Lm. Micae Trần Đình Quảng

Lấy ý trong Raniero Cantalamessa, Bài giảng thứ ba Mùa Chay năm 2006, tại Phủ Giáo hoàng.

 

 

1. Cuộc Khổ Nạn và tấm Khăn liệm

Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô là chủ đề được đề cập nhiều nhất trong nghệ thuật Tây phương. Chỉ cần nghĩ đến vô số tác phẩm trong hội hoạ và điêu khắc : Đức Giêsu ở Ghếtsêmani, Ecce homo, đóng đinh thập giá, bức tượng nổi tiếng pietà. Trong thế giới bị tục hóa hôm nay, nghệ thuật hầu như là một trong những hình thức phúc âm hoá duy nhất thâm nhập vào những môi trường mà mọi hình thức loan báo khác không thể thâm nhập. Tôi biết một phụ nữ Nhật Bản đã cải đạo và lãnh nhận phép Rửa khi học về nghệ thuật ở Firenze.

Tuy nhiên, không một tác phẩm nghệ thuật nào vể cuộc Khổ nạn đã và vẫn còn thu hút người ta như tấm Khăn liệm. Theo tôi, tấm Khăn liệm “xác thực” hay không, hình ảnh trong tấm Khăn là thật hay giả, chỉ là một linh ảnh (icône) hay cũng là một di tích, tất cả đều không mấy quan trọng. Chắc chắn Tấm khăn là biểu tượng long trọng và cao cả nhất của cái chết, mà con người từng chiêm niệm. Nếu một Thiên Chúa có thể chết, thì Khăn liệm cho chúng ta thấy cái chết của Ngài cách thích đáng nhất.

Mí mắt nhắm và miệng ngậm lại, các nét xếp trên khuôn mặt : tất cả làm ta nghĩ đến một người đắm mình trong chiêm niệm sâu xa và yên lặng, hơn là nghĩ đến một người chết. Nó gần như là cách giải thích bằng hình ảnh một tiền xướng cổ của Thứ Bảy Tuần Thánh: Caro mea requiescet in pace (thân xác tôi nghỉ ngơi an toàn). Bài giảng cổ về Thứ Bảy Tuần Thánh, đọc trong Giờ Kinh Sách, cũng có được sức mạnh đặc biệt khi đọc trước Khăn liệm. “Thế này là thế nào? Hôm nay cõi đất chìm trong thinh lặng. Thinh lặng như tờ và hoàn toàn thanh vắng. Thinh lặng như tờ vì Đức Vua đang yên giấc… “.

Theo thần học, khi Đức Kitô sinh thì, linh hồn Ngài lìa khỏi xác, giống như bất cứ ai lúc chết, nhưng thần tính vẫn kết hợp với cả linh hồn lẫn thân xác của Ngài. Khăn liệm là biểu tượng hoàn hảo nhất của mầu nhiệm Kitô học này. Thân xác tách khỏi linh hồn, nhưng không tách khỏi thần tính. Một cái gì đó thần linh được phản chiếu trên khuôn mặt tử đạo nhưng thấm nhuần sự uy nghi của Đức Kitô nơi Khăn liệm.

Để nhận ra điều này, chỉ cần so sánh Khăn liệm với các tranh vẽ Đức Kitô sinh thì, được các nghệ nhân thực hiện, chẳng hạn với bức tranh Đức Kitô sinh thì của Mantegna, hoặc đáng nói hơn, với bức tranh của Holbein, tại viện Bảo tàng Basel, vẽ thân xác Đức Kitô cứng đờ lúc chết và lúc các chi thể bắt đầu phân hủy. Dostoievski đã chiêm ngắm lâu giờ bức tranh này trong một chuyến du lịch, đã phát biểu : trước hình ảnh này, người ta có thể dễ dàng đánh mất đức tin. Trái lại, trước Khăn liệm, người ta có thể tìm thấy đức tin, hoặc tìm lại được, nếu đã đánh mất nó.

Khuôn mặt của Đức Kitô trong Khăn liệm giống như một bức tường ngăn cách hai thế giới : thế giới của con người, đầy khuấy động, bạo lực và tội lỗi, và thế giới của Thiên Chúa, mà tội lỗi không thể tiếp cận được. Nó giống như một bờ biển mà tất cả những ngọn sóng vỗ vào đó. Như thể, trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã nói với quyền lực sự dữ điều Người đã nói với đại dương trong sách Gióp: “Ngươi không được tiến xa hơn nữa, đây là nơi các đợt sóng cao phải vỡ tan tành” (G 38,11).

Trước Khăn liệm, chúng ta có thể cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa, xin biến con thành Khăn liệm của Chúa. Khi người ta hạ xác Chúa khỏi thập giá, và khi Chúa đến với con trong bí tích Mình và Máu Chúa, xin cho con biết bao bọc Chúa bằng đức tin và tình yêu của con như trong một tấm khăn liệm, để những nét mặt của Chúa in dấu trong tâm hồn con và cũng để lại trong đó một dấu vết không thể phai mờ. Lạy Chúa, xin làm cho tấm vải thô nhám nhân tính của con thành tấm khăn liệm của Chúa!”.

2. Cuộc Khổ nạn trong linh hồn Đấng Cứu Thế

Trong bài suy niệm này, chúng ta cùng nhau lên đồi Calvê bằng tâm trí chúng ta. Các tác giả Phúc âm tóm tắt sự kiện gây ‘sốc’ nhất trong lịch sử thế giới bằng mấy chữ ‘đóng đinh vào thập giá’: “chúng đóng đinh Người” (Mc) “khi họ đã đóng đinh Người” (Mt), “Họ đóng đinh Người vào thập giá” (Lc) “Họ đóng đinh Người vào thập giá” (Ga). Độc giả của các ngài thời ấy biết rõ những chữ này muốn nói gì ; chúng ta thì không biết, chúng ta phải khám phá nó thông qua các nguồn khác. Nhưng những nguồn này cũng rất úp mở ; Cicero nói: “Hình khổ thập giá được coi là quá khủng khiếp đến nỗi một công dân Rôma không những không được nhìn nó mà còn không được nghe nói về nó nữa”. Chúng ta không được nói về nó giữa những người đáng kính.

Người bị kết án có thể bị buộc chặt bằng dây thừng ở cổ tay hoặc bị đóng đinh vào thập giá. Những vết thương ở bàn tay và bàn chân của Đấng Phục Sinh cho chúng ta biết rằng, đối với Đức Giêsu, người ta đã chọn phương thức thứ hai, và không khó để tưởng tượng ra khổ hình của phương thức đó.

Người ta đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau liên quan đến nguyên nhân thể lý trực tiếp gây ra cái chết của Đức Giêsu : nhồi máu, ngộp thở ; theo giả thuyết gần đây nhất thì, về mặt y học, nguyên nhân có thể chấp nhận nhất là mất nước và mất máu.

Nhưng cuộc khổ nạn trong linh hồn Đức Kitô sâu sắc và đau đớn hơn nhiều so với cuộc khổ nạn phần xác. Có nhiều nguyên nhân khác nhau. Đầu tiên là sự cô đơn. Các Phúc Âm chú trọng nhiều đến những người dần dần bỏ Đức Giêsu trong cuộc Khổ nạn của Ngài : đám đông dân chúng, các môn đệ và cuối cùng là chính Cha của Người. “Anh em để Thầy cô độc một mình” (Ga 16,32); “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mt 26,56 ; Mc 14,50).

Sự cô đơn của Đức Kitô thật kinh khủng, đặc biệt trong lúc ở Ghếtsêmani, khi Ngài nhiều lần tìm kiếm một người ở bên cạnh, nhưng vô ích. Để diễn tả sự đau đớn vào lúc này, Maccô và Matthêu sử dụng động từ ademonein. Trong tiếng Hy Lạp, tiếp đầu ngữ “a” chỉ một sự vắng mặt, một sự tước đoạt ; demonein có cùng gốc với demos, dân chúng, dân chủ. Vậy ý tưởng của ademonein là ý tưởng về một người bị cắt đứt khỏi dân, làm mồi cho sợ hãi cô đơn, giống như một ai đó bị ném vào vũ trụ, anh ta có kêu la, thì tiếng của anh ta cũng bị mất hút trong không gian.

Sự cô đơn đạt tới đỉnh điểm trên thập giá khi Đức Giêsu, trong nhân tính của Ngài, cảm thấy bị bỏ rơi, kể cả bởi Chúa Cha: “Lậy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Đó không phải là tiếng kêu chán nản và thất vọng như đôi khi có người nghĩ. Nếu các tác giả Phúc Âm đã diễn giải câu ấy theo cách này, chắc chắn các ngài đã không ghi lại lời tuyên xưng đức tin của viên bách quân đội trưởng Rôma: “Quả thật ông này là con Thiên Chúa!” (Mt 27,54 ; Mc 15,39). Tuy nhiên, không có gì ngăn cản chúng ta nghĩ rằng các ngài đã giải thích tiếng kêu của Đức Giêsu, dựa vào câu Thánh vịnh 22,2, như biểu hiện của một sự cô đơn và bỏ rơi đến cực độ, mà Đức Giêsu đã trải nghiệm vào lúc đó trong nhân tính của mình.

Thánh Tông Đồ Phaolô nghĩ mình “rất đỗi ưu phiền và đau khổ không ngơi” khi “bị nguyền rủa (anathema) và xa lìa Đức Kitô, vì anh em của mình” (Rm 9,3), thì Đức Kitô trên thập giá đã thực sự bị nguyền rủa và xa lìa Thiên Chúa vì nhân loại. Ngài trở thành người vô thần, không có Thiên Chúa, để con người có thể trở về với Thiên Chúa. Quả là có một thứ vô thần năng động, ở chỗ từ chối Thiên Chúa, và một thứ vô thần thụ động, ở chỗ bị chối bỏ, hoặc cảm thấy bị Thiên Chúa chối bỏ. Có lẽ nên hỏi các nhà thần bí, những người đã sống đêm tối của Đức Kitô ở một mức độ nào đó, – mà người cuối cùng là Mẹ Têrêxa Calcutta – để hiểu hình thức vô thần này đau khổ như thế nào…

Sự tủi nhục và khinh ghét là một khía cạnh khác của cuộc Khổ nạn bên trong mà Đức Kitô phải chịu. “Bị đời  khinh khi, ruồng rẫy… bị ngược đãi, người cam chịu nhục” (Is 53,3.7). Đây là điều Isaia đã nói trước và đã xảy ra. Từ lúc bị bắt cho đến dưới chân thập giá, người ta chứng kiến những cử chỉ khinh thường, lăng nhục và chế nhạo tăng dần xung quanh con người Đức Kitô. “Chúng khoác cho Người một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người. Rồi chúng bái chào Người: ‘Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái!’ Chúng lấy cây sậy đập lên đầu Người, khạc nhổ vào Người, và quỳ gối bái lậy. Chế diễu chán, chúng lột áo điều ra, và cho Người mặc áo lại như trước. Sau đó, chúng dẫn Người đi để đóng đinh vào thập giá (Mc 15,17-20). Dưới chân thập giá, “các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người và nói: ‘Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình!” (Mt 27,41). Đức Giêsu là kẻ thua cuộc, không được một ai hiểu và giúp đỡ.

Nhưng cuộc Khổ nạn trong linh hồn Đấng Cứu Thế còn có nguyên nhân sâu xa hơn là sự cô đơn và tủi nhục. Tại Ghếtsêmani, Ngài cầu xin cho khỏi uống chén (x. Mc 14,36). Trong Kinh Thánh, hình ảnh chén hầu như luôn gợi lên ý tưởng về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đối với tội lỗi (x. Is 51,22 ; Tv 75,9 ; Kh 14,10).

Đầu thư Rôma, thánh Phaolô đưa ra một nguyên tắc phổ quát: “Từ trời, Thiên Chúa mạc khải cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính” (Rm 1,18). Nơi nào có tội lỗi, Thiên Chúa phải can thiệp xét xử, nếu không, tức là Người thỏa hiệp với tội lỗi, và không còn phân biệt giữa thiện và ác. Sự thịnh nộ của Thiên Chúa cũng chính là sự thánh thiện của Người. Lúc này đây, ở Ghếtsêmani, Đức Giêsu là sự vô đạo, tất cả sự vô đạo của thế gian. Thánh Tông Đồ viết: Ngài trở thành hiện thân của “tội lỗi” (2Cr 5,21). Thế nên cơn thịnh nộ của Thiên Chúa trút xuống trên Ngài. Ngược lại với sự thu hút vô tận từ đời đời giữa Cha và Con, giờ đây là sự xa cách cũng vô hạn giữa sự thánh thiện của Thiên Chúa và sự hung ác của tội lỗi ; và đó là “uống chén”.

3. “Thưa Thầy, có phải con không? “

Từ việc chiêm niệm về cuộc Khổ nạn, đã đến lúc chúng ta đáp lại cuộc Khổ Nạn. Lúc đầu tôi đã nhắc đến vai trò của nghệ thuật liên quan đến cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Bên cạnh hội họa và điêu khắc, cũng cần phải nhắc tới âm nhạc với lòng biết ơn. Đối với nhiều người, cả trong lẫn ngoài Kitô giáo, Cuộc Khổ nạn theo thánh Matthêu của J.S.Bach là phương tiện duy nhất để biết được cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Thực khó mà giữ được thái độ hoàn toàn trung lập và thờ ơ trước phương tiện này. Những đoạn kể lể (récitatifs) xen kẽ với những đoạn suy niệm (aria) và những đoạn cầu nguyện (choral); toàn bộ thâm nhập vào giác quan và tâm hồn nhờ sức mạnh gợi ý của một âm nhạc ở đây đạt tới một trong những đỉnh cao nhất của nó.

Tôi đã muốn nghe lại bài thánh ca này của Bach. Có một hành khúc đã khiến tôi cảm động sâu xa. Khi loan báo có người phản bội, tất cả các tông đồ đều hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, có phải con không?” (Herr, bin ich’s?). Nhưng ngay cả trước khi cho ta nghe câu trả lời của Đức Kitô, xóa đi khoảng cách giữa sự kiện và tưởng niệm sự kiện, nhà soạn nhạc cho xen vào lời thú tội của người Kitô hữu hôm nay: “Vâng, chính con là kẻ phản bội!” (Ich bin’s, ich sollte büßen).

Cách giải thích này đậm chất Thánh kinh sâu sắc. Khởi giảng (kerygma) hay loan báo về cuộc Khổ nạn luôn luôn được hình thành từ hai yếu tố : sự kiện (Ngài đã chịu khổ và chịu chết) ; và lý do của sự kiện (vì ta, vì tội lỗi ta). Thánh Tông Đồ nói: Ngài đã bị xử tử “vì tội lỗi chúng ta” (Rm 4,25); Ngài đã chết “cho những người vô đạo”, Ngài đã chết “vì chúng ta” (Rm 5,6.8). Luôn luôn là như vậy.

Cuộc Khổ nạn chắc chắn là điều không liên quan đến chúng ta, cho đến khi chúng ta đi vào qua cánh cửa nhỏ hẹp “vì chúng ta”. Chỉ người nào nhận ra rằng cuộc Khổ nạn cũng là công việc của mình, mới thực sự biết nó. Nếu không, chỉ là lạc đề. Giuđa phản bội, Phêrô chối Thầy, đám đông la to “Tha Barabba chứ không phải người này!”, tất cả những người đó, chính là tôi! Mỗi lần tôi muốn được hài lòng, được tiện lợi, được vinh dự hơn là muốn Đức Kitô được vinh dự, thì điều trên đây được thực hiện. Trong một bài giảng đáng ghi nhớ hôm Thứ Sáu Tuần Thánh, Don Primo Mazzolari đã không hoàn toàn sai khi nói về “người anh em của chúng ta là Giuđa”.

Nếu Đức Kitô đã chết “vì tôi” và “vì tội lỗi của tôi” thì điều đó có nghĩa chính tôi là người đã giết Đức Giêsu Nadaret, chính tội lỗi của tôi đã nghiền nát Ngài. Đây là điều mà Phêrô lớn tiếng rao giảng cho ba ngàn người đang lắng nghe ngài trong ngày lễ Ngũ Tuần: “Anh em  đã giết Đức Giêsu Nadarét!” “Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính! “(Cv 2,23 ; 3,14).

Ba ngàn người này, không phải tất cả đều có mặt trên đồi Calvê và đóng đinh Chúa. Họ cũng không đứng trước mặt Philatô để xin đóng đinh Chúa. Họ đã có thể phản đối. Nhưng họ chấp nhận lời tố cáo và hỏi các tông đồ: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2,37). Chúa Thánh Thần đã giúp họ nhận ra tội lỗi bằng một lý luận đơn giản: nếu Đấng Mêsia chết vì tội lỗi của dân Ngài và tôi đã phạm tội, vậy thì tôi đã giết Đấng Mêsia.

Lúc Đức Kitô sinh thì, “màn trướng trong Đền thờ xé ra làm hai, từ trên xuống dưới ; đất run đá vỡ. Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ trỗi dậy” (Mt 27,51). Người ta thường giải thích các dấu hiệu này theo nghĩa khải huyền (ngôn ngữ biểu tượng để mô tả biến cố cánh chung), nhưng chúng cũng có một ý nghĩa khuyến thiện : chúng cho thấy điều gì phải xảy ra trong lòng những người đọc và suy niệm về cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Thánh Lêô Cả viết: “Chớ gì bản tính con người run rẩy trước khổ hình của Đấng Cứu Chuộc, những tảng đá của những tâm hồn bất trung vỡ ra, và những kẻ bị giam trong mồ nâng tảng đá đè nặng trên họ mà đi ra”.

Bây giờ là lúc thu lượm kết quả của bài suy niệm về cuộc Khổ nạn. Kinh Thánh giải thích ý nghĩa sâu sắc của từ metanoia (hoán cải), như một sự thay đổi tâm hồn: “Lạy Chúa, xin tạo cho con một quả tim mới”, “Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng” (Ge 2,13). Sự hoán cải của đám đông lắng nghe diễn từ của Phêrô cũng được biểu lộ qua hình ảnh của tấm lòng: “Họ đau đớn trong lòng” (Cv 2,37). Mọi hoán cải giả thiết một chuyển động, từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ một khởi điểm tới một đáo điểm. Khởi điểm, tình trạng mà người ta phải ra khỏi, theo Kinh Thánh là tình trạng cứng lòng: “Ta đành mặc họ lòng chai dạ đá, muốn đi đâu thì cứ việc đi” (Tv 81/80,13); Đức Giêsu nói với người Pharisiêu: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ” (Mt 19,8); “Vì lòng họ chai đá” (Mc 3,5); “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng” (Mc 16,14); “Thế nhưng bạn lòng chai dạ đá không chịu hối cải, và như vậy bạn càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu bạn” (Rm 2,5).

Trong Kinh Thánh, đặc biệt trong Tân Ước, lòng chỉ trung tâm của cuộc sống bên trong, đối nghịch với vẻ bên ngoài: “Con người nhìn vẻ bề ngoài, Thiên Chúa nhìn tận đáy lòng” (x.1Sm 16,7). Trái tim cho thấy cái tôi sâu thẳm của con người, chính con người của mình, đặc biệt là trí khôn và ý muốn. Đây là trung tâm của đời sống tôn giáo, nơi Thiên Chúa nói với con người và con người quyết định trả lời Thiên Chúa.

Khi ấy chúng ta hiểu được sự cứng lòng theo Kinh Thánh biểu thị điều gì, đó là : từ chối phục tùng Thiên Chúa, không yêu Người hết lòng, không tuân giữ lề luật của Người. Thuật ngữ sclerocardia, do Kinh Thánh tạo ra, là có ý nghĩa. Trái tim cứng rắn là một trái tim xơ cứng, không có bất kỳ thứ tình yêu nào khác hơn là yêu mình. Những hình ảnh được Thánh Kinh sử dụng là những hình ảnh của “trái tim đá” (Ez 36,26), “trái tim không cắt bì” (Gr 9,25), “cứng cổ” (x. Đnl 31,27).

Đáo điểm (ad quem) của sự hoán cải được miêu tả cách mạch lạc, bằng những hình ảnh của tấm lòng thống hối, bị thương, rách nát, cắt bì, của trái tim thịt, của trái tim mới: “Lậy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.” (Tv 51/50,19) ; “Kẻ được Ta đoái nhìn, đó là người nghèo khổ. Người có tâm hồn tan nát, người nghe lời Ta mà run sợ” (Is 66,2)…

4. “Ta đứng trước cửa và gõ”

Giờ đây, chúng ta thử xem lòng chúng ta thay đổi như thế nào. Cần phân biệt hai tình huống. Nếu là hoán cải lần đầu, từ vô tín đến đức tin, hoặc từ tội lỗi sang ân sủng, Đức Kitô ở bên ngoài và gõ vào các bức tường của trái tim ta để đi vào ; còn nếu là những hoán cải kế tiếp nhau, từ một tình trạng ân sủng sang một tình trạng khác cao hơn, từ hờ hững đến nhiệt tình, thì xẩy ra điều ngược lại : Đức Kitô ở bên trong và gõ vào các bức tường của trái tim ta để đi ra!

Tôi giải thích : trong phép Rửa Tội, chúng ta đã nhận được Thần Khí Đức Kitô ; Người ở trong chúng ta như trong đền thờ của Người (1Cr 3,16), cho đến khi Người bị tội trọng xua đuổi ra khỏi đó. Nhưng có thể xảy ra là Thần Khí bị giam giữ bởi chính trái tim đá được hình thành xung quanh Người. Người không có cơ hội để lan tỏa  và thấm nhiễm vào các quan năng, hành động và tình cảm của con người. Đọc câu Đức Kitô nói trong sách Khải huyền: “Nầy đây Ta đứng trước cửa và gõ” (Kh 3,20), chúng ta nên hiểu rằng Ngài không gõ từ bên ngoài, nhưng từ bên trong ; Ngài không muốn đi vào, nhưng muốn đi ra.

Thánh Tông Đồ nói rằng Đức Kitô phải được “hình thành” nơi chúng ta (Gl 4,19), tức là phải phát triển và nhận được hình dạng của Ngài cách viên mãn ; chính sự phát triển này bị trái tim đá ngăn cản. Đôi khi chúng ta thấy những cây lớn dọc theo các con đường có rễ bị mắc kẹt dưới lớp nhựa đường, cố gắng phát triển bằng cách đẩy nhựa lên. Chúng ta phải hình dung Nước Thiên Chúa phát triển nơi chúng ta như vậy : một hạt giống sẽ trở thành một cây to đến nỗi chim trời có thể đậu, nhưng lại rất khó phát triển vì tính ích kỷ của ta chống lại nó.

Đương nhiên có nhiều mức độ khác nhau trong tình huống này. Trong hầu hết các tâm hồn đi vào một con đường thiêng liêng, Đức Kitô không bị giam giữ. Ngài được tự do nhưng bị giám sát cách nào đó, tự do di chuyển nhưng có giới hạn rõ ràng. Điều này xảy ra khi, một cách mặc nhiên, người ta làm cho Ngài hiểu những gì Ngài có thể đòi chúng ta và những gì không thể đòi chúng ta. Cầu nguyện, đúng, nhưng không đến chỗ làm phương hại cho giấc ngủ, lúc nghỉ ngơi của ta, và những thông tin giải trí lành mạnh…; vâng phục, đúng, nhưng không lạm dụng sự sẵn sàng của ta ; khiết tịnh, đúng, nhưng không đến chỗ làm chúng ta mất đi một chương trình thư giãn, ngay cả khi nó có quá đà một chút … Tóm lại, sử dụng các biện pháp nửa vời.

Trong lịch sử các thánh, tấm gương nổi tiếng nhất của lần hoán cải đầu tiên, từ tội lỗi đến ân sủng, là của Thánh Augustinô; tấm gương điển hình nhất của lần hoán cải thứ nhì, từ thờ ơ đến nhiệt thành, là của Thánh Têrêxa Avila. Trong cuốn Cuộc Đời, có thể thánh nữ nói về ngài hơi phóng đại và bị lương tâm tinh tế của ngài chi phối, nhưng điều đó có thể giúp chúng ta xét mình một cách hữu ích.

“Từ thú tiêu khiển này đến thú tiêu khiển khác, từ phù phiếm này đến phù phiếm khác, từ cơ hội này đến cơ hội khác, tôi bắt đầu lại làm cho linh hồn của tôi gặp nguy hiểm… Những sự việc của Thiên Chúa đã làm cho tôi vui nhưng tôi lại không biết tách mình ra khỏi những sự việc của thế gian. Tôi muốn hòa giải hai kẻ thù rất đối nghịch nhau này : cuộc sống tâm trí với những sở thích, và những thú tiêu khiển của giác quan.

Kết quả là một nỗi bất hạnh sâu sắc, trong đó chúng ta có thể nhận ra nỗi bất hạnh của chính chúng ta: “Tôi đã trải qua gần hai mươi năm trong biển động này. Tôi ngã và đứng dậy, và tôi đứng dậy không khéo đến nỗi tôi ngã lại. Tôi đã hoàn hảo ở mức thấp nhất đến nỗi tôi hầu như không để ý đến những tội nhẹ, và tôi không sợ những tội trọng như lẽ ra tôi phải sợ, bởi vì tôi đã không chạy trốn những nguy hiểm của chúng. Tôi có thể nói rằng cuộc sống của tôi là thuộc vào số đau đớn nhất mà người ta có thể tưởng tượng, bởi vì tôi không thích Chúa, và tôi cũng không cảm thấy hài lòng về thế gian. Khi tôi sống trong những thú vui trần tục, ý nghĩ về những gì tôi mắc nợ Chúa làm tôi cảm thấy đau khổ ; và khi tôi ở với Chúa, những quyến luyến thế gian lại làm phiền tôi”.

Chính việc chiêm ngắm cuộc Khổ nạn đã tạo nơi Têrêxa một đà tiến có tính quyết định để thay đổi. Sau đây là cách thánh nữ mô tả thời điểm hoán cải của mình: “Một ngày kia khi vào nhà nguyện, tôi nhìn vào một bức tượng đã được đặt ở đó, trong lúc chờ đợi một buổi lễ long trọng được cử hành tại tu viện. Bức tượng cho thấy Chúa chúng ta đầy thương tích, trông thật đến nỗi tâm trí tôi rối loạn, vì cho thấy Ngài đã phải đau khổ biết bao vì chúng ta. Tôi đau buồn quá đỗi khi nghĩ đến sự vô ơn mà tôi đáp trả cho những vết thương này, đến nỗi trái tim tôi như vỡ ra. Tôi phục dưới chân Ngài, mắt đẫm lệ, xin Ngài ban cho tôi sức mạnh để không xúc phạm đến Ngài nữa. Tôi thưa với Ngài là sẽ không đứng dậy nếu Ngài không ban cho tôi những gì tôi cầu xin. Chắc chắn Ngài phải lắng nghe tôi, vì kể từ lúc này tôi đã bắt đầu cải thiện nhiều”. Hôm nay chúng ta biết thánh nữ đã cải thiện đến mức nào!

5. “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì …”

Luca viết: “Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xẩy ra, đều đấm ngực trở về” (Lc 23,48). Đây cũng là điều chúng ta muốn làm, lúc trở lại với công việc của chúng ta, sau khi đã ở với Đức Giêsu trên đồi Calvê. Một khi vượt qua “trận động đất” thiêng liêng nhỏ bé của chúng ta, chúng ta thấy có sự thay đổi hoàn toàn trong cách giải thích về thập giá và cái chết của Đức Kitô. Từ chỗ là lý do tố cáo tội ta khiến ta sợ hãi buồn phiền, thập giá trở thành lý do làm chúng ta vui và cảm thấy được bảo đảm. Đức Kitô chịu chết propter nos, vì chúng ta, giờ đây trở thành pro nobis, cho chúng ta, ủng hộ chúng ta. Từ lúc này, thập giá xuất hiện như là niềm tự hào và vinh quang của ta, nghĩa là, trong ngôn ngữ của Thánh Phaolô, như một sự bảo đảm làm ta vui, kèm theo sự biết ơn cảm kích, giúp chúng ta tăng tiến trong đức tin và biểu lộ trong lời ca ngợi và tạ ơn.

Chúng ta có thể mở rộng lòng hướng tới chiều kích vui tươi và thần khí này mà không sợ hãi, trong đó thập giá không còn xuất hiện như là “điên rồ và cớ vấp phạm”, ngược lại, là “quyền năng của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Thiên Chúa”. Chúng ta có thể coi thập giá là bằng chứng tối cao của tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta, một đề tài loan báo không cạn kiệt. Không chút kiêu ngạo nhưng với sự khiêm tốn sâu xa, chúng ta có thể lặp lại lời của thánh Tông Đồ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14).

Khi mà khắp nơi người ta gây áp lực để loại bỏ thánh giá trong các phòng ốc và các nơi công cộng, người Kitô hữu chúng ta, hơn bao giờ hết, phải gắn chặt thánh giá trên các bức tường của trái tim chúng ta. Đầu bài suy niệm này, chúng ta đã xin Chúa Giêsu làm cho linh hồn chúng tôi trở thành tấm khăn liệm của Ngài. Chúng ta dùng lời kinh Stabat Mater để xin Đức Mẹ giúp chúng ta thực hiện chương trình này : Sancta Mater, istud agas, / crucifixi fige plagas / cordi meo valide: “Lạy Mẹ thánh, xin làm cho những vết thương của Đức Giêsu bị đóng đinh in sâu trong trái tim con”.