Bài đọc thêm 1

 “Hãy đi và rao giảng Tin Mừng”

LỜI CHÚA TRONG GIÁO HỘI

Thánh Ép-rem Xi-ri-a đã sánh ví Lời Chúa như một nguồn suối liên tục trào tràn những dòng nước mát lịm; bất kỳ ai đến với nguồn suối này cũng kín múc được một lượng nước đủ làm giãn khát, và rồi tiếp tục ra đi. Nhưng mãi mãi, nguồn suối vẫn cứ trào lên những dòng nước khác, và lượng nước được đem đi sẽ chẳng là gì nếu sánh với lượng nước còn lại.

Trong Lời của Người, Thiên Chúa đã che giấu tất cả những kho tàng của Người trong đó, thành ra chúng ta ai nấy đều có thể tìm được sự phong phú từ những điều chúng ta chiêm nghiệm…

Sau khi đã tìm được nhiều điều để làm giầu cho mình, chúng ta đừng tưởng trong Lời Chúa chẳng còn gì khác ngoài những điều chúng ta đã tìm thấy. Ngược lại, chúng ta phải ý thức mình mới khám phá được chỉ một điều trong muôn vàn điều mà thôi. Sau khi đã trở nên giàu có nhờ Lời Chúa, chúng ta chớ nghĩ Lời Chúa đã vì thế mà bị nghèo nàn; mặc dù không múc cạn được nguồn phong phú, nhưng chúng ta hãy tạ ơn vì sự sung mãn của Lời Chúa. Hãy vui mừng vì anh em đã được no đầy, nhưng đừng buồn bã vì những kho tàng phong phú của Lời Chúa siêu việt trên mức anh em có thể lãnh thụ.[64]

Hình ảnh đó mô tả tình trạng của chúng ta. Chúng ta đã truy về lịch sử của Lời Chúa, khởi đầu từ tâm điểm là Chúa Ki-tô, rồi từ Chúa Ki-tô trở về với các ngôn sứ, và cũng từ Chúa Ki-tô mà vươn đến Giáo Hội. Chúng ta thấy sau khi không còn tồn tại như một biến cố, Lời Chúa hôm nay vẫn tồn hữu như một bí rích, nói một cách khác, Thánh Kinh vẫn đang tồn hữu giữa lòng Giáo Hội. Đây chính là nguồn suối chúng ta tìm đến.

Như thánh Ép-rem đã giải thích, chúng ta phải bỏ ngay những ảo tưởng cho rằng có thể múc cạn hoặc lãnh hội hết mọi khía cạnh của nguồn suối Lời Chúa. Ngược lại, chúng ta hãy mặc lấy tâm trạng của khách lữ hành khát bỏng khi tìm được nguồn suối, hãy uống ngay thứ nước trào ra từ nguồn suối vào thời điếm ấy, rối tiếp tục cất bước lên đường trong niềm vui thỏa vì biết mình có thể trở lại bất cứ lúc nào, và chắc chắn sẽ tìm được những hớp nước khác để làm giãn thỏa cơn khát.

1. Giáo Hội được đỡ mang bởi Lời Chúa

Từ nguồn suối Thánh Kinh, chúng ta nghe những lời vang vọng, “Mọi xác phàm đều là cỏ rả.. Cỏ sém, hoa tàn. Còn lời của Thiên Chúa ta thờ muôn đời bền vững” (x. Is 40,6-8). Theo thư thứ nhất của thánh Phê-rô, “lời” được nói đến trong câu trên “là lời Phúc Âm” (x. 1Pr 1,25). Và thực sự, chính Chúa Giê-su cũng đã phán, “Trời đất này sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ chẳng qua đi” (x. Mt 24,35). Theo sự chuyển ý đó, bây giờ chúng ta đã hiểu rõ, “lời của Thiên Chúa” đã trở thành “lời của Đức Ki-tô.”

Nhưng chúng ta phải xét xem Lời (dabar) trang trọng của Chúa đưa đến những gì. Trong sách tiên tri I-sai-a Thứ (gồm các đoạn 40-55, bao hàm cả đoạn chúng ta vừa trích dẫn ở trên), chúng ta luôn luôn gặp được một niềm xác tín như của vôn Rát (G. von Rad): “It-ra-en lệ thuộc trong tất cả và vì tất cả vào Lời Chúa.” Ý tưởng này trước kia đã được trình bày trong sách Đệ Nhị Luật khi ông Môi-sen tuyên bố với dân chúng, “Lời này là sự sống của các ngươi” (x. Đnl 32,47). Dân Ít-ra-en cảm thấy như thể họ “được đỡ mang” bởi Lời Chúa; khi tất cả mọi năng lực đều sụp đổ trong cuộc Xuất Hành, thì Lời Chúa như sức đỡ nâng duy nhất, như sức mạnh “muôn đời kiên định” giữa những thăng trầm nhân sinh, như đá tảng trên đó nhà Ít-ra-en được kiến thiết.

Ngày nay, tất cả điều trên vẫn đúng với nhà Ít-ra-en mới là Giáo Hội, với nền móng là Lời Chúa Giê-su: “Ngài là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật” (hoặc “bằng quyền năng của lời mình”). Đoạn thư Do Thái chúng ta đã suy ngắm trên kia cũng nói như thế (Dt 1,3). Giáo Hội thực sự là “ngôi nhà được xây trên đá” (Mt 7,25), và đá đây chính là Lời Chúa.

Ở đây, Lời Chúa mang một ý nghĩa khá bao quát, chứ không chỉ là toàn thể những từ ngữ trong bộ Thánh Kinh; vì đó là một quyền năng sáng tạo hoạt động trong lịch sử và chống lại những năng lực phù du “sẽ qua đi” của nhân loại. Đó là một thực thể sống động như sách Tông Đồ Công Vụ đã trình bầy, “Lời Chúa vẫn lớn lên,” “Lời Chúa vẫn phát triển,” “Lời Chúa cứ lan truyền và thêm vững mạnh” (Cv 6,7; 12,24; 19,20); và thánh Phaolô cũng mô tả Lời Chúa như thế khi viết rằng, “Lời Chúa đã vang ra ở khắp miền Ma-kê-đô-ni-a và A-khai-a” (1Tx 1,8).

Tân Ước tuyên bố các tín hữu đã được “tái sinh nhờ lời hằng sống và tồn tại mãi mãi của Thiên Chúa” (1Pr 1,23; Gc 1,18). Như thế có nghĩa là họ đã bắt đầu sống trong sự liên kết với sức mạnh mầu nhiệm của Lời Chúa. “Sức mạnh và năng lực của Lời Chúa chính là ở chỗ có thể phục vụ Giáo Hội như sức nâng đỡ và sức sống, phục vụ con cái Giáo Hội như sức mạnh cho đức tin, lương thực cho linh hồn, nguồn mạch tinh tuyền và bền vững cho đời sống thiêng liêng của họ.”[65]

Cách nghĩ về Lời Chúa trong chiều kích mầu nhiệm ban sức sống này rất gần với suy tư của các giáo phụ. Thánh Am-rô-xi-ô đã nói, “Lời Chúa là sức mạnh đỡ nâng thiết yếu của linh hồn; nuôi dưỡng, chăm sóc, và hướng dẫn linh hồn; ngoại trừ Lời Chúa, không gì có thể giữ cho linh hồn con người có thể sống được.”[66]

Vào thời kỳ xa xưa, phía trong tận cùng của Lều Tạm là gian cực thánh (debir) với hòm bia chứa mười giới răn, “mười Lời” (debarim) của Chúa; đó là chỗ ẩn nhiệm nhất trong lịch sử dân tuyển chọn. Ngày nay, trong dân tộc Ít-ra-en mới, nơi ẩn nhiệm nhất, trung tâm hạt nhân cho mọi sự nẩy chồi và phát triển tiềm ẩn giữa lòng Giáo Hội chính là Lời Chúa cùng với Thánh Thể. Lời Chúa đã làm nên Bánh Thánh, tuy nhiên mãi mãi vẫn là Lời Chúa.

2. Giáo Hội đỡ mang Lời Chúa

Đây chính là điểm chúng ta khám phá từ mặt bên kia của mầu nhiệm: Giáo Hội được mang bởi Lời Chúa, nhưng đồng thời lại mang Lời Chúa. Giáo Hội là hòm bia giao ước mới, “giữ gìn” Lời Chúa. Và một lần nữa, Giáo Hội lại noi gương Đức Ma-ri-a, Đấng đã cưu mang Ngôi Lời trong cung lòng sau biến cố Nhập Thể, nhưng đồng thời lại được Lời Chúa đỡ mang.

Nói về Giáo Hội mang Lời Chúa tức là nói về Truyền Thống, về sự ủy thác (traditio) Chúa Ki-tô đã trao phó cho Giáo Hội khi Ngài về trời. Chúa đã phán với các thánh tông đồ, “Các con hãy đi khắp thế gian, và rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật” (Mc 16,15). Thánh Phao-lô đã đặt công cuộc rao giảng của ngài trên nền tảng này: “Phúc Âm tôi rao giảng…Tôi đã lãnh nhận từ Chúa Giê-su Ki-tô” (Gl 1,11tt).

Trước khi trở thành Truyền Thống các tông đồ lưu truyền lại cho Giáo Hội (theo nghĩa chủ động), Truyền Thống ấy đã là Truyền Thống được các ngài lãnh nhận từ Chúa Ki-tô (theo nghĩa thụ động). Bản chất đích thực của Truyền Thống nằm trong sự chuyển giao đầu tiên – tức là từ Chúa Giê-su đến các tông đồ. Truyền Thống không phải là một mạc khải đệ nhị, gồm chứa các điều khác biệt với Thánh Kinh và bổ sung cho Thánh Kinh. Suy cho cùng, Truyền Thống chính là Thánh Kinh được am hiểu và được giảng dạy trong Giáo Hội và nhờ Giáo Hội. Một bản văn Công Đồng Va-ti-can II đã viết rằng: “Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành một kho tàng thánh thiện duy nhất chứa đựng lời Thiên Chúa.”[67] Truyền Thống các tông đồ, như thánh I-rê-nê, như giáo phụ Ô-ri-giê-nê và các bậc tôn trưởng khác trong quá khứ đã nói – là “cách hiểu hoặc ý nghĩa được Giáo Hội đính kết vào Thánh Kinh.” Giáo phụ Ghê-gô-ri-ô En-vi-ra (Gregory Elvira) cho rằng, Bánh Sự Sống (tức là Lời Chúa) được truyền lại cho chúng ta giống như đã được nghiền tán và nhai kỹ nhờ răng của Truyền Thống các tông đồ.[68]

Như thế, Truyền Thống không phải là một cái gì tĩnh tại và chết cứng, nhưng hết sức sống động. Một thực thể sống, chẳng hạn như Lời Chúa, không thể được giữ cho sống động giữa những môi trường chết. Thánh I-rê-nê đã so sánh chân lý mạc khải “giống như một loại rượu hảo hạng đựng trong một chiếc bình quý, nhờ hoạt động của Thánh Thần Thiên Chúa, sẽ mãi mãi được làm cho mới mẻ, nhưng đồng thời cũng làm cho bình chứa trở nên mới mẻ.” Bình chứa ở đây là việc rao giảng của Giáo Hội và Truyền Thống tông đồ.[69]

Bên ngoài môi trường sống động của Truyền Thống, Thánh Kinh – cho dù có linh thánh diệu kỳ – có lẽ cũng chẳng khác gì một cái thây ma, một quyển sách như bất kỳ một quyển sách nào khác, không hơn không kém, được người đời dùng phương pháp lịch sử-ngữ văn cứng nhắc để nghiên cứu tìm hiểu (giống như Thánh Kinh ngày nay đang được nghiên cứu tại các môi trường không chịu ảnh hưởng đức tin của Giáo Hội).

Nhưng việc giữ cho Lời Chúa sống động không phải là một đặc quyền đặc lợi thuần túy, nhưng trước tiên, đó là một bổn phận, một trách vụ của Giáo Hội. Như thánh Phao-lô, Giáo Hội cũng phải tuyên xưng, “Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Phúc Âm không phải là một lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm!…Đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó cho tôi” (1Cr 9,16-17).

Thi sĩ Sác-lơ Pê-ghi (Charles Péguy) đã phác nên một nhân vật đại diện Mẹ Giáo Hội thủ thỉ với đứa con gái nhỏ, tiêu biểu cho một tín hữu “trung bình”:

Chúa Giê-su

Đã không ban cho chúng ta những ngôn từ chết

Để chúng ta ướp trong những hộp thiếc to nhỏ

Để chúng ta bảo quản trong chất dầu béo

Con gái của mẹ ơi

Chúa Giê-su

Đã không ban cho chúng ta những lời muối chua

Để mà giữ được cho thật lâu

Không. Ngài đã ban cho chúng ta những lời sống

Để nuôi dưỡng…

Những lời có sự sống

Những lời sống phải được tuân giữ mới sống được..

Tùy chúng ta là những thụ tạo nhục thể yếu đuối

Giữ cho những lời sống này

Khi được phát ra trong thời gian cũng vẫn còn sống

Để nuôi dưỡng và giữ cho chúng sống trong thời gian

Ôi mầu nhiệm của những mầu nhiệm

Chúng ta đã được tặng ban đặc ân này

Đặc ân siêu vượt, đặc ân không thể tin được

Là giữ gìn cho những lời sống được sống

Chúng ta được mời gọi nuôi dưỡng lời Con Thiên Chúa

Ôi cơ hàn, ôi tai họa

Sẽ ập xuống trên số phận chúng ta

Bổn phận của chúng ta tùy thuộc chúng ta

Là làm sao cho lời ấy được nghe mãi nghe mãi

Là làm cho lời ấy ngân vang…[70]

Thật chẳng khó gì để hiểu ra được ý nghĩa của những hành động ướp lời Chúa “trong những hộp thiếc to nhỏ,” bảo quản “trong chất dầu béo,” hoặc “để ra mốc meo.” Than ôi, chúng ta đã quá quen, quá kinh nghiệm với những hành động này rồi. Đó là những hậu quả tất yếu sẽ xẩy ra một khi Lời Chúa không còn được tự do để rao truyền và loan báo, để ngăn chặn và phản kháng, để giật sập và xây dựng – vì bản chất của lời Chúa là như thế – nhưng bị đối xử giống như bị nhốt trong một lồng kính, trong một môi trường triệt tiêu sự sống, dưới sự kiểm soát ngặt nghèo, bị băm nhỏ thành những cụm từ vụn vặt, những câu trích không liền lạc như vẫn thường thấy; như thế, Lời Chúa đã bị lai căng, sức mạnh gớm ghê của Lời Chúa đã bị hóa giải thành những luận đề thần học hay những quyết định thực dụng, bị sử dụng ít nhiều như một mối lợi trước mắt, chẳng hạn như một chiếc áo bó mà thôi.

3. Các tôi tớ của Lời Chúa

Các thánh tông đồ đã dạy cho Giáo Hội phải ngăn chặn nguy cơ này một cách dứt khoát khi xưng nhận các ngài và những người kế vị chỉ là những “tôi tớ của Lời Chúa” (x. Lc 1,2; Cv 6,4; Rm 1,1). Trước tiên và trên hết, danh xưng này mang một tương quan tín lý và hàm chứa một ý nghĩa như Hiến chế Mạc Khải của Thiên Chúa (Dei Verbum) đã giải thích:

“Nhiệm vụ chú giải chính thức Lời Chúa đã được viết ra hay lưu truyền chỉ được ủy thác cho quyền Giáo Huấn sống động của Giáo Hội, và Giáo Hội thi hành quyền đó nhân danh Chúa Ki-tô. Tuy nhiên, quyền Giáo Huấn này không vượt trên Lời Chúa, nhưng để phục vụ Lời Chúa, chỉ dạy những gì đã được truyền lại, vì thừa lệnh Chúa và với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội thành tâm lắng nghe, gìn giữ cách thánh thiện và trung thành trình bày Lời Chúa.”[71]

Nhưng “việc phục vụ Lời Chúa” còn chứa đựng một chiều kích tu đức và tinh thần: đòi buộc những ai rao giảng Lời Chúa phải đắc thủ một số thái độ tinh thần cụ thể. Thái độ trước nhất phải có là sự nhất quán giữa Lời Chúa được rao giảng với đời sống của người rao giảng. Đây là cách phục vụ Lời Chúa tiên quyết và căn bản: phải phục vụ, phải vâng theo Lời Chúa trong cuộc sống của chúng ta. “Các tôi tớ của Lời Chúa” phải là những người tuân theo Lời Chúa!

Chúng ta thấy có hai loại người rao giảng được nhận diện trong Tân Ước. Loại thứ nhất gồm các ký lục và biệt phái, những kẻ bị Chúa Giê-su quở trách khi căn dặn dân chúng, “Những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng và chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay lay thử” (Mt 23,3-4).

Loại người rao giảng thứ hai thật xứng danh với địa vị vì chính Chúa Giê-su cũng thuộc loại này khi Ngài kêu gọi trong chân lý trọn vẹn, “Hãy học cùng Ta..” (Mt 11,29). “Ta đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Ta đã làm cho anh em” (Ga 13,15). Thánh Phao-lô tông đồ cũng thuộc loại này khi ngài khuyến dụ các tín hữu, “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi đã bắt chước Chúa Ki-tô” (1Cr 11,1; x. Pl 3,17).

Những người rao giảng Lời Chúa cao rao một lý tưởng sống cao đẹp nhưng bản thân lại sống mâu thuẫn, họ hô hào người khác dấn thân “vào con đường hẹp” còn chính họ lại vi vút giữa đại lộ thênh thang. Hạng giảng giả này giống hệt các kỹ sư hàng hải thiết kế một con tầu nguy nga tráng lệ, nhưng khi đến giờ hạ thủy cho tầu rẽ sóng ra khơi thì họ lại đánh nước chuồn, lên một chiếc thuyền cứu hộ đi theo xa xa. Người ta không dễ mà bị mắc hỡm để mạo hiểm trên con tầu chết tiệt ấy đâu!

Thiên hạ đã đủ khôn để biết đặt dấu hỏi những lời giảng suông, bởi lẽ họ đã nhiều phen bị lường gạt, hoặc có khi chính họ đã thường xuyên đi lường gạt kẻ khác như vậy rồi. Tuy nhiên, khi họ gặp những con người kiên trung với điều rao giảng, chấp nhận đau khổ và dám chết vì điều rao giảng, thì đây quả là một ấn tượng rất lớn đối với họ.

Từ kinh nghiệm bản thân, ai cũng biết rằng người ta chỉ sẵn lòng chịu cực chịu khổ vì những điều họ thực sự thâm tín mà thôi. Cũng vậy, “Lời đã được sống” có một sức mạnh thu hút vô địch, không gì thay thế được. Lời đó đầy lôi cuốn, đầy thuyết phục bởi vì đó là Lời chúng ta đã từng cảm nghiệm vì đã vì đó mà chịu thương chịu khó trong cõi đời và trong nếp sống cầu nguyện của chúng ta. Lời đó từ môi miệng chúng ta phát ra mang theo một nhiệt tâm và một sức mạnh hết sức đặc biệt. Trong Lời đó có một mảng linh hồn của chính người giảng, và có thể bắt gọn linh hồn người nghe. Sự tương giao giữa người giảng và người nghe xẩy ra không phải trên ý niệm suông, nhưng trên thực tiễn.

Giảng thì dễ, thực hành mới khó. Thánh Xê-ra-phim Sa-rốp (Serafim Sarov), một vị thánh rất thân thương của dân tộc Nga, thì sánh việc rao giảng thì dễ dàng như ném đá từ tháp chuông nhà thờ xuống đất, còn thực hành lời giảng thì khó khăn như thể khiêng những tảng đá trở lên tháp chuông. Lý tưởng mà nói, chúng ta chỉ nên ném những hòn đá nào mà bản thân mình đã khó nhọc khuân lên tháp chuông mà thôi. Nói cách khác là chúng ta chỉ nên giảng những gì chính mình đã thực hành trước. Nhưng sự nhất quán lý tưởng giữa Lời Chúa và cuộc sống như thế thật quá hiếm hoi; hơn nữa, những người đã đạt đến sự nhất quán này lại là những người sau cùng nhận ra được điều ấy nơi bản thân họ. Trong khi đó, Lời Chúa lại không thể đợi chờ. Thế thì phải làm gì bây giờ? Im tiếng đi hay sao?

Thánh Phao-lô tông đồ đã khích lệ chúng ta: “Chúng tôi không rao giảng bản thân, mà chỉ rao giảng Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (2Cr 4,5). Lời Chúa thì đúng thật, nhưng chỉ đúng thật với đời sống của Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng đã làm trọn mọi lời Phúc Âm, chứ không phải với đời sống của người rao giảng. Chúng ta phải hạ mình xuống tận tro đen, xấu hổ vì chúng ta đang quá xa Lời Chúa, nhưng dù thế, chúng ta không được im tiếng không rao giảng Lời Chúa. Đây chính là phần phạt và sự nhục nhã cho chúng ta.

Vậy ở đâu chưa có sự nhất quán giữa đời sống người giảng với Lời Chúa thì trước tiên phải có sự khiêm nhường. Đây là thái độ tinh thần thứ hai tối cần thiết cho những “tôi tớ của Lời Chúa”: họ phải tự xóa nhòa bản thân trước sự hiện diện của Lời Chúa, phải khước từ vinh quang cho riêng mình. “Tôi tớ của Lời Chúa” thực sự phải là người có lối suy tư như thánh Gio-an Tẩy Giả, “Tôi chỉ là tiếng kêu” (Ga 1,23). Thánh Âu-gu-tinh tự hỏi, nhiệm vụ của tiếng kêu là gì? Có thể nói, nhiệm vụ ấy chỉ là tiếp nhận lời hay tư tưởng trong tâm hồn, rồi phát ra trên tầng sóng của hơi thở, băng qua khoảng không khí để đến tai của người anh em đang đứng phía trước. Một khi nhiệm vụ này đã được hoàn thành, tiếng kêu cũng chu toàn xong nhiệm vụ; nó phải nhạt nhòa, phải im lặng, trong khi lời nói oai vệ đi vào lòng người anh em để cư ngụ trong đó và sinh hoa kết quả. “Tiếng kêu” tự nhủ, “Đây, Lời Chúa, phải lớn lên, còn tôi, tôi phải nhỏ lại” (x. Ga 3,10); người rao giảng cũng phải tự nhủ với lòng mình. “Chúa Giê-su, Ngài phải lớn lên, còn tôi phải biến mất.”

Giáo Hội chỉ thực hiện đúng với điều này khi nào Giáo Hội nhận lấy Lời Chúa từ “lòng” mình là nơi Lời Chúa được giữ gìn để rao giảng trên mái nhà cho vang đến tận tai, cho thấu đến tận lòng của mọi người, hầu tất cả đều tin và được cứu độ. Còn riêng các vị giáo chức trong Giáo Hội, “tôi tớ của Lời Chúa,” xin đừng muốn chính mình thành lời, nhưng mãi mãi hãy chỉ là tiếng kêu của Lời Chúa mà thôi. Thánh Phao-lô tông đồ đã nhận định thật chí lý, đừng rao giảng bản thân, nhưng rao giảng Đức Giê-su Ki-tô là Chúa.

4. “Lời Chúa không bị xiềng xích”

Để mang Lời Chúa, Giáo Hội không những phải nhất quán và khiêm nhường, mà còn phải đơn sơ và nghèo khó. Thánh Phao-lô kêu gọi các tín hữu thành Thê-xa-lo-ni-ca cầu nguyện để lời Chúa có thể “xuôi chạy đến cùng” (x. 2Tx 3,1; dịch theo sát nghĩa bản Hy Lạp). Hình ảnh này gợi lên một cuộc chạy của Lời Chúa, từ Giê-ru-sa-lem đến Rô-ma, và sau đó từ trung tâm của Giáo Hội đến khắp cùng thế giới. Để có thể hoàn tất được một cuộc chạy như thế, mong sao Lời Chúa đừng gặp quá nhiều vật cản giữa lộ trình, và phải thong dong, trần trụi như một vận động viên.

Đến đây, chúng tôi không thể không nhớ lại một truyện ngắn của văn hào Phăng Káp-ka (Franz Kafka), một dụ ngôn hoàn hảo dành cho Giáo Hội. Hầu như ai cũng biết rằng các câu truyện của văn hào này thường lấy cảm hứng từ tôn giáo mang tính biểu tượng sâu xa. Câu truyện sau đây là một điển hình, vì không dài lắm nên chúng tôi xin được trích dẫn nguyên văn:

“Người ta nói rằng đức vua đã gửi cho bạn một sứ điệp; đúng vậy, chính bạn, một thần dân đớn hèn, một chiếc bóng vô nghĩa tại một vùng hẻo lánh khúm núm trước vầng thái dương uy vệ; từ trên giường bệnh, đức vua đã gửi đến cho riêng bạn một sứ điệp. Ngài bắt viên sứ giả quỳ xuống bên giường và thều thào sứ điệp vào tai; đức vua muốn bảo đảm nên bắt sứ giả phải lặp lại nội dung sứ điệp cho ngài nghe. Rồi bằng một cái gật đầu, ngài chấp nhận chính xác đến từng chữ. Đức vua giải tán mọi người đang vây quanh giường bệnh, cả những nhà quý tộc của đế quốc đang đứng đầy dẫy trên những cầu thang rộng rãi cao ngất chung quanh – tất cả chỉ là những bức tường cản trở cần phải dẹp bỏ – đức hoàng đế sai sứ giả ra đi.

Sứ giả vội vàng cất bước: một con người nhanh nhẹn không biết mệt mỏi. Vung tay lúc bên này lúc bên kia, sứ giả mở một con đường vượt qua đám đông; nếu gặp ai cản bước, ông liền chỉ vào vương hiệu mặt trời trên ngực áo, và cứ thế tiến qua, dễ dàng như bạn tưởng. Nhưng đám đống quá dầy đặc, chen chúc quá nhiều. Giá như viên sứ giả biết bay thì ông sẽ thong dong biết mấy! Như thế thì chả mấy chốc bạn sẽ nghe được tiếng gõ dồn dập vinh thắng của ông trên cánh cửa nhà bạn. Thế nhưng, sứ giả cố gắng vô ích; ông vẫn xông xáo băng qua những dẫy phòng của nội cung, những nơi ông chưa từng biết đến. Nhưng nếu như có qua được thì cũng chẳng ích gì: ông còn phải băng xuống các thang lầu. Và giả sử có xuống được hết, sứ giả vẫn chưa đi đến đâu: ông còn phải rảo qua các sân đình; nhưng sau các sân đình, lại một cụm dinh thự thứ nhì; lại vượt qua các thang lầu và các sân đình, rồi lại một cung đình nữa, và cứ thế cứ thế, cả từng ngàn năm.

Sau cùng, vậy mà sứ giả vẫn tận lực cố gắng để đến cho được cánh cổng cuối cùng – nhưng điều này đã không bao giờ xảy đến – kìa, viên sứ giả nằm gục giữa thành nội, tâm điểm của thế giới, với những đống rác kếch xù ngất ngưởng. Không ai có thể vượt qua những núi rác kia, cho dù là bức sứ điệp của một người đã chết. Trong lúc đó, bạn vẫn ngồi chờ bên cửa sổ, và bóng đêm dần xuống.”[72]

Những “núi rác” sừng sững giữa thành nội của đức vua gợi lên những gì? Từ trên giường bệnh, trên thập giá, Đức Vua đã ủy thác cho Giáo Hội một sứ điệp, trong hy tế Tạ Ơn mỗi ngày, Ngài lại thều thào với chúng ta: “Con hãy nói cho thế giới biết Ta yêu thương nó, và Ta chết vì tội lỗi của nó. Con hãy nói cho thế giới để nó vui lên!”

Hiện nay vẫn có rất nhiều người từ những nơi xa xôi đang đứng đợi bên cửa sổ, mơ tưởng về một sứ điệp như thế. Điều cần thiết là Giáo Hội đừng bao giờ trở thành một lâu đài chằng chịt, quanh co, bóp nghẹt đến nỗi sứ điệp của Chúa không thể vượt qua. Ngay như từ lúc ban đầu, lúc Đức Vua đang hấp hối, “những bức tường cản trổ cần phải dẹp bỏ.”

Thánh Phao-lô viết cho môn đệ Ti-mô-thê yêu dấu: “Cha đang chịu đau khổ, cha còn phải mang xiềng xích như một tên gian phi, nhưng Lời Chúa không bị xiềng xích” (2Tm 2,9). Thánh Tông Đồ có ý nói rằng: điều quan trọng là đừng để Lời Chúa bị xiềng xích; còn mọi chuyện khác đều không thành vấn đề. Giáo Hội có thể bị xiềng xích vì những bách hại, vì những đau khổ, và cả vì những yếu đuối của mình. Không có gì cản trở đặc biệt ở đây; những việc như thế lắm khi còn làm cho công cuộc rao giảng phát triển nhanh hơn.

Có những điều khác đã kiềm hãm cuộc chạy của Lời Chúa, nào là quá nhiều năng lực nhân loại, quá nhiều cậy dựa vào tài cán nhân loại – theo cách nói của Chúa Giê-su – là có quá nhiều áo khoác và quá nhiều ba lô đè nặng trên vai người tông đồ (x. Lc 10,4); tham vọng thu quén hào nhoáng cho bản thân là thứ giàu sang độc hại nhất.

Cũng còn những vật cản khác nữa, chẳng hạn thói quan liêu và chủ nghĩa giáo sĩ đã gặm nhắm Lời Chúa và làm cho Lời Chúa xa vời với cuộc sống, não trạng sính dùng những thuật ngữ tít mù, không sao hiểu được. Tất cả những thứ này là khôn không đúng lối, là những kiểu tự vệ chúng ta dùng để nhốt mình trong những cánh cổng to đùng. Chúng ta có thể áp dụng vào tình trạng này những lời Thánh Vịnh: “Cổng vào hãy nhấc đầu lên, cửa vạn đại hãy vươn mình lên...” (Tv 24,7). Thế giới hãy mở toang các cổng của mình để đón Chúa Ki-tô ngự vào, và Giáo Hội hãy mở các cổng của mình cho Chúa Ki-tô tiến ra.

Điều bí mật của nhân vật Pơ-pe-tu-a (Perpetua) trong quyển tiểu thuyết Người Đính Hôn (The Betrothed) nổi tiếng của văn sĩ A-lê-xan-rô Man-dô-ni (Alessandro Manzoni) lại hiện về trong tâm trí chúng tôi. Người đàn bà này biết được một điều lạ lùng đã xẩy ra trong thị trấn. Tất cả những hoàn cảnh xung quanh mẩu tin này đúng ra phải được giữ kín, tuy nhiên, mặc dù cố gắng cách mấy, bà ta cũng không sao giữ được. “Bí mật ghê gớm trong tâm hồn người đàn bà tội nghiệp kia giống như một thứ rượu mới đựng trong một bầu da cũ bọp bẹp, nó dậy men, xủi bọt, sôi sục nhưng không sao làm bật được nút đậy, nó đành ồng ộc bên trong, rồi chảy rỉ qua các lỗ nứt, rò rỉ đây đó đủ để người ta ngửi thấy mùi nồng và bàn tán xem đó là thứ rượu gì.”[73]

Tin Mừng về Nước Chúa trong Giáo Hội và trong tâm hồn của mỗi tín hữu cũng giống hệt như thứ rượu mới trong bầu da cũ và giống như một thứ bí mật trong lòng người đàn bà: âm ỉ sôi sục và đáng yêu đến nỗi không thể nào giữ mãi được bên trong mà phải rò rỉ ra ngoài từ mọi khe hở. Chúa Giê-su đã phán, “Những gì các ngươi nghe rỉ tai, hãy công bố trên mái nhà” (Mt 10,27) là vậy đó.

(trích trong Raniero Cantalamessa, The Mystery of God’s Word, bản dịch của Ngọc Đính CMC, Mầu nhiệm Lời Chúa, 2001, tr. 31-47)

Phần trước Phần tiếp