CHƯƠNG I
CĂN TÍNH LINH MỤC
Chức Tư Tế Như Một Ân Huệ
1. Toàn thể Giáo Hội thông phần vào việc xức dầu tư tế của Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần. Thật
vậy, trong Giáo Hội “mọi tín hữu làm thành một giới tư tế thánh thiện và vương giả để nhờ Đức Giêsu Kitô
họ hiến dâng lên Thiên Chúa những lễ tế thiêng liêng và tuyên xưng quyền năng của Đấng đã gọi họ từ chốn
tối tăm đến ánh sáng diệu kỳ ”(x. 1 Pr 2.5.9) 1 . Trong Đức Kitô, tất cả Thân Thể Mầu Nhiệm được kết hiệp
với Chúa Cha nhờ Chúa Thánh Thần, nhằm cứu rỗi mọi người.
Tuy nhiên Giáo Hội không thể một mình hoàn thành sứ mạng này: mọi hoạt động của Giáo Hội tư bản
chất đều cần sự hiệp thông với Đức Kitô là đầu của Thân Thể, nhờ liên kết một cách bất khả phân với Chúa
của mình. Giáo Hội luôn nhân được An sủng và Chân lý, quản trị và nâng đỡ, để trở nên cho mọi người và
mỗi người “dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân
loại” 2 .
Chức tư tế thừa tác tìm được lý do hiên hữu trong viễn tượng kết hợp cốt tử giữa Giáo Hội với Chúa
Kitô. Thật vậy, nhờ thừa tác vụ này, Chúa tiếp tục thực hiện giữa dân Ngài những phận vụ chỉ thuộc về Ngài
với tư cách là Đầu của Thân Thể Ngài. Do đó, chức tư tế thừa tác làm cho họat động cá biệt của Đầu trở
nên có thể dụng chạm được và chứng tỏ rằng không hề bỏ Giáo Hội, mà trái lại, Ngài tiếp tục thông ban sự
sống nhờ chức tư tế muôn đời của Ngài. Vì lẽ đó, Giáo Hội xem chức tư tế thừa tác như một ân huệ được
trao ban cho mình trong thừa tác vụ của một số tín hữu.
Ân huệ này, do thiết lập để tiếp tục công trình cứu rỗi của Ngài, được trao cho các Tông Đồ trước
tiên, rồi tiếp tục hiện hữu trong Giáo Hội qua những Đấng kế vị các Ngài là các Giám Mục.
Căn nguyên Bí Tích
2. Do Bí Tích Truyền Chức, được thể hiện thông qua việc đặt tay và kinh thánh hiến của Giám Mục,
phát sinh nơi con người Linh Mục “ một mối dây hữu thể đặc thù nối kết Linh Mục với Đức Kitô là Linh
Mục Tối Cao và Đấng Chăn Chiên nhân lành” 3
Do đó, căn tính của Linh Mục bắt nguồn tư việc thông phần đặc thù vào chức Tư Tế của Đức Kitô,
làm cho Linh Mục trở nên cho Giáo Hội và trong Giáo Hội hình ảnh chân thực, sống động và trong suốt của
Linh Mục “một biểu tượng mang tính Bí Tích của Đầu và Chủ Chăn” 4 . Nhờ việc thánh hiến Linh Mục
“được trao ban một quyền thiêng liêng, thông phần vào quyền bính mà Đức Giêsu Kitô sử dụng để hướng
dẫn Giáo Hội, nhờ sự Thánh Thần của Ngài” 5 .
Sự đồng nhất có tính cách Bí Tích với Linh Mục Thượng Phẩm và đời đời, đưa Linh Mục vào
trong mầu nnhiệm Ba Ngôi một cách đặt thù, và qua mầu nhiệm, vào trong sự hiệp thông có tính cách thừa
tác với Giáo Hội để phục vụ Dân Thiên Chúa 6 .
CHIỀU KÍNH BA NGÔI.
Hiệp thông với Chúa Cha Chúa Con và Thánh Thần
3. Nếu thật sự mọi Kitô hữu, nhờ Bí Tích Rửa Tội, mà được thông với Thiên Chúa Duy Nhất và Tam
Vị. Thì thật sự cũng nhờ việc thánh hiến trong Bí Tích Truyền Chức mà Linh Mục thông hiệp cách riêng
biệt và đặc thù với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thật vậy, “căn tính của chúng ta có nguồn
gốc tối hậu trong đức ái của Chúa Cha. Chúng ta được kết hợp với Chúa Con, được Linh Mục tối cao và
chủ Chăn nhân lành sai đi. Nhờ chức tư tế thừa tác, bởi hành động của Chúa Thánh Thần, đời sống và thừa
1 LM 2
2 GH 1
3 Pastores dabo vobis, 11
4 Sđd, 15
5 Sđd, 21; LM 2; 12
6 Pastores dabo vobis, 12c
tác vụ của Linh Mục là sự nối tiếp đời sống và hoạt động của Đức Kitô. Đó chính là căn tính, Phẩm giá đích
thực, nguồn mạch niềm vui và bảo đảm của đời sống chúng ta” 7 .
Như thế, căn tính, thừa tác vụ và sự hiên hữu của Linh Mục từ bản chất có tương quan với Ba
Ngôi Thiên Chúa, nhằm phục vụ Giáo Hội trong chức Linh Mục.
Trong tác động cứu chuộc của Ba Ngôi
4. “Như sự nối dài hữu hình và Bí Tích của Đức Kitô, và trong vị trí riêng của mình, đối diện với Giáo
Hội và thế giới, như nguồn gốc thường xuyên và luôn mới mẻ của ơn cứu chuộc” 8 , Linh Mục được sáp
nhập với trách nhiệm riêng vào trong sự năng động của Ba Ngôi Thiên Chúa. Căn tính của Linh Mục phát
xuất từ “thừa tác vụ Lời và Bí Tích” có liên quan thiết yếu với mầu nhiệm tình yêu cứu độ của Chúa Cha (x.
Ga 17, 6-9.24; 1Cr 1; 2Cr 1,1) với bản thể tư tế của Đức Kitô, Đấng đã tuyển chọn và kêu gọi đích danh
thừa tác viên của Ngài để ở với Ngài(x. Mc 3,15) và với ân huệ Chúa Thánh Thần (Ga 20,21). Đấng hằng
thông ban cho Linh Mục sức mạnh cần thiết để ban sự sống cho đám đông con cái Thiên Chúa, là những kẻ
được triệu tập làm thành một dân duy nhất, trên đường tiến về Nước Cha.
Tương quan mật thiết với Ba Ngôi.
5. Người ta có thể suy diễn ra tính cách “tương quan” (x. Ga 17.11.21) 9 thiết yếu của căn tính Linh
Mục.
Ân sủng và ấn tích không thể xóa nhòa, được trao ban do việc xức dầu bí tích của Chúa Thánh
Thần 10 đặt Linh Mục “trong tương quan” cá vị với Ba Ngôi, Ba Ngôi là nguồn gốc của hữu thể và hành động
tư tế. Do đó, Linh Mục phải sống mối tương quan này một cách mật thiết và cá vị trong một cuộc đối thoại
bao hàm việc tôn thờ và yêu mến Ba Ngôi Thiên Chúa, vì ý thức rằng ân huệ đã nhận lãnh là để phuc vụ mọi
người.
CHIỀU KÍCH KITÔ
Căn tính đặc thù
6. Chiều kích Kitô. Cũng như chiều kích Ba Ngôi, phát xuất trực tiếp từ Bí Tích làm cho nên đồng
dạng cách hữu thể với Đức Kitô Tư Tế, Thầy Dạy, Đấng Thánh Hóa và Mục Tử của Dân Chúa 11 .
Những tín hữu, tuy vẫn được sát nhập vào trong chức tư tế cộng đồng, lại được chọn riêng và đặt
vào trong chức tư tế thừa tác, thì nhận lãnh một sự thông phần bất biến vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô
để Thánh hóa, giảng dạy và cai quản Dân Thiên Chúa. Như thế, một mặt chức tư tế cộng đồng của giáo dân
và chức Linh Mục thừa tác hay phẩm trật nhất thiết quy hướng vào nhau, bởi vì tùy theo cách thức của mình,
cả hai điều thông phần vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô, mặt khác hai chức tư tế đó khác nhau tự bản
Chất 12
Theo ý nghĩa này, căn tính của Linh Mục là “mới mẻ” so với căn tính của mọi Kitô hữu, là những
người nhờ Bí Tích Rửa Tội được cùng thông phần vào chức Tư tế duy nhất của Đức Kitô và được kêu gọi
làm chứng cho Ngài trên khắp trái đất 13 . Tính đặc thù của chức tư tế thừa tác nằm trong khuôn khổ của sự
cần thiết mà mọi giáo dân phải có là bám chặt vào sự trung gian và quyền chủ tế của Đức Kitô, hai yếu tố
này được làm cho trở nên hữu hình qua việc thi hành chức Linh Mục thừa tác.
Trong căn tính Kitô học đặc biệt này, Linh Mục phải ý thức rằng đời sống của mình là một mầu nhiệm
hoàn toàn đâm rễ nơi mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo Hội, theo một cách mơi mẻ và đặc thù, thúc đẩy Linh
Mục dấn thân trọn vẹn trong hoạt động mục vụ và nâng cao ngài lên 14 .
7 Sđd. 18; Thông điệp các nghị phụ gửi dân Chúa (28-10-1990), III : “Osservatore Romano”, 29-30 Octobre 1990.
8 Pastores dabo vobis, 16
9 Sđd 12
10 CĐ Trento khóa 23 De Sacramento Ordimis, Pastores dabo vobis, 11-18.
11 GH 18-31
12 GH 10; LM 2
13 TD 3 : Gioan Phaolô II Người Kitô hữu giáo dân (30-12-1988) 14
Giữa Lòng Dân Thiên Chúa.
7. Đức Kitô đã nối kết các Tông Đồ vào sứ mạng cửa chính Ngài“như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai
các con” (Ga 20,21). Trong việc truyền chức thánh, chiều kích thừa sai hiện diện cách hữu thể. Linh Mục
được tuyển chọn, thánh hiến và được sai đi để hôm nay làm cho sứ mạng đời đời của Đức Kitô được nêu
hữu hiệu, sứ mạng trở thành vị đại diện đích thực và là sứ giả : “Ai nghe các con là nghe Thầy và ai chối bỏ
các con là chối bỏ Đấng đã sai Thầy” (Lc 10, 16). Như thế, có thể nói sự đồng hình với Đức Kiô, do được
thánh hiến trong Bí Tích, xác định Linh Mục giữa lòng Dân Thiên Chúa, bằng cách thông phần theo kiểu
riêng của Ngài vào quyền năng tác thánh, giảng giải và chăn dắt của chính Đức Giêsu Kitô là Đầu và là Mục
Tử của Giáo Hội 15 .
Khi hành động “nhân danh Đức Kitô Đầu” Linh Mục trở thành thừa tác viên làm các hành vi cứu độ
thiết yếu, ngài truyền đạt những Chân lý cần thiết cho sự cứu rỗi và lo chăn dắt Dân Thiên Chúa, dẫn đưa họ
tới sự thánh thiện 16 .
CHIỀU KÍCH THẦN KHÍ
Ấn tích
8. Trong việc truyền chức Linh Mục của mình, Linh Mục đã nhận lấy ấn tích của Chúa Thánh Thần,
biến ngài thành một người được ghi dấu Bí Tích để muôn đời là thừa tác viên của Đức Kitô và Giáo Hội.
Được củng cố bằng lời hứa theo đó Đấng An Ủi sẽ “ở mãi mãi với mình” (Ga 14, 16-17). Linh Mục biết
rằng ngài sẽ không bao giờ mất sự hiện diện và quyền năng hiệu nghiệm của Chúa Thánh Thần, giúp thi
hành thừa tác vụ và sống đức ái mục vụ như một sự hiến mình hoàn toàn cho phần rỗi anh em.
Hiệp thông cá vị với Chúa Thánh Thần
9. Cũng chính Chúa Thánh Thần, qua việc truyền chức, trao ban cho Linh Mục phận vụ ngôn sứ là
loan báo và giải thích Lời Chúa một cách có thẩm quyền. Được sát nhập vào trong sự hiệp thông của Giáo
Hội với hết thảy hàng tư tế, Linh Mục sẽ được hướng dẫn bởi Thần Chân Lý, Đấng Chúa Cha sai đến nhờ
Đức Kitô; Ngài dạy mọi sự, nhắc lại mọi điều Đức Giêsu đã nói với các Tông Đồ. Do đó với sự trợ giúp của
Chúa Thánh Thần và nhờ học hỏi Lời Chúa trong Thánh Kinh, dưới ánh sáng của Thánh Truyền và Huấn
Quyền 17 , Linh Mục khám phá sự phong phú của Lời mà ngài loan báo cho cộng đoàn Giáo Hội đã được giao
phó cho ngài.
Khẩn cầu Chúa Thánh Thần.
10. Nhờ hiệu lực của Ấn Bí Tích và bằng cách đồng nhất ý hướng của mình với ý hướng của Giáo Hội
Linh Mục luôn hiệp thông với Chúa Thánh Thần khi cử hành Phụng Vụ, và nhất là khi cử hành Thánh Thể
và các Bí Tích khác.
Thật vậy, trong mỗi Bí Tích, chính Đức Kitô hành động cho Giáo Hội, nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng
mà khi cử hành nhân danh Đức Kitô, Linh Mục khẩn cầu Ngài thi thố quyền năng hiệu nghiệm của Ngài 18 .
Cho nên, hiệu năng của mọi cử hành Bí Tích là do lời Đức Kitô đã thiết lập Bí Tích ấy do quyền năng
Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội thường khẩn cầu bằng kinh khẩn nguyện.
Điều này đặc biệt rõ ràng trong Kinh Nguyện Thánh Thể, khi đó Linh Mục khẩn cầu quyền năng Chúa
Thánh Thần trên bánh rượu, đọc những lời của Đức Giêsu và hiện tại hóa mầu nhiệm Mình Máu Đức Kitô
đang thật sự hiện diện.
Sức mạnh hướng dẫn cộng đoàn.
14 Pastores dabo vobis 13-14; Catéchese de l’audience général du 31-3-93 : “Osservatore Romano” 1-4-93
15 Pastores dabo vobis 18
16 Sđd 15
17 MK 10; LM 4
18 LM 5; GLCG 1120
11. Sau hết, chính trong sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần mà Linh Mục tìm được sức mạnh để
hướng dẫn cộng đoàn đã được trao phó cho mình và gìn giữ cộng đoàn ấy trong sự hiệp nhất như Chúa
muốn 19 . Kinh nguyện Linh Mục dâng lên Chúa Thánh Thần có thể mô phỏng kinh nguyện tư tế của Đức
Giêsu Kitô (Ga 17). Do đó, ngài phải cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu, để họ nên “Một”, ngõ hầu thế
gian tin rằng Chúa Cha đã sai Chúa Con đến cứu độ mọi người.
CHIỀU KÍCH GIÁO HỘI
“Trong” và “đối diện” với Giáo Hội.
12. Đức Kitô, nguồn mạch thường hằng và luôn mới mẻ của ơn cứu rỗi là mầu nhiệm nguyên khởi
phát sinh mầu nhiệm Giáo Hội, là Thân Thể và Hiền Thê mà Đấng Phu Quân đã mời gọi làm dấu chỉ và khí
cụ cứu độ. Qua công trình được giao phó cho các Tông Đồ và các Đấng kế vị, Đức Kitô tiếp tục ban sự sống
cho Giáo Hội của Ngài.
Qua mầu nhiệm của Đức Kitô, khi thực thi thừa tác vụ của mình trong tất cả sự đa dạng của nó. Linh
Mục cũng đi vào trong mầu nhiệm Giáo Hội, một Giáo Hội luôn “nhận thức trong đức tin rằng mình không
thể tự hiện hữu là do ân sủng của Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần” 20 . Vì lẽ đó, tuy sáp nhập vào Giáo Hội
Linh Mục cũng đứng đối diện với Giáo Hội 21 .
Tham dự một cách nào đó vào Hôn Ước của Đức Giêsu.
13. Thật vậy, Bí Tích Truyền Chức Thánh làm cho Linh Mục được thông phần không những vào mầu
nhiệm Đức Kitô Linh Mục, Thầy dạy, Đầu, và Mục Tử, mà một cách nào đó, còn được thông phần vào mầu
nhiệm Đức Kitô, “Tôi tớ và Hôn Phu của Giáo Hội” 22 . Giáo Hội là “Thân Thể ” của Ngài, Ngài đã yêu và
yêu đến nỗi trao ban chính mình cho Giáo Hội(Eph 5.25): Ngài tái sinh và liên tục thanh luyện Giáo Hội
bằng Lời và các Bí Tích (Eph 2,26); Ngài tự hiến tế chính mình làm Giáo Hội được luôn xinh đẹp hơn ( Eph
2,27) và sau cùng Ngài nuôi nấng và săn sóc Giáo Hội (Eph 2,29).
Các Linh Mục – cộng tác viên của hàng Giám Mục – cùng với Giám Mục của mình, làm thành Linh
Mục đoàn 23 , thông phần vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô ở cấp độ thấp, một cách nào đó, các Linh Mục
cũng thông phần- theo gương Giám Mục – vào chiều kích hôn ước đối với Giáo Hội, được biểu thị rõ ràng
qua nghi thức trao nhẫn trong lễ tấn phong Giám Mục. 24
Các Linh Mục, “trong mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương, nói được là làm cho Giám Mục hiện diện và
luôn gắn bó trong sự tín thác và đại lượng với ngài” 25 . phải trung thành với Hiền Thê và như những bức họa
sống động của Đức Kitô Hôn Phu, các ngài phải hiệu lực hóa ơn ban đa dạng của Đức Kitô cho Giáo Hội
của ngài.
Nhờ sự hiệp thông với Đức Kitô Hôn Phu, chức tư tế thừa tác cũng được cấu tạo trong mầu nhiệm tình
yêu cứu độ – như Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô mà hôn nhân các Kitô hữu là một sự thông
phần vào mầu nhiệm đó.
Vì được kêu gọi trong một hành vi tình yêu siêu nhiên và hoàn toàn nhưng không, Linh Mục phải yêu
Giáo Hội như Đức Kitô đã yêu Giáo Hội, bằng cách cống hiến mọi năng lực của mình và tự hiến mình trong
đức ái mục vụ cho tới độ hy sinh chính cuộc sống mình hằng ngày.
Tính phổ quát của chức Linh Mục.
14. Lệnh Chúa truyền rao giảng Phúc Âm cho mọi dân nước (Mt 28,18-20) cũng tạo nên một chiều
kích khác nữa của Linh Mục đối diện với Giáo Hội 26 . Được Chúa Cha qua Đức Kitô, sai đi(missus), Linh
19 LM 6
20 Pastores dabo vobis 16
21 Sđd
22 Sđd 3
23 GH 28; LM 7; GM 28; TG 19; Pastores dabo vobis 17
24 GH 28
25 GH 28
26 Pastores dabo vobis 16
Mục trực thuộc “ tức khắc ” vào Giáo Hội phổ quát 27 , có sứ mạng loan báo Tin Mừng cho đến tận cùng trái
đất (Cv 1,8) 28 .
“Ơn thiêng liêng các Linh Mục đã nhận lãnh khi chịu chức chuẩn bị các ngài lãnh một sứ mạng cứu độ
có tầm mức phổ quát” 29 .
Thật vậy, do Bí Tích Truyền Chức và thừa tác vụ lãnh nhận, mọi Linh Mục được liên kết với Giám
Mục đoàn và trong sự hiệp thông phẩm trật với Giám Mục đoàn, các ngài phục vụ toàn thể Giáo Hội theo ơn
gọi và ân sủng đặc thù của mình 30 . Bởi đó, sự trực thuộc một Giáo Hội địa phương 31 , do nhập tịch, không
nhốt kín Linh Mục trong một não trạng hẹp hòi và xé lẻ nhưng phải mở đường cho Linh Mục phục vụ các
Giáo Hội khác nữa. Thật vậy, mỗi Giáo Hội đều thể hiện cách đặc thù Giáo Hội duy nhất của Đức Giêsu
Kitô, đến mỗi Giáo Hội phổ quát sống và hoàn thành sứ mạng của mình trong và từ các Giáo Hội địa
phương đang thực sự hiệp thông với Giáo Hội phổ quát. Bởi đó, tất cả các Linh Mục phải có một con tim và
một não trạng thừa sai, luôn rộng mở cho mọi nhu cầu của Giáo Hội và thế giới 32 .
Chiều kích thừa sai của chức tư tế.
15. Điều quan trọng là Linh Mục phải ý thức đầy đủ chiều kích thừa sai này của chức tư tế, và phải
sống chiều kích đó một cách sâu xa, trong sự hòa hợp với Giáo Hội vì hôm nay cũng như hôm qua, Giáo Hội
luôn cảm thấy cần gửi các thừa tác viên của mình đến những nơi mà sứ mạng của họ cấp thiết hơn và cần
buộc mình thực hiện phân bố hàng Giáo Sĩ đồng đều hơn 33 .
Đòi hỏi này của đời sống Giáo Hội trong thế giới ngày nay, mỗi Linh Mục phải cảm nghiệm mãnh liệt,
ngài sẽ sống đòi hỏi này như trao ban linh hồn mình ở trong lòng Giáo Hội và để phục vụ Giáo Hội.
Do đó, chúng ta không thể công nhận những quan niệm, nhân danh lòng tôn trọng hiểu sai về các nền
văn hóa riêng biệt, có xu hướng làm biến chất hoạt động thừa sai của Giáo Hội, trong khi Giáo Hội được
mời gọi hoàn thành một thừa tác vụ phổ quát duy nhất phục vụ ơn cứu độ, thừa tác vụ này vượt lên trên và
làm sinh động mọi nền văn hóa 34 .
Cũng cần phải nói rằng, sự tăng trưởng phổ quát gắn liền với thừa tác vụ Linh Mục, mà không ai được
chối bỏ, gặp được sự tương hợp trong các đặc tính xã hội văn hóa của thế giới hôm nay, một thế giới cảm
thấy cần loại bỏ những hàng rào phân chia các dân tộc và quốc gia: nhất là qua sự giao lưu giữa văn hóa,
người ta muốn biến mọi dân tộc trở thành anh em bất kể những khoảng cách địa lý phân cách họ.
Vì thế, ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, hàng Giáo Sĩ phải nhận thấy mình dấn thân làm Tông Đồ
nhằm kết hợp mọi người nơi Đức Giêsu Kitô trong Giáo Hội của Ngài.
Quyền bính như “ dịch vụ tình yêu”.
16. Một biểu lộ khác của bản chất người Linh Mục “đối diện” với Giáo Hội, đó là bản thể người chỉ
đường nên thánh cho các tín hữu được giao phó cho thừa tác vụ của mình, một bản thể thiết yếu là mục vụ.
Thực tế trên, mà người phải sống cách khiêm tốn và liên tục, có thể mắc vào hai cám dỗ đối nghịch
nhau.
Cám dỗ thứ nhất là thi hành thừa tác vụ bằng cách chiếm đoạt đàn chiên (Lc 22, 24-27, 1Pr 5, 1-4):
cám dỗ thức hai là vô hiệu hóa sự đồng tình các vị với Đức Kitô Đầu và Mục Tử vì hiểu sai khái niệm “cộng
đoàn”.
Cám dỗ thứ nhất vốn mãnh liệt nơi các muôn đệ mình và Đức Giêsu đã luôn sửa sai lập tức : mọi
quyền bính phải được thực thi trong tinh thần phục vụ như “ dịch vụ tình yêu 35 ” và trong sự tận tụy vô vị lợi
27 Thánh bộ Giáo Lý Đức tin : thư nói về Giáo Hội như sự hiệp thông Communionis notio (28-5-92), 10
28 Gioan Phaolô, Redemtoris Missio, 23a.
29 LM 10; Pastores dabo vobis 32
30 GH 28; LM 7
31 GL, 266-1
32 GH 23; 26; Postiquam Apostoli (25-3-1980) 5; 14;23; Tertulien, De Pracscriptione 20
33 GH 23; LM 10; Pastores dabo vobis 32; GL 271
34 Redemptoris Missio 54; 67.
nhằm lợi ích đoàn chiên (Ga 13, 14; 10, 11). Linh Mục phải luôn nhớ rằng Chúa và Thầy “ không đến để
được phục vụ nhưng để phục vụ” (Mc 10, 45); Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các môn đồ trước khi chết
trên thập giá (Ga 13, 5), và sai các ông đi khắp thế gian.
Các Linh Mục sẽ được bằng chứng đích thực về Chúa Phục Sinh, “Đấng đã lãnh nhận mọi quyền hành
trên trời dưới đất” (Mt 28,18) nếu các ngài sử dụng quyền bính của mình như một phục vụ vừa khiêm tốn và
có phẩm quyền nhằm lợi ích đoàn chiên 36 , trong khi tôn trọng những phận vụ mà Đức Kitô và Giáo Hội giao
phó cho giáo dân 37 và cho tín hữu được thánh hóa qua việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm 38 .
Cám dỗ của tinh thần dân chủ lệnh lạc.
17. Đôi khi để tránh sai lạc thứ nhất, người ta lại rơi vào cái thứ hai và người ta có khuynh hướng loại
bỏ mọi khác biệt trong vai trò giữa các chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô là Giáo Hội,
bằng cách chối bỏ trong thực hành giáo lý đích thực của Giáo Hội phân biệt chức tư tế cộng đồng với chức
tư tế thừa tác 39 .
Trong hàng ngũ những cản lực thấy có ngày hôm nay, người ta có thể liên kết đến cái người ta gọi là
“Tinh thần dân chủ lệch lạc”, “chủ nghĩa duy dân chủ”. Về phương diện này, cần nhấn mạnh là Giáo Hội
luôn nhìn nhận mọi thành quả và giá trị mà nền văn hóa dân chủ đã mang lại cho xã hội dân sự. Đàng khác,
Giáo Hội luôn đấu tranh, bằng mọi phương tiện có được, cho việc nhìn nhận phẩm giá bình đẳng của mọi
người. Dựa vào truyền thống này của Giáo Hội, Công đồng Vatican II đã công khai bày tỏ lập trường về
phẩm giá chung của những người đã được rửa tội 40 .
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng não trạng và những cách thực hành của một vài luồng văn hóa xã
hội và chính trị ở thời đại chúng ta không phải đương nhiên du nhập vào lòng Giáo Hội. Giáo Hội thật ra có
được sự hiện hữu và cấu trúc của mình là do ý định cứu độ của Thiên Chúa. Giáo Hội tự ngắm nhìn chính
mình như ân huệ do lòng nhân lành của Chúa Cha, Đấng đã giải cứu Giáo Hội bằng cách hạ nhục con mình
trên thập giá. Do đó- trong Chúa Thánh Thần – Giáo Hội muốn hoàn toàn phù hợp và trung thành với ý
muốn tự do và giải phóng của Chúa Giêsu Kitô, tự bản Chất, là một thực thể khác xa các xã hội thuần túy
loài người.
Như thế, “chủ nghĩa duy dân chủ” là một cám dỗ rất nghiêm trọng, vì nó xúi giục không nhìn nhận
quyền bính và ân sủng cội nguồn của Đức Kitô và làm biến tính Giáo Hội, như thể Giáo Hội chỉ là một xã
hội loài người Quan niệm này đụng Chạm đến cơ cấu phẩm trật mà Đấng sáng lập đã muốn, như Huấn
Quyền đã luôn dạy rõ ràng và chính Giáo Hội đã từng sống một cách liên tục như thế.
Sự thông phần trong Giáo Hội đặt nền trên mầu nhiệm hiệp thông, sự hiệp thông tự bản chất hàm chứa
sự hiện diện và hoạt động của phẩm trật Giáo Hội.
Do đó, người ta không thể chấp nhận não trạng này trong Giáo Hội, nó biểu lộ có lẽ hơn hết trong một
số tổ chức Giáo Hội, và nó có khuynh hướng lẫn lộn các bổn phận của Linh Mục với bổn phận của giáo dân,
hoặc không phân biệt quyền bính của Giám Mục với quyền bính của các Linh Mục là những cộng sự viên
của Giám Mục, hoặc chối bỏ tính cách đặt thù của thừa tác vụ Phêrô trong Giám Mục đoàn. Về phương diện
này cần phải nhắc rằng Linh Mục đoàn và Hội Đồng Linh Mục không phải là những biểu hiện của việc Giáo
Sĩ có quyền lập hội. Lại càng không được hiểu các hội đồng đó theo cái nhìn kiểu nghiệp đoàn, với đủ thứ
yêu sách và đặc lợi bè phái xa lạ với sự hiệp thông Giáo Hội 41 .
Phân biệt giữa chức tư tế cộng đồng và thừa tác.
18. Sự phân biệt giữa chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác thay vì tách biệt hoặc phân chia các
thành phần của cộng đoàn Kitô hữu, lại làm cho đời sống Giáo Hội thêm hài hòa và sống động. Thật vậy
35 Thánh Augustino : In Iohannis Evangelium Tractatus, 123, 5
36 Pastores dabo vobis 21; GL 274
37 GL 275, 2; 529, 1
38 Sđd GL 574,1
39 CĐ Trente khóa 23, De sacramento Ordinis 1, 4; GH
40 GH 9
41 LM 7
Giáo Hội, với tư cách là Thân Thể Đức Kitô, là sự hiệp thông hữu cơ tất cả mọi chi thể: mỗi chi thể giúp cho
sự sống của toàn thể nếu nó sống trọn vẹn vai trò và ơn gọi cá biệt của mình(1Cr 12,12-33) 42 .
Vì vậy không ai được phép thay đổi điều mà Đức Kitô đã muốn cho Giáo Hội của Ngài. Giáo Hội
được liên kết một cách bất khả phân với Đấng Sáng Lập và là Đầu của mình, là Đấng duy nhất ban cho Giáo
Hội, qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, những thừa tác viên để phục vụ tín hữu. Chính Đức Kitô kêu
gọi, thánh hiến và sai đi qua các Mục Tử hợp pháp. Không một cộng đồng nào, dù trong hoàn cảnh đặc biệt
cấp thiết, được phép thay thế Ngài tìm cách tạo cho mình vị Linh Mục theo phương thức khác với qui định
của Giáo Hội 43 . Phương cách giải quyết những trường hợp cần thiết phải ở trong lời cầu xin của Đức Giêsu :
“Hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa” (Mt 9.38). Nếu kèm theo lời kinh đọc với niềm tin này còn có đời
sống bác ái sâu xa của cộng đoàn, người ta có thể cần chắc rằng Chúa sẽ không quên gửi đến những mục tử
theo lòng Ngài mong muốn(x. Gr 3, 15) 44 .
Chỉ Linh Mục mới là mục tử.
19. Một phương cách để khỏi rơi vào cám dỗ “chủ nghĩa duy dân chủ” là tránh một thứ “Giáo Sĩ hoá”
bậc giáo dân 45 , vì làm vậy là thu hẹp chức tư tế thừa tác của Linh Mục. Sau Giám Mục, chỉ mình Linh Mục,
do thừa tác vụ tư tế được phong ban, xứng đáng được gọi là “mục tử” một cách thích hợp và đúng nghĩa.
Thật thế, tính từ “mục vụ” quy chiếu hoặc về quyền giảng dạy và thánh hoá(potestas docendi et sancticandi)
hoặc về quyền cai quản (potestas docendi) 46 .
Đàng khác, người ta cũng cần nhớ rằng việc thăng tiến thật của Giáo dân không thể được cổ võ bởi
những khuynh hướng như thế; chúng thường đưa đến chỗ quên đi ơn gọi đích thực và sứ mạng Giáo Hội
giáo dân sống giữa đời.
HIỆP THÔNG LINH MỤC
Hiệp thông với Ba Ngôi và với Đức Kitô.
20. Dưới ánh sáng của những gì đã nói về căn tính Linh Mục, sự hiệp thông của Linh Mục được thể
hiện nhất thiết với Chúa Cha, nguồn gốc tối hậu của mọi quyền bính; với Chúa con, mà Linh Mục thông
phần sứ mạng cứu rỗi; với Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho Linh Mục sức mạnh để sống và thực thi đức ái
mục vụ và ban phẩm cách tư tế cho Linh Mục.
Thật vậy, người ta không thể định nghĩa bản chất và sứ vụ của chức tư tế thừa tác ở ngoài mạng lưới
phức tạp và phong phú của các mối tương quan bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi, và nối dài trong sự hiệp
thông với Giáo Hội như dấu chỉ và khí cụ, trong sự kết hợp con người với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất
toàn thể nhân loại 47 .
Hiệp thông với Giáo Hội.
21. Từ sự hiệp nhất – thông hiệp cơ bản với Đức Kitô và Ba Ngôi Thiên Chúa, nảy sinh cho Linh Mục
mối hiệp thông quan hệ với Giáo Hội trong các khía cạnh của mầu nhiệm và cộng đoàn 48 . Thật vậy, chính
trong mầu nhiệm Giáo Hội, như là mầu nhiệm hiệp thông với Ba Ngôi hướng tới việc truyền giáo, mà toàn
bộ căn tính của Kitô hữu và do đó, căn tính đặc thù và cá biệt của Linh Mục và của thừa tác vụ Linh Mục
được biểu lộ.
42 Thánh bộ Phúc Âm hóa các dân tộc : Hướng dẫn mục vụ cho các Linh Mục giáo phận trong Giáo Hội thuộc Thánh
Bộ (1-10-89) 3
43 Thánh Bộ Giáo Lý Đức tin : thư gởi các Giám Mục về vấn đề thừa tác viên Thánh Thể : GLCG 875
44 LM 11
45 Gioan Phaolô II, diễn văn HĐ Giám Mục Thụy Sĩ (15-6-1984)
46 Gioan Phaolô II diễn văn cho những người dự đại ội quốc tế về “Linh Mục ngày nay” : L’Osservatore Romano 29-5-
93; L’Osservatore Romano 25-4-93
47 Pastores dabo vobis 12; GH 1
48 GH 8
Một cách cụ thể, sự hiệp thông mang tính Giáo Hội của Linh Mục được thể hiện bằng nhiều cách. Với
việc Truyền Chức, ngài thiết lập những liên hệ đặc biệt với Đức Giáo Hoàng, với Giám Mục đoàn, với Giám
Mục của mình, với các Linh Mục khác, với giáo dân.
Hiệp thông phẩm trật
22. Sự hiệp thông như đặc điểm của chức Linh Mục, đặt nền tảng trên duy nhất tính của Đức Kitô,
Đầu, Mục Tử, Hôn Phu của Giáo Hội 49 . Chính trong khuôn khổ sự hiệp thông thừa tác này mà những mối
liên hệ nhất định khác được hình thành, trước hết với Đức Giáo Hoàng, với Giám Mục đoàn và với Giám
Mục của mỗi người : “Không có thừa tác vụ Linh Mục ở ngoài sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và Giám
Mục đoàn, đặc biệt với Giám Mục giáo phận, lòng tôn kính như con thảo và sự tuân phục đã hứa khi lãnh
chức, phải được trao trả cho các ngài” 50 . Đó chính là sự hiệp thông phẩm trật, nghĩa là sự hiệp thông trong
phẩm trật y như được cấu tạo nội tại.
Nhờ được thông phần vào chức tư tế thừa tác duy nhất ở, mức độ phụ thuộc vào Giám Mục, sự hiệp
thông này cũng bao hàm mối liên hệ thiêng liêng, hữu cơ và cơ cấu của các Linh Mục với cả hàng Giám
Mục, với Giám Mục riêng của mình 51 , với Đức Giáo Hoàng trong tư cách là Mục Tử của Giáo Hội toàn cầu 52
và với mỗi Giáo Hội địa phương. Thực tại này, được củng cố do việc hàng Giám Mục nói chung và mỗi
Giám Mục nói riêng, phải ở trong sự thông hiệp phẩm trật với Đầu của đoàn 53 . Thật vậy, đoàn này bao gồm
chỉ những Giám Mục được thánh hiến trong sự hiệp thông phẩm trật với Đầu và với các thành phần khác.
Hiệp thông trong cử hành Thánh Thể.
23. Sự hiệp thông phẩm trật được diễn tả một cách ý nghĩa trong Kinh Nguyện Thánh Thể. Khi Linh
Mục cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, các Giám Mục và Giám Mục của mình, ngài không những diễn tả
lòng cung kính mà còn làm chứng cho tính chân thực của việc ngài cử hành 54 .
Cũng vậy, việc cử hành Thánh Thể, trong những hoàn cảnh và điều kiện tiên liệu 55 , nhất là khi có
Giám Mục chủ tọa và giáo dân tham dự, biểu lộ rõ ràng duy nhất tính chức tư tế của Đức Kitô trong sự đa
dạng của các thừa tác viên, đồng thời biểu lộ duy nhất tính của hy lễ và của Dân Thiên Chúa 56 . Hơn nữa,
việc đồng tế góp phần củng cố tình huynh đệ thừa tác giữa các Linh Mục với nhau 57 .
Hiệp thông trong hoạt động thừa tác
24. Mỗi Linh Mục sẽ duy trì một mối liên hệ đức ái sâu xa, khiêm tốn và hiếu thảo đối với cá nhân
Đức Thánh Cha, và gắn bó với thừa tác vụ Đấng kế vị Thánh Phêrô của ngài trong lãnh vực Huấn quyền
thánh hoá và cai quản trong một tinh thần gắn bó gương mẫu 58 .
Ngài sẽ thực hiện sự hiệp thông đòi hỏi do việc thi hành thừa tác vụ Linh Mục, trong sự trung thành và
phục tùng quyền bính của các Giám Mục mình. Các mục tử giàu kinh nghiệm nhất dễ dàng nhận ra sự cần
thiết phải tránh mọi hình thức các nhân chủ nghĩa khi thi hành thừa tác vụ và tán thành các chương trình
mục vụ trong tinh thần đồng trách nhiệm. Việc tán thành này không những cho thấy sự trưởng thành, mà còn
góp phần xây dựng sự hiệp nhất trong sự hiệp thông cần thiết cho việc Phúc Âm hóa 59 .
Trong tinh thần hoàn toàn tôn trọng sự phụ thuộc phẩm trật, Linh Mục sẽ là người khởi xướng quan hệ
trực tiếp với Giám Mục mình, quan hệ gồm có lòng tín nhiệm chân thành, tình bạn mật thiết một cố gắng
49 Thánh Augustino, Sermo 46, 30
50 Pastores dabo vobis 28
51 GH 28; LM 7;15
52 GL 331, 333, 1
53 GH 22; GM 4; GL 336
54 Thánh Bộ GLĐT : Communionis notio (28-5-92) 14
55 GL 902; Thánh bộ bí tích và Phụng vụ thánh,Promulgato Codice (12-12-83) II, I, 153; Noticiae 19 (1983) 542.
56 Thomas được’Aquinô : Summa theol, 982; PV 41; 57
57 Thánh bộ nghi lễ : Eucharisticum Mysterium (25-5-67) 47
58 GL 273
59 LM 15; Pastores dabo vobis 65; 79
thật sự nhằm hòa hợp và tập trung tư tưởng và chương trình, mà không làm mất đi khả năng thông minh của
đề xuất cá nhân và cá nhân và của hành động trong lãnh vực mục vụ 60 .
Hiệp thông trong Linh Mục đoàn
25. Nhờ Bí Tích truyền chức, “mỗi Linh Mục được liên kết với các thành viên khác của Linh Mục
đoàn bằng những mối dây riêng biệt của đức ái tông đồ, của thừa tác và của tình huynh đệ” 61 . Thật vậy, Linh
Mục được sát nhập vào hàng Linh Mục làm thành một đơn vị có thể định nghĩa như một gia đình thật sự,
trong gia đình này những mối liên hệ không do máu thịt nhưng do ân sủng của thánh chức mà có 62 . Việc
thuộc về một Linh Mục đoàn cụ thể 63 phải luôn diễn ra trong một Giáo Hội địa phương, một giáo phận hay
một giáo đoàn không lãnh thổ. Thật vậy, khác với Giám Mục đoàn, xem ra không có cơ sở thần học để
khẳng định sự hiện hữu của một “Linh Mục đoàn phổ quát”.
Tình huynh đệ Linh Mục và sự thuộc về Linh Mục đoàn vì thế là những yếu tố đặc trưng của Linh
Mục. Để nói lên điều đó, lễ Truyền Chức Linh Mục, nghi thức đặt tay về phía Giám Mục với sự tham gia
của Linh Mục hiện diện, là một nghi thức đặc biệt có ý nghĩa, nó cho thấy hoặc là tất cả đều tham dự vào
cùng một cấp độ tác vụ như nhau, hoặc là Linh Mục không thể hành động đơn độc nhưng luôn ở giữa Linh
Mục đoàn và trở thành anh em của tất cả những ai làm thành Linh Mục đoàn ấy 64 .
Gia nhập vào một Giáo Hội địa phương
26. Việc nhập tịch vào một Giáo Hội địa phương xác định nào đó 65 tạo nên một mối liên hệ pháp lý
đích thực 66 có giá trị thiêng liêng. Thật vậy, do việc nhập tịch này phát xuất “mối tương quan với Giám Mục
trong sự hiệp nhất của Linh Mục đoàn, sự chia sẻ ưu tư đối với Giáo Hội, sự nhiệt thành mục vụ để phục vụ
Dân Thiên Chúa trong những điều kiện lịch sử và xã hội cụ thể” 67 . Trong viễn cảnh này, mối liên hệ với
Giáo Hội địa phương cũng là nguồn gốc ý nghĩa cho hoạt động mục vụ.
Về vấn đề này người ta cũng không nên quên rằng các Linh Mục triều không nhập tịch vào giáo phận
và những Linh Mục thuộc một Tu Hội hay Hiệp Hội Tông Đồ đang sống trong giáo phận và đang thi hành
một phân vụ nào đó giúp giáo phận, mặc dù họ thuộc quyền Đấng Bản Quyền hợp pháp của mình, thì đương
nhiên hoặc dưới một danh hiệu nào khác, họ thuộc về Hội Đồng Linh Mục của giáo phận ấy 68 , ở đó họ được
quyền có tiếng nói chủ động hay thụ động để làm nên Hội Đồng Linh Mục 69 . Cách riêng các Linh Mục Dòng
trong sự hiệp nhất công sức, chia sẻ cùng một ưu tư mục vụ bằng cách đóng góp các đặc sủng của Dòng
mình và “bằng sự hiện diện của mình, thúc đẩy Giáo Hội địa phương sống mãnh liệt sự cởi mở đến mức phổ
quát của mình” 70 .
Các Linh Mục nhập tịch vào một giáo phận, nhưng để phục vụ một phong trào nào đó của Giáo Hội
được Giáo Quyền chuẩn y 71 , phải ý thức mình là thành viên của Linh Mục đoàn nơi đang thi hành thừa tác
vụ, phải chân thành hợp tác với Linh Mục đoàn đó. Giám Mục cho nhập tịch, đến phiên Ngài, sẽ tôn trọng
lối sống bắt buộc do phong trào đặt ra, và theo các khoản luật, nên ban phép cho Linh Mục được đi phục vụ
các Giáo Hội khác, nếu điều ấy nằm trong đặc sủng của phong trào 72 .
60 Thánh Ihatio thành Antiokia : Ad Ephesios : “… Nếu Chúa cho tôi biết rằng mỗi người trong anh em và tất cả anh
em… đều hợp nhất trong lòng với tinh thần vâng phục hoàn toàn với Đức Giám Mục và Linh Mục đoàn, khi chia sẻ
Bánh Hằng Sống và giải độc để không phải chết nhưng để luôn sống trong Chúa Giêsu Kitô…”; Patres, Apostolici xuất
bản FX Funk II 203-205.
61 Pastores dabo vobis 17; GH 28; LM 8; GL 275, 1
62 Pastores dabo vobis 74; Thánh Bộ Phúc Âm hóa các dân tộc : hướn dẫn mục vụ cho các Linh Mục. .. (1-10-1989)6.
63 Linh Mục 8; Gl 369; 498; 499.
64 Sách lễ Truyền Chức Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế ch II, 105, 130; LM 8
65 GL 265
66 Gioan Phaolô II dễn văn (29-01-85) VIII/I 247, 253
67 Pastores dabo vobis 31
68 Sđd 17; 74
69 GL 498. 1, 2
70 Pastores dabo vobis 31
71 Sđd 31, 41, 68
Linh mục đoàn, nơi thánh hóa
27. Linh Mục đoàn là một nơi đặc biệt để Linh Mục có thể tìm được những phương thế đặc thù nên
thánh và rao giảng Phúc Âm. Ở đó Linh Mục phải được giúp đỡ để lướt thắng những giới hạn và yếu đuối đi
liền với bản tính con người, điều đặc biệt được cảm nhận ngày nay.
Cho nên, Linh Mục sẽ cố gắng tránh sống chức Linh Mục của mình một cách lẻ loi và chủ quan. Ngài
phải tìm cách phát huy tình hiệp thông huynh đệ bằng cách cho và nhận từ Linh Mục đến Linh Mục, sự nồng
ấm tình cảm, sự giúp đỡ thân tình, sự tiếp đón, sự sửa lỗi huynh đệ về ý thức rằng ân sủng của Bí Tích
truyền chức đảm nhận và nâng cao các tương quan nhân bản, tâm lý, tình cảm, tình bạn và thiêng liêng, và
biểu lộ cụ thể trong những hình thức tương trợ tinh thần cũng như vật chất rất đa dạng 73 .
Tất cả những điều đó được diễn tả rõ nét trong Phụng Vụ Thánh Lễ Tiệc Ly của Chúa ngày Thứ Năm
Tuần Thánh, nó cho thấy làm thế nào mà từ việc hiệp thông Thánh Thể phát sinh trong bữa tiệc ly, các Linh
Mục nhận được khả năng yêu mến nhau, như Thầy yêu mến họ 74 .
Tình bằng hữu Linh Mục
28. Ýnghĩa sâu xa mang tính Giáo Hội của Linh Mục đoàn không những không gây cản trở, mà còn
làm cho các trách nhiệm cá nhân của mỗi Linh Mục trong việc thực thi thừa tác vụ đặc thù đã được Giám
Mục giao phó 75 được nên dễ dàng. Khả năng vun trồng và sống những tình bạn Linh Mục chín chắn và thâm
sâu, được coi như nguồn gốc phát sinh sự thanh thản và niềm vui lúc thi hành thừa tác vụ, như sự nâng đỡ có
tính quyết định khi gặp khó khăn và như sự giúp đỡ quý giá để tăng trưởng đức ái mục vụ, đức ái mà người
Linh Mục phải thực thi một cách đặc biệt đối với những anh em đồng sự đang gặp khó khăn cần được cảm
thông trợ giúp và nâng đỡ 76 .
Đời sống chung
29. Một biểu hiện khác của sự hiệp thông là đời sống chung, mà lâu nay được Giáo Hội tỏ rõ 77 , và mới
đây được các văn kiện Công Đồng Vatican II 78 , Huấn quyền 79 khuyến khích, và đã được tích cực áp dụng
trong nhiều giáo phận.
Trong số những thực hiện khác nhau của nó (nhà chung, bản án chung. v.v..) phải coi là cách quan
trọng nhất việc tham dự các giờ kinh Phụng Vụ chung 80 . Những hình thức khác nhau này phải được yểm trợ
tùy theo khả năng và thích hợp thực tế, mà không nhất thiết phải mô phỏng các hình thức đáng khen ngợi
riêng cho đời sống tu trì. Cần đặc biệt khen ngợi những Hội Dòng cổ võ cho tình huynh đệ Linh Mục, sự
thánh thiện trong việc thi hành thừa tác vụ, sự hiệp thông với Giám Mục và với toàn thể Giáo Hội 81 . Ước gì
các Cha quản xứ tạo thuận lợi cho đời sống chung trong nhà xứ với Cha Phó xứ mình 82 , thực sự coi các Cha
Phó xứ như những cộng tác viên và đang tham gia lo việc mục vụ; về phía mình, để xây dựng sự hiệp thông
Linh Mục, các Cha Phó xứ phải nhìn nhận và tôn trọng quyến bính của Cha xứ 83 .
Hiệp thông với giáo dân.
30. Là người của hiệp thông, Linh Mục không thể diễn tả tình yêu của mình đối với Chúa và Giáo Hội
mà không thể hiện nó trong một tình yêu thiết thực và vô điều kiện đối với mọi Kitô hữu là đối tượng của
mối quan tâm mục vụ của Ngài 84 .
72 GL 271
73 Pastores dabo vobis 74
74 Gioan Phaolô II catéchèse (4-8-93) số 4. Osservatore Romano (5-8-93)
75 LM 12-14
76 Sđd 8
77 Thánh Augustino, Bài giảng 355, 356
78 GH 28c; LM 8
79 GL 280; 245, 2; 550, 1; Pastores dabo vobis 81
80 PV 26, 99; Luật tổng quát Phụng Vụ Giờ Kinh số 25
81 GL 278,2 : Pastores dabo vobis 31; 68; 81
82 GL 550, 2
83 GL 545, 1
Nối dài sự hiên diện của Đức Kitô, Linh Mục “một cách nào đó sẽ biến mình trong suốt cho Ngài ở
giữa đoàn chiên được giao phó” 85 , bằng cách đặt mình trong “tương quan tích cực và khích lệ” đối với giáo
dân. Bằng cách nhận ra nơi họ phẩm giá người con cái Thiên Chúa, Linh Mục ra sức thăng tiến vai trò đặc
thù của họ trong Giáo Hội và đem thừa tác vụ Linh Mục cùng đức ái mục vụ của mình phục vụ họ 86 . Một khi
nhận biết sự hiệp thông sâu xa nối kết mình với giáo dân và tu sĩ, Linh Mục sẽ nỗ lực tối đa để khơi dạy và
phát triển sự đồng trách nghiêm trọng cùng một sứ mạng cứu độ duy nhất, bằng việc đề cao giá trị một cách
mau mắn và vui lòng tất cả những đặc sủng và những phận vụ mà Giáo Hội phân phát cho các kẻ tin, để xây
dựng Giáo Hội 87 .
Một cách cụ thể hơn, trong khi luôn tìm kiếm thiện ích chung cho Giáo Hội, Cha xứ sẽ cổ võ những
hiệp hội giáo dân và những phong trào nhằm mục đích tôn giáo 88 , bằng cách nhận tất cả và giúp họ tìm ra sự
hợp nhất các mục tiêu giữa họ với nhau, về mục đích, trong kinh nguyện và trong hoạt động Tông Đồ.
Trong mức độ mà Linh Mục quy tụ gia đình của Thiên Chúa và thực hiện Giáo Hội hiệp thông, Linh
Mục trở thành “kẻ bắt cầu”, người nối kết con người với Thiên Chúa, làm “anh em của mọi người cùng một
lúc làm mục tử, làm Cha và làm Thầy của họ” 89 . Đối với con người hôm nay đang tìm ý nghĩa cuộc sống,
Linh Mục là hướng dẫn viên đưa họ đến gặp Đức Kitô cuộc gặp gỡ được thực hiện trong Giáo Hội như một
thông báo và như một thực tại đang hiện diện tuy không trọn vẹn. Như thế, được đặt để phục vụ Dân Thiên
Chúa. Linh Mục tỏ ra là chuyên viên về nhân bản, người của Chân lý và sự hiệp thông, làm chứng cho sự
quan tâm của Vị Mục tử duy nhất đối với tất cả và từng con chiên. Cộng đoàn có thể an tâm cậy dựa vào
lòng nhiệt thành, vào sự luôn sẵn sàng, vào việc rao giảng Tin Mừng không mệt mỏi, nhất là tình yêu trung
tín và vô điều kiện của Ngài.
Như thế Linh Mục sẽ thực thi sứ mạng thiêng liêng của mình với tính hòa nhã và cương quyết với
lòng khiêm tốn và tinh thần phục vụ 90 , biết cảm thông và chia sẻ những nỗi khỗ đau của những người đang
gánh chịu những hình thức khác nhau của sự nghèo đói về tình thần và vật chất, cũ cũng như mới. Ngài
cũng biết cúi xuống với lòng thương xót trên con đường gian khó và bất trắc của tội nhân trở về, ngài sẽ ban
cho họ món quà chân lý, sự chăm sóc nhẫn nại và đầy khích lệ của vị mục tử tốt lành. Đấng không quở trách
con chiên lạc nhưng đặt nó trên lên vai và ăn mừng ngày nó trở lại với đàn chiên (Lc 15, 5-7) 91 .
Hiệp thông với các thành viên những Tu Hội sống đời thánh hiến
31. Ngài phải lưu tâm đặc biệt đến mối tương quan với các anh chị em dấn thân sống đời tận hiến đặc
biệt cho Thiên Chúa, dù họ thuộc về hình thức nào. Bằng cách bày tỏ một sự quí mến chân thành và một tinh
thần cộng tác tông đồ đích thực trong sự tôn trọng và thăng tiến những đặc sủng riêng tư của họ. Ngài cũng
cộng tác làm cho đời sống tận hiến ngày càng sáng lạng hơn, vì thiện ích của toàn Giáo Hội, và càng trở
nên thuyết phục và hấp dẫn hơn đối với các thế hệ mới.
Trong tinh thần qúy chuộng đời sống tận hiến, Linh Mục sẽ chăn dắt đặc biệt các cộng đoàn. Vì nhiều
lý do, đang cần hơn nền giáo lý lành mạnh sự giúp đỡ và khích lệ sống trung thành.
Mục vụ ơn gọi
32. Linh Mục cần lưu tâm cách riêng đến mục vụ ơn gọi, không quên khuyến khích cầu nguyện theo ý
chỉ đó, bỏ công sức ra cho giáo lý ơn gọi, lo huấn luyện các em giúp bàn thờ, cổ võ những sáng kiến thích
hợp bằng tiếp xúc cá nhân, nhằm phát hiện những tài năng và biết nhận ra thánh ý Thiên Chúa để giúp can
đảm lựa chọn theo Đức Kitô 92 .
84 Gioan Phaolô II Catéchèse (7-7-93), LM 15b
85 Pastores dabo vobis 15
86 LM 9; GL 275, 2; 529, 2
87 Pastores dabo vobis 74
88 GL 529, 2
89 Pastores dabo vobis 74, thư chung (Phaolô VI) Ecclesian Suam (6-8-64) III
90 Gioan Phaolô II Catéchèse (7-7-93) L’Osservatore Romano (8-7-93)
91 GL 529, 1
92 LM 11; GL 233, 1
Chắc chắn, sự ý thức rõ ràng về căn tính của mình, sự mạch lạc trong đời sống, niềm vui trong sáng và
lòng nhiệt thành thừa sai tạo nên những nguyên tố cần thiết cho mục vụ ơn gọi; mục vụ này phải được sáp
nhập vào trong mục vụ chung thông thường. Với chủng viện, cái nôi của ơn gọi của mình và môi trường thử
nghiệm sống chung đầu tiên, Linh Mục cần luôn duy trì những quan hệ hợp tác chân tình và yêu thương
chân thành.
Đó là một “đòi hỏi không thể lẫn tránh của đức ái mục vụ” 93 là mỗi Linh Mục tiếp tay với ơn Chúa
Thánh Thần, quan tâm khơi dậy ít nhất một ơn gọi Linh Mục để có thể tiếp nối thừa tác vụ của mình.
Dấn thân vào chính trị và xã hội
33. Linh Mục, tôi tớ của một Giáo Hội có tính phổ quát và công giáo, không thể trói buộc mình vào
một bất trắc lịch sử nào, cần biết đặt mình lên trên mọi đảng phái chính trị. Ngài không thể giữ phần chủ
động trong các đảng phái chính trị hoặc trong việc điều hành các nghiệp đoàn, trừ khi, dựa theo phẩm định
của giáo quyền có thẩm quyền, phải bênh vực các quyền lợi của Giáo Hội và sự thăng tiến lợi ích chung 94 .
Thật vậy, những phận vụ này tuy tự nó là tốt, nhưng lại còn xa lạ với bậc Giáo Sĩ vì chúng có thể tạo
ra nguy cơ nghiêm trọng làm gãy đổ sự hiệp thông trong Giáo Hội 95 .
Theo gương Đức Giêsu (x. Ga 6, 15tt) Linh Mục “phải từ bỏ mọi hình thức tích cực tham gia chính trị,
nhất là chính trị đảng phái, như thường xảy ra không thể tránh được, để luôn là người của mọi người hướng
đến tình huynh đệ thiêng liêng” 96 . Cũng thế, mọi tín hữu phải có thể đến với Linh Mục bất cứ lúc nào không
cảm thấy bị loại trừ vì bất cứ lý do gì.
Linh Mục phải nhớ rằng : “việc trực tiếp can thiệp vào cơ cấu chính trị và vào cách tổ chức đời sống
xã hội không phải là việc của các mục tử Giáo Hội. Phận vụ này thuộc ơn gọi của giáo dân, họ hành động
theo sáng kiến riêng cùng với đồng bào mình” 97 . Tuy nhiên Linh Mục không bỏ qua việc “cố gắng đào tạo
cho họ một lương tâm ngay chính” 98 .
Thu hẹp sứ mạng Linh Mục vào những công việc trần thế, thuần túy xã hội hay chính trị, hoặc xa lạ
hoàn toàn căn tính Linh Mục, không phải là một chiến công mà là một mất mát nặng nề cho sự phong phú
Phúc Âm của toàn thể Giáo Hội.
CHƯƠNG II
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
CỦA LINH MỤC
BỐI CẢNH LỊCH SỬ HIỆN NAY
Giải thích những dấu chỉ thời đại
34. Đời sống và thừa tác vụ Linh Mục luôn phát triển trong bối cảnh lịch sử, mang dấu ấn của những
vấn đề và giải pháp mới, trong đó Giáo Hội sống cuộc đời lữ hành trên trần gian.
Chức tư tế không phát sinh từ lịch sử, nhưng bởi ý muốn bất di bất dịch của Chúa. Dẫu vậy chức tư tế
chạm trán với những hoàn cảnh lịch sử, tuy vẫn trung thành với chính mình. Nó cũng chịu ảnh hưởng của
những “dấu chỉ thời đại” trong những chọn lựa cụ thể, qua một liên hệ có phê phán và sự tìm kiếm hợp với
Tin Mừng. Cho nên, Linh Mục có bổn phận giải thích những “dấu chỉ” này theo ánh sáng đức tin và đem
chúng ra phân biệt cẩn thận. Trong bất cứ trường hợp nào các ngài cũng không được lãng quên chúng, nhất
93 Pastores dabo vobis 74c
94 GL 287, 2; Thánh Bộ Giáo Sĩ : Sắc lệnh Quidam Episcopi (8-3-92) 642-645
95 Thánh Bộ Phúc Âm hóa, thư mục vụ (1-10-89); Thánh Bộ Giáo Sĩ :Sắc lệnh Quidam Episcopi 642-645
96 MV 43; GL 285, 3; 287, 1, L’Osservatore Romano. (29-7-1993)
97 GLCG 2442; x. GL 227
98 THĐGM, tài liệu về Chức Linh Mục thừa tác Ultimis temporipus (30-11-1971) II, I, 2b.
là các ngài muốn định hướng đời mình một cách hiệu nghiệm và thích đáng, ngõ hầu việc phục vụ và chứng
từ của các ngài ngày càng phong phú hơn cho Nước Chúa.
Trong đời sống hiện nay của Giáo Hội và xã hội, các Linh Mục được mời gọi sống thừa tác vụ của
mình với chiều sâu, quan tâm đến những đòi hỏi không chỉ trong lãnh vực mục vụ, mà còn trong lãnh vực
văn hóa xã hội mà các ngài phải chạm trán : những đòi hỏi đó mỗi ngày mỗi sâu xa hơn, nhiều hơn và tế nhị
hơn 99 .
Như vậy ngày nay các Linh Mục phải dấn thân vào nhiều môi trường tông đồ khác nhau, chúng đòi
hỏi các ngài quản đại quên mình, chuẩn bị chắc chắn về tri thức và nhất là có một đời sống thiêng liêng chín
chắn và sâu xa, đâm rễ trong đức ái mục vụ. Cuộc sống ấy chính là con đường dẫn đến sự thánh thiện và là
sự vâng phục chân chính dành cho tín hữu trong thừa tác vụ mục vụ các Ngài.
Việc Phúc Âm hóa mới là đòi hỏi
35. Như thế, Linh Mục đặc biệt cam kết dấn thân vào cuộc tái Phúc Âm hóa mới của Giáo Hội, khởi
sự từ niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, Giáo Hội biết tìm nơi Ngài “kho báu khôn lường” (Ep
3,8) mà không thời đại nào, nền văn hóa nào có thể làm cạn kiệt, nhờ vào kho tàng ấy mà mọi người có thể
nên giàu có 100 .
Đã đến lúc phải canh tân niềm tin của chúng ta vào Đức Giêsu Kitô, Đấng vẫn là một trong hôm qua,
hôm nay và mãi mãi” (Dt 13, 8). Do đó, “lời mời gọi tái Phúc Âm hóa trước hết là lời mời gọi hoán cải” 101 .
Đồng thời đó cũng là lời mời gọi hy vọng, dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, trên lòng trung tín với lời Ngài,
trên niềm xác tín không thể hủy diệt của việc Đức Kitô Phục Sinh, chiến thắng hoàn toàn tội lỗi và sự chết,
đó là thông báo đầu tiên và nguồn gốc của mọi việc Phúc Âm hóa, là nền tảng cho mọi sự thăng tiến của
người và là nguyên lý của mọi nền tảng Kitô giáo chân chính” 102 .
Trong bối cảnh này, Linh Mục trước hết phải làm sống dậy đức tin, đức cậy và đức mến Chân thành
của mình đối với Chúa, để có thể đem Ngài ra cho tín hữu và mọi người chiêm ngưỡng đúng Chân dung
Ngài là một Ngôi Vị sống động, lôi cuốn, yêu thương chúng ta hơn ai hết vì đã thí mạng sống cho chúng ta.
“Không có tình yêu nào lớn hơn là thí mạng sống vì kẻ mình yêu” (Ga 15, 13).
Cũng thế, khi ý thức rằng cả con người Ngài là một sự tìm kiếm theo nhiều cách khác nhau, một tình
yêu có thể giúp ngài vượt qua những giới hạn của sự yếu đuối tính ích kỷ và sự chết, Linh Mục sẽ loan báo
rằng Đức Giêsu Kitô là giải đáp cho các ước vọng ấy.
Trong cuộc tân Phúc âm hoá Linh Mục được mời gọi trở nên “phát ngôn riêng của niềm hy vọng” 103 .
Thách đố về phía các giáo phái và tôn giáo mới
36. Hiện tượng nhiều giáo phái và tôn giáo mới sinh sôi nảy nở và ngay cả lan tràn giữa những người
công giáo tạo nên một thách đố nghiêm trọng cho thừa tác vụ mục vụ.
Nhiều động cơ phức tạp gây nên hiện tượng này. Trong mọi trường hợp, thừa tác vụ các Linh Mục là
phải nhanh chóng và quyết liệt đáp ứng cho khát vọng tìm kiếm sự linh thánh và một nền đạo đức đích thực
như thấy ngày nay.
Trong những năm gần đây, rõ ràng là những lý do đòi buộc Linh Mục phải là người của Thiên Chúa và
là thầy dạy cầu nguyện, là những lý do mục vụ.
Đồng thời, một điều kiện khác là cộng đoàn giao phó cho Linh Mục Chăm sóc phải tỏ ra thật sự cởi
mở để không một người nào cảm thấy vô danh hoặc bị đối xử lạnh nhạt.
99 Pastores dabo vobis 5
100 Gioan Phaolô II. Diễn văn khai mạc Hội Đồng GM Châu Mỹ La Tinh lần thứ tư tại San Domingo, 24
101 Sđd 1
102 Sđd 25
103 Sđd
Chắc chắn đây là trách nhiệm của mọi tín hữu, nhưng trước hết là của Linh Mục vì ngài là người của
sự hiệp thông.
Nếu Linh Mục biết đón nhận với lòng kính trọng tất cả những ai đến với mình, nhìn nhận giá trị con
người họ, ngài sẽ tạo được một bầu khí bác ái đích thực rất dễ lây lan và dần dần tỏa lan ra cả cộng đoàn.
Để thắng được thách đố của những giáo phái và hình thức tôn giáo mới này, điều quan trọng là phải có
một nền giáo lý chín mùi và đầy đủ. Ngày nay, nó đòi hỏi Linh Mục phải đặc biệt cố gắng, để mọi tín hữu
nhận biết thật sự ý nghĩa của ơn gọi Kitô giáo và của Đức Tin Công Giáo. Một cách đặc biệt, tín hữu phải
được dạy cho biết nhận ra tương quan giữa ơn gọi đặc thù của họ trong Đức Giêsu Kitô và họ thuộc về Giáo
Hội của Chúa mà họ có bổn phận yêu mến với tình con thảo và lòng kiên trì.
Tất cả điều đó có thể thực hiện được nếu trong cuộc sống và trong thừa tác vụ, Linh Mục biết tránh
những gì gây ra sự lạnh nhạt hờ hững hay một sự gia nhập có chọn lựa đối với Giáo Hội.
Bóng tối và ánh sáng trong hoạt động tác vụ.
37. Thật đáng phấn khởi khi thấy rằng ngày nay một số đông Linh Mục thuộc mọi lứa tuổi, đang thi
hành thừa tác vụ của mình trong sự dấn thân tràn đầy niềm vui, với lòng dũng cảm thầm lặng, làm việc cho
đến mức tàn lực và đôi khi không được nhìn thấy thành quả của công việc mình làm.
Vì lẽ đó, các ngài chứng tỏ ơn thánh tuôn đổ vào dịp phong chức vẫn tiếp tục ban sức mạnh mới cho
thừa tác viên thánh.
Bên cạnh những điểm sáng tô điểm cuộc đời Linh Mục, không thiếu những bóng tối đang làm mờ nhạt
vẻ đẹp và làm cho việc thực hành thừa tác vụ kém phần hữu hiệu.
Thừa tác vụ mục vụ là một công cuộc hấp dẫn nhưng cam go, luôn bị hiểu lầm hoặc bị gạt bỏ và nhất
là ngày nay dễ gây mệt mỏi, vỡ mộng nơi người khác, xa lánh và đôi khi cô đơn.
Để chiến thắng những thách đố mà não trạng thế tục mang đến cho Linh Mục, ngài cần dành ưu tiên
cao nhất cho đời sống thiêng liêng, để luôn luôn lưu lại bên cạnh Đức Kitô và quảng đại sống đức ái mục vụ,
tăng cường sự hiệp thông với mọi người, nhất là với các Linh Mục khác.
LƯU LẠI VỚI ĐỨC KITÔ TRONG KINH NGUYỆN.
Ưu tiên của đời sống thiêng liêng.
38. Có thể nói người Linh Mục đã được cưu mang trong lời kinh dài Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha
khi Ngài cầu cho các Tông Đồ, và tất nhiên cho tất cả những kẻ tham gia sứ mạng của Ngài qua các thời
đại(xem Lc 6, 12; Ga 17, 15-20) chính lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong vườn Giêtsimani, hướng về hy tế
trên đồi Golgotha là một mẫu mực cho thấy “chức Linh Mục phải được liên kết với sự cầu nguyện như thế
nào: đó là bén rễ sâu trong sự cầu nguyện 104 .
Vì được sinh ra từ những kinh nghiệm đó và được kêu mời tái diễn hy tế bất khả phân ly với Kinh
nguyện ấy. Linh Mục phải luôn luôn nuôi dưỡng thừa tác vụ của mình trong một đời sống thiêng liêng được
dành ưu tiên tuyệt đối. Thay vì coi nhẹ do quá say mê hoạt động. Chính vì muốn thi hành thừa tác vụ mục
vụ cách hiệu quả mà Linh Mục cần phải kết hợp mật thiết với Đức Kitô, Vị Mục Tử Tốt Lành, vì chỉ mình
Ngài là kẻ chủ chốt mọi hoạt động mục vụ.
Các phương thế cho đời sống thiêng liêng.
39. Đời sống thiêng liêng phải nhập thể vào cuộc đời mỗi Linh Mục qua Phụng Vụ, kinh nguyện cá
nhân, kiểu sống và tập tành các nhân đức Kitô giáo, những điều đó góp phần làm cho hoạt động thừa tác vụ
nên phong phú.
Có thể nói được, sự đồng hóa với Đức Kitô bắt buộc phải hít thở bầu khí tình bạn và gặp gỡ đích thân
với Chúa Giêsu trong tinh thần phục vụ Giáo Hội. Thân Thể Ngài; Linh Mục chứng tỏ tình yêu đối với Giáo
Hội bằng cách chu toàn một cách trung tín và không mệt mỏi những bổn phận của thừa tác vụ mục vụ 105 .
104 Gioan Phaolô II thư gởi các Linh Mục dịp Thứ Năm Tuần Thánh (13-4-87)
Như vậy đời sống cầu nguyện của Linh Mục cần phải bao gồm: dâng lễ hằng ngày 106 , đi kèm với việc
dọn mình và cám ơn thích hợp xưng tội thường xuyên 107 , việc linh hướng đã thực hành thời ở chủng viện 108 ,
cử hành đầy đủ và sốt sắng Phụng Vụ các Giờ Kinh 109 , bắt buộc mỗi ngày 110 xét mình 111 , nguyên gẫm 112 thật
sự đọc sách thiêng liêng (lectio divina) 113 ; những giây phút kéo dài thinh lặng và đối thoại với Chúa, nhất là
trong những kỳ linh thao và tĩnh tâm định kỳ 114 ; những hình thức quí báu kính Đức Mẹ như lần chuỗi 115 , đi
đàng thánh giá và thực hành đạo đức khác 116 , việc đọc hạnh các thánh 117 .
Hằng năm, để biểu lộ mong muốn đời sống trung tín, trong Thánh Lễ làm phép Dầu, các Linh Mục
nhắc lại trước mặt Giám Mục và cùng với Ngài, những lời hứa khi chịu chức 118 .
Linh Mục phải coi việc sống đời thiêng liêng của mình như một bổn phận vui tươi và còn là một
quyền lợi của giáo dân khi. ý thức hoặc vô ý thức, giáo dân tìm kiếm nơi Linh Mục của người Thiên Chúa,
vị cố vấn, vị trung gian hòa giải, người bạn trung thành và khôn ngoan, người hướng dẫn đáng tin cậy để họ
có thể tín thác trong những lúc cam go nhất của cuộc sống hầu tìm được sự nâng đỡ và an toàn 119 .
Noi gương Đức Kitô cầu nguyện.
40. Vì phải gánh vác nhiều trách vụ, nhất là những trách vụ hoạt động mục vụ, nên ngày nay hơn bao
giờ hết, Linh Mục gặp phải một loạt những lôi cuốn có thể đưa ngài đến một thứ duy hoạt động bên ngoài
càng ngày càng tăng, buộc ngài theo một nhịp độ đôi khi quay cuồng và chóng mặt.
Để chống lại cám dỗ trên, không bao giờ được quên rằng ý định ban đầu của Đức Giêsu là quy tụ các
Tông Đồ quanh Ngài, trước hết để “họ ở lại với Ngài” (x. Mc 3,14).
Chính con Thiên Chúa cũng đã muốn để lại cho chúng ta gương cầu nguyện của Ngài.
Thật vậy, các Phúc Âm rất thường cho chúng ta thấy Đức Kitô cầu nguyện : khi Chúa Cha mạc khải
về sứ mạng của Ngài (Lc 3.21-22), trước lúc kêu gọi các Tông Đồ (x. Lc 6.12), trong lời tạ ơn Chúa Cha khi
hóa bánh ra nhiều (x. Mt 14,19;15, 36; Mc 6, 41; 8, 7; Lc 9, 16; Ga 6,11), trong khi biến hình trên núi (x. Lc
9,28-29), khi chữa lành người câm điếc (x. Mc 7, 34), và cho Lazarô sống lại (x. Ga 11, 14 tt), trước lúc
Phêrô tuyên tín (x. Lc 9,18 ), khi dạy các môn đệ cầu nguyện (x. Lc 11,1) và lúc họ toàn tất sứ mạng trở
về(x. Mt 11,25 tt ; Lc10, 21 tt), khi chúc lành cho trẻ em (x. Mt 19,13) và khi Ngài cầu nguyện cho Phêrô
(x. Lc 22, 32).
Toàn bộ sinh hoạt hằng ngày của Ngài đều bắt nguồn từ cầu nguyện. Chẳng hạn, Ngài rút lui vào xa
mạc hoặc lên núi cầu nguyện (x. Mc 1, 35; 6, 46; Lc 5.16; Mt 4,1; Mt 14, 23), Ngài dậy sớm cầu nguyện
cùng Thiên Chúa (x. Mt 14, 23-25; Mc 6, 46-48; Lc 6,12). Cho đến cuối đời, tại Tiệc Ly (x. Ga17,1-16),
trong cơn hấp hối (x. Mt 26, 36-44). Trên thập giá (x. Lc 23, 34-46; Mt 27, 46; Mc 15, 34). Thầy Chí Thánh
đã chứng tỏ rằng việc cầu nguyện tạo sinh khí cho thừa tác vụ cứu độ và cuộc Vượt Qua của Ngài. Khi phục
sinh từ cõi chết. Ngài sống mãi và cầu nguyện cho chúng ta(x. Hcb 7, 25) 120 .
105 GL 276, 2,1
106 LM 5; 18; Pastores dabo vobis 23; 26; 38; 46; 48; GL 246, 1; 276, 2,2
107 LM 5; 18; GL246, 4; 276, 2, 5; Pastores dabo vobis 26; 48
108 LM 18; Gl 239; Pastores dabo vobis 40; 50; 81
109 LM 18; GL 246, 2; 276, 2,3 : Pastores dabo vobis 26; 72
110 GL 1174, 1
111 LM 18;: Pastores dabo vobis 26; 37-38; 47; 51; 53; 72
112 GL 276, 2,5
113 LM 4; 13; 18 : Pastores dabo vobis 26; 47; 53; 70; 72
114 LM 18; GL 276, 2, 4 ; Pastores dabo vobis 80
115 LM 18; GL 246, 3; 276, 2,5 : Pastores dabo vobis 36; 38; 45; 82
116 LM 18; Pastores dabo vobis 26; 37-38; 47; 51; 53;72
117 LM 18c
118 Gioan Phaolô II thư gửi các LM dịp Thứ Năm Tuần Thánh 1979; Pastores dabo vobis 80
119 Possidius, Vita Santcti Aurelii Augustini 31, PL 32, 63-66
120 Luật chung PV Giờ Kinh số 3, 4
Theo gương Đức Kitô, Linh Mục phải biết duy trì lòng nhiệt thành và con số những lúc thinh lặng và
cầu nguyện để vun xới và đào sâu mối tương quan hiện sinh với Ngôi Vị sống động của Chúa Giêsu.
Bắt trước Giáo Hội cầu nguện
41. Để trung thành với cam kết “ở lại với Đức Giêsu” Linh Mục cần phải biết bắt chước Giáo Hội cầu
nguyện.
Khi phân phát lời Chúa mà chính ngài đã lãnh nhận với niềm vui, Linh Mục sẽ nhớ lời nhắn nhủ mà
Đức Giám Mục đã nói với Ngài trong ngày thụ phong : các con đã vui mừng lãnh nhận Lời Chúa, các con
hãy đem ra phân phát cho mọi người. Khi suy gẫm Luật Chúa, các con hãy chú tâm tin điều các con đọc, dạy
điều các con tin và thi hành điều các con dạy. Vậy giáo lý các con phải nên lương thực nuôi Dân Thiên
Chúa. Hương thơm đời sống các con phải nên niềm vui thú cho các tín hữu Đức Kitô, để lời nói và gương
lành các con xây dựng nhà Thiên Chúa và Hội thánh. Cũng thế, khi cử hành các Bí Tích đặc biệt là Bí Tích
Thánh Thể: các con phải ý thức việc các con làm, phải noi theo điều các con thực hiện, nghĩa là khi cử hành
mầu nhiệm Chúa chịu chết và sống lại, các con cố gắng chế ngự thân xác khỏi nết xấu và tiến bước trong đời
sống mới. Và sau cùng, đề cập đến việc hướng dẫn mục vụ Thiên Chúa để Ngài dẫn dắt họ đến cùng Chúa
Cha. Nhờ Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần : “Các con hãy luôn luôn ngắm nhìn gương sáng của Mục Tử
Tốt Lành: Người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ, Người đến để tìm kiếm và cứu rỗi kẻ hư
mất” 121 .
Cầu nguyện là hiệp thông.
42. Được vững mạnh nhờ mối liên kết đặc biệt giữa ngài với Chúa, Linh Mục biết đương đầu với
những lúc cảm thấy cô đơn giữa những người khác ; ngài phải mạnh mẽ lặp lại sự kết hợp với Chúa Kitô
trong Bí Tích Thánh Thể, là nơi ẩn nấu và chốn an nghỉ tốt nhất của ngài. Như thế Đức Giêsu luôn ở với
Chúa Cha ngay khi Ngài chỉ có một mình (x. Lc 3, 21; Mc 1, 35) 122 . Linh Mục cũng phải là người tìm hiệp
thông với Thiên Chúa trong sự cô đơn. Vì thế có thể nói như Thánh Ambroise: “Tôi không bao giờ tôi cảm
thấy ít cô đơn hơn khi tôi một mình” 123 . Chính ở bên cạnh Chúa mà Linh Mục tìm được sức mạnh và phương
thế đem ta đến gần Thiên Chúa, khơi dậy đức tin và thúc đẩy hành động và chia sẻ.
ĐỨC ÁI MỤC VỤ
Thể hiện đức ái của Đức Kitô
43. Đức ái mục vụ là nguyên lý nội tại và năng động phối hợp mọi hoạt động mục vụ của Linh Mục.
Trong bối cảnh văn hóa xã hội và tôn giáo mà ngài đang sống, đức ái mục vụ là phương thế thiết yếu để đưa
con người vào đời sống ân sủng.
Được hướng dẫn bởi đức ái đó, hoạt động thừa tác vụ phải được biểu lộ đức ái của Chúa Kitô. Như thế
Linh Mục phải biết diễn tả các hành vi và phong cách của Chúa cho đến chỗ tận hiến chính mình để mưu ích
cho đoàn chiên được giao phó 124 .
Đồng hóa đức ái mục vụ của Đức Kitô để biến đời mình là mục tiêu cho những cố gắng và hy sinh liên
tục của Linh Mục. Đức ái này không nghỉ ngơi và không chỉ đạt được một lần là đủ. Luôn luôn và khắp nơi,
các thừa tác viên của Đức Kitô cảm thấy bị bắt buộc phải sống và làm chứng cho thực tại này, ngay cả khi vì
tuổi tác, ngài không còn lãnh trách nhiệm mục vụ cụ thể nào.
Chủ nghĩa công chức
44. Ngày nay, đức ái mục vụ có nguy cơ mất hết ý nghĩa do cái mà người ta có thể gọi là “chủ nghĩa
công chức” (Fonctionnalisme). Thật ra, cũng không hiếm thấy nơi một vài Linh Mục ảnh hưởng của một
121 Sách Lễ RôMa. Lễ phong chức Giám Mục, Linh Mục, và Phó Tế chương II số 157, Ấn bản 1990 trang 87-88
122 LM 18, Thượng Hội Đồng Giám Mục tài liệu về chức LM thừa tác Cultimis Teporibus (30-11-71) II, I, 3 :Pastores
dabo vobis 46-47 Catéchèse hop chung (2-6-93)
123 “Numquam chim minus solus sum, quăm cum solus esse videor” : Epist 33
124 LM 14; Pastores dabo vobis 23
não trạng có nguy cơ thu hẹp chức tư tế thừa tác vào những khía cạnh thuần túy công vụ. “Làm” Linh Mục,
thi hành một số dịch vụ đặc thù và bảo đảm vài ba công vụ là tất cả lẽ sống của đời Linh Mục. Quan niệm
hẹp hòi này về căn tính và thừa tác vụ Linh Mục có nguy cơ đưa cuộc sống Linh Mục vào một sự trống rỗng
thường được bù trừ bằng những lối sống không phù hợp với thừa tác vụ của mình.
Một khi biết mình là thừa tác viên của Đức Kitô và của Hôn Thê Ngài. Linh Mục sẽ tìm kiếm trong
cầu nguyện, học hỏi và đọc sách thiêng liêng, sức mạnh cần thiết để chiến thắng mối hiểm nguy này 125 .
RAO GIẢNG LỜI CHÚA
Trung thành với Lời
45. Đức Kitô đã trao phó cho các Tông Đồ và Giáo Hội sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho mọi người.
Thông truyền đức tin là vén mở, loan báo và đào sâu ơn gọi làm Kitô hữu, tức là lời mời gọi của Thiên
Chúa nói với mỗi người để biểu lộ mầu nhiệm cứu độ đồng thời cho thấy chỗ đứng trong tương quan với
mầu nhiệm này, là làm nghĩa tử trong Chúa Con 126 . Hai khía cạnh này được diễn tả cách tổng hợp trong Kinh
Tin Kính, đó là một trong những lối diễn tả đức tin có thẩm quyền nhất mà Giáo Hội đã dùng để luôn đáp lại
lời mời gọi của Thiên Chúa 127 .
Có hai đòi hỏi của thừa tác vụ Linh Mục, giống như hai mặt của một đồng tiền. Một đàng, là tính chất
thừa sai trong việc truyền bá đức tin. Thừa tác vụ Lời Chúa không thể tách hoặc rời xa cuộc sống con người,
trái lại, nó phải trực tiếp qui chiếu vào ý nghĩa đời sống con người, của mọi người và như vậy phải đi vào
các vấn nạn gay cấn nhất được đặt ra cho lương tâm con người.
Đàng khác, có một đòi hỏi phải chân thực và phù hợp với đức tin của Giáo Hội là kẻ nắm giữ Chân lý
về Thiên Chúa và về con người. Thực tại này phải được sống với một ý thức trách nhiệm cao và hiểu rõ đây
là vấn đề hết sức quan trọng, vì liên quan đến đời sống con người và ý nghĩa của sự hiện hữu con người.
Để thừa tác vụ Lời Chúa đạt kết quả, và trong khi vẫn lưu tâm đủ đến bối cảnh này, Linh Mục phải
dành ưu tiên cho chứng tá đời sống, nó biểu lộ sức mạnh tình yêu Thiên Chúa và làm cho lời Ngài rao giảng
có tính thuyết phục. Đàng khác, ngài phải dành chỗ cho việc rao giảng minh nhiên mầu nhiệm Đức Kitô cho
các kẻ tin, kẻ chưa tin và người ngoài Kitô giáo: ngài phải lưu tâm đến việc dạy Giáo Lý là việc trình bày
Giáo Lý của Giáo Hội theo thứ tự và có tổ chức, đến việc áp dụng chân lý Mạc Khải vào việc giải quyết các
trường hợp cụ thể 128 .
Sự nhận thức tuyệt đối phải gắn bó trung thành với Lời Chúa và Thánh Truyền, để thật sự là người
muôn đệ và để nhận biết chân lý(x. Ga 8,31-32) đã luôn theo sát lịch sử đời sống thiêng liêng của Linh Mục.
Ý tưởng này đã được Công Đồng chung Vatican II nhắc lại 129 .
Trong xã hội hiện nay, được ghi dấu bởi thuyết duy vật lý thuyết và thực hành, bởi thuyết chủ quan và
óc đối kháng, càng cần phải trình bày Phúc Âm như “quyền năng của Thiên Chúa để cứu các kẻ tin” (Rm 1,
16). Khi biết rằng “đức tin là do rao giảng, và rao giảng lại dựa vào Lời Đức Kitô ”(Sđd 10, 17) các Linh
Mục sẽ dành mọi năng lực của mình để đáp ứng với sứ mạng này là sứ mạng hàng đầu trong thừa tác vụ của
các ngài. Thật vậy các ngài không chỉ là chứng nhân, mà còn là sứ giả và kẻ truyền bá đức tin 130 .
Thừa tác vụ này trong sự hiệp thông phẩm trật ban quyền cho các ngài được loan báo đức tin Công
giáo một cách có uy quyền và làm chứng một cách chính thức đức tin của Giáo Hội. Thật vậy, Dân Thiên
Chúa “được tập họp trước hết do Lời Thiên Chúa hằng sống, mà thuận lợi đặc biệt nhất là từ miệng các Linh
Mục” 131 .
125 GL 279, 1
126 MK 5; GLCG 1-2; 142
127 GLCG số 150-152; 185-187
128 Catéchèse. Họp chung (21-4-93) 6; L’Osservatore Romano (22-4-93)
129 MK 25
130 GL 757, 762, 776
Để có tính Chất xác thực, Lời phải được loan truyền “không có sự xảo quyệt, và xuyên tạc nhưng giải
bày sự thật trước mặt Thiên Chúa” (2Cr 4, 2). Với sự chính chắn trách nhiệm, Linh Mục phải tránh làm sai
lệch, giản lược, bóp méo hay giảm nhẹ nội dung sứ điệp thần linh. Thật vậy nhiệm vụ của ngài “không phải
là dạy sự khôn ngoan của mình, nhưng là Lời Thiên Chúa và mời gọi mọi người hoán cải và nên Thánh” 132 .
Do đó việc rao giảng không thể thu hẹp vào sự trao đổi ý kiến cá nhân, làm chứng bằng kinh nghiệm
bản thân hay giải thích những khía cạnh tâm lý 133 , xã hội học hoặc nhân đạo. Đàng khác, nó cũng không thể
bị lệ thuộc thái quá vào khoa hùng biện, thường gặp nơi các phương tiện truyền thông đại chúng. Ở đây,
phải loan báo một Lời mà người ta không được sử dụng tùy tiện, vì Lời đó đã được giao cho Giáo Hội gìn
giữ, suy gẫm và truyền lại một cách trung thành 134 .
Lời và đời sống
46. Đối với Linh Mục, ý thức sứ mạng rao giảng Phúc Âm phải luôn được cụ thể hóa về phương diện
mục vụ. Vì thế ngài phải mang sức sống, dưới ánh sáng Lời Chúa, vào các tình huống và môi trường ngài thi
hành thừa tác vụ.
Muốn đạt hiệu quả và được người ta tin, điều quan trọng là Linh Mục trong viễn ảnh đức tin và thừa
tác vụ của mình – với tinh thần phê bình xây dựng, cần phải biết những ý thức hệ, ngôn ngữ, những tranh
luận văn hóa, những tư tưởng thịnh hành vẫn được quảng bá trên các phương tiện truyền thông và gây ảnh
hưởng đến phần lớn các não trạng.
Được thúc đẩy bởi lời Thánh Tông Đồ: “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9, 16)
Linh Mục phải biết sử dụng mọi phương tiện truyền thông mà khoa học và kỹ thuật hiện đại cung cấp.
Vẫn biết Chắc là không phải tất cả tùy thuộc vào những phương tiện hay khả năng nhân loại : ơn Chúa
có thể mang lại kết quả một cách độc lập với công việc của loài người. Nhưng theo chương trình của Thiên
Chúa, sự rao giảng lời Chúa là con đường đặc cách để thông truyền đức tin và thực thi sứ mạng Phúc Âm
hóa.
Vì nhiều người ngày nay chưa nghe biết Đức Kitô, nên Linh Mục phải luôn luôn đặt cho mình câu hỏi
đầy lo âu này: “làm sao họ có thể tin nếu không được nghe nói đến, và làm sao cho họ được nghe nếu không
có ai rao giảng?” (Rm 10, 14). Để trả lời cho những câu hỏi này, Linh Mục sẽ cảm thấy cần lắng nghe Kinh
Thánh một cách đặc biệt, nhờ học hỏi khoa chú giải lành mạnh nhất là của các giáo phụ, nhờ suy gẫm. Theo
những phương thức khác nhau mà truyền thống đạo đức của Giáo Hội thường áp dụng, để có thể thấu hiểu
với lòng yêu mến 135 .
Hướng tới mục tiêu đó, Linh Mục sẽ cảm thấy cần phải đặc biệt chuyên cần soạn xa hay soạn gần các
bài giảng Phụng Vụ, quan tâm tới nội dung, sự quân bình giữa lý thuyết và thực hành, sư phạm và kỹ thuật
trình bày, đồng thời cũng quan tâm đến sắp xếp ngôn từ cho xứng hợp với giá trị của bài giảng và của cử
tọa 136 .
Lời Chúa và việc dạy Giáo Lý:
47. Dạy giáo lý là một phần quan trong của sứ mạng rao giảng Phúc Âm, vì nó là khí cụ đặc biệt để
giáo dục và huấn luyện đức tin cho thuần thục 137 .
Với tư cách là cộng tác viên và người ủy quyền của Giám Mục, Linh Mục có trách nhiệm thúc đẩy,
phối hợp và điều hành sinh hoạt Giáo Lý trong cộng đoàn được trao phó. Điều quan trọng là ngài cần biết
131 LM 4
132 Pastores dabo vobis 26
133 Gioan Phaolô II Họp Giáo Lý (21-4-93)
134 MK 10; Gioan Phaolô II Catéchèse họp chung 21-4-93
135 Thomas d’Aquino, tổng luận thần học I, q.43, a. 5
136 GL 769
137 Gioan Phaolô II tông huấn Cathechesi Tradendae (16-10-79) 18
sắp xếp sinh hoạt này vào một trương trình Phúc Âm hóa có tổ chức, bảo đảm một cách đặc biệt dạy giáo lý
của cộng đoàn mình hiệp thông với Đức Giám Mục, với Giáo Hội địa phương và với Giáo Hội toàn cầu 138 .
Cách riêng, ngài biết tạo nên một trách nhiệm đúng đắn và hợp thời, một sự cộng tác trong việc dạy
Giáo Lý, nơi các thành viên của những Hội Dòng sống đời tận hiến, và của những Hiệp Hội Tông Đồ cũng
như của những giáo dân 139 được chuẩn bị đầy đủ, và ngài phải tỏ lòng biết ơn và quý trọng cộng tác dạy
Giáo Lý của họ.
Ngài cần lưu tâm đặc biệt đến việc đào tạo đầu tiên và thường xuyên cho các giảng viên Giáo Lý, các
hội đoàn và phong trào. Trong mức độ có thể, Linh Mục phải là “Giáo Lý viên của các Giáo Lý viên”, cùng
với những người này tạo nên một cộng đoàn đích thực gồm những môn đệ của Chúa, mà học viên Giáo Lý
có thể xem đó như cộng đoàn mẫu mực.
Là thầy dạy 140 và là nhà giáo dục đức tin 141 , Linh Mục lo sao cho việc dạy Giáo Lý chiếm môt địa vị ưu
tiên trong nền giáo dục Kitô giáo tại gia đình, trong trường công giáo, trong việc huấn luyện các phong trào
Tông Đồ.v.v. ngài cũng lo cho tất cả mọi tầng lớp giáo dân được học giáo lý như trẻ em, thiếu nhi, thanh
niên, người lớn, người già. Mặt khác, ngài cũng biết truyền đạt nội dung Giáo Lý bằng cách sử dụng mọi
phương pháp sư phạm và các phương tiện truyền thông có thể giúp tín hữu, theo cách phù hợp với đặc điểm,
khả năng, tuổi tác và điều kiện sống của họ, có thể lĩnh hội một cách hoàn hảo Giáo Lý Công Giáo và đem
ra thực hành cách xứng hợp hơn 142 .
Để đạt mục đích đo, Linh Mục cần dựa vào cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo như sách tham
chiếu chính yếu. Thật vậy, thủ bản này tạo thành quy phạm và chính thức cho việc giáo huấn của Giáo Hội 143
138 GL 768
139 GL 776
140 LM 9
141 Sđd 6
142 GL 779
143 Tông Huấn Fidei Depositum 4 (11-11-92), 4
BÍ TÍCH THÁNH THỂ
Mầu Nhiệm Thánh Thể
48. Nếu dịch vụ Lời Chúa là yếu tố nền tảng của thừa tác vụ Linh Mục, thì trọng tâm của thừa tác vụ
ấy là Thánh Thể, đó là sự hiện diện thật sự trong thời gian của Hy tế duy nhất và vĩnh cửu của Đức Kitô 144 .
Tưởng nhớ sự chết và phục sinh của Chúa Kitô dưới hình thức Bí Tích, tái diễn thật sự và hữu hiệu Hy
Tế Cứu Độ duy nhất, cội nguồn và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo và của mọi cuộc Phúc Âm hóa 145 ,
Thánh Thể là nguyên lý phương tiện và cứu cánh của thừa tác vụ Linh Mục bởi vì tất cả mọi thừa tác vụ của
Giáo Hội và mọi công việc Tông Đồ đề liên kết chặt chẽ với Thánh Thể và được trao ban vì Thánh Thể 146 .
Được thánh hiến để lưu truyền Hy Lễ Thánh, Linh Mục biểu lộ căn tính của mình một cách rõ ràng nhất.
Thật vậy, có một sự nối kết mật thiết giữa Thánh Thể là trung tâm với đức ái mục vụ và duy nhất tính
của đời Linh Mục 147 . Trong điểm nối kết này, ngài tìm được những chỉ dẫn quyết định cho cuộc hành trình
nên Thánh mà ngài được kêu gọi cách đặc biệt.
Bởi vì, người thừa tác viên cho Đức Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm và đời đời, mượn trí khôn, ý chí,
tiếng nói và đôi tay, để qua thừa tác vụ đó, người có thể dâng cho Chúa Cha Hy Lễ Bí Tích của ơn cứu
chuộc, nên Linh Mục cũng phải có những phẩm giá của Thầy mình và như Thầy, sống như một quà tặng cho
anh em mình. Vì thế, ngài phải học biết kết hợp mật thiết với lễ vật, đặt trên bàn thờ hy lễ cả cuộc đời mình
như dấu chỉ của tình yêu nhưng không và ân cần của Thiên Chúa.
Cử hành Thánh Thể
49. Cần phải nhắc lại giá trị không gì thay thế được của Thánh Thể 148 mà Linh Mục cử hành, cả khi
không có giáo dân tham dự. Ngài phải sống Thánh Lễ như trung tâm điểm của một ngày sống và của thừa
tác vụ hằng ngày, là hoa quả của một mong ước chân thành, là dip gặp gỡ sâu xa và đem lại hiệu quả với
Đức Kitô, ngài phải hết sức chú tâm dâng lễ cho sốt sắng và đặt vào đó cả tâm trí và con tim mình.
Trong một nền văn hóa luôn nhạy bén với lối truyền tin bằng dấu chỉ và hình ảnh, Linh Mục phải chú
ý đến những gì có thể nâng cao giá trị và tính chất linh thánh của cử hành Thánh Thể. Điều quan trọng trong
cử hành là phải chú trọng tới sự xứng hợp và sạch sẽ nơi dâng lễ, tới kiến trúc bàn thờ và Nhà Tạm 149 , tới vẻ
thanh cao của chén lễ và áo lễ 150 , của bài hát 151 , âm nhạc 152 , những lúc yên lặng v.v… 153 Tất cả những yếu tố
này có thể giúp tham dự Hy Tế Thánh Thể tốt hơn. Thật vậy, việc thiếu lưu tâm đến những khía cạnh biểu
trưng của Phụng Vụ, hoặc hơn nữa, sự cẩu thả, vội vã, hời hợt và vô trật tự sẽ làm mất hết ý nghĩa đồng thời
làm suy giảm chức năng tăng trưởng đức tin của Phụng Vụ 154 . Ai cử hành cẩu thả chứng tỏ yếu kém đức tin
và không thể dạy kẻ khác đạt tới đức tin. Ngược lại, cử hành tốt tạo thành việc dạy Giáo Lý đầu tiên và
quan trọng nhất về Hy Lễ Thánh.
Như thế, khi vận dụng hết khả năng để làm sống động việc cử hành Thánh Thể cùng với sự tham gia
của mọi tín hữu, Linh Mục phải biết theo sát nghi thức đã được qui định trong các sách Phụng Vụ đã được
thẩm quyền chuẩn y, mà không thêm bớt hay thay đổi bất cứ điều gì 155 .
144 Catéchèse họp chung (12-5-93), 3
145 LM 5
146 Sđd
147 Thánh Justinô Apologia I, 67; Thánh Augustinô, In Johannis Evangelium Tractatus 26, 13-15.
148 GL 904
149 PV 128
150 Sđd 122-124
151 Sđd 112; 114; 116
152 Sđd 120
153 Sđd 30
154 GL 899, 3
155 PV 22; GL 846, I
Các Đấng Bản Quyền, các Bề Trên Hội Dòng, các vị lãnh đạo các Hiệp Hội Tông Đồ có bổn phận,
ngoài việc làm gương, phải lo sao cho các quy luật Phụng Vụ liên quan đến việc cử hành Thánh Thể được
trung thành tuân giữ ở mọi nơi.
Các Linh Mục tế lễ hoặc đồng tế bắt buộc phải mặc phẩm phục theo chữ đỏ 156 .
Chầu Thánh Thể.
50. Tính cách trung tâm của Thánh Thể phải thể hiện không những trong việc cử hành Hy Lễ một cách
sống động và xứng đáng, mà còn trong việc Chầu Thánh Thể thường xuyên. Lúc đó Linh Mục còn xuất hiện
như gương mẫu cho cộng đoàn về lòng tôn sùng Bí Tích Thánh Thể và siêng năng suy gẫm, mỗi khi có thể,
trước Chúa đang hiện diện trong Nhà Tạm. Thật đáng ước mong các Linh Mục phụ trách cộng đoàn bỏ ra
nhiều thời giờ cho việc Chầu chung và dành cho Thánh Thể trong Thánh Lễ cũng như ngoài Thánh Lễ nhiều
chú tâm và vinh dự hơn bất cứ nghi thức hoặc cử điệu nào khác. “Đức tin và lòng mến đối với Thánh Thể
không cho phép để Đức Kitô cô đơn trong Nhà Tạm” 157 .
Một thời điểm đặc biệt để Chầu Thánh Thể có thể là Phụng Vụ các Giờ Kinh, vì nó nối dài suốt cả
ngày, hy lễ ngợi khen và tạ ơn mà trung tâm và nguồn gốc của hy lễ ấy là Thánh Lễ. Phụng Vụ Giờ Kinh,
trong đó Linh Mục kết hợp với Chúa Kitô, là tiếng nói của Giáo Hội cho toàn thế giới, nên được đọc chung
khi có thể và dưới những hình thức tiện lợi, để nó trở nên “ người thông ngôn và là chiếc xe chở tiếng nói
của cả vũ trụ hát mừng vinh quang Chúa và cầu xin sự cứu độ cho con người” 158 . Các Kinh Sĩ vốn dành cho
một sự long trọng kiểu mẫu cho cử hành này. Người ta luôn tránh biến việc cử hành này, chung hoặc cá
nhân, thành một “bổn phận” suông, được chu toàn một cách máy móc, chỉ là một bài đọc vội vàng mà không
lưu ý đến ý nghĩa bản văn.
BÍ TÍCH GIẢI TỘI
Thừa tác viên của sự hòa giải
51. Chúa Thánh Thần là ơn sự Phục Sinh cho các Tông Đồ để tha thứ : “các con hãy nhận lấy Thánh
Thần các con tha tội ai, thì tội cho ai, thì tội họ được tha, các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ” (Ga
20, 21-23). Đức Kitô đã giao nhiệm vụ hòa giải con người với Thiên Chúa chỉ riêng cho các Tông Đồ và
cho những kẻ kế vị các ngài trong sứ vụ này. Như thế, theo ý muốn của Đức Kitô chỉ các Linh Mục là những
thừa tác viên của Bí Tích Hòa Giải 159 . Cũng như Đức Kitô, các ngài được sai đi kêu gọi tội nhân hối cải và
đưa họ về với Chúa Cha nơi tòa án của lòng thương xót.
Sự giao hòa bí tích tái lập tình thân thiết với Chúa Cha và với mọi con cái trong gia đình của Ngài là
Giáo Hội được tươi trẻ trở lại và được xây dựng trong mọi chiều kích : toàn cầu, giáo phận, giáo xứ 160 .
Mặc dù có điều đáng buồn là người ta đánh mất ý thức về tội, điều này khá phổ biến trong văn hóa
ngày nay, Linh Mục phải thi hành một cách vui vẻ và quảng đại thừa tác vụ huấn luyện lương tâm, dạy bảo
vệ sự tha thứ và bình an.
Điều cần thiết là ngài biết đồng hóa theo một nghĩa nào đó, với Bí Tích này, và bắt chước thái độ của
Chúa Kitô, biết thương xót cúi mình xuống nhân loại bị tội lỗi làm tổn thương như người Samari tốt bụng.
Như thế ngài cho thấy sự mới mẻ trong chiều kích chữa trị của Bí Tích Sám Hối là chữa lành và tha tội 161 .
Tận tụy trong thừa tác vụ Hòa Giải
156 GL 929; Luật tổng quát sách Lễ Rôma 81; 298; Thánh Bộ Bí Tích và PV thánh; Huấn Thị Liturgiae Instaurationes
(5-7-70), 8c
157 Catéchèse Họp chung (9-6-93) Thánh bộ Nghi lễ: Huấn thị Eucharisticum Mysterium (25-5- 67) GLCG số 1418
158 Gioan Phaolô II Cathechèse họp chung (2-6-93), 5; Phụng Vụ 99-100
159 CĐ Trente khóa VI De Justificatione c.14; khóa XIV De poenitentia. Khóa XXIII de ordine;L M 2,5; GL 965
160 GLCG 1443-1445
161 GL 966,1; 978; 981; Gioan Phaolô, Diễn văn về sự thống hối (27-3-93)
52. Do nhiệm vụ 162 cũng như do chức thánh, Linh Mục phải dành thời giờ và nghị lực để nghe giáo dân
xưng tội, theo kinh nghiệm, họ thường vui lòng lãnh nhận Bí Tích này khi nào họ gặp thấy những Linh Mục
sẵn sàng. Điều đó đúng ở mọi nơi nhưng nhất là các nhà thờ ở những vùng có đông người lui tới nhất, và tại
các đền thánh, nơi đó người ta có thể tổ chức một sự cộng tác huynh đệ và trách nhiệm giữa các Linh Mục
Dòng hoặc cao tuổi.
Mỗi Linh Mục phải tuân theo quy định của Giáo Hội, bênh vực và cổ võ giá trị của việc xưng tội cá
nhân và của việc thú tội mỗi người một cách chân thành trong sự đối thoại trực tiếp với cha giải tội 163 , luật
dành việc xưng tội và giải tội tập thể cho những trường hợp đặc biệt đã dự liệu trong những điều kiện cần
thiết 164 . Như thế cha giải tội sẽ phải hướng dẫn lương tâm của hối nhân bằng một vài lời khuyên cho dù vắn
tắt những phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, nhằm giúp cá nhân hướng đến sự hoán cải và ảnh hưởng sâu
xa đến con đường thiêng liêng của kẻ ấy, cũng như bằng cách ra việc đền tội xứng hợp 165 .
Trong mọi trường hợp Linh Mục phải biết duy trì việc cử hành Bí Tích Hòa Giải ở mức độ Bí Tích,
bằng cách vượt thắng nguy cơ giảm thiểu việc cử hành ấy vào một sinh hoạt thuần túy tâm lý hay chỉ có tính
cách hình thức.
Ngoài ra, điều đó còn thể hiện rõ trong cách trung thành tuân giữ luật lệ hiện hành về nơi giải tội và
tòa giải tội 166 .
Sự cần thiết phải xưng tội
53. Như bất kỳ giáo dân tốt lành nào, Linh Mục cũng cần xưng thú tội lỗi và những yếu đuối của mình.
Ngài là người đầu tiên biết rằng việc thực hành Bí Tích này củng cố đức tin và đức mến Chúa yêu người.
Để có được điều kiện tốt nhất mà trình bày vẻ đẹp của Bí Tích Sám Hối, thừa tác viên của Bí Tích này
cần làm chứng cá nhân bằng cách đi trước các tín hữu khác trong việc lãnh ơn tha thứ. Kinh nghiệm này
còn là điều kiện đầu tiên để tái đề cao giá trị mục vụ của Bí Tích Hòa Giải. Trong chiều hướng đó, thật là tốt
đẹp giáo dân biết và thấy chính Linh Mục của họ cũng xưng tội đều đặn 167 . “Cuộc đời Linh Mục sẽ không
tránh khỏi xuống dốc nếu chính ngài, vì lơ là hoặc vì lý do nào đó, không thường xuyên và với đức tin và
lòng đạo đức, chạy đến với Bí Tích thống hối. Nơi một Linh Mục không xưng tội nữa, hay xưng tội kém, thì
con người Linh Mục và sứ vụ Linh Mục bị ảnh hưởng mau chóng và chính cộng đoàn mà ngài là chủ chăn
sẽ nhận thấy ngay” 168 .
Linh hướng cho mình và cho kẻ khác.
54. Song song với Bí Tích Hòa Giải, Linh Mục không quên thực thi thừa tác vụ linh hướng. Việc tái
khám phá và truyền bá thực hành này, cũng có xảy ra ở bên ngoài việc ban hành Bí Tích Thống Hối, là một
thiện ích lớn lao cho Giáo Hội trong thời đại này 169 . Thái độ quảng đại và tích cực của Linh Mục khi thực
hành việc linh hướng là một cơ hội quan trọng để khám phá và nâng đỡ các ơn gọi Linh Mục và các hình
thức khác của đời sống tu trì.
Để cải thiện đời sống thiêng liêng của mình, chính các Linh Mục cũng cần phải nhận linh hướng. Bằng
cách đặt sự hướng dẫn tâm hồn mình vào tay của người anh em khôn ngoan ngài sẽ chín chắn hơn, ngay từ
đầu thừa tác vụ, trong nhận thức rằng không nên bước đi một mình trên những con đường sự sống thiêng
162 GL 986
163 GL 960; Gioan Phaolô II Tông Huấn Redemptor hominis,20
164 GL 961- 063; Phaolô VI Huấn Đức (20-5-78); Gioan Phaolô II Huấn đức (30-1-81); Tông thư Recconciliatioet
Poenitentia (2-12-84),33
165 GL 978,1;981
166 GL 964
167 GL 276, 5. 5; LM 18b
168 Gioan Phaolô II Tông thư Reconciliatio et Poenitentia (2-12-84). Pastores dabo vobis 26
169 Gioan Phaolô II Tông thư Reconciliatio et Poenitentia, 32
liêng và dấn thân mục vụ, khi sử dụng phương thế huấn luyện hữu hiệu này, đã được thử luyện kỹ càng
trong Giáo Hội, các Linh Mục được hoàn toàn tự do chọn người hướng dẫn.
NGƯỜI HƯỚNG DẪN CỘNG ĐOÀN
Linh Mục cho cộng đoàn
55. Linh Mục cũng được mời gọi đương đầu với những đòi hỏi tiêu biểu của một khía cạnh khác trong
thừa tác vụ, đó là chăm lo sức sống cho cộng đoàn được giao phó, điều ấy ngài thể hiện qua chứng tá đức ái.
Là mục tử của cộng đoàn, Linh Mục sống và hiện hữu vì nó ; vì nó mà cầu nguyện, học hỏi, làm việc
và hy sinh. Và chính vì cộng đoàn mà ngài sẵn sàng thí mạng, yêu mến nó như Đức Kitô, trao cho nó tất cả
tình yêu và sự qúy mến 170 , hao tốn sức lực và thời giờ lo cho nó nên hình ảnh của Giáo Hội Hiền Thê Đức
Kitô, càng ngày càng xinh đẹp hơn, xứng đáng được Chúa Cha quý chuộng và Chúa Thánh Thần yêu
thương.
Chiều kích hôn ước này của đời sống Linh Mục mục tử buộc Linh Mục hướng dẫn cộng đoàn bằng sự
phục vụ hết mình toàn thể cộng đoàn và từng thành viên, soi sáng lương tâm họ bằng chân lý Mạc Khải,
dùng quyền bính bảo vệ đời sống Kitô hữu theo đúng tinh thần Phúc Âm, sửa dạy các lỗi lầm, tha thứ, săn
sóc các vết thương, an ủi những ai sầu khổ và thăng tiến tình huynh đệ 171 .
Toàn bộ những ân cần tế nhị và phức tạp nói trên, cộng thêm chứng từ đức ái luôn luôn trong sáng và
hữu hiệu, cùng biểu lộ sự hiệp thông sâu xa phải được thực thi giữa Linh Mục với cộng đoàn của ngài, như
nối dài và hiện tại hóa hiệp thông với Thiên Chúa, Đức Kitô và Giáo Hội 172 .
Sentire cum Ecclesia- đồng cảm với Giáo Hội.
56. Để làm một người hướng dẫn tốt cho dân mình, Linh Mục cũng phải để ý nhận diện các dấu chỉ
thời đại, từ những dấu chỉ bao la liên quan đến Giáo Hội toàn cầu và đường đi của Giáo Hội trong lịch sử
loài người, cho đến những dấu chỉ gần gũi nhất với tình trạng cụ thể của cộng đoàn.
Sự phân định đó đòi hỏi phải cập nhật hóa liên tục và thích đáng việc nghiên cứu các vấn đề thần học
và mục vụ, biết suy xét khôn ngoan các dữ kiện xã hội, văn hóa và khoa học của thời đại.
Trong khi chu toàn thừa tác vụ, Linh Mục phải biết diễn dịch đòi hỏi này bằng một thái độ liên lỉ và
chân thành đồng cảm với Giáo Hội (sentire cum Ecclesia), để các ngài luôn làm việc trong sự hiệp thông với
Đức Giáo Hoàng, với các Giám Mục, với các anh em, cũng như với các tín hữu tận hiến do việc tuyên khấn
giữ các lời khuyên Phúc Âm và nơi các giáo dân khác.
Trong khi cử hành sứ vụ, Linh Mục sẽ không quên tìm kiếm, theo những hình thức hợp pháp và tùy
theo khả năng từng người, sự hợp tác của các tín hữu được hiến thánh và của giáo dân thường.
ĐỘC THÂN LINH MỤC
Ý muốn vững chắc của Giáo Hội
57. Xác tín vào những động cơ thần học và mục vụ sâu xa làm cơ sở cho mối tương quan giữa sự độc
thân và chức Linh Mục, được soi sáng bằng chứng tá còn giá trị ngày hôm nay của rất nhiều cuộc đời Linh
Mục vững mạnh về mặt thiêng liêng và Phúc Âm, mặc dầu xảy ra nhiều trường hợp đau thương, Giáo Hội
đã tái xác nhận, qua Công Đồng Vatican II và qua huấn giáo của Giáo Hoàng về sau, “ý muốn mãnh liệt duy
trì luật đòi buộc tình trạng độc thân vĩnh viễn tự do lựa chọn cho các ứng viên chức Linh Mục theo nghi lễ
Latinh” 173 .
170 Pastores dabo vobis 22-23; Thư mục vụ Mulieris Dignitatem (15-8-88), 26
171 LM 6; GL 529, 1
172 Thánh Gioan Kim Khẩu. De sacerdotio III, 6 PG 46, 643-644: “việc hạ sinh thiêng liêng các linh hồn là đặc quyền
của các Linh Mục, các ngài hạ sinh họ bằng phép Rửa, nhờ các ngài, chúng ta được mặc lấy Đức Kitô, chúng ta được
mai táng với Chúa Con và trở thành chi thể của Đầu (x. Rm 6,1; GL 3, 27). Vì thế chúng ta phải kính trọng các ngài
không những hơn các vua chúa mà còn hơn cha mẹ mình, vì các vị này chỉ sinh ta ra bằng máu và ý muốn của xác
thịt (x. Ga 1, 13), trái lại, các Linh Mục sinh ra ta làm con cái Chúa, các ngài là khí cụ của sự hạ sinh có phúc này,
của sự tự do của ta và làm cho ta trở nên thừa tự trong ân sủng”.
Thật vậy, sự độc thân là một ơn huệ mà Giáo Hội đã nhận lãnh và luôn chăm lo giữ gìn vì xác tín rằng
đó là một thiện ích cho mình và cho thế giới.
Những lý do thần học và thiêng liêng.
58. Như mọi giá trị Phúc Âm khác, độc thân thánh hiến cũng phải được sống như một sự mới mẻ
mang tính giải phóng, như một bằng chứng đặc biệt của việc theo Đức Kitô một cách triệt để và như dấu chỉ
thực tại cánh chung.
“Không phải mọi người đều hiểu được lời này, nhưng chỉ những ai điều ấy đã được ban cho. Vì có
những người yêm hoạn bởi tự lòng Mẹ đã sinh ra như vậy; và có những người yêm hoạn bởi người ta làm
cho nên yêm hoạn, và có những người yêm hoạn bởi mình làm cho mình thành yêm hoạn vì Nước Trời. Ai
hiểu nổi thì hãy lo hiểu lấy”(Mt 19, 10 -12) 174 .
Muốn sống với tình yêu và quảng đại ơn huệ đã lãnh nhận, điều đặc biệt quan trọng là Linh Mục, ngay
khi còn thụ huấn tại chủng viện, phải hiểu những lý do thần học và thiêng liêng của kỷ luật Giáo Hội về sự
độc thân 175 . Sự độc thân, vì là ân huệ và đặc sủng của Thiên Chúa, đòi buộc sống tiết dục hoàn toàn và vĩnh
viễn vì Nước Trời, ngõ hầu các thừa tác viên thánh có thể sống khắng khít với Đức Kitô cách dễ dàng hơn,
với một con tim không chia sẻ và có thể hiến mình phục vụ Thiên Chúa và nhân loại cách tự do hơn 176 . Ngay
cả trước khi đương sự tỏ ý muốn sẵn sàng, thì kỷ luật Giáo Hội vẫn biểu lộ ý muốn của Giáo Hội và tìm ra
lý do tồn tại sâu thẳm trong mối liên hệ chặt chẽ giữa sự độc thân và chức thánh, đồng hình hóa Linh Mục
với Đức Giêsu Kitô, Đầu và Hiền Phu của Giáo Hội 177 .
Thư gởi tín hữu Ephêsô (x. 5, 25-27) thiết lập mối tương quan chặt chẽ giữa hiến tế tư tế của Đức Kitô
(x.5, 25) và sự thánh hóa Giáo Hội ( x. 5, 26) được yêu bằng tình yêu hôn nhân. Như thế một khi được cách
đặt một cách Bí Tích vào chức tư tế tình yêu độc hiến của Đức Kitô đối với Giáo Hội Hiền Thê trung thành
của Ngài, bằng cam kết sống bậc độc thân, Linh Mục diễn tả tình yêu ấy nay trở thành nguồn suối phát sinh
hiệu năng mục vụ.
Cho nên, sự độc thân không phải là một yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài đến thừa tác vụ Linh Mục, nó
càng không phải đơn thuần là một định chế do luật áp đặt là bơi vì (giữa nhiều lý do khác), người lãnh chức
thánh hoàn toàn hiểu biết và tự do cam kết 178 sau một thời kỳ chuẩn bị nhiều năm, và suy nghĩ kỹ càng cùng
cầu nguyện liên lỉ. Sau khi xác tín vững chắc rằng Đức Kitô ban cho ân huệ này vì lợi ích của Giáo Hội và
để phục vụ những người khác, Linh Mục chấp nhận sống độc thân suốt đời, củng cố ý muốn này trong lời
hứa đã tuyên đọc trong nghi thức Truyền Chức Phó tế 179 .
Vì tất cả những lý do trên, luật Giáo Hội một đàng xác quyết đặc sủng độc thân bằng cách cho thấy nó
được liên kết mật thiết như thế nào với thừa tác vụ thánh, trong hai chiều kích tương quan với Đức Kitô và
Giáo Hội, đàng khác bảo vệ tự do của người lãnh nhận ân huệ đó 180 . Cũng thế, vì được thánh hiến cho Đức
Kitô một cách mới mẻ và đặt biệt 181 , Linh Mục ý thức mình đã lãnh một ân huệ được củng cố bằng một mối
giây pháp lý nhất định buộc mình phải giữ một cách luân lý. Mối giây này, chấp nhận trong tự do, có đặc
tính thần học vì nó là một dấu chỉ của sợi giây hôn nhân được thực hiện trong Bí Tích Truyền Chức. Nhờ sợi
173 Pastores dabo vobis 29; LM 16. Tông thư Sacerdotalis coclibatus (24-6-67) 14; GL 277, 1
174 Tông huấn Veritatis Splendor (6-8-93) 22bc
175 DT 10; GL 247, 1; Thánh Bộ Giáo dục Công giáo : Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis 48; Định hướng
giáo dục trong việc huấn luyện đời sống độc thân Linh Mục số 16.
176 LM 16; Gioan Phaolô Thư gửi các LM thứ Năm Tuần Thánh 1979 Novo incipiente, 8; Pastores dabo vobis 29; GL
277, 1.
177 LM 16; Phaolô VI Tông thư Sacerdotalis coelibatus (24-6-67), 14
178 LM 16c ; GL 1036; 1037
179 Sách lễ Truyền Chức chương III, số 228; Gioan Phaolô II, Thư gở các Linh Mục Thứ Năm Tuần Thánh 1979 Novo
incipiente, 9
180 THĐGM Ultimus temporibus II, I, 4c
181 LM 16b
giây đó, Linh Mục nhận được tình phụ tử thiêng liêng nhưng có thực, với chiều kích phổ quát, nhưng được
đặc biệt cụ thể hóa trong cộng đoàn được giao phó cho ngài 182 .
Gương Chúa Giêsu
59. Sự độc thân quả là một sự tự biết mình “trong” Đức Giêsu Kitô và “với” Đức Giêsu Kitô cho Giáo
Hội của Ngài, nó diễn tả việc phục vụ Giáo Hội mà Linh Mục thi hành “trong” và “với” Chúa 183 .
Người ta sẽ còn mãi trong tình trạng ấu trĩ nếu sống độc thân như một “sắc thế phải trả cho Chúa” để
được tiến tới chức thánh, chứ không phải như “một ân huệ Chúa ban vì lòng nhân từ” 184 , và mình tự do lựa
chọn và vui vẻ chấp nhận một ơn gọi đặc biệt để mến Chúa và yêu người.
Chúa đã làm gương về vấn đề này, đi ngược lại cái được coi như là văn hóa chủ đạo thời đó, khi tự do
chọn sống độc thân. Nối gót Ngài, các môn đệ đã từ bỏ “tất cả mọi sự” để hoàn thành sứ mạng (Lc 18,28-
30).
Vì lý do đó, từ thời các Tông Đồ, Giáo Hội đã muốn bảo tồn ơn tiết dục vĩnh viễn của Giáo Sĩ, và
hướng về giải pháp chọn các ứng cử viên Chức Thánh nơi những người độc thân.(x. 2Tx 2,15;1Cr 7, 5; Tt
1,6-8) 185 .
Những khó khăn và vấn nạn
60. Trong bầu khí văn hóa hiên nay, người ta đánh mất ý nghĩa các giá trị và nhất là không hiểu đúng ý
toàn bộ, tích cực và mang tính giải phóng của dục tính nơi con người nên thường nêu ra vấn nạn về giá trị và
ý nghĩa độc thân Linh Mục hay ít ra, có nên khẳng định mối tương quan chặt chẽ và sự hòa hợp sâu đậm
giữa độc thân với chức tư tế thừa tác không?
Theo dòng các thế kỷ, nhiều khó khăn và vấn nạn đã luôn theo sát sự lựa chọn của Giáo Hội La tinh và
một số Giáo Hội đông phương, là chỉ Truyền Chức Linh Mục thừa tác cho những người đàn ông đã được
Chúa ban ơn sống khiết tịnh trong bậc độc thân. Kỷ luật của Giáo Hội đông phương khác, khi chấp nhận
chức Linh Mục của những người đàn ông đã có vợ là không chống lại kỷ luật của Giáo Hội la tinh, vì chính
Giáo Hội đó đòi các Giám Mục sống độc thân. Hơn nữa, các Giáo Hội chấp nhận hôn nhân của các Linh
Mục hay những phép cưới liên tiếp của các thừa tác viên góa vợ. Luôn luôn và chỉ phong chức cho người đã
có vợ.
Những khó khăn mà một số người nêu lên hôm nay 186 , thường dựa trên những lý do giả tạo, chẳng
hạn tố cáo đó là thuyết duy linh thoát xác(spiritualisme desincarné) hoặc quả quyết tiết dục là nghi ngờ hoặc
khinh miệt dục tính. Một số khác dựa vào những trường hợp khó khăn và đau buồn, hay tổng quát hóa một
vài trường hơp cá biệt, ngược lại người ta quên chứng từ của một đại đa số Linh Mục sống độc thân trong sự
tự do nội tâm, dự vào những động lực Phúc Âm sâu xa, trong sung mãn thiêng liêng, trong một chân trời của
lòng trung thành đầy xác tín và vui tươi đối vơi ơn gọi và sứ mạng của mình.
Rõ ràng là để bảo đảm và bảo tồn ơn huệ này trong quân bình thanh thoát và thăng tiến thiêng liêng thì
cần những biện pháp giúp Linh Mục có thể lánh xa những khó khăn có để xảy đến 187 .
182 Sđd
183 Pastores dabo vobis 29
184 Thánh Bộ Giáo dục : Đường hướng giáo dục trong việc huấn luyện độc thân Linh Mục, 16
185 Để chú giải đoạn Kinh Thánh này, xem thêm CĐ Élvire (302-305) khoản 277; 33. Bruns Herm : Canones
Apostolorum et conciliorum sacc. IV-VII. II 5-6…
186 Gioan Phaolô II,Thư gửi các Linh Mục dịp Thứ Năm Tuần thánh 1993.x.thêm solo peramore…. Thánh Bộ Giáo Sĩ
1993
187 Thánh Gioan Kim Khẩu: De sacerdotio VI,2,PG48,679:”Linh hồn của Linh Mục trong sáng ơn thánh mặt trời, để
Chúa Thánh Thần không từ bỏ ngài và để ngài có thể nói : “Không phải tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”
(Gal 2, 20). Nếu các vị ẩn sĩ trong sa mạc, xa thành thị, xa những chốn gặp gỡ và náo nhiệt, để chỉ hướng cho sự thư
thái và bầu trời đẹp, mà cũng không dám tin tưởng vào lối sống của mình, trái lại họ luôn làm và nói hết sức cẩn thận,
để có thể đưa ra trước mặt Chúa với một sự trong sạch hoàn toàn trong khả năng con người, thì Linh Mục cần phải có
sức và nghị lực chừng nào để có thể giữ linh hồn mình khỏi vết nhơ và gìn giữ được vẻ đẹp thiêng liêng của linh hồn ?
Do đó, các Linh Mục cần phải cư xử khôn ngoan khi giao tiếp với những người mà tình thân mật có
nguy cơ dẫn đến thất trung với ơn độc thân hay gương xấu cho giáo dân 188 . Trong những trường hợp đặc
biệt, phải quy phục phán quyết của Đức Giám Mục, ngài có trách nhiệm ban bố những luật lệ rõ ràng trong
lãnh vực này 189 .
Hơn nữa, các Linh Mục không được coi nhẹ những quy luật khổ chế lâu nay được thừa nhận qua kinh
nghiệm trong Giáo Hội, vì chúng còn cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay. Vẫn còn rất cần thiết. Muốn vậy,
Linh Mục phải khôn ngoan lánh những nơi, những kịch tuồng và sách báo có phương hại đến việc thực thi
đức thiết tịnh trong việc độc thân 190 . Đối với các phương tiện truyền thông xã hội, Linh Mục dù với tư cách
là diễn viên hay người sử dụng, đều phải thận trọng và tránh những gì có thể tác hại đến ơn gọi của mình.
Trong một bầu khí cổ võ hưởng thụ dục tính quá lố, muốn bảo vệ với tình yêu ân huệ đã lãnh nhận, thì
chính nhờ sự kết hiệp với Đức Kitô và Giáo Hội, nhờ vào việc sùng kính Đức Trinh Nữ Maria và nhờ soi
gương các Linh Mục thánh thiện của mọi thời đại, mà Linh Mục tìm được sức mạnh cần thiết để lướt thắng
mọi khó khăn trên đường đi, và để hành động chín chắn cho thế giới tin mình 191 .
ĐỨC VÂNG LỜI
Nền tảng của đức vâng lời
61. Đức vâng lời là một giá trị quan trọng hàng đầu của đời Linh Mục. Chính Hy Tế trên thập giá của
Đức Giêsu có giá trị và ý nghĩa cứu chuộc là nhờ sự vâng phục và trung thành với ý muốn của Chúa Cha.
Ngài đã “vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,8). Thư giữ tín hữu Do Thái cũng nhấn mạnh
rằng Chúa Giêsu “đã học vâng phục trong đau khổ” (Dt 5,8). Như thế, có thể nói, sự vâng phục Chúa Cha
nằm ở trung tâm chức tư tế của Đức Kitô.
Cũng như Đức Kitô, nhờ vâng lời mà Linh Mục học biết ý Thiên Chúa biểu lộ ra nơi các bề trên hợp
pháp của mình. Sự sẵn sàng này phải được hiểu như công việc thật sự của sự tự do cá vị, thành quả của sự
lựa chọn chín mùi trước mặt Thiên Chúa trong cầu nguyện. Nhân đức vâng lời, về thực chất, gắn liền với Bí
Tích và cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, rõ ràng là đối tượng của lời thề hứa Giáo Sĩ tuyên đọc trước khi lãnh
chức phó tế, rồi sau đó lãnh chức Linh Mục. qua lời hứa này, Linh Mục nhấn mạnh ý muốn tùng phục, đi
vào vòng năng động của sự vâng lời nơi Đức Kitô, người tôi tớ vâng lời cho đến chết trên thánh giá (x. Pl
2,7-8) 192 .
Nền văn hóa hiện nay đề cao giá trị của tính chủ quan và sự độc lập của ngôi vị, hiểu như là thực chất
của phẩm giá con người. Giá trị này, tự nó là tích cực, nhưng mang chiều kích tiêu cực khi nó bị tuyệt đối
hóa và được đòi hỏi ở bên ngoài bối cảnh hợp pháp 193 . Điều này cũng có thể xảy ra ở giữa lòng Giáo Hội và
trong đời sống Linh Mục, nếu những hoạt động được thực hiện để phục vụ công đoàn, lại bị giản lược vào
một sự việc thuần chủ quan.
Trên thực tế, Linh Mục, do bản chất của chức tư tế, phục vụ Đức Kitô và Giáo Hội. Do đó, ngài phải
luôns ẵn sàng đón nhận mọi chỉ bảo đúng đắn của các Bề Trên và nhất là, nếu không bị ngăn trở chính
đáng, ngài phải chấp nhận và trung thành chu toàn nhiệm vụ Đấng Bản Quyền giao phó 194 .
Đức vâng lời phẩm trật
Chắc chắn ngài cần trong sạch hơn vị tu sĩ nhiều. Tuy ngài luôn đụng chạm những hoàn cảnh có thể làm ngài bị nhiễm
bẩn, ngài có thể giữ linh hồn khỏi cạm bẫy nếu ngài sống tiết độ và cảnh giác.
188 GL 277, 2
189 GL 277, 3
190 LM 16c
191 Phaolô VI, Tông thư Sacerdotalis coelibatus (24-667), 78-81; Pastores dabo vobis 29
192 LM 15c; Pastores dabo vobis 27
193 Gioan Phaolô, Veritatis splendor, 31; 32; 106
194 GL 274, 2
62. Linh Mục “bị buộc một cách đặc biệt phải kính trọng và vâng phục” Đức Giáo Hoàng và Đấng
Bản Quyền của mình 195 . Vì trực thuộc một Linh Mục đoàn nhất định, ngài phục vụ một Giáo Hội địa
phương, Giáo Hội này tìm ra nguyên lý và nền tảng cho sự hiệp nhất của mình với Giám Mục 196 , người thi
hành trên Giáo Hội này, toàn bộ quyền thông thường, riêng biệt và trực tiếp, cần cho nhiệm vụ mục tử của
ngài 197 . Sự tùng phục phẩm trật, mà Bí Tích Truyền Chức đòi buộc, được thể hiện, về mặt Giáo Hội và theo
cơ cấu, trong mối dây liên kết với Giám Mục và với Đức Giáo Hoàng, là Đấng cầm đầu quyền bính thông
thường trên mọi Giáo Hội địa phương 198 .
Sự bắt buộc tuân phục huấn quyền, trong phạm vi đức tin và luân lý, tự bản chất gắn liền với mọi phận
vụ mà Linh Mục phải chu toàn trong Giáo Hội. Không đồng tình trong lãnh vực này phải bị xét xử nặng vì
gây ra gương xấu và làm cho tín hữu đi lạc hướng.
Không ai hơn Linh Mục hiểu rõ sự cần thiết của những quy luật trong Giáo Hội. Thật vậy, bởi vì cơ
cấu phẩm trật và hữu cơ là hữu hình, nên việc thi hành các phận vụ mà Thiên Chúa giao phó, nhất là nhiệm
vụ hướng dẫn Dân và cử hành các Bí Tích, phải được tổ chức thích đáng 199 .
Với tư cách là thừa tác viên của Đức Kitô và Giáo Hội, Linh Mục phải quảng đại, cam kết trung thành
tuân giữa tất cả và từng quy luật một tránh mọi hình thức tuân giữ từng phần theo các tiêu chuẩn chủ quan
gây chia rẽ và ảnh hưởng đến giáo dân và dư luận công cộng, gây thiệt hại nặng nề về mục vụ. Thật vậy
“những quy định của giáo luật tự nó có tính cách bắt buộc”và đòi hỏi “các chi thể phải tuân giữ tất cả những
gì đầu sai khiến” 200 .
Khi vâng phục quyền bính đã được thiết lập, Linh Mục cổ võ đức ái hỗ tương giữa Linh Mục đoàn và
sự hiệp nhất đặt nền trên chân lý.
Quyền bính được thực thi với đức ái
63. Để việc giữ đức vâng lời được thực hiện trong Giáo Hội, tất cả những người có chức quyền (các
Đấng Bản Quyền, các Bề Trên Dòng, các Giám Đốc các Hiệp Hội Tông Đồ) cần phải nêu gương kiên trì cá
nhân. Hơn nữa, các ngài phải lấy đức ái thi hành đặc sủng thể chế của mình, khơi dậy hay yêu cầu mọi
người vâng phục tất cả quy định trong lãnh vực huấn quyền và kỷ luật, theo những cách thức và kỳ hạn cần
thiết 201 .
Sự vâng phục này là nguồn gốc tự do bởi vì nó không ngăn cản mà còn kích thích tính tự phát chín
mùi nơi Linh Mục, nhờ đó, ngài có thể giữ một phong cách mục vụ thanh thản và quân bình, tạo nên sự hài
hòa, để mọi ân huệ cá nhân tiêu tan trong sự hiệp nhất cao hơn.
Tôn trọng các quy luật Phụng Vụ
64. Giữa các mặt khác nhau hiện nay của vấn đề vâng lời, lòng tôn trọng đầy xác tín các quy luật
Phụng Vụ cũng đáng được đề cao.
Phụng Vụ là thi hành chức tư tế của Đức Giêsu Kitô 202 , là “tột đỉnh qui hướng mọi hoạt động của Giáo
Hội, đồng thời là nguồn mạch tuôn tràn mọi năng lực của Giáo Hội 203 . Vậy Phụng Vụ là lãnh vực mà Linh
Mục phải ý thức cách riêng cho thừa tác viên để vâng phục Giáo Hội “việc điều hành Phụng Vụ chỉ thuộc
vào quyền bính của Giáo Hội, nó thuộc về Tòa Thánh và theo qui tắc luật định thuộc về Giám Mục” 204 . Cho
nên Linh Mục không được thêm, bớt hay thay đổi gì theo sáng kiến riêng, trong lĩnh vực này 205 .
195 GL 273
196 GH 23a
197 Sđd 27a; GL 381, 1
198 GM 2a; GH 22b; GL 333,1
199 Gioan Phaolô II, Sacrae disciplinse leges, II, XIII. Diễn văn cho những người tham dự Hội nghị thế giới về : “Jus in
vita et in missione Ecclesiae” (23-4-93); L’Osservatore, 25-4-93.
200 Sacrae disciplinse leges, II, XIII
201 GL 392
202 PV 7
203 Sđd 10
204 GL 838
Luật lệ này ứng dụng cách riêng cho việc cử hành các Bí Tích, vì đó là những hành vi tuyệt hảo của
Đức Kitô và Giáo Hội mà Linh Mục cử hành vì lợi ích của giáo dân, nhân danh Đức Kitô (in persona
Christi) và nhân danh Giáo Hội 206 . Giáo dân có thực tham dự các cử hành Phụng Vụ như Giáo Hội mong
muốn, chớ không phải theo sở thích cá nhân của mỗi thừa tác viên hoặc theo những nghi thức riêng biệt
không được phê chuẩn, vì đó là những cách thể hiện của các nhóm người muốn tự đóng kín với tính phổ
quát của Dân Thiên Chúa.
Hợp nhất trong các chương trình mục vụ
65. Trong thi hành thừa tác vụ, các Linh Mục phải tham gia một cách có trách nhiệm vào việc soạn
thảo các chương trình mục vụ mà Giám Mục hoạch định, với sự cộng tác của Hội Đồng Linh Mục 207 , và các
ngài phải hòa hợp những thực hiện cụ thể trong cộng đoàn của mình với các chương trình ấy.
Óc sáng tạo và tinh thần sáng kiến là những nét đặc thù của sự trưởng thành nơi các Linh Mục không
bị giảm thiểu, mà trái lại có thể phát triển thuận lợi làm cho việc mục vụ thêm phong phú. Theo những con
đường riêng rẽ trong lãnh vực này có nghĩa là làm suy yếu chính công cuộc Phúc Am hóa.
Buộc mặc áo Giáo Sĩ
66. Trong một xã hội tục hóa đang nghiêng về thuyết duy vật, trong đó những dấu chỉ bên ngoài của
các thực tại thánh và siêu nhiên thường biến mất, người ta đặc biệt cảm thấy cần thiết việc Linh Mục, người
của Chúa, kẻ phân phát các mầu nhiệm, phải được cộng đoàn nhận ra, cũng nhờ y phục các ngài mặc, một
dấu chỉ rõ ràng của lòng tận tụy và căn tính của kẻ nắm giữ một thừa tác vụ công khai 208 . Linh Mục trước hết
phải được nhận ra không chỉ nhờ phong cách của mình, nhưng còn nhờ cách ăn mặc để mọi tín hữu cũng
như mọi người 209 lập tức nhận ra căn tính và sự các ngài thuộc về Thiên Chúa và Giáo Hội.
Vì lý do đó, Linh Mục phải mặc “áo Giáo Sĩ xứng đáng theo các quy luật do Hội Đồng Giám Mục ấn
định và theo những phong tục địa phương” 210 . Điều ấy có nghĩa là khi áo đó không phải là áo thâm chùng
(soutane) nữa, nó phải khác với cách ăn mặc của giáo dân và xứng hợp với phẩm giá và sự thánh thiện của
thừa tác vụ. Cách may cắt và màu sắt phải được Hội Đồng Giám Mục ấn định, luôn luôn phù hợp với quy
định của luật chung.
Vì không phù hợp với tinh thần của kỷ luật này, nhưng thực hành ngược lại không được xem là những
tập tục hợp pháp và cần phải chấm dứt do lệnh của thẩm quyền 211 .
Trừ một số trường hợp rất đặc biệt, việc không mặc áo Giáo Sĩ có thể cho thấy nơi vị Giáo Sĩ đó một
ý thức yếu ớt về căn tính của mình, là mục tử hoàn toàn phục vụ Giáo Hội 212 .
TINH THẦN NGHÈO KHÓ LINH MỤC
Nghèo khó như một sự sẵn sàng
67. Sự khó nghèo của Đức Giêsu theo đuổi mục đích cứu độ. Đức Kitô vốn đã giàu có đã tự làm người
nghèo khó vì chúng ta, để chúng ta trở nên giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài (2Cr 8, 9).
Thư giử tín hữu Philíphê nêu lên mối tương quan giữa sự từ bỏ và tinh thần phục vụ gieo sinh khí vào
thừa tác vụ mục vụ. thật vậy, thánh Phao Lô nói rằng Đức Giêsu đã không”đòi cho được ngang hàng cùng
205 PV 22
206 GL 846, 1
207 Thánh Bộ Giáo Sĩ, thư luân lưu Omnis Chistifideles (25-1-73) 9
208 Gioan Phaolô II thư gửi ĐHY giáo phận Rôma (8-9-82) : L’Osservatore Romano 18-19 tháng 10 năm 1982.
209 Phaolô VI thư gửi hàng Giáo Sĩ (17-2-1969) (17-2-72) (10-2-78) 61; 190; 64; 223; 70; 191; Gioan Phaolô II thư
gửi các Linh Mục dịp Thứ Năm Tuần Thánh 1979, 7
210 GL 284
211 Ecclesiae Sanctae I, 25. 2đ; Thánh bộ GM : thư luân lưu Per venire incontro (27-1-78); Thánh bộ giáo dục công
giáo thư luân lưu (6-1-80)
212 Phaolô VI Catéchèse (17-9-69) Huấn dụ Giáo Sĩ (1-5-73) Insegnamenti VII (1969), 1065; XI (1973), 176
Thiên Chúa, nhưng trái lại, Ngài đã tự hủy mình ra không mà nhận lấy thân phận tôi đòi” (Pl 2, 6-7). Thật
thế, Linh Mục khó mà nên tôi tớ và thừa tác viên cho anh em mình nếu ngài quá lo lắng đến tiện nghi và
thoải mái cho riêng mình.
Nhờ thân phận khó nghèo mà Đức Kitô chứng tỏ Ngài đã lãnh nhận mọi sự bởi Chúa Cha từ đời đời
và Ngài hoàn lại tất cả cho Chúa Cha, đến nỗi dâng hiến trọn vẹn mạng sống.
Gương của Đức Kitô phải nâng Linh Mục lên đồng dạng với Ngài trong sự tự do nội tâm đối với của
cải và giàu sang đời này 213 . Chúa dạy ta chỉ Thiên Chúa là của cải đích thật duy nhất và chiếm hữu tự sống
đời đời là sự giàu sang chân thật và duy nhất : “nào ích gì cho người ta là được lời lãi cả thế gian mà lại thiệt
mất sự sống mình? Vì chưng người ta cho gì để chuộc lại sự sống mình?” (Mc 8, 36-37).
Linh Mục, có Chúa là phần gia nghiệp (x. Nb 18, 20), biết rằng sứ mạng của ngài cũng như của Giáo
Hội diễn ra giữa lòng trần gian và của cải cần thiết cho sự phát triển cá nhân của con người. Tuy nhiên ngài
phải sử dụng của cải này với ý thức trách nhiệm, có chừng mực, với ý ngay và siêu thoát, là những đặc điểm
của người canh giữ kho tàng mình trên trời và biết rằng mọi sự phải đem ra sử dụng để xây dựng Nước
Thiên Chúa (Lc 10, 7; Mt 10, 9-10; 1Cr 9,14; Ga 6, 6) 214 . Ngài cũng phải kiêng những dịch vụ sinh lợi không
phù hợp với thừa tác vụ của mình. 215
Nhớ rằng ân huệ mình lãnh nhận là nhưng không, Linh Mục sẽ sẵn sàng ban cho nhưng không(Mt 10,
8; Act 8, 18- 25) 216 , và sử dụng vào thiện ích của Giáo Hội và vào các việc bác ái tất cả những gì mình nhận
được khi thi hành phận vụ sau khi bảo đảm cuộc sống và chu toàn mọi bổn phận của đấng bậc mình 217 . Xét
cho cùng, mặc dù ngài không sống đức khó nghèo do lời khấn công khai, Linh Mục vẫn phải sống một cuộc
sống giản dị và xa lánh hết những gì là phù phiếm 218 , tự nguyện sống khó nghèo để theo sát Đức Kitô 219 .
Trong mọi lãnh vực (ở nhà, phương tiện đi lại, nghỉ ngơi v.v…) Linh Mục phải loại trừ mọi kiểu cách và xa
hoa 220 .
Là bạn của người nghèo, Linh Mục phải dành cho họ những chăm sóc tế nhị nhất của đức ái mục vụ,
và ưu tiên nhưng không độc quyền, chọn sống các hình thức nghèo khó cũng không bao giờ quên rằng sự
khốn cùng trước tiên mà con người phải giải phóng, đó là tội lỗi, nguồn gốc đầu của mọi sự dữ.
LÒNG SÙNG KÍNH ĐỨC MARIA
Những nhân đức của Mẹ
68. Có một “liên hệ cốt yếu giữa Mẹ Đức Giêsu và chức tư tế của các thừa tác viên của Chúa”. Mối
liên hệ này phát xuất từ mối liên hệ giữa mẫu tính thần linh của Đức Maria và chức tư tế của Đức Kitô 221 .
Chính trong mối liên hệ này bắt nguồn lòng sùng kính Đức Mẹ nơi các Linh Mục. Người ta nói đời sống
thiêng liêng của Linh Mục không hoàn hảo nếu không lưu ý tới lời trối của Đức Kitô trên thánh giá, khi
Ngài muốn giao phó Mẹ Ngài cho người môn đệ rất yêu dấu, và qua người môn đệ ấy, cho tất cả các Linh
Mục được mời gọi tiếp nối công trình cứu chuộc của ngài.
Như Đức Maria đã giao phó cho Gioan dưới chân thánh giá, cũng thế, Đức Maria được giao phó như
người Mẹ cho mọi Linh Mục một cách đặc biệt (x Ga 16, 26-27).
Các Linh Mục được kể vào số những môn đệ yêu dấu của Đức Giêsu bị đóng đinh và sống lại, phải
biết đón nhận Đức Maria như là Mẹ trong đời mình, đặt Ngài là đối tượng của lòng tưởng nhớ của kinh
213 LM 17
214 Sđd 17; Gioan Phaolô II giáo lý (21-7-93), 3; L’Osservatore Romano (22-7-93)
215 GL 286; 1392
216 LM 17
217 Sđd 17c ; GL 282; 222, 2; 529, 1
218 GL 282, 1
219 LM 17d
220 Sđd 17c
221 Gioan Phaolô II giáo lý phiên họp (30-6-93) : L’Osservatore Romano 30-6 và 1-7-93
nguyện liên lỉ. Như thế Đức Maria trọn đời đồng trinh trở thành người Mẹ dẫn dắt họ đến với Đức Kitô, làm
cho họ yêu mến Giáo Hội cách trung thực, cầu bầu cho họ và dẫn đưa họ về Nước Trời.
Mọi Linh Mục đều biết rằng Đức Maria vì là bà Mẹ nên củng là nhà giáo dục tài hoa của chức tư tế
mình, bởi vì chính Mẹ biết hình thành con tim Linh Mục, chở che mọi hiểm nguy, mệt nhọc, thất vọng, và
canh chừng với lòng ân cần từ mẫu để Linh Mục lớn lên về khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng trước mặt Thiên
Chúa và loài người(x. Lc 2, 40).
Nhưng chỉ những đứa con hiếu thảo mới biết bắt trước các nhân đức của Mẹ mình. Do đó, Linh Mục
phải chiêm ngắm Đức Maria, để trở nên một thừa tác viên khiêm tốn, vâng lời, khiết tịnh và để làm chứng
cho đức ái qua sự hiến thân hoàn toàn cho Chúa và Giáo Hội 222 . Là kiệt tác của hy lễ tư tế của Đức Kitô, Đức
Trinh Nữ biểu thị Giáo Hội trong tất cả vẻ tinh tuyền “không vết nhơ, không nếp nhăn” hoàn toàn “thánh
thiện và vô tỳ tích” (Ep 5, 27). Sự chiêm ngắm Đức Trinh Nữ đặt trước Linh Mục lý tưởng phải vươn tới
trong thừa tác vụ cộng đoàn của mình, để cộng đoàn này cũng trở thành “Giáo Hội hoàn toàn vĩnh hiển”
(Sđd) nhờ sự tự hiến cả cuộc đời Linh Mục của mình.
222 LM 18b
CHƯƠNG III
VIỆN HUẤN LUYỆN THƯỜNG XUYÊN
CÁC NGUYÊN TẮC
Sự cần thiết huấn luyện thường xuyên ngày nay
69. Việc huấn luyện thường xuyên là một đòi hỏi bắt nguồn và phát triển nhận Bí Tích Truyền Chức,
qua đó Linh Mục không những được “thánh hiến” bởi Chúa Cha, được “sai đi” bởi Chúa Con mà còn được
“ban sinh khí” bởi Chúa Thánh Thần. Việc huấn luyện này, dĩ nhiên phát xuất từ một ân sủng chứa đựng sức
mạnh siêu nhiên, nhằm đồng hóa tất cả cuộc sống và hoạt động của Linh Mục một cách tuần tự và luôn sâu
xa hơn, trong sự trung thành với ơn huệ đã lãnh nhận. Vì thế Thánh Phaolô viết cho Timôthe – Tôi muốn
nhắc lại cho anh : “hãy làm sống lại ơn huệ Thiên Chúa ban xuống trong anh”(2 Tm 1, 6).
Đó là một sự cần thiết nội tại nơi chính ân huệ Chúa ban 223 là pha1i luôn luôn “làm sống lại” để Linh
Mục có thể đáp ứng trung thành với ơn gọi của mình. Thật vậy, Linh Mục là một con người có chân trong
lịch sử : ngài cần hoàn thành mọi khía cạnh thuộc đời sống nhân bản và thiêng liêng của mình để có thể đạt
tới sự đồng hóa với Đức Kitô, nguyên lý thống nhất phổ quát.
Những thay đổi mau chóng, rộng khắp và một tổ chức xã hội thường bị tục hóa là những đặc điểm của
thế giới ngày nay: đó là những nhân tố bắt buộc Linh Mục phải được chuẩn bị đầy đủ để khỏi làm mờ nhạt
căn tính của mình và để có thể đáp ứng với những nhu cầu của việc Phúc Âm hóa mới. Quyền lợi của giáo
dân ứng với bổn phận quan trọng đó, vì giáo dân có quyền được hưởng những thành quả do việc các Linh
Mục được đào tạo tốt và có đời sống thánh thiện 224 .
Làm việc liên tục cho mình.
70. Đời sống thiêng liêng và thừa tác vụ mục vụ của Linh Mục phải được tiếp nối với việc trao dồi liên
tục bản thân ngài để đào sâu và tạo nên tổng hợp hài hòa trong việc huấn luyện thiêng liêng và nhân bản, trí
thức và mục vụ. Công việc này phải bắt đầu từ chủng viện, cần được các Giám Mục cổ võ ở mọi cấp độ: cấp
quốc gia, cấp vùng và nhất là cấp giáo phận.
Điều đáng kích lệ, là thấy con số khá đông những giáo phận và Hội Đồng Giám Mục đã có những sáng
kiến đầy hứa hẹn nhằm tổ chức huấn luyện thường xuyên đích thực cho các Linh Mục của mình. Mong sao
tất cả các giáo phận hưởng ứng sự cần thiết này, tuy nhiên ở những nơi tạm thời chưa tổ chức được, thì nên
khuyên có những thỏa thuận liên giáo phận hay là tiếp xúc với các học viện hoặc những nhân vật được
chuẩn bị đặc biệt để hoàn thành nhiệm vụ rất tế nhị này 225 .
Khí cụ thánh hóa
71. Huấn luyện thường xuyên là một phương thế cần thiết cho Linh Mục ngày nay đạt đến mục đích
của ơn gọi là phục vụ Thiên Chúa và Dân Ngài.
Trên thực tế, việc huấn luyện thường xuyên cốt lại giúp các Linh Mục đáp ứng quảng đại cam kết đòi
hỏi bơi phẩm giá và trách nhiệm mà Thiên Chúa giao phó cho các ngài qua Bí Tích Truyền Chức, là lo gìn
giữ, bảo vệ và phát triển căn tính cùng ơn gọi đặc thù của các ngài, lo thánh hóa bản thân và thánh hóa người
khác trong khi thi hành thừa tác vụ.
Điều này có nghĩa là Linh Mục phải tránh mọi nhị nguyên thuyết giữa đời sống thiêng liêng và thừa
tác vụ, một thứ nhị nguyên gây nên bao nhiêu cuộc khủng hoảng.
Rõ ràng là muốn đạt tới cùng đích siêu nhiên này phải tìm kiếm và phân tích các tiêu chuẩn làm cơ cấu
cho việc huấn luyện thường xuyên của các Linh Mục.
223 Pastores dabo vobis 70
224 Sđd
225 Sđd 79
Những tiêu chuẩn hay nguyên tắc tổ chức này tự chúng phải được soạn thảo vì mục đích nhắm tới hay
nói đúng hơn phải được tìm kiếm trong mục đích ấy.
Được Giáo Hội ban cho
72. Việc huấn luyện thường xuyên là một quyền lợi- bổn phận của Linh Mục và thi hành việc đó – bổn
phận của Giáo Hội: luật phổ quát ấn định như thế 226 . Thật vậy, bởi vì người ta nhận lãnh trong Giáo Hội ơn
gọi thừa tác vụ thánh, thì chỉ có Giáo Hội mới phải lo huấn luyện cách đặc biệt cho người ta cáng đáng trách
nhiệm thừa tác vụ đó. Cho nên, việc huấn luyện thường xuyên vì là một hoạt động gắn liền với việc thi hành
chức tư tế thừa tác, thuộc trách nhiệm Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục. Như thế, Giáo Hội có quyền và
có bổn phận tiếp tục huấn luyện các thừa tác viên của mình, giúp họ tiến tới trong sự quảng đại đáp trả ân
huệ Thiên Chúa đã ban cho họ.
Về phía mình, thừa tác viên cũng nhận được, như một đòi buộc của ân huệ kèm theo việc Truyền
Chức, quyền được Giáo Hội giúp đỡ thiết thực để thực hiện việc phục vụ của mình cách thánh thiện và có
hiệu quả.
Việc huấn luyện thường xuyên
73. Hoạt động huấn luyện dựa trên một đòi hỏi năng động, nội tại của đoàn sủng thừa tác, đoàn sủng
này tự nó là thường xuyên và không thể đảo ngược. Nên việc huấn luyện không bao giờ được xem như chấm
dứt, cả về phía Giáo Hội trao ban, lẫn về phía thừa tác viên nhận lãnh. Như thế cũng cần suy tư và phát triển
việc huấn luyện này như thế nào để nơi Linh Mục đều có thể luôn luôn nhận được. Xét theo khả năng và đặc
điểm tuổi tác, hoàn cảnh sống và phận vụ mục vụ 227 .
Đầy đủ
74. Việc huấn luyện này phải bao gồm và hòa hợp mọi khía cạnh của việc đào tạo Linh Mục, nghĩa là
nó phải nhằm giúp Linh Mục phát triển nhân cách con người đã chín mùi trong tinh thần phục vụ kẻ khác,
dầu đang nắm chức vụ gì ; giúp Linh Mục được đào tạo về mặt trí thức, cả trong các khoa học lẫn trong các
khoa học nhân văn, trong mức độ liên quan đến thừa tác vụ của mình, ngõ hầu Linh Mục chu toàn phận vụ
làm chứng đức tin một cách hữu hiệu hơn: giúp Linh Mục có được một đời sống thiêng liêng sâu xa, được
nuôi dưỡng bằng tình thân mật với Đức Giêsu Kitô và bằng tình yêu Giáo Hội; giúp Linh Mục chu toàn thừa
tác vụ mục vụ với nhiệt tình và nhiệt tâm.
Trên thực tế, một sự huấn luyện như thế phải đầy đủ : nhân bản, thiêng liêng, trí thức, mục vụ, hệ
thống và cá vị.
Nhân bản
75. Cũng như trước đây, việc huấn luyện này cũng rất quan trọng trong thế giới ngày nay. Linh Mục
không được quên mình là người được chọn giữa loài người để phục vụ con người. Muốn nên thánh và thành
công trong sứ mạng Linh Mục, ngài phải trình diện với một hành trang đầy các đức tính nhân bản đáng được
anh em mến phục mình.
Ngài phải đặc biệt thực thi sự tốt bụng, lòng kiên nhẫn, tính khả ái, nghị lực tâm hồn, lòng yêu chuộng
công bình, óc quân bình, trung thành với lời đã nói, nhất quán với những cam kết tự ý đưa ra v.v… 228 .
Một điều cũng rất quan trọng là Linh Mục phải suy xét về cách sử xự của mình, về sự đúng đắn của
ngài trong các hình thức giao tế nhân bản, về giá trị tình bạn và về tao nhã trong cách sống của mình v.v…
Thiêng liêng
Lưu ý tới tất cả những gì đã trình bày về đời sống thiêng liêng, ở đây, chỉ giới hạn vào một vài phương
thế huấn luyện thực tiễn. Điều cần thiết trước tiên là cần đào sâu những khía cạnh chính của đời Linh Mục
bằng cách đặc biệt tham khảo giáo huấn của Kinh Thánh, các giáo phụ và các hạnh thánh, mà Linh Mục
226 GL 279
227 Pastores dabo vobis 76
228 LM 3
phải luôn luôn cập nhật hóa các kiến thức của mình, không những nhờ đọc sách tốt, mà còn phải tham dự
vào các khóa học hỏi, các hội nghị v.v… 229 .
Nên tổ chức những khóa riêng nhằm chỉ bảo việc cử hành các Bí Tích cách nghiêm túc, cũng như
nhằm nhắc nhở phải chăm lo nghiên cứu một số vấn đề thuộc đời sống thiêng liêng ví dụ các nhân Đức Kitô
giáo và nhân bản, cách cầu nguyện, tương quan với đời sống thiêng liêng và thừa tác vụ phụng vụ và mục vụ
v.v…
Cụ thể hơn, mong sao cho Linh Mục, một lần nào đó trong khi cử hành linh thao định kỳ, hội ý với vị
linh hướng của mình, soạn thảo một chương trình sống cụ thể, có thể gồm có một số yếu tố sau đây.
1. Suy gẫm hằng ngày lời Chúa hoặc một mầu nhiệm đức tin.
2. Gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể, ngoài việc cử hành thánh lễ sốt sáng.
3. Sùng kinh Đức Mẹ ( lần chuỗi, tận hiến hoặc đặt mình dưới sự bảo trợ của Đức Maria mạn đàm thân
mật ).
4. Dành thời giờ cho việc học hỏi Giáo Lý và Hạnh các Thánh.
5. Nghỉ ngơi cần thiết.
6. Hâm nóng cố gắng thực hành những chỉ thị của Giám Mục và bảo đảm việc gắn bó cá vị và xác tín với
huấn quyền và kỷ luật Giáo Hội.
7. Lưu tâm sống hiệp thông và tình bằng hữu Linh Mục.
Trí thức
77. Vì ảnh hưởng to lớn của những trào lưu triết lý và khoa học nhân văn trên nền văn hóa hiện đại, vì
một số Linh Mục không được đào tạo thích hợp trong những môn học này nhất là do khác biệt trong đào tạo
nhà trường, nên cần có những cuộc gặp gỡ để thảo luận các đề tài quan trọng nhất về triết học và những
khoa học nhân văn hoặc những đề tài thường “liên hệ với khoa học Thánh, đặc biệt theo mức độ chúng giúp
ích cho việc thi hành thừa tác vụ mục vụ” 230 những đề tài này giúp nhiều cho việc bàn luận các vấn đề chính
của thần học cơ bản, tín lý và luân lý, Kinh Thánh, phụng vụ, giáo luật, đại kết… mà không quên rằng việc
giảng dạy các môn này không được mang tính cách tranh luận, cũng không là thuần túy lý thuyết hoặc thông
tin nhưng nó phải khuyến khích một sự huấn luyện đích thực, nghĩa là khuyến khích cầu nguyện, hiệp thông
và làm việc mục vụ.
Trong các cuộc gặp gỡ Linh Mục này, liệu sao cho các văn kiện của huấn quyền được đào sâu chung
với nhau dưới sự hướng dẫn của một nhân vật có thẩm quyền, để đưa tới sự thống nhất giải thích và thống
nhất hành động trong mục vụ giáo phận, tạo dễ dàng cho việc Phúc Âm hóa.
Trong việc huấn luyện trí thức, phải quan tâm đặc biệt đến các đề tài quan trọng hơn hết cho việc thảo
luận văn hóa và thực hành mục vụ, ví dụ như các đề tài liên quan đến đạo đức học xã hội và đào tạo đạo đức
đời sống v.v… Phải nghiên cứu cách riêng những vấn đề do tiến bộ khoa học đặt ra hiện đang ảnh hưởng sâu
đậm đến não trạng và cuộc sống người thời đại. Linh Mục không được tự miễn việc tìm hiểu để trả lời
những câu hỏi được tiến bộ khoa học nêu lên, không bỏ qua việc tham khảo các chuyên viên đáng tin cậy và
có khả năng.
Học hỏi, đào sâu và truyền bá học thuyết xã hội của Giáo Hội là điều mang lại lợi ích lớn. Theo những
khuyến khích của huấn quyền, tất cả các Linh Mục – và qua trung gian các ngài tất cả giáo dân – phải quan
tâm đến lợi ích người nghèo, sự quan tâm này không được chỉ là một ước muốn đạo đức mà trở thành một
cam kết sống động cụ thể. “Hơn bao giờ hết, Giáo Hội biết rằng thông điệp xã hội của mình sẽ được làm cho
đáng tin nhờ chứng từ của các việc từ thiện còn hơn là do sự cố kết và lô-gíc nội tại của nó” 231 .
Hiểu biết và sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong hoạt động thừa tác vụ là một đòi hỏi
thiết yếu cho việc huấn luyện trí thức của các Linh Mục. Các phương tiện này, khi được sử dụng đúng, trở
229 LM 19; DT 22; GL 279, 2; Thánh bộ giáo dục công giáo : Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (19-3-
1985), 101
230 GL 279, 3
231 Gioan Phaolô II, Tông thư Cetesimus
nên một khí cụ quan phòng cho việc Phúc Âm hóa, bởi vì không những chúng đến được với một số rất đông
tín hữu và những người còn xa cách với Giáo Hội, mà còn đụng chạm mạnh não trạng và cách sống của họ.
Về phương diện đó, điều thích hợp là Giám Mục hay Hội Đồng Giám Mục cần soạn ra những chương
trình và tìm kiếm những dụng cụ kỹ thuật dự liệu cho mục đích này.
Mục vụ
78. Để huấn luyện mục vụ một cách xứng hợp, cần tổ chức những cuộc gặp gỡ mà mục tiêu chính là
suy nghĩ về chương trình mục vụ của giáo phận. Cũng cần đề cập đến mọi vấn đề liên quan đời sống và việc
thực hành mục vụ của Linh Mục. Ví dụ : luân lý căn bản, đạo đức trong đời sống nghề nghệp và xã hội v.v…
Phải đặc biệt lưu tâm tìm hiểu đới sống và linh đạo của các phó tế vĩnh viễn – ở những nơi có họ – của
các nam nữ tu sĩ cũng như của các tín hữu giáo dân.
Ngoài ra còn có những đề tài khác cũng đặc biệt hữu ích như : việc dạy Giáo lý, gia đình, ơn gọi Linh
Mục và tu sĩ, giới trẻ, người già, bệnh nhân, phong trào đại kết, những người sống cách ly Giáo Hội v.v…
Trong hoàn cảnh hiện nay, trên bình diện mục vụ rất cần tổ chức những khóa đặc biệt giúp hấp thụ và
đào sâu “Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo”, nhất là đối với các Linh Mục, sách này là một dụng cụ qúi báu để
đào tạo việc giảng dạy cũng như việc Phúc Âm hóa nói chung.
Có hệ thống
79. Để việc huấn luyện thường xuyên được đầy đủ cần phải tổ chức thế nào để nó không phải “là một
cái gì cứng nhắc, nhưng như một dự án được soạn thảo kỹ càng diễn tiến từng giai đoạn theo những thể thức
nhất định” 232 . Điều này đòi hỏi phải lập ra một cơ chế quyết định cách thích hợp những dụng cụ, những kỳ
hạn và những nội dung phải thực hiện cụ thể và phù hợp cho việc huấn luyện. Tổ chức này phải kết hợp học
tập cá nhân, bởi lẽ những khóa học định kỳ sẽ không mấy lợi ích nếu không có sự chuyên cần học tập kèm
theo 233 .
Nhắm đến cá nhân
80. Mặc dù được tổ chức cho tất cả mọi người việc huấn luyện thường xuyên nhắm đối tượng trực tiếp
là việc phục vụ của từng người nhận lãnh nó. Do đó, ngoài những phương tiện chung hoặc tập thể, mọi
phương tiện phải được sử dụng để huấn luyện từng người
Vì lẽ đó, nhất là những người có trách nhiệm, phải xác tín rằng họ tiếp xúc với từng cá nhân Linh
Mục, quan tâm đến mỗi người trong họ, không chỉ hài lòng với việc đề nghị cho tất cả mọi Linh Mục những
phương pháp huấn luyện khác nhau.
Về phía mình, mọi Linh Mục phải cảm thấy được khích lệ bằng lời nói và gương sáng của Giám Mục
mình và của anh em Linh Mục, để chu toàn trách nhiệm huấn luyện bản thân, biết rằng chính mình là nhà
huấn luyện đầu tiên cho chính mình 234 .
NHỮNG TỔ CHỨC VÀ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN
Những cuộc gặp gỡ Linh Mục.
81. Chương trình của các cuộc gặp gỡ Linh Mục phải có đặc điểm thống nhất và tiến triển từng giai
đoạn.
Sự thống nhất này phải hướng tới sự đồng hình với Đức Kitô, ngõ hầu chân lý đức tin, đời sống thiêng
liêng và hoạt động thừa tác vụ góp phần hoàn thiện hoá dần dần toàn thể hiện Linh Mục đoàn.
Sự thống nhất trong huấn luyện được đánh dấu bằng những giai đoạn xác định sẵn. Điều này một mặt
đòi hỏi phải chú tâm đặc biệt đến mỗi hạng tuổi Linh Mục mà không bỏ qua một hạng nào, mặt khác kiểm
232 Pastores dabo vobis 79
233 Sđd
234 Sđd
tra lại các giai đoạn đã qua, để cho việc huấn luyện cá nhân đi song song với việc huấn luyện tập thể. Vì nếu
không có huấn luyện cá nhân thì sự huấn luyện tập thể chẳng mang lại hiệu quả.
Người ta phải hiểu rằng những cuộc gặp gỡ Linh Mục là cần thiết cho sự tăng trưởng tình hiệp thông
bởi vì chúng cho phép nhận thức rõ hơn và khảo sát chăm chú hơn các vấn đề của mỗi hạng tuổi Linh Mục.
Còn về nội dung của các kỳ họp này, người ta có thể tham khảo những đề tài đã được Hội Đồng Giám
Mục quốc gia hay vùng đề xuất tùy dịp tiện. Trong mọi trường hợp, các nội dung cần sắp xếp trong khuôn
khổ một chương trình huấn luyện rõ rệt cấp giáo phận. Chương trình này nếu có thể thì được cập nhật hóa
từng năm một 235 .
Việc tổ chức và diễn biến của những cuộc gặp gỡ này phải được Giám Mục cẩn thận giao phó cho các
phân khoa hay học viện thần học và mục vụ, cho chủng viện, cho các tổ chức hay hiệp hội chuyên lo đào tạo
Linh Mục 236 , hoặc giao cho một trung tâm hay học viện chuyên môn cấp giáo phận, cấp vùng hay cấp quốc
gia tùy theo những điều kiện có thể có và thuận lợi. Cũng cần kiểm tra sự chính thống về Giáo Lý, lòng
trung thành với huấn quyền và kỷ luật Giáo Hội, cũng như trình độ khoa học và sự hiểu biết của các cơ quan
đó về những hoàn cảnh mục vụ cụ thể.
Năm mục vụ
82. Giám Mục có nhiệm vụ nhờ các cộng sự viên được tuyển chọn khôn ngoan giúp đỡ tổ chức năm
“mục vụ” đi liền sau năm chịu chức Linh Mục hay phó tế : để tạo dễ dàng cho việc chuyển đổi từng đời sống
chủng viện là cần thiết sang việc thực hành thừa tác vụ thánh, theo từng giai đoạn giúp Linh Mục trưởng
thành nhân bản và đặc biệt trưởng thành Linh Mục, sự trưởng thành đó phải tuần tự và hài hòa 237 .
Trong năm đó, phải tránh cho các tân chức khỏi phải ngụp lặn trong những hoàn cảnh quá khó khăn
hay quá tế nhị. Đàng khác, cũng phải tránh thuyên chuyển các vị tới những nhiệm sở mà các vị phải hành
động xa anh em đồng sự. Trong mức độ có thể, nên cổ võ những hình thức sống chung xứng hợp.
Giai đoạn huấn luyện này có thể diễn tiến tại một trụ sở dành riêng cho mục đích này (nhà Giáo Sĩ)
hoặc tại một địa điểm cụ thể và thanh tịnh mà các Linh Mục mới bắt đầu học tập kinh nghiệm làm mục vụ
có thể lui tới tham khảo. Sự kiện này sẽ tạo cơ hội cho những cuộc trao đổi và thảo luận với Giám Mục và
với anh em Linh Mục, cho việc cầu nguyện chung (Phụng Vụ Giờ Kinh, đồng tế và Chầu Thánh Thể, lần
chuỗi v.v…, cho việc trao đổi kinh nghiệm, khuyến khích lẫn nhau, và làm nảy sinh những tương quan bạn
hữu tốt đẹp.
Giám Mục nên giao phó các tân Linh Mục cho những anh em đồng sự có đời sống gương mẫu và lòng
nhiệt thành mục vụ chắc chắn. Việc bổ nhiệm đầu tiên, cho dù có những đòi hỏi mục vụ cấp bách và nặng
nề, cũng phải đáp ứng trước tiên nhu cầu hướng dẫn đúng đắn các Linh Mục trẻ. Hy sinh trong một năm sẽ
mang lại nhiều kết quả cho tương lai. Cũng không phải là vô ích nếu nhấn mạnh rằng năm rất quan trọng và
tế nhị sẽ tạo điều kiện cho sự hiểu biết giữa Linh Mục và Giám Mục của mình được chín mùi, sự hiểu biết
này đã bắt đầu từ chủng viện nay phải trở thành một tương quan thực sự giữa con với Cha.
Về phương diện tri thức, năm mục vụ này không phải là thời gian học những bộ môn mới cho bằng để
hấp thụ và thấm nhuần tất cả những gì đã học trong các buổi học ở trường, như vậy mới đào tạo nên một não
trạng có khả năng phán đoán các biến cố dưới ánh sáng của thánh ý Thiên Chúa 238 .
Trong bối cảnh đó, người ta có thể tổ chức những bài dạy và những cuộc hội thảo thực hành việc xưng
– giải tội, Phụng vụ và giáo lý, giảng thiết, giáo luật, linh đạo Linh Mục, giáo dân và tu sĩ, học thuyết xã hội,
truyền thông và các phương tiện truyền thông, tìm hiểu các giáo phái và các hình thức tôn giáo mới v.v…
235 Sđd
236 DT 22; Pastores dabo vobis 19c
237 Phaolô VI Ecclesic Sanctae (6-8-66) 1,7; Thánh Bộ giáo sĩ : thư luân lưu gởi các Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục
Inter ea (4-11-1969), 16; Thánh bộ giáo dục công giáo : Ratio Fundamentalis Institutiones Sacerdotalis (19-3-85),
63; 101; GL 1032, 2
238 Thánh bộ giáo dục công giáo : Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotals (19-3-85) 63
Trong thực tế, năm mục vụ này phải là một năm đúc kết tổng hợp. Mọi yếu tố phải đáp ứng với dự án
cơ bản là làm trưởng thành đời sống thiêng liêng.
Sự thành công của năm mục vụ hoàn toàn tùy thuộc vào cam kết cá nhân của đương sự, hằng ngày
phải hướng tới sự thánh thiện, liên tục tìm kiếm các phương thế thánh hóa đã giúp mình khi còn ở chủng
viện.
Thời gian nghỉ ngơi.
83. Mối nguy của thói quen, sự mệt mỏi thể lý do làm việc quá sức mà ngày nay các Linh Mục
thường mắc phải vì các hoạt động mục vụ. Sự mệt mỏi tâm lý thường do phải liên tục đương đầu với sự
hiểu lầm, hiểu ngầm, thành kiến, sự đối kháng với các thế lực có tổ chức và mạnh mẽ muốn gây ấn tượng
rằng Linh Mục ngày nay thuộc thành phần thiểu số kém văn hóa: đó là một số nhân tố có thể gieo chán nản
vào lòng vị mục tử.
Cho dù công việc mục vụ có thúc bách, và cũng vì những thúc bách đó, muốn đương đầu thích đáng
với những sự việc nêu trên, các Linh Mục nên được hưởng những thời kỳ lâu hay mau tùy theo khả năng
đích thực – để nói chuyện lâu giờ hơn và tha thiết hơn với Chúa Giêsu , lấy lại sức mạnh can đảm hầu tiếp
tục con đường nên thánh của mình.
Để đáp ứng thời gian đặc biệt này, những điều sáng kiến đã được đưa ra tại nhiều giáo phận với những
kết quả đầy hứa hẹn. Những kinh nghiệm này rất lý thú và đáng được coi trọng, mặc dù những khó khăn của
một số cùng đang đặc biệt gánh chịu hậu quả đau thương của nạn thiếu Linh Mục.
Để đạt mục đích này, các nhà dòng, các thánh điện và những nơi lo đời sống thiêng liêng khác có thể
đóng một vai trò quan trọng, nếu xa các trung tâm thành phố lớn càng tốt cho phép Linh Mục rảnh rang mọi
trách nhiệm mục vụ trực tiếp.
Trong một vài trường hợp, sẽ thật hữu ích nếu những lần nghỉ chân này nhằm mục đích học hỏi hay
cập nhật hóa các khoa học thánh, nhưng không thể quên việc tái cung cấp năng lực cho đời sống thiêng liêng
và tông đồ.
Trong mọi trường hợp, phải tránh nguy cơ coi thời gian nghỉ ngơi này như một mùa nghỉ hè hoặc đòi
phải có nó như một quyền lợi.
Nhà Giáo Sĩ.
84. Nơi nào có thể, nên xây dựng một “ nhà Giáo Sĩ “ làm nơi tổ chức các cuộc gặp gỡ huấn luyện, và
làm nơi lui tới tham khảo trong nhều trường hợp khác. Ngôi nhà này phải có mọi cơ cấu làm cho nó trở nên
tiện lợi và niềm nở.
Nơi nào chưa có những cơ cấu đó mà thấy chúng là cần, thì khuyên xây dựng ở cấp quốc gia hoặc
vùng, những cơ cấu xứng hợp với việc phục hồi sức khỏe thể lý, tâm lý và thiêng liêng của các Linh Mục
cần đến chúng.
Tĩnh tâm và linh thao
85. Như kinh nghiệm thiêng liêng lâu dài của Giáo Hội đã minh chứng, các cuộc tĩnh tâm và linh thao
là một phương thế hữu hiệu và thích hợp cho việc huấn luyện thường xuyên của hàng Giáo Sĩ. Ngày nay
cũng vậy, chúng vẫn còn giữ được tính thời sự cần thiết. Đi ngược chiều với thái độ làm rỗng tuếch đời sống
nội tâm của con người, Linh Mục phải tìm gặp Thiên Chúa và gặp lại chính mình, bằng cách thực hành
những cuộc dừng chân thiêng liêng để đắm mình trong nguyện gẫm và cầu nguyện.
Chính vì kết quả này mà giáo luật qui định rằng các Giáo Sĩ “bắt buộc phải đi tĩnh tâm thiêng liêng
theo sự sắp xếp của Bản Quyền địa phương” 239 . Hai cách thức thông dụng nhất mà Giám Mục có thể qui định
cho giáo phận mình đã tĩnh tâm một ngày, nếu có thể là hàng tháng, và những cuộc linh thao hàng năm.
Thật là thuận lợi nếu Giám Mục tổ chức những kỳ tĩnh tâm và linh thao thế nào để mỗi Linh Mục có
thể lựa chọn để tham dự những kỳ được tổ chức ở trong hay ở ngoài giáo phận dưới sự hướng dẫn của các
239 GL 276, 2, 4; xem thêm Gl 533, 2 và 550, 3
Linh Mục gương mẫu hoặc do những học viện tu sĩ chuyên việc huấn luyện thiêng liêng do đặc sủng của họ,
hay trong các đan viện.
Cũng khuyên tổ chức một cuộc tĩnh tâm đặc biệt cho các Linh Mục chịu chức trong vòng mấy năm
sau, trong đó Giám Mục giữ phần chủ động 240 .
Trong những lần gặp gỡ này, điều quan trọng là đưa ra ánh sáng những đề tài thiêng liêng, dành nhiều
khoảng thời gian thịnh lặng và cầu nguyện, chăm sóc cách riêng các cử hành phục vụ, Bí Tích Sám Hối,
chầu Thánh Thể, linh hướng và những việc sùng kinh Đức Trinh Nữ Maria. Để mặc cho những phương thế
huấn luyện này một tầm mức quan trọng hơn và một sự hữu hiệu hơn. Giám Mục có thể bổ nhiệm cho một
Linh Mục, để thực hiện mục đích này. Với nhiệm vụ ấn định ngày giờ và phương thức.
Trong mọi trường hợp, những cuộc tĩnh tâm và cách riêng những cuộc linh thao hàng năm phải thực
sự là thời gian cầu nguyện, chớ không phải là những khóa cập nhật hóa thần học và mục vụ.
Cần sắp đặt chương trình
86. Việc huấn luyện thường xuyên thường gặp những khó khăn, chủ yếu do Linh Mục phải gánh vác
nhiều trách vụ nặng nề. Tuy nhiên phải nói rằng, những khó khăn này đều có thể vượt qua được hết, nếu các
Linh Mục được tào tạo biết ý thức trách nhiệm của mình.
Muốn đủ sức đương đầu với mọi hoàn cảnh và đối phó với đòi hỏi thúc bách của việc Phúc Âm hóa,
cần phải-ngoài các phương cách trên-đưa ra một hành động can đảm điều hành mục vụ nhằm lo cách riêng
cho các Linh Mục, các Giám Mục cần đòi hỏi, bằng sức mạnh của đức ái, các Linh Mục của mình áp dụng
một cách quảng đại, những qui định hợp pháp đã được thiết lập trong lãnh vực này.
“Chương trình huấn luyện thường xuyên” không những phải được cưu mang hay lên phương án, mà
còn phải được thực hiện. Muốn vậy, công việc này phải được cơ cấu hóa rõ rệt, nghĩ là gồm những mục
tiêu, nội dung và phương tiện.
NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM
Linh Mục
87. Chính Linh Mục là người đầu tiên và chính yếu có trách nhiệm về sự huấn luyện thường xuyên của
mình. Thật vậy, mỗi Linh Mục có bổn phận trung thành với ân huệ Thiên Chúa ban và với tính năng động
cải thiện hằng ngày, phát sinh từ đó 241 .
Không ai có thể thay thế Linh Mục trong nhiệm vụ lo cho mình (1Tm 4,16). Nhờ thông phần và chức
tư tế độc nhất của Đức Kitô, Linh Mục được mời gọi mạc khải và hiện thực, theo ơn gọi duy nhất của mình,
một số khía cạnh của sự giàu có lạ lùng nơi ân sủng mình đã được lãnh nhận.
Đàng khác, những điều kiện và hoàn cảnh sống của mọi Linh Mục, dù chỉ xét theo quan điểm thuần
nhân bản, cũng đòi buộc ngài phải đích thân dấn thân vào việc đào luyện mình để các khả năng và ân huệ
của mình sinh hoa trái.
Do đó, Linh Mục phải tích cực tham dự các buổi gặp gỡ huấn luyện, dựa trên những trình độ và khả
năng cụ thể của mình mà đóng góp vào. Linh Mục phải lo mua và đọc cuốn sách và tạp chí có nội dung Giáo
Lý chắc chắn và lợi ích thiết thực cho đời sống thiêng liêng và cho việc chu toàn thừa tác vụ một cách có
hiệu quả.
Trong các sách đọc, Kinh Thánh phải đứng hàng đầu rồi đến tác phẩm các giáo phụ và những nhà tu
đức xưa cũng như nay, những tài liệu của huấn quyền Giáo Hội, là nguồn mạch có thẩm quyền và hiện thực
nhất cho việc huấn luyện thường xuyên. Các Linh Mục sẽ trực tiếp và đích thân học tập và đào sâu các tài
liệu ấy để có thể trình bày lại cho giáo dân.
Sự giúp đỡ của anh em
240 Thánh bộ giáo dục công giáo :Rtio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (19-3-85), 101
241 Pastores dabo vobis 70
88. Trong tất cả các mặt của đời sống Linh Mục, người ta thấy được “những mối giây riêng biệt của
đức ái Tông Đồ ; của thừa tác vụ và của tình huynh đệ” 242 . Đó là nền tảng cho sự tương trợ giữa các Linh
Mục 243 biết tăng cường sự hợp tác của tất cả các Linh Mục với nhau trong việc chăm lo đời sống thiêng liêng
và bản thân, cũng như trong dịch vụ thừa tác của mình. Sự trợ giúp mà các Linh Mục cần trong lãnh vực
này, có thể tìm được điểm tựa vững chắc trong các Hiệp Hội Linh Mục khác nhau, có mục đích đào tạo một
linh đạo mang tính chất giáo phận đích thực. Trong đó những hiệp hội “mà nội qui được Giáo Quyền hữu
trách chuẩn nhận nhờ có chương trình sống thích hợp và được chuẩn y, cũng như nhờ có sự tương trợ huynh
đệ, các hiệp hội này thúc đẩy các Linh Mục nên thánh trong khi thi hành thừa tác vụ và góp phần đoàn kết
các Giáo Sĩ với nhau và với chính Giám Mục của họ” 244 .
Theo quan điểm này, bất cứ giá nào cũng phải tôn trọng quyền của mỗi Linh Mục giáo phận được tổ
chức đời sống thiêng liêng của mình như ngài nghĩ là thích hợp, dĩ nhiên phải phù hợp – việc đã rõ – với
những đặc tính ơn gọi của mình và của những mối liên hệ phát sinh từ đó.
Công việc mà các hiệp hội này cũng như các phong trào được phê chuẩn, hoàn thành vì lợi ích các
Linh Mục, được Giáo Hội đánh giá cao 245 , vì Giáo Hội ngày nay coi đó như dấu chỉ sức sống mà Chúa
Thánh Thần thông ban để liên tục đổi mới Giáo Hội.
Giám Mục
89. Cho dù phần dân Chúa đã được ủy thác cho ngài có rộng lớn và khó điều khiển, thì Giám Mục vẫn
phải đành một mối quan tâm thật đặc biệt cho việc huấn luyện thường xuyên các Linh Mục của ngài 246 .
Thật vậy, có một mối tương quan đặc biệt giữa Giám Mục và các Linh Mục của ngài, do “sự kiện các
Linh Mục lãnh từ Giám Mục chức linh mục của mình và chia sẻ với ngài mối quan tâm mục vụ cho toàn thể
Dân Chúa” 247 .
Tương quan này cũng xác định những trách nhiệm đặc biệt của Giám Mục trong lãnh vực huấn luyện
Linh Mục.
Những trách nhiệm này phải thể hiện đối với từng Linh Mục, vì việc huấn luyện cần phải được cá
nhân hóa chừng nào có thể, và cũng hướng về tất cả Linh Mục trong mức độ các ngài tạo thành Linh Mục
đoàn của giáo phận. Về phương diên này, Giám Mục nên cẩn trọng vun trồng sự thông công và thông hiệp
giữa các Linh Mục. Cách riêng, ngài lo liệu cho việc huấn luyện thường xuyên giữ được những đặc tính
riêng của nó, bằng cách giáo dục lương tâm các Linh Mục về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc huấn
luyện này, tổ chức bằng cách vạch ra một chương trình huấn luyện và tiên liệu những cơ cấu và nhân sự cần
thiết để thực hiện 248 .
Để huấn luyện các Linh Mục của mình, Giám Mục phải tham gia bằng cách huấn luyện thường xuyên
chính bản thân ngài, kinh nghiệm cho thấy Giám Mục càng lo huấn luyện bản thân mình bao nhiêu, thì càng
phải biết khuyến khích và nâng đỡ việc huấn luyện Linh Mục đoàn của mình bấy nhiêu.
Trong công tác tế nhị này, tuy giữ vai trò không thể thay thế và không thể ủy nhiệm cho ai được. Giám
Mục cũng phải biết dựa vào công tác của Hội Đồng Linh Mục. Hội Đồng này do bản tính và mục đích của
nó, xem ra là một cơ thể thích đáng để giúp đỡ Giám Mục trong mọi cái liên quan, chẳng hạn đến việc soạn
thảo một chương trình huấn luyện.
242 LM 8.
243 Sđd
244LM 8;GL278,2; Pastores dabo vobis 79
245 LM 8;GL278,2; Pastores dabo vobis 81
246 GM 16d
247 Pastores dabo vobis 79
248 Sđd
Hơn nữa Linh Mục sẽ cảm thấy được nâng đỡ và trợ giúp trong phận phụ mình bởi các anh em Giám
Mục khác, trong Hội Đồng Giám Mục 249 .
Đào tạo các nhà huấn luyện.
90. Không một cuộc huấn luyện nào khả dĩ có được nếu ngoài chủ thể cần được huấn luyện. Không có
một chủ thể nào khác làm công tác huấn luyện, đó là huấn luyện viên. Lợi ích và tính hữu hiệu của một
chương trình huấn luyện tùy thuộc vào một phần các cơ cấu tổ chức, nhưng phần chính tùy thuộc vào bản
thân các nhà huấn luyện.
Rõ ràng là đối với những người huấn luyện, trách nhiệm của Giám Mục trở nên tế nhị và quan trọng
cách đặc biệt.
Do đó, chính Giám Mục cần chỉ định một nhóm huấn luyện viên mà các thành viên được tuyển trọn
trong số các Linh Mục có tư cách cao và được nể trọng vì được trang bị tốt. Có sự trưởng thành nhân bản,
thiêng liêng, văn hóa và mục vụ. Thật vậy, các nhà huấn luyện trước hết phải là những người cầu nguyện,
những nhà giáo dục thông hiểu nhiều về siêu nhiên, có đời sống thiêng liêng sâu đậm, có cách sống gương
mẫu, có kinh nghiệm nhiều về thừa tác vụ Linh Mục, có khả năng phối hợp những đòi hỏi thiêng liêng với
các nhu cầu căn bản của Linh Mục, giống như các Giáo Phụ và các Thánh của một thời. Các nhà huấn luyện
cũng có thể được chọn trong Ban Giáo Sư các chủng viện, các trung tâm, các trường đại học được thẩm
quyền Giáo Hội thừa nhận hoặc trong số các thành viên những học viên mà đặc sủng của họ trực tiếp đụng
chạm đến đời sống và linh đạo Linh Mục. Trong mọi trường hợp, phải bảo đảm họ dạy Giáo Lý chính thống
và trung thành với kỷ luật Giáo Hội. Hơn nữa các nhà huấn luyện phải là những cộng sự viên tin cẩn của
Giám Mục, vì ngài là người lãnh trách nhiệm cuối cùng trong việc huấn luyện các cộng sự viên qúy báu
nhất của mình.
Cũng nên thành lập một nhóm “thảo chương trình và thực hiện” để giúp Giám Mục ấn định các dự
án hằng năm trong việc huấn luyện thường xuyên, cho từng mặt một chuẩn bị tư liệu cần thiết : tiên liệu các
khóa học, các phiên họp, các cuộc gặp gỡ và tĩnh tâm: tổ chức những lịch trình thích hợp, thấy trước những
sự vắng mặt và thay đổi Linh Mục v.v… Khi soạn thảo chương trình đầy đủ, cũng phải tiên liệu việc mời
một chuyên viên nào đó thuyết trình một đề tài được đưa ra.
Nếu chỉ cần thành lập một nhóm huấn luyện viên là đủ, thì trái lại có thể tổ chức nhiều nhóm lập
chương trình và thực hiện nếu thấy cần thiết.
Hợp tác giữa các Giáo Hội.
91. Đối với các phương thế tập thể của việc huấn luyện, thì việc lên chương trình các phương thế đó và
các nội dung cụ thể của chúng có thể ấn định do sự đồng ý giữa nhiều Giáo Hội địa phương. Ở cấp quốc gia
hoặc vùng – qua trung gian các Hội Đồng Giám Mục – hoặc giữa các giáo phận giáp ranh hay lân cận.
Như vậy người ta có thể sử dụng, nếu thấy hợp, những cơ cấu liên giáo phận như các phân khoa học
viện thần học và mục vụ, hay là các cơ quan và hiệp hội chuyên do đào tạo Linh Mục. Sự liên kết các cố
gắng, ngoài việc giúp thực hiện hiệp thông chính hiệu giữa các Giáo Hội địa phương, còn có thể cống hiến
cho mọi người những thuận lợi tốt hơn và khích lệ hơn về mặt kỹ thuật. Trong việc huấn luyện thường
xuyên 250 .
Hợp tác với trung tâm nghiên cứu và tu đức.
92. Hơn nữa, các học viện học hỏi và nghiên cứu, các trung tâm tu đức, cũng như các thánh điện và
các đan viện sống luật lệ gương mẫu là những bến đậu để cập nhập hóa môn thần học và mục vụ, để sống
những ốc đảo thinh lặng, để cầu nguyện để lãnh Bí Tích giải tội và linh hướng, để nghỉ ngơi cần thiết, cả về
mặt thể lý, để sống những giây phút của tình huynh đệ Linh Mục. Cũng vậy, các Dòng tu cũng có thể cộng
tác vào việc huấn luyện thường xuyên và góp phần canh tân hàng Giáo Sĩ, việc canh tân một đòi hỏi của
công cuộc Phúc Âm hóa mới trong thiên niên kỷ thứ ba.
249 DT 22; Thánh bộ giáo dục công giáo : Ratio Fundamentalis institutionis sacerdotalis (19-3-85), 101
250 Pastores dabo vobis 79
Các lứa tuổi và hoàn cảnh đặc biệt những năm đầu đời Linh Mục.
93. những năm đầu sau khi thụ phong, các Linh Mục phải dễ dàng tìm được những điều kiện để sống
và thi hành thừa tác vụ, cho phép các ngài đem ra thực hành lý tưởng đã gầy dựng từ lúc còn ở chủng viện 251 .
Những năm này, là những năm thử thách việc huấn luyện ban đầu sau khi đụng chạm với thực tế, nên có
tính quyết định cho tương lai. Chúng đòi hỏi một sự trưởng thành hài hòa mới có thể đương đầu với những
lúc khó khăn, nhờ đức tin và lòng dũng cảm. Vì mục đích đó, các Linh Mục trẻ phải được hưởng được một
tương quan cá vị với Giám Mục và với một Cha Linh Hướng đầy khôn ngoan ; phải hưởng được những thời
gian nghỉ ngơi, suy gẫm và tĩnh tâm hàng tháng.
Dựa theo những điều đã nói về năm mục vụ, trong những năm đầu đời Linh Mục, cần tổ chức những
cuộc gặp gỡ hằng năm để huấn luyện. Trong những lần gặp gỡ này, phải đưa ra soạn thảo và nghiên cứu hợp
thời các đề tài thần học, luật pháp, thiêng liêng và văn hóa nhờ những khóa họp đặc biệt dành để thảo luận
các vấn đề luân lý, mục vụ, phụng vụ v.v… Những cuộc gặp gỡ này cũng là cơ hội để ban lại năng quyền
Giải Tội theo giáo luật và Giám Mục qui định 252 . Điều cũng rất ích lợi là cổ võ được sự sống chung thân mật
giữa các Linh Mục trẻ với các Linh Mục cao tuổi hơn, để có thể trao đổi kinh nghiệm, hiểu biết lẫn nhau, và
sửa lỗi nhau trong tình huynh đệ, một việc thực hành tế nhị theo tinh thần Phúc Âm.
Sau cùng, phải làm sao cho vị Giáo Sĩ trẻ lớn lên trong bầu khí thiêng liêng của tình huynh đệ thật sự
và tế nhị, được biểu lộ bằng sự quan tâm đến chính bản thân Linh Mục, nhất là trong vấn đề sức khỏe thể
xác và những khía cạnh khác nhau của đời sống vật chất.
Sau những năm
94. Sau một số năm thi hành thừa tác vụ, các Linh Mục đã thu thập được một kinh nghiệm thật sự và
lập công lớn, vì đã dâng hiến mình hoàn toàn trong công việc hằng ngày để mở mang Nước Chúa. Nhóm các
Linh Mục này làm nên một sự giàu có thiêng liêng mục vụ.
Các vị ấy cần được khuyến khích, cần được đề cao giá trị vai trò của họ, cần đào sâu hơn việc huấn
luyện mình trong mọi chiều kích để duyệt xét lại chính mình và công việc mình làm; để làm sống dậy
những động lực của thừa tác vụ thánh; để suy nghĩ về phương pháp học mục vụ. Các vị cần đến sự hiệp
thông Linh Mục, tình bạn của Giám Mục để lướt thắng những kinh nghiệm mệt mỏi, thất vọng, cô đơn ;
sau cùng tìm gặp lại những nguồn mạch sâu thẳm của linh đạo Linh Mục 253 .
Do đó, điều quan trọng là các Linh Mục này hưởng lợi do0 các khóa huấn luyện đặc biệt và chuyên
sâu; những khóa huấn luyện này, ngoài những vấn đề thần học và mục vụ, còn cứu xét tất cả những khó
khăn về tâm lý và tình cảm có thể phát sinh trong giai đoạn này. Như thế các kỳ gặp gỡ này cần có sự tham
dự không những của Giám Mục, mà còn của các chuyên viên có khả năng góp phần vững vàng và chắc chắn
cho việc giải quyết các vấn đề nêu ra.
Tuổi cao.
95. Các Linh Mục cao niên, đáng được kính trọng nhất, cũng thông phần vào việc huấn luyện thường
xuyên, không phải để học hỏi cho thâm sâu hay tranh luận văn hóa, nhưng để “xác nhận một cách thư thái
và ôn hòa vai trò mà các ngài còn được mời gọi nắm giữ trong Linh Mục đoàn” 254 .
Ngoài việc tham gia huấn luyện có tổ chức dành cho các Linh Mục tuổi trung bình, các ngài có thể
hưởng dùng những thời giờ riêng, những địa điểm và những cuộc gặp gỡ đặc biệt để đào sâu ý nghĩa chiêm
niệm của đời sống Linh Mục, để tái khám phá và quí trọng những kho tàng giáo lý đã học được, để tự thấy
mình còn hữu dụng- và thực sự là thế-vì tài năng các ngài tăng giá trị qua những hình thức xứng hợp của
thừa tác vụ đích thực và chuyên biệt mà các ngài thi hành, chủ yếu như làm Cha giải tội kinh nghiệm hay
làm Cha linh hướng. Cách riêng, các ngài có thể chia sẻ kinh nghiệm với các Linh Mục khác, khích lệ, đón
251 Sđd, 76
252 GL 970; 972
253 Pastores dabo vobis 77
254 Sđd
tiếp, lắng nghe và trấn tĩnh anh em đồng sự, sẵn sàng khi được yêu cầu “trở thành những thầy dạy và huấn
luyện viên chân chính đối với các Linh Mục khác” 255 .
Những Linh Mục trong hoàn cảnh đặc biệt
96. Không kể tuổi tác, các Linh Mục cũng có thể ở vào “một hoàn cảnh suy yếu thể lý hay mệt mỏi
tinh thần” 256 . Nếu biết dâng đau khổ của mình, các ngài đóng góp phần rất lớn vào công trình cứu độ và nêu
lên “một chứng từ ghi dấu bằng dấu thánh giá, cam chịu trong hy vọng và niềm vui Vượt Qua” 257 .
Việc huấn luyện thường xuyên của các Linh Mục này phải nhằm khuyến khích các ngài “tiếp tục phục
vụ Giáo Hội một cách bình thản và can trường” 258 . Việc huấn luyện đó còn là dấu chỉ hùng hồn về ưu thế của
hữu thể trên hành động, của nội dung trên kỹ thuật, của ân sủng trên hiệu quả bên ngoài. Như thế, các ngài
có thể sống kinh nghiệm của Thánh Phaolô: tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em, và trong
thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách điều Đức Kitô phải chịu vì Thân Mình
Ngài, tức là Hội Thánh (Cl 1, 24).
Giám Mục và các Linh Mục khác không bao giờ được bỏ qua những cuộc thăm viếng định kỳ đối với
các anh em đau bệnh này, các ngài cần được thông tin về đời sống của giáo phận hơn hết, cho các ngài cảm
thấy mình là những thành phần sống động của Linh Mục đoàn và của Giáo Hội toàn cầu mà các ngài đang
xây đựng bằng đau khổ của mình. Người ta phải tỏ tình yêu thương cách riêng với những Linh Mục gần
ngày kết thúc đường đi của mình ở thế gian, sau một cuộc đời dâng hiến để phục vụ Thiên Chúa và lo phần
rỗi cho anh em mình.
Toàn thể Linh Mục đoàn không những lấy lời lẽ đức tin mà an ủi các ngài, ân cần ban Bí Tích mà còn
cầu nguyện cho các ngài.
Nỗi cô đơn của Linh Mục
97. Ở bất cứ lứa tuổi nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào, Linh Mục cũng có thể có cảm nghiệm về sự
cô đơn 259 . Sự cô đơn này không hiểu như sự cô lập tâm lý, có thể hậu quả rất bình thường của sự gắn bó chân
thành với Phúc Âm, và từ đó tạo nên một chiều kích không thể thay thế cho đời sống cá nhân. Tuy nhiên,
trong một vài trường hợp, nó có thể bắt nguồn từ những khó khăn đặc biệt, như sự bị đặt ra bên lề, sự hiểu
lầm, những lệnh đường, sự bị bỏ rơi, những bất ngôn, những giới hạn của bản tính cá nhân hoặc bản tính của
người khác, những vu oan, những hạ nhục v.v… Từ đó có thể phát sinh một cảm giác mạnh của thất vọng,
rất độc hại.
Tuy nhiên những lúc khó khăn này cũng có thể nhờ ơn Chúa giúp, để trở nên những cơ hội đặc biệt
mang lại tiến bộ mới trên con đường nên thánh và làm Tông Đồ. Thật vậy Linh Mục có thể khám phá ra
rằng đó chỉ “là một sự đơn độc có Chúa hiện diện” 260 . Nhưng điều này không làm nhẹ trách nhiệm của Giám
Mục và Linh Mục đoàn, là phải tránh sự cô đơn nảy sinh do sự chểnh mảng đối với tình hiệp thông Linh
Mục.
Cũng không được quên những anh em đồng sự đã từ bỏ thừa tác vụ. Phải giúp đỡ các vị những gì cần
thiết và nhất là giúp đỡ bằng lời cầu nguyện và đền tội. Đức bác ái mà người ta phải sống đối với các ngài
không được dẫn đến quyết định giao phó cho họ những phận vụ của Giáo Hội :làm vậy có thể tạo ra sự hỗn
loạn và bất an, nhất là giữa giáo dân vì hoàn cảnh của những anh em đó.
KẾT.
Chủ mùa gặt, Đấng kêu mời và sai thợ gặt vào làm việc trong đồng lúa mình (x. Mt 9, 38) đã hứa và
sẽ muôn đời trung thành : “Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử như lòng Ta mong muốn (Gr 3,15).
Chính trên sự trung thành của Chúa luôn sống động trong Giáo Hội” 261 . Mà chúng ta hy vọng lãnh nhận
255 Sđd
256 Sđd
257 Sđd, 41
258 Sđd, 77
259 Sđd 74
260 Sđd
nhiều ơn gọi Linh Mục phong phú và thánh thiện, hy vọng này đã trở thành hiện thực trong nhiều nước.
Cũng chính lòng trung thành của Chúa bảo đảm chắc chắn rằng Chúa sẽ không quên ban cho Giáo Hội ánh
sáng cần thiết để hăng hái ra khơi thả lưới đương đầu với cuộc phiêu lưu đầy quyến rũ bủa lưới ngoài khơi.
Đáp lại hồng ân của Thiên Chúa, Giáo Hội dâng lời cảm tạ, sống trung thành sẵn sàng vâng theo Chúa
Thánh Thần, cầu nguyện khiêm tốn và kiên trì.
Muốn thực hiện sứ mạng Tông Đồ của mình, Linh Mục phải ghi khắc trong tim những lời này của
Chúa: “Lạy Cha, Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm, là ban sự
sống đời đời cho mọi người” (Ga 17, 2-4). Vì thế Linh Mục phải hy sinh cho anh em bằng cách sống như
một dấu chỉ đức ái siêu nhiên, trong vâng phục, trong khiết tịnh độc thân, trong đơn sơ tôn trọng kỷ luật hiệp
thông trong Giáo Hội.
Trong công cuộc Phúc Âm hóa, Linh Mục vượt lên trên trật tự, tự nhiên để sống trong mọi “liên hệ
với Thiên Chúa” (Dt 5,1). Thật vậy, ngài được kêu mời nâng cao con người, bằng cách sinh ra con người
sống sự sống thần linh và làm cho con người tăng trưởng trong cuộc sống đó cho tới độ viên mãn Chúa Kitô.
Chính vì vậy mà một Linh Mục chính hiệu, tìm sống trung tín với Đức Kitô và Giáo Hội, tạo nên một sức
mạnh không thể sánh được mang tiến bộ cho toàn thế giới.
“Cuộc tân Phúc Âm hóa cần những nhà truyền bá Phúc Âm mới, những Linh Mục dấn thân sống chức
tư tế của mình như một con đường nên thánh” 262 . Chính những con người của Thiên Chúa hoàn toàn thành
những công việc của Thiên Chúa!
Như Đức Kitô, Linh Mục phải tỏ mình cho thế gian như một gương mẫu đời sống siêu nhiên. Ta đã
nêu gương cho các ngươi thế nào, các ngươi cũng làm như vậy (Ga 13,15).
Chứng tá đời sống tạo nên phẩm cách của Linh Mục và làm lời rao giảng trở nên thuyết phục hơn.
Chính kỷ luật của Giáo Hội, khi được sống vì những lý do nội tâm sâu xa, trở nên một trợ lực quan phòng để
sống căn tính Linh Mục, để khơi dậy đức ái và làm cho chứng tá thêm sáng ngời mà không có nó, mọi
chuẩn bị văn hóa hay mọi chương trình nghiêm túc, cũng chỉ là trò đùa. “Làm” cũng chẳng ích gì nếu thiếu
“chung sống với Đức Kitô”.
Chính tại đây, đường chân trời của căn tính, của đời sống, của thừa tác vụ, của việc huấn luyện thường
xuyên của Linh Mục mở ra cho những đòi hỏi thúc bách của cuộc Phúc Âm hóa mới : một tránh nhiệm to
lớn, năng động, can đảm, được đức tin soi sáng được đức ái nâng đỡ và đâm rễ sâu trong đức ái.
Không ai đơn độc làm công việc vừa cần thiết vừa cấp bách này. Linh Mục phải cảm thấy được nâng
đỡ bởi sự điều hành mẫu mực, vững vàng và cương nghị của Giám Mục. trong niềm hiệp thông trong suốt
với Tòa Thánh, cũng như trong sự hợp tác với toàn thể Linh Mục đoàn và dân Chúa.
Ước gì mọi Linh Mục phó thác mình cho Đức Maria, Mẹ của lòng tín thác. Trong đời Mẹ, Mẹ đã “là
mẫu gương của tình yêu mẫu tử, tình yêu khích lệ tất cả những ai đã liên kết vào sứ mạng Tông Đồ trong
Giáo Hội, cộng tác vào việc tái sinh nhân loại” 263 . Trong Mẹ, các Linh Mục sẽ gặp được ơn che chở liên lỉ và
ơn trợ giúp để canh tân đời sống mình và để làm cho chức tư tế của các ngài phát sinh một tiến triển Phúc
Âm có cường độ mạnh hơn và mới mẻ hơn, trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ cứu độ thứ ba.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, ngày 31/1/1994 đã phê chuẩn Kim Chỉ Nam này và đã
ban phép phổ biến.
Đ.H.Y JOSÉ T. SANCHEZ
Chưởng ấn
CRESCENZIOSEPE
Tổng Giám Mục hiệu tòa Grado
Thư ký
261 Sđd, 82
262 Sđd, 82
263 GH 65
KINH LẠY MẸ RẤT THÁNH ĐỒNG TRINH MARIA
Lạy Đức Maria,
Là Mẹ của Đức Giêsu Kitô và là Mẹ của các Linh Mục
xin hãy nhận lấy tước hiệu mà chúng con dâng cho Mẹ
để ngợi ca chức quyền Thánh mẫu của Mẹ
và để kề bên Mẹ chiêm ngắm chức Linh Mục của con Mẹ
và của các con cái Mẹ
lạy thánh mẫu của Thiên Chúa!
Lạy Mẹ Đức Kitô,
Mẹ đã tặng ban cho Đấng Mesia Linh Mục
một thân thể xác phàm
nhờ được Thánh Thần xức dầu
để cứu độ nngười nghèo
và cứu độ những con người có trái tim tan nát
xin hãy gìn gữ các Linh Mục trong trái tim Mẹ
và trong Giáo Hội
Lạy Mẹ Đấng Cứu Độ !
Lạy Mẹ Đức Tin
Mẹ đã sánh bước tới Đền Thờ cùng với Con Người
là sự ứng nghiệm của những lời hứa
như đã được ngỏ với cha ông chúng con
xin hãy trao gởi các linh mục của con Mẹ
cho Thiên Chúa Cha
để làm vinh danh ngài
Lạy Hòm Bia Giao Ước !
Lạy Mẹ Giáo Hội
tại phòng Tiệc Ly, giữa các Môn Đệ
Mẹ đã cầu nguyện với Thánh Thần
cho dân mới và cho các vị mục tử của dân mới
xin hãy làm cho hàng Linh Mục được dư tràn các ân huệ
lạy nữ vương các Tông Đồ !
Lạy Mẹ Đức Giêsu Kitô.
Mẹ đã ở với ngài vào lúc khởi đầu cuộc sống và sứ vụ của Ngài.
Mẹ đã tìm kiếm Ngài khi Ngài đang làm Thầy giữa đám đông.
Mẹ đã đứng kề bên Ngài.
khi Ngài được nâng lên khỏi mặt đất.
hoàn tất mọi sự để trở nên hy lễ duy nhất vĩnh cửu.
Xin hãy đón nhận những kẻ được Chúa mời gọi
Khi họ cất những bước đầu tiên trên nẻo đường của họ.
xin hãy che chở cho sự tăng triển của họ
xin hãy sát cánh với những người làm con Mẹ.
trong đời sống và trong thừa tác vụ.
lạy Mẹ là Mẹ các Linh Mục.
AMEN.
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
GH : Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, CĐ, Vaticanô II.
MK : Hiến chế tín lý Mạc Khải của TC Dei Verbum, CĐ Vaticanô
MV : Hiến chế mục vụ về GH trong thế giới ngày nay, Gaudum et Spes, CĐ Vaticanô II.
GM : Sắc lệnh Nhiệm vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội, Chistus Dominus, CĐ Vaticanô II.
LM : Sắc lệnh chức vụ và đời sống Linh Mục, Prebayterorum ordinis, CĐ Vaticanô II.
ĐT : Sắc lệnh đào tạo Linh Mục, optatam totius, CĐ Vaticanô II.
TĐ : Sắc lệnh Tông Đồ giáo dân, Apostolican Actuositatem, CĐ Vaticanô II.
TG : Sắc lệnh hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, Ad Gentes, CĐ Vaticanô II.
GL : Giáo luật, CIC.
GLCG : Giáo Lý Chung Giáo Hội Công Giáo.
Sđd : Ibid, Sách đã dẫn.
THÁNH BỘ GIÁO SĨ
LINH MỤC
VÀ THIÊN NIÊN KỶ
KITÔ GIÁO THỨ BA
THẦY DẠY LỜI CHÚA,
THỪA TÁC VIÊN CÁC BÍ TÍCH
VÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN.
Vatican, ngày 19/3/1999
Lễ trọng kính Thánh Cả Giuse
Bổn mạng của Hội thánh hoàn vũ
51
Kính thưa Đức Hồng Y,
Kính thưa Đức Cha,
Trong tinh thần sám hối, toàn thể Hội thánh đang chuẩn bị bước vào Thiên niên kỷ thứ ba gần kề, kể
từ cuộc Nhập thể của Ngôi Lời, và do sự ân cần tông đồ của Đấng kế vị Thánh Phêrô, toàn thể Hội thánh
được thúc đẩy hồi tưởng cách sống động hơn Thánh Ý của Đấng Sáng lập thần linh.
Trong sự hiệp thông mật thiết với mục tiêu đó, trong phiên họp khoáng đại từ ngày 13 đến 15 tháng 10
năm 1998, Thánh bộ Giáo sĩ đã quyết định gởi Lá thư luân lưu này đến tất cả các Đấng bản quyền, nhờ các
ngài chuyển cho các linh mục. Nhân dịp này, Đức Thánh Cha nói : "viễn tượng Phúc âm hóa mới đạt đến
đỉnh cao trong Năm thánh. Theo sự quan phòng của Chúa, chính ở đây, chúng ta đi lại những con đường đã
vạch ra trong Tông thư Tertio millennio adveniente, trong Bản Chỉ nam cho các linh mục và phó tế vĩnh
viễn, trong chỉ thị về sự hợp tác của các tín hữu vào thừa tác vụ mục vụ của các linh mục, cũng như trong
những hoa trái của các phiên họp. Nhờ áp dụng các xác tín và phổ quát những tài liệu này, điều mà ngày nay
chúng ta quen gọi là "Tân Phúc âm hóa" có thể được chuyển thành hành động cách dễ dàng hơn".
Quan tâm đến những hoàn cảnh sống hiện nay, tài liệu này có mục đích giúp các linh mục cũng như
các hội đồng linh mục kiểm điểm lại, nhớ lại rằng nói một cách cụ thể, yêu thương có nghĩa là trung tín. Tài
liệu này lấy lại những giáo huấn của Công đồng, của các Đức Giáo Hoàng, và tham chiếu những tài liệu
khác đã được Đức Thánh Cha nhắc tới. Những tài liệu trên là nền tảng cho lời đáp trả đích thực trước những
đòi hỏi trong thời đại chúng ta, và cho sứ vụ Phúc âm hoá được hiệu quả.
Những câu hỏi ở cuối mỗi chương có mục đích giúp đỡ cho việc biệt phân thực tại sống hằng ngày
trong ánh sáng của giáo huấn hàm chứa trong những tài liệu đã nêu. Những câu hỏi đó không nhằm mục
đích trả lời cho Thánh Bộ. Các linh mục có thể sử dụng những câu hỏi đó cách nào ích lợi nhất.
Chúng tôi biết rằng không có hoạt động truyền giáo nào có thể chu toàn mà không có sự hỗ trợ nhiệt
tình của các linh mục, vốn là những cộng tác viên đầu tiên và quí giá nhất của hàng Giám mục. Lá thư này
cũng có mục đích giúp đỡ các linh mục trong những ngày học hỏi, tĩnh tâm, linh thao, cũng như trong những
cuộc hội họp của các linh mục theo từng miền, được tổ chức trong thời gian chuẩn bị Năm Thánh và nhất là
trong Năm thánh.
Nguyện xin Nữ Vương các thánh Tông Đồ, là Ngôi Sao mai bừng sáng, dẫn đưa các linh mục yêu dấu
của Mẹ những người con của Con Mẹ – bước vào nẻo đường hiệp thông thực sự, nẻo đường trung tín và thi
hành cách quảng đại và toàn diện thừa tác vụ cần thiết của họ.
Thân ái trong Chúa Kitô.
Hồng Y Dario Castrillon Hoyos
Tổng trưởng
X Csaba Ternyak
Tổng Giám Mục hiệu toà Eminentiana
Thư ký
52
MỤC LỤC
CHỈ NAM CHO THỪA TÁC VỤ
Và ĐỜI SỐNG LINH MỤC
1994
DẪN NHẬP 483
CHƯƠNG I CĂN TÍNH LINH MỤC 486
Chức Tư Tế Như Một Ân Huệ 486
Căn nguyên Bí Tích 487
Hiệp thông với Chúa Cha Chúa Con và Thánh Thần 488
Trong tác động cứu chuộc của Ba Ngôi 488
Tương quan mật thiết với Ba Ngôi. 489
Căn tính đặc thù 490
Giữa Lòng Dân Thiên Chúa. 491
Ấn tích 492
Hiệp thông cá vị với Chúa Thánh Thần 492
Khẩn cầu Chúa Thánh Thần. 493
Sức mạnh hướng dẫn cộng đoàn. 493
“Trong” và “đối diện” với Giáo Hội. 494
Tham dự một cách nào đó vào Hôn Ước của Đức Giêsu. 494
Tính phổ quát của chức Linh Mục. 496
Chiều kích thừa sai của chức tư tế. 497
Quyền bính như “ dịch vụ tình yêu”. 498
Cám dỗ của tinh thần dân chủ lệnh lạc. 499
Phân biệt giữa chức tư tế cộng đồng và thừa tác. 501
Chỉ Linh Mục mới là mục tử. 502
Hiệp thông với Ba Ngôi và với Đức Kitô. 503
Hiệp thông với Giáo Hội. 503
Hiệp thông phẩm trật 504
Hiệp thông trong cử hành Thánh Thể. 505
Hiệp thông trong hoạt động thừa tác 505
Hiệp thông trong Linh Mục đoàn 507
Gia nhập vào một Giáo Hội địa phương 508
Linh mục đoàn, nơi thánh hóa 509
Tình bằng hữu Linh Mục 510
Đời sống chung 510
Hiệp thông với giáo dân. 511
Hiệp thông với các thành viên những Tu Hội sống đời thánh hiến 513
Mục vụ ơn gọi 514
Dấn thân vào chính trị và xã hội 514
CHƯƠNG II: ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
CỦA LINH MỤC 516
Giải thích những dấu chỉ thời đại 516
Việc Phúc Âm hóa mới là đòi hỏi 517
53
Thách đố về phía các giáo phái và tôn giáo mới 519
Bóng tối và ánh sáng trong hoạt động tác vụ. 520
Ưu tiên của đời sống thiêng liêng. 521
Các phương thế cho đời sống thiêng liêng. 521
Noi gương Đức Kitô cầu nguyện. 523
Bắt trước Giáo Hội cầu nguện 524
Cầu nguyện là hiệp thông. 525
Thể hiện đức ái của Đức Kitô 526
Chủ nghĩa công chức 527
Trung thành với Lời 527
Lời và đời sống 530
Lời Chúa và việc dạy Giáo Lý: 532
Mầu Nhiệm Thánh Thể 534
Cử hành Thánh Thể 535
Chầu Thánh Thể. 537
Thừa tác viên của sự hòa giải 538
Tận tụy trong thừa tác vụ Hòa Giải 539
Sự cần thiết phải xưng tội 540
Linh hướng cho mình và cho kẻ khác. 541
Linh Mục cho cộng đoàn 541
Sentire cum Ecclesia- đồng cảm với Giáo Hội. 543
Ý muốn vững chắc của Giáo Hội 544
Những lý do thần học và thiêng liêng. 544
Gương Chúa Giêsu 547
Những khó khăn và vấn nạn 548
Nền tảng của đức vâng lời 551
Đức vâng lời phẩm trật 552
Quyền bính được thực thi với đức ái 554
Tôn trọng các quy luật Phụng Vụ 554
Hợp nhất trong các chương trình mục vụ 555
Buộc mặc áo Giáo Sĩ 556
Nghèo khó như một sự sẵn sàng 557
Những nhân đức của Mẹ 559
CHƯƠNG III: VIỆN HUẤN LUYỆN THƯỜNG XUYÊN 562
Sự cần thiết huấn luyện thường xuyên ngày nay 562
Làm việc liên tục cho mình. 563
Khí cụ thánh hóa 563
Được Giáo Hội ban cho 564
Việc huấn luyện thường xuyên 565
Đầy đủ 565
Nhân bản 566
Thiêng liêng 566
Trí thức 568
Mục vụ 569
Có hệ thống 570
Nhắm đến cá nhân 571
Những cuộc gặp gỡ Linh Mục. 571
Năm mục vụ 573
Thời gian nghỉ ngơi. 575
Nhà Giáo Sĩ. 576
Tĩnh tâm và linh thao 576
54
Cần sắp đặt chương trình 578
Linh Mục 579
Sự giúp đỡ của anh em 580
Giám Mục 581
Đào tạo các nhà huấn luyện. 582
Hợp tác giữa các Giáo Hội. 584
Hợp tác với trung tâm nghiên cứu và tu đức. 584
Các lứa tuổi và hoàn cảnh đặc biệt những năm đầu đời Linh Mục. 585
Sau những năm 586
Tuổi cao. 587
Những Linh Mục trong hoàn cảnh đặc biệt 588
Nỗi cô đơn của Linh Mục 589
KẾT. 590







