VietCatholic News. 26/11/2000

1. Để cho Thánh Khí hướng dẫn
2. Cầu nguyện và chiêm ngưỡng
     3. Tinh thần nhiệt thành và phục vụ
   4. Hiệp thông sâu xa với Đức Kitô
         5. Sống mầu nhiệm thập giá Đức Kitô

Lạy Đức Maria Rất Thánh,
Nữ Tử của Thiên Chúa Tối Cao,
Mẹ Đồng Trinh của Đấng Cứu Thế
và Mẹ của tất cả chúng con
xin Mẹ âu yếm nhìn đến Giáo Hội của Con Mẹ
được gieo trồng trên mảnh đất Á Châu.
Xin Mẹ làm người hướng dẫn và mẫu gương cho Giáo Hội
khi Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Con Mẹ,
sứ mạng tình yêu và phục vụ tại Á Châu.

Đó là phần mở đầu của lời cầu nguyện mà Đức Giáo hoàng Gioan-
Phaolô II dùng để kết thúc tông huấn “Giáo hội tại Á Châu”. Ngài muốn mời
gọi mọi tín hữu Á Châu hướng nhìn về Đức Maria, Đấng mà họ rất mực yêu
mến và tôn kính, để biết cách đối diện với sứ mạng đầy thách đố: tiếp tục sứ
mạng phục vụ và yêu thương của Đức Kitô, hầu tất cả mọi người Á Châu “có
được sự sống và sống dồi dào”.

Để chu toàn sứ mạng đó, chúng ta cần đến một linh đạo, một con đường
thiêng liêng. Không gì thích hợp hơn là nhìn lên Đức Maria, vì ngài là “gương
mẫu của tất cả các môn đệ và là Ngôi Sao Sáng của việc Phúc âm hoá” (số 51).
Vì thế, để khai triển chủ đề Linh đạo truyền giáo trong tông huấn “Giáo hội tại
Á Châu”, chúng ta hãy dựa vào lời kinh kết thúc tông huấn này của Đức Giáo
hoàng.

Sau phần mở đầu cầu xin Đức Maria “làm người hướng dẫn và mẫu
gương của Giáo hội”, Đức Giáo hoàng đã lần lượt chiêm ngắm những giai đoạn
trong cuộc đời Mẹ để vạch ra những bước đường thiêng liêng trong công cuộc
truyền giáo mà người tín hữu Á Châu phải đi theo.

1.ĐỂ CHO THÁNH KHÍ HƯỚNG DẪN

Mẹ đã chấp nhận cách hoàn toàn và tự do
tiếng gọi của Chúa Cha để làm Mẹ Thiên Chúa;
xin dạy chúng con loại bỏ ra khỏi lòng chúng con
tất cả những gì không thuộc về Chúa,
để chúng con cũng được tràn đầy
Chúa Thánh Thần từ trời cao.

Theo truyền thống Kinh thánh, Chúa Thánh Thần luôn luôn được liên
kết với sự sống và việc ban sự sống. Người hiện diện từ giây phút đầu tiên của
cuộc sáng tạo và luôn hiện diện trong thế giới như là quyền năng ban sự sống.
Đức Maria đã có thể cưu mang Ngôi lời của Thiên Chúa, trao ban Đức Giêsu
cho nhân loại, đó là vì ngài đã được Quyền năng Đấng tối cao “rợp bóng”.
Người kitô hữu Á Châu muốn đem lại sự sống đích thực cho đồng bào của
mình phải được “được tràn đầy Chúa Thánh Thần từ trời cao”.

“Chúa Thánh Thần là tác nhân chủ yếu của việc Phúc âm hoá” (số 17).
Ngày hôm nay, Chúa Thánh Thần tiếp tục củng cố chứng tá đức tin của các Kitô
hữu giữa các dân tộc, các nền văn hóa và tôn giáo của lục địa, chuẩn bị các dân
tộc Á Châu vào cuộc đối thoại cứu độ với Đấng Cứu thế của mọi người, hướng
dẫn Giáo Hội làm chứng cho Đức Giêsu bằng những cung cách mới và có hiệu
quả. Giáo Hội biết rõ rằng mình chỉ có thể hoàn thành sứ vụ khi nghe theo sự
thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Vì thế linh đạo truyền giáo trước hết chính là
sống hoàn toàn vâng phục Thánh Khí, để cho Thánh khí uốn nắn từ bên trong
hầu nên giống Đức Kitô hơn, đón nhận từ Người sức mạnh để tiếp tục sứ vụ
của Đức Kitô, được biến đổi để trở thành một cộng đoàn chứng nhân.

“Do đó Giáo Hội không ngừng kêu lên: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy
đến! Xin hãy tràn đầy tâm hồn các tín hữu Chúa và đốt lên trong họ ngọn lửa
tình yêu của Chúa!” Đó là ngọn lửa mà Đức Giêsu ném trên mặt đất. Giáo Hội
tại Á Châu chia sẻ niềm ước mong của Người cho ngọn lửa đó giờ đây lại bừng
cháy lên” (số 18).

2. CẦU NGUYỆN VÀ CHIÊM NGƯỠNG

Mẹ suy niệm các mầu nhiệm của thánh ý Chúa
trong tĩnh lặng của lòng Mẹ;
xin giúp chúng con trong cuộc hành trình
biết biện biệt những dấu chỉ của bàn tay uy quyền của Chúa.

“Bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong
lòng” (Lc 2,19; x. 2,51).

Đức Giáo hoàng đã dành nguyên số 23 để nhắc nhở rằng mọi kitô hữu
cần có một linh đạo truyền giáo đích thực gồm có cầu nguyện và chiêm

ngưỡng: “Cộng đồng Kitô hữu càng đâm rễ sâu trong kinh nghiệm về Thiên
Chúa xuất phát từ một đức tin sống động, thì càng khả tín về khả năng rao
giảng cho kẻ khác biết sự hoàn thành của Nước Thiên Chúa nơi Đức Giêsu
Kitô. Đó là kết quả của việc trung thành nghe Lời Chúa, cầu nguyện và chiêm
ngưỡng, cử hành mầu nhiệm Đức Giêsu trong các bí tích, nhất là trong bí tích
Thánh Thể, và nêu gương về sự hiệp thông sự sống đích thật và yêu thương
trọn vẹn. Trái tim của Giáo Hội địa phương phải hướng về việc chiêm ngưỡng
Đức Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-làm-người, và liên lỉ ra sức kết hiệp mật thiết hơn
với Đấng mà mình tiếp tục sứ vụ. Việc truyền giáo là hành động bằng chiêm
ngưỡng và là sự chiêm ngưỡng bằng hành động. Do đó một nhà truyền giáo mà
không có kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa qua kinh nguyện và chiêm
ngưỡng, thì sẽ có ít ảnh hưởng thiêng liêng hay thành công về mặt truyền giáo.
Đây là một suy tư rút ra từ thừa tác vụ linh mục của riêng tôi và, như tôi đã viết
nơi khác, sự tiếp xúc của tôi với các đại diện những truyền thống thiêng liêng
không Kitô giáo, nhất là của Á Châu, đã củng cố tôi trong xác tín rằng tương lai
của việc truyền giáo tùy thuộc phần lớn vào việc chiêm ngưỡng. Tại Á Châu,
quê hương của các tôn giáo lớn, nơi mà các cá nhân cũng như toàn thể dân
chúng đang khao khát cái thiêng thánh, Giáo Hội được mời gọi trở nên một.

Giáo Hội cầu nguyện, hoàn toàn thánh thiêng dù dấn thân trong những
mối quan tâm trực tiếp về mặt nhân bản và xã hội. Tất cả các Kitô hữu cần một
linh đạo truyền giáo thật sự gồm có cầu nguyện và chiêm ngưỡng”.

 Ngài nhắc nhở các linh mục sống làm sao để “dân chúng tại Á Châu
khám phá nơi hàng giáo sĩ không chỉ là những người chuyên lo việc bác ái hoặc
những người quản trị cơ chế, nhưng những con người mà tâm trí hướng về
những gì thâm sâu của Thần Khí” (số 43). Nhờ có đời sống cầu nguyện, sự
nhiệt thành phục vụ và cách sống gương mẫu, hàng giáo sĩ làm chứng hùng hồn
cho Tin Mừng trong các cộng đoàn họ chăn dắt nhân danh Đức Kitô.

Trong nhiều truyền thống tôn giáo tại Á Châu, những người nam nữ
hiến mình trong đời sống chiêm ngưỡng và khổ tu, rất được kính trọng, và
chứng tá của họ có một khả năng thuyết phục đặc biệt. Vì thế, “Hội Nghị Đặc
Biệt về Á Châu thúc giục những người sống đời thánh hiến trở nên chứng nhân
cho lời mời gọi mọi người nên thánh, và nên gương mẫu lôi cuốn những Kitô
hữu và không Kitô hữu, về tình yêu quên mình cho mọi người, nhất là những kẻ
bé nhỏ nhất trong anh chị em mình. Trong một thế giới mà cảm thức về sự hiện
diện của Thiên Chúa thường bị giảm sút, những người thánh hiến cần phải nêu
lên những chứng tá thuyết phục và có tính ngôn sứ về địa vị tối thượng của
Thiên Chúa và của cuộc sống muôn đời.” (số 44). Dựa theo những đề nghị của
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, Đức Giáo hoàng đặc biệt khuyến khích việc
thiết lập những cộng đoàn đan tu và chiêm ngưỡng, nơi nào có thể được.

 

Các gia đình cũng phải trở nên những “Giáo hội tại gia”, điều này có
nghĩa là gia đình phải tham gia cách tích cực vào đời sống giáo xứ, chia sẻ các
bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và bí tích Sám Hối, dành thời gian trong ngày
để cầu nguyện, đọc và suy niệm Kinh Thánh, cử hành những nghi lễ xứng hợp
do cha mẹ chủ sự.

3. TINH THẦN NHIỆT THÀNH VÀ PHỤC VỤ

Mẹ đã mau mắn đi thăm viếng bà
và giúp bà trong những ngày chờ đợi của bà;
xin cầu cho chúng con
cũng được một tinh thần nhiệt thành và phục vụ
trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng của chúng con.

Đức Maria đã là nhà truyền giáo đầu tiên khi đem Chúa đến cho gia đình
bà Elidabét. Nhà truyền giáo cũng phải bị thôi thúc bởi lòng nhiệt thành với các
linh hồn, bắt nguồn hứng từ lòng yêu thương của Đức Kitô.

Đức Giáo hoàng đã trích nguyên văn đề nghị 8 diễn tả niềm xác tín của
các nghị phụ THĐ Á Châu: “Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô chỉ có thể được rao
giảng bởi những ai bị chiếm đoạt và được linh hứng bởi tình yêu của Chúa Cha
đối với con cái mình, tình yêu đó được tỏ bày nơi con người Đức Giêsu Kitô.
Việc loan truyền này là một sứ vụ cần đến những con người nam nữ thánh
thiện, họ sẽ làm cho Đấng Cứu Thế được biết và được yêu suốt đời của họ. Một
ngọn lửa chỉ được cháy lên bằng cái gì đã bén lửa. Cũng vậy, việc loan truyền
Tin Mừng Cứu Độ mà có hiệu quả tại Á Châu, chỉ có thể xảy ra, nếu các Giám
Mục, các hàng Giáo Sĩ, những kẻ sống đời sống thánh hiến và giáo dân, cháy
nóng bằng tình yêu Đức Kitô và ao ước làm cho Người được biết cách rộng rãi
hơn, được yêu cách sâu xa hơn, và được theo cách gần gũi hơn” (x. số 23).

Tinh thần nhiệt thành và phục vụ đó được đặc biệt biểu lộ bằng sự hiệp
thông trong đời sống, nghĩa là qua việc phục vụ đầy yêu thương đối với những
người nghèo khổ và những người không được ai bênh đỡ.

Giáo Hội tại Á Châu học biết cách yêu mến và phục vụ trong tình yêu,
và học biết rằng một hoa quả cao quí của tình yêu là công bằng. Các Kitô hữu
Á Châu ngày càng quan tâm đến việc đấu tranh bảo vệ nhân phẩm và theo đuổi
công lý. Công việc phục vụ con người đó đặt nền tảng không phải trên các ảo
tưởng của ý thức hệ nhưng là trên sự tôn trọng đối với hành vi tạo dựng của
Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên con người giống hình ảnh Người. Các kitô hữu
dành nhiều năng lực vào việc thực hành đức ái, và việc thăng tiến và giải phóng
con người, vì tuân phục mệnh lệnh của Chúa, đó là chúng ta yêu thương lẫn
nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta.

 

4. HIỆP THÔNG SÂU XA VỚI ĐỨC KITÔ

Mẹ đã hát bài ngợi khen Chúa;
xin dẫn dắt chúng con
biết hân hoan loan báo niềm tin vào Đức Kitô,
Đấng Cứu Độ chúng con.
Mẹ đã xót thương những kẻ thiếu thốn
và nói với Con Mẹ giùm cho họ;
xin dạy chúng con đừng bao giờ e sợ
phải nói về thế giới cho Đức Giêsu
và phải nói về Đức Giêsu cho thế giới.

Đức Maria đã hát bài Magnificat ngợi khen Thiên Chúa, đã không ngần
ngại nói với Chúa thay cho những người đang thiếu thốn trong tiệc cưới Cana.
Sự hiệp thông sâu xa với Đức Kitô là yếu tố cốt thiết của linh đạo truyền giáo:
người ta chỉ có thể hiểu và sống sứ vụ truyền giáo khi qui về Đức Kitô như qui
chiếu về Đấng được sai đi để loan báo Tin mừng.

Vì thế, Giáo Hội tại Á Châu noi gương Đức Maria hát lời ngợi khen
“Thiên Chúa cứu độ” vì Người đã chọn khởi sự kế hoạch cứu độ của Người tại
phần đất Á Châu, qua những người nam nữ của lục địa này.

Như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã minh nhiên viết rằng “không thể có
việc Phúc Âm hoá thật nếu danh xưng, lời giảng dạy, sự sống, những lời hứa,
vương quốc và mầu nhiệm Đức Giêsu thành Nadareth, Con Thiên Chúa, không
được loan báo” (Evangelii nuntiandi, số 20), Giáo hội nhấn mạnh vị trí ưu tiên
của việc rao giảng về Đức Kitô trong mọi hoạt động Phúc âm hoá. Giáo hội tại
Á Châu ý thức rằng làm chứng về Đức Giêsu Kitô là công việc phục vụ cao cả
nhất mà Giáo Hội có thể trao tặng cho các dân tộc Á Châu.

Trong việc đối thoại liên tôn, “Chỉ những Kitô hữu được dìm sâu vào
trong mầu nhiệm Đức Kitô và sống hạnh phúc trong cộng đồng đức tin của họ,
mới có thể dấn thân vào việc đối thoại liên tôn, mà tránh được sự liều lĩnh
không đáng và có hy vọng hái được hoa quả tích cực” (số 31).

Người Kitô hữu nói về Đức Kitô, thì phải thấm nhuần sứ điệp mà họ rao
giảng vào đời sống mình. Vì thế, các linh mục cần được đào tạo vững chắc và
liên tục, để canh tân về mặt nhân bản, thiêng liêng và mục vụ (số 43). Các
người sống đời thánh hiến phải được huấn luyện và đào tạo xứng hợp; nền huấn
luyện này cần tập trung vào Đức Kitô (số 44). Người giáo dân cũng cần được
huấn luyện thành người rao giảng tin mừng, có khả năng đương đầu với các
thách thức của thế giới ngày nay, không phải với sự khôn ngoan và hiệu năng
thế gian, nhưng với tâm hồn được đổi mới và được vững mạnh bằng chân lý
Đức Kitô (số 45).

 

5. SỐNG MẦU NHIỆM THẬP GIÁ ĐỨC KITÔ

Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá
khi Con Mẹ thở hơi cuối cùng;
xin Mẹ ở với chúng con
khi chúng con tìm cách nên một
trong tinh thần và trong phục vụ
với tất cả những ai đau khổ.

Đức Maria đã can đảm đón nhận lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn và kiên
trì đứng bên thập giá để chia sẻ nỗi đau khổ của Con yêu dấu. Sứ mạng truyền
giáo cũng dõi theo cùng một con đường đó, và đích điểm cuối cùng là chân
thập giá.

Để tình liên đới với kẻ nghèo trở nên dễ tin hơn, các Kitô hữu phải sống
giản dị, theo gương Đức Giêsu (số 34). Gương âm thầm của các người sống đời
thánh hiến về sự nghèo khó và bỏ mình, về sự khiết tịnh và chân thành, về sự từ
bỏ mình trong vâng phục, có thể trở nên một chứng tá hùng hồn có khả năng
đánh động mọi người thiện chí và đưa tới một đối thoại mang lại kết quả với
các nền văn hoá và tôn giáo xung quanh, và với người nghèo cùng với kẻ
không thể tự vệ (số 44).

Trong nhiều miền tại Á Châu, việc rao giảng công khai bị ngăn cấm và
sự tự do tôn giáo bị chối từ hay bị hạn chế có hệ thống. Khi ấy, chứng tá thầm
lặng của đời sống là con đường duy nhất để loan báo Nước Chúa. Giáo Hội
sống cách ý thức kiểu làm chứng này, coi đó là một “việc vác thánh giá mình”.
Các anh chị em của các Giáo Hội đang gặp khó khăn này, nếu biết kết hợp các
đau khổ của mình với các đau khổ của Chúa chịu đóng đinh, sẽ cộng tác vào
việc ban sự sống mới cho nhân loại.

Cuối cùng việc tử đạo mới mạc khải cho thế giới thấy điều cốt yếu nhất
của sứ điệp Kitô giáo: tin vào quyền năng của thánh giá Chúa.

Để kết thúc, Đức Giáo hoàng nhắc lại vai trò của Chúa Thánh Thần:
Giáo Hội biết rõ rằng mình chỉ có thể hoàn thành sứ vụ khi nghe theo sự thúc
đẩy của Chúa Thánh Thần. Trong những thực tại phức tạp tại Á Châu, Giáo hội
phải biện phân tiếng Thần Khí mời gọi làm chứng cho Đức Giêsu bằng những
cung cách mới và có hiệu quả.

Mẹ đã cầu nguyện với các môn đệ trên Lầu Cao;
xin giúp chúng con biết trông chờ Thần Khí
và đi tới nơi nào Thần Khí hướng dẫn chúng con.
Xin bảo vệ Giáo Hội khỏi mọi quyền lực
đang đe doạ Giáo Hội.

 

Xin giúp Giáo Hội trở nên một hình ảnh đích thực
của Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.
Xin cầu giúp nguyện thay
để nhờ tình yêu và phục vụ của Giáo Hội
tất cả các dân tộc Á Châu có thể biết Con của Mẹ,
Đức Giêsu Kitô,
Đấng Cứu Độ duy nhất của thế giới,
và hưởng nếm niềm vui sự sống viên mãn.
Ôi Maria, Mẹ của Thọ Tạo Mới
và Mẹ của Á Châu,
xin cầu cho chúng con là con cái Mẹ,
bây giờ và mãi mãi!

Phan Du Sinh