Lm. Micae Trần Đình Quảng
Năm Thánh 2000

MỤC LỤC II. Nhận diện Đức Kitô ngày hôm nay IV. Hoán cải hướng về Đức Kitô XI. Cầu nguyện theo lời Chúa dạy XII. Suy niệm về lời kinh Chúa dạy PHỤ LỤC I. Sống thánh theo gương Đức Kitô |
Mahatma Gandhi, người được coi là vị thánh của Ấn Ðộ, người đã có công giải phóng quê hương khỏi ách thống trị của thực dân Anh bằng phương pháp bất bạo động, đã nói thế này: “Trong tâm hồn tôi, Ðức Giêsu chiếm địa vị một bậc Thầy của nhân loại. Ngài là người đã có một ảnh hưởng quan trọng trong cuộc đời của tôi”. Một người ngoại mà còn thú nhận ảnh hưởng của Ðức Kitô trong cuộc đời mình như thế, còn người kitô hữu chúng ta thì sao ?
Ðời sống thiêng liêng của ta, dù dựa vào bất cứ phương pháp nào, theo bất cứ trường phái nào, đều phải hướng về Ðức Kitô, coi mối tương giao với Ngài là chủ yếu, đặt Ngài làm trung tâm. Phải nói được như thánh Phaolô: “Ðối với tôi, sống là Ðức Kitô” (Pl 1,21).
Khi cần hiểu rõ ý nghĩa của một từ, chúng ta tra tự điển. Khi cần hiểu rõ ý nghĩa của đời sống, của mỗi thực tại hằng ngày, khi cần nguyên tắc để sống, chúng ta có cuốn tự điển là chính Ðức Kitô. Phải thường xuyên tra cứu, lật đi lật lại tự điển này. Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu viết trong cuốn Tự thuật là mỗi khi gặp một khó khăn nào, ngài đều mở sách Kinh Thánh, để tìm một nguyên tắc chỉ đạo. Chúng ta có Ðức Kitô là Thầy, là người chỉ đạo. Phải tra cứu ở đó. Cuộc đời và lời giảng dạy của Chúa luôn là mẫu mực cho ta. Có thăng tiến được cũng là nhờ không ngừng đối chiếu và canh tân dựa vào khuôn mẫu ấy.
Dựa vào điều trên đây, tôi khai triển một số đề tài qui đời sống của chúng ta về Ðức Kitô.
Hãy khởi đầu bằng việc gặp gỡ Chúa.
1. Hãy “đến mà xem”(Ga 1,39)
Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Lời Thiên Chúa đến dạy ta. Nhưng trước khi cho người ta nghe, Ngài đã muốn cho người ta thấy. Mắt quan trọng hơn tai. Thấy đã rồi mới nghe sau. Chứng cớ? Thì cứ rảo qua một vài sự kiện được Phúc Âm ghi lại.
Ngay khi Chúa sinh ra, các mục đồng được thần sứ loan báo, đã hối hả đi đến nơi và gặp Maria, Giuse, cùng Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Thấy rồi. họ trở về tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa vì mọi điều đã được nghe và thấy (Lc 2,10-20). Họ có nghe, nhưng nghe là nghe lời của thần sứ. Còn đối với lời mặc xác phàm, họ chỉ có thấy.
Ngày Hài Nhi được dâng vào Ðền thờ, ông già Simêon ẵm Chúa trong tay và kêu lên: “Chính mắt con được thấy ơn cứu độ” (Lc 2,30).
Trong 30 năm ở Nagiarét, tức tới 9/10 cuộc đời, Ðức Giêsu chỉ muốn là người có mặt mà thôi. Thực ra, Chúa cũng có nói, như thấy trong trình thuật năm Chúa lên 12 tuổi cùng với cha mẹ lên Ðền thờ. Thế nhưng đây chỉ là những lời vắn tắt, nói riêng cho cha mẹ đã lo lắng tìm Ngài. Vậy thôi. Cũng thánh sử Luca cho biết : lúc ở Ðền thờ, Chúa “ngồi giữa các Thầy dạy, vừa nghe họ vừa đặt câu hỏi” và “ai nghe cũng ngạc nhiên. về những lời đáp của cậu” (Lc 2,46-47). Nhưng Chúa đã nói gì, đối đáp ra sao, ai mà biết được? Luca đâu có ghi lại.
Có thể nghĩ rằng lời Chúa chỉ được công bố cho mọi người khi Chúa bắt đầu sống cuộc đời công khai. Còn những năm dài ở Nagiarét chỉ là hiện diện suông, cho người ta thấy thôi, đến nỗi sau này, khi nghe Chúa giảng dạy, dân chúng phải ngạc nhiên mà hỏi nhau: “Ông ấy không phải là con bác thợ sao? Mẹ ông không phải là bà Maria sao?” (Mt 13,55)
Khi Chúa bắt đầu cuộc đời công khai, người ta làm gì đối với Ngài ? Nhìn. Lần đầu tiên Ngài đọc sách ở hội đường Nagiarét, nơi Ngài đã sống từ nhỏ đến lớn, mọi người trong hội đường đều nhìn Ngài (Lc 4,20). Tuy nhiên, lúc này không phải là thấy suông nữa, như họ vẫn thấy Ngài trước đây, nhưng là đăm đăm nhìn, như chờ như đợi Ngài nói, vì họ đã nghe biết Ngài được ca tụng ở những nơi khác.
Còn các môn đệ đầu tiên, khi nghe Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa, đã đi theo Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Và Chúa trả lời: “Ðến mà xem”.
Cho nên, vấn đề quan trọng tiên quyết là phải xem, phải thấy, phải gặp gỡ. Nói như Têrêxa Giêsu: “Tôi muốn nhìn thấy Thiên Chúa”. Ở đây, phải thấy, phải gặp Ðức Giêsu trước đã. Thánh sử Gioan hẳn đã thường xuyên suy niệm về điều này, nên đã viết trong bài Tựa sách Phúc Âm của mình: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm. Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người” (Gioan 1,14). Lưu ý điều Gioan viết: “chúng tôi” chứ không phải “tôi”. Thấy là thấy của một tập thể, một cộng đồng sống theo Ðức Kitô, trung thành với truyền thống tông đồ. Chúng ta có thấy Chúa là thấy theo cách đó.
Muốn thấy thì phải tìm. Giữa người này với người kia, đôi khi chẳng cần tìm cũng lù lù mò đến. Với Chúa thì khác. Chính Chúa đã có sáng kiến xuống thế tìm kiếm con người. Có thể thấy một dấu chỉ ngay trong câu truyện Chúa gặp các môn đệ đầu tiên nói ở trên. Tác giả Phúc Âm thứ tư cho biết : Gioan Tẩy Giả đứng ở đó với hai môn đồ, còn Dức Giêsu thì đi ngang qua. Hai cung cách trái ngược nhau. Ðứng là cung cách cũ hoặc chấm dứt một cung cách cũ. Ði là khởi đầu một sứ mệnh mới, sứ mệnh tìm kiếm liên tục cho tới khi Ðức Giêsu về lại với Chúa Cha. Nói đúng ra, Thiên Chúa của Cựu Ước cũng đi tìm con người, chẳng hạn Ngài đích thân đến gặp Ađam, Evà ở vườn Ðịa Ðàng, nhưng phần lớn Ngài tìm kiếm con người qua các sứ giả.
Tuy Thiên Chúa đi tìm con người, nhưng con người cũng phải tìm Ngài thì mới thấy, nghĩa là con người phải đáp lại hành động của Thiên Chúa. Hãy làm như tác giả Thánh vịnh 62: “Lạy Chúa, Ngài là Chúa con thờ. Ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa”. Có thể thấy việc con người phải tìm Chúa trong chính ý nghĩa của ý tưởng “con người là hình ảnh của Thiên Chúa”. Hình ảnh, một cách nào đó, cũng là biểu tượng. Mà biểu tượng, xét theo ngữ nguyên symballein, là ráp hai nửa của một vật lại với nhau. Vậy con người, hình ảnh biểu tượng của Thiên Chúa, sẽ mãi mãi tìm ráp chính nó với cái nửa kia, cái nửa mà nó vẫn thiếu, vẫn khao khát được ráp lại. Cái nửa ấy là chính Thiên Chúa.
Về phía Thiên Chúa thì Ngài chỉ mạc khải mình cho những ai hết dạ tìm Ngài. “Ai tìm kiếm Ðức Khôn Ngoan thì Ðức Khôn Ngoan cho gặp” (Kn 6,12). Sấm của Giavê qua miệng Giêrêmia nói rằng: “Các ngươi sẽ tìm Ta và các ngươi sẽ thấy, vì các ngươi sẽ hết lòng kiếm Ta, Ta sẽ cho các ngươi được gặp” (Gr 29,13-14).
Theo Phúc Âm Gioan, lời đầu tiên Chúa mở miệng nói chính là lời liên hệ đến việc tìm kiếm. Khi thấy hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả theo mình, Chúa quay lại hỏi: “Các anh tìm gì thế?” (Ga 1,38). Ðây cũng phải là câu Chúa hỏi chúng ta, mời gọi ta tìm kiếm, lựa chọn, một cách tự do và sáng suốt. Chúa không muốn ta theo Ngài mà chỉ dựa dẫm vào chứng từ của người khác. Ngài muốn ta vượt ra khỏi thái độ thờ ơ bẩm sinh để đích thân tìm Ngài. Hơn nữa, khi đi tìm, phải ý thức việc mình làm, không theo cách “ngớ ngẩn đi xia may vớ được” (Trần Tế Xương), không phải tìm bất cứ cái gì, không phải tìm vì tò mò muốn biết để biết vậy thôi. Tìm Chúa thực sự, tìm “nơi ở” của Chúa như hai môn đệ kia, để có thể gặp gỡ sâu xa với Ngài.
Không những phải tìm, phải thấy, mà còn phải lưu lại với Chúa. Chính Gioan là một trong hai môn đệ đã hỏi Chúa, được Chúa trả lời, đã đến, đã thấy nơi Ngài lưu lại, và đã lưu lại với Ngài ngày hôm đó (Ga 1,39). Việc lưu lại này hẳn phải tác động sâu xa trên Gioan, khiến ông không thể quên, nên đã cẩn thận ghi rõ thời khắc : lúc đó khoảng chừng giờ thứ mười (4 giờ chiều). Quên sao được, vì đây không phải là một cuộc gặp gỡ bình thường, không phải là cuộc trò chuyện tầm phào, không chỉ là xem cho biết. Về phía Chúa, Ngài đã qua giác quan của ông mà đi vào con người của ông. Về phía Gioan, đây là một sự “thấy” vào sâu, vượt qua bình diện hiện tượng, để nắm bắt thực tại sâu xa bị xác thịt che khuất.
Thực ra, ngay từ câu hỏi “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”, hai môn đệ hẳn đã không chỉ hỏi nơi Chúa ở, như hỏi một địa chỉ, một căn nhà, một nơi trú. Tác giả Gioan, vốn quen sử dụng những từ gồm hai nghĩa, hẳn muốn cho người ta thấy một ý nghĩa thứ hai, sâu sắc hơn, hàm chứa trong câu hỏi trên đây. Nó liên hệ tới nơi ở thiêng liêng của Chúa nữa kia. Tương tự như câu mà sau này Philipphê sẽ thưa với Chúa :”Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Gioan 14,8). Chúa Cha chính là nơi mà Ðức Giêsu lưu lại.
Thế nên, nghe lời Chúa bảo “Ðến mà xem”, hai môn đệ đến, và không chỉ khám phá nơi Chúa trú ngụ, mà còn khám phá ra chỗ ở thiêng liêng của Chúa, đặc biệt do lưu lại và trao đổi lâu với Chúa ngày hôm đó. Chỗ ở thiêng liêng này chính là Chúa Cha. Họ đã gặp được chính Chúa Cha. Thực như điều Chúa sẽ trả lời cho Philipphe: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9).
Cũng vì tác động sâu xa của cuộc gặo gỡ này, nên trong Thư thứ nhất của mình, Gioan đã viết: “Ðiều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là lời sự sống. Quả vậy, sự sống đó đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời. Ðiều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa” (1Ga 1,1-3).
Chúng ta cũng vậy. Trong đức tin, phải đi tìm Chúa, gặp gỡ Chúa và lưu lại với Chúa. Tiếp xúc với Chúa tới tận mức đó, Ngài sẽ tỏ cho ta thấy Ngài là ai. Và thấy Ðức Kitô là thấy Chúa Cha, vì Ngài với Cha là một. Con người, lời nói và hành động của Ngài chính là sự mạc khải chính xác về Chúa Cha. Ðức Kitô chính là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Cl 1,15). Chúng ta cũng gặp được Chúa Thánh Thần, vì Thánh Thần là Thần Khí của Ðức Kitô.
2. “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”(Ga 1,38)
Hai môn đệ đầu tiên đã hỏi Chúa như thế, và được Ngài cho biết chỗ Ngài ở. Còn chúng ta hôm nay có thể gặp gỡ Chúa ở đâu ? Ta biết rằng sau khi sống lại, Chúa đã nhiều lần hiện ra với các môn đệ, không chỉ để củng cố tinh thần các ông, nhưng còn, và chủ yếu còn là để cho các ông hiểu rằng Ngài vẫn sống, hằng sống, và hiện diện giữa các ông, giữa Giáo Hội và thế giới. Trước khi về trời, Chúa đã hứa với các ông một cách chung chung: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Ngày xưa, Chúa mới chỉ cho hai môn đệ thấy một chỗ ở, hoặc đúng hơn, một chỗ ở vật chất và một chỗ ở thiêng liêng. Trước khi chịu Khổ Nạn, Chúa nói với các Tông đồ là Ngài đi trước để dọn chỗ cho các ông trong nhà Cha trên trời (Ga 14,2). Khi diễn giải điều này, thánh Augustinô viết: “Ðức Kitô chuẩn bị chỗ ở cho các môn đệ bằng cách chuẩn bị họ cho các chỗ ở của Ngài. Tức là : không còn phải là một chỗ ở, nhưng là rất nhiều. Không còn phải là hiện diện ở một nơi, nhưng là ở nhiều nơi.
(Ngày xưa còn bé, học bổn có câu : Hỏi : Ðức Chúa Trời ở đâu? Thưa : Ðức Chúa Trời ở khắp mọi nơi, trên trời dưới đất, chẳng có nơi nào mà chẳng có Ðức Chúa Trời. Mấy đứa bạn thắc mắc : Làm sao cùng một lúc Chúa có thể ở lắm chỗ thế? Nay thì được nghe phân biệt : Ðây không phải là sự hiện diện đóng khung vào một nơi nhất định. Tôi, một người có xác có thịt, thì hoặc ở trong phòng hoặc ở ngoài phòng, không thể một trật ở cả hai nơi (“Thân này” đâu có “ví xẻ làm đôi được”). Nhưng Chúa là thần thiêng, nên khác. Hơn nữa, phải hiểu hiện diện theo quan niệm nhân vị. Không phải tương quan với một nơi, nhưng là tương quan giữa người và người. Hiện diện này là truyền đạt và hiệp thông, nên có mức độ. Càng tự hiến thì càng hiện diện).
Vậy rất nhiều chỗ có thể gặp Chúa. Có những chỗ được Ngài xác định rõ ràng. Dĩ nhiên, để có thể thấy Ngài, gặp Ngài, con mắt xác thịt không đủ. Có khi cũng chẳng cần. Người mù mắt có thể gặp Chúa ngon hơn người sáng mắt. Cần là cần đức tin, con mắt đức tin. Chính đức tin cho thấy những hình thức trung gian Chúa chọn, để qua đó ta có thể tiếp xúc với Ngài.
Nói chung, ta có thể quả quyết rằng, vì Ðức Kitô ẩn tàng trong tạo thành, nên theo một nghĩa nào đó, vũ trụ là dấu chỉ của Ngài. Mọi vật đều mang dấu vết của Chúa. Mọi sự đều mạc khải Chúa. Augustinô viết: “Lịch sử chứa đầy Ðức Kitô” (L’histoire est grosse du Christ). Như vậy, có quá nhiều trung gian và phương tiện giúp ta có thể gặp Chúa. Chúng ta có thể chọn lấy một. Nguyên tắc là thế, nhưng cũng phải nói: Kinh nghiệm về Chúa sẽ nghèo nàn biết bao nếu không sử dụng một số phương tiện có ý nghĩa cách đặc biệt và rất đáp ứng với người thời nay. Có thể kể :
– Gặp Chúa trong Giáo Hội và trong các bí tích
Nếu Ðức Kitô hiện diện trong Thân Thể Ngài là Giáo Hội (Ep 1,23), thì chính giữa lòng cộng đồng bác ái và cầu nguyện này mà ta có thể gặp Ngài, có kinh nghiệm về Ngài.
Quả thực, trong Giáo Hội, nhất là trong Phụng vụ, ta thấy một loạt các phương tiện trung gian dễ dàng giúp ta gặp gỡ thiêng liêng với Chúa. Hiến chế về Phụng vụ của CÐ Vat.II, số 7, có kể ra những hình thức hiện diện của Chúa. Có hiện diện động. Có hiện diện tĩnh.. Chúa hiện diện trong Thánh Lễ, không những nơi con người linh mục chủ sự, mà nhất là hiện diện thực sự dưới hai hình Thánh Thể (Lưu ý : Tuy sự hiện diện nơi linh mục chủ sự ở mức độ thấp hơn sự hiện diện trong Thánh Thể, nhưng sự hiện diện sau là kết quả của sự hiện diện trước. Linh mục có đọc lời truyền phép thì Chúa mới hiện diện trong Thánh Thể. Vì vậy, CÐ nói đến sự hiện diện nơi linh mục trước khi nói đến sự hiện diện trong Thánh Thể).
Chúa còn hiện diện trong các bí tích khác nhờ quyền năng của Ngài, và nơi thừa tác viên. Kinh nguyện làm chung cũng khiến cho Ðức Kitô hiện diện giữa cộng đoàn, như chính Ngài đã nói: “Ở đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20).
Các bí tích có cơ cấu kitô học, không những do Ðức Kitô thiết lập và để lại cho Giáo Hội, mà còn là những hành động của Ngài và của Giáo Hội. Do đó, không nên coi bí tích chỉ như những phương tiện ban ân sủng cứu độ, mà còn phải như một cuộc gặp gỡ cá nhân với Ðức Kitô, Ðấng nối dài trong thời gian những hành vi cứu độ của mình. Hành vi này là giải thoát con người khỏi tội lỗi, ban ơn tha thứ, ban Thần Khí, ban sự sống.
Từ những viễn tượng này mà có một linh đạo Giáo Hội, chung cho mọi kitô hữu, giúp đưa họ tới chỗ kết hợp mật thiết và bền bỉ với Chúa. Nếu không theo một linh đạo riêng nào, cứ theo linh đạo chung đó. Tốt chán!
– Gặp Chúa trong lời Chúa
Trong tiếng hipri, lời không chỉ một âm thanh trống rỗng (flatus vocis), nhưng có nghĩa “cái ở phía sau, ở bên trong, ở dưới”, tức là trọng tâm, sức mạnh, chủ tính của một vật. Nếu lời là như thế thì đối với ngưòi Do thái, lời Thiên Chúa có nghĩa là chính Thiên Chúa trong dấu chỉ lời của Ngài. Ðây cũng là ý tưởng của Kinh Thánh về lời Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa không phải là một cái gì đó, nhưng là một AI đó, là Thiên Chúa hằng sống trong dấu chỉ lời của Ngài, một Thiên Chúa mạc khải mình ra trong quyền năng của lời Ngài.
Vậy ai khám phá Ðức Giêsu không thể không khám phá lời Thiên Chúa. Nếu mỗi gia đình có một cuốn Kinh Thánh thì, một cách nào đó, Thiên Chúa đến với mỗi gia đình. Nếu mỗi người có một cuốn Kinh Thánh, thì Thiên Chúa đến với mỗi người.
Kể từ khi được Giáo Hội chính thức coi như Sách Thánh, 4 sách Phúc Âm và các sách Tông đồ hay được các kitô hữu nại tới. Việc thường xuyên đọc hay nghe lời Chúa giúp người ta có được “mối lợi tuyệt vời là được biết Ðức Kitô Giêsu” (Pl 3,8), vì, như thánh Giêronimô nói, “không biết Kinh Thánh là không biết Ðức Kitô”. Biết, không chỉ là biết thuần túy trí thức, nhưng còn là gặp gỡ và kết hợp với Ngài hiện diện trong đó.
Quả thực, việc suy niệm đời sống và lời dạy của Chúa, trong suốt dòng lịch sử Giáo Hội, đã thường là một phương tiện để bắt gặp Chúa tự thâm tâm, noi gương Ngài, tìm cách đồng hình đồng dạng với Ngài. Coi Ðức Giêsu như một kiểu mẫu sống quả đã từng là một bổn phận cơ bản của người kitô hữu. Có lẽ ai trong chúng ta, ít nhất những người lớn tuổi, cũng đều biết hay nghe nói đến cuốn Gương Chúa Giêsu (cũng gọi là sách Gương Phúc). Nó được viết ra từ thế kỷ XIV. Số lượng in hầu như chỉ thua Kinh Thánh. Tiếc rằng ngày nay không còn mấy ai đọc. Ðọc có thể bị chê là lỗi thời. Vả, muốn đọc chăng nữa, tìm đâu ra sách ? Sách Gương Chúa Giêsu chính là một cuốn sách cụ thể hoá lối sống theo Ðức Kitô.
Nói đến chuyện bắt chước Ðức Kitô, thiết tưởng cần nêu ra một vấn đề. Bắt chước ở đây không phải là lặp lại y chang, một cách máy móc, cách hành xử của Chúa. Lý do ? Vì những hoàn cảnh chi phối hành động của Chúa khác xa với của ta; vì những điều kiện của ta là tội nhân khác hẳn với điều kiện của Ngài là Ðấng chí thánh; vì ngay đối với các tội nhân là chúng ta, các tình huống cũng luôn luôn mới mẻ và khác nhau giữa người này kẻ kia.
Vậy thế nào là bắt chước Chúa ? Là cố gắng thâm hiểu ý nghĩa thiêng liêng của cách hành xử của Chúa, chứ không phải tái tạo nó. Ðể được thế, phải suy niệm và kết hợp tâm hồn ta hài hoà với tâm hồn Ngài. Phải tập “mặc lấy Chúa Kitô” như Phaolô nói, để mỗi lần tìm ra được một phản ứng, một cách hành xử đúng đắn. Khó chứ không dễ đâu. Phải học tập cả đời người cũng chưa đủ.
– Gặp Chúa nơi con người
Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Con người là phản ảnh hoặc dấu vết rõ nhất của Thiên Chúa nơi tạo vật. Vậy có thể gặp gỡ Ðấng dược biểu thị qua hình ảnh là con người. Con người kitô hữu, thậm chí mọi người, còn là đền thờ của Thiên Chúa và của Chúa Thánh Thần, và là nơi ở của Ðức Kitô (1Cr 3,16-17; Ga 14,23). Có thể gặp gỡ Chúa nơi con người là đền thờ của Ngài.
Nhưng rõ nét nhất chính là điều nói trong đoạn văn nổi tiếng Mt 25,31-46 về ngày chung thẩm. Lời Chúa trong đoạn văn này cho thấy người lân cận là dấu chỉ Ðức Kitô, vì Ngài đồng hoá mình với những người nghèo hèn nhất, những người đói khát, trần truồng, đau yếu, tù tội. Chúa coi mọi hành vi yêu thương và giúp đỡ làm cho những người đó là làm cho chính Ngài, và không làm những hành vi ấy cho họ là không làm cho chính Ngài.
Bởi vậy, ta bắt gặp Chúa trong các mối tương giao của ta với con người, đặc biệt với những người nghèo, người bên lề, người bị bỏ rơi, người bị bóc lột. Khi thực hiện tình bác ái huynh đệ cho những con người như thế, chúng ta có thể nhận ra khôn mặt của Ðức Kitô nơi họ. Ðâu có tình yêu, đấy có Thiên Chúa. Tình yêu thể hiện nơi nào, Ðức Kitô hiện diện nơi đó.
Phải nhận rằng, so với việc nhận diện và gặp gỡ Chúa trong Phụng vụ và trong lời Chúa, việc nhận diện và gặp gỡ Ngài nơi con người khó hơn nhiều. Một con người đẹp, cả thể xác lẫn tinh thần, dễ cho người ta nhận ra đó là hình ảnh và đền thờ của Thiên Chúa. Ngược lại, làm sao có thể nhận ra Chúa nơi những con người xấu xí, thương tật, nghèo đói, sống vất vưởng, khó tính khó nết, thù nghịch với mình? Phải có đức tin mạnh, có tình yêu vô vị lợi, biết quên mình, mới có thể vượt qua khu vực giác quan mà vào tận bên trong con người, để có thể bắt gặp chính Chúa ở đó.
– Gặp Chúa trong vũ trụ
Không thể giới hạn sự hiện diện của Ðức Kitô nơi con người mà thôi. Ðức Kitô còn hiện diện trong vũ trụ nói chung nữa. Mọi sự đã được tạo dựng bởi Ngài và do Ngài (x.Cl 1,16). Nhờ sự Phục sinh, Ngài đã hiện diện thâm sâu hơn trong vũ trụ (x.Ep 1,9-10; Cl 1,13-20; Rm 8,28-30). Cha Teilhard de Chardin đã nói về “Ðức Kitô vũ trụ” như là cùng đích mà sự tiến triển tự nhiên của con người phải hướng tới. Cha đã nhìn thấy nơi Ðức Kitô một tấm lòng khơi động toàn bộ thực tại vật chất. Nhờ năng lực của việc Con Thiên Chúa nhập thể, vũ trụ dường như ở trong một loại từ trường của Thiên Chúa. Trong Ðức Kitô, Thiên Chúa đã muốn trở thành trái tim của vật chất, để nâng nó lên tình trạng thần linh. Tuy nhiên, Ðức Kitô không trở thành linh hồn phổ quát của thế giới, như kiểu Brahman (Ðại Ngã) trong Ấn giáo đâu. Là trung tâm vũ trụ, Ngài lôi kéo tới mình tất cả thực tại vật chất, theo cách thức của một người yêu.
Cho dù không đi vào viễn tượng đặc biệt này đi nữa, ta vẫn phải tuyên xưng Ðức Kitô như là nguyên lý, cùng đich và lý do của mọi sự. Và phải cố gắng gặp gỡ Ngài, hiệp thông với Ngài, nhờ cả vũ trụ nữa.
PhúcÂm thánh Tôma, tuy chỉ là ngoại thư, tức không được Giáo Hội nhận vào quy điển Tân Ước, đã viết những lời có ý nghĩa như sau: “Ta là ánh sáng trên mọi vật. Ta là vũ trụ. Vũ trụ phát xuất từ Ta và trở về với Ta. Hãy bẻ một miếng gỗ : Ta ở trong đó. Hãy nhấc một hòn đá lên : Ta ở dưới đó”. Chúa nói câu này sau ngày Phục sinh. Ðây không phải là quan niệm phiếm thần đâu, nhưng chỉ muốn nói lên rằng Ðức Kitô hằng sống chan hoà trong vũ trụ. Nghĩ như vậy nên các tu sĩ Chính thống giáo ở núi Athos (Hy Lạp) có thói quen áp tai xuống nền nhà thờ, để nghe nhịp đập của trái tim Chúa Kitô, và để khẳng định sự thống trị của Ngài trong vũ trụ.
Thiền kitô giáo cũng hướng về Ðức Kitô vũ trụ, nhưng làm theo cung cách khác, hợp thời hơn. Chẳng cần thông qua hình ảnh gì ráo. Chẳng cần dựa vào ý niệm hay vật chất gì ráo. Chỉ tiếp cận trực tiếp với Ðức Kitô vũ trụ, vì Ngài là một mầu nhiệm, và là một thực tại vượt lên trên những hình thức biểu thị Ngài. Ở đó, tin yêu và thinh lặng thần bí là những điều kiện để Ðức Kitô vũ trụ ùa vào trong ta. Ta dễ nhận ra và gặp gỡ Ngài hơn.
***
Trong đời sống hằng ngày, chúng ta phải cố gắng gặp gỡ Chúa. Nếu có khó khăn, cứ kiên nhẫn tìm, vì tìm thì sẽ gặp. Một chỉ dẫn trong Phúc Âm có thể là điều khích lệ chúng ta. Vào buổi sáng ngày Phục sinh, Maria Mađalêna đến viếng xác Chúa và thấy ngôi mộ trống. Phêrô và Gioan được báo tin cũng đã đến, nhưng bỏ đi sau đó. Chỉ mình cô nán lại. Cô không chấp nhận sự trống vắng này. Thầy của cô không thể biến mất một cách vô lý như thế. Cho nên, cô cứ tần ngần bên mộ, khóc lóc, cúi xuống, nhìn ra ngó vào. Chính như vậy mà cuối cùng cô là người đầu tiên gặp lại Chúa đấy.
Chúng ta hôm nay hãy học lấy gương đó. Ðừng thấy cái dường như trống vắng mà tưởng là trống vắng thực. Đừng thấy Chúa dường như không hiện diện mà tưởng Ngài không hiện diện. Cứ tìm kiếm sâu xa hơn, kiên nhẫn, cậy trông. Chắc chắn Chúa sẽ cho ta được gặp gỡ Ngài.
II. NHẬN DIỆN ÐỨC KITÔ NGÀY HÔM NAY
Chúng ta đã suy niệm về việc gặp gỡ Ðức Kitô, qua việc tìm Ngài, thấy Ngài, lưu lại với Ngài. Chúng ta cũng đã nêu ra những nét lớn liên hệ tới sự hiện diện của Chúa ngày hôm nay : hiện diện trong Giáo Hội, trong lời Chúa, nơi con người và nơi vũ trụ. Hiện diện ở đó để chúng ta nhận ra và gặp gỡ.
Ðề tài hôm nay còn gợi ra một vài suy nghĩ về việc nhận diện này, qua những khía cạnh cụ thể hơn của đời sống. Tôi dựa vào câu truyện hai môn đệ Emmau, được Phúc Âm Luca ghi lại (Lc 24,13-35). Chúng ta chắc đã biết hết diễn tiến câu truyện từ đầu đến cuối, vì hay được nhắc tới. Tôi chỉ nhấn mạnh những gì liên hệ đến đề tài thôi.
1. “Họ không nhận ra Người”
Luca viết: “Ðang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Ðức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người”. Có thể vì hai người môn đệ này đang mải mê trao đổi và bàn cãi về những chuyện vừa xảy ra, liên hệ đến cái chết của Chúa, nên họ không lưu ý đến người thứ ba vừa nhập cuộc và đi bên họ. Nhưng đúng hơn, theo cách ghi nhận của Luca, thì chính mắt họ bị ngăn ngừa sao đó, khiến họ không nhận ra.
Thực sự, chẳng riêng gì họ không nhận ra. Tác giả Gioan đã viết ngay ở đầu sách Phúc Âm của mình : Thế gian đã không nhận ra Chúa. Người nhà đã không nhận ra Chúa (x.Ga 1,10-11).
Ðương nhiên không nhận ra là phải có lý do : có thể do mù quáng trong tội, có thể do mù quáng trong định kiến. Thế gian bị quyền lực Satan chế ngự, sống trong bóng tối. Trong khi đó, Ðức Kitô đến thế gian lại là sự sáng thực, sự sáng của Thiên Chúa cho nhân loại. Tuy sự sáng này chiếu soi vào giữa lòng bóng tối tội lỗi, để những ai đón nhận thì được ban quyền làm con Thiên Chúa. Nhưng những ai cố chấp ở lỳ trong bóng tối này, đối kháng lại ánh sáng, thì làm sao họ có thể nhận ra và tin Chúa? Ðó là mù quáng trong tội. Ðọc Phúc Âm, ta thấy Chúa cho nhiều kẻ mù được sáng mắt. Nhưng không có người mù nào tệ hơn là người không muốn thấy ánh sáng.
Chúng ta có giật mình khi nghĩ đến diều này không, khi chúng ta sống trong tội ? Ðiều đáng trách không phải là có tội. Không ai dám tự phụ mình vô tội, trừ ra một mình Ðức Giêsu. Nhưng chính vì tội ta mà Chúa đã thể hiện tình yêu cứu chuộc. Ngài đến tìm kiếm những gì hư đi, chứ không kêu gọi người công chính. Có điều, ta phải để Ngài yêu, đón nhận sự sống, ra khỏi vòng kiềm tỏa của bóng tối mà vào vương quốc sự sáng.
Khổ nỗi, có những người sống trong bóng tối mà không nhận như thế. Tội lỗi đầy mình mà nghĩ mình chẳng có tội nào. Vậy mới chết. Chứng cớ ư? Có người xưng tội, sau bao nhiêu năm tháng xa toà giải tội, suy đi xét lại vẫn không thấy tội để xưng. Cơ hồ như tội ở đâu đó, ở nơi người khác chứ không ở nơi mình. Có lần Chúa nói : Nước Thiên Chúa không phải ở chỗ này chỗ kia, nhưng ở chính trong lòng các ngươi (x. Lc 17,21). Cũng có thể nói như thế về tội. Tội không ở chỗ này chỗ nọ, mà ở chính trong lòng ta. Cho hay, xa ánh sáng, ngay cả ý thức về mình cũng mù tối nữa.
Thế gian không nhận ra Chúa đã là một gương mù. Người nhà không nhận ra còn là gương mù tệ hơn. Người nhà là dân Do thái, dân riêng Thiên Chúa tuyển chọn. Theo họ, chỉ Lề Luật mới là ánh sáng, là phương tiện Thiên Chúa ban, để xoá tan bóng tối thiêng liêng của nhân loại, cứu nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết. Nhưng qua những khẳng định sau này của Chúa (Ga 9,5 : Ta là sự sáng thế gian.), Chúa cho thấy chỉ mình Ngài, chứ không phải Lề Luật, có khả năng mang lại sự sống, vì Ngài là Thiên Chúa đích thân đến cứu con người.
Cả các môn đệ cũng không thoát khỏi định kiến cố hữu đã ăn sâu vào tâm trí, dù họ không cố chấp trong định kiến này. Họ đã nhiều lần được Chúa giải thích mà không hiểu. Họ biết Ngài từ Thiên Chúa mà đến. Họ nhận Ngài có quyền năng trong các phép lạ và lời giảng. Thì Môsê đã không tỏ ra là người có quyền năng trong lời nói và việc làm đó sao ? Trước đây, Môsê đã dùng quyền năng ấy giải thoát Israel ra khỏi Ai Cập. Bây giờ, họ hy vọng Chúa cũng dùng quyền năng giải thoát Israel lần này khỏi tay người Rôma. Vậy mà Chúa lại phải chết. Chao ôi! lại chềt về tay người Rôma mới tội nghiệp!
Dù cái chết này, cũng như việc Chúa sống lại, đã được Ngài báo trước, nhưng họ đâu chịu nghĩ, đâu chịu hiểu, đâu có chấp nhận. Chỉ thấy chết là hết. Chỉ thấy ước mơ của mình tiêu tan. Càng hy vọng lắm, khi không thành tựu, càng thất vọng nhiều. Do đó mà họ buồn, sao cho khỏi ? Ðây cũng là tâm trạng của hai môn đệ Emmau. Ðịnh kiến, và thực tế phản lại định kiến, đã làm cho hai người không nhận ra người đang đồng hành với mình.
Nhưng người đồng hành này không ai khác hơn là chính Chúa Phục sinh đến với họ, chia sẻ tâm tư của họ, soi sáng cho họ, mà họ đâu có hay. Cũng như bây giờ Ngài vẫn ở bên ta, mà ta không nhận ra Ngài.. Ngài luôn là người cứ phải đứng sau vách nhà, rình bên kia hàng giậu mà đằng hắng, như người tình trong sách Diễm ca (2,9-10). Ngài vẫn làm hiệu, mong cho ta nhận ra. Ngài muốn gõ cửa, mong cho ta mở. Nhưng làm sao Ngài có thể gõ, khi ta cột chó dữ ở ngoài, không mang chó đi, không thèm để ý, vì cứ tưởng Ngài đã chết và thuộc về dĩ vãng rồi.
Dù tin Ngài đã sống lại, không ít người cho rằng Ngài đã lên trời, yên vị bên hữu Chúa Cha, ngày phán xét mới lại xuống thế. Giữa họ và Chúa lại xa vời như trước. Ðâu lại hoàn đấy. Ở trần gian, người ta giữ đạo như giữ một mớ những quy tắc được Chúa và Giáo Hội dạy, mong ngày sau Chúa thưởng công và cho sống đời đời. Những ý nghĩ thiếu sót và sai lạc như vậy không phải là hiếm đâu.
Ðể giúp cho hai môn đệ Emmau ngày xưa, cũng như cho chúng ta ngày nay, nhận ra sự hiện diện của mình, Chúa đã hành động.
2. “Và họ nhận ra Người”
* Từ chỗ không nhận ra đến chỗ nhận ra, chuyện không xảy đến cái rụp. Có cả một quá trình, một thời gian và những dấu chỉ. Không cần vội vàng. Thiên Chúa vốn nhẫn nại với con người. Mấy nghìn năm chuẩn bị cho người ta đón chờ Ðấng Cứu thế còn chưa sao, huống hồ một hành vi mạc khải riêng rẽ. Thiên Chúa có đường lối dẫn dắt và sư phạm của Ngài. Nào, thử coi Ngài hành động ra sao.
Ngài không nói thẳng với hai môn đệ Emmau: “Chính là Ta”, như đã trả lời cho người Do Thái (Ga 8,15). Chính là Ta mà các ngươi đã thấy trước. Chính là Ta đã chết nay đã sống lại. Nói thế dễ quá. Và chưa chắc làm cho hai người xác tín. Họ đã kể lể dài dòng những thắc mắc của họ, khiến bị Chúa trách là ngu độn và lòng trí chậm tin. Thì Chúa cũng dài dòng giải đáp những thắc mắc ấy, để soi sáng trí lòng họ và giúp họ tin.
Họ đã kể lể những gì ? Kể những điều mà Phêrô sẽ tóm tắt trong bài giảng đầu tiên cho dân chúng sau ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2,22). Các dữ kiện có hết: việc Chúa bị bắt và bị xử, bị đóng đinh và chết, cả những gì họ đã nghe biết hôm ấy về ngôi mộ trống và lời các chứng nhân thuật lại. Có điều họ không hiểu được lý do vì sao lại xẩy ra như vậy. ÐHY Martini gọi đoạn văn này là “lời khởi giảng Tin mừng chưa đầy đủ” (kérygme incomplet). Chưa đầy đủ, vì chỉ ghi nhận sự kiện, mà không giải thích được sự kiện. Tất cả hãy còn như đống xương khô (Ez 37), rời rạc, chưa có Thần Khí thổi vào để ráp khớp với nhau mà sống lại. Vì không tìm ra manh mối, không lý giải được, không thấy bàn tay Thiên Chúa trong những sự việc này, nên họ mới bị trách là ngu độn và chậm tin.
Ðến lượt Chúa bắt đầu làm nhiệm vụ cứu độ của mình. Trách họ xong, Ngài nói: “Nào Ðấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” Tức là Chúa đi ngay vào trọng tâm vấn đề đang làm họ thắc mắc. Tiếp theo là dẫn giải. “Bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh”.
Chúng ta không rõ Chúa dẫn giải thế nào, lúc cả ba còn đi trên đường. Chỉ biết rằng sau đó hai người nói: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” Nếu như vậy, chỉ trong một thời gian nhất định, hẳn Chúa đã phải gợi lên những gì quan trọng và sống động nhất trong Kinh Thánh, có liên hệ nhất với Ngài, trong đó dĩ nhiên có Lề Luật và các Ngôn sứ, là những yếu tố chủ chốt của Kinh Thánh, và cũng là những gì quen đọc trong phụng vụ hội đường (x.Cv 13,15).
Ðược nghe dẫn giải, tâm trí cả hai dần dần thay đổi. Họ từ bỏ quan điểm của mình để đi vào quan điểm của Thiên Chúa biểu lộ trong những gì Sách Thánh nói. Tuy họ chưa nhận ra người đang nói với mình là ai, nhưng họ đã thấy đấng mà người đó nói đến là đấng nào : là Ðấng Cứu Thế đã được Sách Thánh tiên báo. Lúc này, họ đã mở lòng đón nhận lời giải thích. Rồi sau, họ sẽ mở mắt nhận ra người giải thích.
* Cả ba tới làng Emmau, là nơi hai môn đệ định tới. Họ mời Chúa ở lại với họ vì trời đã tối, và ăn tối với họ. Ăn chung cũng là một cách đồng hành (compagnon = cum + panis). Khi ngồi ăn với họ, Chúa “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người”.
Rembrandt, một họa sĩ nổi tiếng người Hòa Lan (thế kỷ 17) đã vẽ lại cảnh này như sau : Chúa cầm bánh, ngồi giữa hai người. Chúa ở giữa ánh sáng chan hòa, còn chỗ hai người hơi khuất tối. Lại là dịp làm ta nhớ điều Gioan đã viết về Ngôi Lời là sự sáng rạng trong tối tăm. Càng rạng sáng, vì đây là ánh sáng của Ðấng Phục sinh. Hai môn đệ ở trong bóng tối, nhưng ánh sáng của Chúa bừng lên soi chiếu họ, để họ nhận ra Ngài. (Rembrandt nổi tiếng qua những bức tranh với kỹ thuật sáng tối tương phản. Trong những tuyệt tác của ông lấy hứng từ Kinh Thánh, có thể kể : Tôbia và gia đình, người Samari nhân hậu, hai môn đệ Emmau.)
Tuy nhiên ở đây, ánh sáng của Chúa, nếu có, như nét vẽ của họa sĩ, cũng chỉ như những lời Chúa dẫn giải Kinh Thánh trước đó, nghĩa là có tính cách chuẩn bị cho việc họ nhận ra Chúa thôi. Còn họ nhận ra là nhận ra qua những cử chỉ Chúa làm : cầm bánh, chúc tụng, bẻ ra trao cho họ. Những cử chỉ này làm ta liên tưởng đến những hành vi được thực hiện trong cử hành Thánh Thể. Tuy không chắc Chúa đã có ý cử hành Thánh Thể trước mặt họ (theo ý kiến của nhiều nhà chú giải), nhưng dù sao, những cử chỉ này cũng gợi lại cho hai người một kinh nghiệm đã sống, một kinh nghiệm mà họ đã biết về Chúa trước đây.
Khi làm phép lạ cho bánh hóa ra nhiều để nuôi dân chúng, Chúa đã có cung cách của một người chủ, cũng cầm bánh, cũng chúc tụng, cũng bẻ ra trao cho các môn đệ để phân phát cho dân. Trong bữa Tiệc Ly, mà hẳn họ đã được nghe các Tông đồ thuật lại, cùng một cung cách đó. Và bây giờ đây, trước mặt hai người, lại cũng cung cách đó. Sao mà giống nhau quá! Rõ ràng Chúa là khách, họ là chủ. Nhưng Ngài lại hành động như chủ nhà : cầm bánh, chúc tụng, bẻ ra, trao cho họ. Chính cái cung cách và cử chỉ trước sau như một của Chúa đã làm cho họ mở mắt, giúp họ nhận ra Chúa. Họ nhận ra vì đã biết. (Pascal viết một câu như trái ngược: “Ðể có thể biết (connaitre), tiên vàn phải nhận ra (reconnaitre)”. Nhận ra trước, biết sau. Có thể áp dụng trong trường hợp, chẳng hạn, chàng và nàng, qua tiếng sét ái tình, nhận ra người này là cho người kia, trước khi biết nhau thực. Dĩ nhiên sau đó phải tìm cách biết nhau, chứ sau tiếng sét rồi, đường ai nấy đi, thì nước non gì. Sấm với chả sét!).
Bình thường, biết đã mới có thể nhận ra. Cần lưu ý điều này khi dạy giáo lý cho trẻ em. Phải cố gắng dạy cho chúng biết. Người ta nhận ra khi người ta sẵn sàng muốn biết. Một đứa trẻ được dạy đạo từ bé, có kinh nghiệm về Thiên Chúa tiên vàn ở chỗ biết Ngài, biết Thiên Chúa là ai. Lớn lên, nó sẽ nhận ra Thiên Chúa trong đời sống nhờ kiến thức và kinh nghiệm về Chúa mà nó đã có khi còn bé. Phần nhiều những trẻ nào không biết Thiên Chúa từ bé, lớn lên khó có thể nhận ra Ngài. Tuy vậy, cho dù biết Thiên Chúa qua giáo lý, nhưng nếu không có sự hoán cải, người ta vẫn mù quáng, không thể nhận ra Chúa Kitô hằng sống.
Với hai môn đệ Emmau, nhận ra Chúa là nhận ra Ðức Giêsu mà họ thấy đã chết, nay đang sống ở trước mặt mình. Và đây là một khám phá mới. Trước kia, họ chỉ thấy Ngài là một ngôn sứ quyền năng. Rồi thấy Ngài bị nộp, bị xử, bị đóng đinh, và được an táng trong mộ. Nay họ thấy Ngài đã đến, đi với họ, nói với họ, đồng bàn với họ, tức là Ngài đã sống lại và đang sống.
Khám phá này cũng cho hai người thấy : trước đây, họ chỉ biết Chúa theo xác thịt, dựa vào giác quan. Biết như vậy cũng y như có mắt mà không nhìn, có tai mà không nghe. Không phải vì Ngài giấu họ hoặc không nói cho họ. Về cuộc Khổ Nạn chẳng hạn, Ngài đã chẳng báo trước hai ba lần đó sao? Nhưng chính vì lòng trí họ điều khiển giác quan, bắt giác quan cung cấp những gì lòng trí mong chờ. Họ đã mong gì? Mong một Ðấng Cứu Thế theo kiểu thế gian. Bởi vậy, họ đã không nhận ra con người thật của Ngài. Ðó là trước. Nay, họ cũng như chúng ta, không còn nhìn Ngài theo xác thịt nữa, thì rõ ràng Ngài là Ðấng Cứu Thế, là Ðấng phải chịu khổ nạn rồi mới vào vinh quang.
Ðể giúp họ nhận ra mình, Chúa đã dùng lời nói và các dấu chỉ. Ðây là những dấu chỉ mà ngày nay Giáo Hội vẫn sử dụng, để giúp chúng ta hiệp thông với Thiên Chúa, đặc biệt trong Phụng vụ. Dấu chỉ là một thực tại hữu hình giúp chúng ta biết một thực tại khác chưa được biết. Lời Chúa giải thích cho hai người là một dấu chỉ, qua đó họ biết chương trình của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Giêsu Kitô. Hành vi bẻ bánh. cũng là dấu chỉ, nhờ đó họ biết người đang bẻ bánh là ai. Những dấu chỉ này thuộc vào số những dấu chỉ chính yếu trong Thánh lễ.
Trong bữa ăn hôm nay, rõ ràng Luca muốn sử dụng từ vựng Thánh Thể, nhằm giúp chúng ta, những người đọc câu truyện, cảm thấy hành vi bẻ bánh trong Thánh lễ làm cho ta được gặp gỡ Ðức Kitô Phục sinh, như trường hợp của hai môn đệ Emmau. Mong rằng mỗi khi tham dự Thánh lễ, được nghe lời Chúa, lòng chúng ta cũng bừng lên vì biết Chúa đang hiện diện nói với ta; được chia sẻ bánh thánh, mắt chúng ta cũng mở ra, để biết Chúa Kitô hiện diện muốn hiệp thông với ta, và ban cho ta sự sống.
3. “Xin cho mắt chúng con được mở ra” (Mt 20,33)
Luca viết: “Họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất”. Hai sự kiện gắn liền với nhau trên đây, có thể nói, là cao điểm của trình thuật. Họ thì nhận ra, còn Chúa thì biến đi. Chúa hiện đến với hai người, giúp họ nhận ra Ngài, điều này chỉ là để bảo đảm cho họ rằng cuộc Khổ Nạn không làm họ mất Ngài. Cũng là để cho họ hiểu rằng, từ đây, thông thường Ngài sẽ không còn hiện diện hữu hình nữa.
Chúa biến đi không phải để đến một nơi nào khác, nhưng để ẩn vào thế giới của Ngài, thế giới vô hình bao bọc họ. Con mắt xác thịt không thấy Ngài nữa, nhưng con mắt đức tin biết Ngài đang sống và hiện diện, không ở đâu xa, mà ở ngay trong lòng họ đang bừng bừng yêu mến. Con mắt đức tin sẽ giúp họ nhận diện Chúa qua các dấu chỉ, như họ đã nhận ra Ngài trong cử chỉ bẻ bánh.
Chúa đã dạy hai môn đệ Emmau bài học nào, Ngài cũng dạy chúng ta hôm nay bài học ấy : mở mắt nhận diện Chúa qua cac dấu chỉ, qua những hình thức trung gian.
Trong bài suy niệm trước, chúng ta đã nói đến một số hình thức trung gian chính. Và chúng ta cũng vừa nhấn mạnh hình thức trung gian trong Thánh lễ là lời Chúa và Thánh Thể. Thế nhưng đời sống của ta không chỉ đóng khung trong Phụng vụ. Dù là tột đỉnh và nguồn mạch của mọi hoạt động (PV 10), Phụng vụ vẫn chỉ chiếm một phần thời gian ngắn so với cả cuộc sống kéo dài. Thế nên, nhận diện và gặp gỡ Chúa trong Phụng vụ không đủ, còn phải làm việc này qua những dấu chỉ của đời sống nữa. Không kể những gì đã đề cập trong bài trước, tôi muốn nói riêng một khía cạnh thực tế ít được lưu ý và suy nghĩ : nhận diện Chúa trong các sinh hoạt và biến cố của đời thường.
Thấy một bông hồng nở giữa bụi gai, chúng ta nghĩ ngay phải có một cây hồng mọc trong đó. Cũng vậy, khi thấy những giá trị Phúc Âm nẩy nở giữa cuộc đời, chúng ta được đức tin cho hay : Ðức Kitô đang ở đó cách mầu nhiệm, để hoạt động trong tâm hồn con người. Khi thấy nơi một người, một môi trường, một tổ chức. có bóng dáng một chút tình yêu, công bình, tự do, hiệp nhất, ta biết Ðức Kitô đang ở đó, hiện diện bằng hành động của Ngài.
Thậm chí khi thấy tội nơi ta, nơi người khác, trên thế giới, ta cũng hiểu rằng Ðức Kitô đang ở đó để hành động. Ngài ở đó vì Ngài là Ðấng Cứu độ, luôn tìm kiếm những gì hư mất, đã gánh lấy tội mọi người, đã chuộc tội mọi người. Ngài đã thực hiện việc cứu chuộc hoàn hảo cách đây 2000 năm. Và ngày nay, ơn cứu độ còn tiếp tục trải rộng đến bất cứ nơi nào có tội lỗi hoành hành. Phaolô viết trong thư Rôma: “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Ơn siêu bội ở nơi tội lan tràn, tức là Ðức Kitô đang hành động và hành động nhiều ở đó. (Nhà viết tiểu sử thánh nữ Catarina Siêna đã ghi lại cuộc đối thoại giữa thánh nữ và Chúa như sau: – Lạy Chúa, khi con bị cám dỗ thì Chúa ở đâu? – Ta vẫn ở đây. – Chúa mà ở giữa những tội lỗi xấu xa của con sao? – Ta vẫn ở giữa đó để giúp con).
Một cái nhìn thoáng qua như thế đủ cho thấy sự hiện diện của Ðức Kitô có tính cách bao trùm như thế nào, và chúng ta phải nhận diện Ngài ra sao.
Một cách cụ thể hơn, Chúa hiện diện trong các sự kiện, các biến cố, ở nơi ta, chung quanh ta và trên thế giới. Thường ra, ta chỉ để ý đến những gì xẩy ra nơi mình hay chung quanh mình, trong một phạm vi tương đối nhỉ hẹp. Một sự kiện xẩy ra ngoài Bắc đã là xa lạ. Một sự kiện xẩy ra trên thế giới, như ở Trung Ðông, lại càng xa lạ hơn (Xét về khía cạnh thông tin, lắm khi những sự kiện đó được chúng ta biết nhiều qua báo đài, hơn là những gì xẩy ra ngay trong khu phố).
Mỗi biến cố đều là một dấu chỉ và lời mời gọi của con người, đồng thời cũng là một dấu chỉ và lời mời gọi của Chúa. Chúa ra dấu cho ta trong biến cố ấy. Ngài mời gọi ta tỏ thái độ, hành động hiệp thông với hành động của Ngài. Biết nhìn tới biến cố, tức là biết chú ý tới con người và Thiên Chúa. Biết hiện diện trong biến cố, dù chỉ bằng tâm hồn, tức là tỏ ra sẵn sàng cho con người và Thiên Chúa. Góp hành động của mình nếu có thể, tức là biết cống hiến tình yêu của mình cho con người và Thiên Chúa.
Tôi lấy ví dụ : xem TV hay đọc báo nghe đài, thấy có bão lụt ở tỉnh này tỉnh nọ, gây thiệt hại nặng về của và người, tôi thấy ở đó lời mời của Thiên Chúa kêu gọi tôi nhìn đến, quan tâm, hành động, ít nhất bằng lời cầu nguyện, hoặc bằng cách chia sẻ, cứu trợ.
(Vào một năm nọ, sau một trận bão, tôi đã được chứng kiến một cảnh tượng thật cảm động ở Nha Trang. Hôm ấy trời mưa tầm mưa tã. Ðường xá dơ ơi là dơ! Nếu không có việc, chẳng ai dại gì bước chân ra ngoài nhà. Vậy mà có một tốp khoảng chục em học sinh nhỏ, đầu đội nón, mặc áo mưa, đi hết nhà này sang nhà khác. Em đi đầu cầm một tấm bảng nhỏ. Em đi sau cầm một hộp đựng tiền. Tới mỗi nhà, các em đứng lại đọc thuộc lòng những câu đã học ở trường: “Thương người như thể thương thân”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng.”. Bài học luân lý được áp dụng cụ thể ngay trên đường phố. Các em làm gì vậy ? Quyên tiền cứu trợ nạn nhân bão lụt đó! Tôi có cảm tưởng : giữa bầu trời xám xịt ảm đạm, các em đã sáng lên hơn bao giờ hết. Ðối với ta, biết lời mời gọi của Chúa qua các biến cố, ta cũng phải có cách đáp ứng nào đó).
Mỗi biến cố đều có một ý nghĩa sâu xa. Mỗi biến cố, dù nhỏ nhất, cũng đều tác động trên mọi người. Cũng như mỗi tội dù nhỏ, dù phạm ở đâu, dù do ai phạm, cũng đều góp phần làm ô nhiễm môi sinh đạo đức của con người. Ðừng bao giờ nói: “Cần gì phải để ý ba cái chuyện ở mãi đâu đâu”, “Chuyện đó rồi cũng qua thôi”, “Nó chả liên hệ gì tới tôi cả”, “Tôi đâu làm được gì”. Người kitô hữu không được nói như vậy. Từ ngày có công trình cứu độ của Chúa, một thế giới mới đã hình thành, nơi Nước Thiên Chúa đang tăng trưởng, nơi nhân loại đang dần dà trở nên một Thân thể. Chính Ðức Kitô mầu nhiệm đang lớn lên trong đó, xuyên qua mọi tạo vật, mọi con người, mọi biến cố và hành động của con người. Dấn thân vào đó bằng một cách phù hợp với khả năng và điều kiện của mỗi người, tức là biết nhận diện Chúa trong đó, muốn gặp gỡ Ngài, hiệp thông với hành động của Ngài đang được thực hiện trong đó.
Phải nhận rằng đây là việc không dễ. Ðể giải thích dấu chỉ của Thiên Chúa trong đời sống, cần có ánh sáng đức tin. Nhờ ánh sáng đức tin, ta sống kinh nghiệm liên lạc với Ðức Kitô Phục sinh như một “cuộc đối diện trong bóng tối”, nói theo kiểu thánh Gioan Thánh Giá. Không thấy người đối diện, nhưng biết chắc người đó hiện diện. Không thấy Chúa đối diện, nhưng biết chắc Chúa hiện diện. Cũng cần không ngừng khám phá trong Phúc Âm cung cách và hành động của Chúa, và cộng tác với người khác.
***
Người ta vẫn gọi Ðạo là Ðường. Ðó là theo gốc chữ Hán. Theo một cách giải thích từ gốc la tinh, Ðạo là liên kết con người và thế giới với Thiên Chúa (religio : religare, relier). Ði đạo là chúng ta có ý hướng sống mối tương giao này trong cả cuộc đời, nhờ Ðức Kitô là Ðấng Trung Gian duy nhất. Vậy để có thể thực hiện mối tương giao này, phải nhận diện và gặp gỡ Ðức Kitô mọi lúc và mọi nơi, không chỉ trong phụng tự là lúc mối tương giao này thể hiện cách đặc biệt, mà còn ngay giữa lòng cuộc sống cụ thể, mà mỗi người chúng ta được sai đến.
Nói về các thần dân ngoại, tác giả Thánh Vịnh đã có những lời châm biếm như sau: “Miệng có đó, nhưng chúng không nói” (Tv 115,5). Không nói, vì theo Phaolô, các thần đó chỉ là những “ngẫu tượng câm” (1Cr 12,2), do tâm trí và bàn tay con người nhào nặn. Thiên Chúa chúng ta thì khác. Một trong những nét đặc sắc nhất của Thiên Chúa trong mạc khải Kinh Thánh là: Ngài nói với con người. Cũng như một trong những kinh nghiệm tôn giáo nổi bật nhất nơi Israel là kinh nghiệm gặp gỡ một Thiên Chúa nói. Một đàng, người Do Thái tự hào khi so sánh sự cao cả của một Thiên Chúa nói với những thần câm của dân ngoại, đàng khác, họ ý thức rằng sự im lặng của Thiên Chúa là hình phạt lớn nhất dành cho họ. Là vì, lời Chúa chứa đựng lời hứa cứu độ. Người ta tìm được ở đó không những ánh sáng, chỉ dẫn, nâng đỡ, mà cả bảo chứng của sự cứu độ. Cho nên, nếu Thiên Chúa im lặng, không nói, tức là Ngài đoạn tuyệt với họ, có nghĩa là phạt họ, và họ cảm thấy như phải xuống mồ.
Trong Cựu ước, Thiên Chúa nói trực tiếp với một số người đặc tuyển là các ngôn sứ và, qua họ, Ngài nói với dân Ngài và với mọi người. Nhưng đến thời sau hết, thời Tân ước, Ngài nói với ta nơi một Người Con (x.Dt 1.2). Người Con này là Ðức Giêsu, Lời Thiên Chúa nhập thể.
Có nói thì phải có nghe. Thiên Chúa nói thì con người phải nghe, (cũng như con người nói thì Thiên Chúa vẫn nghe, x.Tv 114,1-2). Nghe là cách đáp ứng cơ bản nhất với một Thiên Chúa nói.
Chúng ta thử suy nghĩ về điều đó trong bài này.
1. “Hãy nghe”
* Kết thúc dụ ngôn người gieo giống, Ðức Giêsu nói: “Ai có tai thì hãy nghe” (Mt 13,9). Rồi khi giải thích cho các môn đệ ý nghĩa của dụ ngôn này, Ngài bắt đầu bằng những chữ: “Vậy anh em hãy nghe” (Mt 13,18). Những lời trên làm vang vọng lời Thiên Chúa kêu gọi Israel, bàng bạc trong Cựu ứơc, nhất là trong sách Lề luật và Ngôn sứ: “Hãy nghe, hỡi Israel” (shema Israel).
Trong diễn từ thứ hai của Môsê (trong sách Ðệ Nhị Luật), chúng ta đếm được 4 lần Môsê nhắc cho Israel hãy nghe. Nhắc, vì nội dung quan trọng của những lời sắp nói cần được lưu ý: “Hỡi Israel, hãy nghe thánh chỉ và quyết định mà hôm nay tôi nói cho anh em nghe. Anh em phải học cho biết những điều ấy và lo đem ra thi hành” (Ðnl 5,1tt). “Nghe đây, hỡi Israel, Ðức Chúa Thiên Chúa chúng ta là Ðức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Ðức Chúa Thiên Chúa của anh em hết lòng hết dạ, hết sức lực anh em (Chúng ta biết : khi trả lời cho một luật sĩ hỏi: “Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn lớn nhất”, Ðức Giêsu đã trích câu Ðệ nhị luật trên đây, mà Ngài coi là giới răn lớn nhất, giới răn đệ nhất, x.Mt 22,37-38) ” Những lời tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi tạc vào lòng. Anh em phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy” (Ðnl 6,3-7).
Những lời trên đây, trước hết, quan trọng cho Israel. Cùng với vài câu tiếp theo (hết câu 12), chúng làm thành một kinh nguyện rất quen thuộc (kinh Shema Israel), được người Do Thái đọc 3 lần mỗi ngày, nhất là buổi sáng. Lời kinh nói lên những thái độ chủ yếu của một tín hữu Do Thái : tuyên xưng một Thiên Chúa độc nhất, yêu mến Thiên Chúa, nhớ lại Giao ước.
Ðây cũng phải là thái độ của người kitô hữu chúng ta. Có thể vì để nhắc cho ta khỏi quên những điều ấy mà Phụng vụ đọc cho ta nghe những câu trên trong phần lời Chúa của Kinh Tối mỗi thứ bẩy (theo lịch do thái và Phụng vụ thì đã thuộc Chúa nhật). Và phải chăng vì yêu mến Thiên Chúa là luật lớn nhất nên nó được nhắc đến mỗi ngày thứ nhất là ngày quan trọng hơn hết trong tuần ? Nhắc, để chúng ta thi hành việc yêu mến Chúa một cách cụ thể trong ngày đó, là tham dự nghi lễ tôn kính Chúa, chứ không tôn kính các thần nào khác, như chính Sách Ðệ Nhị Luật đã chỉ thị (x.Ðnl 6,14-15).
Cho nên, “Hãy nghe” là mệnh lệnh Chúa truyền cho Israel ngày xưa qua miệng Môsê, mà cũng là mệnh lệnh Chúa truyền cho ta hôm nay qua Giáo Hội.
* Trong sách các Vua, ta được đọc một bản văn rất có ý nghĩa, cho thấy ý muốn của Thiên Chúa đòi chúng ta phải có một thái độ căn bản là biết nghe. Ngày ấy, Salomon nối ngôi Ðavít, còn nhỏ tuổi, chưa biết ngõ ra lối vào (tức cách xử sự và cai trị), nói chi đến tiếng tăm danh vọng thường được gán cho ông. Ông đi hành hương Gabaon, dâng lễ tế trên bàn thờ Giavê. Ðêm đến, Thiên Chúa hiện ra với ông trong mộng và bảo: “Ngươi cứ xin đi, Ta sẽ ban cho”. Salomon thưa: “Chính Ngài đã lấy lòng nhân hậu lớn lao mà xử với tôi tớ Chúa là Ðavít, thân phụ con.Chúa đã duy trì lòng nhân hậu lớn lao ấy với người.Chúa đã đặt tôi tớ Chúa đây lên ngôi kế vị Ðavít, thân phụ con, mặc dầu con chỉ là một thanh niên bé nhỏ”. Sau khi kể lể khúc nôi, Salomon mới xin. Xin gì ? Ông không xin sống lâu giầu bền, không xin chiến thắng quân thù. Ông xin một điều rất lạ, hầu chắc không ai ngờ tới: “Xin ban cho tôi tớ Chúa đây một tâm hồn biết lắng nghe” (1V 3,5tt).
Biết bao lần trong đời ta cũng xin Chúa ban cho mình điều này điều nọ. Nhưng thử nghĩ lại những gì mình đã xin coi. Thường ra, chúng tẹp nhẹp, chỉ nhằm những nhu cầu nhất thời của riêng mình. Chúng ta không biết xin điều cơ bản như Salomon đã làm. Ông là vua, là cha mẹ của trăm họ, tiếp quyền các Thẩm phán ngày trước. Ðiều ông xin liên hệ đến nhiệm vụ quan trọng ấy, tức xin cho mình biết nghe theo tiếng lương tri phán đoán, và chắc hẳn nghe theo tiếng Thiên Chúa nữa.
Lời xin ấy làm đẹp lòng Thiên Chúa. Chính Ngài cho hay một tâm hồn biết nghe sẽ có được hiệu quả nào, qua lời Ngài nói với Salomon: “Bởi vì ngươi đã xin điều đó. xin cho được tài phân biệt để xét xử, thì này, Ta làm theo như lời ngươi : Ta ban cho ngươi tâm hồn khôn ngoan minh mẫn” (1V 3,11-12).
Ai nấy đều biết chuyện Salomon khôn ngoan khi phân xử vụ hai người đàn bà cùng nhận một đứa trẻ sơ sinh làm con mình. Ai nấy cũng biết chuyện nữ hoàng Saba tận phương Nam đã đến nghe sự khôn ngoan của ông, điều mà Ðức Giêsu sẽ nhắc lại (x.Mt 12,42tt). Nhưng đó là lúc tâm hồn ông chưa bị đóng đầy mỡ (Tv 119,70). Lòng mà đóng đầy mỡ thì không còn vui khoái với chỉ thị của Thiên Chúa. Sau này, ông không biết nghe tiếng Chúa nữa, vợ con cung tần mỹ nữ đùm đề. Có lẽ Salomon là ông vua trong Kinh Thánh tưng bừng nhất về khoản này. Ông đã mê gái mà thờ quấy (x.1V 11,1tt).
Phần chúng ta, muốn được khôn ngoan minh mẫn, tiên vàn cũng phải có một tâm hồn biết nghe : nghe tiếng lương tâm, nghe lời dạy khôn, nghe Bề trên, nghe lời Thiên Chúa.
* Chúa nói với ta ở đâu để ta có thể nghe ? Chủ yếu là trong Kinh Thánh, đặc biệt khi lời Kinh Thánh được công bố trong Phụng vụ. Tất nhiên, khi đọc Kinh Thánh một mình, ta cũng bắt gặp Thiên Chúa nói với ta. Nhưng trong Phụng vụ, nơi dân Chúa được lời Chúa quy tụ, Thiên Chúa nói với chúng ta trong tư thế một cộng đồng. Ðọc riêng Kinh Thánh là một hành vi cá nhân. Nghe công bố lời Chúa là một hành vi cộng đồng, một nghi thức, đưa ta vào Giao ước, hội nhập vào Dân Chúa, vào lịch sử cứu độ.
Ðược công bố trong cử hành Phụng vụ, lời Chúa như chiếm lĩnh tất cả con người của ta. Nó rót vào tai ta (Dĩ nhiên phải đọc thế nào cho lọt tai, cho thấy đó là lời Chúa. Và cần có bầu khí thinh lặng để nghe). Nó lôi kéo đôi mắt ta hướng về tuyên đài. Từng lời từng lời thấm nhiễm trí óc, đánh động con tim.
Chưa hết. Cả môi miệng cũng không được nghỉ ngơi. (Ðọc Kinh Thánh hay một cuốn sách nào đó một mình, thì môi miệng thường nghỉ ngơi. Chúng ta đọc bằng mắt chứ đâu có đọc bằng miệng, như kiểu trẻ con ê a học bài. Ðây là chuyện bình thường, nhưng lại là một sự lạ thời thánh Augustinô. Thuở ấy, một kẻ đọc sách mà không phát âm inh ỏi là một hiện tượng phi thường. Thánh Ambrosiô là một hiện tượng như thế. Augustinô được trông thấy Ambrosiô xem sách, lấy làm ngạc nhiên hết sức, lấy làm thắc mắc mãi không thôi, bèn ghi vào tập Confessions như sau: “Khi ngài xem sách, mắt ngài lướt trên các hàng chữ, nhưng tiếng nói và miệng lưõi của ngài lại nghỉ ngơi. Tại sao ngài lại làm như vậy?”. Ðối với lời Chúa, có khi môi miệng không được nghỉ ngơi, nhất là khi lời Chúa được công bố trong Phụng vụ). Môi miệng phải làm việc vì phải ăn lời Chúa. Có chuyện này nữa sao? Trong một thị kiến, Êdêkien được Thiên Chúa dạy: “Hãy mở miệng ra mà ăn cái Ta sắp ban cho ngươi”. Êdêkien đã ăn quyển sách, và nó ngọt như mật ong nơi miệng ông (Êd 2,8-3,3). Phụng vụ cũng kêu mời ta ăn lời Chúa, lấy lời Chúa làm lương thực nuôi sống. Muốn thế, ta phải nhai đi nhai lại, nghiền ngẫm lời, để thưởng thức hương ngon vị ngọt và rút lấy chất bổ dưỡng. Lời Chúa mà ta nhai đi nhai lại chính là Thánh Vịnh đáp ca, liên ý với nội dung của bài đọc Sách Thánh. Sự nghiền ngẫm này giúp cho lời Chúa ghi sâu vào tâm hồn ta. Thánh Vịnh này cũng còn là cách độc đáo đáp lại lời Chúa, dùng ngay lời Chúa mà đáp lại.
Ngoài ra, còn có những lúc thinh lặng (Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 23, nhắc giữ thinh lặng sau bài đọc, để suy gẫm vắn tắt những gì đã nghe. Sự thinh lặng này là thành phần của cử hành), bài diễn giảng, các huấn dụ vắn, các lời nguyện, các bài hát, dáng điệu cử chỉ của thân xác : tất cả giúp cho lời Chúa có khả năng tác động trên cả cộng đoàn và từng người.
Nghe lời Chúa theo cung cách ấy, trong bầu khí ấy, với hiệu quả ấy, lại chẳng đáng quan tâm hay sao ?
* Nghe là bước đầu phải có trước một Thiên Chúa nói. Tuy vậy, có thể có những cách đáp ứng như sau :
Có người không nghe. Vì sao ? Vì cố chấp trong tội, bởi lời Chúa nói thường có liên can với tội lỗi người ta. Ngay từ lúc khởi nguyên, Ađam, sau khi phạm tội, đã lẩn trốn Thiên Chúa, không muốn nghe tiếng Ngài, nên Ngài đã phải gọi: “Ngươi ở đâu?” (St 3,9). Khi phạm tội rồi, tất cả những gì trước đó thấy rất rõ, nghe rất rõ, đều tan biến (Julien Green). Không nghe vì không muốn vâng lời, nếu xét theo nguyên ngữ (Ðộng từ shema vừa có nghĩa là nghe, vừa có nghĩa là vâng lời. Hãy xem cách Phaolô dùng 2 từ vâng lời và không vâng lời để chỉ thái độ nghe hay không nghe: “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Không vâng lời có nghĩa la “ở ngoài việc nghe” (parakoè). Vâng lời có nghĩa là “ở dưới việc nghe” (upakoè). Như vậy, không vâng lời là đặt mình ở ngoài khu vực nghe, nơi ngưòi ta không nghe thấy gì nữa. Ngược lại, vâng lời là đặt mình dưới máy khuếch đại lời Thiên Chúa). Người không nghe Chúa thì Chúa cũng không nghe họ. Và chính lời Chúa sẽ phán xét họ trong ngày sau hết (x.Ga 12,48).
Có người khác nghe mà lơ đãng, nghe tai này ra tai nọ, nghe như nước đổ đầu vịt. Bởi lòng trí họ còn đang bận bịu trăm công nghìn chuyện. Có nghe cũng như không. Tâm hồn họ như bụi gai bóp nghẹt lời Chúa (x.Mt 13,22).
Còn người biết nghe thì sao ? Cho dù chú ý nghe, nhưng nghe suông mà thôi chưa đủ. Còn phải giữ lời, thực hành lời nữa. Trong Phúc Âm, Chúa rất nhấn mạnh việc thực hành này. Trong dụ ngôn hạt giống, ta thấy lời Chúa được đón nhận bằng những cách thức khác nhau. Tất cả đều nghe, nhưng chỉ những kẻ hiểu, thực sự đón nhận hoặc giữ lời đó (3 kiểu nói đồng nghĩa), mới thấy lời Chúa sinh hoa trái nơi họ. Cuối bài giảng trên núi, khi vừa công bố Luật mới, Ðức Giêsu đối chiếu số phận của ngưòi nghe lời mà đem ra thực hành, với số phận của người nghe lời mà không đem ra thực hành : một bên thì giống như ngôi nhà được xây trên đá, bên kia thì xây trên cát (x.Mt 7,24-27).
Thánh Giacôbê dùng một hình ảnh so sánh khá ngộ: “Ai lắng nghe lời Chúa mà không thực hành, thì giống như người soi gương thấy khuôn mặt tự nhiên của mình. Người ấy soi gương rồi đi, và quên ngay không nhớ mặt mình thế nào” (Gc 1,22-24). Soi gương là muốn nhìn mình cho kỹ, cho rõ, xem có gì lôi thôi thì lau, thì sửa.Thế mà có người soi gương, thấy có những cái phải lau, phải sửa, nhưng bỏ gương ra thì lại quên phéng việc đó. Lơ đãng đến thế là cùng. Người lơ đãng đó chính là người tín hữu để lời Chúa tra xét mình, thấy mình có lỗi này lỗi nọ, nhưng nghe lời Chúa xong, lại không một chút quan tâm sửa mình.
Nghe và giữ lời Chúa sẽ đem lại kết quả ra sao ? Ðó là một người có phúc (Lc 11,28), là anh chị em với Chúa (Lc 8,21), được Chúa Cha yêu mến và đặt làm chỗ ở của Ngài (Ga 14,23). Người đó sẽ không phải chết (Ga 8,51), nhưng được sống đời đời (Ga 5,24). Tất cả chỉ vì đã nghe và thực hành lời của Chúa Cha là chính sự thật.
2. “Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe” (1Sm 3,10)
Thiên Chúa nói với ta, ban cho ta lời Ngài, cho ta được “thưởng thức lời tốt đẹp của Ngài” (Dt 6,5). Nhưng hương vị của lời Chúa không phải bao giờ cũng cảm thấy, không phải môi miệng nào cũng cảm thấy. Cũng như manna trong sa mạc ngày xưa, hoặc như Thánh Thể ngày nay, ăn riết có thể đâm chán. Nói về việc tìm kiếm sự khôn ngoan, thánh Bênađô bảo : Phải làm cho sự khôn ngoan đầy lòng dạ và tâm trí. Nhưng ngài cũng lưu ý : đầy, nhưng không tràn, không ứ, để khỏi mửa ra. Thánh nhân viết: “Bạn tìm thấy sự khôn ngoan, tức là bạn thực sự tìm thấy mật ong. Nhưng đừng ăn nó nhiều quá, để không mửa nó ra vì phát ngấy”. Có thể áp dụng điều trên đây vào việc nghe hay đọc lời Chúa. Sao cho đủ liều lượng mà vẫn còn thấy thèm, thấy đói. Chán ngấy như thế nào thì kinh nghiệm của Israel còn sờ sờ ra đó. Họ chán cái thứ manna nhạt nhẽo không mùi vị mà ngày nào cũng phải dùng. Thế nên, để khỏi rơi vào tình trạng này, phải có sự chuẩn bị, phải có tâm hồn sẵn sàng. Thế nào là chuẩn bị, sẵn sàng ?
* Có đôi tai đức tin. Muốn nghe phải có tai. Tai xác thịt là để nghe lời của con người. Nhưng để nghe lời Chúa, phải có tai đức tin kia, vì đây là lời của Thánh Thần. Chính đức tin mở tai chúng ta ra để nghe lời Chúa. “Lới đó tác động nơi anh em là những tín hữu” (1Tx 2,13). Không có đức tin, người ta vẫn có thể nghe hay đọc lời Chúa như bất cứ lời nào hay sách nào. Nghe như thế là để biết, để tìm hiểu. Có thể để tìm một nguyên tắc tương tự như nguyên tắc của đời sống luân lý. Hoặc tệ hơn, nghe nhằm tìm cách phản bác. Không có đức tin, phản bác cũng dễ lắm, vì nhiều lời Chúa quả là khó nghe với đôi tai xác thịt. Luther bảo: “Quả thực lời Thiên Chúa có đến thì lại ngược với cảm quan và ước vọng của ta” (Vere verbum Dei, si venit, venit contra sensum et votum nostrum). Ðâu cần đợi tới ngày nay. Hồi Ðức Giêsu đích thân giảng dạy cũng đã từng xẩy ra như thế. Chúng ta có thể thấy, chẳng hạn, khi Chúa giảng về bánh ban sự sống, dân chúng, thậm chí một số môn đệ, đã phản ứng ra sao.
Có lần nói về các chiên của mình, Chúa bảo: “Chúng sẽ nghe tiếng tôi” (Ga 10,16). Những kẻ không có đức tin, những ngưòi ngoài đàn chiên, nghe lời Chúa thì chỉ nghe có những lời. Riêng chiên mới nhận ra đó là tiếng của Chúa, nhận ra người nói là ai. Lời và tiếng không giống nhau. Lời diễn tả ý tưởng. Tiếng cho ta biết người. Lời của Kinh Thánh có thể đem sánh với lời của con người, vì cũng chỉ là hình thức chuyển tải ý tưởng. Tiếng của Kinh Thánh thì không thể đem sánh, vì là tiếng của Chúa (x.Ga 6,52.66).
Dưới ánh sáng đức tin, Kinh Thánh trở nên có một ý nghĩa khác hẳn với mọi sách khác. So với Kinh Thánh, có thể có những tác phẩm hay hơn, những tư tưỏng sâu sắc hơn. Hoặc cứ cho rằng Kinh Thánh hay hơn hết đi nữa, nếu nó chỉ như một cuốn sách dạy đạo, thì có hay mấy, đọc mãi cũng nhàm. Hội được ý nghĩa, nguyên tắc trong sách rồi, hơi đâu mà đọc lại, hứng đâu mà nghe thêm ? Tương tự đã ép lấy nước mía để uống, thì vứt bã đi. Cùng lắm lâu lâu đọc lại, nghe lại, để nhớ, thế thôi. Sách nào cũng vậy, dù thâm thuý, được ưa chuộng, chỉ chịu được vô số lần đọc của những thế hệ khác nhau, đâu chịu được vô số lần đọc của một người.
Nhưng một cuốn sách như Kinh Thánh, đối với người nghe hay đọc bằng đức tin, lại khác hẳn. Lời trong đó có một ý nghĩa mầu nhiệm, luôn mới mẻ và hiện tại, vì gắn chặt với tiếng. Ðấy là tiếng của Chúa đang hiện diện và nói cho mọi người, cho từng người, trong mọi tình huống của ngày hôm nay. Muốn nghe được tiếng Chúa là phải tìm đến Kinh Thánh. Cũng như muốn tìm hương vị của trái chuối, người ta không thể ép lấy nước chuối, như kiểu ép nước mía rồi thải bã, nhưng phải ăn chính trái chuối.
Vậy một tâm hồn sẵn sàng trước hết phải là một tâm hồn tin. Phải có đôi tai đức tin để nhận ra tiếng nói của Chúa. Chỉ có nó mới làm cho ta tiếp xúc được với Ngài. Và khi nghe được tiếng của Chúa, tiếp xúc với Ngài, ta mới thấy lời Chúa là lời nói với mình. Mỗi con chiên sẽ được gọi đích danh và được tiếp xúc riêng biệt. Bấy giờ sẽ có đối thoại, như Chúa Phục sinh gọi tên Maria Mađalêna, và cô đáp lại: “Rabboni”. Ðáp, vì đã nhận ra tiếng Chúa gọi mình.
* Ngoài ra, cần nghe lời Chúa với tấm lòng tôn kính, đơn sơ, ngoan ngoãn, rộng mở, yêu mến, khao khát nghe để tìm ơn cứu độ. Thể hiện những thái độ trên đặc biệt đối với những lời Phúc Âm. Truyền thống các hiền nhân, nho gia khi đọc hay nghe những tác phẩm thế tục đáng trân trọng, vẫn dành cho chúng một sự tôn kính đặc biệt. (Platon khi đọc sách thánh hiền thì đốt hương trầm. Ðời Lê, có lần tại Bắc Kinh, vị đại sứ của ta tặng một bài thơ cho vị đại sứ Triều Tiên. Ông này gửi thư cám ơn, có câu: “Rửa tay xong mới mở ra ngâm đọc, cảm thấy răng và má tự nhiên phát ra mùi hương thơm”. Nói về bài phú Xích Bích của thi sĩ Trung Quốc là Tô Ðông Pha, ông Nguyễn Hiến Lê bảo: “đọc lên thấy thơm tho cả miệng lưỡi”). Ðối với sách thường còn vậy, huống hồ là đối với Sách Thánh. Phải có thái độ tôn kính khi đọc hay nghe đọc. Răng, má hay miệng lưỡi của chúng ta chắc chắn cũng toát ra mùi hương, còn thơm hơn nhiều.
Giáo Hội dạy ta một cách tôn kính khi nghe công bố Phúc Âm trong Phụng vụ. Theo tập quán xưa, sách Phúc Âm là sách riêng, không chung với sách các bài đọc khác. Có cung nghinh, có hương nến, trịnh trọng. Người công bố là linh mục hay phó tế. Làm dấu Thánh giá. Hôn sách. Phía người nghe cũng tỏ thái độ tôn kính, cụ thể là đứng nghiêm trang, hướng về tuyên đài. Mong rằng chúng ta luôn giữ đúng cung cách ấy, bày tỏ lòng tôn kính thực sự đối với lời Chúa, và không chỉ khi nghe công bố trong Phụng vụ mà thôi.
Chúng ta nghe với tấm lòng đơn sơ, rộng mở, khao khát, như muốn để lời Chúa ùa vào tâm hồn ta. Ðể được thế, thì khi nghe, cũng phải mở rộng vành tai bên ngoài nữa. Chúng ta thấy cái phễu có một đầu loe to, một đầu thu nhỏ. Tai chúng ta cũng vậy. Nghe lời Chúa (hay đón nhận ơn Chúa) là phải hướng đầu loe đó về phía Chúa, tiếp nhận mọi lời (hay mọi ơn) cho bằng hết, không bỏ sót, không để rơi để rớt. Và chính cái đầu thu nhỏ sẽ giúp cho lời Chúa (hay ơn Chúa) chảy tuồn tuột vào trong ta. Ðưa đầu nhỏ mà hấng thì phỏng được mấy tí ? Giêrêmia thì không dùng hình ảnh tai, nhưng dùng hình ảnh miệng. “Gặp được lòi Chúa tôi đã nuốt vào. Lời Chúa làm vui thoả lòng tôi” (Gr 15,16).
Ðó là thái độ, chẳng hạn, của một Timotê ngày còn bé. Trong thư thứ hai gửi người môn đệ yêu quý này, Phaolô có nhắc lại điều đó, hàm ý khen, và cũng dựa vào đó để khuyến khích Timotê kiên vững. Thánh Tông đồ viết: “Từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan,để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Ðức Kitô Giêsu” (2Tm 3,14). Mà Timotê biết Kinh Thánh từ tấm bé nhờ ai ? Không ai khác hơn là bà nội và mẹ ruột, những người có lòng tin rất chân thật (x.2Tm 1,5). Chắc hẳn họ đã để cho con cho cháu dựa trên đầu gối mình mà truyền đạt lời Chúa cho nó. Ðó là hành vi rất thông thường của các bà, các người mẹ đạo đức ngày xưa trong khung cảnh gia đình. Ngày nay, thử hỏi được mấy bà mẹ biết dạy con như vậy ? (Nhớ lại mấy chục năm về trước, có những bà mẹ ru con bằng những thi ca đạo đức bình dân, như truyện ông Alêxù, ca vè cụ Sáu., hoặc ít ra những bài ca dao đậm nét tình tự dân tộc, quê hương, đạo lý: “Cái ngủ mày ngủ cho lâu, mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về”. Những lời ru như vậy đã thấm sâu vào lòng con người, nhất là con người thôn dã, nếu không muốn nói là cả dân tộc, vì đa số dân ta là nông dân hay có nguồn gốc thôn quê. Những lời ru như vậy đã làm cho tâm hồn một người như thi sĩ Hồ Dzếnh phải cảm kích mà viết : “Kiếp sau xin lại làm người. Ðể nghe non nước vọng lời mẹ ru”). Bây giờ, sau bao nhiêu cảnh vật đổi sao rời, dù không vất vả lam lũ, người mẹ hầu như khoán trắng việc học đạo của con cho các cha, các thầy, các bà dòng, các giáo lý viên. Chị lớn dỗ em ngủ bằng băng nhạc rap nghe lộn ruột, hết năm lần bẩy lượt mà mắt thằng bé cứ mở thao láo. Còn thằng bé Timotê, trước các bậc sinh thành đầy lòng tin, hẳn đã mở to đôi mắt, banh đôi tai, há hốc miệng mà nuốt trửng những lời linh hứng vàng ngọc. Hệt như những đứa trẻ bây giờ mở mắt banh tai trước những truyện cổ tích được kể với một giọng hấp dẫn.
* Một tâm hồn thinh lặng và cầu nguyện. Khi được Thiên Chúa kêu gọi, Samuen đang là một con trẻ phụng sự Thiên Chúa, dưới sự chăm sóc của Thầy cả Êli, đêm nằm ở điện thờ, nơi có Hòm Bia Thiên Chúa (x.1Sm 3,1-3). Như vậy, lời Chúa nói trong một bầu khí thinh lặng (đêm), nói với một tâm hồn luôn ở trong tư thế gần gũi thân mật với Chúa (Hòm Bia), tức là một tâm hồn cầu nguyện. Ngay câu thưa của Samuen, lúc được Chúa gọi lần thứ ba, cũng là một hình thức cầu nguyện: “LạyÐức Chúa, xin Ngài phán”.
Augustinô nói: “Rốt cuộc, muốn hiểu Kinh Thánh, điều cốt là phải cầu nguyện”. Ta có thể diễn ý thêm : Muốn nghe lời Chúa cũng phải cầu nguyện. Phải như các tín hữu sơ khai hằng van nài: “Lạy Chúa, xin hãy đến” (Maran atha). Cầu nguyện và thinh lặng để nghe tiếng Chúa gõ cửa, hầu khi nghe thấy thì mở ngay cho Ngài (x.Kh 3,20). Ồn ào, xao động, làm sao nghe ? Tiếng của Chúa sẽ bị mất hút trong các tiếng động khác. Cầu nguyện và thinh lặng còn là điều kiện để Chúa lưu lại và nói. Thiếu những yếu tố đó, tâm hồn ta giống như một căn phòng bề bộn, đồ đạc ngổn ngang, không ra đâu vào đâu. Chẳng ai muốn bước chân vào một căn phòng như thế.
Có thể thấy một chỉ dẫn trong câu truyện hai chị em Matta và Maria lúc Chúa đến chơi nhà (Lc 10,38-41). Maria thì ngồi dưới chân Chúa và nghe lời Ngài. Còn cô chị Matta mải bận rộn với việc phục dịch bộn bàng. Khi Matta xin Chúa bảo cô em giúp mình trong việc này thì được Chúa trả lời: “Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá”. Chúa đánh giá cao việc lắng nghe lời Chúa. Mà để được thế, tâm hồn phải không bộn bàng, không xôn xao nhiều chuyện. Phải thinh lặng. (Ở đây, Chúa không có ý coi trọng chiêm niệm hơn hoạt động như có người nghĩ, rồi nhân đó cho rằng đời sống tu kín có giá trị hơn đời sống tu hở. Nhưng có ý nói rằng : muốn chú tâm tới những thực tại Nước Trời, thường được biểu thị bằng lời, thì không để mình chia trí vì những lo toan thái quá về những thực tại trần thế. Hơn nữa, theo Luca, nghe lời Chúa không phải là chiêm niệm ở nhưng chút nào, nhưng phải đưa tới những hành động cụ thể và rất đòi hỏi, x.Lc 8,15).
Nhân nói về sự thinh lặng, thiết tưởng cần gợi ra đôi điều trong dịp tĩnh tâm dài ngày. Ngày đầu từ các nơi tựu về, lâu lâu không gặp nhau, chúng ta tay bắt mặt mừng, tíu ta tíu tít, hàn huyên đủ chuyện. Rất tốt. Phải như vậy nữa. Nhưng bầu khí tĩnh tâm đòi chúng ta hạ giọng, “gò hãm miệng lưỡi” như thánh Giacôbê dặn (Gc1,26), vì Thiên Chúa không thể nói khi con người nói quá nhiều. Lý tưởng những ngày tĩnh tâm bảo chúng ta thinh lặng. Thinh lặng hoàn toàn nếu được. Hoặc ít nhất cũng cần có những giờ phút cần thinh lặng tuyệt đối, Thinh lặng tương tự như phần rỗng của bụng trống (bụng của cái trống). Bụng càng rỗng, trống đánh kêu càng to. Lòng trí ta càng thinh lặng, sự tiếp thu lời Chúa và âm vang vủa tiếng Chúa càng lớn. Dĩ nhiên, thinh lặng là do ta tự ý, cố gắng mà không giả dối. Ðó là chuyện liên hệ đến miệng lưỡi. Nhưng quan trọng hơn, là thinh lặng bên trong. Và thinh lặng này, ai có thể ra luật đòi giữ, ai có thể kiểm soát, trừ phi là chính mỗi người chúng ta? Có thể bề ngoài thinh lặng mà trong trí thì ngổn ngang đủ thứ.
Chúa có lần vào đền thờ, lật đổ những bàn đổi tiền và xua đuổi các con buôn ra ngoài (x.Ga 2,13tt). Ta cũng phải thanh tẩy lòng trí ta khỏi ba cái chuyện trần tục đó. Nhưng cũng nhớ lời Chúa cảnh giác : đừng quét dọn xong rồi để nhà không ai ở, kẻo Satan lại đi rủ thêm các quỷ dữ hơn và tái chiếm (x.Lc 11,24-26). Lúc ấy sẽ nguy hơn nhiều.
Hãy để Chúa đến làm chủ tâm trí ta. Hãy nuốt lời Chúa vào cho đầy lòng dạ. Hãy có tâm hồn như hai môn đệ Emmau sẵn sàng nghe Chúa nói, đến nỗi lòng họ “bừng cháy lên” khi họ nghe Chúa giải thích lời Kinh Thánh.
Ở đầu bài, chúng ta đã trưng lời châm biếm của tác giả Thánh Vịnh về các tượng thần dân ngoại không biết nói, để thấy sự khác biệt của Thiên Chúa chúng ta là Ngài biết nói. Tác giả còn châm biếm tiếp: “Tai có đó nhưng chúng không nghe”. Ðến lượt chúng ta phải cho thấy sự khác biệt của ta với các tượng thần đó ở chỗ ta biết nghe. Nghe lời Chúa vì Chúa lên tiếng nói.
Chúng ta hãy xin như thường hát trong một bài ca quen thuộc :
Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong cuộc sống…
Xin cho con biết sẵn sàng trả lời vừa khi con nghe Chúa
Xin cho con biết sẵn sàng thực hành lời Chúa đã truyền ban
Lắng nghe, hiểu ý, đáp ứng, thực hành : đó là những hành vi cơ bản của người môn đệ trước lời dạy của Chúa là Thầy của chúng ta.
IV. HOÁN CẢI HƯỚNG VỀ ÐỨC KITÔ
Ngày nay, nhiều người cảm thấy ngại ngùng khi nói về hoán cải, hoặc khi nghe kêu mời hoán cải. Ngại, không phải vì cho mình không có lỗi, nên không thấy cần hoán cải. Ngại là vì những đòi hỏi của nó dường như bắt người ta phải cố gắng nhiều, làm cho cuộc sống không còn thoải mái như người ta nghĩ. Chuyện hoán cải, mười phần khó thực hiện đến bảy tám.
Thế nhưng hoán cải vẫn là một trong những điểm then chốt của đời sống kitô giáo. Nó bàng bạc trong tất cả giáo huấn của Kinh Thánh, từ lời rao giảng của các ngôn sứ, Gioan Tẩy Giả, đến Dức Giêsu và các Tông Ðồ. “Hãy sám hối”, “Hãy hoán cải” đó là những lời đầu tiên Ðức Giêsu nói với người Do Thái, trước cả những lời dạy được coi là cốt yếu khác, trước cả Bài Giảng Trên Núi được coi là Hiến chương của Nước Trời. Và không chỉ nói một lần rồi thôi, nhường chỗ cho các giáo huấn khác. Không. Lời kêu gọi hoán cải còn tiếp tục vang lên trong suốt cuộc đời của Chúa, cho tới Thập giá, thậm chí cho tới lúc Ngài về trời, qua lời Ngài căn dặn các môn đệ là “phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho muôn dân, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24,47).
Hoán cải tạo nên một thái độ cần thiết. Không có thái độ này, không thể đón nhận sứ điệp của Chúa, không thể hiểu và sống sứ điệp này. Do đó không thể được cứu (x.Lc 13,3.5).
Do sự hoán cải được nhấn mạnh như thế, do nó có tầm quan trọng lớn trong đời sống của ta, ta không thể không suy niệm ít nhiều về nó trong bài này.
1. “Hãy hoán cải” (Mc 1,15)
* Hoán cải (conversion) là một từ có tính chất đa giá. Nó được sử dụng theo nhiều nghĩa rất khác nhau. Nói chung, nó nói lên một sự thay đổi đời sống. Bỏ một cung cách sống quen thuộc để nhận một cung cách sống mới tốt hơn. Bỏ việc phục vụ mình một cách ích kỷ để phục vụ cộng đồng hay phục vụ Chúa. Cuối cùng là bất cứ quyết định hay đổi mới nào, dù làm theo cách nào, đưa ta tới gần Chúa hoặc kết hợp ta hơn với sự sống của Thiên Chúa. Ý nghĩa cuối cùng hoàn toàn thuộc phạm vi tôn giáo.
Hoán cải, theo từ hy lạp (metanoia) dùng trong Tân Ước có nghĩa là nghĩ khác trước, đổi ý, đổi tâm tình, đổi não trạng, hối tiếc, hối hận. Như vậy, dường như nó chỉ liên hệ với tâm trí, với sự thay đổi bên trong. Không phải thế. Phải hiểu nó theo chủ đề căn bản trong Cựu Ước, cách riêng từ ngôn sứ Giêrêmia. Nó có nghĩa là thay đổi hướng đi, thay đổi con đường, bỏ đường tà trở lại đường chính, triệt để quay về với Thiên Chúa của Giao Ước, và dấn bước vào một cuộc sống mới. Vì Cựu Ước coi con người như một toàn thể, nên hoán cải không chỉ là thay đổi tâm trí, mà là cả con người. Không chỉ trong ý nghĩ mà cả trong hành động.
Cũng theo quan niệm của Kinh Thánh, ngoài chiều kích luân lý (bỏ điều dữ làm điều lành), đặc biệt hoán cải còn có chiều kích thần học. Chính chiều kích thần học làm nền tảng cho chiều kích luân lý. Ta không chỉ đơn thuần sửa chữa những lầm lỗi thiếu sót của mình. Một cách cơ bản hơn, phải hiểu cho đúng mình là ai trước mặt Thiên Chúa, để có thể hướng về Ngài. Trên thực tế, ta luôn có khuynh hướng đánh giá mình quá cao nên không thể công chính trước mặt Thiên Chúa và đối với anh chị em.
* Vậy khi Ðức Giêsu, tiếp theo sau Gioan Tẩy Giả, kêu gọi hoán cải, Ngài muốn ta làm gì ? Dựa vào những ý nghĩa trên đây, chúng ta thấy phải làm hai việc. Quả thực, hoán cải có hai khía cạnh : một tiêu cực và một tích cực, nếu có thể nói được như thế. Một đàng hướng về quá khứ để hối hận đau buồn vì những lầm lỗi đã phạm, một đàng hướng về Thiên Chúa nơi Ðức Kitô là Ðấng đang đến.
Trước hết là hướng về những tội lỗi đã phạm. Ðây là lúc sám hối, là khởi điểm chủ yếu cho sự hoán cải, là lúc khởi đầu cải thiện cùng với những nỗ lực nhọc nhằn gắn liền với việc cải thiện (paenitentia, paena, punire, “đánh tội”). Quả thực, chính vì mối liên hệ với con đường tội lỗi đã đi qua mà chúng ta hoán cải. Hoán cải liên kết với ý nghĩ về tội và với sự kiện tội lỗi. Nghĩ đến tội và thấy có tội nơi mình, chúng ta bày tỏ tâm tình hối lỗi, đau buồn, muốn đền tội đã phạm, quay lưng khỏi tội, xa tránh dịp tội. Tội càng nặng, quá khứ càng đen tối, thì những tâm tình, ước muốn và hành động trên đây càng gia tăng. Có thấy rõ điều này nơi các thánh.
Ở đầu sách Linh Thao, thánh Inhaxiô Loyola đề nghị với các người tĩnh tâm như sau: “Tôi sẽ nhìn tất cả sự hư hoại và thối tha của thân xác tôi. Tôi sẽ nhìn tôi như nhìn một vết lở loét và ung nhọt, từ chỗ đó phát sinh bao nhiêu là tội lỗi, bao nhiêu là điều ác, bao nhiêu là nhơ bẩn đáng xấu hổ”. Các vị Thánh, dù đời sống ít có lỗi nặng, nhưng khi nhìn lại mình, vẫn tự trách mình với một sự đau buồn dường như không cân xứng với những sơ sót của các ngài. Lu-y Gonzaga đã ngất xỉu trong toà giải tội khi xưng những tội mà thực ra chúng ta cho là quá nhẹ. Nhẹ đối với ta, nhưng vẫn là nặng đối với những người thực sự ý thức về tội. Thánh Têrêxa Giêsu là người hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa, hầu như không bao giờ phạm tội gì nặng. Vậy mà trong cuốn sách tự thuật, thánh nữ vẫn bộc bạch tình cảm về thân phận tội lỗi của mình, và nói lên sự cần thiết phải sám hối.
* Tuy nhiên, hướng về quá khứ tội lỗi không phải là dừng lại ở đó. Quá khứ chỉ là bước đầu, được sử dụng để đi tới tương lai, hướng tới một mục tiêu khác. Việc xem xét tội, tâm tình sám hối tạo ra một tiến trình hoán cải mà điểm chót của nó lại là hướng về Thiên Chúa.
Thực ra, điều này đã có ngay từ lúc bắt đầu sám hối. Chính lúc sám hối là lúc chúng ta nhìn tới lòng thương xót của Thiên Chúa đang thể hiện, qua việc Ngài tha thứ tội ta và không ngừng đưa ta trở lại với Ngài. Nhưng sau khi sám hối, chính là một sự tái sinh, một sự thay đổi tận căn, một sự trở lại hoàn toàn với Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô.
Ý nghĩa tích cực này đã được Gioan Tẩy Giả làm nổi bật khi ông kêu gọi người Do Thái hoán cải. Viễn tượng mà Gioan cho họ thấy không hẳn là viễn tượng tội lỗi của họ. Ông không muốn làm cho họ đau buồn trong tình cảm bệnh hoạn về tội của họ. Ông muốn nhấn mạnh viễn tượng vinh quang của Nước Thiên Chúa đã đến (Mt 3,2). Gioan không đòi họ nhìn về quá khứ để dừng lại ở quá khứ, để nghĩ đến cuộc sống xấu xa tội lỗi mà thôi. Ðiều ông nhấn mạnh là muốn họ nhìn về phía trước, hướng về Ðấng Cứu Thế đang đến. Bởi vậy, lời rao giảng hoán cải của ông không nhằm đưa họ trở lại với Giao ước cũ. Ngược lại, Gioan hướng họ đi gặp Ðấng đến sau ông, nhưng cao trọng hơn ông, đến nỗi ông không đáng cởi dây giầy cho Ngài (Lc 3,16).
Các ngôn sứ trước Gioan cũng đã từng làm một cách tương tự. Chắc hẳn các ngài cũng thường nhắc cho Israel tội lỗi của họ (Gr 35,15), nhưng phần nhiều là những lời mời gọi hướng về Thiên Chúa (Is 45,22; Ge 2,12.). Có điều, Thiên Chúa này là Thiên Chúa của Giao Ước cũ. Hướng về Thiên Chúa là trở lại với việc giữ Lề Luật mà Ngài đã ban hành, Lề Luật mà họ đã lỗi phạm. Còn giờ đây, lời mời gọi của Gioan hướng về tương lai, hướng về Ðức Kitô, hướng về Nước Thiên Chúa do Ðức Kitô thiết lập, nơi ơn cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện.
Lời rao giảng đầu tiên của Ðức Kitô cũng không khác hơn. Lý do cũng là Nước Thiên Chúa đã gần kề. Nội dung cũng là hoán cải. Tuy vậy, nội dung này còn có thêm một yếu tố mới liên hệ đến Ngài và sứ điệp của Ngài. Ðó là tin :”Hãy sám hối và tin” (Mc 1,15). Ðây là hai thái độ căn bản mà con người phải có trước việcloan báo Nước Thiên Chúa. Nhưng chúng không phải là hai thái độ độc lập với nhau. Không phải hoán cải trước rồi tin sau. Ðúng ra, chúng là hai mặt của một chuyển động. Hoán cải được thực hiện trong niềm tin vào ơn cứu độ do Dức Kitô thực hiện. Chung quy là hướng về một đời sống mới.
2. “Trở lại nên như trẻ nhỏ”(Mt 18,3)
* Chúng ta sang một khía cạnh khác của hoán cải : trở nên như trẻ nhỏ. Ðây cũng chính là điều kiện để có thể vào Nước Trời, như Ðức Giêsu nói rõ.
Ðối với một trẻ nhỏ, thường ra người lớn nào cũng ưa, cũng thích, nhất nữa khi đó là một em bé mũm mĩm, dễ coi, dễ bảo. Con người và tính tình của nó toát lên một một vẻ ngây thơ, trong trắng, một nét đẹp còn tinh khôi, chưa bị hoen ố bởi thời gian và các thói hư tật xấu.
Trong Kinh Thánh, trẻ em được xem như một kẻ được Thiên Chúa ưu đãi. Chỉ cần nghĩ tới việc Ngài không ngần ngại chọn một số trẻ em làm kẻ thừa hưởng công cuộc mạc khải và cứu rỗi của Ngài, cũng như làm sứ giả đầu tiên của công cuộc này. Samuel chẳng hạn, đã đón nhận lời Thiên Chúa ngay từ bé và trung thành truyền đạt (1Sm 1,3). Hay chẳng hạn Ðavít, nhỏ nhất trong các anh em, lại là kẻ được Thiên Chúa để mắt tới (1Sm 16,1-13). Hoặc cậu nhỏ Ðaniel tỏ ra khôn ngoan hơn các bậc lão trượng Israel trong việc cứu sống bà Suzana (Ðn 13,44-50).
Ðức Giêsu khi đến trần gian cũng rập theo cung cách cư xử ấy của Thiên Chúa. Ngài để con trẻ đến với mình. Như Thiên Chúa đã chúc phúc cho người nghèo, Ngài cũng chúc lành cho trẻ nhỏ (Mc 10,16). Ngài muốn cho thấy : cả người nghèo lẫn trẻ em đều có ưu tiên đi vàoNước Trời. Vậy ai muốn vào Nước Trời, thì phải trở thành giống như trẻ nhỏ, vì Nước Trời thuộc về chúng (Mt 19,14tt). Phải đón nhận Nước Trời giống như trẻ nhỏ (Mc 10,15), đơn sơ lãnh nhận Nước Trời như một ân huệ của Thiên Chúa, thay vì đòi hỏi như một món nợ phải trả cho công trạng của mình. Trẻ em chỉ biết đến đặc ân, đâu có bao giờ nghĩ đến côngtrạng. Nếu nó xin cha mẹ một điều gì, nó chỉ biết rằng cha mẹ yêu nó thương nó mà cho như nó xin, chứ đâu phải nó có công trạng nào khiến cha mẹ phải đền bù lại cho nó. Bí quyêt để trở nên cao trọng là “coi mình như trẻ nhỏ” (Mt 18,4). Ðây chính là sự khiêm nhường đích thực. Thiếu nó, người ta không thể trở thành con cái Cha trên trời, là Ðấng hạ kẻ kiêu căng và nâng người hèn mọn.
Những đức tính đơn sơ, khiêm nhường, hiền hoà, nghèo khó. là những đức tính mà một môn đệ của Chúa phải có. Thành ra, trẻ nhỏ tượng trưng cho những môn đệ đích thực.
* Tuy nhiên, khi dạy chúng ta phải hoán cải nên như trẻ nhỏ, Ðức Giêsu muốn nhấn mạnh điều gì ? Hãy trở lại với bối cảnh của lời giảng dạy này. Lúc bấy giờ các môn đệ hỏi Chúa xem ai là kẻ lớn hơn trong Nước Trời. Câu hỏi mặc nhiên nói lên tham vọng của các ông muốn là những người làm lớn, có quyền cao chức trọng. Con đường danh lợi quả là một cám dỗ tự nhiên và dai dẳng. Cứ nhìn chung quanh mà coi. Hầu như ai nấy đều bị cái bả danh lợi làm cho loá mắt. Ai nấy đều muốn có chức quyền, có lợi lộc, có ảnh hưởng. Mà mức độ của ước muốn này là không có mức độ. Thế mới chết!. Cám dỗ này, các môn đệ của Chúa chắc cũng không tránh khỏi.
Chính để trả lời cho câu hỏi đó mà Chúa dạy phải nên như trẻ nhỏ. Chúa không có ý giới thiệu trẻ nhỏ như một mẫu gương ngây thơ, vô tội, thật thà, hoặc có những đức tính luân lý này khác, cho dù những đức tính này vẫn tốt đẹp, cao quý, đáng noi theo. Tuy trẻ em ngây thơ, thật thà. nhưng Chúa Giêsu không phải không biết rằng chúng cũng có những lúc ngang bướng. Ngài có nhắc đến điều này trong một dụ ngôn, trong đó nhóm Biệt Phái được so sánh với những đứa trẻ chơi ở công trường, không biết múa theo tiếng kèn sáo, không biết khóc theo tiếng than van (x.Lc 7,31-32). Ở đây, Chúa giới thiệu trẻ em như một kẻ không có tham vọng, sống lệ thuộc hoàn toàn vào người lớn, trái hẳn với tham vọng thầm kín của các môn đệ.
Người lớn phải lệ thuộc ở đây là ai ? Là Ðức Kitô. Trong Nước Trời, chính lòng tin làm cho người môn đệ lệ thuộc hoàn toàn vào Ðức Kitô, gắn bó với Ngài, sẵn sàng nghe lời Ngài mời gọi. Ðể được thế, cần phải hoán cải, tức là từ bỏ bản thân để đi theo Chúa. Giá trị của người môn đệ là ở đó. Sự cao trọng đích thực của họ cũng là ở đó.
* Nếu như lời dạy hoán cải của Chúa được các vị thánh rất quan tâm, thì lời dạy phải nên như trẻ nhỏ cũng được nhiều vị để ý thực hành. Trong số này, có lẽ chúng ta nghĩ ngay tới Têrêxa Hài Ðồng Giêsu, được biết đến nhiều như là người đã mở ra “con đường nhỏ” hay “con đường thơ ấu thiêng liêng”. Ðây là một con đường rất thẳng, hoàn toàn mới, hệ tại ở một tâm hồn sẵn sàng làm cho mình nhỏ bé và khiêm tốn trong cánh tay Thiên Chúa, ý thức sự yếu đuối của mình, tin tưởng đến táo bạo vào lòng nhân từ của Chúa Cha. Chính Têrêxa đã khám phá ra rằng sự bé nhỏ giúp người ta nương náu trong cánh tay Chúa. Và cánh tay này như một chiếc thang máy đưa người ta lên nhanh hơn, dễ hơn tới đỉnh cao của sự thánh thiện. (x. Novissima verba, Lisieux 1926, pp 112-113). Thánh nữ viết trong cuốn Một tâm hồn như sau: “Lạy Chúa, những cánh tay của Chúa là như chiếc thang máy nâng con lên tận thiên đàng. Vì vậy, con không cần phải lớn lên gì cả. Trái lại, con còn phải bé nhỏ đi, phải trở nên bé nhỏ hơn mãi” (ch.X). Sự thành công và giá trị của con đường nàylà do nó đưa con người tới chỗ mở rộng tâm hồn và phó thác cho Thiên Chúa là Ðấng giầu lòng thương xót. “Con đường nhỏ là một sự năng động của đức cậy, được gợi hứng bởi đức tin, dấn thân trong dức mến. Nó là sự diễn tả điều cốt tuỷ của Phúc Âm. Hơn nữa, trước hết nó phải là sự thực hiện điều cốt tuỷ của Phúc Âm. Ðiều cốt tuỷ này là ơn thương xót. Ðiều đó nói cho mọi người, nhưng tiên vàn là cho người nghèo khó, bé nhỏ, khiêm tốn, người sống lầm than, kể cả trong lầm than tội lỗi” (R. Laurentin, Thérèse de Lisieux, mythe et réalité, Paris 1972, pp 122-123). (theo G. Gennari, khuôn mẫu linh đạo của thánh nữ, nói đúng hơn, không phải là trẻ em, nhưng là Con trẻ Giêsu sống nhờ Thần Khí và phó thác nơi Chúa Cha, x. Teresa di Lisieux, La verità è pìu bella, Milano 1974).
* Cũng cần phân biệt việc nên như trẻ nhỏ hoặc con đường thơ ấu thiêng liêng với cách sống ấu trĩ về phương diện thiêng liêng (infantilisme spirituel). Người đã lớn mà còn có những cách suy nghĩ, phán đoán, nói năng, hành động như trẻ con, người ta gọi đó là người ấu trĩ. Người kitô hữu đã lớn mà có những suy nghĩ, phán đoán, nói năng, hành động như một người chưa thấm nhuần giáo lý, cũng được coi là ấu trĩ về đường thiêng liêng.
Ngày xưa, các Tông Ðồ đã từng cảnh giác các tín hữu về tình trạng này, khuyên họ vượt qua nó, để tiến tới sự trưởng thành trong nhân cách của người kitô hữu. Các ngài dùng hình ảnh “sữa” để phân biệt trẻ con và người lớn (x.1Pr 2,2; 1Cr 3,2). Trẻ con uống sữa, nhưng người lớn dùng của ăn đặc. Lớn mà còn tiếp tục uống sữa thì chưa phải là người trưởng thành, nhưng là trẻ con, là ấu trĩ.
Thế nào là ấu trĩ ? Dựa vào Tân Ước, chúng ta ghi nhận một vài dấu chỉ này :
Người không có khả năng đón nhận Phúc Âm trong toàn bộ nội dung và đòi hỏi của nó (1Cr 3,1tt); người đi tìm sự khôn ngoan của nhân loại hơn là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, mà sự khôn ngoan này lại là sự điên rồ trước mắt thế gian (1C1,21tt), đó là người ấu trĩ.
Người có những phán đoán lệch lạc, non nớt, biện biệt không chín chắn, lạm dụng lời Chúa (1Cr 14,20), đó là người ấu trĩ. (Khi khuyên người Corintô đừng phán đoán như trẻ con, hình như Phaolô muốn phản ứng chống lại một lối giải thích nhằm lạm dụng lời Chúa dạy là trở nên như trẻ nhỏ).
Về phương diện tuổi tác, chúng ta không còn là trẻ em. Về phương diện thiêng liêng, chúng ta cũng không được phép ở lì trong tình trạng ấu trĩ. Phải ngày càng làm phát triển tới chỗ hoàn hảo những mầm mống của sự sống mới, nhận được từ Phép Rửa. Ðảm nhận những trách nhiệm thuộc đức tin và ân sủng, để thực sự làm cho nhân cách người kitô hữu chúng ta được trưởng thành (Gl 11,1tt; 1Cr 13,11).
Chúng ta đã nghe lời Chúa kêu gọi hoán cải, và biết phải hoán cải ra sao. Giờ đây, chúng ta thử xem gương của một người đã hoán cải như thế nào. Người đó, gương đó được ghi lại trong Phúc Âm Luca.
3. “Có một người tên là Dakêu”(Lc 19,1)
* Lúc ấy, Ðức Giêsu tới cửa thánh Giêricô và đã chữa lành một ngưòi mù. Tin này chắc chắn phải loan truyền nhanh chóng. Và một trong những người đầu tiên biết tin này hẳn là Dakêu.
Tác giả Luca ít có thói quen mô tả chi tiết về một nhân vật. Tuy vậy hôm nay ông xác định rõ tên của đương sự : Dakêu. Danh xưng này có nghĩa gần như “một người trong sạch”. Phải chăng là Luca muốn đùa ? Một quan chức thuế vụ lại có thể trong sạch được sao ? Trước mắt người Do Thái nói chung, người Giêricô nói riêng, đó là một con người làm tay sai cho ngoại bang, làm giầu bất chính, tội nhân công khai, một người bị khai trừ khỏi cộng đồng.
Con người này, dân chúng thì khinh bỉ, xa tránh, nhưng Ðức Giêsu lại muốn đến gần. Sứ mệnh của Ngài là đến tìm cứu những người hư mất. Chính Ngài đi bước trước trong tiến trình hoán cải của Dakêu. Ngài thường lợi dụng dịp xin ai hoặc nhận từ ai điều gì để ban phát ân sủng. Bên bờ giếng Giacóp, Ngài đã xin người phụ nữ Samari cho mình nước uống, để hứa ban nước hằng sống nơi Ngài (Ga 4,1tt). Trong nhà một người Biệt phái, Ngài đã để cho một người phụ nữ điếm đàng xức thuốc thơm, sau đó cho mọi người thấy lòng đại độ tha thứ của Ngài như thế nào (Lc 7,36tt). Là một Thiên Chúa ban ơn, nhưng Ðức Giêsu lại có cách giao tiếp của con người, xử sự như giữa người ta với nhau.
Hôm nay, với Dakêu, Chúa cũng xử sự như vậy. Ngài khởi đầu bằng một lời gọi rất thân mật: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Một lời khiến cho những người chung quanh phải sửng sốt và xầm xì bàn tán. Không chỉ người Biệt phái thôi đâu nha! Cả dân chúng nữa. Ăn uống với người tội lỗi đã là chuyện không nên không phải, huống hồ còn lưu lại tại nhà của người này. Bộ trêu tức người đạo đức sao chớ ! Nhưng chính đây lại là lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa.
* Ðáp lại hành động này, Dakêu đã làm gì ? Ông dõng dạc tuyên bố những lời nói lên sự hoán cải của ông. Cũng chẳng ai bắt, chẳng ai ép. Hoàn toàn tự do tự nguyện. Thực ra, sự hoán cải này có lẽ đã manh nha ngay từ lúc ông nghe biết về Chúa và muốn gặp Ngài. Nó chưa thể hiện bằng lời lẽ công khai, nhưng bằng hành vi công khai. Hành vi là trèo lên cây cao bên vệ đường nơi Chúa sẽ đi qua. Phúc Âm cho biết vì ông thấp người mà làm thế. Nhưng đường đường là một quan chức thuế vụ, chức tước đâu phải nhỏ, dám chắc ông không dám táo bạo trèo lên cây, nếu trong lòng ông đã không có một tâm tình hoán cải nào đó. Trèo cây xem sự việc là chuyện của con nít, không phải của người lớn, càng không phải của người có chút ít địa vị. Chúng ta biết ở xã hội do thái thời Chúa, danh giá rất quan trọng. Tiền tài cũng quan trọng, nhưng chỉ thuộc loại hai. Số một là danh giá. Ngay cả cho tới ngày nay, nó vẫn còn quan trọng hơn bất cứ yếu tố nào khác. Người ta thà chết chứ không chịu để mất nó. Dakêu, dù bị nhiều người không thích đi nữa, vẫn là người có một địa vị nào đó trong thành phố, có danh giá ở mức độ nào đó. Trèo lên cây xem Chúa đi qua, tức là ông coi trọng Chúa hơn danh giá của mình. Dakêu đã muốn “nên như trẻ nhỏ” ngay từ bước đầu, dù có thể ông chưa nghe biết giáo huấn này của Chúa.
Sự hoán cải của Dakêu biểu lộ công khai hơn lúc Chúa đến nhà ông. Ông nói :”Ðây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Ðó là phản ứng của một con người quyết tâm đổi đời, đổi hướng đi. Trước, ông muốn vơ vét nhiều của. Nay, ông muốn tung ra. Trước, ông có gian lận làm thiệt hại người khác. Nay, ông muốn đền quá mức luật đòi hỏi (Luật do thái chỉ buộc đền gấp bốn tội trộm chiên, x. Xh 21,37. Luật Rôma thì tội trộm nào có chứng cớ. Riêng Dakêu tự buộc mình đền gấp bốn cho tất cả những thiệt hại do ông gây ra, chứng tỏ đang có biến chuyển mạnh mẽ trong con người của ông).
Lời tuyên bố của Dakêu còn hàm ý cho người khác hiểu rằng : Thấy chưa, Chúa đã chọn đúng nhà, và người mà Chúa giao tiếp không xấu như các ông các bà tưỏng đâu!
Tóm lại, lời ấy vừa cho thấy sự hoán cải công khai của Dakêu muốn tìm lại con đường bác ái và công bằng, vừa muốn nói với mọi người rằng cái nhìn mời gọi của Ðức Giêsu đã tác động trên một con người như thế nào.
Lời tuyên bố của Dakêu hẳn cũng nhắc cho ta lời của một người Biệt Phái lên đền thờ cầu nguyện, được Luca ghi lại trong một dụ ngôn trước đó. Người Biệt Phái này thưa với Thiên Chúa: “Con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”(Lc 18,12). Tuy nhiên, giữa hai lời đó, một của người khoe khoang làm tròn nhiệm vụ, một của người quảng đại vì được ơn Chúa tác động, có sự khác nhau xa. Nơi Dakêu là một sự hy sinh từ bỏ to lớn. Người đã cảm nhận được ơn thương xót, tha thứ, cứu độ, đâu có tiếc xót vì một sự hy sinh như thế. Ðây chính là bài học lớn cho ta.
4. “Xin đưa chúng con về với Ngài, lạy Ðức Chúa” (Ac 5,21)
* Bây giờ hãy trở về với đời sống của ta. Cũng như hoán cải bao trùm tất cả giáo huấn của Chúa, nó cũng phải bao trùm tất cả cuộc đời của ta, của bất cứ người kitô hữu nào.
Có những giai đoạn được ghi dấu bằng sự hoán cải rõ rệt. Từ ngoài đạo vào trong đạo, đó là hoán cải. Từ cuộc sống tội lỗi đến cuộc sống phù hợp hơn với những đòi hỏi của Tin Mừng, đó là hoán cải. Bỏ thế gian đi tu, theo một số tác giả tu đức xưa, cũng là hoán cải. Trong đời sống tu trì, dấn thân vĩnh viễn khi xong thời kỳ huấn luyện, được gọi là hoán cải. Lại có những thời gian khác, hoặc để làm một công việc tích cực nào, cần có hoán cải khởi đầu. Chẳng hạn đối với người tĩnh tâm, ngay từ đầu phải tra xét và từ bỏ những gì cản trở ta đến với Chúa. Cũng như người thợ săn phải dẹp cành lá để đi đến con mồi.
Tuy nhiên, không chỉ có những lúc đó. Hoán cải là việc không bao giờ chấm dứt. Nó không phải là thứ phòng đợi phải dừng lại, và khi đã vào nhà trong rồi thì thôi. Dĩ nhiên, có những lúc ta không để ý nhiều đến nó. Những lúc này tương tự như những lúc nghỉ trong một cuộc chạy. Cần những lúc nghỉ để khỏi hụt hơi, để có thể tiếp tục chạy. Vậy những lúc đó cũng là thành phần của hoán cải.
Sở dĩ hoán cải là thái độ phải có trong suốt cả đời ngưòi, vì ta không thể hiểu và sống sứ điệp Phúc Âm nếu không có một sự thay đổi tư tưỏng và hành động. Không thể chấp nhận Phúc Âm nếu không có sự hoán cải hoàn toàn và bền bỉ. Cứ xem các môn đệ Chúa mà coi. Cả sau khi Chúa sống lại rồi mà các ông vẫn chưa hoàn toàn hoán cải. Bằng chứng là tới lúc đó, lúc Chúa sắp về trời, các ông vẫn còn hỏi Chúa đây có phải là lúc tái lập vương quốc Israel chăng (Cv 1,6) Ðâu có khác với não trạng trước Phục sinh! Sự biến đổi sâu xa con người tôn giáo của các ông chưa kết thúc. Nơi chúng ta cũng thế thôi. Chỉ có thể tiếp tục là con cái Chúa, hoặc trở thành con cái Chúa hơn, với điều kiện không ngừng giũ bỏ những gì làm ta lạc đường, để hướng về Ðức Kitô.
(Con đường đến với Chúa tương tự như chuyến hải hành từ cảng này sang cảng nọ. Có đá ngầm. Có những bất trắc của thời tiết. Phải lèo lái, tránh né. Có khi tầu táp vào những chỗ không muốn. Không hoán cải, khó mà đến nơi. Ðôi khi người ta còn đối chiếu sự hoàn thiện với việc xây một ngôi nhà nhiều tầng. Nhà xây tầng nào là xong tầng ấy, dù chưa hoàn bị vẫn là một thành quả. Nhưng việc hoán cải không chỉ dành cho những tầng tiếp theo, mà vẫn phải bao trùm tất cả những gì ta có, những gì ta là. Cách so sánh với ngôi nhà bẩy tầng là của Têrêxa Giêsu. Tuy vậy thánh nữ vẫn cho thấy chính giá trị hoán cải cho phép ta đi vào từng tầng một. Còn thánh Bonaventura lại chia hành trình nâng tâm hồn lên với Thiên Chúa thành bẩy cấp, cấp cuối cùng lại là Thập giá. Cứ tưởng là đạt tới chín tầng mây, ai ngờ thánh nhân lại lôi ta trở lại, bắt ta nhìn vào Thập giá.
* Hoán cải là một nỗ lực không ngừng của ta, nhưng lại là ơn Chúa ban. Có thể nói chính Chúa đã “hoán cải” bước đầu khi Ngài có sáng kiến đi tìm con người tội lỗi. Trở lại với câu truyện Dakêu. Ðã đành ông cũng có công. Ông đã muốn xem thấy Chúa và trèo lên cây cao. Nhất là ông đã thành tâm trở lại. Nhưng nếu Ðức Giêsu không nhìn và gọi ông, nếu Ngài không thương lưu lại tại nhà ông, thì đã không có câu truyện này. Tất cả đều do Chúa, do sáng kiến của Ngài, do tình thương của Ngài. Người ta không thể tự mình hoán cải hoàn toàn. Vậy hoán cải là một ơn, nhưng đồng thời vẫn là một đòi hỏi có tính cách bắt buộc nơi ta. Nó vừa là ân huệ của Thiên Chúa vừa là việc làm của con người. Hoán cải đòi cùng một lúc phải có hai yếu tố trên đây.
Ðã là ơn Chúa thì phải xin. Trong những ngày tĩnh tâm chẳng hạn, ta có nhiều thời giờ dành cho việc cầu nguyện, thì tiên vàn hãy cầu xin ơn Chúa giúp mình hoán cải, vì đây là bước khởi đầu để có thể làm tốt những việc khác. Chúng ta hãy lặp lại lời của tác giả sách Ai ca: “Xin đưa chúng con về với Ngài, lạy Ðức Chúa”. Tập thể nói lên lời trên đây với Thiên Chúa không chỉ xin, má còn “hứa sẽ trở lại” tức là muốn đáp lại hành vi của Chúa. Chúng ta cũng vậy, một khi được Chúa kêu gọi và ban ơn hoán cải, ta cũng sẵn sàng đổi hướng, trở lại với Chúa, sống cuộc đời của những người sống lại trong Ðức Kitô. *
Trong Năm Phụng vụ, thời kỳ sám hối khá dài, chiếm cả hai Mùa Vọng và Chay, chưa kể dịp này dịp khác. Hằng tuần, ngày thứ sáu cũng mang ý nghĩa là ngày sám hối. Kinh nguyện kitô giáo, nhất là kinh nguyện Phụng vụ, thường hay trở lại đề tài hoán cải. Ðầu Thánh lễ mỗi ngày, Giáo Hội mời gọi ta sám hối. Cuối mỗi ngày, đầu Giờ Kinh Tối, chúng ta cũng được kêu gọi sám hối. Ðó là những tiếng chuông theo nhịp thời gian nhắc nhở cho ta hành vi quan trọng này. Hy vọng những tiếng chuông đó không gióng lên vô ích, để hoán cải và sám hối phải trở thành những việc làm thường xuyên trong suốt cuộc đời ta.
Hoán cải là hướng về Ðức Kitô. Diễn tả việc hoán cải không ngừng này chính là đi theo Ngài. Theo Ðức Kitô hay không là một quyết định xác định tận căn cuộc đời và vận mệnh của ta, của từng người hoặc của cộng đồng. Phải luôn đặt lại vấn đề về quyết định này, ít ra ở những khúc quanh quan trọng của cuộc đời, hay những lúc kiểm điểm đời sống, cụ thể là mỗi dịp tĩnh tâm chẳng hạn.
Tuy nhiên, quyết định theo Chúa, dù cơ bản, vẫn chỉ là khởi điểm, và chỉ có trong ý muốn. Quan trọng là phải thể hiện nó trong đời sống, không phải đôi ba ngày rồi thôi, nhưng là hằng ngày và cho đến hết đời. Thể hiện bằng cách đáp ứng những điều kiện và đòi hỏi của việc theo này. Chúng ta tự mình đặt ra những điều kiện và đòi hỏi đó chăng ? Ðâu có! Chúa đã nói rồi, rải rác trong các giáo huấn được các tác giả Sách Thánh ghi lại, và ngày nay đang được tái khám phá.
Bài này có mục đích khiêm tốn là gợi ra ít nhiều suy nghĩ về việc theo Chúa, và những đòi hỏi đi kèm.
1. “Ai muốn theo tôi”(Mc 8,34)
Theo Chúa : một hành động hay được Phúc Âm nói tới. Có người theo vì được Chúa kêu gọi đặc biệt. Có người theo vì cảm mến, như người mù ăn xin ở Giêricô được Chúa cho sáng mắt (Lc 18,35-43). Cũng có nhiều đám đông theo Chúa, vì nhận ra Ngài là một tôn sư chưa từng thấy. Tân Ước còn gọi các kitô hữu là môn đệ, tức là những người theo Chúa. Như vậy, có nhiều cách theo, với những động cơ và mức độ khác nhau. Thế nên phải hiểu chính xác ý nghĩa của việc theo Chúa như thế nào, để áp dụng cho chúng ta ngày hôm nay.
* Trước hết, có thể nhận ra ý nghĩa nguyên thuỷ của việc theo Chúa trong các trình thuật cề việc Chúa gọi các môn đệ. Lấy thí dụ trình thuật trong Mc 1,16-20. Trên bờ hồ Giênêsarét, Chúa gọi Simon và Anrê: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. “Theo” tiên vàn có nghĩa là đi sau ai. Theo Chúa là đi sau Chúa, theo bước chân Ngài, luôn ở với Ngài (Mc 3,14), cộng tác với Ngài, làm chứng về những điều Ngài đã làm. Vì Simon và Anrê, cũng như Giacôbê và Gioan, là những ngư phủ chuyên nghiệp, Chúa sẽ biến họ thành những ngư phủ chuyên nghiệp kiểu khác. Trước đây là ngư phủ lưới cá, từ nay là ngư phủ lưới người.
Tác giả Máccô có dụng ý khi đặt trình thuật ngay đầu sách Phúc Âm của mình. Có cả một thần học về cách theo Chúa. Khởi đầu là sáng kiến của Chúa. Ngài nhìn và gọi họ. Gọi họ đi sau Ngài. Ðấy là nội dung của lời mời gọi. Ðể làm gì? Ðể thành những kẻ lưới người. Ðáp lại sáng kiến này của Chúa là thái độ rất gương mẫu của những người được gọi. Họ từ bỏ gia đình, nghề nghiệp và theo Chúa, đi vào hiệp thông với Ngài. Một việc tiêu cực (bỏ) và một việc tích cực (theo). Cả hai việc xẩy ra tức khắc : bỏ ngay và cũng theo ngay. Ðiều này nói lên một thái độ quảng đại và dứt khoát nơi cả 4 môn đệ đầu tiên.
Chúa cần những con người có thái độ như thế, vì Ngài đang làm một công việc quan trọng là quy tụ mọi người, để khi nghe sứ điệp của Ngài, người ta có thể đi vào Nước Trời và được cứu. Tất cả đều phải nghe sứ điệp này, tin vào Ðức Kitô, hết lòng hướng về Chúa. Nhưng chỉ có một nình Chúa thì làm sao có thể thực hiện công trình lớn lao như thế, cho dù Ngái có giảng dạy ở nhiều nơi : bên bờ hồ, tại tư gia, trong hội đường, trên núi, ngay cả trong các cuộc tranh luận với nhóm Biệt phái và Luật sĩ. Cần có những con người đi theo để tiếp tay. Có thể thấy rõ điều này trong việc Chúa sai các môn đệ đi thực tập truyền giáo (Mc 6,7-17).
Dĩ nhiên, trong đám đông, cũng có những người tin, những người theo, những người đáp ứng. Nhưng cách theo chung chung của họ khác xa với cách theo của những người được kêu gọi đặc biệt để trở nên môn đệ. Những người này, khi theo Chúa, còn phải chấp nhận những đòi hỏi gắt gao của Chúa dành cho họ. Phải từ bỏ hết : gia đình, của cải, tham vọng, danh giá, quyền lực.
Vậy trước lời Thiên Chúa mời gọi, trước giờ cứu độ đã điểm, mọi người đều phải đáp ứng. Nhưng chỉ có các môn đệ được Ðức Giêsu kêu gọi riêng mới đi theo Chúa cách đặc biệt. Và chính hành động này làm nên ý nghĩa nguyên thuỷ của việc đi theo Chúa.
* Ý nghĩa nguyên thuỷ này, cùng với lời mời gọi của Ðức Kitô, sớm được Giáo Hội sơ khai nới rộng tới mọi tín hữu. Giáo Hội nghĩ rằng Chúa Giêsu, dù đã vinh hiển, vẫn tiếp tục gắn bó với các người thuộc về mình. Không chỉ với các môn đệ đầu tiên, nhưng là với mọi người tin vào Ngài mà trở thành môn đệ của Ngài.
Quả thực, các tín hữu được gọi là môn đệ (x.Cv 6,21), tức cũng là những người theo Chúa. Thế nên, điều ngay từ đầu chỉ dành cho một số người thân tín và trung thành nhất, cho bầy chiên nhỏ (Lc 12,32), thì giờ đây được áp dụng cho các tín hữu mới.
Ðối với tác giả Gioan, theo Chúa là những ai tin Chúa. Gioan liên kết ý tưởng theo Chúa với lời Chúa mời gọi người ta tin (Ga 8,12; 12,35tt). “Theo” không còn là “đi sau” Chúa như nghĩa gốc, nhưng với nghĩa bóng là gắn bó với Chúa bằng tinh thần, tức là tin. Nói đúng ra, người tín hữu vẫn còn đi sau Chúa trên con đường mà Ngài đã đi qua, nhưng họ sẽ lên sau Chúa và cùng với Ngài. “Lên” là một khía cạnh mới. Lên tới đâu ? Tới trời, vì Ngài là ánh sáng từ trời soi chiếu thế gian (Ga 8,12); vì Ngài được đưa lên cao, giờ đây lôi kéo người ta lên với Ngài (Ga 12,32).
Thánh Phaolô thì không dùng từ “theo”. Nhưng đối với vị Tông Ðồ này, tất cả đời sống kitô giáo là một đời sống với Chúa Kitô. Ðó chính là theo Chúa. Theo, và phải gắn bó mật thiết nữa. Chỉ có thể theo trong sự hiệp thông với Ðức Kitô, hiệp thông trong tình huống cụ thể của ngày hôm nay. Thế mà trong tình huống này, quyền lực sự dữ luôn ra oai tác quái, và chúng ta còn là những người lữ hành đang chiến đấu vất vả. Cho nên phải cùng với Chúa thực hiện lại lộ trình của Chúa, là qua Thập giá để tới Phục sinh, qua đau khổ tới vinh quang.
Cũng Giáo Hội sơ khai còn gán thêm yếu tố “bắt chước” vào ý tưởng theo Chúa. Người môn đệ phải phục vụ theo gương Chúa (Mc 10,34tt), phải rửa chân cho các anh chị em theo gương Chúa (Ga 13,14). Phải bắt chước Phaolô như Phaolô đã bắt chước Chúa Kitô (1Cr 11,1). Ðặc biệt, sự đau khổ và sự chết của Chúa có một ý nghĩa gương mẫu mà người môn đệ phải bắt chước. Tuy nhiên, như đã nói ở bài trước, bắt chước không phải là sao chép thuần tuý. Việc Chúa rửa chân cho các môn đệ chẳng hạn chỉ là để nêu gương, không nhất thiết phải làm lại y như vậy.
* Những ý nghĩa trên đây có thể giúp chúng ta hiểu thế nào là theo Chúa ngày hôm nay. Tôi gợi một vài ý :
Chúng ta chỉ có thể theo Chúa trong sự hiệp thông với Ðức Kitô, kết hợp mật thiết với Ngài nhờ ân sủng. Theo Chúa là một đòi hỏi phát xuất từ chính thực tại của ta là “ở trong Ðức Kitô”. Ðây cũng là ý nghĩa của đoạn văn nổi tiếng trong thư Philipphê. Sau khi khuyên các tín hữu hiệp nhất với nhau trong sự khiêm nhường và quên mình, Phaolô xen vào bài ngợi ca Ðức Kitô đã hạ mình, để rồi được Thiên Chúa siêu tôn (Pl 2,1-11). Ở đây, Phaolô không tiên vàn cho thấy Chúa như một mẫu gương để bắt chước, mà còn , và nhất là còn, như một người đi trước, một hướng dẫn viên trên con đường do Thiên Chúa chỉ định. Con đường này cũng chính là con đường ta phải đi, vì ta kết hợp với Ðức Kitô. Cũng như Ðức Kitô, khi vâng phục Chúa Cha, đã đi vào con đường của mình với tư cách một người tôi tớ, thì chúng ta đi trên đường này cũng phải là những tôi tớ phục vụ vô vị lợi.
Thế cho nên người ta hay nói Sequela Christi (Theo Ðức Kitô), chứ ít khi nói Sequela Jesu (Theo Ðức Giêsu). Giêsu chỉ là tên nhân loại, mặc dù có nghĩa là Thiên Chúa cứu, nhưng là tên chung có thể đặt cho bất cứ ai. Còn Kitô mới là tước hiệu cứu thế đích danh, tước hiệu dành riêng cho một vài hạng người, đặc biệt cho Ðức Giêsu. Theo Ðức Kitô là đi vào con đường cứu thế, con đường phục vụ.
Ðể làm được điều trên đây, cần suy nghĩ và củng cố sự kết hợp của ta với Chúa. Nói cho cùng, cần củng cố đức tin, vì chúng ta “nhờ lòng tin mà được Ðức Kitô ngự trong tâm hồn” (Ep 3,17). Sự kết hợp của ta với Ðức Kitô bén rễ trong đức tin của ta.
Theo Ðức Kitô hôm nay cũng là theo con đường riêng mà mỗi người được Thiên Chúa kêu gọi vào. Có thể là con đường đi giữa trần gian, với những nhiệm vụ thuộc gia đình, xã hội, Giáo Hội. phải đảm nhận, với những liên đới cụ thể hằng ngày với bao nhiêu thứ người. Có thể là con đường ngăn cách hơn với thế giới bên ngoài, tận hiến đời mình hơn cho Thiên Chúa và cho ơn cứu độ của con người.
Hơn nữa, dù theo bất cứ con đường nào, chúng ta còn có một vận mệnh riêng mà Thiên Chúa chỉ định cho mỗi người. Từng người chúng ta cảm nghiệm vận mệnh của mình như một cái gì có tính cách cá nhân, liên hệ tới riêng ta, và phải đi tới cùng. Trong đức tin, chúng ta đảm nhận nó bằng cách theo Ðức Kitô, Ðấng ở trần gian đã đi qua con đường khổ ải, nhưng luôn nhắm tới đích, và thật sự đã đạt tới đích. Như vậy, việc theo Ðức Kitô trở thành một ý tưởng thấm nhiễm tất cả cuộc đời của ta, giúp ta chiến thắng mọi trở ngại, để cũng sẽ đạt tới đích.
Khi đi sau Chúa, việc quan trọng nhất không phải là bắt chước cách sống và hành động của Chúa. Chúng hoàn toàn là riêng của Ngài. Chúng đã thuộc về một thời điểm của lịch sử. Ði sau Chúa là để Ngài định hướng cho ta. Có thể thấy một định hướng tổng quát trong lời Chúa nói: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12). Ði theo ánh sáng của Chúa là có sự sống, có hạnh phúc, có sự phù hộ của Thiên Chúa, có niềm vui, có sự công chính thánh thiện, có sự khôn ngoan hiểu biết. Ðó là những đặc tính của sự sáng. Ðức Kitô có những đặc tính đó, và là nguyên nhân của những đặc tính đó cho những ai tin, tức là những kẻ theo Ngài.
Sự định hướng cơ bản của ta hướng về Ðức Kitô còn quan trọng hơn là những cách biểu hiện bên ngoài và cách sống cụ thể. Tuy vậy, trong vấn đề này, Ðức Kitô cũng dạy chúng ta những cách đáp ứng cụ thể, có tính cách quyết định, nhất là lời Ngài dạy ta phải “yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương ta” (Ga 13,34).
2. “Phải từ bỏ chính mình, vác thập giá của mình” (Mc 8,34)
Người theo Chúa phải chấp nhận những đòi hỏi của Chúa. Ðây là những điều kiện cần thiết để có thể chu toàn trách nhiệm của một môn đệ.
* Trước hết, phải từ bỏ chính mình. Hành vi này bao hàm nhiều khía cạnh. Có thể kể :
– Từ bỏ những liên hệ thân thiết nhất, là liên hệ gia đình. Chúa nói :”Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26). Ðộng từ “dứt bỏ” ở đây dịch cho sát phải là “ghét”. Nghe phũ phàng qúa! Một điều kiện quá đáng chăng ? Hẳn cũng có môn đồ nào đó lẩm bẩm, như đã lẩm bẩm khi nghe Chúa giảng về Bánh ban sự sống: “Lời này chướng tai quá. Ai mà nghe nổi ?” (Ga 6,60). Thực ra, như đã thấy trong Cựu Ước (St 29,31.60), động từ “ghét” không có nghĩa như ta quen hiểu, mà chỉ là yêu ít hơn. Tác giả Matthêu đã hiểu như thế, nên đã ghi lại lời Chúa như sau :”Ai yêu cha mẹ. con trai hay con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37). Vậy phải yêu Thiên Chúa hơn những người thân thuộc. Phải đặt những đòi hỏi của Chúa trên những mối liên hệ gia đình. Người đã đáp lời Thiên Chúa mời gọi không được coi những mối liên hệ này ưu tiên hơn lời mời gọi.
Bình thường thì chúng ta (cho dù là người đi tu đã rời xa gia đình đi nữa) vẫn có mối liên hệ mật thiết với những người ruột thịt, vẫn có ít nhiều bổn phận đối với họ, nhất là bậc sinh thành, như điều răn thứ IV dạy. Nhưng nếu có sự đối kháng giữa quyền lợi của Thiên Chúa và quyền lợi của gia dình, quyền lợi sau phải nhường bước. Nếu liên hệ gia đình cản trở vai trò làm môn đệ của ta, chẳng hạn gia đình ngăn cản tôi đi tu thì sao ? Phải theo tiếng gọi của Chúa hơn. Phanxicô Assisi đã làm như thế đó, đã cắt đứt liên hệ, thậm chí bằng cách trút hết áo quần để lại nhà. (Hay như truyện ông Alêxù, trước đây rất phổ biến, qua truyện thơ do tu sĩ Hoàng Diệu soạn. Alêxu bị cha mẹ ép lấy vợ, nhưng anh lại muốn dâng mình cho Chúa nên phải trốn khỏi nhà. Một thời gian rất lâu sau, Alêxù trở về mái nhà xưa. Chẳng còn ai nhận ra nữa, bèn xin làm người gác dan “Ở lặng chân thang, Mười bẩy năm tràng, Trăm đàng khổ sở, Trông thấy mặt vợ, Những thẹn cùng e. “).
Theo một kiểu nói của Cựu Ước, Chúa là Thiên Chúa cả ghen. Ngài không chấp nhận ta yêu bất cứ ai hay bất cứ sự gì hơn Ngài.
– Từ bỏ của cải. Theo Lc 14,33 Chúa nói lên điều kiện này khi đưa ra hai dụ ngôn : một dụ ngôn về người xây nhà, một dụ ngôn về ông vua đi đánh giặc. Người muốn xây nhà phải có tiền. Ông vua muốn thắng kẻ địch phải có bộ máy quân sự hùng mạnh. Từ đó, kết luận tưởng sẽ là : người muốn đi theo Chúa cũng phải có cái này cái nọ. Sai bét ! Hoàn toàn ngược lại. Trong cuộc sống bình thường của người đời, “có” là điều chủ yếu. Trong cuộc sống của người môn đệ, “không có” là điều chủ yếu. Phải từ bỏ cái có, vì họ có Ðức Kitô là tất cả. Ngài phải là tất cả cho họ.
Tuy vậy, chúng ta cũng biết : Chúa không đòi hỏi việc từ bỏ của cải như một luật chung đâu. Các môn đệ Chúa cũng không hiểu nó như một điều buộc mọi người phải làm như nhau đâu. Cứ xem các ngưòi của gia đình Bêtania thì biết : Họ đâu có nghèo, đâu có bỏ nhà cửa. Hay Giuse Arimathia, một môn đệ âm thầm, sau đã mua mộ táng xác Chúa : không có tiền là gì ? Hoặc gia đình của chính Simon Phêrô ở Capharnaum : nếu không có của, làm sao trở thành một trung tâm hoạt động truyền giáo của Chúa được ? Thật ra, lời Chúa mời gọi từ bỏ của cải chỉ có giá trị cho những con người cụ thể nào đó, và luôn liên hệ với tình huống cụ thể của người đó. Chẳng hạn Chúa đã đòi hỏi như thế với chàng thanh niên giầu có đến xin làm môn đệ (Mc 10,21). Chúng ta hẳn nhớ kết cục câu truyện ra sao.
Dầu sao, theo Chúa là đi vào con đường hẹp. Người ta không thể đi vào đó với quá nhiều hành trang cồng kềnh, vướng víu. (Phải biết bỏ bớt thì mới dần dần thành hoàn thiện. Giống như một người tạc tượng. Không phải là thêm vào, nhưng là đục bỏ chỗ này chỗ nọ của khối đá hay khúc gỗ. Cuối cùng mới được một pho tượng. Cho nên, nhà điêu khắc vĩ đại Michelangelo, tác giả bức tượng trứ danh Pietà, mới nói: “Tôi chỉ bỏ đi những gì che giấu bức tượng đẹp”. Có điều, nhà điêu khắc hơn chúng ta ở chỗ biết bỏ đi cái gì. Còn chúng ta, người không biết tạc tượng, cái đáng bỏ lại không bỏ, cái không đựoc bỏ lại đẽo đi. Cuối cùng chỉ còn là bức tượng méo xẹo, chẳng giống con giáp nào). Theo Chúa là chấp nhận một cuộc sống mới, một cuộc sống không được bảo đảm bằng của cải trần gian. Như chính Chúa, mà cả một nơi tựa đầu thường xuyên cũng không có (Lc 9,58).
– Từ bỏ chính mình. Từ bỏ những điều kiện của con người thuần tuý tự nhiên, với những mộng mơ, bản năng kiêu sa, ham sống, thích địa vị. Ngay cả những gì không xấu đi nữa, nếu cần, cũng phải từ bỏ. Phaolô là con người nhiệt thành với Lề luật, thông minh, đa tài. Chẳng tốt đó ư ? Vậy mà ngài đã nói: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Ðức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi còn coi mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Ðức Giêsu Kitô, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Ðức Kitô, và được kết hợp với Người” (Pl 3,7tt). Ðúng vậy. Ðể thuộc về Ðức Kitô, để là môn đệ Ngài, phải kể mọi sư khác của ta như đồ bỏ, như phân bón.
Có thoát ra ngoài cái kén, con sâu cam mới có thể là con bướm sặc sỡ. Có vượt qua điều kiện của con người thuần tuý tự nhiên, mới có thể có đời sống mới của một người đi theo Chúa. Khi ấy, cả hồn xác, mọi tâm tư, ý nghĩ, ước muốn, tình cảm. được hiến trọn cho Ðức Kitô. Khi ấy, dù ta vẫn sống trong thân xác, nhưng chính là Ðức Kitô sống trong ta (Gl 2,20). Khi ấy, Ngài là Thầy sẽ trở nên chủ mọi sinh hoạt của ta là môn đệ.
Nhân nói về sự từ bỏ, trộm nghĩ cần lưu ý điểm này : Phải phân biệt sự từ bỏ bên trong với những hình thức từ bỏ bên ngoài.
Từ bỏ bên trong có tính cách tuyệt đối. Một tâm hồn muốn theo Chúa không thể vấn vương quyến luyến bất cứ cái gì cản trở hay làm trì hoãn bước tiến của mình. Lại là dịp để nhớ tới câu nói bất hủ của thánh Gioan Thánh Giá: “Tâm hồn cũng như con chim sẻ, bị ràng buộc bởi dây thừng hay sợi chỉ, không quan trọng. Dây nào cũng thế thôi. Ðã bị buộc thì không thể có chuyện bay bổng lên cùng Thiên Chúa được”. Do đó, phải có ý muốn từ bỏ mọi sự. Theo Luca, khi kêu gọi các môn đệ, Ðức Giêsu luôn đòi họ từ bỏ mọi sự (Lc 11,28; 18,22. ). Chúng ta hôm nay phải có ý muốn như thế. Có nó là có tự do. Và nó sẽ chắp cánh cho ta bay cao. Không có nó thì không hy vọng gì theo Chúa đích thực và lâu dài.
Tuy nhiên, trong những hình thức thực hiện bên ngoài, nhất là trong việc sử dụng tiền bạc của cải, tính cách tuyệt đối không còn nữa. Ở đây, vấn đề chỉ là tương đối. Từ bỏ gì, giữ lại gì, sử dụng ra sao, với mức độ nào, là tuỳ sự khôn ngoan cân nhắc của mỗi người, nếu cần thì hỏi ý kiến, sao cho phù hợp với điều kiện của mình hoặc của cộng đồng.
* Vác thập giá của mình. Ði theo Chúa là đi vào con đường thập giá. Ðức Giêsu có thập giá của Ngài. Ta có thập giá của ta. Ðối với những môn đệ đầu tiên thì thập giá hẳn là cái chết vì đạo, như chính Thầy của họ đã tử đạo trên thập giá. Ðối với ta hôm nay, thập giá có vô số loại, thiên hình vạn trạng, và có hằng ngày. Vì vậy, theo Luca 9,23, Chúa dạy phải vác thập giá của mình hằng ngày.
Ai nấy đều có thập giá hết, bất kể ở địa vị nào, bất kể sống trong bậc nào. Người thế gian thường cho người đi tu là sướng (“Tu là cõi phúc tình là dây oan”). Tiếc rằng, nhận định của họ chỉ dựa vào một vài cách biểu hiện bên ngoài (hiền lành, đẹp đẽ, được kính nể, không phải vất vả.). Có biết đâu rằng thập giá cắm ở mọi chỗ, mọi người, như hình tượng thập giá vẫn được treo khắp nơi.
Vác thập giá là hy sinh. Có thể là một sự từ bỏ. Cò thể là một sự chấp nhận. Từ bỏ những đòi hỏi của con người cũ nơi ta. Từ bỏ những liên hệ về gia đình hay tiền của như đã nói ở trên, đó là vác thập giá. Vác thập giá còn là chấp nhận những gì làm nên khổ giá hằng ngày cho ta. Ðó là những khó khăn của cuộc đời, những lo toan vất vả, những công việc bổn phận buồn chán, những điều gây phiền hà bực bội. Thiếu gì ! Hơn nữa, không chỉ là cam chịu thập giá, mà, can đảm hơn, đưa tay ra đón nhận mà vác lấy (Nói vậy nhưng cũng còn tuỳ. Có những đau khổ không cần thiết, tránh được vẫn hơn).
Thành thật mà nói, đối với con người xác thịt của ta, vác thập giá, nhất là vác hằng ngày, e rằng khó. Thói thường, trước những khó khăn đau khổ xẩy ra trong đời, ta hay than van, tả oán, kêu khổ. Thậm chí có người còn nghĩ mình khổ hơn Chúa. Thập giá của mình còn nặng hơn thập giá của Chúa. Trời đất ! Chính Ðức Giêsu đâu có coi thập giá của mình là nhẹ. Thập giá luôn là một cực hình, cho cả thể xác lẫn tinh thần. Không có thập giá nếu không có phanh thây. Không có thập giá nếu không có tủi nhục. Trong xã hội Rôma, đó là hình phạt ghê gớm nhất dành cho những phần tử nổi loạn. Chúa đã run rẩy, mướt mồ hôi máu khi nghĩ đến nó. Cho dù Phục sinh có gắn liền với thập giá, thì thập giá không vì vậy mà nhẹ hơn. Sau khi Chúa sống lại, các vết thương còn hằn in trên tay chân và cạnh sườn Ngài (Ga 20,27). Trên trời, Chiên Con vẫn mang dáng dấp của một con chiên đã bị tế sát (Kh 5,6). Trước sau, thập giá vẫn là một sự điên rồ trước mắt thế gian.
Cái nặng nề của thập giá không phải ở chỗ Chúa vác nó trong một ngày một buổi. Nếu chỉ có thế thì, xin lỗi, chắc chúng ta vác cũng được. Nhưng đó là cái nặng nề trong tâm hồn Ngài. Với đau khổ này, không một đau khổ nào của chúng ta có thể sánh nổi. Ngay cả đau khổ của nhân loại xưa nay cộng lại cũng không sánh nổi. Thế mà Chúa đã chấp nhận vác nó, yên lặng vác nó như con chiên bị đem đến lò sát sinh (Is 53,7). Không kêu ca, không giải thích. Vác, vì vâng phục và yêu thương.
Chúa đã đi trước ta và mời gọi ta. Chúng ta sẽ có can đảm vác thập giá của mình, khi biết rằng – theo lời một thi sĩ Ba lan mà Ðức Gioan Phaolô có nhắc đến trong cuốn Entrez dans lespérance – “chúng ta không theo Chúa bằng cách vác thập giá của Ngài, nhưng chúng ta theo Chúa là Ðấng vác đỡ thập giá của ta” (Cyprian Norwid).
Có lần Chúa nói: “Cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống” (Mt 7,14). Theo Chúa là đi qua cửa này, đi vào đường này. Không phải là con đường nhung lụa. Không phải là con đường phủ hoa hồng. Hoa hồng chỉ có ở cuối một đoạn cành đầy gai góc. Ðó là con đường hẹp. Hẹp, nhưng không phải đường cùng, trái lại, nó dẫn tới sự sống. Sự sống đã có sau thập giá của Chúa, khi Ngài đi hết con đường của mình. Nó cũng thấp thoáng sau thập giá của ta. Ðó là điều làm ta hy vọng, cảm thấy phấn chấn khi theo Chúa. Chúng ta hiểu rằng những từ bỏ, hy sinh.., tuy một cách nào đó làm ta chết dần chết mòn, nhưng chết đó không phải là vô ích, không làm cho ta tiêu vong. Có chăng là làm tiêu vong con người chỉ biết sống cho mình ở nơi ta, để trở thành con người sống cho Chúa.
Ðối lại với con đường hẹp này là con đường thênh thang, con đường dẫn tới sự chết.
Sống và chết, đúng là “Thiên đàng hoả ngục hai bên”, như một bài trẻ con hay hát. Chúng hát tiếp rằng: “Ai khôn thì lại ai dại thì qua” (hoặc: “Thiên đàng hoả ngục hai quê, Ai khôn thì về ai dại thì sa”). Lời Chúa hoặc câu hát này có thể là dịp giúp chúng ta xác định lại sự lựa chọn của mình. Chúng ta muốn là người khôn đi vào con đường hẹp, là con đường theo Chúa để được sống, hay thích là người dại đi vào con đường rộng để phải chết ?
Khi nói về những con đường này, Chúa còn báo trước một điều khiến chúng ta không thể không suy nghĩ : Chỉ có ít người đi vào con đường hẹp thôi (x.Mt 7,14). Mong rằng chúng ta muốn và luôn thuộc vào số ít người đó.
Ðức tin là bước đầu để đến với Ðức Kitô và sống mầu nhiệm của Ngài. Ðó cũng là nguyên lý và trọng tâm của đời sống kitô giáo. Nó muốn nói lên rằng chúng ta đi theo chân lý và công nhận Ðức Giêsu là “Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), là Ðấng, bằng cả cuộc đời, sự chết và sự sống lại của mình, đã đem đến cho con người ơn tha tội, sự công chính hoá và Thần Khí. Ngài là Chúa và là Ðấng Trung Gian duy nhất. Nhân danh Ngài, con người có thể tìm thấy ơn cứu độ. Lời rao giảng của các Tông Ðồ và các sách Phúc Âm nhắm tới điểm đó, khơi giục, thanh tẩy và củng cố đức tin của ta vào Dức Kitô, Con Thiên Chúa, để khi tin thì có sự sống nhờ danh Ngài. Ðấy là mấy nét chủ yếu về đức tin cần được nhắc lại.
Vì phạm vi của đức tin quá rộng, cả về đối tượng nội dung (fides quae) lẫn về sự đáp ứng của ta (fides qua), trong một bài hạn chế, tôi chỉ khai triển một vài điểm của cả hai khía cạnh trên đây, để chúng ta cùng nhau suy niệm (Ngoài ra, còn khai triển hay nhấn mạnh thêm, rải rác trong các bài khác).
1. “Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16)
* Chúng ta quá rõ câu tuyên tín trên đây là của ai, trong bối cảnh nào. Bối cảnh là lúc Chúa và các môn đệ đang ở địa hạt Cêsarêa Philipphê, và đã đi hết nửa chặng đường truyền giáo. Còn câu tuyên tín là của Phêrô, tuyên xưng thay mặt các anh em, lúc được Chúa hỏi xem các ông nghĩ Ngài là ai.
Tuy nhiên, trước đó, để chuẩn bị cho lời tuyên tín này, và cũng để làm nổi bật lời tuyên tín này, Phúc Âm cho biết Chúa đã dò hỏi nơi các môn đệ xem dân chúng nghĩ thế nào về Ngài. Ðây là những cách đánh giá khác nhau của dân chúng : Ngài là Gioan Tẩy Giả : chính Herođê và các cận thần nghĩ như vậy, cho Ngài là Gioan Tẩy Giả tái sinh, do đó mới làm được nhiều phép lạ (Mt14,2); Ngài là Êlia: dựa vào lời ngôn sứ Malaki (3,1), người ta tưởng Ngài là sứ giả dọn đường cho Ðấng Cứu Thế. Sứ giả này chính là Êlia (Ml 3,23); Ngài là Giêrêmia: ngôn sứ này ngày xưa bị bách hại. Ðức Giêsu cũng không khá hơn. Vì vận mệnh giống nhau giữa hai người, nên có người đồng hoá Ngài với Giêrêmia.
Nói chung, dân chúng nghĩ Chúa là một ngôn sứ. Nhưng chính điều này chứng tỏ họ không biết Chúa như Ngài muốn. Quả thực, Ngài không phải là ngôn sứ theo nghĩa quen hiểu. Ngôn sứ thì bởi dưới đất, còn Ngài đến từ trên cao (Ga 3,31). Ngài là Ðấng mọi ngôn sứ làm chứng (Cv 3,18). Trí óc nhân loại có thể phát minh ra tia laser xuyên thủng mọi vật, nhưng không một trí óc nào có thể chọc thủng mầu nhiệm Ðức Giêsu, vừa là Con loài người vừa là Con Thiên Chúa. Ðây là một sự mới mẻ triệt để, cho thấy vì sao Chúa ở trên một cấp khác hẳn với những Gioan Tẩy Giả, những Êlia, những Giêrêmia. Chỉ người nào được Chúa Cha mạc khải mới nhận ra sự mới mẻ này mà thôi (Mt 16,17).
* Người đương thời đã nghĩ sai hay thiếu sót về Chúa. Hai ngàn năm sau cũng không thiếu những người nghĩ sai hay thiếu sót về Chúa, với những nhận định khác nhau còn hơn người xưa nhiều. Có người nói như các môn đệ thuở đầu thấy Chúa đi trên mặt nước, vào một đêm không trăng không sao: Ma đó (Mt 14,26). Nói theo ngôn ngữ thời đại thì Ðức Giêsu là một huyền thoại, do trí tưởng tượng của con người bày đặt. Có người coi Ngài cũng chỉ là một con người, nhưng là một nhân vật xuất chúng, một con người đạo đức, thánh thiện, đáng kính, có những lời giảng dạy làm khuôn vàng thước ngọc cho đời sống. Nhân tính được tôn dương. Thần tính bị lu mờ hoặc không được biết đến. Rốt cuộc, Chúa chỉ còn được coi như một vị thánh (thánh không theo nghĩa của ta, nhưng theo quan niệm của người đời), chứ không phải là Chúa nữa.
Từ một Ðức Giêsu được đánh giá như vậy, người ta rút ra những khía cạnh trong cuộc đời và giáo lý của Ngài để phục vụ cho lối sống, quan điểm chính trị, xã hội, luân lý. của mình.
Ðan cử một hiện tượng : Những người lớn tuổi hẳn còn nhớ phong trào Hippie phát sinh ở Mỹ vào cuối những năm 60, sau đó lan rộng hầu như trên khắp thế giới. Những người trẻ của thế hệ beat lao đầu vào ma tuý và tình dục, trông như ma lem, thấy mà phát sốt, bỗng dưng được lôi cuốn hướng về Ðức Giêsu, với những khẩu hiệu kêu gọi đón nhận Ðức Giêsu, và làm cuộc cách mạng tình dục (Phương châm dựa vào câu của thánh Augustinô nhưng được hiểu bậy hiểu bạ : Cứ làm tình đi và làm điều bạn muốn), với những bài hát và kịch tuồng ca ngợi Ðức Giêsu là thần tượng, là siêu minh tinh (Jesus Superstar), tô vẽ trên áo quần và thân thể những cánh hoa sặc sỡ, xen lẫn với chữ Giêsu và ảnh Thánh giá (nay, đeo Thánh giá cũng là một mốt thời thượng, đặc biệt ở các tài tử, ca sĩ, người mẫu thời trang).
Có thể nhận định một cách tổng quát thế này về cái gọi là “Cuộc cách mạng Giêsu”: Ðức Giêsu là một yếu tố phát động trong cuộc sống của nhiều người trẻ. Những người này coi Ngài như một lý tưởng sống, một thực tại sống động và giải phóng. Nhưng hình ảnh Ðức Giêsu mà họ đưa ra thực khác xa với những gì truyền thống trình bày. Tiếc thay! (Hết phong trào Hippie, đến thập niên 80, lại xuất hiện phong tràp Yuppie, với quần jean, tóc dài, xách kè kè máy tính bỏ túi ! Thập niên 90 lại có đợt sóng mới của phong trào trẻ Zippie, kết hợp lối sống không xem nặng hình thức của Hippie với sự đam mê công nghệ hiện đại của Yuppie)
* Thế còn chúng ta, nghĩ Ðức Giêsu là ai đây ? Nếu được Chúa hỏi, chúng ta cũng phải trả lời như Phêrô thôi: “Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Ðó là lời tuyên tín của ta. Tin, cơ bản là tin vào một con người. Con người này là Ðức Giêsu. Nhưng chúng ta phải rõ Ngài là ai, để đáng cho chúng ta tin, và tin cho chính xác. Khi viết sách Phúc Âm, tác giả Gioan cũng nhằm nói với chúng ta như thế: “Những điều được chép ra ở đây là để anh em tin rằng: Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa” (Ga 20,31).
Trước hết, Ðức Giêsu chính là Ðấng Kitô. Dựa vào một vài bản văn Cựu Ước (St 49,10 ; Ds 24,17 ; 2Sm 7; Tv 2,72. ), người Do thái cho rằng Ðấng Mêsia hay Kitô là ông vua được loan báo trong những bản văn đó. Quả thực, người Do thái hằng mong chờ Ðấng này đến khai mào thời kỳ cứu thế. Ðặc biệt khi bị Rôma đô hộ, họ mong Ngài đến giải thoát để lập một vương quốc Israel thống trị toàn thế giới. Không phải chỉ có dân chúng mà thôi. Tâm trạng này có cả ở nơi các môn đệ Chúa nữa, chẳng hạn qua lời của hai môn đệ Emmau: “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Ðấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24,21). Thậm chí lúc Chúa đã sống lại và sắp lên trời, nhiều môn đệ vẫn còn ý nghĩ đó, qua lời họ thưa với Chúa: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không?” (Cv 1,6).
Chúng ta hôm nay tin Ðức Giêsu là Ðấng Kitô Cứu Thế không phải với não trạng trần tục và chính trị như Israel. Ngài là Kitô, đem đến cho con người ơn cứu độ của Thiên Chúa, giải thoát ta khỏi ách thống trị của Satan, đưa ta vào vương quốc ánh sáng và sự sống, cho ta được làm con cái tự do của Thiên Chúa, sống theo Thần Khí. Ngài còn hơn là một ngôn sứ. Ngài vượt hẳn lên trên tất cả những gì người Do Thái có thể mường tượng về một Ðấng Kitô. Trước phiên toà xét xử Chúa, chính Chúa đã rõ ràng xác nhận tước hiệu và vai trò Kitô của mình (Mc 14,60tt). Nếu trả lời khác đi, người ta có thể tưởng là Ngài cũng đang chờ đợi một Ðấng Cứu Thế khác, lớn hơn và đến sau. Không, không còn Ðấng nào khác. Chỉ mình Ðức Giêsu là Kitô, Ðấng cứu chúng ta.
Không những tin Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, chúng ta còn biết và tin Ngài là Con Thiên Chúa. Chỉ cần dựa vào lời xác nhận của chính Chúa, hoặc của Thiên Chúa Cha, hoặc của thần sứ được Thiên Chúa sai đi loan báo, trong những thời điểm chóp đỉnh của mạc khải. Ngày Truyền tin, thần sứ Gabriel đã nói với Ðức Maria: “Người con sinh ra sẽ là thánh và được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35). Khi Chúa vừa được Gioan Tẩy Giả làm lễ rửa ở sông Giođanô xong, thì Chúa Cha từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,11). Lúc Chúa biến hình trên núi, cũng tiếng Chúa Cha phán những lời tương tự: “Ðây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9,7). Trước Công nghị Do thái, lúc mọi người hỏi: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?”, thì Chúa xác nhận ngay: “Ðúng như các ông nói. Chính tôi đây” (Lc 22,70tt).
Có thể kể thêm lời tuyên xưng của một sĩ quan ngoại đạo chứng kiến Chúa tắt thơ: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Một lời tuyên xưng đầy ý nghĩa, cho thấy thời của do thái giáo chấm dứt, và ơn cứu độ của Chúa đã đến với mọi người. Chính lời tuyên xưng này, được Maccô dùng để kết thúc sách Phúc Âm của mình, hàm ý kêu gọi chúng ta hôm nay cùng với tác giả tuyên xưng đức tin, công nhận Ðấng bị treo trên Thập giá đích thật là Con Thiên Chúa.
Tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa thì cũng tin Ngài là Chúa và Thiên Chúa, như lời tuyên tín của Tông Ðồ Tôma sau ngày Chúa sống lại (Ga 20,28), vì Chúa Giêsu và Chúa Cha là một (Ga 10,37). Tin Ðức Giêsu là Chúa thì cũng tin Thánh Thần là Thiên Chúa, vì Thánh Thần là Thần Khí của Chúa Cha và Chúa Con.
Như vậy, lời tuyên tín của ta, lặp lại lời của Phêrô ngày xưa, xác nhận chân tính của Ðức Giêsu, nói lên nội dung và đối tượng cơ bản của đức tin, của những gì chúng ta tin.
2. Thế nào là tin ?
Lời tuyên tín nói lên đức tin của ta. Ðức tin này đòi phải được đáp ứng bằng những thái độ và hành vi cụ thể. Những thái độ và hành vi này rất đa dạng. Tôi chỉ nêu ra vài khía cạnh :
* Tin là đón nhận. Ngày vào đạo, chúng ta xin với Giáo Hội phép Rửa Tội hoặc đức tin. Vậy đức tin là ân sủng được ban cho ta, và ta lãnh nhận. Cây muốn đứng vững phải có rễ bám đất. Chính đức tin là rễ của đời sống kitô giáo bám chặt vào Ðức Kitô. Lúc nước đổ tràn trên đầu ta cũng là lúc ơn đức tin ùa vào trong ta. Nước chảy đi nhưng đức tin còn lại. Ðức tin này, nếu ta lãnh nhận từ bé, sẽ tăng trưởng theo thời gian khi được vun đắp bằng việc dạy đạo, không chỉ qua những bài giáo lý, mà còn, và nhất là còn, qua kinh nghiệm sống với Ðức Kitô mà người lớn truyền đạt (cầu nguyện, làm dấu Thánh giá, kêu tên Giêsu.).
Lớn lên, khi ta đã đủ suy nghĩ chín chắn, thì tin Ðức Kitô là cá nhân mỗi người đón nhận Ngài với tất cả ý thức và tự do. Tin phải là hành vi riêng của từng người. Không tin chỉ vì tập thể tin. Không tin vì người khác bảo ta tin. Phêrô, khi được Chúa hỏi, đã không nói : ngưới ta bảo Thầy là Ðức Kitô. Chính ông tự mình tuyên tín. (Ðọc trong Phúc Âm, ta thấy Ðức Giêsu luôn hỏi từng cá nhân : ngươi có tin không ? Sau khi chữa cho người mù từ lúc mới sinh, Ngài hỏi anh: “Anh có tin vào Con Người không?” (Ga 9,35). Khi nói với Matta là : ai tin vào Ngài thì sẽ không phải chết đời đời, Ngài hỏi cô: “Chị có tin như thế không?” (Ga 11,26). Và mỗi lần như vậy là mỗi lần chính người được hỏi trả lời : Vâng, lạy Ngài, tôi tin. Kinh Tin Kính của Giáo Hội cũng khởi đầu bằng cách này, khi dạy ta tuyên xưng : Tôi tin, chứ không phải : Chúng tôi tin. Vậy phải luôn tra vấn lại về niềm tin cá nhân này, vì có khi tin chỉ là do dựa vào người khác, nhất là trong những gia đình đạo dòng. Ðức Giêsu đã tra hỏi về lòng mến của Phêrô tới 3 lần. Hai lần đầu ông trả lời rất nhanh. Dầu vậy, vẫn có lần hỏi thứ ba nữa để ông thực tâm suy xét. Về đức tin của ta, tưởng cũng phải tự vấn ít nhất 3 lần như vậy).
Chúng ta đón nhận không phải như đón nhận một ý tưởng, dù đó là ý tưởng cao sâu mấy đi nữa, nhưng là đón nhận một con người, con người Giêsu. Về một con người, người ta có thể lập một hồ sơ đầy đủ, tức là có những ý tưởng về người đó : tướng mạo, hình dung, tuổi tác, quê quán, nghề nghiệp, tính tình, cung cách hành động. Người ta lại có thể gặp gỡ, làm quen, cùng đi một đoạn đường, kết thân. Áp dụng cho Ðức Kitô, thì trong trường hợp trước, chúng ta học giáo lý, thần học. Trong trường hợp sau, chúng ta khám phá một Ðấng yêu thương, chia sẻ kinh nghiệm của ta, cùng tham gia vào cuộc phiêu lưu của nhân loại, nhằm đưa mọi người tới sự sống đời đời. Chính Ðức Kitô muốn ta coi Ngài như vậy.
* Tin là xác tín. Tin Ðức Kitô, chúng ta tin vào lời Ngài dạy, được truyền đạt cho ta trong Giáo Hội. Tin với sự xác tín, xác tín vào sứ điệp của Ngài, dù ta không hiểu hay không thích lời nào đó. Không thích, vì lời đó trái ngược với ý ta, đụng đến cái xấu nơi con người của ta. Không hiểu, vì nó vượt lên trên khá năng trí khôn hạn hẹp của con người. Tín điều Ba Ngôi chẳng hạn, hiểu sao cho thấu ? Một người thông tuệ ưu việt như Augustinô, vì muốn làm công việc vượt quá trí khôn này, đã được Thiên Chúa dạy cho một bài học. Augustinô đang tản bộ trên bãi biển, tâm trí lùi lũi đi sâu vào suy tưởng về những rắc rối của mầu nhiệm chưa được giải đáp, chợt thấy một em bé chơi trên cát. Em đào một lỗ nhỏ, vục nước biển đổ vào lỗ, nhưng lỗ không bao giờ đầy. Augstinô bảo: “Làm sao em có thể đổ đầy lỗ được ? Nước sẽ thấm hết”. Em bé đốp lại: “Thì cũng như việc ông đang làm đó !”
Vả lại, nếu hiểu thấu, hiểu hết, làm gì còn mạc khải mầu nhiệm của Thiên Chúa nữa ? Một khi Thiên Chúa nói, luôn luôn có những điều con người không hiểu nổi, nhất là con người xác thịt. Thiên Chúa vượt xa ta đến mức vô biên. Thần trí Thiên Chúa quá cao so với lý trí giới hạn của con người. Thiên Chúa ở bên trên những gì chúng ta suy nghĩ (x.Is 40,8). Thế nhưng, vì Thiên Chúa muốn mạc khải mình nơi Ðức Kitô, nên ta xác tín vào mọi điều Ðức Kitô mạc khải cho ta nhân danh Thiên Chúa. Ta biết Thiên Chúa là Cha Ngài và là Cha của mọi người. Ngài mạc khải cho ta vì yêu ta. Dù không hiểu hết, ta vẫn nhận Ngài luôn có lý, vì Ngài là Thiên Chúa. Dù không hiểu hết, ta vẫn không ngừng đào sâu mạc khải về Ngài.
Nếu trong khi tìm kiếm mà vẫn thấy đức tin còn mờ tối, ta không lấy làm lạ. Ánh sáng nhiệm mầu của Thiên Chúa quá chói chang đối với con mắt yếu đuối của ta. Thiên Chúa tỏ mình cho ta trong Ðức Kitô như qua một bức màn trong suốt. Trong suốt, để ta có thể nhận ra; nhưng vẫn còn bức màn, khiến ta không thấy được tất cả ánh sáng huy hoàng, nhưng là tin. Tóm lại, ta xác tín vào Ðức Kitô là Ðấng mạc khải Thiên Chúa, và trong Ngài, ta xác tín tất cả mạc khải.
Ta cũng tin vào lời Giáo Hội dạy tin, vì là những lời rút ra từ kho tàng mạc khải đã được uỷ thác cho Giáo Hội, và được Giáo Hội gìn giữ, phát huy.
* Tin là phó thác. Tin Ðức Kitô là tin tưởng phó thác vào Ngài. Theo nguyên ngữ la tinh, là cho Ngài tấm lòng của ta (credere = cor+dare). Augustinô từng nhấn mạnh lòng tin theo nghĩa phó thác: “Chúa đã nói là tin vào (croire en) Ngài, chứ không phải tin (croire à) Ngài. Vì nếu bạn tin vào Ngài thì cũng tin Ngài. Ma quỷ tin Chúa, nhưng không tin vào Chúa. Về các Tông Ðồ, chúng ta cũng có thể nói như vậy. Chúng ta tin Phaolô, nhưng không tin vào Phaolô. Chúng ta tin Phêrô, nhưng không tin vào Phêrô”. Nói khác đi, “tin vào” chỉ áp dụng cho một mình Thiên Chúa. (Giáo Hội cũng phân biệt tỉ mỉ cách sử dụng này. Trong Kinh Tin Kính, khi chúng ta đọc: tôi tin Thiên Chúa là Cha, tin Ðức Giêsu Kitô, tin Chúa Thánh Thần, thì đó là tin vào. Còn đối với Giáo Hội, phép tha tội, thân xác sống lại và sự sống đời sau, thì chỉ là tin hay tuyên xưng thuần tuý. Tiếng la tinh: Credo in unum Deum., in unum Dominum Jesum Christum, in Spiritum Sanctum. Credo unam, sanctam, catholicam et apostolicam Ecclesiam).
Theo các nhà chú giải thì trong các sách Phúc Âm, nhất là Phúc Âm Nhất Lãm, tin thường có nghĩa là phó thác. Ta biết Ðức Kitô là Con Thiên Chúa, nhân hậu và quyền năng. Trong khi đó, ta chỉ là những con người yếu đuối, lại phải đương đầu với vô vàn khó khăn trong cuộc đời, cần chỗ nương tựa để có thể vượt qua thử thách mà đạt tới đích. Chỗ nương tựa này là Ðức Kitô. Thế nên ta phó thác nơi Ngài, như trẻ thơ nép mình trong lòng mẹ, như gà con nấp dưới cánh gà mẹ.
Sự tin tưởng này có nghĩa như sự tin tưởng trong đính hôn, bước đầu của yêu thương. Nó cũng có nghĩa như sự tin tưởng đối với một người bạn chân thật. Mà Ðức Kitô là người bạn này: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hũu” (Ga 15,15). Cho dù ta có phản bội, Ngài vẫn coi ta là bạn, như Ngài đã nói với Giuđa ở Vườn Cây Dầu: “Này bạn” (Mt 26,50).
Ðức Kitô luôn mời gọi ta tin tưởng phó thác vào Ngài. Ðọc trong Phúc Âm, ta thấy điều Chúa trách các môn đệ nhiều nhất, không phải là các ông kém yêu, nhưng là kém tin, thiếu lòng tin, thiếu tin tưởng. Trên mặt hồ, Phêrô bước chân xuống nước để đến với Chúa. Lúc còn nhìn Chúa thì không sao, nhưng khi không còn nhìn Chúa mà nhìn xuống nước, thì chìm (Mt 14,22tt). Ðấy là thiếu tin tưởng. Các môn đệ đi trên thuyền với Chúa. Chợt sóng to gió lớn nổi lên. Dù có Chúa ở bên cạnh, các ông vẫn hoảng sợ, kêu rối kêu rít (Mt 8,23-27). Cũng lại thiếu tin tưởng nốt.
Phải nói là ngày nay, người ta ít tin tưởng phó thác vào Chúa. Do đó mà thường chán nản, thất vọng, thiếu sự bình an, trong việc thánh hoá bản thân, việc tông đồ hoặc khi gặp khó khăn. Vào lúc cuối đời, thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã có lần tuyệt vọng. Bị cám dỗ tự tử lúc đang đứng trên lầu nhà dòng kín, chị phải ghì chặt lan can không rời tay. Chỗ chúng ta phải ghì chặt, phải bám chắc, chỉ có thể là Ðức Kitô, phó thác nơi Ngài.
* Tin là trung tín. Người đã chịu phép Rửa tội mà còn tiếp tục tin, người ta gọi đó là người tín hữu. Tin và tín hũu cùng một ý nghĩa. Giáo Hội thích sử dụng từ “tín hữu” hơn các từ khác để chỉ các môn đệ Ðức Kitô, những kẻ tin vào Ngài. Nó nói lên tất cả ý nghĩa và hành vi của người tin. Không chỉ bằng trí khôn, nhưng bằng cả tâm hồn và đời sống, trong từng chi tiết của đời sống (Lc 16,10).
Trung tín là bền bỉ trong việc dấn thân tin trong cả đời người. Ðời sống kitô giáo không có một giai đoạn được nối tiếp bằng một giai đoạn hoàn toàn khác, chẳng hạn có một giai đoạn tin và một giai đoạn không tin (nghỉ tin cho khoẻ). Ðó không phải là trung tín. Ðời sống kitô giáo là trung tín, cũng như tin tưởng trong đính hôn đưa đến trung tín trong hôn nhân. Tin Ðức Kitô trở thành trung tín, vì chúng ta tiếp tục tin vào Ngài trong cả cuộc đời, lúc thuận cũng như lúc nghịch. Ðây cũng chỉ là hành vi phải có, đáp lại một Ðấng là Thiên Chúa luôn tín thành, nói lời amen với Ðấng là Amen (Kh 3,14).
* Tin là làm chứng. Trước khi về trời, Chúa đã nói với các môn đệ ” Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8). Chứng nhân là người chứng kiến sự việc và làm chứng cho người khác về sự việc ấy. Chứng nhân của Ðức Kitô là người đã thấy Ðức Kitô trong đức tin, nên làm chứng về Ngài bằng đời sống đức tin.
Ðể làm chứng, phải biết rõ những gì mình làm chứng. Nhưng đối với Ðức Kitô mà chúng ta làm chứng, biết không chỉ bằng kiến thúc, bằng trí óc, mà còn phải bằng con tim, bằng tình yêu. Chúng ta tin Ngài, yêu Ngài, kết hợp mật thiết với Ngài, sống đời sống của Ngài, đặc biệt đời sống bác ái. Ðó là biết Chúa. Từ đó thể hiện sự có mặt của Ðức Kitô bằng chính sự hiện diện của mình, đời sống của mình, qua lời nói cũng như việc làm. Càng yêu, càng thích làm chứng, cũng như hai người yêu nhau thích nói về người mình yêu. Càng trở thành kitô hữu, càng trở thành chứng nhân của Ðức Kitô, vì làm chứng tốt không theo mức độ của việc làm chứng, nhưng theo mức độ của chính người làm chứng (theo mức độ Ðức Kitô sống trong người đó).
Ðạo diễn Trần Văn Thuỷ, tác giả của phim tài liệu “Chuyện tử tế” rất được ngoại quốc chú ý, đã trả lời cho một ký giả ngoại quốc thế này: “Tôi rất bị đánh động bởi niềm tin của các nữ tu và cách thế họ xoa dịu nỗi khổ của những người phong cùi tại các trại phong. Ðiều này xẩy ra đúng tại các trung tâm do các nữ tu quản lý. Với tôi, điều người ta mong đợi ở các người kitô là niềm tin của họ, và họ phải sống điều họ tin” (Trong phim có cảnh quay ở Quy Hoà, cho thấy sự chăm sóc “tử tế” của các nữ tu ở đây đối với người phong cùi. Lẽ ra nội dung phim chỉ mới đề cập miền Bắc, nhưng đạo diễn xúc động về cảnh ở Quy Hoà, nên cho luôn vào phim. Trong phim còn có cảnh một người bạn của đạo diễn lúc lâm chung đã nói: “Tôi không hối tiếc gì vì chúng ta đã sống tử tế”. Phần chúng ta, chúng ta cũng không hối tiếc gì nếu đã sống đời sống đức tin).
Khi nói về Isaia, một tác giả đã nhận định ngôn sứ này là “mur, sur, pur, dur” trong đức tin. Cũng chính là ít nhiều đặc tính đã khai triển trên đây. Chúng ta cũng hãy tỏ ra “mur, sur, pur, dur” trong đức tin của ta.
3. “Xin giúp lòng tin yếu kém của tôi”(Mc 9,24)
Như đã nói trên, nhiều lần Ðức Giêsu đã trách các môn đệ chậm tin, kém tin, hèn tin, yếu đức tin. Ngày nay, nếu có phải tra vấn đức tin của ta trước mặt Chúa, chắc chắn chúng ta – ít ra một số người trong chúng ta – cũng sẽ bị Ngài trách là chậm tin, kém tin, hèn tin, yếu đức tin.
Yếu đức tin nằm ngay trong sự yếu đuối nói chung của con người tội lỗi. Chúng ta chỉ là những bình sành, nhưng lại mang trong mình kho tàng đức tin quý giá (x.Cr 4,7), nên kho tàng bị nguy cơ. Sự yếu đức tin của ta có lẽ không ở chỗ ngờ vực các chân lý đức tin (tuy đôi khi có thể có) cho bằng ở chỗ thiếu tin tưởng vào Chúa. Thay vì tin một mình Chúa, thực tế lại tin thêm cả những thần mới, tin vào con người hoặc tin nơi chính mình. Thiếu gì người có đạo vẫn tin vào bói toán. Trước khi làm một việc gì khác thường, lẽ ra dành một chút thời gian cầu nguyện để xin ơn soi sáng, thì lại nhờ đến Thầy bà bói một quẻ xem tốt hay xấu, lợi hay hại. Lại có những thứ kiêng cữ nơi dân gian đã nhiễm sâu vào não trạng của nhiều người, người có đạo cũng chẳng trừ. Không hiểu có phải là hình thức kém tin chăng.
Tuy tin là sự đáp trả của con người trước lời Thiên Chúa, nhưng lại là ơn Chúa ban. Sau khi Phêrô tuyên tín, Chúa đã nói rõ với ông: “Không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời” (Mt 16,17). Chúa Cha đã ban ơn cho Phêrô tuyên tín như vậy.
Tự riêng mình, con người không thể khám phá ra Ðức Giêsu là Kitô, là Con Thiên Chúa. Cùng lắm họ chỉ nghĩ về Chúa như các người Do Thái thời Chúa. Không thể khám phá bằng kinh nghiệm, bằng cảm tính hay bằng chứng minh thuần lý. Ðức tin vượt quá kiến thức tự nhiên. Mà Ðức Kitô lại là một mầu nhiệm. Nói khác đi, khi Phêrô, hoặc chúng ta hôm nay, quả quyết Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, cần có sự can thiệp của Thiên Chúa. Chúng ta tin vì Thiên Chúa đã soi sáng cho chúng ta. Thiên Chúa mạc khải cho trí khôn đang tìm kiếm để biết Ðức Giêsu là ai. Bởi vậy, để tin, phải có một nguyên lý bên trong, ánh sáng bên trong chuẩn bị tâm trí ta đón nhận chân lý mạc khải của Thiên Chúa. Nguyên lý này, ánh sáng này phát xuất từ Thiên Chúa. Cho nên đức tin là một ân sủng.
Ðã là ân sủng, chúng ta không thể tự mình mà có. Muốn có phải xin. Ân sủng là của Thiên Chúa thì phải xin Ngài ban, phải cầu nguyện. Chính cầu nguyện đã là một hành vi biểu lộ đức tin, vì khi cầu nguyện, chúng ta hướng về Chúa, nhận Ngài là Ðấng quyền năng và nhân từ. Tuy vậy, chúng ta còn cầu nguyện để xin một ơn cụ thể là : xin Chúa giúp lòng tin yếu kém của ta. Ðức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Không có Chúa ban ơn, ta không thể tin Ngài. Không có Chúa thêm ơn, ta vẫn còn kém tin.
Chúa không chỉ ban ơn cho ta, không chỉ dạy ta cầu xin, mà còn cầu xin trước cho ta nữa, như Ngài đã cầu xin cho Phêrô. Phêrô đã chối Thầy 3 lần, dù đã được Chúa cảnh báo. Trước đó, Ngài đã nhắc nhở ông, gọi đích tên cúng cơm của ông mà nhắc nhở: “Simon, Simon, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng lúa”, nhưng rồi Chúa cũng cho biết: “Thầy đã cầu nguyện cho anh, để anh khỏi mất lòng tin” (Lc 22,32). Nếu ta biết cầu xin, ơn Chúa sẽ đủ cho ta, để ta có thể vững tin, và trở nên mạnh mẽ trong chính sự yếu đuối của ta (x.2Cr 12,7-10).
Cùng với việc cầu nguyện, chúng ta còn biết góp phần bằng sự cố gắng của ta để làm tăng tiến đức tin. Ðức tin không phải là một kho tàng bất động, nhưng là một sự sống phải không ngừng phát huy. Dậm chân tại chỗ có thể là dấu hiệu kém tin. Phát huy bằng những việc đại khái như : thanh tẩy đức tin để làm cho nó được chính thực (authentique), gạn lọc những gì chỉ là phó phẩm do con người thêm vào trong suốt quá trình nhập thể của đức tin trong lịch sử ; làm phong phú kiến thức về những chân lý đức tin để thêm sâu sắc ; quan trọng nhất là những việc làm đi kèm, nhất là việc bác ái, nếu không, chỉ là đức tin chết (Gc 2,14tt).
Trong Phúc Âm, có một câu Chúa nói đáng làm ta giật mình và suy nghĩ: “Khi Con Người đến, liệu Người còn gặp thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” (Lc 18,8). Ðây là nói về sự chối đạo phải xẩy ra trong ngày tận thế, là đề tài cổ điển trong những đoạn văn có mầu sắc khải huyền. Nếu chính người tín hữu chúng ta không có lòng tin, không kiên vững trong đức tin, không biết sống đức tin, thì lời Chúa trên đây là lời báo động không phải là không có cơ sở.
***
Trong Thánh Vịnh 45/46, chúng ta được nghe lời Thiên Chúa phán: “Hãy biết rằng Ta là Thiên Chúa”. Ðây cũng là lời Ðức Kitô hằng nói với người kitô hữu chúng ta. Ðể đáp lại lời ấy, chúng ta phải bày tỏ lòng tin : tin Ðức Kitô là Chúa.
Phúc Âm có thuật truyện 3 đạo sĩ Dông Phương, khi gặp được Chúa mới sinh, thì phục mình xuống và triều bái Ngài. Ðoạn, mở tráp báu, họ dâng lên Ngài lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược. Những lễ vật này thật quý giá. Chúng ta cũng hãy mở tráp lòng chúng ta, dâng lên Chúa Giêsu lễ vật còn quý giá hơn, là đức tin của ta. Lễ vật của các đạo sĩ là dành cho Ðức Vua. Lễ vật đức tin của ta là dành cho Ðức Chúa. Nếu có lúc còn quên mở tráp lòng, thì Phụng vụ lại nhắc nhở chúng ta. Hằng ngày, khởi đầu Giờ Kinh Phụng Vụ, Giáo Hội vẫn dùng lời Thánh Vịnh 94/95 mà nói với ta như sau :
Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục
Quỳ trước tôn nhan Chúa là Ðấng dựng nên ta
Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ
Chúa đó là Chúa Cha, mà cũng là Chúa Kitô. Chúng ta đọc những lời trên hướng về Chúa Kitô, phủ phục trước nhan Chúa Kitô, tuyên xưng Ngài là Chúa, tức là bày tỏ lòng tin của chúng ta vào Ngài.
Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô, Phaolô đã viết câu kinh khủng này :”Nếu ai không yêu mến Chúa, thì hãy là đồ khốn kiếp” (1Cr 16,22). Ðồ khốn kiếp, đồ vô đạo, đồ chúc dữ, đó là một lời nguyền rủa, một hình phạt rất nặng dành cho những tội rất nặng trong đạo. Trong lịch sử, liên hệ đến Ðức Kitô, đã có nhiều người bị chúc dữ. Ðó là những người cố tình tin sai về Ngài, hoặc có những lời lẽ xúc phạm đến Ngài. Nhưng có lẽ chúng ta không lưu ý là lời chúc dữ đầu tiên, do chính một Tông Ðồ nói ra, lại là lời dành cho những ai không yêu mến Chúa.
Chắc chắn chúng ta không muốn vào số những người này. Ngược lại, chúng ta muốn khẳng định mình yêu mến Chúa, khi chúng ta đi theo làm môn đệ Chúa, khi chúng ta tận hiến cho Ngài tất cả cuộc đời ta. Thế nhưng, muốn là một chuyện, khẳng định là một chuyện, còn thực tế có yêu mến Chúa không, yêu tới mức độ nào, bày tỏ lòng yêu mến này ra sao, lại là chuyện khác. Ðó là vấn đề đặt ra cho chúng ta trong bài suy niệm này, đòi chúng ta phải tự vấn.
Dựa vào ơn Chúa Thánh Thần trợ giúp, chúng ta thử suy nghĩ đôi ba điều.
1. “Anh có mến Thầy không ?”(Ga 21,15)
* Câu đầy đủ là như thế này: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?”. Ðó là câu Chúa hỏi Phêrô sau ngày Phục sinh, lúc Ngài hiện ra với các môn đệ bên bờ hồ Tibêria. Không phải hỏi một lần, nhưng là ba, khiến cho Phêrô phải “buồn 5 phút”. Vì sao ? Vì nghĩ rằng đó là cách Chúa nhắc khéo ba lần ông đã chối Ngài. Có tật thì giật mình. Hệt như chúng ta thôi. Phạm một lỗi nào, rồi nghe ai nói chuyện gì có dây mơ rễ má đến lỗi đó, lại cứ tưởng họ đang nói móc mình hay ám chỉ về mình. Ở đây, có thể Chúa muốn gợi lại lỗi của Phêrô thật. Ba lần chối Thầy là ba lần Phêrô không còn trung thành và yêu mến. Thì Chúa đáp lại bằng ba lần hỏi, để Phêrô khẳng định lại lòng yêu mến.
Ðấy là một lẽ. Nhưng sự việc còn có thể có một lẽ khác. Phải có ba lần diễn tả sự gắn bó với Chúa, để được Chúa ba lần trao sứ mạng mục tử. Ba lần đáp của Phêrô giống như một sự cam kết dứt khoát và long trọng, thay cho một bản văn ký nhận, để chính thức lãnh nhận trọng trách. Cái kiểu cam kết này, Cựu Ước có nói đến. Lúc Abraham đi tìm mua đất làm phần mộ cho vợ ông là bà Sara, ông đã ba lần thương lượng với người Khết ở đất Canaan, và cũng ba lần người Khết cam kết để cho ông phần đất nào ông muốn (St 23,1tt).
Trong trường hợp Phêrô, dĩ nhiên Chúa trao trọng trách không phải vì ông đã yêu mến Chúa hơn các anh em khác. Tội chối Chúa còn rành rành ra đó, dễ gì xóa nhòa trong khoảng thời gian mấy ngày. Chúa chọn ông là do sáng kiến của Ngài, đâu phải do ông có công trạng gì. Cũng như Chúa chọn bất cứ ai, đều không phải do công trạng của người đó. Cho nên, lời Chúa hỏi Phêrô không nhắm về quá khứ, nhưng hướng về tương lai : không phải để ông xác nhận đã yêu mến Chúa thế nào, nhưng để ông xác nhận sẽ yêu mến Chúa ra sao. Ðiều này thật cần thiết, vì ông sẽ chăn dắt bầy chiên của Chúa. Không yêu Chúa hơn các môn đệ khác, làm sao có thể chăn dắt những con chiên được Chúa yêu thương và trao phó cho mình ?
(Nếu đọc chính bản văn hi lạp, người ta còn thấy ý nghĩa sâu xa của câu truyện này. Trong tiếng hi lạp, có hai động từ để chỉ yêu : phileo và agapao. Phileo chỉ tình yêu bạn hữu, nhưng có thể không hoàn hảo. Còn agapao chỉ một tình yêu hoàn hảo. Lần đầu hỏi Phêrô, Chúa dùng từ agapao (bản Phổ thông : diligere). Nếu là hỏi trước khi Phêrô chối Chúa, chắc ông cũng dùng từ agapao mà đáp, để nói lên tình yêu của mình. Ðàng này, vì đã chối Chúa rồi, thì ông không dám nữa, mà chỉ dùng từ phileo (bản Phổ thông : amare), hàm ý nói: Chúa biết con yêu Chúa bằng tình yêu kém cỏi của con! Lần hỏi thứ hai, Chúa còn dùng từ agapao, và Phêrô vẫn chỉ dám đáp bằng từ phileo. Cho nên, ở lần hỏi thứ ba, Chúa mới dùng từ phileo, với ý nghĩa: Thôi thì tình yêu kém cỏi, bất toàn của ngươi cũng đủ cho Ta. Như vậy là Chúa xuống nước, chỉ đòi một tình yêu tối thiểu, điều mà Phêrô có thể làm được).
* Chuyện của Phêrô thì khúc mắc như vậy. Còn đối với chúng ta hôm nay, tôi nghĩ đơn giản thế này : Chúa cũng muốn hỏi ta xem có yêu mến Ngài không. Và nếu cần so sánh, Ngài muốn hỏi ta xem có yêu mến Ngài hơn nhiều người khác không.
Với từng người một, Chúa đều đòi hỏi một tình yêu tối thiểu, thể hiện bằng cách này cách khác. Chúa hỏi từng người, như đã hỏi cá nhân Phêrô. Ta thấy bên Phêrô lúc bấy giờ còn có những môn đệ khác, đã cùng nhau đánh cá, đã nhận ra Chúa Phục sinh, tất cả cùng ăn với Chúa. Nhưng lúc Chúa hỏi Phêrô, dường như họ biến đâu mất tăm, chỉ còn lại Chúa và Phêrô thôi. Phêrô khi trả lời, thì cũng riêng mình trả lời cho mình, chẳng để ai đại diện, cũng chẳng đại diện ai. Lúc trước tuyên tín ở Cêsarêa, ông vừa nói lên niềm tin của mình, vừa nói thay cho các anh em, vì Chúa hỏi cả đám. Còn lúc này, về tình yêu, thì ông phải trả lời với tư cách cá nhân, nói lên tâm tình riêng của mình. Chúa cũng hỏi về tình yêu của từng người chúng ta như vậy. Ít nhất ta phải có một tình yêu tối thiểu đối với Ngài. Không có tình yêu này thì không thể được cứu. Thiên Chúa có thể tạo dựng con người mà không cần đến họ, nhưng Ngài không thể cứu con người mà không có họ (Augustinô). Phần “có” của con người chính là phần đóng góp cộng tác của họ, ít nhất bằng tâm tình yêu mến và biết ơn.
Cứ xem thái độ của người phụ nữ tội lỗi được Chúa tha thứ thì biết. Phúc Âm viết: “Chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7,47). Nhưng không phải vì yêu mến nhiều mà được tha thứ, bởi hành vi tha thứ hoàn toàn là do lòng thương xót quảng đại của Chúa. Luther nói: “Thiên Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta tốt đẹp, nhưng Ngài làm cho chúng ta tốt đẹp vì Ngài yêu chúng ta”. Ở đây, Chúa làm điều tốt đẹp là tha thứ cho chị ta, chỉ vì Ngài yêu chị. Thế nhưng tình yêu của chị lại là hệ quả và dấu chỉ của ơn tha thứ đó. Chị yêu mến vì đã được tha.Và yêu mến nhiều vì được tha nhiều. Phải có dấu chỉ là tình yêu để cho thấy thực tại là ơn tha thứ. Không riêng gì người phụ nữ kia, hết thảy chúng ta đều đã được Chúa tha thứ cứu độ, nên phải yêu mến Chúa. Ðó là luật chung cho mọi người.
Với người môn đệ thân tín, đòi hỏi này còn cao hơn. Môn đệ là người đi theo Thầy, sống với Thầy, được Thầy yêu thương trăm bề, chỉ vẽ đủ điều. Vậy người môn đệ không thể không bày tỏ lòng yêu mến nhiều hơn đối với Thầy.
Hơn nữa, Chúa là Thầy, nhưng ta không phải là tớ. Chúa không coi ta là tôi tớ, mà là bạn hữu (Ga 15,15). Thế nên, tình yêu của ta đối với Chúa phải là tình yêu bạn hữu. Hãy yêu mến Chúa như các môn đệ đương thời của Chúa. Hãy nói lên tâm tình chân thành yêu mến Chúa như Phêrô, dù chỉ bằng những lời lẽ vụng dại.
Chúa còn đòi ta yêu mến Ngài với tư cách là Thiên Chúa. Thiên Chúa vô hình, nhưng đã mặc lấy một hình hài nhân loại, để ta có thể dễ thấy và dễ yêu.Mà đối với Thiên Chúa thì ngay từ thời Cữu Ước, người ta đã dạy phải yêu mến Ngài. Sách Ðệ Nhị Luật viết: “Hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (6,5). Chúng ta biết : Ðức Giêsu đã trưng dẫn lời trên đây, khi một người Biệt phái hỏi Ngài xem giới răn nào trọng nhất trong Lề Luật (Mc 12,28tt).
Kể cũng lạ. Trong một nhóm những bản văn chỉ bàn về luật với lệ, lại có những đoạn minh nhiên nhắc nhở phải yêu mến Thiên Chúa. Và cũng lạ nữa, vì lời nhắc nhở này dường như lạc lõng giữa thái độ chung của con người đối với Thiên Chúa là sợ. Cựu Ước hay nói đến sợ Thiên Chúa, sợ và run. Sợ là phải, vì chính Thiên Chúa đã truyền cho Israel phải sợ Ngài (Lv 19,32). Từ khi có trí khôn, người người trong dân phải ghi lòng tạc dạ lệnh truyền này (1V 18,12). Sợ là phải, khi người ta chứng kiến những việc lạ lùng Thiên Chúa làm (mirabilia Dei), hoặc nếu mắt chưa hề thấy thì tai đã từng nghe tường thuật những việc này. Chẳng hạn Thiên Chúa đã cho dân đi qua Biển Ðỏ và sông Giođanô ráo chân (Gs 4,23tt).
Chúng ta hôm nay có sợ như thế chăng ? Nếu hiểu sợ như trong tương quan chủ-nô (Hegel), tức như thái độ của một nô lệ thấp cổ bé miệng trước một ông chủ uy quyền hà khắc, thì thái độ đó cần phải loại bỏ. Giữa Thiên Chúa và ta, không hề có tương quan chủ-nô, mà chỉ có tương quan phụ-tử. Ðiều này càng thấy rõ nét trong Phúc Âm, nhất là qua Ðức Giêsu, chúng ta được mạc khải về một Thiên Chúa là Cha đầy lòng yêu thương, hằng làm những sự lành cho con cái.
Ðối với một Chúa Cha như thế, sợ thì không, nhưng kính sợ thì có. Kính sợ khác với sợ thuần tuý. Kính sợ có thể đi đôi với yêu mến, chứ sợ thì không thể. Kinh Thánh còn nói rõ : Kính sợ Thiên Chúa là hồng ân của Thánh Thần (Is 11,2). Kính sợ Thiên Chúa là đầu mối khôn ngoan (Tv 111/110,10). Kính sợ Thiên Chúa để có thể yêu mến Ngài cho trung thực và hữu hiệu. Kính sợ cũng là một cách yêu mến của người con đối với cha mình.
* Có người cho rằng Thiên Chúa không nhận tình yêu nào của ta cả. Ngài đâu cần nó, vì Ngài đầy đủ mọi sự. Ngài chỉ muốn ta yêu Ngài nơi người lân cận mà thôi (E. Brunner). Nghĩ thế là lầm, chưa kể còn xúc phạm tới yếu tính sâu xa nhất của đạo.
Thực sự, Thiên Chúa muốn ta tiên vàn yêu chính Ngài. Không phải vì Ngài cần tình yêu của ta, nhưng vì Ngài yêu ta bằng tình yêu bạn hữu. Mà tình yêu bạn hữu nhất thiết đòi phải có tình yêu đáp ứng. Giữa con người với nhau, có thể có tình yêu đơn phương, một chiều. Yêu một anh chàng hay một cô nàng nào đó, lắm khi chỉ có “Một mảnh tình riêng ta với ta”, chỉ mình biết mình, đêm ngày thầm yêu trộm nhớ mà đối tượng không hay, không biết, hoặc có biết nhưng không đoái hoài. Khổ nỗi không dứt bỏ được. Nhưng cũng nơi con người, không thể có tình yêu bạn hữu đơn phương. Khác với tình bạn thông thường, tình yêu bạn bữu là tình yêu hỗ tương giữa những người hiệp thông vào cùng một sự thiện khi biết vượt thắng chính mình.
Tình yêu bạn hữu giữa Thiên Chúa và ta cũng vậy. Nó là tình yêu hỗ tương giữa hai bên, cùng hiệp thông vào chân lý và sự thiện tuyệt đối nơi Thiên Chúa, nên không thể đơn phương. Không thể chỉ có chiều đi xuống. Phải có sự đáp ứng đi lên từ phía ta. Chính trong ý nghĩa này mà thánh Gioan đã viết: “Chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,19). Thi sĩ Dante đã viết: “Tình yêu không cho phép người được yêu không yêu lại”. Ngày lễ Giáng Sinh, Giáo Hội đã ca lên trong một bài hát quen thuộc (Adeste fideles): “Ai mà không yêu lại Ðấng đã yêu ta như thế?” (Sic nos amantem quis non redamaret ?). Tình yêu chỉ có thể được đáp lại bằng tình yêu. Không có cách đáp lại nào khác tương xứng cả.
Thiên Chúa cũng muốn cho ta yêu Ngài vì chính Ngài. Chính Ngài là lý do tình yêu của ta. Tuy vậy, lý do này cũng có hai mặt.
Ta có thể yêu Chúa vì Ngài là Sự Thiện tuyệt đối. Nơi Ngài có mọi sự tốt đẹp, hoàn hảo, thánh thiện. Chính điều đó lôi cuốn ta, hấp dẫn ta, khiến ta hướng về Ngài với thái độ yêu mến và kính phục. Ðó là hình thức hoàn hảo của tình yêu. Chúng ta không dám cao ngạo để tự phụ mình đã đạt tới mức đó.
Ta cũng có thể yêu Chúa, không chỉ vì Ngài là Sự Thiện khách quan, nhưng còn là Sự Thiện cho ta, có ích cho ta. Nói vậy không có nghĩa là tình yêu của ta mang mầu sắc vụ lợi đâu. Vụ lợi chăng – nếu nói được như vậy – cũng chỉ là để phục vụ cho những giá trị cao hơn, mà cuối cùng là phục vụ chính Chúa, vì “đức mến thì không tìm tư lợi” (1Cr 13,5). Chẳng hạn tôi thấy Thiên Chúa nhân từ với tôi, chỉ mình Ngài có thể làm cho tôi hạnh phúc. Thế nên tôi hướng về Ngài, yêu mến Ngài, dẹp bỏ những gì ngăn cản tôi đến với Ngài là nguồn hạnh phúc của tôi. Ðó cũng là yêu mến thật.
Thiên Chúa còn muốn cho ta yêu Ngài để ta có thể tham dự vào tình yêu của Ba Ngôi. Thiên Chúa không chỉ có một mình. Nếu chỉ có một mình, Ngài sẽ là Ðấng ích kỷ ghê gớm. Nhưng Thiên Chúa là Ba Ngôi. Ba Ngôi kết hiệp mật thiết với nhau đến nỗi là một Thiên Chúa. Nơi con người thì không thể như thế. Vợ chồng có kết hợp với nhau nên một xương một thịt đi nữa, vẫn là “ta với mình tuy một mà hai”. Thiên Chúa lại là Tình Yêu (1Ga 4,8). Yêu thật sự là hoàn toàn quên mình vì người mình yêu, làm giầu cho người đó, muốn nên một với người đó. Nơi Thiên Chúa, Ngôi này hoàn toàn hướng về Ngôi kia. Ðức Giêsu nói: “Tất cả những gì của Con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của Con” (Ga 17,10), “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10.30), “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha” (Ga 10,38). Giả sử Ba Ngôi không còn tự hiến cho nhau, không còn yêu mến nhau, thì cũng hết là Thiên Chúa.
Thế mà Thiên Chúa đã dựng nên ta giống hình ảnh Ngài, tức là, ngoài những phẩm tính khác, ta còn biết yêu. Ðấy là tình yêu của chính Thiên Chúa được Thần Khí đổ tràn vào lòng ta (Rm 5,5), nhờ đó ta được tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa. Thế nên tình yêu của ta đương nhiên phải hướng về Ngài. Nói khác đi, chúng ta phải yêu mến Ngài. Nhưng yêu mến thế nào?
2. “Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa. hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” (Mc 12,29)
* Câu trên đây là ở trong sách Ðệ Nhị Luật (6,5), được Ðức Giêsu trưng dẫn khi trả lời cho người Biệt Phái như đã nói ở trên (Thực ra, câu trong sách Ðệ Nhị Luật không có những chữ “hết trí khôn ngươi”). Nó cho ta biết cách phải yêu Chúa thế nào : hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn. Mới nghe, tưởng chỉ là một kiểu nói để nhấn mạnh mức độ tối đa của tình yêu đối với Chúa, bởi vì đối với Chúa, mức độ của yêu là yêu không mức độ; hoặc một cách cho thấy tình yêu này phải chi phối cả con người và mọi quan năng của ta; hoặc một cách nhấn mạnh tầm quan trọng của đòi hỏi này. Lẽ ra khỏi cần phân biệt những khía cạnh trên đây. Phân biệt quá, e bị coi là muốn chẻ sợi tóc làm tư. Tuy nhiên, có phân biệt cũng không thừa, vì có thể giúp chúng ta sống tình yêu này một cách sâu sắc và đầy đủ hơn.
Yêu Chúa hết lòng. Lòng hay con tim thường được coi là nơi phát xuất tình yêu. Con người ta, khi yêu, có cảm nghiệm rõ rệt là con tim mình lúc lắc, rung động. Theo cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, lòng cũng là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa. Lòng ta là nơi Thiên Chúa kề môi miệng Ngài để thổ lộ tâm tình với ta (Hs 2,16). Vậy khi gặp được Thiên Chúa ở đó, khi nghe những lời thì thầm yêu đương của Thiên Chúa ở đó, ta cũng phải dành cho Ngài tất cả chỗ đó. Yêu Chúa hết lòng là yêu bằng tất cả sự cảm ái của ta. Dĩ nhiên, lòng ta, cho dù đã được thanh tẩy, được cắt bì (Ðnl 30,6), vẫn còn gắn với con người xác thịt. Nó vẫn còn yêu người này vật nọ. Nếu những đối tượng ấy giúp ta hướng tới Chúa thì không sao, tốt thôi. Nhưng nếu chúng làm cho lòng ta xa cách Chúa (Is 29,13), ngăn cản ta yêu Chúa, thì hãy coi chừng. Chúng đã xúc phạm đến đòi hỏi của Chúa.
Yêu Chúa hết linh hồn. Theo quan niệm của Kinh Thánh, linh hồn không có nghĩa là một thành phần hợp với thân xác để làm thành một con người (như quan niệm của triết học hy lạp và kinh viện), nhưng có nghĩa là con người toàn diện. Khi Ðức Maria cất tiếng nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” thì không phải chỉ có linh hồn Ðức Mẹ ngợi khen, xác thì nghỉ ngơi cho khoẻ, việc bên nào bên ấy làm, nhưng là cả con người Ðức Mẹ ngợi khen Chúa. Yêu Chúa hết linh hồn là yêu bằng cả cuộc đời của mình, dám hy sinh nó cho tình yêu, theo gương Ðức Kitô đã hy sinh mạng sống mình vì yêu ta. Mạng sống là cái quý giá nhất của con người. Dám liều mạng sống cho Chúa là Ðấng mình yêu mến, thì không còn lòng mến nào lớn hơn nữa (Ga 15,13).
Yêu Chúa hết trí khôn. Nói đến trí khôn là nói đến tri thức, hiểu biết, suy luận, biện biệt. Chúa có sự hiểu biết của Chúa. Ta có sự hiểu biết của ta. Vì yêu Chúa, ta bắt trí khôn của ta quy phục Chúa. Vì yêu Chúa, ta bắt trí khôn của ta đào sâu hơn về Chúa, tìm cách hiểu biết hơn những gì Ngài nói về Ngài. Chắc chắn đối với Thiên Chúa là mầu nhiệm, ta chỉ có thể mon men quanh khu vực bờ biên. Và phải dựa vào đức tin. Tin để biết, cũng như biết để tin. Hơn nữa, không chỉ tìm hiểu Chúa bằng hoạt động thuần tuý trí thức mà còn cần có một tấm lòng. (Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác bài “Ðể gió cuốn đi” khởi đầu bằng câu “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Con người thời nay sống suy luận nhiều quá, hoặc vô tâm vô tình nhiều quá. Cần có tấm lòng. Ðối với nhau cũng vậy mà đối với Chúa cũng vậy). Thiên Chúa của ta không phải là Thiên Chúa của các triết gia, nhưng là của người tín hữu. Ngài không phải là đối tượng để suy tưởng, nhưng là Ðấng để ta yêu mến.
Yêu Chúa hết sức lực. Có nghĩa là yêu không chỉ bằng những tâm tình bên trong, không chỉ ở chỗ kích thích tâm trí. Yêu còn phải được thể hiện bằng hành động bên ngoài. Ai nói yêu mà không có những hành động bên ngoài minh chứng, có thể ngờ rằng người đó nói điêu. Chúng ta hẳn còn nhớ có lần Chúa bảo: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lạy Chúa ! Lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21). Ðấy là chuyện vào Nước Trời. Về tình yêu thì cũng tương tự như thế. Phải biểu lộ bằng hành động. Hành động này là làm theo ý Chúa trong mọi sự, được cụ thể hoá bằng việc phục vụ Chúa và các anh (chị) em. Phục vụ hết mình. Có thế mới chứng tỏ ta yêu mến Chúa hết sức lực ta.
Chúng ta cũng hiểu rằng con người của ta yếu đuối, sức lực có hạn. Hoàn cảnh và cám dỗ này nọ có thể làm cho mục tiêu hoạt động của ta xoay chiều : thay vì phục vụ Chúa, lại phục vụ cho sự ích kỷ của mình. Nhưng chúng ta tin tưởng Chúa là sức mạnh sẽ luôn hỗ trợ cho những cố gắng của ta.
* Những gì khai triển trên đây cho thấy ta có thể và phải yêu Chúa bằng những hoạt động của trí khôn hoặc của tình cảm, cả bằng những gắn bó trong tâm trí lẫn bằng những hoạt động bên ngoài. Nguồn mạch sâu xa của những tình cảm bên trong, và hồn của những hình thức biểu hiện bên ngoài, chính là thái độ sẵn sàng tự hiến mình cho tình yêu. Chính thái độ này là đặc tính của một tình yêu chân thật.
Ði vào cụ thể, làm sao thực hiện cho hết các khía cạnh trên đây ? Làm sao cho có sự quân bình giữa các khía cạnh ? Có cần nhấn mạnh những tâm tình bên trong hay những hành động bên ngoài để tỏ ra là yêu Chúa cách trung thực? Cái đó còn tuỳ. Tuỳ sự tiến bộ trong đời sống thiêng liêng. Tuỳ tâm tính của mỗi người. Tuỳ hoàn cảnh và điều kiện sống cụ thể của từng người hay cả cộng đồng.
Thường ra, những yếu tố trí khôn, tình cảm, ý muốn, hoạt động đều tác động lên nhau. Yếu tố này lôi kéo yếu tố kia, nếu chúng ta thật tình mến Chúa. Khi hoàn toàn thiếu vắng một yếu tố nào, nhất là trong một thời gian dài, tình yêu của chúng ta có nguy cơ không còn trung thực, và khô cằn là cái chắc.
Thử lấy ví dụ về một hoạt động đạo đức rất thông thường, một hoạt động mà truyền thống tu đức dạy phải làm hằng ngày, nếu muốn thăng tiến trong đời sống thiêng liêng nói chung, và lòng yêu mến Chúa nói riêng. Ðó là nguyện gẫm.
Nguyện gẫm thì có nhiều phương pháp lắm. Có phương pháp dòng Tên mà có lẽ ai nấy đều biết, trong sách Linh Thao. Có phương pháp Xuân Bích với lược đồ tóm tắt trong ba công thức thời danh : đặt Chúa Giêsu trước mặt, đem Chúa vào lòng, để Chúa ra ngoài bàn tay. Có phương pháp của cha Chautard gói ghém trong ba chữ : video, sitio, volo (tôi thấy, tôi khát, tôi muốn). Còn nhiều phương pháp khác nữa của truyền thống các dòng. Có bao nhiêu phương pháp là có bấy nhiêu dị biệt. Nhưng dị biệt là ở các chi tiết và cách nhấn mạnh, chứ các phương pháp đều giống nhau trong những đường nét chính, và đều huy động mọi cơ năng của con người : trí khôn, tình cảm, ý chí hành động. Tâm tình thì nhớ đến Chúa, giục lòng tin mến và thờ lậy, tâm sự, ca ngợi, cảm tạ và cầu xin. Trí khôn thì suy nghĩ hay chiêm ngắm một chân lý trong đạo, một mầu nhiệm, một lời Kinh Thánh hay một hành vi của Chúa Giêsu. Ý muốn thể hiện bằng việc quyết tâm thi hành trong đời sống một điều gì liên hệ tới đề tài nguyện gẫm. Yếu tố cuối cùng này chính là yếu tố của một tình yêu hữu hiệu (amour effectif).
Như thế, nếu hằng ngày kiên trì làm đúng và tốt việc nguyện gẫm của ta, thì đó chính là một trong những cách bày tỏ lòng mến Chúa, cụ thể và trung thực.
* Trong “Ðạo Ðức Chúa Trời có mười điều răn” thường thấy đọc trước Thánh Lễ Chúa Nhật trong các nhà thờ xứ, sau kinh Nghĩa Ðức Tin, người ta ê a khởi đầu : Thứ nhất, thờ phượng một Ðức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự. “Trên hết mọi sự” : một cách nói khác, một cách xác định vắn tắt hơn phẩm chất của tình yêu dành cho Chúa. Nó nhấn mạnh đối tượng yêu (Chúa) hơn là chủ thể yêu (ta). Chúng ta có nhiều đối tượng để yêu, từ những đồ vật để yêu thích đến những con người để yêu thương hay yêu kính. Dù đó là vật ta thích nhất, dù đó là người ta yêu nhất, dù đó là vị thánh ta kính nhất, tất cả đều chỉ là tạo vật, không thể bì với Thiên Chúa là Ðấng tạo thành mọi loài mọi vật. Yêu Chúa chỉ như yêu các tạo vật khác, hoặc yêu ít hơn các tạo vật khác, thì không còn phải là yêu Chúa, nhưng là xúc phạm tới Ngài. Yêu theo cách đó là không biết đến tình yêu cao cả của Thiên Chúa, hoặc khinh rẻ tình yêu này. Chúa Giêsu đã cảnh giác ta về điều đó khi Ngài nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,47). Chúa là một Thiên Chúa cả ghen (Xh 20,5), không chấp nhận ta coi Ngài ngang hàng với thụ tạo, huống hồ còn kém hơn thụ tạo.
Thế chẳng hạn một người mẹ tỏ ra âu yếm với con mình mà không có tình cảm ấy đối với Chúa thì sao? Chẳng sao cả. Chúa đâu có đòi phải dành cho Ngài mọi chi tiết biểu lộ tình yêu, nhất là về phương diện tình cảm, như ta dành cho thụ tạo. Ðể tỏ ra yêu Chúa trên hết mọi sự, điều chủ yếu là luôn nhận Ngài có giá trị hơn hết, để Ngài hướng dẫn hữu hiệu mọi sự lựa chọn của ta, và sẵn sàng tự hiến cho Ngài.
3. “Ðặt Chúa như chiếc ấn trên trái tim” (Dc 8,6)
Ở trên, chúng ta đã thấy Chúa dạy phải yêu mến Ngài như thế nào : yêu với tư cách cá nhân, yêu Ngài trên hết mọi sự, yêu hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn. Giờ đây chúng ta thử xem, trong đời sống cụ thể, phải vun trồng lòng yêu mến ấy như thế nào.
Có vô số cách nuôi dưỡng lòng yêu mến Chúa. Mỗi người có ơn riêng, có cách thức riêng của mình. Có thể dựa vào việc nguyện ngắm, chiêm niệm, như nói ở trên. Có thể dựa vào lời Chúa, trong đó ta cảm thấy như Ngài dang sống và đàm đạo với ta. Có thể nuôi dưỡng tình yêu bằng kinh nguyện. Nhưng dù theo bất cứ cách nào, vẫn cần có ơn Thánh Thần, vì chỉ Thánh Thần biết Ðức Giêsu là ai, chỉ Thánh Thần mới gợi lên trong ta lòng yêu mến Chúa.
Tưởng cũng nên lưu ý một phương thế rất được truyền thống quý trọng, nhất là truyền thống Ðông Phương. Ðó là nhớ đến Chúa Giêsu. Trí nhớ là cửa sổ mở vào tâm hồn và yêu ai thì năng nhớ đến người đó. Người tín hữu yêu Chúa cũng phải năng nhớ đến Chúa. Chính Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ như thế khi Ngài nói: “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Thánh Phaolô cũng từng cho thấy mối liên hệ giữa Chúa Kitô và trí nhớ của mình khi ngài viết: “Tình yêu của Ðức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi xác tín rằng : nếu một người đã chết thay cho mọi người.” (2Cr 5,14). Xác tín, theo nghĩa của từ hy lạp, là suy nghĩ và cân nhắc trong trí. Khi ta suy nghĩ và cân nhắc trong trí sự kiện Ðức Kitô đã chết vì ta, vì mọi người, chúng ta như được thôi thúc lại yêu mến Chúa. Ý nghĩ hay tưởng nhớ đến Ngài làm cho tình yêu của ta bừng cháy lên.
Chúng ta phải coi Chúa Kitô như là lý tưởng của cuộc đời mình. Phải say mê và muốn cho mọi người biết đến Ngài. Say mê Chúa Kitô, và rồi làm cho người khác yêu mến Ngài, tưởng không còn ơn gọi nào đẹp đẽ hơn.
Trong một đoạn của sách Diệu ca, nàng (theo cách giải thích truyền thống, chính là linh hồn) nói với chàng: “Xin đặt em như chiếc ấn trên trái tim anh, như con dấu trên cánh tay anh” (Dc 8,6). Chàng, hay Ðức Kitô, đã chấp nhận lời xin này. Ngài đã thật sự đặt ta như con dấu trên trái tim và trên cánh tay Ngài. Con dấu là con dấu bằng máu, không phai mờ.
Nhưng ta xin Chúa thế nào, thì Chúa cũng đòi ta như thế. Có đi có lại. Tức là ta cũng phải đặt Ðức Kitô như con dấu trên trái tim ta. Vì vậy mà giờ đây, chính Ðức Kitô nói với Giáo Hội và với ta: “Ngươi hãy đặt Ta như chiếc ấn trên trái tim ngươi”. Ấn có đó, không phải để cấm cản ta yêu người nào hay vật nào khác, nhưng để ta không yêu người ấy hay vật ấy mà không có Chúa, hoặc ngoài Chúa. Nhất là không để cho người ấy vật ấy chiếm hẳn chỗ của Chúa trong lòng ta. (x. R.Cantalamessa, Jésus-Christ, le Saint de Dieu, Mame 1993, pp.145-146)
***
Trong cuốn Confessions, thánh Augustinô đã viết một lời cầu nguyện mà cũng là một suy nghĩ về tình yêu của ngài đối với Chúa. Tôi mượn những lời của vị đại tiến sĩ này để kết thúc bài suy niệm hôm nay. Lời cầu nguyện ấy như sau:
“Lạy Chúa, một điều không nghi ngờ, một điều lương tâm con chắc chắn, đó là con yêu Chúa. Chúa đã dùng lời Chúa đánh động lòng con. Trời đất và muôn loài trong đó từ tứ phía bảo con yêu mến Chúa, và chúng không ngừng bảo mọi người làm như thế, để họ vô phương chữa mình.
“Nhưng khi con yêu Chúa, thì con yêu cái gì ? Không phải con yêu nét mỹ miều của một thân xác, không phải vẻ tươi đẹp của thời tiết, không phải sự huy hoàng của ánh sáng mà mắt con vẫn thích, không phải sự du dương êm dịu của những bản tình ca đủ loại, không phải hương ngon vị ngọt của hoa, của trầm, của thuốc thơm, không phải manna và mật ong, không phải những cánh tay ấp yêu nhục dục. Khi con yêu Chúa thì không phải con yêu những cái đó.
“Nhưng khi con yêu Chúa, con lại vẫn yêu một ánh sáng, một âm thanh, một hương vị, một ấp yêu, vì Chúa là ánh sáng, là âm thanh, là hương vị, là ấp yêu của con người bên trong của con. Ở đó, ánh sáng soi chiếu hồn con, mà không gian không hạn chế nổi. Ở đó, âm thanh vang lên mà không bị thời gian làm tiêu tan. Ở đó, hương thơm bay toả mà không tản mát trong gió. Ở đó, thần lương không trở thành ớn ngấy khi người ta no say. Ở đó, có ấp yêu mà không thoả mãn nào làm lơi lỏng. Ðó chính là cái con yêu, khi con yêu Chúa” (livre X, ch.6).
Nếu không có được cảm nghiệm như Augustinô bày tỏ trong phần sau của lời cầu nguyện, ít nhất chúng ta cũng có thể lặp lại xác quyết của ngài ngay lúc đầu : Lạy Chúa, điều con chắc chắn là con yêu Chúa.
Khi trả lời cho một nhà thông luật hỏi xem điều răn nào trọng nhất trong Lề Luật, Ðức Giêsu cho biết: Ðiều răn thứ nhất là yêu mến Thiên Chúa, điều răn thứ hai là yêu thương người thân cận. Không có điều răn nào lớn hơn hai điều răn ấy (Mc 12,28tt; Mt 22,34tt). Qua lời Chúa dạy trên đây, có thể khẳng định hai điều : điều răn yêu người thật quan trọng, và mối liên hệ bất khả phân ly của nó với điều răn mến Chúa.
Nhưng không chỉ có vậy. Chúa còn đi xa hơn, coi yêu mến nhau là lệnh truyền độc nhất (Ga 15,12), là điều răn mới (Ga 13,34), cho dù nó đã có từ lúc khởi đầu mạc khải. Theo Ngài, yêu thương anh em là yêu mến Ngài và yêu mến Thiên Chúa (Mt 25, 40). Ngược lại, không yêu thương anh em là không yêu mến Ngài và không yêu mến Thiên Chúa. Tông Ðồ Gioan sau này sẽ giải thích: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20). Rốt cuộc, chỉ có một tình yêu hướng về hai đối tượng, hoặc một tình yêu với hai mặt : Thiên Chúa và các anh chị em.
Ðã nói đến yêu Chúa thì cũng phải nói đến yêu người. Ðối tượng thứ hai này của tình yêu là đề tài của bài suy niệm hôm nay.
1. “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mc 12,31)
* Con người ta vốn có sự vị tha bẩm sinh. Yêu thương là thuộc về bản năng của con người. (Mà chẳng cứ gì con người, các loài vật khác, nói chung, cũng có bản năng này, ít nhất đối với các con nhỏ của chúng. Ta còn thấy những trường hợp đặc biệt: con vật loài này yêu thương con vật loài khác. Chó và mèo thường gầm gừ nhau, nhưng phim Benji chẳng hạn cho thấy một con chó rất thương và đùm bọc những con báo mới sinh, mà mẹ của chúng đã bị thợ săn giết chết).
Hơn những người khác, người kitô hữu chúng ta không chỉ sống bằng sự vị tha bẩm sinh, còn nhiều tuỳ tiện và hạn chế, nhưng sống theo một lệnh truyền thực sự, lệnh truyền của chính Thiên Chúa, được cả Cựu Ứớc lẫn Tân Ước đưa ra : Phải yêu người khác, phải yêu đồng loại.
Yêu mà lại bị bắt buộc sao ? Người ta có thể ra lệnh cho tôi làm điều này điều nọ, chứ không thể ra lệnh cho tôi phải yêu. Tình cảm hoặc có hoặc không có. Trái tim hoặc rung động hoặc không rung động. Cho nên, lệnh truyền là vô ích hoặc không thể thực hiện. Vô ích, vì nếu tôi yêu, chả cần phải ra lệnh. Không thể thực hiện, vì nếu tôi không yêu, không thể buộc tôi yêu được. Không thể buộc có tình cảm khi không có tình cảm. Không thể buộc con tim rung động khi nó trơ trơ như phỗng đá trước một đối tượng. Vờ yêu thì có, chứ yêu thật thì không.
Ðấy là một thắc mắc. Thực sự, thắc mắc này đúng, nếu là về một tình yêu chỉ thuần tuý dựa trên tình cảm, hoặc một tình yêu nhằm chiếm đoạt. Nhưng ở đây lại là tình yêu thuộc ý muốn, tình yêu hiến dâng, tuy không gạt ra ngoài yếu tố tình cảm. Ðiều ta muốn và cố gắng làm là giúp cho người mình yêu được sự lành và hạnh phúc.
Hơn nữa, chúng ta yêu thương không phải do một lệnh truyền thuần tuý. Bác ái của ta có một nguyên uỷ và một động lực sâu xa. Ðó là vì Thiên Chúa đã yêu thương ta, yêu thương mọi người, đặc biệt qua Ðức Kitô. Chính tình yêu này giờ đây được đổ xuống lòng ta, nhờ bởi Thánh Thần là Ðấng liên kết chúng ta trong mối dây bác ái, để chúng ta có thể và phải yêu thương nhau. Ðược sống trong tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta cũng phải yêu thương người khác. Chính ý thức trên đây là lý do khiến chúng ta trung thành với lệnh truyền của Chúa.
* Nhưng thế nào là yêu người ? Nói đến yêu, tiên vàn là nói đến một tình cảm. Yêu là một tình cảm hướng về người khác, dựa vào giá trị thực sự của người đó, vượt lên trên những gì là lôi cuốn hấp dẫn giác quan. Một tình yêu như vậy đòi có một khoảng cách nào đó giữa người yêu và người được yêu. Một khoảng cách vừa xa vừa gần, xa mà gần. Xa đủ để kính trọng. Gần đủ để yêu thương. Xa quá có thể làm cho người ta hết yêu (xa mặt cách lòng). Người chỉ biết “kính nhi viễn chi” là người khó có thể yêu. Nhưng gần quá lại có nguy cơ làm biến chất tình yêu, làm biến chất người yêu. Nó có thể trở thành một thứ ham muốn và chiếm đoạt. Yêu ai không phải là làm tôi cho người ấy, cũng không phải là bắt người ấy làm tôi cho mình. Nếu không, một trong hai sẽ trở thành đồ vật, không còn là nhân vị để yêu hay được yêu. Như vậy, yêu một người vừa phải hướng tới người đó thật gần gũi, vừa phải giữ một khoảng cách để kính trọng người đó. Có thể thấy điều này trong cách ta yêu Chúa : vừa mở hết tâm hồn cho Ngài, vừa tuyệt đối kính trọng Ngài. Cả hình thức thân mật nhất của tình yêu nhân loại là tình yêu đôi lứa cũng có đòi hỏi tương tự. Hai người càng muốn có sự kết hợp hoàn toàn với nhau, càng phải biết bảo vệ sự ngăn cách giữa hai bên, để còn kính trọng nhau (Nhiều cô gái nhẹ dạ cảm thấy bẽ bàng sau một cuộc tình, khi anh chàng quất ngựa truy phong, cũng là vì không biết giữ cái khoảng cách đó).
Ðiều có giá trị đối với bất cứ tình yêu nào, cũng có giá trị đối với bác ái huynh đệ kitô giáo. Bác ái này tiên vàn là một tình cảm của lòng ta, bám rễ trong tình cảm yêu mến tự nhiên. Tuy vậy, nó còn thấm nhuần tình yêu siêu nhiên, hướng tới giá trị sâu xa nhất của người khác, đến nỗi có thể yêu thương cả kẻ thù, điều không thể xẩy ra nếu chỉ có tình cảm tự nhiên.
Ngoài tình cảm yêu thương, quý mến, kính trọng, bác ái huynh đệ còn là sự làm ơn, làm tốt cho người khác. Tôi không chỉ muốn thấy người tôi yêu được hạnh phúc, mà còn muốn làm cho người tôi yêu được hạnh phúc. Từ một tình yêu trong tình cảm tiến tới một tình yêu hành động, một tình yêu được gọi là hữu hiệu.
Ý muốn làm điều tốt cho người khác còn phát xuất từ tình cảm liên đới với người khác. Mà tình cảm liên đới này lại là do tình yêu của Thiên Chúa đổ vào lòng ta. Ta thấy mình liên đới gắn bó với người khác trong một cộng đồng tình yêu, môt cộng đồng sinh mệnh. Trong cộng đồng này, mỗi người đều phải tìm cách duy trì và tăng cường tình yêu nơi mình cũng như nơi người khác. Trong cộng đồng này, mỗi người là phần tử của nhau, có trách nhiệm với nhau, quan tâm tới nhau, đồng cảm với nhau trong đau khổ cũng như trong hạnh phúc, như lời Phaolô nói: “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau; nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1Cr 12,26).
* Phải yêu người thế nào như Tin Mừng đòi hỏi ? Ðối với Thiên Chúa, lệnh truyền buộc ta phải yêu Ngài hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn. Ðối với con người, lệnh truyền đơn giản hơn, nhưng cũng đòi hỏi không kém : phải yêu người như yêu mình (“Thương người như thể thương thân” như ca dao Việt Nam nói).
Về chuyện yêu mình, trộm nghĩ chẳng cần bàn. Trong bất cứ trường hợp nào, bất cứ tình huống nào, ai nấy đều biết phải yêu mình ra sao. Cái khó là yêu mình thế nào, thì cũng phải yêu người khác thế ấy.
Cựu Ước đã từng cắt nghĩa lệnh truyền trên đây bằng một quy tắc cụ thể: “Ðiều gì con không thích, thì cũng đừng làm cho ai cả” (Tb 4,15). Ðây là lời của Tôbít khuyên con là Tôbia, sau trở thành luật vàng (règle d’or) cho cách sống của dân Chúa. Ðức Giêsu đã lặp lại luật vàng này, đồng thời làm trọn nó, như làm trọn Lề Luật nói chung (Mt 5,17). Thay cho hình thức tiêu cực (đừng làm), Ngài khoác cho nó một bộ mặt tích cực (hãy làm). Ngài nói: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12; Lc 6,31). Nhất là Ngài xác định rõ sự tương đương giữa yêu người và yêu mình, dựa vào chính tình yêu của Ngài đối với con người: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Mà tình yêu của Ðức Giêsu đối với ta lại là một tình yêu thí mạng sống mình vì người mình yêu, một tình yêu là của Thiên Chúa (Ga 15,9.13).
Do tình yêu này mà tình yêu của ta đối với chính mình cũng như đối với người khác mang một sắc thái mới. Yêu mình và yêu người, cả hai tình yêu không còn phải là do bản năng, nhưng do động lực là tình yêu của Chúa. Phải yêu mình như mình được Chúa yêu. Phải yêu người như họ được Chúa yêu. Vì chỉ có một tình yêu của Chúa dành cho ta và cho người khác, nên ta phải yêu người khác như yêu chính mình ta.
“Như” là một khía cạnh cần được xác định rõ. “Như” không chỉ là tương tự, là giống, nhưng là “bằng”. Yêu người khác bằng yêu mình. Yêu bằng mình cả về mức độ lẫn về thời gian. Không phải tiên vàn yêu mình đã, rồi sau mới yêu người. Ðợi cho yêu mình xong, hẳn đến “Tết Congo” mới nghĩ đến chuyện yêu người. Cả hai tình yêu này phải tăng trưởng cùng một lúc.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý : “bằng” ở đây là xét về lý do, chứ không phải trong cách thể hiện. Lý do : vì cùng một tình yêu của Chúa; vì cả ta lẫn người khác đều xứng đáng với cùng tình yêu ấy; vì cả ta lẫn người khác đều có cùng một giá trị. Nhưng cách thể hiện tình yêu thì có thể khác nhau. Chúa không đòi ta bất cứ khi nào yêu người cũng phải có cùng một cường độ cảm ái như khi yêu mình. Chúa cũng không dạy phải làm cho người khác bất cứ điều gì làm cho mình.
(Muốn rõ vấn đề, phải phân biệt tình yêu và trách nhiệm. Xét về trách nhiệm, tôi phải có trách nhiệm về tôi, con người của tôi, thiện ích của tôi, hơn là về những cái đó nơi người khác. Chúa ban cho mỗi người có sự tự do để chịu trách nhiệm về mình, chứ ta không có quyền làm chủ trên sự tự do của người khác. Bởi vậy, yêu người như yêu mình không có nghĩa là phải thấy mình hoàn toàn có trách nhiệm về sức khoẻ, đời sống, thiện ích của người khác hệt như về sức khoẻ, đời sống và thiện ích của mình. Không phải khi tôi dùng một viên thuốc cảm thì cũng phải cho người khác viên thuốc cảm. Theo một nghĩa nào đó, và trong một giới hạn nào đó, thì người thân cận đầu tiên chính là tôi. Nếu không phân biệt hai lãnh vực tình yêu và trách nhiệm, có thể rơi vào trường hợp mà Chúa cảnh giác: chỉ đăm đăm nhìn cái rơm trong mắt người, mà không lo cái xà trong mắt mình (x.Mt 7,3-5). Không chịu trách nhiệm trực tiếp về người khác, nhưng xét về tình yêu, ta vẫn là người đồng trách nhiệm. Thực hiện việc đồng trách nhiệm này như thế nào, với mức độ nào, còn tuỳ hoàn cảnh, tuỳ công việc, tuỳ vai trò của ta đối với người khác.)
Một cách tổng quát, người nào chỉ biết lợi ích của mình, mà không lo lắng chút nào về lợi ích của người khác đang lâm nguy, và lợi ích này cũng tương đương hoặc lớn hơn lợi ích của mình, người đó là người yêu mình hơn đồng loại, hoặc đúng hơn, quá yêu mình theo bản năng, chứ không theo tình yêu của Chúa.
2. “Ai là người thân cận của tôi”(Lc 10,29)
* Theo tác giả Luca, sau khi trưng dẫn lệnh truyền yêu người trong sách Lêvi (19,18), nhà thông luật còn hỏi Chúa tiếp: “Vậy ai là người thân cận của tôi?” (hoặc: ai là người đồng loại của tôi?). Có nghĩa là : ai là người tôi phải yêu thương ? người đồng chủng, người ngoại giáo, người ngụ cư trên đất Israel, hay bất cứ người nào tôi gặp ?
Chúa không trả lời trực tiếp câu hỏi, không định nghĩa thế nào là người thân cận, nhưng diễn giải bằng dụ ngôn người Samari nhân hậu. Dụ ngôn này, chúng ta đã quá biết, gồm 4 nhân vật, có thể nói, thuộc 3 loại người : một người Do thái nào đó bị kẻ cướp “lèn” (Trần Tế Xương : “Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông”) trên đường từ Giêrusalem xuống Giêricô, hai người thuộc hàng tư tế do thái đi ngang qua, một người Samari, thường bị coi là thuộc một chủng tộc và tôn giáo không còn thuần nhất như người Do thái, cũng tình cờ qua đó.
Nạn nhân thì cần được cứu giúp là chuyện tất nhiên. Người ta cứ tưởng thầy tư tế và thầy lêvi, hai người đồng chủng đồng tôn với người bị nạn, sẽ mau mắn làm công việc này. Nhưng thật tệ, họ “tránh qua bên kia mà đi”. Ðến lượt người Samari. Chẳng ai trông chờ một hành động nghĩa hiệp của người này cả. Ông ta có thể tự nhủ: “Ðây là một người xa lạ, tôi đâu biết”, “Ðây là một người Do thái, không mắc mớ gì với tôi hết”. Chắc hẳn nhiều lần chúng ta cũng đã tự nhủ như thế, khi đứng trước một sự việc tương tự (hoặc đúng hơn, chúng ta sợ phiền phức). Nhưng nhân vật của chúng ta đã không nghĩ như vậy, mà có tâm tình và hành động ngược hẳn. Tức là “chạnh lòng thương” (một từ hay được dùng để diễn tả tấm lòng của Thiên Chúa), săn sóc cho nạn nhân, không chỉ bước đầu, nhưng là cho tới khi nạn nhân bình phục. Tử tế và nhiệt tình đến thế là cùng !
Kể xong câu truyện, Chúa hỏi nhà thông luật: “Theo ông nghĩ, trong 3 người ấy, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”. Nếu để ý, chúng ta thấy Chúa thay đổi ý nghĩa câu hỏi của nhà thông luật. Thay vì : Ai là người thân cận của tôi ?, bây giờ đại khái là : Tôi là người thân cận của ai? Trong bậc thang giá trị mới, “cái tôi” không còn phải là trung tâm bắt người khác hướng về mình. Trung tâm bây giờ là tha nhân mà tôi phải hướng tới. Tuy nhiên, đây không phải là một sự hệ thống hoá áp dụng cho mọi trường hợp, nhưng chỉ là một quy tắc hành xử thuần tuý mỗi khi đứng trước một người đang cần được giúp đỡ.
Người Samari đã trở thành thân cận với nạn nhân, vì đã hướng tới anh ta, giúp anh ta trong lúc ngặt nghèo, trong tình trạng thập tử nhất sinh, khác với hai người thuộc hàng tư tế, tưởng là những người thân cận, nhưng thực tế lại là những người xa lạ, vì đã thờ ơ với ngưòi bị nạn. Chính bác ái làm cho người ta trở thành người thân cận. Chính bác ái làm cho người ta thành anh (chị) em của mọi người.
Nếu áp dụng cho ngày hôm nay câu hỏi “Tôi là người thân cận của ai ?”, thì thứ tự bình thường sẽ là : Nếu là cha mẹ, người thân cận là con cái. Nếu là con cái, người thân cận là cha mẹ. Chồng là người thân cận của vợ và ngược lại. Người hàng xóm đối với người hàng xóm. Từng tu sĩ đối với nhau trong cộng đồng. Người thân cận tiên vàn là người có một mối liên hệ nào đó với người khác, thân hay sơ. Nhu cầu của người ấy thúc đẩy người gần hơn phải sẵn sàng đáp ứng. Nhưng trên nguyên tắc, không có một ranh giới nào hết, không có tiêu chuẩn về họ hàng, bạn bè, chủng tộc, lý tưởng. Chúng ta có thể trở nên người thân cận của mọi người, bất kể là ai, khi Chúa quan phòng đặt ta trước nỗi khổ của người đó, mở lòng ta, và cung cấp cho ta phương tiện giúp đỡ người đó. Thực hiện như thế là một trong những cách chúng ta chu toàn điều răn yêu người.
* Có một loại người thân cận mà chúng ta cần đặc biệt ghi nhận : kẻ thù. Kẻ thù cũng là người thân cận. Kẻ thù ở đây hiểu theo nghĩa rộng nhất, từ những người không thể dung hợp với ta về đường lối suy nghĩ, cung cách sống và hành xử, đến những người thực sự tranh chấp đối kháng lại ta, và cuối cùng là những người chủ ý làm khổ, bách hại ta. Người kitô hữu mà lại dám coi ai thực sự là kẻ thù, với một thái độ khăng khăng kéo dài sao? Không dám đâu! Sái tinh thần Phúc Âm quá. Nhưng thù nghịch với người này người nọ, lúc này lúc khác, hẳn là có đấy. Tôi nghĩ vậy. Vả lại, cho dù ta không thù nghịch với ai, vẫn có thể có người thù nghịch với ta. Chúa còn có kẻ thù nữa là. Vậy đối với người thù nghịch, ta phải tỏ thái độ nào cho phù hợp với Tin Mừng?
Chúa dạy ta phải yêu kẻ thù (Mt 5,45). Nếu yêu thương là điều tốt lớn nhất thì thù ghét là điều xấu lớn nhất. Bởi vậy, tuyên dương tình yêu thì đồng thời cũng lên án sự thù ghét. Ðó là điều phải lẽ. Chúng ta không được thù ghét ai. Thế đã là tốt. Nhưng Chúa còn tiến thêm một bước : dạy ta phải yêu cả kẻ thù. Ðây là một lệnh truyền, là thành phần chủ yếu của lệnh truyền yêu nhau. Một lệnh truyền chứ không phải một lời khuyên. Có giữ lệnh truyền này mới xứng đáng là con cái Cha trên trời. Vì sao? Vì Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, và ban tình yêu của Ngài cho ta, để ta có thể và phải yêu thương hết mọi người, bất kể là bạn hay thù. Yêu kẻ thù là một thứ đá thử vàng, xem tình yêu của ta có rập theo khuôn mẫu tình yêu của Thiên Chúa chăng.
Quả thực, tình yêu của Thiên Chúa đối với ta không chỉ là tình yêu bạn hữu, nhưng, theo một nghĩa rất thật, còn là sự yêu thương kẻ thù. Ta mà lại là kẻ thù của Thiên Chúa sao? Không sai. Thư Rôma đã viết rõ: “Ðức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của người Con ấy” (Rm 5,8-10). Ngay từ đầu, tình yêu của Thiên Chúa là dành cho các tội nhân. Mục tiêu và cố gắng của Ngài là chiến thắng sự thù nghịch của ta. Ngài muốn biến thù thành bạn. Cái giá phải trả cho ý muốn này chính là sự chết của Con Ngài là Ðức Kitô. Sự chết này cũng cho ta thấy rõ hơn bản chất của lệnh truyền yêu kẻ thù.
Nói đúng ra, yêu một kẻ thù không phải là yêu người đó trong tư cách kẻ thù. Yêu như thế là ngược ngạo, là hư đốn. Thánh Tôma gọi đó là vicieux. Còn khoa tâm lý ngày nay liệt người yêu như thế vào loại masochiste (không theo nghĩa chuyên môn “khổ dâm”, nhưng là khoái đau, thích đau. Kẻ thù làm cho mình đau mà vẫn khoái. Khoái vì được đau). Chúng ta yêu kẻ thù chỉ vì họ được Thiên Chúa yêu thương kêu gọi đến cùng một tình yêu bạn hữu như ta. Ngài muốn cho cả kẻ thù được hưởng thiện ích lớn nhất là thông hiệp vào cùng một tình bạn thần linh. Mục tiêu này luôn phải định hướng cách xử sự của ta đối với kẻ thù, trong từng tình huống cụ thể.
3. Những đặc tính của lòng mến (1Cr 13,4-7)
* Từ đầu tới giờ, có thể nói chúng ta chỉ suy niệm về lý do, ý nghĩa và phạm vi của lệnh truyền yêu người. Lúc này, chúng ta muốn đề cập đôi chút về sự thực hành tình yêu này. Về thực hành, chúng ta đã được nghe quá nhiều lời dạy, lời khuyên, hầu như hằng ngày. Tương truyền, vào những ngày cuối đời, trong tất cả các bài giảng, Tông Ðồ Gioan hầu như chỉ khuyên các tín hữu yêu nhau, đến nỗi nhiều người cảm thấy nhàm chán, lắc đầu quầy quậy. Mặc kệ, Gioan vẫn nói. Bởi chính đó là điều cốt yếu lời Chúa muốn dạy, mà Gioan chỉ là người truyền đạt. Quả thực, Sách Thánh, nhất là Tân Ước, từng trang từng trang đều có những lời lẽ ít nhiều liên hệ tới bác ái huynh đệ. Có bác ái trong tư tưởng. Có bác ai trong lời nói. Có bác ái trong việc làm.
Bằng những nét lớn, dễ nhớ, 7 trong số 10 điều răn dạy ta phải yêu người thế nào. Chúng ta còn được nhắc nhở thực hiện bác ái cách cụ thể và thực tế hơn nữa trong kinh “Thương người có 14 mối : thương xác 7 mối, thương linh hồn 7 mối”. Liệt kê và khai triển cách thực hành bác ái là chuyện không thể, huống hồ trong phạm vi một bài suy niệm. Người viết không làm nổi đã đành, mà người đọc e rằng cũng có tâm trạng như các thính giả của Gioan ngày trước. Ðành phải chọn lựa. Tôi chọn mấy câu trong “Bài ca đức mến” nổi tiếng của Phaolô (1Cr 13).Mở đầu bài ca này, Phaolô nói lên sự cao trọng tuyệt vời của đức mến (cc.1-3). Tiếp đến là những đặc tính phong phú của đức mến (cc.4-7). Cuối cùng là sự vĩnh tồn của nó (cc.8-13).
Những đặc tính của đức mến được Phaolô diễn tả như sau: “Ðức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, khônglàm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù,không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Ðức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”.
Nghe những lời trên đây trong một số bản dịch, chúng ta có cảm tưởng coi bộ Phaolô nhấn mạnh những tình cảm của đức mến thôi, tức là những gì cần có trong tâm hồn, để chứng tỏ là yêu người. Thực ra, nguyên bản hy lạp không dùng những tính từ suông, không nói chung chung khái quát, mà đưa ra một loạt 15 động từ, cho thấy đức mến đòi chúng ta có những hành động thực hiện cụ thể. Có hành động phải làm. Có hành động không được làm.
Chúng ta suy nghĩ cách riêng một đặc tính được nêu ra ở đầu câu 7 : đức mến tha thứ tất cả. Tha thứ, yên lặng bỏ qua các điều xấu người khác làm cho mình, vô tình cũng có, hữu ý cũng có.
Cựu Ưỡc đã từng nêu ra một số gương tha thứ, chẳng hạn : Giuse tha thứ cho các anh đã bán ông lúc còn nhỏ cho các lái buôn sang Ai Cập; Ðavít tha thứ cho Saolê. Trong Phúc Âm, hẳn chúng ta không quên có lần Phêrô hỏi Chúa xem phải tha thứ cho anh (chị) em bao nhiêu lần, có phải 7 lần không (Mt 18,21tt). 7 là con số hoàn hảo của Kinh Thánh. Phêrô tưởng tha như vậy đã là vượt mức, so với việc tha 3 lần theo cách thực hành của các rabbi thời trước. Chúa đã trả lời cho Phêrô bằng một câu xác quyết và một dụ ngôn. Câu xác quyết là một cách chơi chữ, chỉ có nghĩa : tha thứ không cùng, không hạn định số lần. Còn dụ ngôn cho biết thêm : sự tha thứ không căn cứ ở lỗi lầm nặng hay nhẹ, cũng không căn cứ ở địa vị người tha hay người được tha. Nhất là qua dụ ngôn, ta thấy ý nghĩa đích thực của sự tha thứ trong đạo ta : tha thứ cho người khác vì chính mình đã được Thiên Chúa tha thứ trước và tha thứ không cùng. Sự tha thứ của ta không chỉ là một bổn phận luân lý, có một giới hạn nào đó, nhưng phát xuất từ ý thức mình được tha thứ, rập theo hành vi tha thứ của Thiên Chúa, và nối dài hành vi này đối với các anh chị em mình.
Ðức Giêsu không những dạy mà còn nêu gương, khi trên Thập giá, Ngài đã “xin Ðức Chúa Cha tha tội cho kẻ làm khốn mình” (kinh cầu Chịu Nạn ; Lc 23,34). Chưa hết. Ngài còn tìm cách giảm tội cho kẻ phạm “vì lầm chẳng biết” (Ngắm 15 sự Thương Khó; Lc 23,34), tìm cách đưa họ vào nơi hạnh phúc khi hứa Thiên đàng cho người trộm lành.
Thiết nghĩ trong cuộc sống chung đụng hằng ngày giữa những ngưòi sống bên nhau hoặc sống với nhau trong một cộng đồng, phải nhận rằng có lắm chuyện gây bực mình. Lỗi có thể một phần do người, nhưng lắm khi một phần cũng do ta, mà thường ta cố chấp không chịu nhận, và cứ đổ riết cho người. Ừ thì cứ cho rằng lỗi ở nơi người anh chị em đi nữa, chúng ta cứ nhớ lại lời Chúa dạy : phải tha thứ, tha nhiều, tha luôn. Tha, không chỉ để thực tế có thể sống với nhau. Chẳng lẽ ra vào thấy nhau luôn mà mặt mũi cứ sưng như mắc quai bị. Chịu sao thấu! Người nhìn mặt sưng chịu không thấu đã đành, mà chính người sưng mặt cũng chịu không thấu nữa. Bầu khí nặng nề chết! Tha, cũng không phải vì mình không làm gì được người có lỗi, nên ép mình mà tha vậy. Tha, chủ yếu là vì ta đã nhận được hồng ân của Chúa, mà ơn lớn nhất là Ngài đã tha thứ cho ta.
Lời xin thứ năm của kinh Lạy Cha đọc hằng ngày hẳn phải giúp ta ý thức điều đó. Và lời thư Êphêsô (4,26) đọc Giờ Kinh Tối mỗi thứ tư là một lời nhắc nhở cụ thể: “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn”.
Bác ái huynh đệ ngày càng được coi là dấu chỉ đặc trưng nhất, khả tín nhất của một đời sống kitô giáo trung thực (Nhất là trong thế giới hôm nay, càng văn minh, càng xuất hiện những hình thức ích kỷ, áp bức, bạo hành. Kinh tế đi lên thì nhân bản lại có mòi đi xuống). Ðược nhắc nhở nhiều, hiểu biết ý nghĩa và tầm quan trọng của bác ái trong đời sống, chúng ta hãy cố gắng thực hiện cho nhau, cho mọi người. Hãy mở mắt nhìn đến những nhu cầu của anh chị em, như người Samari biết nhìn đến nạn nhân trên đường. Hãy lắng tai nghe tiếng kêu trầm thống của những người cần được ta giúp đỡ. Hãy mở rộng tay làm việc bác ái cụ thể cho người. Ðó là dấu chỉ cho thấy chúng ta là những môn đệ đích thực của Chúa, biết sống theo lệnh Chúa truyền. Ðó là một trong những cách minh chứng hữu hiệu về Chúa và về đạo.
***
Những điều trên đây được diễn tả bằng một lời cầu nguyện rất hay trong Phụng vụ Giờ Kinh của Giáo Hội:
Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt
Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi
Con mù loà, bên vệ đường hành khất
Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài
Cúi lạy Ngài, cho tai con nghe rõ
Tiếng tha nhân cầu khẩn lượng hải hà
Họ khổ đau, họ kêu gào than thở
Ðừng để con cứ giả điếc làm ngơ
Cúi lạy Ngài, xin mở rộng tay con
Luôn nắm lại giữ khư khư tất cả
Trước cửa nhà có người nghèo đói lả
Xin dạy con biết chia sẻ vui lòng . . .
(Thánh Thi Giờ Kinh Sách Thứ Năm Tuần II).
Hãy dùng nó làm lời cầu nguyện, xin cho ta biết làm những việc bác ái cụ thể cho các anh chị em của ta.
Chúng ta đã biết lời Chúa nói với các môn đệ: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Tình yêu huynh đệ phát xuất từ tình yêu của Chúa, noi theo tình yêu này. “Noi theo” là phần đóng góp của ta, dựa vào ơn Chúa ban. Chúng ta phải quan tâm và cố gắng thực hiện hết mình. Thế nhưng, phần đóng góp này chỉ là một khía cạnh nhỏ nhoi so với nguồn mạch tuyệt vời là tình yêu của Chúa đối với ta. Chính tình yêu này thôi thúc chúng ta, như Phaolô nói (2Cr 5,14).
Do đó, con đường duy nhất, ngắn nhất, để chúng ta có thể thực sự yêu nhau, là con đường qua Ðức Kitô và sống trong Ngài. Vậy phải làm một cuộc tái sinh. Sinh lại vào trong cách yêu thương của Chúa. Ta chỉ có thể làm được điều này nhờ Thần Khí. Cần có ơn Chúa để cải biến chúng ta, giúp ta có thể mặc lấy tâm tình của Chúa, cách hành xử của Chúa, khi chúng ta yêu thương anh (chị) em.
Vậy tâm tình của Chúa yêu thương chúng ta, nó ra làm sao? Ngài yêu thương chúng ta theo cách nào? Ai là người được Ngài yêu thương nhất ? Ðể chúng ta theo gương Ngài mà làm như vậy. Ðó là mấy điểm chính tôi muốn gợi ra trong bài suy niệm này.
1. “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”(Mt 11,29)
* Cách thể hiện bên ngoài chỉ là biểu lộ tâm tình bên trong, biểu lộ một tấm lòng. Lòng mới là cơ bản. Từ trong lòng xuất ra những điều xấu. Từ trong lòng cũng xuất ra những điều tốt (Tiếng Việt thường ghép từ “lòng” vào những nết xấu hay nhân đức : lòng ghen ghét, lòng kiêu căng, lòng tin, lòng cậy, lòng mến .)
Những điều tốt Chúa làm biểu lộ tình yêu của Ngài, cũng là từ tấm lòng của Ngài. Ðó là tấm lòng hiền hậu và khiêm nhường, như chính Ngài xác nhận với các môn đệ. Xác nhận và còn muốn cho họ học lấy.
Phaolô cũng khuyên chúng ta hãy có tâm tình như đã có nơi Ðức Kitô. Tâm tình nào vậy? Thì cũng chính là lòng khiêm nhường, mà thánh Tông Ðồ đã ngợi ca trong bài Thánh thi bất hủ ở thư Philípphê (2,6-8). Bài ngợi ca này chấm phá những nét chính của sự khiêm nhường nơi Ðức Kitô : là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, đó là khiêm nhường; là Thiên Chúa, nhưng huỷ mình ra không, mặc lấy thân nô lệ, đó là khiêm nhường; là Thiên Chúa, nhưng đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, đó là khiêm nhường. Nói như Augustinô, khiêm nhường là dấu chỉ của Ðức Kitô. Hay nói cách khác, Ngài là hiện thân của sự khiêm nhường.
Những nét chính trên đây được minh họa bằng những lời nói và hành vi cụ thể trong suốt cuộc đời trần gian của Chúa. Về những lời nói và hành vi khiêm nhường này, thường chúng ta nghĩ đến những gì Ðức Giêsu nói hoặc làm cho ta, cho con người. Thực ra, thái độ khiêm nhường trước con người chỉ là hệ quả của một thái độ khiêm nhường cốt yếu hơn, sâu xa hơn, thấm thía hơn. Ðó là khiêm nhường trước Chúa Cha. Tư cách là tư cách của người được Cha sai đi, nhận lấy mọi sự từ Cha, làm mọi sự theo ý Cha, quy hướng mọi sự về Cha.
Chẳng hạn, khi một người thanh niên quỳ sụp dưới chân Chúa, gọi Ngài là “Thầy nhân lành”, thì trong câu trả lời cho anh ta, Chúa đã đưa vinh dự ấy về cho Chúa Cha: “Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” (Mc 10,17-18). Sứ mạng tại thế của Chúa, sứ mạng nói lên sự khiêm nhường của Chúa, có thể tóm tắt trong chính lời Chúa ngỏ với Chúa Cha vào lúc cuối đời: “Con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm” (Ga 7,4).
Ðã đành Chúa cũng khẳng định tư cách làm Thầy và làm Chúa của mình. Không ít lần Chúa tự xưng mình là thế này thế nọ : là Sự Sáng, là Ðường, là Sự Thật, là Sự Sống, là Cây Nho, là Bánh hằng sống . Nhưng Chúa nhìn nhận mọi tư cách đó đều phát xuất từ Cha. Ngài không tìm vinh danh cho mình (Ga 8,50), mà chỉ làm lợi cho vinh danh Cha mà thôi.
Vì yêu Cha mà Ngài khiêm nhường. Nhưng cũng có thể nói vì khiêm nhường mà Ngài yêu Cha. Sự khiêm nhường nơi Ðức Giêsu vừa là hiệu quả vừa là nguyên nhân của tình yêu đối với Cha.
Thế còn thái độ khiêm nhường của Chúa trước con người thì sao ? Chỉ cần gợi nhớ một cử chỉ có ý nghĩa sâu sắc nhất, là cử chỉ Chúa rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,1tt). Trong khi các Phúc Âm Nhất Lãm im hơi lặng tiếng về cử chỉ này, thì chỉ mình PhúcÂm Gioan ghi lại. Có thể nghĩ rằng Gioan coi việc Chúa rửa chân như có khả năng diễn tả cụ thể và độc đáo nhất con ngưới của Ngài hôm trước lễ Vượt Qua. Không phải vậy sao ? Cứ để ý mà coi : qua cử chỉ của Chúa, chúng ta có thể hình dung ra nét tương phản giữa sự cao cả siêu việt của một Ðấng là Thiên Chúa, với sự tự hạ tự khiêm trong hành vi của một người tôi tớ. Ðấng cao cả quỳ dưới chân những con người tội lỗi, để làm công việc của người tôi tớ, đúng như lời Chúa nói: “Thầy ở giữa anh em như một người tôi tớ”. Không những rửa chân cho các môn đệ, Chúa còn muốn ta học lấy hành vi đó, tức là Ngài muốn nêu gương cho ta nữa. Chính là lặp lại điều Ngài đã nói trước: “Hãy học với tôi .”
* Hiền lành và khiêm nhường : hai đặc tính sóng đôi. Ðó là hai mặt của một thái độ tâm trí. Có khiêm nhường là có hiền lành. Nơi Ðức Giêsu cũng thế thôi. Ngay một tác giả vô thần (Ernest Renan) cũng đã nhận xét Chúa là một “con người mơ mộng hiền lành của xứ Galilê” (hiền lành thì đúng, nhưng mơ mộng thì không đâu, trái lại rất thực tế).
Isaia đã tiên báo về con người của Chúa như sau: “Người sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị dập, Người không đành bẻ gẫy. Tim đèn leo lét, Người chẳng nỡ tắt đi” (Is 42,2-3). Ðấy là dung mạo của một Ðấng Cứu Thế hiền lành. Ðấy là hình ảnh của một Ðức Giêsu đầy lòng thương xót và bênh vực kẻ có tội.
Tác giả Matthêu, khi trưng dẫn những lời trên để áp dụng vào hành vi Chúa truyền cho người ta đừng rêu rao việc Ngài chữa lành bệnh tật của họ (Mt 12,15tt), còn muốn minh chứng sự khiêm nhường của Chúa : Chúa chỉ muốn làm ơn làm phúc cho người ta cách kín đáo, không phô trương, không hống hách. Cũng chính Matthêu còn dựa vào lời các ngôn sứ mô tả Chúa cỡi lừa vào thành Giêrusalem, trong dáng dấp của một con người khiêm nhu (Mt 21,5). Sự khiêm nhu này càng nổi bật giữa một khung cảnh và một bầu khí khải hoàn: có đông người tuốn đến, lấy áo lót đường, cả tiếng tung hô, đến nỗi làm chấn động thành phố. Rồi ra, con người ấy sẽ giống như con cừu bị dẫn đến lò sát sinh (Is 53,7), yên lặng trước những lời người ta tố cáo, yên lặng cho người ta khạc nhổ và đánh đập (Mt 26,63tt), yên lặng để người ta đóng đinh vào Thập giá.
Sự hiền lành là đặc tính của Chúa. Thế nên không lạ khi Ngài chúc phúc cho những người hiền lành : họ dẽ được đất làm cơ nghiệp (Mt 5,4). Ðất này không gì khác hơn là Nước Trời. Ðó là cơ nghiệp dành cho những ai là con cái Thiên Chúa. Cơ nghiệp ấy chính là Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa, Ðấng hiền lành, sẽ được chia sẻ cho những con cái hiền lành của Thiên Chúa.
Và cũng không lạ khi Chúa dạy người ta học với Ngài vì Ngài hiền lành. Người Do Thái nghe Chúa nói lúc bấy giờ đang phải thụ giáo những điều khó khăn với các Thầy dạy đạo, đang khổ sở vì ách nặng của Lề Luật. Cũng như chúng ta hôm nay đang phải lao đao vất vả vì cuộc sống. Thì Chúa thổi một làn không khí mới cho họ. Không phải Ngài loại bỏ ách và gánh đâu. Ngài không phải là con người mị dân. Ngài không muốn cho người ta có ảo tưởng đã ở Thiên đàng trong khi còn sống tại thế. Ách vẫn còn đó. Gánh vẫn còn đó. Có điều, ách mới này thực êm ái, do một con người hiền lành đưa ra. Êm ái, vì chỉ là chia sẻ ách của Chúa. Êm ái, vì liên hệ đến tình yêu. Ðó là luật yêu thương phát xuất từ Ngài là Tình Yêu. “Khi yêu, sẽ không còn vất vả, mà nếu có vất vả thì chính sự vất vả này cũng được yêu nốt” (Augustinô). Nhờ đó, người ta sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn.
* Chúng ta hãy nghe lời Chúa dạy mà học lấy tâm tình hiền lành và khiêm nhường của Chúa. Chính khi có sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng, chúng ta mới có thể yêu anh chị em. Hai yếu tố đó là nền tảng của tình yêu, là cánh cửa đầu tiên mở vào con đường bác ái. Augustinô nói: “Ðâu có khiêm nhường, đấy có bác ái”. Trước khi kêu gọi chúng ta lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau, Phaolô đã nhắc phải ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại (Êp 4,2).
Thái độ đối nghịch là kiêu căng, dữ dằn. Ðó là thái độ yêu sự ưu đẳng của mình (có thật hay tưởng tượng) dưới mọi hình thức của nó : khoe khoang, ghen tương, chua ngoa, cứng cỏi, khép kín . Tất cả đều góp phần đưa đến chỗ xung khắc, đố kỵ và chống đối người khác. Cũng chẳng lạ, vì tác giả Thánh vịnh đã từng nói: “Bọn kiêu căng đặt điều bôi nhọ ; như đầy ứ mỡ, lòng chúng ra ngu muội” (Tv 119/118,69-70). Lòng đã ứ đầy mỡ thì làm gì còn tình cảm tốt đẹp và chân thực dành cho người khác? Và nếu còn chút nào đi nữa, lấy chỗ đâu mà phát tiết ra ngoài? Những người loại đó, nếu tình cờ làm những công việc gọi là bác ái, cũng chỉ là bác ái giả hiệu, giả nhân giả nghĩa, nhằm phô trương, tìm lợi cho mình, chứ không phải hoặc không hoàn toàn nhằm lợi ích của người khác. Ðó là điều Chúa Giêsu lên án mạnh mẽ nơi người Biệt phái. Do kiêu căng giả hình, những con người này đầy lòng tham ô, xú uế, vô độ, vô đạo (Mt 23,25-28).
Cứ xem ngay ở kinh nghiệm thường ngày. Tại sao yêu thương nhau vẫn là điều quá khổ nhọc ? Tại sao thường có những bất hoà, lục đục, chia rẽ, hoặc ít nhất khó hợp tác với nhau trong đời sống cộng đồng ? Tại sao, nếu không phải phần lớn tại kiêu căng, ích kỷ. Những con sâu đáng sợ này làm tâm hồn chúng ta chai đá trong những cái mà chúng ta gọi là quyền lợi hay quan điểm khác biệt của ta. Chúng ta có khiêm tốn chấp nhận giới hạn của mình không ? Chỉ có lòng khiêm tốn hiền hoà mới tháo cởi được các tâm hồn, để có thể hướng tới nhau thật tình và yêu thương nhau. Ðó mới là phúc của những người hiền lành.
Nhưng cũng cần phân biệt. Hiền lành và khiêm nhường không đồng nghĩa và đồng tình với nhu nhược, yếu đuối. Chính Ðức Giêsu, hiền lành và khiêm nhường đấy, nhưng không bao giờ nao núng khi phải bảo vệ chân lý, luôn mạnh mẽ và lên án chống phá những gì xúc phạm tới những giá trị của con người, nhất là ơn cứu rỗi của họ. Khiêm nhường không có nghĩa là thiếu cá tính, không biết nỗ lực vươn tới những điều cao cả. Hiền lành cũng vậy, không phải “hiền như Bụt” như dân gian vẫn nói, mặc ai muốn làm gì thì làm, theo chủ trương mackenoisme (mặc kệ nó).
Có một lời dạy làm khuôn vàng thước ngọc do chính Chúa đưa ra: “Anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16). Ðể thực hành một nhân đức cho đúng phép, phải liên kết nó với các nhân đức khác, nhất là các bản đức (công bình, dũng lực, tiết độ, khôn ngoan). Thực hành sự khiêm nhường và hiền lành cũng thế thôi. Cho nên, trong cách xử sự thực tế liên hệ tới bác ái mà chúng ta đang bàn trong đề tài, phải khéo léo phối hợp sao cho hài hoà các yếu tố đó.
Lấy thí dụ về một cách thực hành bác ái trong cộng đồng : việc sửa lỗi huynh đệ. Ðây là mối thứ 4 trong bản liệt kê (có từ thời Trung cổ) 7 mối thương linh hồn người ta, thường được đọc là “Răn bảo kẻ có tội”. Trước một lỗi nặng bên ngoài của người anh (chị) em, khiêm nhường không lên án, vì thấy mình tội lỗi, là một chuyện. Hiền lành để sẵn sàng bao dung, muốn chín bỏ làm mười cho xong, là một chuyện. Nhưng lợi ích của người phạm lỗi và của cả cộng đồng lại là chuyện khác. Và chuyện này lại quan trọng hơn. Có người thấy anh (chị) em lỗi nặng gây ảnh hưởng tai hại cho cộng đồng, cứ nhắm mắt làm ngơ, nghĩ bụng : hơi đâu mà lo, mặc xác nó. Không mặc xác được đâu ! Có người muốn lên tiếng, nhưng nghĩ mình không chơi thân lắm với đương sự, lại không khéo ăn khéo nói, nên đâm ngại, sợ chả được tích sự gì, lại còn thêm mất lòng. Phaolô ngày xưa đâu có ngại làm mất lòng Phêrô, khi mạnh mẽ cự tuyệt Tông Ðồ trưởng này, vì Phêrô muốn thúc bách người ngoại trở lại phải giữ những tập tục của Do thái (Gl 2,11tt). Phaolô làm thế chỉ vì thấy ý của Phêrô tai hại cho công cuộc truyền giáo. Bác ái đấy!
Giữa anh (chị) em đã vậy, huống hồ Bề Trên trong nhà (nếu là một tu sĩ sống trong một cộng đồng). Bề Trên thường là hiền. Hiền là phải. Chẳng nơi nào dám trao vận mệnh của cả cộng đồng cho một Bề Trên không hiền (không dám nói là dữ), cho dù có tài. Hiền, nhưng không nhu nhược. Hiền, nhưng vẫn phải chu toàn trách nhiệm lo cho từng người và cả cộng đồng. Bề Trên phải có cách hành động.Ở đây, không chỉ là sửa lỗi huynh đệ, mà còn như là sửa lỗi phụ (mẫu) tử nữa, sự sửa lỗi của cha (mẹ) đối với người con. Dĩ nhiên, về cách thức hành động sao cho phải, không thể không nhớ tới lời khuyên của Phaolô: “Hãy lấy tinh thần hiền hoà mà sửa dạy” (Gl 6,1), hoặc lời dạy của chính Chúa Giêsu: “Hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi” (Mt 18,15), trừ khi bất đắc dĩ phải làm cách khác. Ðó là cách lợi được người anh (chị) em. Ðó là cách thể hiện bác ái mà vẫn dung hoà được với tấm lòng hiền lành và khiêm nhường.
2. “Kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”(Lc 7,22)
* Theo Kinh Thánh,người hiền lành và khiêm nhường thuộc vào số những người nghèo (anawim) của Thiên Chúa. Thế nên, trên nguyên tắc, một tấm lòng hiền lành và khiêm nhường không thể không hướng tới người đồng điệu, đồng hội, đồng thuyền. Lòng bác ái của họ dành ưu tiên cho những ngưòi này, tức người nghèo. Thì đó chính là điều mà Ðức Giêsu, một người nghèo, một người có lòng hiền lành và khiêm nhường, đã thực hiện trước tiên.
Ngay từ thời Cựu Ước, các ngôn sứ đã cho biết người nghèo là người được hưởng tình yêu nhân lành của Thiên Chúa: “Kẻ được Ta đoái nhìn, đó là người nghèo khổ, người có tâm hồn tan nát” (Is 66,2). Người có tâm hồn tan nát là người khiêm nhu. Còn kẻ khốn khổ là kẻ bần cùng thiếu thốn, hoặc về vật chất hoặc về tinh thần. Chính sự cùng quẫn của họ là một lý do để được Chúa yêu thương (Tv 10,14). Các ngôn sứ còn loan báo : một trong những nhiệm vụ của Ðấng Mêsia sẽ là bênh vực quyền lợi của kẻ nghèo (Is 11,4). Mêsia sẽ là Ðấng mang Tin Mừng cho họ (Is 61,1). Những điều này trở thành hiện thực qua Ðức Giêsu, Ðấng Mêsia, Ðấng được Thiên Chúa sai đến để cứu nhân độ thế.
Khi bắt đầu truyền đạo, Chúa đã xác nhận điều này ở hội đường Nagiarét. Ðọc xong đoạn sách Isaia, Ngài nói với mọi người: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Khi Gioan Tẩy Giả phái môn đồ đến hỏi xem Chúa có phải là Ðấng đã đến hay còn phải đợi một Ðấng nào khác, Ngài lại xác nhận với họ rằng điều Isaia loan báo đã thực sự ứng nghiệm nơi Ngài (Lc 7,18tt). Quả thực, sứ mệnh của Chúa là đến tìm người nghèo.Và trên thực tế, chính những con người này đã tuốn đến với Chúa thực đông đảo.
Nhưng họ là ai ? Dưới con mắt khinh miệt và chế nhạo của người Biệt phái, họ là “bọn dân (ngu cu) đen, không biết Lề Luật” (Ga 7,49). Nhưng trước mắt Chúa, họ lại là những con người đáng thương, đáng cứu : những người tội lỗi, những người bệnh tật, những người đói khổ, những người yếu đuối, những người bị áp bức . Chúa đã làm gì cho họ ? Không gì khác hơn là rao giảng Tin Mừng cho họ, chữa lành cho họ, cả những bệnh tật phần xác lẫn những yếu đau phần hồn. Ngài liên đới với họ, không lên án, không khinh rẻ, nhưng chúc phúc cho họ. Tin Mừng thật sự đã đem đến cho họ ơn giải thoát.
* Chúng ta hôm nay, nếu học với Chúa để có tấm lòng hiền lành và khiêm nhường, cũng phải ưu tiên nhìn đến người nghèo, tỏ lòng yêu mến và thực thi bác ái với họ. Ðây là những người thân cận đáng lưu ý nhất, nhưng lại khó được lưu ý nhất.
Chúa nói với các thực khách ở Bêtania: “Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình ?” (Mc 14,7). Thực trạng xã hội thời xưa là thế. Thực trạng xã hội hôm nay cũng không khá hơn, cho dù ý thức về sự liên đới có tiến bộ hơn, các hình thức cứu trợ có gia tăng hơn. Nhưng khi nói lời trên đây, hẳn Ðức Giêsu không nhằm đề cập một thực trạng, nhưng là muốn gây ý thức cho các môn đệ cố gắng giảm thiểu hoặc tìm cách triệt hạ sự nghèo đói, thiếu thốn, đau khổ, nhờ vào công bình xã hội (Mt 23,23), quảng đại bố thí (Mt 6,2), giúp đỡ cụ thể (Mt 25,31-46) . Như vậy, người môn đệ của Chúa phải quan tâm làm những việc trên đây cho người nghèo.
Người nghèo chung quanh ta, có thể thấy nhan nhản. Nghèo về vật chất cũng có. Nghèo về tinh thần cũng có, nhất là không được học biết chân lý. Phải quan tâm đến cả hai loại người. Ðành rằng mục tiêu của bác ái luôn là sự cứu rỗi linh hồn, phương tiện là rao giảng Tin Mừng, nhưng bác ái này không bao giờ cho phép dửng dưng trước cuộc sống vật chất lầm than đoạ đầy của người anh (chị) em. Tông Ðồ Gioan viết: “Nếu ai có của cải thế gian, và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu của Thiên Chúa ở lại người ấy được?” (1Ga 3,17).
Chính Ðức Giêsu đã không thuần tuý rao giảng Tin Mừng, không chỉ nhìn đến tâm hồn người ta, cũng không chỉ cảm thông với nỗi khổ thân xác của họ, mà thường còn chữa lành cho họ qua các phép lạ. Ngài không để họ trở về phải đói lả dọc đường, nên trước đó đã cho họ ăn bánh thoả thuê.
Con người ta đâu phải chỉ có hồn. Cả hồn xác làm nên một con người. Xác còn đói, còn khát, còn rách rưới, còn bệnh tật, còn lang thang ., thì cái lo cấp bách nhất của người ta là làm sao cho hết đói khát, hết rách rưới, hết tứ cố vô thân. Chứ tâm trí đâu mà nghĩ đến ba cái chuyện khác. Có thực mới vực được đạo : câu nói đã thành quen thuộc trên chót lưỡi đầu môi.
Vậy người nghèo phải yêu thương, cụ thể nhất là người nghèo về vật chất. Họ thuộc vào số những người được coi là hình ảnh của Chúa trong đoạn văn về ngày chung thẩm (Mt 25,31tt).
Về hành vi bác ái phải làm cho nghững người này, Kinh Thánh thường xuyên nhấn mạnh việc bố thí. Bố thí theo nghĩa hẹp, tức là giúp tiền giúp của. Truyền thống Giáo Hội xưa nay vẫn để ý tới việc này. Chúng ta không giầu có gì, nhưng vẫn có thể dành ra một phần để bố thí. Dành phần dư thừa chưa đủ đâu. Phải là một phần nhu cầu của ta nữa kia ! So với chúng ta, bà già goá nghèo trong Phúc Âm còn tội hơn nhiều, nhưng bà đã dám bỏ vào hòm tiền đền thờ, không phải số thừa thãi, mà là tất cả những gì bà có (Mc 12,41tt). Dĩ nhiên, không phải ai cũng có thể và phải làm như bà ta. Nhưng dù sao, hành động của bà cũng đáng cho ta suy nghĩ. Biết cho đã vậy, còn phải biết cách cho. Tôi không muốn đi sâu vào điểm này. Chỉ lưu ý rằng: chúng ta làm hoàn toàn vì bác ái kitô giáo, với tâm trạng của những người anh (chị) em “mang gánh nặng cho nhau”, như Phaolô bảo (Gl 6,2). Ðó chính là một trong những cách nói lên Tin Mừng cho người nghèo, không bằng lời, nhưng bằng hành động của ta.
3. “Yêu thương đến cùng” (Ga 13,1)
* Tấm lòng hiền lành và khiêm nhường, như một điều kiện để có thể yêu, chúng ta đã khai triển khá dài. Ðối tượng chính của tình yêu, tức người nghèo, chúng ta cũng đã nêu lên một số nét. Giờ đây, chúng ta nói vắn tắt vài ý về cách thức yêu của Ðức Giêsu.
Bằng lời khẳng định “Ngài đã yêu thương họ đến cùng”, Gioan thâu tóm tất cả sự tuyệt vời của tình yêu này. “Ðến cùng” có thể hiểu theo 2 nghĩa : hoặc yêu cho đến lúc chết, lúc chấm dứt cuộc đời; hoặc yêu với mức độ hoàn hảo tột cùng, không thể yêu cách nào khác hơn. Hiểu theo nghĩa nào cũng được hết. Nhưng chính nghĩa thứ hai hẳn gây cho ta nhiều cảm xúc hơn. Nó cho thấy nét đặc trưng nhất của tình yêu nơi Ðức Kitô. Nó giúp ta hiểu rằng chính vì muốn đẩy tình yêu tới giới hạn cuối cùng mà Ðức Kitô đã chấp nhận cái chết vì ta, vì các người thuộc về Ngài. Chính là minh chứng sâu sắc và hùng hồn cho lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Chúa hy sinh tính mạng mình ra sao ? Chắc chúng ta nghĩ ngay tới cái chết Thập giá. Ðúng thôi. Tuy vậy, việc hy sinh mạng sống đã thể hiện trước cả cái chết Thập giá, ở ngay trong việc rửa chân, mà cũng Gioan, và chỉ mình Gioan, đã thuật lại tiếp ngay sau lời khẳng định là Chúa yêu thương đến cùng.
Như chúng ta biết, Gioan hay coi một sự việc như dấu chỉ nói lên một mầu nhiệm. Cho nên, bảo rằng nhiều từ ngữ tác giả sử dụng ăm ắp mầu nhiệm, không phải là nói quá đâu. Thì cứ nhìn vào những cử chỉ của Chúa trong việc rửa chân mà coi. Chúa chỗi dậy, rời khỏi bàn ăn, đó là để làm một hành vi vượt qua. Mà vượt qua đối với Ngài là ra khỏi đời này, là trao ban thịt máu, là thí bỏ mạng sống. Chúa cởi áo ngoài ra, đó là lột xác và bỏ mình. Chúa cúi xuống làm công việc của một nô lệ rửa chân cho khách, đó là hư vô hoá mình. Như vậy, hành vi của Chúa không những biểu thị cho việc hư vô hoá mình trên Thập giá ngày hôm sau, mà chính là những khúc dạo đầu cho việc hư vô hoá này, tức hy sinh mạng sống mình. Chúa làm thế, tất cả là vì ta, vì muốn yêu thương ta đến cùng.
* Như Chúa đã hy sinh mạng sống mình vì ta, ta cũng phải biết hy sinh mạng sống mình vì anh (chị) em, để tỏ ra chúng ta muốn yêu thương anh (chị) em, như Chúa đã yêu thương chúng ta. Hy sinh mạng sống không đòi phải chết thật đâu. Có chăng là trong những trường hợp hãn hữu, hiếm hoi. Hy sinh mạng sống trong đời sống hằng ngày là dành cuộc đời ta phục vụ người khác trong tình yêu mến. Sống là sống cho người, như Chúa Kitô đã sống và chết cho ta. Ðó mới là cuộc sống có ý nghĩa.
Yêu thương anh (chị) em với mức độ hoàn hảo, e rằng khó, tuy đây vẫn là lý tưởng phải không ngừng vươn tới. Nhưng yêu thương cho tới lúc chết là chuyện có thể làm được, với những cố gắng phục vụ anh (chị) em trong tinh thần hiền lành và khiêm tốn, chấp nhận và vượt qua những khó khăn khi thể hiện tình bác ái huynh đệ, luôn cải thiện mối tương giao với người khác.
Phải nhấn mạnh những điều trên, vì (nhất là) những người sống trong một cộng đồng cùng chung một lý tưởng, tình bác ái huynh đệ coi vậy mà không dễ thực hiện. Cọ xát hằng ngày, tình yêu trở thành mong manh, hao mòn, dễ vỡ. Phải luôn tìm cách cột nó, bồi dưỡng cho nó. Mối dây liên hệ nào đó giữa con người (vd: cùng máu mủ, cùng chí hướng .) không đủ sức cột nó đâu. Dây hôn nhân không cao quý đó sao ? Nó lại là kết quả của những lần thề non hẹn biển. Thế mà có chán vạn vợ chồng coi nó như pha. Ðã chẳng muốn cột chặt lại, còn lăm le tháo tung nó. Chúng ta chỉ có thể cột tình yêu của ta, bồi dưỡng cho nó, bằng tình yêu của Chúa mà thôi. Chỉ có tình yêu này, nếu được ta mở rộng lòng đón nhận, mới có thể thôi thúc ta hi sinh mạng sống mình cho các anh (chị) em.
***
Ðể kết thúc cho ba bài suy niệm về tình yêu, tôi có một ý nghĩ này:
Thiên Chúa đã tạo dựng con người có hai mắt, hai tai, hai tay. Công dụng của chúng, sự cần thiết của chúng đối với đời sống của ta như thế nào, ai nấy đều biết cả. Tôi chỉ muốn gán thêm cho chúng hai đối tượng liên hệ đến đề tài yêu mến mà chúng ta đã suy niệm trong những bài qua. Hai đối tượng hay mục tiêu đó là Thiên Chúa và con người.
Chúng ta có hai mắt thì hãy để một mắt nhìn lên Thiên Chúa, một mắt nhìn sang con người. Chúng ta có hai tai : một tai nghe Chúa, một tai nghe con người. Chúng ta có hai tay : một tay vươn lên Chúa, một tay vươn tới con người. Một hướng lên Chúa với tất cả tình yêu. Một hướng về con người cũng với tất cả tình yêu. Thế còn hai lỗ mũi thì sao ? Dành cho mỗi phía một lỗ mũi thì kỳ quá. Nhưng cả hai lỗ mũi có chung một nhịp thở. Vậy hít vào là như hấp thụ tất cả tình yêu của Chúa, Ðấng chúng ta yêu mến, để rồi thở ra là tuôn trào tình yêu này cho các anh (chị) em. Ðời sống sinh vật nơi ta quân bình là do sử dụng đồng thời cặp đôi đó. Ðời sống thiêng liêng của ta quân bình cũng là do sử dụng đồng thời cặp đôi đó. Chúng ta yêu mến cả Thiên Chúa lẫn con người.
Chúng ta hãy cầu xin như lời một bài hát gợi ý cho chúng ta:
Lạy Chúa, xin hãy ban cho con tâm hồn bác ái,
Nguồn bác ái chính trung yêu mọi người và chẳng trừ ai.
Lạy Chúa, xin hãy đong tim con đầy tình nhân ái,
Cho con say mến Chúa và bác ái với cả mọi người
(Văn Chi)
Người có tâm hồn tôn giáo là một người cầu nguyện (homo orans). Người môn đệ của Chúa càng không thể không là người cầu nguyện. Cầu nguyện không chỉ vì Chúa dạy, cho dù giáo huấn về sự cầu nguyện được Kinh Thánh, nhất là chính Ðức Giêsu, thường xuyên nói đến, kèm thêm những lời cầu nguyện đã trở thành khuôn mẫu. Chúng ta cầu nguyện vì tin và yêu. Tin yêu Chúa, chúng ta muốn hội ngộ với Chúa, sống tương giao thân mật với Ngài, hướng tâm hồn lên cùng Ngài, đáp ứng lời Ngài mời gọi. Ở đó, chúng ta sẽ thinh lặng chiêm ngắm Chúa hoặc trò chuyện với Ngài. Ở đó, chúng ta sẽ thốt ra lời tán tụng vì những kỳ công và cảm tạ vì muôn ơn lành Chúa làm cho ta và cho cả tạo thành. Ở đó, chúng ta dâng lên Chúa mọi tâm tư, khát vọng và tất cả đời sống của ta. Ở đó, chúng ta sẽ xin Chúa ban thêm ơn cứu độ . Tất cả đều là cầu nguyện. Và những việc này chỉ có thể làm được, và làm một cách trung thực, cho những ai tin yêu Chúa thật lòng.
Tiếp theo những bài suy niệm về tin Chúa, yêu Chúa, bài này gợi lên một vài ý về việc cầu nguyện với Chúa.
1. “Lạy ông Giêsu, Con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi”(Mc 10,47)
* Lời kêu cứu trên đây là của người mù ăn xin ở cửa thành Giêricô. Anh ta – Bartimê, theo sự ghi nhận của Maccô – nghe có đám đông khác thường, bèn hỏi người chung quanh xem có chuyện gì xẩy ra. Khi biết là Ðức Giêsu Nagiarét đi ngang qua, anh đã kêu cứu như trên. Chắc chắn anh đã từng nghe biết về Chúa, với những phép lạ Chúa làm đây đó cho nhiều người được khỏi bệnh. Nay may mắn được gặp Ngài, thật là cơ hội ngàn năm một thuở, dễ gì anh để nó vuột mất. Niềm hy vọng loé lên sau bao nhiêu năm tháng thất vọng, để nó tắt ngúm sao được? Cho nên, anh đã kêu lên, kêu ngay, kêu to: “Lạy ông Giêsu, con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi”. Không phải kêu một lần, mà là hai. Ðó là Mc viết vậy, chứ chúng ta có thể nghĩ anh còn kêu nhiều hơn nữa kia ! Ðể phản đối những người ngăn cản, bắt anh im. Ðể lời van xin thấu đến tai Chúa.
Lời kêu này không chỉ đơn thuần là lời xin, mà trước hết còn là lời tuyên tín. Một lời tuyên tín khá hoàn hảo. Bartimê tuyên xưng Chúa là con vua Ðavít, là Ðấng Mêsia. Con vua Ðavít là tước hiệu của Ðấng Mêsia, theo như dân gian nghĩ. Dựa trên lời sấm nói về Ðấng Mêsia như một Ðavít mới, hoặc như một người thuộc miêu duệ Ðavít, mà Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện (Is 23,5; 33,14), người Do thái đương thời vẫn chờ mong vị đó. Tiếng kêu của người mù nói lên sự chờ mong này. Có điều anh chưa thể tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa. Mà đâu có trách được, vì đến như các môn đệ thân tín mà còn cần phải có ơn trên mới tuyên xưng được nữa là.
Thế sao những người đứng đó lại ngăn cản anh lên tiếng? Ngăn, không phải vì lời tuyên xưng, nhưng là vì những lời tiếp sau: những lời kêu cứu. Cũng dễ hiểu thôi. Hệt như chuyện vẫn xẩy ra chung quanh chúng ta. Người ta không muốn thấy người nào đó, nhất là người thuộc loại sống bên lề xã hội như Bartimê, làm phiền hà một nhân vật đáng kính. Hơn nữa, những người đi theo Chúa đều có vấn đề riêng và muốn được Chúa lưu ý cách nào đó. Sự xin xỏ của tên mù này có thể làm “rách việc”, làm cho vấn đề riêng của họ bị đẩy xuống dưới.
Và cũng hệt như điều vẫn xẩy ra trong đời sống thiêng liêng của từng người. Mỗi lần chúng ta muốn hướng về Chúa để cầu nguyện, thì hầu như lần nào cũng có những tiếng nói muốn bóp nghẹt việc cầu nguyện của ta. Có thể là những tiếng nói bên ngoài. Có thể là những tiếng nói trong thâm tâm. Hãy điểm mặt chúng thử coi. Này nhé: cầu với chả nguyện, ích gì đâu, được gì đâu ? biết bao phen đã làm mà nào Thiên Chúa có đoái hoài, cơ hồ Ngài vẫn xa vắng, chỉ tổ mất giờ. Ðó là tiếng nói của Satan luôn cám dỗ ta thất vọng và bỏ cuộc.
Vậy phải làm gì? Ðừng bao giờ nghe những tiếng nói đó. Chúng càng réo to, ta càng phải mạnh mẽ làm ngược lại. Như Bartimê. Cứ kêu lên, cứ hướng tới Chúa, bởi vì Ngài là Ðấng hằng nghe ta. Và cũng như Ngài đã chữa lành cho Bartimê, Ngài cũng sẽ đáp lời ta kêu cứu.
* Bartimê đã kêu xin Chúa dủ lòng thương xót. Nhiều thế hệ kitô hữu sau này đã lặp lại lời xin trên. Vắn tắt như ta vẫn đọc trong Thánh Lễ: Lạy Chúa, xin thương xót chúng con. Hoặc dài hơn: Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội (“kẻ có tội”: lời thú nhận của người thu thuế lên Ðền thờ cầu nguyện, x.Lc 18,13), như truyền thống Ðông phương nhấn mạnh.
Với lời kêu trên, ta không chỉ nhằm nói lên lời tuyên tín, nhưng đặc biệt muốn nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình. Bartimê đau khổ vì mù nơi thân xác. Còn chúng ta đau khổ vì mù trong tâm hồn: mù quáng trong tội, trong “cái tôi đáng ghét” (Pascal). Thế nên chúng ta nài van lòng thương xót của Chúa.
Có người quan niệm thương xót như một thứ thương hại, như thái độ của một người từ trên nheo mắt nhìn xuống nỗi cơ cực của người dưới. Nhưng đấy không phải là quan niệm của Kinh Thánh, khi Kinh Thánh ca ngợi Thiên Chúa là Ðấng “giầu lòng thương xót” (Ep 2,4). “Xin thương xót” (eleison) cùng một gốc với từ hy lạp “elaion” có nghĩa là cây ôliu hoặc dầu ôliu. Muốn hiểu ý nghĩa đầy đủ của từ này, cứ đọc những chỗ Sách Thánh sử dụng nó.
Sau trận Hồng Thuỷ, cành ôliu mà chim bồ câu mang về cho Noe giúp ông hiểu rằng Thiên Chúa đã nguôi cơn thịnh nộ, tạo cơ may lần thứ hai cho con người. Nếu họ sống tử tế với Thiên Chúa, Ngài sẽ không thịnh nộ với họ nữa. Còn dầu ôliu được dùng để xức trên các vua và tư tế, tràn xuống chòm râu ướt cả áo chầu của họ (Tv 133,2). Dầu đó biểu thị ân sủng của Thiên Chúa dư đầy trên họ, ban cho họ sức mạnh mới, để làm những công việc vượt quá khả năng của họ. Công việc nào? Nhà vua thì hướng dẫn dân đi theo đường lối của Thiên Chúa, làm theo ý Ngài. Tư tế thì công bố ý muốn của Thiên Chúa, hành động nhân danh Thiên Chúa, nói lên những huấn lệnh của Ngài, thi hành phán quyết của Ngài.
Ðó là chuyện của Cựu ước. Còn trong Tân ước, ta thấy người Samari nhân hậu, trong một dụ ngôn Chúa đưa ra, đã dùng dầu ôliu xoa dịu và chữa trị những vết thương của người bị nạn.
Như vậy, ta hiểu ôliu muốn nói gì. Muốn nói rằng Thiên Chúa đã nguôi cơn thịnh nộ, rằng Thiên Chúa đã chữa cho ta lành, hầu ta có thể sống và đáp lại ơn Chúa gọi. Nhưng vì Thiên Chúa biết ta không thể dùng sức riêng làm tròn ý muốn của Ngài, nên Ngài ban cho ta dồi dào ân sủng (Rm 5,20). Ngài giúp ta làm điều ta không thể làm. Tất cả là do tình yêu của Chúa. Bởi vậy, khi ta xin Chúa dủ lòng thương xót, ta không chỉ xin Ngài nguôi cơn giận, mà là xin chính tình yêu. Lời kêu xin Chúa thương xót cho thấy mối liên hệ yêu thương giữa Thiên Chúa và các tạo vật thật phong phú.
Do nó có ý nghĩa như thế, và cũng do vắn tắt, lời cầu xin trên, lặp lại lời của Bartimê ngày xưa, rất được các kitô hữu Ðông phương coi trọng và năng sử dụng trong đời sống. Chúng ta cũng hãy dùng nó làm lời nguyện tắt trong mọi lúc và mọi sinh hoạt của đời sống chúng ta. Ðó là cách dễ dàng nhất để cầu nguyện với Ðức Giêsu. Và, hơn mọi kinh nguyện khác, nó thường xuyên đặt ta hiện diện trước mặt Chúa, không còn nghĩ điều gì hơn là chỉ có Chúa và ta. Một khi thấm nhập vào tâm trí ta, một khi năng được thốt ra trên vành môi cửa miệng, thì dù ta vui hay buồn, lời cầu đó sẽ là một động lực thúc đẩy tâm hồn hướng về chúa.
* Lời kêu cầu trên đây chỉ là một trong những cách diễn tả một hình thức kinh nguyện nói chung: cầu nguyện xin ơn. Như chúng ta biết, cầu nguyện có thể mang nhiều hình thức: chúc tụng Thiên Chúa là nguồn mạch mọi phúc lành và đã ban phúc lành cho con người; ngợi khen vì những kỳ công của Thiên Chúa; thờ lậy Thiên Chúa là Ðấng toàn năng cao cả; cảm tạ vì ơn Chúa cứu độ; cầu xin cho những nhu cầu của ta và của Nước Trời.
Trong số những hình thức này, phải nói ngay hình thức xin ơn hay được lưu ý nhất, hay được sử dụng nhất, cả trong kinh nguyện riêng tư lẫn trong kinh nguyện của Giáo Hội. Không phải vậy sao? Cứ xem những lời kinh của Giáo Hội trong Phụng vụ Giờ Kinh, trong Thánh Lễ và các nghi thức khác là thấy ngay. Phần lớn các lời cầu nguyện là các lời xin ơn.
Tuy nó được thực hành nhiều, nhưng vẫn có người xem nhẹ loại cầu nguyện này, xếp nó vào hạng bét trong bậc thang giá trị. Người ta bảo nó vụ lợi, chỉ nghĩ đến mình, trong khi những lời cầu nguyện chúc tụng tạ ơn là đưa về Chúa, nghĩ đến Chúa. Vậy mới vô vị lợi! Quả có thế thật. Ít ra có một phần đúng. Vì thực sự nhiều lời cầu nguyện xin ơn chỉ xoay quanh con người ích kỷ của ta, chỉ nhằm những gì đáp ứng với nhu cầu tức thời của ta. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà nó kém giá. Không phải bỗng dưng mà cả và Giáo Hội dùng nó. Tất có lý do.
Trước hết, lời cầu nguyện xin ơn vẫn là một nhu cầu đặc biệt và cần thiết cho Giáo Hội tại thế, cho chúng ta còn sống tại thế. Tuy chúng ta đã được cứu độ, nhưng chưa đạt tới viên mãn. Cái viên mãn còn đang ở phía trước. Ơn cứu độ mới chỉ đến cho ta như một hy vọng (Rm 8,24), trong nguyên lý và trong mầu nhiệm thôi. Thế nên, ta còn phải cầu xin Chúa thêm ơn cứu độ cho ta.
Lại nữa, chúng ta là những con người tội lỗi, yếu đuối, thiếu thốn, cần có sự trợ giúp không ngừng của Thiên Chúa, để sống xứng đáng là con cái Ngài. Chính ý thức này giúp chúng ta khiêm tốn để cầu xin, tức mở lòng đón nhận ơn Chúa. Ngoài nhu cầu của riêng ta, còn biết bao nhu cầu khác của Giáo Hội, của thế giới. Không thấy một nhu cầu nào để xin, là muốn mình hoá thành Thiên Chúa, Ðấng duy nhất không có một nhu cầu nào hết. Có thể nói, lời cầu xin ơn chỉ chấm dứt khi mà tất cả chúng ta được sống lại hoàn toàn trong ngày tận thế.
[Chúng ta còn có thể suy nghĩ theo một phương diện khác. Vì cầu nguyện phát xuất từ tình yêu và là cách diễn tả tình yêu, chúng ta có thể suy nghĩ từ chính tình yêu để thấy được giá trị của lời cầu xin ơn. Trong tình yêu có cho có nhận. Nhận cũng rất có thể cao cả như cho. Nó cũng là một cách cho, vì nhận là mở lòng cho người mình yêu. Cho người yêu một món quà và nhận từ người yêu một món quà, đàng nào làm người yêu thích hơn ? Thích hơn hay thích kém là tuỳ mỗi người, tôi không dám đường đột quả quyết. Nhưng dù sao, cả cho lẫn nhận đều biểu thị tình yêu.
Những lời cầu xin (cũng như những lời ca tụng) của ta, dù không thêm gì cho Chúa mà chỉ mang lại ơn cứu độ cho ta (Kinh Tiền tụng chung, IV), nhưng những lời ấy tựa như món quà ta dâng lên Chúa, với tất cả lòng yêu mến. Không quý sao? Không làm đẹp lòng Chúa sao? Và khi Chúa nhận lời ta cầu xin, thì đó cũng là cách Ngài mở lòng Ngài ra, tức là một cách Ngài yêu ta, y như lúc Ngài ban tặng chính mình cho ta vì yêu ta. Như vậy, lời cầu nguyện xin ơn, khởi đầu thì vụ lợi, nhưng rốt cuộc lại cho thấy tình yêu].
* Có gì bảo đảm cho những điều nói trên về lời cầu xin ơn chăng? Có đấy. Chính Ðức Giêsu đã nhấn mạnh hình thức này. Chính Ngài đã làm trước và dạy các môn đệ làm. Hầu hết các lời nguyện của Chúa mà ta còn giữ lại được, đều là những lời nguyện xin ơn. Ngài đã cầu nguyện cho mình, vì Ngài còn phải đi về với Thiên Chúa và nhận lấy sự sống sung mãn, thần linh của mầu nhiệm Phục Sinh. Thư Do thái viết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Ðức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Ðấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” (Dt 5,7). Ngài đã thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi Giờ này” (Ga 12,27). Ngài cũng cầu xin cho các môn đệ, các kẻ thuộc về mình (Ga 17).
Lời kinh duy nhất Chúa dạy cho các môn đệ (Kinh Lạy Cha) chỉ gồm toàn những lời cầu nguyện xin ơn. Ngoài ra có 3 dụ ngôn về việc cầu nguyện: dụ ngôn về người bạn quấy rầy (Lc 11,5-13), dụ ngôn về người biệt phái và người thu thuế lên Ðền thờ cầu nguyện (Lc 18,9-14), dụ ngôn về viên quan toà bất chính (Lc 18,1-8), thì cả ba đều nói về việc cầu nguyện xin ơn. Riêng dụ ngôn cuối cùng mở đầu như sau: “Ðức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1). Vậy chính lối cầu nguyện xin ơn là lối cầu nguyện không bao giờ ngưng nghỉ.
Là môn đệ, chúng ta không thể không theo cách thức mà Chúa là Thầy đã làm khi cầu nguyện, không thể không theo lời Ngài dạy về việc cầu nguyện. Chúng ta không những có tâm tình hân hoan chúc tụng, ca ngợi và cảm tạ Chúa, mà còn khiêm tốn cầu khẩn Chúa ban ơn, đổ tràn Thánh Thần vào lòng ta, nhất là biết cầu xin cho những nhu cầu chung của Giáo Hội, của Nước Trời, của thế giới, như Giáo Hội gợi ý, đặc biệt qua các lời nguyện tín hữu (lời nguyện giáo dân) trong Thánh Lễ và qua các lời cầu trong Giờ Kinh Phụng Vụ ban sáng và ban chiều.
2. Cầu nguyện “nhân danh Ðức Giêsu”
Trong lời giã biệt của Chúa với các môn đệ, Chúa đã lặp đi lặp lại việc cầu nguyện nhân danh Ngài, hoặc xin với Ngài nhân danh Ngài (Ga 14,14), hoặc xin với Chúa Cha nhân danh Ngài (Ga 15,16). Những điều ta xin cũng được ban nhân danh Ngài nữa (Ga 16,23).
Người ta có thể hành động nhân danh một người hay một tập thể. Khi hành động như thế, phải lãnh sứ mệnh từ người đó, tập thể đó, phải nhờ quyền bính của người đó, tập thể đó, phải làm theo ý của người đó, tập thể đó. Thực tế có những người nhân danh người khác nhưng hành động “tưới hạt sen”, chẳng kể gì đến ý hay lệnh của người mình nhân danh. Nhưng đó là chuyện chúng ta không đề cập ở đây. Chúng ta muốn nói đến việc cầu nguyện nhân danh Ðức Giêsu, như chính Chúa chỉ thị. Thế nào là cầu nguyện nhân danh Ðức Giêsu?
Trong tất cả các kinh nguyện của Giáo Hội, nếu là kinh nguyện dâng lên Thiên Chúa, ta đều thấy câu kết thúc là: Nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con; hoặc dài hơn: Nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con, là Thiên Chúa . “Nhờ” nói lên vai trò của một người trung gian, một người môi giới. Ngại xin với Bề Trên một điều gì chẳng hạn, ta nhờ một người khác, nhất là người có thế giá, nói dùm. Chúng ta cũng nhờ Ðức Giêsu chuyển lời cầu của ta lên Thiên Chúa. Không phải vì ngại, nhưng vì lời cầu của ta không thể lên tới Chúa Cha, nếu không có Ðức Giêsu làm trung gian. Vai trò trung gian này của Chúa, Kinh Thánh đã nói rõ: Ðức Giêsu là Ðấng thâu góp những lời cầu nguyện của các thánh, và dâng lên để tôn vinh Thiên Chúa (Kh 4,1tt). Ngài là Thượng tế không ngừng can thiệp cho con người (Dt 3,17), là Ðấng bầu chữa cho ta trước ngai toà Chúa Cha (1Ga 2,1).
Tuy nhiên, đừng nghĩ vai trò trung gian của Chúa như chỉ đứng ở giữa chuyển dùm lời cầu nguyện của ta lên Thiên Chúa, như thể Ngài không mắc mớ gì với những lời cầu nguyện ấy. Ðể thấy rõ vai trò này, cũng như để hiểu hơn việc cầu nguyện nhân danh Ðức Giêsu, tưởng có thể mượn lời của Augustinô để xác định như sau: Ðức Kitô là Ðấng mà nhờ Ngài và trong Ngài chúng ta tôn vinh Thiên Chúa, và cũng là Ðấng mà chúng ta chúc tụng. Ðó là 3 khía cạnh lớn của việc cầu nguyện nhân danh Ðức Giêsu. Chúng ta khai triển thêm đôi ba ý.
Chúng ta phải nhờ Ðức Kitô để tôn vinh Chúa Cha trong sự thật. Vì sao? Vì chúng ta đâu có biết Chúa Cha: “Không ai biết Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mạc khải cho” (Mt 11,27). Chỉ mình Chúa Giêsu biết Chúa Cha. Chỉ mình Ngài đã dâng lên Cha việc phụng thờ đích thực, hoàn hảo. Nên muốn phụng thờ Thiên Chúa, ta phải dựa vào Ngài. Ðúng ra là tham dự vào lời tôn vinh của Ngài, như Phaolô nói: “Nhờ Ngài mà chúng ta hô lên “Amen” để tôn vinh Thiên Chúa” (2Cr 1,20).
Chúng ta lại phải cầu nguyện cùng Thiên Chúa trong Ðức Kitô. Không chỉ nại đến danh Chúa Giêsu như ta thường nghĩ, nhưng là thực sự ở trong Ngài, tức là kết hợp mật thiết với Ngài. Lời cầu nguyện nhân danh Ðức Giêsu, khi đó, sẽ phát ra tự đáy lòng, nơi ta được đồng hoá cách mầu nhiệm với Ðức Kitô. Kinh nguyện của ta trở nên đồng nhất với kinh nguyện của Ðức Kitô, do Ngài biến đổi nó thành kinh nguyện của mình. Dĩ nhiên, để được thế, kinh nguyện của ta phải luôn được làm theo ý muốn của Chúa, theo cách Chúa dạy, nhất là trong kinh Lạy Cha.
Cuối cùng, cầu nguyện nhân danh Ðức Giêsu là cầu nguyện với chính Ðức Giêsu, như lời Ngài nói: “Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin điều gì .” (Ga 14,14). Từ sau ngày Chúa sống lại, các tín hữu đã hướng về Ngài mà tôn vinh và cầu xin: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con” (Lời cầu của Têphanô lúc tử đạo, Cv 22,20).
Ðiều được các tín hữu thực hiện, thì Giáo Hội đã đưa vào trong Phụng vụ. Ðưa ngay từ đầu. Cho dù lời cầu nguyện thường hướng lên Chúa Cha, Giáo Hội vẫn có những lời cầu nguyện hướng về Chúa Kitô. Chính là rập theo Phụng vụ thiên quốc, vì trên trời Chiên Con cũng được toàn thể tạo thành chúc tụng cùng với Ðấng ngự trên ngai (Chúa Cha), như thị kiến trong sách Khải Huyền (5,13). Tuy vậy, có hướng lên Chúa Kitô là đối tượng trực tiếp đi nữa, kinh nguyện của ta vẫn là nhờ Ðức Kitô hướng tới đối tượng cuối cùng là Chúa Cha.
Như thế, ta thấy việc cầu nguyện nhân danh Ðức Giêsu có ý nghĩa phong phú. Nó cũng bảo đảm là lời cầu nguyện của ta được Thiên Chúa đoái nhận (Ga 14,16), với điều kiện ta phải cầu nguyện đúng như Chúa muốn nói. Nhất là phải có lòng tin sâu xa, lòng mến nhiệt thành, sẵn sàng để Thần Khí hướng dẫn ta, vì chính Thần Khí là Ðấng giúp ta biết cầu nguyện thế nào cho phải (Rm 8,26).
3. “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11,1)
Khi xin với Ðức Giêsu như trên, chắc hẳn các môn đệ đã thấy Chúa cầu nguyện nhiều, cũng như đã được nghe Chúa dạy cầu nguyện, mà Phúc Âm ghi lại vô số khía cạnh. Cho đến lúc chịu Khổ nạn, Chúa còn lưu ý cho các ông về công việc quan trọng này (Mc 14,37). Có thể nói, sau 3 năm theo Chúa như hình với bóng, các môn đệ vẫn chỉ là những người tập sự trong việc cầu nguyện.
Thế còn chúng ta thì sao ? Cũng vậy thôi, cho dù thời gian chúng ta đi theo Chúa lâu hơn nhiều. Một khẳng định bi quan chăng ? Không đâu. Thử hỏi ai dám tự phụ mình biết cầu nguyện và cầu nguyện nên. Trước mầu nhiệm Thiên Chúa, chúng ta luôn là những người tập sự. Rồi trong thực hành, có biết bao nhiêu trở ngại gây khó khăn cho việc cầu nguyện của ta. Thế nên phải luôn lặp lại lời của các môn đệ: Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện.
Ngày xưa, để đáp lại lời xin của các môn đệ, Chúa đã dạy các ông kinh Lạy Cha, nói lên những nội dung chủ yếu của lời cầu nguyện. Ngày nay, khi xin Chúa như trên, không phải chúng ta không muốn xin được biết cầu nguyện theo lời kinh Chúa dạy (sẽ được khai triển trong một bài suy niệm riêng). Ý thức mình chỉ là những người tập sự, chúng ta muốn tiên vàn xin cho chúng ta biết đương đầu với những khó khăn của việc cầu nguyện. Qua được cửa ải này, chúng ta hy vọng mỗi ngày làm tốt hơn việc cầu nguyện của ta.
Không thể vạch mặt chỉ tên cho hết những khó khăn này. Vả lại còn tuỳ tâm tính và hoàn cảnh của mỗi người. Có người gặp khó khăn này. Có người gặp khó khăn kia. Tôi chỉ nêu lên một vài khó khăn chung liên hệ đến tri thức, tình cảm và ý muốn của chúng ta.
Có người nghĩ hễ cầu nguyện là phải có dồi dào ý tưởng, hoặc lãnh hội được dồi dào ý tưởng. Người đó giống như một người tình, nghe tình nhân thổ lộ tâm tình thì vội vàng nói: “Khoan nghe, anh, để em từ từ ghi lời anh vào sổ tay, anh nói hay quá!” Nói chuyện yêu đương mà như vậy thì hết ý! Ðến với Chúa không phải là đến với một lớp thần học, cũng không phải để làm một bài khảo luận, trình bầy mạch lạc khúc chiết, có đầu có đuôi, nhưng là để hài hoà ý muốn của ta, dự phóng của ta, với ý muốn và dự định đầy yêu thương của Chúa. Ðến với Chúa, chỉ cần là con người vất vả gồng gánh nặng nề (Mt 11,28), là con người khao khát được no thoả. Ðến với bàn tiệc, chỉ cần là những con người đói khát. Khi vất vả, khi đói khát, người cầu nguyện không muốn điều gì khác hơn là chính Chúa, chính tình yêu của Chúa. Ðơn sơ vậy thôi.
Nói vậy không có nghĩa là chúng ta không có tối thiểu một ý tưởng nào đó, kẻo rồi xác ngồi đấy mà hồn bay nhảy tận đâu đâu. Phải có ý tưởng cho tâm trí đậu lại, hoặc lôi tâm trí trở lại khi nó đi quá xa do chia trí. Ước muốn của ta, xuyên qua ý tưởng đó, là gặp gỡ Chúa, làm cho ý muốn và tình yêu của ta trở thành của Chúa. (Nhân nói về sự chia trí, rất nhiều người than phiền mình không thoát được khó khăn này. “Khi ít khi nhiều khi nào cũng có” : một công thức xưng tội quen thuộc được dạy từ bé.. Chia trí thực ra là chuyện thường. Không chia trí mới là chuyện lạ. Có xua đuổi xong, nó vẫn trở lại như cũ. Ðành rằng ta phải cố gắng lôi kéo tâm trí về với công việc đang làm, với ý tưởng của ta, nhưng đàng khác, hãy đối diện với nó. Cái gì làm ta chia trí, hãy dâng nó cho Chúa trong một cử chỉ tôn kính hoặc xin tha thứ).
Một khó khăn khác: cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì, nhất là khi cầu nguyện riêng. Ngồi đó như ngồi ở một nơi trống vắng, thấy lời mình nói cơ hồ rơi vào quãng không, thấy tâm hồn không chút dao động, là điều lẽ ra phải có khi gặp người mình yêu. Thực sự, trừ khi có ơn đặc biệt, chứ bình thường ta sẽ không cảm thấy gì khi cầu nguyện. Mọi cảm xúc là từ giác quan. Nhưng cầu nguyện lại là cuộc gặp gỡ với Ðấng vô hình, không đến với ta qua sự tiếp xúc khả giác. Chúng ta không thể cầu nguyện trung thực bao lâu chỉ chờ đợi những cảm xúc do kinh nghiệm đem lại.
Có người than phiền cầu nguyện mà chả được gì, nhất là khi cầu xin. Cầu không được, ước không thấy. Thế nhưng, ai luôn tìm cách có được cái gì đó nơi người mình yêu, thì không phải là một người yêu, nhưng là người muốn đổi chác, theo kiểu do ut des (tôi cho anh để anh cho lại tôi). Kinh nguyện của ta rất thường là một hình thức đổi chác với Chúa, tức là muốn nó đem lại một kết quả cụ thể cho ta. Và vì thấy dường như chẳng được gì, nên không hứng thú, có cảm tưởng mất thời giờ, muốn làm những việc khác được coi là hữu ích hơn.
Phải biết rằng chủ yếu của việc cầu nguyện là cho, chứ không phải nhận, tuy ta vẫn nhận được nhiều điều từ Chúa mà lắm lúc không để ý. Thiên Chúa chúng ta không phải là một Thiên Chúa trám lỗ. Ngài không phải là “phương tiện” cuối cùng được nại đến, khi chúng ta thất bại với những phương tiện khác.
Cầu nguyện là hành vi nhưng-không (gratuit). Những gì có mầu sắc vụ lợi, phải gạt ra ngoài. Chính sự nhưng không vô vị lợi này của tình yêu là một trong những nét phân biệt con người với thú vật. Thú vật hết ham muốn một khi bắt được con mồi. Ngược lại, nơi con người, dù khao khát đã được thoả mãn, nhưng tình yêu không vì vậy mà chấm dứt. Nó vẫn tiếp tục hướng tới người yêu, khám phá nét đẹp của người yêu để ca ngợi. Ðối với Chúa, không phải vì cần Ngài mà ta ca ngợi Ngài, nhưng vì Ngài là Ðấng mà ta thấy đáng ca ngợi, đáng nhận những lời chúc tụng của ta.
Những suy nghĩ trên đây phải giúp ta loại bỏ đầu óc tính toán, so đo hơn thiệt, khi cầu nguyện. Ðây là một trong những dấu chỉ rõ nét nhất cho thấy một tâm hồn nghèo khó khác với một người giầu có. Người giầu tính toán khi nhận và cho, và sống bằng sự tính toán này. Người có tâm hồn nghèo khó thực thì không tính toán. Chính vì vậy mà một Ðavít chẳng hạn, dù đã là vua oai phong, vẫn có thể nhảy múa như trẻ con trước Hòm Bia Giao Ước (2Sm 6,16tt), một Maria đã có thể đập vỡ cả bình ngọc đựng đầy dầu thơm để xức cho Chúa (Mc 14,3-6).
Một vài điểm gợi ra trên đây chắc chắn không nói hết về việc cầu nguyện. Mà làm sao có thể nói hết trong phạm vi một bài suy niệm. Chỉ hy vọng chúng khơi dậy những suy nghĩ tiếp theo, để ta có thể làm tốt hoạt động cầu nguyện, là việc tối quan trọng cho đời sống thiêng liêng của mỗi người.
***
Chúng ta kết thúc bài suy niệm bằng lời cầu nguyện sau đây:
Lạy Chúa,
con không biết xin gì.
Chỉ mình Chúa biết rõ những nhu cầu thật sự của con.
Chúa yêu con hơn chính con yêu con.
Xin cho con thấy những gì cần cho con mà con không thấy.
Con không dám xin Chúa ban thập giá hay sự an ủi
mà chỉ chờ đợi một mình Chúa.
Tâm hồn con mở rộng đón Chúa.
Xin đến với con và lấy lòng thương xót giúp đỡ con.
Xin âm thầm ca ngợi thánh ý và đường lối khôn dò của Chúa.
Con hiến mình con làm lễ dâng cho Chúa.
Con hết lòng tin tưởng vào Chúa.
Con không muốn gì hơn là thực hiện ý Chúa.
Xin dạy con cầu nguyện và cầu nguyện trong con. Amen
XI. CẦU NGUYỆN THEO LỜI CHÚA DẠY
Về việc cầu nguyện, những lời dạy của Ðức Giêsu cũng như của các Tông Ðồ thì rất nhiều, rải rác trong cả Tân ước.
Trong bài trước, chúng ta đã dựa vào lời Chúa để suy niệm về một hình thức cầu nguyện là cầu nguyện xin ơn, với đặc tính là cầu nguyện nhân danh Ðức Kitô. Trong bài này, chúng ta muốn nêu ra một vài đặc tính quan trọng khác, liên hệ nhiều hơn với con người cầu nguyện. Ðó là phải có sự kiên trì, liên lỉ, và đôi khi có tính cách chiến đấu.
1. Cầu nguyện kiên trì
* Kiên trì (chuyên cần, bền bỉ, bền đỗ, tuỳ các bản dịch khác nhau) là một đặc tính quan trọng của việc cầu nguyện. Nó là một từ được Tân ước thường xuyên lặp đi lặp lại khi nói về cầu nguyện (x.Cv 1,14; 2,42; Rm 12,12; Cl 4,2 .).
Nền tảng của giáo huấn này bắt nguồn từ chính Ðức Giêsu. Chúa đã đưa ra dụ ngôn bà goá quấy rầy quan toà, để minh giải cho lời dạy là “phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1).
Nhưng minh hoạ rõ nhất cho lời dạy này chính là một câu truyện xẩy ra trong cuộc đời truyền đạo của Chúa: câu truyện người phụ nữ Canaan xin Chúa chữa bệnh cho con gái của bà (Mt 15,21-28). Bà đã khẩn khoản nài xin, không chút nản lòng. Chính vì sự khẩn khoản này mà cuối cùng bà được toại nguyện.
Nói “cuối cùng” là vì đầu tiên, sự việc đã diễn ra không suôn sẻ chút nào. Bà đã xin Chúa dủ lòng thương. Biết mình thuộc dân ngoại, bà còn nại đến cả cách người Do Thái gọi Chúa (“Con vua Ðavít”) mà kêu xin, mong được Chúa thi ân, như Ngài đã làm cho nhiều người Do Thái. Nhưng đáp lại lời xin này là cả một sự im lặng về phía Chúa. Ngài không nói một lời. Có thể vì sứ vụ của Chúa không phải là dành cho dân ngoại, như lời Ngài nói với các môn đệ sau đó. Có thể đây là một cách Chúa thử lòng tin của bà.
Mặc kệ, bà cứ nài nỉ, cứ kêu mãi, còn sụp lạy dưới chân Chúa nữa. Chúa không đáp lại bà đã là gay, bây giờ còn “bồi” thêm một câu thật khó nghe: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Khiếp! Thứ ngôn từ phũ phàng làm sao! Tuy người Do Thái gọi dân ngoại là chó, nhưng khi đối mặt, hẳn cũng phải kiêng dè kiểu nói miệt thị này chứ. Thế mà ở đây, không có tránh né nào hết, tuy có giảm đi một chút cứng cỏi (gọi là chó con, thay vì chó). Phải người khác, dám sừng sộ lắm, cho dù đang cần sự giúp đỡ. Nhưng người phụ nữ này thì không. Bà vẫn bình tĩnh thưa lại: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Câu đáp thật hay, vừa hợp lý, vừa khiêm tốn, vừa vững lòng tin, vừa đầy hy vọng. Do đó mà bà được như ý. Chính nhờ lòng tin khiêm tốn, thể hiện qua sự van nài bền bỉ, mà bà đã được Chúa nhận lời.
Kiên trì kêu xin như thế chẳng những làm cho mình không ở yên, mà khiến cho cả Chúa cũng không thể ở yên. Giống như quan toà, dù bất chính, cũng không thể không hành động trước lời xin lải nhải của bà goá (Lc 18,2tt). Giống như người chủ nhà, mãi rồi cũng phải mò dậy lấy bánh cho người bạn đến xin giữa đêm hôm khuya khoắt (Lc 11,5-8). Cho nên, Isaia ngày xưa đã khuyến cáo dân Chúa: “Các ngươi đừng để Ðức Chúa nghỉ ngơi, bao lâu Người chưa tái lập, chưa đặt Giêrusalem làm lời khen ngợi trên khắp địa cầu” (Is 62,7).
* Tại sao phải kiên trì cầu nguyện? Nhưng trước hết, Thiên Chúa có nghe ta không đã? Có chứ. Ðôi khi chúng ta hát Thánh Vịnh: “Ôi lạy Chúa, xin hãy nghe. Hãy lắng tai nghe con van nài”, và có cảm tưởng dường như Thiên Chúa không bao giờ nghe ta. Thực sự Ngài đang nghe. Nếu chúng ta còn tiếp tục cầu nguyện, chính là vì biết Thiên Chúa vẫn nghe. Nếu không, hơi đâu mà cầu mãi.
Nhưng giá Thiên Chúa nhận ngay lời ta kêu xin, có phải khoẻ hơn không, cho cả Ngài lẫn chúng ta. Ngài thì khỏi phải nghe nhức óc (x.Lc 18,5). Ta thì khỏi phải nói mỏi mồm (nếu là khẩu nguyện). Hơn nữa, trong sách Isaia, chính Thiên Chúa cũng đã hứa: “Trước khi chúng kêu Ta, chính Ta đã đáp lời, chúng còn đang nói, thì Ta đã nghe rồi” (Is 65,24). Thiên Chúa nhận lời cả lúc ta chưa xin xong. Còn trong dụ ngôn quan toà bất chính, Ðức Giêsu quả quyết: “Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ” (Lc 18,7).
Thiên Chúa là Ðấng trung tín, đã hứa nhận lời thì chắc chắn nhận lời. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt. Nhận lời hoặc nhận lời ngay hay không, còn tuỳ. Tuỳ vào lời người ta kêu xin hoặc tuỳ vào nhu cầu đích thực của họ (tức ơn cứu độ). Nếu là về ơn cứu độ của người xin, và ơn cứu độ này phải là ước muốn sâu xa của người xin, Thiên Chúa luôn luôn nhận lời. Chẳng hạn khi ta xin Ngài ban Thánh Thần (Lc 11,13) [Theo J.Jeremias, sự lành mà Thiên Chúa ban cho những ai xin, như nói trong Mt 7,11, cũng chính là Thánh Thần nói trong câu trên của Luca, x.Les paraboles de Jésus, Mappus 1962, p.148]. Còn nếu là về ước muốn nhất thời, và ước muốn này có thể không tốt cho ta, thì Thiên Chúa không luôn nhận lời.
[Cầu xin theo kiểu một bài hát của Phạm Duy: “Con quỳ lạy Chúa trên trời, sao cho con lấy được người con yêu” (hoặc: “Amen, con lạy Chúa Trời, Xin cho bên đạo bên đời lấy nhau”), thì chắc gì Chúa cho. Yêu mà người kia không yêu thì cho lấy nhau sao được?].
Khổ nỗi, mỗi khi xin điều gì, ta đều cho điều đó là tốt, là cần. Nhưng đó là suy nghĩ của con người, chứ không phải của Thiên Chúa (x.Is 55,8).
Chúng ta phải xác tín rằng Thiên Chúa luôn ban sự lành cho những ai xin (Mt 7,11), và Ngài thực hiện tất cả những gì chúng ta xin “theo ý Ngài” (1Ga 5,14). Ngài không ban cho ta điều không theo ý Ngài. Ngài cũng không ban điều không phải là sự lành cho ta.
Thế nhưng, ngay cả trong việc ban điều lành, Thiên Chúa cũng có thể trì hoãn. Ở đây, chúng ta không chỉ biết mở miệng xin, mà còn phải biết mở mắt nhìn. Chúa không giúp đỡ ngay, chính là một cách giúp đỡ ta. Trì hoãn là một sự giúp đỡ đấy! Chúa muốn làm cho đức tin của ta mạnh lên. Ngài đưa ta tới chỗ biết cầu xin những gì tốt hơn. Trong thực tế, khi bắt đầu cầu nguyện, ta thường xin những điều nhỏ nhặt liên hệ đến cuộc sống hiện tại, của riêng ta hay của một/vài người nào đó. Ta không biết hay không nghĩ đến những điều thực sự quan trọng. Sự trì hoãn của Chúa giúp ta dần dần nhận ra những nhu cầu đích thực, nhu cầu về Thiên Chúa, về Giáo Hội, về đức tin, đức mến, đức khiêm nhường. hơn là những giá trị vật chất. Như thế là Ngài làm cho tâm hồn ta được rộng mở, để Ngài có thể ban ơn theo mức độ xứng với nó.
Hãy nhớ lại mẫu gương của người phụ nữ Canaan. Nếu Ðức Giêsu nhận lời ngay từ lần xin đầu tiên của bà, thì cũng được thôi. Con bà được khỏi bệnh. Nhưng mọi sự rồi lại tiếp tục như trước, như bao người khác, đâu hoàn đấy. Ngược lai, khi không nhận lời ngay, lại còn đưa ra những thử thách, Chúa làm cho lòng tin khiêm hạ của bà lớn thêm, cho đến lúc Ngài phải vui mừng thốt lên: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật”. Kết quả là khi trở về nhà, bà không chỉ thấy con mình khỏi bệnh, mà còn thấy bản thân mình biến đổi : bà đã tin và trở thành một trong những tín hữu đầu tiên thuộc dân ngoại. Ở một mức độ nào đó, có thể áp dụng cho người phụ nữ này lời Chúa nói về người phụ nữ xức dầu cho Ngài tại nhà ông Simon Cùi ở Bêtania: “Thầy bảo thật anh em, khắp thế gian, Tin Mừng này được loan báo tới đâu, người ta cũng kể lại việc bà vừa làm mà nhớ tới bà” (Mt 26,13).
Một giá trị như thế sẽ mãi mãi tồn tại. Phần ta, khi không được nhận lời ngay, cứ kiên trì cầu xin, ta cũng sẽ được như vậy.
2. Cầu nguyện liên lỉ
* Liên lỉ cũng là một đặc tính đáng lưu ý của việc cầu nguyện. “Phải cầu nguyện luôn”, như lời nhắc nhở khởi đầu dụ ngôn đã nói trên (Lc 18,1). Phaolô đã lặp lại ý này khi khuyên các tín hữu Thessalonica: “Hãy cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh” (1Tx 5,17-18)
Giáo huấn trên đây giúp chúng ta vượt qua một quan niệm vụ nghi thức hay vụ luật nào đó về cầu nguyện, tức là chỉ cầu nguyện vào những lúc ấn định rõ, ở những nơi xác định rõ. Cầu nguyện liên lỉ là một hành vi căn bản, một định hướng thường hằng, một sinh hoạt bộc phát. Hô hấp cần thiết tuyệt đối cho đời sống con người là điều ai nấy đều biết. Ngưng thở một lúc là chết. Từa tựa như vậy là cầu nguyện đối với đời sống thiêng liêng.
Có lần Phêrô hỏi Chúa xem phải tha thứ cho anh em bao nhiêu lần. Chúa trả lời cho ông: Phải tha thứ luôn (x.Mt 18,22). Tha không giới hạn, tha không điều kiện. Bởi lý do để tha thứ không ở nơi người có lỗi, cũng không ở nơi người bị xúc phạm, nhưng ở nơi tình thương của Thiên Chúa. Mà Thiên Chúa thì vẫn hằng tha thứ. Nếu chúng ta có hỏi Chúa xem phải cầu nguyện bao nhiêu lần, Ngài cũng sẽ trả lời: Phải cầu nguyện luôn. Hỏi xem cầu nguyện với Chúa bao nhiêu lần một ngày không khác gì hỏi xem yêu mến Ngài bao nhiêu lần một ngày. Chết ! Tình yêu đâu có chấp nhận tính toán kiểu đó. Người ta có thể yêu nhiều hay ít, với ý thức sâu sắc nhiều hay ít về tình yêu của mình, chứ không thể lúc yêu lúc không, theo những khoảng thời gian ít nhiều đều đặn : giờ này thì yêu, giờ sau nghỉ cho khoẻ, giờ kế tiếp lại yêu. Yêu chi lạ vậy ? Về việc cầu nguyện cũng thế thôi.
* Ðể thực hành việc cầu nguyện liên lỉ, các kitô hữu Ðông phương sử dụng lời kinh Ðức Giêsu, tức lời kêu cầu danh Ðức Giêsu (“Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con”), theo cách van xin của người mù Bartimê (Mc 10,47-48) đã nói trong bài trước. Họ thường xuyên đọc lời này với cả trí lòng, tin chắc Chúa sẽ hiện diện mọi nơi, mọi lúc, thậm chí cả trong giấc ngủ. Người nào quen đọc lời kêu xin này sẽ cảm thấy được an ủi lớn lao, do đó sẽ thường xuyên sử dụng nó. Sau một thời gian, người ấy có cảm giác không thể sống mà không có nó.
Ở mức độ cao nhất, hình thức cầu nguyện này làm cho người ta dần dần dẹp bỏ mọi suy tưởng, để chỉ còn có một hoạt động duy nhất trong tâm trí là cầu nguyện. Phương thế của nó là tỉnh thức và tránh xa những gì không dẫn tới Chúa. Hoa quả của nó là tấm lòng trong sạch. Lời kinh này đã giúp cho rất nhiều tâm hồn, nhất là các đan sĩ, kết hợp với Chúa ngay từ đời này.
Bên Tây phương, thánh Augustinô đã đưa ra một nguyên tắc về việc cầu nguyện liên lỉ, mềm dẻo hơn, nên vừa tầm với mọi người hơn. Theo ngài, bản chất của cầu nguyện là khao khát. Có khao khát liên lỉ mới cầu nguyện liên lỉ. Không khao khát liên lỉ, thì dù có đọc kinh liên hồi, ta vẫn là người “câm lặng” trước mặt Chúa. Sự khao khát này bao gồm ký ức, hoài niệm, hướng vọng về Thiên Chúa, về Nước Chúa. Nó vẫn có thể nồng cháy ngay cả khi ta buộc phải chuyên chú vào những công việc khác.
* Việc cầu nguyện liên lỉ giúp ta thường xuyên hướng lòng trí lên tới Chúa. Chủ yếu là cầu nguyện trong lòng, nhưng môi miệng cũng có thể tuỳ nghi tham dự vào đó, bằng cách lặp đi lặp lại một lời, chẳng hạn một lời kêu cầu vắn tắt nào đó. Thiếu gì những lời như vậy trong Phúc Âm: “Lạy Thầy, xin cứu con” (Mt 14,30), “Lạy Ngài, xin cho mắt chúng tôi được mở ra” (Mt 20,33), “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17,5).
Học về địa lý hình thể, ta biết có những dòng sông, khúc này lộ thiên, khúc khác chảy ngầm. Gặp lớp đất cứng, chúng chảy trên mặt. Gặp lớp đất mềm, nước thấm xuống sâu, chảy ngầm ở dưới, cho đến khi lộ ra ngoài. Việc cầu nguyện liên lỉ ở đây cũng như thế. Có những lúc không vướng mắc việc gì, ta được thảnh thơi, thì nó lộ ra ngoài thành việc cầu nguyện làm với tất cả ý thức. Còn khi ta bận bịu với công việc, với trách nhiệm, nó lại chìm sâu trong lòng, âm thầm chảy trong đó, như một trương lực vô hình của tình yêu hướng về Chúa, và sẵn sàng lộ ra khi có dịp. Do đó thật không ngoa khi cho rằng việc cầu nguyện vẫn có thể tiếp tục ngay cả trong giấc ngủ, như lời của cô nàng trong sách Diễm ca: “Tôi ngủ nhưng lòng vẫn thức” (Dc 5,2). Mắt nhắm nhưng lòng vẫn luôn mở cho người tình, vì yêu.
Nhưng cũng cần lưu ý điều này : Cho dù có tình trạng cầu nguyện liên lỉ, vẫn phải ấn định thời giờ dành riêng cho việc cầu nguyện minh nhiên. Phải có điểm hẹn đặc biệt cho Chúa.
Cứ xem gương của Ðức Giêsu. Ngài hằng hướng về Chúa Cha, kết hợp mật thiết với Chúa Cha, tức là có một đời sống cầu nguyện liên lỉ. Lại có những lần Ngài trải qua suốt đêm để cầu nguyện, chẳng hạn trước khi tuyển chọn 12 Tông Ðồ (Lc 6,12). Vậy mà Ngài vẫn vào hội đường hay Ðền thờ để cầu nguyện cùng với những người khác. Cũng như mọi người Do thái đạo đức, mỗi ngày Ngài đều đọc kinh nguyện vào lúc mặt trời mọc, sau trưa vào giờ hiến lễ chiều, và khi mặt trời lặn.
Truyền thống kinh nguyện kitô giáo đã rập theo khuôn mẫu đó. Giáo Hội hiện nay vẫn rập theo khuôn mẫu đó, với các Giờ Kinh Phụng Vụ chia đều trong ngày, chưa kể những việc đạo đức khác được ấn định, đặc biệt trong các cộng đồng tu sĩ.
Về điều này, thánh Augustinô đã viết như sau: “Chính trong lòng tin cậy mến, bằng ước muốn liên lỉ, mà chúng ta cầu nguyện luôn, nhưng chúng ta cũng dùng lời nói mà dâng lên Thiên Chúa những lời nguyện xin vào những khoảng thời gian và hoàn cảnh ấn định. Ðiều này nhằm làm cho chúng ta, qua những dấu hiệu cụ thể, biết được, hiểu được mình đã tiến tới thế nào trong niềm khao khát Thiên Chúa, và để khích lệ chúng ta làm cho ước muốn đó tăng triển hơn nữa”.
3. Cầu nguyện chiến đấu
Biết những lời dạy về cầu nguyện là một chuyện, trung thành thực hiện và làm tốt nó lại là chuyện khác.
Cầu nguyện cũng như cuộc đời con người, lúc thăng, lúc trầm, lên voi mà cũng có thể xuống chó. Hay như bốn mùa của thời tiết: xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn. Nếu sớm muộn gì thiên nhiên cũng sẽ đi vào mùa đông, thì một lúc nào đó, việc cầu nguyện cũng có thể đi đến chỗ tàn tạ. Lúc ấy, cầu nguyện thật nặng nề, chán nản. Nó trở thành một cuộc chiến đấu gian khổ, nhọc nhằn. Nó không còn là một dòng sông khoáng đạt, nhưng là một thứ nước trong giếng sâu, phải dùng xô mà kín múc từ đáy, bằng sức mạnh của đôi tay, mà một phần lại rơi rớt trên đường. Têrêxa Giêsu đã so sánh như vậy.
Một Viện phụ ngày xưa, khi được các tu sĩ hỏi: “Thưa cha, trong cuộc đời, nhân đức nào đòi hỏi nhiều cố gắng nhất?”, thì đã trả lời: “Tin cha đi, không có gì đòi hỏi nhiều cố gắng bằng cầu nguyện. Vì mỗi lần người ta muốn cầu nguyện là các kẻ thù đều tìm cách xoay họ sang chuyện khác. Quả thực, kẻ thù biết rằng người ta chỉ có thể chống lại nó nếu người ta cầu nguyện với Thiên Chúa. Cho nên nó phải cám dỗ ta đừng cầu nguyện. Do đó, việc cầu nguyện đòi hỏi ta chiến đấu chống lại nó đến hơi thở cuối cùng” (Apophtegmes des Pères).
* Có nhiều hình thức chiến đấu khác nhau trong cầu nguyện. Hình thức đầu tiên là chống lại sự chia trí. Loại đạo đức “thường thường bậc trung” như ta, thường xuyên chia trí không nói làm gì. Chính các thánh, các nhà thần bí cũng đã từng có kinh nghiệm về nó. Têrêxa Giêsu thừa nhận: “Có những lúc tôi không có lấy một ý tưởng chính xác hay hợp lý nào về Thiên Chúa hoặc về bất cứ sự lành nào. Tôi không thể cầu nguyện dù đang ở nơi cô tịch. Trí khôn thì lang thang đến nỗi giống như một người điên nổi khùng không ai kìm giữ được. Vì vậy, tôi bất lực, không thể cầm trí ngay cả trong khoảng thời gian đọc kinh Tin Kính”. Thì ra, trong vấn đề này, xác đất vật hèn đều ít nhiều như nhau cả.
Cầu nguyện mà chống lại chia trí cũng giống như người đi biển trên một chiếc thuyền thủng lỗ. Suốt cuộc hành trình, người ấy chỉ lo mỗi một chuyện là tát nước. Bởi ngừng tay thì đến một lúc nào đó, nước vào nhiều, thuyền chìm nghỉm là cái chắc. Thành ra, chẳng còn giờ ngắm cảnh trời nước bao la, chẳng còn lúc thư thả câu lấy một con cá!
Chúng ta cầu nguyện là để hưởng nếm Chúa, chiêm ngắm những kỳ công tuyệt diệu của Ngài, lắng nghe lời Ngài, khám phá những điều mới lạ nơi Ngài và nơi ta. Nhưng không được nữa rồi. Bao nhiêu chuyện vớ vẩn xâm nhập tâm trí, lôi kéo ta chú ý đến chúng. Làm công việc liên tục “tát” chúng ra ngoài vừa mệt nhọc, vừa không đạt được mục tiêu của việc cầu nguyện.
Ðể chống lại chia trí, cần tỏ ra kiên nhẫn, can đảm. Cũng đừng vì chia trí mà cho rằng tiếp tục cầu nguyện là vô ích. Hãy tìm cách khiêm tốn sửa trị.
Có người đọc một lời kinh ngắn, một lời nguyện tắt (oraison jaculatoire : jaculatoire do tiếng la tinh là jaculum, cái lao). Ðó là những lời kinh giống như ngọn lao có thể phóng thẳng tới Thiên Chúa.
Có người đọc một lời kinh quen thuộc, vốn được ưa thích. Têrêxa Hài Ðồng Giêsu viết: “Ðôi lúc, khi tâm trí tôi rơi vào tình trạng khô khan, đến nỗi không thể nào rút ra được một ý tưởng giúp kết hợp với Chúa, thì tôi đọc thật chậm kinh Lạy Cha, sau đó là kinh Truyền Tin. Khi ấy, những kinh đó làm tôi vui say, nuôi dưỡng tâm hồn tôi hơn là nếu tôi đọc những kinh đó hàng trăm lần cách vội vàng”.
Có người thay đổi dáng điệu cử chỉ của thân xác (ngồi, đúng, quỳ, phủ phục, khoanh tay, chắp tay, giang tay, cúi đầu, ngước mắt). Không nên coi thường cách cầu nguyện bằng thân xác, vì hành vi gợi lên tình cảm. Hơn nữa, ý muốn truyền cho tâm trí thì tâm trí khó tuân phục, nhưng truyền cho thân xác thì thân xác dễ tuân phục. Vậy ý muốn phải sử dụng thân xác để lôi kéo tâm trí trở lại.
Mỗi người có một phương thế. Có phương thế chống chia trí khi cầu nguyện riêng. Có phương thế chống chia trí khi cầu nguyện chung. Nhưng không một phương thế nào hoàn hảo, và có thể chiến thắng chia trí trong mọi trường hợp. Và khi phải chiến đấu mà lắm lúc thất bại, ta sẽ nhận ra rằng, nếu có những lúc cầu nguyện sốt sắng, thì đó hoàn toàn là do ơn Chúa.
Cho dù cầu nguyện trong tình trạng ấy không thu được lợi ích bao lăm, điều quan trọng là không được nhận mình thất bại. Không từ bỏ việc cầu nguyện để lao vào những công việc khác. Cám dỗ này không hiếm đâu nha! Nếu muốn là những người cầu nguyện chuyên cần và liên lỉ, cứ lưu lại ở nơi cầu nguyện, lưu lại trong cầu nguyện. Ðây không phải là chuyện giả hình. Chúa biết ta có thể đi làm những việc khác ích lợi hơn, hoặc ta thích hơn. Nhưng dù cầu nguyện lúc này cơ hồ vô tích sự, ta cứ ở lại cho hết thời gian đã ấn định hoặc do ta tự ý dành cho Ngài. Chỉ nguyên hành vi này đã là một sự hy sinh dâng cho Chúa.
Ðể trả lời cho một môn sinh than phiền là hay lo ra, chia trí khi cầu nguyện, một tu sĩ ngày xưa đã nói: “Tư tưởng của con rong chơi chỗ nào mặc nó, nhưng thân xác con thì đừng ra khỏi phòng”. Lời khuyên này không có giá trị đối với ta hay sao, khi ta ở trong tình trạng chia trí liên miên, ngoài tầm kiểm soát của mình? Tư tưởng của ta bay nhảy đi đâu mặc nó, thân xác ta cứ lưu lại trong cầu nguyện.
Bù cho những lần cầu nguyện mà chia trí lâu, đôi khi ngừng công việc đang làm, dành giây lát nghĩ tới Chúa, cầu nguyện tắt với Chúa. Ðây là cách mà thánh Antôn sa mạc đã thực hiện. Chính thần sứ Thiên Chúa, hiện thân thành một ẩn sĩ, đã chỉ vẽ cho thánh nhân làm như thế.
* Chúng ta còn có thể gặp một hình thức cầu nguyện chiến đấu khác, tế nhị và khó khăn hơn nhiều: chiến đấu chống Thiên Chúa. Khi nào? Khi Thiên Chúa đòi hỏi ta một điều gì mà bản tính tự nhiên của ta không sẵn sàng đáp ứng, hoặc khi hành động của Thiên Chúa làm ta không hiểu nổi và cảm thấy ngỡ ngàng.
Trường hợp ông Gióp là một ví dụ. Ông phải cầu nguyện với hết lòng tin tưởng và kiên vững, khi mà mọi sự ông có trên đời đã bị Chúa để cho mất hết. Nhưng điển hình nhất là Ðức Giêsu. Ngài đã trải qua cuộc chiến đấu ấy trong Vườn Cây Dầu. Ngài cầu nguyện mà như lâm chiến (Lc 22,44 : bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn). Dầu vậy, Ngài vẫn không ngừng cầu nguyện và càng cầu nguyện khẩn thiết hơn. Nhưng vì sao Ðức Giêsu lại lâm chiến? Ngài chiến đấu không phải để bắt Chúa Cha thuận theo ý Ngài, nhưng để cho ý muốn nhân loại của Ngài vâng phục ý Chúa Cha. Ðây là bài học lớn cho ta.
Trong đời sống thực tế, thiếu gì những lúc ta không muốn thuận theo ý Chúa, trong những việc Ngài muốn ta làm hay đừng làm. Cám dỗ đó! Ðừng chỉ hiểu cám dỗ là một sự thúc đẩy đưa ta đến chỗ làm điều xấu mà thôi. Nó có những hình thức tế vi hơn nhiều. Chẳng hạn trốn trách nhiệm, ngại đương đầu với những khó khăn của cộng đoàn, bưng tai bịt mắt trước những nhu cầu của người chung quanh, cũng là những cám dỗ. Ở Vườn Cây Dầu, Chúa đã bảo các môn đệ cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Ðối với những cám dỗ của ta hôm nay, Chúa cũng bảo ta cầu nguyện chiến đấu mà chống lại, để cho ý Thiên Chúa luôn được thể hiện.
Ðọc trong Cựu ước, ta bắt gặp một cuộc chiến đấu khá ngộ giữa Giacóp và Thiên Chúa. Chuyện khó tin nhưng có thật. Một cuộc đấu sức thực sự, thượng cẳng chân hạ cẳng tay hẳn hoi. Một cuộc chiến đấu tưởng là không cân sức, tưởng là châu chấu đá xe, ai ngờ lại ngang cơ đấy. Giacóp còn chiếm chỗ thượng phong nữa là khác. Ðến nỗi Giacóp được Thiên Chúa đổi tên là Israel, có nghĩa bình dân là “người đã đấu được cả với Thiên Chúa” (St 32,29). Giacóp chiến đấu để đạt được điều mình xin, buộc Thiên Chúa làm điều mình xin: “Tôi không buông ngài ra, nếu ngài không chúc lành cho tôi”. Ông còn tiếp: “Xin cho tôi biết tên ngài”. Lý do là vì ông tin rằng nếu biết được tên thì, nhờ vào uy lực của nó, ông có thể chiến thắng người anh là Esau đang săn đuổi ông.
So với cuộc chiến đấu của Ðức Giêsu, ta thấy rõ dự khác biệt. Ðức Giêsu cầu nguyện chiến đấu là để chính mình thuận theo ý Thiên Chúa. Giacóp cầu nguyện chiến đấu là để bắt Thiên Chúa thuận theo ý mình.
Phần chúng ta thì giống ai, khi cầu nguyện mà lòng xao xuyến trước đòi hỏi hay hành động của Thiên Chúa ? Hẳn là giống Giacóp nhiều hơn. Ta chiến đấu để bắt Thiên Chúa thay đổi quyết định của Ngài, để Ngài cất thập giá khỏi ta, hơn là để ta có khả năng vác cùng với Ngài. Hãy theo gương Ðức Giêsu. Ðừng làm như Giacóp. Chúng ta còn có lý do làm hơn Giacóp. Giacóp không được Thiên Chúa tỏ cho biết Danh Ngài. Chúng ta thì lại biết rõ danh hiệu Giêsu, một danh hiệu quyền năng (x.Pl 2,11) giúp ta có thể chiến thắng mọi khó khăn.
***
Chúng ta có mẫu gương tuyệt vời của một người đã thực hiện trọn vẹn những lời dạy(và việc làm) trên đây của Chúa về việc cầu nguyện. Người đó không ai khác hơn là Ðức Maria. Trong nhà Tiệc ly, lúc chờ đợi Chúa Thánh Thần sau ngày Phục Sinh, Ðức Maria đã cùng với các môn đệ Chúa “chuyên cần cầu nguyện” (Cv 1,14). Mà không phải chỉ có lúc này. Cuộc đời của Người, ít nhất từ lúc Con Thiên Chúa nhập thể, là một đời sống cầu nguyện, hằng hướng về Thiên Chúa, ngợi khen Ngài (Lc 1,46-47), suy đi nghĩ lại (Lc 2,29) về các việc Ngài làm. Ðặc biệt dưới chân Thánh giá, Ðức Mẹ đã cầu nguyện trong chiến đấu như Con mình, cộng khổ với Con, để ý muốn của Thiên Chúa được nên trọn. Chúng ta hãy hướng về Người, cầu xin Người giúp sức cho ta biết noi theo Người cầu nguyện như Chúa đã dạy chúng ta.
XII. SUY NIỆM VỀ LỜI KINH CHÚA DẠY
Kinh Lạy Cha, cho dù rất đơn sơ và ta đọc hằng ngày, coi vậy mà không dễ đâu. Ta biết đó là kinh duy nhất mà Chúa Kitô đã dạy. Có điều lạ : mày mò hết các trang sách Công vụ, không thấy chỗ nào đề cập kinh này. Lẽ ra các môn đệ ưu tiên để ý đến nó mới phải, vì chính các ông đã xin Chúa dạy cho mình.
Tuy nhiên, sách không ghi không có nghĩa là kinh không được đọc. Cứ như khẳng định của sách Giáo lý Công giáo (số 2767), các kitô hữu sơ khai đọc kinh Lạy Cha 3 lần mỗi ngày, thay cho 18 lời chúc tụng theo thói quen đạo đức của người Do Thái. Theo một nghĩa nào đó, kinh Lạy Cha không chỉ là một lời kinh, mà là cả một cách sống được diễn tả dưới hình thức kinh nguyện. Nó phản ánh một tâm hồn đi từ chỗ nô lệ tiến dần tới chỗ tự do.
Quan sát một ngọn tháp, ta có thể nhìn từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên. Thường thường, nhìn từ chân lên đỉnh sẽ dễ hơn. Ta có thể làm như thế với kinh Lạy Cha, tức là bắt đầu từ câu cuối lên câu đầu là lời hướng về Cha chúng ta. Tuy làm thế là ngược lại với thứ tự như Ðức Kitô đã dạy và Giáo Hội vẫn đọc, nhưng có cái lợi là đi theo đúng tiến trình của đời sống thiêng liêng, một tiến trình từ dưới đi lên.
Ðể hiểu hơn tiến trình này khi khai triển kinh Lạy Cha, chúng ta đối chiếu với biến cố Xuất Hành của dân Do Thái ngày xưa. Xuất Hành hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả giai đoạn đi trong sa mạc cho tới khi vào Ðất Hứa. Người Do Thái đi từ thân phận nô lệ tới địa vị của những con người tự do. Chúng ta cũng đi từ chỗ sống dưới ách tà thần tới diễm phúc làm con cái Thiên Chúa. Chúng ta bắt đầu bằng câu cuối cùng.
1. “Xin xứu chúng con cho khỏi sự dữ”
Lúc đến Ai Cập, người Do Thái là những con người tự do. Nhưng rồi lâu dần lại trở thành những người nô lệ. Tình trạng nô lệ được chứng minh bằng điều kiện sống : hoàn toàn tuỳ thuộc người Ai Cập, lao công mỗi ngày nặng nhọc hơn, cuộc sống mỗi ngày tồi tệ hơn. (Ai đã có dịp xem phim “Mười giới răn” có thể hình dung một phần điều kiện cơ cực này).
Một khi đói khổ quá, bị áp bức quá, người ta có thể nổi loạn, bạo động, tìm cách trốn thoát, mong thấy tự do. Nhưng nếu xét tận cùng sự việc, thì cả nổi loạn lẫn trốn tránh không giải thoát nổi ta, vì sự tự do tiên vàn là một điều kiện bên trong, đối với Chúa, với mình và với thế giới.
Người Do Thái mỗi lần tìm cách trốn tránh, như xin đi tế lễ Giavê ở sa mạc (Xh 5,8), thì lại bị người Ai Cập đè thêm một ách nặng. Trước, được cung cấp rơm để nung gạch. Nay, như lệnh của Pharaô, “chính chúng phải tự mình đi lượm rơm mà làm”. Thêm thời giờ đi lấy rơm, mà vẫn phải nộp gạch cho đủ số, tội nghiệp làm sao! Lệnh của Pharaô nhằm làm cho người Do Thái kiệt sức vì công việc, khiến không thể còn có ý tưởng nổi loạn hay giải phóng gì ráo.
Nơi chúng ta cũng vậy thôi. Sẽ không có một hy vọng nào bao lâu còn là tù nhân của Satan, bao lâu quyền lực của nó còn cầm giữ linh hồn và thân xác ta, xa Thiên Chúa hằng sống. Nếu Thiên Chúa không đích thân đến giải cứu, đừng hòng có chuyện giải cứu. Muôn đời sẽ vẫn là nô lệ.
Do đó, ta hiểu lời Chúa dạy trong kinh Lạy Cha: “Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Giải thoát khỏi sự dữ chính là điều Mosê đã làm xưa trong đất Ai Cập, theo lệnh Giavê, và nay được làm trong phép Rửa Tội, nhờ quyền năng của Thiên Chúa được trao ban cho Giáo Hội. Lời Thiên Chúa mời gọi mọi người tới cuộc sống tự do, đem hy vọng từ trời cao cho những ai đã mất hết hy vọng ở đời này, lời ấy được rao giảng và vang vọng trong các tâm hồn, thúc giục con người lắng nghe và đến với Giáo Hội.
Khi người ta quyết định muốn làm một con người tự do trong Nước Chúa, thì Giáo Hội ra tay hành động. Mà hành động của Giáo Hội cũng đúng phép lắm. Với một người nô lệ còn đang sống dưới quyền của chủ nó, không thể hỏi nó có muốn tự do không. Nó mà cả gan ngỏ ý muốn, như người ta hứa, chắc chắn sẽ bị phạt nặng khi chỉ còn lại một mình nó với chủ. Do sợ và quen sống nô lệ, người ta không thể xin được tự do bao lâu chưa được giải thoát khỏi quyền lực áp chế. Bởi vậy, ta hiểu vì sao trong bí tích Rửa Tội, trước khi hỏi đương sự, Giáo Hội phải giải thoát đương sự khỏi Satan cái đã. Ðó là ý nghĩa của nghi thức trừ tà. Chỉ khi đương sự được giải thoát khỏi xiềng xích nô lệ rồi, Giáo Hội mới hỏi xem có từ bỏ ma quỷ và muốn gắn bó với Ðức Kitô không.
Bằng trăm phương nghìn cách, Satan muốn ta làm nô lệ cho nó. Nhưng Thiên Chúa lại muốn những con người tự do, tự do thật sự. Tự do không bằng cách nổi dậy, cũng không bằng cách trốn tránh. Cho dù nổi dậy hay trốn tránh, người ta vẫn còn là nô lệ. Là vì sự nô lệ cho con người, như trường hợp người Do Thái ở Ai Cập, chỉ biểu thị một thứ nô lệ khác. Chỉ khi người Do Thái được Mosê hướng dẫn và soi sáng, biết rằng sự nô lệ của họ có cái gì đó liên hệ với Thiên Chúa, chứ không đơn giản là một hoàn cảnh thuần tuý của con người, chỉ khi họ quay về với Thiên Chúa, thì một điều gì đó mới có thể xẩy ra.
Nơi mỗi người chúng ta cũng thế thôi. Chỉ khi ta ý thức về sự nô lệ của ta, nô lệ cho sự dữ [sự dữ không phải là một khái niệm trừu tượng, nhưng hiện thân nơi Satan, “tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ” (Kh 12,9), kẻ chủ mưu mọi sự dữ, kẻ phá ngang (diabolos : kẻ phá ngang)], chỉ khi ta biết rằng phải hướng về Thiên Chúa, Ðấng duy nhất có thể giải thoát ta, khi ấy, ta mới có thể xin với Ngài: “Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ”.
2. “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”
Cũng như người Do Thái được Mosê kêu gọi ra khỏi Ai Cập, theo ông trong đêm tối (Xh 12,42), qua Biển Ðỏ tới sa mạc, mỗi người chúng ta cũng được đưa tới sa mạc, nơi mà một giai đoạn mới bắt đầu.
Ra khỏi Ai Cập là không còn bị áp bức, nhưng chưa hưởng ngay sự huy hoàng của Ðất Hứa đâu. Người ta còn mang theo từ Ai Cập một tâm hồn nô lệ, áo quần nô lệ, cám dỗ nô lệ. Và việc đào tạo một con người tự do mất thời gian hơn nhiều so với việc khám phá ra tình trạng nô lệ của mình. Tinh thần nô lệ còn đó, chưa nhất đán biến đi được. Những bảo đảm của cuộc sống trước đây còn quyến rũ lắm, nhất là khi phải đối mặt với những thiếu thốn của sa mạc. Nô lệ thì nô lệ, vẫn còn có chỗ tựa đầu, có cơm ăn nước uống hằng ngày, có chỗ đứng trong xã hội dù là chỗ đứng thấp kém nhất. Nô lệ thì nô lệ, nhưng được bảo đảm an ninh vì đã có chủ lo. Có khổ sở tủi nhục đi nữa, sự nô lệ vẫn là một hình thức an ninh, trong khi sự tự do là một tình trạng hoàn toàn thiếu bảo đảm. Khi nắm trong tay vận mệnh của mình, người ta phải tự xoay xở lấy mọi chuyện.
(Có khối con trai con gái trong gia đình, lớn lên, muốn tách khỏi quyền cha mẹ, muốn tự lập, muốn tự liệu lý cuộc đời mình. Nhưng khi đi kiếm việc làm để tự nuôi mình, mới thấy chuyện không đơn giản. Rồi còn phải lo lắng đủ thứ).
Tình cảm bất an này, có thể thấy, chẳng hạn, trong việc người Do Thái xin với ngôn sứ Samuel đặt cho họ một ông vua. Trong nhiều thế kỷ, Thiên Chúa đã dùng những con người thánh thiện, biết đường lối Thiên Chúa, để hướng dẫn họ. Như Amos nói (3,7), ngôn sứ là người tôi tớ được Thiên Chúa bày tỏ bí mật của Ngài. Nhưng đến thời Samuel, người Do Thái cho rằng nếu chỉ có mình Thiên Chúa hướng dẫn, cuộc sống sẽ hoàn toàn bất an. Dân thiên hạ, đâu đâu cũng phải có người đứng đầu cai trị thật sự, dẫn dắt dân, lo cho dân, bảo vệ quyền lợi, công lý, chiến thắng cho dân. Vua sẽ là người dân chúng nhìn đến và cậy nhờ trong mọi việc. Các quan án hay ngôn sứ không phải loại người đó. Thiên Chúa càng không phải, vì Ngài ở quá xa, lại không lộ diện, chưa kể còn đòi hỏi họ sống quá khác với những dân tộc chung quanh. Những dân này chẳng có các thần linh riêng đó sao? Nhưng họ vẫn có vua hẳn hoi. Chính những ông vua này đã làm cho dân tộc họ hùng cường, quốc gia họ giầu mạnh, nở mày nở mặt với thiên hạ. Israel bị kẹp gữa các đế quốc lớn, sao cho khỏi có sự so sánh?
Vậy họ tìm đến Samuel, xin đặt cho họ một ông vua, để, như họ nói, “vua xét xử chúng tôi như trong tất cả các dân tộc” (1Sm8,5). Buồn thay! Israel quên rằng họ không giống như các dân khác. Họ đã thành phàm tục khi học đòi hư danh của các nước.
Dĩ nhiên, Samuel không muốn chấp nhận điều mà ông coi là một hành vi bội giáo. Nhưng Thiên Chúa nói với ông: “Ngươi cứ nghe theo tiếng của dân trong mọi điều chúng nói với ngươi, vì không phải chúng gạt bỏ ngươi, mà là chúng gạt bỏ Ta, không chịu để Ta làm vua của chúng”. Samuel phải nghe theo chỉ thị của Thiên Chúa, nhưng không quên kèm theo lời cảnh cáo: “Ðây là quyền hành của nhà vua sẽ cai trị anh em. Các con trai anh em, ông sẽ bắt mà sắp đặt vào việc trông coi xe va ngựa của ông . Các con gái anh em, ông sẽ bắt vào làm thợ chế nước hoa, nấu ăn và làm bánh” (1Sm 8,11-13). Ðể ngoài tai những lời cảnh cáo này, họ cứ nằng nặc: Không, thế nào cũng phải có vua cho chúng tôi.
Dân Do Thái lúc này muốn mua sự bảo đảm an toàn bằng cái giá của sự tự do. Thật không khác chi thời Xuất Hành.
Ðây không phải là điều Thiên Chúa muốn cho ta. Ngài muốn ta khước từ sự an ninh giả tạo của tình trạng nô lệ, chấp nhận sự bất an của những người đang tiến tới chỗ chinh phục tự do. Khó khăn chứ không phải chuyện đùa, vì bao lâu còn tiến bước, ta vẫn chưa biết rõ thế nào là tự do, trong khi những cám sỗ của thời nô lệ lại quá lôi cuốn, hấp dẫn.
Sa mạc là nơi đào luyện con người. Sa mạc cũng là nơi thử thách, đầy cám dỗ. Bao nhiêu lần người Do Thái tỏ ra tiếc rẻ thời còn làm nô lệ bên Ai Cập. Bao nhiêu lần họ đã càm ràm không có nhà ở, không có bánh ăn, không có nước uống, làm gì cũng phải tuỳ thuộc vào ý Thiên Chúa. Họ chưa từng học biết cậy dựa hoàn toàn vào Ngài.
Vì dân có thái độ như vậy, nên một quãng đường từ Ai Cập về Ðất Hứa đâu có xa xôi gì, bình thường chỉ vài tuần là có thể đi đến nơi, thế mà họ đã phải mất 40 năm ròng rã. Lý do? Theo Ðức Gioan Phaolô II, Mosê khôn đáo để, không đưa dân về ngay Ðất Hứa, mà lại dẫn họ đi lang thang lâu như vậy, chính là để những ai còn dính bén với chế độ nô lệ cũ đều chết hết. Chỉ có những con người được đào tạo theo đường lối mới thì mới có thể vào Ðất Hứa mà thôi. Sách Thánh thì cho biết cụ thể thực tế hơn. Thiên Chúa không dẫn họ đi đường gần, vì “khi thấy phải chiến đấu, dân có thể hối hận mà quay về Ai Cập” (Xh 13,17). Quay về Ai Cập là quay lưng lại với Thiên Chúa. Và mỗi lần quay lưng lại với Thiên Chúa là mỗi lần con đường về Ðất Hứa lại dài thêm.
Trong cuộc lữ hành của ta, những cám dỗ và cạm bẫy không phải là ít. Ba chước cám dỗ chủ yếu mà Satan đưa ra cho Ðức Giêsu, vẫn thường xuyên được gợi lại cho chúng ta hôm nay: cơm bánh, của cải, quyền lực và danh vọng. Ðúng là “Ba cái lăng nhăng nó quấy ta” (Trần Tế Xương). Nhưng không chỉ có bấy nhiêu. Còn nhiều thứ khác cũng quấy ta. Quấy, vì muốn cho ta coi đó là những cái bảo đảm cho cuộc đời.
Người Do Thái ngày xưa biết rằng bỏ Ai Cập, qua Biển Ðỏ, là đi vào sa mạc thăm thẳm đầy khó khăn. Chúng ta hôm nay, thoát ách nô lệ Satan, cũng mới chỉ là đi vào sa mạc của cuộc đời trần gian này. Ðất Hứa có đó, nhưng xa vời vợi. Ta cũng phải chấp nhận những nguy cơ của cuộc hành trình. Phải lướt thắng những cám dỗ, thói hư cố hữu, nhu cầu an ninh giả tạo. Cách duy nhất để tới Ðất Hứa là đi theo bước chân của Chúa. Mỗi lần lòng trí ta trở lại Ai Cập là đi thụt lùi, lạc đường. Tất cả đã được Chúa thương giải thoát. Tất cả đã lên đường. Nhưng thử hỏi ai dám tự phụ là đã không bao giờ thụt lùi, không bao giờ lạc xa đường chính?
Thế nên phải luôn cậy vào ơn Chúa. Chỉ riêng sức ta, ta dễ sa vào những cám dỗ”. Bởi vậy, ta mới cầu xin Chúa “chớ để chúng ta sa chước cám dỗ”. Lời xin này đồng thời cũng là lời xin Chúa Cha ban Thánh Thần giúp ta nhận định và có sức mạnh chống lại những cám dỗ. Nó cũng nhắc nhở ta cố gắng không được trở lại tình trạng nô lệ cũ.
3. “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha”
Giữa Ai Cập và sa mạc, giữa nô lệ và tự do, có đường ranh giới trải dài ngăn cách. Vượt qua nó thì mới thành con người mới. Trên bản đồ, ranh giới ấy là Biển Ðỏ. Trong kinh Lạy Cha, ranh giới ấy là câu “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Vế sau nói lên điều kiện để có thể xin ơn tha thứ, vì điều Thiên Chúa sẽ làm cho ta tuỳ thuộc điều ta đã làm cho người anh chị em ta. Không phải việc ta tha thứ cho người anh chị em mua được ơn tha thứ cho ta, cũng không phải để ta xứng đáng với ơn tha thứ này, nhưng nó chứng thực lời cầu xin của ta là chân thành.
Con người ra khỏi Ai Cập mà còn mang theo hận thù ghen ghét, sẽ tiếp tục là nô lệ trong Ðất Hứa. Họ sẽ không là những con người tự do. Họ không là những người đang xây đắp sự tự do của mình. Phải loại trừ tâm tình thù hận, tức là biết tha thứ cho những ai xúc phạm đến mình. Tha cho kẻ thù, đó là đặc điểm nổi bật nhất của bác ái kitô giáo. Biết tha thứ, sẽ nhận được ơn tha thứ. Ngược lại, không tha thứ thì hành vi này được coi như chống lại chính chúng ta. Không phải Thiên Chúa không muốn tha, nhưng nếu ta không tha, ta làm thất bại mầu nhiệm tình yêu, không để cho tình yêu của Thiên Chúa có thể thấm nhập vào ta. Không có chỗ cho tình yêu trong lòng, thì cũng không có chỗ cho ta trong Nước Trời. Mãi mãi ta vẫn chỉ là những người lang thang trong sa mạc nắng cháy. Ta không thể đi xa hơn, nếu không được tha thứ. Nhưng không thể được tha, bao lâu đã không tha cho những người xúc phạm đến ta.
Phải nhận rằng tha thứ lắm khi là một việc cực kỳ khó. Tha những xúc phạm nhẹ là điều có thể làm được. Nhưng những xúc phạm nặng nề đến thanh danh, tính mạng, người thân của mình thì sao? Có những người tha mà vẫn ấm ức thế nào ấy, theo kiểu: tha thì tha rồi, nhưng quên thì chưa. Cơ hồ còn chờ đợi hành vi cải thiện của người lầm lỗi, tức là: Mức độ tha thứ của ta tuỳ vào mức độ cải thiện của người đó. Do vậy, tình cảm thù hận có khi dằng dai đến cả đời.
Trước thực tế này, ta hiểu vì sao luật tha thứ không phải là con suối hẹp ngăn cách nô lệ và tự do. Nó rộng và sâu. Nó là biển. Biển Ðỏ. Người Do Thái không đi qua Biển Ðỏ bằng tầu bè, bằng nỗ lực riêng. Thiên Chúa phải giúp họ khi Ngài dùng quyền năng tách nước Biển Ðỏ. Ðối với ta, Thiên Chúa cũng sẽ giúp ta vượt qua khó khăn này, nếu ta biết dựa vào ơn Ngài và luôn xin Ngài ban ơn, nếu ta năng suy niệm lời dạy và hành vi tha thứ của Chúa, nếu ta hiệp thông với tấm lòng của Ngài là một tấm lòng tha thứ xót thương, nếu ta thanh tẩy trí nhớ bằng cách biến đổi sự xúc phạm thành lời chuyển cầu cho kẻ thù (Mt 5,44).
4. “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”
Những gì đã có khi còn là nô lệ ở Ai Cập, giờ đây mất hết. Không còn gì khác hơn ngoài sa mạc. Sa mạc thì không thể nuôi con người, hoặc khó có thể nuôi con người. Người ta cũng không thể tin tưởng vào lương thực do thiên nhiên cung cấp. Phải có sự trợ giúp của Thiên Chúa.
Dân Do Thái vừa vào sa mạc, đến Marah đã than khát. Thì Giavê truyền cho Môsê lấy một thứ cây ném vào nước mặn, làm nước nên ngọt (Xh 15,22tt). Ðến Sin, họ than đói. Thì ban chiều Giavê cho họ có thịt (chim cun cút), ban sáng cho họ bánh (manna), để họ có thể ăn no thoả mỗi ngày (Xh 16,8.12). Ở Riphidim, dân lại than khát nữa. Thì Giavê lại cho nước vọt ra từ tảng đá mà Mosê dùng cây gậy đập vào (Xh 16,5-6).
Dân Do Thái gặp lúc đói khát, đã nghi ngờ không hiểu Giavê có ở giữa họ hay không. Nhưng việc Thiên Chúa làm cho thấy Ngài vẫn ở giữa họ và giúp họ. Chúng ta hôm nay hẳn không nghi ngờ. Biết Ngài hằng giúp đỡ, ta cầu xin Ngài ban lương thực hôm nay, hằng ngày. Thiên Chúa ban cho ta cả khi ta đi lạc đường, vì nếu Ngài không ban, ta sẽ chết trước khi tới Ðất Hứa.
Nhưng lương thực hôm nay là gì ? Là tất cả những gì cần cho sự sống. Thiên Chúa đã ban cho ta sự sống, không thể không ban những gì cần thiết để nâng đỡ sự sống ấy, cả tinh thần lẫn vật chất. Các Giáo Phụ, từ sau Origène và Tertullien, luôn cắt nghĩa lương thực không chỉ liên hệ với những nhu cầu thể xác, mà còn với Bánh nhiệm mầu, Bánh sự sống. Bánh này, biểu thị bằng manna trong sa mạc, là Mình Thánh chúng ta lãnh nhận trong Thánh Lễ, là lời Chúa chúng ta đón nhận trong đức tin. Ðây chính là ý nghĩa đặc biệt kitô giáo của lời cầu xin liên quan đến lương thực.
5. “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”
“Ý của Thiên Chúa là sự chúc dữ cho ma quỷ, là luật cho các tôi tớ Thiên Chúa, là sự tự do cho các con cái Thiên Chúa” (Khomiakov, nhà thần học Nga thế kỷ 19). Ý tưởng trên phải chăng rất đúng khi áp dụng cho dân Do Thái trong cuộc Xuất Hành? Ngày lên đường, những người vừa thoát cảnh nô lệ mới chỉ có một ý thức mơ hồ về những gì mà các con cái Chúa sẽ có. Ðể đạt tới tinh thần con cái, vóc dáng con cái, họ còn phải vuợt qua não trạng nô lệ. Ðiều này được thực hiện dần dần trong suốt cuộc hành trình dài đầy gian khổ. Ngày qua ngày, họ làm thành một cộng đồng các tôi tớ Thiên Chúa, nhận ra rằng Thiên Chúa không giống như Pharaô, nhưng là Thiên Chúa các đạo binh. Ðối với Ngài, họ phải tỏ ra tuân phục tuyệt đối. Họ có thể chờ đợi Ngài phạt họ, và cũng mong Ngài thưởng cho họ, biết rằng Ngài dẫn họ vượt qua những gì họ thấy, họ hiểu, tới ơn gọi cuối cùng của họ, tức là ơn gọi làm con cái.
Có một ý tưởng rất quen thuộc trong các tác phẩm tu đức kitô giáo đầu tiên. Ðó là người ta phải đi qua 3 giai đoạn : giai đoạn nô lệ, giai đoạn làm thuê, giai đoạn con cái. Nô lệ là người vâng phục vì sợ hãi. Người làm thuê vâng phục để lãnh tiền công. Con cái vâng phục vì yêu mến. Trong cuộc Xuất Hành, ta có thể thấy dân Chúa ngày một ngày hai vượt qua giai đoạn nô lệ và làm thuê như thế nào. Ở Sinai, họ đã bước tới ngưỡng cửa của giai đoạn thứ ba, mở vào Ðất Hứa. Chính ở Sinai, dân đã khám phá ra ý muốn của Thiên Chúa, qua Lề luật Ngài ban hành: ngươi phải làm điều này, ngươi đừng làm điều kia.
Ðấy là theo não trạng Cựu ước. Nhưng dưới ánh sáng Tân ước, với cái nhìn của ta hôm nay, thì lề luật chỉ quy về việc mến Chúa yêu người. Mối liên hệ đúng đắn giữa ta với Chúa, với nhau và với chính mình được thâu tóm trong những khía cạnh yêu mến đó.
Người Do Thái phải thực hiện ý muốn của Thiên Chúa qua Lề luật Sinai. Chúng ta hôm nay, trong kinh Lạy Cha, cũng xin cho ý này thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Thực hiện ý Chúa không có nghĩa là vâng phục cam chịu ý muốn ấy, như nguời Do Thái xưa, hoặc như người ta thường hình dung. Ðây là một thái độ tích cực, thái độ của những người con, thực hiện ý Thiên Chúa theo tinh thần của Ðức Kitô, Con Thiên Chúa, Ðấng vâng phục, Ðấng đến để thi hành thánh ý Chúa Cha (Dt 10,7).
6. “Nước Cha trị đến”
Giữa một Thiên Chúa quyền uy, như được nhận ra ở Ai Cập rồi ở sa mạc, và một Thiên Chúa như ta nhận ra trong Ðất Hứa hôm nay, có sự khác nhau. Ở Ai Cập và sa mạc, ý của Thiên Chúa lúc nào cũng thắng thế. Không một ai có thể chống lại. Trước ý muốn này, vâng phục có nghĩa là lệ thuộc. Dần dần, qua từng giai đoạn, ta thấy Thiên Chúa quyền uy này không như một kẻ buôn nô lệ, nhưng là một ông vua nhân từ. Một khi vâng phục Ngài, mọi sự sẽ thay đổi. Rồi lại thấy ta có thể còn khác hơn là những thần dân thuần tuý. Cuối cùng, ta khám phá ra vua theo ý nghĩa đầy đủ và sâu sắc nhất, như thánh Basiliô đã mô tả: “Mọi thủ lãnh đều có thể cai trị, nhưng chỉ mình đức vua là có thể chết cho dân”.
Ở đây, vua đồng hoá với thần dân, đồng hoá với Vương quốc, đến nỗi mọi điều xẩy ra cho Vương quốc là xẩy ra cho vua. Và không chỉ có sự đồng hoá mà, đúng hơn, là một hành vi thế chỗ. Thế chỗ vì yêu.Vua hạ cố vào hạng thần dân. Vua trở thành con người. Thiên Chúa nhập thể. Ngài đi vào vận mệnh của nhân loại, sống điều kiện của con người khi mặc lấy xác phàm, trở nên giống hệt mọi người chỉ trừ tội. Ngài đi sâu vào điều kiện này cho tới chỗ bị xét xử, bị kết án và phải chết.
Vua đó, Vương quốc đó, chính là Nước Thiên Chúa nói trong kinh Lạy Cha. Nếu không trở nên một với Ðức Kitô, với tất cả tinh thần của Vương quốc hiểu theo một cách mới, ta không thể được gọi là con cái Thiên Chúa, không thể xin cho Nước Cha trị đến. Ðây là Vương quốc tình yêu. Vào Vương quốc là phải có tình yêu. Mà tình yêu có một khía cạnh bi đát, bao hàm sự chết. “Yêu là chết trong lòng một tí”. Ðúng hơn, không phải một tí, nhưng con người ích kỷ của ta phải chết hoàn toàn, chết dữ dội, như Ðức Kitô đã chết bằng cái chết thập giá.
7. “Nguyện danh Cha cả sáng”
Trước khi Mosê đưa dân ra khỏi Ai Cập, Giavê đã mạc khải danh Ngài cho ông (Xh 3,14). Ngài tiếp tục bày tỏ danh Ngài trước mặt toàn dân khi giải thoát họ khỏi tay Pharaô. Ngài được phủ đầy vinh quang. Từ khi có Giao ước Sinai, dân Do Thái phải là một dân thánh (hoặc được thánh hiến), vì danh Thiên Chúa ở trong dân. Thế nhưng dân vẫn xúc phạm đến danh thánh giữa các dân ngoại (Êd 20,36). Họ đã làm cho danh Thiên Chúa, thay vì cả sáng, lại ra ô tục.
Ðối với ta hôm nay, danh Chúa chỉ có thể cả sáng và được ta tôn vinh trong bối cảnh Nước Thiên Chúa. Không phải những lời nói hay hành vi của ta tôn vinh Thiên Chúa, ngay cả trong Phụng Vụ, làm sáng danh Ngài, cho bằng chính sự kiện ta là Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa là vinh quang của Ðấng tạo thành và cứu chuộc ta, nên để làm sáng danh Ngài, chúng ta phải sống thánh thiện và không tì ố trước mặt Ngài, trong tình yêu. Xin cho danh Cha cả sáng cũng là xin cho chúng ta biết sống như thế, sống thánh, như lời mời gọi thường xuyên của Chúa, của Giáo Hội.
8. “Lạy Cha chúng con ở trên trời”
Khi Mosê hỏi Thiên Chúa xem Ngài là ai để đi nói với dân, ông đã được nghe một danh xưng chỉ có nghĩa là “Thiên Chúa có” (Ta có sao, Ta có vậy; Ta là Ðấng hiện hữu), không phải danh xưng Cha. Dầu vậy, trong cuộc Xuất Hành, Thiên Chúa tỏ mình ra như Cha của Israel, khi Ngài bảo vệ họ, nuôi dưỡng họ, đồng thời cũng là chủ của họ. Ý tưởng cơ bản vẫn là ý tưởng về một chủ quyền nhân hậu, một sự quan phòng đòi Israel phải tùng phục và tin tưởng. Tuy họ công nhận một Thiên Chúa cao cả, quyền năng, yêu thương, nhưng họ chưa thể gọi Thiên Chúa là Cha. Vì sao? Vì chưa có mạc khải của Ðức Kitô. Chỉ mình Ðức Kitô có thể cho người ta biết Thiên Chúa là Cha: “Không ai biết rõ người Con trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho” (Mt 11,27).
Vậy ai được người Con mạc khải cho biết Thiên Chúa là Cha? Ðó là các người kitô hữu. Ðó là chúng ta. Biết Thiên Chúa là Ðấng tạo dựng muôn loài, nhiều người có thể biết. Biết Thiên Chúa theo kiểu Israel thuở đầu, nhiều người cũng có thể biết. Nhưng biết Ngài là Cha, thì chỉ có người kitô hữu chúng ta được biết, trong Ðức Kitô, trong đức tin. Chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Cha chúng ta, vì Con của Ngài làm người đã mạc khải như thế cho ta, vì Thánh Thần cho ta biết về Ngài.
Khi gọi Thiên Chúa là Cha, chúng ta sống trong một tương quan mới mẻ với Ngài. Thiên Chúa là Cha chúng ta, vì Ngài đã cho ta làm nghĩa tử trong Con Một yêu dấu của Ngài. Nhờ phép Rửa Tội, Thiên Chúa giải thoát ta khỏi ách nô lệ Satan, cho ta tháp nhập vào Thân Thể Ðức Kitô. Chính khi là chi thể trong Thân Thể Ðức Kitô, ta mới là con cái Thiên Chúa, và mới có thể gọi Thiên Chúa là Cha. Nhờ phép Rửa Tội, chúng ta trở thành “những con người mới, được tái sinh và được trả lại cho Chúa mình nhờ ân sủng; chúng ta sẽ trước hết nói “Cha ơi”, bởi vì đã trở thành những người con” (Cyprianô).
***
Biết gọi Thiên Chúa là Cha tức là đã tới Sion, tới đỉnh núi. Và ở đỉnh núi, ta tìm thấy Cha. Từ nơi này, ta có thể xoay người nhìn lại phía sau, có thể bắt đầu đọc kinh Lạy Cha theo thứ tự mà chính Ðức Kitô đã dạy ta, như kinh của người Con duy nhất, kinh của Giáo Hội, kinh của mỗi người chúng ta là con cái Thiên Chúa kết hợp với những con cái khác. Chỉ khi đó, ta lại có thể xuống núi, từng bước một, để gặp gỡ tất cả những ai còn đang đi trên đường, hoặc những ai chưa bắt đầu hành trình. (*)
———-
(*) Bài này lấy ý trong Anthony Bloom, Prière vivante, Cerf, 1972, pp.23-51
Môn đệ là người đi tìm Thầy. Gặp và nhận biết Thầy rồi thi theo Thầy, yêu mến, học tập, trò chuyện, phục vụ, trung thành với Thầy. Về phía Thầy thì nhận môn đệ, cho đi theo, yêu thương và giáo huấn. Giữa con người, tương quan Thầy trò là như vậy, hoặc ít ra đó là lý tưởng mà cả Thầy lẫn trò đều muốn. Nó đã từng được thể hiện trong các môn phái triết học. Nó đã và còn đang được thể hiện trong các môn phái tôn giáo.
Người môn đệ của Chúa không chỉ có những thái độ và hành vi trên đây đối với Chúa, mà còn có cái gì khác hơn. Ði sau Chúa, ở bên Chúa, đối diện với Chúa, chưa đủ. Thậm chí có sống thân mật như kiểu Thầy trò ăn chung ở chạ như ngày trườc, cũng chưa đủ. Giữa ta và Chúa còn phải có sự cư ngụ nội tại hỗ tương (immanence réciproque, Schnackenburg). Chúa ở trong ta và ta ở trong Chúa. Một sự kết hợp mật thiết không thấy có trong bất cứ tương quan nào giữa con người với nhau. Chúng ta thử xem sự kết hợp này như thế nào, cùng với những thái độ cần có nơi chúng ta.
1. “Hãy ở lại trong Thầy”(Ga 15,4)
* Ở lại hay lưu lại là một kiểu nói đặc trưng của thánh sử Gioan, được tác giả sử dụng tới 41 lần trong sách Phúc Âm và 24 lần trong thư I. Nó diễn tả một trong những hành vi cơ bản của người môn đệ đáp lại sáng kiến mời gọi đầy yêu thương của Chúa. Người môn đệ không những phải thấy, biết, đón nhận, nghe, tin, yêu . mà còn phải lưu lại trong Thầy.
Như đã thấy trong trình thuật của Phúc Âm Gioan về việc Ðức Giêsu kêu gọi hai môn đệ đầu tiên, các ông đã đi theo Chúa và đã ở lại với Ngài ngày hôm đó. Việc ở lại này quan trọng và có ý nghĩa biểu trưng ra sao, chúng ta đã có dịp nói qua. Ðây cũng là việc mà mọi môn đệ của Chúa phải làm: khám phá nơi Chúa ở và lưu lại với Ngài.
Khi rao giảng cho người Do Thái và thấy một số người đã bắt đầu tin, Chúa nói với họ: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi” (Ga 8,31). Môn đệ là người luôn phải trung thành với Thầy. Một trong những cách chứng tỏ sự trung thành này là vâng nghe và gắn bó với lời Thầy dạy, tức ở lại trong lời Thầy. Vậy lời Chúa phải thấm sâu vào con người của ta. Không những nó vang lên trong đó, mà còn phải được thực sự đón nhận, tiêu hoá, trở thành nguyên tắc chi phối tất cả mọi tư tưởng, tình cảm, lời nói và hành động của ta. Lời Chúa phải là nguyên tắc sống.
Ở lại với Chúa, ở lại trong lời Chúa, ở lại trong tình yêu (Ga 15,9-10), ở lại trong ánh sáng (1Ga 2,10), ở lại trong sự thật., tất cả đều quy về thực tại cơ bản này là ở lại trong Chúa, kết hợp và hiệp thông sâu xa với Ngài. Chúng ta cùng nhau suy nghĩ về việc ở lại này trong hai diễn từ khác nhau của Chúa, một về cây nho thật xen giữa diễn từ giã biệt sau bữa Tiệc Ly, một về Bánh hằng sống.
* Khởi đầu diễn từ về cây nho (Ga 15,1tt), Ðức Giêsu xưng mình là cây nho thật. Chúa Cha là người trồng. Các môn đệ là nhánh. Nhánh phải dính vào thân cây để có thể sống, tăng trưởng và sinh hoa trái. Chính việc gắn bó tháp nhập này được Chúa chỉ định bằng kiểu nói “ở lại”. Ngài bảo các môn đệ: “Hãy ở lại trong Thầy”. Ở lại trong Chúa, vì Ngài là cây nho thật.
Thật, vì có giả. Cây giả ở đâu và thời nào khiến Chúa phải xưng mình là cây nho thật để đối lại? Chính là Israel. Các ngôn sứ thường ví Israel là cây nho hay vườn nho của Thiên Chúa, được Ngài chọn lọc và chăm sóc tận tình. Nào ngờ, thay vì cho quả ngọt, vườn nho này lại cho nghững trái chua. Là vì Israel đã thường xuyên bất trung với Giao Ước, xé rào đi đến với các tà thần dân ngoại. Thiên Chúa đã xử phạt, để vườn nho bị dày xéo. Nhưng, như TV 80 nói, Thiên Chúa hứa sẽ trồng lại.
Nay Ðức Giêsu tuyên bố mình là cây nho thật. Lời này quả sâu xa và thấm thía đối với những ai hiểu biết Kinh Thánh. Họ biết lời Thiên Chúa hứa đã được thực hiện. Thay cho vườn nho cũ là Israel, giờ đây Thiên Chúa đã trồng cây nho mới là Ðức Kitô. Tất cả vườn nho thu lại trong một cây nho. Vườn nho cũ bất trung, bất tuân, thì cây nho mới trung thành và vâng phục. Vườn nho cũ cho trái xấu thì cây nho mới sinh trái tốt. Vườn nho cũ dẫn tới sự chết thì cây nho mới đem lại sự sống. Qua cây nho thật này, từ đây, tình yêu của Thiên Chúa, sự sống của Thiên Chúa, đổ tràn xuống trên con người.
(Hiểu như vậy thì từ “thật” của tác giả Gioan thường ra không chỉ có ý nghĩa là phù hợp với một mẫu mực nào đó, như khi ta nói vải thật, hàng thật. Nó còn diễn tả một điều vượt lên trên thực tại trần thế, diễn tả chân lý của Thiên Chúa, mà tạo vật chỉ là hình ảnh mô phỏng. Khi Chúa nói: “Thịt tôi là của ăn thật” (Ga 6,55), thì Ngài muốn ta hiểu rằng đó không phải là lương thực trần gian, dù là lương thực lạ lùng như manna, nhưng là lương thực ban sự sống thật là sự sống đời đời. Hoặc khi Chúa nói: “Thầy là cây nho thật”, thì phải hiểu đó không phải là cây nho vật chất và cụ thể, nhưng là nguyên lý cao cả của sự sống thần linh được thông ban cho các tín hữu).
Nếu Ðức Giêsu là cây nho thật, đem lại sự sống, thì ai muốn được sống, phải là nhánh ghép vào thân cây, phải gắn bó vững bền với Chúa. Ơn cứu độ của Chúa như nhựa luyện từ thân cây sẽ lưu chuyển đến tận các nhánh, làm cho chúng được sống, xanh tốt và sinh hoa kết quả. Chủ yếu là mối liên hệ gắn bó mật thiết của nhánh với thân cây, của ta với Ðức Giêsu (Những chữ “trong Thầy” được nhấn mạnh tới 5 lần trong bản văn). Ðó là mối liên hệ sinh tử, mang tính quyết định. Nó đưa đến hệ quả trực tiếp là làm cho ta sinh nhiều hoa trái.
Ở lại trong cây nho thật là Ðức Giêsu cũng chính là ở lại trong Chúa Cha, vì Chúa Cha là người trồng và chăm sóc cây nho, vì Chúa Cha kết hợp với Chúa Giêsu trong tình yêu, vì Chúa Cha với Chúa Giêsu là một.
Ở lại trong Chúa là thái độ phải có của ta. Nhưng liên hệ giữa ta với Chúa không chỉ theo một chiều. Chính Chúa cũng ở lại trong chúng ta, như hai lần Ngài quả quyết: “Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4-5). Quả quyết này thật quan trọng. Nó xác định mối liên hệ hỗ tương giữa thân cây và các nhánh, giữa Ðức Kitô và chúng ta. Chúa ở lại trong ta không đơn thuần như nhựa cây lưu chuyển trong các nhánh, không chỉ qua các hồng ân cứu độ hằng được Ngài trao ban, nhưng Ngài thực sự hiện diện trong chúng ta.
Chính việc Chúa ở lại trong ta giúp ta có thể là người môn đệ, và làm những công việc của một môn đệ, vì ngoài Chúa ra ta không thể làm được gì (Ga 15,15). Chính việc Chúa ở lại trong ta khiến ta xin gì được nấy. Chính nhờ việc ở lại này mà ta có thể sinh hoa trái dồi dào và làm cho Chúa Cha được hiển vinh. Ngoài ra, nó còn tạo nên sự hiệp nhất của hết thảy chúng ta.
Những viễn tượng trên đây diễn tả và chi phối tất cả một đời sống thiêng liêng. Ðiều kiện của đời sống này là ta ở trong Chúa. Thực hiện đời sống này là Chúa ở trong ta.
Sự kết hợp sâu xa giữa ta và Chúa, qua kiểu nói “ta ở trong Chúa và Chúa ở trong ta”, cũng được Chúa tuyên bố trước đó trong một bối cảnh khác. Ðó là lúc Chúa giảng về Bánh ban sự sống, giảng cho nhiều người nghe là đám đông dân Do Thái (Ga 6,22tt). Chúa nói thế này: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”. Yếu tố kết hợp ở đây, có thể nói, là một thực tại cao hơn, cụ thể hơn, so với hình ảnh thân nho và các nhánh. Thực tại này là một bí tích do chính Chúa sẽ lập trong bữa Tiệc Ly. Ðó là bí tích Thánh Thể, mà người môn đệ lãnh nhận trong đức tin, và lãnh nhận như một lương thực nuôi sống. Cũng như khi ở lại trong lời chúa, chúng ta dần dần đi sâu vào chân lý, để có thể thực sự sống trong tự do, như những con cái Thiên Chúa (Ga 8,32-36), cũng vậy, nhờ Thịt Chúa mà ta ăn, nhờ Máu Chúa mà ta uống, ta có thể thâm nhập vào chính Sự Sống để được sống đời đời. Ta sống nhờ Chúa Kitô Thánh Thể như Chúa Kitô sống nhờ Chúa Cha là Ðấng hằng sống.
2. “Ai ăn thịt và uống máu tôi”(Ga 6,54)
Ăn thịt và uống máu Chúa thì ở lại trong Chúa và Chúa ở lại trong ta. Ăn thịt và uống máu Chúa thì có sự sống đời đời. Như thế, ở lại trong Chúa cũng chính là được sống đời đời. Kết quả này có được là do ăn uống Thành Thể. Vậy rước lễ là điều kiện để ở lại trong Chúa, kết hợp mật thiết với Chúa và là điều kiện sống. Ngược lại là chết, như lời Chúa long trọng khẳng định: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình”. Do đó, Thánh Thể không phải là chuyện bày vẽ để tuỳ nghi sử dụng, thích thì đến, không thích thì thôi, nhưng thực sự cần thiết cho con người. Thử suy nghĩ một chút về điều kiện này.
* Muốn sống, phải ăn phải uống. Ðó là chuyện đương nhiên. Ðiều xẩy ra cho đời sống thân xác thế nào, cũng xẩy ra cho đời sống thiêng liêng như vậy. Tuy nhiên, so với của ăn phần xác, của ăn phần hồn là Thánh Thể cao quý gấp bội. Thánh Thể chính là sự sống của Thiên Chúa, mang lại cho ta sự sống đời đời.
Sự sống này tiên vàn được ban cho Ðức Giêsu. Ðức Giêsu lãnh nhận nó cho đời sống nhân loại của Ngài kể từ lúc nhập thể. Ðến lượt ta, ta lãnh nhận sự sống ấy nơi Ðức Giêsu, đặc biệt qua việc ta rước lễ. Chúa nói rõ: “Như Chúa Cha là Ðấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57). Lời trên đây đối chiếu hai cách chuyển đạt sự sống của Thiên Chúa, một cho Ðức Giêsu và một cho ta. Lời trên đây cũng đối chiếu tương quan của Chúa Cha với Ðức Giêsu và tương quan của Ðức Giêsu với ta. Chỉ mình lời đó đủ cho thấy việc rước lễ thật cao cả, thật nhiệm mầu.
Sự sống ta lãnh nhận trong Thánh Thể là sự sống phát xuất từ Chúa Cha. Từ đời đời, Chúa Cha đã sinh Chúa Con và chuyển thông sự sống này cho Chúa Con. Rồi khi Chúa Con nhập thể, Chúa Cha đã mở rộng sự sống này cho nhân tính của Chúa Con. Như vậy, nơi Thiên Chúa, sự sinh con trong thời gian nối dài sự sinh con tự đời đời. Chúa Cha còn mở rộng hơn sự sinh con này, khi chuyển thông cho ta sự sống của Ngài qua Thánh Thể. Mỗi lần ta rước lễ là mỗi lần như làm cho Chúa Cha trở thành Cha hơn, và làm cho chúng ta trở thành con cái hơn, vì ta được đồng hoá với sự sống của người Con Một là Ðức Kitô.
Quả thực, rước lễ là được đồng hoá với Ðức Kitô. Nhưng phải hiểu ý nghĩa này cho đúng. Khi ta dùng lương thực tự nhiên, lương thực này được tiêu hoá, biến đổi thành chất dinh dưỡng, thành năng lượng phục vụ cho đời sống tự nhiên của ta. Của ăn thức uống nuốt vào trong dạ là để trở nên chính ta.
Ðối với lương thực thiêng liêng là Thánh Thể thì ngược lại. Thánh Thể không bị người sử dụng tiêu hoá, nhưng tiêu hoá chính người sử dụng. Các Giáo Phụ đã diễn giải điều đó như sau: Nguyên lý sống nào mạnh hơn, thì làm biến đổi nơi mình nguyên lý sống nào yếu hơn: thực vật tiêu hoá khoáng vật, động vật tiêu hoá thực vật, thiêng liêng tiêu hoá vật chất. Ở đây, bánh thần thiêng có ưu thế hơn vật chất là chính người sử dụng nó, cho nên tiêu hoá người sử dụng nó. Do đó, trong việc rước lễ, không phải ta làm biến đổi Ðức Kitô nơi ta, nhưng chính Ðức Kitô làm biến đổi ta trong Ngài. Ta dần dần trở nên cái mà ta ăn. Ta không chiếm hữu Thiên Chúa, nhưng để chính Ngài chiếm hữu ta. Bởi vậy, một Augustinô chẳng hạn, đã sớm nghĩ đến điều ấy và đã đặt vào miệng Chúa lời sau đây: “Không phải Ta biến đổi Ta trong ngươi, như là đồ dinh dưỡng thân xác ngươi, nhưng ngươi sẽ được biến đổi trong Ta” (Confessions I,7,10).
Chính nhờ rước lễ, ta có khả năng thực hiện điều Phaolô viết: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Thực tế, ta vẫn sống đời sống của ta, nhưng trước mặt Thiên Chúa, trong đức tin, ta biết Ðức Kitô đã nên như chủ thể của đời sống ấy. Càng năng rước lễ, Ðức Kitô càng làm chủ tâm hồn ta, càng làm phát triển sự sống của Ngài nơi ta, càng chia sẻ cho ta những tư tưởng, tình cảm, ước muốn và hoạt động của Ngài. Ðời sống của ta, ngày qua ngày, sẽ trở thành đời sống của chính Ðức Kitô.
* Kết hợp với Thánh Thể là kết hợp với sự sống của Thiên Chúa. Kết hợp với Thánh Thể cũng là kết hợp với tình yêu, vì Thánh Thể là hiện thân của tình yêu. Khi rước lễ, ta được Chúa chia sẻ tình yêu của Ngài.
Chúa nói: “Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy”. Ðức Giêsu sống nhờ Cha, không chỉ do nhận được sự sống từ Cha, mà con là sống vì Cha, sống cho Cha. Cha là lý do, là động lực, là mục tiêu của cuộc đời trần gian của Ngài. Ðến nỗi, cả cuộc đời này chỉ là những chuỗi ngày bày tỏ liên tục tình yêu đối với Cha, bằng sự vâng phục và tự hiến.
Nếu người rước lễ là chúng ta phải sống nhờ Ðức Kitô và vì Ðức Kitô, như Ðức Kitô đối với Chúa Cha, thì ta cũng phải có Ðức Kitô như là lý do, là động lực, là mục tiêu của cuộc đời ta. Phải dâng cho Ngài tất cả tình yêu của mình. Phải hoà trộn tình yêu của mình trong tình yêu của Ngài.
Khi ta rước lễ, Chúa mời gọi ta tới một tình yêu hoàn hảo hơn. Tình yêu này, Ngài đã thực hiện cho ta trong phép Rửa Tội. Bí tích này giúp cho tâm hồn lần đầu tiên thực sự gặp được Ðức Kitô. Bằng ân sủng, Chúa đến chiếm hữu ta, ban cho ta sự sống của Thiên Chúa. Rước lễ là lặp lại cuộc gặp gỡ này, nhưng là cuộc gặp gỡ có tính cách cá nhân hơn, ý thức hơn: cuộc gặp gỡ của hai ngôi vị. Ðiều mà phép Rửa Tội không cho ta có được, thì việc rước lễ lại cống hiến cho ta. Ðiều gì vậy? Ðó là đích thân Chúa hiện diện, một sự hiện diện ngay cả bằng xác thể. Trong phép Rửa Tội, ân sủng của Ðức Kitô chạm đến ta. Còn trong việc rước lễ, ta lãnh nhận con người Ðức Kitô. Chính sự hiện diện đặc biệt này giúp cho tình yêu của ta hội nhập vào tình yêu của Chúa.
Thế, hoà trộn tình yêu có giống với tiêu hoá sự sống nói ở trên chăng? Không đâu. Phải phân biệt hai hiệu quả này. Tiêu hoá sự sống thì đời sống của ta ngày một biến đổi để trở thành đời sống của Chúa. Ngược lại, hoà trộn tình yêu lại không làm mất đi ngôi vị của ta. Không thể có tình yêu nếu không có chủ thể để yêu và đối tượng được yêu. Cho dù ta với Chúa có kết hợp với nhau mật thiết, vẫn còn hai ngôi vị tách biệt. Tuy nhiên, do sự kết hợp này, Chúa lôi kéo tình yêu của ta hướng về ngôi vị của Ngài.
* Ngoài việc đưa ta đến kết hợp mật thiết với Chúa, rước lễ còn giúp ta kết hợp sâu xa hơn với Nhiệm Thể, với Giáo Hội, vì Ðức Kitô cùng với Giáo Hội làm nên một Thân Thể mà Ngài là Ðầu. Ta tháp nhập hơn vào cộng đồng, liên đới hơn với các anh chị em.
Ðây là nói về việc rước lễ trong Thánh Lễ. Chính Thánh Lễ đã là một bữa tiệc cộng đồng. Cùng nhau tham dự một bữa ăn chẳng hạn, mọi người đều phải có một tình huynh đệ liên đới nào đó, một mối thiện cảm nào đó, một sự hiệp thông nào đó với nhau. (Trong bữa ăn gia đình, có những cha mẹ, vì không đào đâu ra thì giờ để gặp gỡ con cái trong ngày, nên lợi dụng bữa ăn để khiển trách chúng về lỗi này lỗi nọ. Ðâu phải lúc! Họ vô tình làm mất đi những tính cách trên. Dân gian có câu: “Trời đánh còn tránh bữa ăn”. Trời tránh, nhưng lắm cha mẹ không biết tránh. Làm cho con cái chịu không nổi phải bỏ đũa đứng lên, thì còn đâu là ý nghĩa của bữa ăn chung. Những cha mẹ đó không biết tới lời của sách Châm Ngôn: “Thà bữa rau bữa cháo mà yêu thương nhau còn hơn mâm cao cỗ đầy mà bất hoà bất thuận. Thà ăn mẩu bánh khô mà được êm ấm còn hơn yến tiệc mà nhà cửa bất hoà” (Cn 15,17; 17,1).
Những tính cách hiệp thông, thiện cảm, bình đẳng . càng phải có trong bữa tiệc Thánh Thể, để bữa tiệc này thực sự nói lên giá trị cộng đồng của nó. Ðức Kitô đến trong Thánh Thể, ban mình cho mọi người không phải với tư cách từng cá nhân riêng rẽ, nhưng là những phần tử của một cộng đồng. Cộng đồng tham dự Thánh Thể còn biểu thị cho cộng đồng lớn lao hơn, là Giáo Hội.
Việc tham dự Thánh Thể còn cho thấy sự hiệp nhất của chúng ta quy tụ quanh bàn tiệc. Việc rước lễ càng cho thấy sự hiệp nhất đó, vì tất cả chúng ta cùng ăn một của ăn duy nhất. “Vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,17).
Trong một bữa ăn thông thường, các của ăn được chia giống nhau cho mọi người. Ai nấy đều có phần trong các của ăn đó. Trong tiệc Thánh Thể, chỉ có một của ăn duy nhất là Ðức Kitô ban mình cho các người chịu lễ. Mọi người lãnh nhận cùng một của ăn ấy, thậm chí của ăn còn giống nhau về hình dạng bên ngoài, là một mẩu bánh thánh “hình tròn, sắc trắng, mùi ngon”. Chính một của ăn duy nhất tạo nên sự hiệp nhất nơi các người ăn.
Như vậy, việc rước lễ không ngừng làm tăng trưởng Giáo Hội, vì đưa vào tâm hồn các tín hữu Ðấng là nền tảng đời sống của họ. Ở bàn tiệc thánh, nhất là nhờ việc rước lễ, Giáo Hội mỗi ngày tìm lại được nguyên lý sống động chi phối sự hiệp nhất của mình.
Khi nói về sự kết hợp vợ chồng, Phaolô đã đưa ra khuôn mẫu là sự kết hợp giữa Ðức Kitô và Giáo Hội. Phaolô bảo rằng Ðức Kitô đã phó nộp mình để tắm rửa Giáo Hội bằng nước và lời, làm cho Giáo Hội được thánh thiện và vô tì tích (Ep 5,25-27). Chúng ta có thể nối dài tư tưởng trên đây như sau: Ðức Kitô còn phó nộp mình làm lương thực cho Giáo Hội, để giúp Giáo Hội sốt mến hơn trong tình yêu, vững chắc hơn trong sự hiệp nhất.
* Việc ăn uống Mình Máu Chúa, với những giá trị và tầm quan trọng của nó trong đời sống kitô giáo, của từng người cũng như của cả cộng động, thật đáng cho chúng ta quan tâm suy nghĩ. Nhất nữa, đây lại là việc chúng ta thực hành hằng ngày hay thường xuyên. Không quan tâm, ăn riết dám nhàm chán lắm đa!
Người ta có thể ăn vì nhu cầu. Người ta cũng có thể ăn vì khoái. Một con mực khô, nướng lên, xé từng sợi, nhấm nháp, hẳn không làm cho dạ dầy no thêm chút nào, nhưng quả là khoái cái miệng. Một tách cà phê Buôn Ma Thuột, nhâm nhi lúc tinh mơ hay lúc nhàn tản, có mấy hương vị nào khác bì kịp? Uống xong, chép miệng còn thấy dư hương đọng trên đầu lưỡi!
Ðối với của ăn là Thánh Thể, trước hết phải cảm thấy nhu cầu thực sự. Việc rước lễ hằng ngày chưa chắc đã biểu lộ nhu cầu ấy. Có thể rước lễ vì thói quen. Có thể rước lễ vì bổn phận, như trường hợp chủ tế. Có thể rước lễ vì thấy chung quanh người nào cũng lên cả, mình không lên e có kẻ nghĩ xấu: hẳn tên này mới phạm tội gì trọng đây.
(Như chúng ta đều biết: để có thể rước lễ, cần phải sạch tội trọng và có ý ngay. Người mắc tội trọng mà ăn của ăn thánh tức là xúc phạm đến Mình Máu Chúa, chuốc lấy án phạt cho mình, như lời Phaolô cảnh cáo (1Cr 11,27-29). Thay vì làm ta kết hợp với Chúa, lại làm ta xa cách Chúa. Trong Giáo Hội sơ khai, lúc sắp sửa nghi thức hiệp lễ, Thầy Phó Tế tuyên bố trước cộng đoàn: “Ai thánh thiện, hãy tiến lên. Ai không thánh thiện, hãy thống hối” (Didachè 10). Nay mà nói như vậy, khối người không dám rước lễ. Còn lên rước lễ chỉ vì người khác, cũng là không có ý ngay).
Chúng ta chỉ cảm thấy nhu cầu khi thâm tín rằng Thánh Thể là sự cần thiết sinh tử cho đời sống thiêng liêng, ít nhất để đời sống này có thể tăng trưởng. Tuy nhiên, ăn vì nhu cầu thôi chưa đủ, bởi lắm lúc không cảm thấy nhu cầu này, hoặc không thấy rõ nét. Thật khác với nhu cầu của thân xác, không ăn thì bụng sẽ đói meo, cồn cào, biết ngay.. Hơn nữa, ăn uống vì nhu cầu đôi khi làm cho ta có cảm tưởng bị bó buộc. Ai vì bệnh nọ tật kia phải ăn uống theo chế độ riêng, không thấy khó chịu đó sao?
Người dùng lương thực thánh còn phải biết vượt lên trên mức nhu cầu, nghĩa là phải thấy khoái với lương thực này nữa. Dĩ nhiên, về hương vị mà giác quan cảm thấy, Thánh Thể quả không sánh được với các thứ cao lương mỹ vị do con người chế tác. Thánh Thể không làm ta khoái trên chót lưỡi đầu môi, trong từng sợi gân thớ thịt. Vậy phải tập cảm nếm hương vị của Thánh Thể tận trong tâm hồn. Ðó là hương vị của việc chiếm hữu Thiên Chúa, hương vị của tình yêu.
Chính hương vị này làm cho những ai rước lễ cảm thấy vừa còn đói, vừa không còn đói. Sách Huấn Ca viết: “Ai ăn Ta sẽ còn đói” (24,21). Ðói, vì không bao giờ thấy chán ngán. Có được Chúa thì ngọt ngào hơn cả tầng mật ong (Hc 24,20). Ăn một lại muốn ăn hai. Ăn ngày trước ngày sau còn thèm. Nhưng Ðức Giêsu lại nói: “Ai đến với tôi, không hề phải đói” (Ga 6,35). Không còn đói, vì được Chúa là được no thoả vui khoái sâu xa, khiến không còn khao khát điều gì khác trên đời nữa.
Thánh nữ Catarina Siêna dâng lời cầu nguyện lên Ba Ngôi như sau: “Một cách nào đó Chúa làm no thoả tâm hồn, nhưng lại để nó đói khát thêm, bởi vì trong sự thâm sâu của Chúa, Chúa làm no thoả tâm hồn theo cách lại để nó còn đói khát, muốn ao ước được thấy Chúa là Ánh sáng trong chính ánh sáng của Chúa”. Ðem những lời trên mà áp dụng vào Thánh Thể thì cũng đúng thôi.
***
Có một Thánh Vịnh, tuy chủ yếu nói lên tâm tình khao khát Thiên Chúa, nhưng cũng có một vài ý đáp ứng với đề tài của chúng ta về việc kết hợp với Ðức Kitô. Ðó là TV 62/63.
Sau khi đã mòn mỏi đợi trông tìm kiếm Chúa, người cầu nguyện cảm thấy “lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc”. Vì sao? Vì được “ngắm nhìn Chúa trong nơi thánh điện”, và tán dương cầu khẩn Ngài. Ðó cũng là trường hợp của chúng ta.
Thế nhưng, hơn tác giả Thánh Vịnh ngày trước, sau khi tìm gặp Chúa “ngay từ rạng đông” mỗi ngày, chúng ta được thoả thuê không phải “như” khách dự tiệc mà thôi, nhưng là sự thoả thuê của những người được dự tiệc thực sự. Ðó là tiệc Thánh Thể mà Chúa cho ta chia sẻ. Ở đó, Ngài bảo ta: “Hãy cầm lấy mà ăn”. Ðó là bánh thánh. Ðó là Mình Thánh. Ăn bánh này, ta hoàn toàn mãn nguyện, vì đó là bánh thật nuôi dưỡng ta, đem lại cho ta sự sống đời đời. Từ đó, tâm trí ta luôn “tưởng nhớ Chúa” cả “trên giường ngủ”, môi miệng ta “suốt năm canh thầm thĩ với Ngài”, cuộc đời ta tìm “nương bóng Ngài”, “trót cả tâm tình” ta “cùng Ngài gắn bó”. Như thế là ta muốn kết hợp mật thiết với Chúa từng giây từng phút trong suốt cuộc đời ta.
Người môn đệ biết Ðức Kitô, đi theo Ngài, học tập với Ngài, tin yêu Ngài, không thể không làm chứng về Ngài cho người khác.
Chứng từ là thứ ngôn ngữ hay được nhắc tới hôm nay, đặc biệt là chứng từ đời sống. Nó không phải là kiểu nói thời thượng, nhưng thực sự là một yêu cầu không thể thay thế. Nó là hình thức đầu tiên của việc loan báo Tin Mừng. Quả thực, “con người ngày nay tin vào các chứng nhân hơn là các Thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là giáo lý, tin vào đời sống và các sự kiện hơn là các lý thuyết” (ÐGH Gioan Phaolô II, TÐ Sứ vụ Ðấng Cứu Thế, số 42).
Tuy chứng từ đời sống được nhấn mạnh, nhưng chúng ta cũng không bỏ qua những hình thức làm chứng khác về Chúa. Rập theo đối tượng lời rao giảng đầu tiên của các Tông Ðồ, chúng ta suy niệm về chứng từ của ta xoay quanh mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Ðức Kitô, vì đây là trọng tâm của kitô giáo cũng như của đời sống chúng ta.
1. “Hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ”(Ga 20,17)
* Tảng sáng ngày Phục Sinh, khi hiện ra với Maria Mađalêna, Chúa đã truyền cho cô đi báo cho các môn đồ biết Ngài đã sống lại. Ngày hôm nay, Chúa cũng truyền cho mỗi người chúng ta làm chứng cho các anh chị em Tin Mừng Chúa đã sống lại.
Nhưng sao lại là Maria Mađalêna? Sao lại qua trung gian của cô? Bộ các Tông Ðồ không đáng để Chúa nói trực tiếp hay sao? Người ta có thể nghĩ rằng đó là vì Maria đã tìm đến Chúa trước. Có thể là như vậy. Ðể hiểu hơn, chúng ta hãy trở lại với câu truyện.
Câu truyện chứa đựng nhiều ám chỉ và biểu tượng. Chúng ta biết: sáng ngày thứ nhất trong tuần, lúc tờ mờ đất, M.M đã đi đến mộ và thấy mộ trống (Ga 20,1). Không phải chỉ có mình cô. Khi trở lại gặp Phêrô và Gioan, cô đã nói cho các ông là: “Chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. “Chúng tôi”, có nghĩa là cô đã đi chung với người khác nữa. Quả thực, Phúc Âm Nhất Lãm rõ ràng cho biết có những phụ nữ khác. Tuy vậy, tên của M.M vẫn được các tác giả này ưu tiên ghi nhận (Mt 25,1; Mc 16,1.9; Lc 24,10). Do đó, chắc chắn M.M có vai trò đặc biệt hơn các phụ nữ khác. Cụ thể là chính cô đã đi báo tin cho các môn đệ Chúa về ngôi mộ trống. Ðặc biệt hơn, cô là người đầu tiên được Chúa Phục Sinh hiện ra với mình. Ðó là sự ưu ái Chúa dành cho một nữ môn đệ.
(Nhiều phụ nữ có mặc cảm tự ti so với nam giới. Nhất là trong hoàn cảnh long đong, họ còn nghĩ mình giống như lời cô Kiều than khóc: “Ðau đớn thay phận đàn bà!”. Ðó là phận của nàng ca kỹ Ðạm Tiên thôi. Ngày nay, người ta thích nói ngược lại: “Sung sướng thay phận đàn bà, Ði đâu cũng được người ta nuông chiều”).
Theo trình thuật của Gioan, khi Phêrô và Gioan vào trong mộ và thấy mộ trống, mỗi người tìm ra những kết luận cho mình rồi trở về. Riêng M.M hành động cách khác. Vốn không giống đàn ông ở nhiều mặt, người phụ nữ có tên là M.M cũng có một các xử sự khác trong tình huống này. Cô không vào trong mộ, cũng không bỏ đi, nhưng đứng lại ở ngoài. Phụ nữ thường tò mò hơn cánh đàn ông mà lại đứng ở ngoài là cả một sự lạ. Có thể vì trước đó cô đã thấy mộ trống rồi. Nhưng có lẽ đúng hơn, như chính tác giả Gioan ghi nhận, qua cách dùng thì vị quá khứ ở động từ “đứng”, cô đứng lâu ở ngoài chính là để bộc lộ những cảm xúc mạnh mẽ của mình. Nói rõ hơn là để khóc. Chắc là khóc không ít. Câu truyện vắn tắt thôi mà 4 lần nói đến những giọt nước mắt của M.M.
Phúc Âm nhiều lần cho biết người này người kia khóc. Bà goá ở Naim khóc con trai chết. Chúa khóc thương thành Giêrusalem. Maria người Bêtania khóc trên mộ Lazarô làm cho Chúa phải mủi lòng và rơi lệ. Phêrô khóc lóc sau khi chối Thầy. Tiếng khóc giãi bầy nhiều tậm sự mà lắm khi lời nói không diễn tả hết hay không tác động đủ. Những giọt nước mắt chảy ra từ tượng Ðức Mẹ, một hiện tượng còn thấy ngay cả bây giờ, có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa hơn cả những lời Ðức Mẹ nói trắng ra ở Fatima chẳng hạn.
Hôm nay, M.M cũng đã khóc cho vơi nỗi sầu. Nỗi sầu nào? Một phần như cô nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu”. Nhưng còn hơn thế nữa. Cô đã có một mối liên hệ mật thiết với Chúa, ý thức thâm sâu về mối liên hệ này. Bởi cô đã được Chúa trừ khỏi 7 quỷ (Mc 16,9; Lc 8,2). Khiếp! Một quỷ đã khốn đốn, huống hồ 7 quỷ thì sức ám hại không biết đâu mà lường. Nhưng cô đã được Chúa thương giải thoát. Rồi cô đã luôn ở bên Chúa trong cuộc hành trình cuối cùng của Ngài lên Giêrusalem. Việc Chúa phải chết, chắc chắn đã làm cho cô đau lòng, thấy cuộc đời mình như hụt hẫng. Cô đã đứng dưới chân Thập giá (Ga 19,25), đã theo đến tận huyệt mộ và nhìn kỹ chỗ đặt Chúa (Mc 15,42). Thế mà, ngay cả xác Chúa, dấu tích còn lại của tình yêu, giờ đây cũng bị lấy mất. Không buồn sao được? Không khóc sao được?
Tuy khóc đấy, nhưng không tuyệt vọng. Nếu tuyệt vọng, tiếng khóc có thể đưa đến những hành vi chống lại mình (vd: tự tử), hoặc chống lại người khác (vd: nổi khùng làm bậy). Ðàng này, M.M còn nhìn vào trong mộ. Từ trong bóng tối vẫn có thể bùng lên ánh sáng. Trong thất vọng, vẫn có thể loé lên tia hy vọng. Thì điều đó đã xẩy đến cho cô. Có lần Chúa nói: “Phúc cho ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5,5). Lời Chúa quả được thực hiện lúc này. M.M đã ưu phiền, nhưng giờ đây được an ủi, vì cô lại được thấy Chúa.
Chúng ta cũng biết: lúc đầu M.M đã không nhận ra Thầy, dù đó là người cô đang thiết tha tìm kiếm. Cho hay, để nhận ra Ðấng Phục Sinh, một Ðức Giêsu đổi mới, ngưới ta không thể nhìn bằng cặp mắt cũ, theo não trạng cũ, với cách thức cũ.
Ðể giúp cho M.M nhận ra mình, Chúa không cần dẫn giải dài dòng như với 2 môn đệ Emmau, mà chỉ gọi tên cô. Trong những trường hợp khác, gọi tên ai là chuyện bình thường, chẳng nói lên điều gì đặc biệt. Nhưng lúc này, trong hoàn cảnh này, với giọng nói này, chính việc gọi tên Maria là cách mạc khải thân mật nhất, không chỉ liên hệ đến việc Ngài sống lại, mà còn gợi lên mối tương giao thân tình của Ngài với Maria. Nhiều lần trong đời, chắc hẳn Chúa cũng gọi tên ta, gọi đích danh, trong tận đáy tâm hồn ta, để nhắc cho ta rằng Ngài đang sống gần ta, ở trong ta, và yêu thương ta vô cùng. Chúng ta có biết thế không?
Những diễn biến trên đây có thể giúp chúng ta hiểu hơn sứ mạng Chúa trao cho M.M: “Hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy và cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy cũng là Thiên Chúa của anh em”. Chúng ta biết trước đó M.M đã phủ phục dưới chân Chúa, muốn ôm hôn chân Ngài như ngày trước. Nhưng Chúa Phục Sinh đã nói: “Ðừng giữ Thầy lại.”. Không thể giữ Chúa cho riêng mình mà thôi, còn phải loan báo Ngài cho người khác.
Theo Matthêu, chính thiên sứ bảo các phụ nữ mau đi nói cho các mộn đồ là Chúa đã sống lại từ cõi chết (Mt 28,7). Chúa đã sống lại: đó là điều chủ yếu phải cho các môn đệ biết trước tiên. M.M đã làm như vậy. Cho nên, vừa gặp mặt các ông, cô đã nói ngay: “Tôi đã thấy Chúa”. Chúa đây là Ðấng mà các ông đã theo, đã thụ giáo, đã gắn bó, Ðấng ấy đã chết nhưng nay đã sống lại. Sau đó cô mới kể lể những điều khác, trong đó chắc chắn có lời trên đây (“Thầy lên cùng Cha của Thầy”), mà Chúa truyền cho cô nói lại với các môn đệ. Một khi lên cùng Chúa Cha và cử Thánh Thần xuống, Chúa Phục Sinh sẽ tạo nên một mối tương giao mới, một cách thức hiệp thông mới của con người với Ngài và với Thiên Chúa. Từ nay, các môn đệ trở thành anh em với Ðức Giêsu và con cái của Cha trên trời.
Ðiều đáng lưu ý là sứ mạng loan báo Chúa Phục Sinh lại được trao cho phụ nữ, cách riêng cho M.M. Chúng ta cũng biết: khi nghe M.M nói Chúa đã sống lại và cô đã thấy Ngài, các môn đệ chẳng tin (Mc 16,11), còn hoảng hồn (Lc 24,22), và cho đó là những lời nói trăng nói cuội, tầm bậy tầm bạ, những chuyện vớ vẩn (Lc 24,11). Chẳng tin, có thể vì chứng của phụ nữ thường được coi là khó tin, có thể vì việc Chúa sống lại là điều các môn đệ không hề nghĩ tới (cứ nhớ lại lời hai môn đệ Emmau đã nói với Chúa mà coi).
Dầu sao, đối với Chúa, M.M hay bất cứ một người nào đều có thể cảm nhận được mầu nhiệm PhụcSinh, dù không thể cắt nghĩa cho người khác hiểu tường tận mầu nhiệm ấy. Bất cứ ai cũng đều có thể là sứ giả loan báo và làm chứng sự Phục Sinh của Chúa. Nhưng chính việc Chúa trao sứ mạng này tiên vàn cho phụ nữ hẳn nói lên thâm ý của Ngài, đồng thời cũng cho thấy vinh dự dành cho phụ nữ. Có điều, để được thế, phải là người có một hành trình thiêng liêng tương tự với hành trình của M.M: hoán cải, yêu mến, trung thành, gắn bó với Chúa, luôn tìm kiếm Ngài.
* Chúng ta hôm nay cũng phải là chứng nhân của sự Phục Sinh. Trong đức tin, ta đã gặp Chúa, và qua cuộc gặp gỡ này, đã đón nhận sứ điệp sự sống cứu độ, vui mừng, bình an, hy vọng. Hãy biết chia sẻ những thiện ích này cho người khác, cho các anh chị em của ta. Chúng ta biết Chúa theo mức độ làm chứng về Chúa giữa thế gian (J. Guillet).
Vớ được của ăn ngon, ta muốn có người khác cùng ăn. Biết một điều gì hay, ta muốn có người khác cùng biết. Gặp được người tốt, ta muốn nhiều người khác cũng được gặp. Anrê ngày xưa khi đã gặp Chúa, thì về nói với em là là Simon đi gặp. Cũng vậy, Philipphê, khi đã được Chúa gọi, thì giới thiệu Chúa cho Natanael. Chúng ta hôm nay cũng bắt chước làm như thế.
Hơn nữa, đây không chỉ là tâm lý tự nhiên, phản ứng dây chuyền, mà còn là một lệnh. Lệnh truyền của Chúa. Cũng như M.M, chúng ta được Chúa truyền loan báo sứ điệp Phục Sinh, làm chứng Ðức Kitô đã sống lại và nên sự sống cho mọi người. Chính lệnh truyền này đã thúc đẩy các Tông Ðồ, sau khi được đầy tràn Thánh Thần, đã mạnh mẽ rao giảng: Ðức Giêsu mà anh em đã treo trên Thập giá, thì Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại.
Ðối với chúng ta, loan báo bằng lời rao giảng chắc không thực tế bằng chứng từ đời sống, tuy cả hai hình thức đều là bổn phận của mọi người tín hữu. Chúng ta làm chứng về đời sống và giáo lý của Chúa nói chung. Chúng ta còn đặc biệt làm chứng về mầu nhiệm Phục Sinh nói riêng. Làm chứng bằng cách sống đúng ý nghĩa và hiệu quả của mầu nhiệm này. Ðó là mầu nhiệm đem lại ơn cứu độ, sự sống, hoan lạc và bình an. Một cuộc sống trong Ðức Kitô, trong Thần Khí của Ngài.
Các môn đệ và cộng đồng tín hữu tiên khởi ở Giêrusalem đã làm chứng như vậy. Ngoài việc rao giảng bằng lời, họ còn sống với lòng hân hoan và dạ đơn thành (Cv 2,46). Hân hoan vui mừng là nét nổi bật hơn các tâm tình khác (Cv 5,41; 8,39; 13,48). Luca còn cho biết, ngay sau khi chứng kiến Chúa về trời, các môn đệ “lòng đầy hoan hỉ” (Lc 24,52). Hoan hỉ, vì chính khi Chúa ra đi, thì sự hiện diện của Ngài giữa họ lại càng thâm sâu hơn.
Ơn Phục sinh còn làm cho họ thành những con người chung lòng hợp ý, hiệp thông huynh đệ, chuyên chăm cầu nguyện, chen vai sát cánh với các Tông Ðồ, loại trừ mọi hình thức vị kỷ, vụ lợi. Chính nếp sống này đã làm cho các môn đệ ở Giêrusalem, ít nhất tinh thần của họ, giống như những cây con ươm trong nhà kính, để sẽ được đem đi trồng khắp nơi.
Cuộc sống của cộng đồng tín hữu sơ khai, như nói trong sách Công Vụ, tuy còn có mặt tiêu cực, vẫn là một bài học sáng chói cho ta, đòi hỏi ta phải nỗ lực thăng tiến không ngừng. Thành thật mà nói, so cộng đồng ấy với cộng đồng chúng ta đang sống hôm nay, khoảng cách còn xa lắm. Có đi hia bẩy dặm cũng khó đuổi kịp.
Nói thế không phải để chúng ta thất vọng. Ðàng khác, chúng ta cũng không được phép tự mãn ở mức độ hiện có. Phải coi những yếu tố tích cực của cộng đồng tín hữu sơ khai là tấm gương luôn mời gọi ta vươn tới. Phải coi cộng đồng ấy không chỉ như một bức tranh đẹp để trầm trồ, thưởng lãm, mà còn phải vẽ thêm vào đó nét đẹp của chính chúng ta. Ðiều quan trọng là phải có tinh thần, để Thần Khí thúc đẩy và hướng dẫn chúng ta. Và muốn cho cả cộng đồng tốt thì từng người phải sống tốt, sống đời sống Phục sinh, nhất là có tâm hồn vui tươi, bác ái và bình an.
Làm chứng sự Phục Sinh của Chúa là điều quan trọng. Làm chứng cuộc Tử Nạn của Chúa cũng là điều quan trọng không kém. “Thập giá không chỉ là một mầu nhiệm để chiêm ngưỡng và tôn thờ, mà còn là . một sứ điệp phải loan truyền, để nó trở thành nguồn ơn cứu độ cho mọi người” (ÐGH Gioan Phaolô II, 10.3.1991). Thực ra, làm chứng sự Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa là hai việc luôn đi đôi với nhau, như cả hai biến cố làm nên một mầu nhiệm duy nhất, tức Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa. Ðể sống lại vinh quang, Chúa đã đi qua con đường Thập giá. Vậy để có thể có đời sống phục sinh và làm chứng về nó, chúng ta cũng phải thực hiện một đời sống tháp nhập vào Thập giá Chúa và làm chứng về nó.
Chúng ta thử suy nghĩ một chút về khía cạnh này.
2. “Chúng tôi rao giảng một Ðức Kitô chịu đóng đinh” (1Cr 1,23)
* Phaolô khẳng định như trên ở đầu thư thứ nhất gửi giáo đoàn Corintô. Không những coi Ðức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng của việc rao giảng Tin Mừng nói chung, Phaolô còn nói mình không muốn biết gì khác hơn ngoài Ðức Kitô Giêsu bị đóng đinh Thập giá (1Cr 2,2). Theo một tác giả, “thư Corintô là một cuốn giáo lý đầy đủ, mà các vấn đề xoay quanh Thập giá” (Allo). Dám nói rằng sự cứu rỗi bằng Thập giá là trọng tâm tất cả giáo thuyết của Phaolô.
Thế Phaolô không nói tới sự Phục Sinh của Chúa hay sao? Có chứ. Và nói rất nhiều về mầu nhiệm then chốt này, cũng như hệ quả của nó trong đời sống người kitô hữu. Sở dĩ Phaolô nhấn mạnh một Ðức Kitô chịu đóng đinh, một phần là do hoàn cảnh đặc biệt ở Corintô.
Corintô là một thành phố xa hoa, truỵ lạc. (Kiểu nói “sống theo cách người Corintô” bao hàm một nghĩa xấu: sống phóng túng). Tuy vậy, nó lại là thành phố nằm trong cái nôi văn minh Hy Lạp, một trung tâm trí thức tìm tòi và giảng dạy sự khôn ngoan của con người. Cộng đồng kitô giáo ở đây, Do Thái có, nhưng đa số là dân ngoại. Cho dù phần đông thuộc giai cấp bạch đinh, nghèo khổ, chắc chắn các tín hữu cũng thấm nhiễu ít nhiều tư tưởng tìm kiếm sự khôn ngoan trên đây. Tư tưởng này chi phối cả cách đánh giá của họ về Tin Mừng. Theo họ, dường như Tin Mừng cũng chỉ là một hệ thống tư tưởng, một sự khôn ngoan thuần tuý nhân loại, với những thầy này thầy nọ. Bởi vậy mới có kẻ xưng mình thuộc phe Phaolô, thuộc phe Apollô, thuộc phe Kêpha, thuộc phe Ðức Kitô (x.1Cr 1,12).
Riêng về Thập giá thì, xét theo sự khôn ngoan của con người, đó là chuyện không thể hiểu nổi, do đó không thể chấp nhận. Ðối với người Do Thái, Thập giá là cớ vấp phạm, vì chứng tỏ Ðức Kitô không có quyền năng thoát khỏi cái chết, để cứu dân theo nguyện vọng của họ. (Tryphon, người Do Thái, nói với thánh Giustinô tử đạo: “Một người bị treo thập giá không thể là Ðấng Mêsiâ”). Thập giá là một thất bại hoàn toàn, còn gì để nói nữa? Còn đối với người Hy Lạp, Thập giá là một sự điên rồ, phi lý, trái với điều người ta suy nghĩ. Một người khôn ngoan, rao giảng sự khôn ngoan và chân lý, lại chấp nhận cái chết ô nhục mới có thể cứu người ta hay sao? Hoạ có điên mới làm như thế (Cho nên có nơi mô tả Ðức Giêsu bằng một chiếc đầu lừa gắn vào thập giá. Ðó là hình ảnh của người ngu si rồ dại).
Như vậy, lời rao giảng Thập giá đi ngược lại điều người ta chờ đợi. Là cớ vấp phạm thay vì là dấu chỉ quyền năng Thiên Chúa. Là sự điên rồ chứ không phải khôn ngoan gì ráo!
Ðể củng cố niềm tin của các tín hữu vào Thập giá, Phaolô đã phản bác lại những ý nghĩ trên đây. Người ta không thể nói về Thập giá theo quan điểm triết học, nhưng theo quan điểm thần học. Không được dựa vào sự khôn ngoan nhân loại, nhưng là dựa vào đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, Thập giá chính là quyền năng của Thiên Chúa. Chính Thập giá đem đến cho con người ơn giải thoát cứu độ. Ðó là phép lạ mạnh mẽ nhất dưới hình thức yếu đuối, một sự khôn ngoan siêu việt nhất dưới hình thức điên rồ.
(Nhại theo câu của thi sĩ Trần Tế Xương “Khôn nghề cờ bạc là khôn dại. Dại cái văn chương ấy dại khôn”, ta có thể nói: “Khôn của người thế là khôn dại. Dại Ðức Kitô ấy dại khôn”. Nói thế không có ý loại trừ sự khôn ngoan nhân loại đâu, vì sự khôn ngoan này cũng là ân huệ của Thiên Chúa. Có điều phải chấp nhận nó có giới hạn. Không được coi nó như quy tắc độc nhất và tối hậu để đánh giá sự việc).
Thập giá là một trong những hình ảnh cụ thể và độc đáo nhất cho thấy đường lối, tư tưởng và hành động của Thiên Chúa khác hẳn và vượt xa sự suy nghĩ của con người (Is 55,8-9). Chính vì Thập giá là đường lối khôn ngoan của Thiên Chúa, là mạc khải vĩ đại, mà Phaolô xác tín và rao giảng một cách hăng say, không mỏi mệt. Thánh Tông Ðồ cũng muốn cho chúng ta xác tín và rao giảng như vậy.
* Ngày nay, chúng ta có thể rao giảng và làm chứng một Ðức Kitô chịu đóng đinh như thế nào?
Nhìn vào đời sống bên ngoài của chúng ta, của dân Chúa, thậm chí của xã hội, dường như hình ảnh Chúa chịu đóng đinh hay Thập giá vẫn còn thấy nhiều, còn được nói đến nhiều. Không phải vậy sao? Trong nhà bất cứ một gia đình công giáo nào, thường ra đều có một Thánh giá treo tường. Nếu không công khai treo ở phòng trước, thì cũng kín đáo treo ở phòng sau. Chuyện đeo Thánh giá trên cổ hay trên áo không phải là hiếm. (Tu sĩ đeo không nói làm gì. Cả người ngoài đạo cũng đeo nữa, đến nồi có lúc trở thành mốt thời thượng. Trong phim “Bản tình ca cuối cùng”, nữ diễn viên Lê Khanh đeo một Thánh giá to tướng, có cả tượng Chịu nạn hẳn hoi). Khởi sự một công việc đạo đức, làm dấu Thánh giá đã đành, mà ngay cả để bắt đầu làm một số công việc, nhiều người kitô hữu vẫn có thói quen làm dấu Thánh giá (Cầu thủ bóng đá Nam Mỹ ra sân thường quẹt bàn tay xuống đất rồi làm dấu Thánh giá). Có khi sốt sắng hơn, một vài ngưới còn làm dấu Thánh giá trên trán, trên miệng, trên ngực.
Thế nhưng, cứ nhìn vào những hiện tượng đó, những việc đó, mà bảo rằng người ta đang làm chứng về Thập giá, thì phải lấy làm ngờ. Tâm trí của một người tín hữu hôm nay treo ảnh Thánh giá lên bức tường trong nhà, và tâm trí của một Christoforro Colombo ngày xưa cắm cây Thánh giá trên đất Tân Thế giới vừa khám phá, hẳn là có sự khác nhau. Là vì, hành vi ấy của người xưa ít nhiều có hơi hướng truyền đạo, muốn cho phần đất mới này thuộc về Chúa, muốn cho những thổ dân ở đây được nghe rao giảng Tin Mừng của Chúa.
Nói chung, những hiện tượng và công việc trên đây còn thua xa so với ngày trước (ngày trước là kể từ thời Trung Cổ cho tới khỏng giữa thế kỷ XX). Ở Tây Phương và cả ở Việt Nam, Thập giá là hình ảnh nổi bật trong đời sống đạo của dân Chúa, trong Phụng vụ, trong đời sống tu trì, ngay cả trong đời sống xã hội. Các nhà thần học (vd: Anselmô), các bậc thầy tu đức (vd: tác giả sách Gương Chúa Giêsu), các Ðấng lập dòng (vd: Phanxicô Assisi, Inhaxiô Loyola, Anphongsô Liguori) đua nhau khai triển giáo lý về cuộc Khổ Nạn, đưa đến những hình thức cụ thể suy tôn Thánh giá trong đời sống (Dòng Mến Thánh Giá chẳng hạn, phát sinh từ trào lưu này).
Trước đây là thế. Ngày nay khác rồi. Ðiều này có lý do. Lý do nhiều ít thế nào không rõ, nhưng ít nhất có hai.
Có lý do thần học: Từ giữa thế kỷ XX, người ta nghiên cứu nhiều về sự Phục Sinh, và nhấn mạnh ý nghĩa của mầu nhiệm này trong đời sống. Hệ quả là trong Phụng vụ cũng như trong đời sống đạo nói chung, hầu như chỉ còn nói đến lễ lạc, niềm vui, sự sống. Nhiều người xa dần sự khôn ngoan của Thập giá. Một dấu chỉ: Có một số Thánh giá trên đó không phải là tượng Chịu Nạn, nhưng là tượng Chúa Phục Sinh vinh thắng.
Lại có lý do tâm lý xã hội. Xã hội ta đang sống ngày càng phát triển, kinh tế đi lên, đời sống của nhiều người thêm khấm khá. Ai nấy đều muốn có một cuộc sống tiện nghi hơn, thoải mái hơn, sung sướng hơn. Trước một não trạng và ước vọng như thế, lời rao giảng về Thập giá dường như lạc lõng. Hơn nữa, đối với một số người, lối tu đức Thập giá phải chăng quá khép kín, trong khi nhìn ra chung quanh, có biết bao nhiêu việc phải làm cho người nghèo khó, đau khổ.
Hướng tâm trí về những bổn phận xã hội là điều tốt thôi. Nhưng chỉ lăm le lao vào những công việc đó, mà không muốn xây dựng đời sống của mình dựa trên những nền tảng vững chắc, thì cũng khó làm chứng về Thập giá.
* Trước tình hình như vậy, còn có thể làm chứng về Thập giá được chăng? Còn. Và cần thiết phải làm. Dĩ nhiên, không phải hoặc không chỉ bằng cái kiểu cắm Thánh giá chỗ này, treo Thánh giá chỗ nọ, nhưng bằng một đời sống tháp nhập vào mầu nhiệm Thập giá.
Nói đến Thập giá là nói đến tình yêu, ơn tha thứ cứu độ, sự chiến thắng. Nói đến Thập giá cũng là nói đến đau khổ, sự chết. Ðức Giêsu đã dùng đau khổ của Thập giá như phương tiện thực hiện công trình cứu độ. Khi suy nghĩ về việc làm chứng sự Phục sinh, chúng ta đã nhấn mạnh niềm vui, thì khi suy nghĩ về việc làm chứng Thập giá, trộm nghĩ không gì hơn là nhấn mạnh sự đau khổ. Chúng ta giới hạn chứng từ về Thập giá ở hai khía cạnh này: biết làm điều tốt nhờ đau khổ và biết làm điều tốt cho người đau khổ.
Về việc làm điều tốt nhờ đau khổ, có thể lấy lời của thư Colossê làm nguyên tắc chỉ đạo. Phaolô viết: “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em; những gian nan thử thách Ðức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích của Thân Thể là Hội Thánh” (Cl 1,24). Câu này được dịch sát là: Tôi bổ khuyết trong thân xác tôi những gì còn thiếu trong những nỗi quẫn bách Ðức Kitôphải chịu.
Nhưng sao lại bổ khuyết ? Bộ đau khổ của Chúa chưa đủ hay sao? Công trình cứu độ của Ngài còn khiếm khuyết hay sao? Không phải thế. Ơn cứu độ đã sung mãn rồi. Ðau khổ của Chúa đã tột đỉnh rồi. Nhưng trong Hội Thánh, ơn cứu độ còn đang phát triển để làm cho Hội Thánh tăng trưởng. Và nếu Ðức Kitô phải chịu đau khổ để thực hiện ơn cứu độ, thì những ai làm phát triển ơn này, như Phaolô, cũng phải qua con đường đau khổ. Phaolô gọi con đường đau khổ này là “bổ khuyết” cho những đau khổ của Chúa. Nói đúng ra, đó là những đau khổ nối dài sự đau khổ của Chúa, như Hội Thánh nối dài công trình cứu độ của Ngài, cho tới khi Nước Chúa viên thành. Bổ khuyết kiểu đó, bằng sự đau khổ của mình kết hợp trong tin yêu với sự đau khổ của Chúa, chính là một chứng từ. Và nếu thực sự vui sướng trong các đau khổ này, như tâm tình của Phaolô, thì đây quả là một chứng từ có thế giá.
Khía cạnh thứ hai là làm tốt cho người đau khổ. Chúng ta đã có dịp khai triển dụ ngôn người Samari nhân hậu (Lc 10,29tt). Dụ ngôn cho thấy mỗi người chúng ta phải trở thành thân cận thế nào đối với người đồng loại gặp đau khổ. Không được dửng dưng đi qua, nhưng phải dừng lại bên họ. Dừng lại cũng không phải vì tò mò, như biết bao nhiêu người hiếu kỳ xúm xít lại xem một người bị tai nạn ôtô chẳng hạn. Dừng lại là vì sự nhạy cảm của tâm hồn, xúc động trước nỗi bất hạnh của người khác, mở lòng xót thương và sẵn sàng giúp đỡ.
Tại sao giúp người đau khổ lại là cách làm chứng cho Thập giá? Vì Ðức Kitô vẫn còn đau khổ cho tới tận thế nơi Thân Mình Ngài, biểu lộ trong đau khổ của các chi thể thuộc Thân Thể này. Chính các chi thể này đang chia sẻ sự đau khổ của Chúa. Họ được Chúa yêu thương đặc biệt, và được đồng hoá cách nào đó với Ngài (Mt 25,40.45). Xoa dịu nỗi đau khổ của họ, bằng sự thương cảm giúp đỡ, đó là xoa dịu nỗi đau khổ của chính Chúa. Ðó cũng là một hình thức trao tặng chính mình cho người khác, như Ðức Kitô đã thí mạng sống mình trên Thập giá cho nhân loại.
***
Ðể làm chứng về Ðức Kitô đã chết và đã sống lại, nhất thiết phải kết hợp sâu xa với Mầu nhiệm này. Chúng ta có một phương tiện quý giá, ngay trong tầm tay, là Thánh Lễ, vì Thánh Lễ chính là cử hành Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa. Mỗi lần tham dự Thánh Lễ, không những chúng ta được sống Mầu nhiệm Ðức tin trọng đại, được ơn cứu độ, chúng ta còn luôn xin, đặc biệt trong Lời nguyện Hiệp lễ, cho ân huệ này trổ sinh hoa trái trong đời sống chúng ta, những hoa trái đã nhắc đến trong phần khai triển trên. Có những hoa trái ấy, và thể hiện chúng trước mặt mọi người, đó là một trong những chứng từ hữu hiệu nhất về Ðức Kitô, Chúa chúng ta.
Hằng ngày, trước khi làm một việc đạo đức, học tập hoặc trước bữa ăn, chúng ta vẫn thường xin ơn Chúa giúp sức hoặc chúc lành cho ta. Và khi xong việc thì dâng lời tạ ơn.
Làm một công việc thường ngày mà còn thế, huống hồ một công việc trọng đại, dài ngày, như tuần tĩnh tâm hay học hỏi, chúng ta càng phải có hành vi tạ ơn lúc cuối. Làm chung là chuyện đương nhiên, nhưng mỗi người cĩng cần làm riêng nữa.
Tôi kết thúc loạt bài suy niệm bằng đôi ba ý gợi ra việc tạ ơn, giúp chúng ta suy nghĩ về hành vi tốt đẹp này, một hành vi phải được thực hiện lúc này lúc khác trong cả cuộc đời.
Hãy bắt đầu bằng lời khuyên sau đây.
1. “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh” (1Tx 5,18)
* Khi nhận được từ ai một ân huệ nào (một món quà, một lời khuyên tốt, một sự giúp đỡ.) ta vẫn nói lời cám ơn. Ân huệ càng lớn, cám ơn càng nồng. Ðây không chỉ là cách giao tế, phép lịch sự, mà chúng ta được dạy từ bé, nhưng chủ yếu nói lên tấm lòng biết ơn của ta đối với người khác, về một điều tốt nào đó họ làm cho ta.
Nếu giữa con người với nhau là như thế, thì đối với Thiên Chúa là Ðấng thi ân gấp bội so với con người, ta càng phải bày tỏ tâm tình và thái độ này hơn. Ðó là nét riêng của con người Kinh Thánh và của người kitô hữu. Gọi là nét riêng vì, đối chiếu với nhiều tôn giáo đương thời, người ta không thấy hoặc ít thấy tâm tình và thái độ tương tự. Ở đầu thư Rôma, Phaolô tố giác tội nặng nhất của dân ngoại là đã không tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa (Rm 1,21).
Thật ngược hẳn với Kinh Thánh. Ta thường xuyên bắt gặp trong đó những lời lẽ tạ ơn, những lời lẽ lắm khi gợi lên những cảm xúc mãnh liệt. Quả thực, tạ ơn có một vai trò quan trọng trong Kinh Thánh, vì là một phản ứng tôn giáo căn bản của con người, rung cảm, vui mừng, kính phục khi khám phá ra hành động của Thiên Chúa, khi nhận biết ân sủng của Thiên Chúa.
Ở đây, tạ ơn không phải là hoàn lại ân huệ đã nhận hay dâng một điều gì đó để đền đáp, theo kiểu “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại”. Ai có thể đền bù lại cho Thiên Chúa? Và có thể lấy gì mà bù lại cơ chứ? Tạ ơn, đúng hơn, là nhìn nhận ơn Chúa ban, và đón nhận ân sủng nhưng không của Ngài, không dám mong tự chuộc mình hay trả giá thục hồi cho Ngài (Tv 49,8). Tạ ơn không khác gì nhìn nhận mình là người chịu ơn, là kẻ tuỳ thuộc, để cho Thiên Chúa là Thiên Chúa.
Ði sâu vào việc tạ ơn trong Kinh Thánh, ta thấy nó gói ghém nhiều khía cạnh. Hoặc biểu lộ ý thức của con người trước những kỳ công của Thiên Chúa, các hồng ân Thiên Chúa ban cho mình, từng cá nhân hay cả cộng đồng. Hoặc là sự bộc phát của một/những tâm hồn kinh ngạc về một Thiên Chúa thật quảng đại. Hoặc bày tỏ niềm hân hoan tri ân trước sự cao cả của Ngài. Có bao nhiêu khía cạnh là có bấy nhiêu hình thức tạ ơn: ca ngợi, tôn vinh, công bố, tuyên xưng, nhất là chúc tụng (bénédiction). Cái hay của hình thức chúc tụng là có thể bộc lộ được nhiều tình cảm, kéo dài lời lẽ, vì hoài niệm nhiều kỳ công Thiên Chúa làm trước đó.
Chúng ta hẳn còn nhớ bài ca thắng trận trong sách Xuất Hành (15,1tt), vẫn được Phụng vụ lặp lại trong đêm Vọng Phục Sinh. Con cái Israel bấy giờ vượt qua Biển Ðỏ, thấy Thiên Chúa quăng tùm xuống biển xa mã và kỵ binh Ai Cập, đã hát mừng tán dương Ngài uy hùng cao cả. Tán dương như thế chính là tạ ơn Thiên Chúa đã cúu thoát họ khỏi tay quân thù. Một ví dụ khác: Khi Ðức Maria tôn dương Thiên Chúa ra oai hạ kẻ kiêu căng và tôn người khiêm nhượng, thì cũng là tạ ơn Ngài đã đoái nhìn phận tớ nữ hèn mọn, đã thực hiện nơi người tớ nữ này những điều cao cả (kinh Magnificat).
Nếu tạ ơn gắn liền với chúc tụng, ca ngợi. thì quả nó có thêm một sắc thái tuyệt vời. Thông thường, tạ ơn hay cám ơn bao hàm một chút vụ lợi, vị kỷ. Tạ ơn là vì nhận được một điều tốt. Nhưng khi kèm thêm tâm tình chúc tụng ca ngợi, hoặc thể hiện chỉ bằng lời chúc tụng ca ngợi, việc tạ ơn của Kinh Thánh và của kitô giáo là một hành vi có ý nghĩa ít nhiều vô vị lợi. Chúng ta không nghĩ tới mình, nhưng nghĩ tới Ðấng ban ơn. Tuy trong việc tạ ơn ta vẫn biết đến những ơn lành Chúa ban cho ta, nhưng đi xa hơn, ta nhìn đến sự cao cả của Ngài, những việc kỳ diệu của Ngài. Rồi bày tỏ tâm tình thán phục, hân hoan, chúc tụng. Tạ ơn phải đi đến tột đỉnh là chúc tụng. Nó hướng tới Ðấng ban tặng, chứ không chỉ vì những điều được ban tặng.
Nhiều bộ tộc ở sa mac có thói quen tiếp đãi khách thật nồng hậu, chu đáo. Cũng phải thôi. Sa mạc mênh mông, nếu không được giúp đỡ, làm sao khách có thể băng qua? Khách được coi như vua, nô lệ và thi sĩ. Một kiểu gói ghém hơi lạ. Vua, vì được cung phụng đủ thứ. Nô lệ, vì phải nghiêm giữ một số quy củ, mà nếu không tuân, dám bị giết lắm (ví dụ đụng đến đàn bà con gái của gia chủ). Thi sĩ, nghĩa là khi từ giã ra đi, tiếp tục hành trình, khách sẽ lãm thơ ca ngợi và rao báo cho người khác biết nghĩa cử của chủ nhà. Cái kiểu cám ơn này mới ý nghĩa làm sao!
Trước Thiên Chúa, tạ ơn mà không đạt tới tột đỉnh là chúc tụng, ta sẽ là những con người sợ hãi. Về phương diện tôn giáo, có thể phân biệt 3 cấp độ trong ý thức tôn giáo. Ðầu tiên là ngạc nhiên, thán phục trước sứ điệp và hành động phi thường của Thiên Chúa. Nếu thấy Ngài như một quyền lực đe doạ, đương nhiên là phải sợ rồi. Có tạ ơn về một điều lành nào Ngài ban cho, cũng là tạ ơn trong sợ hãi. Nhưng nếu thấy đó là một quyền năng thực sự thi ân, thì sợ hãi biến thành tin tưởng, từ đó mà có hành vi chúc tụng ca ngợi.
* Có một từ ngữ mới, thông dụng trong Tân Ước, biểu lộ tính cách độc đáo và tầm quan trọng của tạ ơn kitô giáo. Từ ngữ bày không xa lạ gì với chúng ta. Eucharistia đó! Ðể đáp lại ơn Thiên Chúa ban trong Ðức Kitô Giêsu. Việc tạ ơn kitô giáo là một eucharistia. Nghi thức hoàn hảo của việc tạ ơn này là Thánh Thể, là Lễ Tạ Ơn của chính Ðức Kitô, được Ngài ban cho Giáo Hội.
Thực ra, suốt cuộc đời Chúa đã là lời tạ ơn liên lỉ dâng lên Chúa Cha. Ðôi khi lời tạ ơn này được bộc lộ công khai, long trọng, để lôi kéo người ta cùng với Ngài tin tưởng và tạ ơn Thiên Chúa. Chẳng hạn trước khi cho Lazarô sống lại, Chúa đã ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng chung quanh đây nên con đã nói, để họ tin là Cha đã sai con” (Ga 11,41-42).
Thế nhưng chính hành vi sau cùng của Chúa trước khi chịu chết là một Lễ Tạ Ơn độc đáo. Chúng ta nghĩ ngay đến Thánh Thể, được Ngài thiết lập trong bữa Tiệc Ly. Thánh Thể là bí tích mà cũng là hy tế, thực hiện trước và làm lưu tồn hy tế thực hiện ngày hôm sau trên Thánh giá, trong đó Chúa dâng hiến mạng sống mình vì ơn cứu độ của muôn muôn người. Trong bữa Tiệc Ly cũng như trên Thánh giá, Chúa cho thấy động lực chi phối tất cả cuộc đời cũng như cuộc Khổ Nạn của Ngài. Ðộng lực này là tạ ơn bằng tấm lòng của một người con. Cử chỉ cuối cùng biểu lộ việc này chính là lời tạ ơn của Chúa khi Ngài cầm bánh và chén rượu lúc lập phép Thánh Thể.
[(Ở đây, chúng ta gặp lại ý nghĩa tương đồng thực tế giữa tạ ơn và chúc tụng như nói ở trên. Theo Mt, Chúa đọc lời chúc tụng trên bánh và tạ ơn trên chén (Mt 26,26-27). Theo Phaolô, Chúa lại đọc lời tạ ơn trên bánh (1Cr 11,24) và lời chúc tụng trên chén (1Cr 10,16). Không có gì khác nhau đâu. Theo cách này, các Kinh Nguyện Thánh Thể trong Thánh Lễ cũng sử dụng những công thức khác nhau: hoặc chúc tụng tạ ơn cả trên bánh lẫn trên chén (KNTT 1và 3), hoặc chỉ tạ ơn (KNTT 2), hoặc chúc tụng trên bánh và tạ ơn trên chén (KNTT 4)]
Khi ban bí tích Thánh Thể cho Giáo Hội, Ðức Kitô muốn nói lên chân lý nền tảng này: chỉ mình Ngài là lời tạ ơn của ta, chỉ mình Ngài là lời ngợi khen của ta. Ngài đi tiên phong dâng lời tạ ơn Chúa Cha. Sau đó mới đến lượt ta chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa “nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài”, như đọc trong Vinh tụng ca kết thúc Kinh Nguyện Thánh Thể. Ðức Kitô là gương mẫu và trung gian duy nhất của mọi lời cầu nguyện nói chung. Ngài cũng là gương mẫu và trung gian duy nhất của mọi lời chúc tụng tạ ơn nói riêng.
* Ý thức ân huệ mình đã lãnh nhận, cũng như noi theo gương Thầy, người môn đệ chúng ta cũng hãy biết dâng lời tạ ơn Chúa. Phaolô thường xuyên nhắc cho các tín hữu biết tạ ơn, trong hầu hết các thư của ngài. Chính ngài cũng thi hành điều mình nhắc cho người khác, như khi ngài viết: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Ðức Kitô Giêsu” (1Cr 1,4).
Khởi đầu kinh Tiền Tụng trong Thánh Lễ, bao giờ chúng ta cũng nghe đọc: “Tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con”. Chính đáng và phải đạo, vì chúng ta là con cái được Chúa Cha ban cho vô vàn ân phúc, mà chủ yếu là ơn cứu độ. Càng cảm tạ, càng được thêm ơn cứu độ.
Những lời trên đây của Kinh Thánh cũng như của Giáo Hội không nhắc cho ta nhớ việc quan trọng này hay sao? Nhắc làm, và còn nhắc phải làm luôn, làm không ngừng, trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi mọi lúc. Ngạn ngữ Anh có câu: “Cám ơn nhiều quá là âm thầm xin thêm”. Có thể đúng. Và nếu thế thì khi thụ ân, liệu cám ơn vừa phải thôi, kẻo gây khó nghĩ cho người thi ân (nghĩ rằng: chắc nó muốn mình cho nó thêm cái gì nữa đây!). Nhưng đấy là giữa con người với nhau. Còn đối với Thiên Chúa, chẳng bao giờ cám ơn Ngài cho đủ đâu. Augustinô bảo: “Khi bạn nói đủ rồi, tức là bạn đã chết” (Ubi dixisti satis, periisti). Hơn nữa, nếu cám ơn để được thêm ơn, càng tốt chứ sao, vì ta vẫn không ngừng xin thêm ơn Chúa.
Trong những dịp tĩnh tâm dài ngày chẳng hạn, ta tin Chúa ban cho ta nhiều ơn, kể chẳng xiết. Những điều kiện thuận lợi bên ngoài. Những ơn soi sáng, hướng dẫn và thúc đẩy bên trong. Cho dù có hình thức tạ ơn chung đi nữa, mỗi người hãy thực sự cảm nghiệm ơn Chúa dành cho mình để, một cách bộc phát, biến tâm tình của ta thành lời ca ngợi chúc tụng Chúa.
Nói như trên, tâm trí chúng ta cơ hồ chỉ nghĩ đến ơn này ơn khác, nhiều hay ít, đặc biệt hay không đặc biệt, được Chúa ban cho lúc này lúc nọ. Một suy nghĩ như thế có thể đưa đến hệ quả là chỉ tạ ơn khi nhận được một ơn nào cụ thể. Các tấm bảng Tạ Ơn Ðức Mẹ gắn la liệt chung quanh các tượng đài Ðức Mẹ phải chăng nói lên điều đó?
Ðể giúp ta tạ ơn trong mọi hoàn cảnh, cần suy nghĩ về ơn Chúa theo một hướng khác nữa, dựa vào lời sau đây.
2. “Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa”(1Cr 15,10)
* Trong dụ ngôn về cây nho thật, Chúa khẳng định với các môn đệ: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Không có ơn Chúa ban, ta không thể làm được gì. Nhưng còn hơn thế nữa: Không có ơn Chúa ban, ta không là gì cả, như lời Phaolô nói trên đây.
Ðúng ra, Phaolô đang nghĩ đến trường hợp cá biệt của mình. Như chính ngài tự thú, ngài chỉ là đứa con ranh, mạt rệp, đã từng bắt bớ Hội Thánh. Dầu vậy, ngài vẫn được Chúa kêu gọi làm Tông Ðồ. Thế thì con người tông đồ của ngài hoàn toàn là do ơn Chúa. Ngài có làm được gì trong công tác tông đồ cũng là nhờ ơn Chúa tất.
Chẳng riêng gì Phaolô, tất cả chúng ta cũng thế thôi, tuy hoàn cảnh từng người có thể khác Phaolô. Chính Tông Ðồ này cũng nói với chúng ta: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh” (1Cr 4,7). Phải, trừ tội ra, chúng ta nhận lãnh mọi sự từ Thiên Chúa. Bên bờ giếng Giacóp, Ðức Giêsu đã nói với người phụ nữ Samari: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban” (Ga 4,10). Phải chăng đây cũng là lời Chúa muốn nói với chúng ta hôm nay? Chúng ta nhận ra điều gì? Tất cả là hồng ân của Chúa. Con người chúng ta là hồng ân. Ðược tạo dựng là hồng ân. Ðược sống và được cứu là hồng ân. Làm điều tốt cũng là nhờ ân sủng.
(Thi sĩ Lamartine, một hôm băng qua rừng, nghe thấy có tiếng đập đá, sau mỗi tiếng đập lại vang lên tiếng cám ơn. Ông tò mò tìm đến nơi. Hỏi: “Bác cám ơn ai vậy?” – “Tôi cám ơn Chúa” – “Giả như bác giầu có, thì cám ơn Chúa cũng được đi. Ðàng này Chúa chỉ cho bác cái búa và bắt làm nghề vất vả, sao phải cám ơn mãi? – Không do dự, người đập đá trả lời: “Thiên Chúa đã thương một người thấp hèn như tôi, thì dù Ngài chỉ thương một lần là cho tôi được sống, ngần ấy cũng đủ để tôi cám ơn Ngài cả đời”. Thế đấy. Dù nhận được tình yêu của Chúa một lần thôi, cũng phải cám ơn Ngài cả đời, huống hồ nhận được biết bao nhiêu ơn lành này khác).
Sự thật là như vậy. Nhưng khổ nỗi, không phải lúc nào cũng nhận ra hay dễ nhận ra. Ðành rằng chúng ta không phủ nhận cần có ơn Chúa, nhưng lắm lúc chúng ta không thấy nó rõ nét trong cuộc sống bình thường. Ðấy là một chuyện. Rồi khi cần một ơn nào cụ thể, đặc biệt khi gặp khó khăn, ta lại thấy dường như không thể có được nó. Chính Phaolô đã rơi vào trường hợp tương tự. Ngài bị một cái dằm chết tiệt đâm vào thân xác, van nài miết mà Chúa không cất đi cho. Nhưng Chúa bảo sao? “Ơn của Thầy đủ cho con” (2Cr 12,9). Ơn Chúa lúc nào cũng có. Ơn Chúa lúc nào cũng đủ. Nó không giống như ân nghĩa của con người. Ân nghĩa của con người nay còn mai mất. Thậm chí mất vào chính lúc ta cần nó mới tệ. Ðiều này không phải hiếm. Nhưng Thiên Chúa thì khác, vừa ân nghĩa lại vừa tín thành (Xh 34,4). Ân nghĩa và tín thành của Ngài luôn theo ta “hết mọi ngày trong suốt cộc đời” (Tv 23,6). Không một lúc nào rút lại ơn ban. Không một lúc nào ngừng ban ân sủng.
Nếu tất cả con người, đời sống, hoạt động của ta, sự cứu rỗi của ta, ta đều nhận lãnh từ Thiên Chúa, hằng ngày, hằng năm và cho đến hết đời, thì không được phép tự vinh vang đã đành, ngược lại, phải đưa vinh vang ấy về cho Thiên Chúa, tức là chúc tụng tạ ơn Ngài, và tạ ơn không ngừng.
* Nói dện việc tạ ơn, tưởng cũng nên ghi nhận một chút ơn mà chúng ta cảm tạ.
Ngoài những ơn riêng được ban cho từng người, tất cả đều đã nhận được ân sủng chung cho mọi người.
Kết thúc thư thứ hai gửi tín hữu Corintô, Phaolô viết: “Chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2Cr 13,13). Trong Thánh Lễ, Giáo Hội đã dùng lời trên làm lời chào chúc mở đầu của linh mục chủ sự, tuỳ nghi thay cho công thức quen thuộc “Chúa ở cùng anh chị em”. Ân sủng, tình yêu, sự hiệp thông không chỉ diễn tả một mong ước, mà còn nói lên một thực tại. Linh mục nguyện xin cho ân sủng. ở cùng chúng ta, kỳ thực ân sủng đó đã ở cùng chúng ta rồi. Nếu để ý, ta còn thấy trong mỗi lá thư, Phaolô đều mở đầu bằng một ý tương tự: Xin Chúa ban cho anh em ân sủng và bình an . (x.Gl 1,3).
Phaolô muốn nhấn mạnh điều gì vậy? Nhấn mạnh rằng ta đang ở trong ân sủng, đang có ân sủng của Thiên Chúa. Ðó là ân sủng Chúa Kitô, là tình yêu của Chúa Cha, là sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần.
Công thức ân sủng Chúa Kitô hiểu là ân sủng của Chúa Kitô hoặc hiểu Chúa Kitô là ân sủng, đàng nào cũng được. Là Thiên Chúa, Ngài tràn đầy ân sủng. Nhưng cũng vì là Thiên Chúa và là Ðầu Giáo Hội, Ngài ban ân sủng cho ta. Thiên Chúa của Kinh Thánh không chỉ là Ðấng hiện hữu vì mình, mà còn là Ðấng hiện hữu vì ta. Với tư cách là Lời nhập thể và cứu chuộc, Ðức Kitô là Ân sủng lớn nhất của Thiên Chúa, bao gồm mọi ân huệ khác.
Tình yêu của Chúa Cha hay của Thiên Chúa cũng được hiểu theo cách trên đây. Thiên Chúa là Tình Yêu, đồng thời cũng ban tình yêu. Ban, không phải giữa Ba Ngôi với nhau, vì sự thể hiện tình yêu giữa Ba Ngôi với nhau là điều tất yếu, do bản tính Thiên Chúa. Chúa Cha yêu Chúa Con, đó không phải là ân sủng, nhưng là đòi hỏi của tình phụ tử, và, theo một nghĩa nào đó, thì là một bổn phận. Ban là ban cho thụ tạo. Và tình yêu lúc đó trở thành ân sủng, ơn ban. Việc Thiên Chúa yêu thương chúng ta hoàn toàn là ân sủng, là ân huệ nhưng-không mà Thiên Chúa tự do ban cho ta, không vì một công trạng nào của ta cả.
Thánh Thần cũng là ân huệ được ban cho ta đi kèm với ân sủng của Thiên Chúa và làm phát sinh các ân huệ thiêng liêng, những đoàn sủng riêng biệt của đời sống người kitô hữu chúng ta.
Nói vắn tắt thì ân sủng chính là sự hiện diện cứu độ và yêu thương của cả Ba Ngôi Thiên Chúa ở nơi ta, mỗi Ngôi tuỳ theo cách thế của mình góp phần vào công trình cứu rỗi chung.
Chính ân sủng vì đại này đã được ban cho ta, làm nên tất cả đời sống của ta, những con người đang được hưởng tình yêu của Thiên Chúa qua Ðức Kitô, được cứu chuộc, trở nên con cái và môn đệ, được hưởng những hoa quả của Thần Khí. Do đó ta hiểu vì sao Phaolô ưu tiên khơi dậy nơi ta ý thức mãnh liệt về ân sủng, vì sao ngài rao giảng không mỏi mệt về ân sủng, vì sao ngài nhắc nhở ta không ngừng tạ ơn Chúa. Tiếc rằng ngày nay giáo lý về ân sủng có lẽ là phần được nói sơ sài nhất trong thần học và trong đời sống người kitô hữu.
3. Ðể việc tạ ơn có ý nghĩa
Chúng ta đáp lại ơn Chúa bằng lời chúc tụng tạ ơn, đó đã là một việc chính đáng, phải đạo. Nhưng để hành vi này thật sự có ý nghĩa và hữu hiệu, còn phải biết sử dụng ơn Chúa sao cho đích đáng. Nhận được món quà quý giá, cám ơn xong, rồi cứ để nó yên đó, hoặc sử dụng nó ngược với ý muốn của người cho, coi sao được ? Không phải là bằng chứng vô ơn sao?
Bởi vậy, Phaolô mới khuyên: “Ðừng để ân huệ của Thiên Chúa trở nên vô hiệu” (2Cr 6,1). Vô hiệu, khi ta sống không tương ứng với ân sủng đã lãnh nhận. Vô hiệu, khi ta không vun xới ân sủng, để nó mang lại hoa trái là những hoa trái của Thần Khí và các nhân đức. Mà ân sủng không được tích chứa nơi ta thì thay vào đó sẽ là gì? Là kho thịnh nộ của Thiên Chúa trong ngày phán xét (x.Rm 2,4-5). Dễ sợ vậy đó.
Chúng ta có thể làm cho ơn Chúa ra vô hiệu khi cố tình sống trong tội. Thời Phaolô, có một số người tưởng là có thể vừa sống trong ân sủng vừa sống trong tội lỗi. Họ nghĩ thế này: Cứ sống trong tội để được thêm ơn, vì ở đâu tội lỗi gia tăng, thì ở đó ân sủng siêu bội. Cứ việc phạm tội thoải mái, vì đã sống dưới chế độ ân sủng rồi, cần gì phải lo! (x.Rm 6,1-15). Ôi! Ý nghĩ sao mà ngược ngạo.
Phaolô phản ứng ra sao? “Ðừng nói gở”, ngài bảo thế, nghiêm khắc mà bảo. Gở, vì muốn để sự chết đội trời chung với sự sống.
Mức độ vô hiệu trầm trọng nhất là để mất ơn Chúa, sống trong tình trạng hoàn toàn thất sủng với Ngài. Ðó là cái chết được báo trước. Nói đúng hơn, cái chết đã đến, đã thấm nhập vào ta rồi, dù nhìn bên ngoài ta vẫn sống phây phây, phơi phới như đầy sức sống nữa là khác. Trong bài hát “Ngụ ngôn của mùa đông” của Trịnh Công Sơn, ta được nghe câu này: “. Trái mìn nổ chậm, người chết hai lần, thịt da nát tan”. Chính trái mìn nổ chậm là tội lỗi nơi ta đã làm tan nát đời sống ta, trước khi thân xác ta nát tan trong lòng đất.
Nếu quả ân sủng là khởi đầu của vinh quang, thì thất sủng là khởi đầu của án phạt. Sống trong tình trạng mất ân nghĩa với Chúa là sống như kẻ mang án phạt đời đời, cho dù ta chưa cảm nghiệm được điều này.
Thế nên, đừng cố chấp trong tội. Một khoảnh khắc thôi cũng đừng. Kinh Thánh nói: “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (2Pr 4,26). Nhưng quan trọng hơn: Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận của Chúa chưa nguôi. Thánh Gioan Bosco đã giúp cho một cậu bé ăn năn hối lỗi bằng cách nhét dưới gối cậu mảnh giấy với hàng chữ này: Nếu đêm nay em chết thì sao?
Ðể khỏi làm mất ơn Chúa, không những cố gắng gìn giữ nó bằng cách xa tránh tội, khử trừ tội, mà còn biết vun trồng ân sủng, làm cho nó lớn lên trong ta. Hành vi tích cực này thật đáng quan tâm. Phúc Âm mô tả Ðức Giêsu, lúc còn nhỏ, ngày một “tấn tới thêm về. ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta” (Lc 2,52; bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn). Dĩ nhiên, với tư cách là Thiên Chúa, Ngài đã đầy tràn ân sủng rồi, còn chỗ nào đâu để tấn tới? Tấn tới là với tư cách một con người. Và đó là gương cho ta.
Khi suy nghĩ về ơn Thiên Chúa dành cho mình, Phaolô đã dám khẳng định: “Ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu” (1Cr 15,10). Ơn Thiên Chúa ban cho Phaolô quả không vô hiệu, khi không những ngài hăng say loan báo nó, mà còn làm cho nó phát triển trong cuộc đời tông đồ của ngài.
Chúng ta cũng hãy vun trồng ân sủng trong đời sống ta, cộng tác với ơn Chúa để làm cho đời sống luôn tươi đẹp, vì có ân sủng là có sự mỹ miều, nếu không phát lộ ra bên ngoài, ít nhất cũng làm nên một tâm hồn đẹp đẽ trước mặt Thiên Chúa.
Không làm mất ơn Chúa và biết vun trồng nó, đó cũng là cách tạ ơn làm đẹp lòng Chúa, một cách tạ ơn bằng chính nỗ lực của ta, kéo dài suốt cả đời người.
Trong kho tàng Thánh ca Phụng vụ, có khối bài ca tạ ơn. Truyền thống la tinh hay sử dụng bài Te Deum (bây giờ không còn mấy nơi hát. Ngay cả các linh mục cũng ít người thuộc). Thôi thì lần dò vào tuyển tập những bài hát nội địa vậy. Bài quen nhất có lẽ là bài “Ðến muôn đời con cảm tạ ơn Chúa”. Bài này, cũng như đa phần các bài khác, chẳng hạn bài “Xin dâng lời cảm tạ”, đều khai triển những lý do tạ ơn: tình yêu và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Sở dĩ tôi nhắc đến nó, phần vì nhạc dễ và tương đối nghe được, phần vì cái ý lặp đi lặp lại: đến muôn đời, muôn muôn đời, và mãi mãi. Chính là nhắc cho ta phải không ngừng tạ ơn Chúa trong suốt cuộc đời ta. Nếu còn quên nữa, chúng ta có Thánh Lễ hằng ngày là Lễ Tế Tạ Ơn. Cụ thể những lời “Tạ ơn Chúa” do chính chúng ta đọc lên (sau bài đọc lời Chúa, kinh Tiền Tụng, kết lễ) phải nhắc nhở chúng ta thực hành việc quan trọng này.
Làm sao cho tất cả con người và đời sống của ta, từ những ý tưởng trong tâm trí, những lời nói trên môi miệng, đến những việc chúng ta làm, tất cả là một lời chúc tụng tạ ơn dâng lên Thiên Chúa, để làm vinh danh Ngài.
PHỤ LỤC
I. SỐNG THÁNH THEO GƯƠNG ÐỨC KITÔ
Người môn đệ Chúa theo gương Ngài trong nhiều phương diện. Nhưng tất cả các phương diện này chỉ là những hình thức bày tỏ một yếu tố cơ bản là sự thánh thiện. Sự thánh thiện này có ở nơi Thiên Chúa, nơi Ðức Kitô. Ðức Kitô không những có nó, mà đã thực sự sống nó. Thế nên theo gương Chúa tiên vàn phải là bắt chước sự thánh thiện của Chúa, phải tập sống thánh.
Trong Giáo Hội, đã có hàng hàng lớp lớp môn đệ đi theo con đường này, trong đó rất nhiều vị được Giáo Hội tôn phong hiển thánh. Người môn đệ hôm nay là chúng ta cũng phải đi theo con đường ấy.
Công đồng Vaticanô II dạy rằng chủ yếu của sự thánh thiện là ở chỗ kết hợp với Ðức Kitô (GH 39; 50). Ðề tài chuyên biệt này được khai triển trong một bài riêng. Còn trong bài này, chúng ta cố gắng suy niệm về sự thánh thiện của Ðức Kitô, về những yếu tố làm nên sự thánh thiện này, và xem sự thánh thiện này chi phối, và phải chi phối, đời sống của chúng ta như thế nào.
1. “Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa”(Ga 6,69)
* Các Phúc Âm Nhất Lãm đều tường thuật câu truyện Phêrô tuyên tín ở Cêsarêa Philipphê. Phúc Âm thứ tư thì không. Bù lại, chúng ta bắt gặp trong Phúc Âm này một trình thuật tương tự. Ấy là, sau diễn từ về Bánh ban sự sống ở hội đường Capharnaum, trước phản ứng khó chịu của nhiều môn đệ, Ðức Giêsu hỏi Nhóm 12 xem họ có muốn bỏ đi không. Nghe vậy, Phêrô đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai. Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).
Ở Cêsarêa, tước hiệu được tuyên tín là “Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), hoặc “Ðấng Kitô” (Mc 8,29), hoặc “Ðấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9,20). Ở đây, tước hiệu là “Ðấng Thánh của Thiên Chúa”. Ở Cêsarêa, Phêrô đã tuyên tín thay mặt các anh em. Ở đây, Phêrô cũng làm như vậy, thay mặt các anh em mà tuyên tín. Ở Cêsarêa, Ðức Giêsu cho biết Phêrô nói được như thế là do mạc khải từ trên. Ở đây, Ngài cũng bảo: “Không ai đến với Thầy được (hàm ý tin Ngài là Ðấng Kitô hay Ðấng Thánh của Thiên Chúa), nếu Chúa Cha đã không ban ơn ấy cho” (Ga 6,65).
Cũng ở hội đường Capharnaum, tước hiệu “Ðấng Thánh” có lúc đã được nói lên, nhưng người nói thì khác, cách nói cũng khác. Người nói không phải là các Tông đồ, mà là quỷ, qua miệng một người bị quỷ ám. Quỷ đã tru trếu khi trông thấy Ðức Giêsu: “Tôi biết ông là ai rồi: ông là Ðấng Thánh của Thiên Chúa” (Lc 4,34). Cách nói không phải để xác tín, luỵ phục, vững tâm theo Chúa như các Tông đồ, nhưng là để đối kháng trong run sợ. Ðối kháng là phải, vì Thần Khí nơi Ðức Giêsu và thần ô uế là hai thái cực, không thể đi với nhau, không thể giáp mặt nhau, như hai cực dương chạm nhau thì phải đẩy nhau. Run sợ là phải, vì quỷ biết rằng Ðức Giêsu đến thiết lập vương quốc của Ngài, thì cũng là lúc quyền lực của chúng đi đời nhà ma!
Trong tất cả Tân ước, tước hiệu Ðấng Thánh áp dụng cho Ðức Giêsu còn được nhắc đến nhiều lần. Chẳng hạn, đầu Tân ước, thần sứ Thiên Chúa cho Ðức Maria biết người con sắp sinh ra sẽ được gọi là thánh (Lc 1,35), cuối Tân ước, sách Khải huyền gọi Ðức Giêsu là “Ðấng Thánh” (Kh 3,7).
* Thế Ðức Giêsu thánh ở chỗ nào? Ðâu là những yếu tố làm nên sự thánh thiện của Ngài? Có hai yếu tố: một tiêu cực, một tích cực. Tiêu cực là không có tội, không hề có tội, không thể có tội. Tích cực là liên tục và tuyệt đối kết hợp với Chúa Cha, với ý muốn của Chúa Cha.
Khía cạnh tiêu cực được Tân ước làm sáng tỏ cách đặc biệt. Ðức Giêsu có lần nói với các kẻ thù: “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội gì?” (Ga 8,46). Kẻ thù không thể bắt lỗi Ðức Giêsu, vì Ngài có tội lỗi nào đâu mà bắt? Quả thực, về điểm này, các Tông đồ đều nhất trí quả quyết: Ngài là Ðấng chẳng hề biết tội là gì (2Cr 5,21), không hề phạm tội, và chẳng ai thấy miệng Ngài nói lời nào gian dối (Pr 2,22), Ðấng đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, chỉ trừ tội lỗi (Dt 4,15), một vị Thượng tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân (Dt 7,26), là Ðấng thanh sạch, nơi Ngài không có tội lỗi (1Ga 3,3.5).
Nhưng làm sao Tân ước có thể quả quyết Ðức Giêsu không có tội ? Ngài là người như mọi người, lại không mắc bất cứ tội nào sao ? Ðương nhiên là phải có bằng chứng. Thì có bằng chứng hẳn hoi. Bằng chứng ở chính sự kiện Nhập thể và Phục sinh của Ðức Giêsu.
Trong sự kiện Nhập thể, bản tính con người nơi Ðức Giêsu kết hợp với bản tính Thiên Chúa trong một ngôi vị duy nhất là Ngôi Lời. Nói theo từ chuyên môn, thì đó là ngôi hiệp (union hypostatique). Ðức Giêsu không có tội chính vì linh hồn Ngài kết hợp theo bản thể với nguồn mạch của sự thánh thiện là Ngôi Lời Thiên Chúa. Các Giáo phụ ngày xưa luôn nhấn mạnh lý do này. Theo các ngài, nói Ðức Giêsu phạm tội là nói Thiên Chúa phạm tội. Nghe sao được ?
Còn trong sự kiện Phục sinh, các Tông đồ coi đây là một mấu cứ chắc chắn cho thấy Ðức Giêsu vô tội. Nhờ sự Phục sinh, Ngài được Thần Khí chứng thực là công chính (1Tm 3,16), vô tội, đã chiến thắng thế gian và tội lỗi. Theo Gioan, việc Ngài trở về với Chúa Cha khiến ta không thể phủ nhận sự công chính và vô tội của Ngài (Ga 16,10).
Như vậy, cả sự kiện khởi đầu lẫn sự kiện kết thúc cuộc đời trần gian của Ðức Giêsu đều minh chứng Ngài vô tội. Sự kiện Phục sinh cho phép ta quả quyết rằng nơi Ðức Giêsu không có tội lỗi. Sự kiện Nhập thể và Ngôi hiệp cho phép ta quả quyết một cái gì còn hơn thế nữa: nơi Ðức Giêsu, không thể có tội lỗi.
Chúng ta vừa đề cập những khía cạnh tiêu cực của sự thánh thiện nơi Ðức Giêsu. Tuy nhiên, có thể nói chúng ta chỉ dựa trên sự suy nghĩ của con người. Thực ra, không chỉ có vậy. Sự thánh thiện của Ðức Giêsu đã được Ngài sống một cách cụ thể, qua những việc làm tích cực nữa.
Sống thánh là chu toàn ý muốn của Thiên Chúa. Thì có lần Ðức Giêsu đã khẳng định: “Tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8,29). “Hằng” là một điều cơ bản, nói lên sự khác biệt giữa thái độ của Ðức Giêsu và của ta. Ðối với ta, làm theo ý Thiên Chúa chỉ là những lúc hiếm hoi, lúc mát mình, lúc được thúc giục nhiều chẳng hạn. Bởi con người yếu đuối, cộng với những cám dỗ xấu xa liên tục, thường đưa ta tới chỗ làm trái ý Chúa. Còn đối với Ðức Giêsu, đó là nguyên lý tuyệt đối luôn hướng dẫn hành động, trong bất cứ lúc nào, bất cứ tình huống cụ thể nào. Thậm chí lúc khó khăn tột cùng như ở vườn Cây Dầu, lúc con người xác thịt muốn cho Chúa Cha cất chén đắng, Ðức Giêsu vẫn xin được làm theo ý Cha (Lc 22,42).
* Trong sự thánh thiện của Ðức Giêsu, có một vấn đề vừa liên hệ với Ngài, vừa liên hệ với ta. Liên hệ với ta chủ yếu ở chỗ để ta có thể bắt chước sự thánh thiện của Ngài. Vấn đề là thế này: Sự thánh thiện của Ðức Giêsu có tiến triển theo thời gian không, hay là trước sau như một ?
Ở đây cần phân biệt: nơi Ðức Giêsu, có tới hai sự thánh thiện. Một sự thánh thiện khách quan, có thể gọi là thiên phú, thuộc bình diện hữu thể học, gắn liền với mầu nhiệm Ngôi hiệp và với vai trò cứu thế của Ngài. Sự thánh thiện này thì không thay đổi. Lại có một sự thánh thiện chủ quan, mà Ngài thủ đắc qua thời gian, do hoàn toàn thi hành thánh ý Chúa Cha. Ðức Giêsu là Ðấng mà “Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian” (Ga 10,36), tức có sự thánh thiện khách quan, nhưng cũng là Ðấng “tự thánh hiến chính mình” (Ga 17,19), tự nguyện làm theo ý Chúa Cha, tức có sự thánh thiện chủ quan. Sự thánh thiện chủ quan này thì có tiến triển, như Ngài tiến triển về sự khôn ngoan và tuổi tác (Lc 2,52).
Nói vậy không có nghĩa là có một lúc nào đó sự đáp ứng của Ðức Giêsu đối với ý muốn của Chúa Cha là bất toàn đâu. Lúc nào sự đáp ứng ấy cũng hoàn hảo hết. Có điều, vì nhân tính và ơn gọi của Ðức Giêsu có phát triển, nên sự đáp ứng của Ngài hoàn hảo theo mức độ tương ứng với điều Chúa Cha muốn thực hiện, trong những giai đoạn khác nhau của cuộc đời Ngài.
Cho rằng sự thánh thiện của Ðức Giêsu trước sau như một, trước và sau lời “Xin Vâng” ở vườn Cây Dầu chẳng có gì khác nhau, là làm cho cuộc đời của Ngài mất ý nghĩa. Thậm chí Mầu nhiệm Vượt qua cũng mất ý nghĩa nốt. Ðức Giêsu không chỉ hài lòng với một sự thánh thiện đã được Chúa Cha ban cho, nhưng luôn sống trong tình huống của điều mà chúng ta gọi là “hướng về sự thánh thiện”, theo sự tiến triển của thời gian và nhân tính của Ngài. Cho nên Ngài mới nói: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12,50). Khắc khoải, bồn chồn, lo lắng, vì phép rửa này, tức cuộc Khổ nạn, đòi hỏi rất nhiều để Ngài có thể đáp lại ý Chúa Cha.
* Trong kinh Vinh Danh, chúng ta hướng về Ðức Giêsu mà kêu lên: “Chỉ có Chúa là Ðấng Thánh”. Dĩ nhiên, đây là nói về Ðức Giêsu ở giữa lòng nhân loại. Chỉ mình Ðức Giêsu là con người hoàn toàn thánh thiện. Chỉ mình Ngài là Ðấng Thánh thật của Thiên Chúa. Sự thánh thiện của Ðức Giêsu là tột đỉnh, đồng thời cũng là nguồn mạch của mọi sự thánh thiện nơi con người.
Pascal đã đưa ra một nguyên lý nổi tiếng về ba lãnh vực: thân xác hay vật chất, tinh thần hay trí khôn, và sự thánh thiện. Giữa vật chất và trí khôn, có một khoảng cách vô biên về chất lượng. Các thiên tài có đầu óc lớn chẳng cần to xác, chẳng cần lắm tiền nhiều của. Tự bản chất, những yếu tố này không thêm gì cho họ cả. Ðấy là một chuyện. Nhưng giữa trí khôn và sự thánh thiện, khoảng cách còn vô biên hơn nhiều. Các thánh không những chẳng cần to xác, chẳng cần nhiều của, mà cũng không nhất thiết có đầu óc lớn. Bởi cái quan trọng đối với các ngài là Thiên Chúa. Chỉ có sự đánh giá của Thiên Chúa là đáng kể, chứ không phải con mắt người phàm. Ðấng Thánh là Ðức Giêsu cũng vậy.
Hơn thế nữa, sự thánh thiện của Ðức Giêsu còn là chóp đỉnh của sự thánh thiện. Ngài vượt lên trên mọi phàm nhân thánh thiện, vì Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa. Ý niệm “thánh” được gán cho Thiên Chúa, thì cũng được gán cho Ngài. Theo Kinh Thánh, “thánh” gợi lên ý tưởng tách rời. Thiên Chúa hay Ðức Giêsu là thánh, vì là Ðấng hoàn toàn khác so với con người. Là Ðấng Tuyệt Ðối, tách ra khỏi cái phàm tục và đứng riêng.
Tuy là tột đỉnh, đứng riêng, nhưng chính từ sự thánh thiện của Ðức Giêsu mà phát sinh sự thánh thiện nơi con người. Quả thực, không ai tự mình có sự thánh thiện, nhưng là nhận được nó từ Ðức Kitô hoặc qua trung gian của Ngài. Lịch sử linh đạo kitô giáo cho thấy nhiều hình thức thánh thiện và hoàn hảo khác nhau. Có vị thánh nổi bật nhân đức này. Có vị thánh nổi bật nhân đức kia. Nên thánh không chỉ có ba bẩy đường, nhưng là có vô số đường. Dầu vậy, tất cả những hình thức ấy đều được gán cách tổng quát cho Ðức Kitô, vì chúng phát xuất từ Ngài.
Ngày nhật thực, có những người dùng thau nước để nhìn mặt trời qua nước, vì sợ hỏng mắt. Có bao nhiêu thau nước là có ngần ấy mặt trời được phản chiếu, nhưng thật ra, chỉ có một mặt trời duy nhất hiện lên trong các thau nước đó. Tương tự như vậy, chỉ có một sự thánh thiện của Ðức Kitô toả chiếu nơi hằng hà sa số thánh nhân. Khác chăng là: cũng như một nguồn sáng đi qua quang phổ tạo ra bẩy mầu sắc, sự thánh thiện của Ðức Kitô, khi được phản chiếu nơi con người, cũng thể hiện thành muôn mầu muôn vẻ. Không vị nào giống vị nào. Nhưng tất cả đều từ một nguồn mạch duy nhất là sự thánh thiện của Ðức Giêsu.
2. “Anh em hãy sống thánh thiện” (1Pr 1,15)
* Như đã nói trên, sự thánh thiện của con người phát xuất từ sự thánh thiện của Ðức Giêsu. Nói đúng hơn, chính Ðức Giêsu ban cho ta sự thánh thiện của Ngài. Có lần Chúa nói: “Nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8,36). Ta có được sự tự do là nhờ Chúa, nhờ công nghiệp cứu độ giải thoát của Chúa. Về sự thánh thiện cũng thế thôi. Chính Ðức Giêsu ban nó cho ta.Và cũng chỉ mình Ngài có thể ban nó cho ta.
Cha mẹ có thể chuyển đạt cho con mình cái họ “có”, nhưng không phải cái họ “là”. Họ có tài sản lớn, và muốn để lại cho con ư? Ðược lắm. Nhưng nếu họ là bác sĩ, là nghệ sĩ, thậm chí là thánh nhân, thì dù họ muốn đi nữa, con cái sinh ra vị tất đã là bác sĩ, nghệ sĩ, thánh nhân (Cha mẹ sinh con, trời sinh tính). Bất quá, cha mẹ chỉ có thể giúp cho con cái yêu thích và hướng tới những mẫu người đó, nhưng không thể sinh ra những đứa con là những mẫu người đó.
Ðiều con người không thể làm, thì Ðức Giêsu đã làm. Khi ta chịu phép Rửa Tội, Ðức Giêsu chuyển đạt cho ta cái Ngài có đã vậy, mà cả cái Ngài là nữa. Ngài là thánh và làm cho ta nên thánh. Ngài là Con Thiên Chúa và làm cho ta nên con cái Thiên Chúa.
Sự thánh thiện của Ðức GIêsu đã được ban cho ta. Có cho thì phải có nhận. Nhận là việc của ta. Chúng ta mặc lấy sự thánh thiện ấy như được “choàng đức chính trực công minh” (Is 61,10).
Có hai phương tiện đặc biệt cho phép ta nhận sự thánh thiện của Ðức Giêsu làm của ta. Hai phương tiện này là đức tin và các bí tích. Ðức tin là khả năng duy nhất giúp ta tiếp xúc với Ðức Kitô. “Ai tin vào Ðức Kitô, thì chạm vào Ngài” (Augustinô). Phaolô nói: nhờ tin mà Ðức Kitô ngự trong tâm hồn ta (Ep 3,17). Cũng vậy, nhờ tin mà sự thánh thiện của Ngài lưu lại nơi ta.
Ngoài đức tin ra, còn có các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Qua Thánh Thể, ta tiếp xúc với chính Ðấng Thánh của Thiên Chúa. Qua Thánh Thể, Ðức Giêsu tràn ngập tâm hồn ta, kết hợp mật thiết vơi ta, làm biến đổi ta trong Ngài.
* Chúng ta đã chiêm ngắm sự thánh thiện của Ðức Giêsu, đã nhận sự thánh thiện này làm của ta, đã được Ðức Giêsu tác thánh để làm thành một dân thánh (1Pr 2,9). Nhưng như thế đã đủ chưa? Chưa đâu. Muốn thực sự là thánh, còn phải có những nỗ lực về phía ta. Phải cố gắng bắt chước sự thánh thiện của Chúa. Cứ xem ngay nơi Ðức Giêsu: Ngài là Ðấng đã được tác thánh và được sai đến thế gian, nhưng đồng thời cũng làm cho mình nên thánh. Ðược tác thánh thì mới chỉ có sự thánh thiện trên bình diện hữu thể học. Làm cho mình nên thánh mới có sự thánh thiện trên bình diện luân lý. Chính sự thánh thiện luân lý này, thủ đắc qua thời gian, là mẫu gương cho ta bắt chước, và là lời mời gọi ta sống như vậy.
Do đó, ta hiểu vì sao, trong các thư Tân ước, có vô số lời mời gọi nên thánh. Khởi đầu phần khuyến thiện thư Rôma, Phaolô kêu gọi: “Thưa anh em. tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1). Phêrô trong lá thư thứ nhất cũng có lời khuyên: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Ðấng Thánh đã kêu gọi anh em, vì có lời Kinh Thánh chép: hãy sống thánh thiện vì Ta là Ðấng Thánh” (1Pr 1,15-16).
Về lời mời gọi này, chúng ta hẳn không ai không biết bản văn quan trọng của Công đồng Vaticanô II, trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội. Sau khi nhắc đến sự thánh thiện của Ðức Kitô, và của Giáo Hội được Ðức Kitô tác thánh, Công đồng viết: “Vì thế, tất cả mọi người trong Giáo Hội, hoặc thuộc hàng giáo phẩm, hoặc được hàng giáo phẩm dìu dắt, đều được kêu gọi nên thánh, như lời thánh Tông đồ dạy: vì Thiên Chúa muốn anh em được thánh hoá (1Tx 4,3)” (GH 39).
“Tất cả mọi người”, vậy nên thánh không phải là chuyện của riêng ai, không thể khoán trắng cho bất cứ người nào. Ấy thế mà có lắm người nghĩ rằng sống thánh là việc dành cho ai đó, cho những nhóm nào đó, những người ưu tuyển hoặc có điều kiện hơn chẳng hạn. Mình lèng èng một chút chắc chả sao. Cũng như trong một đoàn người mặc áo trắng, nếu có xen vào mấy tà áo mầu nước dưa, thì trông đại thể vẫn đẹp chán! Nghĩ thế thì còn chuyện gì nữa mà nói.
[Nếu nên thánh là bổn phận của mọi người, nó càng là bổn phận của các tu sĩ. Công đồng nói: “Ðặc biệt hơn, sự thánh thiện đó tỏ lộ trong việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm. Nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, nhiều kitô hữu thực hành các lời khuyên ấy với tư cách cá nhân hoặc trong những lối sống hay bậc sống đã được Giáo Hội công nhận; việc thực hành đó mang lại và phải mang lại cho thế giới một bằng chứng và một mẫu gương rạng ngời về sự thánh thiện của Giáo Hội” (GH 39). Ta còn thấy Công đồng có thâm ý khi đặt chương VI bàn về tu sĩ ngay liền sau chương V về việc kêu gọi mọi người nên thánh.Chính là để bày tỏ giá trị và tầm quan trọng của đời sống tận hiến để thánh hoá và làm chứng.
Công đồng cũng nói: “Với ơn Chúa, họ phải luôn gìn giữ và hoàn thành trong đời sống sự thánh thiện mà họ đã lãnh nhận” (GH 40). Như vậy, sự thánh thiện của tu sĩ không phải là một sự thánh thiện mới, thêm vào sự thánh thiện mà họ đã lãnh nhận nhờ đức tin và các bí tích, nhưng là duy trì, bày tỏ và phát huy trong đời sống sự thánh thiện của chính Ðức Kitô (ibid) ].
Ðây là một trong những lời kêu gọi khẩn thiết và cấp bách nhất của Công đồng. Không ý thức vấn đề sống thánh, thì không thể thực hiện được điều gì khác. Và có thực hiện cũng vô ích. Tuy vậy, chính lời kêu gọi này lại có nguy cơ bị quên lãng. Vì sao? Vì không một quyền lực nào có thể buộc người ta nên thánh. Không một lợi ích nào của một nhóm nào trong Giáo Hội có thể ép người ta nên thánh. Chỉ Thiên Chúa và lương tâm của mỗi người đòi hỏi sự thánh thiện mà thôi. Ðáng buồn là trong một thế giới ngày càng tục hoá, tiếng nói của Thiên Chúa và của lương tâm lại ngày càng trở nên lạc lõng, khó đánh động lòng người.
Ðôi lúc người ta có cảm tưởng rằng, sau Công đồng, trong một số môi trường và một số dòng tu, người ta cố làm ra những vị thánh hơn là làm cho chính mình trở nên thánh. Tức là: cậy cục sao cho các vị sáng lập hay anh chị em trong dòng được phong thánh, hơn là bắt chước gương mẫu và các nhân đức của những vị này.
Phong thánh hay không, đó là chuyện của Giáo Hội. Nhưng đây chưa phải là chuyện ưu tiên. Chuyện ưu tiên nhất, đáng quan tâm nhất, là mỗi người biết nghe lời Chúa và Giáo Hội kêu gọi mà cố gắng sống thánh, ngay cả trong thời đại hôm nay, thời mà bầu khí và những điều kiện sống dường như khó giúp cho chúng ta nên thánh.
Hãy đọc lại lịch sử Giáo Hội. Càng ở những thời kỳ khó khăn, khủng hoảng, càng có nhiều thánh và là những thánh lớn, vì Giáo Hội đã biết phát triển sự thánh thiện của mình. Không kể thời gian đầu Giáo Hội bị bách hại và do đó có nhiều thánh tử đạo, cứ nghĩ đến các thế kỷ IV-V mà coi. Lúc có nhiều bè rối chống lại Mầu nhiệm Ba Ngôi và Mầu nhiệm Chúa Kitô lại là lúc Giáo Hội sản sinh ra những vị thánh lớn.
Rồi ở thế kỷ XVI, lúc có cuộc Cải cách tôn giáo, Giáo hội lại có sự nẩy nở đẹp đẽ nhất về sự thánh thiện. Trong thế kỷ này, có đến hơn 70 vị được tôn phong, với những tên tuổi như Ignatiô Loyola, Phanxicô Xaviê, Têrêxa Giêsu, Gioan Thánh Giá.
Vào thế kỷ XIX, lúc phong trào tục hoá dâng cao phân cách đạo đời, chúng ta cũng có những vị thánh nổi tiếng như Gioan M. Vianey, Gioan Bosco, Têrêxa Hài Ðồng Giêsu.
Những bông hoa thánh thiện ấy muốn nói lên điều gì? Muốn nói lên một câu trả lời của Thiên Chúa. Ðó là: dù Giáo Hội có gặp khủng hoảng, dù thế giới có đổi thay, Thiên Chúa vẫn gợi lên những chứng tá về sự thánh thiện. Càng khủng hoảng, các chứng tá càng lớn.
Giáo Hội hôm nay đang gặp khủng hoảng nhiều mặt, cũng phải minh chứng câu trả lời của Chúa như trong quá khứ. Nhưng Giáo Hội chỉ làm được điều này, nếu các con cái của Giáo Hội, trong đó có chúng ta, thực sự đi vào con đường sống thánh. Ðây là nhiệm vụ của mỗi người chúng ta.
3. Tìm về sự thánh thiện
* Nỗ lực của chúng ta hướng tới sự thánh thiện cũng tương tự với hành trình của dân Chúa trong sa mạc tìm về Ðất Hứa. Trong cuộc hành trình này, có những lúc lên đường xen kẽ với những lúc dừng chân. Thỉnh thoảng dân Chúa dừng lại, cắm lều, tạm nghỉ. Có thể vì nhọc mệt, mà đường còn xa xăm diệu vợi. Có thể vì nơi đó có nguồn nước và lương thực. Có thể vì đó là một ốc đảo dễ chịu. Nhưng rồi bất ngờ lệnh ban ra, buộc họ nhổ trại và tiếp tục hành trình (Xh 15,22; 17,5).
Trong đời sống Giáo Hội, cũng có những cuộc lên đường mới, những chặng hành trình mới, đánh dấu bằng những cột mốc, những thì mạnh của Năm Phụng vụ, chẳng hạn Mùa Vọng và Mùa Chay. Ðó là những ngày lên đường của toàn thể dân Chúa, dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội. Thế còn đối với từng người thì nhổ trại và lên đường lúc nào? Ngoài lúc hoà nhập với toàn dân, còn có những lúc riêng của từng người hay từng nhóm. Những lúc ấy, ta cảm thấy có lời mời gọi đặc biệt của Chúa, chứ không phải một sự thúc đẩy nào từ “xác thịt hay máu huyết” của ta.
Trước hết là lúc dừng chân. Giữa vô khối công việc bận bịu, giữa nhịp điệu của cuộc sống thường ngày, ta dành một thời gian nghỉ ngơi, tạm gác mọi sự khác, để có thể nhìn vào đời sống của mình, từ bên ngoài hay từ trên cao. Ðó là điều thường làm trong một cuộc tĩnh tâm. Nhìn vào mình, đặt ra cho mình những vấn nạn cơ bản: Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi đi đâu? Tôi muốn gì? Vấn nạn không nhằm đáp ứng mối bận tâm siêu hình nào đâu. Chúng nhằm một mục tiêu cụ thể là sống thánh.
Người ta kể rằng thánh Bênađô thỉnh thoảng vẫn ngưng công việc đang làm rồi tự hỏi: Này Bênađô, ngươi đã đến đây làm gì? Tại sao ngươi đi tu? Tại sao ngươi ở tu viện này? Chúng ta cũng phải tự hỏi một cách tương tự: Tại sao tôi ở chỗ tôi đang ở, làm công việc tôi đang làm? Phải chăng là để thi hành ý muốn của Chúa là Ðấng tác thánh tôi? Nói cho cùng, lời tự tra vấn trên cũng chỉ liên hệ tới một đời sống thánh. Mà tra vấn như thế là điều cơ bản, vì quả thực, chỉ có một nỗi bất hạnh đích danh là không sống thánh (Léon Bloy).
* Khi tự tra vấn và xét mình, thường ra ta chỉ thấy mình vào loại hâm hâm dở dở, nóng chẳng ra nóng, lạnh chẳng ra lạnh. Hài lòng về tình trạng này chăng ? Ðâu được. Phải thức tỉnh và hoán cải. Ðó là việc làm kế tiếp.
Sách Khải huyền có những lời lẽ rất gợi ý về sự hoán cải loại này. Ở đầu sách, ta đọc được 7 là thư viết cho 7 giáo đoàn ở Tiểu Á. Các thư này đều có cùng một lược đồ. Người lên tiếng nói chính là Ðức Kitô Phục Sinh, Ðấng Thánh.
Trong thư gửi giáo đoàn Ephêsô, Ðấng ấy nói: “Ta biết các việc ngươi làm, nỗi vất vả và lòng kiên nhẫn của ngươi. Ngươi có lòng kiên nhẫn và đã chịu khổ vì danh Ta, mà không mệt mỏi” Một lời khen ngợi và an ủi khiến cho người nghe cảm thấy ấm lòng. Nhưng rồi người nghe phải giật mình vì những lời kế tiếp, những lời cảnh giác, cho thấy người nói không hài lòng. Lời ấy thế này: “Ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu”, do đó “ngươi hãy hối cải và làm những việc ngươi đã làm từ thuở ban đầu” (Kh 2,1tt). Có nghĩa là: Hãy trở lại với lòng nhiệt thành ban đầu, hãy trở về với Ðức Kitô.
Trong lá thư thứ 7 gửi giáo đoàn Laođikêa, lời lẽ còn nghiêm khắc hơn: “Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi”. Nóng, lạnh, sôi là nói về nước. Chuyện so sánh tình trạng tâm hồn với nước có nguyên uỷ của nó. Chả là ở gần Laođikêa có những dòng suối, nước không nóng mà cũng không lạnh. Thứ nước như vậy, uống không được mà dùng trị bệnh cũng không xong. Kiểu nói ám chỉ người tín hữu thiếu nhiệt thành, thiếu thiện chí, nên giữ đạo rất hời hợt.
Tiếp theo là một lời kêu gọi như với các giáo đoàn khác: “Hãy nhiệt thành và ăn năn hối cải”, và kết thúc bằng lời cảnh giác: “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (Kh 3,15tt). Ðiều Thần Khí nói, là các Hội Thánh hãy hối cải. Và Thần Khí nói cho cả Hội Thánh thế nào, thì cũng nói cho từng người trong Hội Thánh như vậy.
Vậy phải làm gì? Augustinô gợi ý: Hãy khởi sự bằng ước muốn, có lòng khao khát nên thánh. Ngài viết: “Tất cả đời sống của một người kitô hữu hệ tại ở một sự khao khát thánh. Nhờ khao khát, ta mở rộng con người ta, để sau đó ta có thể được no đầy khi đạt tới hưởng kiến. Nhờ sự chờ đợi, Thiên Chúa mở rộng sự khao khát của ta; nhờ sự khao khát, Ngài mở rộng tâm hồn ta; và khi ta mở rộng nó, Ngài làm cho nó có khả năng hơn. Vậy hỡi anh em, chúng ta hãy sống bằng sự khao khát, vì chúng ta phải được no thoả”. Ta không thể làm điều lớn, nếu không muốn làm điều lớn. Không thể nên thánh, nếu không muốn nên thánh. Ước muốn, khao khát tựa hồ như những ngọn gió thổi căng buồm, đẩy chiếc thuyền đời sống chúng ta tiến tới.
Tuy vậy, không một ai có lòng khao khát đó, nếu Chúa Thánh Thần không ban. Thế nên thánh Bonaventura đã kết thúc một tác phẩm của mình bằng những lời như sau: “Sự khôn ngoan nhiệm mầu và ẩn giấu này, không một ai biết được, trừ ra người nào nhận được nó. Và không một ai nhận được nó, trừ ra người nào khao khát nó. Và không một ai khao khát nó, trừ ra người nào được Chúa Thánh Thần sưởi ấm tận đáy lòng, Ðấng do Ðức Kitô gửi tới”.
Chúng ta hãy xin Chúa Thánh Thần ban cho ta lòng khao khát này, khao khát sống thánh, và biến nó thành hiện thực trong đời sống của ta, tức là, dựa vào ơn Chúa, cố gắng sống thánh thực sự, đoạn tuyệt với tội lỗi, kết hợp với Chúa và làm theo ý Ngài.
***
Chúng ta hãy thưa lên với Ðấng Thánh những lời sau đây:
Lạy linh hồn Chúa Kitô, xin thánh hoá con
Lạy thân xác Chúa Kitô, xin cứu thoát con
Lạy Máu Thánh Chúa Kitô, xin làm cho con say mến
Xin cho nước từ cạnh sườn Chúa Kitô thanh tẩy con
Xin cho cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô
làm cho con mạnh sức
Xin giấu con trong các vết thương của Chúa
Xin đừng để con lìa xa Chúa bao giờ
Xin bảo vệ con chống lại kẻ thù hung ác
Xin gọi con vào giờ con lâm tử
Xin truyền cho con đến với Chúa
để cùng các thánh
con sẽ ca ngợi Chúa đến muôn thuở muôn đời. Amen.
Ðó là ý của một trong những bài ca bằng tiếng la tinh rất quen thuộc trước đây (bài Anima Christi), thường được hát lúc Chầu Phép lành. Tôi mượn nó làm lời cầu nguyện để kết thúc bài suy niệm hôm nay. (*)
———-
(*) Bài này lấy ý trong Raniero Cantalamessa, Jésus-Christ le Saint de Dieu, Mame, 1993, tr. 15-35
II. PHỤC VỤ THEO GƯƠNG ÐỨC KITÔ
Ðức Giêsu là Chúa, là Thầy và cũng là Tôi tớ. Ngài đã mặc lấy thân phận tôi đòi như Phaolô nói (Pl 2,7). Ngài đã lấy sứ mạng của người Tôi Tớ Giavê làm sứ mạng của mình. Ngài sống giữa các môn đệ như một người tôi tớ phục vụ, và đã đi đến tận cùng các đòi hỏi của tình yêu thúc đẩy Ngài phục vụ như thế, bằng cách hiến dâng cả mạng sống mình để cứu chuộc các tội nhân.
Người môn đệ là chúng ta cũng phải học và biết phục vụ theo gương Chúa, phục vụ Chúa qua việc phục vụ các anh chị em, bằng chính tinh thần đã thúc đẩy Chúa phục vụ.
Ðó là mấy ý được khai triển trong bài suy niệm này.
1. “Thầy đã nêu gương cho anh em”(Ga 13,15)
Ðó là lời Ðức Giêsu nói với các Tông đồ, sau khi đã rửa chân cho các ông. Chúa rửa chân là muốn nêu gương cho các ông, để các ông noi theo đó mà làm cho người khác. Nhưng ý nghĩa đích thực của mẫu gương này là như thế nào ? Ở đây, tác giả Gioan muốn cho ta hiểu rằng có một mầu nhiệm ẩn giấu trong đó, một mầu nhiệm vượt lên trên cử chỉ hữu hình làm bên ngoài.
* Khi nói: “Thầy đã làm gương cho anh em”, phải chăng Ðức Giêsu muốn dạy ta cũng rửa chân cho các anh chị em mình, trước khi ngồi vào bàn ăn? (Bây giờ không ai nghĩ đến chuyện rửa chân trước khi ăn. Chuyện đó xưa rồi. Nhưng rửa tay trước khi ăn thì vẫn được khuyên làm. Vậy có thể diễn đạt ý trên như sau: Phải chăng Chúa muốn dạy ta rửa tay cho các anh chị em mình, trước khi ngồi vào bàn ăn ?). Hiểu như vậy thì nông cạn quá. Ai chịu khó đọc Tin Mừng, nghiền ngẫm về Chúa và về lời Chúa, hẳn phải hiểu Chúa muốn nói gì. Muốn nói rằng: cũng như Ngài “đã thí mạng vì chúng ta, như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3,16).
Gương Chúa đưa ra là ở đó. Bài học Chúa dạy ta là ở đó. Là thí mạng mình vì anh chị em.
Câu truyện rửa chân có thể làm chúng ta liên tưởng tới đoạn thư Philipphê nổi tiếng (Pl 2,5tt). Ðoạn này bắt đầu bằng lời mời gọi: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Ðức Kitô Giêsu”. Tiếp đến, Phaolô mô tả Ðức Giêsu, phận là phận một Thiên Chúa, nhưng đã huỷ mình ra không, mang thân phận tôi đòi. Thì Gioan cũng cho ta thấy Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa, Ðấng được Chúa Cha trao ban mọi sự, Ðấng từ Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa (tức cũng có phận là Thiên Chúa). Ðấng ấy cởi áo mình ra, thắt dây lưng, mặc áo tôi tớ, rửa chân cho các môn đệ. Có thể nói: điều Phaolô mô tả cách chung chung, thì Gioan vẽ lại bằng những hình ảnh và cử chỉ cụ thể. Quả thực, cả Phaolô lẫn Gioan đã nói lên, tuy bằng cách thức khác nhau, một đề tài xuyên suốt các sách Tân ước, đó là: Ðức Giêsu là tôi tớ của Thiên Chúa và của con người.
Chúng ta còn bắt gặp trong Phúc Âm Luca một câu hẳn được Ðức Giêsu nói sau lúc rửa chân: “Giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai ? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22,27) Theo Luca, Chúa nói câu này lúc các môn đệ đang tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm. Chắc hẳn vì các ông tranh luận như vậy mà Chúa rửa chân cho các ông, để dạy các ông một bài học bằng chính hành động của mình. Các môn đệ thì muốn làm lớn. Còn Ngài, Ngài lại muốn làm một người rốt hết.
* Rửa chân là một cách thâu tóm tất cả ý nghĩa cuộc đời của Chúa, nhằm giúp cho các môn đệ ghi khắc tận tâm khảm ý nghĩa ấy. Lúc bấy giờ, các ông nào có hiểu việc Ngài làm. Nhưng không sao. Sau này các ông sẽ hiểu. Cử chỉ rửa chân được thực hiện ở phần cuối sách Phúc Âm giúp chúng ta hiểu rằng tất cả cuộc đời của Chúa, từ đầu đến cuối, chính là một sự rửa chân, một cuộc đời phục vụ con người. Ðó là một cuộc đời được hiến ban cho người khác, sống vì hạnh phúc của người khác. Một cuộc đời trở thành “tấm bánh bẻ ra cho thế giới”. Khi dạy ta làm như mình đã làm, Ðức Giêsu đã coi sự phục vụ như một luật nền tảng, hoặc đúng hơn, một lối sống, một gương mẫu cho mọi mối tương giao trong Giáo Hội và trong xã hội.
Chúa đã nói với Phêrô là sau này ông sẽ hiểu việc Ngài làm. Quả thực, sau này Phêrô đã hiểu, các môn đệ đã hiểu, cả Giáo Hội đã hiểu, và đã không ngừng nói đến phục vụ, cũng như bằng mọi cách muốn cho các tín hữu sống phục vụ. Khi phác hoạ chân dung một người goá bụa lý tưởng, để có thể vào hàng các bà goá, Phaolô bảo người đó phải biết “rửa chân cho các thánh” (1Tm 5,10) (“Thánh” ở đây không có nghĩa như ta quen hiểu là vị này vị kia được Giáo Hội tôn phong và kính nhớ, nhưng chỉ tất cả mọi tín hữu, những người được thông phần sự thánh thiện của Thiên Chúa, được Thiên Chúa tác thánh, làm nên một dân thánh, một đền thánh).
Tất cả giáo huấn của Phaolô về đặc sủng đều quy về phục vụ, vì nếu ân sủng là dành cho cá nhân, thì đặc sủng là dành cho cộng đồng. Phục vụ được coi là linh hồn và mục tiêu của đặc sủng. Theo Phaolô, mọi cách biểu lộ đặc biệt của Thần Khí đều là “vì ích chung” (1Cr 12,7). Những đặc sủng được ban để các tín hữu “được chuẩn bị làm công việc phục vụ” (Ep 4,12). Khi khuyên các tín hữu phải có một thái độ cần thiết trong thời cánh chung, Phêrô bảo: “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác” (1Pr 4,10).
Ðặc sủng và phục vụ là hai yếu tố có mối liên hệ sinh tử với nhau. Ðặc sủng mà không đưa tới phục vụ cũng giống như nén vàng chôn dưới đất (Mt 25,25), chỉ tổ đem lại án phạt (Mt 25,30), hoặc giống như một lưỡi cầy han rỉ, vì lâu ngày không được người nông dân sử dụng.
2. Tinh thần phục vụ
Chúng ta cần đào sâu ý nghĩa của từ “phục vụ”, để nó trở thành hiện thực trong đời ta, chứ không chỉ là lời nói trên cửa miệng.
* Tự nó, phục vụ không phải là một nhân đức. Trong bản liệt kê của Phaolô về những nhân đức hay hoa quả của Thần Khí, chúng ta không thấy nó. Thậm chí Phaolô còn nói đến việc phục vụ cho tội lỗi (Rm 6,16), cho các ngẫu tượng (1Cr 6,9). Chắc chắn đây không phải là những việc phục vụ tốt.
Tự nó, phục vụ không tốt cũng không xấu. Nó nói lên một điều kiện sống là giúp nhau trong các mối tương quan giữa người này người khác. Nó còn có thể là một hành vi tiêu cực nếu phục vụ vì sợ hãi, vì ép buộc, hoặc vì những động lực vụ lợi.
Ngày nay, người người đều nói đến phục vụ. Ai cũng cho rằng mình đang phục vụ. Một người bán hàng, nói thì nói thách, chặt thì chặt đẹp, cũng cho là mình đang phục vụ khách hàng. Thậm chí còn gọi khách hàng là Thượng đế nữa! Có thể nói: bất cứ ai có một chức năng xã hội nào đó đều đang làm công việc phục vụ. Ðương nhiên sự phục vụ theo Tin Mừng là chuyện hoàn toàn khác, cho dù tự nó, nó không nhất thiết khai trừ hay hạ giá sự phục vụ mà người đời quen hiểu. Khác nhau là ở những lý do và thái độ bên trong đưa đến phục vụ.
Chúng ta hãy đọc lại trình thuật rửa chân, để thấy Chúa làm công việc này với tinh thần nào, và điều gì đã thúc đẩy Ngài hành động. Gioan viết: “Ðức Giêsu. vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Phục vụ không phải là một nhân đức, nhưng bắt nguồn từ các nhân đức, nhất là đức mến. Nó là cách diễn tả cao đẹp nhất của điều răn mới. Cũng Gioan còn nói cho ta điều ấy trong thư của ngài. Tính cách riêng của phục vụ là yêu không phải nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng là yêu thương cách chân thành và bằng việc làm (1Ga 3,18).
Còn theo Phaolô, phục vụ là biểu lộ tình yêu không ích kỷ (1Cr 13,5), không tìm tư lợi, nhưng tìm lợi ích của người khác, không tìm kiếm mình, nhưng là hiến mình.
Tựu trung, đó là một cách thông phần và bắt chước hành động của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Sự Thiện, tất cả Sự Thiện, Sự Thiện tuyệt đối, chỉ có thể yêu và làm điều thiện một cách nhưng không, không vì tư lợi nào.
Bởi vậy, khác với sự phục vụ của người đời, sự phục vụ theo Tin Mừng không phải là công việc riêng của người dưới, của người không có gì, nhưng đúng hơn, là công việc của người trên, người có của, người có địa vị, quyền bính. Về sự phục vụ, thì ai nhận được nhiều hơn, sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn (Lc 12,48). Do đó, khi nói về Giáo Hội, Chúa dạy rằng kẻ làm đầu, làm thủ lãnh, phải là người phục vụ (Lc 22,26). Người đầu hết phải là tôi tớ mọi người (Mc 10,44). Cho nên, không phải vô lý mà một tác giả (Spicq) đã viết: “Việc rửa chân là dấu chỉ quyền bính kitô giáo”.
* Ngoài đặc điểm “nhưng không”, sự phục vụ còn diễn tả một đặc điểm khác của tình yêu. Ðó là khiêm nhường. Khi dạy các môn đệ phải rửa chân cho nhau, Ðức Giêsu muốn nói rằng họ phải phục vụ nhau trong tinh thần bác ái khiêm nhường. Bác ái và khiêm nhường cộng lại làm nên sự phục vụ theo Tin Mừng.
Nhưng phải hiểu khiêm nhường cho đúng. Nhiều người coi sự khiêm nhường như một cách nói về mình, tức là như một nhân đức của cá nhân mình, trong đó những người khác chỉ có liên hệ gián tiếp như là yếu tố để giúp xem mình có khiêm nhường không và, nếu có, thì khiêm nhường ra sao. Sách Gương Chúa Giêsu viết: “Khiêm nhường là mình là sao thì đánh giá mình là vậy, xem xét mình trong sự hèn mọn của mình, tủi hổ vì các khiếm khuyết của mình, xác tín mình nhỏ nhất so với mọi người” (II,2; III,8).
Nếu hiểu khiêm nhường như thế, thì nó sẽ là nhân đức duy nhất không có nơi Thiên Chúa. Thế nhưng, có nhân đức nào mà lại không có gương mẫu tối hậu nơi Thiên Chúa? Thiên Chúa đâu có hèn mọn, cũng chẳng bao giờ nghĩ mình hèn mọn. Ngài không nói về mình với giọng điệu đó, không nghĩ về mình theo cung cách đó.
Có thể có người sẽ bảo: khiêm nhường là nhân đức riêng của tạo vật tội lỗi thôi, không mắc mớ gì với Thiên Chúa hết. Có thật không ? Cứ mở sách Phúc Âm mà coi. Ta thấy Ðức Giêsu quả quyết: “Anh em hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Ðức Giêsu luôn cho mình vô tội, không mắc lỗi nào. Ngài luôn ý thức mình là Chúa. Ngài đã nói công khai: ở đây còn có người trọng hơn Salomon, Ðavít, Abraham, Môsê. Dầu vậy, Ngài vẫn dạy các môn đệ học với Ngài vì Ngài khiêm nhường. Như vậy, chắc hẳn sự khiêm nhường có một giá trị hoàn toàn khác với điều người ta thường gán cho nó.
Thực ra, trong ý nghĩa cao cả nhất của nó, khiêm nhường không ở chỗ là hèn mọn, vì người ta có thể hèn mọn một cách khách quan, và như vậy không phải là nhân đức gì cả. Cũng không ở chỗ cảm thấy mình hèn mọn, vì có thể thực sự là thế. Sự khiêm nhường đích thực là ở chỗ làm cho mình thành hèn mọn, nhỏ bé. Theo nghĩa này, nó có nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, chỉ nơi Thiên Chúa, nó mới đạt tới mức độ cao nhất. Thiên Chúa không phải là Ðấng hèn mọn, không nghĩ mình hèn mọn, nhưng làm cho mình thành hèn mọn khi hạ cố xuống thế. Và Ngài làm như vậy không phải vì lợi lộc nào cho mình, nhưng chỉ là để phục vụ, để làm sự lành, vì yêu thương con người.
Khiêm nhường là một nhân đức tiên vàn là của Thiên Chúa, vì chỉ có Ngài không thể đưa mình lên. Ðâu còn gì ở trên Ngài nữa mà lên! Ở địa vị Ngài, khi làm một hành vi nào hướng ngoại (ad extra), thì chỉ có nước đi xuống.
Thánh Phanxicô Assisi đã đưa ra một trong những định nghĩa đẹp nhất về Thiên Chúa: “Thiên Chúa là sự khiêm nhường”. Tất cả lịch sử cứu độ là lịch sử sự khiêm nhường của Thiên Chúa, thậm chí lịch sử những hạ mình mà Thiên Chúa phải chịu. Trong một bản văn nói về Thánh Thể, cũng thánh Phanxicô còn viết: “Anh em hãy xem: mỗi ngày Chúa hạ mình như khi Ngài từ ngai vàng xuống trong lòng Ðức Trinh Nữ. Hàng ngày, Ngài đến với ta dưới những hình thái khiêm tốn. Hàng ngày, Ngài từ cung lòng Chúa Cha xuống trên bàn thờ, trong đôi bàn tay của linh mục”.
Thế nên chúng ta hiểu vì sao Ðức Giêsu có thể nói: Hãy học với tôi, vì tôi có lòng khiêm nhường. Ngài đã làm gì để chứng tỏ là khiêm nhường? Ðã hạ mình. Kể từ lúc nhập thể thì chỉ có đi xuống, xuống tới giới hạn cuối cùng như ta thấy, là quỳ gối rửa chân cho các môn đệ. Rồng đến nhà tôm đã là chuyện khó tưởng tượng, huống hồ ở đây, Ðấng Tạo Hoá quỳ dưới chân những tạo vật! Cho nên, thánh Bênađô đã tự nhủ với mình: “Hỡi tro bụi, ngươi hãy xấu hổ vì sự kiêu ngạo của ngươi. Thiên Chúa hạ mình xuống, còn ngươi, ngươi lại đưa mình lên”.
Hiểu như vậy thì khiêm nhường là một trong những con đường đẹp nhất đưa ta tới chỗ giống với Thiên Chúa, sao chép hành vi của chính Thiên Chúa.
3. “Hãy đi và làm như thế”(Lc 10,37)
Ðây là lời Ðức Giêsu nói với nhà luật sĩ, sau khi kể cho ông ta nghe dụ ngôn về người Samari nhân hậu. Còn với các Tông đồ, khi đã cho các ông hiểu ý nghĩa của việc rửa chân rồi, Chúa nói với các ông: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em” (Ga 13,17).
Vấn đề chẳng qua là phải thực hành. Người ta học hỏi sự phục vụ bằng cách tập phục vụ. Bài suy niệm có kết quả hay không là tuỳ ta có can đảm rà soát lại đời sống, xem trong các thói quen, công việc, thời biểu. có thực sự là phục vụ không, và trong sự phục vụ này có tình yêu và lòng khiêm nhường không.
* Cần nhất là lưu ý điều này: xem ta có thực sự phục vụ người khác, hay ngược lại, chỉ là cái cớ để phục vụ mình.
Phục vụ mình là khi phục vụ không hoàn toàn vô vị lợi, không hẳn là vì người khác, nhưng là muốn cho người khác thấy mình đang phục vụ, mong cho người khác hiểu là mình đang làm ơn cho họ. Về điểm này, Ðức Giêsu có những đòi hỏi triệt để: “Ðừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (mt 6,3). Một kiểu nói thật thú vị để diễn tả hành động ngược với những kẻ giả hình. Chẳng những không tìm cách rao báo cho mọi người biết, mà còn phải âm thầm khiêm tốn, không khoe khoang, không tự mãn, không hãnh diện về việc mình làm. Làm cốt để cho người khác thấy, mong được người khác ca ngợi, thì dù có tỏ ra tất bật với việc phục vụ, việc này cũng chả còn mấy ý nghĩa. Phải luôn nhớ rằng: “Ðức Kitô đã không chiều theo sở thích của mình” (Rm 15,3). Ðó là luật vàng của phục vụ.
Muốn phân biệt đâu là lý do thúc đẩy ta phục vụ, cứ xem những việc phục vụ nào ta hăng hái vui lòng làm, và những việc nào ta muốn tránh né. Khi được ai nhờ cậy, cứ xem ta có sẵn sàng bỏ những việc phục vụ đem lại danh giá, để nhận một việc tầm thường ít ai chuộng không. Việc phục vụ bảo đảm nhất, là việc ta làm mà không ai biết đến, nhưng chỉ có Thiên Chúa ngự trong nơi bí ẩn thấu suốt mà thôi.
Trong một cộng đoàn, mỗi người được phân công làm một hay những việc khác nhau, tuỳ theo khả năng riêng và nhu cầu chung. Có việc xem ra nổi nang hơn. Có việc lại âm thầm hơn. Ðương nhiên là vậy. Nhưng tất cả đều nhằm lợi ích chung của cộng đoàn, và lợi ích của từng người cũng bao gồm trong đó. Nếu chỉ chăm chắm vào những việc nổi nang, mà lơ là với những việc âm thầm, đó là thiếu khiêm nhường, là không có tình bác ái huynh đệ, không có tinh thần chung. Một cộng đoàn mà không có những con người hy sinh, bền bỉ trung thành với những công việc nhỏ mọn, ngày này qua ngày khác, thì cộng đoàn đó khó mà ổn định, trật tự, thăng tiến. Và khó sống nữa.
[Về điểm này, những người cao tuổi trong cộng đoàn có thể nêu gương lắm. Nêu gương cho bọn trẻ. Trẻ thì chúng nó còn khoẻ mạnh, nhi nhô nhí nhố, muốn có những hoạt động phục vụ này nọ cho ra trò, chứ ba cái chuyện lặt vặt thì có mòi không ưa. Kệ chúng nó. Mà còn phải hãnh diện nữa là khác khi chúng nó hoạt động được như thế, nếu đó là những hoạt động phục vụ có ý nghĩa, có ích lợi. Còn đối với người già, các thể hiện sinh hoạt bên ngoài dường như đã thu liễm cả vào trong. Vả lại, có muốn hoạt động bên ngoài cũng không được nữa rồi, vì như lời Thánh vịnh nói: “Bệnh mục xương đã nhập vào mình, và chân đi chẳng còn vững bước”. Chưa kể trí khôn có khi không còn đủ sáng suốt, minh mẫn. Bởi vậy, người già thường thích sống âm thầm. Thế thì phục vụ trong những công việc âm thầm quả là thích hợp. Dĩ nhiên là trong trường hợp còn khả năng để làm những công việc đó. Chính Tông huấn Vita consecrata, số 44, khi khuyên Hội dòng tỏ ra tôn trọng ân cần đối với những thành viên cao tuổi, thì cũng nhắc nhở những người này thực hiện những việc phục vụ đại loại như vậy].
Hãy đọc lại Phúc Âm mà coi. Bên cạnh Chúa, cần có những con người phục vụ âm thầm, nhất là phục vụ vật chất, thì Chúa mới làm được việc của mình. Không phải vậy sao?
Trước hết là Giuse và Maria, khi Ðức Giêsu còn sống trong gia đình ở Nagiaret. Ðó là hai con người đã nuôi dưỡng Chúa, đã dạy dỗ Chúa, đã làm gương cho Chúa. Thời gian lại đâu có vắn vỏi. Những 30 năm lận! Hai người có được ai nhắc tới không? Kể như không. Ðúng ra, dân chúng có nhắc, nhưng sự nhắc nhớ của họ không mảy may đem lại danh giá cho hai người, bởi một người chỉ được gọi bằng danh xưng bác thợ mộc, còn người kia được biết đến vì đã cho Chúa bú. Dân chúng chỉ biết có thế, vì thực ra Giuse và Maria đã không ồn ào trong việc phục vụ Chúa.
Rồi trong suốt thời gian Chúa hoạt động công khai, ngoài nhóm môn đệ luôn theo sát Chúa, còn phải kể đến một nhóm phụ nữ nữa. Phúc Âm Nhất Lãm có nhắc đến các phụ nữ này. Luca còn nói rõ: không những họ lấy của cải mình có, để giúp đỡ Ðức Giêsu và các môn đệ Ngài, mà còn cùng đi với Ngài (Lc 8,2-3). Ði theo Chúa, hẳn không phải để vui vầy. Có thể theo vì cảm phục và tạ ơn Ngài đã chữa cho lành bệnh. Có thể theo vì muốn được nghe lời hằng sống. Nhưng chắc chắn là đi theo để phục vụ. Lấy của cải mình có để giúp đỡ đã là điều tốt, nhưng đi theo để hầu hạ còn là điều tốt hơn. Cho cái mình có thì ai nấy ít nhiều có thể cho, nhưng cho chính mình, bằng sự phục vụ của mình, lắm người không sẵn sàng đâu. Các phụ nữ này đã làm cả hai việc, vừa cho cái mình có, vừa cho chính mình bằng việc phục vụ phái đoàn.
Tuy Phúc Âm không nói rõ, nhưng chúng ta nghĩ là các bà đảm nhận những chuyện lặt vặt của Chúa và các môn đệ. Lặt vặt nhưng cần thiết: lo lắng đồ ăn thức uống, may vá cái áo cái quần. Nghề của các bà mà! Có thế Chúa mới yên tâm làm chuyện lớn. Những việc làm âm thầm và vô danh của các bà, với tất cả lòng mến, quả đã góp một phần vào hành trình truyền giáo của Chúa.
Chúng ta hãy học lấy tinh thần phục vụ đó. Phục vụ cả trong những việc nhỏ mọn, không phô trương, không lấy tiếng. Ðó thực sự là phục vụ người khác, chứ không phục vụ mình.
* Phục vụ trong yêu thương và khiêm nhường còn ở chỗ không lấy cớ phục vụ để bắt người khác phục vụ mình. Ðiều này dễ xẩy ra lắm, nhất là nơi những người lãnh đạo, những người có quyền hành, những người đứng đầu một công tác nào. Khổ nỗi, thường thường chính đương sự lại không nhận ra, hay không muốn nhận ra. Nó che giấu một tham vọng thống trị, một thói quen áp đặt cho người khác ý muốn hành động hay cách thức hành động của mình. Nói tắt là muốn tỏ uy quyền. Uy quyền trong tay một người như thế cũng giống như một cái búa. Người đó có khuynh hướng coi mọi vấn đề như là những cái đinh, chỉ biết lấy búa mà đóng, mà nện.
Tôi ra ví dụ: một người làm công tác tông đồ, thấy một việc mình cho là hay, một phương pháp mình cho là hợp, rồi chẳng bàn hỏi với ai, hoặc có hỏi mà chẳng nghe người nào, cứ thế bắt người khác cùng với mình làm theo đó, cho dù người khác không đồng tình.
Phục vụ trong hoạt động tông đồ, lại nhiệt thành nữa, là điều tốt chứ đâu có xấu. Nhưng vì cung cách làm như vậy, người đó thực ra đã vô tình bắt người khác phục vụ mình, chứ không phải mình phục vụ người khác. Người đó đã không lưu ý đến những đau khổ gây ra cho người khác, từng cá nhân hay cả cộng đoàn. Thậm chí còn ngạc nhiên không hiểu sao người khác lại không thích điều mình làm cho họ, không thấy những cố gắng của mình phục vụ họ. Do đó mà đâm buồn, thấy nản, trách người khác vô ơn, bạc bẽo. Thực ra, người khác không thấy, không thích cung cách của mình, vì mình đã phục vụ mà thiếu khiêm tốn, chỉ chiều theo sở thích hoặc theo đầu óc độc đoán áp chế của mình.
Con người này có thể là chính chúng ta. Cứ hỏi người khác coi. Nếu họ dám trả lời thẳng thắn, không ngại, không sợ, họ sẽ cho ta biết sự thật. “Cái gương tốt nhất để ta nhìn thấy ta, là cái nhìn của kẻ khác về ta” (E. Mounier). Nếu thấy làm cho ai khó sống, khó chịu vì sự phục vụ không thích hợp của ta, phải biết khiêm tốn kiểm điểm và điều chỉnh lại sự phục vụ ấy.
* Dầu sao, cũng nên giữ sự tự do của Tin Mừng. Khi phục vụ, đã đành chúng ta không coi mình hơn người khác, nhưng không phải lúc nào cũng nhất thiết coi mình dưới người khác. Ðừng tự tôn mà cũng đừng tự ti. Cứ coi mình như mọi người trong cuộc sống hàng ngày. “Có những người tỏ ra rất khiêm nhường để đặt mình dưới người khác, nhưng lại không khiêm nhường để giống như họ” (Manzoni). Một nhận xét thật tinh tế.
Ðôi khi sự phục vụ tốt nhất không ở chỗ phục vụ người khác, nhưng để người khác phục vụ mình. Ở đây, nhận cũng quý như cho, cũng là một cách cho. Bởi vậy, có lúc Ðức Giêsu đã ngồi vào bàn và để người khác rửa chân cho mình (Lc 7,38). Chúa có để cho các phụ nữ đi theo hầu hạ mình trong suốt hành trình truyền giáo, cũng là theo ý hướng đó.
Trong thư thứ nhất, thánh Phêrô đưa ra lời khuyên: “Ai phục vụ thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban” (1Pr 4,11). Chúng ta phục vụ anh chị em không chỉ bằng sức riêng, mà con bằng sức mạnh Thiên Chúa ban cho ta. Sức mạnh ấy ở đâu? Ở trong tình yêu của Chúa. Chính Chúa đã phục vụ ta bằng tình yêu từ Trái Tim Ngài.
Nhìn ảnh Thánh Tâm Chúa, ta thấy Chúa mở Trái Tim Ngài ra, một Trái Tim bừng cháy lửa yêu mến.Và Chúa chỉ ngón tay vào đó như muốn nói với ta rằng: chính nhờ Trái Tim này mà Ta đã yêu thương và phục vụ con người.
Xin Chúa ban cho ta sức mạnh tứ chính Trái Tim ấy, để chúng ta cũng biết phục vụ anh chị em theo gương Chúa, với lòng yêu thương và khiêm nhường như chính Chúa. (*)
———-
(*) Bài này lấy ý trong R.Cantalamessa, LEucharistie notre sanc-tification, Centurion, 1989, tr. 93-112
III. HƯỚNG VỀ ÐỨC KITÔ THÁNH THỂ
Yêu ai thì nhớ đến người đó. Càng yêu càng nhớ, nhớ quay nhớ quắt. Và nếu có dịp để gặp gỡ, càng tranh thủ để gặp. Người môn đệ yêu Chúa sẽ thường xuyên tưởng nghĩ tới Ngài và muốn gặp Ngài. Có một cách hiện diện thật đặc biệt của Chúa, để ta có thể dễ dàng tìm đến và gặp gỡ thân tình, diện đối diện. Ðó là sự hiện diện của Chúa trong Thánh Thể.
Ðức tin công giáo cho hay: Chúa hiện diện ở đó là hiện diện thực sự, không phải hiện diện tượng trưng. Cũng không chỉ hiện diện một khoảnh khắc trong Thánh Lễ, để người ta chịu lấy, nhưng là hiện diện kéo dài. Thế nên mới có chuyện lưu giữ Thánh Thể trong Nhà Tạm. Ðể làm gì? Ðể Chúa ở giữa con cái loài người một cách thật cụ thể; Ðể người ta có thể dùng làm Của Ăn Ðàng; Và để tôn thờ chiêm ngắm nữa. Chính ý nghĩa cuối cùng này mà chúng ta muốn đặc biệt đề cập ở đây, khi nói về tâm tình của ta hướng tới Chúa Kitô Thánh Thể.
1. “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19)
* Hàng ngày, trong Thánh Lễ, ta vẫn nghe linh mục chủ tế lặp lại lời trên đây của Chúa Kitô, trong phần truyền phép trên rượu. Nhớ đến Chúa là một điều quan trọng khi cử hành Thánh Thể đến nỗi, khác với các tác giả Phúc Âm Nhất Lãm, thánh Phaolô hai lần nhắc lại lệnh truyền này, trong trình thuật của ngài về việc Chúa lập phép Thánh Thể (1Cr 11,24-25). Không những nhớ đến một cách chung chung, Phaolô còn xác định rõ nội dung của việc tưởng niệm này như sau: “Cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1Cr 11,26). Nội dung việc tưởng niệm và lời loan báo chính là cái chết của Chúa. (Trong câu tung hô sau Truyền phép, Phụng vụ thêm vào một ý nữa: “và tuyên xưng Chúa đã sống lại”. Ðó là hai khía cạnh của Mầu Nhiệm Vượt Qua, mà Thánh Lễ tưởng niệm và loan báo, vì chính nhờ sự chết và sự sống lại của mình mà Ðức Kitô hoàn tất công trình cứu độ).
Trong Thánh Thể, việc tưởng niệm có hai chiều kích, một liên hệ với Chúa, một liên hệ với con người. Vậy có thể nói: tưởng niệm có một ý nghĩa thần học và một ý nghĩa nhân học.
Theo ý nghĩa thần học, tưởng niệm là nhắc cho Chúa Cha nhớ đến Ðức Giêsu. Ðó là lời mời gọi ta hướng lên Chúa Cha, để Người nhớ đến những gì Ðức Giêsu đã làm cho ta. Nhắc nhớ như thế là nhằm một mục tiêu rõ rệt, tức là : để Chúa Cha, vì yêu Chúa Con, mà tha thứ tội ta và cho ta được hạnh phúc. Nói khác đi, chúng ta nhắc cho Chúa Cha nhớ đến Ðức Giêsu, để Chúa Cha nhớ đến ta. (Nhà chú giải J. Jeremias đã cắt nghĩa lệnh truyền của Ðức Giêsu như sau: “Hãy làm việc này để Chúa Cha nhớ đến anh em”).
Trong Cựu ước, khi gặp thử thách nặng nề, dân Chúa đã hướng về Giavê mà kêu lên đại khái: Xin Ngài hãy nhớ đến Abraham tổ phụ chúng tôi. Xin nhớ đến các tôi tớ Ngài là Isaac và Giacóp. Khởi đầu Thánh vịnh 131/132, tác giả đã thưa lên: “Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến vua Ðavít, và mọi công lao vất vả của người”. Dân cũ đã nại đến những Abraham, những Ðavít, những người được Thiên Chúa yêu mến, để xin Chúa đừng rút lại lòng nhân từ của Ngài đối với họ (Ðn 3,5). Còn chúng ta hôm nay là dân của Giao ước mới, có thể kêu cầu Thiên Chúa theo cách thức hữu hiệu hơn nhiều, vì chúng ta nại đến chính Con yêu dấu của Thiên Chúa mà thưa với Người: Xin Cha nhớ đến Con yêu dấu của Cha. Xin Cha đừng quên công nghiệp và hy tế của Con Cha.
Cái kiểu nhắc nhớ trên đây, Phụng vụ có làm, và cung cấp cho ta những hình thức rất hay. Những Kinh Nguyện Thánh Thể trong Thánh Lễ, đặc biệt Kinh Nguyện Thánh Thể IV, chính là những lời tưởng niệm (anamnèse), một hình thức nhắc nhớ về Ðức Giêsu trước mặt Chúa Cha. Giáo Hội kể cho Chúa Cha nghe những điều Ðức Giêsu đã nói và làm trong cuộc đời dương thế: “Người đã nhập thể. đã loan Tin Mừng cứu độ cho người nghèo khó. đã hiến thân chịu khổ hình. đã sai Chúa Thánh Thần đến với các tín hữu. đã yêu thương họ đến cùng”.
Thoạt nghe, có thể có người cho đó là những lời ngây ngô, làm như Chúa Cha không biết gì về những việc Ðức Giêsu đã thực hiện không bằng. Người đó tự đặt mình vào chỗ Chúa Cha đang nghe mà nói: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” (lời thốt ra thường xuyên của cụ cố Hồng trong tác phẩm Số Ðỏ của Vũ Trọng Phụng). Thật sự, nếu am tường đường lối cầu nguyện của Kinh Thánh, ta sẽ thấy đó là lời kinh tuyệt đẹp.
Tính chất thuật truyện còn thấy trong chính những lời truyền phép. Những lời này không khác một cách kể cho Chúa Cha nghe điều Ðức Giêsu đã nói, khi Ngài cầm bánh và chén rượu trao cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly.
Chỉ sau khi đã nhắc nhớ nhiều về Ðức Giêsu cho Chúa Cha, chúng ta mới xin Chúa Cha nhớ đến chúng ta, nhớ đến Giáo Hội và các thành phần trong Giáo Hội.
Ý nghĩa của tưởng niệm liên hệ với Chúa Cha là thế. Còn liên hệ với chúng ta, tức theo nghĩa nhân học, thì tưởng niệm là nhắc nhớ về Ðức Giêsu, không phải cho Chúa Cha, nhưng là cho chúng ta. Hết thảy chúng ta cử hành Thánh Thể đều phải nhớ đến Ðức Giêsu.
Kể từ khi Kinh Nguyện Thánh Thể hình thành, những lời đầu tiên được linh mục đọc sau truyền phép vẫn là: “Vì vậy, giờ đây chúng con tưởng nhớ Con Cha đã chịu chết và sống lại.” Có bao giờ chúng ta thực sự hợp ý với những lời này không ? Việc tưởng nhớ Ðức Giêsu, Ðấng đã chết và sống lại vì ta, phải làm cho ta cảm thấy vui mừng và đầy sức mạnh trong cuộc lữ hành ở trần gian này. Rập theo lời thánh Bênađô, Phụng vụ trước đây đã ca lên: “Tưởng nhớ Ðức Giêsu thì êm dịu, làm cho tâm hồn được vui thật”.
* Thực sự, tưởng nhớ, hoài niệm hay ký ức, một khi xuất hiện trong trí, có khả năng khuấy động tất cả thế giới nội tâm của ta, hướng nó tới đối tượng mà ta nhớ, đặc biệt khi đối tượng này không phải là một vật hay một sự việc, nhưng là một con người được ta yêu thương.
(Nàng Kiều nhớ chàng Kim thì: “Ngổn ngang trăm mối bên lòng”. Chàng Kim nhớ nàng Kiều thí: “Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây”. Phim “Ở nhà một mình I” cho thấy một gia đình trong đó người cha người mẹ thật lơ đễnh, cùng với các con khác đi du lịch mà lại quên bẵng đức con trai út ở nhà. Sự nhớ nhung và lo lắng đã làm cho hai người, nhất là người mẹ, bồn chồn như thế nào. Cũng may, thằng bé này khá thông minh, ranh mãnh. Tuy gặp nhiều nguy cơ, nhưng khéo xoay xở, rốt cuộc mọi việc cũng đâu vào đấy, cho đến khi cả gia đình trở về. Có những bà mẹ Việt kiều về thăm quê hương, nhưng không mang theo con dại. Chỉ mấy ngày sau đã ủ ê âu sầu vì nhớ con). Khi tưởng nhớ đên Chúa, các thánh cũng có một tâm trạng tương tự, tuy một cách thiêng liêng hơn. Tác giả Thánh vịnh nói: “Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ, suốt năm canh thầm thĩ với Ngài” (Tv 62/63,7).
Nơi con người, ký ức là một trong những cơ năng mầu nhiệm nhất, và cũng gây ấn tượng nhất. Không phải sao? Thử nghĩ coi: những gì ta đã nghe, đã thấy, đã nghĩ, đã nói, đã làm, từ hồi còn bé lúc đã có trí khôn, tất cả nằm im chỗ nào trong đầu không rõ, nhưng khi ta nhớ được và muốn nhắc đến, là chúng hiện ngay lên trong trí, nhanh hơn cả vận tốc ánh sáng.
Augustinô đã viết những trang rất hay về ký ức, trong đó có ký ức về Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa của con, sức mạnh của ký ức lớn biết chừng nào. Ai có thể chạm tới đáy của nó?… Từ khi con biết Chúa, Chúa ở trong ký ức của con. Chính ở đó mà con tìm thấy Chúa, khi con nhớ tới Chúa và khi con vui mừng trong Chúa” (Conf. X,8.17.24). Thiên Chúa mà các tầng trời không chứa nổi, lại có thể ở ngay trong ngôi đền ký ức bé nhỏ của con người. Lạ thay!
Ðộng từ “nhớ lại”, theo tiếng la tinh (recordari), có nghĩa là đưa lên lại (re) trong tâm hồn (cor). Vậy nhớ lại hay tưởng niệm không chỉ là hoạt động của trí khôn, nhưng còn là hoạt động của ý muốn, của con tim. Nhớ lại là tưởng nghĩ với lòng yêu mến (dĩ nhiên phải là đối tượng ta yêu mến, và ở đây là Ðức Kitô). Hành vi này một phần là do nỗ lực của ta, nhưng chủ yếu là do hoạt động của Thánh Thần, như lời Ðức Giêsu nói với các môn đệ: “Ðấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Ðấng đó sẽ dạy anh em mọi điều, và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26).
* Dựa vào lệnh truyền của Chúa “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”, được Phụng vụ không ngừng lặp lại, các Giáo phụ đã đề ra cả một linh đạo Thánh Thể rất phong phú. Theo các ngài, hiệu quả thiêng liêng của Thánh Thể là giúp cho người ta không ngừng nhớ đến Ðức Giêsu. Trung thành nhớ đến Chúa thì Thiên Chúa sẽ đến ở trong linh hồn ta, biến ta thành đền thờ của Người. Thánh Basiliô cho biết, khi lập phép Thánh Thể, Chúa muốn cho ta “khi ăn Thịt và uống Máu Ngài, ta luôn nhớ tới Ngài là Ðấng đã chết và sống lại vì ta”. Nhớ, và miệt mài suy niệm các mầu nhiệm này, để tâm hồn có thể đam mê chúng. Ký ức của ta về Chúa phải làm cho con đường của Chúa trở thành con đường của ta, thấm nhiễm tư tưởng của ta. Ðiều này tuy khó, nhưng không phải là không thể thực hiện, ngay cả cho những kitô hữu sống giữa đời.
Ðể cho việc nhớ tới Chúa được dễ dàng hơn, ít nhất trong bước đầu, chúng ta hãy tập, chẳng hạn, thường xuyên kêu cầu danh Chúa, lặp lại trong trí hoặc lắp bắp trên môi. Một việc rất đơn sơ dễ dàng, ai làm cũng được. Một phương thế bình thường, tưởng không có gì đặc biệt, thực ra lại đem đến cho ta những hiệu quả bất ngờ.
Nói thế có quá chăng ? Không đâu. Vì danh Ðức Giêsu mà chúng ta nại đến, không chỉ là một danh xưng thuần tuý, một cái tên để gọi như ai nấy đều có. Nó chứa đựng mầu nhiệm của con người Ðức Kitô và quyền năng của Ngài. Trước danh xưng đó, “muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2,10). Thế thì khi thành tâm kêu cầu Danh đó, chúng ta phải có tâm tình tôn phục đã đành, mà con người cũ của ta cũng phải “khúm núm quy hàng”. Quyền năng của danh xưng này sẽ giúp ta cắt đứt những tư tưởng kiêu căng, tự mãn, giận ghét, những ý nghĩ không trong sạch. Ngược lại, nó khơi dậy nơi ta những tư tưởng và hành vi tốt, dần dần làm cho ta thủ đắc “những tâm tình của chính Ðức Kitô Giêsu” (Pl 2,5), nghĩ theo cách của Thiên Chúa chứ không theo cách của loài người (Mt 16,23).
2. “Hãy đến cùng tôi.”(Mt 11,28)
* Kêu cầu Danh Ðức Giêsu là mộtcách giúp ta nhớ tới Chúa, hướng về Ngài. Thế nhưng có một hình thức khác, ý nghĩa hơn, hiệu quả hơn, đó là đến với Chúa tại nơi Ngài hiện diện một cách đặc biệt. Nói rõ hơn, là Thánh Thể tại Nhà Tạm. Trước Nhà Tạm, không những ta như trực diện với Chúa, mà còn có điều kiện hơn để suy niệm về Ngài và chiêm ngắm Ngài.
Chắc chắn ta có thể tưởng nhớ và chiêm ngắm Chúa ngay trong nhà tạm là tâm trí ta. Về điều này, ta có một mẫu gương tuyệt vời là Ðức Maria. Ðức Maria chiêm ngắm Ngôi Lời nhập thể ngay trong lòng mình, Hơn thế nữa, như Augustinô nói, Người còn cưu mang Ngôi Lời trong trí trước khi cưu mang Ngôi Lời trong thân xác (Prius concepit mente quam corpore). Nghĩa là tâm trí đã hướng về Chúa trước rồi. Sau khi nhập thể, Ðức Giêsu không chỉ cư ngụ trong thân xác Ðức Mẹ, mà còn chi phối tất cả tâm trí Người, trong mọi tư tưởng và tình yêu của Người. Thế nên cái nhìn của Ðức Mẹ không hướng ngoại cho bằng hướng nội, nhìn vào chính cung lòng của mình, vì tất ca kho tàng của mình là ở đó. Một sự tưởng nhớ và chiêm ngắm Chúa như vậy thật đáng cho ta bắt chước, khi ta tưởng nhớ và chiêm ngắm Chúa ngự trong ta, cách riêngsau khi rước lễ.
Tuy vậy, chiêm ngắm Chúa hiện diện trong Nhà Tạm, mặt đối mặt, ở một nơi yên tĩnh và như đã chan hoà sự hiện diện của Ngài, còn đem lại cho ta nhiều ích lợi hơn. (Người tu sĩ sống đời sống cộng đồng dễ có điều kiện này, vì thường ra trong mỗi nhà, dù nhỏ, vẫn có Nhà Tạm lưu giữ Thánh Thể).
Chính Ðức Kitô cũng mời gọi: “Hãy đến cùng tôi”. Ðó là lời mời gọi chung chung đến với Chúa. Ðó còn là lời mời gọi đặc biệt đến với Thánh Thể. Chúa sẽ ban cho ta một điều đáng mong ước như lời Ngài hứa: “Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”.
* Trong bài này, chúng ta không bàn về việc đến với Chúa trong Thánh Lễ, một đề tài đáng để ta suy niệm lắm, mà chỉ giới hạn trong những hình thức khác liên hệ đến việc tôn sùng Thánh Thể. Trong Tông thư về mầu nhiệm và việc tôn sùng Thánh Thể (24/2/1980), Ðức Gioan Phaolô II có nói (đại ý): Việc tôn thờ Ðức Kitô trong bí tích tình yêu này phải được diễn tả bằng những hình thức khác nhau: cầu nguyện riêng trước Thánh Thể, cầu nguyện chung, Chầu Phép Lành. Huy động và đào sâu việc tôn sùng Thánh Thể là bằng chứng cho thấy sự canh tân chính thực mà Công đồng đã coi là mục đích. Những việc đó là tâm điểm của sự canh tân này. Ðức Giêsu chờ đợi ta trong bí tích tình yêu này. Ðừng tính toán thời giờ đi gặp gỡ, tôn thờ và chiêm niệm Ngài.
Nhắc lại những lời khuyến cáo trên đây không phải là chuyện thừa, cho dù chúng là những nguyên tắc rất thông thường trong đời sống thiêng liêng.
Phải nhận rằng việc tôn sùng truyền thống dành cho Thánh Thể ít nhiều bị quên lãng. Lý do? Có thể nhận ra không khó lắm. Một khía cạnh được làm nổi bật dễ làm lu mờ một khía cạnh khác. Trong nỗ lực canh tân Phụng vụ, người ta chú trọng lãnh vực cộng đoàn và dấu chỉ phụng vụ, hơn là những việc đạo đức thuần tuý, dù làm chung hay làm riêng, ngay cả những việc đạo đức liên hệ với Thánh Thể. Nhấn mạnh hành động phụng vụ và bí tích là điều phải lẽ, nhưng từ đó lơ là với việc tôn sùng Thánh Thể thì lại là điều tai hại.
Ngoài ra, rập theo lời kêu gọi của Công đồng, người ta dấn thân vào xã hội, hướng tới người nghèo, mà lắm khi quên đi cái là “tột đỉnh quy hướng mọi hoạt động. và nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo Hội” (PV 10). Cái tột đỉnh đó, cái nguồn mạch đó, chính là Phụng vụ, đặc biệt là Thánh Thể. Hoạt động ly tâm trên đây cần được quân bình hoá bằng hoạt động hướng tâm, hướng về Thánh Thể là trọng tâm của đời sống kitô giáo.
Qua bao nhiêu thế kỷ trong suốt dòng lịch sử Giáo Hội, đặc biệt mấy trăm năm trở lại đây, không một vị thánh nào mà đời sống lại không ghi đậm ảnh hưởng của Thánh Thể. Một Gioan Maria Vianey bận bịu tối ngày với công việc mục vụ, vẫn có thể dành nhiều thời gian quỳ trước Nhà Tạm.
Quả thực, đúng như Công đồng nói, việc tôn sùng Thánh Thể đã là nguồn mạch làm phát sinh những năng lực thiêng liêng lớn lao. Nếu đạo Tin Lành nhấn mạnh lời Chúa, Chính Thống giáo tôn sùng ảnh thánh (icône), thì nét riêng của Giáo Hội Công giáo là Chúa Kitô Thánh Thể, tôn sùng sự hiện diện của Chúa trong Thánh Thể. Ðây là ân huệ đặc biệt Chúa dành cho chúng ta. Phải phát huy tối đa giá trị của nó.
Ðương nhiên có một vài hình thức tôn sùng trước đây, nay cần xét lại. Hoàn cảnh bây giờ khác xưa. Ngay cả cách thực hành lắm khi đã làm méo mó ý nghĩa của chúng. Một ví dụ: việc kiệu Thánh Thể qua các làng mạc và đường phố. Không những nó đụng chạm nhiều chuyện của xã hội mà còn, thay vì biểu dương danh Chúa, có khi lại biểu dương tâm trạng hãnh tiến (triomphalisme).
Cũng may, có thể nói là hiện giờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo Hội lập lại hoặc khuyến khích một số hình thức tôn sùng Thánh Thể. Lập lại, nhưng đồng thời cũng thanh tẩy chúng, khoác cho chúng bộ mặt mới, dựa vào Kinh Thánh và Phụng vụ. Ở nhiều nơi, người ta cũng thấy tái hiện nhu cầu sâu xa này: nhu cầu tôn sùng Thánh Thể, nhu cầu ở bên chân Thầy như Maria người Bêtania (Lc 10,39). Quả thực, Thân Thể Ðức Kitô là Giáo Hội chỉ có thể phát triển và sống chung quanh Thân Thể đích thực là Thánh Thể (MK 26). Ðiều xẩy ra cho cả thân thể thế nào, cũng xẩy ra cho từng chi thể thế ấy.
* Trước Thánh Thể Chúa, trong thinh lặng và bình an, ta cảm thấy tình yêu của Ngài dành cho ta, tình bạn của một Thiên Chúa nhờ Thánh Thể mà cụ thể hoá việc thường xuyên thăm viếng dân mình. Ta cảm thấy những ước muốn của Ngài đối với ta. Trên Thập giá, qua tiếng kêu “Tôi khát” (Ga 19,28), lòng Chúa Giêsu khao khát thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, hoàn tất công trình Chúa Cha đã trao phó. Khát vọng của Chúa đối với ta cũng là muốn cho ta thi hành thánh ý Thiên Chúa, cộng tác vào công trình cứu độ này. Ta từ bỏ những dự phóng của ta, nhường chỗ cho những dự phóng của Thiên Chúa. Ánh sáng và sức mạnh của Thiên Chúa dần dần thấm nhập vào tâm hồn ta, làm cho nó sống và tăng trưởng.
Có một cái gì đó xẩy ra tương tự như những cây cành khi mùa xuân tới, với chất diệp lục tố. Lá xanh trổ ra từ các cành, hấp thụ những yếu tố từ bầu khí quyển. Dưới tác động của ánh sáng mặt trời, những yếu tố này biến đổi thành nhựa nuôi cây. Không có lá xanh thì cây không phát triển, không thể sinh hoa kết trái, không góp phần vào việc tái tạo chất ôxy mà chính chúng ta cần để thở. Những lá xanh này là biểu tượng cho những tâm hồn tôn sùng Thánh Thể, hướng tới Mặt Trời Công Chính là Ðức Kitô, hấp thụ những yếu tố tốt là Thánh Thần, để sinh ích cho cả cây lớn là Giáo Hội.
Nói như Phaolô, “Tất cả chúng ta, không màn che mặt, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2Cr 3,18). Ta được chiêm ngắm vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên Chúa Kitô Thánh Thể, để rồi chiếu toả vinh quang đó ra, và ngày càng trở nên rực rỡ.
3. “Tôi nhìn Chúa và Ngài nhìn tôi”
Chúng ta vừa nói đến chiêm ngắm Chúa Kitô Thánh Thể. Nhưng chiêm niệm Thánh Thể thực sự là gì? Tự nó, đây là một ân huệ tạo ra sự tiếp xúc giữa hai tâm hồn, giữa ta với Chúa Kitô Thánh Thể, và qua Ngài mà lên tới Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần. Tất cả đều diễn ra trong thinh lặng hoàn toàn, cả bên ngoài lẫn bên trong. Ðối với chiêm niệm, thinh lặng là người bảo vệ, như Giuse thinh lặng bảo vệ Ðức Maria chiêm niệm.
Chiêm niệm là nhìn thẳng bằng trực giác vào thực tại Thiên Chúa. Thực tại này có thể là chính Thiên Chúa, có thể là một trong các thuộc tính của Ngài, có thể là một mầu nhiệm của cuộc đời Ðức Kitô. Không chỉ nhìn mà còn vui hưởng sự hiện diện của Chúa nữa. Khi suy gẫm, ta dành ưu tiên cho việc tìm kiếm chân lý. Khi chiêm niệm, ta vui hưởng chân lý đã tìm thấy, tức Thiên Chúa. Chiêm niệm luôn hướng về cả con người, về toàn bộ chứ không phải từng phần.
Thánh Bonaventura định nghĩa: “Chiêm niệm là cái nhìn âu yếm hướng tới Thiên Chúa”. Nhưng đúng nhất có lẽ là câu nói, không phải của một nhà thông thái nào, nhưng là của một nông dân ở họ đạo Ars. Ông ngồi thinh lặng hàng giờ trong nhà thờ, mắt đăm đăm nhìn lên Nhà Tạm. Cha thánh Gioan Maria Vianey lấy làm thắc mắc, hỏi xem ông đã làm gì trong thời gian lâu như vậy. Ông đáp gọn: “Tôi nhìn Chúa và Ngài nhìn tôi”.
Câu trả lời xác định rõ điều này: cái nhìn của ta không bao giờ hướng tới hư vô. Nó có đối tượng rõ rệt. Ðối tượng là Chúa. Nhưng chưa hết. Còn chuyện khác nữa. Nó cho biết thêm một khía cạnh lẽ ra là hiển nhiên, nhưng thực tế ít ai để ý. Khía cạnh này là Chúa nhìn ta. Chiêm niệm kitô giáo không bao giờ chỉ có một chiều độc nhất. Nó luôn là sự trao đổi hai chiều. Luôn có hai cái nhìn gặp gỡ nhau: ta nhìn Chúa và Chúa nhìn ta. Nếu có giây phút nào đó ta hướng tới đối tượng khác, thì Chúa vẫn nhìn ta.
Chiêm niệm Thánh Thể đôi khi chỉ là thuần tuý hiện diện trước mặt Chúa, để Chúa nhìn ta, vui mừng được nhìn thấy ta. Vì sao? Vì tuy là tạo vật tội lỗi, ta vẫn là hoa quả của công trình cứu chuộc Ngài đã thực hiện. Vì sao nữa? Vì ta là người Ngài yêu thương và hiến thân cho.
Niềm vui của Chúa được gặp ta, trộm nghĩ, là điều cần nhấn mạnh. Không một người chiêm niệm nào lại chiêm niệm mình, nhưng cũng rất nhiều người nghĩ đến mình khi chiêm niệm. Thành ra, có những lúc cảm thấy khô khan, hay chia trí, hoặc không cảm nghiệm được lợi ích của chiêm niệm trong đời sống thiêng liêng, ta dễ có nguy cơ bỏ cuộc. Hãy nghĩ đến Chúa. Hãy làm cho Chúa được hạnh phúc vì gặp ta. Hãy biết nói như Charles de Foucauld: “Lạy Chúa, hạnh phúc của Chúa là đủ cho con!”. Từ đời đời, Chúa hằng sẵn sàng làm cho ta được hạnh phúc. Còn ta, để làm cho Chúa hạnh phúc, ta chỉ có một khoảng thời gian nào đó. Ðừng nhẫn tâm làm mất đi cơ hội.
Khi ta dành thời giờ chiêm ngắm Chúa Kitô Thánh Thể, ta thực hiện lời tiên tri đã được nên trọn trên Thập giá: “Họ sẽ nhìn lên Ðấng mà họ đã đâm thâu” (Ga 19,37). Hơn nữa, một sự chiêm niệm như thế, tự nó, cũng là một lời tiên tri, mà chúng ta có thể thực hiện trong Giáo Hội. Theo nghĩa nào? Theo nghĩa này: ngày tận thế, Chiên Con sẽ không còn bị sát tế. Không còn truyền phép. Không còn hiệp lễ. Không còn ăn Mình và uống Máu Chúa. Cái còn lại và còn mãi, là việc chiêm niệm Chiên Con bị sát tế vì ta.
Ðó là điều các thánh đang làm trên trời. Ðó là kho tàng quý báu các ngài đang chiếm hữu. Vậy ở trước Nhà Tạm, chúng ta đã làm thành một với các thần thánh. Chỉ khác một điều: đối với các ngài. chiêm niệm là hưởng kiến, diện đối diện; đối với chúng ta, chiêm niệm được thực hiện trong đức tin.
Nhớ tới người yêu, mặt mũi lòng dạ ta có biến chuyển. Gặp gỡ người yêu, biến chuyển còn mạnh hơn, lộ rõ hơn. Người nào nhớ tới Chúa, nhất là gặp gỡ Chúa, cũng vậy. Sách Xuất hành kể: Khi Môsê xuống núi sau cuộc hội kiến với Thiên Chúa, mặt ông sáng lên (Xh 34,29). Sáng, vì ánh vinh quang của Thiên Chúa còn đọng lại nơi ông. Biết đâu khi gặp Chúa Kitô Thánh Thể rồi, ta trở lại với các anh chị em, và họ cũng nhìn thấy ta thay da đổi thịt, mặt mũi ta bừng lên ánh sáng của Thiên Chúa. Có thể ta không thấy điều đó, như Môsê ngày xưa cũng đã không biết hình dạng thay đổi của mình. Như thế càng tốt.Và đó là món quà quý nhất mà ta có thể dành cho người khác. (*)
———-
(*) Bài này lấy ý trong R.Cantalamessa, L’Eucharistie, notre sanctification, Centurion, 1989, tr. 96-112








