Điều 849
Bí tích Rửa Tội là cửa dẫn vào các bí tích, cần thiết cho ơn cứu rỗi và phải được lãnh nhận thật sự hoặc ít là trong ước muốn, nhờ bí tích này, con người được giải thoát khỏi tội lỗi, được tái sinh làm con Thiên Chúa, được nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô nhờ một ấn tích không thể xoá nhòa và được sáp nhập vào Giáo Hội, bí tích này chỉ được ban thành sự khi được rửa bằng nước thiên nhiên cùng với mô thể cần thiết.
Chương 1. Сử hành Bí tích Rửa Tội (Điều 850 – 860)
Điều 850
Bí tích Rửa Tội được ban theo nghi thức được quy định trong các sách phụng vụ đã được phê chuẩn, trừ trường hợp có nhu cầu khẩn cấp, khi đó chỉ phải giữ những gì đòi buộc để bí tích được thành sự.
Điều 851
Việc cử hành bí tích Rửa Tội phải được chuẩn bị cách xứng hợp, bởi thế:
1° người thành niên muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội phải được nhận vào khóa dự tòng và, tùy mức độ có thể, phải được hướng dẫn vào việc khai tâm về bí tích qua nhiều giai đoạn khác nhau, theo nghi thức khai tâm đã được Hội đồng Giám mục thích nghi và theo những quy tắc riêng do Hội đồng Giám mục ban hành,
2° cha mẹ của nhi đồng sắp được Rửa Tội, cũng như những người sắp đảm nhận nhiệm vụ đỡ đầu, phải được giáo huấn cách xứng hợp về ý nghĩa của bí tích này và về những nghĩa vụ gắn liền với bí tích; khi tập họp nhiều gia đình lại, và khi đi thăm họ, ở đâu có thể, cha sở, tự mình hoặc nhờ người khác, phải liệu sao để các bậc cha mẹ được chuẩn bị cách xứng hợp bằng những bài huấn dụ mục vụ, hơn nữa còn bằng việc cầu nguyện chung.
Điều 852
§1. Những gì đã được quy định trong những điều về bí tích Rửa Tội cho người thành niên cũng được áp dụng cho tất cả mọi người quá tuổi nhi đồng đã biết sử dụng trí khôn.
§2. Người nào không làm chủ được mình thì được đồng hóa với nhi đồng, cả trong vấn đề liên quan đến bí tích Rửa Tội.
Điều 853
Ngoài trường hợp cần thiết, nước dùng để ban bí tích Rửa Tội phải được làm phép theo những quy định của các sách phụng vụ.
Điều 854
Phải ban bí tích Rửa Tội hoặc bằng cách dìm xuống nước, hoặc bằng cách đổ nước, nhưng phải tuân giữ các quy định của Hội đồng Giám mục.
Điều 855
Cha mẹ, những người đỡ đầu và cha sở phải liệu sao để đừng đặt tên xa lạ với ý nghĩa Ki-tô Giáo.
Điều 856
Mặc dù có thể cử hành bí tích Rửa Tội vào bất cứ ngày nào cũng được, nhưng thông thường, khuyên nên cử hành bí tích này vào ngày Chúa Nhật hoặc nếu có thể được, vào đêm vọng Phục Sinh.
Điều 857
§1. Ngoài trường hợp cần thiết, nơi dành riêng để ban bí tích Rửa Tội là nhà thờ hoặc nhà nguyện.
§2. Theo luật chung, phải ban bí tích Rửa Tội cho người thành niên tại nhà thờ riêng của giáo xứ của họ và cho nhi đồng tại nhà thờ giáo xứ của cha mẹ chúng, trừ khi có một lý do chính đáng khuyên làm cách khác.
Điều 858
§1. Tất cả mọi nhà thờ giáo xứ phải có giếng Rửa Tội, miễn là vẫn giữ nguyên quyền có giếng Rửa Tội mà các nhà thờ khác đã thủ đắc.
§2. Để tiện lợi cho tín hữu, sau khi đã tham khảo ý kiến của cha sở, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép hoặc truyền lệnh làm giếng Rửa Tội cả trong một nhà thờ hoặc một nhà nguyện khác nằm trong ranh giới của giáo xứ.
Điều 859
Nếu người sắp được Rửa Tội, vì ở xa hoặc vì những hoàn cảnh khác, không thể đến hoặc không thể được đưa đến nhà thờ giáo xứ hoặc nhà thờ hay nhà nguyện khác được nói đến ở điều 858 §2 mà không có sự bất tiện lớn, thì có thể và phải được lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong một nhà thờ hay một nhà nguyện khác gần hơn, hoặc tại một nơi khác xứng đáng.
Điều 860
§1. Ngoài trường hợp cần thiết, không được ban bí tích Rửa Tội tại tư gia, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép vì một lý do quan trọng.
§2. Nếu Giám mục giáo phận không ấn định cách khác, không được cử hành bí tích Rửa Tội tại các bệnh viện, trừ trường hợp cần thiết hay vì một lý do mục vụ khác đòi buộc.
Chương 2. Thừa tác viên Bí tích Rửa Tội (Điều 861 – 863)
Điều 861
§1. Thừa tác viên thông thường của bí tích Rửa Tội là Giám mục, linh mục và phó tế, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 530, 1°.
§2. Nếu thừa tác viên thông thường vắng mặt hoặc bị ngăn trở, thì một giáo lý viên hay một người khác được Đấng Bản Quyền địa phương ủy thác làm nhiệm vụ này, hơn nữa, trong trường hợp cần thiết, bất cứ người nào với ý hướng cần có, đều ban bí tích Rửa Tội cách hợp thức; các vị chủ chăn các linh hồn, nhất là các cha sở, phải liệu sao để dạy cho các Ki-tô hữu biết Rửa Tội đúng cách.
Điều 862
Trừ trường hợp cần thiết, nếu không được phép buộc phải có, không ai có thể ban bí tích Rửa Tội trong một địa hạt khác, dù là ban cho những người thuộc quyền mình.
Điều 863
Việc ban bí tích Rửa Tội cho người thành niên, ít là cho những người đã được trọn mười bốn tuổi, nên được trình lên Giám mục giáo phận, để chính ngài đích thân ban bí tích này, nếu ngài xét thấy điều đó thuận lợi.
Chương 3. Những người lãnh nhận Bí tích Rửa Tội (Điều 864 – 871)
Điều 864
Tất cả và chỉ những người chưa được Rửa Tội mới có khả năng lãnh nhận bí tích Rửa Tội.
Điều 865
§1. Để có thể được Rửa Tội, người thành niên phải bày tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội, phải được dạy dỗ đủ về những chân lý đức tin và những nghĩa vụ Ki-tô Giáo và phải được thử luyện sống đời Ki-tô hữu qua thời gian dự tòng; họ cũng được khuyên nhủ ăn năn tội lỗi của mình.
§2. Trong trường hợp nguy tử, người thành niên có thể được Rửa Tội, nếu sau khi đã có một vài nhận thức về những chân lý chính yếu của đức tin, họ tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội bằng bất cứ cách nào, và hứa sẽ tuân giữ các giới răn của Ki-tô Giáo.
Điều 866
Trừ khi có một ngăn trở nghiêm trọng, người thành niên nào được Rửa Tội, thì cũng được lãnh nhận bí tích Thêm Sức ngay sau bí tích Rửa Tội, tham dự Thánh Lễ, cũng như rước lễ.
Điều 867
§1. Các bậc cha mẹ buộc phải lo cho con cái mình được Rửa Tội trong vòng những tuần lễ đầu tiên; vào dịp sớm nhất sau khi sinh và ngay cả trước khi sinh, họ phải đến gặp cha sở để xin ngài ban bí tích cho con mình và để được chuẩn bị kỹ lưỡng về bí tích ấy.
§2. Nếu nhi đồng đang lâm cơn nguy tử, thì được Rửa Tội ngay không chút trì hoãn.
Điều 868
§1. Để Rửa Tội một nhi đồng cách hợp thức, thì phải:
1° Có sự chấp thuận của cha mẹ, hay ít nhất của một trong hai người, hoặc của người thay quyền họ cách hợp pháp;
2° có một niềm hy vọng chắc chắn là em sẽ được giáo dục trong đạo Công Giáo; nếu hoàn toàn thiếu niềm hy vọng này, thì phải hoãn ban bí tích Rửa Tội, chiếu theo những quy định của luật địa phương, sau khi đã thông báo cho cha mẹ biết lý do.
§2. Trong cơn nguy tử, nhi đồng của cha mẹ Công Giáo cũng như của cả cha mẹ không Công Giáo đều được Rửa Tội cách hợp thức, dù trái với ý muốn của cha mẹ.
Điều 869
§1. Nếu hồ nghi một người đã được Rửa Tội hay chưa, hoặc bí tích Rửa Tội được ban cho người đó có thành sự hay không, và nếu vẫn còn hồ nghi sau khi đã điều tra cặn kẽ, thì phải ban bí tích Rửa Tội cho họ với điều kiện.
§2. Những người đã được Rửa Tội trong một cộng đoàn Giáo Hội không Công Giáo, thì không được Rửa Tội với điều kiện, trừ khi có một lý do nghiêm chỉnh để hồ nghi về tính thành sự của bí tích Rửa Tội, sau khi đã điều tra về chất thể và mô thể đã được dùng khi ban bí tích, cũng như về ý muốn của người thành niên được Rửa Tội và của thừa tác viên ban bí tích Rửa Tội.
§3. Nếu trong những trường hợp được nói đến ở §§1 và 2 vẫn còn hồ nghi về việc ban hoặc về tính thành sự của bí tích Rửa Tội, thì chỉ được ban bí tích Rửa Tội, sau khi đã trình bày đạo lý về bí tích Rửa Tội cho người lãnh nhận bí tích Rửa Tội, và sau khi đã cho chính đương sự, nếu là người thành niên, hoặc cho cha mẹ của đương sự, nếu là nhi đồng, biết những lý do hồ nghi về tính thành sự của bí tích đã được cử hành trước đây.
Điều 870
Phải ban bí tích Rửa Tội cho nhi đồng bị bỏ rơi hoặc vô thừa nhận, trừ khi việc điều tra cẩn thận cho biết em đã được Rửa Tội rồi.
Điều 871
Trong mức độ có thể, phải Rửa Tội cho những thai nhi bị sẩy, nếu chúng còn sống.
Chương 4. Người đỡ đầu (Điều 872 – 874)
Điều 872
Trong mức độ có thể, người sắp lãnh nhận bí tích Rửa Tội phải có một người đỡ đầu. Người này giúp người thành niên sắp lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong việc khai tâm Ki-tô giáo; còn đối với nhi đồng sắp được Rửa Tội, thì người đỡ đầu cùng với cha mẹ đưa em đến chịu phép Rửa Tội và liệu sao cho em sau này sống một đời Ki-tô Giáo xứng hợp với bí tích Rửa Tội và trung thành chu toàn những nghĩa vụ gắn liền với bí tích.
Điều 873
Phải nhận một cha đỡ đầu hoặc một mẹ đỡ đầu mà thôi, hoặc là cả cha và mẹ đỡ đầu.
Điều 874
§1. Để được chấp nhận giữ nhiệm vụ đỡ đầu, người đỡ đầu phải:
1° do chính người sắp được Rửa Tội chọn, hoặc do cha mẹ hay những người thay quyền cha mẹ chọn, hoặc nếu thiếu những người ấy, thì do cha sở hay do thừa tác viên chọn, và phải có khả năng và ý muốn đảm nhận nhiệm vụ này;
2° đủ mười sáu tuổi trọn, trừ khi Giám mục giáo phận đã ấn định một mức tuổi khác, hoặc trừ khi cha sở hay thừa tác viên xét thấy phải chấp nhận, vì một lý do ngoại lệ,
3° là người Công Giáo đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức và bí tích Thánh Thể, và phải có đời sống xứng hợp với đời sống đức tin và nhiệm vụ phải đảm nhận;
4° không mắc một hình phạt của giáo luật đã được tuyên kết hay tuyên bố cách hợp pháp;
5° không là cha hoặc mẹ của người được Rửa Tội.
§2. Một người đã được Rửa Tội thuộc một cộng đoàn Giáo Hội không Công Giáo chỉ được chấp nhận như là nhân chứng của bí tích Rửa Tội cùng với một người đỡ đầu Công giáo.
Chương 5. Chứng minh và ghi sổ ban Bí tích Rửa Tội (Điều 875 – 878)
Điều 875
Người nào ban bí tích Rửa Tội, thì phải liệu sao cho có được ít là một người làm chứng, để có thể chứng minh việc ban bí tích Rửa Tội, nếu không có người đỡ đầu.
Điều 876
Lời tuyên bố của một nhân chứng đáng tin cậy hay lời thề của chính người đã được Rửa Tội, nếu họ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội ở tuổi thành niên, đủ để làm bằng chứng cho việc ban bí tích Rửa Tội, nếu điều đó không gây thiệt hại cho ai.
Điều 877
§1. Cha sở tại nơi cử hành bí tích Rửa Tội phải cẩn thận ghi ngay vào sổ Rửa Tội tên của những người đã được Rửa Tội, của thừa tác viên, của cha mẹ, của người đỡ đầu và của những nhân chứng, nếu có, ngày và nơi ban bí tích Rửa Tội, cũng như ngày và nơi sinh của họ.
§2. Trong trường hợp một đứa con của người mẹ không có hôn phối, thì phải ghi tên người mẹ, nếu mẫu tính được biết cách công khai, hoặc nếu chính người mẹ tự ý yêu cầu điều đó bằng văn bản hay trước mặt hai nhân chứng, cũng phải ghi tên người cha, nếu phụ tính được chứng minh qua một tài liệu chính thức hay qua lời tuyên bố của đương sự trước mặt cha sở và hai nhân chứng; trong những trường hợp khác, chỉ phải ghi tên người được Rửa Tội mà thôi, chứ không ghi tên người cha hoặc tên cha mẹ.
§3. Nếu là con nuôi, thì phải ghi tên các người nuôi, ít là khi điều đó được thể hiện trong sổ hộ tịch địa phương, và tên cha mẹ ruột, chiếu theo quy tắc của §§1 và 2, và phải lưu ý đến những quy định của Hội đồng Giám mục.
Điều 878
Nếu cha sở không cử hành bí tích Rửa Tội và cũng không có mặt, thì thừa tác viên của bí tích Rửa Tội, dù là ai đi nữa, phải thông báo cho cha sở của giáo xứ nơi mà bí tích Rửa Tội đã được cử hành, để ngài ghi vào số chiếu theo quy tắc của điều 877 §1.