Chương 1. Lời khấn (Điều 1191 – 1198)
Điều 1191
§1. Lời khấn tức là lời hứa có suy nghĩ và tự do với Thiên Chúa về một ích lợi khả thi và tốt hơn; vì thuộc về nhân đức thờ phượng, lời khấn phải được thực hiện.
§2. Trừ khi bị luật cấm, tất cả mọi người biết sử dụng đủ trí khôn, đều có thể khấn.
§3. Lời khấn được tuyên hứa do một sự sợ hãi nghiêm trọng và bất công hay do man trá, thì đương nhiên bất thành.
Điều 1192
§1. Lời khấn là công, nếu được Bề Trên hợp pháp chấp nhận nhân danh Giáo Hội; nếu không thì lời khấn là tư.
§2. Lời khấn là trọng, nếu được Giáo Hội công nhận như vậy, nếu không thì lời khấn là đơn.
§3. Lời khấn là tòng nhân, khi người khấn cam đoan thực hiện một việc gì đó; lời khấn là tòng vật, khi hứa một vật gì đó; lời khấn là hỗn hợp, nếu đồng thời mang bản chất của lời khấn tòng nhân và của lời khấn tòng vật.
Điều 1193
Lời khấn tự nó chỉ buộc người khấn mà thôi.
Điều 1194
Lời khấn chấm dứt do mãn thời hạn ấn định để chu toàn nghĩa vụ, do thay đổi về nội dung của lời khấn, do thiếu điều kiện mà lời khấn tùy thuộc vào, do mục đích của lời khấn không còn, do được miễn chuẩn hoặc do được thay thế.
Điều 1195
Người nào có quyền trên nội dung lời khấn, thì có thể đình chỉ tính cách bó buộc của lời khấn, bao lâu việc thi hành lời khấn gây thiệt hại cho mình.
Điều 1196
Ngoài Đức Giáo Hoàng Rô-ma, những vị sau đây đều có thể miễn chuẩn lời khấn tư vì một lý do chính đáng, miễn là việc miễn chuẩn không làm tổn thương đến quyền lợi thủ đắc của người khác:
1° Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở đối với tất cả những người thuộc quyền mình, cũng như đối với những người ngoại cư;
2° Bề Trên của một hội dòng hoặc của một tu đoàn tông đồ đối với những thành viên, những tập sinh và những người ngày đêm cư ngụ trong nhà mình, nếu là hội dòng hoặc tu đoàn thuộc luật giáo hoàng;
3° Những vị được Tông Tòa hay Đấng Bản Quyền địa phương ủy quyền miễn chuẩn.
Điều 1197
Chính người khấn có thể thay thế việc đã hứa do lời khấn tư bằng một việc tốt lớn hơn hay tương đương; nhưng người có quyền miễn chuẩn mới có thể thay thế bằng một việc tốt nhỏ hơn chiếu theo quy tắc của điều 1196.
Điều 1198
Những lời khấn đã được tuyên hứa trước khi khấn dòng được đình chỉ bao lâu người khấn còn ở trong hội dòng.
Chương 2. Lời thề (Điều 1199 – 1204)
Điều 1199
§1. Lời thề tức là lời kêu cầu danh Chúa làm chứng cho chân lý, chỉ có thể được tuyên thệ trong sự thật, trong sự suy xét và trong công lý.
§2. Lời thề do giáo luật yêu cầu hoặc được giáo luật chấp nhận không thể được tuyên thệ thành sự qua người đại diện.
Điều 1200
§1. Người nào tự do thề rằng mình sẽ làm việc gì đó, thì buộc phải thực hiện điều mình đã quả quyết bằng lời thề, do sự đòi buộc đặc biệt của đức thờ phượng.
§2. Lời thề bị ép buộc do lường gạt, do bạo lực hoặc do sợ hãi nghiêm trọng, thì đương nhiên bất thành.
Điều 1201
§1. Lời thề có tính cách hứa hẹn đi theo bản chất và những điều kiện của hành vi liên hệ đến lời thề ấy.
§2. Nếu lời thề liên hệ đến một hành vi trực tiếp làm hại người khác, hoặc làm tổn thương công ích hay phần rỗi đời đời, thì hành vi này không có một hiệu lực nào của lời thề ấy.
Điều 1202
Nghĩa vụ phát sinh do lời thề có tính cách hứa hẹn chấm dứt:
1° nếu được người mà lời thề đã được tuyên thệ vì lợi ích của họ miễn xá cho;
2° nếu nội dung lời thề đã thay đổi, hoặc nếu nghĩa vụ trở nên tồi tệ hay hoàn toàn vô thưởng vô phạt do hoàn cảnh đã thay đổi, hoặc sau hết, nếu nghĩa vụ ngăn cản một lợi ích lớn hơn;
3° nếu thiếu mục đích hoặc điều kiện vì đó mà lời thề đã được tuyên thệ;
4° nếu được miễn chuẩn hay được thay thế, chiếu theo quy tắc của điều 1203.
Điều 1203
Những vị có thể đình chỉ, miễn chuẩn hay thay thế một lời khấn, thì cũng có quyền như vậy và theo cùng một cách thức đối với lời thề có tính cách hứa hẹn, nhưng nếu việc miễn chuẩn lời thề gây thiệt hại cho những người khác và họ từ chối giải trừ nghĩa vụ, thì chỉ một mình Tông Tòa mới có thể miễn chuẩn lời thề ấy.
Điều 1204
Theo luật, lời thề phải được giải thích theo nghĩa hẹp và theo chủ ý của người thề, hoặc nếu người thề tuyên thệ vì man trá, thì phải theo chủ ý của người nhận lời thề.