẽ được ban cho ngươi trong Giáo Hội và qua Giáo Hội.” Giáo Hội là người cộng tác đích thực và duy nhất của Thiên Chúa trong lịch sử. Ai không thu góp với Giáo Hội, thì sẽ phân tán; như tiên tri Khacgai nói, người đó để tiền lương của mình vào trong một chiếc “ví bị thủng”.
Do đó, đối với những thực tại mới đang xuất hiện hôm nay, điều rất quan trọng là phải tìm thấy mối tương quan đúng đắn với Giáo Hội. Tương lai không thuộc về các nhóm cũng như các phong trào của Giáo Hội; tương lai thuộc về Giáo Hội. Như nước chảy ra biển, cuộc Canh tân trong Thần Khí phải chảy về phía Giáo Hội, đổ vào Giáo Hội. Giờ đây tôi sẽ cố gắng đào sâu mối tương quan giữa cuộc Canh tân và Giáo Hội dưới hai khía cạnh: trước hết bằng cách đặt cuộc Canh tân liên hệ với Giáo Hội Công giáo, và sau đó là liên hệ với Giáo Hội địa phương.
Canh tân trong Thần Khí và Giáo Hội “Công giáo”
Thông thường, chúng ta hiểu Giáo Hội Công giáo là Giáo Hội Công giáo Rôma, đối lập với Giáo Hội Chính thống và Tin lành. Tư tưởng này đúng, nhưng là thứ yếu. Tính từ “Công giáo” đã thuộc về Giáo Hội từ rất lâu trước khi có những chia rẽ này và chỉ ra một thực tế sâu xa hơn nhiều so với thực tế mà chúng ta đã đề cập ở trên.
Thánh Ignatiô Antiokia, người đầu tiên dùng thuật ngữ này cho Giáo Hội, đã viết: “Giám mục xuất hiện ở đâu thì ở đó có cộng đồng, cũng như ở đâu có Đức Giêsu, ở đó có Giáo Hội Công giáo”[51]. Tính từ catholicos phát xuất từ trạng từ catholou có nghĩa là: “toàn bộ, nói chung, mọi nơi, phổ quát”. Trong Huấn giáo được gán cho thánh Cyrillô Giêrusalem, chúng ta thấy định nghĩa tốt nhất về tính từ được áp dụng cho Giáo Hội: “Giáo Hội được gọi là ‘Công giáo’ vì có mặt trên khắp thế giới, từ đầu này đến đầu kia của trái đất; vì dạy một cách phổ quát và không sai lầm tất cả những học lý mà con người cần biết […], vì đưa tôn giáo thật cho tất cả loài người […],vì săn sóc và chữa lành mọi tội lỗi cách phổ quát [.. .], vì có nơi mình tất cả các nhân đức, trong hành động hoặc trong lời nói, và mọi loại ân huệ thiêng liêng”[52].
Do đó tính từ “Công giáo” bao hàm tính phổ quát kép: một tính phổ quát bên ngoài, hoặc địa lý, bao gồm mọi người từ khắp nơi trên thế giới; một tính phổ quát bên trong, hoặc của nội dung, đó là lý do tại sao nó sở hữu mọi tín điều, nghĩa là tất cả sự thật và mọi đặc sủng.
Giáo Hội là Công giáo vì Giáo Hội là “sự toàn túc”, là “sự viên mãn của Đấng làm cho mọi sự được viên mãn” (x. Ep 1,23). Giáo Hội là tất cả chứ không phải một phần; là thân thể sống động chứ không phải một chi thể, hoặc một toàn bộ chi thể.
Từ đó, chúng ta hiểu tại sao chỉ có thể có một Giáo Hội “Công giáo”; vì không thể có hai “toàn bộ”, hai thân thể Đức Kitô phân biệt nhau. Chính vì thế dự phần vào Giáo Hội này dường như là chuyện hiển nhiên đối với chúng ta, để có sự sống: vì chỉ nơi Giáo Hội, chúng ta mới rút ra được chân lý của Thiên Chúa và chỉ trong Giáo Hội, các đặc sủng được kết hợp với nhau và có liên hệ sinh tử với nguồn mạch, là Thần Khí của Đức Giêsu phục sinh.
Thánh Irênê Lyon, người đã chuyển đạt cho chúng ta mật hoa tinh tuyền nhất của Truyền Thống, thông qua một trong những môn đệ của Thánh sử Gioan là thánh Polycarpô, đã viết chống lại những kẻ lạc giáo như sau: “Quả thực, chính cho Giáo Hội mà ‘Ân huệ của Thiên Chúa’ được giao phó”, như hơi thở đã được ban cho tác phẩm đã nặn đúc, để mọi chi thể có thể dự phần vào đó và nhờ thế mà được làm cho sống động; chính nơi Giáo Hội mà sự hiệp thông với Đức Kitô được ký thác, tức là Chúa Thánh Thần, khai ân của sự bất hoại, củng cố đức tin của chúng ta và là nấc thang đưa ta lên tới Thiên Chúa: là vì, như sách Thánh nói, “trong Giáo Hội, Thiên Chúa đã đặt các tông đồ, các tiên tri, các thày dạy” (1Cr 12,28) và tất cả những hoạt động khác của Thần Khí. Vậy tự tách ra khỏi Thần Khí này tất cả những ai, khi từ chối đến với Giáo Hội, tự làm mất đi sự sống do những học thuyết sai lầm và những hành động đồi bại của mình. Vì Giáo Hội ở đâu thì Thần Khí của Thiên Chúa cũng ở đó, và Thần Khí của Thiên Chúa ở đâu, thì Giáo Hội và tất cả ân sủng cũng ở đó. Và Thần Khí là Chân Lý. Chính vì vậy những ai tự tách ra khỏi Người, thì cũng không được nuôi bằng sữa Mẹ nữa để sống và không dự phần vào nguồn mạch trong suốt từ thân thể Đức Kitô chảy ra, nhưng “họ làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước” (Gr 2,13) và uống nước tanh hôi từ vũng bùn: họ trốn tránh đức tin của Giáo Hội vì sợ bị vạch mặt, và họ loại bỏ Thần Khí để không bị dạy dỗ”.[53]
Khacgai nói về “những chiếc ví bị thủng”, Irênê nói về “những cái bể chứa nứt” nhưng cả hai nói về cùng một sự thật: kẻ nào mệt mỏi bên ngoài Giáo Hội kẻ đó mệt mỏi vô ích, kẻ không gieo trong Giáo Hội kẻ đó gieo khắp nơi. Theo lời của thánh Irênê, điều chúng ta thấy rõ là Giáo Hội là “nơi” của những ai tìm kiếm Thần Khí và vun trồng các đặc sủng. Do đó, Giáo Hội Công giáo là lòng dạ mẹ nơi cuộc Canh tân phải “làm tổ” trong Thần Khí để lớn lên và sinh hoa trái.
Điều này không chỉ có nghĩa là trở thành những tôi tớ trung thành của Giáo Hội Công giáo Rôma; nó có nghĩa là có một cảm thức về tính phổ quát, về tính toàn bộ; không chú trọng vào chi tiết, vào cái riêng tư, mà đánh mất cái nhìn tổng thể; điều đó có nghĩa là cùng nhịp đập với trái tim của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu Kitô, một trái tim ôm ấp mọi sự và mọi người. Phải sentire cum Ecclesia, nghĩa là có cảm thức về Giáo Hội, cũng như mỗi chi thể trong thân thể con người có nhận thức sinh tử về toàn bộ thân thể trong đó nó chuyển động và được nuôi dưỡng. Phải luôn kín múc một phần (nhóm riêng của mình, kinh nghiệm riêng của mình) trong toàn bộ và toàn bộ trong từng phần.
Tạ ơn Chúa, cảm thức Giáo Hội này hiện diện trong cuộc Canh tân. Điều khiến tôi cảm động nhất khi nói với các anh em của cuộc Canh tân là thấy họ vui mừng và khao khát hiệp thông với các kho tàng của Giáo Hội: các Giáo Phụ, những vị thánh, những trào lưu tâm linh lớn trong quá khứ. Tại Pháp, cuộc Canh tân đánh thức sự quan tâm và lòng sùng kính ở Lộ Đức, hay ở Paray-le-Monial, đối với Đức Trinh Nữ và Thánh Tâm, đối với Têrêxa Lisieux và các vị thánh khác mà người dân Pháp yêu quý. Cũng vậy là ở Ý, với các đền thánh và các thánh của chúng ta. Đó thực sự là một cuộc trở về với nguồn mạch: những chồi non của Giáo Hội cần phải bám rễ vào nguồn nước tinh tuyền của Truyền Thống. Lời tiên báo của Isaia về Giêrusalem mới, tức là Giáo Hội, đang trở thành hiện thực: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô […] để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thỏa thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (Is 66,10-11).
Nhưng đây mới chỉ là khởi đầu. Chúng ta phải vun trông ân huệ này, cho đến khi hít cho đầy hai lá phổi khí ôxy của Giáo Hội. Trong một số trường hợp, phải chiến thắng một sự lười biếng nào đó. Người ta nhận ra rằng trong cuộc Canh tân, ít nhất là ở Ý, chúng ta không đọc nhiều. Tuy nhiên, đọc là một trong những cách dễ nhất để khám phá ra những sự phong phú của Truyền Thống.
Sự kiện cảm thấy hoàn toàn là một phần tử của Giáo Hội “Công giáo” theo nghĩa mà chúng ta đã gán cho tính từ này, không đóng cửa cho chiều kích đại kết. Cuộc Canh tân đặc sủng ra đời với hai đặc điểm phân biệt nó với hầu hết các phong trào thuộc linh và đặc sủng khác trong quá khứ: một sự gắn bó rất mạnh mẽ với phẩm trật và Giáo Hội thể chế, và một sự cởi mở đại kết (nhờ nguồn gốc Ngũ tuần). Làm sao có thể dung hòa và sống hai chiều dường như đối lập này?
Một yếu tố của câu trả lời được tìm thấy nơi thánh Augustinô trong cuộc tranh luận với những người phái Đonatô, những người quan niệm Giáo Hội như một hortus conclusus, nghĩa là như một vườn khép kín, một nhóm nhỏ các “thánh” được xác định rõ và đồng nhất với một nhóm xã hội trong đó có các dấu hiệu nhất định, các bí tích. Bên ngoài “vườn” vây kín này, chỉ có tội lỗi và diệt vong. Nhìn theo cách này, sự hiệp nhất với các Kitô hữu khác là không thể và cũng không được phép, vì nó sẽ làm biến tính sự tinh tuyền của các bí tích.
Thánh Augustinô đã trả lời những người phái Đonatô, bằng cách mô tả hai khía cạnh của Giáo Hội: Giáo Hội như một “xã hội của các thánh” (societas sanctorum) và Giáo Hội như một “hiệp thông các bí tích” hoặc các dấu chỉ hữu hình (Communio sacramentorum). Khía cạnh trước cho thấy khía cạnh bên trong của Giáo Hội, mà xét đến cùng, đồng nhất với Chúa Thánh Thần, hồn của Giáo Hội, và bao gồm trong một sự hiệp nhất vô hình tất cả những ai thực sự sống theo Thần Khí, nghĩa là trong ân sủng. Theo thánh Augustinô, Thiên Chúa nói về Giáo Hội này khi gợi lên “chim bồ câu độc nhất của Người” (x. Dc 6,9). Nhưng ở trần gian, nó không tách rời, cũng như không thể tách rời khỏi thân thể hữu hình là sự hiệp thông của Giáo Hội thể chế. Giữa hai bên không có đối lập hoặc không tương thích; tuy nhiên có một sự khác biệt mà chúng ta có thể gọi là về mức độ hoặc bình diện. Người ta có thể dường như đang ở trong Giáo Hội và ở bên ngoài Giáo Hội về mặt tinh thần; như người ta có thể xét về hữu hình thì ở bên ngoài Giáo Hội, nhưng về mặt tinh thần thì ở bên trong. Thánh Augustinô kêu lên: “Có bao nhiêu sói ở trong chuồng chiên và bao nhiêu chiên ở bên ngoài!”[54] Thật vậy, mức độ thuộc về Giáo Hội trên hết là do đức ái ban cho, tức là do Chúa Thánh Thần mà người ta có hoặc không có, và không do những liên hệ thuần túy pháp lý và thể chế. Sự khác biệt giữa một sự thuộc về Giáo Hội cách hữu hình và một sự thuộc về cách thiêng liêng cũng giống như (chẳng hạn đối với bí tích Thánh Thể) giữa người chỉ nhận được dấu chỉ hữu hình (bánh và rượu được thánh hiến) và người cũng nhận được ân sủng vô hình mà những dấu chỉ đó chứa đựng (res sacramenti)
Sự hiệp thông đại kết của chúng ta với tất cả những người thực sự tin vào Đức Giêsu Kitô, ngay cả ở bên ngoài Giáo Hội của chúng ta, được thiết lập như thế. Có một sự hiệp thông giữa tất cả các Kitô hữu không chỉ trong votis, nghĩa là một ước muốn hay một viễn cảnh, nhưng đã hiện hữu và hiệu quả. Làm sao có thể nghĩ rằng một anh em Tin lành hoặc Chính thống, yêu mến Đức Giêsu, đau khổ vì đức tin, người đã dùng cả cuộc đời phục vụ Nước Trời và sống trong Thần Khí, lại ít hiệp nhất với tôi hơn người anh em Công giáo, đã được rửa tội nhưng không hoàn toàn quan tâm đến Đức Giêsu, Giáo Hội, Giáo Hoàng, hay những người chỉ quan tâm đến các ngài để nhằm chỉ trích? Tuy nhiên, chúng ta phải thú nhận rằng, mối dây hữu hình và thể chế ràng buộc chúng ta với mọi người công giáo đôi khi mạnh nơi chúng ta hơn mối dây thiêng liêng ràng buộc chúng ta với những người anh em này yêu mến Đức Giêsu; sự hiệp thông qua các bí tích mạnh hơn sự hiệp thông các thánh; các dấu chỉ được cảm thấy nhiều hơn thực tại. Hai điểm này – dấu chỉ và thực tại, Giáo Hội thể chế và Giáo Hội vô hình – không nên bị tách biệt, nhưng trong chừng mực sự tách biệt này tồn tại vì tội lỗi của con người, chúng ta không thể bỏ qua nó.
Chính vì chú ý đến Chúa Thánh Thần, mối dây hiệp nhất giữa tất cả các “thánh”, mà cuộc Canh tân trong Thánh Thần được kêu gọi để hoạt động cho sự hiệp nhất các Kitô hữu; nó không thể hài lòng dự phần vào Giáo Hội Công giáo Rôma, nhưng cũng phải muốn dự phần vào thân thể của tất cả những ai thực sự tin vào Đức Kitô. (“Những người thực sự tin” không có nghĩa là những người có một đức tin chính thống, nhưng là những người chân thành tin vào Đức Giêsu Kitô, theo giáo lý được tuyên xưng trong Giáo Hội riêng của họ). Cuộc Canh tân phải vun trồng sự bén rễ đại kết này không phải bằng cách vượt qua Giáo Hội của mình, nhưng bằng cách đi qua nó, nghĩa là bằng sự vâng phục và trung thực với các chỉ thị của hàng giáo phẩm, khi cố gắng chia sẻ kinh nghiệm của mình về đời sống đại kết. Đại kết có một nhu cầu cấp thiết và sinh tử của một linh hồn: Chúa Thánh Thần; nếu cuộc Canh tân chỉ đóng góp vào “công việc” duy nhất này của Giáo Hội, thì nó có thể thanh thản, không để cho mình xúc động trước những người cáo buộc nó xa rời các vấn đề cụ thể, và như vậy là xa rời các công việc của Giáo Hội, không nhập thể đủ, không “đắm mình” trong thực tế.
Canh tân trong Thần Khí và Giáo Hội địa phương
Mối liên hệ giữa cuộc Canh tân và Giáo Hội được thể hiện như thế nào? Trước Công đồng Vatican II, khi nói đến Giáo Hội, chúng ta nghĩ đến Giáo Hội phổ quát và các cơ cấu hữu hình, cho đến Giáo Hoàng. Các Giáo Hội địa phương, các giáo phận, thường được coi là những phần tử nhỏ, mà khi kết hợp lại với nhau, tạo thành tổng thể là Giáo Hội phổ quát. Các giám mục được coi là những người đại diện của Giáo Hoàng trong giáo phận của các ngài.
Khi đánh giá lại nhiệm vụ của các giám mục, Công đồng cũng đánh giá lại Giáo Hội địa phương. Một bản văn nổi tiếng của hiến chế Lumen Gentium nói: “Giáo Hội Chúa Kitô thực sự hiện diện trong mọi đoàn thể tín hữu địa phương hợp pháp. Những đoàn thể này, vì hợp nhất với các chủ chăn, nên trong Tân Ước cũng được gọi là Giáo Hội. Thực vậy, trong phần đất của mình, mỗi đoàn thế là dân tộc mới được Thiên Chúa kêu gọi trong Thánh Thần và trong niềm xác tín sâu xa (x. 1Th 1,5). Nơi các đoàn thể đó, tín hữu được tụ họp lại nhờ sự rao giảng Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô, và mầu nhiệm Tiệc Ly của Chúa được cử hành […]. Chúa Kitô hiện diện trong các cộng đoàn ấy, dù nhỏ bé nghèo hèn hay tản mát khắp nơi. Và nhờ thần lực của Người, Giáo Hội hiệp thành duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” (LG 26).
Chính những từ đơn giản: Giáo Hội Công giáo, tức Giáo Hội phổ quát, hoàn toàn hiện diện trong Giáo Hội địa phương, là một sự mới mẻ tuyệt vời về phương diện thần học. Giống như giọt sương nhỏ bé treo trên hàng giậu, phản chiếu và chứa đựng nơi mình tất cả vòm trời, cũng vậy, tất cả thực tại cốt yếu và cấu thành được phản chiếu và hiện diện trong một Giáo Hội địa phương nhỏ bé, hợp nhất xung quanh giám mục của mình. Nếu xét về mặt xã hội học và luật pháp, Giáo Hội địa phương chỉ là một “phần” của Giáo Hội, thì một cách mầu nhiệm, nó cũng là tất cả Giáo Hội, vì nơi giám mục, nó có sự viên mãn của Lời Chúa, Thánh Thể và Chúa Thánh Thần.
Bộ Giáo luật mới tóm tắt quan điểm mới này, viết về Giáo Hội địa phương như sau: “Trong các Giáo Hội địa phương và từ các Giáo Hội địa phương hiện hữu một Giáo Hội Công giáo duy nhất […]. Giáo phận là một phần dân Chúa được trao phó cho một giám mục chăn dắt, với sự cộng tác của linh mục đoàn, nhờ sự gắn bó với chủ chăn của mình và được ngài tập hợp trong Chúa Thánh Thần nhờ Phúc Âm và Thánh Thể, phần dân ấy tạo thành một Giáo Hội địa phương, trong đó Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, Công giáo và tông truyền của Đức Kitô hiện diện và hoạt động thực sự” (các điều 368-369).
Nhãn quan này không phải là mới, trái lại đó là nhãn quan lâu đời nhất được đưa ra ánh sáng; đó là nhãn quan của Kinh Thánh và của các Giáo Phụ. Các Giáo Phụ nói về “Giáo Hội Công giáo ở Smyrna”[55]. “Giáo Hội Công giáo ở Nadian”[56]. Phải chăng Grêgôriô Nadian nghĩ rằng Giáo Hội Công giáo đồng hóa với ngôi làng nhỏ bé của mình, gồm một nửa là Kitô hữu và một nửa là kẻ cướp? Không phải vậy. Tuy nhiên, ngài biết rằng trong cộng đồng của mình, ở đầu bên kia của thế giới, toàn thể Giáo Hội Công giáo hiện diện một cách thần bí.
Trong mỗi Giáo Hội địa phương, chúng ta tìm thấy cùng một Giáo Hội, thân thể thần bí của Chúa Giêsu Kitô, như trong mỗi hình được truyền phép có cùng một thân thể thật của Đức Giêsu Kitô.
Thần học đổi mới này của Giáo Hội có những hậu quả thực tế. Trước Công đồng, bất kỳ thực tại mới nào theo ý muốn của Thần Khí đều được trung ương hoặc thượng cấp giới thiệu, nghĩa là bằng sự công nhận của Giáo Hoàng, hoặc của các thánh bộ Rôma, và được bảo đảm bởi một quy tắc và một cơ cấu phẩm trật duy nhất, khởi từ trung tâm phân nhánh ra ngoại vi. Giờ đây, kể từ Công đồng, cách thức bình thường và hợp lý nhất để dự phần vào Giáo Hội Công giáo, đặc biệt là khi liên quan đến thực tại thế tục, đã khác; nó phải được thực hiện trong và qua Giáo Hội địa phương, bởi giám mục.
Cuộc Canh tân trong Thần Khí không tùy thuộc vào bất cứ pháp chế đặc biệt nào; Bộ Giáo luật mới không tiên liệu cho nó, cũng như cho các nhóm giáo hội mới khác, một quy tắc hoặc miễn trừ cụ thể nào; nó được cấu thành bởi một dân “bình thường” của Thiên Chúa, bởi dân của những người đã được rửa tội với những ân huệ của họ (là những ân huệ tự bản thân đã khác thường!) và như vậy, nó hoàn toàn đi vào thực tại của Giáo Hội địa phương. Nếu loại bỏ dân này ra khỏi các giám mục, người ta không thấy có thể còn lại gì cho các ngài!
Tuy nhiên, chúng ta không được làm chai cứng các sự việc và tạo ra những đối nghịch mà chính Giáo Hội không muốn tạo ra, giữa trước và sau Công đồng (các dòng tu và cộng đoàn tu trì thuộc giáo phận đã tồn tại trước Công đồng và các dòng tu thuộc quyền giáo hoàng sẽ tồn tại ngay cả sau Công đồng!). Tôi chỉ đơn giản muốn nhấn mạnh một xu hướng mới đang nổi lên trong Giáo Hội có thể soi sáng và định hướng con đường của những thực tại giáo hội mới mẻ, trong đó có cuộc Canh tân. Đó là một giới thiệu của chính Giáo Hội: quả thực, Giáo Hoàng không ngừng nhấn mạnh để các phong trào giáo hội hậu Công đồng liên hệ với các giám mục, cộng tác với Giáo Hội địa phương, dự phần vào Giáo Hội này; hơn nữa, ngài mời gọi các giám mục, bằng gương sáng và bằng lời nói, nhận trách nhiệm về những thực thể này thay vì gạt chúng sang bên lề.
Làm mọi sự trong sự hiệp thông với giám mục
Điều này sẽ có những hậu quả thiết thực đối với vị trí của cuộc Canh tân trong Giáo Hội địa phương.
Giáo Hội địa phương là môi trường tự nhiên của cuộc sống, hoạt động và sự thánh hóa của các thành viên của cuộc Canh tân. Vì vậy hiệp thông với giám mục là quan trọng, ngay cả khi nó không nhất thiết phải minh nhiên và chính thức. Chính ngài là người bảo đảm Lời Chúa, Thánh Thể và các đặc sủng-thừa tác vụ, chứ không phải những người chịu trách nhiệm về cuộc Canh tân, ngay cả là học giả hay thánh nhân. Một nhóm không thể chống đối hoặc thù địch với giám mục riêng của mình; nhóm đó phải làm mọi cách để hiệp thông, cho dù có khi phải trải qua đau khổ.
Thánh Ignatiô Antiokia, người sống ngay sau thời tông đồ, giúp chúng ta không bị những ảo tưởng dễ dàng lôi kéo. Ngài đã viết cho các Kitô hữu Magnêsia như sau: “Vì tôn trọng Đấng đã yêu thương chúng ta, nên tuân theo mà không có bất cứ giả hình nào; là vì không chỉ giám mục hữu hình này đang bị lừa phỉnh, mà chính giám mục vô hình mà người ta đang tìm cách lừa dối. Vì trong trường hợp này, không phải là về xác thịt, mà là về Thiên Chúa, Đấng biết những điều ẩn giấu […], quả thực một số người luôn nói về giám mục, nhưng lại làm mọi việc mà ngài không được biết. Theo tôi, những người đó không có lương tâm tốt, vì các cuộc tụ họp của họ không hợp pháp, cũng như không hợp với lệnh truyền của Chúa […] Cũng như Chúa đã không làm gì, hoặc tự mình, hoặc thông qua các tông đồ, mà không có giám mục và các linh mục; và đừng cố cho là hữu lý những gì bạn làm riêng, nhưng hãy làm chung mọi sự”.[57]
Ngày nay, với quy mô của Giáo Hội địa phương, không còn có thể trình với giám mục cho từng sáng kiến; do đó, “không làm gì nếu không có giám mục” không có nghĩa là bất cứ lúc nào cũng quấy rầy giám mục; nó có nghĩa là tuân theo chỉ thị của ngài; không làm những gì ngài sẽ không chấp thuận; hiệp thông với các linh mục là những cộng tác viên của giám mục.
Tôi muốn nhấn mạnh phải đi theo sau chứ không đi trước Giáo Hội và giám mục. Hãy để tôi giải thích. Tin quá nhanh vào những mạc khải riêng tư, những sứ điệp, những lần hiện ra và những sùng mộ mà người ta tin là được linh ứng, trước khi Giáo Hội có thể cho ý kiến, đó là đi trước Giáo Hội, chứ không phải đi theo sau Giáo Hội; khi đó chính những con chiên chọn đồng cỏ, thay vì để cho người chăn đưa tới đó. Thật khó tin về sự ngây thơ, tin tưởng, hời hợt của một số Kitô hữu về vấn đề này, ngay cả ngày nay. Đó cũng chính là “đào các bể chứa nứt nẻ” không thể chứa nước và từ bỏ nguồn nước sinh sống, như thánh Irênê, và trước ngài là tiên tri Giêrêmia, đã nói.
Từ những điều thực sự thiết yếu và chắc chắn, như Lời Chúa, Thánh Thể, Chúa Thánh Thần, người ta dần dần chuyển sang những sứ điệp, thường là nhạt nhẽo, của những cá nhân riêng tư, và người ta rơi vào tình trạng cuồng tín tôn giáo. Sự công khai mà những người này làm hoặc cho phép người ta làm, nơi những cách bày tỏ siêu nhiên của họ, là bằng chứng hiển nhiên tố cáo sự giả dối của họ. Những con người được Thiên Chúa sai tới để mạc khải điều gì đó cho Giáo Hội, đã che đậy những hiện tượng lạ lùng, để bảo vệ sự khiêm nhường của mình. Ngược lại, những người không tưởng, vừa nghe xong một sứ điệp, hoặc được cho là sứ điệp, của Thiên Chúa, thì đã vội phổ biến nó. Tuy nhiên khó mà thuyết phục một số anh em, lóa mắt trước tất cả những điều đó, chấp nhận sự thận trọng và khôn ngoan của Giáo Hội. Thánh Gioan đã viết cho những Kitô hữu đầu tiên: “Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1Ga 4,1). Những lời khôn ngoan, như những lời của thánh Phaolô khi ngài khuyên nhủ các Kitô hữu đừng “giống như những trẻ nhỏ, bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý (x. Ep 4,14). Chạy theo những gì được bao bọc bởi một vầng hào quang siêu nhiên và lạ lùng, khiến cho người ta phải chịu lời Đức Giêsu khiển trách đối với thế hệ của Ngài, một thế hệ luôn đòi hỏi những dấu lạ (x. Mt 12,38; Lc 11,29).
Do đó, “không làm gì nếu không có giám mục” có nghĩa là không đi trước sự xét đoán của giám mục, nhưng tuân theo ngài. Nhưng trên hết là phải yêu mến giám mục với lòng bác ái của Đức Kitô, một bác ái “không giả tạo”. Trong tình yêu có sự trọn vẹn và chân lý của mọi sự. Nhờ tình yêu mà các đặc sủng đi vào thể chế và được đón nhận ở đó, không phải bằng xét đoán hay bút chiến, cũng không phải bằng lời chỉ trích. Thánh Phaolô nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (x. Rm 13,8).
Tất nhiên thập giá vẫn hiện diện. Ngay cả trong các mối quan hệ giữa các mục tử và đoàn chiên, giữa các đặc sủng và các thể chế, người ta không thể quên luật quan trọng phúc âm của thập giá. Đặc sủng và thể chế là hai cánh tay của thập giá: chúng không thể không gắn bó với nhau, nhưng bằng cách tôn trọng chúng, chúng tạo thành thập giá; bên này là thập giá của bên kia, bên này là sự cứu rỗi của bên kia.
Lịch sử Giáo Hội đầy những mẫu gương về các phong trào tâm linh, mạnh mẽ và đầy hứa hẹn, đã đi trệch đường và biến mất, vì không chấp nhận quy luật của hạt lúa mì rơi xuống đất (ở đây là Giáo Hội) và chết đi, để sinh hoa trái. Chúng trở thành “giáo phái”, các thành viên bị cắt đứt (từ tiếng latinh sectum là “cắt đứt”). Khi một bộ phận của thân thể đột nhiên bị cắt đứt, sự sống lưu chuyển chốc lát trong đó, rồi sau bị tắc do thiếu dinh dưỡng và tuần hoàn máu; điều này cũng đúng đối với các thực tại thiêng liêng bị cắt rời khỏi thân thể Giáo Hội.
Những phong trào có tính cách tiên tri và đặc sủng mạnh mẽ có nguy cơ còn lớn hơn; trong những thế kỷ đầu tiên có những người phái Montanô, Messalinanô, Đonatô; thời Trung cổ là Patarinô, Lollarđô, những người nghèo thành Lyon, những anh em của thần khí tự do. Trong phong trào Phan sinh, chúng ta thấy có nhiều điểm chung với những phong trào trên, nhưng khác với chúng, Phanxicô đặt phong trào của mình trong Giáo Hội và ngài đã chiến đấu cho đến chết chống lại môi trường của mình, chống lại một số bạn đồng hành và chống lại chính mình, để giữ nó ở trong Giáo Hội. Những lời cuối cùng trong Quy luật của ngài khuyên các anh em hãy “luôn luôn là những người phục vụ dưới chân Hội Thánh, vững vàng trong đức tin Công giáo, giữ đức nghèo khó, khiêm nhường và Phúc Âm thánh của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”[58]; và trong di chúc của mình, ngài viết: “Chúa đã ban cho tôi sự tin tưởng dường ấy nơi các linh mục sống theo các những quy luật của Hội Thánh Rôma vì bí tích truyền chức thánh, đến nỗi ngay cả khi các ngài đã phải bắt bớ tôi, tôi cũng muốn chạy đến với các ngài […] và tôi không muốn thấy tội lỗi nơi các ngài”[59].
“Ngay cả khi các ngài đã phải bắt bớ tôi”: Phanxicô biết rất rõ tội lỗi cũng có mặt trong Giáo Hội, nhưng ngài không muốn nhìn vào nó, vì ngài nhìn thấy Giáo Hội là Hiền Thê của Chúa mình. Người ta hẳn có thể nghĩ rằng Phanxicô sắp đánh mất một điều gì đó trong lý tưởng của mình, khi phục tùng Giáo Hội, và điều đó có lẽ đúng, nhưng chính như thế mà phong trào không kết thúc với ngài, điều đã xảy ra với nhiều phong trào khác thời ngài, ngược lại ngài vẫn là một phúc lành cho toàn thể Giáo Hội, mà – bất chấp tất cả những khuyết điểm và bất trung của các thành viên – ngài đã cung cấp cho Giáo Hội nhiều vị thánh.
Nhưng sẽ là bất công khi không cho thấy rằng, nếu nhiều phong trào tâm linh đã đi trệch đường, trong ly giáo hay lạc giáo, thì đó không phải lúc nào cũng là lỗi của họ; thường thì hàng giáo phẩm đã không biết cách đón nhận Thần Khí, Đấng chất vấn các ngài, và đã không biết cách vượt qua những khía cạnh bên ngoài và mơ hồ, và do lười biếng hoặc sợ thay đổi, các ngài đã “đàn áp” một số năng lực mới cho đến khi đưa chúng ra khỏi Giáo Hội. Điều này muốn nói lên rằng các chủ chăn phải xét mình, tự vấn và mở lòng với Chúa Thánh Thần. Nhưng chúng ta, những tín hữu của Giáo Hội, không thể thay thế các ngài và lên án các ngài; chúng ta phải làm những gì phải làm, và việc chúng ta phải làm là vâng phục. Thà chết trong Giáo Hội còn hơn sống bên ngoài Giáo Hội.
Để kết thúc, chúng ta lấy lại lời tiên tri Khacgai, lời mà chúng ta đã dùng lúc khởi đầu. Dân chúng đã nghe lời Thiên Chúa nhắc nhở, và sau khi ngừng làm việc nhà, họ bắt đầu xây lại nhà của Thiên Chúa. Vì vậy, Thiên Chúa làm cho người ta được nghe tiếng nói của Ngài, lần này là một tiếng nói đầy an ủi và khích lệ. Chúng ta hãy lắng nghe lời Ngài, vì bây giờ Ngài đang nói với chúng ta: “Vậy bây giờ, hỡi Dơrúpbaven, hãy mạnh bạo lên. Nào thượng tế Giôsua, mạnh bạo lên nào. Toàn dân trong xứ hãy mạnh bạo lên, sấm ngôn của Đức Chúa. Hãy bắt tay vào việc, vì chính Ta ở với các ngươi” (Kg 2,4).
