Bài đọc thêm 2
“Khi tôi gặp được lời Ngài”
LỜI CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI RAO GIẢNG
[…] Chúng ta thấy rằng Cựu Ước cũng là một quyển sách nói về Chúa Ki-tô, quyển sách mà từ Thiên Chúa Cha, Ngài được “thừa hưởng” cùng với mọi sự khác. Việc đặt chân lý này trước mắt chúng ta hết sức quan trọng, nhất là trong bài suy niệm này, khi chúng ta khởi đi từ Cựu Ước để bước sang Tân Ước.
Trong sách Các Vua quyển thứ nhất, chúng ta gặp trình thuật kể lại cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa với ngôn sứ Ê-li-a trên núi Hôreb. Vị ngôn sứ chạy đến núi Hô-rep, núi của Thiên Chúa, để trốn lánh cơn thịnh nộ của vua A-cáp và hoàng hậu Giê-sa-ben. Ông vào một hang núi để nghỉ qua đêm, nhưng “xẩy ra lời Chúa đến với ông, ‘Tại sao ngươi lại ở đây hỡi Ê-li-a?’ Ông trả lời, ‘Tôi đã nhiệt thành phẫn uất vì Chúa các đạo binh, vì con cái Ít-ra-en đã từ bỏ giao ước với Người’… Thế rồi, Thiên Chúa phán, ‘Ngươi hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Gia-vê.’” Sau đó xẩy ra một cuộc hiển linh mầu nhiệm mà chúng ta ai nấy đều nhớ rất rõ: trước tiên là “một cơn cuồng phong,” nhưng Thiên Chúa không ở trong cơn cuồng phong; tiếp đến là “một trận động đất,” nhưng Thiên Chúa cũng không ở trong trận động đất; sau đó là “lửa cháy,” nhưng Thiên Chúa cũng chẳng ở trong lửa cháy. Sau lửa là “một tiếng thì thào êm nhẹ,” và Chúa đã ngự trong tiếng thì thào êm nhẹ (x.1V 19,1-13).
Đây là một trình thuật Thánh Kinh rất gợi tưởng, nhưng xin đừng hiểu sai như vẫn thường thấy. Trình thuật này không nói lời Chúa lúc nào cũng tỏ ra trong tiếng thì thào êm nhẹ và không liên quan gì đến cuồng phong, động đất hay lửa cháy. Ngược lại, Lời Chúa là tất cả những biến sự này như chúng ta có thể thấy được trong cuộc đời của chính ngôn sứ Ê-li-a. Ben Si-ra trong sách Huấn Ca đã ca ngợi, “Sứ ngôn E-li-a xuất hiện như ngọn lửa hồng, lời ông như một lò lửa bừng cháy” (x.Hc 48,1).
Bài học rút ra từ trình thuật trên đúng ra chính là cung cách vị ngôn sứ tiếp nhận Lời Chúa. Ông đã tiếp nhận Lời Chúa một cách thanh thản và trong thinh lặng, nhưng từ trong tâm hồn ông, Lời Chúa đã được biến đổi rồi trào xuống trên dân chúng dưới hình thức của lửa và sấm chớp. Ngôn sứ Ê-li-a là tiên trưng và biểu tượng cho những người rao giảng Lời Chúa. Từ kinh nghiệm của ngôn sứ Ê-li-a, trong bài suy niệm này, chúng ta hãy cố gắng làm sáng tỏ mối tương quan giữa lời Chúa với người ngôn sứ, giữa việc lắng nghe và việc rao giảng Lời Chúa.
1. Lời Chúa vang lên từ trong thinh lặng
Đoạn Thánh Kinh chúng ta vừa suy niệm trên đây đã xẩy ra trong một bối cảnh rất đặc biệt: giữa đêm tối, trong sa mạc, trên núi cao, trong tĩnh lặng và hết sức quạnh hiu. Mọi người đã bị để lại phía sau, rất xa đàng sau; ở đây chỉ có Thiên Chúa và thiên sứ của người (vị đã nói với ngôn sứ Ê-li-a, “Hãy chỗi dậy mà dùng bữa”). Và thực sự phải hành trình rất xa để vào được lãnh địa của tĩnh lặng trước khi có thể nghe được Lời “phát ra từ miệng Thiên Chúa.”
Trong khía cạnh này, ngôn sứ Ê-li-a thực sự – trong tinh thần – đã hiện thân trở lại trong đời sống của thánh Gio-an Tẩy Giả, vì với thánh Gio-an Tẩy Giả, “Lời Chúa cũng đến trong sa mạc” (x.Lc 3,2). Nếu như Lời Chúa rất hiếm hoi thì nguyên do chỉ vì có quá ít tĩnh lặng. Lời Chúa bao giờ cũng vang lên từ trong tĩnh lặng: đây là điều kiện thanh tịnh của Lời Chúa. Thánh I-nha-xi-ô An-ti-ô-ki-a đã nói Chúa Giê-su là “Lời của Chúa Cha phát ra từ sự tĩnh lặng.[74]
Tương tự như khi Ngôi Lời giáng thế, khi “bắt đầu rao giảng,” Lời Ngài cũng phát ra từ trong tĩnh lặng, sự tĩnh lặng êm ả của làng quê Na-da-rét. Trước khi rước Thánh Thể, chúng ta phải giữ chay đồ ăn thức uống thế nào, thì chúng ta cũng phải giữ chay trước khi đón nhận Lời Chúa như vậy; giữ chay cho khỏi cái nhộn nhạo của bản thân cũng như của tha nhân. Lời Chúa quyết liệt đòi buộc chúng ta phải tránh xa sự náo nhiệt của trần gian, đến độ khi sai các môn đồ đi rao giảng, Chúa Giê-su đã khuyên dặn các ngài “đừng chào hỏi ai dọc đường” (Lc 10,4).
Đây không đơn thuần là vấn đề giữ thinh lặng, ít là giữ thinh lặng bên ngoài; nhưng đúng hơn là vấn đề làm cho cái tôi hoàn toàn trống rỗng, là vấn đề “để dành riêng cho Phúc Âm,” được tách biệt khỏi tất cả, như thánh Phao-lô Tông Đồ đã nói về chính Ngài (x. Rm 1,1). Khi tiến càng sâu vào sa mạc, người ta càng phải vứt bỏ những thứ cồng kềnh, những hình ảnh những ký ức trong đầu óc, những ước muốn, những thần tượng của thế gian eo xèo nhộn nhạo phải bị bỏ lại đàng sau. Lời Chúa trong trường hợp này (“Hãy đi, hãy xức dầu cho Ha-da-en, xức dầu cho Giêhu, và xức dầu cho Ê-li-siêu”) đã đến với ngôn sứ Ê-li-a tại điểm cuối cùng của con đường hoang vu, khi sức` cùng lực kiệt khiến ông nghĩ rằng mình đã hoàn toàn thất bại đến nỗi phải than van, “Đủ rồi, ôi lạy Chúa, xin cất mạng sống tôi đi, vì tôi có hơn gì cha ông của tôi đâu” (1V 19,4).
Chiếc bình sành ấy phải được làm trống rỗng hoàn toàn trước đã rồi mới có thể chứa đầy báu tàng Lời Chúa (x. 2Cr 4,7). Thánh Âu-gu-tinh nói rằng, “Giả sự Thiên Chúa muốn để tràn mật ngọt cho anh em, nhưng anh em lại đầy dấm chua, thì anh em sẽ đựng mật ngọt vào đâu? Phải đổ hết những thứ đang chứa bên trong ra trước, và phải súc ngay lập tức chiếc bình ấy đi, chịu khó lau rửa và chà sạch sẽ để tiếp nhận quà tặng nhiệm mầu.”[75] Anh em sắp sửa công bố Lời Chúa phải không? Mỗi lần như thế, anh em hãy đến và tiếp nhận từ đôi tay của Đấng Tử Giá trên thập tự.
Lời Chúa xem ra vẫn ở trong tầm với của chúng ta, ở ngay trong quyển Thánh Kinh gần kề. Nhưng thực sự, Lời Chúa giống như những bông hoa thảo dại mọc trên các vách đá lởm chởm và dốc dác thẳng đứng: người ta phải ra đi và đứt tay chảy máu mới hái được. Đối với một người rao giảng xứng danh cũng thế, Thánh Kinh trở thành một sa mạc mênh mông và chúng ta phải lang thang trong đó như ngôn sứ Ê-li-a. Điều này đã được giáo phụ Ô-ri-giê-nê nhận ra từ rất xa xưa, có lẽ ông là người am tường Thánh Kinh hơn bất kỳ ai trước đó và cả sau này nữa. Trước khi tìm được của nuôi bổ dưỡng từ Thánh Kinh – giáo phụ Ô-ri-giê-nê giảng rằng – người ta phải trải qua “một cảnh túng nghèo giác quan”; linh hồn bị bóng tối vây phủ tư bề và cứ phải lầm lũi giữa những nẻo đường không có lối ra. Thế rồi, đột nhiên, sau cuộc tìm tòi và cầu nguyện đớn đau, kìa, nhìn kìa, thanh âm của Lới Chúa bỗng vang lên và lập tức tất cả đều rạng rỡ; Đấng linh hồn tìm kiếm đang băng đến hội ngộ với linh hồn, “Ngài đang đến, nhảy qua núi, băng qua đồi” (x. Dc 2,8), thế là chúng ta chỉ còn có việc mở lòng mở trí để lắng nghe Ngài nói lời mạnh mẽ và hiền minh mà thôi.[76]
2. Quyển sách vừa ngọt vừa đắng
Niềm vui cuộc tương ngộ giữa người rao giảng và Lới Chúa thật mênh mang dạt dào, tương xứng với nỗi nhọc nhằn phải chịu trong thời gian tìm tòi và đợi trông. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã mô tả phút giây đặc biệt này như sau: “Các Lời của người, vừa gặp được, tôi đã ngốn lấy: Lời Người là sự vui sướng cho tôi, niềm hoan lạc của lòng tôi” (Gr 15,16).
Thánh Kinh đã sử dụng hình ảnh này nhiều lần để diễn tả giây phát Thiên Chúa ban Lời Người cho linh hồn nhân loại: hình ảnh “một quyển sách nhỏ” được ban và được nuốt trôi. Hình anh ấy đã được nói đến mặc nhiên trong câu rao vui cảu ngôn sứ Giê-rê-mi-a chúng ta vừa trích dẫn. Trong sách tiên tri Ê-dê-ki-en, chúng ta đọc thấy:
“Tôi nhìn, thì này có tay chìa ra cho tôi, và này trên tay có quyển sách. Người mở nó ra trước mặt tôi: quyển sách được viết cả trước lẫn sau: trong đó có viết những lời ai ca, than vãn, và hỡi ôi! Người phán với tôi, “con người hỡi,… hãy ăn quyển này đi, rồi đi đến với nhà It-ra-en.” Bấy giờ tôi mở miệng và người đã cho tôi ăn quyển sách. Đoạn Người nói với tôi, “con người hỡi, hãy nuôi bụng ngươi, hãy đổ đầy lòng ngươi bằng quyển sách mà Ta ban cho ngươi đây.” Vậy tôi đã ăn quyển sách và nó ngọt như mật ong nơi miệng tôi” (Êd. 2,9-3,3).
Hình ảnh này lại xuất hiện một lần nữa trong sách Khải Huyền, hơn nữa, còn được bổ túc thêm một yếu tố quan trọng khác: “quyển sách nhỏ” thực sự vẫn “ngọt như mật trong miệng, nhưng rồi biến thành đắng đót trong lòng dạ vị ngôn sứ (x. Kh 10,8-10). Quyển sách ở đây tiêu biểu cho sứ điệp cụ thề vị ngôn sứ được mời gọi để công bố trong một dịp cụ thể, nhưng rõ ràng cũng tượng trưng cho Lời Chúa nói chung, diễn tả một điều luật bất biến trong việc phụng sự Lời Chúa. Chúng ta hãy cố gắng hiểu cho tường tận hình ảnh quyển sách này vì nó trình bầy về sứ mạng phụng sự Lời Chúa còn súc tích hơn toàn thể những bài khảo luận khác bàn về cung cách công bố Lời Chúa.
Thiên Chúa đã phán bảo vị ngôn sứ, “Cầm lấy quyển sách mà nuốt đi.” Giữa việc đọc hay nghiên cứu một quyển sách với việc nuốt lấy nó có một sự khác biệt. Trong trường hợp thứ nhất, quyển sách vẫn còn ở bên ngoài; tương quan người rao giảng với Lời Chúa là tương quan gián tiếp và còn ngăn cách; Lời Chúa chỉ đi qua đôi mắt hoặc não bộ; một hình thức trừu xuất đơn giản đã xẩy ra, từ những trang giấy của quyển sách đến tai của người nghe (hoặc đến những trang giấy của một quyển sách khác, trong trường hợp truyền đạt bằng văn bản). Người ta vẫn thường than thở về một vị giảng thuyết nào đó, “Ông ta giảng như một quyển sách in.” Truyền đạt như thế thì khó lòng đánh động được tâm hồn người nghe.
Trong trường hợp thứ hai – quyển sách được nuốt – Lời Chúa được “nhập thể” trong người rao giảng, “lời đã trở thành thịt,” một lời sống động và đầy hiệu năng. Tương quan giữa người rao giảng với Lới Chúa trong trường hợp này là tương quan trực tiếp và biệt vị. Có một hình thức đồng nhất mầu nhiệm ở đây khiến người ta không thể không nghĩ đến (dĩ nhiên chỉ so sánh mà thôi) mầu nhiệm Nhập Thể. Người rao giảng nuốt Lời Chúa và đón tiếp Lời Chúa vào lòng. Giống như Đức Ma-ri-a trước kia, họ cũng để lời Chúa đến và nhập thể trong họ, và một lần nữa “cư ngụ giữa con người.” Lời Chúa được nuốt là Lời Chúa được đồng hóa bởi một con người, đây là đồng hóa thụ động (như trong trường hợp Bánh Thánh); người rao giảng ở trong tình trạng “được đồng hóa” với Lời Chúa, được Lời Chúa – như nguyên ủy thiết yếu hết sức mãnh liệt – quy thuận và khuất phục.
Tuy nhiên, chúng ta hãy đi vào trọng tâm của hình ảnh này. Quyển sách nhỏ, như sách Khải Huyền mô tả, ngọt ngào như mật trong miệng nhưng lại trở nên cực kỳ cay đắng trong lòng dạ. Điều này có ý nghĩa gì? Quả thật, Lời Chúa ngọt ngào cho tha nhân, cho những người lắng nghe Lời Chúa từ miệng lưỡi chúng ta, nhưng đối với bản thân người rao giảng thì Lời Chúa lại trở nên cay đắng. Thực vậy, Lời Chúa càng ngọt ngào và thuyết phục đối với tha nhân thì lại càng trở nên đắng đót cho chúng ta. Thánh Phao-lô Tông Đồ đã tâm sự với những tín hữu tân tỏng của ngài ở Co-rin-tô rằng: “Xét về tác vụ của chúng tôi, sự chết hoạt động nơi chúng tôi, còn sự sống hoạt động nơi anh em” (2Cr 4,12).
3. “Chính bạn là người ấy”
Có hai nguyên nhân tạo ra vị đắng đót này; để hiểu được hai nguyên nhân ấy, chúng ta phải đi thật sâu vào mầu nhiệm rao giảng.
Nguyên nhân thứ nhất là tội lỗi. Lời Chúa xét xử tội lỗi mà chúng ta lại là những tội nhân! (Có thể có người phản đối khi nại rằng Chúa Giê-su đâu phải là tội nhân. Đúng, nhưng vì Chúa Giê-su đã gánh tội của tất cả chúng ta, và như thế, Ngài khác nào một tội nhân; hơn nữa, không chỉ như một tội nhân mà thôi, Thánh Kinh còn viết Ngài còn là hiện thân của tội lỗi nữa (2Cr 5,21). Nhưng chúng ta hãy kính cẩn đặt Chúa Giê-su ra ngoài chỗ này, vì Ngài là một trường hợp hoàn toàn khác biệt, chúng ta chỉ xét đến bản thân chúng ta mà thôi).
Nuốt quyển sách đầy những khốn khổ, ai oán và than vãn là nuốt lấy án xử đáng sợ của Thiên Chúa đối với tội lỗi. Khi án xử này tiếp giáp tội lỗi, tức thì bùng nổ ra một cuộc giằng xé kịch liệt. Và cuộc giằng xé này chủ yếu xẩy ra trong tâm hồn của người rao giảng; đó là nơi cuồng phong phải nổi lên. Còn nếu không có gì xẩy ra, thì Lời Chúa sẽ qua miệng lưỡi chúng ta như một năng lực đã bị cạn kiệt, Khi Lời Chúa đến với ngôn sứ I-sai-a, vị ngôn sứ tưởng mình là một linh hồn đã bị trầm đọa nên kêu than: “Khốn thân tôi, tôi đã bị án! Vì tôi là người môi miệng nhơ uế” (Is 6,5). Thánh Phaolô Tông Đồ nói rằng Chúa Ki-tô đến thế gian để cứu vớt các tội nhân, nhưng trong số đó, ngài là kẻ đầu tiên (x. 1Tm 1,15). Chẳng lẽ bản thân tôi đây mà lại khá hơn thánh Phao-lô hay sao? Chắc chắn là không! Nếu vậy thì tôi phải chân nhận, “trong số đó, tôi mới là kẻ đầu tiên!”
Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ sánh ví Lời Chúa như một tấm gương (x. Gc 1,23). Như thế, các hành vi sai trái (dĩ nhiên người khác cũng có, nhưng chúng ta hãy xét sau) trước hết phải quy trách về chúng ta là những người rao giảng. Khi chúng ta giơ cao tấm gương cho tha nhân tự soi để nhìn ra họ trong đó, chúng ta lại an toàn núp sau tấm gương. Não trạng giáo sĩ tự nhiên làm chúng ta ngỡ tưởng chúng ta và tấm gương là một; mọi Lời Chúa dạy tất cả đều áp dụng cho tha nhân, chĩa mũi nhọn về họ hết.
Thế nhưng Thánh Kinh nói rằng Lời Chúa là một “thanh gươm hai lưỡi”, nghĩa là có thể vung lên hoặc chặt xuống, nhưng còn có nghĩa là có thể đâm đàng trước hoặc thọc đàng sau; như vậy lời Chúa không chỉ là án xử của người nghe mà còn là án xử của người giảng nữa.
Thánh Âu-gu-tinh đã xác quyết, “Người nào chính họ trong lòng không lắng nghe Lời Chúa, thì chỉ là một kẻ rao giảng vô tích sự.” Ngài còn nói tiếp, “Anh em là những người nghe Lời Chúa, còn chúng tôi là những người rao giảng. Nhưng tự đáy tâm hồn, nơi không ai có thể nhìn thấy, chúng ta tất cả đều là những người lắng nghe Lời Chúa.”[77]
Hỡi người rao giảng Lời Chúa, mỗi lần bạn công kích một giống tội nào đó, mỗi lần bạn giải thích dụ ngôn người Sa-ma-ri-a nhân hậu, và kể lại sự kiện thầy tư tế với thầy Lê-vi đã phớt lờ bỏ đi, mỗi lần bạn thuyết giảng về người đầy tớ được chủ tha cho gánh nợ kếch xù nhưng lại đè cổ xiết nợ bạn đồng liêu, bạn hãy chăm chú lắng nghe và tự thâm tâm, từ “lòng dạ,” bạn sẽ nghe thấy một thanh âm vọng lên như lời ngôn sứ Na-than tố cáo vua Đa-vít: “Kẻ ấy, chính là bạn! Chính bạn là kẻ ấy!”
Chúng ta, những thừa tác viên Lời Chúa, thường xuyên phải sống trong một tình trạng nguy hiểm: khi giải thích Lời Chúa, chúng ta ráng sức đến đỏ mặt bừng tai để thuyết phục anh chị em giáo dân tin rằng Lời Chúa là để áp dụng cho họ, thực sự chỉ về họ chứ không ai khác; nhưng có thể nói chúng ta lại không ý thức rằng chúng ta đang bỏ sót chiếc vòng đầu tiên của sợi dây xích (là bản thân chúng ta), và thế là tất cả bị treo vào chỗ không. Lời Chúa áp dụng “cho chính chúng ta” trước nhất. Chúng tôi đang đứng ở đây mà gào to, “Chính bạn là kẻ ấy!” Khi làm thế, chúng tôi nhớ lại lời kết án của Chúa Giê-su: “Khốn cho các ngươi, hỡi các ký lục và biệt phái, các ngươi chất những gánh nặng không sao kham nổi lên vai người khác, còn các ngươi lại không buồn động ngón tay lay thử” (x. Mt 23,4). Ngay lúc chúng tôi đang đứng đây, than ôi, Lời Chúa vang lên trong lòng: “Kìa, ngươi chính là kẻ ấy! Ngươi là kẻ chất những gánh nặng không kham nổi lên vai thiên hạ, ngươi đang kêu gào phải có sự nhất quán giữa lời rao giảng và đời sống, mặc dù ngươi ý thức rằng chính bản than ngươi đã xa rời điều ấy biết bao!”
Một lần kia, chúng tôi đảm nhận trách nhiệm giảng một loạt bài quan trọng (đó là lần giảng phòng mùa Chay đầu tiên của chúng tôi tại phủ Giáo hoàng), và trong khi đang đọc hinh Thần Vụ trên xe hỏa, tôi gặp được lời Thánh Vịnh 50:
Với kẻ gian tà, Thiên Chúa phán:
“Việc gì đến ngươi mà ngươi điểm các giới luật,
Và bô bô nơi miệng Giao Ước của Ta?
Trong khi ngươi chê ghét giáo điều,
Và quẳng sau lưng lời lẽ của Ta!…
Ta sẽ sửa trị, Ta sẽ banh ra trước mắt ngươi.”
Ôi những lời này thật cay đắng nhưng bổ ích cho lòng dạ chúng tôi biết bao! Trước khi tôi rao giảng Lời Chúa cho người khác, Lời Chúa phải thấm nhuần nơi tôi trước đã. Vì Lời Chúa thấm thấu thế nào! Quá rõ, tôi đã là một thằng tội nhân, không quan tâm gì đến việc tuân giữ kỷ luật của Chúa, xa lánh nếp sống khắc khổ cần thiết và tránh né các yêu sách triệt để của Lời Chúa, vậy mà lúc nào trên môi miệng cũng bô bô các giáo điều và giao ước của Chúa.
Đó không phải là lời Thánh Kinh duy nhất cho người rao giảng có thể lục xét lương tâm của họ. Thánh Phao-lô Tông đồ còn đưa ra một bảng cáo trạng thật dài cho những kẻ (theo ngữ cảnh là những người Do Thái) đã được ủy thác Thánh Kinh, nhưng rồi không dùng Thánh Kinh để phán xét bản thân mà lại đoán xét tha nhân. Thánh Tông Đồ nói, còn ngươi, ngươi ỷ rằng mình có Lề Luật và tự hào vì có Thiên Chúa; ngươi được biết ý Người, được Lề Luật dạy cho điều hay lẽ phải; ngươi xác tín rằng mình là người dẫn dắt kẻ mù lòa, là ánh sáng cho kẻ ở trong bóng tối, là nhà giáo dục kẻ u mê, là thầy dạy người non dạ, vì ngươi tưởng mình có Lế Luật là có tất cả tri thức và chân lý. Vậy ngươi biết dạy người khác, mà sao lại không dạy chính mình! Tại sao? (x. Rm 2,17-24).
Thánh Tông Đồ đưa ra nhiều thí dụ, nhưng chúng tôi cũng có thể trưng ngay cho các bạn những thí dụ của riêng chúng tôi: Các bạn kết án thói ghen ghét và kêu gọi hãy yêu thương, thế mà các bạn đã thực lòng yêu thương người lân cận của các bạn chưa? Các bạn có yêu thương những người thù địch của các bạn chưa? Các bạn rao giảng, “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó,” thế mà các bạn đã thực sự siêu thoát của cải và sự khen thưởng chưa? Các bạn đã sẵn sàng từ bỏ mọi sự chưa? Các bạn đã sống nghèo thực sự chưa?
Lạy Chúa, giờ đây chúng con ca khen Lời Chúa; xin cho chúng con ý thức trong sự ngỡ ngàng rằng Lời Chúa quả thực là một thanh gươm hai lưỡi xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; không loài thụ tạo nào mà không hiện nguyên hình trước Lời Chúa (x. Dt 4,12-13). “Người bị cơn thịnh nộ Chúa đánh phạt sẽ dâng lên Người vinh quang, và những kẻ sót lại sau cơn nghĩa nộ sẽ tuân giữ các ngày lễ của Người” (Tv 77,11).
4. Những người thông phần cuộc khổ nạn
Tuy nhiên, tội lỗi mới chỉ là nguyên nhân thứ nhất của sự đắng đót do Lời Chúa gây ra cho người rao giảng. Còn một nguyên nhân khác nữa, nhưng chúng tôi cảm thấy ngần ngại khi nói về nguyên nhân này; các thánh mới là những người đã thực sự sống điều này, giả sử các ngài lên tiếng thì hay biết mấy! Chúng tôi đành nói dựa trên những gì đã được nghe biết, nhưng phải bám sát vào Thánh Kinh hơn bao giờ hết và xin nói “bằng những lời của chính Chúa.”
Quyển sách nhỏ đã được các ngôn sứ, trước tiên là Giê-rê-mi-a, tiếp đến là Ê-dê-ki-en, và rồi thánh Gio-an Tông Đồ nuốt đi chứa đầy những “ai oán, than vãn, và khốn cùng.” Nhưng những lời ai oán này không phải là những lời ai oán của nhân loại, mà là lời ai oán của Thiên Chúa. Khắp bộ Thánh Kinh, lời đó vọng lên cho những ai có thể nghe được trong tiếng van lơn não nuột, “Hỡi dân Ta, hỡi dân Ta!” Lời than vãn tê tái này là lời Thiên Chúa than khóc vì đoàn con cái không ngừng dấy động những cuộc khởi loạn để chống báng Người; và sau cùng lời ai oán ấy đã biểu lộ ra bằng những giọt nước mắt của Chúa Ki-tô khóc thương thánh Giê-ru-sa-lem. Ôi, đây mới là nguyên nhân sâu xa của nỗi đắng cay! Đây là sự thông phần vào cuộc khổ nạn, pathos, của Thiên Chúa. Giáo phụ Ô-ri-giê-nê đã để lại cho chúng ta đoạn văn thấm thía tuyệt vời sau đây:
“Đấng Cứu Độ đã xuống thế vì cảm thương nhân loại. Ngài đã gánh chịu những đau khổ của cúng ta trước cả khi chịu nhận trên thập giá, trước cả khi đoái tình mặc lấy xác thể chúng ta; bởi vì nếu như Ngài đã không gánh chịu những đau khổ ấy trước, có lẽ Ngài đã không đến để chia sẻ kiếp sống con người với chúng ta. Đau khổ này là đau khổ gì mà ngay từ đầu Ngài đã nhận chịu vì chúng ta? Đó là cuộc khổ nạn tình yêu.
Nhưng có chắc gì Thiên Chúa Cha, Chúa Tể của vũ trụ, Đấng đầy khoan dung, từ bi, lân tuất, lại không thể chịu đau khổ được? Có lẽ bạn không biết rằng, khi can dự vào những công việc con người, Thiên Chúa cũng chịu một cuộc khổ nạn con người hay sao?… Người chịu một cuộc khổ nạn tình yêu.”[78]
Thiên Chúa Cha chịu một cuộc khổ nạn tình yêu vì nhân loại. Toàn bộ Lời Chúa đều thấm đẫm cuộc khổ nạn này; vì thế chúng ta không được phép công bố Lời Chúa một cách nhạt nhẽo, chúng ta không thể không chia sẻ ít nhiều vào cuộc khổ nạn này, không thể không như ngôn sứ Ê-li-a, “nhiệt thành phẫn uất vì Chúa các đạo binh.” Đây là lý do vì sao lời của ngôn sứ Ê-li-a, của ngôn sứ Giê-rê-mi-a, của thánh Phanxicô Ngèo và của rất nhiều vị thánh khác đều hừng hực như lửa bỏng. Các ngài đã cúi xuống trên vực thẳm, các ngài đã thoáng thấy sự thật của một Thiên Chúa không được thụ tạo của người lắng nghe, một người Cha bị con cái phỉ nhổ, một Đấng bị “ép buộc” phải hành động ngược lại với khuynh hướng toàn yêu toàn thương của mình đến độ hết dọa nạt rồi lại dọa nạt, hết trừng phạt rồi lại trừng phạt.
Trước Chúa Giê-su, vị thánh sống “cuộc khổ nạn của Thiên Chúa” sâu xa nhất có lẽ là ngôn sứ Giê-rê-mi-a, trong nhiều phương diện và trong nhiều trường hợp, ngài là hình bóng cho cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô. Đã có những lúc, tâm hồn vị ngôn sứ đã tan chảy và trở nên một trong tâm hồn Thiên Chúa: khi ấy, tiếng than van, vừa đậm chất người vừa nặng tính thần linh, như vọng trước những lời não nuột của Chúa Giê-su trong vườn Cây Dầu: “Lòng ruột, lòng ruột tôi đòi đoạn, chuyển cả vách tim! Tim tôi đập thình thịch, làm tôi không thể nín thinh… Tôi đầy cơn phẫn nộ của Gia-vê, vô phương cầm lại” (x. Gr 4,19; 6,11).
Sau khi thánh Gio-an Tông Đồ đã nuốt quyển sách nhỏ và nỗi đắng đót trong lòng dạ đã dịu xuống, ngài nghe một lời phán, “Hãy đi, ngươi phải tuyên sấm lần nữa trên các dân, các nước… và các vua chúa” (Kh 10,11)
(trích trong Raniero Cantalamessa, The Mystery of God’s Word, bản dịch của Ngọc Đính CMC, Mầu nhiệm Lời Chúa, 2001, tr. 49-63)
