Chương 1. Vấn đề quyết tụng (Điều 1641 – 1644)
Điều 1641
Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1643, một vấn đề trở thành quyết tụng:
1° nếu giữa cùng các bên như nhau đã có hai bản án giông hệt nhau, về cùng một điều thỉnh nguyện và bởi cùng một lý do;
2° nếu đơn kháng cáo chống lại bản án không được đệ nộp trong thời gian hữu dụng;
3° nếu đơn kiện đã thất hiệu ở cấp kháng cáo hay đã được bãi nại;
4° nếu đã ban hành một bản án chung quyết không được phép kháng cáo chiếu theo quy tắc của điều 1629.
Điều 1642
§1. Vấn đề quyết tụng được hưởng uy lực của pháp luật và không thể bị chống lại cách trực tiếp, trừ khi chiếu theo quy tắc của điều 1645 §1.
§2. Vấn đề quyết tụng có hiệu lực pháp lý giữa các bên và phát sinh tố quyền của việc đã xử cũng như khước biện của vấn đề quyết tụng, mà thẩm phán có thể tuyên bố chiếu theo chức vụ để ngăn ngừa một cuộc khởi tố mới của cùng một vụ án.
Điều 1643
Các vụ án liên quan đến tình trạng nhân thân, kể cả những vụ án ly thân của vợ chồng, không bao giờ trở thành vấn đề quyết tụng.
Điều 1644
§1. Nếu có hai bản án giống nhau đã được ban hành trong một vụ án liên quan đến tình trạng nhân thân, thì có thể được kháng án lên tòa kháng cáo trong bất cứ thời gian nào, bằng cách trưng ra những chứng cớ hay những lý do mới và quan trọng, trong thời hạn cưỡng định là ba mươi ngày, kể từ ngày nộp đơn kháng án. Tuy nhiên, trong vòng một tháng kế từ khi trưng ra những chứng cớ và những lý do mới, tòa kháng cáo phải ra sắc lệnh quyết định chấp nhận hay bác bỏ việc thẩm cứu lại vụ án.
§2. Việc thượng tố lên tòa án cấp cao hơn để xin xử lại vụ án không đình hoãn việc thi hành bản án, trừ khi luật đã dự liệu cách khác hoặc khi tòa kháng cáo ra lệnh đình hoãn chiếu theo quy tắc của điều 1650 §3.
Chương 2. Việc phục hồi nguyên trạng (Điều 1645 – 1648)
Điều 1645
§1. Việc phục hồi nguyên trạng được chấp nhận để chống lại một bản án đã trở thành vấn đề quyết tụng, miễn là nhận thấy bản án ấy bất công tỏ tường.
§2. Chỉ được coi là bất công tỏ tường:
1° nếu bản án dựa trên những chứng cớ mà về sau mới biết là sai, đến nỗi nếu không có những chứng cớ ấy thì phần chủ văn của bản án không đứng vững được;
2° nếu sau đó mới khám phá ra những tài liệu chứng minh chắc chắn rằng có những sự kiện mới đòi hỏi một quyết định ngược lại;
3° nếu bản án được ban hành do sự man trá của một bên đã gây thiệt hại cho bên kia;
4° nếu rõ ràng đã bỏ qua một quy định của luật không có tính thuần túy thủ tục;
5° nếu bản án đi ngược lại một quyết định trước đó đã trở thành vấn đề quyết tụng.
Điều 1646
§1. Việc phục hồi nguyên trạng vì những lý do nói ở điều 1645 §2,1°-3°, phải được thỉnh cầu nơi thẩm phán đã ban hành bản án, trong vòng ba tháng, kể từ ngày biết được những lý do đó.
§2. Việc phục hồi nguyên trạng vì những lý do nói ở điều 1645 §2,4°-5°, phải được thỉnh cầu nơi tòa kháng cáo trong vòng ba tháng, kể từ ngày biết bản án đã được công bố, còn trong trường hợp được nói đến ở điều 1645 §2,5°, nếu quyết định trước được biết trễ, thì thời hạn bắt đầu từ lúc biết được quyết định ấy.
§3. Bao lâu đương sự bị thiệt hại còn là vị thành niên, thì bấy lâu sẽ không được tính các thời hạn nói trên.
Điều 1647
§1. Đơn thỉnh cầu việc phục hồi nguyên trạng đình hoãn việc thi hành bản án, nếu việc thi hành này chưa bắt đầu.
§2. Tuy nhiên, trong trường hợp có những dấu hiệu hữu lý cho phép nghi ngờ rằng đơn thỉnh cầu đã được nộp nhằm mục đích trì hoãn việc thi hành bản án, thì thẩm phán có thể quyết định phải thi hành bản án, nhưng phải ấn định một bảo chứng thích hợp cho người thỉnh nguyện việc phục hồi nguyên trạng là họ sẽ được bồi thường, nếu việc này được chấp nhận.
Điều 1648
Một khi đã chấp nhận việc phục hồi nguyên trạng, thẩm phán phải công bố lẽ phải trái của vụ án.