
Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói:
“Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!”
(Mt 4, 17)
Bài Ðọc I: Is 9, 1- 4 (Hr 8, 23b – 9, 3)
“Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Lúc đầu, đất Giabulon và Nephthali rất hèn hạ, trong tương lai dần dần trở thành đường biển, bên kia sông Giođan trở thành Galilêa các dân tộc. Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết. Người đã gia tăng dân số, đã ban một nguồn vui lớn; thiên hạ hân hoan trước mặt Người, như hân hoan khi được mùa, nhảy mừng như khi phân chia chiến lợi phẩm. Vì ách đã đè trên họ, đòn ngang nằm trên vai họ, và gậy của kẻ lạm thu họ, Người đã bẻ gẫy tất cả như trong ngày Mađian.
Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 13-14
Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi (c. 1a).
Xướng: Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ; tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?
Xướng: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.
Xướng: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa.
Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 10-13. 17
“Tất cả anh em hãy đồng tâm hợp ý với nhau, và giữa anh em, đừng có chia rẽ”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi xin anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình. Anh em thân mến, tôi đã được các người nhà Khloê cho hay rằng: giữa anh em đang có những sự bất đồng. Tôi có ý nói điều này, là mỗi người trong anh em nói: “Tôi, tôi thuộc về Phaolô; – “Tôi về phe Apollô”; – “Còn tôi, tôi về phe Kêpha”; – “Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô”. Chúa Kitô bị phân chia rồi sao? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vì anh em đâu? Hay là nhân danh Phaolô mà anh em chịu phép rửa? Ðức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Ðức Kitô ra hư không.
Alleluia: Mt 4, 23
Alleluia, alleluia! – Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 4, 12-23 (bài dài)
“Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết”.
Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!”
Nhân lúc Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy hai anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông, cả hai đang thả lưới dưới biển, vì hai ông là ngư phủ. Người bảo hai ông rằng: “Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta”. Lập tức hai ông bỏ lưới đó mà theo Người. Ði xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới trong thuyền với cha là Giêbêđê. Người cũng gọi hai ông. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người.
Và Chúa Giêsu đi rảo quanh khắp xứ Galilêa, dạy dỗ trong các hội đường của họ, rao giảng tin mừng nước trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân.
Hoặc đọc bài vắn này: Mt 4, 12-17
“Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm, đã thấy ánh sáng huy hoàng, ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết”. Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
CÁM DỖ NGÀY THƯỜNG
“Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” (Mt 4,17)
Suy niệm: Trong những ngày giỗ, tết chúng ta thường kính nhớ tổ tiên để tỏ lòng hiếu kính biết ơn đối với bậc sinh thành, và trên hết, tôn thờ cảm tạ và ngợi khen Thiên Chúa là nguồn gốc mọi sự, là Đấng chúng ta phải tạ ơn và tôn vinh suốt đời, không chỉ trong những biến cố lớn lao, mà cả trong những đau khổ thường ngày. Quả thật, cuộc đời chúng ta không chỉ là những ngày tết, hay những biến cố quan trọng, mà phần lớn là những ngày bình thường như mọi ngày. Cám dỗ lớn nhất của chúng ta là để cho những ngày đó trở thành tầm thường, tẻ nhạt. Chúng ta được mời gọi hoán cải liên lỉ để luôn làm mới các tương quan thường ngày với Chúa, với tha nhân, cách riêng với những người thân cận của mình trong gia đình.
Mời Bạn: ĐTC Phan-xi-cô nói: “Hoán cải hằng ngày là cố gắng liên tục để thanh tẩy trái tim”. “… nếu bạn không thể nói xấu người khác, thì bạn đã đi đúng con đường nên thánh… khi muốn chỉ trích một người láng giềng, hãy cắn lưỡi nhẹ một chút. Lưỡi bạn sẽ hơi sưng nhưng linh hồn bạn sẽ lành thánh hơn trên con đường này… Không có gì to tát, không có việc hành xác, thật là giản dị. Xin đừng lui bước…”. Bạn có sẵn sàng cho việc hoán cải chính mình trong từng việc nhỏ mỗi ngày như vậy không?
Sống Lời Chúa: Quan tâm chăm sóc người thân của mình với ý thức “Bổn phận là ý Chúa trong giây phút hiện tại” (ĐHV.17).
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con biết khiêm tốn và biết đón nhận những hy sinh trong những vất vả hằng ngày; để tâm hồn con được thanh tẩy, để biết yêu mến Chúa và ngày càng trở nên giống Chúa hơn. Amen.
B/ TGM Nguyễn Năng
Suy niệm: Ðức Giêsu đến loan báo Tin Mừng cứu độ. Ngài kêu gọi con người canh tân để được đón nhận vào triều đại nước Thiên Chúa.
Trong chương trình của Thiên Chúa: Mọi người đều được hưởng ơn cứu độ. Vì thế các tông đồ, những người kế vị được kêu gọi để cùng với Ðức Giêsu đem Tin Mừng cho toàn thế giới.
Là người Kitô hữu, tôi cũng được tuyển chọn để thi hành sứ vụ này. Tôi đã làm gì để đóng góp vào chương trình của Chúa?
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn các tông đồ cộng tác với Chúa trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Ngày nay Chúa cũng muốn nơi mỗi Kitô hữu chúng con. Xin cho chúng con có tâm hồn quảng đại, mau mắn đáp lại lời mời gọi của Chúa. Xin cho chúng con biết sống một đời Kitô hữu tốt: tốt đạo, đẹp đời. Cách sống gương mẫu của chúng con là một lời loan báo sống động cho Tin Mừng cứu độ. Amen.
Ghi nhớ: “Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”.
C/ TGM Vũ Văn Thiên
BƯỚC THEO ÁNH SÁNG
Trong những Chúa nhật vừa qua, chúng ta đã dừng lại ở khái niệm “Ánh Sáng”. Khởi đi từ những chứng từ Cựu ước, chúng ta đã chiêm ngắm Ánh Sáng là Đức Giêsu Kitô. Khi tuyên xưng Đức Giêsu là “Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”, Giáo Hội muốn khẳng định, Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, cùng bản thể với Thiên Chúa Cha và từ nơi Chúa Cha mà đến.
Dưới cái nhìn của tác giả Tin Mừng thánh Matthêu, việc Chúa Giêsu xuất hiện và rao giảng Tin Mừng đã ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia của thời Cựu ước. Qua lời giáo huấn của Chúa Giêsu, “Toàn dân đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”. Bài đọc I, trích từ sách ngôn sứ Isaia, là bài đọc mà chúng ta đã nghe trong lễ Đêm Giáng sinh, chính là nguồn mà Thánh Matthêu trích dẫn. Với nét văn chương hùng hồn, trang trọng và gợi hình, đoạn sách thánh này là một trong những áng văn chương tuyệt vời của Cựu ước. Cùng với Thánh Matthêu và cộng đoàn Kitô hữu thời sơ khai, Giáo Hội hôm nay tiếp tục tuyên xưng Đức Giêsu là Ánh Sáng trần gian.
Chúa Giêsu là Ánh Sáng của trí tuệ. Người là sự Khôn ngoan của Chúa Cha. Đức Khôn ngoan đã nhập thể làm người. Người đến trần gian để mở trí cho con người của mọi thời đại, giúp họ nhận biết Chúa là Cha của gia đình nhân loại và nhận biết mọi người cùng là anh chị em với nhau. Lời giảng của Chúa Giêsu về đề tài ánh sáng, được chứng minh bằng phép lạ chữa người mù từ khi mới sinh trong Tin Mừng Thánh Gioan đã khẳng định: Chúa Giêsu khai sáng trí tuệ và nhận thức của con người, giúp họ thoát khỏi sự vô tri, đồng thời nhận ra con đường Chân lý và nhờ đó được ơn Cứu độ.
Chúa Giêsu là Ánh Sáng của Lòng Thương Xót của Chúa Cha. Người là gương mặt thương xót của Chúa Cha. Nơi Người, con người cảm nhận được tình thương của Chúa Cha. Tình thương ấy giúp họ vượt lên những chông gai của cuộc sống, để rồi giữa thế gian đầy cạm bẫy và khó khăn, họ vẫn tin vào lòng thương xót của Chúa, được tiếp thêm nghị lực siêu nhiên và chỗi dậy sau mỗi lần vấp ngã.
Chúa Giêsu là Ánh Sáng của lòng nhân ái. Giáo huấn của Chúa nhằm giúp con người nhận ra mọi người đều là anh chị em với nhau. Không ai là một hòn đảo. Người ta cũng không thể hiện hữu một mình, nhưng hiện hữu với người khác, nhờ người khác và cho người khác. Chỉ khi đó, cuộc sống mới có ý nghĩa. Giới răn quan trọng nhất mà Chúa Giêsu dạy chúng ta, đó là giới răn yêu thương. Nhờ yêu thương mà cuộc đời này trở nên đẹp đẽ, đáng yêu và đáng sống. Đức yêu thương tô điểm cho cuộc đời này và làm cho nó có ý nghĩa. Thánh Phaolô đã khuyên giáo dân Côrinhtô dẹp bỏ những chia rẽ trong nội bộ, kể cả những chia rẽ dựa trên những khái niệm giáo huấn. Quả vậy, vào thời đó, giữa nội bộ cộng đoàn Kitô hữu, có những người nhận mình là môn đệ của Phaolô, người khác lại nói mình thuộc về Kêpha (tức là Phêrô), người khác nữa lại nói mình thuộc Apôlô. Thánh Phaolô đã giải thích để mọi người hiểu: Phaolô, Kêpha hay Apôlô chỉ là những phương tiện để chuyển tải thông điệp Tin Mừng của Chúa. Chính Chúa Giêsu mới là Thày và là Chúa, đồng thời là Đấng đáng cho mọi người tôn thờ.
Thánh Matthêu kể lại việc Chúa Giêsu gọi bốn môn đệ đầu tiên, cũng là hai cặp anh em. Đó là anh em ông Simôn và Anrê; anh em ông Giacôbê và Gioan. Đây là những thành phần trụ cột trong số những ông đồ sau này. Họ là những cộng sự viên của Đức Giêsu. Họ đã trung thành cho đến cùng để phụng sự Thày mình và đã chấp nhận hy sinh mạng sống để làm chứng cho Chúa Giêsu. Theo Thánh Matthêu, hai cặp anh em được kêu gọi đều sẵn sàng và nhiệt tình bước theo Chúa Giêsu. Họ là những người đã bước theo Ánh Sáng và được Ánh Sáng chiếu soi, để rồi đến lượt họ lại trở nên ánh sáng cho trần gian.
Hôm nay cũng là ngày mồng Hai tết Canh Tý, là ngày cầu cho Ông Bà, Cha Mẹ. Yêu mến cha mẹ không chỉ là bổn phận để đền đáp ơn sinh thành, nhưng còn là những nghĩa cử đẹp lòng Chúa, xứng đáng được Ngài ban ơn và cho sống trường thọ trên dương gian. Yêu mến và hiếu thảo với cha mẹ, cũng chính là thi hành Luật Chúa. Cầu nguyện cho cha mẹ chưa đủ, chúng ta còn phải hiếu thảo, yêu mến và tôn trọng vâng lời cha mẹ. Khi cha mẹ tuổi già, con cháu cần phải chăm sóc chu đáo.
Nếu Chúa Giêsu là Ánh Sáng của trí tuệ, tình thương và lòng nhân ái, thì mỗi tín hữu là những người được mời gọi bước theo Ánh Sáng. Hãy đón nhận Ánh Sáng, đồng thời để cho Ánh Sáng chiếu soi, ngõ hầu cuộc đời của mỗi chúng ta trở nên ánh sáng chiếu soi trần gian.
D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Chúa Nhật III thường niên năm A này là Chúa Nhật Lời Chúa tuyệt vời. Bài Đọc I tường thuật cho chúng ta rằng đây là lần đầu tiên Lời Chúa được long trọng công bố cho toàn dân; còn Tin Mừng thì tường thuật cho chúng ta rằng trong một buổi phụng vụ Lời Chúa vào ngày sa-bát tại hội đường Na-da-rét, Đức Giê-su hiện tại hóa Lời Chúa vào con người và sứ mạng của Ngài.
Nkm 8: 2-4a, 5-6, 8-10
Bản văn Cựu Ước, được trích từ sách Nơ-khe-mi-a, kể lại lần đầu tiên Sách Luật (Ngũ Thư) được long trọng công bố trước công chúng, khuôn mẫu phụng vụ Lời Chúa vào ngày sa-bát trong các hội đường sau này.
1Cr 12: 12-30
Đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô này chứa đựng Thần Học về Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô: “Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung”.
Lc 1: 1-4; 4: 14-21
Tin Mừng Lu-ca tường thuật Đức Giê-su tham dự một buổi phụng vụ Lời Chúa trong hội đường Na-da-rét. Sau khi đọc bản văn I-sai-a, Đức Giê-su công bố rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị đã nghe”.
BÀI ĐỌC I (Nkm 8: 2-4a, 5-6, 8-10)
Sách Nơ-khe-mi-a có cùng một tác giả với sách Ét-ra và với hai sách Sử Biên, được soạn thảo vào giữa năm 360 và 300 trước Công Nguyên. Tự nguồn gốc, sách Nơ-khe-mi-sa và sách Ét-ra được hình thành nên một quyển sách; quả thật, bản Kinh Thánh Híp-ri cũng như bản Kinh Thánh Hy lạp (bản Bảy Mươi) chỉ nhận biết một quyển sách duy nhất. Việc phân chia thành hai cuốn sách được ghi nhận vào những thế kỷ đầu tiên Ki tô giáo.
Ở chương 8 này, sách Nơ-khe-mi-a dành một chỗ đặc biệt cho tư tế Ét-ra. Bản văn tường thuật một biến cố có tầm quan trọng lịch sử lớn lao: đây là lần đầu tiên Sách Luật, cũng được gọi Ngũ Thư, được long trọng công bố trước toàn dân.
1.Bối cảnh lịch sử:
Thật khó xác định niên biểu chính xác của biến cố này. Dựa trên chính tác phẩm, biến cố có lẽ đã xảy ra vào năm thứ bảy dưới triều đại Ác-tắc-sát-ta, vua Ba Tư, tức vào năm 458 trước Công Nguyên. Nhưng trong toàn bộ sách, niên biểu của những biến cố thì khá phức tạp; dù thế nào, bối cảnh lịch sử thì khá rõ. Thành Giê-ru-sa-lem vẫn còn in hằn nhiều vết tích của cuộc xâm lăng đế quốc Ba-by-lon vào thế kỷ trước đó; đất nước đã mất nền độc lập gần một trăm năm mươi năm rồi. Thật ra, cuộc cai trị của đế quốc Ba Tư thì tự do và thậm chí khoan dung, khác xa với sự thống trị của đế quốc Ba-by-lon. Những người lưu đày đã được hồi hương trở về, Đền Thờ đã được tái thiết, mặc dầu nhỏ hơn và đạm bạc hơn đền thờ Sa-lô-mon trước đó. Nhưng những bức tường thành với nhiều vết loang lỗ phơi bày một cảnh tượng tang thương, dân cư Giê-ru-sa-lem trở nên thưa thớt và nhiều đoàn người ngoại quốc đến định cư; những cuộc hôn nhân hỗn hợp càng lúc càng nhiều, những thanh niên thiếu nữ Ít-ra-en được những người mẹ ngoại giáo nuôi nấng dạy dỗ. Đức tin của dân Thiên Chúa gặp nguy hiểm. Giê-ru-sa-lem đã mất đi căn tính của mình.
2.Hai nhà canh tân:
Hai nhân vật Do thái, ông Ét-ra, tư tế và kinh sư, và ông Nơ-khe-mi-a, giáo dân, đều là quan chức ở triều đình Ba Tư, dưới triều đại vua Ác-tắc-sát-sa đệ nhất; cả hai ông đều ngậm ngùi trước hoàn cảnh tang thương này, vì thế xin được phái đến miền Pa-lét-tin để chăm lo dân chúng của họ.
Tư tế Ét-ra có ý định phục hồi niềm tin cho Thành Thánh hoang tàn đổ nát và hoàn lại căn tính của Thành, bằng cách đặt dân thành vào việc lắng nghe Lời Chúa. Ông tổ chức một nghi lễ long trọng ở bên ngoài trung tâm Thành Thánh, nghĩa là ở nơi không thánh thiêng để mọi người đều có thể tề tựu. Ông khởi sự nghi lễ vào ngày mồng một tháng bảy, suốt bảy ngày liên tiếp từ sáng đến trưa.
Trước cuộc lưu đày, ngày mồng một tháng bảy đã là ngày lễ Tân Niên như Sách Dân Số đã nêu lên: “Ngày mồng một tháng bảy, anh em sẽ phải tập hợp để thờ phượng Đức Chúa; anh em không được làm một việc nặng nhọc nào: đối với anh em, đó sẽ là ngày Hò Reo” (Ds 29: 1). Vì thế, ông Ét-ra có chủ ý chọn ngày này để quy tụ toàn dân.
3.Phụng vụ Lời Chúa:
Tư tế Ét-ra đứng trên bục gỗ cao và đọc Sách Thánh, còn các thầy Lê-vi thì giảng giải. Tất cả mang đậm nét của một lễ nghi phụng vụ: dân chúng đứng trong thái độ lắng nghe và cầu nguyện; vị tư tế chúc tụng Thiên Chúa, cộng đồng đáp lại, hai tay giơ lên cao hay phủ phục để bày tỏ tâm tình thờ phượng: ở đây có đủ mọi yếu tố sẽ hình thành nên nền tảng phụng vụ hội đường sau này. Nghi lễ được tường thuật ở đây đánh dấu ngày khai sinh Do Thái Giáo.
Ông Ét-ra đã khởi xướng phụng vụ Lời Chúa này do lòng mộ đạo sâu xa, cũng như niềm tôn kính lớn lao của ông đối với các bản văn kinh thánh. Ông Ét-ra là “tư tế kinh sư, chuyên về các lời diễn tả mệnh lệnh và các thánh chỉ của Đức Chúa liên quan đến Ít-ra-en” (E r 7: 11), vì thế, chúng ta có thể nghĩ rằng ông đã đóng một vai trò quan trọng vào công trình biên soạn chung cuộc của bộ Ngũ Thư. Ngoài ra, các vua Ba Tư chủ trương rằng mỗi một miền đế quốc rộng lớn của họ đều có luật riêng của mình. Vì thế, ở Ít-ra-en, luật chỉ có thể là Luật Mô-sê.
Nếu phụng vụ Lời Chúa được mô tả trong bản văn này là nguồn gốc của phụng vụ hội đường, thì đó cũng là nguồn gốc của phần thứ nhất trong việc cử hành Thánh Thể của chúng ta, được gọi “Bàn Tiệc Lời Chúa”, bởi vì việc cử hành Thánh Thể được gợi hứng từ phụng vụ hội đường. Chắc chắn vào thời lưu đày, những người Do thái, sống xa quê hương, xa Đền Thờ, đã cùng nhau tụ họp lại để cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa, một loại phụng vụ hội đường trước khi có văn bản. Chúng ta ghi nhận rằng tư tế Ét-ra nhấn mạnh tính thánh thiêng của “ngày của Chúa”, nhu cầu biến ngày của Chúa thành ngày của niềm vui và ngày của đức ái, vả lại phù hợp với truyền thống theo đó vào những ngày lễ, người ta không được quên những người nghèo khổ túng thiếu.
BÀI ĐỌC II (1Cr 12, 12-30)
Đoạn văn này, được trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, tiếp theo đoạn văn của Chúa Nhật trước.
1.Sự hiệp nhất trong Giáo Hội:
Thánh Phao-lô đã chứng mình cho các tín hữu chia rẽ rằng cộng đoàn của họ hình thành nên một sự hiệp nhất sâu xa vì cộng đoàn sống dưới tác động của một Chúa Thánh Thần duy nhất. Thánh nhân tiếp tục chứng minh sự hiệp nhất này bằng hình ảnh về sự duy nhất của một thân thể với các bộ phận của nó. Quả thật, chính trong thư gởi các tín hữu Cô-rin-tô này vị sứ đồ phác họa những dữ kiện căn bản về thần học Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô, mà sau này thánh nhân sẽ khai triển, nhất là trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô.
2.Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô:
Trong một đoạn văn trước, thánh nhân đã gợi lên rằng các tín hữu được tháp nhập vào Đức Ki tô nhờ bí tích Thánh Thể: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào máu Đức Ki tô ư? Và khi ta bẻ Bánh Thánh , đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (10: 16-17).
Trong đoạn văn được trích dẫn hôm nay, thánh nhân lại quy chiếu về bí tích Rửa Tội: “Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể”. Và thánh nhân nhắc nhớ mối liên hệ giữa Phép Rửa và Chúa Thánh Thần: “Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất”. Mối liên hệ giữa Phép Rửa và Chúa Thánh Thần thuộc truyền thống Kinh Thánh, ví dụ ở Ga 7: 38-39: “Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhất. Đức Giê-su đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng nói rằng: ‘Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống’. Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận”.
3.Tính đa dạng các sứ vụ trong Giáo Hội:
Sau khi đã khai triển chi li về mối liên kết mật thiết của mỗi bộ phận trong cùng một thân thể, thánh Phao-lô áp dụng vào tính đa dạng các sứ vụ trong Giáo Hội. Ba sứ vụ được nêu tên đầu tiên theo trật tự phẩm trật: các Tông Đồ, các ngôn sứ, thầy dạy, tương ứng với những sứ vụ cao trọng hơn những sứ vụ khác mà sau này tùy dịp thánh nhân kể ra. Danh xưng “Tông Đồ” phải được hiểu theo nghĩa rộng: không chỉ Nhóm Mười Hai hay thánh Phao-lô, những người đã lãnh nhận sứ vụ của mình từ chính Đức Ki tô, nhưng còn những ai mà họ đã ủy quyền. Danh xưng “các ngôn sứ” bao gồm những nhà rao giảng, những nhà truyền giáo, những người mà chúng ta có thể nói rằng họ đã lãnh nhận sứ vụ từ Chúa Thánh Thần. Thánh Phao-lô khai triển vai trò của họ cho đến chương tiếp theo sau. “Người nói tiên tri thì phải nói với người ta để xây dựng, để khích lệ và an ủi” (14: 3). Danh xưng “thầy dạy” là những người Ki tô hữu có học thức đảm nhận trách nhiệm đào tạo các tín hữu.
Những sứ vụ hay những đặc sủng phải được thi hành mà không tìm cách xé lẽ hay gây nên sự đố kỵ. Nếu mỗi người chu toàn ơn đặc sủng mà mình lãnh nhận thì sự hiệp nhất của cộng đồng sẽ ngự trị; vì các bộ phận không đơn giản là cái thêm vào Thân Thể của Đức Ki tô: “Như thế, không có sự chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phần nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung”. Sau này thánh Phao-lô sẽ nói rằng Đức Giê-su là đầu, thủ lãnh của Giáo Hội: Ngài là nguyên lý hợp nhất của toàn thân thể mầu nhiệm của Ngài.
Thần học của thánh Phao-lô về mối liên hệ mầu nhiệm hiệp nhất người Ki tô hữu với Đức Ki tô có nền tảng của nó ở nơi giá trị của bí tích Rửa Tội và bí tích Thánh Thể, nhưng chắc chắn trực giác đầu tiên đến từ biến cố trên đường Đa-mát, từ một tiếng nói gây choáng váng: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9: 4).
TIN MỪNG (Lc 1: 1-4; 4: 14-21)
Bản văn này được kết hợp bởi hai phân đoạn rất riêng biệt, cách xa nhau trong Tin Mừng Lu-ca. Trước hết là Lời Tựa sách Tin Mừng này (1: 1-4), tiếp đó là khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê (4: 14-21), trong khi bỏ qua những chương về thời thơ ấu của Đức Giê-su và thánh Gioan Tẩy Giả, vân vân, mà chúng ta đã đọc những đoạn trích vào Mùa Vọng và Lễ Giáng Sinh.
1.Lời Tựa:
Lời Tựa này chuẩn bị một cách tuyệt vời lời công bố của Đức Giê-su ở hội đường Na-da-rét: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa mới nghe”. Nói một cách chính xác, lời công bố này là khởi đầu Tin Mừng.
Như các văn nhân thời Hy lạp, thánh Lu-ca dẫn nhập tác phẩm của mình với một lời tựa, ở đó thánh ký giải thích lý do công việc của mình: thông tri một cách chính xác cho ông Thê-ô-phi-lô nào đó, chắc chắn một nhân vật quan trọng, chính cũng cho nhân vật này tác giả sẽ đề tặng sách Công Vụ Tông Đồ; tuy nhiên, chúng ta không biết một chút gì về nhân vật này.
Thánh Lu-ca thổ lộ nổi bận lòng của một sử gia: “Tôi cũng vậy, sau khi cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự”. Quả thật, thánh ký không là một Tông Đồ, cũng không là một môn đệ trực tiếp của Đức Giê-su, cũng không là một người đã thấy tận mắt Đức Giê-su, đã nghe tận tai những lời Ngài nói; nói cho cùng, thánh ký đã không sống những biến cố mà ông tường thuật; ông làm việc trên những chứng liệu. Ông chỉ ra rằng ông đã có những vị tiền nhiệm, trong số đó phải kể đến thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu (Tin Mừng Lu-ca thường theo rất sát Tin Mừng Mác-cô). Ngoài ra, dựa trên những truyền thống “được truyền đạt bởi những chứng nhân mắt thấy tai nghe”, thánh ký đã tự mình tra cứu; chắc chắn ông đã tiếp xúc với thánh Gioan, vì có những điểm tương đồng giữa Tin Mừng thứ ba và Tin Mừng thứ tư.
2.Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét:
Từ Lời Tựa này chúng ta đi thẳng sang khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê và cuộc viếng thăm Na-da-rét của Ngài.
Tình tiết của cuộc viếng thăm Na-da-rét cũng được thánh Mác-cô (Mc 6: 1-6) và thánh Mát-thêu (Mt 13: 53-58) tường thuật. Thánh Lu-ca tường thuật dài hơn; vì thế, câu chuyện này được phân chia thành hai phần và được công bố vào hai Chúa Nhật liên tiếp. Việc phân chia thành hai phần này càng được biện minh hơn nữa vì xem ra có hai đoạn văn về việc Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét. Vào cuộc viếng thăm thứ nhất, Đức Giê-su được mọi người hân hoan chào đón và ngưỡng mộ; những người đồng hương của Ngài hảnh diện về danh tiếng của một người trong họ và thán phục về cách giải thích Kinh Thánh của Ngài. Trái lại cuộc viếng thăm thứ hai là một cuộc thất bại và gây nên làn sóng giận dữ của dân làng Na-da-rét (chính cuộc viếng thăm lần thứ hai này mà hai Tin Mừng nhất lãm khác tường thuật).
Nhưng thánh Lu-ca đã ráp nối những lời chứng liên quan đến hai cuộc viếng thăm thành một câu chuyện duy nhất, như vậy tăng cường hơn nữa bài tường thuật của mình: thánh ký làm cho câu chuyện của mình thành biểu tượng hai thái độ của dân Ít-ra-en: trước hết, hoan hĩ tiếp đón Đức Giê-su, đoạn loại bỏ và tìm cách giết Ngài. Ngoài ra, Đức Giê-su loan báo rằng sứ điệp của Ngài cũng được dành cho lương dân (phần thứ hai của câu chuyện này được trích dẫn vào Chúa Nhật tới). Như vậy câu chuyện về sự khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê mang tính ngôn sứ: những biến cố tương lai được ghi khắc ở nơi những tình tiết khởi đầu này.
3.Phụng vụ hội đường vào ngày sa-bát:
“Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người tôn vinh”. Chính ở nơi lời này mà Thánh Lu-ca tóm tắt giai đoạn vinh quang của sứ vụ Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê, vì danh tiếng của Ngài đồn ra khắp vùng. Vào một ngày sa-bát, Ngài đến hội đường Na-da-rét, nơi Ngài đã từng theo thánh Giu-se và bà Ma-ri-a đến tham dự phụng vụ ngày sa-bát.
Đối với người Do thái, ngày sa-bát là ngày thánh để kính Đức Chúa, ngày nghỉ ngơi và kinh nguyện, như Chúa đã truyền (Xh 20: 8-11; Đnl 5: 12-15). Vào ngày đó dân chúng cùng nhau tụ họp lại để lắng nghe Lời Chúa. Vào lúc bắt đầu phụng vụ sa-bát này, họ xướng kinh “Shêma”, và kinh “mười tám lời chúc phúc”; kinh “Shêma” được xem như kinh tin kính của người Do thái, kinh này lập lại Đnl 6: 4-5 với lời mở đầu: “Nghe đây (Shêma) hỡi Ít-ra-en”, và được phụ thêm với Đnl 11: 13-21. Sau đó, người ta lắng nghe Lời Chúa được trích từ Sách Luật (Ngũ Thư) hay từ các sách Ngôn Sứ. Mọi tín hữu đều có quyền đọc Kinh Thánh, hoặc tự nguyện hay được viên trưởng hội đường chỉ định. Vị này thường mời một người trong số những người hiện diện, thông thạo Kinh Thánh lên công bố và giảng giải Lời Chúa cho cộng đoàn. Vào dịp này, chắc chắn Đức Giê-su được mời. Đức Giê-su thường lợi dụng dịp này để rao giảng đạo lý của Ngài (x. Lc 4: 16tt.), và sau này các Tông Đồ của Ngài cũng sẽ noi gương Ngài như vậy (x. Cv 13: 5, 14, 42, 44; 14: 1; vân vân). Phụng vụ ngày sa-bát kết thúc với công thức chúc lành tư tế, được vị chủ trì hay một tư tế nếu có mặt ở đó, xướng, và dân chúng đáp “A-men” (x. Ds 6: 22tt.).
4. “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”:
Đức Giê-su gặp thấy đoạn văn Is 61: 1-2, ở đó ngôn sứ I-sai-a biện minh sứ mạng của mình: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”. Thánh Lu-ca là vị thánh ký duy nhất trích dẫn đoạn văn I-sai-a này. Đây cốt là một trong những đoạn văn của ngôn sứ I-sai-a đệ tam được gởi đến cho những người hồi hương trở về từ cảnh lưu đày ở Ba-by-lon; họ bị bầm dập, nghèo khổ, thất vọng trước những khó khăn; họ thuộc vào số những người nghèo của Đức Chúa.
Sau khi đã đọc xong, Đức Giê-su không giải thích bản văn nhưng công bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Đức Giê-su không ngần ngại hiện tại hóa sấm ngôn của Is 61: 1-2 vào con người và sứ mạng của mình: chính Ngài là Đấng mà bản văn I-sai-a loan báo. “Theo thánh Lu-ca, các câu trên là tuyên ngôn cứu thế đầu tiên của Đức Ki tô, nó sẽ được nối tiếp bằng những việc làm và lời nói mà Tin Mừng cho chúng ta biết. Bằng những việc làm và lời nói này, Đức Ki tô làm cho Chúa Cha hiện diện giữa loài người” (Gioan Phao-lô II, Thiên Chúa giàu lòng xót thương, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, 2008, tr. 13-14).
5.Năm Hồng Ân của Chúa:
“Một năm hồng ân của Chúa” ám chỉ đến Năm Toàn Xá được cử hành cứ năm mươi năm một lần (x. Lv 25: 8-17). Năm Toàn Xá là hình thức mở rộng của Năm Sa-bát được cử hành cứ bảy năm một lần (Đnl 15: 1-11). Năm này tiêu biểu lý tưởng công bình xã hội mà người ta nhắm đến một cách thiết thực và cụ thể. Đây là Tin Vui, Tin Mừng, Tin Giải Thoát cho những người nghèo, những kẻ cô thân cố thế bị chèn ép áp bức, dưới bất kỳ hình thức nào, đến nỗi phải mất nhà cửa đất đai, trở nên nghèo khổ và đem thân làm tôi đòi cho những kẻ giàu có và có quyền có thế. Đó cũng là năm mời gọi hết mọi người hãy ăn năn sám hối, vì hoặc đã góp phần vào sự bất công hay đã nhắm mắt làm ngơ trước những đau khổ của anh em đồng loại của mình. “Cũng thế, Giáo Hội trìu mến và ấp ủ tất cả những ai đau khổ vì sự yếu hèn của con người, nhất là nhận biết nơi những người nghèo khó và đau khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập khó nghèo và đau khổ, ra sức giảm bớt nỗi cơ cực của họ và nhằm phụng sự Chúa Ki tô trong họ” (Vatican II, Lumen gentium, 8).
E/ Những bài suy niệm khác
CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỨC GIÊSU
