Điều 1417
§1. Vì lý do quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng Rô-ma, bất cứ tín hữu nào cũng có trọn quyền đệ trình hay khởi tố lên Tòa Thánh để Tòa Thánh xét xử một vụ án có tính cách hộ sự hay hình sự của mình, trong bất cứ cấp xét xử nào và trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào.
§2. Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp kháng cáo, việc kiến nghị lên Tông Tòa không đình hoãn việc thi hành quyền tài phán của thẩm phán đã bắt đầu xét xử vụ án; vì thế, thẩm phán ấy có thể tiếp tục xét xử cho đến khi tuyên án chung quyết, trừ khi Tông Tòa cho thẩm phán biết Tông Tòa đã dành vụ án cho mình.
Điều 1418
Bất cứ tòa án nào cũng có quyền yêu cầu một tòa án khác giúp thẩm vấn một vụ án hoặc thông báo các án từ.
Chương 1. Tòa án cấp một (Điều 1419 – 1437)
Tiết 1. Thẩm phán (Điều 1419 – 1427)
Điều 1419
§1. Trong mỗi giáo phận và cho mọi vụ kiện không bị luật minh nhiên loại trừ, thẩm phán của tòa án cấp một là Giám mục giáo phận, ngài có thể đích thân hay nhờ người khác thi hành quyền xét xử, theo các điều khoản sau đây.
§2. Nhưng nếu vụ án có liên quan đến những quyền lợi hay những tài sản vật chất của một pháp nhân do Giám Mục đại diện, thì tòa kháng cáo xét xử như tòa án cấp một.
Điều 1420
§1. Bất cứ Giám mục giáo phận nào cũng buộc phải đặt một vị Đại Diện tư pháp hay Uỷ Viên tài phán có thường quyền xét xử, vị này phải khác với Tổng Đại Diện, ngoại trừ trường hợp giáo phận nhỏ hẹp hay số vụ án quá ít khuyên nên làm cách khác.
§2. Vị Đại Diện tư pháp thiết lập. một tòa án duy nhất cùng với Giám mục nhưng không được xét xử những vụ án mà Giám mục dành riêng cho mình.
§3. Có thể cấp cho vị Đại Diện tư pháp nhiều phụ tá gọi là phó Đại Diện tư pháp hay là phó Uỷ Viên tài phán.
§4. Đại Diện tư pháp cũng như các phó Đại Diện tư pháp phải là tư tế có thanh danh, có bằng tiến sĩ hay ít nhất cử nhân giáo luật, và không dưới ba mươi tuổi.
§5. Khi tòa giám mục khuyết vị, những vị ấy vẫn tiếp tục chức vụ, và không thể bị Giám Quản giáo phận giải nhiệm; nhưng khi có Giám mục mới, các vị ấy cần được xác nhận lại.
Điều 1421
§1. Trong giáo phận, Giám mục phải đặt các thẩm phán giáo phận, các vị này phải là giáo sĩ.
§2. Hội đồng Giám mục có thể cho phép đặt cả giáo dân làm thẩm phán, và nếu cần thì một trong những người ấy có thể được chọn để thành lập thẩm phán đoàn.
§3. Các thẩm phán phải có thanh danh và có bằng tiến sĩ hay ít nhất là cử nhân giáo luật.
Điều 1422
Đại Diện tư pháp, các phó Đại Diện tư pháp và các thẩm phán khác được bổ nhiệm cho một thời gian nhất định, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1420 §5, và các vị ấy không thể bị giải nhiệm, trừ khi có lý do hợp pháp và nghiêm trọng.
Điều 1423
§1. Thay vì thiết lập các tòa án giáo phận theo các điều 1419 – 1421, nhiều Giám mục giáo phận với sự chuẩn y của Tông Tòa, có thể đồng ý với nhau để thiết lập một tòa án cấp một duy nhất cho các giáo phận của mình; trong trường hợp này, tập thể các Giám mục ấy hay một Giám Mục được các ngài chỉ định có mọi quyền mà mỗi Giám Mục giáo phận có đối với tòa án của mình.
§2. Các tòa án nói ở §1 có thể được thiết lập hoặc cho bất cứ vụ án nào, hoặc chỉ cho một vài loại vụ án nào đó mà thôi.
Điều 1424
Trong bất cứ vụ xét xử nào, vị thẩm phán duy nhất có thể mời hai hội thẩm là giáo sĩ hay giáo dân có đời sống liêm khiết làm cố vấn cho mình.
Điều 1425
§1. Phải loại bỏ tục lệ trái ngược và dành cho tòa án gồm ba thẩm phán:
1° những vụ án hộ sự về:
a) dây ràng buộc do chức thánh;
b) dây ràng buộc do hôn nhân, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1686 và 1688;
2° những vụ hình sự:
a) về những tội phạm có thể đưa đến hình phạt sa thải khỏi bậc giáo sĩ;
b) về việc tuyên kết hay tuyên bố vạ tuyệt thông.
§2. Giám mục có thể ủy thác những vụ án khó hơn hay quan trọng hơn cho tòa án gồm ba hay năm thẩm phán.
§3. Đại Diện tư pháp phải mời các thẩm phán theo thứ tự luân phiên để xét xử từng vụ án một, trừ khi Giám mục ấn định cách khác cho mỗi trường hợp.
§4. Trong việc xét xử ở cấp một, nếu không thể thiết lập thẩm phán đoàn, bao lâu tình trạng bất khả thi ấy còn kéo dài, thì Hội đồng Giám mục có thể cho phép Giám mục ủy thác các vụ án cho một thẩm phán giáo sĩ duy nhất, và nơi nào có thể được, vị này phải mời một hội thẩm và một dự thẩm giúp mình.
§5. Một khi các thẩm phán đã được chỉ định rồi, Đại Diện tư pháp đừng thay thế họ, nếu không vì một lý do rất nghiêm trọng cần phải ghi trong sắc lệnh.
Điều 1426
§1. Tòa án hiệp đoàn phải tiến hành cách tập thể và phải tuyên án theo đa số phiếu.
§2. Trong mức độ có thể, Đại Diện tư pháp hay phó Đại Diện tư pháp phải chủ tọa tòa án nói trên.
Điều 1427
§1. Nếu có tranh chấp giữa các tu sĩ hay giữa các nhà của cùng một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng, trừ khi hiến pháp đã dự liệu cách khác, thì thẩm phán của tòa án cấp một là Bề Trên tỉnh dòng hoặc là Viện Phụ sở tại, nếu là đan viện tự trị.
§2. Nếu là tranh chấp hộ sự giữa hai tỉnh dòng thì chính vị Điều Hành tổng quyền tự mình hay nhờ người thụ ủy xét xử ở cấp một; nếu là tranh chấp hộ sự giữa hai đan viện, Viện Phụ Bề Trên của hiệp hội đan viện sẽ xét xử, trừ khi hiến pháp quy định cách khác.
§3. Cuối cùng, nếu là tranh chấp giữa các thể nhân hoặc pháp nhân dòng thuộc các hội dòng khác nhau, hoặc thuộc cùng một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo phận hay thuộc một tu hội giáo dân hoặc giữa một tu sĩ và một giáo sĩ triều hay một giáo dân hay một pháp nhân không thuộc hội dòng, thì tòa án giáo phận sẽ xét xử ở cấp một.
Tiết 2. Dự thẩm và phúc trình viên (Điều 1428 – 1429)
Điều 1428
§1. Để thẩm cứu vụ án, vị thẩm phán hay vị chánh án tòa án hiệp đoàn có thể chỉ định một dự thẩm được lựa chọn hoặc trong số các thẩm phán của tòa án hoặc trong số những người đã được Giám mục chuẩn nhận để giữ nhiệm vụ ấy.
§2. Giám mục có thể chuẩn nhận những giáo sĩ hay giáo dân nổi bật về hạnh kiểm tốt, về khôn ngoan và đạo lý để giữ nhiệm vụ dự thẩm.
§3. Theo sự ủy nhiệm của thẩm phán, nhiệm vụ của dự thẩm là chỉ thu thập các bằng chứng và trao cho vị thẩm phán những bằng chứng đã thu thập được; nhưng nếu ủy nhiệm của thẩm phán không định ngược lại, dự thẩm có thể quyết định trong khi thẩm cứu phải thu thập những bằng chứng nào và bằng cách nào, nếu tình cờ có vấn đề như thế xảy ra, trong khi thi hành nhiệm vụ của mình.
Điều 1429
Vị chánh án tòa án hiệp đoàn phải chỉ định một trong những thẩm phán của hiệp đoàn làm báo cáo viên hay phúc trình viên; vị này sẽ tường trình vụ án trong phiên họp của các thẩm phán, và dự thảo án văn trên giấy tờ; khi có lý do chính đáng, vị chánh án tòa án có thể thay thế người ấy bằng một người khác.
Tiết 3. Công tố viên, bảo hệ viên và công chứng viên (Điều 1430 – 1437)
Điều 1430
Đối với những vụ án hộ sự trong đó công ích có thể bị lâm nguy cũng như đối với những vụ án hình sự, phải đặt một công tố viên trong giáo phận, công tố viên có bổn phận lo cho công ích.
Điều 1431
§1. Trong các vụ án hộ sự, Giám mục giáo phận nhận định xem công ích có thể bị lâm nguy hay không, trừ khi luật buộc công tố viên phải can thiệp hay khi sự can thiệp này là hiển nhiên cần thiết do bản chất của sự việc.
§2. Nếu công tố viên đã can thiệp ở một cấp dưới thì sự can thiệp ấy được suy đoán là cần thiết ở cấp trên.
Điều 1432
Đối với các vụ án liên quan đến sự vô hiệu của việc truyền chức thánh hoặc liên quan đến sự vô hiệu hay sự phân ly của hôn nhân, phải đặt một bảo hệ viên trong giáo phận, vị này có bổn phận phải đề nghị và trình bày tất cả những gì có thể được dẫn chứng cách hợp lý để chống lại sự vô hiệu hay sự phân ly.
Điều 1433
Trong những vụ án đòi buộc công tố viên hay bảo hệ viên phải hiện diện, nếu những người này không được triệu tập đến, các án từ đều vô giá trị, trừ khi chính họ, mặc dù không được triệu tập đến, nhưng thực sự đã có mặt, hoặc ít nhất họ đã có thể thi hành nhiệm vụ của mình trước khi tuyên án bằng việc khảo sát các án từ.
Điều 1434
Trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác:
1° mỗi khi luật quy định thẩm phán phải nghe hai bên hoặc một trong hai, thì cũng phải nghe công tố viên và bảo hệ viên, nếu các vị này tham gia vào việc xử án;
2° mỗi khi đòi phải có lời yêu cầu của một bên để thẩm phán có thể quyết định một vấn đề gì, thì sự yêu cầu của công tố viên hay bảo hệ viên tham gia vào việc xử án cũng có hiệu lực như vậy.
Điều 1435
Giám mục bổ nhiệm công tố viên và bảo hệ viên, dù là giáo sĩ hay giáo dân, các vị này phải có thanh danh, có bằng tiến sĩ hay cử nhân giáo luật, khôn ngoan và nhiệt thành với công lý.
Điều 1436
§1. Một người có thể vừa giữ chức vụ công tố viên vừa giữ chức vụ bảo hệ viên, miễn là không phải trong cùng một vụ án.
§2. Công tố viên và bảo hệ viên có thể được đặt lên để làm việc trong mọi vụ án hay là trong từng vụ án, nhưng các vị này có thể bị Giám mục bãi nhiệm vì lý do chính đáng.
Điều 1437
§1. Công chứng viên phải tham gia bất cứ vụ tố tụng nào, vì thế, các án từ sẽ vô hiệu, nếu không có chữ ký của công chứng viên.
§2. Các án từ do công chứng viên soạn thảo có giá trị công tín.
Chương 2. Tòa án cấp hai (Điều 1438 – 1441)
Điều 1438
Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1444 §1, 1°
1° việc kháng cáo được thực hiện từ tòa án của Giám Mục thuộc giáo tỉnh lên tòa án của Tổng Giám mục giáo tỉnh, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1439;
2° trong những vụ án đã được xét xử ở tòa án cấp một trước mặt Tổng Giám mục giáo tỉnh, phải kháng cáo lên tòa án ngài đã chỉ định cách cố định, với sự chuẩn y của Tông Tòa;
3° đối với những vụ án đã được xét xử trước mặt Bề Trên tỉnh dòng, thì tòa án cấp hai là tòa án của vị Điều Hành tổng quyền; đối với những vụ án đã được xét xử trước mặt Viện Phụ sở tại, thì tòa án cấp hai là tòa án của Viện Phụ Bề Trên hiệp hội đan viện.
Điều 1439
§1. Nếu chỉ có một tòa án cấp một duy nhất được thiết lập chung cho nhiều giáo phận chiếu theo quy tắc của điều 1423, thì Hội đồng Giám mục phải thiết lập tòa án cấp hai với sự chuẩn y của Tông Tòa, trừ khi tất cả các giáo phận đó đều thuộc về cùng một tổng giáo phận.
§2. Với sự chuẩn y của Tông Tòa, Hội đồng Giám mục có thể thiết lập một hay nhiều tòa án cấp hai, kể cả ngoài những trường hợp nói ở §1.
§3. Đối với những tòa án cấp hai nói ở §§1 và 2, Hội Đồng Giám mục hay Giám mục đã được Hội đồng Giám Mục chỉ định, có tất cả quyền hành mà Giám mục giáo phận có đối với tòa án của mình.
Điều 1440
Nếu thẩm quyền về cấp tòa án xét xử không được tuân giữ chiếu theo quy tắc của các điều 1438 và 1439, thì thẩm phán tuyệt đối vô thẩm quyền.
Điều 1441
Tòa án cấp hai phải được thiết lập cùng một thể thức như tòa án cấp một. Nhưng nếu việc xét xử ở cấp một chỉ có một thẩm phán tuyên án, chiếu theo điều 1425 §4, thì tòa án cấp hai phải tiến hành xét xử theo thể thức hiệp đoàn.
Chương 3. Các tòa án tông tòa (Điều 1442 – 1445)
Điều 1442
Đức Giáo Hoàng Rô-ma là vị thẩm phán tối cao cho toàn thế giới Công Giáo, ngài đích thân xét xử hoặc qua các tòa án thông thường của Tông Tòa, hoặc qua các vị thẩm phán do ngài ủy quyền.
Điều 1443
Tòa án thông thường được Đức Giáo Hoàng Rô-ma thiết lập để nhận những kháng cáo là tòa Thượng Thẩm Rô-ma.
Điều 1444
§1. Tòa Thượng Thẩm Rô-ma xét xử:
1° ở cấp hai, những vụ án đã được tòa án thông thường cấp một xét xử và kháng cáo hợp pháp lên Tòa Thánh.
2° ở cấp ba hay cấp cao hơn, những vụ án đã được xét xử do chính tòa Thượng Thẩm Rô-ma và do bất cứ tòa án nào khác, trừ khi vấn đề đã trở thành quyết tụng.
§2. Tòa án này xét xử cả ở cấp một những vụ án nói ở điều 1405 §3, hay những vụ án khác mà Đức Giáo Hoàng Rô-ma, hoặc tự ý hoặc do yêu cầu của các bên, đã gọi lên xét xử tại tòa án của mình và trao cho tòa Thượng Thẩm Rô-ma; chính tòa Thượng Thẩm Rô-ma xét xử những vụ án ấy cả ở cấp hai và ở cấp cao hơn nữa, trừ khi đã dự liệu cách khác trong phúc chiếu trao nhiệm vụ.
Điều 1445
§1. Tối Cao Pháp Viện tông tòa xét xử:
1° những vụ tranh chấp về sự vô hiệu, những thỉnh nguyện về sự phục hồi nguyên trạng và những vụ việc kháng nghị khác chống lại các phán quyết của tòa Thượng Thẩm Rô-ma;
2° những trường hợp kháng nghị trong những vụ án về tình trạng nhân thân mà tòa Thượng Thẩm Rô-ma từ chối không xét xử lại;
3° những khước biện vì nghi ngờ và những vụ án khác chống lại các dự thẩm của tòa Thượng Thẩm Rô-ma vì những hành động của họ trong khi thi hành chức vụ;
4° những vụ tranh chấp về thẩm quyền nói ở điều 1416.
§2. Tòa án này xét xử những tranh chấp phát xuất từ một hành vi của quyền hành chính trong Giáo Hội đã được đệ lên tòa cách hợp pháp, xét xử những tranh chấp khác có tính cách hành chính được Đức Giáo Hoàng Rô-ma hay những cơ quan của Giáo Triều Rô-ma trao cho tòa này thụ lý, và xét xử những tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan ấy.
§3. Ngoài ra, Tối Cao Pháp Viện này còn:
1° chăm lo giữ gìn việc thực thi công lý cách đúng đắn, và nếu cần, tìm cách xử trí với các luật sư hay những người đại diện;
2° gia hạn thẩm quyền của các tòa án;
3° cổ vũ và chuẩn y việc thành lập những tòa án nói ở các điều 1423 và 1439.