Điều 1321[16]
§1. Bất cứ ai cũng đều được coi là vô tội cho tới khi bị chứng minh ngược lại.
§2. Không ai bị trừng phạt, trừ khi việc vi phạm luật hay mệnh lệnh bên ngoài không thể quy trách cho người đó một cách nặng nề do cố ý hay do tội tắc trách (ex dolo vel ex culpa).[17]
§3. Người nào cố tình vi phạm pháp luật hoặc mệnh lệnh đều bị ràng buộc vào hình phạt thì phải chịu hình phạt do luật hay mệnh lệnh ấn định; nhưng người nào làm như vậy vì thiếu sự thận trọng cần thiết thì không bị trừng phạt, trừ khi luật hoặc mệnh lệnh quy định cách khác.
§4. Một khi đã có sự vi phạm bên ngoài, thì việc quy trách nhiệm được suy đoán, trừ khi đã rõ cách khác.
Điều 1322
Những người thường xuyên không sử dụng đủ trí khôn,[18] thì dù họ vi phạm luật hay mệnh lệnh trong khi họ có vẻ sáng suốt, họ cũng được kể là người không có khả năng phạm tội.
Điều 1323
Những người sau đây vi phạm luật hay mệnh lệnh thì cũng không bị một hình phạt nào:
20 Người không biết là mình đã vi phạm một luật hay một mệnh lệnh, mà không do lỗi của mình; hơn nữa, sự vô ý và lầm lẫn thì tương đương với sự không biết[19];
30 Người đã hành động dưới áp lực của bạo lực thể lý hoặc dưới sự thúc đẩy của một sự cố ngẫu nhiên mà người đó không thấy trước hoặc nếu thấy trước thì cũng không thể tránh được;[20]
40 Người đã bị cưỡng ép hành động do sợ hãi nghiêm trọng dù chỉ có tính cách tương đối thôi, hoặc do sự cần thiết, hoặc để tránh một điều phiền phức nghiêm trọng[21], nhưng trừ trường hợp hành động ấy là xấu tận căn[22] hoặc gây thiệt hại cho các linh hồn;
50 Người đã hành động, với chừng mực cần thiết, để tự vệ cho mình hay cho người khác một cách hợp pháp, chống lại kẻ tấn công bất chính.[23]
60 Người không sử dụng đủ trí khôn, vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1324 §1, 20 và điều 1326 §1, 40.
70 Người đã nghĩ rằng mình ở vào một trong những hoàn cảnh được nói đến ở 40 hay 50, mà không do lỗi của mình.
Điều 1324
§1. Phạm nhân không được miễn khỏi hình phạt, nhưng hình phạt do luật hay mệnh lệnh ấn định phải được giảm nhẹ hay được thay thế bằng việc sám hối, nếu tội phạm đã xảy ra do:
20 Người không sử dụng đủ trí khôn do say rượu hay do rối loạn tinh thần khác tương tự vì lỗi của mình, vẫn giữ những gì quy định của điều 1326 §1, 40;[24]
30 Người bị thúc đẩy bởi một đam mê mãnh liệt dù đam mê ấy không đi trước và không cản trở bất cứ sự suy tính nào của lý trí cũng như bất cứ sự ưng thuận nào của ý chí, và miễn là người đó không cố tình kích thích hay nuôi dưỡng chính đam mê ấy;
40 Người vị thành niên đã đủ mười sáu tuổi trọn;
50 Người bị cưỡng ép hành động do một sự sợ hãi nghiêm trọng, dù chỉ có tính cách tương đối mà thôi, hoặc do sự cần thiết[25] thúc đẩy, hoặc để tránh một điều bất lợi nghiêm trọng, nếu tội phạm là xấu tận căn hoặc gây thiệt hại cho các linh hồn;
60 Người đã hành động tự vệ cho mình hay cho người khác một cách hợp pháp, chống lại một kẻ tấn công bất chính nhưng đã không giữ được chừng mực cần thiết.
70 Người đã chống lại kẻ khiêu khích cách nghiêm trọng và bất công;
80 Người do lầm lẫn vì lỗi của mình đã tin rằng mình ở vào một trong những hoàn cảnh được nói đến ở điều 1323, 40 hay 50.
90 Người mà không do lỗi của mình không biết là luật hay mệnh lệnh có kèm theo hình phạt;
100 Người đã hành động mà không bị quy trách nhiệm hoàn toàn, miễn là sự quy trách nhiệm này vẫn còn nặng.
§2. Thẩm phán cũng có thể xử như vậy[26], nếu có một hoàn cảnh nào khác làm cho tội phạm được giảm nhẹ.
§3. Trong những hoàn cảnh được nói đến ở §1, phạm nhân không phải chịu một hình phạt tiền kết nào, tuy nhiên người ấy có thể bị tuyên phạt những hình phạt nhẹ hơn, hoặc có thể áp dụng cho người ấy những việc sám hối, với mục đích giúp người ấy sửa mình hay sửa chữa cớ vấp phạm.
Điều 1325
Sự không biết vì lười biếng hay vì giả đò hay vì cố tình, không bao giờ được xét đến khi áp dụng những quy định của các điều 1323 và 1324.
Điều 1326
§1. Thẩm phán phải[27] trừng phạt bằng một hình phạt nặng hơn hình phạt mà luật hay mệnh lệnh đã thiết lập:
20 Người có phẩm chức, hay người đã lạm dụng quyền hành hoặc chức vụ của mình để phạm tội;
30 Người, mà sau khi hình phạt đã được thiết lập cho tội tắc trách (delictum culposum), dù tiên liệu được sự việc, đã bỏ qua các biện pháp phòng ngừa để tránh nó như bất cứ một người cẩn thận nào cũng phải làm.[28]
4º Người đã phạm tội trong tình trạng say rượu hay một rối loạn tâm trí nào khác, nhưng cố ý làm như vậy để phạm tội hay để bào chữa, hoặc cố ý để cho đam mê được kích thích hay được nuôi dưỡng.[29]
§2. Trong những trường hợp được nói đến ở §1 nếu hình phạt được ấn định là tiền kết, thì có thể thêm vào hình phạt ấy một hình phạt khác hay một việc sám hối.
§3. Trong những trường hợp như vậy, nếu hình phạt được ấn định là tùy nghi, thì trở thành bắt buộc.[30]
Điều 1327
Ngoài những trường hợp được nói đến ở các điều 1323-1326, luật địa phương có thể ấn định những tình huống tha, giảm khinh hay gia tăng hình phạt, hoặc bằng một quy tắc chung, hoặc cho từng tội phạm riêng lẽ. Cũng vậy, trong một mệnh lệnh có thể ấn định những tình huống tha hình phạt mà mệnh lệnh đã thiết lập, hoặc giảm khinh hoặc gia trọng hình phạt.
Điều 1328
§l. Người nào đã làm hay đã bỏ qua một hành vi để thực hiện tội phạm, nhưng, ngoài ý muốn, đã không hoàn thành tội phạm được, thì không phải chịu hình phạt đã được ấn định[31] đối với tội phạm đã được hoàn thành, trừ khi luật hay mệnh lệnh quy định cách khác về điều đó.
§2. Nếu những hành vi hay những sự thiếu sót tự bản chất dẫn đến việc thực hiện tội phạm, phạm nhân có thể bị buộc phải làm một việc sám hối hay phải nhận một phương dược hình sự[32], trừ khi đương sự tự ý không tiếp tục thực hiện tội phạm mà mình đã bắt đầu. Tuy nhiên, nếu đã xảy ra một gương xấu hay một thiệt hại nặng nề khác hay một nguy cơ nào đó, thì mặc dầu đã tự ý không tiếp tục nữa, đương sự vẫn có thể phải chịu một hình phạt thích đáng[33], nhưng nhẹ hơn hình phạt đã được ấn định cho tội phạm đã được hoàn thành.
Điều 1329
§1. Những người đồng ý cùng chung nhau thực hiện một tội phạm, mà không được luật hay mệnh lệnh minh nhiên nói đến, thì nếu hình phạt hậu kết được ấn định chống lại phạm nhân chính, các đồng phạm cũng phải chịu những hình phạt khác nặng tương tự như vậy hoặc những hình phạt nhẹ hơn.[34]
§2. Trong trường hợp có hình phạt tiền kết gắn liền với tội phạm, những người đồng phạm, mà không được luật hay mệnh lệnh nói đến, cũng phải chịu hình phạt đó nếu trong trường hợp không có sự tham gia của họ thì tội phạm đã không thể thực hiện được, và nếu hình phạt tự bản chất có thể áp dụng cho họ; bằng không, họ có thể phải chịu những hình phạt hậu kết.
Điều 1330
Một tội phạm hệ tại ở một lời tuyên bố hay một sự bộc lộ khác về ý muốn, về học thuyết hay về kiến thức, thì không được coi là một tội phạm đã được hoàn thành, nếu không ai nhận thức được lời tuyên bố hay sự bộc lộ ấy.