LIBRERIA EDITRICE VATICANA
00120 CITTAØ DEL VATICANO
DẪN NHẬP
Hoàn cảnh và vấn đề
1. Trong những vấn đề phức tạp ngày nay đang làm bận tâm các bậc cha mẹ, tính cả mọi khác nhau của các bối cảnh văn hoá, chắc chắn có vấn đề hiến cho con cái mình cách khả dĩ thích đáng một sự chuẩn bị cho đời sống trưởng thành, đặc biệt về những gì liên quan đến việc giáo dục về ý nghĩa thực sự của giới tính con người. Sự khó khăn đó, vả chăng không phải là mới lạ, có những nguyên nhân khác nhau:
Trong quá khứ, ngay cả khi một sự giáo dục giới tính cách rõ ràng không được gia đình cung ứng thì nền văn hoá chung được đánh dấu bởi sự tôn trọng những giá trị căn bản, cũng khách quan bảo vệ và bảo tồn những giá trị ấy. Sự xoá nhoà những mô hình truyền thống trong một bộ phận lớn của xã hội. Ở những nước phát triển cũng như ở những nước đang phát triển đã để con cái thiếu thốn những chỉ dẫn rõ ràng và tích cực, trong khi các bậc cha mẹ không ở trong tình trạng được chuẩn bị để cho chúng những giải đáp thoả đáng. Bối cảnh mới này hơn nữa còn gánh chịu thêm một sự làm lu mờ chân lý về con người, trong đó ghi sâu một xu hướng tầm thường hoá giới tính. kết quả là một nền văn hoá mà trong đó xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng quá thường khi chỉ cống hiến về vấn đề này một sự thông tin phi nhân cách hoá, có vẻ trò đùa, thường hay bi quan, và đàng khác, dửng dưng với những giai đoạn của sự đào tạo trẻ em và thanh niên; điều này do ảnh hưởng của một quan niệm sai lầm, cá nhân chủ nghĩa, về tự do và trong một bối cảnh bị tước đi những giá trị căn cứ vào sự sống, vào tình yêu con người và gia đình.
Mặt khác, trường học hướng về sự khai triển những chương trình giáo dục giới tính, đã làm việc đó bằng cách thường xuyên thay thế gia đình và phần nhiều là trong một quan điểm ròng thông tin. Điều đó đôi khi dẫn đến bóp méo thực sự các lương tâm. Chính cha mẹ đã rất thường khi từ bỏ bổn phận của mình trong lãnh vực này, do sự khó khăn của nhiệm vụ đó và do sự thiếu chuẩn bị của họ, hoặc là họ đã chấp nhận ủy thác nhiệm vụ đó cho người khác.
Trong tình thế đó, nhiều cha mẹ công giáo hướng về Giáo hội để Giáo hội nhận đảm đương hiến cho họ một phương hướng và những gợi ý về việc giáo dục con cái họ, nhất là trong tuổi ấu thơ và tuổi thiếu niên. Đôi khi chính cha mẹ tỏ ra lúng túng khi phải đối mặt với việc giảng dạy ở trường theo như con cái kể lại. Hội Đồng Giáo Hoàng đặc trách Gia đình nhân đó đã nhận được những lời yêu cầu lập đi lập lại và khẩn khoản để có thể đưa ra một chỉ thị giúp những bậc làm cha mẹ trong lĩnh vực giáo dục tế nhị này.
2. Cảm nhận được tầm vóc gia đình của việc giáo dục tình yêu và giáo dục sống tốt bản năng giới tính, đồng thời ý thức được “Kinh nghiệm về bản chất con người” vốn là đặc điểm của cộng đồng những kẻ tin. Hội Đồng chúng tôi muốn đề xuất một vài chỉ thị có tính cách phục vụ, múc nơi sự khôn ngoan đến từ Lời Chúa và nơi những giá trị soi sáng giáo huấn của Giáo hội.
Vậy trên hết, chúng tôi muốn nối kết tài liệu này với nội dung chủ yếu của chân lý và ý nghĩa giới tính, trong khuôn khổ một nền nhân loại học thật sự và phong phú. Trong khi đề xuất chân lý đó, chúng tôi ý thức rằng “Ai thuộc về chân lý” (Jn 18, 37) thì nghe lời của Đấng vốn là chân lý hiện thân (Jn 14, 6).
Quyển chỉ nam này không muốn là một chuyên luận thần học luân lý hay một bản tóm lược tâm lý học, nhưng muốn chú ý đến những gì khoa học đã đạt được, đến những điều kiện xã hội học và văn hoá khác nhau ở nơi gia đình hiện diện, và chú ý đến sự cần thiết phải đề ra những giá trị Tin Mừng vốn còn giữ mãi cho mọi thời đại sự tươi thắm tự thuở đầu và khả năng nhập thể cụ thể của chúng.
3. Một số điều xác thực trợ lực cho lập trường của Giáo hội trong lãnh vực đó và đã hướng dẫn việc soạn thảo tài liệu này.
Tình yêu, được nuôi dưỡng bởi sự gặp gỡ giữa người nam và người nữ và được tỏ bày trong sự gặp gỡ đó, là một ân ban của Thiên Chúa; do đó nó là một sức mạnh tích cực hướng đến sự hoàn thành người nam và người nữ với tư cách là những con người, nó cũng là một nguồn tài nguyên quí giá cho sự hiến thân mà tất cả, những người nam và những người nữ, được mời gọi đến để thực hiện bản thể riêng và hạnh phúc của mình trong một kế hoạch đời sống vốn thể hiện ơn gọi của mỗi người.
Trong thực tế, con người được mời gọi đến tình yêu với tư cách là một tinh thần nhập thể, nghĩa là linh hồn và thể xác trong sự duy nhất của bản vị người. Tình yêu của con người cũng bao gồm cả thể xác và thể xác cũng biểu thị tình yêu tinh thần[1]. Bản năng giới tính như thế không phải là cái gì hoàn toàn thuộc sinh học, nhưng đúng hơn là nó có mối liên quan với trung tâm mật thiết của con người. Việc sử dụng bản năng giới tính như là sự hiến thân về thể lý sẽ đạt đến chân lý và ý nghĩa của nó khi nó biểu thị sự trao hiến bản thân của người nam và người nữ cho đến lúc chết. Thế nhưng, cũng như tất cả đời sống của con người, tình yêu ấy bị phơi bày ra trong sự mỏng dòn yếu đuối do tội nguyên tổ và, trong nhiều bối cảnh xã hội văn hoá, nó còn chịu ảnh hưởng của môi sinh tiêu cực, đôi khi trệch hướng và bị chấn thương.
Thế nhưng ơn cứu chuộc của Chúa đã làm cho việc thực hành tích cực sự khiết tịnh thành một cái gì thực sự có thể được và một lý do vui mừng, cả cho những ai có ơn gọi đến hôn nhân- trước hôn lễ trong thời kỳ chuẩn bị cũng như sau hôn lễ suốt cuộc đời vợ chồng, lẫn cho những ai đã nhận được ân ban của một tiếng gọi đặc thù đến đời sống dâng hiến.
4. Trong viễn cảnh ơn cứu chuộc và quãng đường đào tạo giới thiếu niên và thanh niên, đức khiết tịnh phát triển trong khuôn khổ của sự tiết độ- nhân đức chủ yếu đã được ân sủng nâng lên và hoàn thiện trong phép Rửa. Không được nhận thức đức khiết tịnh như một thái độ trấn áp. Trái lại đức ấy là như sự biểu hiện tinh ròng trong sáng của một ân ban đã nhận lãnh, quí giá và phong phú: ân ban của tình yêu, đồng thời như cái gì bảo vệ và gìn giữ ân ban đó nhằm vào sự hiến thân được thể hiện trong ơn gọi đặc thù của mọi người. Vậy đức khiết tịnh là “nghị lực tinh thần có thể bảo vệ tình yêu khỏi những nguy cơ của tính ích kỷ và sự hung hăng thô bạo, trong khi dẫn đưa nó đến sự thể hiện hoàn toàn”[2]. Sách giáo lý Giáo Hội Công giáo miêu tả và, theo một ý nghĩa nào đó, định nghĩa sự khiết tịnh: “Đức khiết tịnh có nghĩa là sự hội nhập thành công bản năng giới tính trong con người và qua đó là sự nhất thống nội tâm con người trong bản thể thể xác và tâm thần của mình”[3].
5. Việc giáo dục đức khiết tịnh, trong khuôn khổ giáo dục cho giới trẻ sự thể hiện mình và hiến thân, bao gồm sự hợp tác ưu tiên của bậc làm cha mẹ. Sự hợp tác này được thực hiện gián tiếp xuyên qua việc đào tạo cho con cái những đức tính khác như tính tiết độ, tính kiên cường và sự khôn ngoan. Đức khiết tịnh với tư cách là nhân đức, không thể tồn tại nếu không có một năng lực căn bản để từ bỏ mình, hy sinh, chờ đợi.
Khi cho sự sống, cha mẹ cộng tác với quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa và đón nhận ân ban một trách nhiệm mới: trách nhiệm không chỉ chu cấp và thoả mãn những nhu cầu vật chất và văn hoá của con cái mình, mà nhất là còn truyền cho chúng chân lý đức tin mình đã sống và giáo dục chúng tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Bổn phận đầu tiên của họ giữa lòng “Giáo hội tại gia” là như thế[4] .
Giáo hội luôn khẳng định rằng cha mẹ có bổn phận và có quyền là những nhà giáo dục đầu tiên của con cái họ. Lấy lại Công đồng Vatian II, sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo nhắc lại rằng : “Phải dạy dỗ giới trẻ kịp thời và một cách thích hợp, tốt hơn là giữa lòng gia đình, về phẩm giá của tình yêu vợ chồng, chức năng và việc thực hành tình yêu ấy[5]” .
6. Những kích động ngày nay đến từ não trạng và môi sinh văn hoá không thể làm nản chí những người làm cha mẹ. Một mặt, trong thực tế, nên nhắc lại rằng người Kitô hữu, từ thuở đầu Phúc âm hoá, đã phải đương đầu với những thách thức tương tự từ phía chủ nghĩa hoan lạc duy vật. Hơn nữa, “nền văn minh của chúng ta vốn đã có đưa ra biết bao phương diện tích cực trên bình diện vật chất cũng như trên bình diện văn hoá, nhưng có lẽ phải nhận thức rằng dưới nhiều phương diện khác nhau nó là một nền văn minh bệnh hoạn, đang kích động những biến chất sâu đậm nơi con người. Tại sao xảy ra điều đó? Lý do nằm ở sự kiện xã hội chúng ta đã tách rời khỏi chân lý trọn vẹn về con người, khỏi chân lý về người nam và người nữ là gì với tư cách là những nhân vị. Do đó xã hội chúng ta không có khả năng hiểu được chính xác sự hiến thân của những nhân vị trong hôn nhân và tình yêu có trách nhiệm để phục vụ tình phụ tử và mẫu tử thực sự là gì, tầm quan trọng đích thực của sự sinh đẻ và giáo dục thực sự là như thế nào[6].
7. Vậy sự nghiệp giáo dục của những người làm cha mẹ là cần thiết. “Nếu, khi cho sự sống”, những người này “dự phần vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, thì bằng việc giáo dục họ dự phần vào nền sư phạm có tính chất vừa là cha vừa là mẹ của Ngài… Bởi Chúa Kitô, mọi việc giáo dục trong gia đình và ở nơi khác bước vào trong chiều kích cứu độ của nền sư phạm Thiên Chúa, được dành cho những con người và những gia đình và đạt tới đỉnh cao nhất trong mầu nhiệm vượt qua của sự chết và sự sống lại của Chúa”[7].
Trong nhiệm vụ đôi khi tế nhị và khó khăn của mình, những bậc làm cha mẹ không nên vì đó mà nản chí, nhưng phải giữ lòng tin cậy nơi sự nâng đỡ của Thiên Chúa Sáng tạo và của Chúa Kitô Cứu chuộc, nhớ rằng giáo hội cầu nguyện cho họ với những lời mà Giáo Hoàng Clêmentê I đã thưa cùng Chúa cho những ai nhân danh Ngài mà thi hành quyền bính: “Lạy Chúa, xin hãy ban cho họ sức khỏe, sự bình an, sự hoà hợp, sự kiên định ngõ hầu họ thi hành không va chạm vương quyền mà Ngài đã ban cho họ. Lạy Chúa tể trên trời, Vua mọi thời đại, chính Ngài đã ban cho con cái loài người vinh quang, danh dự và quyền năng trên mọi sự việc trần gian. Hỡi Ngài, lạy Chúa, xin hãy hướng dẫn những quyết định của họ theo những gì tốt và đẹp nơi mắt Ngài, ngõ hầu khi thi hành quyền năng Ngài đã ban cho họ với lòng sùng đạo trong hoà bình và huyền diệu, họ được thấy Chúa phù hộ”[8].
Vả lại, những cha mẹ khi đã cho sự sống và đã đón tiếp sự sống ấy trong một không khí tình yêu thì được dồi dào một tiềm năng giáo dục mà không ai khác nắm giữ: họ biết con mình một cách duy nhất trong tính đặc biệt duy nhất của nó và nhờ kinh nghiệm, họ nắm được những bí quyết và những khả năng của tình yêu đích thực.
I. ĐƯỢC MỜI GỌI ĐẾN TÌNH YÊU THỰC:
8. Con người với tư cách là hình ảnh của Thiên Chúa được tạo dựng để yêu thương. Chân lý này được mạc khải trọn vẹn cho chúng ta trong Tân ước. Kết hợp với mầu nhiệm sự sống giữa Ba Ngôi. ” Thiên Chúa là Tình yêu (1 Jn 4,8) và Ngài sống nơi chính mình một mầu nhiệm hiệp thông ngôi vị bằng tình yêu. Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Ngài… Thiên Chúa ghi sâu vào đó ơn gọi đến tình yêu và sự hiệp thông, và vậy thì cũng ghi sâu vào nơi đó khả năng và trách nhiệm tương ứng. Vậy tình yêu là ơn gọi chủ yếu và bẩm sinh của mọi bản thể con người”[9]. Tất cả ý nghĩa của sự tự do đặc thù và của sự tự kiềm chế phát sinh từ đó đều hướng đến sự hiến thân trong hiệp thông và tình bạn với Thiên Chúa và với những người khác[10].
Tình yêu với danh nghĩa hiến thân
9. Vậy bản vị con người có khả năng đối với một loại hình tình yêu cấp cao : Không phải loại hình của sự dâm dục, vồn chỉ thấy những đối tượng để thỏa mãn dục vọng riêng của mình, nhưng là loại hình của tình bạn và tình hiến dâng, có khả năng nhận biết và yêu những bản vị con người vì chính họ. Đó là một tình yêu có khả năng độ lượng, giống tình yêu Thiên Chúa; nó muốn lợi ích của người khác bởi vì nó nhận biết người khác đáng được yêu. Đó là một tình yêu sản sinh ra sự hiệp thông giữa những bản vị con
người, bởi vì mỗi người coi lợi ích của người khác như lợi ích riêng của mình. Đó là sự hiến thân thực hiện cho người mình yêu, trong sự hiến thân đó được phát hiện và thực tại hóa lòng nhân lành đặc thù trong sự hiệp thông giữa những bản vị con người và là nơi học biết giá trị của được yêu và yêu.
Mọi người được mời gọi đến tình yêu – tình bạn và tình hiến dâng và họ được giải phóng khỏi xu hướng ích kỷ bởi tình yêu tha nhân : trước tiên là tình yêu cha mẹ và những ai thay thế họ, và rốt cuộc là tình yêu Thiên Chúa, Đấng mà từ Ngài bắt nguồn mọi tình yêu thực và chỉ trong tình yêu của Ngài con người mới phát hiện mình được yêu đến mức độ nào. Nơi đó tìm thấy nguồn gốc năng lực giáo dục của Kitô giáo: “Con người được Thiên Chúa yêu ! Đó là loan báo giản đơn và đảo lộn đến thế, mà Giáo hội phải đưa đến cho con người”[11]
Chúa Kitô đã vạch trần ra cho con người căn cước đích thực của nó: “Là Adam mới, trong chính mạc khải về mầu nhiệm và tình yêu của Chúa Cha, Chúa Kitô đã biểu lộ con người cho chính nó và phát giác cho nó sự tuyệt vời của Ơn gọi của nó”[12].
Tình yêu do Chúa Kitô mạc khải “mà Tông đồ Phaolô đã dành cho một ca vịnh trong thư thứ nhất gởi giáo dân Corinthô…chắc hẳn là một tình yêu hay đòi hỏi. Nhưng vẻ đẹp của nó chính là ở đó, trong sự thực hay đòi hỏi, bởi như thế nó xây dựng lợi ích thực của con người và làm cho nó chiếu toả ra trên những người khác”[13]. Vậy đó là một tình yêu tôn trọng và xây dựng bản vị con người bởi vì ” Tình yêu là thật khi nó tạo ra lợi ích của những con người và của những cộng đồng, tạo ra và đem lợi ích đó cho những người khác“[14].
Tình yêu và bản năng giới tính của con người
10. Con người được mời gọi đến tình yêu và sự hiến thân trong tính duy nhất thể xác và tinh thần. Nam tính và nữ tính là những ân ban bổ sung. Do đó bản năng giới tính của con người là bộ phận của khả năng cụ thể của tình yêu mà mà Thiên Chúa đã ghi sâu trong người nam và người nữ. “Bản năng giới tính là một phân lực chủ yếu của nhân cách, một trong những lối để nó tồn tại, biểu hiện, truyền đạt với những người khác, cảm nhận, phát biểu và sống tình yêu con người”[15]. Vậy khả năng tình yêu với tư cách hiến thân được “nhập thể” trong tính chất chồng vợ của thân xác, trong đó được khắc sâu nam tính và nữ tính của bản vị con người. “Thân xác con người với bộ phận sinh dục của nó, với nam tính và nữ tính của nó, nhìn ngay trong mầu nhiệm sáng tạo, không chỉ là một cái nguồn của khả năng sinh sản và của sự sinh đẻ, như trong tất cả trật tự tự nhiên, nhưng nó bao gồm ngay từ “nguyên thủy” thuộc tính “chồng vợ”, nghĩa là năng lực biểu đạt tình yêu : chính là cái tình yêu trong đó con người – nhân vị trở thành sự hiến tặng và bởi sự hiến tặng đó, thể hiện chính ý nghĩa của cái “là” và cái “tồn tại” của mình”[16]. Mọi dạng tình yêu sẽ luôn luôn được đánh dấu bởi đặc trưng nam hay nữ đó.
11. Vậy bản năng giới tính của con người là một tài sản : nó thuộc về ân ban thụ tạo mà Thiên Chúa ” thấy là rất tốt” khi Ngài tạo ra bản vị con người theo hình ảnh Ngài và giống Ngài, và “Ngài đã tạo dựng nên họ là nam và nữ” (Gn 1, 27). Trong mức độ nó là một con đường để bắt quan hệ và để cởi mở với những người khác, bản năng giới tính có tình yêu như mục đích nội tại, và chính xác hơn là có tình yêu như sự hiến tặng và sự đón nhận, cho và nhận. Quan hệ giữa một người nam và một người nữ về thực chất là một quan hệ tình yêu : “Bản năng giới tính phải được định hướng, nâng cao và hội nhập bởi tình yêu vốn duy nhất làm cho nó trở thành thực sự của con người”[17]. Khi một tình yêu như thế thực tại hoá trong hôn nhân, sự hiến thân biểu thị, xuyên qua thân xác, tính bổ sung và tính trọn vẹn của sự hiến tặng: bấy giờ tình yêu chồng vợ trở thành sức mạnh làm phong phú và nuôi dưỡng nền văn minh tình yêu; trái lại, khi thiếu tinh thần và ý nghĩa của sự hiến tặng trong bản năng giới tính thì tự hợp thành “một nền văn minh của những “đồ vật” chứ không phải của những “con người”, một nền văn minh trong đó những con người bị sử dụng như người ta sử dụng những đồ vật. Trong khuôn khổ nền văn minh hưởng thụ, người phụ nữ có thể trở thành một đồ vật đối với người đàn ông, con cái trở thành sự vướng víu đối với cha mẹ”[18].
12. Ở trung tâm ý thức Kitô hữu của cha mẹ và con cái có chân lý vĩ đại và sự kiện cơ bản này: Ân ban của Thiên Chúa. Đó là vấn đề ân ban mà Thiên Chúa đã làm cho chúng ta khi mời gọi chúng ta sống và tồn tại với tư cách người nam hay người nữ trong một cuộc sống duy nhất phủ đầy những khả năng phát triển tinh thần và đạo đức vô tận: “Sự sống con người là một tặng vật được nhận để rồi đến lượt nó lại được cho”[19]. “Có thể nói ân ban biểu lộ một đặc trưng đặc thù của bản hữu nhân vị, hay đúng hơn của chính bản thể nhân vị. Khi Thiên Chúa Yahvê nói: ” Không tốt cho con người ở cô độc” (Gn 2, 18), Ngài khẳng định rằng “cô độc”, con người không thể hiện trọn vẹn bản thể này. Con người chỉ thể hiện bản thể ấy khi hiện hữu “với một ai đó” và còn sâu thẳm hơn, đầy đủ hơn, khi hiện hữu “vì một ai đó”‘ [20]. chính trong sự cởi mở ra với người khác và trong sự hiến thân mà tình yêu được thể hiện dưới dạng sự hiến tặng toàn vẹn, vốn là đặc điểm của trạng thái đó. Và luôn luôn chính trong sự hiến thân, được trợ lực bởi một ân sủng đặc biệt, mà Ơn gọi đến đời sống dâng hiến có được ý nghĩa của nó, đời sống dâng hiến vốn là “cách thức cao diệu để hiến thân dễ dàng hơn cho Thiên Chúa với trái tim không chia sẻ”[21] để phục vụ trọn vẹn hơn trong Giáo hội.
Trong mọi điều kiện và mọi trạng thái sống, dù là điều kiện và trạng thái nào, sự hiến tặng này còn trở nên tuyệt diệu hơn bởi ân phúc cứu chuộc, nhờ ân phúc ấy mà chúng ta trở thành “dự phần bản tính Thiên Chúa” (2P 1, 4) và được mời gọi chung sống sự hiệp thông siêu nhiên của tình bác ái với Chuá và với những người anh em. Những người cha mẹ Kitô hữu, ngay cả trong những hoàn cảnh tế nhị hơn, không thể quên rằng ở bề sâu của mọi lịch sử cá nhân và gia đình còn có ân ban của Thiên Chúa.
13. “Vì rằng con người là một tinh thần nhập thể, nghĩa là một linh hồn tự tỏ bày ra trong một thân xác và một thân xác sống bởi một tinh thần bất tử, nên con người được mời gọi đến tình yêu trong tổng thể hợp nhất của nó. Tình yêu bao gồm cả thân xác con người và thân xác được dự phần vào tình yêu tinh thần”[22]. Ý nghĩa liên bản vị của cùng một bản năng giới tính được đọc thấy trong ánh sáng của Ơn Mạc khải: “Bản năng giới tính làm rõ nét đặc tính của người nam và người nữ không chỉ trên bình diện thể lý mà còn cả trên bình diện tâm lý và tinh thần, đánh dấu trong mỗi một biểu lộ của họ một sự khác nhau như thế, có quan hệ chặt chẽ với tính bổ sung của hai giới tính, đáp ứng trọn vẹn kế hoạch của Thiên Chúa theo Ơn gọi mà mỗi người được mời đến”[23].
Tình yêu vợ chồng
14. Khi tình yêu được sống trong hôn nhân, nó bao gồm và vượt quá tình bạn đơn thuần và được thể hiện giữa một người nam và một người nữ hiến thân cho nhau trong tổng thể của họ tuỳ theo nam tính hay nữ tính riêng của mỗi người trong họ, nó xác lập xuyên qua giao ước chồng vợ sự hiệp thông của hai bản vị mà trong đó
Thiên Chúa đã muốn đời sống con người được quan niệm, sinh ra và phát triển. Chính là của tình yêu chồng vợ đó, và chỉ là của tình yêu chồng vợ đó, mà sự hiến trao giới tính thuộc quyền sở hữu, sự hiến trao giới tính vốn “chỉ được thể hiện một cách thực sự người nếu nó là một phần của tình yêu trong đó người nam và người nữ dấn thân trọn vẹn người này đối với người kia cho đến chết”[24]. Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo nhắc lại rằng : “Trong hôn nhân, sự mật thiết thể xác của vợ chồng trở thành một dấu chỉ và một bằng chứng của sự hiệp thông tinh thần. Giữa những người đã chịu phép Rửa, những mối liên kết của hôn nhân được thánh hoá bởi nhiệm tích”[25].
Tình yêu mở ra cho sự sống
15. Dấu chỉ biểu lộ tính đích thực của tình yêu chồng vợ là sự mở ra cho sự sống : “Trong thực tại sâu thẳm nhất của nó, tình yêu theo thực chất là hiến trao, và tình yêu chồng vợ, khi đưa vợ chồng đến sự “biết” lẫn nhau… không kết thúc trong đôi lứa: vì chưng nó làm cho họ có khả năng về sự hiến trao vĩ đại nhất vốn có, là sự hiến trao qua đó họ trở thành những người cộng tác với Thiên Chúa để hiến trao sự sống cho một bản vị con người khác. Như thế, khi vợ chồng tự hiến trao cho nhau, họ hiến trao vượt quá chính mình một bản thể có thực, là đứa con, phản ánh tình yêu có sự sống của họ, dấu chỉ bền lâu của sự hoà hợp vợ chồng và tổng hợp sống và không thể tách biệt của bản thể cha và mẹ của họ”[26]. Chính từ sự hiệp thông của tình yêu và sự sống đó mà vợ chồng đạt tới sự phong phú có đặc tính người và thiêng liêng, và đạt được bầu khí tích cực mà họ phải hiến cho con cái của họ để hỗ trợ việc giáo dục chúng về tình yêu và về sự khiết tịnh.
II. TÌNH YÊU THỰC VÀ SỰ KHIẾT TỊNH:
16. Tình yêu trinh nguyên cũng như tình yêu chồng vợ, vốn như chúng tôi sẽ nói sau đây là hai hình thái trong đó được thể hiện Ơn gọi của con người đến tình yêu để phát triển, đòi hỏi một sự dấn thân sống sự khiết tịnh theo cách thức riêng cho mỗi một trong hai tình yêu ấy. Như Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo nói, bản năng giới tính “trở thành của nhân vị và thực sự người khi nó được hội nhập trong quan hệ người với người, trong sự trao hiến lẫn cho nhau trọn vẹn và vô hạn định về mặt thời gian giữa người nam và người nữ”[27]. Hiển nhiên là trong chừng mực nó bao hàm sự hiến thân chân thành, sự tăng trưởng trong tình yêu được hỗ trợ bởi kỷ luật trong các tình cảm, các dục vọng và các sự trìu mến, vốn là kỷ luật cho phép đạt tới sự tự làm chủ mình. Không ai có thể cho những gì họ không có : nếu người nào không làm chủ chính mình – nhờ sự vận dụng những đức tính cụ thể là đức khiết tịnh- người đó thiếu sự tự kiềm chế vốn làm cho mình có khả năng tự hiến mình. Đức khiết tịnh là nghị lực tinh thần giải phóng tình yêu khỏi sự ích kỷ và sự hung hăng thô bạo. Chính ngay trong mức độ đức khiết tịnh sút kém đi nơi mình, tình yêu của con người tuần tự trở thành ích kỷ, nghĩa là hướng đến sự thoả mãn một ước muốn vui thích chứ không còn hướng đến sự hiến thân nữa.
Sự khiết tịnh với danh nghĩa hiến thân
17. Sự khiết tịnh là sự tự khẳng định trong hân hoan của ai biết sống sự hiến thân, tự do khỏi mọi tình trạng nô lệ của tính ích kỷ. Điều đó giả định rằng đương sự đã học biết chú ý tốt đến những người khác, đặt mình trong mối quan hệ với họ bằng cách biết tôn trọng phẩm giá của họ trong sự khác biệt của họ. Con người khiết tịnh không tập trung vào chính mình và không có những mối quan hệ ích kỷ đối với những người khác. Sự khiết tịnh làm cho nhân cách hài hoà, chín chắn và đầy sự bình an nội tâm. Sự trong trắng tinh thần và thể xác đó giúp người ấy phát triển sự tự trọng đích thực và đồng thời làm cho người ấy có khả năng tôn trọng những người khác, bởi vì nó làm cho thấy ở họ những con người phải kính trọng vì được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và nhờ ân sủng đã trở thành con cái Thiên Chúa, được tái tạo bởi Chúa Kitô, Đấng “đã mời gọi anh em từ bóng tối tăm vào trong ánh sáng kỳ diệu của Ngài” (1P 2, 9).
Sự làm chủ mình
18. “Đức khiết tịnh bao hàm một sự học tập làm chủ mình, vốn là một nền sư phạm về tự do con người. Cái thế phải lựa chọn đã rõ: hoặc con người chỉ huy các dục vọng của mình và đạt được sự bình an, hoặc nó để cho mình bị nô lệ hoá bởi chúng và trở thành khốn khổ”[28]. Mọi người qua kinh nghiệm cũng biết rằng sự khiết tịnh đòi hỏi khước từ một số ý tưởng, lời nói và hành động có tội, như Thánh Phaolô đã quan tâm xác định và nhắc lại điều đó (Xem Rm1, 18; 6, 12-14; 1Co 6, 9-11; 2Co 7,1; Ga 5, 16-23; Ep 4, 17-24; 5, 3-13; Col 3, 5-8; 1Th 4, 1-18; 1Tm 1, 8-11; 4, 12). Vậy khả năng và năng khiếu làm chủ mình là cần thiết. Chúng là dấu hiệu của sự tự do nội tâm, của tinh thần trách nhiệm đối với mình và đối với những người khác. Đồng thời chúng chứng tỏ một lương tâm được Đức tin cảnh báo. Sự làm chủ mình này bao hàm việc tránh những cơ hội kích động và gợi ý phạm tội, đồng thời biết vượt quá những xung năng do bản năng của bản tính con người nơi mình.
19. Khi gia đình thực hiện cho đến kết quả cuối cùng một sự hỗ trợ giáo dục hữu hiệu và khuyến khich việc thực hành các nhân đức, thì việc giáo dục đức khiết tịnh ở trong tình trạng có được điều kiện dễ dàng và không đụng phải những xung đột nội tâm, dẫu cho vào những thời điểm nào đó những người trẻ có thể gặp những tình huống đặc biệt tế nhị.
Đối với một số người ở trong những môi trường mà người ta xúc phạm hoặc mất tin tưởng vào sự khiết tịnh, sống một cách khiết tịnh có thể đòi hỏi một cuộc đấu tranh gay go, đôi khi anh hùng. Dù sao đi nữa, với ân sủng của Chúa Kitô, phát sinh từ tình yêu của Ngài như của Bạn tình trăm năm đối với Giáo hội, tất cả mọi người có thể sống cách khiết tịnh dù có ở trong những điều kiện ít thuận tiện. Chính sự kiện tất cả được mời gọi đến sự thánh thiện, như Công Đồng Vatican II đã nhắc lại, cho phép hiểu rằng, trong đời sống độc thân cũng như trong hôn nhân, có thể có những tình huống mà những hành vi anh hùng về đức hạnh là cần thiết. Điều đó xảy ra trong thực tế cho hết mọi người, cách này hay cách khác, vào những thời kỳ ít nhiều kéo dài[29]. vậy thì đời sống kết hôn chính nó cũng bao hàm một con đường nên thánh hân hoan và có đòi hỏi cao.
Đức khiết tịnh của vợ chồng
20. “ Những người đã kết hôn được mời gọi sống khiết tịnh của chồng vợ; những người khác thực hành đức khiết tịnh trong sự tiết dục[30]. Những bậc làm cha mẹ biết rằng điều kiện chắc chắn nhất để giáo dục cho con cái tình yêu khiết tịnh và đời sống thánh thiện là ở chỗ chính họ sống đức khiết tịnh của vợ chồng. Điều này bao hàm rằng họ phải nhận thức là trong tình yêu của họ có tình yêu của Thiên Chúa hiện diện. Do đó sự hiến trao cho nhau giới tính của họ cũng phải được sống trong sự kính trọng Thiên Chúa và tôn trọng kế hoạch tình yêu của Ngài, với sự trung thành, trân trọng và quảng đại đối với người hôn phối và đối với sự sống sẽ có thể phát sinh từ sự giao hợp của họ. Chỉ bằng cách đó tình yêu mới có thể trở thành biểu hiện bác ái[31]. Do đó mà người Kitô hữu trong hôn nhân được mời gọi sống sự hiến trao ấy tại bên trong mối quan hệ cá nhân của riêng mình với Thiên Chúa, là biểu hiện của niềm tin và lòng yêu mến của mình đối với Ngài, vậy là với sự trung thành và sự phong phú quảng đại vốn nêu rõ đặc tính của tình yêu Thiên Chúa[32]. Chính chỉ bằng cách đó người Kitô hữu trong hôn nhân mới có thể đáp lại tình yêu của Thiên Chúa và hoàn thành ý muốn của Ngài, ý muốn mà các giới răn giúp cho hiểu biết. Không có tình yêu chính đáng nào mà không phải, ở mức độ cao nhất, cũng là lòng yêu mến Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa kéo theo đáp ứng các giới răn của Ngài cách tích cực : “Nếu các con yêu mến Thầy, các con sẽ giữ các giới răn của Thầy” (Gn 14, 1)[33]
21. Để sống đức khiết tịnh, người nam và người nữ cần phải được soi sáng liên tục bởi Chúa Thánh Linh. “Ở trung tâm đời sống thiêng liêng của chồng vợ có đức khiết tịnh, không chỉ như một đức tính về đạo lý, nối kết với các ơn của Chúa Thánh Linh- trước hết là với ơn kính trọng những gì đến từ Thiên Chúa (“donum pietetis”). Như thế trật tự nội tâm của đời sống chung chồng vợ, vốn cho phép “những biểu hiện quyến luyến” được phát triển theo qui mô chính đáng và ý nghĩa của chúng, là kết quả không chỉ của đức hạnh mà họ rèn luyện, nhưng cũng còn là của những ơn của Chúa Thánh Linh mà với Ngài họ cộng tác”[34].
Về mặt khác, tin chắc rằng đời sống thanh tịnh riêng của họ và nỗ lực của họ để chứng tỏ sự thánh thiện trong sinh hoạt hằng ngày là những tiền đề cần thiết và điều kiện của công trình giáo dục của họ, những người làm cha mẹ cũng phải coi mọi sự công kích chống lại đức hạnh và khiết tịnh của con cái họ như là một sự xúc phạm chính đời sống đức tin của chúng và như một đe doạ làm nghèo đi chính sự hiệp thông của chúng vào sự sống và ân sủng (xem Ep 6, 12).
Giáo dục đức khiết tịnh
22. Giáo dục con cái về đức khiết tịnh nhằm đạt tới ba mục tiêu:
a. Bảo tồn trong gia đình một bầu khí tích cực của tình yêu, của đức hạnh và của sự trân trọng các ơn ban của Thiên Chúa, đặc biệt là ơn ban sự sống[35].
b. Từng bước giúp con cái hiểu giá trị của bản năng giới tính và của đức khiết tịnh bằng cách hỗ trợ quá trình chín chắn của chúng bằng lời nói, gương lành và sự cầu nguyện.
c. Giúp chúng hiểu và phát hiện ơn gọi riêng của chúng đến hôn nhân hay đến sự trinh nguyên dâng hiến vì Nước Trời, hoà hợp với những năng khiếu, những thiên hướng và những ơn của Thần Khí vốn là đặc thù của chúng và trong sự tôn trọng các thiên hướng ấy.
23. Nhiệm vụ này có thể được thực hiện với sự giúp đỡ của những nhà giáo dục khác, nhưng những người này chỉ có thể thay chỗ cha mẹ khi có những lý do nghiêm trọng do không có khả năng vật chất hay tinh thần. Về điểm này, thẩm quyền Giáo huấn của Giáo hội đã tỏ bày cách rõ ràng[36], liên quan đến toàn bộ vấn đề giáo dục con cái: “ Vai trò giáo dục của cha mẹ có một tầm quan trọng đến nỗi, trong trường hợp họ bất lực, vai trò đó khó có thể được thay thế. Quả nhiên, chính cha mẹ phải tạo một không khí gia đìnhđược thúc đẩy bởi tình yêu và sự kính trọng đối với Chúa và đối với mọi người, đến mức nó tạo điều kiện dễ dàng cho việc giáo dục toàn bộ, bản thân và xã hội, của con cái họ. Vậy gia đình là trường học đầu tiên về những đức tính xã hội cần thiết cho mọi xã hội[37]. Trong thực tế, việc giáo dục thuộc quyền cha mẹ trong chừng mực công trình giáo dục tiếp tục quá trình của sự sinh sản và là một việc giáo dục cho tới sự viên mãn của nhân tính[38] mà họ đã long trọng dấn thân trong chính thời điểm cử hành hôn lễ của họ. “Cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên và là những nhà giáo dục chính của con cái mình, và họ cũng có một thẩm quyền chủ yếu trong lãnh vực này; họ là nhà giáo dục bởi vì họ là cha mẹ. Họ chia sẻ sứ mạng giáo dục của họ với những người khác và những cơ chế khác, như Giáo hội và Nhà nước; tuy nhiên điều ấy luôn luôn phải đượclàm theo một sự áp dụng thích đáng nguyên tắc bổ trợ. Căn cứ vào nguyên tắc này, việc mang lại sự giúp đỡ cho những người làm cha mẹ là điều chính đáng, thậm chí là một nhiệm vụ, tuy nhiên phải đồng thời tôn trọng giới hạn nội tại và bất khả vượt qua do ưu thế của quyền cha mẹ và những khả năng cụ thể quyền đó vạch ra. Vậy nguyên tắc bổ trợ đến giúp đỡ tình yêu của những người làm cha mẹ khi góp vào lợi ích của hạt nhân gia đình. Quả thật, những người làm cha mẹ không thể một mình đáp ứng những yêu cầu của quá trình giáo dục trong toàn bộ của nó, đặc biệt là trong những gì liên quan đến việc dạy học và khu vực mênh mông của sự xã hội hóa. Như thế, sự bổ trợ bổ sung cho tình yêu của cha và của mẹ, và xác nhận tính cách chủ yếu của nó vì rằng tất cả những người khác dự phần vào quá trình giáo dục chỉ có thể hành động nhân danh cha mẹ, với sự đồng ý của họ và thậm chí trong chừng mực nào đó, bởi vì đã được những người làm cha mẹ ủy thác”[39].
24. Đặc biệt, sự đề xuất giáo dục trên bình diện giới tính và tình yêu thực, mở ra cho sự hiến thân, ngày nay phải đương đầu với một nền văn hoá có xu hướng thực chứng chủ nghĩa, như Đức Thánh Cha đã nhắc đến trong Thư gởi các gia đình : “Sự phát triển nền văn minh hiện đại gắn liền với một sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật thường được thực hiện một cách đơn phương, do đó trình bày những đặc trưng hoàn toàn thực chứng chủ nghĩa. Người ta biết, như thành quả, chủ nghĩa thực chứng tạo ra thuyết bất khả tri trong những lĩnh vực lý thuyết, và tạo ra thuyết vị lợi trong những phạm vi đạo đức học và thực hành. Chủ nghĩa vị lợi là một nền văn minh của sự sản xuất và hưởng thụ, một nền văn minh của “những đồ vật” chứ không phải của “những con người, một nền văn minh trong đó những con người bị sử dụng như người ta sử dụng những đồ vật… Để xác tín điều đó, chỉ cần xem xét một số chương trình giáo gục giới tính, đưa vào các trường học, thường bất chấp ý kiến ngược lại và thậm chí bất chấp sự phản đối của nhiều cha mẹ”[40].
Trong một bối cảnh như thế, những người làm cha mẹ cần phải yêu sách những gì thuộc nhiệm vụ của họ, dựa vào giáo huấn của Giáo Hội và với sự ủng hộ của Giáo Hội. Và nơi nào điều đó cần thiết và thích hợp, họ cần phải vừa liên kết với nhau triển khai một hoạt động giáo dục dựa theo những giá trị đích thực về con người và tình yêu Kitô giáo, vừa đưa ra ở đó một lập trường rõ ràng, có ưu thế hơn chủ nghĩa vị lợi đạo đức học. Để việc giáo dục đáp ứng những đòi hỏi khách quan của tình yêu thực, cha mẹ phải đảm trách việc đó trong khuôn khổ trách nhiệm tự do của họ.
25.Về những gì liên quan đến việc chuẩn bị hôn nhân, giáo huấn của Giáo Hội cũng nhắc lại rằng : gia đình vẫn phải là người chủ chốt chính trong một sự nghiệp giáo dục như thế[41].
Hẳn là , “những thay đổi xảy ra giữa hầu hết các xã hội hiện đại đòi hỏi không chỉ gia đình mà cả xã hội và Giáo Hội phải dấn thân và nỗ lực chuẩn bị giới cách thích đáng cho những trách nhiệm trong tương lai của họ”[42]. Chính vì lý do đó mà sự dấn thân giáo dục của gia đình ngay từ những năm đầu của đứa con càng nổi bật hơn: ”Sự chuẩn bị xa bắt đầu từ đầu thời thơ ấu theo nền sư phạm khôn ngoan của gia đình, nhằm dẫn dắt các con cái tự phát hiện mình như là được phú cho một tâm lý vừa phong phú vừa phức tạp, và một nhân cách riêng biệt với những sức mạnh cũng như sự yếu đuối của nó”[43].
III. TRƯỚC VIỄN CẢNH CỦA ƠN GỌI:
26. Gia đình có một vai trò quyết định trong sự phát triển và thăng hoa mọi ơn gọi, như Công Đồng Vatican II đã dạy : “(Từ) hôn nhân bắt nguồn gia đình, nơi sinh ra những thành viên mới của thành quốc những con người, mà ân sủng của Chúa Thánh Linh bằng Phép Rửa sẽ làm thành những người con của Thiên Chúa, để dân Thiên Chúa lưu truyền suốt mọi thời đại. Trong loại Giáo Hội này là gia đình, đối với con cái, bằng lời nói và gương lành, cha mẹ phải là những tuyên sứ đức tin đầu tiên, phục vụ mọi ơn gọi riêng của mỗi người và hết sức đặc biệt là Ơn gọi Thánh”[44]. Vậy dấu chỉ rằng một nền mục vụ gia đình là thích đáng, chính là sự kiện nảy nở những Ơn gọi nơi mục vụ đó hoạt động: “Nơi nào có một nền mục vụ gia đình sáng suốt, thì nơi đó đón nhận sự sống như ơn ban của Thiên Chúa là việc hoàn toàn bình thường, và cũng thế nơi đó tiếng gọi của Thiên Chúa dễ dàng vang dội và được quảng đại đón nhận hơn”[45].
Dù vấn đề là những Ơn gọi đến hôn nhân hay đến đời sống đồng trinh và đời sống độc thân, tất cả là những Ơn gọi đến sự thánh thiện. Trong thực tế, tài liệu Lumen Gentium của Công Đồng Vatican II trình bày giáo huấn của Công Đồng về vấn đề Ơn gọi toàn thể đến sự thánh thiện thế này: “Được trang bị bằng những phương tiện cứu độ dồi dào và vĩ đại đến thế, những người tin vào Chúa Kitô, dù điều kiện và nếp sống của họ thế nào, đều được Thiên Chúa mời gọi, mỗi người trên con đường của mình, đến sự thánh thiện, mà sự hoàn hảo là chính sự hoàn hảo của Chúa Cha”[46].
1. Ơn gọi đến hôn nhân
27. Sự huấn luyện cho tình yêu thực là việc chuẩn bị tốt nhất cho hôn nhân. Trong gia đình, trẻ em và thanh niên có thể học hỏi bản năng giới tính của con người trong bối cảnh vững chắc của một đời sống Kitô hữu. Trẻ em và thanh niên có thể từng bước phát hiện ra rằng một cuộc hôn nhân vững bền không do việc tìm kiếm những món lợi hoặc một sự hấp dẫn đơn thuần của giới tính. Bởi vì là một Ơn gọi, hôn nhân không thể không bao hàm một sự lựa chọn đã suy nghĩ kỹ, một sự cam kết lẫn nhau trước mặt Chúa, và khẩn khoản nài xin sự giúp đỡ của Ngài trong lời cầu nguyện.
Được gọi đến tình yêu chồng vợ
28. Những cha mẹ Kitô hữu, dấn thân trong nhiệm vụ giáo dục tình yêu cho con cái mình, có thể trước hết dựa vào nhận thức về tình yêu chồng vợ của họ. Như Thông điệp Humanae Vitae nhắc lại, một tình yêu như thế “biểu lộ bản chất thực và sự cao thượng thực của nó khi người ta xem xét nó trong cội nguồn tuyệt đỉnh của nó là tình yêu (I Jn 4, 8), là Cha, Đấng mà từ Ngài mọi tình phụ tử trên trời dưới đất rút ra danh nghĩa của nó” (Ep 3, 15). Hôn nhân như thế không phải là kết quả của một sự ngẫu nhiên hay là một sản phẩm của sự tiến hoá của các sức mạnh tự nhiên vô ý thức : đó là một định chế khôn ngoan của Đấng Sáng tạo để thực hiện nơi nhân loại ý định tình yêu của Ngài. Bằng phương tiện của sự hiến trao bản thân lẫn cho nhau, vốn là riêng và chuyên nhất đối với họ, vợ chồng hướng tới sự hiệp thông bản thể của họ, nhằm vào một sự tương hỗ hoàn thiện bản thân để cộng tác với Thiên Chúa vào việc sinh sản và giáo dục những sự sống mới. Hơn nữa đối với những người đã chịu Phép Rửa, hôn nhân còn mặc lấy phẩm giá như dấu chỉ nhiệm tích của ân sủng, với tư cách là nó thể hiện sự kết hợp của Chúa Kitô và Giáo Hội”[47].
Bức thư gởi các gia đình của Đức Thánh Cha chỉ rõ: “Gia đình là… một cộng đồng những con người mà đối với họ cách thực sự tồn tại và sống chung với nhau là sự hiệp thông, communio personarum (hiệp thông những bản vị con người)”[48]. Dựa vào giáo huấn của Công Đồng Vatican II, Đức Thánh Cha nhắc lại rằng có “một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp các Ngôi vị Thiên Chúa và sự kết hợp của những người con Thiên Chúa trong chân lý và trong tình yêu”[49].
“Định thức này, đặc biệt giàu ý nghĩa, xác nhận trước tiên những gì xác định căn cước sâu xa của mọi người nam và mọi người nữ. Căn cước này chủ tại khả năng sống trong chân lý và trong tình yêu, hơn nữa nó chủ tại nhu cầu về chân lý và tình yêu, chiều kích cấu thành bản vị con người. Nhu cầu chân lý và tình yêu này mở con người ra cho Thiên Chúa cũng như cho các tạo vật: nó mở ra cho những bản vị con người khác, cho sự sống “trong hiệp thông”, và đặc biệt cho hôn nhân và gia đình”[50].
29.Tình yêu chồng vợ theo những gì thông điệp Humannae Vitae khẳng định, có bốn đặc tính: nó là tình yêu có tính người (khả cảm và thiêng liêng), nó là một tình yêu trọn vẹn, trung thành và khả sinh[51].
Những đặc tính này căn cứ vào sự kiện “trong hôn nhân người nam và người nữ kết hợp với nhau một cách chặt chẽ đến nỗi, theo lời của sách Sáng thế, họ trở thành “một xác thịt duy nhất” (Gn 2, 24). Nam hay nữ do cấu tạo thể lý, hai đối tượng người, mặc dù khác nhau về mặt thân xác, chia sẻ một cách bằng nhau khả năng sống “trong chân lý và trong tình yêu”. Khả năng này vốn nêu rõ đặc tính của bản thể người như là ngôi vị, có một chiều kích vừa tinh thần vừa thể xác… Gia đình phát sinh từ đó nhận mối liên đới bên trong từ sự giao ước vợ chồng, mà Chúa Kitô đã làm thành một Nhiệm tích. Nó tìm thấy bản chất cộng đồng của nó, hay đúng hơn tính cách “hiệp thông” của nó, trong sự hiệp thông của vợ chồng, kéo dài trong con cái, “Các con có sẵn lòng đón nhận với tình yêu những người con mà Thiên Chúa sẽ muốn ban cho các con, và sẵn sàng giáo dục chúng… không?” vị chủ tế hỏi điều ấy trong nghi lễ hôn phối. Câu trả lời của đôi vợ chồng biểu lộ chân lý mật thiết xe kết họ”[52]. Chính bằng công thức của việc cử hành hôn lễ mà đôi vợ chồng giao ước với nhau và hứa “luôn luôn trung thành”[53]; quả thật, sự trung thành của hai vợ chồng phát sinh từ sự hiệp thông ngôi vị vốn được cấu thành trong kế hoạch của Đấng Sáng tạo, trong tình yêu Ba Ngôi và trong Nhiệm tích biểu thị sự kết hợp trung thành của Chúa Kitô với Giáo Hội.
30.Hôn nhân Kitô giáo là một Nhiệm tích qua đó bản năng giới tính được hội nhập vào một con đường nên thánh, với một mối xe kết được củng cố trong tính duy nhất bất khả phân ly của nó “Ân ban của Nhiệm tích đối với những đôi vợ chồng Kitô hữu là một ơn gọi- đồng thời là một giới lệnh- để vẫn trung thành mãi mãi, qua mọi thử thách và khó khăn trong một sự quảng đại vâng phục ý muốn của Thiên Chúa: Điều mà Thiên Chúa đã tác hợp, con người không được chia rẽ”[54].
Những người làm cha mẹ phải đương đầu với một mối lo lắng hiện tại
31. Không may, ngày nay những người làm cha mẹ có những lý do để phải lo lắng về sự bền chặt tương lai của những cuộc hôn nhân của con cái họ, và điều đó cũng đúng trong xã hội Kitô giáo. Thế nhưng họ phải phản ứng với lạc quan, bất chấp sự gia tăng những cuộc ly hôn và sự khủng hoảng tăng dần của các gia đình, nỗ lực đem lại cho con cái họ một sự huấn luyện Kitô giáo sâu sắc khiến chúng có thể vượt qua những khó khăn khác nhau. Trong thực tiễn, sự yêu chuộng đức khiết tịnh mà họ giúp chúng rèn luyện, sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho sự kính trọng lẫn nhau giữa người nam và người nữ, và cung cấp cho chúng những năng lực của lòng thương cảm, tình âu yếm, sự khoan dung, sự độ lượng và trên hết tất cả, tinh thần hy sinh, mà không có những năng lực đó thì không tình yêu nào đứng vững. Như thế con cái sẽ đến với hôn nhân, được trang bị bằng sự khôn ngoan thực tế mà Thánh Phaolô đã nói tới khi ngài dạy rằng người nam và người nữ phải liên tục chinh phục nhau bằng tình yêu, chăm sóc lẫn nhau với sự nhẫn nại đối với nhau và với lòng trìu mến (Xem 1Co 7, 3-6; Ep 5, 21-23).
32. Nhờ sự huấn luyện xa này về đức khiết tịnh ngay trong gia đình, thiếu niên và thanh niên học sống bản năng giới tính trong chiều kích nhân vị của nó, khước từ mọi sự tách biệt bản năng giới tính với tình yêu, được hiểu như là sự hiến thân, và khước từ mọi sự tách biệt tình yêu chồng vợ với gia đình.
Sự tôn trọng của cha mẹ đối với sự sống và đối với mầu nhiệm sinh đẻ sẽ tránh khỏi hình thành nơi trẻ em và thanh niên ý tưởng sai lầm, theo đó hai chiều kích của sự giao hợp, kết hợp và sinh đẻ, có thể tách biệt ra tùy tiện. Như vậy, gia đình đựơc thừa nhận như một bộ phận bất khả phân ly của Ơn gọi đến hôn nhân.
Một nền giáo dục Kitô giáo về đức khiết tịnh được thực hiện trong gia đình không thể làm thinh không nói đến tính nghiêm trọng bao hàm trong sự tách biệt chiều kích kết hợp khỏi chiều kích sinh đẻ trong khuôn khổ cuộc đời chồng vợ, như nó được thực hiện nhất là với sự phá thai và trong sự sinh đẻ nhân tạo: trong trường hợp thứ nhất, người ta muốn vừa tìm kiếm sự khoái lạc nhục dục vừa can thiệp vào sự biểu hiện hành động vợ chồng để tránh sự thụ thai; trong trường hợp thứ hai, người ta tìm kiếm sự thụ thai bằng cách thay thế hành động vợ chồng bằng một kỹ thuật. Điều đó trái với chân lý của tình yêu chồng vợ và trái với sự hiệp thông trọn vẹn của vợ chồng.
Như thế, việc huấn luyện đức khiết tịnh cho giới trẻ sẽ phải trở thành một sự chuẩn bị cho tình phụ tử và tình mẫu tử có trách nhiệm, vốn “có quan hệ trực tiếp với thời điểm mà người nam và người nữ vừa kết hợp với nhau ‘nên một xác thịt duy nhất’ vừa có thể trở thành cha mẹ – người cha và người mẹ – bằng cách thông truyền sự sống cho một bản thể người mới. Hai chiều kích của sự kết hợp chồng vợ, sự kết hợp và sự sinh đẻ, không thể bị tách biệt ra một cách nhân tạo mà không biến chất chân lý mật thiết của chính hành động vợ chồng”[55].
Cũng cần phải trình bày với những người trẻ các hậu quả, luôn luôn nghiêm trọng, phát sinh từ sự tách biệt bản năng giới tính và sự sinh đẻ khi người ta đi đến chỗ thực hành việc tuyệt sinh và việc phá thai, hoặc đeo đuổi việc thực hành bản năng giới tính tách ly khỏi tình yêu chồng vợ, trước và ngoài hôn nhân.
Trật tự luân lý và sự hài hoà chồng vợ của gia đình, do đó chính lợi ích của xã hội phụ thuộc phần lớn vào thời điểm giáo dục này, vốn là thời điểm có chỗ đứng của nó trong ý định của Thiên Chúa, trong chính cấu trúc của bản năng giới tính, trong bản chất mật thiết của hôn nhân và gia đình.
33. Những cha mẹ thi hành quyền và bổn phận đặc thù của họ để đào tạo con cái họ về đức khiết tịnh có thể tin chắc là họ giúp chúng đến lượt mình sẽ đào tạo ra những gia đình bền chặt và hợp nhất, như thế là nếm trước, trong chừng mực có thể được, những niềm vui của Thiên Đàng, như Tertulianô đã nói trong những lời này: “Tôi phải múc lấy ở đâu sức lực để miêu tả một cách thoả đáng hạnh phúc của cuộc hôn nhân mà Giáo Hội an bài, mà của lễ xác nhận, mà sự chúc phúc đóng ấn; các thiên thần tung hô nó, Cha trên trời phê chuẩn… Đôi lứa nào ? Đây là đôi lứa của hai Kitô hữu được xe kết bởi một niềm hy vọng duy nhất, một kỷ cương duy nhất, và cùng chung một việc phụng thờ! Cả hai, con cái của cùng một Cha, tôi tớ của cùng một Chủ; không gì chia cắt họ, trong tinh thần cũng như trong xác thịt… Chúa Kitô vui mừng trước quang cảnh này, và vui mừng trong sự đồng thanh này. Ngài gởi đến họ sự bình an của Ngài. Nơi nào hai người hợp lại, Ngài cũng hiện diện. Nơi nào Ngài hiện diện thì tên Ác quỉ không thể có chỗ đứng”[56].
2. Ơn gọi đến đức đồng trinh và nếp sống độc thân:
34. Nền mạc khải Kitô giáo giới thiệu hai Ơn gọi đến tình yêu :
hôn nhân và nếp sống khiết trinh. Không hiếm thấy ngày nay trong một số xã hội nào đó không chỉ hôn nhân và gia đình bị khủng hoảng, mà cả những Ơn gọi đến chức tư tế và đời sống tu hành. Hai hoàn cảnh không tách rời nhau. “Nơi nào không có sự quí trọng đối với hôn nhân thì nơi đó cũng không thể có nếp sống khiết trinh dâng hiến; nơi nào người ta không coi bản năng giới tính của con người như một ân ban vĩ đại của Đấng Tạo Hoá thì sự kiện từ bỏ điều đó vì Nước Trời mất đi ý nghĩa của nó”[57]. Sự thiếu Ơn gọi theo sau sự thoái hoá của gia đình. Ngược lại nơi nào những người làm cha mẹ tỏ ra độ lượng trong việc đón tiếp sự sống thì con cái cũng dễ dàng độ lượng hơn khi có vấn đề hiến dâng sự sống cho Thiên Chúa: “Các gia đình phải quay về với sự biểu lộ một lòng yêu mến quảng đại đối với sự sống và bắt tay phục vụ lòng yêu mến đó, trên hết mọi sự bằng cách đón nhận những đứa con mà Chúa sẽ ban cho họ, với một tinh thần trách nhiệm vốn không tách rời khỏi một lòng tin cậy bình thản”; và ước gì họ đưa đến chỗ tốt đẹp sự đón nhận đó không chỉ “qua một hoạt động giáo dục trường kỳ, mà còn trong một sự dấn thân vốn được đòi hỏi ở họ để, trên hết mọi sự, giúp những thiếu niên và thanh niên đón nhận chiều kích Ơn gọi của mọi cuộc đời, nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa… Đời sống con người đạt tới sự viên mãn khi nó trở thành sự hiến thân: một sự hiến trao có thể biểu hiện trong hôn nhân, trong nếp sống đồng trinh dâng hiến, trong sự hiến thân cho tha nhân vì một lý tưởng, trong sự lựa chọn chức vụ tư tế thừa tác. Cha mẹ sẽ thực sự phục vụ sự sống con cái họ nếu họ giúp chúng làm cho cuộc đời chúng thành một sự hiến trao, vừa tôn trọng sự lựa chọn chín chắn của chúng, vừa vui mừng ủng hộ mọi Ơn gọi, kể cả Ơn gọi đến đời sống tu trì hay chức vụ tư tế”[58].
Vì lý do đó, khi Ngài chú tâm tới việc giáo dục giới tính trong Thông Diệp Familiaris consortio, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khẳng định : “Những người cha mẹ Kitô hữu sẽ dành một sự chú ý và một sự chăm sóc đặc biệt để nhận thấy những dấu hiệu của tiếng Thiên Chúa gọi vào việc giáo dục đức đồng trinh như là hình thức tuyệt đỉnh của sự hiến thân mà chính ý nghĩa của giới tính con người thể hiện được”[59].
Cha mẹ và những Ơn gọi tư tế và tu trì
35. Vì lý do đó, cha mẹ phải vui mừng nếu thấy nơi một người nào trong con cái mình những dấu hiệu của tiếng Thiên Chúa mời gọi đến Ơn gọi cao trọng hơn của nếp sống đồng trinh và đời sống độc thân vì tình yêu Nước Trời. Bấy giờ họ sẽ phải thích nghi việc giáo dục tình yêu khiết tịnh với những nhu cầu của những người con này, khuyến khích chúng trong bước tiến của chúng cho tới chủng viện hay tập viện, hoặc là cho tới lúc suy nghĩ chín chắn Ơn gọi đặc thù đến sự hiến thân với một trái tim không chia sẻ. Họ phải tôn trọng và đánh giá cao sự tự do của mỗi người con của họ, cổ vũ Ơn gọi riêng của chúng. Không tìm cách tác động hướng đến một Ơn gọi nhất định.
Công Đồng Vatican II nhắc lại rõ ràng bổn phận đặc biệt này của những người làm cha mẹ, được những người thầy và những linh mục hỗ trợ, bổn phận vốn đem lại vinh dự cho họ : “trong việc giáo dục con cái mình theo tinh thần Kitô giáo, cha mẹ phải nỗ lực vun trồng và bảo vệ Ơn gọi tu trì nơi tâm hồn chúng”[60]. “Bổn phận vun trồng các Ơn gọi thuộc phần toàn thể cộng đồng Kitô hữu mà họ sẽ chu toàn trước hết bằng một đời sống Kitô hữu trọn vẹn… Chủ yếu là chính các gia đình và các họ đạo phải cộng tác vào nhiệm vụ này: các gia đình, được thúc đẩy bởi một tinh thần Đức tin, đức bác ái và lòng sùng đạo, trở thành một thứ chủng viện đầu tiên; các họ đạo, hiến cho chính giới thiếu niên một sự tham gia vào đời sống phong phú của họ đạo”[61]. “Cha mẹ, thầy dạy và những nhà giáo dục khác nhau phải làm thế nào để trẻ em và thanh niên được ý thức sự ân cần của Chúa đối với đàn chiên của Ngài, được thông báo về những nhu cầu của Giáo Hội và nếu Chúa gọi chúng thì sẵn lòng cùng với vị Ngôn sứ đáp lại: “Này con đây, xin Chúa hãy sai con đi”(Is 6, 8)”[62].
Bối cảnh gia đình cần thiết cho quá trình chín chắn của Ơn gọi tu trì và tư tế đó nhắc người ta chú ý tới tình trạng nghiêm trọng của nhiều gia đình, đặc biệt ở một số nước, nghèo nàn về sự sống bởi vì đã tự ý không có con hay chỉ có một đứa con duy nhất. Trong những gia đình đó, rất khó mà nảy sinh những Ơn gọi và cũng rất khó mà người ta có thể đưa ra một nền giáo dục trọn vẹn cho đời sống xã hội.
36. Đàng khác, những người con không kết hôn hoặc ở trong tình trạng không có khả năng ký kết một cuộc hôn nhân vì những lý do ngoài ý muốn riêng của mình, gia đình có tinh thần Kitô giáo sâu xa cũng sẽ có khả năng làm cho họ hiểu giá trị của đời sống Kitô hữu độc thân và của đức khiết tịnh. Nếu họ được đào tạo tốt ngay từ thuở ấu thơ và trong tuổi thanh niên, họ sẽ có điều kiện để đương đầu dễ dàng hơn với hoàn cảnh của họ. Hơn nữa họ còn có thể phát hiện cách thẳng thắn ý muốn của Thiên Chúa trong một hoàn cảnh như thế và nhờ vậy tìm thấy một chiều kích Ơn gọi và một nguồn bình an trong cuộc đời của họ[63]. Cho những người ấy, đặc biệt là nếu họ bị tác động bởi một sự thiệt thòi nào về mặt thể xác, nên vạch ra những khả năng tự thể hiện và những khả năng sinh sản thiêng liêng vốn được mở ra cho người nào, được lòng tin và niềm kính mến Chúa nâng đỡ, tìm mọi cách để giúp đỡ những người anh em nghèo nàn và túng thiếu hơn.
IV. CHA VÀ MẸ VỚI TƯ CÁCH NHỮNG NHÀ GIÁO DỤC:
37. Khi nhượng cho vợ chồng đặc quyền và trách nhiệm vĩ đại trở thành cha mẹ, Thiên Chúa đã cho họ ân sủng cần thiết để họ có thể chu toàn sứ mạng đặc thù của họ cách thỏa đáng. Hơn nữa những người làm cha mẹ, trong nhiệm vụ giáo dục con cái của họ, được soi sáng bởi “hai chân lý cốt yếu : chân lý thứ nhất là con người được mời gọi sống trong chân lý của tình yêu; chân lý thứ hai là mọi người tự thể hiện bởi sự hiến trao vô vị lợi chính bản thân mình”[64]. Với tư cách là vợ chồng, cha mẹ và thừa tác viên của ân sủng nhiệm tích hôn phối, những người cha mẹ ngày lại ngày được nâng đỡ bằng những nghị lực đặc biệt thuộc trật tự thiêng liêng bởi Chúa Kitô, Đấng yêu thương và nuôi dưỡng Giáo Hội, Hiền thê của Ngài.
Với danh nghĩa là chồng vợ, đã trở thành “một xác thịt duy nhất” bởi mối xe kết của hôn nhân, họ chia sẻ bổn phận đào tạo con cái trong một sự hợp tác tự nguyện, hỗ trợ bởi sự kiên trì đối thoại. Sứ mạng giáo dục đó “tìm thấy… cội nguồn của nó… một cách mới mẻ và đặc thù, trong Nhiệm tích Hôn phối, vốn hiến thánh họ trong việc giáo dục con cái họ theo tinh thần Kitô giáo đúng nghĩa, và như thế mời gọi họ tham gia chính tình yêu và uy quyền của Thiên Chúa Cha và của Chuá Kitô mục tử, cũng như tham gia tình yêu hiền mẫu của Giáo Hội. Nhiệm tích ấy trang bị họ dồi dào ơn khôn ngoan, ơn khuyên bảo, ơn dũng lực và tất cả những ơn khác của Chúa Thánh linh để họ có thể giúp đỡ con cái họ về mặt con người và về mặt Kitô hữu”[65].
38. Trong bối cảnh của việc đào tạo về đức khiết tịnh, khái niệm “tình phụ tử- tình mẫu tử” dĩ nhiên cũng bao gồm người cha hay mẹ sống một mình và cả những người cha mẹ nuôi. Nhiệm vụ của người cha hay mẹ sống một mình chắc chắn không phải dễ dàng, bởi vì thiếu sự nâng đỡ của người phối ngẫu, và cùng với người thiếu đó, thiếu vai trò và gương mẫu của một người cha hay mẹ khác phái. Thế nhưng Thiên Chúa hỗ trợ những người cha hay mẹ này bằng một tình yêu đặc biệt, và mời gọi họ đương đầu với nhiệm vụ đó với cùng một lòng quảng đại và sự mẫn cảm mà họ yêu thương con cái họ và chăm sóc chúng trong những phương diện khác của đời sống gia đình.
39. Trong một số trường hợp, có những người khác được mời gọi thay thế cho cha mẹ : chẳng hạn những người đảm nhận cách thường xuyên vai trò cha mẹ đối với những trẻ em mồ côi hay bị ruồng bỏ. Bổn phận đào tạo những trẻ em và những thanh niên này một cách toàn bộ và trong sự khiết tịnh lại rơi xuống trên họ; họ sẽ nhận được ơn sủng của đấng bậc để thực hiện bổn phận đó theo cùng những nguyên tắc hướng dẫn những người cha mẹ Kitô hữu.
40. Những người làm cha mẹ đừng bao giờ cảm thấy mình đơn độc trong một nhiệm vụ như thế. Giáo Hội nâng đỡ và khuyến khích họ, tin tưởng ở khả năng họ có thể làm tròn chức năng này hơn bất cứ ai. Giáo Hội còn củng cố thêm những người nam và những người nữ nào, thường là với những hy sinh lớn lao, đem lại cho những đứa con không cha mẹ một dạng tình yêu của cha mẹ và đời sống gia đình. Dù sao đi nữa, tất cả đều phải tiến vào bổn phận này trong tinh thần cầu nguyện, cởi mở và tuân thủ những chân lý đạo đức của niềm tin và lẽ phải vốn gộp vào giáo huấn của Giáo Hội, và phải luôn coi những trẻ em và thanh niên đó như những nhân vị, con cái của Thiên Chúa và thừa kế Nước Trời.
Quyền và bổn phận của cha mẹ
41. Trước khi vào những chi tiết thực hành liên quan đến việc đào tạo đức khiết tịnh, điều quan trọng là những người làm cha mẹ phải ý thức về những quyền và những bổn phận của họ, đặc biệt là đối diện với một Nhà nước và một Nhà trường có khuynh hướng cáng đáng lấy những khởi xướng trong phạm vi giáo dục giới tính.
Trong tài liệu Familiaris consortio Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khẳng định lại điều đó như thế này : “Quyền và bổn phận giáo dục đối với những người cha mẹ là cái gì cốt yếu do mối liên hệ của chúng với việc thông truyền sự sống; là cái gì độc đáo và chủ yếu, so với bổn phận giáo dục của những người khác, vì tính cách duy nhất của quan hệ tình yêu hiện hữu giữa cha mẹ và con cái: là cái gì không thể thay thế và không thể chuyển nhượng. Vậy thì không thể ủy quyền trọn vẹn cho những người khác cũng như không thể bị chiếm đoạt bởi những người khác”[66]; ngọai trừ trường hợp bất lực về thể lý hay tâm lý đã ám chỉ trên đây.
42. Một đạo lý như thế dựa trên giáo huấn của Công Đồng Vatican II[67] và cũng đã được công bố trong hiến chương về những quyền của gia đình : “ Bởi vì họ đã cho con cái họ sự sống, những người cha mẹ có quyền từ gốc, đầu tiên và bất khả chuyển nhượng để giáo dục chúng… Những người cha mẹ có quyền giáo dục con cái họ đúng theo xác tín luân lý và tôn giáo của họ, có tính đến những truyền thống văn hoá của gia đình vốn tạo điều kiện tốt cho lợi ích và phẩm giá của đứa con, và họ cũng phải nhận từ xã hội sự giúp đỡ và tương trợ cần thiết để làm tròn vai trò nhà giáo dục của họ cách thích hợp”[68].
43. Đức Giáo hoàng nhấn mạnh sự kiện quyền này phải được hết sức đặc biệt khẳng định trong những gì liên quan đến giới tính: “việc giáo dục giới tính – quyền và bồn phận chủ yếu của những người làm cha mẹ – phải luôn luôn được thực hiên dưới sự chỉ đạo chăm chú của họ, cả ở nhà lẫn trong những trung tâm giáo dục do họ lựa chọn và giám sát. Giáo Hội nhắc lại như thế luật bổ trợ mà nhà trường bắt buộc phải tuân thủ khi hợp tác vào việc giáo dục giới tính, bằng cách tự đặt mình trong tinh thần thúc đẩy những người làm cha mẹ”[69]
Đức Thánh Cha nói thêm: “Vì những mối quan hệ chặt chẽ gắn liền chiều kích giới tính của con người với những giá trị đạo đức, vai trò của việc giáo dục là dẫn dắt những người con đến sự hiểu biết và quý chuộng những chuẩn mực luân lý như bảo đảm cần thiết và quý giá cho một sự tăng trưởng bản thân có trách nhiệm trong bản năng giới tính của con người”[70]. Không ai khác hơn cha mẹ, được chuẩn bị cách thích đáng, có khả năng thực hiện tốt hơn việc giáo dục luân lý trong lãnh vực tế nhị này.
Ý nghĩa những bổn phận của cha mẹ
44. Quyền đó cũng kéo theo một bổn phận giáo dục: Quả thật, nếu họ không cho con cái họ một sự đào tạo thích đáng về đức khiết tịnh, thì người làm cha mẹ thiếu sót một bổn phận rõ rệt; cũng thế họ sẽ có tội nếu họ chịu đựng để người ta cho con cái họ một sự đào tạo vô luân và không thích đáng ở ngoài gia đình.
45. Bổn phận này ngày nay đụng phải một khó khăn đặc biệt do sự phổ biến, thông qua những phương tiện truyền thông xã hội, những tác phẩm khiêu dâm gợi ý bởi những tiêu chuẩn thương mại và làm hỏng tính nhạy cảm của tuổi thiếu niên. Về phương diện này, có hai biện pháp cần thiết về phiá những người làm cha mẹ : một đàng là cho con cái họ một sự giáo dục phòng ngừa và biết phê phán, đàng khác là một sự tố giác trước nhà cầm quyền. Những người cha mẹ, một mình hay liên kết với nhau, có quyền và bổn phận chăm lo lợi ích của con cái họ và đòi hỏi ở nhà cầm quyền những đạo luật phòng ngừa và trấn áp chống lại việc khai thác tính nhạy cảm của trẻ em và thiếu niên[71].
46. Đức Thánh Cha nhấn mạnh bổn phận này của những người cha mẹ bằng cách xác định rõ định hướng và mục tiêu của nó : “Đứng trước một nền văn hoá vốn phần lớn ‘tầm thường hoá’ bản năng giới tính bằng cách giải thích và sống nó cách giảm thiểu và nghèo nàn khi chỉ gắn liền nó với thân xác và sự khoái lạc ích kỷ, tổ chức giáo dục của những người cha mẹ sẽ kiên quyết nhằm vào một nền giáo dục giới tính thực sự và hoàn toàn hướng theo nhân vị con người : quả thật, bản năng giới tính là một tài sản của nguyên vẹn con người – thân xác, tình cảm và linh hồn – và biểu lộ ý nghĩa mật thiết của nó khi đưa nó đến sự hiến thân trong tình yêu”[72].
47.Dù sao đi nữa chúng ta cũng không thể quên rằng đây là vấn đề một quyền – bổn phận, quyền – bổn phận giáo dục, mà trong quá khứ những người cha mẹ Kitô hữu đã ít nhận thấy và ít thi hành, có lẽ bởi vì lúc bấy giờ vấn đề đã không có tính nghiêm trọng như ngày nay; hoặc có lẽ bởi vì quyền lực của những mô hình xã hội trổi nhất và sự bổ khuyết ngày càng được thi hành trong lĩnh vực này bởi Giáo Hội và Nhà trường Kitô giáo, đã thực hiện một phần những gì là nhiệm vụ của họ. Những người cha mẹ không dễ gì cáng đáng bổn phận giáo dục này bởi vì ngày nay nó tỏ ra khá phức tạp, vượt quá những khả năng của gia đình và bởi vì, rất thường khi, những người làm cha mẹ ngày nay không thể quy theo những gì cha mẹ của chính họ đã làm về mặt này.
Vì vậy, Giáo Hội coi như mình có bổn phận góp phần, như trong tài liệu này, khôi phục lại cho những người làm cha mẹ sự tin tưởng ở khả năng đặc thù của họ và giúp đỡ họ làm tròn nhiệm vụ.
V. HÀNH TRÌNH ĐÀO TẠO GIỮA LÒNG GIA ĐÌNH:
48. Vậy bối cảnh gia đình là hiện trường bình thường và thông thường cho việc đào tạo trẻ em và thanh niên nhằm củng cố và luyện tập các đức tính bác ái, tiết độ, dũng mạnh và thế là đức khiết tịnh. Với tư cách là Giáo Hội tại gia, trong thực tế gia đình là trường làm giàu nhân tính [73]. Điều đó đặc biệt có giá trị cho việc giáo dục đạo đức và thiêng liêng, nhất là trong những gì liên quan đến điểm tế nhị là đức khiết tịnh : quả nhiên trong đức này kết hợp các phương diện thể lý, tâm lý và thiêng liêng, các biểu hiện của tự do, dấu ấn của những mô hình xã hội, tiết hạnh tự nhiên và xung năng mạnh của thân xác. Tất cả những phương diện đó gắn liền với ý thức, ít ra là ý thức ngầm, về phẩm giá của nhân vị con người, được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa và đồng thời được đánh dấu bởi sự mong manh yếu đuối. Trong một gia đình Kitô giáo, cha mẹ có uy lực để dẫn dắt con cái họ tới một quá trình chín chắn nhân cách của chúng thực sự trong tinh thần Kitô giáo, theo tầm vóc Chúa Kitô trong Thân thể mầu nhiệm của Ngài là Giáo Hội[74].
Tuy dồi dào những sức mạnh đó, gia đình vẫn có thể cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và xã hội, theo nguyên tắc bổ trợ: “Trong khi quyết định đáp ứng trọn vẹn ơn gọi của mình, gia đình có lúc thiếu sự ủng hộ cần thiết từ phía nhà nước và không sẵn có những phương tiện đầy đủ để sử dụng. Cần phải khẩn trương xúc tiến không chỉ những chính sách về gia đình, nhưng cả những chính sách xã hội có chính gia đình như mục tiêu chủ yếu, bằng cách giúp gia đình trong việc giáo dục con cái cũng như trong việc nhận lấy trách nhiệm về những tài nguyên thích hợp và những phương tiện hỗ trợ hữu hiệu”[75]
49. Ý thức được điều đó và về những khó khăn thực sự ngày nay đang tồn tại đối với giới trẻ tại nhiều nước, đặc biệt đối diện với những nhân tố thoái hóa xã hội và đạo đức, những người làm cha mẹ được mời gọi dám yêu cầu và dề nghị nhiều hơn. Họ không thể cam lòng tránh cái tệ hại nhất – ước gì chúng nó đừng dùng ma túy, hoặc đừng phạm tội ác – nhưng họ phải bận tâm lo giáo dục chúng về những giá trị con người, được đức tin, đức cậy và đức mến làm cho có sinh khí: Sự tự do, tinh thần trách nhiệm, tình cha và tình mẹ, tinh thần phục vụ, công việc nghề nghiệp, tình liên đới, tính lương thiện, nghệ thuật, thể thao, niềm vui biết mình là con cái Thiên Chúa và do đó là anh em của tất cả mọi người, vv…
Giá trị chủ yếu của tổ ấm gia đình
50. Các khoa học tâm lý và sư phạm, trong những gì thành tựu nhất của chúng, tiếp nối với kinh nghiệm chung để nhấn mạnh, trong trật tự của một nền giáo dục giới tính hài hoà và có hiệu lực, tầm quan trọng quyết định của một không khí trìu mến ngự trị trong gia đình, đặc biệt trong những năm đầu của thời thơ ấu, trong tuổi ấu nhi và có lẽ ngay cả trong kỳ tiền sản, giai đoạn trong đó những năng động lực xúc cảm được thiết lập và cá tính của đối tượng được hợp thành (cái “self”). Người ta đã làm nổi bật tầm quan trọng của thế cân bằng lứa đôi, của khả năng chấp nhận và thông cảm lẫn nhau đối với sự phát triển cảm xúc hài hòa của đứa con. Người ta còn nhấn mạnh giá trị của sự thanh thản trong những mối quan hệ giữa vợ chồng của sự hiện diện hiệu dụng của họ trong gia đình – sự hiện diện của người cha cũng như của người mẹ – và của tính chất cảm xúc, gây cảm tưởng an toàn của mối quan hệ của họ với đứa con, trong những năm mà quá trình đồng nhất hóa được thực hiện nơi đứa con.
51. Một sô khuyết điểm nghiêm trọng hay một số mất thăng bằng đến đánh dấu cách cư xử của cha mẹ (chẳng hạn sự vắng mặt trong đời sống gia đình của một hay cả hai người cha mẹ, sự thờ ơ của họ đối với việc giáo dục con cái, hoặc là sự nghiêm khắc quá đáng của họ.) là những nhân tố có khả năng kích động nơi đứa con những tổn thương nặng nề về mặt cảm xúc và cảm xúc có thể xáo trộn trầm trọng trong tuổi niên thiếu của nó và đôi khi ghi dấu trên cả cuộc đời nó. Cha mẹ cần phải tìm thời giờ sống với con cái mình và duy trì một cuộc đối thoại với chúng. Con cái, ân huệ và trách nhiệm, là nhiệm vụ quan trọng nhất của họ, ngay cả khi nhiệm vụ đó xem ra không luôn luôn sinh lợi cho lắm: chúng quan trọng hơn việc làm, quan trọng hơn những cuộc tiêu khiển, quan trọng hơn địa vị xã hội. Trong những cuộc chuyện vãn này – và điều đó ngày càng hơn trong chừng mực năm tháng qua đi – cha mẹ phải biết chú ý lắng nghe các con của mình, cố gắng hiểu chúng, biết công nhận phần sự thật có thể có trong một số hình thức chống đối của chúng. Trong cùng thời gian, cha mẹ sẽ có thể giúp chúng dồn về một hướng cách xác đáng những lo âu trăn trở và những khát vọng của chúng, dậy chúng suy nghĩ trên thực tại của các sự việc và sử dụng lý trí của chúng. Vấn đền không phải là áp đặt một cách xử thế nhất định, nhưng là làm rõ giá trị của những lý do, nhân loại hay siêu nhiên, vốn khuyến dẫn cách xử thế đó. Họ sẽ thành công tốt nhất nếu họ biết dành thời giờ cho con cái họ và đặt mình ngang tầm của chúng với lòng yêu thương.
Đào tạo cộng đồng sự sống và tình yêu
52. Gia đình kitô giáo có khả năng hiến một bầu không khí đượm nhuần tình yêu đối với Thiên Chúa, khiến có thể có một sự hiến trao lẫn cho nhau đích thực.[76] Con cái có được một kinh nghiệm như thế thì sẵn sàng hơn để sống theo những chân lý đạo đức mà chúng thấy được đem ra thực hành trong đời sống của cha mẹ chúng. Chúng sẽ tin cậy ở họ và sẽ học tập cái tình yêu vốn thắng những nỗi sợ hãi – không gì thúc giục yêu hơn là biết mình được yêu. Như thế mối ràng buộc tình yêu mà cha mẹ chứng tỏ trong thái độ đối với con cái sẽ trở thành một sự bảo vệ vững vàng cho sự thanh thản về mặt cảm xúc của chúng. Một mối ràng buộc như thế sẽ làm cho trí năng, ý chí và xúc cảm tinh tế hơn, đẩy lùi tất cả những gì có thể thoái hóa và hủ hóa sự hiến trao bản năng giới tính con người. Trong một gia đình nơi mà tình yêu ngự trị, bản năng giới tính này sẽ luôn luôn được hiểu như thuộc về tiếng gọi đến sự hiến thân trong tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với những người khác : “ Gia đình là trường học đầu tiên, trường học cơ bản của đời sống xã hội; với tư cách là cộng đồng tình yêu, gia đình tìm thấy trong sự hiến thân quy luật hướng dẫn nó và làm cho nó tăng trưởng. Sự hiến thân, làm hưng phấn giữa vợ chồng với nhau, xuất hiện như mô hình và chuẩn mực của sự hiến trhân vốn phải được thể hiện trong những mối quan hệ giữa anh chị em và giữa những thế hệ khác nhau cùng chia sẻ đời sống gia đình. Sự hiệp thông và sự tham gia, được sống mỗi ngày trong gia đình trong những lúc vui mừng hay khó khăn, thể hiện nền sư phạm cụ thể nhất và hữu hiệu nhất, nhằm lồng con cái, một cách tích cực, có trách nhiệm và phong phú, vào trong khung rộng lớn hơn của xã hội”[77].
53. Rốt cuộc, việc giáo dục về tình yêu đích thực, tình yêu vốn sẽ không thể là thế nếu không trở thành tình yêu nhân hậu, bao hàm sự đón nhận người được yêu và coi lợi ích của người ấy như lợi ích riêng của mình. Vậy nó kéo theo việc giáo dục đưa vào một mối quan hệ thích đáng với những người khác. Phải dạy cho trẻ em, thiếu niên và thanh niên biết quan hệ như thế nào với Thiên Chúa, với cha mẹ của mình, với anh chị em của mình, với bạn bè cùng phái và khác phái, với người lớn.
54. Người ta cũng không thể quên rằng việc giáo dục tình yêu là một thực tại toàn bộ : người ta không thể tiến lên trong sự thiết lập những mối quan hệ thích đáng với một người mà cùng lúc không làm như thế trong những mối quan hệ với mọi người khác dù là ai. Như đã nói trên đây, giáo dục đức khiết tịnh, với danh nghĩa là giáo dục tình yêu, thì đồng thời là giáo dục trí năng, giáo dục tính nhạy cảm và giáo dục tình cảm. Thái độ đối với những con người phần lớn phụ thuộc vào cách người ta quản lý các tình cảm tự phát mà người ta có đối với họ, làm cho những tình cảm này phát triển, giám sát những tình cảm kia. Sự khiết tịnh với tư cách là một đức tính, không bao giờ quy lại chỉ là một sự suy lý đơn thuần về khả năng thực hiện những hành vi đúng với chuẩn mực về thái độ bên ngoài, nhưng nó đòi hỏi sự kích động và phát triển những năng động lực của bản tính tự nhiên và của ân sủng vốn hợp thành yếu tố chủ yếu và nội tại của việc chúng ta phát hiện lề luật của Thiên Chúa như bảo đảm của tăng trưởng và tự do.[78]
55. Vì thế phải nhấn mạnh sự kiện giáo dục đức khiết tịnh không tách rời được với nhiệm vụ rèn luyện tất cả các đức tính khác và đặc biệt là tình yêu Kitô giáo được rõ nét bởi sự kính trọng, lòng vị tha và tinh thần phục vụ, và rốt cuộc có tên là bác ái. Bản năng giới tính là một tài sản có tầm quan trọng lớn,cần phải bảo vệ bằng cách nghe theo lệnh của lý trí được đức tin soi sáng : “Một điều thiện càng lớn thì người ta càng phải tuân theo lệnh của lý trí về nó”[79]. Do đó giáo dục đức khiết tịnh “nhất thiết bao hàm sự tự kiềm chế, mà sự tự kiềm chế giả định những đức tính như sự tiết hạnh, sự tiết độ, sự tự trọng và tôn trọng người khác, sự cởi mở đối với tha nhân”[80].
Những đức tính mà truyền thống Kitô giáo đã gọi là “em gái của đức khiết tịnh” cũng rất quan trọng (sự khiêm tốn, năng khiếu hy sinh những ý thích thất thường riêng của mình), được nuôi dưỡng bằng đức tin và đời sống cầu nguyện.
Tiết hạnh và đoan trang
56. Việc thực hành tiết hạnh và sự đoan trang trong lời nói, hành động và cách ăn mặc rất quan trọng để tạo một không khí thích hợp với quá trình chín chắn của đức khiết tịnh; nhưng sự kính trọng phải có đối với thân xác của mình và đối với phẩm giá của những người khác phải thực sự là động cơ của việc thực hành đó. Như đã nói, cha mẹ phải cảnh giác để một số thị hiếu đương thời, một số thái độ vô luân không xâm phạm ngưỡng cửa gia đình, đặc biệt qua một số cách sử dụng xấu những phương tiên thông tin đại chúng[81]. Đức Thánh Cha đã nhán mạnh, về vấn đề này, sự cần thiết “phải tiến hành một sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa cha mẹ, mà trước tiên rơi xuống trên họ nhiệm vụ giáo dục, với những người phụ trách các phương tiện truyền thông ở những tầm mức khác nhau và với các chính quyền, hầu mọi gia đình không bị bỏ rơi một mình trong một lĩnh vực quan trọng thuộc sứ mạng giáo dục của họ. Trong thực tế, phải thừa nhận sự tồn tại những đề xuất, nội dung và chương trình điều khiển lành mạnh, thông tin và giáo dục bổ sung cho những nỗ lực đó của gia đình và trường học. Không may, nhất là ở một số nuớc, điều này không thay đổi được sự kiện phổ biến những màn biểu diễn và những tác phẩm trong đó nhung nhúc đủ thứ bạo lực và một thứ oanh tạc bằng thư tín, phá ngầm các nguyên tắc luân lý và khiến không thể có được bầu không khí nghiêm túc, cho phép truyền đạt những giá trị xứng đáng với nhân vị con người”[82].
Đặc biệt trong những gì liên quan tới việc sử dụng vô tuyến truyền hình, Đức Thánh Cha đã xác định : “Lối sống, đặc biệt trong những quốc gia công nghiệp hoá- thường lôi kéo các gia đình trút bỏ trách nhiệm giáo dục của họ. Sự dễ dàng có những cơ hội tìm thú tiêu khiển (diễn ra tại nhà bằng vô tuyến truyền hình và một số tài liệu xuất bản) cho phép chiếm hết thời gian rảnh rỗi và những sinh hoạt giới trẻ. Người ta không thể phủ nhận là trong điều ấy có một sự bào chữa nào đó, vì rằng quá thường khi thiếu những cơ cấu và những cơ sở hạ tầng để thăng tiến và làm tăng giá trị thì giờ rảnh rỗi và nhằm định hướng tốt hơn cho những nghị lực của giới trẻ”[83].
Có một tình huống khác làm cho điều ấy dễ dàng xảy ra, đó là khi cha mẹ cả hai đều bận bịu công ăn việc làm, trong nhà và ở ngoài. “Chính những người ấy cần được giúp đỡ nhất trong “sự tự do có trách nhiệm” của họ lại là những người chịu những hậu quả trầm trọng nhất của điều ấy. Từ đó và theo chiều hướng đó nảy sinh bổn phận – đặc biệt bổn phận của những kẻ tin, của những người đàn ông và đàn bà nào yêu tự do – bổn phận phải cẩn thận bảo vệ giới trẻ trước “những cuộc tấn công” mà họ phải chịu dưới tác động của những phương tiện thông tin đại chúng. Đừng có ai nghĩ rằng mình có thể trốn tránh được nhiệm vụ của mình bằng cách đưa ra những lý do giải ước quá thuận tiện”[84].
Sự mật thiết chính đáng
57. Liên quan chặt chẽ với tiết hạnh và sự đoan trang, vốn là một sự phòng vệ tự phát của nhân vị con người khước từ bị coi và bị đối xử như một đối tượng của thú vui thay vì được kính trọng và yêu mến vì chính nó, người ta phải quý chuộng việc tôn trọng sự mật thiết : nếu một đứa nhỏ hoặc một thanh niên thấy rằng người ta tôn trọng sự mật thiết chính đáng của mình,bấy giờ chúng sẽ biết rằng người ta chờ đợi ở chúng một thái độ tương tự với những người khác. Bằng cách đó, chúng sẽ học tập trau dồi tinh thần trách nhiệm riêng của mình trước mặt Thiên Chúa, phát triển đời sống nội tâm và thị hiếu tự do cá nhân, khiến chúng có khả năng yêu mến Thiên Chúa và những người khác tốt hơn[85].
Sự tự chủ
58.Tất cả những điều đó, cách tổng quát, đem chúng ta trở lại sự tự chủ, điều kiện cần thiết để có thể thực hiện sự hiến thân. Trẻ em và thanh niên cần được cổ vũ đánh giá cao và rèn luyện sự tự làm chủ và gìn giữ ý tứ, sống có trật tự, hy sinh bản thân trong tinh thần yêu mến đối với Thiên Chúa, tự trọng và độ lượng đối với tha nhân, mà không bóp ngạt các tình cảm và khuynh hướng, nhưng dồn chúng về hướng một đời sống đức hạnh.
Cha mẹ như những kiểu mẫu cho con cái
59. Gương lành và sự huớng dẫn được cha mẹ đưa ra là cốt yếu để củng cố việc đào tạo giới trẻ về đức khiết tịnh. Người mẹ nào quý chuộng Ơn gọi làm mẹ và vai trò của mình trong nhà thì giúp phát triển nhiều nơi các con gái của mình những đức tính của nữ tính và tình mẫu tử và đặt ra trước mắt các con trai của mình một gương mẫu rõ ràng, vững mạnh và cao quý về người phụ nữ[86]. Người cha nào đem lại cho cách ăn ở của mình một phong thái của phong cách đàn ông, không “ba phải”, sẽ là một mô hình hấp dẫn đối với các con trai của mình và sẽ gợi lên sự kính trọng, khâm phục và an toàn cho các con gái của mình[87].
60. Điều này cũng có giá trị trong việc giáo dục tinh thần hy sinh trong các gia đình, đang khi ngày nay hơn bao giờ hết gia đình bị đặt dưới sức ép của chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa tiêu hoang. Chỉ như thế con cái mới sẽ lớn lên “trong một sự tự do chính đáng trước những của cải vật chất, bằng cách chấp nhận một lối sống giản dị và khắc khổ”, xác tín rằng “con người có giá trị bởi cái mình là hơn bởi cái mình có”. Trong một xã hội đã lung lay và tan rã bởi những căng thẳng và tranh chấp do sự đương đầu dữ dội giữa những chủ nghĩa cá nhân và tính ích kỷ, con cái phải đạt được ý nghĩa của sự công bằng thực sự – vốn duy nhất dẫn đưa đến sự tôn trọng phẩm giá riêng của mỗi người – và hơn nữa đạt được ý nghĩa của tình yêu đích thực, vốn được làm bằng sự chú ý thành thật và sự phục vụ vô vị lợi đối với tha nhân, đặc biệt đối với những người nghèo nàn nhất và túng thiếu nhất”[88]. “Như thế việc giáo dục được nằm trong viễn cảnh của “nền văn minh tình yêu”; nó tùy thuộc vào nền văn minh đó và trong một mức độ rộng rãi nó góp phần xây dựng nền văn minh đó”[89].
Một ngôi đền của sự Sống và niềm Tin
61. Không ai có thể không biết rằng gương mẫu đầu tiên và sự giúp đỡ lớn nhất mà cha mẹ có thể cho con cái mình là sự độ lượng của họ để đón nhận sự sống, không quên rằng như thế họ giúp chúng có một lối sống giản dị hơn, và hơn nữa, không quên rằng “tước đi của chúng một số thú vui hay một số cái lợi vật chất thì ít nghiêm trọng hơn là tước đi của chúng sự hiện diện trong gia đình những người anh em, chị em sẽ có đủ tư cách để giúp chúng sinh trưởng trong tình nhân loại và nắm bắt được vẻ đẹp của sự sống ở mọi lứa tuổi và trong nhiều vẻ khác nhau của nó”[90].
62. Cuối cùng chúng ta hãy nhắc lại rằng để đạt tới những mục tiêu đó trước hết gia đình phải là ngôi nhà đức tin và cầu nguyện, nơi người ta ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa Cha, nơi người ta đón nhận Lời của Chúa Giêsu, nơi người ta cảm nhận mối ràng buộc tình yêu, ân ban của Thần khí, nơi người ta yêu mến và cầu khẩn Mẹ rất thanh sạch của Thiên Chúa[91]. Một đời sống Đức tin và “cầu nguyện như thế có chính đời sống của gia đình như nội dung độc đáo, đời sống gia đình mà qua các giai đoạn khác nhau của nó, được giải thích như một Ơn gọi đến từ Thiên Chúa và được thể hiện như một lời đáp của đạo làm con cho sự mời gọi của Ngài: những niềm vui và cực nhọc, những ước vọng và đau buồn, những sinh đẻ và sinh nhật, kỷ niệm ngày thành hôn của cha mẹ, những cuộc ra đi, những sự vắng mặt và trở về, những lựa chọn quan trọng và quyết định, cái chết của những người thân,… là những dấu chỉ hiện diện yêu thương của Thiên Chúa trong lịch sử gia đình, và những biến cố đó cũng phải trở thành một thời điểm thuận lợi để cảm tạ, để cầu khẩn và để gia đình phó thác đầy tin cậy trong tay Cha chung ở trên trời”[92].
63. Trong bầu khí đó của cầu nguyện và của ý thức về sự hiện diện cũng như về tình phụ tử của Thiên Chúa, các chân lý đức tin và luân lý sẽ được giảng dạy, lĩnh hội và được thấm nhuần với lòng thành kính; lời của Thiên Chúa sẽ được đọc lên và được sống với lòng yêu mến. Như thế chân lý của Chúa Kitô sẽ xây dựng một cộng đồng gia đình dựa trên gương mẫu và sự hướng dẫn của cha mẹ, “xuyên sâu vào tâm hồn con cái, để lại ở đó những dấu vết mà các biến cố của cuộc đời sẽ không tài nào bôi xoá đi được”[93].
VI. NHỮNG GIAI ĐOẠN TRONG SỰ NHẬN THỨC:
64. Nghĩa vụ làm cho con cái hiểu biết những mầu nhiệm của sự sống con người, đặc biệt thuộc phần cha mẹ, bởi vì gia đình “là môi trường thích hợp nhất để đảm bảo một sự giáo dục từng bước về đời sống giới tính. Gia đình có một tải lượng cảm xúc có khả năng làm cho các thực tại tế nhị nhất được chấp nhận mà không chấn thương và được hội nhập cách hài hoà vào trong một nhân cách thăng bằng và phong phú” [94]. Nhiệm vụ đầu tiên này của gia đình, mà chúng tôi có nhắc lại, dành cho cha mẹ quyền không để con cái mình bị bắt buộc dự ở trường những bài giảng dạy về các đề tài có lẽ mâu thuẫn với những xác tín tôn giáo và luân lý riêng của họ[95]. Nhà trường có bổn phận không phải thay thế gia đình, nhưng đúng hơn là “giúp đỡ và bổ sung công việc của cha mẹ, bằng cách cung cấp cho trẻ em và thanh niên một sự đánh giá về “bản năng giới tính như giá trị và dấn thân của mọi người, nam và nữ, được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa”[96].
Về phương diện này, chúng ta hãy nhắc lại những gì Đức Thánh Cha dạy trong Familiaris consortio : “Giáo Hội kiên quyết chống lại một hình thức thông tin giới tính nào đó không kể đến những nguyên tắc luân lý chút nào, và ngày nay thường được phổ biến đến thế, có lẽ nó chẳng gì khác hơn là một dẫn nhập vào kinh nghiệm lạc thú và thúc đẩy người trẻ, thậm chí đôi khi ở tuổi ngây thơ, đánh mất sự thanh thản bằng cách mở đường cho trụy lạc”[97]. Bốn nguyên tắc chung sẽ được nêu lên trước tiên và kế đó các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển của đứa con sẽ được xem xét.
Bốn nguyên tắc về thông tin trong vấn đề giới tính
65. 1. Mỗi đứa con là một con người độc nhất và không thể lập lại được. Con người đó phải nhận được một sự đào tạo thích hợp. Bởi vì cha mẹ biết, hiểu và yêu thương mỗi một đứa con của mình trong đặc tính riêng biệt của nó, họ đứng ở vị trí tốt nhất để quyết định về thời điểm thích hợp để cho chúng những thông tin cần thiết nhất định, chuyển biến theo tầm mức tăng trưởng về thể xác và tinh thần của chúng. Không ai có thể rút lại của cha mẹ có lương tâm khả năng nhận định này[98].
66. Quá trình chín chắn của mỗi đứa con với tư cách là con người thì khác nhau, và do đó những gì liên quan nhất tới sự mật thiết của nó, cả về mặt sinh học lẫn về mặt cảm xúc, phải được truyền đạt trong một cuộc đối thoại nhân vị hoá [99]. Trong cuộc đối thoại với mỗi người con, làm bằng tình yêu và sự tin cậy, cha mẹ truyền thông một cái gì đó của sự hiến trao riêng của họ, vốn cho phép họ biểu lộ các khía cạnh của chiều kích cảm xúc của giới tính, những khía cạnh người ta không thể giúp nắm được bằng cách nào khác.
67. Kinh nghiệm cho thấy rằng cuộc đối thoại ấy được phát triển tốt hơn khi người cha người mẹ truyền đạt những thông tin về mặt sinh học, cảm xúc, luân lý và linh đạo, thuộc cùng một giới với đứa trẻ hay người thanh niên. Ý thức được vai trò, những xúc cảm và những vấn đề riêng của giới tính, những người mẹ có một ràng buộc đặc biệt với những người con gái của họ và những người cha cũng vậy đối với những người con trai của mình. Phải trân trọng những mối ràng buộc tự nhiên đó; do đó người cha người mẹ trong tình trạng ở một mình phải xử sự hết sức tế nhị khi ngỏ lời về vấn đề này với một người con khác phái; người cha người mẹ đó tốt hơn nên dành cho một người đáng tin cậy, cùng phái với đứa con, nhiệm vụ trao đổi với nó về những chi tiết mật thiết hơn. Về sự hợp tác có tính bổ trợ này, cha mẹ có thể cậy dựa sự giúp đỡ của những nhà giáo dục lão luyện, trong khuôn khổ cộng đồng học đường, họ đạo hoặc những hiệp hội công giáo.
68. 2. Chiều kích luân lý phải là bộ phận của những giải thích được đưa ra. Cha mẹ phải làm nổi bật lên sự kiện những người Kitô hữu được mời gọi sống cái ân ban giới tính theo kế hoạch của Thiên Chúa, vốn là tình yêu trong khuôn khổ hôn nhân hay đời sống đồng trinh dâng hiến hoặc đời sống độc thân[100]. Phải nhấn mạnh giá trị tích cực của đức khiết tịnh, và những khả năng của đức ấy để sản sinh ra một tình yêu thực đối diện với những nhân vị cng thực đối diện với những nhân vị con người : điều này là khía cạnh luân lý căn bản và quan trọng nhất của đức khiết tịnh. Duy chỉ ai biết sống khiết tịnh mới biết yêu trong hôn nhân hay trong đời sống đồng trinh.
69. Cha mẹ có thể nhận thấy nơi đứa con ngay từ buổi non thơ nhất của nó những bước đầu của hoạt động sinh dục bản năng. Đừng đánh giá và trấn áp việc sửa dạy với sự hiền từ những thói quen như thế vốn là những thói quen có thể về sau trở thành có tội, và cũng đừng đánh giá là trấn áp việc dạy dỗ đức đoan trang khi điều đó trở nên cần thiết tuần tự theo sự tăng trưởng của đứa con. Điều luôn luôn quan trọng là cần phải biện bạch sự khước từ hợp đạo đức một số thái độ ngược với phẩm giá con người và với đức khiết tịnh, bằng những lý lẽ thích đáng, có hiệu lực và sức thuyết phục, cả trên bình diện lý trí lẫn trên bình diện đức tin, trong khuôn khổ một viễn cảnh tích cực của các sự việc và một quan niệm cao thượng về phẩm giá con người. Nhiều lời cảnh cáo cha mẹ đưa ra chỉ đơn thuần là lời khiển trách hay khuyên bảo mà con cái nhận thấy như kết quả của nỗi lo sợ những hậu quả xã hội hay lo sợ tiếng tăm trước mặt mọi người hơn là kết quả của mối quan tâm đến lợi ích thực của chúng một cách trìu mến. “Tôi khuyến khích anh chị em sửa chữa bằng tất cả sức lực của anh chị em những thói hư tật xấu và những đam mê tấn công chúng ta ở mỗi lứa tuổi. Bởi vì bất cứ lứa tuổi nào của cuộc đời, nếu chúng ta lái chiếc thuyền của chúng ta mà xem thường những giá trị đạo đức và do đó phải thử nghiệm những cuộc chìm thuyền liên tục, thì chúng ta có nguy cơ về đến bến bờ với một chuyến hàng thiêng liêng trống rỗng”[101].
70. 3. Việc đào tạo đức khiết tịnh và những thông tin đúng lúc về bản năng giới tính phải được đặt trong khuôn khổ rộng hơn của việc giáo dục tình yêu. Vậy truyền đạt những thông tin về các quan hệ giới tính kết hợp với những nhắc nhở về các nguyên tắc luân lý khách quan thì chưa đủ. Còn cần phải không tiếc đem lại một sự hỗ trợ thường kỳ để giúp đời sống thiêng liêng của con cái tăng trưởng, hầu sự phát triển sinh lý và những xung năng mà chúng bắt đầu cảm nghiệm luôn đi đôi với một tình yêu tăng dần đối với Thiên Chúa Sáng tạo và Cứu độ và một nhận thức ngày càng lớn về phẩm giá của mỗi nhân vị con người và của thân xác người ấy. Dưới ánh mờ của mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội, cha mẹ có thể minh hoạ những giá trị tích cực của bản năng giới tính con người trong bối cảnh Ơn gọi nguyên thủy của con người đến tình yêu và tiếng gọi phổ quát đến sự thánh thiện.
71. Trong những cuộc đàm thoại với con cái, nên có những lời khuyên thích đáng, để giúp chúng lớn lên trong tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, và vượt lên những khó khăn: “kỷ luật khách quan về trí tuệ, sự khôn ngoan chú ý tránh những cơ hội vấp ngã, sự giữ gìn tiết hạnh, sự tiết độ trong những cuộc tiêu khiển, thường xuyên nhờ đến sự cầu nguyện và các Nhiệm tích Cáo giải và Thánh thể. Nhất là tuổi trtẻ phải lo phát triển lòng sùng mộ đối với Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa“[102].
72. Để giáo dục con cái biết ước lượng đúng những nơi chúng thường lui tới với một óc phê phán và một tinh thần độc lập thực sự, cũng như để chúng quen sử dụng những phương tiện thông tin đại chúng một cách không quyến luyến, cha mẹ sẽ luôn phải trình bày cho chúng những mô hình tích cực và những cách thức chính đáng để vận dụng các nghị lực sống của chúng, vận dụng ý nghĩa của tình bạn cũng như tình liên đới của chúng trong cánh đồng xã hội và Giáo Hội mênh mông.
Trước những xu hướng và những thái độ xử sự sai lệch, vốn đòi hỏi nhiều khôn ngoan và cảnh giác để phân biệt và ước lượng các tình huống, cha mẹ biết nhờ đến những nhà chuyên môn có một sự đào tạo khoa học và đạo đức đáng tin cậy để nhận dạng những nguyên nhân vượt quá những triệu chứng, nghiêm túc và sáng suốt giúp các đối tượng vượt qua những khó khăn của chúng. Tác dụng sư phạm bấy giờ phải hướng đến những nguyên nhân hơn là trấn áp những hiện tượng[103], tìm cả sự giúp đỡ, nếu là cần thiết, của những người lành nghề, thầy thuốc, nhà sư phạm, nhà tâm lý học có sự nhạy cảm Kitô giáo thẳng thắn.
73. Mục tiêu của công việc giáo dục đối với cha mẹ là truyền đạt cho con cái mình niềm xác tín rằng đức khiết tịnh có thể được trong đấng bậc sống riêng của chúng và nó đem lại niềm vui. Niềm vui đến từ ý thức về quá trình chín chắn và từ sự hài hoà của đời sống cảm xúc của riêng mình, vừa là ân ban của Thiên Chúa và của tình yêu, vừa cho phép thực hiện sự hiến thân trong khung khổ Ơn gọi riêng của mình. Trong thực tế, là tạo vật duy nhất trên mặt đất được Thiên Chúa muốn vì chính nó, con người ” chỉ có thể nhận thấy mình trọn vẹn bằng sự hiến trao chính mình một cách vô vị lợi”[104]. “Chúa Kitô đã ban những lề luật cho tất cả… Ta không cấm con kết hôn, Ta càng không phản đối con có sự vui thích. Ta chỉ mong là con hành động có tiết độ, không trơ trẽn, không lỗi và không tội. Ta không ra một lề luật để các con phải trốn lên núi hay vào sa mạc, nhưng ước gì các con hãy ngay thẳng, nhân lành, đoan trang và khiết tịnh khi vẫn sống giữa lòng thành đô”[105].
74. Sự hỗ trợ của Thiên Chúa không bao giờ thiếu cho chúng ta, nếu mỗi người thực hiện nỗ lực cần thiết để đáp ứng ân sủng của Thiên Chúa. Hỗ trợ, huấn luyện và kính trọng lương tâm của con cái, cha mẹ phải chăm lo để chúng năng chịu các Nhiệm tích với ý thức đầy đủ, giúp đỡ chúng bằng gương mẫu của mình. Nếu trẻ em và thanh niên kinh nghiệm được hiệu quả của ân sủng và lòng từ bi Thiên Chúa trong các Nhiệm tích, chúng sẽ có khả năng sống tốt đức khiết tịnh như một ân ban của Thiên Chúa, vì vinh danh Ngài và để yêu mến Ngài, Ngài và những con người khác. Một sự hỗ trợ cần thiết và có hiệu lực cách siêu nhiên được ban cho qua sự năng chịu Nhiệm tích Hoà giải, đặc biệt nếu người ta có thể chỉ nhờ đến một cha giải tội. Sự trợ giúp thiêng liêng hay linh hướng, dù không bắt buộc phải trùng với vai trò của Cha Giải tội, là một sự giúp đỡ quí giá để soi sáng các giai đoạn của quá trình chín chắn và để nâng đỡ tinh thần.
Việc đọc những sách huấn luyện được khuyên dùng và được lựa chọn kỹ là một sự giúp đỡ lớn, bởi vì đồng thời việc đó vừa đem lại một sự huấn luyện sâu rộng hơn, vừa cho những gương mẫu và những bằng chứng trên đường đạo hạnh.
75. Một khi đã xác định những mục tiêu của sự thông tin cần cung cấp, thì phải vạch rõ những thời điểm và những thể thức của sự thông tin đó, khởi hành từ tuổi thơ ấu bé nhỏ.
4. Cha mẹ phải cung cấp thông tin với một sự tế nhị cực kỳ, nhưng cách rõ ràng và vào lúc hợp thời. Họ hẳn biết rằng con cái phải được đối xử một cách cá thể hóa, theo những điều kiện đặc thù của sự phát triển sinh lý và tâm lý của chúng, có tính đến cả môi trường văn hóa nơi người thiếu niên sống và cả kinh nghiệm nó có trong cuộc sống hàng ngày. Để ước lượng đúng những gì họ phải nói với từng người con, điều rất quan trọng là họ phải bắt đầu cầu xin ánh sáng của Chúa và bàn bạc với nhau, hầu những lời họ nói không quá tách bạch mà cũng không quá mập mờ. Cho con cái quá nhiều chi tiết là phản sinh lợi, nhưng hoãn lại quá đáng thời điểm những thông tin đầu tiên là không khôn ngoan bởi vì mọi con người đều có một tính hiếu kỳ tự nhiên về vấn đề này và lúc nào đó nó sẽ bắt đầu tự hỏi, nhất là trong một nền văn hóa mà người ta chỉ thấy quá nhiều điều, thậm chí trước đám đông.
76. Nói chung, những thông tin đầu tiên phải cho một em bé về đời sống giới tính thì không liên quan đến khả năng sinh dục, nhưng liên quan đến sự có thai và sự sinh ra một đứa em trai hay em gái. Tính hiếu kỳ tự nhiên của đứa trẻ được khơi dậy chẳng hạn khi nó nhận thấy nơi mẹ mình những dấu hiệu của sự mang thai và khi nó sống sự chờ đợi một em bé. Cha mẹ có thể lợi dụng kinh nghiệm vui mừng này để thông báo cho đứa con của mình một vài sự kiện đơn giản về sự mang thai, nhưng luôn luôn trong bối cảnh sâu xa hơn của sự kinh ngạc thán phục trước công trình sáng tạo của Thiên Chúa, vốn Ngài an bài để sự sống mới mà Ngài ban được giữ gìn trong thân xác của người mẹ trong gia đình, gần nơi trái tim của bà.
Những giai đoạn phát triển chính của đứa con
77. Điều quan trọng là cha mẹ phải chú ý tới những nhu cầu của con cái họ ở những giai đoạn khác nhau của sự phát triển của chúng. Tính đến sự kiện mọi đứa con đều phải nhận được một sự đào tạo cá biệt hóa, họ có thể thích ứng những giai đoạn huấn luyện về tình yêu với những nhu cầu đặc biệt của mỗi đứa con.
1. Những năm của tuổi ngây thơ
78. Khoảng độ 5 tuổi đến tuổi dậy thì – bắt đầu có những biến đổi thể xác nơi thanh niên, thiếu nữ (biểu hiện rõ rệt trong việc sản sinh các hormon tính dục) – người ta cho là các em đang trong tuổi “vô tội”[106] theo như thuật ngữ của Đức Gioan-Phaolô II. Cha mẹ đừng làm xáo trộn thời gian yên lặng và ngây thơ này của các em bằng những hướng dẫn tính dục. Trong những năm này, trước khi có những biểu hiện giới tính xuất hiện, thường các em chú tâm vào những lãnh vực sống khác. Tính dục sơ khai, mang tính bản năng ở các em bé chưa xuất đầu lộ diện. Vào tuổi này, bé trai, bé gái không chú tâm mấy vào các vấn đề tính dục và chỉ liên lạc với các em cùng giới.
Để đừng khuấy động giai đoạn tự nhiên cần thiết để lớn lên của các em, trong thời gian này cha mẹ chỉ có thể gián tiếp giáo dục tình yêu thanh khiết cho các em, để chuẩn bị cho tuổi dậy thì, lúc đó cần có sự giáo dục trực tiếp.
79. Thường trong thời gian phát triển này các em thấy thoải mái với thân xác và chức năng của thân xác. Các em chấp nhận sự khiêm tốn trong cách ăn mặc và trong thái độ hành xử. Mặc dù các em ý thức được sự khác biệt thể lý giữa hai phái tính, nhưng thường các em đang lớn không chú tâm vào cơ quan sinh dục và phận vụ của nó. Các thời gian giáo lý cũng như hướng dẫn vào Bí tích ở giáo xứ phải liên kết chặt chẽ vào những khám phá vũ trụ, tùy theo tuổi của các em, với những kinh nghiệm ở nhà cũng như trong trường học của các em.
80. Thời gian này của các em cũng có ý nghĩa trong quá trình phát triển thể lý – tính dục. Đứa bé đang lớn, con trai hay con gái, học hỏi nơi kinh nghiệm của các người lớn và qua kinh nghiệm của mình trong gia đình, sẽ hiểu thế nào là người đàn ông, thế nào là người đàn bà. Đương nhiên chúng ta đừng ngăn cấm các em bé trai tỏ lộ những âu yếm và tình cảm tự nhiên, cũng như các hành vi mạnh bạo thể lý nơi các em gái. Mặt khác, cha mẹ, trong những xã hội quá bị lý tưởng đè nặng, cũng đừng rơi vào trạng thái đối nghịch, xác định con cái vào thế được gọi là “mẫu mực trách nhiệm”.
Cha mẹ không nên phủ nhận hay coi nhẹ sự khác biệt giới tính. Trong bầu khí thanh thản của gia đình, cha mẹ dạy cho con cái biết, đây là điều tự nhiên, sự khác biệt về giới tính thích ứng với những trách nhiệm khác nhau của người nam và người nữ trong gia đình.
81. Trong giai đoạn này, các em bé gái thường phát triển sự chú tâm của mình vào các em bé, về thiên chức làm mẹ và về nội trợ trong gia đình. Cha mẹ hãy cố gắng giúp các em biết nhìn vào mẫu gương thiên chức làm mẹ của Đức Nữ Đồng Trinh để nhận ra giá trị nữ tính đặc thù của mình.
82. Trong giai đoạn này, bé trai lại chậm phát triển hơn. Vào thời gian này, tốt nhất là tạo cho em một liên hệ tốt đẹp với người cha. Em phải học hỏi để biết rằng nam tính của em, được xem như quà tặng của Thiên Chúa, nhưng không mang dấu ấn nào trổi vượt hơn nữ tính, nhưng đó là một ơn gọi để đảm nhận những vai trò và trách nhiệm riêng. Cha mẹ phải ngăn chận đừng để bé trai phát triển tính hung hăng cũng như luôn muốn bộc lộ nam tính của mình bằng những hành động anh hùng.
83. Trong giai đoạn phát triển này của các em, có thể đưa ra những vấn đề liên quan đến luân lý và giới tính. Ngày nay trong nhiều xã hội, người ta đã hoạch định những chương trình nhằm hướng dẫn,tính dục thật sớm cho trẻ em.
Trong giai đoạn phát triển này, các em chưa đủ khả năng nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa của giới tính. Chúng không thể hiểu hình ảnh về tính dục trong liên hệ với những luật lệ luân lý; có nghĩa là, các em không thể nắm bắt các hướng dẫn về tính dục quá sớm cùng với trách nhiệm luân lý. Một hướng dẫn như thế có nguy cơ gây ấn tượng trên quá trình phát triển thế giới tình cảm và giáo dục của các em và khuấy động sự thanh thản tự nhiên của giai đoạn sống này. Phụ huynh phải thẳng thắn phủ nhận những thử nghiệm xúc phạm đến sự ngây thơ của các em, vì những thử nghiệm như vậy sẽ làm hại quá trình phát triển về mặt tinh thần, đạo đức và tình cảm của con người, những người này cần phải được lớn lên và có quyền trên chính sự ngây thơ vô tội của mình.
84. Một khó khăn khác lại xuất hiện, khi các em lãnh nhận những hướng dẫn đầu tiên về tính dục từ các phương tiện truyền thông hay do những em cùng lứa tuổi nhưng lại được hướng dẫn sớm hơn và thường là lệch lạc. Trong những hoàn cảnh này, cha mẹ bắt buộc phải hướng dẫn cách tỉ mỉ có giới hạn về tính dục, thường là để sửa chữa những hướng dẫn lệch lạc hay kiểm soát thứ ngôn ngữ thô tục.
85. Trường hợp các em bé bị lạm dụng tình dục không phải là hiếm. Cha mẹ phải bảo vệ con em mình bằng cách dạy con tính đúng đắn và cẩn thận trước các người lạ và một sự hướng dẫn tính dục tương ứng, nhưng không đi vào chi tiết có thể làm cho các em xao xuyến hay sợ sệt.
86. Trong những năm tháng đầu đời cũng như trong tuổi thơ của các em, cha mẹ phải khuyến khích các em có tinh thần hợp tác, vâng phục, quảng đại và tập biết hy sinh, cũng như đòi buộc các em biết tự chủ và cao thượng. Đây là điểm đặc thù của giai đoạn phát triển này là các em thích các hoạt động trí thức : việc sử dụng trí thức giúp các em đạt được sức mạnh và khả năng kiểm soát thực tại chung quanh – trong tương lai cả xung năng của thể xác – khi chuyển hóa tất cả thành những hoạt động trí thức và duy lý.
Trẻ em không được giáo dục và hư hỏng trong tương lai sẽ không được trưởng thành và rất yếu kém về mặt luân lý, chỉ vì khi một con người đã để cho thói quen ích kỷ và vô trật tự mọc rễ trong con người của mình, thì sẽ gặp những khó khăn khi tiếp xúc với kẻ khác vì họ không đủ khả năng để chú tâm và kính trọng người khác. Cha mẹ phải đưa ra những tiêu chuẩn khách quan để nhận định cái gì là đúng, cái gì là sai và tạo nền tảng luân lý vững vàng cho các em.
2. Tuổi dậy thì
87. Tuổi dậy thì là giai đoạn đầu của tuổi thiếu niên; đó là thời gian cha mẹ được mời gọi chú tâm để giáo dục con cái theo tinh thần kitô giáo : “Đây là thời gian thiếu niên khám phá chính mình và thế giới nội tâm , thời gian của những dự trù quảng đại, thời gian nẩy nở tình yêu, với những xung lực sinh lý tính dục, thời gian khao khát sống chung, thời gian vui mừng đặc biệt, liên kết với sự khám phá say mê đời sống. Thường đây cũng là thời gian thiếu niên chất vấn những vấn đề sâu xa hơn, lo lắng tìm tòi, nhưng cũng xuất hiện sự nghi ngờ kẻ khác, co cụm lại; đó cũng là tuổi cảm nghiệm những thất bại và cay đắng đầu tiên[107].
88. Cha mẹ phải chú ý đặc biệt những phát triển và biến đổi thân xác và tâm lý của con cái, những biến đổi này rất quyết định cho sự trưởng thành của con người. Cha mẹ không nên quá lo lắng, sợ sệt hay quá chăm sóc hơn thường ngày, nhưng họ cũng không nên để sự nhát đảm và tiện lợi gây ảnh hưởng. Đương nhiên đây là giai đoạn quan trọng để giáo dục về giá trị đức khiết tịnh; cách thức để hướng dẫn về tính dục cũng phải liên hệ đến giáo dục khiết tịnh. Trong giai đoạn này cha mẹ cần nói về cơ quan sinh dục, giải thích trên bình diện giá trị cũng như trên bình diện thực tế trọn vẹn. Điều này cũng cho thấy hướng dẫn của phụ huynh cũng phải liên kết với việc sinh sản, hôn nhân và gia đình, liên hệ mà cha mẹ phải luôn có trước mắt khi giảng dạy cho con cái về tính dục.[108]
89. Bắt đầu từ những đổi thay mà thanh niên thiếu nữ cảm nghiệm trong thân xác của mình, cha mẹ giải thích cách tỉ mỉ về tính dục trong thân tình và bạn hữu, mỗi khi con gái tin tưởng ở người mẹ và con trai ở người cha. Nền tảng cho liên hệ thân tình và bạn hữu này phải cố gắng thiết đặt ngay từ đầu đời của các em.
90. Một nhiệm vụ quan trọng của cha mẹ là phải theo sát những phát triển sinh lý của con gái để giúp em vui vẻ đón nhận việc triển nở nữ tính về mặt thể xác, tâm hồn và tinh thần[109]. Cũng phải nói với các em gái chu kỳ kinh nguyệt và ý nghĩa của hiện tượng này, nhưng không cần phải nói đến việc giao hợp, nếu như không bị chất vấn.
91. Cần phải giúp cho thanh niên hiểu được những giai đoạn phát triển thể lý và sinh lý của cơ quan sinh dục, trước khi chúng đi học hỏi những điều này nơi các bạn đồng lứa hay những con người không thích hợp. Cách trình bày các sự kiện sinh lý của tuổi dậy thì nam giới phải được nói với giọng điệu trang nghiêm, tích cực và dè dặt và phải luôn đặt trong khung hôn nhân – gia đình – quyền làm cha. Việc hướng dẫn cho thanh niên hay thiếu nữ bao gồm sự chỉ dẫn tương đối tỉ mỉ về những đặc tính thể lý và tâm lý của giới khác, đó là đối tượng các em rất tò mò muốn biết.
Trong lãnh vực này, cha mẹ cũng cần có những lời khuyên của bác sĩ hay của một nhà phân tâm, nhưng những hướng dẫn này không thể thay thế cho việc giáo dục đức tin và việc giáo hóa của linh mục.
92. Nhờ vào việc trao đổi chân tình và cởi mở, cha mẹ không những chuẩn bị cho cô con gái đối đầu những tình cảm lộn xộn, nhưng còn giúp họ hiểu được giá trị khiết tịnh đối với phái tính khác. Thanh niên, thiếu nữ cần phải được chỉ dạy để nhận ra điều cao đẹp của thiên chức làm mẹ và thực tế kỳ diệu của việc sinh sản cũng như ý nghĩa sâu xa của sự khiết trinh. Nhờ đó cha mẹ có thể giúp họ chống lại tâm trạng hưởng thụ, đặc biệt, ngăn cản họ rơi vào thói tục “chống thụ thai” rất phổ biến trong ngày hôm nay, mà các cô gái sau này phải đối mặt trong hôn nhân.
93. Trong thời gian dậy thì, sự phát triển tâm lý và tình cảm rất dễ đưa thiếu niên vào những tưởng tượng tình dục và cám dỗ các em đi tìm kinh nghiệm tình dục. Cha mẹ phải gần gũi con trai của mình và sửa chữa xu hướng sử dụng tính dục theo chiều hưởng thụ và vật chất. Cha mẹ phải nhắc nhở cho con cái tính dục là quà tặng của Thiên Chúa, được lãnh nhận để con người hợp tác với Ngài “thực hiện trong lịch sử lời chúc lành của Thiên Chúa lúc khởi nguyên, thực hành bằng việc thông truyền hình ảnh Thiên Chúa từ người này sang người khác trong hành động truyền sinh”; cha mẹ củng cố con cái và giúp họ ý thức rằng “việc có con là kết quả và là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng là lời chứng sống động cho sự trao hiến trọn vẹn cho nhau giữa đôi bạn”[110]. Nhờ cách này, các thiếu niên học hỏi để biết tôn trọng phụ nữ. Hoạt động hướng dẫn và giáo dục của cha mẹ rất cần thiết, không phải chỉ để giúp con cái đừng hiểu sai các thực tại tính dục, nhưng còn giúp chúng hiểu biết theo quan niệm đúng đắn.
94. Cha mẹ phải thực hiện cách tích cực và khôn ngoan điều mà các giáo phụ của Công Đồng Vaticanô II đòi hỏi : “Phải biết
hợp thời và hợp cách giáo dục thanh thiếu niên về phẩm giá, phận sự và hành vi thể hiện tình vợ chồng, tốt nhất là trong khung cảnh gia đình. Nhờ vậy, một khi đã được rèn luyện để giữ đức khiết tịnh, đến tuổi thích hợp, họ có thể từ thời đính hôn đứng đắn tiến tới hôn nhân” [111].
Việc hướng dẫn tích cực về tính dục phải được ghi nhận trong một chương trình giáo dục có đặc tính liên hệ đến kitô giáo, trong đó phải hướng dẫn về đời sống, hành vi tính dục, giải phẫu và vệ sinh. Chiều kích tinh thần và đạo đức phải có vị trí ưu tiên với hai mục đích đặc biệt như sau : trình bày các giới răn của Thiên Chúa như là con đường để đạt tới sự sống và giáo dục lương tâm ngay thẳng.
Đức Giêsu trả lời cho anh thanh niên đến tìm Chúa để hỏi làm thế nào để đạt được sự sống đời đời : “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19,17); sau khi lần lượt kể những điều liên hệ đến tình yêu tha nhân, Đức Giêsu tóm tắt lại: “Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình” (Mt 19,19). Việc trình bày các giới răn như là quà tặng của Thiên Chúa (được viết bằng chính ngón tay của Thiên Chúa, x. Xh 31,18) cũng như giao ước với Người, được Đức Giêsu xác nhận bằng chính mẫu gương của Người, đó là điều quan trọng với thanh thiếu niên, để cho các em không tách biệt chúng khỏi đời sống nội tâm phong phú và giúp các em tránh được lối sống ích kỷ[112].
95. Như khởi điểm cho việc giáo dục lương tâm, các em cần phải được hiểu biết: chương trình tình yêu của Thiên Chúa dành riêng cho từng người; hiểu biết về ý nghĩa tích cực và giải thoát của các luật luân lý; hiểu biết về sự dễ dàng sa ngã vì tội lỗi, cũng như về các phương tiện hồng ân củng cố con người trên bước đường tiến đến sự thiện hảo và cứu độ.
Công đồng Vaticanô II dạy : “Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người” [113], “lương tâm hiện diện trong lòng người và ra lệnh đúng lúc cho con người làm lành lánh dữ. Lương tâm phán đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu. Lương tâm chứng nhận thế giá của chân lý bằng cách quy chiếu về Thiên Chúa là sự thiện tối thượng, Đấng thu hút và ban mệnh lệnh cho con người” [114].
“Lương tâm là một phán quyết của lý trí; nhờ đó, con người nhận biết một hành vi cụ thể mình định làm, đang làm hay đã làm, là tốt hay xấu” [115]. Việc giáo dục lương tâm phải soi sáng rõ ràng chân lý và chương trình của Thiên Chúa; người ta không được phép làm lẫn lộn với tình cảm chủ quan mơ hồ hay với ý kiến cá nhân của mình.
96. Khi trả lời các vấn nạn của con cái, cha mẹ phải đưa ra những luận cứ chắc chắn về giá trị cao cả của đức khiết tịnh và cho thấy sự yếu kém về mặt trí thức cũng như nhân bản của các lý thuyết đưa đến những thái độ hưởng thụ; các câu trả lời của họ phải rõ ràng dễ hiểu, không cần phải nhấn mạnh quá đáng đến những vấn đề bệnh lý tính dục. Họ không được tạo cảm nghĩ lệch lạc về tính dục là điều gì xấu hổ hay dơ bẩn, chỉ vì tính dục là quà tặng của Thiên Chúa đặt để vào trong thân xác con người với khả năng sinh sản, giúp con người tham gia vào sức sáng tạo của Thiên Chúa. Hơn nữa, dựa vào Thánh Kinh (như Dc 1-8; Hs 2; Gr 3,1-3; Êd 23…) cũng như truyền thống thần bí kitô giáo[116], tình yêu vợ chồng luôn luôn là biểu trưng và là hình ảnh cho tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người.
97. Chỉ vì trong thời dậy thì , trai gái đều dễ bị rơi vào ảnh hưởng của tình cảm, cha mẹ có trách nhiệm, bằng đối thoại và bằng chính gương mẫu của mình, giúp cho con cái chống lại ảnh hưởng tiêu cực đến từ bên ngoài, có thể khiến chúng đánh giá thấp giáo dục kitô giáo về tình yêu và đức khiết tịnh. Đôi khi, đặc biệt là trong các xã hội tiêu thụ, cha mẹ đừng qua nhấn mạnh, nhưng phải lo lắng đến liên hệ của con cái mình với những người khác phái tính. Cho dù xã hội có chấp nhận như thế, nhưng cũng có những lối nói và ăn mặc không đúng đắn về mặt đạo đức, chỉ để hạ thấp tính dục và biến tính dục thành đối tượng hưởng thụ. Cha mẹ phải dạy cho con cái giá trị tính đơn sơ kitô giáo, trong cách ăn mặc, sự tự do cần thiết đối với thời trang, những nét đặc thù của một nhân cách nam hay nữ trưởng thành[117].
3. Tuổi thiếu niên trong chương trình sống
98. Trong quá trình phát triển nhân vị, tuổi thiếu niên là thời gian hoạch định cho bản thân và là thời gian khám phá về ơn gọi cá nhân của mình: một thời gian mà ngày nay – vì những lý do sinh lý cũng như động lực văn hóa xã hội – người ta cho là dài hơn so với thời quá khứ. Cha mẹ “phải đào tạo cho con cái bước vào đời sống để giúp cho mỗi người con biết chu toàn trọn vẹn bổn phận của mình tùy theo ơn gọi nó đã lãnh nhận từ Thiên Chúa” [118]. Đây là trách nhiệm quan trọng nhất, là đỉnh cao của nhiệm vụ làm cha làm mẹ. Nếu là quan trọng, thì thời điểm này của con cái lại càng quan trọng hơn: “Trong đời sống của mỗi tín hữu, có những thời điểm thật đặc biệt và quyết định để nhận ra ơn gọi của Thiên Chúa. Trong những thời điểm đó, phải kể đến thời niên thiếu và thời trai trẻ”[119].
99. Điều rất quan trọng là không bao giờ để cho thiếu niên một mình đi tìm hiểu ơn gọi cá nhân của mình. Về điểm này, lời khuyên của cha mẹ và sự hỗ trợ của một vị linh mục hay những người được huấn luyện tương xứng – trong nhà xứ, các hiệp hội, các phong trào mới và có hiệu quả của Hội Thánh – giúp cho các em khám phá lối sống và những hình thức khác về ơn gọi phổ quát để nên thánh, tất cả đều có ý nghĩa, vì lời mời gọi của Đức Kitô “Hãy theo Thầy” có thể được thực hiện trên nhiều bước đường, mà các môn đệ và các nhân chứng của Đấng Cứu độ đã đi[120].
100. Trong nhiều thế kỷ qua, quan niệm ơn gọi chỉ dành riêng cho đời linh mục và đời sống tu trì. Nhờ khám phá lại giáo lý của Chúa – “Anh em hãy hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48) – công đồng Vaticanô II đã canh tân lại lời mời phổ quát về việc nên thánh[121]. Đức Phaolô VI viết: “Lời mời gọi nên thánh có thể được xem như yếu tố đặc thù nhất của giáo huấn công đồng và như là cùng đích của công đồng”[122]. Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II nhấn mạnh lại lời kêu gọi nên thánh này như sau: “Công đồng Vaticanô II đã công bố điều quyết định nhất cho lời mời phổ quát phải nên thánh : người ta có thể khẳng định, đây là trách nhiệm quan trọng nhất của một công đồng muốn canh tân đời sống kitô hữu theo ý nghĩa Tin Mừng[123]. Định hướng này không phải là một lời khuyên nhủ đạo đức, như là lời đòi buộc bất khả từ của mầu nhiệm Hội Thánh”[124].
Thiên Chúa mời gọi mọi người nên thánh và có chương trình riêng tư cho từng người : một ơn gọi cá nhân mà mỗi người phải nhận ra, đón nhận và phát huy. Lời của vị Thánh Tông Đồ dân ngoại được áp dụng cho mọi tín hữu – linh mục cũng như giáo dân, người lập gia đình cũng như kẻ độc thân : “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương” (Cl 3,12).
101. Như thế, giáo lý và giáo dục được giảng dạy trong và ngoài gia đình không bao giờ được thiếu sót lời huấn giáo của Hội Thánh về giá trị của đức khiết trinh và độc thân[125], và cả ý nghĩa ơn gọi về bậc sống gia đình, đối với một kitô hữu không bao giờ được xem như là chuyện bình thường của con người. Thánh Phaolô nói về vấn đề này : “Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5,32). Việc chúng ta có thành công để giúp cho giới trẻ có được xác tín này, xác tín mang lại ý nghĩa siêu vượt cho sự tốt lành của Hội Thánh và nhân loại, đều tùy thuộc phần lớn vào cha mẹ và đời sống gia đình, mà họ vun đắp[126].
102. Cha mẹ phải luôn luôn cố gắng để đưa tỉ dụ và chứng cứ trong đời sống của mình về sự trung thành với Thiên Chúa và với nhau trong khế ước hôn nhân. Mẫu gương của họ sẽ gây rất nhiều ảnh hưởng cho thanh thiếu niên, vì đây là thời gian các em đi tìm các mẫu sống động và lôi kéo cho thái độ của mình. Đây cũng là thời gian các em đưa ra những vấn đề liên hệ đến tính dục cách khẩn thiết nhất, cha mẹ phải cố gắng giúp các em yêu chuộng vẻ đẹp và sức mạnh của đức khiết tịnh. Với những lời khuyên bảo khôn ngoan, cha mẹ cũng giải thích cho các em biết, để có thể sống khiết tịnh, phải nhờ vào cầu nguyện và thường lãnh nhận các bí tích, đặc biệt là xưng tội cá nhân. Thêm nữa, tùy theo nhu cầu cần thiết, cha mẹ cũng phải tích cực dạy dỗ cách rõ ràng những điều quan trọng của luân lý kitô giáo như sự bất khả phân ly của hôn nhân, liên hệ giữa tình yêu và sinh sản, cũng như phải nói về những ngăn cấm như liên hệ xác thịt trước hôn nhân, phá thai, ngừa thai và thủ dâm. Về các hành vi không đạo đức đi ngược lại ý nghĩa trao ban trong hôn nhân, cũng nên nhắc nhớ rằng “hai chiều kích trong kết hợp vợ chồng, sự kết hợp và sự sinh sản, không được phép tách rời cách nhân tạo mà không hủy hoại chân lý sâu xa của hành động hôn nhân”[127]. Việc tìm hiểu và đào sâu các văn kiện Tòa Thánh chỉ dẫn về các vấn đề này cũng sẽ giúp ích nhiều cho cha me[128].
103. Thủ Dâm là một hành động lệch lạc , bất hợp pháp tự bản chất, cho dù “sự chưa trưởng thành của tuổi thanh thiếu niên có thể kéo dài hơn tuổi này, sự mất quân bình tâm lý hay thói quen có thể ảnh hưởng trên thái độ, gia giảm đặc tính mất tự do của hành động và, đứng về mặt chủ quan, hành động này không phải luôn luôn là một lỗi nặng”[129]. Các thanh thiếu niên cần được người lớn giúp vượt qua những hành động sái trật tự này, thường lại là những biểu hiện bộc lộ những xung khắc nội tâm riêng tư của tuổi này, biểu hiện này có thể là một cái nhìn ích kỷ về tính dục, thu hẹp lại chính mình.
104. Một vấn đề đặc biệt có thể nẩy sinh trong quá trình trưởng thành và nhận định bản thân, đó là vấn đề Đồng Tính Luyến Ái càng ngày càng phổ biến trong các xã hội đô thị hóa. Hiện tượng này phải được trình bày với một phán đoán quân bình, và dưới ánh sáng của các tài liệu của Hội Thánh[130]. Thanh thiếu niên phải được giúp đỡ để có thể phân biệt được cái gì là bình thường và cái gì là bất bình thường, cái gì là lỗi chủ quan và cái gì là sái trật tự khách quan; cần phải tránh những gì có thể gây cho các em có thái độ tiêu cực, mặt khác phải giúp các em định hướng cơ bản và bổ túc của tính dục là nhằm vào các thực tế của hôn nhân, của sinh sản và của khiết tịnh. “Đồng tính luyến ái là những liên hệ giữa những người cảm thấy bị lôi cuốn tính dục với người đồng phái nhiều hơn với người khác phái. Đồng tính luyến ái xuất hiện trong nhiều thời đại và văn hóa với nhiều hình thức khác nhau. Cho đến nay người ta vẫn chưa giải thích được nguyên nhân tâm thần của hiện tượng này”[131]. Cần phải phân biệt xu hướng bẩm sinh và những hành động đồng tính luyến ái “tự bản chất là thác loạn”[132] và “nghịch với luật tự nhiên”[133].
Nhiều trường hợp, đặc biệt khi việc thực hành đồng tính luyến ái chưa thành thói quen, có thể chữa trị cách tích cực theo phương pháp y học. Dù sao đi nữa, những người trong hoàn cảnh này cũng phải được người khác đón nhận với sự kính trọng và tế nhị, tránh mọi hình thức hạ giá họ cách bất công. Còn về cha mẹ, khi thấy xuất hiện những xu hướng hay những thái độ xu chiều như thế, lúc tuổi thơ hay tuổi thiếu niên, cần phải có sự giúp đỡ của những người chuyên môn và phẩm cách.
Đối với phần đông những người đồng tính luyến ái, hoàn cảnh này là một thử thách cho họ : “Chúng ta phải đón nhận họ với lòng tôn trọng, thông cảm và tế nhị, tránh đối xử bất công. Cả những người này cũng được mời gọi thực hiện ý Chúa trong cuộc sống và, nếu là Kitô hữu, họ nên kết hợp các khó khăn gặp phải do hoàn cảnh đặc biệt của mình với hy tế thập giá của Chúa”[134] “Những người đồng tính luyến ái cũng được mời gọi sống khiết tịnh”[135].
105. Việc hiểu biết ý nghĩa tích cực của tính dục đối với sự hòa hợp và phát triển cá nhân cũng như hướng vào ơn gọi của con người trong gia đình, xã hội và Hội Thánh luôn luôn liên hệ với nhau cách chặt chẽ, trong đó việc giáo dục phải theo từng giai đoạn phát triển của thanh thiếu niên. Người ta không nên quên rằng, một sự hưởng thụ tính dục sái trật tự có nguy cơ tác hại dần dần khả năng yêu thương của con người, khi con người xem sự thỏa mãn – thay vì là một quà tặng tự hiến – lại trở thành mục đích của tính dục và hạ thấp người khác trở thành đối tượng thỏa mãn cho riêng mình : với cách thức này con người làm suy yếu đi ý nghĩa của tình yêu chân thật giữa đàn ông và đàn bà – luôn luôn hướng về đời sống mới – cũng như ý nghĩa của gia đình, rồi từng bước một khinh rẻ đời sống con người, đời sống mới này đáng lý được đón nhận trong tình thương, nay bị xem như là điều xấu trong nhiều trường hợp có thể gây nguy hại cho sự thỏa mãn cá nhân[136]. “Việc hạ thấp tính dục thuộc vào những động cơ chính yếu, có nguồn gốc coi nhẹ sự sống đang hình thành : chỉ có tình yêu chân thật mới biết bảo vệ sự sống”[137].
106. Người ta cũng phải nhớ rằng, trong những xã hội tiên tiến về mặt kinh tế, thanh thiếu niên chú tâm và thường bị lung lạc bởi những vấn đề đi tìm căn cước của mình, hoạch định chương trình sống cho đời mình và tìm hiểu toàn bộ về tính dục trong một nhân vị chín muồi và có định hướng, nhưng đôi khi cũng từ cách quan niệm về chính mình cũng như thân xác mình. Ngày nay có nhiều trung tâm chuyên môn và cố vấn cho thanh thiếu niên về vấn đề này, nhưng thường họ chỉ dẫn theo một quan niệm hưởng thụ mà thôi. Một văn hóa lành mạnh về thân xác, bắt đầu từ ý niệm đón nhận chính mình như quà tặng và như là tinh thần nhập thể được mời gọi để đón nhận Thiên Chúa và xã hội, luôn kèm theo giáo dục trong suốt thời gian này, sẽ có giá trị xây dựng lớn, nhưng không phải là không có nguy hiểm.
Trước những đề nghị của các nhóm mang tính hưởng thụ, đặc biệt trong các xã hội giàu có, phải cần trình bày cho thanh thiếu niên những lý tưởng liên đới nhân bản và kitô giáo và chỉ cho họ thấy những phương cách dấn thân vào các hiệp hội và phong trào của Hội Thánh và những nhóm tình nguyện công giáo và truyền giáo.
107. Trong giai đoạn này, Tình Bạn rất quan trọng. Theo điều kiện và phong tục xã hội nơi các em sinh sống, tuổi thanh thiếu niên là một thời gian mà người trẻ được hưởng một sự tự do trong liên hệ của chúng đối với người khác đối với giờ giấc sinh hoạt trong gia đình. Dù không cần phải hạn hẹp sự tự do này, nhưng cha mẹ cũng phải nói “không” khi cần thiết[138]; đồng thời cũng phải gợi lên trong các em cảm nghiệm những gì là tốt, cao thượng và chân thật. Cha mẹ phải chú tâm đến việc đánh giá bản thân của các em, vì các em có thể phải trải qua một giai đoạn mù mờ, khi các em chưa thấy rõ được phẩm giá của mình và những đòi hỏi kèm theo.
108. Nhờ những lời khuyên nhủ thân tình và kiên nhẫn, cha mẹ có thể giúp các em thoát khỏi trạng thái khép kín vì tự tôn và dạy cho chúng, khi cần thiết phải lội ngược dòng để chống lại những khuynh hướng có nguy cơ làm chết nghẹt tình yêu chân chính và khinh rẻ các thực tại tinh thần. “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế. Thiên Chúa là nguồn mọi ân sủng, cũng là Đấng đã kêu gọi anh em vào vinh quang đời đời của Người trong Đức Kitô. Phần anh em là những kẻ phải chịu khổ ít lâu, chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường” (1 Pr 5,8-10).
4.Hướng về tuổi trưởng thành
109. Chủ đích của tài liệu này không phải là để nói về việc chuẩn bị gần và trực tiếp cho hôn nhân, đó là một đòi buộc của giáo dục kitô giáo mà Hội Thánh trình bày và đòi buộc khẩn thiết trong thời đại này[139]. Dù vậy cũng nên ý thức rằng, trách nhiệm của cha mẹ không chấm dứt khi các con đạt tới tuổi trưởng thành, tuổi này rất thay đổi tùy theo môi trường văn hóa và luật định. Thời đoạn đặc biệt và có ý nghĩa trong cuộc đời của người trẻ là lúc họ bước vào đời lao động nghề nghiệp hay bước vào cấp đại học, khi phải chạm trán – đôi khi thô lỗ, nhưng nhiều lúc cũng hạnh phúc – với nhiều lỗi hạnh kiểm khác nhau và những hoàn cảnh xem ra một thách thức cá nhân.
110. Với những cuộc trao đổi đầy sự tín cẩn, đòi buộc phải có cảm tính trách nhiệm đồng thời phải tôn trọng sự tự do chính đáng và cần thiết của người trẻ, cha mẹ phải luôn là điểm tựa cho con cái nhờ các lời khuyên bảo và chính gương sống của mình, để cho các người trẻ, trong quá trình hội nhập vào xã hội có khả năng tìm được cá tính trưởng thành, nội tâm và xã hội. Cha mẹ phải lo lắng sao cho người trẻ đừng tách rời khỏi liên hệ đức tin với Hội Thánh và với những hoạt động của giáo hội địa phương, ngược lại còn gia tăng hơn nữa; lo lắng để người trẻ biết chọn lựa những người thầy chân chính cho suy tư và đời sống tương lai của họ; lo lắng để người trẻ sẵn sàng dấn thân như một kitô hữu vào các lãnh vực văn hóa và xã hội, can đảm tuyên xưng đức tin, đừng đánh mất ý nghĩa ơn gọi của mình và đừng rời bỏ định hướng khi đi tìm nghề nghiệp của mình.
Trong thời gian người trẻ tiến đến việc hứa hôn hay là trong quyết định chọn lựa hướng lập gia đình, vai trò của cha mẹ không hạn hẹp trong việc đưa ra những ngăn cấm hay xác định người hứa hôn; nhưng họ phải giúp cho người trẻ cân nhắc các điều kiện để xác định một liên hệ chính chắn và có nhiều hy vọng; họ còn phải giúp cho người trẻ trong cuộc đời làm chứng được sự trung thành trong liên hệ với người khác phái.
111. Cha mẹ phải tránh thái độ rất phổ biến, theo đó người con gái được khuyên nhủ tuân giữ nhân đức và giá trị sự khiết trinh, trong khi đó người ta không đòi hỏi gì ở người con trai, làm như là con trai được phép tất cả.
Lời khuyến dụ của thánh Phaolô cho giáo đoàn Philípphê vẫn luôn có giá trị đối với lương tâm kitô giáo và với quan niệm về hôn nhân và gia đình với bất cứ ơn gọi nào: “Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý” (Pl 4, 8).
VII. PHƯƠNG HƯỚNG THỰC HÀNH:
112. Trong bối cảnh của nền giáo dục đạo đức, cha mẹ có nhiệm vụ (làm những người) đề xướng một nền giáo dục đích thực về tình yêu cho con cái họ. Sau sự sinh sản lần thứ nhất một sự sống con người trong hành động sinh nở, phải tiếp tục sự sinh sản lần thứ hai là sự sinh sản mà qua đó cha mẹ giúp đứa con mình phát triển nhân cách của nó.
Để tổng hợp những gì đã được nói cho tới nay và đặt trên bình diện thực hành, những gì tiếp theo sau đây được đề ra như là những lời khuyến dẫn[140].
Những khuyến dẫn cho bậc làm cha mẹ và những nhà giáo dục
113. Những người làm cha mẹ được khuyến dẫn phải ý thức vai trò giáo dục của mình, phải bảo vệ, thi hành quyền đầu tiên và bổn phận đó[141]. Do đó, mọi hoạt động giáo dục, có liên quan đến giáo dục tình yêu và được thực hiện bởi những người ngoài gia đình bắt buộc phải có sự thỏa thuận của cha mẹ và không được xem như một việc thay thế nhưng như một sự hỗ trợ cho vai trò của họ. Thật vậy, “giáo dục giới tính – là quyền và bổn phận căn bản của cha mẹ – luôn phải được thực hiện dưới sự chỉ đạo chăm chú của họ, cả trong nhà lẫn trong những trung tâm giáo dục do họ lựa chọn và giám sát”[142]. Cha mẹ thường không thiếu ý thức về vai trò của họ cũng như không thiếu cố gắng trong chiều hướng đó, nhưng họ quá đơn độc, không được bảo vệ và thường bị quy trách. Họ không những cần được thông cảm nhưng còn cần được nâng đỡ và trợ giúp trừ phía những nhóm, những hiệp hội và những thể chế có liên quan.
1. Những khuyến dẫn cho cha mẹ
114. 1. Những người làm cha mẹ được khuyến khích liên kết với những cha mẹ khác, không chỉ để bảo vệ, duy trì và hoàn tất bổn phận đặc thù của họ với danh nghĩa những nhà giáo dục đầu tiên của con cái họ, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục tình yêu[143], nhưng còn để chống lại những hình thức giáo dục giới tính có tính cách xúc phạm và để đảm bảo cho con cái họ được giáo dục theo những nguyên tắc Kitô giáo tương xứng với sự phát triển cá nhân của chúng.
115. 2. Trong trường hợp cha mẹ được những người khác giúp đỡ trong việc giáo dục về tình yêu cho con cái mình, họ được khuyến dẫn ở trong tư thế được thông tin chính xác về những nội dung và thể thức mà việc giáo dục bổ sung này được đưa ra[144]. Không ai có quyền bắt ép trẻ em và thanh niên giữ bí mật về những gì liên quan đến nội dung và phương pháp dạy dỗ tiến hành ngoài gia đình.
116. 3. Ở đây người ta nhận thấy rằng phụ huynh gặp khó khăn và thường không thể tham dự trọn vẹn mọi việc dạy dỗ bổ sung ở ngoài gia đình. Nhưng họ có quyền được thông tin về cấu trúc và nội dung của chương trình giáo dục. Trong mọi trường hợp, người ta không thể phủ nhận quyền họ được có mặt trong giờ dạy[145].
117. 4. Cha mẹ được khuyến dẫn chú ý theo dõi mọi hình thức giáo dục giới tính cho con cái họ ngoài gia đình, rút chúng về mỗi khi việc giáo dục này không phù hợp với những nguyên tắc đặc thù của họ[146]. Nhưng quyết định này của cha mẹ không được trở nên lý do kỳ thị con cái họ[147]. Đàng khác những cha mẹ nào rút con cái họ khỏi việc dạy dỗ này thì có bổn phận cho chúng một sự đào tạo thích đáng, hợp với giai đoạn phát triển của mỗi đứa trẻ hay thanh thiếu niên.
2. Những khuyến dẫn cho tất cả các nhà giáo dục
118. 1. Xét rằng mọi trẻ em hay thanh thiếu niên đều phải được sống bản năng giới tính của mình cách thích hợp với những nguyên tắc Kitô giáo, và thực hành đức khiết tịnh, không một nhà giáo dục nào – và thậm chí không cha mẹ nào – được phép can thiệp vào quyền này (Xem Mt 18, 4-7)[148].
119. 2. Cần phải tôn trọng quyền của trẻ em hay thanh thiếu niên được cha mẹ thông tin thích đáng về những vấn đề luân lý và giới tính sao cho chúng dễ dàng có ước muốn sống khiết tịnh và được huấn luyện về đức khiết tịnh[149].
Quyền này được cụ thể hóa bằng cách xét đến sự trưởng thành của đứa con, đến khả năng hội nhập chân lý đạo đức với những thông tin về giới tính mà nó nhận được, và đến sự tôn trọng đối với sự ngây thơ và thanh thản của nó.
120. 3. Cần phải tôn trọng quyền của đứa trẻ hay người thanh thiếu niên được rút ra khỏi mọi hình thức giáo dục giới tính ngoài gia đình[150]. Chính nó hay những thành viên của gia đình nó không thể bị phạt hay chuốc lấy một hình thức kỳ thị nào theo sau một quyết định như thế.
Bốn nguyên tắc thực tiễn và những chuẩn mực đặc biệt của chúng
121. Dưới ánh sáng của những khuyến dẫn này, việc giáo dục về tình yêu có thể được cụ thể hóa theo bốn nguyên tắc thực tiễn.
122. 1. Bản năng giới tính của con người là một mầu nhiệm linh thánh phải được trình bày theo giáo huấn tín lý và luân lý của Giáo Hội, luôn có tính đến những hậu quả của tội nguyên tổ.
Dựa trên thái độ tôn trọng đối với giới tính và tính thực tế của Kitô giáo trước thân phận mỏng manh yếu đuối của con người, nguyên tắc giáo lý này phải hướng dẫn việc giáo dục tình yêu vào mọi lúc. Ở một thời đại mà Mầu nhiệm bị tách khỏi vấn đề giới tính của con người, cha mẹ phải chú ý sao cho trong khi giáo dục cũng như trong khi được người khác hỗ trợ giáo dục con cái mình, để không tầm thường hóa bản năng giới tính của con người. Người ta phải đặc biệt hết sức tôn trọng sự khác biệt giữa người nam và người nữ, vốn là sự phản ánh tình yêu và sự phong phú của chính Thiên Chúa.
123. Đồng thời, trong khi dạy giáo lý và luân lý kitô giáo về (bản năng) giới tính, người ta phải kể đến những hậu quả dai dẳng của tội nguyên tổ, tức là sự yếu hèn của con người và nhu cầu cần đến ân sủng Thiên Chúa có thể để vượt lên những cám dỗ và tránh khỏi tội lỗi. Về vấn đề này, phải đào tạo lương tâm của mỗi cá nhân cách rõ ràng, chính xác và hòa hợp với những giátrị tinh thần. Thế nhưng luân lý Công Giáo không giới hạn trong việc dạy tránh tội; nó còn bàn đến sự thăng tiến những nhân đức kitô giáo và sự phát triển khả năng tự hiến thân trong ơn gọi đặc thù của đời mình.
124. 2. Chỉ được trình bày cho trẻ em và thanh thiếu niên những thông tin tương xứng với giai đoạn phát triển cá nhân đặc thù của chúng.
Nguyên tắc về thời điểm thích hợp này đã được trình bày trước đây trong khi nghiên cứu những giai đoạn phát triển khác nhau của trẻ em và thanh thiếu niên. Cha mẹ và tất cả những ai giúp họ phải nhậy cảm: a/ Đối với những thời kỳ phát triển khác nhau, đặc biệt đối với “những năm tuổi ngây thơ” và đối với tuổi dậy thì.
b/ Đối với cách thức mà mỗi trẻ em và thanh thiếu niên kinh nghiệm qua các giai đoạn khác nhau của đời sống. c/ Đối với những vấn đề đặc biệt liên hệ đến những giai đoạn ấy.
125. Nguyên tắc về thời điểm thích hợp này hướng dẫn cách cư xử phải có trước một số vấn đề chuyên biệt:
a- Vào cuối tuổi thiếu niên, những người trẻ phải được khai tâm trước tiên để hiểu biết về những dấu hiệu của khả năng sinh sản rồi đến sự hiểu biết về sự điều hòa sinh sản tự nhiên, nhưng chỉ trong bối cảnh của giáo dục tình yêu, của sự trung thành trong hôn nhân, của kế hoạch của Thiên Chúa vì sự sinh đẻ và vì sự tôn trọng sự sống con người.
b- Vấn đề đồng tính luyến ái sẽ không được bàn đến trước tuổi thiếu niên, trừ khi có nẩy sinh một vấn đề chuyên biệt nghiêm trọng nào đó trong một tình huống đặc biệt[151]. Đề tài này sẽ chỉ được trình bày trong tương quan với đức khiết tịnh, với sức khỏe và với “sự thật về giới tính con người trong quan hệ của nó với đời sống gia đình, theo như Giáo Hội dạy”[152].
c- Những sự loạn dâm, vốn tương đối hiếm, sẽ chỉ được đề cập đến qua những lời khuyên cá nhân mà cha mẹ đưa ra như câu trả lời trước những vấn đề có thật.
126. 3. Không được trình bày một chất liệu có bản chất khiêu dâm nào cho trẻ em và thanh thiếu niên bất cứ ở tuổi nào, dù riêng với cá nhân hay chung cho nhóm. Nguyên tắc về sự đoan chính này phải bảo vệ đức khiết tịnh kitô giáo. Vậy trong khi truyền đạt thông tin về giới tính trong bối cảnh của giáo dục tình yêu, phải luôn luôn chỉ dạy cách “tích cực và khôn ngoan”[153], “rõ ràng và tế nhị”[154]. Bốn tính từ này, được Giáo Hội Công Giáo sử dụng loại trừ hết mọi dạng nội dung giáo dục giới tính không thể chấp nhận được[155].
Mặt khác, những minh họa bằng đồ thị và có tính thực tiễn về sự mang thai, chẳng hạn như trong một cuốn phim, dù không khiêu dâm cũng phải được trình bày dần từng bước để không gây ra sợ hãi và những thái độ tiêu cực đối với việc sinh đẻ nơi các thiếu nữ và thiếu phụ.
127. 4. Không được mời ai, và càng không được bắt buộc ai làm một hành động nào khách quan xúc phạm đến sự đoan chính hoặc chủ quan làm thương tổn sự tế nhị cá nhân hay ý nghĩa đời tư.
Nguyên tắc về sự kính trọng con trẻ này loại trừ mọi hình thức không thích hợp liên lụy đến trẻ em và thanh niên. Về phương diện này người ta có thể kể đến, giữa bao nhiêu cái khác, những phương pháp lạm dụng trong giáo dục giới tính sau đây : a/ mọi miêu tả “được diễn” hay “được nhại bằng điệu bộ” và mọi “lối diễn kịch ” xoay quanh những vấn đề sinh dục hay khiêu dâm, b/ sự thực hiện bằng hình ảnh, bằng pa-nô, bằng mô hình,…, những gì thuộc loại đó, c) sự đòi hỏi những chỉ dẫn thuộc phạm vi cá nhân liên quan đến các vấn đề tính dục[156] hoặc sự đòi hỏi phổ biến những thông tin gia đình thuộc loại hình đó, d) những bài kiểm tra miệng hay viết ra, đề cập đến những vấn đề sinh dục hoặc khiêu dâm.
Những phương pháp đặc biệt
- Cha mẹ và những người giúp đỡ họ phải nhớ luôn những nguyên tắc và những chuẩn mực đó khi đem áp dụng những phương pháp khác nhau xem ra là thích đáng theo kinh nghiệm của cha mẹ và những người chuyên môn. Bây giờ chúng tôi sẽ chỉ ra những phương pháp nào được khuyến khích và cả những phương pháp chính yếu nào phải tránh, bằng cách liên kết chúng với tư tưởng khuyến khích hay gợi ý cho chúng.
a/ Những phương pháp được khuyến khích
129. Phương pháp thông thường và cơ bản đã được đề xuất trên đây là phương pháp đối thoại liên vị, giữa cha mẹ với con cái, tức là sự đào tạo cá nhân trong khuôn khổ gia đình. Thực ra, không gì có thể thay thế việc đối thoại với chính con cái của mình, đối thoại một cách tin tưởng và cởi mở, vốn không chỉ tôn trọng những giai đoạn phát triển của chúng mà còn tôn trọng chính những người trẻ như những cá vị. Thế nhưng, khi cha mẹ yêu cầu những người khác giúp đỡ, thì có những phương pháp hữu ích khác nhau có thể được khuyến khích dưới ánh sáng kinh nghiệm của cha mẹ và phù hợp với sự khôn ngoan Kitô giáo.
130. 1. Cả đôi vợ chồng hoặc riêng từng người, cha mẹ có thể gặp gỡ những cha mẹ khác đã được chuẩn bị cho việc giáo dục tình yêu, để học hỏi kinh nghiệm và hiểu biết của họ. Những người này có thể cung cấp những lời giải thích và giới thiệu cho cha mẹ những quyển sách và các phương tiện khác đã được giáo quyền phê chuẩn.
131. 2. Nhưng cha mẹ nào không luôn sẵn sàng đương đầu với cách đặt vấn đề về giáo dục tình yêu có thể cùng với con cái mình tham dự những cuộc hội họp do những người chuyên môn và đáng tin cậy hướng dẫn, chẳng hạn như các bác sĩ, linh mục, nhà giáo dục. Để có thể tự do phát biểu rộng rãi hơn, trong một số trường hợp nhất định, xem như tốt hơn là nên tổ chức những cuộc họp chỉ với con gái hoặc chỉ với con trai thôi.
132. 3. Trong một số tình huống, cha mẹ có thể giao một phần việc giáo dục tình yêu cho một người tin cậy khác, nếu xảy ra những vấn đề đòi hỏi một sự thông thạo chuyên biệt hoặc một sự chăm sóc mục vụ cho những trường hợp đặc biệt.
133. 4. Huấn giáo về mặt luân lý sẽ có thể được người tin cậy khác cáng đáng, với một sự quan tâm đặc biệt dành cho luân lý về giới tính trong tuổi dậy thì và tuổi thiếu niên. Cha mẹ phải quan tâm đến huấn giáo về mặt luân lý mà con cái họ nhận được ở ngoài gia đình và sử dụng huấn giáo đó như sự hỗ trợ cho công việc giáo dục của họ; huấn giáo này không được đề cập đến những khía cạnh sâu kín hơn, về mặt sinh học hoặc cảm xúc, của thông tin giới tính, vốn thuộc về sự đào tạo cá nhân trong gia đình[157].
134. 5. Việc đào tạo chính những người cha mẹ về mặt tôn giáo, đặc biệt là sự chuẩn bị vững chắc về mặt huấn giáo cho người trưởng thành về sự thật trong tình yêu, sẽ xây dựng những nền móng đức Tin chín chắn có thể hướng dẫn họ trong việc huấn luyện con cái họ[158]. Một nền huấn giáo cho người trưởng thành như thế cho phép không chỉ đào sâu sự hiểu biết về cộng đồng tình yêu và sự sống trong hôn nhân, nhưng cũng còn học cách thức trao đổi tốt hơn với con cái mình. Hơn nữa, trong chính quá trình huấn luyện con cái về tình yêu, cha mẹ sẽ tìm thấy ở đó một ích lợi lớn lao, bởi vì họ sẽ phát hiện ra rằng sứ vụ tình yêu này sẽ giúp họ “ý thức mãnh liệt về ‘ân huệ’ mà họ không ngừng nhận từ con cái họ”[159]. Để làm cho cha mẹ có khả năng hoàn thành sự nghiệp giáo dục của họ, người ta có thể tiến hành những khóa đào tạo đặc biệt với sự hợp tác của những người chuyên môn.
b/ Những phương pháp và hệ tư tưởng phải tránh
135. Ngày nay, các bậc cha mẹ phải chú ý tới cách thức mà những phương pháp khác nhau, do những nhóm có lập trường và lợi ích trái với luân lý Kitô giáo[160] tiến hành, có thể truyền đạt cho con cái họ một nền giáo dục vô luân. Ở đây không thể chỉ rõ tất cả những phương pháp không thể chấp nhận; người ta đành trình bày một số loại hình được phổ biến nhất đe dọa các quyền của cha mẹ và đời sống luân lý của con cái họ.
136. Trước tiên, cha mẹ phải chống lại việc giáo dục giới tính thế tục hóa và phản sinh sản đặt Thiên Chúa ra ngoài lề cuộc sống và coi việc sinh ra một đứa con như là một đe dọa. Việc giáo dục này được phổ biến bởi những tổ chức lớn và những hiệp hội quốc tế, khuyến khích việc phá thai, triệt sản và ngừa thai. Những tổ chức này muốn áp đặt một phong cách sống sai lạc, trái với chân lý về bản năng giới tính con người. Tiến hành ở quy mô quốc gia hoặc cấp tỉnh thành, những tổ chức này tìm cách khơi nên nơi trẻ em và thanh thiếu niên nỗi lo sợ nạn “nhân mãn”, để cổ xúy cho não trạng chống thụ thai, nghĩa là não trạng “chống sự sống”. Họ phổ biến những khái niệm sai lạc về “sức khỏe sinh sản” và “quyền về tình dục và sinh sản của giới trẻ”[161].
Ngoài ra, một số tổ chức chống sinh đẻ ủng hộ những dưỡng đường, xúc phạm quyền của cha mẹ, để mời mọc giới trẻ phá thai và ngừa thai, khuyến khích sự chung chạ nam nữ và do đó càng làm tăng số thiếu nữ có thai. “Nhìn về năm 2000, làm sao không nghĩ đến giới trẻ? Người ta đề xuất với họ những gì? Một xã hội của “những đồ vật” chứ không phải một xã hội của những “con người”. Quyền được tự do làm tất cả ngay từ khi tuổi họ còn rất trẻ, nhưng với mức “an toàn” cao nhất có được. Sự hiến thân vô vị lợi, sự chế ngự các bản năng, ý thức trách nhiệm là bấy nhiêu khái niệm mà người ta coi như thuộc về một thời đại khác”[162].
137. Tính chất vô luân của việc phá thai, bằng phương pháp giải phẫu hoặc dược lý, có thể được giải thích từng bước cho trẻ em trước tuổi thiếu niên, bằng những lời lẽ của luân lý công giáo và sự tôn trọng đối với sự sống con người[163].
Về những gì liên quan đến việc vô sinh và ngừa thai, người ta không nên đề cập đến trước tuổi thiếu niên, và sẽ chỉ đề cập đến đúng theo giáo huấn của luân lý công giáo[164]. Bấy giờ người ta sẽ phải nhấn mạnh những giá trị luân lý, thiêng liêng và thể lý của những phương pháp điều hòa sinh sản tự nhiên, đồng thời chỉ rõ những nguy hại và những vấn đề đạo đức học gắn liền với những phương pháp nhân tạo. Đặc biệt người ta phải cho thấy sự khác biệt về bản chất và chiều sâu giữa những phương pháp tự nhiên và phương pháp nhân tạo, hoặc trong những gì liên quan đến sự tôn trọng kế hoạch về hôn nhân của Thiên Chúa, hoặc trong những gì liên quan đến việc thể hiện sự “hiến trao lẫn cho nhau của vợ chồng” [165] và sự mở ra cho sự sống.
138. Trong một số xã hội có những hiệp hội chuyên nghiệp của những nhà giáo dục, tư vấn và trị liệu về giới tính. Do công việc của họ thường dựa trên những lý thuyết sai lạc, thiếu giá trị khoa học, không thấm sâu vào một khoa nhân loại học đích thực nào, không thừa nhận giá trị của sự khiết tịnh, nên cha mẹ phải rất thận trọng đối với những nhóm như thế, bất kể là họ được công nhận chính thức cách nào đó. Tư cách hành động của họ và cả từ những tài liệu xuất bản của họ thường được rộng rãi phổ biến ở một số nước, người ta dễ nhận ra cách thức họ tiếp cận vấn đề giới tính không phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội.
139. Người ta còn gặp thấy một kiểu lạm dụng khác trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em bằng cách dạy cho chúng, kể cả bằng phương pháp đồ thị, mọi chi tiết thân mật của hành vi quan hệ tính dục. Ngày nay điều này thường xảy ra khi người ta nại ra sự cần thiết phải giáo dục những thanh niên tương lai về “tình dục an toàn” hoặc ” tình dục an toàn hơn”, xuất phát từ một chính sách nguy hại và vô luân, dựa trên ảo tưởng rằng bao cao su đem lại sự bảo vệ thích đáng chống bệnh SIDA. Cha mẹ phải nhấn mạnh rằn ngày nay chỉ có một nền giáo dục duy nhất đích thực và chắc chắn cho con cái để phòng ngừa sự lây lan, đó là một sự giáo dục biết tiết dục ngoài hôn nhân và trung thành trong hôn nhân.
140. Một phương pháp khác rất ưa được sử dụng, nhưng có thể nguy hiểm, đó là phương pháp gọi là “làm sáng tỏ các giá trị”. Trong phương pháp này, giới trẻ được mời gọi suy nghĩ, phân biệt và quyết định về các vấn đề luân lý với “sự tự chủ” lớn nhất, mà không quan tâm đến thực tại khách quan của Lề luật luân lý nói chung và đồng thời không chú ý đến việc huấn luyện lương tâm về những giới luật luân lý Kitô giáo được Huấn quyền của Giáo Hội khẳng định[166]. Người ta cung cấp cho giới trẻ tư tưởng rằng một bộ luật luân lý là cái gì chính họ có thể tạo ra, như con người là cội nguồn và chuẩn mực của luân lý.
Phương pháp làm sáng tỏ các giá trị thực ra trói buộc sự tự do đích thực và sự tự chủ của giới trẻ trong khi họ đang rơi vào tình trạng lưỡng lự về mặt tâm lý[167]. Trong thực tiễn, làm như thế người ta không chỉ ưu đãi ý kiến của đa số, nhưng người ta còn đặt giới trẻ đối mặt với những tình huống luân lý phức tạp, ít có liên quan đến những lựa chọn luân lý mà chúng phải giải quyết trong cuộc sống hàng ngày, là những lựa chọn trong đó cái tốt và cái xấu dễ được nhận ra. Phương pháp không thể chấp nhận này có khuynh hướng liên kết chặt chẽ với thuyết tương đối luân lý, cổ vũ một sự dửng dưng đối với Lề luật luân lý và cổ vũ thuyết cho rộng phép(permissivisme).
141. Cha mẹ cũng phải chú ý đến cách thức mà việc giáo dục giới tính được lồng vào bối cảnh những bộ môn hữu ích khác (chẳng hạn: sức khỏe và vệ sinh, sự phát triển nhân cách, đời sống gia đình, văn học cho trẻ em, những nghiên cứu xã hội và văn hoá…). trong những trường hợp này, khó kiểm soát nội dung giáo dục giới tính hơn. Phương pháp lồng vào này được đặc biệt sử dụng bởi những người ca tụng giáo dục giới tính trong khuôn khổ những chính sách kiểm soát sinh đẻ, chẳng hạn trong những nước mà chính phủ không tôn trọng quyền của cha mẹ về vấn đề sinh đẻ. Chính nền huấn giáo có thể bị xoay chuyển theo một hướng như thế, nếu như người ta sử dụng những mối liên hệ bất khả phân ly giữa tôn giáo và luân lý như lý do để đưa vào trong việc dạy giáo lý những thông tin về giới tính, cả về mặt sinh học lẫn về mặt tình cảm, vốn thuộc quyền cha mẹ ở nhà[168], theo sự quyết định khôn ngoan của họ.
142. Cuối cùng, nên luôn nhớ, như một nguyên tắc định hướng tổng quát, rằng tất cả các phương pháp giáo dục giới tính khác nhau phải được những người làm cha mẹ đánh giá dưới ánh sáng của những nguyên tắc và chuẩn mực của Giáo Hội, vốn biểu thị những giá trị nhân bản của đời sống hàng ngày[169]. Trong việc đánh giá này, cũng phải kể đến tác động tiêu cực mà một số phương pháp có thể có trên nhân cách của trẻ em và thanh thiếu niên.
Hội nhập văn hoá và giáo dục tình yêu
143. Một nền giáo dục tình yêu đích thực phải xét đến bối cảnh văn hoá trong đó cha mẹ và con cái đang sống. Là nơi đức tin được tuyên xưng và đời sống cụ thể kết hợp với nhau, việc hội nhập văn hoá hoà hợp đức tin và văn hoá, phải tuyệt đối đặt Chúa Kitô và Tin mừng của Ngài ưu tiên trên văn hoá. “Bởi vì nó vượt lên trên mọi trật tự tự nhiên và văn hoá, đức tin Kitô giáo, một đằng tương hợp với tất cả các nền văn hoá trong những gì chúng phù hợp với lý trí và thiện ý, và đàng khác, tự thân nó là một nhân tố kích hoạt của nền văn hoá ở mức tuyệt vời. Một nguyên tắc soi sáng toàn bộ những mối quan hệ giữa đức tin và văn hoá đó là: ân sủng tôn trọng tự nhiên, chữa lành cho nó những vết thương tội lỗi, củng cố và nâng nó lên cao. Nâng lên tới đời sống Thiên Chúa là cứu cánh đặc thù của ân sủng, nhưng nó không thực hiện được nếu tự nhiên không được chữa lành và việc nâng lên tới trật tự siêu nhiên bằng cách thức riêng của nó không dẫn đưa tự nhiên tới sự hoàn hảo viên mãn[170]. Vậy không bao giờ người ta có thể nhân danh một nền văn hoá thế tục giữ ưu thế để biện minh cho việc giáo dục giới tính cho trẻ em một cách vô liêm sỉ và quá sớm. Quả thực cha mẹ phải giáo dục con cái biết phân tích, hiểu và đương đầu với uy lực của nền văn hoá đó, để có thể luôn bước theo con đường của Chúa Kitô.
144. Trong những nền văn hoá truyền thống, cha mẹ không được chấp nhận những thực hành trái với luân lý Kitô giáo, chẳng hạn trong những nghi thức liên hệ đến tuổi dậy thì, khi chúng dẫn đưa những người trẻ vào các thực hành tính dục hoặc chúng xúc phạm tới sự nguyên vẹn bản thân và phẩm giá con người, như việc cắt xẻo bộ phận sinh dục của các thiếu nữ. Việc thẩm định những tục lệ địa phương có thích hợp với luân lý Kitô giáo hay không là điều thuộc thẩm quyền Giáo Hội. Trái lại, những truyền thống về đức hạnh đoan trang và sự giữ gìn ý tứ trong vấn đề tính dục, vốn là đặc trưng của một số xã hội, phải được tôn trọng khắp nơi. Đồng thời, quyền của giới trẻ có được một thông tin thích đáng phải được bảo vệ. Hơn nữa người ta phải tôn trọng vai trò đặc biệt của gia đình trong các nền văn hoá địa phương[171], mà không tìm cách áp đặt một mô hình giáo dục giới tính Tây phương.
VIII. KẾT LUẬN.
HỖ TRỢ NHỮNG NGƯỜI LÀM CHA MẸ.
145. có nhiều cách khác nhau để hỗ trợ và nâng đỡ những người làm cha mẹ trong việc hoàn thành quyền – bổn phận căn bản giáo dục con cái họ về tình yêu. Một sự giúp đỡ như thế, trong bất cứ trường hợp nào, không có nghĩa là cất đi của cha mẹ quyền – bổn phận đào tạo của họ hoặc giảm thiểu nó, bởi vì quyền – bổn phận này vẫn là “độc đáo và hàng đầu” “không thể thay thế và không thể chuyển nhượng”[172]. Vai trò có thể có của những người khác khi giúp đỡ những người cha mẹ luôn luôn là (a) bổ trợ, bởi vì vai trò huấn luyện của cộng đồng gia đình là luôn luôn ưu tiên hơn, và (b) phụ thuộc, tức là phải chịu sự hướng dẫn ân cần và sự kiểm soát của cha mẹ. Mỗi người phải tuân thủ sự trật tự chính đáng của sự hợp tác và cộng tác giữa các phụ huynh và những ai có thể giúp đỡ họ trong nhiệm vụ của họ. Rõ ràng là sự giúp đỡ của những người khác phải trước tiên và trước hết được dành cho cha mẹ hơn là cho con cái.
146. Những người được mời gọi giúp đỡ cha mẹ trong việc giáo dục con cái họ về tình yêu thì phải sẵn sàng và được chuẩn bị để dậy đúng theo giáo thuyết luân lý đích thực của Giáo Hội Công giáo. Hơn nữa, họ còn phải là những người chín chắn, có tiếng là đạo đức tốt, trung thành với bậc sống kitô hữu của mình, đã kết hôn hay độc thân, giáo dân, tu sĩ hay linh mục. Không những họ phải được chuẩn bị về những chi tiết liên quan đến thông tin luân lý và giới tính, nhưng còn phải nhạy cảm trước vai trò của cha mẹ và gia đình, cũng như trước những nhu cầu và vấn đề của trẻ em và thanh thiếu niên[173]. Như thế, dưới ánh sáng của những nguyên tắc và nội dung tài liệu chỉ nam này, họ phải tự đặt mình “trong thần khí thúc đẩy những người làm cha mẹ”[174]. Nhưng nếu cha mẹ nghĩ rằng mình có khả năng đảm nhận việc giáo dục tình yêu cách thích đáng, họ nên nghĩ rằng mình không buộc phải nhờ đến một sự giúp đỡ nào khác.
Nguồn tài liệu hợp thức cho việc giáo dục tình yêu.
147. Hội đồng Giáo Hoàng về gia đình ý thức được nhu cầu lớn cần có các tài liệu hợp thức, được đặc biệt chuẩn bị cho các bậc cha mẹ đúng theo những nguyên tắc minh họa trong tập hướng dẫn này. Những bậc cha mẹ nào tinh thông trong lãnh vực này và xác tín về sự xác đáng của những nguyên tắc chỉ ra trên đây phải cố gắng chuẩn bị đóng góp chất liệu phần của mình. Như vậy họ sẽ có thể đóng góp kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình để giúp những người khác giáo dục con cái về đức khiết tịnh. Cha mẹ cũng sẽ đón nhận sự hỗ trợ và giám sát thích hợp của giáo quyền trong việc xúc tiến một công cụ thích đáng và trong việc loại bỏ hay hiệu chính chất liệu nào không phù hợp với những nguyên tắc trình bày trong tài liệu chỉ nam này, về những gì liên quan đến giáo thuyết, đến thời điểm thích hợp, đến nội dung và phương pháp của một công việc giáo dục như thế[175]. Những nguyên tắc này cũng áp dụng cho tất cả những phương tiện truyền thông xã hội hiện đại. Hội đồng Giáo Hoàng này cũng đặc biệt tin tưởng việc làm của các hội nghị giám mục nhằm gây ý thức và nâng đỡ những người làm cha mẹ. Nếu cần thiết, các hội nghị giám mục có thể đòi lại quyền của gia đình và của những bậc cha mẹ cũng như quyền được tôn trọng đối với lĩnh vực đặc thù của họ và ngay cả điều đó khi đối mặt với những chương trình giáo dục của nhà nước.
Liên đới những người làm cha mẹ
148. Các bậc cha mẹ phải được hưởng sự giúp đỡ và sự hợp tác của những thành phần khác trong Giáo Hội để hoàn thành sứ vụ tình yêu của họ đối với con cái họ. Các quyền của cha mẹ phải được công nhận, bảo vệ và duy trì không chỉ để bảo đảm việc đào tạo cách vững chắc trẻ con và thanh thiếu niên nhưng còn để đảm bảo trật tự chính đáng của sự hợp tác và cộng tác giữa những bậc cha mẹ với những người có thể giúp đỡ họ trong nhiệm vụ này của họ. Cũng thế, trong các họ đạo và các hình thức tông đồ khác nhau, các giáo sĩ và tu sĩ phải nâng đỡ và cổ vũ những bậc cha mẹ trong nỗ lực huấn luyện con cái họ. Phần mình, các bậc cha mẹ phải nhớ rằng gia đình không là cộng đồng đào tạo duy nhất và độc quyền. Vậy họ phải duy trì một mối quan hệ thân tình và tích cực với những người khác có thể giúp họ, mà cũng không bao giờ quên những quyền bất khả chuyển nhượng của họ.
Hy vọng và tin cậy
149. Trước vô số thách thức đặt ra cho đức khiết tịnh kitô giáo, những ân huệ của tự nhiên và của ân sủng mà những bậc cha mẹ được hưởng vẫn mãi là những nền tảng vững chắc trên đó Giáo Hội đào tạo con cái mình. Một phần lớn việc đào tạo nơi gia đình được thực hiện cách gián tiếp, tiềm ẩn trong một bầu khí ân cần và âu yếm bởi lẽ nó phát xuất từ sự hiện diện và gương mẫu của cha mẹ với tình yêu thanh khiết và độ lượng. Nếu người ta tin tưởng ở những bậc cha mẹ trong lãnh vực giáo dục tình yêu, họ sẽ phấn chấn vượt qua những thách thức và những vấn đề của thời đại chúng ta bằng sứ vụ tình yêu đặc thù của họ.
150. Vậy Hội Đồng Giáo Hoàng đặc trách về gia đình cổ vũ những người làm cha mẹ để, một khi ý thức mình được ơn của Chúa nâng đỡ, họ xác tín vào những quyền và bổn phận liên quan đến việc giáo dục con cái, để họ thi hành những quyền và bổn phận này một cách khôn ngoan và với đầy đủ nhận thức. Ước gì trong nhiệm vụ cao quý này, những bậc cha mẹ luôn luôn đặt niềm tin cậy nơi Thiên Chúa, bằng cách nguyện cầu Chúa Thánh Linh, Đấng An ủi (Paraclet), Đấng hay ban mọi điều tốt lành. Ước gì họ kêu xin sự cầu bầu đầy quyền thế và sự phù hộ của Đức Maria vô nhiễm, Thánh Nữ Đồng Trinh, mẹ của tình yêu cao đẹp và kiểu mẫu của sự thanh khiết, trung thành. Ước gì họ cũng khẩn cầu Thánh Giuse, người bạn đời công chính và thánh thiện của Đức Mẹ, và noi theo gương trung thành và thanh khiết trong tâm hồn của Ngài[176]. Ước gì những bậc cha mẹ luôn luôn tin cậy ở tình yêu mà họ có thể dành cho con cái họ, một tình yêu “xua đi mọi sợ hãi”, “dung thứ tất cả, tin tất cả, hy vọng tất cả, gánh chịu tất cả” (1Co 13, 7). Một tình yêu như thế được và phải được hướng đến vĩnh cửu, đến hạnh phúc muôn đời mà Chúa Giêsu Kitô đã hứa cho những ai bước theo Ngài: “Phúc thật những tâm hồn trong trắng, họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa.” (Mt 5, 8).
Điện Vatican, ngày 08 tháng 12 năm 1995
Alfonso López Trujillo
Nội Dung
DẪN NHẬP……………………………………………………………………………
Hoàn cảnh và vấn đề…………………………………………………………….
- ĐƯỢC MỜI GỌI ĐẾN TÌNH YÊU THỰC……………………………..
Tình yêu với danh nghĩa hiến thân………………………………………
Tình yêu và bản năng giới tính của con người………………………..
Tình yêu vợ chồng…………………………………………………………..
Tình yêu mở ra cho sự sống……………………………………………….
- TÌNH YÊU THỰC VÀ SỰ KHIẾT TỊNH……………………………….
Sự khiết tịnh với danh nghĩa hiến thân………………………………….
Sự làm chủ mình……………………………………………………………..
Đức khiết tịnh của vợ chồng………………………………………………
Giáo dục đức khiết tịnh…………………………………………………….
III. TRƯỚC VIỄN CẢNH CỦA ƠN GỌI…………………………………..
- Ơn gọi đến hôn nhân…………………………………………………….
Được gọi đến tình yêu chồng vợ……………………………………..
Những người làm cha mẹ phải đương đầu với
một mối lo lắng hiện tại…………………………………………………
- Ơn gọi đến đức đồng trinh
và nếp sống độc thân…………………………………………………..
Cha mẹ và những Ơn gọi tư tế và tu trì……………………………..
- CHA VÀ MẸ VỚI TƯ CÁCH NHỮNG NHÀ GIÁO DỤC……………………..
Quyền và bổn phận của cha mẹ…………………………………………..
Ý nghĩa những bổn phận của cha mẹ……………………………………
- HÀNH TRÌNH ĐÀO TẠO GIỮA LÒNG GIA ĐÌNH…………………
Giá trị chủ yếu của tổ ấm gia đình……………………………………….
Đào tạo cộng đồng sự sống và tình yêu…………………………………
Tiết hạnh và đoan trang…………………………………………………….
Sự mật thiết chính đáng…………………………………………………….
Sự tự chủ……………………………………………………………………….
Cha mẹ như những kiểu mẫu cho con cái………………………………
Một ngôi đền của sự Sống và niềm Tin…………………………………
- NHỮNG GIAI ĐOẠN TRONG SỰ NHẬN THỨC……………………………..
Bốn nguyên tắc về thông tin trong vấn đề giới tính………………………..
Những giai đoạn phát triển chính của đứa con………………………..
- Những năm của tuổi ngây thơ………………………………………
- Tuổi dậy thì…………………………………………………………….
- Tuổi thiếu niên trong chương trình sống…………………………
- Hướng về tuổi trưởng thành………………………………………..
VII. PHƯƠNG HƯỚNG THỰC HÀNH……………………………………
Những khuyến dẫn cho bậc làm cha mẹ
và những nhà giáo dục………………………………………………………
- Những khuyến dẫn cho cha mẹ…………………………………….
- Những khuyến dẫn
cho tất cả các nhà giáo dục…………………………………………
Bốn nguyên tắc thực tiễn và
những chuẩn mực đặc biệt của chúng……………………………….
Những phương pháp đặc biệt……………………………………………….
a/ Những phương pháp được khuyến khích………………………..
b/ Những phương pháp
và hệ tư tưởng phải tránh…………………………………………
Hội nhập văn hoá và giáo dục tình yêu…………………………………
VIII. KẾT LUẬN……………………………………………………………….
HỖ TRỢ NHỮNG NGƯỜI LÀM CHA MẸ………………………..
Nguồn tài liệu hợp thức cho việc giáo dục tình yêu……………………….
Liên đới những người làm cha mẹ……………………………………………
Hy vọng và tin cậy………………………………………………………….







