11. VĨNH CỬU ! VĨNH CỬU
Trong sách Dân số, chúng ta có thể đọc thấy đoạn này: Thiên Chúa ra lệnh cho Môsê tập hợp bảy mươi kỳ mục đến Lều. Khi họ đã tụ họp, Thiên Chúa đã gửi Thần Khí của Ngài xuống trên họ và họ bắt đầu nói tiên tri. Trong khi đó, hai người tên là Eliad và Medad, đang ở một nơi khác trong trại, cũng được đầy Thần Khí Thiên Chúa, mặc dù họ không đến Lều với Môsê, và cũng bắt đầu nói tiên tri. Chàng trai Giôsuê chạy đến kể lại cho Môsê những gì đang xảy ra ngoài trại và xin ông ngăn họ lại, nhưng Môsê trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người, để họ đều là ngôn sứ. Vì Đức Chúa đã ban Thần Khí của Người trên họ” (Ds 11,29).
Ước muốn của Môsê đã được thực hiện vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi Thiên Chúa gửi Thần Khí của Ngài xuống trên mỗi người và tất cả bắt đầu công bố các công trình của Chúa bằng tiếng lạ. Ước muốn của Môsê hôm nay cũng được thực hiện trong Giáo Hội, vì kể từ Công đồng, chúng ta đang chứng kiến một lễ Hiện Xuống mới: một lần nữa Chúa đổ Thần Khí của Người để toàn dân có thể là tiên tri, có khả năng công bố lời Người và những điều kỳ diệu Người làm.
“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi”
Đây là lời tôi đã nhận được cho các bạn: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).
Tôi sẽ nói với các bạn về “sự đau khổ và chữa lành” vì lời của Đức Giêsu là về chủ đề này. Lời ấy nói với chúng ta về sự đau khổ. Trong các động từ “vất vả và mang gánh”, chúng ta tìm lại được tất cả sự đau khổ của con người, và những hậu quả của nó trong trái tim con người: mệt nhọc và áp bức. Lời ấy đưa về sự chữa lành khi nói: “Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng […], anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Nhưng, như chúng ta sẽ thấy sau đây, lời đó nói với chúng ta về sự đau khổ và chữa lành vượt lên trên những khuôn mẫu thông thường của chúng ta, dưới một cái ách mới: đức tin.
Trước khi tiếp cận chính Lời, chúng ta hãy tập chú vào các nhân vật: Ai nói và lời nói với ai? Chính Đức Giêsu phục sinh, Đấng mà trong sách Khải huyền, đã giới thiệu về mình như sau: “Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống. Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời” (Kh 1,17-18). Những lời này dành cho ngày nay, chúng đến với chúng ta như một lời chất vấn.
Chính Đấng Phục Sinh nói, và Ngài trực tiếp nói với chúng ta. Chính chúng ta là những người vất vả và mang gánh nặng nề, chúng ta là những người đang chán nản, những người túng thiếu, bệnh tật, những người đến với lời mời gọi này. Một phần của lời này đã được thực hiện: chúng ta đã nghe một lời mời gọi và nhiều người trong chúng ta đã đáp lại Đấng đã mời gọi chúng ta. Nhưng đây mới chỉ là bước đầu.
Đức Giêsu nói: “Hãy đến với tôi”. “Với tôi” có nghĩa gì? Có nghĩa là đến với tôi là Giêsu. Đây là con đường đức tin. Chúng ta giống như những người đã đến bờ biển, và để tiếp tục, thì phải đi trên mặt nước. Con đường để đi không còn phải đi bằng thân thể chúng ta nữa, nhưng bằng trái tim của chúng ta. Sursum corda! Phụng vụ Thánh lễ mời gọi chúng ta, và chúng ta đáp lại: Habemus ad Dominum! “Hãy nâng tâm hồn lên! – Chúng tôi đang hướng về Chúa!” Ngay từ bây giờ chúng ta hãy hướng lòng lên tới Chúa và hãy lắng nghe Ngài nói với chúng ta.
Chúng ta nhận thấy bốn yếu tố trong lời của Đức Giêsu: một lời mời gọi, một lời hứa, một điều kiện và một bảo đảm.
Đây là một lời mời gọi chung: hãy đến với tôi, tất cả mọi người. Không phân biệt già trẻ, giàu nghèo, tin hay không tin, công chính hay tội lỗi. Mọi người! Chỉ có một hạng người bị loại trừ: những người không mệt nhọc, không vất vả nặng nề, những người cho rằng mình đủ cho mình, những người mà Đức Maria, trong kinh “Magnificat“, gọi là những người “giầu có bị đuổi về tay trắng”.
Đây cũng là một lời hứa phổ quát: Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng, tôi sẽ chữa lành. Ngài không nói: Tôi sẽ chữa lành một số người trong anh em. Nhưng tôi sẽ chữa lành cho anh em, tức là tất cả những ai đã đến với tôi. Ngài cũng không nói: Tôi sẽ chữa cho anh em một số điều chứ không phải những điều gì khác. Ngài chữa lành toàn thể con người và tất cả mọi người; Ngài là thầy thuốc của thể xác và linh hồn. Nếu ai đó đã hứa như vậy với chúng ta, có thể nói rằng đó là một người tự phụ, một lang băm. Thế giới ngày nay, đặc biệt ở các thành phố lớn, đầy dẫy những lang băm và những người cho mình là pháp sư, những người cung cấp giải pháp cho tất cả các vấn đề về sức khỏe, kinh doanh và tâm hồn của chúng ta.
Nhưng ở đây chính là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng nói như thế, Đấng mà Chúa Cha đã giao cho mọi sự (x. Mt 11,27). Sự đảm bảo tốt nhất về tính xác thực của lời hứa này là nó đã được giữ một cách hoàn hảo. Quả thực, “đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó” như thánh Phêrô đã nói về Ngài trong sách Công vụ (x. Cv 10,38).
Lời hứa gắn liền với một điều kiện, một yêu cầu: “Hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Nếu không hiểu rõ điều kiện này, chúng ta sẽ không hiểu bất cứ điều gì tiếp theo. “Hiền hậu và khiêm nhường” với ai? Chỉ giữa chúng ta với nhau chăng? Không: hiền hậu và khiêm nhường trên hết trước Thiên Chúa. Tông Đồ Phêrô nói với chúng ta: “Hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa” (x. 1Pr 5,6). Đức Giêsu đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết (x, Pl 2,8). Ngài hạ mình và vâng lời trước ai? Trước Chúa Cha!
“Ách của tôi” không có nghĩa là ách mà Đức Giêsu ban cho, nhưng là ách mà Ngài mang. Chúng ta phải trở thành “những người liên kết” chặt chẽ với Đức Kitô, những người mang ách chung với Đức Giêsu. Khi ấy, yêu cầu của Đức Giêsu có vẻ sâu sắc hơn nhiều so với những gì thoạt đầu người ta có thể nghĩ. Đây không chỉ là cải thiện tính cách của chúng ta, hiền hậu hơn một chút, tử tế hơn một chút. Ý nghĩa là: vâng ý Cha trên trời cho đến cùng, như chính tôi đã làm; phó thác anh em cho Ngài. Đức Giêsu gọi “ách của tôi” cái mà chính Ngài đã mang trên mình: ách của sự vâng phục. Mang ách trên mình là thưa với Chúa Cha, như Chúa Giêsu đã thưa ở Ghetsêmani: “xin theo ý Cha!” “Hãy mang lấy ách của tôi”: câu này rất giống với câu của Đức Giêsu: “Ai muốn theo tôi […], hãy vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34), để giữa hai bên có mối liên hệ chặt chẽ. Thật vậy, điều Đức Giêsu lặp lại trong bản văn của chúng ta dưới hình thức một lời mời gọi dịu dàng, thì Ngài diễn tả trong bản văn kia dưới hình thức một điều kiện, một đề nghị.
Cuối cùng, lời bảo đảm: “Anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng […], ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng”. Mầu nhiệm và nghịch lý: “hạ mình dưới bàn tay quyền năng của Thiên Chúa, chấp nhận ý muốn của Ngài, vác thập giá mình, tất cả tạo ra hiệu quả ngược với những gì con người mong đợi. Chúng ta chứng kiến một phép lạ, một sự biến đổi không thể tin được; mọi sự thay đổi về bản chất và tên gọi: mệt nhọc trở nên nghỉ ngơi, ách trở nên êm ái, gánh trở nên nhẹ nhàng.
Chỉ cần khám phá bí mật của sự biến đổi này. Chúng ta phải thực hiện một cú nhảy gần như vô hạn, đó là hoán cải. Ai thực hiện được cú nhảy này sẽ được nghỉ ngơi, người đó sẽ trở về nhà mà được bồi dưỡng. Chúng ta đến với Đức Giêsu để tìm kiếm một điều gì đó, một ân sủng, một sự chữa lành; nhưng Đức Giêsu đề nghị với chúng ta một điều gì đó khác, khẩn cấp hơn và đẹp đẽ hơn nhiều.
Làm thế nào Đức Giêsu có thể giúp chúng ta hiểu và chấp nhận sự trao đổi? Ngài có thể cho chúng ta ngay lập tức những gì chúng ta yêu cầu; Ngài có thể. Một hôm, Đức Giêsu đã nói với người Pharisêu: “Trong hai điều: một là bảo: “Con đã được tha tội rồi”, hai là bảo: “Đứng dậy mà đi”, điều nào dễ hơn?” (Mt 9,5) Điều dễ hơn nhiều cho Thiên Chúa là nói: “Đứng dậy mà đi!” vì không mắc mớ gì tới sự tự do của chúng ta. Nhưng Ngài biết rằng làm như thế không phải là điều tốt nhất cho chúng ta, mà ngược lại. Giống như chúng ta đến gặp một bác sĩ để điều trị cảm lạnh, và khi nhận ra chúng ta bị ung thư, ông chỉ điều trị cảm lạnh mà không làm gì cho căn bệnh ung thư và không cảnh báo chúng ta!
Chúng ta vẫn phải chấp nhận cuộc trao đổi này mà không càu nhàu và tuân theo lời Đức Giêsu: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).
Nước hằng sống và bánh hằng sống
Đây là hai tình huống phúc âm sẽ giúp chúng ta hiểu được đâu là “bước” mà chúng ta phải thực hiện, sự hoán cải mà chúng ta được kêu gọi.
Tình huống đầu tiên là ở trong chương bốn của Phúc Âm Gioan. Người phụ nữ xứ Samari, người Đức Giêsu vừa nói với, ngay lập tức xin Ngài: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy” (Ga 4,15). Chúng ta cũng vậy, khi biết Đức Giêsu ban ơn, chúng ta xin ngay với Ngài: Lạy Chúa, xin ban ơn cho con! Xin cho con được thấy, để con không còn phụ thuộc vào người khác; xin cho con đi được, để con có thể đến nơi nào con muốn; xin cho con kiếm được việc làm cho con trai con, hoặc cho nó thi đậu, để con, con, con…
Lưu ý: Đức Giêsu không coi thường những lời kêu xin này, trái lại, Ngài cảm động khi nghe thấy những lời kêu xin ấy, thậm chí còn khóc nữa. Nhưng Ngài không thể để chúng ta làm tù nhân cho cái “tôi” của chúng ta cho đến mức ấy. Ngài phải giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng này, nơi chúng ta chỉ nhìn thấy bản thân và hạnh phúc của chúng ta ở trần gian. Ngài không thể lấy đi cọng rơm và để lại cho chúng ta cái xà.
Chúng ta hãy lắng nghe câu trả lời Ngài dành cho người phụ nữ xứ Samari (và cho nhiều người nam nữ Samari ngày nay): “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban […] thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống” (x. Ga 4,10). Nước hằng sống: Đức Giêsu đã và muốn ban một loại nước khác, nước làm hết khát, giải quyết dứt điểm vấn đề khát nước, nước “vọt lên đem lại sự sống đời đời” (chúng ta hãy nhớ từ “đời đời” hay “vĩnh cửu”, vì nó sẽ giúp chúng ta sau này).
Người phụ nữ xứ Samari phải đưa ra lựa chọn, và chúng ta cũng phải làm như chị: phải chăng chị sẽ khăng khăng đòi cho có nước ấy – thứ mà chị biết và sẽ giúp cho chị khỏi phải đến giếng nữa – hay chị sẽ đổ nước lại xuống giếng và sẽ quên nó, vì chị say mê với việc khám phá ra thứ nước mới mà Đức Giêsu nói, nước hằng sống và vĩnh cửu?
Có vẻ như người phụ nữ đã lựa chọn đúng, vì chị chạy ngay về làng, nói với mọi người: “Đến mà xem!” Đức Giêsu đã nói rõ: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.” Đấng Mêsia, nước hằng sống, sự sống vĩnh cửu, chính tôi là người đang nói với chị! Một cuộc trao đổi tốt đẹp. Người phụ nữ đã đến lấy nước ở giếng, và chị đã tìm thấy Thiên Chúa ở đó. Phúc cho những ai đến tìm cách để được chữa lành và tìm thấy Thiên Chúa! Phúc cho những ai xin được khỏe mạnh và tìm thấy sự cứu rỗi!
Hãy chuyển sang tình huống thứ hai trong Phúc Âm. Chúng ta vẫn đang trong Phúc Âm Gioan, chương sáu. Lần này là bánh. Không lâu trước đó, Đức Giêsu đã cho làm cho bánh và cá hóa ra nhiều, tất cả no nê xong, đã bỏ đi. Thế nhưng tin tức đã lan truyền ra và một nhóm người gặp lại Ngài bên kia biển hồ, trong hội đường Caphácnaum.
Họ bắt đầu hỏi một câu ngây thơ, nhưng lại ẩn chứa nhiều lợi lộc khác: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” (Ga 6,25). Nhưng Đức Giêsu nhìn thấu tận đáy lòng họ, đi thẳng vào vấn đề: Các ông không tìm tôi vì dấu lạ – nghĩa là để thấy người mà việc làm cho bánh hóa ra nhiều chỉ là một dấu chỉ – nhưng đơn giản vì các ông đã ăn bánh này và nghĩ rằng còn được ăn nữa. Một lần nữa, Đức Giêsu bắt đầu nói về bánh của mình, và rồi, như người phụ nữ xứ Samari, họ vội nói: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”. Nhưng Đức Giêsu nói đến một thứ bánh khác, một thứ bánh làm no thỏa, một thứ bánh “thường tồn đem lại phúc trường sinh”. Và cuối cùng, Ngài mạc khải rõ: “Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói” (Ga 6,36). Một lần nữa, một sự lựa chọn, một bước phải thực hiện: chọn giữa bánh hay hư nát, cho dù nó có được cách kỳ diệu, và bánh không hư nát, là chính Đức Giêsu. Chúng ta biết kết quả ra sao. Một số người bắt đầu xầm xì và nói: “Lời này chướng tai quá. Ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60), rồi bỏ đi. Nhưng những người khác, với Simon Phêrô đứng đầu, đã nói: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).
Vả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải đối mặt với cùng một sự lựa chọn; chúng ta thấy mình đang ở trong cùng một tình huống giống như những người vượt qua biển hồ để đi tìm Đức Giêsu. Chúng ta sẽ chọn cái gì? Chúng ta sẽ vào số những người bỏ đi hay những người ở lại? Liệu chúng ta có còn xin bánh thông thường, bánh hằng ngày, hay trái lại, chúng ta sẽ quên bánh vật chất trong một thời gian, và chúng ta sẽ giơ tay lên, đôi mắt và tâm hồn hướng về thứ bánh khác, như trong Thánh Thể, khi chúng ta dọn mình đón nhận mình thánh Đức Kitô? Thực ngu ngốc những người bỏ đi ngày hôm ấy và nói: “Lời này chướng tai quá” (Ga 6,60). Nếu họ đã tìm kiếm bánh vật chất, nếu họ thực sự đói, làm sao họ không hiểu được rằng khi chọn chính Đức Giêsu, họ đã chọn một Đấng có khả năng cũng làm cho bánh vật chất hóa ra nhiều!
Tôi nói chúng ta phải lựa chọn, như ở ngã tư nơi có hai con đường giao nhau: con đường của những người tin Chúa thật sự và con đường của những “khách hàng” thuần túy của Chúa, con đường của những người ngoại giáo. Đức Giêsu nói: “Tất cả những thứ đó, dân ngoại giáo vẫn tìm kiếm” (x. Mt 6,32) (Ở Rôma cổ đại, người ta gọi là “khách hàng” (client) những người mỗi sáng vội vã đến trước cửa nhà các ân nhân giàu có để kiếm ăn, nhưng không quan tâm gì đến ân nhân). Phải lựa chọn.
Giống như Phêrô, bạn có thể nói: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Trước hết, chúng con muốn Chúa. Chúng con muốn nước hằng sống, chứ không phải nước giếng của con người; chúng con muốn bánh hằng sống, chứ không chỉ thứ bánh hay hư nát. Chúng con muốn được chữa lành nơi tâm hồn, trước khi được chữa lành nơi thân xác. Chúng con muốn Chúa đỡ chúng con khỏi gánh nặng nề, đau đớn và khủng khiếp, đang đè nặng lên chúng con, là sự ích kỷ của chúng con! Chúng con muốn Chúa chữa lành căn bệnh ung thư đáng sợ mà tất cả chúng ta đều mắc phải và dẫn đến sự chết đời đời: tội lỗi!”
Phúc cho mắt nào được thấy điều anh em thấy
Khi đã thực hiện lựa chọn căn bản này, giờ đây chúng ta có thể đặt ra câu hỏi xuất hiện ngay trong trí, dưới hình thức một lời bác bỏ khiêm tốn mà chúng ta nói với Đức Giêsu : Lạy Chúa Giêsu, tất cả những gì Chúa đã nói với chúng con, chúng con đều đón nhận, nhưng cho phép chúng con được hỏi: Chúa có thể cho chúng con biết ách của Chúa êm ái thế nào và gánh của Chúa nhẹ nhàng ra sao. Chúa không biết rằng sự đau khổ của chúng con có lẽ cũng khủng khiếp như thập giá, nặng nề, cho đến khi chúng con nói: “Đủ rồi, con không thể chịu đựng được nữa!” Chúa là Đấng đã xúc động đến rơi lệ trước nỗi đau khổ của bà góa ở Naim, người đã đi theo con trai đến huyệt mộ? Có lẽ Chúa không biết điều sau đây đôi khi có thể có nghĩa gì: chấp nhận cái ách ý muốn của Chúa Cha và vâng lời, Chúa là Đấng mà để làm tròn ý muốn ấy, đã đổ mồ hôi máu trong vườn cây dầu?
Nếu cái ách mà Chúa nói là luật, luật mới của Phúc Âm, thì nó có nhẹ hơn, rẻ hơn luật cũ của những ký lục và tiến sĩ với cả ngàn chỉ thị không? Ồ! Tất nhiên, nó đơn giản hơn, dễ ghi nhớ hơn, cơ bản chỉ có hai điều răn, thậm chí một điều răn thôi: đó là yêu, yêu Thiên Chúa và yêu người lân cận; nhưng chắc chắn không dễ hơn khi thực hành! Chính Chúa, trước khi nói về ách nhẹ nhàng, đã nói: “Các ông đã hiểu người xưa đã nói […] còn tôi, tôi nói cho các ông hay”, nhưng mỗi lần Chúa gia tăng đòi hỏi, Chúa làm cho ách ra nặng hơn. Chúa nói với chúng ta rằng không ngoại tình thì chưa đủ; nhưng còn không được nhìn một người phụ nữ hoặc một người đàn ông mà có lòng ước muốn xấu xa; yêu người lân cận và ghét kẻ thù của mình thì không đủ; cũng phải yêu kẻ thù của mình, không chỉ yêu kẻ thù của mình bằng lời nói, nhưng cầu nguyện cho họ, làm điều lành, tha thứ cho họ; yêu những người yêu thương chúng ta thôi chưa đủ, chào hỏi những người chào hỏi chúng ta thôi chưa đủ, mời những người mời chúng ta thôi chưa đủ: những người ngoại đạo cũng làm như vậy (x. Mt 5,17-48).
Nhưng khi đó, Chúa muốn nói gì với chúng ta khi Chúa bảo ách của Chúa êm ái và gánh của Chúa nhẹ nhàng?
Phải có một mầu nhiệm trong đó: một điều gì đó mới mẻ, mà chúng ta chưa biết, phải được đưa ra ánh sáng để giải thích nghịch lý này.
Điều hiểu ngầm được gọi là Nước Trời! Điều gây ra sự đảo ngược tình huống này, chính là Vương Quốc của Thiên Chúa đã đến cùng với Đức Giêsu. Điều mới đã đến, điều thay đổi mọi sự, thổi bay – như người ta nói – mọi tham số và tiêu chí. Trong Phúc Âm Luca, ngay sau đoạn nói Đức Giêsu hớn hở vui mừng, cảm tạ Chúa Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều ấy và đã mạc khải cho những kẻ bé mọn, thì thay vì: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28), chúng ta đọc những lời khác của Đức Giêsu, tuy khác, nhưng có liên hệ với lời Matthêu nói: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy! Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, đã muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Lc 10,23-24).
Đó là điều tạo nên sự khác biệt, đó là “cái hiểu ngầm”! Tôi nhớ hiệu quả do lời này tạo ra khi tôi đã biết cuộc Canh tân trong Thần Khí. Một cô gái trẻ, có mặt trong buổi tĩnh tâm nổi tiếng nơi khai sinh ra cuộc Canh tân Đặc sủng Công giáo, đã viết trong một bài báo là lời này của Đức Giêsu áp dụng cho những gì cô đã thấy. Điều này bắt tôi suy nghĩ nhiều. Cô gái trẻ này đã có thể thấy rõ những gì cho phép cô nói một cách chắc chắn: “Phúc cho mắt nào được thấy điều anh em thấy…?” Tôi có thể nói rằng đó là một trong những lời đã khiến tôi đến với cuộc Canh tân. Bây giờ đến lượt tôi lặp lại cũng những lời đó: “Phúc cho mắt nào được thấy điều anh em thấy…”
Vậy, đó là Nước Trời; người ta tìm thấy lời giải thích ở đây. Không còn gì như trước nữa, những thước đo, “những trọng lượng” cũng đã thay đổi… Nước Trời làm cho những ai “đang vất vả gồng gánh nặng nề” được nghỉ ngơi bồi dưỡng, cho những ai nghèo khó, những ai khóc lóc, những ai đói khát, được tuyên bố là “có phúc”. “Vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Người có được Nước Trời có còn nghèo chăng? Người chờ đợi một vương quốc có còn buồn chăng? Đối với người có thể có được vương quốc, gánh có thể nặng nề, cay đắng chăng?
Hoài niệm về vĩnh cửu
Chúng ta hẳn có thể hài lòng với câu trả lời mà lời Chúa đưa ra: Nước Trời. Đối với chúng ta, như vậy là đủ. Nhưng chúng ta sẽ nói gì với người khác, với những người mà thuật ngữ “Vương quốc” không nói lên điều gì cả? “Vương quốc” không phải là một từ quá phổ biến ngày nay, khi chúng ta sống dưới chế độ cộng hòa và dân chủ… Làm thế nào để giúp cho người khác hiểu chúng ta, để “biện minh cho niềm hy vọng nơi chúng ta”?
Có một cách diễn tả khác, chính Kinh Thánh cống hiến, thậm chí còn nói đi nói lại cho chúng ta, và tôi không thể giữ được nó lâu hơn nữa: Vĩnh cửu! Vĩnh cửu! Cuộc sống vĩnh cửu! Chính là Nước Trời, biện pháp mới mà Đức Giêsu ban cho chúng ta mà chúng ta đã không lưu ý cho đủ.
Nếu muốn biết tại sao ách của Đức Giêsu êm ái và gánh của Ngài nhẹ nhàng, chúng ta hãy lắng nghe Tông Đồ Phaolô: “Thật vậy một chút gian truân tạm thời – lưu ý những chữ “một chút”, “tạm thời” – trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Vì thế chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2Cr 4,17-18).
Một thước đo mới giúp cho những thập giá và gian truân trong chốc lát trở nên êm ái, nhẹ nhàng: Vĩnh cửu. Chính vì thế vị Tông Đồ có thể nói: “Thật vậy, tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ saánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Không một so sánh nào có thể có!
Chúng ta cần biết người đã gọi cơn gian truân là “nhẹ nhàng” và trong một “khoảnh khắc” để không thốt lên với ông ta: “Này ông Phaolô, ông mau mắn nói thế vì ông đã không cảm nhận được những gì tôi đã cảm nhận và đang cảm nhận! Tôi muốn thấy ông ở vị trí của tôi! Trong cùng một bức thư, Phaolô đã nói về mình như thế này: “[…] bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần tôi bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tầu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi; phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng…” (2Cr 11,24-27).
Điều này làm tôi nhớ lại một khoảnh khắc trong cuộc đời của phong trào Phan sinh: Tổng tu nghị “chiếu”. Một ngày nọ, Phanxicô Assisi tập hợp tất cả các anh em của ngài ở rải rác khắp nơi trên thế giới, khoảng 5.000 người, tại Nhà Thờ Đức Mẹ Các Thiên Thần gần Assisi, dịp lễ Hiện Xuống. Cuộc họp được gọi là “Tổng tu nghị chiếu”, vì anh em sống trong những túp lều ứng biến bằng cành liễu và cây mây. Những Bông Hoa Nhỏ kể rằng có một lúc, Người Nghèo đứng dậy và, đầy nhiệt huyết, đã có một bài phát biểu rực lửa mà chúng ta lắng nghe, như thể thánh Phanxicô đang nói với chúng ta ở đây, lúc này: “Hỡi các con, chúng ta đã hứa với Chúa những điều lớn lao, nhưng những gì Ngài đã hứa với chúng ta còn lớn lao hơn. Chúng ta hãy nhìn những gì chúng ta đã hứa với Ngài, và hãy chờ đợi một cách chắc chắn những gì Ngài đã hứa với chúng ta. Thú vui của thế gian thì vắn vỏi, nhưng đau khổ sau đó thì vĩnh viễn. Đau khổ của đời này thì không đáng kể, nhưng vinh quang của đời sau thì vô cùng.”[60] Rồi tất cả hớn hở đi vào chầu.
Một ngày khác, thánh Phanxicô, đang ở trên thành lũy thánh Lêô gần Rimini, nơi đang diễn ra cuộc tranh tài của các hiệp sĩ, bắt đầu lớn tiếng từ trên một bức tường thấp: “Điều tốt tôi mong đợi lớn đến nỗi mỗi hình phạt là một lạc thú.”
Giờ đây chúng ta đi đến trọng tâm của sứ điệp mà tôi phải chuyển đạt cho các bạn – từ “vĩnh cửu”. Chúng ta bám sát vào từ này, cho tới khi làm cho nó sống lại; chúng ta sẽ lấy hơi thở sưởi ấm cho nó, cho tới khi nó lấy lại sự sống. Bởi vì “vĩnh cửu” là một từ chết; chúng ta đã để nó chết, như người ta để cho một đứa trẻ bị bỏ rơi chết.
Vậy, từ này đã là động cơ bí mật thúc đẩy người Kitô hữu hành động, là cực thu hút suy nghĩ của họ, là kim từ tính chỉ cho họ con đường như cho các thủy thủ, là thực tại nâng đỡ trái tim, như khối lượng của mặt trăng tròn nâng cao mặt nước biển khi thủy triều lên, từ ấy đã chịu một sự biến đổi nào? Ngọn đèn đã lặng lẽ được đặt lại dưới một giá đèn, lá cờ gấp lại như một đoàn quân đang rút lui. Hiện tượng này có một cái tên rất chính xác: “thế tục hóa”. Thế tục hóa, nghĩa là quên đi hoặc gác lại vĩnh cửu, để gắn bó với thời đại, với thời điểm hiện tại. Đó là lạc giáo lớn, nguy hiểm nhất trong thời đại chúng ta và không may là chúng ta ít nhiều đã bị nó tác hại. Theo nghĩa này, tất cả chúng ta đều là những người vô tín.
Trước hết, sự nghi ngờ của chủ nghĩa Mác nhắm vào từ “vĩnh cửu”, vì nó làm cho người ta không còn dấn thân trong lịch sử nhằm thay đổi thế giới và cải thiện cuộc sống hiện tại, và nó giống như một lối trốn chạy thực tế. Và dần dần, với sự nghi ngờ, vĩnh cửu chìm vào quên lãng và im lặng. Chủ nghĩa duy vật và xã hội tiêu thụ đã làm phần còn lại. Nó trở nên kỳ dị và nói về vĩnh cửu gần như không phù hợp với những người “hiện đại”. Ai còn nói về “Novissimi” (những sự sau hết) – sự chết, sự phán xét, thiên đàng, hỏa ngục – khởi đầu và những hình thức của vĩnh cửu?
Nhưng sự kiện không nói về nó không có nghĩa là những thực tại này đã không còn tồn tại. Người ta nhớ lại thảm kịch của con tầu xuyên đại tây dương Titanic. Người ta đã gửi tin nhắn qua radio để báo cáo có một tảng băng trôi trên đường đi của con tầu. Nhưng trên sàn tầu đang có một bữa tiệc và không một ai đã nhận và lưu ý đến tin nhắn một cách nghiêm túc; đến nửa đêm, một cú va chạm khủng khiếp đã xé toạc thân tầu và mọi người bị ném xuống biển. Điều đó giúp người ta nghĩ đến những gì có thể xẩy ra trên bình diện thiêng liêng, nghĩ đến những người sống mà không quan tâm đến những gì đang chờ đợi họ trên đường. Trên đường đi của chúng ta cũng vậy, có một tảng băng trôi và chính là cái chết…
Ngày nay không còn ai nói về đời sống vĩnh cửu sao? Tuy vậy Đức Giêsu trong Phúc Âm chỉ nói đến điều đó mà thôi! Ngài cảnh báo chúng ta: “Nếu muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại?” Nếu những kẻ tin mất đi cảm thức về vĩnh cửu, ai sẽ lại cho họ cảm thức ấy? “Muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian” chính là sự vĩnh cửu: không có nó thì không gì có mùi vị, mọi sự trở nên nhạt nhẽo, vô ích, như thánh Augustinô đã nói: “Sống tốt có ích gì, nếu không thể sống mãi mãi?” Trước ngài, Đức Giêsu đã nói: “Được lợi lãi cả thế gian mà mất linh hồn, thì ích gì?”
Điều gì có thể xảy ra với một người phải cân một thứ gì đó, khi anh ta đã làm mất đi “quả cân” hoặc thước đo của cái cân? Hãy tưởng tượng một người cầm một cái cân trong tay. Bạn biết nguyên lý của cái cân Rôma, với một bên là chiếc khay được giữ bằng dây xích, và bên kia là một cán có chia vạch giữ quả cân. (Tôi lấy ví dụ này từ triết gia Soren Kierkegaard trong sách Phúc Âm về sự Đau Khổ của ông, nơi ông bình giải cùng một đoạn văn Mt 11,28-30). Ở một bên, trên chiếc khay, người ta đặt những thứ cần cân – bột mì, bánh mì, cá hoặc bạc, vàng, bất cứ thứ gì người ta muốn – và ở bên kia, người ta móc một quả cân để cân bằng chiếc khay. Nếu quả cân quá nhẹ, tất cả những gì được đặt trên chiếc khay sẽ nâng cán lên và nghiêng cân về phía của nó. Phần thắng về bên chiếc khay, dù nó chỉ đựng một mớ lông vũ có nhẹ mấy đi nữa.
Chính là nơi chúng ta đang ở. Chúng ta đã mất cảm thức về vĩnh cửu là cảm thức đo lường mọi sự, và mọi sự trên thế giới này chiếm ưu thế và chắc chắn sẽ làm nghiêng cán cân về bên chúng. Mọi sự dường như quá khó khăn, quá nặng nề. Đức Giêsu nói: “Nếu tay ngươi là dịp tội cho ngươi, hãy chặt nó đi; nếu mắt ngươi là dịp tội cho ngươi, hãy móc nó đi. Thà được cuộc sống đời đời mà cụt một tay hay mù một mắt, hơn là còn cả hai tay và hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục đời đời, nơi phải chịu đau đớn vô tận.”
Chúng ta đoán rằng việc lấy vĩnh cửu làm thước đo thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào. Chúng ta, những người đã không còn nhìn tới vĩnh cửu, thì nhắm mắt trong giây lát hoặc tắt tivi để không làm nhơ bẩn tâm hồn mình và không làm liên lụy đến cuộc sống vĩnh cửu, dường như quá sức đối với chúng ta. Mọi sự đối với chúng ta dường như quá đáng: phải dậy sớm hơn một chút hoặc bước thêm một đoạn đường để đi lễ, nỗ lực vì người thân cận, tha thứ cho một hành vi xúc phạm đến mình, chống lại một cơn cám dỗ. Và chúng ta nghĩ: “Ai ép tôi làm như thế?” Chúng ta thường chọn sự dễ dãi khi nó dẫn đến cái chết.
Chúng ta hãy nhớ lại lời của thánh Phaolô: “Những đau khổ của đời này chẳng là gì so với sức nặng của vinh quang phải được mạc khải nơi chúng ta.” Nhẹ đi, vì chúng mau qua trước sức nặng của vinh quang vĩnh cửu. Nếu thiếu đi sức nặng này, những gian truân của chúng ta, thay vì nhẹ đi, đột nhiên không thể chịu đựng nổi.
Mặt khác, khi bạn không còn chịu đựng được nữa, bị những nỗi gian truân đè bẹp, hãy thực hiện một hành vi tin bằng cách vất sang phía bên kia cái cân sức nặng khổng lồ là ý tưởng về sự vĩnh cửu, và bạn sẽ thấy sức nặng của gian truân sẽ nhẹ hơn một chút. Hãy tự hỏi: “Tất cả những điều đó là gì liên quan đến vĩnh cửu? Một ngàn năm giống như một ngày, như “một canh đêm”, như ngày hôm qua đã qua đi”. Đó chỉ là một khoảnh khắc, một hơi thở. Và những năm qua chúng ta đã sống bây giờ là gì ?
Tôi đưa ra một hình ảnh: một đám đông hỗn tạp và bận rộn; một số người làm việc, cười, khóc, đi đi lại lại, người khác thì đau khổ trong một góc nhà. Một người lớn tuổi từ xa đến, thở dốc và thì thầm một từ vào tai người đầu tiên, rồi vừa chạy vừa nói từ đó cho một người khác. Người nhận được nó chạy đi lặp lại từ đó vào tai người khác, và cứ thế. Và tôi thấy có một sự thay đổi bất ngờ: người đang đau khổ nằm trên sàn nhà đứng dậy và chạy nhanh đi nói tiếng đó tại nhà; người đã chạy dừng chân và quay lại, người khác vừa khóc vừa ôm chầm lấy một người khác…
Từ nào đã gây ra sự thay đổi như vậy? Từ: “Vĩnh cửu!” Cho phép tôi đủ táo bạo để lặp lại cho các bạn từ này: Vĩnh cửu. Đây là từ phải đi qua giữa chúng ta, giống như một ngọn đuốc đang cháy, như một tín hiệu sáng mà lính canh ngày xưa đã truyền từ tháp này sang tháp khác: Vĩnh cửu! Vĩnh cửu! Vĩnh cửu tồn tại! Người ta bảo những người Do Thái bị lưu đày ở Babylon: “Hãy hát cho chúng tôi nghe một bài ca Sion”. Họ đã trả lời thế nào cho những kẻ bắt giữ họ? “Lưỡi xướng ca sẽ dính với hàm, nếu tôi không hoài niệm, không còn lấy Giêrusalem, làm niềm vui tuyệt đỉnh của tâm hồn!” (Tv 137,3tt).
Ngọn đuốc này phải được truyền từ tay này sang tay khác trong nhóm của bạn, trong trường học của bạn, trong công việc của bạn và thắp sáng những người khác. Chớ gì ánh mắt của bạn, chỉ mình nó, có thể nói lên rằng đó không phải là một trò đùa hay một khẩu hiệu, nhưng nó khơi dậy hoài niệm về vĩnh cửu nơi những người nghe.
Tôi nói đến hoài niệm hay luyến tiếc, vì nghĩ rằng không một đàn ông hay một phụ nữ nào, khi nghĩ lại về tuổi trẻ của mình, lại không nhớ đến một khoảnh khắc hay một hoàn cảnh nào mình đã có cảm thức về vĩnh cửu; người đó như cúi xuống ngưỡng cửa của nó, thoáng nhìn thấy nó, cho dù anh (chị) ta không thể kể lại khoảnh khắc đó.
Tôi nhớ một trong những khoảnh khắc đó, khi tôi còn là học sinh trung học. Chúng tôi đang trong kỳ nghỉ hè, tôi ướt đẫm mồ hôi sau khi đã chơi, và nằm một lúc trên cỏ. Ánh mắt của tôi bị hút vào bầu trời xanh ngắt với những đám mây trắng nhẹ trôi. Tôi tự hỏi: Có gì ở bên trên vòm trời xanh này, và còn có gì ở xa hơn nữa? Trong mơ hồ, tâm trí tôi đi về phía vô tận và lạc lõng, giống như một người nhìn chằm chằm vào mặt trời quá lâu, bị lóa mắt và không còn nhìn thấy gì nữa. Vô tận đòi hỏi vĩnh cửu: từ không gian tôi đã đi sang thời gian. “Vĩnh cửu là gì: mãi mãi, không bao giờ! Một ngàn năm và đó chỉ là khởi đầu, hàng triệu và hàng tỷ năm, và đó chỉ là khởi đầu!” Tâm trí tôi lại lạc lõng. Nhưng đó là một cảm giác đẹp, khiến tôi trưởng thành hơn.
Trước khi mùa này của đời bạn trôi qua khi bạn vẫn còn có thể ngạc nhiên và bản thân bị “ấn tượng” bởi một điều gì đó, bạn hãy một lần trải qua kinh nghiệm mà tôi đã có. Hãy dừng lại, nằm ngửa trên một đồng cỏ, trong một khoảnh khắc cô đơn, và nhìn lên bầu trời. Bạn cũng vậy, hãy tưởng tượng “những không gian vô tận và những yên lặng siêu phàm”, giống như nhà thơ Leopardi trong “Infinito“, và hãy trải nghiệm lần chìm đắm hạnh phúc của tâm trí. Hãy chìm đắm trong biển khơi của sự vô tận và vĩnh cửu, và bạn sẽ thấy rằng bạn cũng sẽ nói như ông ấy: “Thật êm dịu biết bao khi tôi chìm đắm trong biển này.”
Đừng tìm kiếm cảm giác run lên của vô hạn, sự chìm đắm của tâm trí, ở nơi khác, trong ma túy, nơi chỉ có chết chóc, ảo tưởng, dối trá. Tôi đã đề nghị cho bạn một liều thuốc giải độc mạnh mẽ trước cơn cám dỗ khủng khiếp và tàn phá của ma túy: trải nghiệm cảm xúc đích thực về vĩnh cửu, tìm kiếm sự vô hạn ở trên cao, không ở dưới thấp, ở trên bạn, không ở dưới bạn. Thiên Chúa sẽ giúp bạn. Còn bạn, những người lớn tuổi! Hãy ngừng đếm những đồng xu của bạn và hãy bắt đầu đếm các vì sao.
Con người chỉ còn là gì nếu người ta lấy đi sự vĩnh cửu khỏi trái tim và suy nghĩ của nó? Theo các triết gia, con người là “một hữu thể hữu hạn, có khả năng vô hạn”, nghĩa là mở ra cho sự vô hạn, cần sự vô hạn và dành cho sự vô hạn. Thánh Augustinô nói: “Chúa đã tạo nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”[61]. Chính đó là cội rễ của sự không thỏa mãn sâu sắc này ngự trị trong lòng con người. Chúng ta đã được tạo nên cho nhiều sự khác, nhưng chúng ta tiếp tục chạy theo những sự vật của thế giới này một cách tuyệt vọng. Trong lời thơ của mình về sự vô hạn, Leopardi nói tới “một hàng rào ngăn cản chúng ta nhìn thấy cuối chân trời”. Trong cuộc sống cũng vậy, có một hàng rào ngăn cản chúng ta nhìn về bên kia hàng rào, hàng rào của “những sự vật hữu hình”, vì vậy vị Tông Đồ mời gọi chúng ta đừng nhìn chăm chăm vào đó nữa.
Khi thế giới khiêu khích bạn và cố gắng quyến rũ bạn bằng cách bày ra trước mặt bạn sự lấp lánh của những viên ngọc trai giả tạo của nó, của sự háo thắng mau qua và say xỉn, cho dù là từ rượu, ma túy, tình dục, thành công, hãy nại tới đức tin của bạn, hãy lặp lại cho mình câu này, vì đó là sự thật: “Những gì hữu hình chỉ tồn tại trong giây lát. Tôi không hài lòng với những gì của một khoảnh khắc, tôi muốn những gì vĩnh cửu, tôi muốn Thiên Chúa!”
Đừng ngại nói với thiên hạ rằng: “Bạn không thuyết phục được đâu. Bạn thiếu biện pháp, bạn không biết vĩnh cửu. Giống như thể bạn đang tán dương sức mạnh của việc trộn muối ăn với lưu huỳnh hoặc thuốc súng, cho một người biết bom nguyên tử đã được phát minh, hoặc nếu bạn ca tụng quyền năng của ngọn nến, cho người có ánh sáng điện hoặc người đang ở dưới ánh nắng ban trưa. Bạn không có thuật ngữ đúng để so sánh. Còn tôi, tôi có một lợi thế lớn hơn bạn. Tôi biết sức mạnh của bạn (và tôi thậm chí biết điều đó quá rõ); nhưng bạn không biết sức mạnh của tôi. Tôi biết những gì hoạt động trong bạn, còn bạn, bạn lại không biết những gì hoạt động trong tôi và mạnh hơn (x. 1Ga 4,4). Giữa chúng ta, bạn đúng là người ngây ngô, chứ không phải tôi là người tin!”
Khai ân của Thần Khí
Sự nghi ngờ thường ngăn cản những tín hữu nói như thế. Sức nặng của vĩnh cửu chắc chắn lớn hơn sức nặng của gian nan thử thách, nhưng chúng ta vác thập giá của mình trong thời gian, chứ không phải trong vĩnh cửu, ”Vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin, chứ không phải nhờ được thấy Chúa” (2Cr 5,7). Tự nền tảng, chúng ta chỉ phải chống lại sự thu hút của những điều hữu hình hơn là “niềm hy vọng” những điều vô hình; chúng ta chỉ phải chống lại “khoái cảm” tức thời của những gì dưới đất hơn là “lời hứa” hạnh phúc vĩnh cửu. Thời thánh Augustinô người ta đã nói: “Chúng tôi muốn được hạnh phúc trong thân xác này”, “cuộc sống này thật ngọt ngào”.
Đây là sai lầm mà chúng ta, những tín hữu, phải chống lại. Vĩnh cửu không chỉ là một “lời hứa”, một “kỳ vọng” ở đời này. Đó còn là một “sự hiện diện” và một “kinh nghiệm”! Tông đồ Gioan nói: “Tôi đã viết những điều đó cho anh em, là những người tin vào danh Con Thiên Chúa, để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời” (1Ga 5,13). Đây là một trong những điều chắc chắn quan trọng nhất mà cuộc Canh tân trong Thần Khí đang thức tỉnh trong Giáo Hội, một trong những đóng góp quý giá nhất của Giáo Hội vào việc đổi mới đời sống Kitô giáo.
Nếu bạn nói về vĩnh cửu và sự sống vĩnh cửu với một người không phải là tín hữu hoặc không phải là một tín hữu thực hành, anh ta sẽ nhún vai và nói với bạn: “Vĩnh cửu, vĩnh cửu! Vĩnh cửu là gì vậy? Nếu sự vĩnh cửu của bạn tồn tại thì chung quy ai có thể nói đây!” Còn bạn, bạn định trả lời thế nào? Khi đó, bạn hãy lặp lại những lời của thánh Gioan Tông đồ, ca viên vĩ đại của sự sống đời đời: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến đó là Lời sự sống […] chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa. Quả vậy sự sống đã được tỏ bầy, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời, sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tò bày cho chúng tôi” (x. 1Ga 1,1-3).
Sự sống vĩnh cửu đã được bày tỏ. Vâng, vì chính Thiên Chúa là sự sống vĩnh cửu, và Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, đã làm người và đến ở giữa chúng ta (x. Ga 1,14). Với Đức Giêsu, vĩnh cửu đi vào thời gian, thời gian trở thành “chứa đầy” vĩnh cửu. Nói rằng Đức Giêsu là “con người và Thiên Chúa trong một ngôi vị duy nhất”, điều này có nghĩa là vĩnh cửu và thời gian kết hợp mãi mãi trong Ngài và không thể hòa lẫn với nhau hoặc tách rời nhau: tức là mỗi bên giữ lại những đặc điểm riêng của mình, trong một sự hợp nhất không thể phân chia.
Cả chúng ta nữa, chúng ta có thể nói về sự sống vĩnh cửu là nó đã xuất hiện, chúng ta nhìn thấy nó và bàn tay của chúng ta đã chạm vào nó, bởi vì Đức Giêsu đang sống giữa chúng ta. Ngài sống và hiện diện nơi lời của Ngài được loan báo. Ngài sống trong các bí tích của mình. Các bí tích, đặc biệt bí tích Thánh Thể, giống như những cửa sổ qua đó sự sống vĩnh cửu đi vào thế giới chúng ta. Các thánh cũng vậy, theo cách riêng của các ngài, là những cửa sổ mở vào thế giới của Thiên Chúa, qua đó người ta có thể nhìn thấy những gì đang chờ đợi chúng ta.
Bởi vì ngay từ bây giờ chúng ta trải nghiệm sự vĩnh cửu trong đức tin, nên ngay từ bây giờ chúng ta có thể cảm nghiệm được hạnh phúc. Người Kitô hữu chúng ta cũng vậy, giống như mọi người khác, muốn được hạnh phúc “trong thân xác bằng bằng xương bằng thịt”, nhưng chúng ta đã khám phá ra rằng có một cách khác để được hạnh phúc. Chúng ta đã cảm nghiệm được niềm vui là “hoa trái của Thần Khí”, là niềm vui đứng vững ngay cả trong hoạn nạn và không phải là niềm vui “nhất thời”, mà là sự bình an sâu xa và lâu dài. Tôi tràn đầy niềm vui trong mọi nỗi gian truân”, như thánh Phaolô đã có thể nói với dân Corintô, và chúng ta có thể thấy những môn đệ đầu tiên “được tràn đầy hoan lạc và Thánh Thần” (Cv 13,52).
Giờ đây chúng ta đã đi đến phần cuối bài suy niệm về lời Đức Giêsu: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi…” (Mt 11,28) và phần cuối này mang dấu ấn được gọi là Chúa Thánh Thần. Sự hiện diện của đời sống vĩnh cửu trong Giáo Hội và trong mỗi chúng ta đều có một danh xưng riêng: đó là Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta. Người được gọi là “ân huệ mở đầu” (x. Rm 8,23) và “bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta” (x, Ep 1,14; 2Cr 5,5). Người được ban cho chúng ta, để chúng ta được nếm những ân huệ mở đầu, khát vọng sự viên mãn. Nhờ Người, chúng ta “rên siết trong lòng chờ mong được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (x. Rm 8,20-23). Và chỉ một mình Người thôi có thể đốt lên trong chúng ta hoài niệm về vĩnh cửu.
Chúng ta phải công nhận rằng chúng ta cũng vậy, trong cuộc Canh Tân, đã quên điều đó đôi chút và đôi khi chúng ta cư xử như thể Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta để sống tốt hơn và lâu nhất có thể trên trần gian này, để phát triển tiềm năng của cuộc sống tự nhiên và tăng thêm nơi chúng ta niềm vui sống. Nhưng Thần Khí từ trên xuống đẩy chúng ta lên trên. Đó là Ruah Yahvé, Hơi Thở của Thiên Chúa, nâng chúng ta lên. Chúng ta biết rằng chỉ cần không khí lấp đầy các xác thuyền đã rơi xuống đáy biển là đủ để khiến chúng trồi lên: khi đó chúng nhẹ hơn nước. Thứ lỗi cho tôi đưa ra hình ảnh này. Nhưng chúng ta, những con người ngày hôm nay, và những người Kitô hữu chúng ta cũng vậy, là những thân xác đã rơi xuống đáy biển. Chúng ta đã đắm chìm trong tính thế tục. Chúng ta đã bị “thế tục hóa”. Nhưng Thần Khí đã được sai đến với chúng ta, Đức Giêsu đã thổi hơi thở vào chúng ta và đã làm lan tỏa hơi thở của Ngài với cùng một lý do: nâng chúng ta lên từ đáy, hướng lên trên cao, cho đến khi chúng ta quay lại để chiêm ngắm bầu trời vô tận và khiến chúng ta thốt lên, tràn đầy niềm vui: Vĩnh cửu! Vĩnh cửu!
