VÀO ĐỀ
Vào chiều ngày 20/6 tới đây, tại Trung Tâm Công giáo số 72/12 Trần Quốc
Toản, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có một buổi họp khá đặc biệt do Đức
Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa triệu mời từ sự ủy nhiệm của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Mục đích của cuộc họp là góp ý về việc Giáo hội Việt Nam thực thi Tông huấn “Giáo Hội tại
Á Châu”. Chắc những người được mờisẽ có mặt đầy đủ và sẽ chân tình nói lên những suy
nghĩ, ước vọng của mình để đóng góp vào sự tìm kiếm chung của toàn Giáo hội Việt Nam.
Chúng tôi cho rằng công việc tham khảo ý kiến cộng đoàn Dân Chúa như thế này của Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam là hết sức hữu ích, thậm chí rất cần thiết. Và vì chúng tôi cũng
nghĩ rằng mọi người công giáo Việt Nam đều có trách nhiệm tham gia vào việc góp ý này,
nên chúng tôi mạnh dạn trình bày –một cách chân thành- một vài suy nghĩ và gợi ý của mình,
để góp phần vào việc xây dựng Giáo hội Việt Nam thành một Giáo hội sống và rao giảng
Phúc Âm như Công đồng Vatican II và Thượng Hội đồng Giám Mục Á châu mong muốn.

VÀI SUY NGHĨ &;GỢI Ý
Trước hết chúng tôi xin được phép xác định rằng: Để trình bày một vài suy nghĩ và
gợi ý chủ quan và giới hạn của mình, chúng tôi sẽ dựa vào và khởi đi từ những suy tư và đề
nghị của linh mục tiến sĩ Phêrô Phan Đình Cho, một nhà thần học có thế giá lớn tại Hoa Kỳ
và trên thế giới hiện nay. Những suy tư và đề nghị của linh mục Cho đã được cô đọng trong
bài viết của ngài ‘Giáo Hội tại Á Châu: Thách đố đối với Kitô giáo Á Châu’ mà chúng tôi
đã dịch sang tiếng Việt và gửi đăng trên Nguyệt San Công Giáo và Dân tộc số 66 tháng
6.2000, trang 10-23.
I. GIÁO HỘI VIỆT NAM CẦN HỘI NHẬP KHU VỰC
Sau chuyến đi Phi-lip-pin năm 1995, chúng tôi đã nêu lên một gợi ý là Giáo hội Việt
Nam nên nhanh chóng hội nhập khu vực. Lúc ấy thì Việt Nam mới đang chuẩn bị gia nhập tồ
chức ASEAN và tình hình chính trị, xã hội và tôn giáo ở Việt Nam cũng chưa được như bây
giờ. Bây giờ thì việc hội nhập ấy lại càng thuận lợi và cấp bách xét về nhiều mặt. Về mặt
chính trị, kinh tế, văn hoá, giao lưu…. thì Việt Nam đã gia nhập ASEAN, tổ chức chính trị
quan trọng nhất của khu vực, và càng ngày càng có vai trò đáng kể trong khu vực và trên
trường quốc tế. Về mặt giáo hội thì một đàng Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nhiều lần
tham gia vào các hội nghị của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (trong tiếng Anh là
Federation of The Asian Bishops’ Conferences viết tắt là FABC). Đàng khác thì các Giáo hội
Á Châu đã có Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu họp tại Roma từ ngày 18/4 đến
ngày 14/5/1998 và đã có ‘Tông huấn Giáo hội tại Á Châu’ được Đức Giáo Hoàng
Gioan Phaolo II ban hành tại New Delhi Ấn Độ) ngày 6/11/1999. Về Thượng Hội
đồng Giám mục Á châu và về Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’- là tông huấn xuất phát từ
Thượng Hội đồng Giám mục ấy- thì Giáo hội Việt Nam đã có phần đóng góp đáng kể, từ giai
đoạn chuẩn bị cho đến giai đoạn hội nghị mà một số Giám mục đại biểu của chúng ta đã tham
dự .
Muốn Giáo hội Việt Nam hội nhập khu vực một cách tốt đẹp thì chúng ta không thể
không giải quyết vấn đề “tính cách pháp nhân” của Hội Đồng Giám mục Việt Nam đối với

Liên Hội đồng Giám mục Á châu, trước con mắt của Nhà Nước Việt Nam. Thật ra thì Hội
đồng Giám mục Việt Nam (hiểu là Miền Nam Việt Nam) chẳng những là thành viên, mà còn
là thành viên sáng lập của Liên Hội đồng Giám mục Việt Nam từ ngày thành lập vào năm
1972. Từ ngày 30/4/1975 đến nay tư cách thành viên ấy chưa được Nhà Nước Việt Nam
chính thức nhìn nhận. Theo chỗ chúng tôi biết thì các Giám mục Việt Nam đã có một vài nỗ
lực để tư cách pháp nhân ấy được hợp thức hóa với Nhà Nước Việt Nam, tạo điều kiện cho
Giáo hội Việt Nam hòa nhập nhanh hơn, đầy đủ hơn vào các sinh hoạt của Liên Hội đồng
Giám mục Việt Nam và của các tiểu ban của tổ chức này. Nhưng vấn đề chưa được giải
quyết. Nghe đâu phía Nhà Nước “yêu cầu” Hội đồng Giám mục Việt Nam làm hồ sơ xin tái
gia nhập Liên Hội đồng Giám mục Á châu để Nhà Nước cứu xét và hợp thức hóa. Như vậy có
hợp tình hợp lý không? Tính pháp nhân hay tư cách là thành viên của Hội đồng Giám mục
Việt Nam đối với Liên Hội đồng Giám mục Á châu có cần phải được Nhà Nước Việt Nam
“phê duyệt”, “chuẩn y” không? Nếu hai bên chỉ lấy lý ra mà nói chuyện với nhau thì thật khó
mà giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng. Chúng tôi nghĩ là cả hai bên nên có thái độ và hành
động uyển chuyển và hợp lý hơn và nên lấy “ích nước lợi dân” làm mục đích cao cả và chính
yếu nhất, thì giải quyết tốt đẹp vấn đề tính “pháp nhân” này nhằm mưu cầu lợi ích thật sự cho
quê hương, đất nước chúng ta.
II. GIÁO HỘI VIỆT NAM CẦN TIẾP CẬN VÀ ĐÀO SÂU NHỮNG VĂN KIỆN CỐT
YẾU CỦA LIÊN HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC Á CHÂU VÀ NHẤT LÀ ‘TÔNG HUẤN
GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU’
Từ ngày thành lập năm 1972 đến nay, Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã có một quá
trình gần 30 năm suy tư, tìm tòi, nghiên cứu và thực hiện Công đồng Vatican II tại Á châu. Tổ
chức này hằng năm có những kỳ họp toàn thể với các chủ đề rất phong phú và thực tế. Ngoài
ra tổ chức này còn có các cơ quan trực thuộc về từng lãnh vực và hoạt động rất bài bản và có
chất lượng. Các tài liệu, văn bản của Liên Hội đồng Giám Mục Á châu cũng như của các ủy
ban và tiểu ban đều rất phong phú, nhưng lại còn khá xa lạ với nhiều Giám mục, linh mục và
tu sĩ Việt Nam, chứ đừng nói gì đến hàng ngũ giáo dân. Sự kiện ấy do mấy nguyên nhân
chính sau đây: Trước hết là trong những năm Việt Nam sống tự cô lập hoặc bị cô lập thì Giáo
hội Việt Nam không có tiếp xúc liên lạc gì với các Giáo hội trong vùng. Một lý do khác là
Giáo hội Việt Nam thuộc vùng nói tiếng Pháp (francophone) tuy rằng nằm trong vùng Đông
Nam Á châu nói tiếng Anh. Nhiều Giám mục, giám mục, tu sĩ được đào tạo tại Pháp, tại Ý,
Đức chứ có rất ít người sang Ấn độ, Phi-lip-pin hay Đài Loan học. Do đó Giáo hội Việt Nam
gắn bó mật thiết với Giáo hội Pháp, Ý, Đức và với Tòa Thánh Vatican mà không quan tâm
đến các Giáo hội trong vùng.
Vì thế cho nên trong chiều hướng hội nhập khu vực thì công việc đầu tiên của Giáo
hội Việt Nam là tiếp cận, thu tậpchuyển dịch những tài liệu quan trọng của Liên Hội
đồng Giám mục Á châu và của các tiểu ban của tổ chức này và giới thiệu những tài liệu ấy
với mọi thành phần Dân Chúa, nhất là với các thành phần nòng cốt của Giáo hội là các linh
mục, tu sĩ, cán bộ giáo dân trong giáo xứ, hội đoàn thông qua các buổi nói chuyện hay hội
nghị chuyên đề, các khóa huấn luyện, bồi dưỡng ngắn và dài ngày v.v..
Công việc thứ hai của Giáo hội Việt Nam là nghiên cứu cặn kẽ tức đào sâu ‘Tông
huấn Giáo hội tại Á châu’ để rút ra những thực hành cụ thể cho từng cấp (quốc gia, miền hay
liên giáo phận, giáo phận, giáo hạt, giáo xứ, giới, hội đoàn). Công việc này hết sức quan trọng
vì Tông huấn này là định hướng chiến lược của các Giáo hội Á châu, trong đó có Việt Nam.
Có thể nói sau các văn kiện của Công đồng Vatican II thì Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’
phải là tài liệu tham khảo, qui chiếu của giảng dậy, nghiên cứu, áp dụng của Giáo hội Việt
Nam. Thật ra Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’ mới chỉ là những định hướng, những tiêu

chuẩn, nguyên tắc lý thuyết cần được cụ thể hóa bằng hoạt động và cơ chế mà mỗi Giáo hội
tại/của Á châu phải thực hiện, để bước vào thiên niên kỷ thứ ba.
III. GIÁO HỘI VIỆT NAM CẦN TÌM MỌI CÁCH TRIỂN KHAI CỤ THỂ BỐN ĐẶC
ĐIỂM CỦA CÁCH THỂ HIỆN GIÁO HỘI MỘT CÁCH MỚI TẠI VIỆT NAM
Cùng với việc giải quyết hai công việc to lớn và quan trọng vừa nêu, Giáo hội Việt
Nam nên tìm mọi cách để triển khai cụ thể bốn đặc điểm của cách thể hiện Giáo hội một cách
mới. Cách thể hiện Giáo hội một cách mới nói đến ở đây không phải là ý kiến riêng tư của
linh mục Phêrô Phan Đình Cho mà chính là quan điểm chung của các nhà lãnh đạo và thần
học của các Giáo hội Á châu (đọc các tài liệu của Liên Hội đồng Giám mục Á châu chúng ta
sẽ thấy rõ điều này) Có thể nói đây chính là cách áp dụng giáo huấn của Công đồng Vatican II
vào các hoàn cảnh cụ thể của các Giáo hội Á châu. Công cuộc canh tân của Công đồng
Vatican II đã được tiếp nối một cách đặc biệt trong giai đoạn 1990-2000 bởi các Thượng Hội
đồng Giám mục châu lục mà Đức Giáo hoàng đương kim Gioan Phaolo II đã lần lượt triệu tập
và bởi các Tông huấn đi theo sau các Thượng Hội đồng Giám mục ấy. Đối với chúng ta thì đó
là Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’!
Ở đây chúng tôi không nhắc lại những nền tảng thánh kinh, thần học hay giáo hội học
của bốn đặc điểm mà linh mục Phêrô Phan Đình Cho đã nêu trong bài Giáo hội tại ‘Á châu:
Thách thức đối với Kitô giáo Á châu’ nói trên. Chúng tôi muốn đưa ra một số gợi ý có liên
quan tới một số việc cụ thể mà Giáo hội Việt Nam cần làm và có thể làm lúc này và trong
những năm sắp tới.
1. Trước hết liên quan tới bản chất “Giáo hội là sự hiệp thông của các cộng đoàn” và
liên quan tới “tính bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu trong cộng đoàn Dân Chúa” chúng
tôi thấy Giáo hội Việt Nam có những việc “cần làm và có thể làm” sau đây:
1.1 Đào sâu Mầu Nhiệm Hiệp Thông của Thiên Chúa tức Mầu Nhiệm Thiên Chúa là
Cha, Con và Thánh Thần vì đó là nền tảng của mọi cộng đoàn, tổ chức, cơ chế Giáo hội.
Đồng thời đào sâu tính bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu trước mặt Thiên Chúa về phẩm
giá và về ơn gọi. Việc đào sâu này có tầm quan trọng quyết định tương lai của Giáo hội Việt
Nam, vì chưng theo nhận định của nhiều người, thì Giáo hội Việt Nam quá thiên về phẩm trật,
nặng về quyền bính mà ít phát triển tinh thần hiệp thông và bình đẳng hàm chứa trong Kitô
giáo. Nguyên nhân của tình trạng trên là vì chúng ta chưa hiểu thấu đáo tinh thần Phúc Âm và
chịu ảnh hưởng rất mạnh của Nho giáo trong cách suy nghĩ và cách sống các mối tương quan
giám mục-giáo sĩ- tu sĩ- giáo dân.
Công việc tiếp theo là tìm mọi cách áp dụng tinh thần hiệp thông và tính bình đẳng ấy
vào trong mọi tổ chức của Giáo hội ở cấp quốc gia cũng như ở các cấp địa phương thấp hơn,
tức từ Hội đồng Giám mục Việt Nam đến Hội đồng Linh mục và Hội đồng Mục vụ Giáo phận
và Giáo xứ. Nên nhớ tính hiệp thông cộng đoàn và bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu sẽ
dẫn đến một cách ‘mới’ thể hiện Giáo hội mà trong đó mọi thừa tác có chức thánh hay không
có chức thánh, đều có phần và đều phải góp phần tức tham gia hết mình vào công cuộc xây
dựng Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Giáo hội, theo đoàn sủng đã nhận lãnh từ Thiên
Chúa để sinh ích cho toàn cộng đoàn (1 Cr 12, 4-30). Trong các tài liệu của Liên Hội đồng
Giám mục Á châu, chúng ta luôn gặp từ ‘Participatory Church’. Đó là một khái niệm có thể
được coi là ‘chủ lực’ trong Giáo hội học Á châu, trong cùng một chiều hướng với khái niệm
‘Giáo hội là Dân Chúa’ mà Công Đồng Vatican II đã triển khai và nhấn mạnh trong chương
II của Hiến chế tín lý về Giáo hội ‘Ánh sáng muốn dân’ . Tính hiệp thông sâu xa và tính bình
đẳng căn bản của mọi Kitô hữu còn dẫn đến một phong cách lãnh đạo ‘không mang tính thống
trị’ (non-dominating leadership) mà mang ‘tính cộng đoàn’ hơn. Nói cách đơn giản thì đó là

phong cách lãnh đạo mang ‘tính dân chủ’ chứ không mang tính cá nhân, chuyên quyền, độc
tài.
Nếu áp dụng tính hiệp thông cộng đoàn và tính bình đẳng căn bản trên vào cách tổ
chức của giáo phận và giáo xứ, chúng ta thấy có rất nhiều việc cần làm. Một ví dụ: Hiện nay
tại một số giáo phận có hội đồng linh mục nhưng trên thực tế thì cơ cấu này có trên giấy tờ
hơn là trên thực tế, nên không đóng góp gì cho giới linh mục và cho giáo phận. Vả lại một tổ
chức nặng tính hình thức, ban bệ thì không diễn tả được tính hiệp thông cộng đoàn và tính
bình đẳng căn bản nói trên. Một ví dụ khác: Hiện nay chỉ có một vài giáo phận đã thành lập
Hội đồng Mục vụ Giáo phận nhưng cũng chưa có hoạt động tương xứng như chức năng. Còn
tại rất nhiều giáo xứ tuy đã có Ban Hành giáo hoặc Hội đồng Giáo xứ nhưng rất ít nơi có được
một Hội đồng Mục vụ Giáo xứ đúng nghĩa. Trong lãnh vực cơ cấu của ba Hội đồng này
chúng ta thấy có hai việc ‘cần làm và có thể làm’: một là cần có một qui chế thống nhất, tiến
bộ cho mỗi hội đồng; hai là cần có chương trình hành động cụ thể và liên tục; ba là riêng với
các giáo dân thì cần có chương trình đào tạo bồi dưỡng hợp lý, tiệm tiến, liên tục, tiến bộ.
Chúng tôi nhấn mạnh đến “tính tiến bộ” hay “cởi mở”của qui chế, vì chưng cũng một khoản
luật sẽ được giải thích một cách rất khác nhau tùy theo khuynh hướng ‘bảo thủ’ hay ‘tiến bộ’.
Ví dụ: Giáo luật điều 536 viết như sau:
Số 1: “Nếu Giám mục giáo phận xét là thuận lợi, sau khi đã tham khảo ý kiến của
Hội đồng linh mục, thì trong mỗi giáo xứ nên thành lập Hội đồng Mục vụ, do cha Sở
chủ trì, và trong đó các tín hữu cùng với những người chiếu theo chức vụ, tham gia
vào việc chăm sóc mục vụ trong giáo xứ, cùng đóng góp sự cộng tác của mình vào
việc cổ võ sinh hoạt mục vụ”.
Số 2: Hội đồng mục vụ chỉ có quyền tư vấn và được điều hành theo các qui tắc do
Giám mục giáo phận ấn định”
Trong điều 536 của Giáo luật nêu trên chúng ta nên ghi nhận hai điều sau đây:
1) Giáo luật nêu lên ‘tính tự do’ tức ‘tính không bắt buộc’ phải thành lập Hội Đồng
Mục vụ Giáo xứ: Nếu Giám mục giáo phận có khuynh hướng bảo thủ thì ngài sẽ coi nhẹ việc
thành lập Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, vì rõ ràng Giáo luật không hề bắt buộc mà chỉ là
khuyên ‘nên’ thành lập cơ cấu này. Còn nếu Giám mục có khuynh hướng cởi mở và tiến bộ
thì ngài sẽ trân trọng lời khuyên này, vì đây là lần đầu tiên Giáo luật đề xuất một Hội đồng
như vậy và nguyên việc Giáo luật gọi Hội đồng ấy là Hội đồng Mục vụ thì đã mang một ý
nghĩa rất quan trọng. Do đó Giám mục giáo phận sẽ xem xét một cách nghiêm túc vấn đề và
sẽ nỗ lực để thành lập Hội đồng Mục vụ Giáo xứ.
2) Giáo luật đề cập đến ‘quyền tư vấn’ chứ không phải là ‘quyền quyết định’ của Hội
đồng Mục vụ Giáo xứ: Nếu Giám mục và linh mục có khuynh hướng bảo thủ thì các ngài sẽ
coi nhẹ Hội đồng Mục vụ Giáo xứ vì Hội đồng Mục vụ Giáo xứ chỉ có tiếng nói tư vấn chứ
không hề có tiếng nói quyết định. Nhưng nếu có khuynh hướng tiến bộ và cởi mở thì các ngài
sẽ coi trọng những thảo luận và quyết định của Hội đồngnày, vì đây là thời cơ thuận lợi nhất
để các ngài có thể cai quản tốt giáo phận hay giáo xứ được giao cho mình, theo một phong
cách lãnh đạo thấm nhuần Thánh Kinh Kitô giáo, phong cách lãnh đạo được mệnh danh là
‘không mang tính thống trị’ mà chan chứa tính cộng đoàn và phục vụ.
1.2 Nghiên cứu, học hỏi về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ (cũng được gọi là
‘Cộng đoàn Kitô cơ bản’ (Basic Christian Communities) và các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’
(Basic Human Communities) là các Cộng đoàn đã và đang được xây dựng một cách có kết
quả tại hầu hết các Giáo hội trong khu vực. Các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ là các Cộng
đoàn chỉ gồm những người cùng một niềm Tin Kitô giáo mà thôi. Còn các ‘Cộng đoàn nhân
sinh cơ bản’ thì qui tụ tất cả mọi người không phân biệt có niềm Tin tôn giáo hay không hoặc

có niềm tin tôn giáo nào. Các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ hiện được coi là tương lai của
Giáo Hội Mỹ châu la tinh cũng như Á châu. Trong Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’ chúng ta
có được sự lượng giá có thẩm quyền của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và của Đức
Giáo hoàng Gioan Phaolo II về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ như sau:
“Trong bối cảnh ấy (bối cảnh canh tân) và dựa trên kinh nghiệm mục vụ của mình,
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tới giá trị của các CỘNG ĐOÀN GIÁO
HỘI CƠ BẢN như một PHƯƠNG THẾ HỮU HIỆU ĐẨY MẠNH SỰ HIỆP THÔNG
VÀ CỘNG TÁC TRONG CÁC GIÁO XỨ VÀ GIÁO PHẬN và như một LỰC LUỢNG
THỰC SỰ CHO CÔNG CUỘC PHÚC ÂM HÓA. Những tập thể nhỏ bé này sẽ giúp
các tín hữu sống thành những CỘNG DOÀN ĐỨC TIN, CẦU NGUYỆN VÀ YÊU
THƯƠNG NHƯ CÁC KI-TÔ HỮU ĐẦU TIÊN (x. Cv 2,44-47; 4,32-35). Các Cộng
đoàn này còn giúp các thành viên SỐNG TIN MỪNG TRONG TINH THẦN YÊU
THƯƠNG HUYNH ĐỆ VÀ PHỤC VỤ, từ đó trở thành khởi điểm vững chắc cho một
xã hội mới, biểu hiện một nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi
khuyến khích Giáo hội tại Á châu, chỗ nào có thể được, HÃY COI CÁC CỘNG ĐOÀN
CƠ BẢN ẤY NHƯ MỘT NÉT TÍCH CỰC TRONG CÔNG TÁC PHÚC ÂM HÓA CỦA
GIÁO HỘI” (số 25).
Vì thế Giáo hội Việt Nam nên nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm về các ‘Cộng đoàn
Giáo hội cơ bản’ này. Nếu cần thì nên gửi người sang Phi-lip-pin, Thái Lan, Hàn Quốc hay
Đài Loan để nghiên cứu học hỏi và tham quan thực tế. Trong Khóa huấn luyện ‘Thừa Tác
Viên Lời Chúa’ (Ministers of the Word Training) kéo dài 4 tháng mà tôi có dịp tham dự tại
Viện Mục vụ Đông Á (East Asian Pastoral Institute) năm 1997, thì trong chương trình có một
đề tài về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ và do một nữ tu Dòng Nữ Tử Bác Ái giảng dậy và
hướng dẫn học viên (linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân) đi tham quan thực tế. Nữ tu này là
một trong những chuyên viên về ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ được các chủng viện và các
giáo phận của Phi-lip-pin và của một số Giáo hội Á châu khác mời giảng dậy, thậm chí được
cả một số Hội đồng Giám mục khác mời trình bày. Trước đó vào năm 1995 tôi cũng có dịp
tham dự một Khóa bồi dưỡng khác có tên là ‘Xây dựng Cộng đoàn Kitô’ (Building Christian
Communities) của Viện Phát Triển Mục Vụ (Institute for Pastoral Development) cũng có nội
dung tương tự như Khóa nói trên.
Vậy thì Giáo hội Việt Nam và đặc biệt một số giáo phận có nhiều điều kiện hơn nên
quan tâm đến vấn đề ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ và ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ Điều
đáng mong ước là từ từ hai loại Cộng đoàn ấy sẽ được xây dựng trong lòng các giáo xứ, các
hội đoàn và trong khu vực dân cư của giáo xứ. Các Cộng đoàn này sẽ là chiếc đòn bẩy có tác
động lớn trên đời sống Giáo hội và đời sống cộng đồng xã hội, vì các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ
bản’ là môi trường sống sự hiệp thông sâu xa và tính bình đằng căn bản của mọi Kitô hữu và
là Cộng đoàn chứng nhân loan báo Tin Mừng một cách hữu hiệu trong khu vực. Còn các
‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ sẽ là nhân tố thay đổi hạ tầng xã hội trong mọi lãnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi sinh. Các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ sẽ là môi trường
hợp tác giữa mọi thành phần dân chúng, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc nhằm thay đổi và
nâng cao đời sống người dân, nhất là những người nghèo.
1.3 Trong quan hệ với Vatican và với Giáo hội toàn cầu cũng như với các Giáo hội
chị em xung quanh, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ quan tâm đến việc thể hiện sự trưởng
thành của một Giáo hội đã có 300-400 năm lịch sự hào hùng với hàng chục ngàn, thậm chí
hàng trăm ngàn vị tử đạo (mà 117 vị đã được Giáo hội phong thánh năm 1998) và có một con
số tín hữu đáng kể, khoảng 7-8 triệu người trên tổng số 80 triệu dân. Tại Á châu ngoài Phi-
lip-pin ra, không có một Giáo hội nào khác có được một tỷ lệ 7-8% người công giáo trên tổng
số người dân như ở Việt Nam. Giáo hội Việt Nam còn đáng tự hào về lịch sử đấu tranh dành

độc lập của dân tộc, trong đó rất nhiều con cái của Giáo hội đã thể hiện tinh thần hy sinh vì
quê hương, vì đồng bào. Vì thế Giáo hội Việt Nam cần ý thức những thế mạnh của mình, thể
hiện mình là Giáo hội của Việt Nam và xây dựng các mối quan hệ “đối nội” cũng như “đối
ngoại” một cách trưởng thành. Đối nội là đối với Giáo hội Roma, Giáo hội toàn cầu và giữa
các thành phần khác nhau trong Giáo hội địa phương. Còn đối ngoại là đối với Chánh quyền,
với các tôn giáo bạn và với đồng bào.
2. Liên quan tới tinh thần đối thoại với ba đối tác khác nhau là nền văn hóa Việt
Nam, là các tôn giáo bạn ở Việt Nam và là người nghèo tại Việt Nam, chúng tôi thấy Giáo hội
Việt Nam có những việc “cần làm và có thể làm” sau đây:
2.1 Quan tâm đẩy mạnh việc hội nhập Văn hóa theo chiều hướng chung vừa hội
nhập và duy trì văn hóa dân tộc vừa tiếp nhận văn hóa toàn cầu một cách thông minh, có chọn
lọc. Vì công việc nghiên cứu về hội nhập văn hóa có một tầm quan trọng rất lớn và lâu dài và
là một lãnh vực bao la rộng lớn, Giáo hội Việt Nam nên có một ủy ban – gồm những người có
thiện chí và chuyên môn – đặc trách vấn đề này.
2.2 Cũng nên quan tâm đến việc nghiên cứu, tìm hiểu Nho giáo, Lão giáo, nhất là
Phật giáo (vì số Phật tử rất lớn tại Việt Nam), Hồi giáo, Tin Lành và các tôn giáo dân gian
Việt Nam Đạo Ông Bà, Cao Đài, Hòa Hảo, các tôn giáo của đồng bào các dân tộc ít người. Và
tạo ra và khuyến khích những cuộc gặp gỡ, trao đổi, giao lưu, cộng tác giữa các chức sắc và
tín đồ các tôn giáo, nhằm tạo sự hiểu biết lẫn nhau và sự quí trọng yêu thương đoàn kết đích
thực giữa những người có tín ngưỡng.
Trong chiều hướng đối thoại với các tôn giáo Giáo hội Việt Nam còn có một việc
nhỏ –nhưng tầm quan trọng lại không phải là nhỏ- phải làm: đó là duyệt lại và sửa đổi một số
kinh không phù hợp với tinh thần Tin Mừng và giáo huấn của Công đồng Vatican II hoặc còn
phảng phất sự miệt thị nào đó đối với các tôn giáo khác hay với người không công giáo.
2.3 Để thực hiện cuộc đối thoại đích thực với người nghèo phải chăng Giáo hội iệt
Nam nên theo gương các Giáo hội Nam Mỹ trong việc chọn lựa một cách dứt khoát “lập
trường đứng về phía người nghèo, ưu tiên phục vụ người nghèo” (Option préférentielle
pour les pauvres). Đây không phải là một lập trường chính trị (theo nghĩa người ta thường
hiểu) mà là một lập trường mang tính tâm linh, tôn giáo và xã hội vì Giáo hội chọn đứng về
phía người nghèo không phải để chống lại người giầu hay một ai khác mà là để phục vụ người
nghèo trong sứ mạng yêu thương và phục vụ của chính Đức Giêsu Con Thiên Chúa đã làm
người và sinh sống trên mảnh đất Á châu này. Từ chọn lựa “có tính định hướng chiến lược”
này, Giáo hội Việt Nam sẽ có những chương trình hành động cụ thể nhằm phục vụ người
nghèo: xây nhà tình thương; xóa đói giảm nghèo; nâng cao trình độ văn hóa, đạo đức; trợ cấp
học bổng; nuôi dưỡng người già cả, tàng tật, neo đơn; chăm lo cho trẻ em mồ côi, khuyết tật,
lang thang, hè phố, nạn nhân các tệ nạn xã hội; quan tâm đến mục vụ giới trẻ và thành phần
du cư tại các thành phố lớn v.v.. Giáo hội sẽ thực hiện những công việc ấy bằng nhiều
phương thức khác nhau: hoặc một mình hoặc tốt hơn là hợp tác với các tổ chức đoàn thể xã
hội hay với các tôn giáo bạn, kể cả với các tổ chức từ thiện quốc tế.
Việt Nam còn được kể là một trong những người nghèo nhất trên thế giới. Và dù rằng
nền kinh tế sẽ được cải thiện nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng hệ thống kinh tế xã hội của
chúng ta – cũng như của hầu hết các nước khác trên thế giới- sẽ sản sinh ra nhiều lớp người
nghèo khác. Cho nên vấn đề Giáo hội Việt Nam lấy người nghèo làm đối tượng phục vụ là
một vấn đề chiến lược và lâu dài. Cũng chỉ bằng chọn lựa đứng về phía người nghèo, Giáo
hội Việt Nam mới thể hiện tính ngôn sứ của mình một cách trọn vẹn.

3. Liên quan tới tính ngôn sứ của Giáo hội cũng như của mỗi Kitô hữu chúng tôi
thấy Giáo hội Việt Nam có những việc “cần làm và có thể làm” sau đây:
3.1 Đào sâu Sứ mạng và Công cuộc Truyền Giáo dưới mọi góc độ: thánh kinh, thần
học, giáo hội học, lịch sử, tâm lý xã hội học, dân tộc học v.v…nhằm thay đổi một não trạng cũ
có nhiều lệch lạc, không phù hợp với Phúc Âm và tâm thức con người thời nay.
3.2 Đặt nặng trọng tâm vào việc đào tạo một đội ngũ giáo dân trưởng thành và dấn
thân, biết làm muối làm men, bênh vực công lý, xây dựng hòa bình, hòa giải. Giúp họ thực thi
sứ mạng loan báo Tin Mừng trong các môi trường xã hội, nhất là trong một số môi trường mà
chỉ có họ mới có thể có mặt.
3.3 Quan tâm đến việc tránh những biểu hiện có tính phô trương, khiêu khích hoặc
nặng hình thức, trái với tinh thần khiêm nhường, phục vụ của Phúc Âm.
KẾT LUẬN
Năm Thánh 2000 đã qua gần hết nửa thời gian. Dường như Giáo hội Việt Nam chưa
thay đổi được bao nhiêu, chưa chuyển biến gì nhiều!! Hoạt động nổi bật nhất của các giáo xứ
là việc tổ chức các cuộc hành hương lãnh ơn Toán Xá. Tuy sự cải thiện của mỗi con người là
rất cần thiết và là tiền đề của sự cải thiện tập thể, nhưng Năm Thánh 2000 đâu chỉ nhằm sự
cải thiện cá nhân mà còn và nhất là nhằm sự thay đổi của cả cộng đoàn, cả Giáo hội. Thay đổi
một cách sâu xa, thay đổi tận gốc rễ, thay đổi cách quyết liệt như Phúc Âm mời gọi và đòi
hỏi.
Sự thay đổi ấy chỉ có thể thực hiện được khi toàn Giáo hội Việt Nam dồn mọi nỗ lực
vào việc học hỏi Phúc Âm, Công Đồng vatican II, Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và
Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’. Sự thay đổi ấy chỉ có thể có được khi toàn Giáo hội Việt
Nam lấy canh tân, đổi mới não trạng và cơ chế làm mục tiêu ưu tiên cho Năm Thánh 2000
này và cho những năm đầu của thế kỷ XXI. Năm Thánh 2000 là thời cơ lớn nhất cho sự thay
đổi ấy. Thế mà…!

Thành phố ngày17/6/2000
Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội