Sanh ra trên đời, đời sống con người được trải dài trong không gian và thời gian. Chính những gì xảy ra trong không gian và thời gian sẽ tạo thành lịch sử: lịch sử một con người, lịch sử một quốc gia dân tộc và lịch sử thế giới. Không gian và thời gian sẽ trở thành vô nghĩa và trống rỗng, nếu không được xây dựng liên tục bằng những cái mốc lịch sử. Đàng khác con người cần có những mốc lịch sử ấy để nhìn lại quá khứ, xây dựng hiện tại và dự phóng tương lai.
Hàng năm mỗi khi khởi đầu một năm mới, một thập niên mới, một thế kỷ mới, Tuần Báo Time, một tạp chí uy tín hàng đầu trong làng báo Hoa Kỳ với hàng triệu độc giả khắp thế giới, có truyền thống chọn một nhân vật nổi bật nhất và có ảnh hưởng nhất theo chiều dài lịch sử thế giới, để làm một cái mốc thời gian cho lịch sử nhân loại.
Cách đây 71 năm, năm 1927, lần đầu tiên tuần báo Time đã có sáng kiến chọn một phi công Hoa Kỳ, ông Charles Lindbergh, là một Nhân Vật Của Năm (Man Of The Year). Trong lịch sử hàng không, viên phi công này là người đầu tiên đã thực hiện một chuyến bay liên tục, từ thành phố New York, Hoa kỳ bay thẳng sang thành phố Paris, thủ đô nước Pháp.
Trước đây 4 năm, tuần báo Time số phát hành đặc biệt ngày 26-12-1994 đã công bố quyết định của toàn ban biên tập chọn Đức Gioan Phaolô II là Nhân Vật của năm 1994. Trong lá thư gửi độc giả bốn phương, tuần báo này cho biết sau khi đã cân nhắc và thảo luận với các nhà lãnh đạo tinh thần nổi tiếng trên thế giới như Đức Đạt Lai Lạt Ma, Mẹ Têrêxa thành Calcutta, Mục sư Billy Graham, các vị này đều hoan nghênh và đồng ý với quyết định này của ban biên tập.
Đàng khác các cơ quan truyền thông quốc tế cũng nhận định rằng: Trong thời điểm hiện nay của thế giới, không một người nào, dù khác nhau về quan điểm chính trị, màu sắc tôn giáo, giai cấp xã hội, cũng đều nhìn nhận Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo chủ của gần một tỷ người công giáo trên thế giới, là một nhà Lãnh đạo Tinh thần uy tín nhất, có ảnh hưởng sâu xa nhất đối với quần chúng khắp nơi. Ngài là một nhân vật nhiệt tình không biết mệt mỏi đi công du khắp thế giới kêu gọi xóa bỏ hận thù, chống đối mầm mống chiến tranh, can đảm vạch ra hướng đi cho nhân loại trước thế giới chia rẽ sa đọa. Hơn ai hết, Ngài chính là con người ngày đêm tận tụy xây đựng lịch sử thế giới, Lịch sử của Văn minh Tình yêu trên Công bình và Liên đới.
VÀI NÉT TIỂU SỬ VỀ ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
Ông John Moody, Trưởng văn phòng tuần báo Time tại Thủ đô Vatican, là con người vì nghề nghiệp có nhiều liên hệ mật thiết giữa Ba Lan và Rôma, qua nghiên cứu cuộc đời ĐTC, năm 1997 vừa qua, đã phát hành tác phẩm nổi tiếng “Pope John Paul II, Biography”. Và hiện nay cuốn sách này được mọi người công nhận là tài liệu chính xác và mới nhất.
Theo John Moody, cậu Karol Józef Wojtyla đã cất tiếng khóc chào đời ngày 18-5-1920, tại số nhà 7 Phố Nhà Thờ (Church Street) thuộc Thị trấn Wadowice, miền cực Nam nước Ba Lan. Đây là một thị trấn bé nhỏ nằm cạnh dãy núi Beskidy, với 12,000 cư dân, đa số là người công giáo, cách thành phố Krakow lối 30 dậm về hướng Tây Nam. Căn nhà trệt một lầu nơi cậu sanh ra nay đã trở thành một bảo tàng viện nho nhỏ trưng bày những đồ chơi, dụng cụ leo núi, trượt tuyết, bóng tròn v.v.. hàng năm thu hút hàng trăm ngàn khách du lịch khắp thế giới.
Cậu Karol Joséf Wojtyla là con trai thứ hai của Ông Karol Wojtyla và Bà Emilia. Cậu có một người anh cả là Edmund Wojtyla, sanh năm 1906 và người chị là Olga Wojtyla qua đời khi còn nhỏ. Thân phụ cậu là một sĩ quan, cựu trung úy trong quân đội Ba Lan. Với số lương sĩ quan, đời sống gia đình tương đối bình thường, không khá giả và sung túc, nhưng lại giàu về đạo hạnh, một gia đình công giáo có truyền thống đạo đức sâu xa.
Một tháng sau, cậu được cha mẹ đưa đến nhà thờ và được một linh mục Tuyên úy Quân đội rửa tội ngày 20 tháng 6, 1920. Trên những bức tường căn phòng của gia đình hiện còn treo những hình ảnh các thánh, những bức tranh đạo về dụ ngôn trong Tân ước, mà mỗi buổi tối gia đình Wojtyla tụ họp để học hỏi Kinh Thánh và cầu nguyện. Nhờ đó ngay từ nhỏ, bé Lolek (tên gọi thân mật trong gia đình) đã hấp thụ một nền giáo dục công giáo sâu sắc, một đức tin vững chắc nhiệt thành.
Lên 9 tuổi, cậu Karol đã phải chịu một cái tang lớn: Thân mẫu cậu là Bà Emilia đã qua đời ngày 13 tháng 4, 1929, hưởng thọ 45 tuổi, vì bệnh suy tim và đau thận. Cái chết của người mẹ thân yêu đạo đức đã để lại trong tâm hồn cậu một sự mất mát to lớn, đến nỗi sau này khi làm Giáo Hoàng, Ngài vẫn thường nhắc đến với một sự thương tiếc vô bờ! Nhưng cũng do thân mẫu quá cố mà cậu đã tìm được nguồn an ủi và tuyệt đối phó thác đời mình cho Đức Mẹ.
Sau này khi Edmund, người anh cả, chuyển lên thành phố Krakow theo bậc trung học, thân phụ cậu cũng về hưu, bầu khí gia đình càng trở nên hoang vắng hiu quạnh! Trong cảnh gà trống nuôi con, ngày ngày mỗi buổi sáng trước khi Karol đi học, hai cha con đến nhà thờ dâng lễ và giúp lễ. Các buổi
chiều, sau học bài và cơm tối, hai cha con dắt tay nhau tản bộ trên đường phố vừa đi vừa cầu nguyện, lần hạt.
Lên 10 tuổi (1930) Karol theo bậc Trung học. Ba năm sau cái chết của người mẹ thân yêu, khi lên 12 tuổi (1932), gia đình cậu lại phải chịu thêm một cái tang thứ hai: Người anh cả là Edmund Wojtyla vừa tốt nghiệp Đại học Y khoa tại thành phố Krakow đã đột ngột qua đời vì bệnh sốt xuất huyết. Cái chết bất ngờ của Edmund đã đem theo tất cả niềm hy vọng và tương lai của gia đình xuống mồ, lại càng làm cho hai cha con cảm thấy quá cô đơn, sầu khổ, đớn đau!! Tuy nhiên với niềm tin tuyệt đối, đã làm cho gia đình càng đặt trọn niềm tin tưởng và phó thác nơi Thiên Chúa quan phòng.
Ngay từ thuở thiếu thời, Karol đã chứng tỏ là một thanh niên khôi ngô thông minh, tính tình năng động, yêu thích nghệ thuật, ham mộ thể thao, thích leo núi và sinh hoạt xã hội. Nhiều lần chàng Karol đã ước mơ trở thành một diễn viên xuất sắc điện ảnh. Năm 18 tuổi (1938), chàng bước vào Đại học Jagiellonian tại thành phố Krakow để theo môn Triết học. Và cũng từ đó, hai cha con đã dời bỏ thị trấn Wadowice lên định cư gia đình hai người dì bên mẹ, tại số 10, Phố Tyniecka, thành phố Krakow là một thành phố đứng thứ nhì sau Thủ đô Warsaw, với trên 800,000 cư dân.
Ngày 1-9-1939 Thế Chiến II bùng nổ! Quân đội Phát Xít Đức xâm chiếm dày xéo Ba Lan! Các trường học phải đóng cửa! Sinh viên Karol phải ngưng việc học và trở thành một công nhân hầm mỏ Solvay.
Năm 21 tuổi (1941), đau thương và tang tốc dồn dập đổ xuống trên gia đình: Người thân yêu nhất đời của chàng là thân phụ, cựu Trung Úy Karol Wojtyla, đã ngã bệnh và qua đời trong cô đơn ngày 18-2-1941, không một người thân bên cạnh, vì ngày đó chàng đang phải
lao động cực nhọc tại nhà máy hóa học Solvay! Suốt đời Karol đau lòng và hối hận vô cùng vì không được hiện diện bên cạnh cha già thân yêu khi lìa trần!!
Trong chính lúc lưỡi hái tử thần đã đốn ngã hết người thân này đến người thân khác trong gia đình: Từ chị gái lúc nhỏ, người mẹ thân yêu, người anh cả và cha già đáng kính, thì Thánh ý TC thật nhiệm màu đã hoàn toàn chinh phục Karol Wojtyla thông minh, đạo đức. Mặc dầu đang là diễn viên sân khấu được rất nhiều người mến mộ, một ngôi sao kịch nghệ đang đi lên, Karol đã từ bỏ tất cả, vì TC đã kêu gọi để thi hành một sứ mệnh cao cả và lớn lao khác. Chàng quyết định dâng trọn cuộc đời cho TC…
Tháng 10-1942, Karol bí mật trở thành chủng sinh của Giáo phận Krakow, được Đức TGM Adam Sapieha cưu mang cho chàng “tu chui” dưới hầm trú ẩn Tòa TGM! Vì dưới thời quân đội Phát xít Đức chiếm đóng Ba lan, mọi sinh hoạt tôn giáo bị ngăn cấm, các chủng viện bị đóng cửa. Trên ba triệu người Ba Lan gốc Do Thái bị lùa đi các trại tập trung cải tạo, để rồi sau đó hầu hết bị chết trong các lò hơi ngạt!! Chính những sự kiện lịch sử này đã hằn lên những vết thương trong tâm hồn chàng, đã nhóm lên trong chàng một tình yêu nước nồng nàn, một sự gắn bó mật thiết với đất nước và đồng bào Ba Lan mặc dầu sau khi đã làm Giáo Hoàng.
Tháng 01-1945, Thế chiến II chấm dứt, Phát xít Đức rút quân khỏi Ba Lan sau 5 năm chiếm đóng với muôn vàn thương đau chết chóc! Quốc Gia Ba Lan bừng sống lại! Chủng sinh Karol tiếp tục học Thần học và ngày 1-11-1946, Lễ các Thánh, Thầy Karol Jósef Wojtyla được hân hạnh chính thức dâng hiến cuộc đời trong thiên chức Linh Mục, do chính Đức TGM Adam Sapieha truyền chức. Tân linh mục lúc đó mới có 26 tuổi, là
linh mục trẻ nhất của Giáo phận, với trí thông minh xuất sắc, lòng đạo đức thánh thiện Ngài được ĐTGM gửi đi Rôma du học tại Đại học Angelicum và đậu bằng Tiến sĩ Thần học tại đây.
Sau thời gian du học, Ngài trở về Ba Lan, và được Đức TGM bổ nhiệm làm Cha Sở coi giáo xứ Niegowici miền quê thuộc Tổng giáo phận Krakow. Sau đó Ngài được bổ nhiệm làm Giáo sư Triết tại Đại học Lublin, rồi chuyển sang làm giảng sư Đại học nổi tiếng Krakow.
Năm 38 tuổi (1958), Ngài được phong làm GM Phụ Tá Tổng Giáo phận Krakow. Ngày 11-10-1962, Công Đồng Vatican II khai mạc dưới quyền chủ tọa của Đức Gioan XXIII, lúc đó Giám mục Karol Wojtyla được mời tham dự biến cố trọng đại này với tư cách một nghị phụ, trong tổng số 103 Hồng Y và 2,500 Tổng Giám mục và Giám mục.
Tháng 12-1963, Ngài được vinh thăng TGM Krakow. Tháng 5-1967, Ngài được Đức Phaolô VI chọn làm Hồng Y và trở thành một trong những Hồng Y trẻ tuổi nhất thế giới với 47 tuổi.
Ngày 16-10-1978, Hồng Y Karol Wojtyla của giáo phận Krakow được bầu làm vị Giáo Hoàng thứ 263, tính từ Thánh Tông đồ Phêrô là vị giáo Hoàng đầu tiên. Trong lịch sử GHCG, Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên không phải là người Ý sau 456 năm. Ngài chọn cho mình danh hiệu Gioan Phaolô II để tưởng nhớ và tiếp tục sự nghiệp của hai vị giáo hoàng tiền nhiệm mà Ngài rất mực yêu mến: Đó là Đức Gioan XXIII và Phaolô VI.
CON NGƯỜI XÂY DỰNG LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Ngày 16-10-1998, toàn thể thế giới công giáo hân hoan mừng Kỷ niệm 20 năm lên ngôi Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II. Nhật báo The Washington Post loan tin trên 20,000 người Ba Lan đã tiến về Thủ đô Vatican trên 400 xe buýt, để chúc mừng một người con của đất nước Ba Lan, nay đã là vị
Giáo Hoàng lãnh đạo gần một tỷ giáo dân khắp thế giới. Phải chăng đây chính là niềm hãnh diện tự hào cho dân tộc Ba Lan.
Muốn hiểu rõ hơn về sự nghiệp của đức Gioan Phaolô II nhờ đó người ta có thể vô tư ghi nhận một cách chính xác về ảnh hưởng sâu rộng về một Con Người, mà các cơ quan truyền thông quốc tế gọi là “Con Người Xây Dựng Lịch Sử Thế Giới”, chúng tôi xin ghi lại một số thống kê sau đây đã được Hãng Thống tấn Công giáo Thế giới Catholic World News (CWN) thực hiện nhân dịp kỷ niệm 20 năm Giáo Hoàng của Ngài.
Tính đến ngày 16.10.98: kỷ niệm 20 năm giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô đã làm Giáo Hoàng 7,306 ngày. Triều đại của Ngài lâu nhất hơn bất cứ vị Giáo hoàng nào của thế kỷ 20, và cũng được xếp hạng thứ 13 trong 263 giáo hoàng kế vị Thánh Phêrô. Nếu Ngài dẫn dắt Giáo hội sang thế kỷ 21 tiến vào Năm Thánh 2000, ngài sẽ vị Giáo Hoàng thứ 9 trong các vị trường thọ nhất trong ngôi vị Giáo Hoàng.
- Đức Gioan Phaolô II đã thực hiện 84 chuyến công du để thăm viếng 117 quốc gia khác nhau. Với ba quốc gia Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn là ba nước Ngài ước ao đến thăm viếng, nhưng không được chính quyền ba nước cộng sản này chấp thuận. Riêng trong lãnh thổ nước Ý, Ngài đã thực hiện 134 cuộc thăm viếng ngắn đến 269 thành phố khác nhau. Trong phạm vi Giáo phận Rôma, mà Ngài là Chủ Chiên chính thức, Ngài đã đến thăm mục vụ 274 lần với 328 giáo xứ khác nhau. Trong những chuyến công du và viếng thăm mục vụ nói trên, Đức Gioan Phaolô II đã đọc 2,194 bài diễn văn. Hai chuyến công du bận rộn nhất là thăm Ái Nhĩ Lan và Hoa Kỳ năm 1979, trong thời gian ngắn 9 ngày, Ngài đã đọc 76 diễn văn. Nếu cộng chung chiều dài các chuyến công du và thăm viếng thì tổng số dậm đường là một triệu miles hay một triệu
- sáu trăm ngàn cây số, tương đương như đi vòng quanh trái đất 26 lần hoặc gấp đôi khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng.
- Đức Gioan Phaolô II cũng chủ lễ phong thánh cho 280 vị thánh qua 35 lần Đại lễ Phong Thánh khác nhau. Trong số 280 vị thánh có 246 Thánh Tử Đạo và 34 thánh nhân không tử đạo. Trong số 246 Thánh Tử Đạo, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hân hạnh có 117 vị được Ngài phong thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 tại Thủ đô Rôma. Ngoài ra Ngài cũng chủ phong Chân Phước cho 805 vị trong 112 buổi lễ khác nhau.
- Đức Gioan Phaolô II đã viết 13 Thông điệp (Encyclics), 10 Giáo huấn (Constitutions), 37 Tông thư (Apostolic Letters) và 19 Tự sắc (Motu Proprios). Trong 20 năm trong ngôi vị Giáo Hoàng, Ngài đã chủ tọa 7 Hội Nghị Cơ Mật Tối Cao Tòa Thánh, đã vinh thăng 157 vị vào Hồng Y đoàn, trong đó Giáo Hội Việt Nam có hai vị là ĐHY Giuse Trịnh Văn Căn đã qua đời và ĐHY Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng. Trong số 157 Hồng Y còn sống hiện nay thì có 128 vị nhận mũ đỏ từ Đức Gioan Phaolô II. Cũng trong số 115 hồng y có quyền tham dự bầu giáo hoàng mới thì có 101 vị do chính Ngài nâng lên chức vụ này.
- Đức Gioan Phaolô đã chủ tọa 12 Đại Hội Nghị Giám Mục, ban bố 877 triều yết giảng dạy giáo lý hàng tuần cho khách thập phương (tổng số người tham dự là 14 triệu). Ngài đã đón tiếp chính thức 584 lần với các vị nguyên thủ các quốc gia và 82 lần với các vị Thủ Tướng chính phủ.
Để hướng dẫn Giáo hội và công bố lập trường của Giáo hội trong các lãnh vực tôn giáo cũng như trần thế, Ngài đã ban hành 12 Tông Thư như kim chỉ nam soi sáng gần một tỷ giáo dân, và mọi người thiện chí để cùng nhau xây dựng một
thế giới công bình và liên đới trong một nền Văn Minh Tình Thương. Tông Thư mới nhất được ban hành ngày 15-10-1998 nhan đề là “Fides et Ratio” (Niềm Tin và Lý Trí), trong đó Ngài tuyên bố: “Những tư tưởng triết học chính thống là nền tảng cho các cuộc đối thoại giữa các tôn giáo”.
***
Với những dữ kiện trên đây, bất cứ ai cũng phải công nhận rằng Thiên Chúa đã quan phòng một cách huyền nhiệm qua cuộc sống của cậu bé Karol Jósef Wojtyla, từ một thị trấn bé nhỏ Wadowice của đất nước Ba Lan cộng sản để tiến tới ngôi vị Giáo Hoàng, kế vị Thánh Tông đồ Phêrô lãnh đạo Giáo Hội Công giáo hoàn vũ. Quả thật không ai có thể hiểu và đo lường được hoạt động của Thiên Chúa, chúng ta chỉ biết ngưỡng mộ, kính trọng và tri ân.
Nói đến ý thức trách nhiệm xây dựng lịch sử thế giới hôm nay được tốt đẹp và yêu thương hơn, có lẽ người ta không thể nào tìm được một con người nào khác, ngoài đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ngài là một con người ngày đêm tận tụy xây dựng thế giới trong mọi lãnh vực: tôn giáo, chính trị, xã hội, văn hóa, khoa học.
Những năm gần đây, chúng ta đã được hân hạnh chứng kiến cuộc nổi dậy của nhân dân Ba Lan đòi nhân quyền dân chủ năm 1986 do Công Đoàn Đoàn Kết lãnh đạo, mà vị Thủ lãnh là Ông Walesa, một đệ tử của Đức Gioan Phaolô II. Tiếp theo là sự xụp đổ bức tường Bá Linh năm 1989 kéo theo sự đổ vỡ tan tành các nước cộng sản Đông Âu. Cuối cùng là sự cáo chung của CNCS tại Liên Xô, quê hương của Lénine và Staline khát máu bạo tàn vào Mùa Đại Lễ Giáng Sinh năm 1991. Thế giới đã bàng hoàng ngạc nhiên trước sự tàn lụi mau chóng đó mà không ai có thể tiên đoán được! Và từ đó người ta đi tìm nguyên nhân cơ bản nào, con người lịch sử nào đã tạo
nên những trang sử mới cho nhân loại?! Và ngày nay người ta đã tìm thấy câu trả lời và con người lịch sử ấy, qua một bài báo lịch sử do chính cựu Tổng Thống Nga Xô đã viết và được ấn hành trên Tuần báo LA TAMPA ngày 3 tháng 3 năm 1992, và đồng loạt được phát hành trên 115 nhật báo lớn trên thế giới.
Dưới nhan đề: “Chính sách Đổi Mới (Perestroika) và Giáo Chủ Wojtyla”, chính cựu Tổng Thống Mikail Gorbachew đã tiết lộ và quả quyết như sau: “Từ lâu tôi vẫn giữ vững niềm tin là sự nghiệp của Đức Gioan Phaolô II trong mấy năm gần đây có tầm quan trọng rất lớn. Trong lịch sử Âu Châu, nơi đã từng xảy ra những biến đổi sâu rộng, Đức Giáo Hoàng đã đóng một vai trò rất lớn, cả về chính trị. Tôi quả quyết rằng tất cả những gì đã xảy ra tại Đông Âu và Liên Xô trong mấy năm gần đây đã không thể thành tựu, nếu không có sự hiện diện của vị Giáo Chủ này. Và nếu không có vai trò rất lớn cả về chính trị của con người đó trên sân khấu thế giới thì không bao giờ có các sự kiện ấy được. Tôi rất cảm phục những nội dung thiêng liêng là những giá trị tinh thần, những nguyên tắc luân lý vững chắc của Ngài đã nỗ lực đóng góp vào việc làm cho nền Văn Minh Mới, Văn Minh Của Tình Thương, được hình thành và lớn mạnh trong thế giới hiện tại.”
Thật là một lời thú nhận có giá trị lịch sử của một lãnh tụ vô thần trong thế giới cộng sản đối với vai trò của Đức Gioan Phaolô II. Nếu không có sự xuất hiện của Ngài do sự quan phòng của Thượng Đế thì lịch sử thế giới hiện nay sẽ ra sao?!
Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN







