PHỤ LỤC 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC ĐỐI THOẠI.

Ý tưởng đối thoại nổi lên từ “những sự thay đổi nhanh chóng trên thế giới và từ sự hiểu biết sâu xa hơn về mầu nhiệm Giáo Hội như là bí tích cứu độ trần gian” (DM 2, 21). Các mối quan hệ quốc tế, sự phát triển tùy thuộc trong tất cả các lãnh vực của đời sống nhân loại, nhu cầu về hòa bình và sự đa nguyên về tôn giáo làm cho vấn đề đối thoại càng trở nên cấp thiết hơn trong thế giới hôm nay. Kinh nghiệm của một số nhà truyền giáo đang mở ra những cách tiếp cận mới, và cách chung đã làm cho nhiều người cảm thấy nhu cầu cần phải liên hệ với những tín đồ của các tôn giáo khác, trong những cách thức mới. Làm thế nào để cho Giáo Hội hiện diện và có ý nghĩa đối với họ.

Công đồng Vatican II đã tập trung đào sâu hơn về bí tích cứu độ trần gian của Giáo Hội và đã có cách nhìn mới mẻ về các Giáo Hội Kitô khác, về các tôn giáo cũng như về thế giới. Có thể coi thông điệp “Ecclesiam suam” (ES 34-68) của Đức Giáo hoàng Phaolô VI như là hiến chương về đối thoại. Hiến chế Gaudium et Spes, Lumen Gentium và tuyên ngôn Nostra Aetate (NA) đã đưa ra phương pháp đối thoại trong thần học và trong thực hành của Giáo Hội. Cách riêng, tuyên ngôn Nostra Aetate đã đưa ra những ý tưởng mới trong ngôn ngữ chính thức của Giáo Hội.

Công đồng đã đề xướng nhiều sáng kiến truyền giáo mới. Hai Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II đều thừa nhận vai trò của những người cổ động và những người hướng dẫn trong tiến trình đối thoại tôn giáo, qua những hành động tiên tri và sự dạy dỗ của họ. Năm 1964, Đức Phaolô VI đã gặp gỡ các nhà lãnh đạo Do Thái giáo và Hồi giáo tại thánh địa, Ngài cũng tiếp xúc với các đại diện của các tôn giáo tại Bombay, Ấn Độ. Ngài tuyên bố tất cả đều là “những người hành hương trên con đường tìm kiến Thiên Chúa”. Những sáng kiến mang đầy ý nghĩa của Đức Gioan Phaolô II đã gây được thiện cảm đối với những tín đồ Hồi giáo trẻ tuổi ở Casablanca (ngày 19/8/1985), với cuộc viếng thăm Hội đường Do Thái ở Roma (ngày 13/4/1986), và đặc biệt là Ngày Cầu Nguyện cho hòa bình ở Assisi (ngày 27/10/1986).

Văn phòng liên lạc ngoài Kitô giáo do Đức Phaolô VI thành lập vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1964 và được đổi tên là Ủy Ban giáo hoàng về đối thoại liên tôn năm 1988, là cơ quan trung ương của Giáo Hội lo việc cổ vũ và phối hợp những sáng kiến về đối thoại. Hai tài liệu do Ủy Ban này xuất bản vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1984 và 1991, có một vai trò rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ khái niệm về đối thoại. Tài liệu thứ nhất xác định vai trò của đối thoại trong sứ vụ toàn cầu của Giáo Hội, tài liệu thứ hai chỉ ra mối liên hệ giữa đối thoại và việc loan báo Tin Mừng.

Những hội nghị giám mục khác nhau; đặc biệt là các hội nghị Liên hiệp Các Giám Mục Á châu, cùng với những Viện nghiên cứu về các hoạt động giữa các tôn giáo của mình (BIRA) đã ý thức hóa Giáo Hội về nhu cầu của đối thoại. Các hội nghị đó đã đưa ra những nền tảng thần học, cũng như hoạt động truyền giáo và những hướng dẫn mục vụ thích hợp. Những trung tâm phụ trách về đối thoại khác nhau cũng dễ dàng mở các khóa học cổ vũ cho việc đối thoại và xuất bản sách báo.

(Trích dịch bài của Marcello Zago)

PHỤ LỤC 2: TỰ DO TRONG THÁNH THẦN

Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là như thế này. Tự do là một quà tặng của Thánh Thần. Nó không chỉ là tự do khỏi trói buộc của tội lỗi. Nó còn là tự do cộng tác với Thánh Thần trong việc xây dựng một nhân loại và một vũ trụ mới thành Vương quốc Thiên Chúa. Ngày nay Giáo Hội đã dần ý thức mình là Một Giáo Hội Lữ Hành, bị điều kiện hóa không chỉ bởi văn hóa và lịch sử, nhưng còn bởi tội lỗi của các chi thể của mình. Đồng thời Giáo Hội cũng nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần nơi các tôn giáo khác.Tất cả mọi người thuộc các tôn giáo khác nhau đều được mời gọi cộng tác vào việc xây dựng một vũ trụ mới. Đối thoại tôn giáo vừa là một phương tiện vừa là một hình thức của sự cộng tác đó. Những yếu tố có tính ngôn sứ trong mỗi tôn giáo góp phần làm tăng trưởng sự tư do của mọi tín hữu, cả ở bình diện đối thoại cá nhân cũng như tập thể. Khi mọi tín hữu quy tụ cùng nhau nhân danh Thiên Chúa ở giữa họ, giải phóng họ qua những tương tác giữa học với nhau, và qua họ giải phóng toàn thể vũ trụ, đưa nó vào trong sự mới mẻ của Triều Đại Thiên Chúa.

Việc nhìn vào những cách thức đối thoại đa dạng giữa các tôn giáo sẽ giúp cho chúng ta nhận thức được làm thế nào sự đối thoại ấy có thể cổ võ cho tự do trong Thánh Thần trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

Người ta thường nói về bốn cách thức đối thoại: đối thoại bằng cuộc sống, đối thoại bằng việc trao đổi tri thức, đối thoại về kinh nghiệm thiêng liêng và đối thoại qua hoạt động chung. Chúng ta sẽ nhìn lướt qua mỗi cách thức ấy và xem chúng có thể cổ võ tự do trong Thần Khí như thế nào.

Trong việc đối thoại bằng cuộc sống, các tín hữu của các tôn giáo khác nhau gặp gỡ nhau trong đời sống thường nhật trên đường phố, nơi phố chợ, ở trường học, trên những sân thể thao, Những nhóm tôn giáo dễ có khuynh hướng loại trừ. Cái thường được gọi là giáo phái thường có khuynh hướng như thế. Họ bảo vệ căn tính của mình bằng cách rút rui khỏi mọi tiếp xúc với những nhóm khác. Nhưng một thái độ như thế là một thái độ sợ hãi chứ không phải là tự do. Những nhóm khác dễ có khuynh hướng xem người khác với họ là thấp kém và bất toàn. Đây là một thái độ thống trị được gợi hứng bởi quyền lực, thái độ ấy thiếu sự kính trọng người khác như là con người. Một số khác có thể khoan dung hơn. Họ cho phép những nhóm khác hiện hữu, không có tương tác nào với nhau. Đây là thái độ thụ động và hờ hững. Tất cả những thái độ trên đây đều có tính chia cách. Chúng không giúp gì cho cộng đồng. Trong đối thoại cuộc sống, người nọ liên kết với người kia với niềm tôn trọng và quan tâm đến tính khác biệt của người ấy. Người ta cởi mở và tự do trong quan hệ của mình. Người ta không xét đoán. Người ta nhận ra một cộng đồng cơ bản, bình đẳng với người khác ở cả mức con người lẫn tôn giáo, bất chấp những khác biệt. Người ta khám phá ra căn tính đích thực của mình trong quan hệ với người khác. Người ta được phong phú hóa bởi những tiếp xúc giữa các cá nhân với nhau như thế. Người ta can đảm nhìn vào sự khác biệt của người khác như một thách đố chứ không phải như bị một đe dọa. Như vậy, một cộng đồng – trong – sự khác biệt (a community – in – difference) được xây dựng nên. Tất cả những kinh nghiệm này không cần rõ ràng thậm chí không cần ý thức. Thế nhưng chúng có đó khi người ta sống đầy hòa thuận với nhau mà không sợ hãi, bất an hay bạo lực. Khi họ cùng chia sẻ một tình trạng kinh tế, chính trị và văn hóa, thì cần có việc đối thoại cơ bản như thế để thăng tiến những giá trị thiêng liêng và nhân bản chung trong tiến trình xây dựng một cộng đồng công bình, liên đới và hòa bình. Nhưng nếu chính tôn giáo lại trở nên nguồn gây chia rẽ và xung đột, thì không còn hy vọng làm được gì nhiều để thăng tiến công bình, tình liên đới và hoà bình.

Đối thoại bằng trao đổi trí thức được giới hạn cho các chuyên viên. Trong mọi truyền thống tôn giáo, đức tin luôn tìm kiếm sự hiểu biết. Bình thường nó là một nổ lực để tìm hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của các viễn tưởng tôn giáo trong bối cảnh của những vấn đề và những câu hỏi được đặt ra từ những kinh nghiệm cuộc sống. Chẳng hạn mọi tôn giáo đều cố tìm câu trả lời cho vấn đề sự dữ, vấn đề nguồn gốc và cùng đích của cuộc sống. Câu trả lời có thể mang hình thức những truyện kể có tính biểu tượng hay những suy tư có tính triết học hơn. Những suy tư như thế có tính điều kiện hóa bởi văn hóa của mỗi người, đặc biệt bởi ngôn ngữ của họ. Người ta thường có khuynh hướng tuyệt đối hóa những giải thích và suy tư ấy như là cái duy nhất đúng. Khi một tôn giáo lớn lan truyền qua nhiều nền văn hóa, thì người ta trở nên quen với tính đa nguyên trong thần học. Kinh nguyện của sự đa nguyên này lại trở nên tận căn hơn nữa khi chúng ra gặp một tin đồ khác họ trả lời cùng những vấn đề và câu hỏi với không chỉ những giải thích khác về cùng một trình thuật, mà còn với những trình thuật khác nữa. Một cuộc gặp gỡ như vậy dẫn người ta đến chỗ tương đối hoá những hình ảnh và biểu tượng của mình trong tương quan với một thực tại vốn vượt qua mọi tên gọi và hình thức. Người ta bắt đầu học tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và sự thật. Ngay cả khi người ta dùng biểu tượng, nghi lễ và ngôn ngữ, người ta cũng bắt đầu học cách tương đối hóa chúng. Từ trong nội tâm người ta được tự do trong tương quan với thế giới biểu tượng. Chính thế giới biểu tượng này đã kết cấu nên kinh nghiệm và cách riêng, thực hành tôn giáo của người đó. Thế giới biểu tượng luôn liên quan với thực tại mà nó biểu trưng. Khi ấy người ta hết cực đoan tôn giáo. Trong những thế giới của những văn hóa khác nhau và không ngừng thay đổi, người ta không còn nô lệ vào một biểu thức văn hóa đặc thù. Trái lại, họ cảm thấy được tự do để khám phá những biểu tượng khác. Nhận thức của người ta về chính thực tại ấy được trở nên phong phú khi người ta có thể nhìn nó qua nhiều trung gian khác nhau. Từ những quan điểm này, điều quan trọng là không giới hạn mình vào những so sánh khô cằn về ý tưởng và biểu tượng, nhưng là tìm thấu hiểu được vấn đề. Đối thoại chân thực ở cấp độ này sẽ không tìm chứng minh người khác sai lầm từ chính những viễn tượng giới hạn của mình. Ngược lại, qua việc đối thoại, người ta tìm đạt tới Tuyệt Đối, cho dù nếu sự đạt tới này vẫn còn là một tiến trình liên tục hướng về một chân trời nó cứ lùi xa mãi. Một kinh nghiệm như vậy có thể là một kinh nghiệm thật sự giải thoát, nhất là khi nó giúp chúng ta không còn đồng hóa Thiên Chúa với bất cứ ngẫu tượng văn hóa hay ngôn ngữ nào của chúng ta. Nó làm cho chúng ta tự do và mở về phía đa dạng trong biểu thức và kinh nghiệm.
Qua đối thoại bằng kinh nghiệm thiêng liêng, những người trong cuộc chia sẻ với nhau sự tìm kiếm kinh nghiệm về Thiên Chúa của mỗi người trong những nghi lễ và biểu tượng tôn giáo của họ. Điều này có thể làm được theo nhiều cách thức và ở nhiều cấp độ khác nhau. Sách Thánh (Scriptures) là những tài liệu căn bản của mỗi truyền thống tôn giáo. Các tín hữu tin rằng Sách Thánh thuật lại và là trung gian cho sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa vào đời sống và lịch sử của họ. Kinh Thánh có một vai trò như khung cảnh để nhận ra sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong mọi lúc. Sự hiện diện của Thánh Thần trong các tôn giáo khác sẽ có dấu ấn trong Sách Thánh và cả trong nghi lễ của họ. Sách Thánh của các tôn giáo khác có thể được đọc theo những cách thức khác nhau. Chúng có thể được đọc như những tài liệu văn chương hay như những tài liệu thiêng liêng của những người khác tôn giáo đang đối thoại với mình. Chúng cũng có thể được đọc và được giải thích trong chính mạch văn Sách Thánh của họ. Sách Thánh của các tín đồ tôn giáo khác, đang hiện diện, cũng có thể được cùng đọc với nhau trong bầu khí đối thoại và cùng tìm kiếm cái nhìn chung về những công trình kỳ diệu của Thiên Chúa. Nó giống như việc chia sẻ với nhau câu chuyện của đời mình. Việc đọc Sách Thánh như thế không phải là một hoạt động trí thức nhưng luôn hướng về việc nhìn ra sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa trong lúc đó. Chẳng hạn như Gandhi đã tổ chức buổi gặp gỡ cầu nguyện của các tôn giáo, trong đó Kinh Thánh của các tôn giáo khác nhau được đọc trong bối cảnh cổ võ sự hòa hợp giữa các tôn giáo vào thời điểm mà người ta đang tàn sát lẫn nhau nhân danh tôn giáo. Cũng vậy, những nhóm liên tôn giáo cũng có thể cầu nguyện với nhau, hoặc chia sẻ cầu nguyện của người khác, hoặc triển khai những lời cầu nguyện chung trong đó mọi người có thể cùng chia sẻ. Điều kiện để người ta có thể làm như thế đã được thăm dò ở Ấn Độ (x. Catholic Bishops’conference of India, 1989 ; Puthanangadi, 1988). Nhưng ta có thể nhắc lại khẳng định của Đức Gioan Phaolô II rằng mọi lời cầu nguyện chính hiệu đều là hoa trái của Thần Khí. Điều đó có nghĩa là trong khi chia sẻ việc cầu nguyện, người ta có thể gặp gỡ Thánh Thần đang hiện diện và hoạt động nơi người khác. Người ta gặp gỡ nhau ở mức độ bản thân sâu xa của mỗi người, ở đó người ta có thể chạm tới Thiên Chúa, Đấng là chiều sâu của cả hai bên đang đối thoại. Như Đức Gioan Phaolô II đã nói ở Madras, Ấn Độ :

Bằng việc đối thoại, chúng ta để cho Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta ; vì khi chúng ta cởi mở chính mình ra với nhau trong đối thoại, thì chúng ta cũng cởi mở chính mình ra với Thiên Chúa (x. Amaladoss,Liberation : An Interreligious Proiect, 1992a).
Người ta gặp gỡ Thiên Chúa trong khi gặp gỡ người khác “bằng xương bằng thịt”. Người ta nhận thức vai trò trung gian và dấu chỉ của tất cả các Sách Thánh và các nghi lễ. Người ta không chỉ được giải phóng khỏi những khuynh hướng cực đoan tôn giáo mà còn học biết tìm kiếm Thiên Chúa trong mọi sự và mọi hoàn cảnh. Điều này có thể là nguồn hứng khởi và là sức mạnh để cùng hành động thay đổi con người, biến đổi văn hóa và thăng tiến công bình, liên đới và hòa bình.

Đối thoại bằng hành động chung có thể xảy ra không những qua sự cộng tác trong việc bảo vệ và thăng tiến những giá trị thiêng liêng và nhân bản chung, mà còn như là cùng hành động trên bình diện kinh tế – xã hội và chính trị với ý hướng biến đổi cộng đồng nhân loại. Ở Á Châu, người ta nói đến những cộng đồng nhân loại cơ bản hơn là cộng đồng Kitô hữu cơ bản, được coi như công cụ làm cho thế giới này trở nên công bằng hơn. Một hành động chung như thế vừa có vai trò như bối cảnh sống vừa có vai trò như mục tiêu của ba con đường đối thoại mà tôi đã nêu ở trên. Như đã thấy ở trên, một hành động như thế không chỉ là nổ lực riêng của con người, mà còn là sự đáp trả và cộng tác với hành động của Thánh Thần trong thế giới. Điều này giải thích tại sao nó có sức giải phóng và dẫn đến việc sử dụng tự do một cách sáng tạo. Tại sao các hành động như thế có khi thất bại? Đó là vì những người dấn thân vào đó không thật sự tự do trong Thánh Thần. Trái lại, họ bị thúc đẩy bởi quyền lợi vị kỷ của mình. Họ nô lệ cho ích kỷ và kiêu căng của họ. Họ không được tự do để hòa điệu với Thánh Thần. Vì một hành động giải phóng và sáng tạo thật sự giả thiết việc đọc ra “những dấu chỉ của thời đại” như là biểu hiện hành động của Thánh Thần và phân định để xác định xem Thánh Thần mời gọi chúng ta làm gì. Thánh Thần sẽ trợ giúp chúng ta trong cả sự yếu hèn của chúng ta (Rm 8, 26).

(Trích dịch bài của Amaladoss sj)
Lm Nguyễn Trung Kiên