DẪN NHẬP
 “Có lẽ chưa bao giờ Giáo hội đã nhận thấy cần phải tìm hiểu xã hội loài người chung quanh
như hiện nay để tới gần và tôn trọng nó một cách chính đáng, nhập vào nó, phục vụ và trao cho nó
sứ điệp Phúc âm. Hơn nữa, dường như Giáo hội ưa thích và chiều chuộng nó một phần nào đó,
trong khi nó vẫn đang thay đổi mau chóng và không ngừng”.
Lời trên đây của Đức Phaolô VI trong diễn văn nhân dịp khai mạc Công đồng Vat.II cho thấy
tầm quan trọng về vai trò và sứ mệnh của Giáo hội trong thế giới loài người. Điều đó có nghĩa là:
“Vui Mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và
những ai đau khổ, cũng như vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và
không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”.
Các thông điệp về xã hội của các vị chủ chăn Giáo hội trong thời cận đại và đương kim chứng
tỏ ý thức sâu xa về chỗ đứng và trách nhiệm đồng hành hướng dẫn tinh thần của Giáo hội trong
cộng đồng thế giới:
– Đức Lêô XIII với thông điệp Rerum Novarum (RN)công bố năm 1891.
– Đức Piô XI để kỷ niệm 40 năm thông điệp RN đã cho công bố thông điệp Quadragesimo
Anno (QA)(năm thứ 40)năm 1931
– Đức Piô XII đã không công bố một thông điệp nào vào năm 1951 là năm kỷ niệm 60 năm
thông điệp RN. Nhưng ngài đã đọc một diễn văn rất quan trọng cho anh chị em thợ thuyền tụ họp
về Roma nhân dịp này. Ngài đã nhấn mạnh đến quyền của Giáo hội trong việc can thiệp vào các
vấn đề xã hội.
– Đức Gioan XXIII với hai thông điệp nổi tiếng, gây ảnh hưởng sâu đậm tới chiều hướng, quan
điểm của Gaudium et Spes (GS) sau này. Đó là:
*  Thông điệp Mater et Magistra (MM)
*  Thông điệp Pacem in Terris  (PT)
– Đức Phaolô VI, vị chủ chăn đã dẫn Công đồng Vat.II đến chỗ hoàn tất mỹ mãn, ngài cũng đã
công bố hai thông điệp về xã hội:
* Thông điệp Octogesima Adveniens (OA) – Kỷ niệm 80 năm thông điệp Rerum Novarum.
*  Thông điệp Populorum Propressio (PP)
Cho đến nay, có thể nói là Đức Gioan Phaolô II là vị Giáo hoàng viết nhiều thông điệp hơn cả.
Trong 12 năm ngài đã cho công bố 7 thông điệp, thông điệp Redemptor Hominis (RH), công bố
ngày 15/3/1979 được coi như là kim chỉ nam và đường hướng hoạt động của triều đại ngài, và cũng
từ đó hai thông điệp về xã hội ra đời:
*  Thông điệp Laborem Exercens (LE), nhân kỷ niệm 90 năm thông điệp RN, đáng lẽ được
công bố ngày 15/5/1981, nhưng vụ mưu sát xảy ra tại quảng trường thánh Phêrô vào ngày 13/5/1981
đã gây nên sự chậm trễ, do đó đã được công bố vào ngày 14/9/1981.
*  Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (SRS) công bố ngày 19/2/1988. Đây là văn kiện thứ hai
về vấn đề xã hội do chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II soạn thảo sau chuyến viếng thăm mục
vụ tại các nước nghèo.
– Trong thánh lễ dịp đầu năm dương lịch 1981, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã loan tin về
việc sẽ cho công bố một thông điệp mới về xã hội để kỷ niệm 100 thông điệp RN của Đức Lêô XIII
(15/5/1891 – 15/5/1991).
Đặc biệt: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quyết định dành năm 1991 làm năm giáo lý xã hội
của Giáo hội công giáo. Mục đích của năm này không chỉ để mừng kỷ niệm 100 năm thông điệp

RN là văn kiện thứ nhất bàn về tình trạng của giới thợ thuyền mà còn để học hỏi, đào sâu, nhất là
tìm mọi cách để áp dụng giáo lý xã hội trong đời sống cá nhân, cộng đồng quốc gia và quốc tế.
Thủ bản “Học thuyết xã hội của Giáo hội” cùng với các thông điệp của các Đức giáo hoàng là
một tài liệu thiết thực và quý giá để chúng ta có thể sử dụng học hỏi, đào sâu và áp dụng trong năm
chủ đề giáo lý về xã hội của Giáo hội Công giáo trong năm 1991 này.
Thực ra, Giáo hội Công giáo không trình bày một con đường thứ ba khác với con đường của
chế độ tư bản và chế độ cộng sản, nhưng chỉ trình bày giáo lý Phúc âm do Thiên Chúa Nhập Thể
đem đến cho nhân loại để giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên công bằng, bác ái và tình liên đới.

 

MỞ ĐẦU
1.Trong mấy thập niên vừa qua, Bộ Giáo dục Công giáo, vốn quan tâm đến những yêu cầu nảy
sinh từ việc canh tân của Công đồng, đã nhiều lần đưa ra cho các chủng viện và các Học Viện Thần
Học những chỉ dẫn phù hợp với những lãnh vực khác nhau của việc đào tạo linh mục [1] . Thiết nghĩ
nay là lúc thuận tiện để trình bày cùng các vị Giám mục và các vị giáo dục trong chủng viện về
đường hướng học hỏi và giảng dạy giáo huấn của Giáo Hội về xã hội.
Đưa ra sáng kiến này, Bộ ý thức rằng mình đáp ứng một nhu cầu đích thực mà mọi nơi mọi giới
ngày nay đang cảm nghiệm sâu sắc, đó là làm sao qua tác vụ của các linh mục được đào tạo kỹ
lưỡng và ý thức về những bổn phận chồng chất đang chờ đón mình,gia đình nhân loại được hưởng
dùng sự phong phú chứa đựng trong giáo huấn của Giáo hội về xã hội. Ngày nay, vào lúc đang có
những nỗ lực đào sâu và những nghiên cứu rất phong phú về chủ đề này, chẳng hạn như Thông điệp
mới đây của Đức Gioan Phaolô II là Sollicitudo Rei Socialis, thì điều tối yếu là các ứng viên chức
linh mục phải có được một ý niệm minh bạch về bản chất, cùng đích và những thành tố chủ yếu của
guấn về chủ đề này, để có thể đem ra áp dụng trong hoạt động mục vụ và một cách trọn vẹn đúng
như huấn quyền Giáo hội đã phác họa và đã trình bày [2]
Trong lãnh vực này, tình trạng hiện nay đang cần sự soi sáng thích hợp cho những khái niệm
khác nhau, như ta sẽ thấy ở các chương của tài liệu này.
Trước hết, trong tài liệu này, ta sẽ thấy có hai từ không khác nghĩa nhau: “Học thuyết xã hội”
(doctrine social) và “giáo huấn về xã hội” (enseignement social) của Giáo hội. Hẳn ta cũng thấy có
những sắc thái riêng của mỗi từ đó. Quả thế, “học thuyết” thì nhấn mạnh mặt lý thuyết của vấn đề,
còn “giáo huấn” thì nhấn mạnh mặt lịch sử và thực hành, tuy nhiên cả hai cùng muốn nói về một
thực tại. Vì thế, cách dùng khi từ này khi thì từ kia trong huấn quyền của Giáo hội về xã hội, cả
huấn quyền long trọng lẫn thông thường của Đức Giáo Hoàng lẫn của các Giám mục, có ý nghĩa hỗ
tương.
Vượt trên mọi tranh cãi về từ ngữ hoặc về cách diễn đạt thực tại được nhắm đến trong học
thuyết xã hội hoặc trong guấn về xã hội, đã trở nên một sản nghiệp phong phú mà Giáo hội có được
nhờ trở về nguồn Lời Chúa và nhờ lưu tâm tới những trạng huống luôn luôn đổi thay nơi các dân
tộc qua các thời đại lịch sử.Đó là một sản nghiệp phải trung thành gìn giữ và dần dần triển khai theo
nhịp độ khẩn trương của việc tìm đáp số cho những vấn đề mới trong xã hội loài người.
2.Hiện nay, học thuyết xã hội được mời gọi ngày càng khẩn thiết góp phần riêng của mình vào
công cuộc phúc âm hóa, vào việc đối thoại với thế giới, giải thích thực tại theo tinh thần Kitô Giáo,
và định hướng hoạt động mục vụ, nhờ dùng những nguyên tác lành mạnh soi sáng cho những sáng
kiến trong lãnh vực trần thế. Thực thế, các cơ cấu kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa hiện đang gặp
những đổi thay sâu rộng và nhanh chóng, tác động đến chính tương lai của xã hội loài người, do đó
chúng cần được định hướng một cách vững chắc. Vấn đề là phải cổ võ cho một sự tiến bộ xã hội
đích thực, sự tiến bộ này nếu muốn bảo đảm cho công ích của mọi người, đòi hỏi tổ chức đúng đắn
những cơ cấu nói trên; nếu không, thì số đông quần chúng có thể sẽ lại rơi vào tình trạng gần như
nô lệ, tình trạng mà Đức Lêô XIII đã nói trong Rerum Novarum [3]
Vậy rõ ràng là “đại thảm họa” của thế giới đương thời, gây nên do muôn vàn đe dọa thường đi
theo những tiến bộ của con người, “sẽ không cho phép bất cứ ai được thờ ơ lãnh đạm” [4] . Chính vì
thế mà sự hiện diện của Giáo hội càng mang tính khẩn trương và quyết định, một sự hiện diện mang
tính phúc âm hóa và không thể thay thế được trong thế giới phức tạp của những thực tại trần thế ảnh
hưởng đến vận mệnh của loài người.
Tuy nhiên khi can thiệp vào lãnh vực này, Giáo hội vẫn ý thức rõ những giới hạn của mình.
Giáo hội không có tham vọng đưa ra giải pháp cho mọi vấn đề xuất hiện trong tình huống bi thảm
của thế giới đương thời, nhất là khi đang có những cách biệt lớn lao giữa các nước về phát triển, và

lại có muôn vàn tình huống khác nhau mà các kitô hữu đang dấn thân phục vụ [5] . Nhưng Giáo hội,
dựa theo “ánh sáng do Tin Mừng đem đến” [6] , có thể và phải đưa ra những nguyên tắc và những
phương hướng không thể thiếu cho việc tổ chức đúng đắn đời sống xã hội, cho phẩm giá con người
và cho công ích. Thực tế thì huấn quyền của Giáo hội đã thường can thiệp và đang can thiệp vào
lãnh vực này với một học thuyết mà mọi tín hữu cần nhận biết, giảng dạy và đem ra áp dụng. Vì lẽ
đó, cùng với các môn triết học và thần học, thấy cần phải dành một chỗ đặc biệt cho việc giảng dạy
học thuyết này trong việc đào tạo các linh mục tương lai, như đã được Đức Gioan XIII trình bày rõ
ràng [7] và hiện nay thấy cần nhắc lại một lần nữa trong tài liệu này, một tài liệu đã được nghiên cứu
với sự cộng tác của uỷ ban giáo hoàng về công lý “Công Lý và Hòa Bình” và đã được Bộ Giáo dục
Công giáo chấp thuận trong một phiên họp khoáng đại.
Tài liệu này gồm sáu chương, năm chương đầu sẽ nhằm vào bản chất của học thuyết xã hội của
Giáo hội: mặt lịch sử, lý thuyết và thực hành của ba yếu tố cấu tạo nên học thuyết này, đó là các
nguyên tắc vững bền, các tiêu chuẩn để nhận định, và các chỉ dẫn thực hành. Chương sáu sẽ trình
bày mấy chỉ dẫn để đảm bảo cho các ứng viên linh mục được trau dồi đầy đủ về môn học thuyết xã
hội.

 

I. BẢN CHẤT CỦA HỌC THUYẾT XÃ HỘI

3. Những yếu tố cấu thành học thuyết xã hội
Tuy đó đây vẫn còn chưa nhất trí về việc dùng từ “học thuyết xã hội” của Giáo hội, cũng như về
chính bản chất của môn này, nhưng thấy cần phải làm sáng tỏ vấn đề tri thức luận
(épistémologique), vốn là nguồn phát sinh mọi thứ hiểu lầm. Tài liệu này, mặc dù không có ý dành
thẩm quyền giảng dạy và giải quyết hết mọi vấn đề tri thức luận liên quan đến học thuyết xã hội, tuy
nhiên cũng hy vọng rằng việc cố gắng suy tư và đào sâu về các yếu tố cấu thành là những cái diễn tả
bản chất của môn này, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn những từ ngữ nào có vấn đề. Dầu sao cũng nên
nhớ rằng tài liệu này có ý xác định những yếu tố cấu thành, trực tiếp rút ra từ những tuyên bố của
huấn quyền, chứ không phải từ các công thức của những nhà chuyên môn. Cũng luôn phải phân biệt
giữa giáo huấn chính thức của Giáo hội về xã hội với những quan điểm khác nhau của các trường
phái đã giải thích, triển khai và sắp xếp một cách có hệ thống những tư tưởng về xã hội nằm trong
các tài liệu của Giáo hội [8] .
Những yếu tố chủ yếu diễn tả và xác định bản chất của học thuyết xã hội được trình bày như
sau [9] : giáo huấn của Giáo hội về xã hội bắt nguồn từ sự gặp gỡ giữa một bên là sứ điệp Tin Mừng
cùng những đòi hỏi luân lý của Tin Mừng, và bên kia là những vấn đề phát sinh từ cuộc sống của xã
hội. Từ đó những gì là bức thiết xuất hiện rõ nét và trở nên những chất liệu cho suy tư luân lý, suy
tư này vốn chín mùi trong Giáo hội qua những nghiên cứu khoa học, cũng như qua kinh nghiệm của
cộng đồng kitô hữu hàng ngày phải đương đầu với những vấn đề nảy sinh từ sự xuất hiện và phát
triển của hiện tượng kỹ nghệ hóa cùng với hệ thống kinh tế xã hội đi kèm.
Học thuyết này hình thành nhờ sự hỗ trợ của bộ môn thần học và triết học như là nền tảng, và
cũng nhờ sự hỗ trợ của các ngành khoa học nhân văn và xã hội như là một bổ sung. Tuy học thuyết
này lưu tâm đến các khía cạnh đạo đức của cuộc sống, nhưng cũng không lơ là những khía cạnh kỹ
thuật của các vấn đề, để đánh giá chúng theo tiêu chuẩn luân lý. Khi dựa trên những “nguyên tắc có
giá trị vững bền”, học thuyết này cũng kéo theo những “nhận định ngẫu nhiên”, vì nó phát triển
cùng với những hoàn cảnh đổi thay của lịch sử và vì nó luôn hướng tới “hành động hay praxis Kitô
Giáo”.
4. Vị thế độc lập của môn học thuyết xã hội
Mặc dù được hình thành trong suốt thế kỷ XIX như phần bổ túc cho môn luân lý trong phần bàn
về đức công bình, giờ đây môn học thuyết xã hội đã có được một vị thế độc lập đáng kể nhờ sự phát
triển liên tục, hữu cơ và có hệ thống của suy tư luân lý của Giáo hội về những vấn đề xã hội mới mẻ
và đầy khó khăn. Vì thế có thể khẳng định rằng môn học thuyết xã hội hiện nay đã có được một cốt
cách riêng phảng phất đường nét thần học đã định hình.
Để có một ý niệm trọn vẹn về môn học thuyết xã hội, cần xét tới những nguồn mạch, nền tảng
và đối tượng, chủ thể và nội dung, cứu cánh và phương pháp của môn này: đó là những yếu tố giúp
nó thành một môn học riêng biệt và độc lập, vừa có tính cách lý thuyết, vừa có tính cách thực
nghiệm, nằm trong một lãnh vực bao la và phức tạp của bộ môn thần học luân lý, và có liên hệ chặt
chẽ với môn luân lý xã hội [10] .
 Nguồn mạch của môn học thuyết xã hội là Thánh Kinh,là giáo huấn của các giáo phụ và các
nhà thần học có tầm cỡ của Giáo hội, và chính huấn quyền của Giáo hội. Nền tảng và đối tượng
hàng đầu của môn này chính là phẩm giá của con người và những quyền lợi bất khả nhượng vốn tạo
nên cốt lõi của cái gọi là “sự thật về con người” [11] . Còn chủ thể là toàn thể cộng đồng kitô hữu
sống hòa hợp dưới sự dẫn dắt của các vị chủ chăn hợp pháp, còn giáo dân với kinh nghiệm kitô hữu
của mình, là những cộng tác viên tích cực của các ngài. Phần nội dung, nhờ tổng hớp các kiến thức
về con người, về nhân loại và về xã hội, [12] sẽ phản ánh được một con người trọn vẹn,con người xã
hội, con người như chủ thể nhất định, như thực tại nền tảng của khoa nhân học Kitô Giáo.
5. Bản chất thần học

Như là bộ phận thuộc toàn bộ quan niệm Kitô Giáo về cuộc sống [13] , môn học thuyết xã hội
của Giáo hội trước hết sẽ có tính chất thần học. Giữa phúc âm và cuộc sống thực tế lại có một sự
tương cầu, khiến khi cố thực hiện công cuộc phúc âm hóa và việc thăng tiến con người, chúng ta sẽ
có những mối liên kết chặt chẽ cả trên bình diện nhân học, thần học, tu đức học đến nỗi đức bác ái,
công lý và hòa bình không thể tách biệt nhau trong nỗ lực của Kitô Giáo nhằm thăng tiến con
người. [14]
Tính cách thần học của học thuyết xã hội cũng biểu lộ qua ưu tiên mục vụ của nó là phục vụ thế
giới, mục tiêu này nhằm kích thích sự thăng tiến trọn vẹn con người bằng hành động giải phóng con
người theo tinh thần Kitô Giáo trong lãnh vực trần thế cũng như siêu việt. [15] Đây không chỉ là vấn
đề phóng đại một “kiến thức thuần túy” nhưng là một học thuyết thực nghiệm mang tầm vóc mục
vụ gắn liền với sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo hội nhằm phục vụ trọn vẹn con người, phục
vụ mỗi người và mọi người. Chính nhờ tự hiểu đúng đắn về con người trong thực tế và về định
mệnh của nó [16] mà Giáo hội có thể góp phần tìm ra những giải đáp cho những vấn đề của con
người. Có thể nói, trong mọi thời đại và mọi tình huống, Giáo hội lại hoàn thành đối với xã hội một
nhiệm vụ kép gồm ba việc: loan báo chân lý về phẩm giá con người và về các quyền con người, tố
giác những tình trạng bất công và góp phần vào những đổi thay tích cực trong xã hội và vào sự tiến
bộ của con người. [17]
6. Ba chiều kích của môn học thuyết xã hội
Môn học thuyết xã hội bao gồm ba chiều kích: lý thuyết, lịch sử và thực hành. Những chiều
kích này mô tả cơ cấu chủ yếu của môn học; chúng liên kết chặt chẽ và không thể tách rời nhau.
Trước hết, có “chiều kích lý thuyết”, vì huấn quyền của Giáo hội đã minh nhiên bày tỏ qua các
văn kiện về xã hội của mình một nỗi suy tư mang tính hệ thống. Huấn quyền chỉ dẫn đường chắc
chắn để kiến tạo những mối tương quan của đời sống chung trong một trật tự mới, theo những tiêu
chuẩn phổ quát được mọi người chấp nhận. [18] Đây là những nguyên tắc luân lỳ vững bền, chứ
không phải là những nhận định mang tính lịch sử luôn đổi thay, và cũng không phải là những
“chuyện chuyên môn kỹ thuật mà huấn quyền không có được những phương thế tương xứng và
cũng chẳng có sứ mệnh để lo toan”. [19]
Sau đó, có “chiều kích lịch sử”, vì lẽ trong môn học này, việc sử dụng các nguyên tắc được đặt
trong sự nhận thức xác thực về xã hội và được soi sáng bởi ý thức về các vấn đề xã hội.
Cuối cùng, có “chiều kích thực hành”, vì môn học thuyết xã hội không dừng lại ở việc trình bày
các nguyên tắc vững bền của tư duy; hoặc ở việc giải thích các điều kiện lịch sử của xã hội, mà còn
đề ra cách áp dụng các nguyên tắc này trong hành động sao cho có hiệu quả, bằng cách chuyển
chúng thành những phương thức và biện pháp cụ thể tùy theo hoàn cảnh cho phép hoặc đòi hỏi. [20]
7. Phương pháp học của môn học thuyết xã hội.
Ba chiều kích trên đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc tìm hiểu tiến trình đầy năng động mang
tính quy nạp diễn dịch của phương pháp học mà trước kia các tài liệu cũ cách chung đã noi theo nay
được xác định rõ hơn trong Thông điệp Mater et Magistra và được chấp nhận cách dứt khoát trong
Hiến chế Mục vụ (GS) và trong các tài liệu sau này. Phương pháp này được triển khai làm ba thì:
Xem, Xét và Làm.
Xem nghĩa là nhận thức và nghiên cứu những tương quan thực tế và các nguyên nhân; còn việc
phân tích các điều này thì thuộc thẩm quyền của khoa học nhân văn và xã hội.
Xét là giải thích những thực tại đó theo ánh sáng bắt nguồn từ giáo huấn về xã hội vốn có vai
trò đánh giá các hiện tượng xã hội và các hệ lụy luân lý của chúng. Chính từ thì trung gian này,
chức năng riêng của huấn quyền của Giáo hội được nổi bật, chính xác là đưa ra những giải thích về
thực tại theo quan điểm đức tin và đề nghị “điều thuộc riêng mình là một quan niệm toàn diện về
con người và về nhân loại”. [21] Rõ ràng là trong giai đoạn xem và xét thực tại, Giáo hội đã không
và không thể đóng vai trò trung lập vì Giáo hội không thể không dựa theo bậc thang giá trị do Phúc
âm đề ra. Giả dụ, nếu Giáo hội dựa theo các bậc thang giá trị khác, lúc đó giáo huấn của Giáo hội sẽ

không còn đúng là thứ giáo huấn Giáo hội đã từng đưa ra mà sẽ biến thành một thứ triết học hoặc
một thứ ý thức hệ phe phái.
Làm thì luôn tùy thuộc việc thực hiện những lựa chọn. Nó cần một sự hoán cải thực sự, nghĩa là
một sự biến đổi nội tâm giúp ta có một tâm thế sẵn sàng, cởi mở và trong sáng trước ánh sáng thanh
tẩy của Thiên Chúa.
Khi mời gọi các tín hữu hãy có những lựa chọn đúng đắn và hãy hành động theo những nguyên
tắc và những nhận định của học thuyết xã hội nêu ra, huấn quyền đã cống hiến cho họ một thành
quả của biết bao suy tư và kinh nghiệm chín chắn dưới sự trợ giúp đặc biệt mà Đức Kitô đã từng
hứa cho Giáo hội của Người. Phần của tín hữu là noi theo giáo huấn này và dựa theo “sự khôn
ngoan cá nhân cùng kinh nghiệm riêng mà biến giáo huấn này thành phạm trù hành động tham gia
và dấn thân”. [22]
8. Phương pháp nhận định (discernement).
Không thể đem ra thực hành những nguyên tắc và những đường hướng luân lý mà không có sự
phân định thích đáng. Việc này đòi toàn thể cộng đồng kitô hữu và nhất là các cá nhân phải dò ra
các “thời điềm” và lý giải thực tại theo ánh sáng của sứ điệp Tin Mừng. [23] Mặc dù không phải là
việc của Giáo hội lo phân tích thực tại xã hội một cách khoa học, [24] nhưng việc phân định theo
tinh thần Kitô Giáo, xét như một tìm tòi và đánh giá sự thật, việc đó sẽ giúp tìm kiếm các nguyên do
thực tế gây ra tệ nạn xã hội, đặc biệt là sự bất công, và giúp ta chấp nhận một số thành quả của các
khoa học nhân văn mà không bị ý thức hệ chi phối. Mục đích là , dưới ánh sáng của những nguyên
tắc vững bền, đạt đến một sự nhận định khách quan về thực tại xã hội, rồi dựa theo khả năng và
thuận lợi do hoàn cảnh cho phép, ta sẽ có những lựa chọn thích đáng nhất để loại trừ bất công, và cổ
võ cho những đổi thay cần thiết về chính trị, kinh tế và văn hóa tùy từng trường hợp. [25]
Trong viễn tượng này, sự phân định theo tinh thần Kitô Giáo không những giúp làm sáng tỏ
tình huống của từng địa phương, từng miền hoặc toàn cầu, mà nhất là nhận ra kế hoạch cứu độ của
Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô dành cho con cái Ngài qua các thời đại của lịch sử.
Điều rõ ràng là việc phân định này cần thực hiện với thái độ trung tín không những đối với nguồn
mạch phúc âm mà còn đối với huấn quyền Giáo hội và với các chủ chăn hợp pháp.
9. Thần học và triết học.
Trong khi học thuyết xã hội của Giáo hội quy hướng về chân lý và các yếu tố giúp đánh giá và
phân định từ nguồn Mạc khải và dành cho mình đặc tính áp dụng Lời Chúa vào cuộc sống con
người và xã hội, [26] thì nó cũng có chỗ dựa vững chắc trên triết học và thần học. Thực ra nền tảng
cơ bản của nó là khoa nhân loại học bắt nguồn từ Phúc âm, nơi tàng chứa như một khẳng định
nguyên sơ ý niệm về con người “như hình ảnh của Thiên Chúa, không thể giản lược vỏn vẹn thành
một miếng nhỏ của thiên nhiên hoặc một thành phần vô danh tiểu tốt giữa toàn thể nhân loại”. [27]
Nhưng khẳng định cơ bản này sẽ được phân diện thành nhiều công thức giáo huấn, như giáo huấn
về bác ái, về tử hệ thần linh, về tình huynh đệ mới trong Đức Kitô, về sự tự do của con cái Chúa, về
phẩm giá cá biệt và về ơn gọi vĩnh cửu của mỗi người – những công thức giáo huấn đó chỉ đạt được
ý nghĩa và giá trị trọn vẹn khi nằm trong toàn bộ bối cảnh của khoa thần học siêu nhiên và khoa tín
lý công giáo.
Song song với những dữ kiện trên xuất phát từ Mạc Khải, môn học thuyết xã hội còn đảm
nhiệm, nhắc nhở và giải thích các loại nguyên tắc luân lý căn bản mang tính thuần lý, nêu lên mối
liên hệ giữa những dữ kiện Mạc khải và các nguyên tắc của một lương tri ngay thẳng như khuôn
mẫu cho những hành vi nhân linh trong lãnh vực đời sống xã hội và chính trị. Vì thế cần nhờ đến
những suy tư triết học để đào sâu một số ý niệm (như ý niệm về tính khách thể của chân lý, của thực
tại, của giá trị con người, của các quy luật hành động và các tiêu chuẩn chân lý), và để soi sáng
chúng với ánh sáng của các nguyên nhân tối hậu. Quả thực, Giáo hội vẫn dạy rằng các Thông điệp
về xã hội cũng cần nhờ đến một “lương tri ngay thẳng” để tìm ra những tiêu chuẩn khách quan về
luân lý tính của nhân loại, những tiêu chuẩn này là khuôn mẫu không những cho đời sống cá nhân
mà cho cả cuộc sống xã hội và quốc tế . [28]

Trong viễn tượng này, hiển nhiên là một nền tảng triết học và thần học vững chắc sẽ giúp các
giáo sư và học viên tránh được những lối giải thích chủ quan về các tình huống xã hội cụ thể và
cũng giúp tránh được sự uốn nắn những lối giải thích đó nhằm phục vụ những mục tiêu và lợi lộc
mang tính ý thức hệ.
10. Các khoa học thực nghiệm.
Học thuyết xã hội cũng dùng đến những dữ kiện do các ngành khoa học thực nghiệm mang lại,
đặc biệt là các khoa học xã hội là một khí cụ quan trọng để tìm hiểu thực tại, tuy nhiêm cũng không
loại trừ các phương tiện khác khác. Việc nhờ cậy đến các khoa học này đòi phải có một sự phân
định kỹ lưỡng, trên cơ sở của trung gian triết học, nếu không, có thể gặp nguy cơ bị lấn át do sức ép
của những ý thức hệ nhất định tương phản với lương tri ngay thẳng, với đức tin Kitô Giáo, sau hết
với chính những dữ kiện do kinh nghiệm lịch sử và do nghiên cứu khoa học cung cấp. Dẫu sao, một
“cuộc đối thoại có kết quả” [29] giữa khoa luân lý xã hội Kitô Giáo (thần học và triết học) với các
khoa học nhân văn không những là điều khả thể mà còn cần thiết để thấu hiểu thực tại xã hội. Việc
phân biệt rõ ràng một bên là thẩm quyền của Giáo hội và bên kia là của các khoa học thực nghiệm,
không gây cản trở cho cuộc đối thoại, trái lại còn hỗ trợ là đàng khác. Chính vì thế phần học thuyết
xã hội của Giáo hội là lo thu nhận phối hợp một cách thích đáng những dữ kiện có được từ những
nguồn của mình, như đã nêu trên, với các dữ kiện do khoa học thực nghiệm mang lại. Và rõ ràng
điểm quy chiếu chính yếu của môn này là lời dạy và gương lành của Đức Kitô, là tập truyền Kitô
Giáo có liên hệ đến sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo hội.
11. Sự tiến hóa của học thuyết xã hội.
Như đã nói trên, học thuyết xã hội của Giáo hội, vì mang tính trung gian giữa Tin Mừng và thực
tại cụ thể của con người và xã hội, nó luôn cần phải được cập nhật hóa và có khả năng đáp ứng
những tình huống mới của thế giới và lịch sử. [30] Thực tế thì liên tiếp trong mấy thập niên qua nó
đã tiến hóa rất đáng kể… này chính là cái hồi đó được gọi là “vấn đề xã hội” nghĩa là toàn bộ những
vấn đề kinh tế, xã hội nảy sinh trong những vùng nhất định thuộc Châu Âu hoặc Châu Mỹ tiếp theo
các cuộc cách mạng kỹ nghệ. Ngày nay, “vấn đề xã hội” không còn giới hạn theo những vùng địa lý
riêng, nhưng nó mang tầm vóc toàn cầu, [31] và bao gồm rất nhiều mặt, kể cả chính trị, nó liên hệ
tới những tương quan giai cấp và tới việc xã hội đã và đang chuyển mình. Dầu sao, “vấn đề xã hội”
và “học thuyết xã hội” là hai đối ngữ.
Trong việc phát triển môn học thuyết xã hội còn nhấn mạnh rằng tuy môn này vẫn luôn là một
“bộ phận” giáo huấn vốn rất chặt chẽ, nó không tự bó mình trong một hệ thống khép kín, trái lại nó
luôn bén nhạy trước tiến hóa của tình thế và tỏ ra có khả năng đáp ứng tương xứng những vấn đề
mới, với cách thức mới, mà những vấn đề được đặt ra. Có được như thế là nhờ biết khách quan xem
xét các văn kiện của các Đức Giáo hoàng kế tiếp nhau, từ Đức Lêô XIII đến Đức Gioan Phaolô II  ,
và điều đó càng rõ nét kể từ Công đồng Vat.II.
12. Tính liên tục và sự phát triển.
Những khác biệt trong cách trình bày, trong phương pháp sử dụng, trong đường nét mà ta nhận
thấy ở các loại tài liệu giáo huấn không gây phương hại đến cốt lõi, căn tính và tính duy nhất của
giáo huấn của Giáo hội về xã hội.
Chính vì thế, ở đây bàn về tính liên tục để nói lên mối tương quan giữa các tài liệu, dù rằng mỗi
tài liệu đáp ứng một cách đặc biệt những vấn đề của thời đại mình. Chẳng hạn, từ “người nghèo”
mà một số tài liệu mới đây có nói tới, không phải là “người vô sản” mà Đức Lêô XIII nhắm tới
trong Thông điệp Rerum Novarum, cũng không phải là những “người thất nghiệp” mà Đức Piô XI
chú ý quan tâm trong Thông điệp Quadragesimo Anno. Ngày nay số người nghèo vô cùng lớn lao,
và được kể vào thành phần này tất cả những ai trong một xã hội…, bị tước đoạt quyền được hưởng
dùng của cải trên trái đất cách thích đáng và bảo đảm. Vấn đề còn trầm trọng hơn nữa khi một số
nơi trên địa cầu, nhất là ở thế giới thứ ba, tình trạng này đã trở nên có hệ thống và gần như đã được
định chế hóa.

Hơn nữa, vấn đề không chỉ là sự cách biệt bất công giữa các giai cấp xã hội, mà còn là tình
trạng thiếu cân bằng trầm trọng giữa các nước giàu và các nước nghèo.
13. Bổn phận và quyền giảng dạy
Đối điện trước cộng đồng chính trị trong niềm tôn trọng và xác quyết về quyền tự lập của mỗi
bên trong phạm vi riêng của mình, vì cả hai bên đều phục vụ cho ơn gọi cá nhân và xã hội của con
người. Giáo hội xác quyết thẩm quyền riêng của mình về giáo huấn về xã hội và quyền giảng dạy
giáo huấn đó vì lợi ích và phần rỗi loài người. Để đạt mục tiêu này, Giáo hội sử dụng tất cả mọi
phương tiện mình có được tùy theo mỗi hoàn cảnh và thời đại khác nhau. [32] Khi nhìn con người
“trong chân lý trọn vẹn về sự hiện hữu của nó, về hữu thể cá biệt của nó, và cả về hữu thể cộng
đoàn và xã hội của nó”. [33] Giáo hội ý thức rất rõ rằng, số phận nhân loại được gắn liền với Đức
Kitô một cách chặt chẽ và không thể chối cãi. Giáo hội thâm tín rằng con người nhất thiết cần đến
sự trợ giúp của Đức Kitô và vì thế không thể bỏ Ngài được. Như Đức Gioan Phaolô II đã trình bày
về vấn đề này, Giáo hội mật thiết chia sẻ những thăng trầm của toàn thể nhân loại, coi con người là
con đường đầu tiên và cơ bản trong công cuộc hoàn thành sứ mệnh của mình, “con đường với lộ
trình không bao giờ thay đổi, đi qua mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc”. [34] Qua đường lối này,
Giáo hội tiếp tục sứ mệnh cứu độ của Đức Kitô khi vâng giữ lệnh truyền của Người để đi rao giảng
Tin Mừng cho mọi dân tộc [35] và khi lo phục vụ bất cứ những ai đang ở trong tình trạng cùng cực
với tính cách cá nhân hoặc với tư cách đoàn thể hoặc giai cấp xã hội và những ai đang cảm thấy
mạnh mẽ rằng cần phải có những đổi thay hoặc cải tổ để cải thiện điều kiện sinh sống của họ.
Luôn trung thành với sứ mạng linh thiêng của mình, Giáo hội trực diện với những vấn đề này
dưới khía cạnh luân lý và mục vụ là mặt riêng biệt của mình. Trong Thông điệp Sollicitudo Rei
Socialis, Đức Gioan Phaolô II đã minh nhiên ám chỉ mặt này, nhân lúc ngài bàn về các vấn đề thuộc
phát triển, và ngài quả quyết rằng như thế là ngài đang đi đúng con đường sứ mệnh của Giáo hội.
Do đó, Giáo hội “không thể bị tố cáo là đã vượt qua lãnh vực riêng của thẩm quyền mình, và càng
không vượt quá sự uỷ thác mà Chúa đã trao ban”. [36]
Ngoài cộng đồng tín hữu, Giáo hội đề xuất học thuyết xã hội của mình cho tất cả mọi người
thiện tâm và quả quyết rằng những nguyên tắc nền tảng của mình “là do lương tri ngay thẳng thỉnh
khẩn”, [37] một lương tri đã được Phúc âm soi sáng và kiện toàn.

II.CHIỀU KÍCH LỊCH SỬ

của học thuyết xã hội của giáo hội.
14.Đương đầu với một số người muốn gieo rắc “hoài nghi và ngờ vực” về tính hữu hiệu của học
thuyết xã hội của Giáo hội vì họ coi đó như là một học thuyết trừu tượng, suy diễn, tĩnh chỉ và thiếu
phê phán, Đức Gioan Phaolô II đã nhiều lần nhắc lại tính cấp bách của hoạt động xã hội bắt nguồn
từ “sản nghiệp phong phú và phức tạp” được mệnh danh là “học thuyết xã hội hay giáo huấn về xã
hội của Giáo hội”. [38] Các vị tiền nhiệm của ngài như Đức Gioan XXIII, Đức Phaolô VI cùng các
nghị phụ Công đồng Vat.II cũng hành động tương tự . [39] Trong tư tưởng của các vị Giáo Hoàng
này cũng như của Công đồng đã nói rõ ý hướng muốn thành đạt điều này là: nhờ hoạt động xã hội
của người kitô hữu, sự hiện diện của Giáo hội phản ánh sự hiện diện của Chúa Kitô, Đấng đang
chuyển hóa những con tim và những cơ cấu bất công do con người tạo ra.
Tiếng gọi này được đặc biệt cảm nghiệm trong hoàn cảnh văn hóa và xã hội của chúng ta ngày
nay. Chính vì vậy, huấn quyền hiện thời của Giáo hội đã ghi khắc vào học thuyết xã hội của Giáo
hội một bước nhảy vọt mới vừa giải thích những thái độ thù nghịch ngày một gia tăng nơi một số
người và thường được chấp nhận một cách thiếu suy xét, vừa làm cho một số người cảm thấy có
trách nhiệm nặng nề khi họ từ khước một công cụ vừa thích đáng cho cuộc đối thoại của Giáo hội
với thế giới, lại vừa hữu hiệu cho việc giải quyết những vấn đề xã hội đương thời.
1/ Chiều kích xã hội của sứ điệp kitô giáo nguyên thủy.

15. Lịch sử cứu độ

Học thuyết xã hội của Giáo hội bắt rễ từ lịch sử cứu độ và có nguồn gốc nơi chính sứ mạng cứu
độ và giải phóng của Đức Kitô và của Giáo hội. Học thuyết này gắn liền với kinh nghiệm đức tin
vào ơn cứu độ và vào sự giải phóng toàn diện dân Chúa mà trước hết đã được mô tả trong các sách
Sáng Thế, Xuất Hành, các sách Tiên Tri và các Thánh Vịnh, và tiếp đến trong chính cuộc đời Chúa
Giêsu và trong các thư của các thánh Tông Đồ . [40]
16. Sứ mạng của Chúa Giêsu.
Sứ mạng của Chúa Giêsu và chứng tá đời sống của Người đã làm nổi bật điều này là phẩm giá
đích thực của con người hệ tại tinh thần được giải thoát khỏi điều ác và được tái sinh nhờ ơn cứu độ
của Đức Kitô. Dầu vậy, có biết bao nhiêu đoạn trong Phúc Âm chứng tỏ Chúa Giêsu đã không thờ ơ
hay xa lạ trước vấn đề nhân phẩm và nhân quyền. Người cũng chẳng thờ ơ hay xa lạ trước những
nhu cầu của những kẻ hèn kém nhất, nghèo khổ nhất và khốn khổ nhất. [41] Ngài đã chống lại sự bất
công, thói giả hình, những lạm dụng quyền hành, lòng ham mê của cải cùng thái độ dửng dưng
trước những đau khổ của người nghèo, chống lại bằng cách gợi lên việc trả lẽ vào ngày chung thẩm
khi Người trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Rõ ràng là Phúc Âm có chứa đựng những chân lý nền tảng đã nhào nặn lên tư tưởng xã hội của
Giáo hội trong suốt cuộc hành trình của Giáo hội qua các thế kỷ. Chẳng hạn chính Chúa Giêsu đã
quả quyết và công bố sự bình đẳng thiết yếu về phẩm giá giữa mọi người nam cũng như nữ, không
phân biệt chủng tộc, quốc gia, cũng không phân biệt dòng giống, văn hóa, cũng chẳng kể đến lập
trường chính trị hay điều kiện xã hội. Sứ điệp của Người còn bao hàm một quan niệm rất con người
xét như là một sinh vật có xã hội tính do chính bản tính của mình, từ đó, giá trị hôn nhân được nhìn
nhận như là hình thức tiên khởi của sự hiệp thông giữa các nhân vị. Từ sự bình đẳng nền tảng về
phẩm giá giữa mọi người cũng như từ tính xã hội bản nhiên của họ, tất nhiên xuất phát yêu cầu mọi
tương giao trong cuộc sống xã hội phải được điều hướng theo những tiêu chuẩn của tình liên đới
hữu hiệu và nhân bản, nghĩa là theo những tiêu chuẩn của đức công bằng, được sinh động và hoàn
thiện bởi đức ái.
Ngoài những giá trị hàm chứa trong Phúc âm, còn có nhiều giá trị khác cũng quan trọng và lụy
thuộc không kém đối với việc tổ chức xã hội, chẳng hạn như: những giá trị cố hữu của một thể chế
hôn nhân đơn nhất và bất khả phân ly là nguồn của mọi sự sống, những giá trị thuộc nguồn gốc và
bản chất của quyền bính được quan niệm và hành xử nhằm phục vụ công ích của một tập thể xã hội,
những giá trị đó đòi hỏi việc trực tiếp thể hiện quyền ở nơi đó và việc hành xử quyền bính vì lợi ích
nơi đó phải hài hòa với lợi ích chung của toàn thể gia đình nhân loại.
17. Sứ mạng của Giáo hội.
Giáo hội được nuôi dưỡng bằng mầu nhiệm Chúa Kitô, hiện thân của Phúc âm. Cũng như Ngài,
Giáo hội rao giảng Tin Mừng về Nước Chúa và kêu gọi người ta trở lại với Chúa để được cứu
độ. [42] Ơn gọi rao giảng Phúc âm này của Giáo hội, nhận lãnh từ Chúa Kitô, tạo nên căn tính của
Giáo hội theo nghĩa sâu xa nhất. Chính do ơn gọi này mà phát sinh những nhiệm vụ, những đường
hướng và năng lực có thể góp phần kiến tạo và củng cố cộng đồng nhân loại theo luật Chúa. [43]
Trong việc giảng dạy và trong đời sống thực hành trong xã hội, Giáo hội ở những thế kỷ đầu và
trong suốt thời Trung Cổ, chỉ có việc áp dụng và triển khai những nguyên tắc và những đường
hướng hàm chứa trong Phúc âm. Phải sống giữa những cơ cấu xã hội trần thế, Giáo hội đã tìm cách
nhân bản hóa những cơ cấu đó theo tinh thần công bằng và bái ái bằng cách kết hợp việc rao giảng
Tin Mừng với những hoạt động bác ái xã hội thích đáng. Các giáo phụ đã lừng danh không những
vì đã kiên quyết bênh vực những người nghèo và những người bị áp bức, mà vì đã khởi xướng
những cơ sở cứu tế (như mở bệnh viện, cô nhi viện, lữ quán), đã đề xuất những quan niệm văn hóa
xã hội khai mào kỷ nguyên của một nền nhân bản mới bắt nguồn nơi Chúa Kitô. Thường đó là
những hoạt động bù đắp những thiếu sót và lấp vào những khoảng trống trong cơ cấu tổ chức xã hội
trần thế, nhưng nó đã chứng tỏ bao hy sinh và sáng tạo nơi những tâm hồn đã thấm nhuần lý tưởng
Phúc âm. Chính nhờ những nỗ lực của Giáo hội mà dần dần người ta đã nhìn nhận tính bất khả xâm
phạm của đời sống con người, sự thánh thiện và tính bất khả phân ly của hôn nhân, phẩm giá của

phụ nữ, giá trị của lao động và của con người cá biệt. Thành quả đó đã góp phần xóa bỏ chế độ nô
lệ thường được coi như thành tố của hệ thống kinh tế xã hội thời Thượng Cổ.
Sự tiến triển dần dần của khoa thần học, trước hết từ các tu viện rồi đến các đại học, đã đưa tới
sự thiết định cách khoa học những nguyên lý nền tảng giúp tổ chức xã hội loài người cách hợp lý.
Đóng góp vào công trình đó có những tên tuổi mãi mãi cần được nhắc nhớ như thánh Thoma thành
Aquino, Phanxico Suârê, Phanxico Victoria và bao tên tuổi khác. Các vị này cùng với bao triết gia
và luật gia tên tuổi khác đã chuẩn bị những tiền đề và cung cấp những phương tiện cần thiết đưa đến
việc hình thành một học thuyết xã hội Kitô giáo như đã được “trình làng” dưới thời Đức Lêô XIII
và được tiếp tục hoàn chỉnh bởi các đấng kế vị của ngài.
Việc khẳng định chiều kích xã hội trong sứ điệp Kitô giáo ngày cáng trở nên khẩn thiết vì
những biến động sâu rộng luôn phát sinh trong xã hội. [44] Đương đầu với những vấn đề xã hội luôn
đặt ra ở mỗi giai đoạn lịch sử, nhưng ngày nay càng trở nên phức tạp và có tính cách toàn cầu, Giáo
hội không thể rời bỏ việc suy tư về phương diện luân lý và mục vụ – đất đứng của Giáo hội – để soi
sáng và định hướng cho những nỗ lực và triển vọng của các dân tộc bằng giáo huấn của mình về xã
hội. Làm thế, Giáo hội chỉ mong sao những sự thay đổi, cả những thay đổi triệt để, do cảnh nghèo
khổ và bất công thúc bách , được diễn ra thế nào để có thể phục vụ lợi ích thực sự cho loài
người. [45]

2/ Việc hình thành một sản nghiệp lịch sử

18. Môi trường văn hóa xã hội
Ở mỗi thời kỳ, học thuyết xã hội của Giáo hội, với những nguyên lý chín chắn, với những tiêu
chuẩn rõ ràng cùng những quy tắc hành động, đã không có và cũng chẳng nên có đường hướng nào
khác hơn là đường hướng dựa vào đức tin và truyền thống của Giáo hội, soi sáng một cách đặc biệt
hoàn cảnh cụ thể của xã hội, nhất là khi ở nơi đó nhân phẩm bị chà đạp.
Trong viễn tượng đó, một viễn tượng đầy tính năng động và lịch sử, tất nhiên đòi hỏi thực chất
của học thuyết xã hội của Giáo hội phải được thể hiện qua tính tương hợp giữa những chỉ dẫn liên
hệ đến những vấn đề của một hoàn cảnh lịch sử nhất định, với những đòi hỏi luân lý của sứ điệp
Phúc âm đòi hỏi cải hóa từ nội tâm mỗi con người và mỗi tập thể xã hội để đạt được sự giải phóng
chân chính và toàn diện . [46]
Song để nắm được tiến trình lịch sử của học thuyết xã hội của Giáo hội, người ta phải nghiên
cứu sâu xa bối cảnh văn hóa xã hội của mỗi văn kiện để có thể hiểu những điều kiện kinh tế, xã hội
và văn hóa từ đó nó đã được xuất bản. Nhờ đó, người ta dễ dàng khám phá ra qua những phát triển
khác nhau đường hướng mục vụ của Giáo hội khi phải đương đầu với một trạng huống xã hội đã
được nghiên cứu đồng thời cũng hiểu được tầm rộng lớn của vấn đề xã hội đó.
Những nguyên lý nền tảng rút ra từ những quan niệm Kitô giáo về con người và về xã hội loài
người cũng như những thẩm định có tính luân lý về những trạng huống xã hội, về những thể chế và
những cơ cấu hiện hữu, làm cho người ta hiểu được ý nghĩa của sự hiện diện có tính cách lịch sử
của Giáo hội giữa lòng đời. Như vậy có thể nói được rằng mỗi văn kiện về học thuyết xã hội là một
điển hình và là một chứng tích về sự hiện diện đó.
19. Những chuyển biến trong thế kỷ XIX
và những cống hiến về mặt tư duy của Giáo hội công giáo.
Người ta phải đặc biệt hồi tưởng lại một tình huống mới lạ đã mở ra ở Châu Âu và một phần
của Mỹ Châu sau cách mạng kỹ nghệ với sự ra chủ nghĩa tự do cạnh tranh, chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội. Trong tình huống đó, rất nhiều người Công giáo thuộc lục địa Châu Âu theo phương
châm luân lý xã hội của Lời Chúa, cùng các giáo huấn cố hữu của các giáo phụ và các nhà thần học
lỗi lạc của thời Trung Cổ, đặc biệt là của Thánh Tôma, đã góp phần làm thức tỉnh lương tâm kitô
hữu trước những bất công trầm trọng xảy ra vào thời đó. Từ đó khởi đầu hình thành một quan niệm
vừa tân tiến vừa sinh động về cách thế mà Giáo hội phải hiện diện và tác động vào đời sống xã hội.

Nhờ đó, người ta hiểu thấu đạt hơn về tầm quan trọng của sự hiện diện của Giáo hội giữa lòng đời
và kiểu cách phục vụ mà Giáo hội phải có trước thời đại mới.
Chính từ những tiền đề đó mà toàn bộ học thuyết xã hội của Giáo hội dần dần được xây dựng
cho đến ngày nay. Như vậy, chính trong viễn tượng đó mà mọi người phải đọc và hiểu giáo huấn
của Giáo hội trong vấn đề liên quan đến xã hội.
20. Đức Lêô XIII,
Vì bận tâm lo “vấn đề thợ thuyền” nghĩa là những vấn đề phát sinh từ tình cảnh thảm khốc mà
giới vô sản công nghiệp phải gánh chịu, đã cho ra đời thông điệp “Tân sự” (RN) (1891), một bản
văn chất chứa lòng dũng cảm và tinh thần sáng suốt được coi như là bước khởi đầu cho học thuyết
xã hội của Giáo hội sẽ được triển khai bằng những văn kiện tiếp theo của huấn quyền Giáo hội.
Trong thông điệp này, Đức Lêô XIII trình bày những nguyên tắc mang tính cách giáo lý có thể sử
dụng để chữa trị “cái hiểm họa xã hội” (le mal social) đang tiềm ẩn trong những “điều kiện sinh
sống của thợ thuyền” [47] .
Sau khi liệt kê những sai lầm dẫn đến cảnh “cùng khốn không chịu nổi” của giới vô sản và
khước từ chủ nghĩa xã hội như một “diệu pháp” cho “vấn đề thợ thuyền”, thông điệp “Tân sự” định
rõ và đem vào thực hành giáo lý công giáo về lao động, về quyền tư hữu, về nguyên tắc hợp tác đối
lập với đấu tranh giai cấp. Những điểm giáo lý này được coi là nền tảng cho mọi đổi thay trật tự xã
hội, để bênh vực quyền lợi của kẻ yếu, để bảo vệ phẩm giá của người nghèo, để nêu rõ trách nhiệm
của người giàu, để làm hoàn hảo đức công bình bằng tình bác ái, để đảm bảo quyền được thành lập
các nghiệp đoàn.
21. Đức Piô XI.
Bốn mươi năm sau, khi sự phát triển của một xã hội kỹ nghệ hóa đã đưa tới sự tập trung thế lực
và quyền hành ngày càng căng thẳng trong một xã hội chỉ chú trọng về kinh tế và vì thế cuộc đấu
tranh giai cấp cũng trở nên ác liệt, Đức Piô XI cảm thấy có nghĩa vụ và trách nhiệm phải giúp người
ta am tường hơn, phải đưa ra những giải thích chính xác hơn, phải chỉ rõ hơn những áp dụng cấp
bách Luật luân lý [48] điều hướng mọi tương quan giữa người với người trong lãnh vực kinh tế – xã
hội với mục đích giúp loài người vượt qua mọi mâu thuẫn giữa các giai cấp và tiến tới trật tự xã hội
mới được xây dựng trên nền tảng công bình và bác ái. Chính nhờ ở sự quan tâm đến bối cảnh lịch
sử mới mẻ này mà thông điệp “Bốn mươi năm qua” (QA) của Đức Piô XI đã đem lại những cảm
quan mới. Sự chú tâm đã mở ra cái nhìn toàn cảnh về một xã hội kỹ nghệ và sản xuất, nhìn nhận sự
tất yếu là phải có cả tư bản cũng như lao động mới có sản xuất và tổ chức kinh tế. Thiết định những
điều kiện cho việc xây dựng trật tự xã hội, tìm cho ra điểm mấu chốt của những vấn đề trọng yếu để
có tể đương đầu với những chuyển biến to lớn “đi kèm theo sự phát triển mới của nền kinh tế và của
chủ nghĩa xã hội”, [49] không do dự chọn lập trường trước những thử nghiệm được tiến hành trong
những năm đó để vượt trên những mâu thuẫn xã hội nhờ hệ thống tổ chức nghiệp đoàn, đồng thời
bày tỏ sự hậu thuẫn cho những nguyên tắc của tình liên đới và sự hợp tác đã gợi hứng cho cảm thức
trên, nhưng cảnh cáo rằng sự không tôn trọng tự do lập hội và tự do hành động có thể làm hư hỏng
kết quả mong muốn.
22. Đức Piô XII.
Trong suốt thời gian dài trên ngôi giáo hoàng, Đức Piô XII đã không ban bố một thông điệp xã
hội nào. Nhưng, luôn khớp với giáo lý của các vị tiền nhiệm, ngài đã lên tiếng một cách có thẩm
quyền về những vấn đề xã hội trong thời ngài qua hàng loạt bài diễn văn phong phú. Trong số đó,
những thông điệp truyền thanh của ngài có tầm mức quan trọng đặc biệt qua đó ngài đã xác định, đã
phát biểu và đòi phải có những nguyên tắc luân lý xã hội nhằm cổ võ sự tái thiết sau những đổ nát
của cuộc thế chiến thứ hai. Nhờ tính nhậy bén và trí thông minh của ngài trong cách đón nhận “thời
điềm”, Đức Piô XII có thể được coi là người tiên phong liền ngay trước Công đồng Vat.II đồng thời
có ảnh hưởng trực tiếp đến giáo huấn xã hội của các vị giáo hoàng liên tiếp kế vị ngài. Những điểm
then chốt mà ngài chú tâm để cụ thể hóa học thuyết xã hội và áp dụng học thuyết đó vào những vấn

đề xã hội của thời ngài là những điểm chính yếu sau đây: của cải vật chất và quyền sử dụng của cải
đó thuộc quyền mọi người; quyền lợi và nghĩa vụ của giới công nhân và chủ nhân; chức năng của
nhà nước trong các hoạt động kinh tế; sự cần thiết phải có sự hợp tác quốc tế để xây dựng xã hội
công bằng hơn và đảm bảo hòa bình; phải tôn trọng quyền lợi như quy luật điều hướng mọi tương
quan giữa các giai cấp và các dân tộc; lương căn bản cho đời sống gia đình. [50]
Trong thời gian chiến tranh cũng như sau chiến tranh giáo huấn xã hội của Đức Piô XII đã
truyền đạt đến nhiều dân tộc trên khắp các lục địa đến với hàng triệu người tín hữu hoặc vô tín và
gợi lên trong họ tiếng nói của lương tâm phổ quát được giải thích và phát biểu căn cứ trên Lời
Chúa.
Nhờ thế giá đạo đức và uy danh của cá nhân ngài, Đức Piô XII đã đem ánh sáng của sự khôn
ngoan Kitô giáo đến với biết bao người thuộc mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội như giới cầm
quyền, giới trí thức, những người hành nghề tự do, giới kinh doanh, kỹ thuật gia và giới thợ thuyền.
Với lòng mong ước sao cho mọi người biết nhìn nhận các giá trị đã được công bố qua thông
điệp “Tân sự”, [51] Đức Piô XII không ngừng theo đuổi việc giáo dục lương tâm đạo đức và xã hội
để soi sáng cho hành động của các dân tộc và các quốc gia. Thông qua ngài, một luồng sinh khí thổi
tràn trên Giáo hội, luồng sinh khí của Thánh Thần tác sinh, như chính ngài đã nói thế về thông điệp
“Rerum Novarum”, và luôn đổ tràn trên toàn thể nhân loại cách rộng lượng. [52]
23. Đức Gioan XXIII
Sau thế chiến lần thứ hai, Giáo hội bị đặt vào trong một tình huống mới xét theo nhiều phương
diện. “Vấn đề xã hội” trước đây chỉ hạn hẹp trong giai cấp thợ thuyền, bỗng trở thành một vấn đề
phổ quát bao gồm mọi giai cấp, ở mọi nơi và có tính toàn cầu mà nổi bật hơn cả là thảm cảnh của
những nước được gọi là “thế giới thứ ba”. Cái “vấn đề thời đại mới” này trở thành đối tượng thu hút
những suy tư và hoạt động mục vụ của Giáo hội và cả đến giáo huấn xã hội của Giáo hội nữa. Thật
vậy, thông điệp “Mẹ và Thầy” Mater et Magistra (1961) của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nhằm
cập nhật hóa các văn kiện trước đó, đồng thời bước thêm một bước đi tới bao gồm toàn thể cộng
đồng Kitô giáo. [53] Đụng chạm đến những mặt mới của “vấn đề xã hội” [54] vừa có tính thời sự
vừa có tầm mức rất quan trọng, văn kiện mới này đã tố giác sự bất bình đẳng hiện hữu chẳng những
giữa những khu vực kinh tế khác nhau mà còn có giữa những nước và những miền đất khác nhau,
đồng thời thông điệp cũng cảnh cáo trước hiện tượng nhân mãn và kém mở mang. Vấn đề này đòi
hỏi phải có sự hòa hợp và tình liên đới giữa các dân tộc, nếu không sẽ dẫn tới những “thảm trạng
bất kham” nhất là trong thế giới thứ ba
Cũng chính Đức Gioan XXIII, đứng trước hiểm họa có thể bùng nổ chiến tranh mới, chiến
tranh hạt nhân, sau khi đã gởi một thông điệp quan trọng cho các dân tộc và các nhà lãnh đạo quốc
gia, vào lúc gay go nhất cả thời kỳ khủng hoảng, ngài đã ban hành thông điệp “Hòa bình trên thế
giới” (Pacem in Terris) (1963). Đây là lời kêu gọi khẩn thiết phải xây dựng hòa bình, một nền hòa
bình đặt nền tảng trên sự tôn trọng những đòi hỏi luân lý mà mọi tương quan giữa mọi người và các
giá trị quốc gia với nhau đều phải tuân thủ.
Văn pháp và ngôn từ trong các thông điệp của Đức Gioan XXIII đã làm cho học thuyết xã hội
của Giáo hội mang một tính năng mới có thể tiến tới và tiếp cận những tình huống mới nhưng
không vì thế mà gián đoạn với truyền thống. Người ta không thể gọi đó là “thay đổi thuật ngữ”.
Hiển nhiên là có những khuynh hướng tán dương những giá trị thực nghiệm và xã hội học nhưng
đồng thời cũng nhấn mạnh đến động lực thần học của học thuyết xã hội. Điều này càng hiển nhiên
nếu đem so sánh với các văn kiện về trước đầy dẫy những suy tư triết học cùng với luận chứng dựa
trên các nguyên tắc về quyền tự nhiên. Rõ ràng là những nhân tố đã góp phần sản sinh những thông
điệp xã hội của Đức Gioan XXIII là những biến đổi triệt để đã diễn ra trong lòng các quốc gia cũng
như đã diễn ra trong tương quan giữa các quốc gia với nhau, cũng phải kể đến những chuyển biến
trong các lãnh vực “khoa học, kỹ thuật và kinh tế” cũng như trong lãnh vực xã hội và chính trị. [55]
Thêm vào đó, thời kỳ này còn xuất hiện nhiều hiện tượng đáng quan ngại. Trước hết phải kể
đến những thành tựu của một nền kinh tế được phục hồi sau thế chiến. Chủ nghĩa lạc quan mà nền
kinh tế phát triển đó đem lại cản trở không cho người ta sớm quan tâm đến những mâu thuẫn của

một hệ thống kinh tế dựa trên sự phát triển không đồng đều của các miền đất khác nhau trên thế
giới. Hơn nữa, vào những năm cuối của thập kỷ mà tiến trình giải trừ thuộc địa đang thực hiệm ở
nhiều nước thuộc thế giới thứ ba người ta ghi nhận là để thay thế chủ nghĩa thực dân còn tồn tại đến
lúc đó, đã xuất hiện một kiểu thực dân khác, chủ nghĩa thực dân kinh tế. Sự kiện này đã tác động
mạnh vào ý thức và đã gây nên một phong trào bạo động, đặc biệt ở Châu Mỹ La tinh, nơi đang
diễn ra cuộc chiến đấu chống lại những bất bình đẳng trong vấn đề phát triển kinh tế và chống lại
chế độ thuộc địa kiểu mới, dưới nhiều dạng khác nhau. Tiếp theo sau đó, “phong trào giải phóng”
này đã cưu mang và sản sinh ra nhiều trào lưu mệnh danh “Thần học giải phóng”. Về vấn đề này,
Tòa Thánh đã công khai bày tỏ lập trường của mình . [56]
24. Công đồng Vat.II
Bốn năm sau ngày công bố Thông Điệp “Mẹ và Thầy” (MM), hiến chế mục vụ “Vui Mừng và
Hy Vọng” (Giáo hội trong thế giới ngày nay) của Công đồng Vat.II ra đời. Giữa hai văn kiện này,
dù chỉ có khoảng thời gian ngắn để nhận định những chuyển biến đầy đủ ý nghĩa trong thực tại lịch
sử, nhưng con đường học thuyết xã hội của Giáo hội đã trải qua thật là đáng kể để đạt tới văn kiện
mới này. Thật vậy, Công đồng biết rất rõ rằng thế giới đang chờ đợi ở Giáo hội một sứ điệp mới mẻ
và phấn khích. Công đồng đã đáp ứng niềm mong đợi đó bằng Hiến chế mục vụ nói trên. Hiến chế
này hòa điệu với công cuộc canh tân Giáo hội học đã phản ánh một quan niệm mới mẻ về cộng
đồng tín hữu và về dân Thiên Chúa. Như vậy, Hiến Chế Công đồng đã khơi dậy mối quan tâm mới
đối với giáo huấn đã được khai triển trong các văn kiện trước đó, đó là vấn đề đời sống chứng tá của
các kitô hữu được coi là đường lối chân chính làm cho người ta nhận biết sự hiện diện của Thiên
Chúa trong thế gian.
Về mặt xã hội, giải pháp của Giáo hội được bày tỏ qua Công đồng được cụ thể hóa bằng trình
bày một quan niệm năng động hơn về con người, về xã hội, và đặc biệt về đời sống kinh tế xã hội
dựa trên căn nản những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế cùng sự giải thích đúng đắn về chiều hướng
phát triển kinh tế. Theo một chương của Hiến chế “Vui mừng và Hy vọng” bàn riêng về vấn đề này,
thì việc loại trừ những bất bình đẳng về mặt kinh tế, xã hội thật ra chỉ có thể dựa trên căn bản duy
nhất là sự nhận thức đúng đắn về phát triển kinh tế. Cách lý giải về thực tại xã hội có tính toàn cầu
này đã đánh dấu một bước ngoặt căn bản trong quá trình biến hóa học thuyết xã hội của Giáo hội:
học thuyết này không còn chỉ giới hạn trong phạm trù kinh tế, xã hội của hai hệ thống chính yếu là
Tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, nhưng được khai mở đến một quan niệm mới đó là quan
niệm phát triển về chiều kích kép. Thật vậy, một quan niệm như thế nhằm thăng tiến lợi ích của con
người toàn diện nghĩa là phải “quan tâm tới mọi nhu cầu của con người về mặt vật chất cũng như
những đòi hỏi của đời sống tinh thần luân lý, tu đức và tôn giáo”. Chỉ trong chiều hướng đó người
ta mới vượt qua được những mâu thuẫn có tính cách cổ điển giữa giới sản xuất và giới tiêu thụ cùng
mọi thứ kỳ thị đang xúc phạm thô bạo tới phẩm giá của toàn thể gia đình nhân loại. [57]
Trong viễn tượng đó, người ta khám phá ra rằng tự căn đế của tất cả những gì mà Công đồng
khẳng định khi bàn về vấn đề liên quan tới đời sống kinh tế xã hội, có hàm chứa một quan niệm
nhân bản chân chính về vấn đề phát triển. Trong Hiến chế “Vui mừng và Hy vọng” (GS), Giáo hội
đã chứng tỏ cho thấy tính bén nhạy sâu sắc của mình khi ý thức ngày càng mạnh về những bất bình
đẳng và những bất công đang đè nặng trên nhân loại; đặc biệt đối với những vấn đề thuộc thế giới
thứ ba. Trong học thuyết xã hội của Giáo hội nhằm chống lại mọi kỳ thị kinh tế xã hội, người ta
thấy nổi bật lên đường hướng kinh tế vừa có tính nhân vị vừa có tính cộng đồng mà trong đó chiếm
vị trí hàng đầu là con người phải được coi là cùng đích, là chủ thể đồng thời là vai chính của công
cuộc phát triển.
Đây là lần đầu tiên người ta thấy một văn kiện huấn quyền Giáo hội đã mô tả mọi khía cạnh của
đời sống kitô hữu trực tiếp liên quan đến những vấn đề trần thế một cách đầy đủ như thế. Người ta
phải nhìn nhận rằng sự chú tâm của văn kiện đối với những vấn đế có liên quan đến những thay đổi
về mặt xã hội, kinh tế, chính trị, luân lý và tôn giáo, từ hơn 20 năm nay đã càng ngày càng kích
thích mối ưu tư mục vụ của Giáo hội đối với những vấn đế của con người và đối thoại với thế giới.

25. Đức Phaolô VI.
Chỉ ít năm sau Công đồng, Giáo hội lại cống hiến cho nhân loại những suy tư vừa mới mẻ vừa
có tầm mức quan trọng trong vấn đề xã hội qua thông điệp “Sự phát triển của các dân tộc” (PP)
(1967) của Đức Phaolô VI. Thông điệp này được coi như một triển khai của chương nói về đời sống
kinh tế xã hội trong Hiến chế “Vui mừng và hy vọng” đồng thời cũng xem xét thêm một vài khía
cạnh mới có ý nghĩa.
Thật vậy trong một thời gian ngắn đã thấy có sự gia tăng ý thức về những bất bình đẳng đã tạo
mọi thứ kỳ thị và đã làm cho nhiều nước trong thế giới thứ ba lâm cảnh thiệt thòi vì bất công hay bị
gạt ra lề con đường phát triển. Vấn đề càng trở nên trầm trọng do những trạng huống đặc biệt như
sự gia tăng tình trạng mất quân bình cố hữu giữa những nước nghèo và những nước giàu cùng với
sự gia tăng dân số ở các nước thuộc thứ ba. Công cuộc phân tích tình trạng kém mở mang và những
nguyên nhân đưa đến tình trạng đó đã gây nên nỗi phẫn uất và làm nảy nở cuộc chiến chống lại bất
công ở nhiều vùng (miền) cũng như nơi những dân tộc nghèo khổ nhất hoặc bị lãng quên nhiều
nhất.
Chính trong bối cảnh lịch sử mới mẻ này, nơi diễn ra những cuộc xung khắc xã hội có tầm mức
toàn cầu [58] mà thông điệp “Sự phát triển các dân tộc” (PP) muốn soi dọi vào. Thông điệp này cho
người ta hiểu được mọi chiều kích của công cuộc phát triển toàn diện của con người cũng như công
cuộc phát triển có tính liên đới của toàn thể nhân loại. Người ta có thể nhận ra rằng toàn thể nội
dung của thông điệp được kết cấu xoay quanh hai đề tài chủ chốt trên đây. Để thuyết phục những
đối tượng của mình, [59] Đức Giáo Hoàng đã trình bày sự phát triển như một sự “vượt qua những
điều kiện sống kém nhân bản đến những điều kiện sống nhân bản hơn” và ngài đã định tính rõ về
từng loại: những điều kiện sống kém nhân bản được nhận diện rõ ràng trong sự thiếu thốn của cải
vật chất, trong đời sống luân lý kém cỏi và trong những cơ chế áp bức. Những điều kiện sống nhân
bản đòi hỏi phải có sự sở hữu những điều cần yếu, có kiến thức và có văn hóa, biết tôn trọng phẩm
giá của kẻ khác, biết nhìn nhận những giá trị tối thượng, biết nhìn nhận Thiên Chúa, và sau hết phải
có đời sống Kitô giáo của đức tin, đức cậy và đức mến. [60]
Theo Đức Giáo Hoàng, sự “vượt qua” những điều kiện sống kém nhân bản đến những điều kiện
sống nhân bản hơn không chỉ giới hạn trong lãnh vực thuần túy trần tục mà còn phải gợi hứng cho
suy tư thần học về công cuộc giải phóng khỏi sự bất công và về những giá trị chân chính. Thiếu
những điều đó không thể có sự phát triển xã hội đúng nghĩa. học thuyết xã hội của Giáo hội hiểu
như thế là một sự thông mở đưa tới sự phản tỉnh luân lý ngày càng sâu xa và thăng tiến.
Chỉ bốn năm sau ngày chào đời của thông điệp “Sự phát triển của các dân tộc”, Đức Phaolô VI
lại công bố một thư chung “Đã tám mươi năm” Octogesima Adveniens (1971). Đó là dịp kỷ niệm
lần thứ tám mươi ngày chào đời của thông điệp “Tân sự” (RN), nhưng qua đó, Đức Giáo Hoàng đã
phóng tầm nhìn bao quát cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Ở thế giới Tây Phương kỹ nghệ hóa đã
nảy sinh nhiều vấn đề mới, những vấn đề mà người ta gọi chung là của “xã hội hậu kỹ nghệ” mà
giáo huấn xã hội của Giáo hội cũa phải thích ứng cho hợp với nó. Thư chung “Đã tám mươi năm”
(OA) như khai mào một suy tư mới nhằm lĩnh hội chiều kích chính trị của cuộc sống và sự “nhập
cuộc” của Kitô giáo và như thư chung này đã kích thích óc phê bình đối với những ý thức hệ cũng
như những “chủ nghĩa lý tưởng” đang “núp bóng” những hệ thống kinh tế chính trị hiện hành. 
26. Đức Gioan Phaolô II.
Mười năm sau (1981), Đức Gioan Phaolô II đã nhập cuộc với thông điệp “Lao động của con
người” Laborem Exercens. Thập niên vừa trải qua này đã để lại một dấu ấn trong lịch sử thế giới
cũng như trong lịch sử của Giáo hội. Theo ý nghĩ của Đức Giáo Hoàng, người ta đã dễ dàng nhận ra
lưu lượng của những chuyển biến mới mẻ đã diễn ra. Nếu những năm đầu của thập kỷ bảy mươi đã
làm cho người ta ý thức ngày càng sâu sắc trước vấn đề của những nước kém phát triển và những
bất công nảy sinh từ tình trạng đó, thì vào khoảng giữa thập niên ấy cũng đã bộc lộ những triệu
chứng đầu tiên của cuộc khủng hoảng sâu xa hơn bùng lên từ những mâu thuẫn tiềm tàng trong hệ
thống tiền tệ và kinh tế thế giới mà dấu hiệu đặc trưng là sự tăng vọt giá dầu lửa. Trong tình hình
đó, thế giới thứ ba, để đương đầu với các nước phát triển Phương Tây cũng như với các nước thuộc

khối xã hội chủ nghĩa về phía Đông, đã đòi cải tổ hệ thống tiền tệ và phương thức thương mại để
quyền lợi của những nước nghèo được tôn trọng và đảm bảo sự công bằng trong mọi quan hệ kinh
tế. Đang lúc có sự gia tăng bất bình ở những nước thuộc thế giới thứ ba, thì một số nước lên tiếng
phụ họa kêu khốn, đòi phải có công bình hơn trong việc phân phối lợi tức của thế giới.
Toàn bộ hệ thống phân phối lao động quốc tế cùng cơ cấu kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng
trầm trọng, từ đó người ta đòi hỏi một cuộc cải tổ triệt để những cơ cấu đã đẩy đưa đến tình trạng
phát triển kinh tế bất bình đẳng như thế.
Trước những vấn đề mới mẻ và phức tạp đó, Đức Gioan Phaolô II đã viết ra thông điệp “Lao
động của con người” (LE) nhân kỷ niệm 90 năm thông điệp “Tân sự” (RN). Thông điệp mới này
cũng tiếp tục truyền thống huấn quyền nhưng không vì thế mà mất tính cách độc đáo của nó [61]
xét về mặt phương pháp luận và văn pháp cũng như về nhiều khía cạnh của giáo huấn có liên hệ đến
những vấn đề có tính cách thời sự, dựa theo những pháp kiến của Đức Phaolô VI. Văn kiện này
được viết theo hình thức của một huấn từ trực tiếp nhắn nhủ mọi kitô hữu, khuyến khích họ nhập
cuộc vào công việc cải tạo những hệ thống kinh tế xã hội hiện hữu, và nó mở ra cho họ đường
hướng rõ ràng dựa trên căn bản là phải quan tâm hàng đầu đến lợi ích toàn diện của con người. Khi
vạch rõ rằng điểm “mấu chốt” của toàn bộ “Vấn đề xã hội” chính là “Lao động của con người”, [62]
được coi là điểm qui chiếu thích đáng nhất để phân tích toàn bộ vấn đề xã hội. thông điệp đã làm
phong phú thêm “di sản” của học thuyết xã hội của Giáo hội. thông điệp bắt đầu từ “lao động” xét
như chiều kích căn bản của đời sống con người để bàn tới mọi vấn đề khác của đời sống kinh tế xã
hội, mà không bỏ qua mặt văn hóa và kỹ thuật. [63]
Vì thế mà thông điệp “Lao động của con người” (LE) khởi sự duyệt xét lại cách cặn kẽ về ý
nghĩa của lao động mà tự nó đòi hỏi một sự tái phân phối sao cho công bằng hơn không những về
lợi tức và của cải, mà còn về chính việc lao động để mỗi người đều có đủ của cải cần thiết. Để đạt
được mục đích đó, phải giúp xã hội nhận ra sự cần thiết phải tiết kiệm trong viêu dùng, phải trở lại
với những đức tính tiết độ và liên đới, phải biết tự chế, hy sinh thực sự mới mong thoát khỏi cơn
khủng hoảng hiện thời, đây chính là một sơ xuất quan trọng vừa mới được Bộ Giáo lý Đức tin biểu
đồng tình. [64] Đề xuất này không chỉ có giá trị cho mỗi dân tộc riêng lẻ mà còn giúp ích cho các
mối quan hệ giữa các quốc gia.
Hiện tình thế giới đòi hỏi phải tôn trọng những nguyên tắc và những giá trị căn bản không thể
thay thế được: thực vậy, nếu không có sự tái khẳng định phẩm giá con người và những quyền của
nó, nếu như không có tình liên đới giữa các dân tộc, nếu như không có công bằng xã hội và một ý
thức mới về lao động, thì đừng nói tới sự phát triển đúng nghĩa mang tình nhân bản, cũng chẳng
mong gì có một trật tự mới trong đời sống cộng đồng xã hội.
Ngày 30/12/1987, nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai mươi ngày ban bố thông điệp “Sự phát triển
của các dân tộc”, Đức Gioan Phaolô II lại cho công bố thông điệp “Mối ưu tư về vấn đề xã hội” mà
trọng điểm xoay quanh khái niệm về sự phát triển như đã được bàn tới trong thông điệp của Đức
Phaolô VI trước đây. Chính dưới ánh sáng của giáo huấn có giá trị vượt thời gian của thông điệp
“Sự phát triển của các dân tộc” (PP) mà ở khoảng cách 20 năm sau, Đức Giáo Hoàng đã muốn xem
xét lại hiện tình thế giới dưới góc độ này với mục đích cập nhật hóa và tìm hiểu sâu xa hơn khái
niệm về phát triển, để sự phát triển đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của giờ phút hiện tại và thực sự
phù hợp với tầm cỡ của con người.
Hai chủ đề căn bản của thông điệp “Sollicitudo Rei Socialis” là: một mặt, tình trạng bi thảm của
thế giới hiện đại xét dưới góc độ thiếu phát triển trong thế giới thứ ba, và một mặt khác là ý nghĩa,
những điều kiện và những đòi hỏi của một sự phát triển xứng với con người.
Trong số những nguyên nhân gây ra tình trạng kém phát triển phải kể đến sự chênh lệch cố hữu
và đồng thời ngày càng tăng giữa Bắc và Nam, sự đối nghịch giữa hai khối Đông và Tây và từ đó
đưa tới cuộc chạy đua vũ trang, sự buôn bán vũ khi và những chướng ngại đủ loại mang tính chất
chính trị đã cản trở những quyết định đưa tới sự hợp tác và liên đới giữa các quốc gia. Người ta
cũng không quên thêm vào bối cảnh phức tạp trên vấn đề gia tăng dân số. Nhưng mặt khác người ta

cũng phải nhìn nhận đã đạt được một vài tiến bộ trong lãnh vực phát triển cho dù những tiến bộ đó
còn bấp bênh, có giới hạn và chưa tương xứng so với đòi hỏi của thực tế.
Còn về chủ đề căn bản thứ hai đề cập đến bản chất của sự phát triển, thông điệp đã cung cấp
những soi sáng giúp phân biệt giữa “tiến bộ vô giới hạn” và sự phát triển. Từ đó, thông điệp khẳng
định sự phát triển đúng nghĩa không chỉ thuần túy là làm ra của cải và cung cấp nhiều dịch vụ,
nghĩa là chỉ chú trọng tới cái “mình có”, nhưng sự phát triển phải giúp đạt tới sự sung mãn của
“nhân tính” (chính là “cái mình là"). Như thế, thông điệp đã xác định một cách rõ ràng bản chất
luân lý của sự phát triển. Phương diện quan trọng này được đào sâu nhờ ánh sáng của nguồn Mạc
khải và Thánh truyền của Giáo hội. Bằng chứng về tính luân lý này của sự phát triển là việc thông
điệp nhấn mạnh đến mối liên kết giữa việc bảo vệ triệt để mọi quyền của con người (kể cả quyền tự
do tôn giáo) với công cuộc phát triển đích thực của con người và của các dân tộc.
Thông điệp cũng phân tách những trợ lực đủ loại về mặt luân lý đối với công cuộc phát triển
("những cơ cấu xấu xa”, óc duy lợi, lòng ham hố quyền hành) đồng thời cũng phân tích những
đường lối chính đáng giúp vượt qua những trở lực đó như lòng mong ước. Nhân đó, thông điệp
cũng khuyến cáo cần phải nhìn nhận sự tương thuộc giữa các cá nhân cũng như giữa các dân tộc.
Phải sống liên đới như một nhân đức cần có, phải sống bác ái, nhất là các kitô hữu. Nhưng trước hết
đòi hỏi phải hoán cải con tim.
Sau cùng thông điệp còn chỉ ra những đường lối đặc thù khác giúp đương đầu với tình huống hiện
tại, đồng thời cũng lưu ý mọi người về tầm quan trọng của học thuyết xã hội của Giáo hội, của giáo
huấn Giáo hội và của việc phổ biến giáo huấn đó trong giai đoạn hiện tại.
27.Cái nhìn toàn cảnh về học thuyết xã hội của Giáo hội trên đây cho ta hiểu được học thuyết đó
rất phức tạp, phong phú, năng động đồng thời cũng rất giới hạn. Mỗi văn kiện đánh dấu một bước
tiến của Giáo hội trong cố gắng giải đáp những vấn đề của xã hội ở từng giai đoạn lịch sử: qua mỗi
văn kiện, cần phải làm nổi bật mối ưu tư mục vụ của Giáo hội là đề xuất cho cộng đoàn Kitô giáo
và cho tất cả những người thiện chí những nguyên tắc căn bản, những tiêu chuẩn phổ quát và những
đường hướng giúp họ biết lựa chọn cách chín chắn và đi tới hành động thực tiễn cho khớp với mỗi
tình huống cụ thể. Giáo huấn này “không thể gọi là 'con đường thứ ba' giữa tư bản chủ nghĩa tự do
và tập thể chủ nghĩa theo kiểu Macxít, lại càng không thể được coi như một khả năng khác trong số
những giải pháp 'nửa vời'”, [65] nhưng phải được coi như dịch vụ vô vị lợi mà Giáo hội muốn cống
hiến cho mọi người trước những đòi hỏi cấp thiết tùy nơi và tùy lúc. Việc làm nổi bật chiều kích
lịch sử như thế chứng tỏ học thuyết xã hội của Giáo hội, khi trình bày các mạch lạc và rõ ràng
những nguyên tắc chính yếu của mình, không thể được coi như là một hệ thống trừu tượng đã dừng
lại đó và cố định mãi mãi, nhưng chính là một hệ thống cụ thể, năng động và mở rộng. Thật vậy, sự
chú tâm đến thực tại và ơn linh hứng từ phúc âm đã cho phép Giáo hội đề ra một giải pháp trước
những chuyển biến không ngừng trong các lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, kỹ thuật và văn hóa.
Như vậy, học thuyết xã hội của Giáo hội là một công trình còn phải được tiếp tục mãi mãi, phải mở
ra trước những thúc bách của thực tại mới và những vấn đế mới xuất hiện trong các lãnh vực đó.
28. Những văn kiện mới nhất.
Những thay đổi trong xã hội đòi phải đánh giá những vấn đề mới về mặt luân lý đồng thời đề ra
giải pháp thích đáng, hợp thời và chín chắn. Đó là điều đã xảy ra chẳng hạn trong những vấn đề về
nguồn tư hữu, việc tập thể hóa (xã hội hóa), vấn đề đồng quản trị, vấn đề kém mở mang thuộc thế
giới thứ ba, sự cách biệt gia tăng giữa các nước nghèo và các nước giàu,vấn đề phát triển kinh tế xã
hội, ý nghĩa của lao động, vấn đề nợ nần quốc tế, vấn đề những kẻ không nhà, và hiện tình của hôn
nhân gia đình, về phẩm giá phụ nữ, về việc tôn trọng đời sống con người và về việc sinh sản.
Những văn kiện mới nhất của Giáo hội đều toát lên tính nhạy cảm sâu sắc theo thần Phúc âm khi
phải đối diện với những vấn đề xã hội mới lạ như thế . [66]
Theo đường hướng của Công đồng Vat.II, [67] học thuyết xã hội của Giáo hội, vì được kết
thành với những yếu tố “vừa có thường, vừa có biến”, [68] nên vẫn tiếp tục con đường lịch sử của

mình, càng ngày càng phong phú nhờ sự góp phần của mọi phần tử của Giáo hội. Trên con đường
đã vạch ra, giáo huấn của Giáo hội vẫn tích lũy thêm nhiều cống hiến mới qua những văn kiện
chính thức của mình nhờ kết hợp sự chủ tâm đến chiều kích lịch sử với bổn phận thiêng liêng là
không làm suy yếu tính chắc chắn và bền vững của những nguyên tắc và những tiêu chuẩn nền tảng,
đồng thời cũng nhớ mời gọi mọi người hành động thích đáng.
Trên con đường dài này, Giáo hội tiếp tục cụ thể hóa những giáo huấn và những giá trị của học
thuyết xã hội của mình bằng đề xuất những nguyên tắc soi sáng tu duy, nêu rõ những giá trị cố hữu,
cung cấp những tiêu chuẩn để đánh giá, và những chỉ dẫn để hành động . [69]

 III.  NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ GIÁ TRỊ BỀN VỮNG 
29.Trong chương này, chúng ta đề cập đến những “nguyên tắc vững bền” và những giá trị nền
tảng không bao giờ được bỏ qua trong khi dạy về học thuyết xã hội của Giáo hội. Sau đó trong phần
phụ lục, sẽ trình bày một lược đồ về chương trình giảng dạy, khả dĩ có thể thích ứng được với
những yêu cầu cụ thể của từng Giáo hội địa phương.

1. Những nguyên tắc vững bền để suy tư.

30. Những nguyên tắc sau đây không phải đã được Giáo hội trình bày có hệ thống trong một văn
kiện duy nhất, nhưng đã được trình bày xuyên suốt quá trình lịch sử hình thành học thuyết xã hội.
Những nguyên tắc này được thu thập từ tất cả các văn kiện khác nhau mà huấn quyền Giáo hội với
sự cộng tác của các Giám mục, Linh mục và giáo dân có kiến thức và có kinh nghiệm, [70] đã soạn
thảo để đương đầu với nhiều vấn đề xã hội lần lượt xuất hiện trong lịch sử.
Tất nhiên tài liệu này không phải là và cũng không muốn là một bản tổng hợp mới hoặc một
cuốn giáo khoa về những nguyên tắc nói trên, nhưng chỉ đơn giản là một bản tập hợp những đường
nét xét ra phù hợp cho việc giảng dạy.
Tài liệu này cũng không phải là một bản trình bày đầy đủ các nguyên tắc, mà chỉ là một bản chỉ
dẫn những nguyên tắc nào được coi là quan trọng nhất và do đó đáng quan tâm đặc biệt trong việc
đào tạo các Linh mục tương lai.
Trong số những nguyên tắc này, có những nguyên tắc được coi như nền tảng, đó là những
nguyên tắc liên hệ đến nhân vị, công ích, sự liên đới, việc tham gia. Còn những nguyên tắc khác thì
hoặc gắn liền hoặc phát xuất từ những nguyên tắc nền tảng trên.
31. Nhân vị
Phẩm vị con người căn cứ vào việc con người được Thiên Chúa sáng tạo theo hình ảnh và như
họa ảnh của Thiên Chúa, lại được nâng lên tới cùng đích siêu nhiên vượt trên cuộc sống trần thế
này. Như thế, vì có trí tuệ và tự do, có quyền lợi và nghĩa vụ, con người là nguyên tắc hàng đầu, và
có thể nói là trái tim và linh hồn của việc giảng dạy học thuyết xã hội của Giáo hội. [71] “Những
người tin và những người không tin hầu như cùng ghi nhận rằng hết thảy mọi sự hiện hữu trên trái
đất này đều phải quy chiếu về con người là trung tâm và là chóp đỉnh của trái đất”. [72] Chính
nguyên tắc mang tầm vóc nhân học này tạo thành nguồn phát sinh những nguyên tắc khác, làm nên
phần chính của học thuyết xã hội. Con người – nhân vị là chủ thể và là trung tâm của xã hội, một xã
hội với những cơ cấu, tổ chức và chức năng của nó, có mục đích tạo điều kiện kinh tế, văn hóa và
không ngừng thích nghi những điều kiện đó sao cho phù hợp với con người – với càng đông càng
tốt – để họ có thể phát triển tài năng và thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng là được hoàn thiện và
hạnh phúc. Vì lý do đó, Giáo hội không hề mỏi mệt nhấn mạnh đến phẩm vị con người, chống lại
mọi tình trạng nô lệ, bóc lột và mưu đồ gây thiệt hại cho con người không những trong lãnh vực
chính trị, kinh tế mà cả trong lãnh vực văn hóa, ý thức hệ và y học. [73]
32. Những quyền lợi của con người.
Những quyền lợi của con người phát xuất từ chính phẩm giá của nhân vị: đó là một logic tất
yếu. Giáo hội ý thức rằng mình phải cấp bách bảo vệ và bênh vực những quyền lợi đó, coi nhiệm vụ
này như một phần của sứ mệnh cứu thế, theo gương Đức Giêsu là Đấng luôn tỏ ra quan tâm đến
những nhu cầu của con người, cách riêng của những người nghèo khó.
Việc khẳng định những quyền lợi của con người đã xuất hiện trong Giáo hội qua việc Giáo hội
phục vụ cụ thể nhân loại trước khi những quyền lợi đó được trình bày dưới những hình thức một hệ
thống lý thuyết đầy đủ. Giáo hội đã suy tư và nhờ đó có thể nói là đã phân định được nền tảng triết
học và thần học cũng như những hệ luận pháp lý, xã hội, chính trị và luân lý, nhân quyền. Những tài

liệu giáo huấn của Giáo hội về xã hội chứng tỏ điều đó. Giáo hội đã hoàn thành công việc này
không phải trong bối cảnh cách mạng đối kháng chống lại những quyền bính truyền thống để đòi
nhân quyền, nhưng, dựa trên cơ sở Quyền đã được Tạo Hóa khắc ghi trong bản tính loài người.
Việc Giáo hội nhấn mạnh đến nhân quyền, đặc biệt vào thời đại chúng ta hôm nay, làm cho
Giáo hội trở thành người đề xướng việc tôn trọng và bảo vệ những quyền lợi của con người, quyền
của mỗi cá nhân cũng như của cả xã hội; Việc Giáo hội nhấn mạnh như thế được giải thích không
những bằng việc Giáo hội can thiệp hôm nay cũng như hôm qua theo những đòi hỏi của Phúc
âm, [74] mà còn bằng việc Giáo hội nhờ suy tư, đã khai triển một hiểu biết uyên bác mới mẻ, về
phương diện thần học và luân lý, để đương đầu với những vấn đề của thế giới hiện đại. [75] Cách
riêng quyền tự do tín ngưỡng, với tất cả những gì liên quan đến lãnh vực thâm sâu nhất của tinh
thần, “xuất hiện như điểm quy chiếu và, một cách nào đó, trở thành thước đo cho mọi quyền căn
bản khác”. [76] Ngày nay, nhiều tổ chức công cũng như tư, quốc gia cũng như quốc tế, đã khẳng
định và bênh vực quyền tự do tín ngưỡng. Về phần mình, Giáo hội công giáo bày tỏ sự liên đới đặc
biệt với tất cả những ai đang phải chịu những kỳ thị và bách hại vì đức tin, đồng thời Giáo hội nhiệt
tình và kiên trì hành động để đẩy lùi được tình trạng bất công đó.
33. Những đóng góp của huấn quyền.
Cùng với huấn quyền của Công đồng, huấn quyền của các Đức Giáo Hoàng đã trình bày và
triển khai một cách phong phú về chủ đề nhân quyền. Đức Piô XII đã nói đến những nguyên tắc về
một trật tự xã hội, dựa trên một quyền tự nhiên, phù hợp với phẩm vị con người, cụ thể hóa trong
một chế độ dân chủ lành mạnh, khả dĩ tôn trọng hơn nữa quyền tự do, hòa bình và phúc lợi vật chất.
Kế đến, thông điệp “Pacem in Terris” (hòa bình trên thế giới) của Đức Gioan XXIII, là văn kiện
giáo hoàng đầu tiên và chính thức minh nhiên cống hiến cho quyền của con người. Thực vậy, trong
khi tìm hiểu “những thời điềm”, Giáo hội nhận thấy cần phải công bố những quyền “phổ quát, bất
khả xâm phạm và bất khả chuyển nhượng” của hết mọi người, chống lại mọi kỳ thị và mọi quan
niệm đặc quyền đặc lợi. Chính vì thế, thông điệp Pacem in Terris không chỉ bằng lòng với việc đặt
những quyền của con người trên nền tảng luật tự nhiên gắn liền với công trình sáng tạo và hướng về
công trình cứu chuộc, nhưng đã sửa lại phương diện cá nhân chủ nghĩa của quan niệm truyền thống
về tương quan giữa quyền lợi và nhiệm vụ bằng cách đặt những quyền lợi vào bối cảnh của sự liên
đới và nhấn mạnh đến những đòi hỏi của trật tự cộng đồng hàm chứa trong sự liên đới đó.
Đến lượt Đức Phaolô VI trong thông điệp “Populorum Progressio” (Phát triển các dân tộc),
không tách những quyền của con người ra khỏi phạm vi lý luận, ngài theo nhãn giới của Công đồng
Vat.II làm nổi bật nền tảng Kitô giáo và chỉ cho thấy đức tin biến đổi năng động nội tại của nhân
quyền như thế nào. Ngoài ra cũng cần lưu ý rằng: Nếu “Pacem in Terris” là hiến chương về quyền
của con người thì “Populorum Progressio” là hiến chương về quyền của các dân tộc nghèo cần phát
triển. Sau này, Đức Gioan Phaolô II, khi đào sâu suy tư đó đã đặt nền tảng cho những quyền của
con người cùng một lúc trên ba mặt của một chân lý toàn diện về con người: trên phẩm vị của con
người với tư cách là con người; trên con người được tạo dựng theo hình ảnh và như họa ảnh của
Thiên Chúa; trên con người gắn kết vào mầu nhiệm Đức Kitô. sứ mệnh cứu độ của Giáo hội cũng
đặt nền trên phẩm vị con người nói trên, một phẩm vị được xét dưới ánh sáng của công trình Đức
Kitô. Chính vì thế Giáo hội không thể im lặng trước tình trạng những quyền bất khả xâm phạm của
con người và của các dân tộc đang bị thương tổn hoặc đang lâm nguy. Thực vậy, theo quan điểm
Kitô giáo, các quốc gia và các sứ sở là một thực tại nhân loại có giá trị tích cực mà ta không thể phủ
nhận được; đây là một thực tại làm nền cho những quyền bất khả xâm phạm giữa các dân tộc khác
nhau, nhất là quyền mỗi dân tộc được có bản sắc riêng và được phát triển . [77]
34. Tương quan giữa nhân vị – xã hội.
Nhân vị – con người tự bản tính là một hữu thể xã hội, nghĩa là con người có nhu cầu bẩm sinh
và khuynh hướng tự nhiên cần hiệp thông với người khác. Tính xã hội của con người là nền tảng
cho mọi hình thức xã hội và cho những đòi hỏi luân lý ghi khắc trong xã hội. Để đạt đến mức phát
triển tròn đầy, con người không thể hoàn toàn tự lực, mà cần đến tha nhân và xã hội.

Nguyên tắc về mối tương thuộc nhân vị – xã hội cơ bản gắn liền với nguyên tắc về phẩm giá
nhân vị, liên quan đến tổ chức phức tạp của đời sống xã hội của con người, một đời sống có những
quy luật riêng và thích ứng, lại được hoàn chỉnh nhờ suy tư Kitô giáo . [78]
Không phải con người luôn dễ nhận thức được những mặt khác nhau của đời sống xã hội hôm
nay, bởi lẽ nhờ kiến thức và hoạt động sáng tạo của con người, xã hội hôm nay có những chuyển
biến mau lẹ và sâu sắc trong mọi lãnh vực của xã hội. Chính những chuyển biến đó lại gây ra những
khủng hoảng được phản ánh nơi tình trạng mất quân bình nội tâm của con người, một loại con
người luôn gia tăng quyền lực mà lại không luôn thành công trong việc hướng nó về những mục
tiêu chính đáng, những khủng hoảng đó còn được phản ảnh nơi những tương quan xã hội, vì con
người không phải lúc nào cũng áp dụng được chính xác những quy luật của đời sống xã hội. [79]
35.Do đó xã hội loài người là đối tượng của giáo huấn của Giáo hội về xã hội, bởi lẽ Giáo hội
không ở ngoài cũng không ở trên mọi người kết thành xã hội, nhưng Giáo hội hoàn toàn ở giữa mọi
người và vì mọi người. Giáo hội nhấn mạnh đến “bản tính xã hội nội tại” của con người. [80] Tuy
nhiên, ở đây cần lưu ý rằng “xã hội” không đồng nghĩa với “tập thể": đối với tập thể, con người chỉ
là một sản phẩm đơn thuần; còn trong xã hội thì sức mạnh và năng động của bản tính xã hội nơi con
người được phát triển đầy đủ, nhờ đó mà những mối quan hệ trong đời sống chung rõ ràng được
tăng trưởng, cả trong bình diện quốc gia lẫn trong bình diện quốc tế . [81]
36.Chính từ phẩm vị của con người, từ những quyền lợi và tính xã hội của con người mà phát
xuất những nguyên tắc vững bền khác hướng dẫn việc tổ chức và điều hành đời sống xã hội. Trong
số những nguyên tắc đã được suy tư của huấn quyền Giáo hội đào sâu, phải kể đến những nguyên
tắc về công ích, về tình liên đới, về tính bổ trơ, về sự tham gia, về quan niệm tổ chức đời sống xã
hội và về việc của cải thuộc quyền sử dụng của mọi người.
37. Công ích.
Nói đến những luật lệ và nguyên tắc quy định đời sống xã hội, trước tiên phải xét đến “công
ích”. Cho dù công ích “xét về những mặt cốt yếu và thâm sâu nhất, không thể diễn đạt được bằng
học thuyết và lại càng khó có thể xác định về nội dung lịch sử ”, [82] công ích có thể mô tả như
“toàn bộ những điều kiện xã hội cho phép và trợ giúp con người phát triển trọn vẹn trong xã hội
loài người”. [83] Như thế, dù công ích quan trọng hơn tư lợi nhưng không thể tách rời lợi ích của
mỗi nhân vị, cho nên đòi hỏi công quyền phải nhìn nhận, tôn trọng, tổ chức, bảo vệ và cổ võ những
quyền lợi của con người đồng thời cũng tạo điều kiện để chu toàn những nhiệm vụ liên hệ. Do đó,
có thể nói rằng xây dựng công ích là lý do hiện hữu của công quyền; công quyền có nhiệm vụ thực
hiện công ích vì phúc lợi của mọi công dân và của con người toàn diện – về mặt trần thế cũng như
về mặt siêu việt – trong sự tôn trọng một hệ thống giá trị chính đáng và những yêu cầu của hoàn
cảnh lịch sử . [84]
Như thế, qua quan niệm công ích như một giá trị có ý nghĩa phục vụ và tổ chức đời sống xã hội
cũng như trật tự mới của cuộc sống chung, Giáo hội muốn; làm nổi bật ý nghĩa nhân bản của đời
sống xã hội và vai trò linh hoạt các cơ cấu xã hội – trong toàn bộ cơ cấu cũng như trong từng lãnh
vực – đồng thời Giáo hội cổ võ những biến đổi sâu xa theo tiêu chuẩn công bằng xã hội.
38. Tính liên đới và tính bổ trợ.
Hai nguyên tắc khác quan trọng, điều hòa đời sống xã hội, đó là liên đới và bổ trợ. Theo nguyên
tắc liên đới, mỗi nhân vị, vì là phần tử của xã hội và, theo thần lực của Phúc âm, còn gắn chặt với
phần rỗi của hết mọi người. Mới đây trong thông điệp “Sollicitudo Rei Socialis”, Đức Giáo Hoàng
đương kim đã nhấn mạnh đặc biệt đến tầm quan trọng của nguyên tắc này, coi nguyên tắc này là
một đức tính nhân bản và thuộc Kitô giáo. [85] những đòi hỏi luân lý của sự liên đới yêu cầu hết mọi
người, mọi nhóm và cộng đồng địa phương, mọi hiệp hội và tổ chức, mọi quốc gia và lục địa tham
gia vào việc quản lý tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị và văn hóa, vượt qua mọi quan niệm luân
lý duy cá nhân chủ nghĩa. [86]

Nguyên tắc bổ trợ là nguyên tắc bảo vệ nhân vị, bảo vệ các cộng đồng địa phương và các
“thành phần trung gian” thoát khỏi nguy cơ mất quyền tự trị hợp pháp; nguyên tắc này phải được
coi như bổ túc cho nguyên tắc liên đới. Giáo hội quan tâm vận dụng nguyên tắc này vì chính phẩm
vị của con người, vì muốn tôn trọng điều gọi là “người hơn” trong việc tổ chức đời sống xã hội, [87]
và vì muốn bảo vệ quyền lợi của các dân tộc nằm trong mối tương quan giữa các xã hội địa phương
với xã hội toàn cầu.
39. Quan niệm tổ chức đời sống xã hội.
Như thế, phát xuất từ tất cả những gì đã nói ở trên, chúng ta không thể hiểu chính xác về một xã
hội có tổ chức là như thế nào nếu không có một quan niệm về tổ chức đời sống xã hội. nguyên tắc
này đòi hỏi xã hội phải được xây dựng một mặt trên năng động nội tại của mọi phần tử trong xã hội
đó – bắt nguồn từ nhận thức và ý muốn tự do của các nhân vị liên đới với nhau trong việc mưu tìm
công ích – và mặt khác phải được xây dựng trên cơ cấu và tổ chức của một xã hội được cấu tạo
không những bởi từng nhân vị có tự do mà còn bởi những xã hội trung gian cần được hòa nhập vài
một hướng thống nhất cao hơn: từ gia đình thông qua các cộng đồng địa phương, các hội đoàn
chuyên nghiệp, các miền và các quốc gia, đến những tổ chức siêu quốc gia và xã hội toàn cầu của
hết mọi dân, mọi nước. [88]
40. Sự tham gia.
Sự tham gia chiếm ưu thế trong những triển khai mới đây của giáo huấn của Giáo hội về xã hội.
Sức mạnh của nó nằm ở chỗ bảo đảm cho việc thực hiện những đòi hỏi luân lý của công bằng xã
hội. Việc mọi phần tử và mọi lãnh vực xã hội tham gia một cách chính đáng, và có trách nhiệm vào
việc phát triển đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa, là con đường đảm bảo dẫn đến một
cuộc sống chung mới nhân bản hơn. Giáo hội không những không quên nhắc lại nguyên tắc
này, [89] mà còn tìm thấy nơi nguyên tắc này một động lực bền vững nhắm giúp thăng tiến phậm
chất đời sống cá nhân và xã hội. Đây là phẩm vị và tự do của mình qua tiến bộ khoa học và kỹ
thuật, qua lao động và đời sống công cộng . [90]
41. Cơ cấu con người và cộng đồng các nhân vị.
Giáo hội đã nhiều lần tìm cách ngăn ngừa nguy cơ thực sự đe dọa con người , phẩm vị con
người, tự do cá nhân và xã hội, nguy cơ phát sinh từ quan niệm “kỹ thuật hóa” và cơ giới hóa cuộc
sống và cơ cấu xã hội, một quan niệm không dành chỗ cho việc phát triển một nhân bản đích thực.
Tại nhiều quốc gia, nhà nước hiện đại biến thành một bộ máy cai trị khổng lồ xâm nhập hết mọi
lãnh vực của đời sống, dẫn con người đến tình trạng sợ hãi, âu lo, làm mất phẩm cách con
người. [91]
Vì thế, Giáo hội đã từng đánh giá là cần thiết phải có những tổ chức và nhiều hiệp hội tư nhân
dành chỗ thích hợp cho nhân vị và cổ võ việc gia tăng mối quan hệ hợp tác phụ thuộc vào công ích;
tuy nhiên, vì những tổ chức này là những cộng đồng đích thực cho nên các thành viên phải được
nhìn nhận và tôn trọng thực thụ như những nhân vị và được kêu gọi tham gia tích cực vào các
nhiệm vụ chung. [92]
Như thế, đối với Giáo hội, con đường vững chắc khả dĩ đạt tới mục đích trên là làm sao liên kết
được lao động và vốn đầu tư, làm sao giúp cho cộng đồng trung gian được sinh sống. [93]
Đây là những nguyên tắc điều hòa đời sống xã hội ở mọi tầng lớp tổ chức xã hội và trong mọi
lãnh vực hoạt động đa dạng của con người; việc thực hiện những nguyên tắc này giúp khắc phục
được mọi trạng thái căng thẳng giữa xã hội hóa và cá nhân hóa. Ngày nay có hiện tượng phát sinh
nhiều mối quan hệ và nhiều cơ cấu xã hội thuộc mọi tầng lớp, xuất phát từ những quyết định tự giác
nhằm mục đích thăng tiến phẩm chất đời sống con người; hiện tượng này đáng hoan nghênh, vì lẽ
nó chứng tỏ là thực hiện được tình liên đới nhân loại và mở rộng được phạm vi hoạt động thăng tiến
đời sống vật chất và tinh thần của con người.
42. Của cải dành cho hết mọi người trên thế giới.

“Đây là nguyên tắc đặc trưng của học thuyết xã hội của Giáo hội”. [94] nguyên tắc này muốn
khẳng định rằng của cải trên trái đất này thuộc quyền sử dụng của hết mọi người nhằm giúp cho
quyền sống của họ được thỏa đáng cách xứng hợp với phẩm vị con người và phù hợp với những
nhu cầu của gia đình họ. Thực vậy, “Thiên Chúa đã dành trái đất này và tất cả những gì chứa đựng
trong đó cho hết mọi người và mọi dân tộc được hưởng dùng, làm sao cho của cải trên thế giới phải
được phân chia công minh tới tay hết mọi người theo luật công bình đi đôi với luật bác ái”. [95] Từ
đó, quyền tư hữu, tự nó có giá trị và cần thiết, phải được đặt vào trong những lằn ranh giới do chức
năng xã hội của nó đòi buộc. Về vấn đề này, huấn quyền của Giáo hội đã trình bày trong thông điệp
“Laborem Exercens” rằng: “Truyền thống Kitô giáo không bao giờ chủ trương quyền tư hữu như
một quyền tuyệt đối và bất khả xâm phạm, trái lại luôn am hiểu quyền tư hữu trong bối cảnh rộng
lớn hơn: quyền mọi người được chung hưởng của cải trên khắp thế giới; quyền tư hữu lệ thuộc vào
quyền sử dụng chung, quyền mọi người được hưởng dùng mọi của cải trên trái đất này”. [96]

2. Những giá trị cơ bản

43. Con đường vững chắc.
Những nguyên tắc tư duy của học thuyết xã hội của Giáo hội, vì là những quy luật điều hòa đời
sống xã hội cho nên không biệt lập với sự nhìn nhận thật sự những giá trị cơ bản gắn liền với phẩm
vị con người, chủ yếu là những giá trị sau đây: chân lý, tự do, công bình, liên đới, hòa bình, bác ái
hay tình thương Kitô giáo.
Sống những giá trị này là con đường vững chắc không những giúp hoàn thiện đời sống cá nhân
mà còn giúp thực hiện một nền nhân bản chân chính và một cuộc sống chung mới mẻ trong xã hội.
Do đó, cần phải dựa vào những giá trị này để cải tổ thiết thực các cơ cấu kinh tế, chính trị, văn hóa
và kỹ thuật, đồng thời thực hiện những thay đổi cần thiết trong các cơ chế.
44. Tiến đến việc đổi mới xã hội.
Vì tầm quan trọng cốt tử của những giá trị này, Giáo hội luôn quyết liệt đề nghị như những nền
tảng đích thực của xã hội mới xứng hợp với con người hơn. Dù nhìn nhận tính độc lập của những
thực tại trần thế, [97] Giáo hội biết rằng những quy luật mà con người tìm thấy và áp dụng trong đời
sống xã hội không tự chúng bảo đảm một cách máy móc cho hạnh phúc của mọi người. Thật vậy
cần phải áp dụng những quy luật này dưới sự hướng dẫn của những giá trị bắt nguồn từ chính phẩm
giá con người. [98] Tất cả những giá trị này nói lên tính ưu tiên: đạo đức hơn kỹ thuật, con người
hơn đồ vật và tinh thần hơn vật chất. [99]
45. “Khôn ngoan” trong khi dấn thân vào xã hội.
Dầu sao cũng thường xảy ra xung đột giữa các giá trị trên và những hoàn cảnh mà các giá trị đó
bị phủ nhận cách công khai hoặc gián tiếp. Trong trường hợp này, con người khó mà nhất tề gắn bó
được với hết mọi giá trị. Vì thế, cần có sự biện phân Kitô giáo để chọn lựa phải làm gì trong những
hoàn cảnh khác nhau; dưới ánh sáng các giá trị căn bản của Kitô giáo. Đó chính là cách sống “khôn
ngoan” đích thực, mà Giáo hội yêu cầu, chẳng những đối với các kitô hữu mà cả với hết mọi người
thiện chí trong khi dấn thân vào xã hội. [100]
46. Những giá trị dẫn đến phát triển.
Vì ý thức về tình hình phức tạp của xã hội loài người hiện nay và ý thức cần phải có những giá
trị được khẳng định như nền tảng của một xã hội mới, Giáo hội được mời gọi tăng cường tiến trình
giáo dục nhằm mục đích làm cho các cá nhân cũng như dư luận quần chúng hiểu được sự cần thiết
cốt tử phải bảo vệ và cổ võ những căn bản của nhân vị mà nếu không có những giá trị đó thì trong
một xã hội không thể có được sự phát triển đích thực – phát triển con người và phát triển toàn diện.
Vì thế không thể đặt nền cho sự phát triển con người cách đích thực – điều mà mới đây Giáo hội
còn yêu cầu trong giáo huấn về xã hội – nếu không nhắc lại luôn mãi về phẩm giá con người và về
những đòi hỏi luân lý và siêu việt của con người, nếu không có đạo đức về trách nhiệm và sự liên

đới giữa các dân tộc, [101] nếu không có công bằng xã hội, không xem xét lại ý nghĩa của lao
động, [102] việc cần phải được phân phối lại cách công bằng hơn.
 
IV. NHỮNG TIÊU CHUẨN ĐỂ NHẬN ĐỊNH.
47. Nhận biết thực tại.
Học thuyết xã hội của Giáo hội có mục đích thông truyền một kiến thức không chỉ về lý thuyết
mà còn về thực tế và có khả năng hướng dẫn hoạt động mục vụ. Chính vì thế mà ngoài những
nguyên tắc vững bền để suy tư, Giáo hội còn cống hiến những tiêu chuẩn về nhận định, để đánh giá
tình hình, cơ cấu, thể chế tổ chức đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và kỹ thuật và đánh giá
ngay cả những hệ thống xã hội nữa. [103] Về vấn đề này, rõ ràng là việc đánh giá như thế thuộc sứ
mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội: Đánh giá xem hoàn cảnh sống của con người xứng hợp với
con người nhiều hay ít, nhận định xem giá trị luân lý của các cơ cấu và hệ thống xã hội, chính trị,
kinh tế văn hóa phù hợp với những đòi hỏi của công bình xã hội như thế nào.
Để có khả năng nhận định một cách đúng đắn về phương diện đó, Giáo hội cần hiểu biết hoàn
cảnh lịch sử của địa phương, của quốc gia cũng như quốc tế, hiểu biết bản sắc văn hóa của từng
cộng đồng và từng dân tộc. Cho dù dùng hết mọi phương tiện khoa học để hiểu biết thực tại xã hội,
chắc chắn là Giáo Hội phải quy chiếu chủ yếu về những giá trị căn bản để có được “những tiêu
chuẩn nhận định” thật chính xác cho việc biện phân theo tinh thần Kitô giáo. Không thể bỏ qua
những tiêu chuẩn này, những tiêu chuẩn đã được chính thức tuyên bố trong học thuyết xã hội, và vì
thế phải làm cho mọi người hiểu biết và đánh giá cao trong việc giảng dạy tại các chủng viện và các
phân khoa thần học.
48. Khả năng nhận định khách quan.
Giáo Hội có quyền và có nhiệm vụ nói lên những nhận định luân lý, do đó tất cả những ai làm
công tác mục vụ, giáo sĩ cũng như giáo dân, cần phải có khả năng nhận định một cách khách quan
về những hoàn cảnh, cơ cấu và cả hệ thống kinh tế – xã hội khác nhau. Ngay việc hiểu biết những
vấn đề xã hội và đánh giá chúng về mặt luân lý theo ánh sáng của sứ điệp Phúc âm, như đã được
trình bày trong học thuyết xã hội của Giáo Hội thì cũng đã cung cấp phương hướng cho việc nhận
định rồi; chính nhận định này sẽ hướng dẫn hoạt động và việc chọn lựa thái độ thích hợp với tinh
thần Kitô giáo. Dù sao, trong quá trình đi từ lý thuyết sang hành động, giả thiết phải có những “điều
giải” mang tính văn hóa xã hội, kinh tế và chính trị, là những lãnh vực tuy không thuộc độc quyền
nhưng thuộc chuyên môn của giáo dân, chính giáo dân có nhiệm vụ mở ra những hoạt động trần thế
theo sáng kiến riêng và thuộc trách nhiệm riêng của họ.
49. Những nhận định điển hình.
Trong thực tế, nghiên cứu các văn kiện cho ta thấy rằng học thuyết xã hội của Giáo hội chứa
đựng nhiều nhận định về tình hình cụ thể, về các cơ chế xã hội và các ý thức hệ. Ta có thể kể ra một
ít ví dụ điển hình: thông điệp “Rerum Novarum” nói đến những nguyên nhân gây bất ổn cho người
lao động khi xét đến cái “ách” mà họ phải chịu do “một thiểu số những kẻ giàu sụ” áp đặt; [104]
thông điệp “Quadragesimo Anno” nhận định rằng tình trạng xã hội thời đó bản chất là tạo nên bạo
lực và đấu tranh; [105] Công đồng Vat.II, khi mô tả tình trạng mất quân bình trong thế giới ngày
nay, kết luận rằng tình trạng đó dẫn đến sự ngờ vực, xung đột và thảm họa chống lại con
người; [106] thông điệp “Populorum Progressio” không ngại tuyên bố về tình trạng bất công giữa
các nước đã phát triển và các nước đang phát triển; [107] thông điệp “Laborem Exercens” nói rằng
hiện nay còn có những cơ chế ý thức hệ là nguyên nhân gây nên tình trạng bất công hiển
nhiên; [108] thông điệp “Sollicitudo Rei Socialis” phê phán việc phân chia thế giới thành hai khối
(Đông – Tây), từ đó nảy sinh những hậu quả tiêu cực cho các nước đang phát triển . [109]
Chắc chắn rằng việc công thức hóa những nhận định luân lý về tình hình cơ cấu và hệ thống xã
hội không mang cùng một mức độ uy thế của huấn quyền Giáo hội như khi phát biểu về các nguyên

tắc căn bản. Tuy nhiên, trong số những nhận định này thì những nhận định có liên quan đến việc
thiếu tôn trọng phâm giá con người mang một uy thế đáng kể, bởi vì chúng liên quan đến những
nguyên tắc và giá trị dựa trên chính luật của Thiên Chúa.
50. Nguy cơ ảnh hưởng của ý thức hệ.
Nhằm đối thoại thực tế hơn với con người, nhằm cởi mở đúng mức trước những hoàn cảnh
khác nhau của cuộc sống chung trong xã hội, nhằm hiểu biết khách quan về những điều kiện, cơ cấu
và hệ thống xã hội, ngoài việc đưa ra một nhận định, Giáo hội còn có thể sử dụng tất cả “phần cống
hiến của khoa học”, [110] chẳng hạn sử dụng những dữ kiện thực nghiệm đã được xác nhận một
cách có phê phán; tuy nhiên Giáo hội cũng thừa nhận rằng việc phân tích một cách khoa học về
thực tại và những hậu quả có thể xảy ra do những chuyển biến xã hội không thuộc phạm vi chuyên
môn của Giáo hội. [111] Điều này có giá trị đối với Giáo hội toàn cầu cũng như đối với các Giáo hội
địa phương.
Một tiêu chuẩn quan trọng cho việc sử dụng những phương tiện do môn khoa học xã hội cống
hiến là nhớ rằng việc phân tích xã hội học không luôn cung cấp một bản thảo khách quan những dữ
kiện và sự kiện: thực vậy ngay từ bước khởi đầu, bản thảo đã bị lệ thuộc một nhãn quan ý thức hệ
nhất định, hoặc một chiến lược chính trị nhất định, như ta thấy trong kiểu phân tích của Mác xít.
huấn quyền của Giáo hội đã từng phát biểu công khai về kiểu phân tích này có thể gây nguy hại cho
đức tin Kitô giáo và cho cuộc sống của Giáo hội. [112]
Ý thức hệ tự do gợi hứng cho hệ thống Tư bản chủ nghĩa cũng gây ảnh hưởng nguy hiểm trên
việc phân tích xã hội học, bởi vì trong hệ thống này những dữ kiện thực nghiệm thường lệ thuộc
nhãn quan cá nhân chủ nghĩa của bản báo cáo kinh tế – xã hội, ngược với quan niệm Kitô giáo. [113]
Chắc chắn không thể gói chặt vận mệnh của con người bên trong hai phương án lịch sử đối
kháng nhau đo, bởi như thế là trái với tính tự do và tính sáng tạo của con người. Thực vậy, lịch sử
con người, lịch sử các dân tộc và các cộng đồng luôn cho thấy là phong phú và khá “khúc triết” lại
luôn có nhiều phương án về các mô hình xã hội qua các thời đại khác nau. Về vấn đề này điều quan
trọng cần nhấn mạnh là có nhiều biến thể từ nguyên lý của chủ nghĩa tự do kinh tế, cho dù được
trình bày bởi các đảng dân chủ – Kitô giáo hay các đảng dân chủ – xã hội, đều có thể được coi như
không còn là biến thức của “chủ nghĩa tự do” theo nghĩa hẹp nữa mà chỉ là những hình thái mới kế
tiếp nhau của tổ chức xã hội.
51. Biện phân để chọn lựa.
Điều đáng quan tâm đặc biệt là việc đối thoại của Giáo hội với các trào lưu lịch sử đã tìm cách
vượt qua thế lưỡng nan giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Dù sao, trong học thuyết xã hội,
Giáo hội đã không chủ trương cổ vũ phải chọn lấy một hệ thống kinh tế xã hội và chính trị nào,
cũng không có một dự án nhất định về xã hội, bởi vì đó là nhiệm vụ của các nhóm và các cộng đồng
đảm nhiệm những vai trò xã hội và chính trị. Thật ra, các kitô hữu được mời gọi thực hiện một sự
biện phân liên tục khi đảm nhiệm những vai trò đó. Ngoài ra, những kitô hữu muốn đối thoại và vì
tình phải dấn thân vào những phong trào “vừa phát sinh từ một vài ý thức hệ, vừa khác với những ý
thức hệ đó” thì họ luôn phải hành động với sự cẩn thận, với sự biện phân phê phán, đồng thời phải
luôn chiếu theo nhận định luân lý đã được Huấn quyền Giáo hội công bố . [114]
Sứ mệnh cứu độ của Giáo hội phát sinh từ chính giáo huấn, chứng tích và đời sống của Đức
Giêsu Kitô, Đấng cứu thế; sứ mệnh này hàm chứa hai việc chọn lựa tất yếu: một cho con người theo
Phúc âm và một cho xã hội theo hình ảnh Phúc âm. Không đòi phải có một “con đường thứ
ba”, [115] đối diện với “không tưởng tự do” và “không tưởng xã hội”, các tín hữu phải luôn chọn
một mô hình làm cho những quan hệ kinh tế – xã hội phù hợp với con người, nghĩa là phù hợp với
thang giá trị đã được nhắc tới trên đây. Trong nhãn giới đó, những cột trụ để xây dựng xã hội thực
sự nhân đạo, phù hợp với nhân vị con người là: chân lý, tự do, công bình, bái ái, trách nhiệm, liên
đới và hòa bình. Việc thực hiện những giá trị đó trong những cơ cấu xã hội dẫn đến tính ưu việt của
con người trên sự vật, tính ưu tiên của lao động trên tư bản, vượt trên được sự tương phản giữa lao
động – tư bản. [116] Việc chọn lựa này tự nó không phải là việc chính trị, nhưng có tương quan Giáo

hội – chính trị; việc chọn lựa này cũng không phải là việc kinh tế – xã hội và tương quan giữa Giáo
hội – xã hội. Như thế, rõ ràng người ta không thể không cần đến nhận định luân lý của Giáo hội về
những nền tảng xây dựng hệ thống xã hội cũng như về những dự án và chương trình cụ thể của đời
sống chung trong xã hội, một xã hội cần phải tiếp thu hình ảnh của con người và của xã hội theo
tinh thần Phúc âm.
52. Những nhiệm vụ xã hội của Giáo hội địa phương.
Các Giáo hội địa phương, trong lãnh thổ riêng của mình, là những trung tâm của tư duy, của
nhận định luân lý và hành động mục vụ kể cả trong lãnh vực xã hội. Thực vậy, các Giáo hội địa
phương không thể không biết đến các vấn đề xã hội riêng của địa phương đang cần những thích
nghi hợp thời; nhiều Thư chung của các Giám mục và các Hội đồng Giám mục chứng tỏ điều đó.
Nhưng để đánh giá đúng mức về những hoàn cảnh và thực tại kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa ở
các địa phương đó cũng như để góp phần hữu hiệu trong việc thăng tiến và nếu cần, cải tạo địa
phương đó, thì điều quan trọng là các Giáo hội tại địa phương phải múc lấy những nguyên tắc và
tiêu chuẩn nhận định từ nguồn gốc học thuyết xã hội hiện có hiệu lực cho Giáo hội toàn cầu. [117]
53. Nhận định mới về tình hình mới.
Có thể xảy ra là nếu tình hình thay đổi thì cần phải yều chỉnh một nhận định mà trước đó đã nêu
lên trong một bối cảnh khác. Điều này cũng giải thích lý do tại sao ngày nay trong học thuyết xã hội
của Giáo hội lại có những nhận định khác với những nhận định trước kia, mặc dù chúng mang tính
nối tiếp trên một con đường mà các nguyên tắc đã mở ra. Dầu sao, rõ ràng là một nhận định chín
chắn về tình hình mới, và những mô hình mới của xã hội và về những chương trình mới không chỉ
tùy thuộc vào học thuyết xã hội mà còn tùy thuộc vào việc đào tạo về mặt triết học và thần học, vào
ý thức chính trị, và nhận thức về những chuyển biến trên thế giới. Chính vì thế cần phải chuẩn bị xa,
gần, cần phải nghiên cứu như đã đề nghị trong “Bản chỉ dẫn” này.

 V. NHỮNG CHỈ DẪN VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

54. Những tiêu chuẩn hoạt động.
Học thuyết xã hội của Giáo hội, như kiến thức lý thuyết – thực hành, nhằm hướng đến việc Phúc
âm hóa xã hội: nó bao hàm lời mời gọi tham gia hoạt động xã hội khi đưa ra cho những tình thế
khác nhau những chỉ dẫn thích ứng, [118] bắt nguồn từ những nguyên tắc nền tảng và những tiêu
chuẩn nhận định, [119] đã được làm sáng tỏ ở phần trên. Hoạt động được nêu lên không phải được
suy diễn cách tiên thiên và vĩnh viễn từ những quan điểm triết học và luân lý học, nhưng được xác
định tuần tự nhờ việc biện phân Kitô giáo về thực tại, một thực tại được giải thích dưới ánh sáng
của Phúc âm và của giáo huấn Giáo hội về xã hội. Nhờ thế mà ở mỗi giai đọn lịch sử, giáo huấn đó
tỏ rõ tính thời sự của mình. Quả là một lầm lẫn nghiêm trọng về lý thuyết cũng như về phương pháp
nếu trong việc giải thích các vấn đề của mỗi giai đoạn lịch sử, người ta không quan tâm đến kinh
nghiệm phong phú mà Giáo hội đã thâu thập được và đã trình bày trong giáo huấn về xã hội. Do đó,
tất cả các kitô hữu cần phải tự đặt mình trước những hoàn cảnh mới với một lương tâm đã được đào
tạo theo tất cả những đòi hỏi đạo đức của Tin Mừng và với một cảm thức xã hội chính tông Kitô
giáo, một cảm thức chín chắn nhờ tích cực học hỏi những tài liệu khác nhau mà huấn quyền Giáo
hội đã công bố.
55. Tôn trọng nhân phẩm.
Trong mục vụ xã hội, Giáo hội dấn thân nhằm thực hiện trọn vẹn sự thăng tiến con người. Một
sự thăng tiến như thế ăn khớp với ý định hướng con người đến ơn cứu độ, và cũng ăn khớp với ý
định thiết lập nước Chúa khi cố gắng nâng cao con người trong mọi chiều kích, tự nhiên cũng như
siêu nhiên. Theo giáo huấn của Hiến Chế “Vui mừng và Hy vọng”, sứ mạng truyền bá Phúc âm
nhằm đến ơn cứu độ, có nghĩa là nhằm đến sự giải phóng hoàn toàn con người; sứ mạng đó đòi hỏi
một hoạt động mục vụ đa diện, tùy theo môi trường hoạt động: như rao giảng, phượng tự và bác ái.
Trong tương quan với thế giới Giáo hội hoạt động mục vụ bằng việc hiện diện , đối thoại và phục

vụ bắt nguồn từ đức tin, trong lãnh vực xã hội rộng lớn và bao quát như kinh tế, chính trị, văn hóa,
kỹ thuật, sinh thái, v.v… Tóm lại hoạt động của Giáo hội bao trùm toàn thể những thực tại trần thế.
Khi đề cao tính ưu việt của con người trên mọi tạo vật thì tiêu chuẩn hay quy tắc đầu tiên không
chỉ để nhận định nhưng cũng để hoạt động, đó là phẩm giá con người, bao hàm sự tôn trọng và
thăng tiến tất cả mọi quyền lợi cá nhân cũng như xã hội, nằm sẵn trong bản tính con người.
Tính luân lý, sự phân biệt giữa công bằng và bất công sẽ tùy thuộc vào sự tương hợp của những
đường lối chính trị của những nghị quyết, những dự án và những chương trình đã được các giới hữu
trách thông qua (nhà cầm quyền, những đảng phái chính trị, những thể chế và tổ chức, những cá
nhân và phe nhóm), đối với phẩm giá con người, một phẩm giá có những đòi hỏi đạo đức bất khả
xâm phạm.
56. Đối thoại nghiêm chỉnh.
Thế giới hiện nay, với những thay đổi sâu sắc và bất ngờ trong mọi lĩnh vực sinh hoạt của con
người như kinh tế, văn hóa, khoa họa và kỹ thuật, đã làm phát sinh ra những vấn đề mới đòi sự dấn
thân của mọi người thiện tâm. Trong đó nổi bật lên vấn đề đói khổ, bạo lực; vấn đề khủng bố quốc
gia và quốc tế; vấn đề giải trừ quân bị và hòa bình; vấn đề nợ nước ngoài và chậm phát triển của
những nước thuộc thế giới thứ ba, vấn đề vận dụng di truyền học, vấn đề ma túy, vấn đề ô nhiễm
môi trường v.v…
Trong bối cảnh đó, hoạt động mục vụ của Giáo hội cần phải được tiến hành trong sự hợp tác
với tất cả các lực lượng mẫn cảm đang hoạt động trong thế giới hiện nay. Từ đó, tiêu chuẩn thứ hai
để tìm ra một giải pháp cho những vấn đề, nhờ những thỏa ước có tính kế hoạch và tính hiệu quả.
57. Đấu tranh cho công bằng và tình liên đới xã hội.
Ngoài ra, đặc tính nổi bật của thế giới ngày nay là nó bao hàm những “khu vực nghèo
khó” [120] và “những hình thức bất công khác còn to lớn hơn nhiều” [121] so với những hình thức
bất công ở những thời đại trước đây, như là nạn đói, thất nghiệp, cuộc sống bên lề xã hội, sự cách
biệt giữa giàu và nghèo (quốc gia, khu vực, nhóm người, cá nhân). Do đó, tiêu chuẩn thứ ba để hoạt
động là sự đấu tranh cao quý và chính đáng cho công bằng và cho tình liên đới xã hội. [122]
58. Việc đào tạo những người có khả năng cần thiết.
Việc hoạt động vụ thể trong lãnh vực những thực tại trần thế, theo chỉ dẫn của huấn quyền, chủ
yếu là trách vụ của giáo dân, họ phải để cho lương tâm Kitô giáo hướng dẫn luôn luôn. Đúng ra,
song song với việc đào tạo về luân lý và đạo đức, họ phải có được những khả năng cần thiết trong
lãnh vực khoa học và chính trị, những khả năng này cho họ có đủ sức để hoạt động hữu hiệu dựa
theo những tiêu chuẩn luân lý đúng đắn. [123] Như thế, theo cái nhìn này, các vị mục tử có bổn
phận không kém quan trọng là giúp đỡ giáo dân tự luyện cho mình có được một lương tâm Kitô
giáo ngay chính, và đem lại cho họ “ánh sáng và sức mạnh thiêng liêng”. [124] Rõ ràng là các vị
mục tử sẽ chỉ có thể chu toàn được trách vụ đặc biệt này nếu như về phía mình các ngài cũng là
những người thâm hiểu và bảo vệ học thuyết xã hội và nếu như chính các ngài dưới ánh sáng Lời
Chúa và theo gương Thầy Chí Thánh, có được tính bén nhậy đối với hoạt động thứ tư là việc đào
tạo những người có khả năng này.
Điều đáng kể hơn hết là các vị mục tử và các tín hữu phải cảm thấy hợp với nhau trong khi
tham gia vào sứ vụ cứu độ duy nhất của Giáo hội, mỗi người tùy theo khả năng, quyền hạn và trách
nhiệm riêng của mình, trong sự khác biệt về ân sủng và chức vụ. Theo quan điểm Giáo hội học này,
thì bổn phận làm cho những thực tại trần thế sống động lên theo tinh thần Kitô giáo không phải là
một bổn phận được uỷ thác cho giáo dân do phẩm trật, nhưng bổn phận đó phát sinh cách tự nhiên
do việc họ lãnh nhận bí tích Rửa tội và Thêm sức. Trong thời đại chúng ta, người ta luôn ý thức hơn
về sự đóng góp cần thiết của giáo dân vào sứ vụ Phúc âm hóa của Giáo hội. Lumen Gentium khẳng
định rằng có những nơi và những hoàn cảnh, nếu không có giáo dân thì Giáo hội không thể trở nên
muối đất và ánh sáng cho thế gian được . [125]

59. Kinh nghiệm những thực tại trần thế và kinh nghiệm đức tin
Tính chất Giáo hội của giáo dân bám rễ sâu trong bí tích Rửa tội và Thêm sức, được hiện thực
hóa trong mối hiệp thông và trong sứ vụ. Tính chất Giáo hội đó bao gồm một kinh nghiệm kép: một
mặt nó đưa vào sự hiểu biết những thực tại tự nhiên, lịch sử và văn hóa của thế giới này; mặt khác
nó phát sinh từ việc giải thích những thực tại đó dưới ánh sáng Phúc âm. Những kinh nghiệm này
không thể giao hoán được: cái này không thể thay thế cho cái kia, nhưng cả hai tìm gặp sự thống
nhất nơi nền tảng đầu tiên là Lời Chúa, là Ngôi Lời, nhờ Ngài mà mọi sự đã được tác thành, và nơi
cùng đích của chúng là Nước Thiên Chúa. Từ đó phát xuất tiêu chuẩn thứ năm liên quan đến
phương pháp hoạt động, là sử dụng đen kinh nghiệm kép này: kinh nghiệm của những thực tại trần
thế và kinh nghiệm đức tin Kitô giáo.
Được sử dụng khi áp dụng học thuyết xã hội của Giáo hội, phương pháp này sẽ giúp cho tất cả
các kitô hữu và đặc biệt là cho các giáo dân giải thích thực tại một cách đúng đắn hơn.
Làm như thế, họ sẽ thấy rằng đến một mức nào đó, những giá trị nhân bản và Kitô giáo thấm
nhập vào trong thực tại lịch sử, những giá trị này xác định rõ phẩm giá con người; họ cũng có thể
nối kết những nguyên tắc tổng quát của tư tưởng và hành động trong lãnh vực xã hội với những giá
trị mà một xã hội phải luôn luôn tôn trọng để giải quyết những vấn đề của xã hội đó; họ cũng có thể
được một phương hướng trong việc tìm kiếm cụ thể những giải pháp cần thiết; họ có thể làm thay
đổi hoặc biến đổi những cơ cấu xã hội nào tỏ ra kém cỏi hay bất công; họ có thể đánh giá một cách
khôn ngoan những phương án do tất cả những thế lực mạnh mẽ soạn thảo ra cho lãnh vực chính trị
và văn hoá . Nhờ cách thế trên mà sự tiến bộ đích thực của con người và của xã hội sẽ được bảo
đảm trong sự phát triển theo chiều hướng nhân bản hơn, một sự phát triển không làm giảm đi sự gia
tăng về kinh tế và cũng không bị lệ thuộc tuyệt đối vào kinh tế.
60. Mở rộng cho những ân ban của Thánh Thần.
Như đã nói trên, Giáo hội không đưa ra một khuôn mẫu riêng nào về đời sống xã hội: Giáo hội
vẫn luôn mở rộng cho một chủ nghĩa đa diện về những dự án và những giả thuyết để hoạt động, tùy
theo những đoàn sủng và những ơn huệ mà Thánh Thần ban cho giáo dân để họ hoàn thành sứ
mạng của mình trong khung cảnh gia đình, nghề nghiệp, kinh tế, chính trị, văn hóa, kỹ thuật, sinh
thái, v.v… Do đó những chỉ dẫn hoạt động chứa đựng trong học thuyết xã hội của Giáo hội mang
một ý nghĩa đặc biệt tùy theo những đặc tính chuyên biệt của hoạt động trong từng lãnh vực một.
Từ đó, tiêu chuẩn thứ sáu liên quan đến hoạt động là sự mở rộng đối với những đoàn sủng và ân ban
của Thánh Thần trong việc dấn thân và chọn lựa đời sống xã hội theo tinh thần Kitô giáo.
61. Thực hành luật yêu người và lòng thương cảm.
Ý thức mình được mời gọi để phục vụ những thực tại xã hội, là một ý thức luôn luôn sống động
trong Giáo hội, kể từ những thế kỷ đầu tiên cho đến nay. Quả vậy, lịch sử Giáo hội đầy rẫy những
công việc từ thiện và cứu tế xã hội, [126] ở đó gương mặt của một cộng đoàn nghèo khổ và thương
cảm rạng rỡ hẳn lên, tất cả đều hướng đến việc thực thi “Bài giảng trên núi”.
Những nhân chứng của ý thức mục vụ này thì nhiều vô kể nơi các vị Giáo Hoàng là những vị
thầy của học thuyết xã hội. Trong tài liệu của các ngài, các ngài mời gọi cải thiện những điều kiện
sống của công nhân và khích lệ những thử nghiệm theo chiều hướng này; [127] các ngài khuyên bảo
thực thi bác ái đi đôi với công bình; [128] các ngài hướng hoạt động xã hội đến toàn thể lãnh vực
trần thế; [129] các ngài yêu cầu rằng, việc khẳng định những nguyên tắc, việc công bố những ý
hướng và sự tố giác những bất công cần phải đi đôi với một hoạt động hữu hiệu và có trách
nhiệm; [130] các ngài nhắc lại rằng bằng chứng cho thấy Giáo hội rất quan tâm đến vấn đề xã hội
không phải chỉ là những văn kiện của giáo huấn, của Công đồng của các giáo hoàng và của các
Giám mục, mà còn là các hoạt động của những trung tâm tư tưởng và hành động, là các sáng kiến
cụ thể về việc tông đồ xã hội trong các Giáo hội địa phương và trong lãnh vực quốc tế; [131] các
ngài mời gọi hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân dấn thân vào “các lãnh vực, các công tác và các dịch vụ
khác” của “mục vụ xã hội”. [132] Từ ý thức về xã hội này nảy sinh ra tiêu chuẩn sau cùng để hoạt
động xã hội, tiêu chuẩn này có trong tất cả các tiêu chuẩn vừa nêu trên, tiêu chuẩn đó là: theo tinh

thần Phúc âm thực hành giới luật yêu người và lòng thương cảm đối với mọi người, ưu tiên đối với
người nghèo. [133] Một ưu tiên như thế, được xác minh qua suốt cả truyền thống của Giáo hội, đã
được thông điệp “Sollicitudo Rei Socialis” xác nhận mạnh mẽ. Quả thế, trong thông điệp này ta đọc
thấy rằng: “Ngày nay, vì vấn đề xã hội đã có một chiều kích quốc tế, tình thương ưu tiên cũng như
các quyết định do tình thương đó gợi nên không thể không bao trùm đám đông vô số những người
đói khổ, những người hành khất, những kẻ không nhà, những người thiếu thốn thuốc men, và trên
hết, những người không còn một chút hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn: không thể không ghi
nhận rằng, có những thực tại như thế không nhìn nhận thực tại đó là tự đồng hóa với “người giàu
có yến tiệc linh đình” giả vờ như không biết đến Ladarô “người ăn xin đang nằm trước cửa nhà”
(x. Lc 16,19-31). [134]
62. Mối liên hệ giữa học thuyết xã hội và hành động Kitô giáo.

Trong ý thức của Giáo hội rõ ràng có mối liên hệ chính yếu nối kết học thuyết xã hội với hành
động Kitô giáo trong các lãnh vực, các công tác, các dịch vụ nơi mà người ta tìm cách để thực hành
những nguyên tắc và những tiêu chuẩn. Đặc biệt là việc mục vụ giả thiết phải có học thuyết xã hội,
và học thuyết xã hội đưa đến hoạt động mục vụ như một phần đặc biệt của hành động Kitô giáo.
Sự hiện diện của Giáo hội trong thế giới và việc đối thoại với thế giới để tìm cách giải quyết các
vấn đề phức tạp của con người, đòi hỏi phải có những vị mục tử có khả năng cần thiết, và các vị này
phải quan tâm học hỏi về học thuyết xã hội và phải được huấn luyện để hoạt động mục vụ và làm
việc tông đồ. Một lần nữa, chúng ta cảm thấy mình đứng trước một đòi hỏi rõ rệt phải có một
chương trình thích ứng và một tổ chức tốt cho việc giảng dậy.
63. Những hệ quả trong lãnh vực chính trị.
Việc Giáo hội không có cũng không đưa ra một “khuôn mẫu” riêng biệt nào cho đời sống xã
hội, việc Giáo hội không liên kết với bất cứ một thể chế chính trị nào như một “con đường” duy
nhất phải chọn lựa giữa những thể chế khác, [135] việc đó không có nghĩa là Giáo hội không có
nhiệm vụ đào tạo và khuyến khích các tín hữu, và đặc biệt là giáo dân, để họ ý thức trách nhiệm của
mình trong cộng đồng chính trị, [136] để họ lựa chọn những giải pháp và một mô hình dựa vào đó
ánh sáng đức tin có thể trở thành hành động Kitô giáo, nhất là khi mô hình đó đã được lịch sử kiểm
chứng. Những hướng dẫn của học thuyết xã hội của Giáo hội đối với hoạt động của giáo dân có
hiệu lực trong lãnh vực chính trị cũng như trong những lãnh vực khác của thực tại trần thế nơi mà
Giáo hội phải hiện diện vì sứ mạng Phúc âm hóa của mình.
Thật vậy, đức tin Kitô giáo đề cao và tôn trọng chiều kích chính trị của con người và của sinh
hoạt ở nơi mà đức tin được bày tỏ. Do đó, sự hiện diện của Giáo hội trong lãnh vực chính trị là một
đòi hỏi của chính đức tin, dưới ánh sáng của vương quốc Chúa Kitô, Đấng đòi phải loại bỏ sự tách
rời đức tin ra khỏi cuộc sống thường ngày, đó là “một trong những sai lầm nghiêm trọng nhất của
thời đại chúng ta”. [137] Dù sao, việc phúc âm hóa toàn thể cuộc sống con người, gồm cả chiều kích
chính trị, không có nghĩa là chối bỏ quyền độc lập của thực tại chính trị cũng như kinh tế, văn hóa,
kỹ thuật, v.v… Mỗi thực tại theo trật tự riêng của mình.
Để làm sáng tỏ sự hiện diện này của Giáo hội, tốt nhất ta nên phân biệt giữa hai khái niệm: một
là chính trị, hai là dấn thân chính trị. [138] Đối với khái niệm thứ nhất, Giáo hội có thể và phải xét
đến những thái độ chính trị không chỉ trong mức độ chúng đụng chạm đến lãnh vực tôn giáo, nhưng
cả trong những gì có dính dáng đến phẩm giá và những quyền căn bản của con người, đến công ích
và công bằng xã hội, nghĩa là đến mọi vấn đề có một chiều kích đạo đức, chiều kích này được Giáo
hội quan tâm và đánh giá theo ánh sáng Phúc âm, căn cứ vào sứ mạng “Phúc âm hóa trật tự chính
trị” và do đó nhân bản hóa nó cách trọn vẹn. Chính trị đây phải được hiểu theo hàm ý khôn ngoan
cao nhất của nó, và nó thuộc trách nhiệm của toàn thể Giáo hội.
Trái lại, dấn thân vào chính trị theo nghĩa là phải có những quyết định cụ thể, phải hoạch định
những chương trình, phải phát động nững chiến dịch, phải điều hành những tổ chức đại diện nhân

dân, phải nắm giữ quyền hành, sự dấn thân đó là bổn phận của giáo dân theo luật lệ chính đáng và
theo thể chế của xã hội trần thế mà họ là thành phần.
Điều mà Giáo hội đòi hỏi và tìm kiếm để trang bị cho con cái mình đó là một lương tâm ngay
thẳng và phù hợp với những đòi hỏi của Phúc âm để làm việc cho khôn ngoan và phục vụ cộng
đồng với tinh thần trách nhiệm. [139]
Để được tự do hơn trong việc Phúc âm hóa thực tại chính trị, các vị mục tử và các vị lãnh đạo
trong Giáo hội phải ứng ngoài những đảng phái và phe nhóm là những cái dễ gây chia rẽ hoặc dễ có
hại cho tính hiệu quả của việc tông đồ, các ngài cũng không nên đứng ra yểm trợ phe này hơn phái
kia, trừ những “trường hợp cụ thể và đặc biệt mà lợi ích cộng đoàn đòi hỏi”. [140]
64. Dấu chỉ nước Chúa hiện diện.
Trong khung cảnh những giá trị, những nguyên tắc và những tiêu chuẩn đã vạch ra, rõ ràng là
hoạt động xã hội của Giáo hội, được Phúc âm soi sáng, chính là dấu chỉ Nước Chúa trị đến trên trần
gian, khi Giáo hội cáo giác tất cả những gì xâm phạm đến sự sống và phẩm giá con người trong các
thể chế, trong các cơ cấu và chế độ xã hội; khi Giáo hội khuyến khích mọi người hội nhập tích cực
vào trong xã hội, như là một đòi hỏi đạo đức của sứ điệp Tin mừng về sự Công chính, về tình liên
đới và tình yêu thương.
Đó là một hoạt động mục vụ được thực hiện nhờ Lời Chúa giúp cải hóa lương tâm con người;
nhờ việc soạn thảo và phổ biến học thuyết xã hội, một học thuyết đã thu hút được sự chú ý và đánh
thức được tính nhạy cảm của mọi người, nhất là của giới trẻ, đối với những vấn đề xã hội cũng như
đối với đòi hỏi Tin Mừng yêu cầu phải dấn thân đòi hỏi công bằng cho người nghèo, cho tất cả mọi
người đau khổ; sau cùng là nhờ ở hoạt động nhanh chóng và quảng đại, hoạt động đó tìm cách giải
đáp cho nhiều vấn đề cụ thể đang làm cho cuộc sống con người và xã hội trở nên khó khăn hơn.
Như thế, Lời Chúa soi sáng cho lương tâm và các việc làm thì thể hiện Lời Chúa.
65. Kết luận về ý nghĩa và tính năng động của học thuyết xã hội.
Sau khi xét đến bản chất và chiều kích lịch sử của học thuyết xã hội của Giáo hội và những yếu
tố cấu tạo như những nguyên tắc nền tảng, những tiêu chuẩn nhận định và những chỉ dẫn hoạt động,
có thể xác tín rằng một khi đã tạo được một “di sản phong phú và phức tạp”, đủ rõ ràng và vững
chắc, học thuyết này hãy còn nhiều chặng đường phía trước phải theo đuổi, tùy theo tính năng động
của sự phát triển xã hội loài người trong lịch sử.
Do chính điều kiện của nó, mặc dù khó có thể xác định bằng những từ ngữ kinh điển chính xác,
học thuyết này, qua những phần vừa trình bày trên đây, được phác họa đủ rõ, ít ra, trong những nét
chính, trong khi lúc đầu chỉ xuất hiện như một “bộ phận  của quan điểm Kitô giáo về cuộc
sống”. [141] Quả vậy, ta thấy rằng tác động của học thuyết đó đối với thế giới không phải là một tác
động không đáng kể, nhưng là một tác động có tính cách quyết định như là “men” là “muối đất”, là
“hạt giống” và là “ánh sáng” của nhân loại. [142]
Trên cơ sở những giả thuyết đó, huấn quyền Giáo hội – giáo hoàng, Công đồng, Giám mục –
nhờ sự đóng góp của việc nghiên cứu và kinh nghiệm của toàn thể cộng đồng kitô hữu, đã soạn
thảo, sắp đặt, trình bày học thuyết này như một tổng thể những giáo huấn nhằm cống hiến không chỉ
riêng cho các tín hữu mà còn cho tất cả mọi người thiện tâm, để nhờ Phúc âm soi sáng con đường
đồng hành hướng đến việc phát triển và giải phóng trọn vẹn con người.

VI. VIỆC ĐÀO TẠO.

66. Mục đích tài liệu này.
Những chỉ dẫn vừa được trình bày trên đây dành cho những vị có bổn phận và trách nhiệm đào
tạo những ứng viên linh mục và những học viên của các viện thần học. Những chỉ dẫn đó được soạn
ra với mục đích làm giảm bớt những khó khăn và khích lệ công tác giáo dục trong lãnh vực học
thuyết xã hội; chắc chắn là những giảng viên sẽ biết tận dụng những chỉ dẫn đó để tổ chức nội dung
và phương pháp giảng dạy. Quả vậy, mục đích của tài liệu là giúp cho các linh mục tương lai khi

học môn này nắm vững những điểm nền tảng và cần thiết để trở nên vững chắc về thần học và mục
vụ. Do đó, quả là điều thích hợp khi dành chương này cho những chỉ dẫn cụ thể giúp các giáo sư
chuẩn bị chu đáo và tổ chức tốt hơn việc huấn luyện học viên.
1/ Việc đào tạo giáo sư.

67. Đào tạo về thần học, khoa học và mục vụ.
Không cần phải nhấn mạnh đến sự kiện này là việc các học viên tiếp thu tốt học thuyết xã hội
của Giáo hội tùy thuộc phần lớn vào khả năng chuyên môn và phương pháp giảng dạy của các giáo
sư. Để có được những phẩm chất này đòi hỏi chính các giáo sư phải được chuẩn bị kỹ càng: Không
có gì bảo đảm nếu các vị ấy chỉ được học sơ sài một số giáo trình về học thuyết xã hội trong thời
gian học triết học và thần học.
Chính vì thế mà các Giám mục và các vị bề trên của các trung tâm đào tạo của Giáo hội có
trọng trách phải gởi một vài học viên có khả năng và biết quan tâm đến học ở những phân khoa xã
hội học và những viện cao học cùng loại đã được thẩm quyền của Giáo hội công nhận, để có thể
giúp cho các giảng viên có được những kiến thức khoa học đầy đủ. Giáo hội mong rằng các giảng
viên như thế, với trách nhiệm đào tạo hàng giáo sĩ, phải được chọn lựa trong số những người ưu tú,
có kiến thức vững chắc về giáo lý và kinh nghiệm mục vụ xứng hợp đi đôi với đời sống đạo đức tốt
và am tường khoa sư phạm. [143]
Ngoài ra nên nhớ rằng để giảng dạy học thuyết xã hội, mớ kiến thức đơn giản về những văn
kiện tương ứng của huấn quyền không thôi thì chưa đủ. Các vị giáo sư cần phải có được một kiến
thức sâu rộng về thần học, cần phải thông suốt về những luân lý xã hội và ít ra cũng cần phải biết
đến những nét căn bản của các ngành xã hội học hiện đại nữa. Vả lại cần phải cộng tác chặt chẽ với
các giáo sư dạy môn luân lý, tín lý và mục vụ để đảm bảo giảng dạy một cách mạch lạc, thống nhất
và vững vàng, và để giúp cho các học viên có được một cái nhìn tổng hợp về thần học và mục vụ.
Cũng phải tìm cách liên kết chặt chẽ việc đào tạo về học thuyết xã hội, về mục vụ với việc đào tạo
về đời sống thiêng liêng . [144]
68. Chức năng của các khoa xã hội học.
Như vừa trình bày, học thuyết xã hội của Giáo hội không thể bỏ qua những khoa xã hội học,
nếu thuyết này muốn giữ vững mối liên hệ với đối với xã hội và nếu muốn có được ảnh hưởng thiết
thực đối với thực tại mục vụ. Vì thế, đòi hỏi các vị giáo sư dạy về học thuyết xã hội phải quan tâm
đến kết quả tốt đẹp của việc chuẩn bị mục vụ của cho các ứng viên linh mục, và phải nhớ rằng trong
khi giảng dạy không được tự giới hạn trong việc “nhắc lại những nguyên tắc tổng quát”, nhưng cần
phải quan tâm đến việc triển khai những nguyên tắc đó nữa “bằng việc suy tư chín chắn khi tiếp xúc
với những tình trạng đổi thay của thế giới, dưới sự thúc đẩy của Phúc âm như là nguồn mạch của
sự canh tân". [145] Do đó, các vị giáo sư cũng có bổn phận phải giúp cho các học viên sử dụng đến
những phương thế mà các khoa nhân văn cống hiến dựa trên những quy tắc của Giáo hội. [146]
Quả vậy, những khoa học nhân văn là một công cụ quan trọng để đánh giá những tình trạng
đang thay đổi và để tạo dịp đối thoại với thế giới và với mọi người thuộc mọi lập trường. [147] Các
khoa học nhân văn cung cấp cho các giáo huấn về xã hội bối cảnh thực nghiệm trong đó những
nguyên tắc cơ bản có thể và phải được áp dụng. Các khoa học nhân văn giúp ta có được những chất
liệu nghiên cứu phong phú để đánh giá và nhận định những tình trạng và những cơ cấu xã hội ;
chúng cũng giúp có một định hướng để thực hiện những chọn lựa cụ thể. Dĩ nhiên trong khi nghiên
cứu và quan tâm đến các khoa học xã hội, ta phải tránh rơi vào những cạm bẫy của những ý thức hệ
vận dụng sự giải thích các sự kiện, hoặc nguy cơ rơi vào chủ nghĩa thực nghiệm đánh giá quá cao
những dữ kiện thực nghiệm có hại cho nhận thức bao quát về con người và thế giới.
69. Việc đào tạo liên tục (bồi dưỡng).
Rõ ràng là thực tại xã hội và những khoa học giải thích thực tại xã hội đều không thoát khỏi
một sự đổi thay liên tục và nhanh chóng. Vì thế, thật cần thiết phải bồi dưỡng liên tục các giáo sư,

để đảm bảo “việc cập nhật hóa ” liên tục cho các vị đó. Thiếu liên lạc chặt chẽ với những vấn đề
mới và những khuynh hướng mới thuộc tầm vóc quốc gia, liên quốc gia và quốc tế, cũng như thiếu
liên lạc với những phát triển mới của học thuyết xã hội của Giáo hội, thì việc giảng dạy của các vị
ấy có thể mất đi hứng thú và khả năng đào tạo.
70. Kinh nghiệm mục vụ.
Để các giáo sư có thể dạy môn học thuyết xã hội, không phải chỉ như một thứ lý thuyết trừu
tượng, nhưng như một môn học hướng đến hành động cụ thể, thì kinh nghiệm mục vụ trực tiếp sẽ
rất hữu ích cho các ngài. Kinh nghiệm này sẽ khác đi tùy theo những nơi, những tình huống, những
khả năng và những khuynh hướng của mỗi người. Nhưng kinh nghiệm này luôn được chọn lọc và
sắp xếp lại để việc giảng dạy được cụ thể, có giá trị và sâu sắc.
2/ Việc huấn luyện học viên.

71. Việc huấn luyện mục vụ.
Theo tinh thần của Công đồng Vat.II và theo giáo luật thì tư cách thích hợp với chức vụ mục tử
của các ứng viên Linh mục sở dĩ có được nhờ vào công cuộc huấn luyện toàn vẹn, chuyên chăm
nhằm làm tăng trưởng mọi phương diện của con người Linh mục: nhân bản, đạo , thần học và mục
vụ. Ta có thể suy diễn tương tự như thế đối với việc chuẩn bị cho giáo dân làm việc tông đồ.
Về vấn đề này, ta nên nhớ lại rằng, tuy dù đích thị công cuộc huấn luyện nhắm mục đích mục
vụ, nhưng cũng cần phải tiên liệu cho các ứng viên được huấn luyện cách đặc biệt về mục vụ, [148]
việc huấn luyện này cũng quan tâm đến học thuyết xã hội của Giáo hội.
72. Việc huấn luyện này tất nhiên đòi hỏi và bao gồm, như đã trình bày, một sự chuẩn bị về thần
học thích đáng để loan báo Lời Chúa theo những nhu cầu của con người, của môi trường và của thời
gian, và để Giáo hội đối thoại với thế giới. Trong khuôn khổ đó, cần phải gợi lên nơi các học viên
sự quan tâm và sự nhạy cảm đối với học thuyết và mục vụ xã hội của Giáo hội. Trong chiều hướng
đó, giáo luật đề cập đến sự cần thiết phải giáo dục các Linh mục tương lai biết “đối thoại với con
người” và trở nên bén nhạy đối với trách vụ xã hội của Giáo hội. [149]
73. Giáo trình học thuyết xã hội.
Về khoảng thời gian dành cho môn học thuyết xã hội, trong chương trình các môn dạy ở các
trung tâm đào tạo của Giáo hội, rõ ràng là theo những gì đã nói ở trên thì không thể coi là đủ nếu
chỉ đề cập đến môn học thuyết xã hội này trong một vài bài học có tính cách nhiệm ý xen vào trong
giáo trình triết lý và thần học; nhưng cần phải lên chương trình với những giáo trình có tính cách bó
buộc cho môn học này.
Muốn biết lúc nào thuận lợi nhất để học môn này thì tùy thuộc vào sự sắp xếp thời khóa biểu
của các trung tâm và các viện đào tạo khác nhau. Có thể là hữu ích nếu như xếp được các giáo trình
trong suốt quá trình huấn luyện các học viên. Giải pháp này đảm bảo được sự liên tục và sự tuần tự
cần thiết của việc học tập, và giúp cho hiểu rõ hơn những ý niệm về triết lý xã hội và về thần học
nằm trong những tài liệu khác nhau. Trong việc huấn luyện điều cốt yếu là phải bảo đảm cho học
viên hiểu biết các thông điệp quan trọng về xã hội.
Các thông điệp này phải là chất liệu của những giáo trình đặc biệt, và buộc các học viên phải
học. Việc nghiên cứu các thông điệp sẽ phải quan tâm đến bối cảnh xã hội, văn hóa trong đó các
thông điệp đã được soạn ra; phải quan tâm đến những giả thiết thần học và triết học làm nền tảng
cho những thông điệp đó; phải quan tâm đến mối tương quan của chúng với những khoa học xã hội
và ý nghĩa của chúng đối với tình trạng hiện nay.
Ngoài ra, ta cũng sẽ phải nghiên cứu những vấn đề xã hội của các Giáo hội địa phương trong
mối liên quan với những tài liệu của Giáo hội toàn cầu.
74. Nền tảng triết lý – thần học.

Ngoài cảm thức mục vụ đối với những vấn đề xã hội, cần phải cống hiến cho các học viên một
nền tảng vững chắc về triết lý và thần học trên những nguyên tắc của học thuyết xã hội và trên mối
tương quan giữa các môn học với nhau. Trong tình trạng hiện nay, nền tảng này đặc biệt quan trọng
cho việc “đối thoại với thế giới” mà Giáo hội đang tiến hành theo phương hướng của Công đồng
Vat.II.
Quả vậy, các Linh mục cũng như tất cả các giáo dân dấn thân vào công tác tông đồ xã hội
thường đều bị chất vấn bằng những ý thức hệ cấp tiến và chuyên chế, tập thể cũng như cá nhân chủ
nghĩa; hoặc bị chất vấn bởi những khuynh hướng tục hóa nếu không phải bởi một chủ nghĩa thế tục
xa lạ với tinh thần Kitô giáo.
75. Sứ điệp đích thực và nguyên vẹn của Đức Kitô.
Như đã trình bày , việc huấn luyện thần học, mục vụ và đạo đức cho tất cả những ai muốn hiến
thân hoạt động xã hội, bao hàm huấn luện cảm thức bén nhậy đối với vấn đề xã hội, huấn luyện thói
quen dựa vào những tiêu chuẩn của học thuyết xã hội của Giáo hội mà nhận định những tình thế,
những cơ chế, những hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị.
Ngoài ra, việc huấn luyện đó cũng bao hàm một việc chuẩn bi đặc biệt để có thể hoạt động cách
thích đáng ở những mức độ khác nhau và trong những lãnh vực khác nhau của hoạt động nhân loại.
Nhưng trên hết, một việc huấn luyện như thế đòi hỏi giáo dân và ứng viên Linh mục phải ý thức
bổn phận làm chứng cho Chúa Kitô sao cho toàn thể hoạt động trần thế của con người luôn được
thấm nhuần ánh sáng Phúc âm. [150] Thật vậy, sự đóng góp thiết yếu của Giáo hội trong lãnh vực
xã hội luôn là việc loan báo trọn vẹn Tin Mừng: một sự loan báo dành cho những vấn đề xã hội một
sự chú ý lớn lao.
Giải thích Phúc âm và áp dụng Phúc âm vào thực tại xã hội con người hôm nay quả là điều
chính yếu trong việc huấn luyện thần học và các môn học khác cho các học viên, việc giải thích và
áp dụng Phúc âm trên đây có một giá trị quyết định đối với tình hiệu quả của hoạt động mục vụ.
Trong việc huấn luyện này, gương sống, việc rao giảng và hoạt động không thể tách rời nhau, vì
chúng được nối kết trong chính ngôi vị của Chúa Giêsu, trong Phúc âm và trong Truyền thống của
Giáo hội.
76. Những kinh nghiệm mục vụ đầu tiên.
Trong thời gian huấn luyện người ta khuyên nên hướng các học viên đến kinh nghiệm mang
tính mục vụ và xã hội, những kinh nghiệm giúp cho họ tiếp cận với những vấn đề được học hỏi, như
một số nơi đang làm với những kết quả tích cực. Trong việc huấn luyện này, các học viên phải ý
thức đầy đủ vai trò đặc biệt của Linh mục trong hoạt động xã hội, một vai trò được đặc biệt lưu ý
nhiều lần trong thời gian gần đây trong huấn quyền của Giáo hội toàn cầu cũng như của những Giáo
hội địa phương.
Người ta khuyên nên có những cuộc tham quan và trao đổi giữa các học viên, có giáo sư của họ
cùng đi, với giới lao động, các nhà kinh doanh, các thợ thuyền, các nghiệp đoàn cũng như trao đổi
với các tổ chức xã hội và với những nhóm bên lề xã hội.
77. Bổn phận của Linh mục đối với giáo dân.
Một phần trong chương trình huấn luyện mục vụ xã hội đó là dạy cho các học viên về bổn phận
và phương pháp phải theo để giúp cho giáo dân có được một ý thức luôn luôn sống động về sứ
mạng và trách nhiệm của họ trong lãnh vực xã hội.
Trong viễn tượng đó thì bổn phận của Linh mục là giúp cho giáo dân ý thức vai trò của mình; là
đào tạo họ về phương diện đạo đức cũng như về phương diện học thuyết; là hướng dẫn họ trong
hoạt động xã hội; là chia sẻ những nỗi nhọc mệt và những nỗi khổ của họ; là nhìn nhận phận vụ
quan trọng của các tổ chức giáo dân nhằm hoạt động tông đồ cũng như hoạt động xã hội; là nêu
gương cho họ về một cảm thức xã hội sâu sắc. Như thế, hiệu quả của sứ điệp Kitô giáo, ngoài tác
động của Chúa Thánh Thần, còn tùy thuộc vào cách sống và chứng tích mục vụ Linh mục; trong khi

phục vụ con người theo tinh thần Phúc âm, Linh mục biểu hiện khuôn mặt đích thực của Giáo
hội. [151]
 78. Kết luận.
Sau cùng, khi trao phó tài liệu này cho các vị Giám mục và các học viên thần học, Bộ Giáo dục
công giáo mong muốn tài liệu có thể cống hiến cho việc giảng dạy học thuyết xã hội của Giáo hội
một sự giúp đỡ có giá trị và một phương hướng chắc chắn.
Một công việc giảng dạy như thế, nếu được thực hiện đúng đắn, chắc chắn sẽ có thể gợi lên cho
các Linh mục tương lai và cho những nhà hoạt động mục vụ khác, một hứng khởi mới cho hoạt
động tông đồ, khi chỉ dẫn cho họ con đường chắc chắn cho một hoạt động mục vụ hữu hiệu.
Khi quan tâm đến vô số những nhu cầu tinh thần và vật chất của xã hội ngày nay, những nhu
cầu mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô.II đã nhiều lần nhắc nhở đến, người ta chỉ có thể mong ước
rằng mỗi ứng viên Linh mục sẽ trở thành một sứ giả sáng suốt và có trách nhiệm về biểu thức hiện
đại này của việc rao giảng Tin Mừng, một biểu thức sáng giá nhất để đưa ra những phương thuốc
công hiệu chữa trị những cơn bệnh của thời đại chúng ta và góp phần vào việc cứu rỗi thế gian.
Bổn phận của các vị Giám mục và của các vị hữu trách các viện đào tạo Linh mục là bằng mọi
cách lo liệu cho những “chỉ dẫn này được giải thích đúng mức và được đưa vào chương trình huấn
luyện để có thể chấn chỉnh việc huấn luyện về lý thuyết và về mục vụ, một sự chấn chỉnh mà ngày
nay đang trông đợi, một sự chấn chỉnh đáp ứng những ước vọng của chúng ta.

Roma, 30/12/1988.
Hồng Y WILLIAM BAUM
BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC CÔNG GIÁO.

MỤC LỤC

Mở đầu:
I. BẢN CHẤT CỦA HỌC THUYẾT XÃ HỘI
II. CHIỀU KÍCH LỊCH SỬ CỦA HỌC THUYẾT XÃ HỘI
1.Chiều kích xã hội của sứ điệp Kitô Giáo nguyên thủy
2. Việc hình thành một sản nghiệp lịch sử
III. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ GIÁ TRỊ VỮNG BỀN
1. Những nguyên tắc vững bền để suy tư
2. Những giá trị cơ bản
IV. NHỮNG TIÊU CHUẨN ĐỂ NHẬN ĐỊNH
V. NHỮNG CHỈ DẪN VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
VI. VIỆC ĐÀO TẠO
1. Đào tạo giảng viên
2. Đào tạo học viên