GIỚI THIỆU THÔNG ĐIỆP TỨ THẬP NIÊN: VỀ VIỆC XÂY DỰNG TRẬT TỰ XÃ HỘI (BÀI 1) 15-05-1931

 

Vietcatholic (21/08/2001). GIỚI THIỆU

Được thiết lập như một cột mốc lớn thứ hai về giáo huấn hiện đại của Giáo hoàng về vấn đề xã hội, thông điệp kỷ niệm bốn mươi năm thông điệp Tân Sự (ngày 15-05-1931) – như những chữ đầu bằng La ngữ của nó nói rõ – thực hiện đường hướng mà, từ thập kỷ này đến thập kỷ sau, đã nhiều lần được các Đức Giáo hoàng kế tiếp nhau tiếp nối. Hành động này của Đức Giáo hoàng, cố ý làm tăng giá trị của một truyền thống tuy chỉ mới đây, tự nó có ý nghĩa gần như về giáo lý, ý nghĩa sẽ không bị phủ nhận mà trái lại còn được xác nhận qua các văn kiện Mater et Magistra, Octogesima adveniens hay Laborem exercens: giáo thuyết xã hội của Giáo hội tiếp nối bằng cách đổi mới, thích nghi nhằm đáp ứng những yêu cầu xuất phát từ những hoàn cảnh tiến triển, với “vấn đề xã hội” đang biến dạng. Đó là lý do giải thích tại sao có những điểm khác nhau cũng như giống nhau từ văn kiện này đến văn kiện kia có thể được diễn giải một cách hợp pháp và phong phú.

Bốn mươi năm sau “Tân sự”, có nhiều biến cố đã xảy ra trong cựu và tân thế giới, đặc biệt là Thế chiến thứ nhất và cuộc Cách mạng Nga, những đảo lộn đã thúc đẩy chuyển biến kinh tế và xã hội của thời hiện đại. Toàn bộ “trật tự xã hội” được người ta ý thức, đã chịu đựng cuộc rung chuyển này. Do đó, đề tài của thông điệp mới được mở rộng từ vấn đề công nhân đến “việc xây dựng trật tự xã hội”. Những vấn đề được bàn đến dưới tiêu đề chính thức này có nguồn gốc từ lịch sử, nhưng chúng được Đức Piô XI nắm bắt trong thời sự của thời gian của thập niên ba mươi.

Từ cuộc khủng hoảng lớn về kinh tế đến sự lên của chủ nghĩa phát xít.

Bối cảnh kinh tế. Ngày mà mọi người vẫn còn biết đến đánh dấu sự sụp đổ tài chính của Wall Street ngày 12-24/10/1929 cho ta một cái mốc ý nghĩa. Sau nhiều năm thịnh đạt, thế giới công nghiệp Mỹ đã hứng chịu cuộc khủng hoảng lớn về kinh tế và hai năm sau, Châu Âu cũng gánh hậu quả. Hàng triệu người bị thất nghiệp. Chiến tranh thế giới đã đánh một đòn chí tử vào sự phát triển công nghiệp đồng thời thúc đẩy việc hoàn thiện các phương pháp và dẫn đến tình trạng các chính phủ can thiệp vào như người tổ chức. Nhưng ở Châu Âu đã có nhiều đổ nát và, còn hơn thế nữa, trong những năm 20, những khủng hoảng chuyển đổi sản xuất, những sự tập trung công nghiệp. Trên thế giới, cán cân năng động công nghiệp từ nay nghiêng về phía Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Bối cảnh xã hội, nổi bật trước mắt bởi nạn thất nghiệp. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ phong trào nghiệp đoàn công nhân đã phát triển trên thế giới: từ năm 1914-1915 đến 1920, số người tham gia đã vượt lên ở Pháp từ sáu trăm ngàn thành viên đến hai triệu, ở Anh từ bốn lên đến tám triệu, ở Đức từ tám trăm ngàn lên đến hai triệu rưỡi, ở Mỹ từ hai lên đến bốn triệu. Phong trào bắt đầu lan rộng tới những địa hạt xã hội mới, như giới các viên chức. Nhưng, kể từ năm 1920, phong trào nghiệp đoàn này bị khuấy động bởi những cuộc tranh luận kịch liệt đến nỗi bị đổ vỡ hoàn toàn giữa những người theo hướng cách mạng và những người chủ trương cải cách. Đối với chiều hướng cải cách, do quan tâm đến thực tế, được các nghiệp đoàn Đức, Ý, Anh và Mỹ lựa chọn. Các nghiệp đoàn này ở trong Liên hiệp nghiệp đoàn quốc tế. Ngược lại, đảng Cộng sản Liên Xô có lập trường đi theo tổ chức Quốc Tế Nghiệp Đoàn Đỏ; nó đã gây ra cuộc chia cắt năm 1921 tổ chức CGT Pháp (Tổng Liên Đoàn Lao Động Pháp) và kéo theo phần CGTU (Tổng Liên Đoàn Lao Động Thống Nhất) ly khai theo cách mạng. Ở Pháp, tổ chức CFTC (Liên Đoàn Công Nhân Kitô hữu Pháp), thành lập năm 1919, góp phần du nhập một đường hướng đa nguyên nghiệp đoàn; trên phạm vi quốc tế và trước hết ở châu Âu, nó ở trong Liên Đoàn Quốc Tế những Công Đoàn Kitô giáo. Sau cùng cũng nên nhớ rằng tổ chức Lao Động Quốc Tế được thành lập bởi hiệp ước Versailles, có liên hệ với các công đoàn, đặc biệt một cách gián tiếp qua văn phòng Lao Động Quốc Tế do Albert Thomas lãnh đạo tích cực.

Từ bối cảnh chính trị, chúng ta chỉ lấy ra những khía cạnh quyết định nhất đối với vấn đề xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước can thiệp vào mạnh mẽ hơn xưa; trong phạm vi xã hội, sự can thiệp đó đặc biệt rõ hơn nữa. Đây là thời kỳ mà ở châu Âu các chính phủ mạnh mẽ sẽ dùng quyền lực áp đặt trên những chương trình khẳng định một ý chí xã hội. Sự việc ấy xảy ra ở Ý với chủ nghĩa Phát-xít của Mussolini, người vừa mới áp đặt năm 1930 chủ trương đồng nghiệp đoàn của nhà nước, tập hợp giới trẻ và tổ chức thành những công trình lao động lớn, đồng thời đưa ra giải pháp được nhận thấy như là một thứ quốc gia chủ nghĩa. Ở Bồ Đào Nha, Salazar nắm chính quyền, và Dollfuss ở Áo – cả hai người Công giáo này đều dựa vào giáo thuyết “Bốn Mươi Năm” (Quadragesimo anno). Chủ nghĩa Quốc Xã, bị coi là một mối nguy đe dọa gần kề hơn cả, đang lên cao ở nước Đức. Cuối cùng, không được quên, dù năm 1929 đến 1931 là thời tạm lắng dịu, cuộc bách hại tôn giáo đang hoành hành ở Mêxicô.

Chúng tôi đã lưu ý đến ảnh hưởng quốc tế của Liên Xô, ảnh hưởng được nhận thấy qua trung gian những đảng Cộng sản khác nhau. Trong toàn thể bối cảnh đó, Đức Piô XI áp dụng, ở nơi nào xem ra có thể áp dụng được, một chính sách thỏa thuận với các Nhà nước, chẳng hạn như ở nước Ý theo hiệp ước Latran (1929) để hợp thức hóa vị thế của quyền Giáo hoàng, hòa bình về chính trị – tôn giáo đối với ngài là một trong những điều kiện của hòa bình xã hội.

Sự tiến triển của các ý thức hệ xã hội ló hiện trong những dự án chính trị hữu khuynh lẫn tả khuynh tỏ hiện bộ mặt xã hội chủ nghĩa, và đã hoặc sẽ đi theo đường lối chuyên chế, thậm chí độc tài. Kể từ hội nghị Tours, có sự phân biệt rõ ràng giữa chủ nghĩa Cộng sản và những khuynh hướng xã hội chủ nghĩa khác. Những khuynh hướng này còn chia rẽ nhau, ở Pháp cũng như ở Đức, giữa những quan điểm lý thuyết hoặc (dùng) bạo lực và cách mạng (như Kautsky, Benoit Malon, Georges Sorel), hoặc đạo đức hơn và có xu hướng nhân vị (như Jules Guesde, Henri de Man). Trào lưu xã hội chủ nghĩa này có một cái gì đó thu hút một số người công giáo xã hội. Ở cực kia của thang âm ý thức hệ, chủ nghĩa tân-tự do cũng có những nhà tư tưởng ở Hoa kỳ và ở Châu Âu: ít bảo thủ hơn những người tự do chủ nghĩa cựu trào, họ phê phán gay gắt mọi hình thức độc quyền và, dĩ nhiên, hình thức kinh tế chỉ huy. Sự cạnh tranh của tất cả những học thuyết này, hoặc nhắm tới một trật tự xã hội hoặc nhằm một quan điểm toàn cục, cũng giải thích toàn thể cái khung mà tiêu đề của thông điệp này của Đức Piô XI loan báo.

Đức Piô XI và tư tưởng xã hội công giáo

Trong số những hiệu quả tích cực phát sinh từ thông điệp Tân sự phải kể đến, ngoài những thể hiện mặt xã hội như phong trào nghiệp đoàn Kitô giáo, tác dụng kích thích tư duy. Một trong những nơi quan trọng của nó là chuỗi các Tuần lễ xã hội ở Pháp. Nhưng, trên thế giới, có rất nhiều trường phái tư tưởng xã hội công giáo ra sức làm việc, một số trường phái cũng tổ chức các “tuần lễ” của họ: Ý, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh, Chilê, Nam Tư… Chúng truyền thông cho nhau. Đây là thời điểm của “khoa xã hội công giáo” đích thực. Dựa trên những nguyên tắc căn bản chung, những đặc trưng khác biệt thì tùy theo bối cảnh của miền và những hình thức của kinh nghiệm xã hội. Hai trong số những trường phái này ghi dấu cách trực tiếp hơn sự biên tập thông điệp Bốn mươi năm.

Đức Piô XI đã nghĩ đến một thông điệp xã hội từ thời gian đầu của triều đại Giáo hoàng của ngài. Khi Ngài cho là thời giờ đã đến, ngài trao phó việc biên tập dự thảo thông điệp cho cha Von Nell Breuning, linh mục trẻ dòng Tên người Đức gần gũi với những môi trường công đoàn theo khuynh hướng tự do. Vị này cảm hứng từ giáo huấn của vị đồng sự, là cha P. Gundlach, giáo sư tại Rôma. Phần lý thuyết hơn của thông điệp Bốn Mươi Năm lấy hứng từ giáo huấn này. Nhưng Đức Giáo hoàng còn mời cha Desbuquois (phong trào Hành động bình dân, Pháp) và có lẽ cả những chuyên viên khác đóng góp cách nhìn của họ về những vấn đề xã hội: một cái nhìn với tình tiết rõ ràng hơn nằm ở phần thứ ba của văn kiện. Cha Miller (Bỉ) hẳn là chấp bút cuối cùng sau bảy hay tám lần biên tập trung gian.

Dù có những diễn biến mà ngày nay người ta biết đến về việc biên tập thông điệp, Đức Piô XI quả vẫn là người khởi xướng thông điệp, rất quan tâm đến những chuyển biến xã hội và tương lai của chúng, ngài đã thấy sự cần thiết phải điểm lại tình hình một cách chính xác. Ngài muốn cổ vũ và củng cố phong trào xã hội Công giáo, và khuếch trương nó dựa trên một thực hiện khác của Giáo hội lúc ấy đang cao trào trở lại: phong trào công giáo tiến hành, mà thông điệp Bốn Mươi Năm nhiều lần nhắc đến (chúng ta nhớ lại rằng Thanh Lao Công (JOC) được khai sinh ở Bỉ năm 1926). Người ta cũng có thể ghi nhận rằng, dựa trên những trích dẫn từ Thánh Phaolô, một thần học về nhiệm thể nổi rõ trong bản văn, là thời sự lúc bấy giờ. Còn về hoạt động trực tiếp của vị Giáo hoàng Rôma, ngày nay người ta biết rằng Đức Piô XI tự tay mình đã thêm vào một đoạn về các đồng nghiệp đoàn (số 98-103), đằng sau văn phong mang tính chất rất La-mã đoạn văn ấy chứa đựng một sự lên án gay gắt đối với chủ thuyết đồng nghiệp đoàn của Mussolini. Theo lời kể lại, ông này đã tỏ ra hết sức bất bình.

Lý thuyết và thực hành trong kinh tế của văn kiện này

Thông điệp Bốn mươi năm mở đầu bằng phần thứ nhất, tưởng niệm thông điệp xã hội đầu tiên và đánh giá những hoa quả của nó. Đức Piô XI vui mừng về sự năng động của phong trào Công giáo xã hội, là nơi mà các giáo dân và Linh mục đã triển khai “khoa học xã hội Công giáo” và đã đem ra thi hành. Ngài nhấn mạnh đến những hiệu quả của nó về mặt não trạng (số 25) nhưng trong cả hoạt động của các chính phủ để phát triển một luật pháp xã hội (số 27-31) và đặc biệt nơi hành động của chính những người trực tiếp liên quan, nhất là trong những hiệp hội và nghiệp đoàn (số 32-71). Chính phong trào này mở ra những phong trào mới mẻ mà ngày nay phải giải quyết.

Phần thứ hai, nặng về học thuyết, đem lại phần đóng góp nền tảng và những xác định về đời sống kinh tế và xã hội: quyền sở hữu, những quan hệ giữa Tư bản và lao động, sự thăng tiến giai cấp Vô sản, đồng lương đúng đắn và cuối cùng về toàn thể trật tự xã hội. Lối tiếp cận lý thuyết đó, như ta đã thấy, tương ứng với những toan tính muốn hệ thống hóa xuất phát từ kinh nghiệm suy tư xã hội của các trường phái và các giáo sư của chúng. Ở mức độ riêng của mình, thông điệp thực sự canh tân, dù cho nó xác định mình chỉ tiếp nối, thông điệp Tân Sự. Nó có tính quyết định đối với một vài cuộc tranh luận nổi lên giữa những người Công giáo.

Với một cách thế mà ngày nay phải ngạc nhiên, chỉ ở trong phần thứ ba mới có phân tích những hoàn cảnh, một sự phân tích vẫn còn rất thích đáng: những biến đổi của thế giới công nghiệp và của hệ thống Tư bản chủ nghĩa, những chuyển biến của Chủ nghĩa xã hội, tình trạng của phong hóa. Ba chương này, nói cho đúng, trộn lẫn trong đó phân tích và phê phán luân lý, và dẫn đến những chọn lựa, đồng thời đưa ra những phương thuốc chữa trị: không chấp nhận sự độc tài kinh tế của những kẻ độc quyền, của những liên minh độc quyền hay của Nhà Nước; thuận với việc khôi phục một sự cạnh tranh lành mạnh và tự do dưới sự theo dõi của chính quyền; không chấp nhận chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn với Kitô giáo, thuận với những hành động xã hội; không chấp nhận “sự sụp đổ các linh hồn” phát xuất từ trào lưu giải – Kitô giáo (déchristianisation) của đời sống xã hội, thuận với việc hợp lý hóa cuộc sống này theo tinh thần Kitô giáo dựa trên đc ái. Phần cuối nhấn mạnh đến vai trò của phong trào Công giáo tiến hành.

Sự đón nhận và hậu thế của thông điệp “Bốn mươi năm”

Trong những môi giới không Công giáo, tài liệu này, một tài liệu phong phú, cương quyết, đôi khi gay gắt làm xáo trộn các ý thức hệ và đả kích các thực hành, được đón nhận cách lịch sự tuy khó chịu thì đúng hơn. Trái lại, những người Công giáo dấn thân nhất vào hành động xã hội và tông đồ nhận thấy ngay tính cách quan trọng và ý nghĩa của thông điệp, và thông điệp Bốn Mươi Năm đã trở thành hiến chương đích thực của họ trong hai mươi năm (cho đến thông điệp “Mẹ và Thầy”). Nó được phổ biến thành hàng trăm ngàn bản trong một quốc gia như nước Pháp, được nghiên cứu, bình giải trong vô số các nhóm nghiên cứu và các cuộc họp của các chiến sĩ Công giáo tiến hành. Lùi lại theo thời gian, dường như vài chủ đề nổi tiếng đã chiếm một vị thế kể đến không chỉ trong Giáo hội, nhưng còn như là những nhân tố gợi hướng cho sự tiến triển của ngành lập pháp trong xã hội trong những nước dân chủ:

  • Nhân đạo hóa lao động và những điều kiện của lao động – người ta nhớ lại câu nói danh tiếng: “Vật chất trơ ì xuất xưởng nên cao cả, trong khi con người tại đó nên hư hỏng và mất phẩm giá” (146);

  • Những yếu tố cần thiết để xác định đồng lương đúng đắn (số 70-82) – “người công nhân không được lãnh nhận trong tình bác ái những gì phải trả cho anh ta theo lẽ công bằng”;

  • Nguyên tắc phụ túc: các cá nhân, rồi đến những “đoàn thể trung gian” mọi loại phải có khả năng đảm lấy trách nhiệm của mình theo trình độ của mình, chứ không để họ trở nên tha hóa vì Nhà Nước – “Sẽ phạm phải một bất công trầm trọng, đồng thời sẽ làm rối trật tự xã hội gây tác hại ghê gớm, nếu như rút khỏi những tập đoàn cấp thấp hơn, những nhiệm vụ mà họ có khả năng tự mình thi hành, để giao cho một tập thể rộng lớn hơn, và cấp cao hơn” (số 86).

  • Vai trò của những hiệp hội và nghiệp đoàn, và đặc biệt là sự phân biệt giữa chúng và Nhà Nước.

Hẳn là, tính chất mập mờ của đồng nghiệp đoàn do thông điệp 40 Năm đề xướng, dù cho đã sẵn có những thận trọng đối với chủ nghĩa Nhà Nước phát xít ở Ý, đã có thể và vẫn còn có thể dùng để biện minh cho những chế độ độc đoán cố ý áp đặt đường lối của họ để hòa giải các giai cấp đối kháng. Tuy có đón nhận cách rộng rãi hơn di sản của phong trào công nhân, cả thông điệp “Mẫu Sư” (Mater et Magistra) và thông điệp (Laborem exercens) đều không dùng lại khái niệm theo ý nghĩa này.

Về phần các kết luận cứng rắn về chủ nghĩa Xã hội, ngay cả khi không phải là Mác-xít: “Chủ nghĩa Xã hội Tôn giáo, chủ nghĩa Xã hội Kitô giáo là những điều mâu thuẫn” (130) – sẽ phải đợi đến những phân biệt của đức Gioan XXIII giữa các phong trào lịch sử và các ý thức hệ và những quy tắc cho sự hợp tác trong đối thoại của Đức Phaolô VI (thông điệp Bát Thập Niên), chúng mới có thể được bỏ qua một cách chính thức.

Cuối cùng trong một đời sống xã hội và kinh tế ngày càng trở nên phức tạp hơn, một thông điệp xã hội ngày nay có dám liều lĩnh dấn sâu vào chi tiết của những chọn lựa hay không? Tuy vậy, những tài liệu sau này của các Đức Giáo hoàng và của công đồng trích dẫn dồi dào thông điệp “Bốn mươi năm”, là thông điệp được thiết lập cách mãnh liệt và dứt khoát như cột mốc dựa trên một lý thuyết tìm kiếm sự cởi mở và thích ứng với các thực tại lịch sử.

(còn tiếp…) VietCatholic

THÔNG ĐIỆP TỨ THẬP NIÊN: NỘI DUNG VÀ PHẦN MỞ ĐẦU (BÀI 2)

TỨ THẬP NIÊN

Về việc xây dựng trật tự xã hội 15-05-1931

DÀN BÀI

Dẫn nhập: Vận hội của thông điệp “Tân Sự”. Những điểm chính yếu của thông điệp. Nội dung của thông điệp hiện nay (số 1-16).

Những hoa trái của thông điệp “Tân Sự” (17)

  • Công trình của Giáo Hội về lãnh vực giáo thuyết và về lãnh vực áp dụng (18-26).

  • Hành động của nhà nước (27-31).

  • Hành động của chính những người quan tâm đến vấn đề. Các hiệp hội công nhân. Các hiệp hội giữa những lòng giai cấp khác. Các hiệp hội chủ nhân (32-41)

  • Tân Sự: hiến chương vĩ đại của những người lao động (42-43)

Học thuyết của Giáo Hội về kinh tế và xã hội (44-47)

  • Về quyền sở hữu. Đặc tính cá nhân và xã hội của quyền sở hữu. Những nghĩa vụ về quyền sở hữu. Quyền hạn của nhà nước. Những nghĩa vụ liên quan đến thu nhập khi tạm nghỉ việc (những tiêu đề chứng minh sự công nhận quyền sở hữu (48-57).

  • Tư bản lao động. Những tham vọng vô căn cứ của Tư bản. Những tham vọng vô căn cứ của người lao động. Nguyên tắc phân phối công bằng (58-64).

  • Sự nổi lên của tầng lớp vô sản. Việc đạt tới quyền sở hữu của người vô sản (65-69).

  • Đồng lương chính đáng. Đặc tính cá nhân và xã hội của người lao động. Ba điểm cần xem xét: sinh kế của người công nhân và gia đình của họ; hoàn cảnh của xí nghiệp; những đòi hỏi của công ích (70 – 82).

  • Thiết lập trật tự xã hội. Sự hợp tác của những đoàn thể nghề nghiệp. Thiết lập một nguyên tắc hướng dẫn đời sống kinh tế (83 – 106)

Những biến chuyển sâu sắc nổi lên kể từ thời Đức Lêô 13

  • Những biến đổi về chế độ kinh tế. Nền độc tài kinh tế. Những hậu quả tai hại của nó. Các phương thuốc chữa trị (107 – 118).

  • Biến chuyển của chủ nghĩa xã hội. Đảng phái bạo động hay chủ nghĩa Cộng sản. Đảng phái ôn hòa hơn hay chủ nghĩa xã hội, khoan nhượng hơn; người ta có thể thỏa hiệp với nó chăng? Quan niệm của nó rất trái ngược với chân lý Kitô giáo. Công giáo và chủ nghĩa Xã hội là những hạn từ mâu thuẫn nhau. “Chủ nghĩa xã hội giáo dục”. Những người công giáo chuyển qua chủ nghĩa xã hội. Lời mời gọi trở lại (119 – 137)

  • Cải cách phong hóa. Chế độ kinh tế hiện thời và sự sụp đổ các linh hồn. Những nguyên nhân của sự dữ. Các phương thuốc chữa trị: hợp lý hóa theo tinh thần Kitô giáo và vai trò của đức ái (138 – 148)

Kết luận: Một nhiệm vụ khó khăn. Phương pháp theo đuổi. Mong cho mọi người hiệp nhất và hợp tác với nhau chặt chẽ (149 – 159)

LỜI MỞ ĐẦU

  1. Bức thông điệp RN (Rerum Novarum) đã xuất hiện được bốn mươi năm rồi. Thế giới công giáo chuẩn bị mừng kỷ niệm một cách hết sức trọng thể. Ai cũng đầy lòng biết ơn tòa thánh vì văn kiện đáng ghi nhớ này. Một văn kiện minh chứng lòng nhiệt thành của Đức Tiên Giáo hoàng đối với giáo mục của Ngài. Một văn kiện rất quan trọng đã được chuẩn bị từ trước, trong bao bức thông điệp khác: về gia đình, về phép hôn phối, về nền tảng xã hội nhân quyền, về nguồn gốc chính quyền, về những mối tương quan giữa giáo hội và xã hội quốc gia, về nghĩa vụ công dân của giáo dân, về cách biện bác chủ nghĩa xã hội, về các tà thuyết do chủ nghĩa tự do cá nhân và bao nhiêu tài liệu khác, giãi bày lý tưởng xã hội của ngài.

Nhưng bức thông điệp “RN” trội vượt mọi văn kiện khác, vì hai lý do: thứ nhất vì là một bức thông điệp rất hợp thời, không đời nào cần thiết bằng đời ta bây giờ. Thứ hai vì bức thông điệp ấy giải quyết mọi vấn đề đời sống cộng đồng nêu lên. Là những vấn đề tóm tắt trong “vấn đề xã hội.”

Một bức thông điệp rất hợp thời.

  1. Thế kỷ mười chín xế chiều, sự phát triển kinh tế, sự tiến hóa của kỹ nghệ ở hầu hết các dân tộc đã phân chia xã hội thành hai giai cấp. Giai cấp này gồm thiểu số, nhưng toàn những người giàu sang tha hồ hưởng dụng mọi sáng kiến khoa học tiên tiến. Giai cấp kia gồm đa số, nhưng toàn công nhân khốn cùng, không thoát được cảnh bần cùng. Tình trạng thê thảm ấy, kẻ dư của thì chịu đựng một cách rất dễ dàng, họ cho rằng: Đó là hậu quả không tránh được của những luật kinh tế tự nhiên. Nên họ làm tưởng công cuộc bác ái san bằng được mọi bất công, mà những pháp luật nhân tạo thường bỏ mặc và nhiều khi lại còn che chở nữa.

  2. Nhưng công nhân đã quá khổ cực, vì tình trạng ấy. Sau một thời gian cam chịu, họ quyết trút bỏ gánh nặng nề ấy, không muốn gánh vác lâu hơn nữa.

Người thì sôi nổi lên vì những lời thúc đẩy họ trỗi dậy, mà đảo lộn xã hội từ ở tận nền móng. Người thì không chịu trôi theo những phong trào ấy, vì họ đã được giáo dục theo đạo Chúa Kitô. Nhưng dẫu sao họ cũng đồng ý về một điểm khẩn cấp là “phải cải hóa xã hội tận cội rễ”.

  1. Đó cũng là ý chí của bao nhiêu Kitô hữu, của giáo sĩ hay giáo dân đã đem lòng bác ái dũng cảm mà tìm trăm ngàn phương cách, làm giảm bớt sự khốn cùng bất công của dân chúng. Họ không chịu nhận sự chênh lệch quá đỗi trong cách phân công chia của, như là sự tự nhiên Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan đã tiền định cho nhân loại. Thành ra họ cứ thành thực tìm những môn thuốc linh nghiệm hoặc để sửa chữa những tệ đoan của xã hội hiện tại, hoặc để đề phòng cho xã hội khỏi lâm vào những tai hại khủng khiếp hơn nữa.

  2. Nhưng lý trí con người mù mịt yếu đuối. Những người thiện chí hoặc bị xua đuổi như thể họ chỉ là những nhà cách mạng đáng sợ; hoặc bị chia rẽ vì có sự bất đồng ý ngay giữa họ, nên họ cứ lưỡng lự giữa những lập trường khác nhau. Nhìn vậy họ không biết phải chọn lấy đường nào? Trong những sự mâu thuẫn khiến mọi người không ai đồng ý với ai thì hòa bình thế giới lâm nguy. Thành ra lần nữa họ đưa mắt nhìn về Tòa thánh Phêrô là kho lãm chân lý, tự nhiên phát ra những lời cứu chuộc hằng chảy tràn khắp thiên hạ. Một phong trào rộng lớn chưa từng thấy, lôi cuốn họ về với “Đấng đại diện Chúa Kitô ở dưới thế”. Vô số người trí thức, kỹ nghệ, công nhân tha thiết đòi hỏi những nguyên tắc vững chắc, họ có thể thích dụng để thoát khỏi mọi sự thắc mắc mà đứng một mình không ai giải quyết được.

  3. Vì trí khôn ngoan Đức Giáo hoàng đã gẫm thế sự trước mắt Chúa lâu năm, Ngài cũng cầu vấn bao nhiêu nhân vật lỗi lạc, Ngài cũng chăm chú tìm hiểu vấn đề đủ mọi mặt. Rồi ý thức sứ vụ tông đồ Ngài đảm nhiệm; thì Ngài mới sợ nếu im tiếng mãi là tỏ mình chểnh mảng trong phận sự.

Ngài dùng linh quyền giáo huấn Chúa đã ủy thác cho mà quyết định ban huấn dụ này cho giáo hội Chúa Kitô nói riêng, và cho toàn thể nhân loại nói chung.

  1. Ngày 15 tháng 5 năm 1891, tiếng Tòa Thánh mà cả thế giới đã mong nghe từ lâu, đã vang dội khắp cả thiên hạ; một tiếng vang không chút run rẩy trước thời cuộc gay go, mà lại không yếu đi chút nào vì tuổi tác cao; một tiếng vang mạnh bạo đã định hướng mới cho cả nhân loại phải noi theo trên địa vực xã hội hiện tại.

Học thuyết xã hội gồm tắt trong bức thông điệp RN.

  1. Anh em thừa biết học thuyết khả kính, đã được giãi bày trong bức thông điệp “RN” rồi chứ! Bức thông điệp ấy thật đáng ghi nhớ muôn đời.

Đại Đức Tiên giáo hoàng, động lòng trước thân phận bao người hạ lưu trong xã hội, nói được là đa số; nhưng dẫu vô tội cũng phải sống trong cảnh khốn cùng đầy rủi ro. Ngài dũng cảm quyết chí bênh vực công nhân tội nghiệp sống trơ trọi, không ai bảo hộ mà lại bị thời thế vô tình đẩy vào tay những chủ nhân vô nhân đạo, chỉ biết cạnh tranh đua giàu khoe sang. Ngài chẳng tin tưởng ở chủ nghĩa tự do, và cũng không hy vọng nơi chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tự do đã tỏ mình hoàn toàn bất lực, không giải quyết được vấn đề xã hội. Còn chủ nghĩa xã hội lại đề nghị một giải pháp còn tệ hơn cả tật nạn nó tìm sửa chữa. Vì nó mà xã hội nhân loại càng ngày càng lâm nguy.

  1. Vậy căn cứ vào giáo quyền và thiên chức đặc biệt Ngài được Thiên Chúa ủy cho, là bảo vệ tôn giáo và mọi quyền lợi liên quan đến tôn giáo, thì Ngài đã tin chắc rằng vấn đề xã hội không thể nào giải quyết được một cách phải lẽ “ngoài ảnh hưởng giáo hội và tôn giáo, nhờ những nguyên tắc bất di bất dịch của đạo nghĩa chính trực, và đạo Chúa mặc khải”. Đức Tiên Giáo hoàng đem hết linh quyền vững chắc của Ngài mà ấn định và tuyên bố công nhiên:

Nghĩa vụ và quyền lợi riêng của chủ nhân và công nhân: của tư bản và cần lao trong xã hội.

Phận sự riêng của giáo hội, của chính phủ và của mọi công nhân, trong việc giải quyết vấn đề xã hội tương tranh này.

Tiếng của Ngài đã vang dội khắp thiên hạ không phải là vô ích đâu.

  1. Thiên hạ nghe đến thì cảm phục tạ ơn. Giáo dân phục quyền giáo hội đã đành. Nhưng còn bao nhiêu người khác, hoặc vô tín ngưỡng, hoặc đã lạc đường chính, cũng đã nêu lên vấn đề kinh tế xã hội, trong phạm vi tìm hiểu (speculation) và pháp lý.

Mừng nhất là các công nhân Kitô hữu. Họ cảm thấy giáo quyền trội vượt mọi thế quyền trên mặt đất, đã thông cảm và bênh vực quyền lợi của họ. Những người vị tha đã tìm cải thiện công nhân từ lâu, nhưng đã bị chế nhạo, ngờ vực, nhiều khi lại bị phản đối công khai nữa, nay đã lại phấn khởi lên.

Bức thông điệp đã được ai nấy đua nhau đón nhận một cách trọng thể nghiêm chỉnh. Đến nỗi dân nào nước ấy cũng tìm trăm cách kỷ niệm hằng năm bằng những lễ ghi ơn lừng lẫy.

  1. Những huấn thị của Đức Lêô XIII thì rất cao thượng và khả kính; nên mới được thiên hạ đồng thanh nghênh tiếp như thế.

Nhưng tiếc thay cũng đã từng có những nhà trí thức, gồm có cả giáo dân, náo động bất mãn. Người thì sinh lòng hoài nghi, người thì vấp ngã trước một học thuyết mới lạ như vậy. Những ngẫu nhiên do chủ nghĩa tự do dựng lên, đều bị lật đổ. Bức thông điệp ấy không quản ngại gì đến những thành kiến quá khứ. Còn đối với tương lai nó khởi xướng một phong trào chưa có ai nghĩ tới. Những người còn giữ óc tôn cổ, thì đều khinh chê học thuyết xã hội, và những học thuyết cao siêu này. Kẻ khác thì cảm phục lý tưởng xã hội của Đức giáo hoàng là một lý tưởng rực rỡ, nhưng lại cho rằng chỉ là một ảo tưởng không thể nào thực hành được. Ai cũng có thể mong chờ, nhưng không ai hy vọng thực hiện nó được.

Mục đích bức thông điệp mới.

  1. Vì thế anh em khả kính đang khi thế giới náo nhiệt mừng lễ “đệ tứ thập chu niên” của bức thông điệp “RN”, thấy các công nhân Kitô hữu ở khắp tứ phương tuôn đến thành thánh Rôma, thì Ta thừa dịp rất thuận tiện này mà nhắc lại những ân huệ phi thường mà bức thông điệp ấy đã đem lại cho cả nhân loại nói chung. Học thuyết canh tân kinh tế xã hội của Đức Lêô XIII thì thật vĩ đại, nên đã bị bao người ngờ vực cảnh cáo. Vậy kèm theo sau, Ta sẽ bênh vực và giảng giải một vài điểm chính chưa được hiểu rõ. Sau hết, Ta sẽ luận xét chế độ kinh tế hiện tại và phê bác chủ nghĩa xã hội. Đã định rõ tệ đoan xã hội ngày nay phát nguồn tại đâu, thì Ta sẽ chỉ vạch đường lối duy nhất, ai cũng phải theo để tu bổ lại xã hội tân kim, tức là cải tạo phong tục thế giới theo lý tưởng phúc âm.

Bức thông điệp này sẽ chia ra làm ba phần tùy theo các vấn đề Ta mới nêu lên. Rồi Ta sẽ dành toàn thân để tìm một giải pháp hợp lý hợp thời. THIÊN-ÂN

THÔNG ĐIỆP TỨ THẬP NIÊN: NHỮNG HIỆU QUẢ CỦA THÔNG ĐIỆP TÂN SỰ (BÀI 3)

Những hiệu quả bởi bức thông điệp “Rerum Novarum”

 

Trước khi nhập đề tìm giải quyết điều thứ nhất theo ý Ta đã định, Ta không khỏi quên lời thánh Ambrôsiô khuyên rằng: Trọng nhất trong những phận sự của Ta là tạ ơn Chúa liên lỉ. Nhớ đến những ân huệ quý hóa bức thông điệp của Đức Lêô XIII đã đem lại cho giáo hội và cả nhân loại; trước tiên Ta phải đội ơn Chúa không ngừng, dẫu chỉ muốn lược thảo những ân huệ đó sơ qua, thì thật Ta cũng phải thuật lại lịch sử xã hội, trải qua bốn mươi năm vừa rồi. Nhưng Ta có thể tóm tắt mọi điểm chính, tùy theo ba phương diện, mà Đức tiên giáo hoàng đã đề nghị để hoàn tất công việc canh tân xã hội, ngài đã đảm nhiệm.

Sự can thiệp của giáo hội

.

Trước tiên Đức Lêô XIII đã định rõ những điều thế giới có quyền đòi ở giáo hội. Ngài viết: (x. Rerum Novarum 13)

Phần lý thuyết:

Những tài liệu quý giá này, giáo hội không bao giờ bỏ hoang đâu. Mà cứ khai khẩn mãi, để gây thái bình cho xã hội. Đức Lêô XIII, và những giáo hoàng kế tiếp Người đã dùng lời nói và bút mực mà nhiệt thành truyền bá học thuyết kinh tế xã hội tóm tắt trong bức thông điệp “Rerum Novarum”; các ngài không bao giờ ngừng thúc đẩy dân nước thực hành và áp dụng học thuyết ấy, vào thời thế hoàn cảnh xã hội hiện tại. Lúc nào các ngài cũng tỏ lòng nhiệt thành và tỏ tình nghĩa phụ tử với những người bần cùng yếu đuối. Vì các ngài là chúa chiên dũng cảm, thì các ngài cũng mạnh sức bảo vệ các dân đen. Theo bản ý của tòa thánh, cũng đã không thiếu gì những giám mục sáng suốt nhiệt thành vừa trình bày giải pháp vừa áp dụng học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII cho các dân nước đều hưởng lợi.

Bởi thế ta không ngạc nhiên gì khi thấy bao người trí thức, giáo sĩ và giáo hữu hết sức quý chuộng và nhiệt tâm phổ biến những kỷ luật kinh tế xã hội của giáo hội tùy theo những đòi hỏi của thời thế. Mục đích của họ là áp dụng vào những trường hợp hằng thay đổi những nguyên tắc bất di bất dịch của giáo hội về đời sống cộng đồng của nhân loại.

Lấy bức thông điệp của Đức Lêô XIII làm căn bản và tỏa sáng học thuyết xã hội công giáo, hiện ra và phát triển càng ngày càng phong phú hơn. Những người ưu tú, đêm ngày lưu tâm đến việc tối hệ trọng này, buộc ta phải gọi họ là những người phụ tá của giáo hội. Học thuyết xã hội này không giam kín vào những trường học mờ tối đâu, trái lại nó đã ra mặt trận chiến đấu công khai. Một bằng cớ rõ ràng là những công trình vĩ đại của các đại học công giáo, các hàn lâm viện, các chủng viện, các hội nghị thường gọi là “những tuần lễ khảo cứu về xã hội” đã được tổ chức không biết bao nhiêu lần rồi và đã kết quả bất ngờ.

Thêm vào đó là những hội học, những sách vở báo chí muôn mặt đã được phổ biến khắp nơi một cách rất hợp thời.

Bức thông điệp của Đức Lêô XIII hữu ích như vậy, không phải là hết đâu. Những bài học đó, đã dần dần tiêm nhiễm luôn cả tâm hồn những người thiện chí không được hân hạnh hợp nhất với giáo hội, vì chưa phục quyền duy nhất của Người.

Như vậy những nguyên tắc giáo hội đã đề cập về xã hội, đã dần dần hóa nên sản nghiệp chung của nhân loại. Ta hết sức mừng rỡ, khi thấy những chân lý vĩnh cửu, Đức Tiên Giáo hoàng đã công bố mỗi ngày một được đề cập và bảo vệ ráo riết hơn trong các sách vở báo chí công giáo và không công giáo, và trong cả các quốc hội và tòa án.

Hơn thế nữa, sau một cuộc thế chiến kinh khủng, các nhà chính trị ở các cường quốc đã quyết định cải tạo đời sống xã hội để xây dựng hòa bình thế giới cho kiên cố. Vậy những nguyên tắc họ đề cập để tu bộ lại nền cần lao cho công bằng và bác ái, đều giống những nguyên tắc và huấn dụ của Đức Lêô XIII, đến nỗi ta có cảm tưởng rằng: những nguyên tắc ấy bởi bức thông điệp “Rerum Novarum” trích ra. Thực sự bức thông điệp ấy đáng ghi nhớ. Ta có thể áp dụng vào nó, lời tiên tri của Isaia đã nói: “Đó là một biệt hiệu đã được dựng lên cho các dân nước thiên hạ.”

Phần thực hành.

Những nguyên tắc Đức Lêô XIII đã đề cập đến, ai cũng đã tìm hiểu sâu rộng trong phạm vi lý thuyết, và nhờ đó đã tiêm nhiễm tâm trí xã hội. Nhưng quý hơn nữa là những nguyên tắc ấy đã được áp dụng vào thực tế. Trước hết bao người thiện chí đã nỗ lực nâng cao địa vị sinh hoạt của các công nhân. Dẫu giai cấp lao động càng ngày càng thêm đông, dẫu đại kỹ nghệ ngày một phát triển thêm, giới lao động cũng không chiếm lấy được một địa vị khả quan hơn trong xã hội. Nên công nhân vẫn trơ trọi mà lại bị khinh chê nữa. Ta nói về giới lao động mà các linh mục triều hay tu dòng đã tìm giải phóng không cứ gì những công việc mục vụ mà họ gánh vác từ trước dưới quyền chỉ dẫn của các giám mục; những linh mục ấy đã tận tâm với các công nhân, thì công nhân hưởng lợi rất nhiều, vì linh mục bền chí, thì tinh thần công giáo của công nhân lại cao lên. Nhờ đó, công nhân mới ý thức chức vụ. Họ ý thức phận sự và quyền lợi giai cấp của họ. Họ lại đủ năng lực mà tiến bước trên đường công lý, tiến triển, đến nỗi họ đứng dậy hướng dẫn được anh em đồng nghiệp.

Kết quả là các công nhân kiếm được sinh kế dồi dào và vững chắc hơn. Theo lời Đức Tiên Giáo hoàng khuyên nhủ, không những các việc bác ái từ thiện được phát triển, mà lại theo ý sủng nguyện của giáo hội, nhờ sự hấp dẫn của các linh mục. Ta đã thấy những công cuộc ủng hộ và viện trợ công nhân càng ngày càng được thiết lập nhiều, và đoàn tụ đủ mọi người nông dân và lao động…

Sự can thiệp của chính quyền

.

Chính quyền đã bị chủ nghĩa tự do chế ngự trong phạm vi bảo vệ trật tự và luật pháp. Đức Lêô XIII mạnh bạo phá vỡ những biên giới chật hẹp ấy. Ngài công bố rằng: chính quyền phải lợi dụng luật pháp và mọi cơ cấu xã hội để thiết lập một hiến pháp và một nền hành chánh đủ năng lực để phát triển sự thái bình công và tư. Đã đành chính quyền phải nhường chỗ cho từng cá nhân và từng gia đình đủ quyền tự do hành động. Nhưng với hai điều kiện cần thiết; thứ nhất là giữ công ích nguyên vẹn; thứ hai là giữ quyền bất khả xâm phạm của tư nhân. Đã đành chính quyền phải bảo vệ cả cộng đồng xã hội, nhưng chính quyền cũng phải bảo vệ từng công dân tự nhiên hợp với nhau thành cộng đồng xã hội. Vậy trong việc bảo vệ từng công dân, chính quyền phải săn sóc riêng những người bần cùng và yếu đuối (x. Rerum Novarum 19).

Ta không dám chối rằng, trước khi bức thông điệp của Đức Lêô XIII xuất hiện, thì bao chính phủ cũng đã cung cấp những sự cần thiết thống khẩn của giới lao động rồi; họ đã bài xích những tai hại các công nhân dẫu vô tội cũng đã phải chịu từ trước. Nhưng chỉ có khi nào tòa thánh can thiệp, tiếng Đức Giáo hoàng vang dội khắp thiên hạ, là khi ấy các nhà cầm quyền ý thức sứ vụ và tận tâm hiệp lực mới bắt đầu thực hành một chính sách xã hội rộng rãi hơn.

Những định lý của chủ nghĩa tự do đã từ lâu năm làm cho chính quyền tỏ ra bất lực. Vậy đang lúc những định lý giả dối này bắt đầu lung lay, bức thông điệp Rerum Novarum hiện ra. Ngay từ ở trong đại chúng, một phong trào mãnh liệt bùng nổ, vừa đòi hỏi vừa ủng hộ một chính sách xã hội hiệu lực hơn. Chính quyền lại được những giáo dân ưu tú mạnh sức chống đỡ, vì chính họ đã đề cập bộ luật mới này trong các quốc hội xưa nay. Hơn nữa, nhờ bao linh mục thấu triệt học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII can thiệp, thì mới có nhiều luật lệ xã hội được đưa ra cho các quốc hội phê chuẩn. Cũng vì các linh mục ấy ân cần thúc đẩy, những luật lệ ấy đã được thi hành vẹn toàn.

Nhờ những người thiện chí tận tâm hiệp lực như vậy, một bộ pháp luật mới đã xuất hiện. Đời trước không ai biết đến, ngày nay ai cũng hưởng lợi. Những quyền lợi bất khả xâm phạm công nhân đã có sẵn, vì nhân phẩm hay chức vị Kitô hữu của họ, được tôn trọng cho cân xứng. Những điều luật bảo vệ giới lao động ấy, thì bao quát cả địa vị sinh hoạt của công nhân nam nữ; tuổi trẻ, sức khỏe, năng lực, gia đình, nhà ở, xưởng máy, tiền lương và bảo hiểm những sự rủi ro của cần lao.

Ta không nói được những điều luật ấy lúc nào và nơi nào cũng hoàn toàn thích ứng với những nguyên tắc Đức Lêô XIII đề cập. Nhưng không ai chối được rằng bức thông điệp Rerum Novarum đã có ảnh hưởng đến. Thành ra sự cải thiện địa vị sinh hoạt của công nhân, phần lớn là do bức thông điệp quý giá của Đức Lêô XIII, là một bức thông điệp đáng ghi nhớ muôn đời.

Sự công tác của chủ nhân và công nhân

.

Đức Tiên Giáo hoàng lại sáng suốt chứng minh rằng: chính các chủ nhân và công nhân có thể góp phần hiệu nghiệm trong việc giải quyết vấn đề xã hội, nhờ những công cuộc vừa để nâng đỡ kẻ bần cùng vừa tìm hòa giải hai giai cấp. Trong những công cuộc ấy, cần thiết nhất theo ý Ngài là những nghiệp đoàn hoặc riêng cho công nhân, hoặc chung cho cả công nhân và chủ nhân. Đức Giáo hoàng viết vài lời hoặc ca tụng hoặc củng cố những hội đoàn ấy. Ngài định nghĩa bày tỏ lý do, sự hợp thời, quyền lợi, nghĩa vụ và các luật lệ vốn điều khiển những tổ chức như vậy.

Những huấn thị này quả thực là rất hợp thời. Thời kỳ đó, ở nhiều quốc gia, chính quyền thụ hưởng chủ nghĩa tự do, nên ác cảm với những hội đoàn bảo vệ lao động, nhiều khi họ lại phản đối công khai nữa. Họ tình nguyện chuẩn y ủng hộ những hội đoàn tương đương được sáng lập trong những giai cấp xã hội khác. Nhưng nhất định chối không cho lao công hiệp đoàn, đó là một thái độ bất công rõ ràng, vì quyền hợp đoàn là quyền tự nhiên của con người mà họ chối không cho lao động là kẻ cần phải hợp đoàn mới tự cứu mình khỏi bị những người mạnh quyền áp bức.

Ngay trong những giới công giáo, những cố gắng hợp đoàn của công nhân cũng bị tình nghi là những mưu mô của phái xã hội và bọn cách mạng.

a) Hội đoàn lao công

 

Những huấn lệnh uy quyền của Đức Lêô XIII, đã có công phá mọi trở lực, giải tán mọi tình nghi. Nhưng vinh hạnh nhất là theo những huấn lệnh ấy, bao nhiêu người lao công Kitô hữu đã đua nhau tổ chức nghiệp đoàn, theo lời Đức Lêô XIII đã chỉ dạy cho. Nhờ đó họ giữ lại trên đường chính những công nhân bị lôi cuốn quyết ghi tên vào những tổ chức do chủ nghĩa xã hội lập ra rồi tự đắc chỉ có họ mới bảo vệ và ủng hộ người bần cùng, kẻ bị áp bức.

Về việc lập các hội đồng công nhân Kitô hữu, bức thông điệp “Rerum Novarum” có câu rằng: (Rerum Novarum 42,43).

Đâu đâu cũng có linh mục hợp tác với giáo dân lập các nghiệp đoàn nói trên. Các ngài đáng khen vì đông mà lại rất tận tâm với học thuyết của Đức Lêô XIII mà họ đã quyết thực hành.

Nhờ những hội đoàn ấy, có cả một thế hệ công nhân Kitô hữu được huấn luyện chu đáo, tìm hòa nhịp trong đời sống những đòi hỏi công nghệ với những tín ngưỡng công giáo của họ. Nhờ đó họ được đủ sức mạnh để bảo vệ phận sự và quyền lợi thế tục của họ một cách cương quyết vừa thích hợp với công lý. Họ lại đem lòng thành thực hợp tác với các giai cấp xã hội khác để phục hưng lại xã hội theo lý tưởng phúc âm.

Học thuyết và huấn lệnh của Đức Lêô XIII nhờ đó mà được thực hiện theo trăm ngàn thể thức tùy thời thế hoàn cảnh đòi hỏi bắt buộc. Chỗ này thì chỉ lập ra một tổng hội theo đuổi mục đích của Đức Lêô XIII đề cập, nơi khác vì hoàn cảnh cần lao chuyên biệt, hội đoàn này thì bảo vệ quyền lợi và bổn phận công nhân trong phạm vi cần lao; hội đoàn kia thì lại chuyên lo tổ chức việc công nhân nâng đỡ nhau trong phạm vi kinh tế

 

Bài viết cùng chuyên mục