
“Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”.
Bài Ðọc I: 1 V 19, 9a. 11-13a
“Ngươi hãy ra đứng trên núi trước tôn nhan Chúa”.
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, khi Êlia đã lên núi Horeb của Thiên Chúa, ông trú ẩn trong một cái hang… Có lời Chúa phán cùng ông rằng: “Hãy ra đứng trên núi trước tôn nhan Chúa”. Bỗng Chúa đi qua; có một cơn gió mạnh xé núi non và nghiền nát đá trước mặt Chúa; nhưng Chúa không ở trong gió bão. Sau trận gió bão thì đất động; Chúa cũng không ở trong cơn động đất. Sau cơn động đất thì có lửa; nhưng Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa thì có tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe thấy, Êlia liền lấy áo choàng che mặt lại, đi ra đứng ở cửa hang.
Ðáp Ca: Tv 84, 9ab-10. 11-12. 13-14
Ðáp: Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con.
Xướng: Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán báo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an. Vâng, ơn cứu độ Chúa gần đến cho những ai tôn sợ Chúa, để vinh quang Chúa ngự trị trong Ðất Nước chúng tôi.
Xướng: Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau, đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống.
Xướng: Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và Ðất Nước chúng con sẽ sinh bông trái. Ðức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt bước của Ngài.
Bài Ðọc II: Rm 9, 1-5
“Tôi đã ước ao được loại khỏi Ðức Kitô vì phần ích anh em của tôi”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, tôi xin nói thật trong Ðức Kitô, tôi không nói dối: lương tâm tôi làm chứng cho tôi trong Thánh Thần: là tôi buồn phiền quá đỗi, lòng tôi hằng đau đớn luôn. Chính tôi đã ao ước được loại khỏi Ðức Kitô vì phần ích anh em của tôi, là những thân nhân của tôi về phần xác. Họ đều là người Israel, họ được quyền làm nghĩa tử, được vinh quang, giao ước, lề luật, việc phượng tự và lời hứa: các tổ phụ cũng là của họ, và bởi các đấng ấy mà Ðức Kitô sinh ra phần xác, Người là Thiên Chúa trên hết mọi sự, đáng chúc tụng muôn đời. Amen.
Alleluia: Ga 1, 14 và 12b
Alleluia, alleluia! – Ngôi lời đã làm người và đã ở giữa chúng ta. Những ai tiếp rước Người, thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 14, 22-33
“Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.
Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: “Ma kìa!”, và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!” Phêrô thưa lại rằng: “Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”. Chúa phán: “Hãy đến!” Phêrô xuống khỏi thuyền, bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: “Lạy Thầy, xin cứu con!” Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: “Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?” Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: “Thật, Thầy là Con Thiên Chúa”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
“ĐI TRÊN NƯỚC” ĐẾN VỚI CHÚA
Khi ấy ông Phêrô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” Đức Giêsu bảo ông: “Cứ đến!”. (Mt 14,28-29a)
Suy niệm: Tin tưởng vào Lời của Chúa, ông Phêrô bước xuống thuyền đi trên mặt nước và đến với Ngài. Nhưng khi thấy gió thổi, ông sợ và la lên và rồi ông bắt đầu chìm. Cơn gió nổi lên làm ông phân tâm. Ông chìm vì ông không còn nhìn vào Chúa, vì ông không còn coi Chúa là điểm đến trong hành trình ‘đi trên nước’ của mình.
Các Kitô hữu trong hành trình đức tin của mình cũng vậy. Bao lâu chúng ta còn nhìn lên Chúa, bao lâu còn tập trung vào Chúa, còn coi Chúa là mục tiêu của đời mình thì bấy lâu chúng ta còn có thể “đi trên mặt nước” mà đến với Ngài. Câu chuyện ông Phêrô hôm nay cũng là câu chuyện cuộc đời của mỗi người chúng ta trong hành trình theo Chúa khi sống giữa trần gian này.
Mời Bạn: Để có thể đi theo và đến được với Chúa Giêsu, mỗi chúng ta phải tập trung nhìn thẳng vào Chúa, đó là lúc chúng ta sống với Chúa trong kinh nguyện hàng ngày, trong mỗi thánh lễ và không để “những chuyện thế gian” làm chúng ta chia trí. Có vậy ta mới đi trọn vẹn tới Chúa là mục tiêu đời mình.
Chia sẻ: Bạn có kinh nghiệm “bị chìm” trong đời sống Đức tin khi bạn sao nhãng, chia trí và xa rời Chúa không?
Sống Lời Chúa: Đối với các Kitô hữu, nhìn ngắm Chúa, kết hợp với Chúa, đặt mục tiêu đời mình nơi Chúa, là cách tốt nhất để chúng ta có thể bước theo và đến với Ngài trong hành trình đời mình.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con vững tin để con luôn biết chăm chú nhìn Chúa là lẽ sống của con, nhờ đó con có được Chúa trong cuộc sống đời con mà bước đi theo Ngài. Amen.
B/ TGM Giuse Nguyễn Năng
Suy niệm: “Trời tối và Ðức Giêsu chưa đến với họ. Biển động vì cuồng phong đốc thổi”. Thuyền của các môn đệ chao đảo giữa mù tối và sóng gió.
Con thuyền Giáo hội đang vật lộn giữa vòng xoáy của cuộc sống hôm hay: Giữa những giáo thuyết sai lạc và luân lý suy đồi. Cuộc sống của mỗi chúng ta, gia đình của chúng ta cũng lao đao khốn đốn giữa dòng chảy cuộc đời nếu không có Chúa đồng hành.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết đặt Ngài làm trung tâm cuộc sống của chúng con. Xin cho chúng con biết tìm Chúa khi đời chúng con dậy sóng. Vì đến muôn đời Chúa vẫn là bến bờ hạnh phúc và an vui. Amen.
Ghi nhớ: “Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”.
C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên
“ĐỪNG SỢ!”
Cả ba bài đọc Lời Chúa trong Chúa nhật XIX thường niên đều cho thấy những hoàn cảnh bi ai: Bài đọc I nói về cuộc chạy trốn của ngôn sứ Ê-li-a trước sự săn đuổi của vua A-kháp và hoàng hậu I-dê-ven sau cuộc thách thức với 450 ngôn sứ của thần Ba-an. Thánh Phao-lô trong Bài đọc II lại nói về nỗi khổ tâm luôn dằn vặt ngài, vì sự cứng lòng của những người đồng bào cùng dòng tộc Do Thái. Bài Tin Mừng thánh Mát-thêu cho thấy nỗi sợ của các môn đệ vào lúc canh tư đêm tối trên biển hồ Ga-li-lê. Trong tất cả những hoàn cảnh này, Lời Chúa gửi đến chúng ta một thông điệp, đó là “Đừng sợ!”.
Trong thánh lễ bế mạc Ngày Giới trẻ thế giới lần thứ 37, được tổ chức tại Lisbone, thủ đô Bồ Đào Nha, từ ngày 3 đến ngày 6-8-2023, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng gửi đến cho giới trẻ thế giới thông điệp “Đừng sợ!”. Giữa một xã hội được đánh giá là “bệnh hoạn” và đang bị xâu xé vì chiến tranh, bạo lực, xung đột, vị Mục tử của Giáo Hội Công giáo mượn lời Chúa để trấn an các tín hữu, đặc biệt là các bạn trẻ: Đừng sợ! Đây không phải là một lập luận giả tưởng nhằm quên đi thực tế phũ phàng, nhưng là một thông điệp dựa trên lời Chúa Giê-su. Tin Mừng kể với chúng ta, nhiều lần Chúa Giê-su khẳng định với các môn đệ rằng Người không bao giờ bỏ rơi họ. Người khuyên họ hãy can đảm lên, vì chính Người đã thắng thế gian. Mặc dù quyền lực thế gian có mạnh đến đâu chăng nữa, cũng không thể thẳng nổi quyền năng của Thiên Chúa. Chúa nhật trước, chúng ta vừa cử hành lễ Chúa Hiển Dung. Việc Chúa tỏ vinh quang của Người cho ba môn đệ, cũng nhằm mục đích khích lệ các ông trước bóng đen của thập giá đang dần xuất hiện. “Đừng sợ!”. Đó cũng là phương châm của Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, kể từ khi đăng quang Giáo Hoàng năm 1978. Hai từ này đã mang lại cho ngài can đảm phi thường, giúp ngài trở thành một trong những vị Giáo Hoàng sáng giá trong lịch sử Giáo Hội, với rất nhiều kỷ lục trong mọi lãnh vực.
Nếu cả ba bài đọc đều diễn tả những hoàn cảnh bi ai, thì cả ba bài cũng cho chúng ta thấy những kết thúc tốt đẹp. Ngôn sứ Êlia đã gặp Chúa sau cuộc trốn chạy gian nan. Chúa đã an ủi ông. Ngài cũng đã sai thiên sứ dẫn đường và khích lệ ông, mang bánh và nước cho ông để ông khỏi chết đói chết khát, đủ sức đi đến núi Hô-rép là núi của Thiên Chúa. Thánh Phaolô, trong cơn bĩ cực, vẫn xác tín vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa và niềm hy vọng nơi Đức Kitô. Các môn đệ mặc dù sợ hãi hoảng loạn, và tông đồ Phêrô dẫu có chìm xuống nước, cuối cùng vẫn được Chúa cứu và các ông tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Như thế, Lời Chúa cho chúng ta thấy, trong bất cứ tình huống nào, Chúa vẫn ở bên chúng ta. Người không bao giờ để chúng ta chịu đựng quá sức. Những thử thách gian nan cũng là dịp tôi luyện đức tin và lòng trung thành của chúng ta.
Bài Tin Mừng ngắn gọn nhưng đã diễn tả những trạng thái tâm lý khác nhau của Tông đồ Phê-rô. Trước hết, ông ra điều kiện với Chúa: nếu là Thày, thì xin cho con đi được trên mặt nước như Thày. Sau đó, ông đi được theo lệnh truyền của Chúa. Thế rồi, khi sóng gió bão táp nổi lên, ông quá sợ hãi và bắt đầu chìm dần xuống nước. Cuối cùng Chúa là Đấng giải thoát ông. Phó thác tin tưởng vào Chúa là điều không dễ. Trình thuật này phác họa cuộc sống cụ thể của chúng ta. Những khó khăn thử thách làm chúng ta khiếp sợ. Bài Tin Mừng hôm nay cũng giúp chúng ta liên tưởng tới phép lạ Chúa đã làm để dẹp yên bão táp trên biển hồ Ga-li-lê-a (x. Mt 8,23-27). Cuộc sống trần gian được sánh ví như một cuộc vượt biển. Có những tháng ngày êm ả, nhưng cũng có những tháng ngày dậy sóng. Để đến được bến bờ bình an, chúng ta phải có chỗ cậy dựa vững chắc. Chính Chúa là nguồn sức mạnh của chúng ta. Người giúp chúng ta vượt biển trần gian để cập bến an bình.
Khi ngỏ lời với giới trẻ trong thánh lễ bế mạc Đại hội với lời trấn an “Đừng sợ!”, Đức Thánh Cha mời gọi người trẻ kiên vững đức tin trong một bối cảnh xã hội tục hóa lãng quên Thiên Chúa. Một khi tin tưởng phó thác vào tình yêu quan phòng của Chúa, người trẻ sẽ hăng say cộng tác xây dựng Giáo Hội của Chúa Ki-tô. Kết thúc Đại Hội Giới Trẻ thế giới là một cuộc lên đường vĩ đại. Với chủ đề của Đại Hội là “Đức Ma-ri-a vội vã lên đường” (Lc 1,39), Đức Thánh Cha mong ước mỗi người trẻ hãy là một chứng nhân đức tin trong đời sống hằng ngày. Có lần, một bạn trẻ hỏi Đức Phan-xi-cô: “Thưa Đức Thánh Cha, làm sao chúng con có thể truyền giáo được?”. Ngài trả lời: “Rất đơn giản. Các con hãy sống tốt trong gia đình và trong xã hội. Những người xung quanh sẽ đặt câu hỏi: bạn là ai? Vì lý do nào mà bạn trung thực và thân thiện như thế? Vậy là truyền giáo rồi!”.
Thế gian là chốn ba đào. Mỗi chúng ta hãy tin tưởng cậy trông vào quyền năng của Chúa. Người sẽ giữ gìn và nâng đỡ chúng ta.
D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Vào Chúa Nhật XIX Thường Niên Năm A nầy, bản văn Cựu Ước và bản văn Tin Mừng cùng nhau giới thiệu Thiên Chúa là nguồn mạch của sự bình an.
1V 19: 9, 11-13
Trong sách Các Vua quyển thứ nhất, Thiên Chúa tỏ mình ra với ngôn sứ Ê-li-a trên núi Khô-rếp (tên gọi khác của núi Xi-nai), không còn trong cảnh sấm chớp kinh thiên động địa, nhưng trong cõi thinh lặng chứa chan ân tình trìu mến.
Rm 9: 1-5
Trái lại, Bài Đọc II trích từ thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Rô-ma là một lời tâm sự đầy xao xuyến của thánh nhân trước sự cứng lòng tin của đồng bào Do thái của mình, tuy họ đã được Thiên Chúa đổ tràn biết bao thánh ân.
Mt 14: 22-33
Tin Mừng tường thuật việc Đức Giê-su đi trên biển hồ trong phong ba bão tố. Ngay khi Ngài gặp lại các môn đệ trên thuyền, bão tố trở nên dịu êm. Sự bình yên trở lại trên thiên nhiên và trong cõi lòng của con người.
BÀI ĐỌC I (1V 19: 9, 11-13)
Sách Các Vua quyển thứ nhất và quyển thứ hai dành một chỗ rộng lớn cho vai trò của các ngôn sứ, đặc biệt cho ba ngôn sứ: Ê-li-a, Ê-li-sa và I-sai-a.
Ngôn sứ Ê-li-a là một nhân vật thần bí có quyền năng hô phong hoán vũ, nhưng trước hết, là một con người của đức tin. Ông thực hiện sứ vụ ngôn sứ của mình ở vương quốc miền Bắc (còn gọi vương quốc Ít-ra-en), vào triều đại của vua A-kháp (874-853 tCn). Sứ mạng của ông gặp nhiều gian truân. Vua A-kháp là một vị quân vương vô đạo. Vợ vua, hoàng hậu I-de-ven, ngoại đạo, công chúa của vua Xi-đon, vua này vừa là vua đồng thời cũng là tư tế của thần Ba-an. Vua A-kháp sùng bái việc cúng tế ngẫu tượng và không thể chịu đựng được những lời khiển trách của ngôn sứ Ê-li-a. Trong khi đó, hoàng hậu I-de-ven quyết tâm truy lùng ngôn sứ Ê-li-a sau biến cố ngôn sứ Ê-li-a tru diệt các ngôn sứ của thần Ba-an trên núi Cát-men.
1.Hành trình tâm linh của ngôn sứ Ê-li-a.
Trước cuộc bách hại của vương triều, Ngôn sứ Ê-li-a rời bỏ vương quốc miền Bắc, trốn chạy vào vương quốc miền Nam (cũng gọi là vương quốc Giu-đa) cho đến tận biên giới sa mạc xa xôi. Ở đó, ông quyết định thực hiện một cuộc hành hương theo vết chân của ông Mô-sê. Sau một cuộc hành trình dài, ông đến núi thánh Khô-rếp (cũng được gọi núi Xi-nai theo truyền thống vương quốc miền Bắc). Chán nản vì những nổ lực của ông đã biến thành mây khói, vị ngôn sứ cố gắng tôi luyện lại niềm tin của mình trên chính những nơi Thiên Chúa đã tỏ mình ra.
Bốn thế kỷ cách biệt giữa ngôn sứ Ê-li-a và ông Mô-sê, dường như núi Khô-rếp đã trở thành thánh địa hành hương. Vị ngôn sứ nằm nghỉ trong một chiếc hang xưa kia ông Mô-sê đã trú ngụ, nơi mà truyền thống đã xem như thánh địa.
Chính để an ủi người tôi trung của mình, Thiên Chúa tỏ mình ra nhưng không trong tiếng sấm chớp kinh thiên động địa, cũng không trong cảnh đất rung núi lỡ hồn xiêu phách lạc, nhưng trong “làn gió mát hiu hiu thổi” (dịch sát từ: “trong tiếng động của cõi thinh lặng tinh tế”).
2.Tấm lòng trìu mến của Thiên Chúa.
Hai hoàn cảnh thần hiển với ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a không như nhau. Xưa kia, dân Do thái cắm lều ở dưới chân núi Xi-nai. Vào lúc đó, Thiên Chúa đã ngỏ lời với dân trong cảnh trời đất rung chuyển và núi non hừng hực lửa, ngõ hầu toàn dân nhận biết sự hiện diện đầy quyền năng của Thiên Chúa, nhờ đó dân biết kính sợ Ngài và lắng nghe ông Mô-sê, người trung gian của Ngài.
Trái lại, ngôn sứ Ê-li-a hoàn toàn cô độc, không tìm thấy một nơi nương tựa nào trên trần thế nầy. Thiên Chúa, thay vì làm ông khiếp sợ, tỏ mình ra trong giọng nói thì thầm dịu êm. Đây là cách thức khác Thiên Chúa bày tỏ sự thánh thiêng của Ngài. Hành động cứu độ của Thiên Chúa không tất yếu phải là ngoạn mục, ngược lại thường nhất là kín đáo. Trong trường hợp của ngôn sứ Ê-li-a, Thiên Chúa muốn ông hiểu rằng Ngài đang lắng nghe lời cầu nguyện của ông. Chính trong ân tình trìu mến mà Ngài muốn chuyện trò với ông.
Ngoài ra, không ngoại trừ rằng tác giả muốn cho dân Do thái bất tín và thờ ngẫu tượng một bài học: thần Ba-an của dân Ca-na-an là thần bão tố; còn Đức Chúa, Thiên Chúa chân thật, thì hoàn toàn khác.
Thật tuyệt vời khi Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay đã đối chiếu hai bản văn Cựu Ước và Tân Ước để giới thiệu Đức Giê-su là Đấng dẹp yên phong ba bão tố. Chính Ngài đem lại sự bình an. Sự hiện diện của Thiên Chúa là nguồn mạch của sự bình an.
BÀI ĐỌC II (Rm 9: 1-5)
Bài Đọc II bắt đầu trích chương 9 của thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Rô-ma, trong đó thánh nhân thú nhận những nỗi phiền muộn bao la của mình trước sự cứng lòng tin của đồng bào Do thái của thánh nhân.
1.Nỗi ưu phiền lớn lao.
Nỗi phiền muộn của thánh Phao-lô lớn lao đến mức thánh nhân sợ người ta không muốn tin như vậy. Vì thế, thánh nhân viện dẫn Đức Ki-tô ra làm chứng: “Có Đức Ki-tô chứng giám”, đoạn Chúa Thánh Thần: “Lương tâm tôi, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng cho tôi”. Người ta có thể nghĩ rằng thánh Phao-lô đã muốn trung thành với truyền thống Do thái theo đó một sự kiện được cho là thật nếu có hai người làm chứng.
Thánh nhân vừa mới trình bày một cách nồng nàn vận mệnh vinh quang được chuẩn bị cho các tín hữu (chương 8). Thật sự là nỗi đau đến xé lòng nếu như đồng bào của mình đã không được dự phần vào vinh quang nầy. Thánh nhân chấp nhận chịu nguyền rủa để cứu anh em đồng bào cùng chung huyết thống với mình, dù phải hiến dâng chính bản thân mình, thì ngài cũng cam lòng. Ở đây, thánh nhân dùng từ Hy lạp “tách ra” theo nghĩa tiêu cực. Từ Hy lạp nầy có hai nét nghĩa, hoặc tích cực: đối tượng được tách ra khỏi thế giới phàm trần để được dâng hiến cho Thiên Chúa; hoặc tiêu cực: được tách ra để bị nguyền rủa. Thánh nhân dùng động từ Hy lạp nầy ở nơi khác cũng theo nghĩa tiêu cực như 1Cr 12: 3; 16: 22; Gl 1-8. Tiếng kêu tận đáy lòng, tiếng kêu quá đổi bi thương cùng cực, có lẽ được gợi hứng từ tiếng kêu đến xé lòng của ông Mô-sê trước sự bất trung của dân Do thái cúi mình thờ lạy con bê vàng như là đấng giải phóng họ: “Than ôi, dân này đã phạm một tội lớn! Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng! Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ! Bằng không thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn sách sự sống mà Ngài đã viết” (Xh 32: 31-32).
2.Một dân phản loạn.
Thánh nhân nhắc lại tất cả những ân ban mà Thiên Chúa đã tuôn đổ dư tràn cho dân Ngài: “Họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng giao ước, lề luật, nền phụng tự và những lời hứa”. Sau hết, thánh nhân nhấn mạnh đặc ân cao vời khôn sánh mà dân Do thái đã lãnh nhận, đó chính là “Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ”. Thánh nhân còn nói thêm: “Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn đời”. Đây là một trong những ví dụ hiếm hoi, ở đó thánh Phao-lô gọi Đức Ki-tô là Thiên Chúa. Chúng ta còn gặp một ví dụ duy nhất khác ở Tt 1: 3: “Vào đúng thời đúng buổi, Người đã biểu lộ lời Người trong lời rao giảng đã được giao phó cho tôi, theo lệnh của Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta”.
TIN MỪNG (Mt 14: 22-33)
Câu chuyện Đức Giê-su đi trên biển hồ sóng to gió lớn được định vị vào ban đêm sau phép lạ hóa bánh ra nhiều.
Sau khi hóa bánh ra nhiều cho dân chúng được ăn no nên trong hoang địa, Đức Giê-su buộc các môn đệ xuống thuyền sang bờ hồ bên kia, còn Ngài thì giải tán đám đông dân chúng và lên núi cầu nguyện một mình. Các ông, đa số là những ngư phủ dày dặn kinh nghiệm, biết rằng vượt biển hồ rộng lớn trong đêm tối rất nguy hiểm. Thánh Mát-thêu không đưa ra bất kỳ lời giải thích nào cho thái độ kỳ lạ của Đức Giê-su. Chúng ta biết được nhờ Tin Mừng thứ tư: “Đức Giê-su biết người ta sắp tôn Ngài làm vua, một lần nữa, một mình rút lui lên núi” (Ga 6: 15). Đức Giê-su cẩn trọng tách riêng các môn đệ ra khỏi đám đông, vì sợ rằng các ông để cho mình bị đám đông lôi cuốn nẩy sinh trong lòng ước muốn tái lập vương triều Ít-ra-en. Đó không là sứ mạng của Ngài.
1.Chúa Giê-su cầu nguyện một mình:
Bất cứ khi nào các thánh ký kể ra việc Đức Giê-su cầu nguyện, họ đều nhấn mạnh tính chất trầm lắng và cô độc của Ngài: “Đức Giê-su lên núi một mình mà cầu nguyện”. Ngài cầu nguyện trong những trường hợp quan trọng (khi chịu phép rửa của Gioan Tẩy Giả, khi biến hình trên núi cao), trước khi đưa ra những quyết định quan trọng (khi chịu những thử thách trong hoang địa, ở vườn Cây Dầu). Việc Đức Giê-su cầu nguyện sau phép lạ hóa bánh ra nhiều thật sự chiếm lấy thời điểm bản lề. Đám đông tán dương Ngài như một người có phép thuật thần thông biến hóa; họ ước mơ một Đấng Thiên Sai quyền năng trần thế; họ để ngoài tai sứ điệp của Ngài. Thất vọng, Đức Giê-su sắp mở ra cho sứ vụ của Ngài một hướng đi khác: để hết tâm trí vào việc ưu tiên đào tạo các môn đệ của Ngài. Trước khi đưa ra quyết định nầy, Đức Giê-su trải qua suốt buổi chiều và thâu đêm để thân thưa với Cha Ngài.
2. “Thầy đây, đừng sợ”
Dù cầu nguyện một mình trên núi, Đức Giê-su vẫn không rời mắt khỏi con thuyền của các môn đệ Ngài. Khi thấy con thuyền của họ lâm nguy, Đức Giê-su đi trên mặt biển sóng to gió lớn mà đến với các ông. Theo quan niệm Kinh Thánh, “biển” là nơi các ác thần cư ngụ và hoạt động (x. G 7: 12; Is 27: 1; 51: 9t; Đn 7…). Ở đây, thánh Mát-thêu mô tả con thuyền trong đêm tối “bị vùi dập” bởi những đợt sóng hung dữ, tức là đang ở trong tình trạng bị thế lực sự ác đe dọa.
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay sở hữu nhiều yếu tố gợi lên biến cố Phục Sinh. Động từ “đến” được dùng ở đây cũng là động từ tiêu biểu chỉ những lần Đức Giê-su Phục Sinh đến với các môn đệ Ngài (Lc 24: 15; Ga 20: 19) trong tư thế là Đấng chiến thắng những thế lực hung dữ của tử thần. Thời điểm “Đức Giê-su đến với các ông” vào khoảng canh tư, tức từ ba giờ đến sáu giờ sáng nhắc độc giả nhớ thời điểm Đức Giê-su sống lại khi trời “vừa ló dạng” theo thánh Mát-thêu (Mt 28: 1), “lúc mặt trời hé mọc” theo thánh Mác-cô (Mc 16: 2), “vừa tảng sáng” theo thánh Lu-ca (Lc 24: 1), “sáng sớm… lúc trời còn tối” theo thánh Gioan (Ga 20: 1). “Thấy Người đi trên mặt biển, “Các ông hoảng hốt bảo nhau: ‘Ma đấy!’”, tương tự như những lần Đấng Phục Sinh hiện ra, “các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (Lc 24: 36-37). Trước tiếng kêu kinh khiếp của các môn đệ, Đức Giê-su đáp trả: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” như những lần Đấng Phục Sinh hiện ra trấn an các môn đệ Ngài (x. Mt 28: 10).
Trong bối cảnh này, lời trấn an của Đức Giê-su có nghĩa, chính là Thầy, chứ không phải bóng ma như anh em tưởng. Tuy nhiên, trong Cựu Ước, “Egô Eimi” (chính là Ta”) là danh Thiên Chúa đã mặc khải cho ông Mô-sê (x. Xh 3: 13-15; Is 42: 8). Với danh xưng nầy, Đức Giê-su khẳng định chân tính thần linh của Ngài.
3.Cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và thánh Phê-rô:
Cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su với thánh Phê-rô là nguồn riêng của Tin Mừng Mát-thêu. Thánh Phê-rô xin Chúa cho mình được đi trên sóng nước mà đến với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”: Ở đây, thánh Phê-rô không gọi Đức Giê-su theo cách thông thường: “Thưa Thầy”, nhưng “Kurie”: “Thưa Ngài” hay “Lạy Chúa”. Được Chúa Giê-su cho phép, ông hăm hở liều lĩnh, lao xuống nước. Ba lần trong Tin Mừng của mình, thánh Mát-thêu nêu bật con người của Phê-rô: trong câu chuyện nầy, vào lúc tuyên xưng đức tin ở Xê-da-rê, và vào lúc Biến Hình. Nhưng khi thấy biển động mạnh, ông hoảng sợ, và khi bắt đầu chìm ông liền la lên: “Lạy Chúa, xin cứu con”. Đây là lần đầu tiên một trong các Tông Đồ kêu cứu Đức Giê-su bằng tước hiệu “Đấng Cứu Độ”.
Điều làm nên con người thánh thiện của thánh Phê-rô chính là cứ mỗi lần hành động theo tính khí nông nỗi của mình, ông vấp ngã; nhưng mỗi lần vấp ngã, ông lại chỗi dậy. Mỗi lần vấp ngã càng giúp ông hiểu Thầy hơn như ở đây, ông nhận thức rằng để có được một đức tin vững mạnh, không thể cậy dựa vào sức riêng của mình, nhưng vào Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ của mình. Kinh nghiệm này rất cần thiết cho bất kỳ vị lãnh đạo của Giáo Hội.
4.Phản ứng của các môn đệ:
Câu chuyện kết thúc trong bầu khí phụng vụ: “Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người” và đồng thanh tuyên xưng: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa”, vì ai có quyền năng chế ngự các thế lực của sự dữ như thế, nếu không phải là Thiên Chúa. Thật xứng hợp với lời ca tụng của thánh vịnh gia về quyền năng của Thiên Chúa:
“Nước đã thấy Ngài, lạy Thiên Chúa,
thấy Ngài, nước rùng mình khiếp sợ,
cả vực sâu cũng run rẩy kinh hoàng.
Đường của Chúa băng qua biển rộng”
(Tv 77: 17, 20).
Câu chuyện hôm nay sở hữu cái nền của Giáo Hội hậu Phục Sinh. Giáo phụ Tết-tu-li-a-nô, và sau nầy thánh Giáo Phụ Âu-gút-ti-nô, sẽ khai triển đề tài nổi tiếng về con thuyền Giáo Hội. Như các Tông Đồ, Giáo Hội, khi trung thành thi hành sứ mạng của mình trên biển đời này, cũng phải đương đầu với biết bao những chống phá của các thế lực hung ác. Nhưng Đấng Phục Sinh không hề rời mắt khỏi con thuyền. Khi cần thiết, Ngài đến cứu giúp Giáo Hội: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (14: 27). Sau khi Chúa Giêsu bước lên thuyền, sóng yên gió lặng. Sự hiện diện của Người đủ sức đem lại bình yên và chế ngự những thế lực hung ác điên cuồng.
Trong cuộc đời của mỗi người chúng ta cũng thế. Nếu biết đặt Chúa Giêsu ở trung tâm đời mình như một hiện diện đích thực và sống động, chúng ta sẽ được an bình nội tại, dù bên ngoài tứ bề sóng gió. Về phần mình, thánh Phê-rô là thuyền trưởng lèo lái con thuyền Giáo Hội. Để con thuyền trực chỉ hướng đến bến bờ bình an, vượt qua những phong ba bảo tố, hơn ai hết thánh Phê-rô nhận thức rằng không cậy dựa vào tài năng lèo lái của mình, nhưng đặt trọn niềm tin tưởng vào Đức Giê-su Phục Sinh: “Lạy Chúa, xin cứu con với!” (14: 30). Lời kêu cứu của thánh Phê-rô cũng là lời khẩn cầu của mỗi người chúng ta mỗi khi cần đến ơn phù trợ của Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ của chúng ta: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa”.
E/ Những bài suy niệm khác




