CHÚA GIÊSU, ĐẤNG CỨU THẾ

I. Ý chính của chương

Chương này có 5 số:

Số 19

Giáo hội phải dành ưu tiên tuyệt đối cho việc loan báo Đức Giêsu Kitô.

Lý do trước hết là lệnh truyền của Chúa (Mt 28,18-20), lý do 2 là các tông đồ đã thực hành ngay mệnh lệnh đó (Mc 16,20), lý do 3 là Giáo hội ngày nay khẳng định “không thể gọi là Phúc âm hóa thực sự, nếu không loan báo cho biết tên, giáo huấn, cuộc đời, các lời hứa, Nước Thiên Chúa, mầu nhiệm Đức Giêsu Nadarét là Con Thiên Chúa” (Tông huấn loan Tin mừng 22). Như vậy nhất thiết phải loan báo Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu thế, nhưng loan báo thế nào ? Phải  lưu ý tới bốn điểm :

Số 20 

  1. Ở Á Châu, cần phải loan báo với lòng quí mến và tôn trọng những người nghe, vì các thính giả ở Á Châu đã có truyền thống văn hóa và tôn giáo tự lâu đời. Họ tự hào về giá trị giải thoát của chúng, mà thực ra đó cũng là do CTT chuẩn bị (xem số 18). Hơn nữa các giá trị văn hóa và tôn giáo của họ lại quyện chặt với nhau khó mà phân biệt. Vì thế họ khó chấp nhận Đức Giêsu Kitô là vị cứu thế độc nhất và còn coi Ngài là xa lạ (chỉ cần nhớ đến việc năm 1742 Tòa Thánh cấm thờ kính tổ tiên, rồi đến năm 1934 mới phân biệt để cho phép những cử chỉ tỏ lòng hiếu thảo). Vì thế,
  2. Phải bắt chước thánh Phaolô dùng những giá trị văn hóa tôn giáo, triết học của người nghe để dần dần từng bước giúp họ nhận ra chỉ có Đức Giêsu Kitô đáp ứng được khát vọng của họ ;
  3. Phải dùng phương pháp rất quen thuộc ở Á Châu là thuật chuyện về cuộc đời Đức Giêsu Kitô, dùng những hình ảnh họ cũng rất quen thuộc để giới thiệu Ngài, dùng các câu chuyện, dụ ngôn để trình bày giáo lý (như Chúa đã dùng). Phải thi đua bắt chước các nhà truyền giáo xưa, như Cha Matteo Ricci ở Trung Quốc, cha Robertô Nobili ở Ấn độ… đã làm một việc mà nay gọi là hội nhập văn hóa, và đã thành công tốt đẹp.

Số 21

Cần phải hội nhập văn hóa. Đây là một thách đố cho Giáo hội, nghĩa là một việc đòi Giáo hội phải dám làm, và bắt buộc Giáo hội phải theo, nếu muốn Phúc âm hóa có hiệu quả. Muốn hội nhập văn hóa Giáo hội phải :

a. Dùng những yếu tố tích cực và tốt đẹp trong văn hóa và tôn giáo (chẳng hạn đạo Hiếu), và đổi mới chúng theo Tin Mừng. Nhờ đó chân lý Phúc âm lại được trình bày bằng những yếu tố văn hóa và tôn giáo của họ, sao cho giáo lý về Đức Giêsu Kitô thích nghi với văn hóa Á Châu mà vẫn trung thành với truyền thống đức tin. Đây là công việc hai chiều chứ không phải một chiều.

b. Lắng nghe và dõi theo hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Đấng là tác nhân đứng hàng đầu trong việc hội nhập văn hóa tại Á Châu (xem số 18). Ngài giúp cho cuộc đối thoại, trao đổi giữa đức tin và văn hóa được diễn biến trong tôn trọng sự thật và đạt tới sự thật toàn vẹn. Tông huấn nêu lên một số lãnh vực cần hội nhập văn hóa.

Số 22

Một số lãnh vực then chốt cần hội nhập văn hóa, đó là :

  1. Thần học về Chúa Kitô, đây là lãnh vực thường gây rắc rối hoang mang và “xì căng đan” (chẳng hạn Chúa Kitô không phải độc nhất…)
  2. Phụng vụ và Bí tích với các cuộc lễ hội tôn giáo và các truyền thống đạo đức  bình dân (dâng hoa).
  3. Thánh Kinh với bản dịch bằng tiếng địa phương thích nghi để người dân dễ tiếp xúc với Lời Chúa, biết dùng Thánh kinh để cầu nguyện, chiêm niệm và hướng dẫn đời sống.
  4. Đào tạo giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân là những người loan báo Phúc âm cho Á Châu. Trước đây thường đào tạo theo kiểu mẫu Tây phương (chẳng hạn dùng văn hóa Tây phương để hiểu và sống Tin mừng) tuy cần để hiểu biết giáo lý theo truyền thống Giáo hội Tây phương và các giáo phụ, nhưng cũng cần học hỏi những giá trị triết học và tôn giáo ở Á Châu, nghiên cứu về các yếu tố trong linh đạo và cầu nguyện thích hợp và với tâm hồn Á châu. Giáo hội tại Á Châu có bản sắc Á Châu hay không là tùy ở việc Giáo hội có đào tạo giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân biết quan tâm để hội nhập văn hóa hay không.

Số 23

Dùng đời sống Kitô hữu như một cách loan báo Đức Giêsu Kitô. Việc loan báo Đức Giêsu Kitô tại Á châu là một việc khó cả về nội dung lẫn phương pháp, cần phải suy nghĩ, tìm tòi, thử nghiệm. Nhưng trước hết và trên hết đời sống Kitô hữu đích thực vẫn luôn luôn là thượng sách : “Tại Á Châu, một người có lòng đạo đức  đích thực rất dễ được kính trọng và nghe theo”. Muốn có một đời sống Kitô hữu đích thực, cần xác tín rằng : việc truyền giáo hay Phúc âm hóa vừa là một hoạt động có chiêm niệm, nghĩa là hoạt động đã được chiêm niệm, cầu nguyện và thi hành trong tinh thần cầu nguyện, chiêm niệm, vừa là một chiêm niệm có hoạt động nghĩa là không phải chỉ chiêm niệm cầu nguyện suông mà thôi, nhưng là chiêm niệm và cầu nguyện về hoạt động và hướng tới hoạt động. Sách giáo lý HTCG nói cách khác là : cầu nguyện thế nào thì sống như vậy. Phải có lửa cháy thì mới đốt sáng cho người khác có lửa cháy được (không có lấy gì mà cho). Vấn đề này, được tông huấn khai triển trong các chương sau : muốn có Đức Giêsu Kitô thì phải hiệp thông với Ngài.

II. Suy nghĩ, khám phá và đào sâu

1. Việc loan báo Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại

Số 19 và 20 của tông huấn Giáo Hội tại Á châu nhấn mạnh tới đối tượng chính của việc loan báo Tin Mừng là xác định : Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế duy nhất của nhân loại.

Tại Á châu đã có nhiều tôn giáo lớn, mà trong đó Kitô giáo chỉ là thiểu số.  Về mặt lý thuyết, do ảnh hưởng của triết lý động và đa diện, các tôn giáo Á châu có tính dung nạp cao, nghĩa là có thể chấp nhận các tôn giáo khác với mình cũng đúng.  Nói khác đi, hầu như mỗi tôn giáo Á châu có thể nhìn nhận giáo chủ của các tôn giáo khác cũng là những vị có thiên cảm, do từ trên sai xuống, hay là Đấng cứu thế.  Vì thế, các tín đồ tôn giáo khác có thể chấp nhận Đức Giêsu là một Đấng Thiên Sai, một vị cứu tinh của nhân loại, một vị có nguồn gốc thần linh, v.v… mà không có gì trở ngại với lý thuyết của họ.  Rất nhiều người trong các tôn giáo Á châu hiện nay cũng tin như thế.

Vì thế, nếu Kitô giáo loan báo Đức Giêsu Kitô là một Đấng cứu tinh của nhân loại, thì điều đó không có gì trở ngại và rất nhiều người công nhận, cho dù trong các tôn giáo khác.  Nhưng nếu người Kitô hữu muốn đi xa hơn, là rao giảng Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất, thì quả thực điều này thực khó chấp nhận đối với những người đang theo một tôn giáo Á châu khác.  Những người chưa được đào tạo, hay chưa có một căn bản sâu xa về lý thuyết trong các tôn giáo ấy thì còn có thể tương đối dễ chấp nhận điều ấy.  Nhưng đối với những người đã chịu ảnh hưởng sâu xa giáo lý của các tôn giáo ấy, điều ấy quả rất khó chấp nhận.

Nhìn nhận Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Tinh duy nhất, đồng nghĩa với phủ nhận tính cứu tinh của vị giáo chủ họ đang theo.  Vì «duy nhất» có nghĩa là chỉ người ấy, vật ấy chứ không còn ai hay cái gì khác.  Trong lúc đó, tín đồ tôn giáo nào cũng tin rằng vị giáo chủ của tôn giáo mình là Đấng cứu tinh lớn nhất, vĩ đại nhất – chứ không hẳn là duy nhất – của nhân loại.  Việc rao giảng hay xác định Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất đối với họ có thể là một điều xúc phạm, chạm tự ái tập thể, hay ít nhất là chói tai, khó có thể chấp nhận được.  Nên nhớ, chạm tự ái tập thể thì khiến người ta dễ nổi giận hơn chạm tự ái cá nhân.

Chúng ta cần phải nhậy bén trong vấn đề tâm lý này.  Hãy đặt mình vào địa vị của họ thì sẽ dễ hiểu hơn.  Giả như có tôn giáo nào xác định một cách công khai trên những phương tiện truyền thông xã hội rằng chỉ có vị giáo chủ của họ là vị cứu tinh duy nhất của nhân loại, ta sẽ suy nghĩ thế nào.  Chắc chắn chúng ta sẽ nghĩ rằng xác định ấy quả là hợm hĩnh, thậm chí trâng tráo, và chúng ta khó có thiện cảm với một tôn giáo như thế.  Vì chưa gì chúng ta đã thấy tôn giáo hay vị giáo chủ mình đang theo bị xúc phạm rồi.  Một điều gây mất thiện cảm ngay từ đầu.

Nhưng lập trường của tông huấn Giáo Hội tại Á Châu chủ trương rằng phải «nói sự thật trong tình bác ái».  Vì thế, dù có kính nể các tôn giáo khác đến đâu thì chúng ta cũng phải rao giảng điều mình tin hay xác tín là sự thật.  Sở dĩ như vậy, vì chúng ta tin rằng những ai muốn được cứu độ, thì tin vào điều ấy là tối cần thiết.  Và lòng bác ái buộc chúng ta phải chấp nhận thà mất lòng người ta mà cứu được họ, còn hơn là được lòng họ mà để họ bị hư mất.

Để thực hiện tinh thần «nói sự thật trong tình bác ái» trong hoàn cảnh hết sức phức tạp tại Á châu này một cách tốt đẹp và có hiệu quả, tông huấn Giáo Hội tại Á Châu đề ra một tiến trình mang tính tiệm tiến gồm hai bước : bước đầu là nói với người chưa tin, và bước sau là nói với người đã tin.

Nói với người chưa tin, nghĩa là với những người còn ở trong các tôn giáo khác, ta chỉ nên xác định Đức Giêsu Kitô là vị cứu tinh, ít ra là một vị cứu tinh như các vị giáo chủ khác. Nói như thế, người chưa tin có thể chấp nhận được. Từ chấp nhận đến tin theo là một bước tương đối có thể thực hiện được. Sau khi chấp nhận Đức Giêsu cũng là một vị cứu tinh của nhân loại, họ có thể tìm hiểu về đời sống, các lời nói, việc làm và giáo huấn của Ngài, nhờ đó, họ bắt đầu tiếp xúc với Ngài bằng cầu nguyện.  Điều quan trọng trong thời gian này là làm sao để họ có được sự tiếp xúc cá nhân với Đức Kitô. Và một khi họ đã cảm nghiệm được sự hiện diện và tác động có thực của Ngài trong đời sống họ, và nhận ra Ngài đem lại bình an và hạnh phúc cho tâm hồn họ, thì họ sẽ gắn bó với Ngài nhiều hơn.

Nói với người đã tin: Từ việc tin Ngài là một Đấng Cứu Thế của nhân loại, và nhất là từ việc cảm nghiệm được Ngài, đến việc tin Ngài là Đấng cứu tinh duy nhất của nhân loại cũng là một bước có thể xảy ra. Và bước thứ hai này cũng phải là một bước phối hợp chặt chẽ giữa tác động thần linh và siêu nhiên của Đức Kitô và Thánh Thần của Ngài, với sự thúc đẩy khích lệ bằng lý thuyết, gương sáng và tình cảm mang tính nhân loại của ta.

Một tiến trình tiệm tiến gồm hai bước như thế giúp ta thực hiện được tốt đẹp và có hiệu quả chủ trương của tông huấn Giáo Hội tại Á Châu là phải «nói sự thật trong tình bác ái» về Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất.

Đối với những người chưa tin mà ta đã áp dụng ngay bước thứ hai, là xác định Đức Giêsu Kitô là Cứu Chúa duy nhất, thì chẳng những vô bổ mà còn có hại nữa.  Vì nó làm cho người chưa tin còn ở trong các tôn giáo khác mất thiện cảm với ta, đồng thời có thành kiến xấu và dị ứng với lời xác định đó.  Hành động như thế chỉ cho thấy là chúng ta rao giảng một cách không có kế hoạch và thiếu khôn ngoan.  Thật là chướng mắt đối với các tín đồ tôn giáo khác khi thấy ở cuối các nhà thờ Công giáo có biểu ngữ «Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại».  Một khi họ đã thấy chướng mắt và bực bội vì thấy bị xúc phạm bởi lời nói ấy, thì lời nói ấy còn tác dụng gì tích cực đối với họ nữa?  

Sự thật không phải lúc nào, nơi nào cũng nên nói và có thể nói một cách trắng trợn.  Nên nói lúc nào, ở đâu, trong những hoàn cảnh nào, và nói thế nào, quan trọng không kém gì nội dung phải nói, là điều ta phải lưu tâm khi rao giảng một sự thật chói tai.  Hãy rút ra bài học từ kinh nghiệm chua chát của Phaolô tại Athêna trước hội đồng Arêôpagô.  Các trí thức Hy Lạp đang thích thú và say mê nghe thánh Phaolô giảng về Thiên Chúa và về Đức Kitô.  Xem ra họ có thiện cảm với bài giảng của ngài.  Nhưng khi ngài vừa đề cập tới sự sống lại, thì lập tức họ bỏ đi liền, vì theo quan niệm của họ, việc sống lại là phi lý (xem Cv 17,22-34).  Có lẽ thánh Phaolô đã hơi nóng vội và đốt giai đoạn.  Một sự thật khó chấp nhận, thì cần phải có thời gian và sự chuẩn bị mới có thể chấp nhận được.

Theo linh mục Phan đình Cho, là giáo sư và là nhà thần học quốc tịch Mỹ gốc Việt nổi tiếng, thì «vấn đề Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất là vấn đề lý thú có lẽ trong thần học, nhưng là một kiểu nói vô bổ trong giảng dậy và giáo lý. Nguyên do là vì mục tiêu trực tiếp của việc Loan Báo Tin Mừng là làm cho người ta đón nhận Đức Giêsu là “Đấng Cứu Độ của họ” (personal Savior) – nếu muốn dùng cách nói mà các Ki-tô hữu thuộc Phong trào Thánh Linh rất thích dùng – chứ không phải là “Đấng Cứu Độ duy nhất”. Điều được nhắm tới là sự dấn thân có tính cá nhân và trọn vẹn của người tân tòng đối với Đức Giêsu chứ không phải là sự khước từ việc có thể có những cách thức khác mà Thiên Chúa có thể dùng để đến với người khác. 

«Câu hỏi mang tính sống còn vượt trên tất cả không phải là các dân tộc khác có thể được cứu độ hay không và được cứu độ bằng cách nào nhưng là câu hỏi “bằng cách nào tôi có thể đi vào mối quan hệ cá vị (personal) với Thiên Chúa một cách sung mãn”.  Khi một người nào đó đã khám phá ra rằng Đức Giêsu là con đường giúp  người ấy đạt tới Thiên Chúa thì lúc đó với kinh nghiệm cá nhân của mình, người ấy có thể làm chứng về sự kiện ấy với người khác. Sức mạnh và lòng nhiệt thành của chứng nhân không phát sinh từ sự xác tín có tính thần học rằng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất nhưng xuất phát từ kinh nghiệm sâu xa rằng Người  là Đấng Cứu Độ của tôi (personal Savior for me). 

«Trong giảng dậy khi tôi bị hỏi về các tôn giáo khác và về các khuôn mặt cứu độ khác thì tôi sẽ phải công nhận, một cách vui vẻ và biết ơn rằng các tôn giáo và các khuôn mặt cứu độ khác có nhiều yếu tố tốt và có sự hiện diện cứu độ của Thánh Thần Thiên Chúa nơi họ; nhưng tôi sẽ làm chứng rằng Đức Giêsu là con đường cho tôi đến với Thiên Chúa và tôi sẽ mời họ thử đi vào con đường này xem. Nếu họ chấp nhận Đức Giêsu là con đường của họ để tới Thiên Chúa thì khi ấy tôi sẽ cho thấy rằng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ phổ quát và duy nhất, nghĩa là Đấng Cứu Độ của tôi cũng như của những người khác».

2. Vấn đề hội nhập văn hóa

Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu nhìn nhận rằng Đức Giêsu là người Á châu, nhưng dường như lại mang khuôn mặt Âu châu, nên cho tới nay, Kitô giáo vẫn bị coi là một tôn giáo ngoại lai, một tôn giáo của Tây.  Tông huấn nhìn nhận rằng tình trạng ấy không thể tránh được đối với Kitô giáo, vì tuy Kitô giáo xuất phát từ Á châu, nhưng lại phát triển sang Âu châu, và được người Âu châu đưa trở lại Á châu.  Vì thế, các thừa sai Âu châu không thể trình bày Kitô giáo một cách phù hợp với văn hóa Á châu được.  Việc trình bày sao cho phù hợp này là công việc của các Kitô hữu Á châu.

Do đó, người Kitô hữu Á châu phải biết thay đổi cách diễn tả sứ điệp Chúa Kitô, cách trình bày giáo lý mang tính chất Âu châu trước đây sao cho phù hợp với cung cách văn hóa Á châu của mình.  Để thực hiện điều ấy, tông huấn đề nghị chúng ta phải tìm hiểu nên văn hóa của dân tộc mình, cùng với não trạng, các giá trị, tập quán, những vấn đề, những khó khăn, hy vọng, ước mơ của những người nghe mình rao giảng, để thích ứng cách diễn tả sứ điệp của mình với trình độ, tâm trạng, tâm lý, cung cách suy nghĩ của họ.

Người Á châu thường ưa cụ thể, không ưa lý thuyết trừu tượng, vì thế, họ thích dùng biểu tượng, hình ảnh, minh họa, những câu chuyện, dụ ngôn.  Vì thế, người Kitô hữu muốn Phúc Âm hóa môi trường chung quanh, cần phải triệt để lợi dụng những phương tiện phù hợp với tâm lý văn hóa của đồng bào mình.  Tin Mừng là một câu chuyện, là một tin tức quan trọng, chứ không phải là một hệ thống triết lý hay thần học.  Thái độ tích cực đáp trả của con người khi nghe tin này chính là đức tin và đời sống Kitô hữu.  Bản chất sứ điệp Kitô giáo là như thế, nên rất thích hợp với khuynh hướng, tính chất văn hóa của người Á châu.  Trong Tin Mừng, có rất nhiều câu chuyện, nhiều hình ảnh, nhiều ẩn dụ.  Mỗi câu chuyện, hình ảnh hay ẩn dụ đều nói lên một chân lý, một thực tại nào đó mà khi chiêm niệm chúng, người ta có thể cảm nghiệm trực tiếp không cần lý thuyết.  Chính lý thuyết lại khiến người ta hiểu lệch lạc, và gây nên những tranh luận vô bổ.

Một người thường sử dụng thành công những minh họa, những câu chuyện để nói lên những chân lý đức tin của mình là linh mục Anthony de Mello.  Nhờ những minh họa và câu chuyện cụ thể ấy, những mầu nhiệm khó hiểu đối với lý trí, rất khó trình bày bằng lý thuyết, lại trở nên dễ hiểu, dễ nắm bắt đối với người bình dân Á châu.  Chẳng hạn, để nói rằng Thiên Chúa hiện diện ở trong tạo vật, trong tất cả những cái mình thấy, mình rờ mó, mình nghe được, ngài đã đưa ra hình ảnh cái màn ảnh xinê.  Khi coi phim, màn ảnh luôn luôn ở ngay trước mặt ta, một cách rất hữu hình và cụ thể, nhưng ta chẳng bao giờ nhìn thấy, chỉ vì tâm trí ta, ý thức của ta chỉ chú ý tới những gì xảy ra trên màn ảnh.  Những hình ảnh và câu chuyện diễn ra trên đó làm ta xúc động, hồi hộp, vui buồn, chán nản, như thể chúng có thật vậy.  Nhưng thật ra, chúng không hiện hữu, và không là gì cả.  Chỉ màn ảnh mới có thật, là nền tảng cho tất cả những hình ảnh kia.  Không có màn ảnh, những hình ảnh kia không thể xuất hiện được.  Khi nghiền ngẫm minh họa này, người ta dễ dàng thấy, cảm nghiệm, hay nhận ra Thiên Chúa là nền tảng mọi hiện hữu, biến cố, và cách Ngài hiện hữu nơi vạn vật, nơi các biến cố, một cách rõ ràng và dễ hiểu hơn là một lý thuyết triết lý hay thần học dài dòng.  Chính Chúa Giêsu cũng đã dùng nhiều dụ ngôn để diễn tả về Nước Trời, và chứng tỏ mầu nhiệm Nước Trời đã bắt đầu thể hiện ở trần gian bằng những hành động cụ thể, mắt thấy được, tai nghe được.  Trong Tin Mừng dường như không có đoạn nào mang tính lý thuyết cả.

Tin Mừng là một đường lối sống, mà chính Đức Kitô là gương mẫu sống động để những ai muốn sống theo lối đó noi theo.  Ngài sống như vậy đó, ta cứ vậy mà bắt chước, mà sống, không cần phải đưa ra một hệ thống tư tưởng dài dòng.  Một mẫu người như Đức Giêsu, thì bất kỳ ai trong tôn giáo nào cũng đều có thể chấp nhận được, bắt chước như một gương mẫu được.  Nhưng khi đưa ra một hệ thống thần học thì sẽ có người chấp nhận, người không, vì hệ thống ấy còn lệ thuộc vào một nền văn hóa đặc thù nào đó mà hệ thống ấy phải dựa vào.  Nền văn hóa cá biệt này không hẳn đã được tất cả mọi dân tộc chấp nhận.

Tin Mừng và sứ điệp của Tin Mừng mang tính phổ quát cho mọi dân tộc trên thế giới.  Nhưng cách diễn tả hay trình bày Tin Mừng thế nào cho phù hợp với từng loại đối tượng nghe thì phải tùy nghi thay đổi và mang tính đặc thù.  Vì thế, không thể lấy cách diễn tả hay trình bày sứ điệp phù hợp với bên trời Âu để áp dụng tại Á châu.  Chính vì làm như thế mà Đức Kitô đã bị nhìn lầm là có gương mặt Âu châu.  Do đó, tại Á châu, cần phải có những nỗ lực suy tư, diễn tả và trình bày Đức Kitô, Thiên Chúa phù hợp với Á châu.

Vì thế, tông huấn chủ trương phải thể hiện tính hội nhập văn hóa đặc biệt trong việc suy tư thần học, phụng vụ, đào tạo linh mục tu sĩ, dạy giáo lý và tu đức.  Tất cả những lãnh vực này đều cần được nghiên cứu và thực hiện làm sao để chúng mang sắc thái văn hóa Á châu.

3. Loan báo Tin Mừng bằng chính đời sống

Chúng ta loan báo Đức Kitô là Đấng cứu độ, và là Đấng cứu độ duy nhất.  Đó là bổn phận của chúng ta, theo lệnh truyền của Đức Kitô.  Nhưng cho dù chúng ta có rao giảng hay tới đâu, có diễn tả hay trình bày sứ điệp phù hợp với dân chúng Á châu đến mấy, nếu sứ điệp của Đức Kitô không đem lại cho chúng ta một đời sống tốt đẹp, hạnh phúc, chan hòa tình thương, thì tất cả sự rao truyền của chúng ta chỉ là rao truyền một cái gì không thực tế.  Không thực tế vì chính nó không thay đổi được gì nơi chúng ta, không biến chúng ta nên tốt đẹp hơn, vị tha hơn, sống có tình nghĩa hơn.  Đời sống của chúng ta như thế sẽ phản chứng những điều chúng ta rao giảng.  Lúc đó, người nghe chúng ta rao giảng sẽ nói với chúng ta:  «Hỡi thầy thuốc, hãy chữa lấy mình đã!».

Ngày nay, tinh thần thực nghiệm của khoa học và kỹ thuật đang ảnh hưởng mạnh mẽ trên tâm trí người thời đại.  Người ta không thể chấp nhận một điều gì mà không có chứng minh cụ thể.  Chúng ta rao giảng Đức Kitô là Đấng cứu độ, nhưng người ta tự hỏi chính chúng ta đã được cứu độ chưa?  Không thể trả lời rằng sự cứu độ chỉ được thể hiện sau khi chết, đang khi nó không thể hiện gì qua chính đời sống chúng ta cả.  Ngày nay, một lý thuyết nghe thật hay, nhưng khi đưa ra thí nghiệm hay trong thực tế không đem lại hiệu quả tốt đẹp, thì luôn luôn bị đánh giá thấp.  Trái lại, một lý thuyết cho dù nghe không hợp lý, không hay, nhưng thí nghiệm hay thực tế cho thấy có hiệu quả tốt, thì được đánh giá cao, được kết luận là đúng.

Tinh thần thực nghiệm đó đã được biểu lộ qua câu nói của Đức Kitô:  «Cứ xem quả thì biết cây».  Người ta sẽ biết được sứ điệp Đức Kitô có đem lại sự cứu độ hay không qua chính đời sống của những người Kitô hữu, là những người nói rằng mình tin và sống theo sứ điệp ấy.

Vì thế, cuối chương 4 nói về việc loan báo Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế, tông huấn nhắc nhở rằng sống đời sống Kitô hữu tốt đẹp chính là loan báo Tin Mừng.  Có lẽ đây là điều quan trọng nhất và phát sinh hiệu quả nhất.  Theo tông huấn, người rao giảng về Đức Kitô, phải là người có kinh nghiệm thật sự về Ngài, là người đã từng gặp gỡ Ngài thật sự trong chính đời sống mình, điều đó được biểu lộ ra bằng đời sống hạnh phúc, bình an, đồng thời sẵn sàng xả thân cho người khác, một bằng chứng của một tình yêu thương đích thực xuất phát từ Thiên Chúa.

III. Đóng góp cá nhân, cảm nhận

1. Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất

A. Vấn đề

Vấn đề nan giải và gây nhiều lẫn cẫn nhất vẫn là làm sao dung hòa được :

  1. giữa  a)  tính duy nhất của vai trò cứu độ do Đức Giêsu Kitô và b) tính phổ quát của sự cứu độ.

Hay nói cách khác, giữa a)  vai trò cứu độ duy nhất của Đức Giêsu Kitô và b) vai trò cứu độ của các tôn giáo khác.  

  1. giữa a)  việc coi các tôn giáo khác cũng là môi trường cứu độ của Thiên Chúa (do đó mọi người trong các tôn giáo khác cũng được cứu độ nếu họ trung thành sống đúng với truyền thống của tôn giáo họ), và b) sự cần thiết phải truyền giáo, phải phổ biến sứ điệp Kitô giáo.

Nhận vế trước thì dường như đồng nghĩa với phủ nhận vế sau, và ngược lại.

B. Đề nghị

Xin đề nghị những điều sau đây :

1. Về sự cứu độ phổ quát nhưng duy nhất của Chúa Kitô:

+ Thiên Chúa toàn năng, là Đấng đã tạo dựng vũ trụ vạn vật với muôn hình muôn vẻ, nên muốn cứu độ mọi người và mặc khải sự thật cứu độ của Ngài cho toàn thể nhân loại, chắc chắn Ngài không thể chỉ dùng một phương tiện nghèo nàn duy nhất, mà sẽ dùng đủ mọi phương tiện khác nhau. Tình yêu vô biên của Ngài hẳn nhiên thúc đẩy Ngài sáng kiến ra nhiều phương cách hết sức có thể để cứu độ không chỉ nhân loại mà còn cả vũ trụ nữa. 1

+ Ơn cứu độ phổ quát trước tiên phát xuất từ một mình Thiên Chúa, kế đến qua một mình Đức Giêsu Kitô, nhưng sau đó, có thể qua những vị giáo chủ các tôn giáo khác hay qua những người được Thánh Thần Chúa tuyển chọn.2 Vì thế, các vị giáo chủ các tôn giáo có thể là những vị cứu thế, nhưng ở mức độ thấp hơn mức độ của Đức Giêsu Kitô.  Chỉ có một nguồn ơn cứu độ duy nhất, là Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô, nhưng nguồn đó có thể đến với mọi người qua vô số ngả khác nhau.  Không nên nghĩ rằng nguồn cứu độ duy nhất đó lại chỉ đến với con người qua một ngả duy nhất. Thế thì ơn cứu độ làm sao phổ quát được?

+ Trong nội bộ Giáo Hội, cần thiết phải rao giảng và nhấn mạnh rằng Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế duy nhất của nhân loại.  Một người không tin điều này thì không phải là một Kitô hữu đích thực.  Nhưng cần thận trọng và khôn khéo khi diễn tả niềm tin ấy trước các tôn giáo khác,3 vì chữ «duy nhất» ở đây đồng nghĩa với việc phủ nhận những vị cứu độ khác, đang khi các tín đồ tôn giáo khác luôn luôn coi giáo chủ của họ mới là Đấng cứu độ vĩ đại nhất.4 Tuyên xưng trước họ rằng Chúa Kitô là Đấng cứu độ duy nhất sẽ gây khó chịu và ác cảm cho các tín đồ khác và làm tổn thương sự đoàn kết giữa họ với ta.


1 Tương tự như chính quyền một nước muốn thông báo cho toàn dân trong nước một sự thật hết sức cần thiết để họ có thể tránh được những tai họa khủng khiếp nào đó.  Nếu thực sự muốn cứu toàn thể dân chúng, chắc chắn chính quyền không chủ trương chỉ thông báo sự thật đó duy nhất trên một tờ báo mà chỉ có 1/3 dân số đọc mà thôi, hay chỉ dành cho một cơ quan xã hội nào đó độc quyền ban phát những phương tiện hết sức cần thiết đó.  Sự khôn ngoan hợp lý đòi hỏi chính quyền đó phải dùng bất cứ phương tiện nào muốn có được để mọi công dân trong nước không trừ ai biết được sự thật quan trọng ấy và có được các phương tiện cần thiết ấy.

2 Điều này không làm tổn thương tới tính duy nhất của vai trò trung gian của Đức Giêsu Kitô giữa Thiên Chúa và loài người (x. 1 Tm 2,5).  Nhưng giữa Đức Kitô và nhân loại (nghĩa là ở mức độ thấp hơn), có thể có nhiều trung gian (chẳng hạn :  các giáo chủ các tôn giáo, các nhà truyền giáo, các thừa tác viên trong Giáo Hội, v.v…).

3 Chẳng hạn không nên tuyên xưng như thế trên những biểu ngữ trước các nhà thờ của Giáo Hội, trên những đài phát thanh mà tín đồ các tôn giáo khác có thể nghe, trong những cuốn sách phổ biến cho đại chúng.  Hãy nhớ lại phản ứng của một số Phật tử trước tư tưởng của Đức Gioan-Phaolô II về Phật giáo viết trong cuốn «Bước vào Hy vọng».

4 Nói «Đức Kitô là Đấng Cứu độ duy nhất» cũng đồng nghĩa với nói :  «Đức Phật không phải là Đấng cứu độ đâu nhé !  Các giáo chủ khác cũng vậy».  Điều này có thể làm tổn thương tín đồ các tôn giáo khác, và làm sứt mẻ tình đoàn kết giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác.  Ta có quyền tin mình là người giỏi hay đạo đức nhất thế giới, không ai có quyền trách cứ ta.  Nhưng tuyên bố điều đó ra trước công chúng sẽ gây xúc phạm đến nhiều người khác, vì nói như thế đồng nghĩa với nói «Tất cả mọi người đều kém tôi ». 

5 «Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế» (Pl 2,6-7).  Thái độ tự khiêm không làm chúng ta mất giá trị mình, mà trái lại, vì «ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên» (Mt 23,12).


+ Tốt nhất, đối với các tôn giáo khác, người Kitô hữu nên giữ thái độ khiêm nhường, tự hạ và bao dung như cách cư xử của Chúa Kitô,5 nhưng nếu cần, cũng phải dám nói lên sự thật của mình, đương nhiên một cách khôn khéo tế nhị.6 Làm như thế, các tín đồ tôn giáo khác dễ có thiện cảm và lưu tâm tới sứ điệp mà chúng ta rao giảng hơn. Sự tự hào của mình sẽ làm cho người ta ngoảnh mặt đi nhiều hơn là hấp dẫn họ đến với mình.

Vậy, cần phải xác định lại ý nghĩa của sự cứu độ trong Kitô giáo và trong các tôn giáo. Chúng ta không thể phủ nhận tính cứu độ hay giải thoát cũng như giá trị cứu độ và giải thoát trong các tôn giáo khác.

2. Về sự cần thiết của việc truyền giáo:

Cho dù nhìn nhận các tôn giáo khác là những môi trường cứu độ của Thiên Chúa, có Thánh Thần của Ngài hoạt động trong các tôn giáo, và các tín đồ tôn giáo khác có thể được cứu độ trong truyền thống tôn giáo của họ, thì việc truyền giáo của Kitô giáo không thể vì thế mà mất ý nghĩa hay trở nên không ích lợi.7 Vì :

+ Bản chất của việc truyền giáo là Phúc âm hóa 8 các dân tộc hơn là làm cho họ trở nên Kitô hữu. Có rất nhiều Kitô hữu cần phải được tái Phúc âm hóa đang khi có những người ngoại lại sống đúng tinh thần Phúc Âm hơn nhiều người Kitô giáo. Nếu Đức Kitô đã ra lệnh cho chúng ta truyền giáo hay Phúc âm hóa các dân tộc, rửa tội cho họ, thì chúng ta cứ việc thi hành điều đó.  Chúng ta thi hành điều đó không phải vì nếu người ta không vào Kitô giáo thì sẽ không được ơn cứu rỗi, mà vì thế giới cần phải được Phúc âm hóa để trở thành Nước Trời. Hiện nay thế giới đang sống xa tinh thần Phúc Âm, thậm chí trong Kitô giáo. Chính các tôn giáo khác một cách nào đó cũng đang Phúc âm hóa thế giới, theo cách thức riêng của họ. Chúng ta cần trân trọng cách thức của họ. Trong bối cảnh nhìn nhận các tôn giáo khác cũng là những môi trường cứu độ của Thiên Chúa, thì vấn đề cần phải đặt ra là xác định lại: truyền giáo là gì? Phúc Âm hóa là gì ? vai trò của Giáo Hội đối với thế giới là gì?

+ Chúng ta cứ việc làm chứng cho Chúa Kitô trước thế giới trong cung cách khiêm cung của Chúa Kitô.  Cách thức chúng ta làm chứng cho Ngài có thể còn quan trọng hơn chính việc làm chứng của chúng ta.  Làm chứng một cách đầy kiêu hãnh, đề cao tôn giáo của mình một cách không thích đáng thì còn tệ hại hơn cả việc không làm chứng.  

+ Nếu thực tại có nhiều mặt và các mặt đó khác nhau, thì chân lý ắt cũng có nhiều mặt và có nhiều cách diễn tả khác nhau.  Điều quan trọng là người Kitô hữu phải nhận ra được Lời hay Chân Lý của Chúa Kitô trong cách diễn tả của các tôn giáo khác.9  Cách diễn tả đó có thể rất khác với cách diễn tả của chúng ta, và những phương diện của chân lý mà họ chứng nghiệm được cũng có thể khác với phương diện mà chúng ta cảm nghiệm được. 


6  Tóm lại là «khiêm mà dũng».

7  Đương nhiên phải chấp nhận rằng việc truyền giáo không còn được quan niệm là tối cần thiết như trước đây nhiều thế kỷ.

8  Phúc Âm hóa :  làm cho người ta sống tinh thần yêu thương, tự hủy của Chúa Kitô.  Nhiều người không phải là Kitô hữu, nhưng sống tinh thần Phúc Âm một cách khá hoàn hảo, chẳng hạn Mahatma Gandhi, tương tự như trường hợp mà thánh Phaolô nói :  «người không chịu phép cắt bì mà giữ những điều Luật dạy, thì tuy họ không được cắt bì, Thiên Chúa chẳng coi họ như đã được cắt bì sao ?» (Rm 2,26).

9  Chúng ta thử nghĩ xem nếu Đức Kitô nhập thể làm người trong một nền văn hóa khác với văn hóa Do Thái (chẳng hạn văn hóa Trung Hoa hay Ấn Độ), thì Ngài sẽ nói gì và nói thế nào để diễn tả Chân lý của Ngài.  Và thử nghĩ xem nếu khởi đầu thần học truyền thống được suy tư và khai triển trong một nền văn hóa khác với văn hóa của Tây Phương (chẳng hạn văn hóa Đông Phương), thì thần học đó sẽ thế nào.  Lúc đó, chắc hẳn cách hiểu và diễn tả Chân lý của Đức Giêsu cũng như của thần học truyền thống sẽ không cùng một cách như chúng ta đang có hiện nay trong Giáo Hội.  Thực tại và chân lý chỉ có một, nhưng có vô số cách nhìn và cách diễn tả khác nhau : khác nhau nhưng đều đúng và bổ túc lẫn nhau (định luật đa dạng trong vũ trụ).


Chúng ta nên tìm hiểu những phương diện và những cách diễn tả đó để có thể hiểu sâu, rộng và toàn diện hơn mầu nhiệm Thiên Chúa và chân lý của Chúa Kitô.10  Vả lại, mặc khải về Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô không phải là duy nhất :  Thiên Chúa còn mặc khải về Ngài qua thiên nhiên, qua lương tâm con người, và đặc biệt qua các ngôn sứ, không chỉ có trong Do Thái giáo, mà chắc chắn còn có trong các tôn giáo khác, các nền văn hóa khác nữa.  Những nguồn mặc khải đó có thể bổ túc hoặc soi sáng lẫn nhau.11

+ Nếu chúng ta chấp nhận có Thiên Chúa hoạt động qua Thánh Thần của Ngài trong các tôn giáo khác, thì chúng ta phải tập nhìn ra cách hiện diện của Thiên Chúa và sự hoạt động của Thánh Thần Ngài trong các tôn giáo ấy.  Cách hiện diện và hoạt động ấy có thể rất khác với cách hiện diện và hoạt động của Ngài trong tôn giáo của chúng ta.  Và nếu có Thiên Chúa hoạt động qua Thánh Thần của Ngài trong các tôn giáo khác, thì chắc chắn tín đồ các tôn giáo ấy có thể tham dự vào mầu nhiệm Thiên Chúa, và gặp gỡ Chúa Kitô một cách nào đó khác với cách thức của chúng ta.  Có thể cách của chúng ta không phải là duy nhất.

+ Vấn đề truyền giáo không phải là làm sao để người khác tôn giáo với chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa hay Chúa Kitô theo cách thức mà chúng ta đã từng kinh nghiệm, mà theo cách thức riêng biệt Chúa dành cho họ.12 Điều quan trọng là họ có thật sự gặp được Đức Kitô và Thánh Thần của Ngài đồng thời có thật sự hưởng được những ân sủng thánh hóa và biến đổi đời sống hay không.  

+ Về những câu Thánh Kinh nói về tính phổ quát và duy nhất của Chúa Kitô, chúng ta cần xác định lại một cách có nền tảng (foundational), nhưng không nên hiểu hay chú giải những câu ấy một cách quá chấp theo nghĩa đen (fundamentalist).

Diễn tả sứ điệp Kitô giáo trong văn hóa Á châu 

Tại Á châu, văn hóa gắn liền với triết lý và tôn giáo.  Và triết lý, tôn giáo ảnh hưởng rất mạnh trên não trạng, cung cách suy tư, niềm hy vọng và mong ước của dân chúng.  Vì thế, chúng ta cần phải tìm hiểu triết lý Á châu và giáo lý của các tôn giáo khác.


10  Vấn đề là : khả năng diễn tả của ngôn ngữ và khả năng hiểu về mầu nhiệm Thiên Chúa của con người thì rất giới hạn.  Những gì có thể nói về Thiên Chúa siêu việt thì luôn luôn vượt khỏi ngôn ngữ, vượt khỏi những định thức diễn tả.  Thánh Kinh hay Lời Chúa là những định thức diễn tả mầu nhiệm Thiên Chúa bằng ngôn ngữ loài người, cho dù do Chúa Giêsu Kitô nói ra, cũng phải được hiểu là rất giới hạn so với mầu nhiệm bao la và đa diện ấy.  Những cách diễn tả của các tôn giáo khác vẫn có thể bổ túc hay làm phong phú hóa cách hiểu của người Kitô hữu về mầu nhiệm Thiên Chúa.  Cho rằng Lời của Đức Giêsu Kitô được hiểu theo cách thức của Giáo Hội là hoàn toàn đầy đủ về Thiên Chúa, thì như thế quả là coi mầu nhiệm Thiên Chúa quá giới hạn đến nỗi ngôn ngữ con người có thể nói được hết.  Đúng hơn nên hiểu rằng :  tất cả mọi cách diễn tả về Thiên Chúa của con người, cho dù là của Đức Kitô, của các vị Giáo chủ khác, cũng như của Giáo Hội và của các tôn giáo khác cộng lại, cũng không thể diễn tả hết được mầu nhiệm Thiên Chúa.  Hiểu như thế, ta sẽ thấy được chỗ đứng hay vai trò của các tôn giáo khác.  Những gì có thể diễn tả về Thiên Chúa mà chưa diễn tả chắc chắn nhiều hơn gấp bội những gì đã từng được diễn tả.  Tương tự như những gì có thể nói và viết về vũ trụ hay thế giới hữu hạn này thì nhiều hơn gấp bội so với những gì đã viết hay đã nói ra được. 

11  Kinh nghiệm của những người đọc kinh điển của các tôn giáo khác cho thấy :  Kinh điển của các tôn giáo khác có thể giúp họ hiểu chân lý về Thiên Chúa được trình bày trong Kinh Thánh một cách sâu xa hơn rất nhiều. 

12  Kinh nghiệm của những người sinh hoạt trong nhiều tôn giáo để giúp các tín đồ sống đúng tinh thần tôn giáo họ là :  khi giúp một người Kitô hữu biết nội tâm hóa Đức Kitô, để có thể cảm nghiệm được tình trạng «tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi», và khi giúp một người Phật tử biết nội tâm hóa Đức Phật, để họ cảm nghiệm được rằng «tâm mình chính là Phật», thì đời sống tâm linh của hai người thay đổi và phát triển tương tự như nhau.  Đức Kitô và Đức Phật là hai nhân vật lịch sử khác nhau, nhưng khi được nội tâm hóa trong mỗi người, thì Đức Kitô hay Đức Phật dường như chỉ là hai danh từ khác nhau của cùng một thực tại sống động duy nhất.


Về triết lý, triết lý Á châu khác với triết lý Âu châu ở chỗ một đằng là động, một đằng là tĩnh; một đằng quan niệm thực tại đa diện, một đằng đơn diện; một đằng nhất nguyên, một đằng nhị nguyên.  Nhiều nguyên lý được coi là nền tảng cho triết lý Âu châu thì bị triết lý Á châu phủ nhận, chẳng hạn những nguyên lý được gọi là «những nguyên lý của lý trí».  Đối với người Á châu, những nguyên lý này chỉ đúng với quan niệm triết lý tĩnh, đơn diện và nhị nguyên của Tây phương mà thôi. 

Các tôn giáo Á châu cũng có một nền tảng chung là triết lý động, đa diện và nhất nguyên của Đông phương.  Vì thế, người đã quen suy nghĩ theo cung cách triết lý tĩnh, đơn diện và nhị nguyên của Tây phương khó mà lãnh hội được tinh túy của các tôn giáo Á châu.  Muốn hiểu được cung cách suy tư theo triết lý Á châu, người đã quen suy tư theo kiểu Âu châu phải thay đổi cung cách suy tư từ nền tảng, phải theo một hệ mới khác biệt với hệ cũ từ nền tảng.  Điều này rất khó đối với những người đã quen suy tư kiểu Âu châu, thậm chí không thể được đối với một số người.

Không hiểu được triết lý và các tôn giáo Á châu, việc đối thoại với tín đồ trí thức trong các tôn giáo khác trở nên khó khăn và không thuyết phục.

Nếu cần phải suy tư và diễn tả sứ điệp Kitô giáo theo cung cách văn hóa Á châu, nghĩa là làm thần học Á châu, mà những người làm thần học lại là những người chịu ảnh hưởng nặng của triết Tây, thì thần học ấy có khác gì thần học Tây phương?  Vì thế, những người làm thần học cần phải nắm vững những nét căn bản, những điểm khác biệt giữa văn hóa và triết lý Đông Tây, đồng thời tập suy tư, diễn tả và nhìn vấn đề theo kiểu Đông phương.  Như thế, thần học ấy mới mang sắc thái và tinh thần văn hóa Á châu.

Kết luận

Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu mới chỉ vạch ra cho chúng ta một đường hướng tổng quát.  Phần còn lại của chúng ta là suy tư và đưa ra những đường lối, phương cách cụ thể để áp dụng vào trong đời sống Giáo Hội của từng địa phương.

Việc loan báo Tin Mừng về Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu Kitô cần phải được thực hiện một cách khôn ngoan để đem lại hiệu quả tốt.

Việc tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu độ duy nhất cần phải được hiểu và áp dụng thế nào để có thể dung hòa được một cách hợp tình hợp lý, tế nhị, giảm bớt tối đa sự xúc phạm đối với các tôn giáo khác.

Việc hội nhập văn hóa đòi hỏi các nhà thần học địa phương phải nghiên cứu sâu xa hơn những nét đặc biệt, những thuận lợi và bất lợi trong nền văn hóa của mình để sử dụng một cách khôn khéo trong việc suy tư, diễn tả sứ điệp Tin Mừng.  Điều này đòi hỏi chúng ta phải nắm vững cốt tủy của các tôn giáo Á châu và triết lý Đông phương vốn ảnh hưởng mạnh trên văn hóa địa phương.

Nhưng trên hết và quan trọng nhất là chính người Kitô hữu phải có một đời sống tốt đẹp, hạnh phúc, hài hòa, vị tha, sống đầy tình nghĩa yêu thương.  Đó chính là những chứng cớ mang tính quyết định cho thấy những điều mình rao giảng là đúng.  Người thời nay có lẽ không cần nhìn vào lý thuyết để biết nó hay dở thế nào cho bằng nhìn vào những hiệu quả do lý thuyết đó đem lại để phán đoán giá trị của nó.  Nếu Đức Giêsu Kitô là Đấng đem lại ý nghĩa cho đời sống con người, thì điều đó phải được chứng tỏ đầu tiên nơi đời sống của người Kitô hữu trước đã.

NGUYỄN CHÍNH KẾT