SỨ ĐIỆP THIÊNG LIÊNG CỦA THƯ RÔMA

Raniero Cantalamessa

Lm. Micae Trần Đình Quảng chuyển dịch

Dịch theo bản tiếng Pháp:

LA VIE DANS LA SEIGNEURIE DU CHRIST

Le message spirituel de l’épitre aux Romains

Les éditions du Cerf

Paris, 2013

MỤC LỤC

Dẫn nhập

1. Được Thiên Chúa yêu thương – Tin mừng về tình yêu của Thiên Chúa

    1. “Được Thiên Chúa yêu thương”

    2. “Tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta”

    3. “Không có gì tách rời được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa

2. Mọi người đã phạm tội – Mầu nhiệm của sự vô đạo

    1. Tội lỗi là từ chối thừa nhận Thiên Chúa

    2. “Mầu nhiệm của sự ác đang hoành hành”

    3. “Tiền công của tội lỗi”

    4. “Kẻ đó, chính là bạn”

3. Sự công chính của Thiên Chúa đã tỏ hiện – Công chính hóa bởi đức tin

    1. Thiên Chúa đã hành động

    2. Công chính hóa và hoán cải

    3. Đức tin – chiếm đoạt

    4. “Đây là thời Thiên Chúa thi ân”

4. Ngài đã bị giết chết vì tội lỗi chúng ta – Suy niệm về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô

    1. Cuộc Khổ Nạn nơi linh hồn Đức Kitô

    2. Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani

    3. Đức Giêsu ở dinh Philatô

    4. Đức Giêsu trên thập giá

    5. “Vì chúng ta”

    6. “Ước gì tôi chẳng hãnh diện điều gì hơn”

5. Ngài đã được Thiên Chúa làm cho sống lại, để chúng ta được nên công chính – Sự Phục Sinh của Đức Kitô, nguồn hy vọng của chúng ta

    1. “Nếu lòng bạn tin rằng”

    2. “Đức tin là nhờ nghe giảng”

    3. Sự Phục Sinh, công trình của Chúa Cha

    4. Nhờ Chúa Thánh Thần

    5. Quyền năng của sự Phục Sinh

    6. “Được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động

6. Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc – Mầu nhiệm đau khổ của Thiên Chúa

    1. Chúa Cha bị chối từ

    2. Sự đau khổ của Thiên Chúa

    3. Sự đồng khổ của Chúa Cha

    4. Yêu thương và vâng phục

    5. Tin tưởng vào Chúa Cha

7. Tội lỗi đừng có thống trị trong thân xác phải chết của anh em – Việc giải thoát khỏi tội lỗi

    1. Nhận biết tội lỗi

    2. Sám hối tội lỗi

    3. “Dứt khoát đpạn tuyệt với tội lỗi”

    4. “Hủy diệt thân xác tội lỗi”

    5. “Đấng đã chịu khổ trong thân xác”

8. Luật của Thần Khí ban sự sống – Chúa Thánh Thần, nguyên lý của Giao Ước mới

    1. Lễ Ngũ Tuần và Lề Luật

    2. Thần Khí của Đức Kitô

    3. “Tâm hồn mới”

    4. Tình yêu bảo vệ lề luật và lề luật bảo vệ tình yêu

    5. Một Lễ Hiện Xuống mới cha Giáo Hội

9. Thần Khí chuyển cầu cho chúng ta – Cầu nguyện “trong Thần Khí”

    1. Học tập kinh nguyện của Kinh Thánh

    2. Kinh nguyện của Gióp và của các bạn ông

    3. Kinh nguyện của Đức Giêsu và của Thần Khí

    4. Xin ban cho con điều Chúa truyền cho con

    5. Kinh nguyện chuyển cầu

10. Lòng bác ái không được giả hình – Tình yêu Kitô giáo

    1. Một tình yêu chân thành

    2. Một tình yêu thần linh

    3. Loại bỏ nọc độc của những xét đoán

    4. Không nói lời xấu

    5. Nhìn anh em bằng con mắt mới

11. Đừng đi quá mức khi đánh giá mình – Khiêm nhường Kitô giáo

    1. Khiêm nhường là từ tốn

    2. “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?”

    3. Khiêm nhường và những tủi nhục

    4. Khiêm nhường noi gương Đức Kitô

12. Nhờ một người duy nhất đã vâng lời – Vâng phục Thiên Chúa trong đời sống người Kitô hữu

    1. Sự vâng phục của Đức Kitô

    2. Vâng phục như một ân sủng nhờ phép rửa

    3. Vâng phục như một bổn phận: noi gương Đức Kitô

    4. “Lạy Thiên Chúa, này con đây…”

13. Hãy cầm lấy vũ khí của sự sáng – Sự trong sạch Kitô giáo

    1. Những lý do Kitô giáo của sự trong sạch

    2. Trong sạch, vẻ đẹp và tình yêu đối với người thân cận

    3. Trong sạch và đổi mới

    4. Trong sạch trong tâm hồn

    5. Những phương tiện : hãm mình và cầu nguyện

 Kết luận : Chúng ta sống cho Chúa

 

DẪN NHẬP

Phúc Âm là sức mạnh của Thiên Chúa đối với ơn cứu độ của người tín hữu.

Chúng tôi sắp trình bày ở đây một hành trình tái Phúc Âm hóa và canh tân đời sống thiêng liêng dựa trên thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma. Đây không phải là một bài bình giải, cũng không phải là một khảo luận thần học, giả thiết là đã thường được nhắc tới, nhưng là một cố gắng đạt tới mục tiêu thiết yếu vốn đã thúc đẩy thánh Tông Đồ khi ngài viết lá thư này. Mục đích này chắc chắn không phải để cung cấp cho các Kitô hữu ở Rôma – và cho tất cả các Kitô hữu sau này – một bản văn đủ khó để thử thách những bộ óc sắc bén nhất, nhưng đúng hơn, theo lời ngài nói, “để chia sẻ với họ phần nào ân huệ của Thánh Thần, nhờ đó họ được củng cố và vững mạnh trong đức tin chung” (x. Rm 1,11tt). Trong nhiều thế kỷ, thư gửi tín hữu Rôma thường là lãnh vực ưu tiên cho các cuộc tranh luận và đối đầu thần học, mặc dù nó đã không được viết cho riêng giới học giả, nhưng là cho tất cả những người thuộc “các thánh được Thiên Chúa yêu mến” ở Rôma, mà phần đông họ là những người chất phác và mù chữ. Mục đích của lá thư là xây dựng đức tin.

Điều đó làm cho thư gửi tín hữu Rôma trở thành một dụng cụ lý tưởng cho công cuộc Phúc Âm hóa mới. Lá thư cung cấp cho chúng ta kế hoạch tốt nhất có thể, để loan báo mạnh mẽ vào các dịp tĩnh tâm, linh thao. Ngày nay người ta muốn có mọi thứ ở dạng “cô đọng” (compact): đĩa, từ điển, bách khoa toàn thư. Thư Rôma là một “Phúc Âm cô đọng”, toàn bộ Phúc Âm được cô đọng trong một vài trang. Lá thư này không chỉ lần lượt đề ra những chân lý mạc khải rất quan trọng, mà còn cống hiến nhiều hơn và vạch ra một con đường đi từ cuộc sống cũ của tội lỗi và sự chết, đến cuộc sống của một thụ tạo mới trong Đức Kitô, từ việc sống “cho mình” đến việc sống “cho Chúa” (x. Rm 14,7). Đề xuất và sự năng động của nó là những gì thuộc về cuộc vượt qua.

Bố cục tổng quát của hành trình và các cửa vào khác nhau cắm mốc cho nó, đều trích từ bản văn thư Phaolô. Điều quan trọng nhất là chúng ta cũng sẽ rút ra từ đó những lời xác định các cửa vào này, và vì là những lời “hằng sống và vĩnh cửu” của Thiên Chúa, nên có hiệu quả riêng, không tùy thuộc vào các phân tích hoặc sử dụng cụ thể.

Hành trình của chúng ta được chia thành hai phần hoặc những thời điểm căn bản: phần thứ nhất, mang tính khởi giảng, trình bày công trình Thiên Chúa đã thực hiện cho chúng ta trong lịch sử, phần thứ hai, mang tính khuyến thiện (bắt đầu từ chương 12 của lá thư và từ chương về bác ái trong sách này) trình bày cho chúng ta công việc con người phải làm; phần thứ nhất giới thiệu Đức Giêsu Kitô như một hồng ân mà chúng ta lấy đức tin đón nhận, phần thứ hai giới thiệu Đức Giêsu Kitô như một mẫu mực để chúng ta bắt chước, qua việc thủ đắc các nhân đức và đổi mới cuộc sống của chúng ta. Như vậy, chúng ta được giúp lập lại một trong những tổng hợp và những quân bình quan trọng nhất và khó duy trì nhất trong đời sống thiêng liêng: quân bình giữa yếu tố thần bí và yếu tố khổ hạnh, giữa vai trò của ân sủng và vai trò của tự do.

Giáo huấn quan trọng nhất của thư Rôma là ở trong thứ tự các chủ đề được bàn, thậm chí còn hơn cả nội dung của chúng. Thánh Tông Đồ không bàn trước tiên đến các bổn phận của người Kitô hữu (bác ái, khiêm nhường, vâng lời, phục vụ, v.v.) rồi sau đó mới đến ân sủng, như thể ân sủng là hệ quả của những bổn phận đó, nhưng trái lại, ngài bàn trước về sự công chính hóa và ân sủng, rồi sau đó mới đến các bổn phận mà ân sủng đòi chúng ta phải thi hành và giúp chúng ta có khả năng thi hành. Giữa phần thứ nhất và phần thứ hai là huấn giáo về kinh nguyện, giống như bản lề, phát xuất từ ​​ân huệ của Thần Khí và cần thiết  để thực hành các nhân đức.

Phương tiện hay dụng cụ thánh Phaolô dùng để thực hiện tất cả những gì chúng ta vừa nói là Phúc Âm. Ngài viết: “Tôi không hổ thẹn vì Tin Mừng. Quả thế, Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin” (Rm 1,16). Ở đây chúng ta hiểu Phúc Âm là nội dung của nó, chính lời loan báo là trọng tâm của nó, và đặc biệt là cái chết cứu chuộc của Đức Kitô và sự phục sinh của Ngài. Điều thánh Phaolô dạy chúng ta dựa vào không phải là sự chứng minh hợp lý hay hiệu quả rào trước đón sau, nhưng là lời công bố trần trụi về các hành động của Thiên Chúa, nơi người tín hữu cảm nghiệm được quyền năng của Thiên Chúa cứu họ, mà họ không thể giải thích cách thức hay lý do, hoặc thậm chí cảm nhận nhu cầu phải làm như vậy.

Trong những trang này, việc thường xuyên viện dẫn những tiếng nói lớn của văn hóa hiện đại – bên cạnh những tiếng nói của truyền thống Giáo Hội – không nhằm mục đích củng cố hay tô điểm lời Chúa, nhưng nhằm phục vụ lời đó. Lý do chính khiến cho mỗi thời đại có thể tra vấn Kinh Thánh và từ đó rút ra một ý nghĩa ngày càng sâu sắc hơn, là vì mỗi thời đại tra vấn Kinh Thánh ở một trình độ ý thức và với một kinh nghiệm sống khác nhau và ngày càng phong phú hơn so với quá khứ. Quả thực, giữa hai thời kỳ, Giáo Hội đã sản sinh ra các vị thánh khác và nhân loại sản sinh ra các thiên tài khác. Những bộ óc lớn thế tục – đặc biệt nếu họ cũng là những tín hữu lớn – thực hiện việc phục vụ vô song này đối với lời Chúa: họ nâng cao trình độ nhận thức của con người và do đó góp phần đặt ra cho lời Chúa những câu hỏi và thách thức ngày càng phong phú và sâu sắc hơn.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu thư gửi tín hữu Rôma, và Kinh Thánh nói chung, khá hơn đôi chút so với chính những Augustinô, Tôma Aquinô và Luthêrô đã có thể hiểu, mặc dù chúng ta cảm thấy mình thật nhỏ bé trước mặt các ngài. Điều này không chỉ bắt nguồn từ sự tiến bộ vượt bậc của khoa chú giải, mà cũng là vì chúng ta đã trải qua những đau khổ mới và đã có những bậc thầy về nhân loại khác hơn những bậc thầy của các ngài.

***

Trong mười năm kể từ lần xuất bản đầu tiên của cuốn sách này, tôi đã có nhiều cơ hội để trình bày nội dung của nó tại các cuộc họp và tĩnh tâm đại kết khác nhau (trong đó có cuộc tĩnh tâm của sáu mươi mục sư phái Luthêrô người Thụy Điển) và mỗi lần như vậy tôi được vui khi nghe những đại diện lỗi lạc của các hệ phái Kitô giáo khác nhắc lại với tôi là họ có thể chia sẻ tất cả những gì họ đã nghe và điều đó sẽ giúp họ sống tốt hơn linh đạo của mình. Từ những cuộc trao đổi này, tôi nảy ra ý tưởng loại bỏ tất cả những gì không quá quan trọng hoặc có thể bị coi là quá “mang tính hệ phái”, để tác phẩm có thể phục vụ tốt hơn mục tiêu đại kết của nó, đồng thời trở nên linh hoạt hơn và mọi người dễ tiếp cận hơn. Ấn bản mới này của sách Đời Sống Trong Đức Kitô là Chúa (1999) là kết quả của công việc đó.

Nhân dịp thiên niên kỷ sắp đến, một dự án chỉ có thể đến từ Chúa Thánh Thần đã được đề ra trong các Giáo Hội Kitô. Cho đến lúc này, người Kitô hữu chúng ta đã rất thường xuyên loan báo Đức Giêsu Kitô trong một bối cảnh cạnh tranh và ganh đua giữa chúng ta, do đó làm tổn hại chứng từ của chúng ta trước mắt thế giới. Tại sao không nắm bắt cơ hội của cuối thế kỷ và thiên niên kỷ này để bắt đầu cùng nhau công bố, trong tình đoàn kết huynh đệ và tôn trọng từng truyền thống riêng, những gì tất cả chúng ta chia sẻ về niềm tin vào Đức Kitô và đó cũng là điều quan trọng hơn nhiều so với những gì còn chia cách chúng ta? Tại sao không cộng tác với nhau để chuẩn bị cho Chúa, nhân dịp kỷ niệm hai ngàn năm Ngài đến thế gian, “một dân được chuẩn bị sẵn sàng” như Gioan Tẩy Giả đã làm khi Ngài đến lần thứ nhất? Đây là dự án được Đức Gioan Phaolô II đưa ra trong thư của ngài về Năm Thánh, Tertio millenio adveniente, trong đó ngài bày tỏ hy vọng được nhìn thấy mọi Kitô hữu để làm của chung “tất cả những gì liên kết chúng ta, một điều quan trọng hơn nhiều so với những gì chia rẽ chúng ta”.

Cuốn sách này muốn góp một phần khiêm tốn vào việc thực hiện dự án này. Nó tìm cách làm tăng giá trị những trực giác và những phong phú riêng của từng truyền thống Kitô giáo lớn, gồm Công giáo, Chính thống giáo và Tin lành; và tránh ngần nào có thể những cuộc tranh luận không được mọi Kitô hữu, hoặc ít nhất phần đông trong số họ, chia sẻ. Thư gửi tín hữu Rôma rất phù hợp với viễn tượng này, vì như người ta đã nói, nó bàn về cơ cấu đức tin và mầu nhiệm Kitô giáo, bỏ qua mọi sự khác. Nó là nền tảng lý tưởng của chứng từ chung cho mọi tín hữu, chứng từ ngày càng được nhấn mạnh trong các môi trường đại kết.

Sự thỏa thuận về nguyên tắc đạt được vào tháng 10 năm 1999 giữa Giáo Hội Công giáo và Liên đoàn hệ phái Luthêrô liên quan đến sự công chính hóa nhờ ân sủng với điều kiện tin, khiến cho việc đọc thư Rôma mang tính đại kết càng trở nên cấp thiết hơn. Trong bản văn thỏa thuận, ai nấy đều ước muốn rằng học lý chung này giờ đây sẽ chuyển từ các cuộc tranh luận thần học sang thực hành Kitô giáo, và sẽ thâm nhập vào kinh nghiệm sống của một số lớn các Kitô hữu. Mục đích chính của cuốn sách này kể từ lần xuất bản đầu tiên là như vậy.

Chính trong tinh thần này, chúng tôi muốn tìm được sức mạnh nơi Chúa và quyết định hành trình với tất cả tâm hồn (x. Tv 84,6).

 

1
ĐƯỢC THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG!
Tin mừng về tình yêu của Thiên Chúa

Người đưa tin gần như đứt hơi từ chiến trường về tới quảng trường thành phố, không bắt đầu thuật lại một cách có phương pháp các sự kiện diễn ra từ đầu đến cuối, không kề cà trong các chi tiết, nhưng đi thẳng vào điều cốt yếu, và bằng một vài tiếng, anh công bố ngay tin tức khẩn cấp nhất cần thông báo mà mọi người đang chờ đợi, mọi lời giải thích đều để lại sau. Nếu cuộc chiến đã thắng, anh hét to: Chiến thắng rồi! và nếu hòa bình đã được ký kết, anh kêu lên: Hòa bình rồi! Tôi nhớ lại những gì đã xảy ra lúc kết thúc Thế chiến thứ hai. Ngày hôm đó, tiếng “Đình chiến! Đình chiến!”, do một người từ thành phố trở về, lan nhanh như chớp từ nhà này sang nhà khác trong nước, lan khắp các vùng quê và đám đông tràn ra đường, ôm chầm lấy nhau, nước mắt đầm đìa, trong sự hưng phấn, sau những năm chiến tranh khủng khiếp.

Được chọn để “loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa”, thánh Phaolô cũng hành xử như vậy, ở đầu thư gửi tín hữu Rôma. Ngài đến với tư cách là người báo trước biến cố vĩ đại nhất thế giới, với tư cách là sứ giả của những chiến thắng huy hoàng nhất. Bằng một vài lời, ngài vội vã báo tin tốt đẹp nhất mà ngài phải nói ra: “Kính gửi tất cả anh em ở Rôma, những người được Thiên Chúa yêu thương. Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an!” (Rm 1,7). Thoạt nhìn, điều đó giống như một lời chào thuần túy, như thấy ở đầu mỗi lá thư, nhưng nó cũng chứa đựng một tin vui. Và quả là tin vui biết mấy! Ngài muốn nói rằng: Tôi báo cho anh em biết anh em được Thiên Chúa yêu thương, bình an đã được thực hiện một lần vĩnh viễn giữa trời và đất, tôi báo cho anh em biết anh em đang sống “trong ân sủng!” Hơn chính các lời, giọng điệu chúng được nói ra có giá trị trong trường hợp như vậy, và lời chào này của thánh Tông Đồ cho thấy một sự bảo đảm vui mừng và tin tưởng. “Tình yêu”, “ân sủng”, “bình an”: đây là những từ chứa đựng toàn bộ sứ điệp Phúc Âm và có sức mạnh, không chỉ truyền đạt những chân lý, mà còn tạo ra một tình trạng tâm hồn. Chúng nhắc lại lời chào của thiên sứ đem tin vui cho các mục đồng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2,14).

Chúng ta bắt đầu từ giả định là thư gửi tín hữu Rôma, lời “hằng sống và vĩnh cửu” của Thiên Chúa, cũng được viết cho chúng ta và, vào thời điểm này của lịch sử, chúng ta là những người thực sự tiếp nhận nó. Do đó, tình yêu của Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta ngay từ đầu cuộc hành trình thiêng liêng của chúng ta. Nó bao bọc và ôm lấy chúng ta. Chúng ta làm chứng cho tin mừng lúc đầu ùa vào trong thế giới; chúng ta sống lại khoảnh khắc khi Phúc Âm “bùng nổ” lần đầu tiên trong lịch sử, với tất cả sức mạnh và sự mới mẻ của nó. Không một nhận xét nào ngược lại, kể cả nhận xét của chúng ta là những con người bất xứng, phải làm cho tâm hồn chúng ta bối rối và làm cho nó không còn vui mừng mà tin chắc, cho đến khi nó tràn đầy tin vui đầu tiên và rất quan trọng là: Thiên Chúa yêu thương chúng ta và Ngài ban cho chúng ta, ngay cả ngày hôm nay, sự bình an và ân sủng của Ngài, như hoa quả của tình Ngài yêu ta.

Chúng ta tiếp thu sứ điệp về tình yêu của Thiên Chúa qua ba câu tuyệt vời trong thư Rôma: Chúng ta là “những người được Thiên Chúa yêu thương” (1,7); “Thiên chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta” (5,5); “Không có gì tách rời được chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa” (8,39). Những câu này được liên kết với nhau và tạo thành một diễn từ duy nhất xuyên suốt lá thư – giống như một sứ điệp bên trong sứ điệp – có thể nhận ra bằng giọng điệu, từ diễn ngôn đột nhiên trở thành cảm thán, thần khí, xúc động.

1. “Được Thiên Chúa yêu thương”

Kiểu nói “tình yêu Thiên Chúa” có hai nghĩa rất khác nhau. Theo một nghĩa, Thiên Chúa là đối tượng và theo nghĩa kia, Thiên Chúa là chủ thể; một nghĩa cho thấy tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa và nghĩa kia cho thấy tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Do bản tính, vì thiên về năng động hơn thụ động, lý trí con người bao giờ cũng dành ưu tiên cho nghĩa thứ nhất, tức là cho “bổn phận” yêu mến Thiên Chúa. Giảng thuyết Kitô giáo thường đi theo con đường này, trong một số thời kỳ hầu như chỉ nói về “điều răn” mến Chúa và về mức độ của tình yêu này. Nhưng mạc khải lại ưu tiên cho nghĩa thứ hai: cho tình yêu “của” Thiên Chúa chứ không phải tình yêu “đối với” Thiên Chúa. Aristote nói rằng Thiên Chúa làm chuyển động thế giới “với tư cách Đấng được yêu”, nghĩa là vì Người là đối tượng của tình yêu và là nguyên nhân cuối cùng của mọi thụ tạo[1]; nhưng Kinh Thánh nói hoàn toàn ngược lại: Thiên Chúa tạo ra và làm chuyển động thế giới vì Người “yêu” thế giới. Về tình yêu Thiên Chúa, điều quan trọng nhất không phải là con người yêu Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa yêu con người và yêu con người trước: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng là chính Người đã yêu thương chúng ta” (1Ga 4,10). Trong bài suy niệm này, chúng ta có ý định tái lập trật tự được lời Chúa mạc khải, đặt “ân huệ” trước “điều răn” và đặt trên đỉnh mỗi diễn từ tin mừng đơn giản và làm đảo lộn, là: “Thiên Chúa yêu thương chúng ta”. Mọi sự khác tùy thuộc vào điều đó, kể cả khả năng của chúng ta yêu mến Thiên Chúa: “Chúng ta hãy yêu mến, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,19).

Tâm trí của chúng ta được tạo ra đến mức thông thường nó phải “tiếp xúc” với hành động của một ý tưởng trong một thời gian dài, để ý tưởng này lưu lại một dấu ấn lâu bền trên nó; không gì lướt thoáng qua nó mà thực sự in dấu trên nó và biến đổi nó. Vì vậy, giờ đây chúng ta phải tiếp xúc với ý tưởng về tình yêu của Thiên Chúa, như trái đất mỗi ngày phơi mình ra trước mặt trời để đón nhận ánh sáng, sức nóng và sự sống. Và điều này sẽ chỉ xảy ra nếu chúng ta tra vấn mạc khải của Thiên Chúa. Quả thực, ai có thể bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, ngoại trừ chính Thiên Chúa? Thánh Augustinô nhận xét: tất cả Kinh Thánh chỉ “tường thuật tình yêu của Thiên Chúa”[2]; Kinh Thánh đầy tràn tình yêu này. Tình yêu này giải thích mọi sự khác. Tình yêu của Thiên Chúa là câu trả lời cuối cùng cho tất cả những câu hỏi “tại sao” của Kinh Thánh: tại sao phải tạo dựng, tại sao lại nhập thể, tại sao lại cứu chuộc… Nếu tất cả Kinh Thánh biến chữ viết thành tiếng nói, nếu nó có thể bày tỏ thành một tiếng nói thôi, thì tiếng nói này, mạnh mẽ hơn cả tiếng ầm của sóng biển, sẽ kêu lên: “Thiên Chúa yêu thương anh em!” Đức Giêsu coi tiếng nói này của tất cả Kinh Thánh là của mình khi Ngài nói: “Chúa Cha yêu thương anh em!” (Ga 16,27). Mọi điều Thiên Chúa làm và nói trong Kinh Thánh đều diễn tả tình yêu của Người, ngay cả “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa” cũng không là gì ngoài tình yêu của Người. Thiên Chúa “là” tình yêu! Một tác giả viết: “Biết Thiên Chúa hiện hữu hay không không quan trọng, điều quan trọng là biết Người có phải là tình yêu hay không”[3]. Và Kinh Thánh bảo đảm với chúng ta rằng Người là tình yêu.

Theo thánh Phaolô, Phúc Âm đã được các “tiên tri” hứa trước trong Sách Thánh (Rm 1,2). Vậy tiên vàn chúng ta hãy tìm hỏi các tiên tri để nhận được mạc khải vĩ đại đầu tiên về tình yêu của Thiên Chúa. Họ là những người bạn đầu tiên của Phu Quân chịu trách nhiệm loan báo cho nhân loại lời tuyên bố tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tuyển chọn và chuẩn bị những người này “từ trong bụng mẹ” để xứng tầm với nhiệm vụ như vậy; Người đã ban cho họ một trái tim bao la, rộng mở với tất cả những tình cảm lớn lao của con người, vì Người đã quyết định tác động đến trái tim của con người bằng cách nói ngôn ngữ của họ và sử dụng những trải nghiệm của họ về tình yêu.

Thiên Chúa nói với chúng ta về tình yêu của Người nơi các tiên tri, trước hết dùng hình ảnh tình phụ tử: “Khi Israel còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó… Ta đã tập đi cho Ephraim, đã đỡ cánh tay nó… Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo nó. Ta xử với nó như người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má. Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn” (Hs 11,1-4). Đây là những hình ảnh quen thuộc mà có lẽ từng người đã bắt gặp biết bao lần trong đời. Giờ đây, do quyền năng mầu nhiệm của các biểu tượng khi chúng gợi lên những điều thuộc về Thiên Chúa, những hình ảnh này có khả năng khơi dậy nơi con người tình cảm sống động về tình phụ tử của Thiên Chúa. Hôsê còn tiếp tục nói : Dân này khó hoán cải; Thiên Chúa càng lôi kéo con người đến với Người thì họ càng ít hiểu biết, càng hướng về các thần tượng. Thiên Chúa phải làm gì trong tình huống này? Từ bỏ họ ư? Phá hủy họ ư? Thiên Chúa chia sẻ với nhà tiên tri bi kịch nội tâm của Người; Người thấy mình như “yếu đuối” và bất lực vì tình yêu từ ruột gan của mình dành cho tạo vật. Thiên Chúa cảm thấy “thổn thức trong lòng” khi nghĩ dân mình có thể bị tiêu diệt: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi… Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm” (Hs 11,8-9). Một người hẳn có thể nổi cơn lôi đình và bình thường anh ta làm như vậy, nhưng Thiên Chúa thì không, vì Người là “thánh”, Người thì khác; nếu chúng ta bất trung, thì Người vẫn trung thành, vì không thể chối bỏ chính mình (x. 2Tm 2,13). Ta tìm lại được thứ ngôn ngữ này nơi Giêrêmia: “Ephraim là đứa con Ta yêu dấu, một đứa con Ta rất mực mến yêu. Vì mỗi lần nhắc tới nó, Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức. Ta thương nó, thương nó thật nhiều” (x. Gr 31,20).

Trong những lời sấm này, tình yêu của Thiên Chúa được diễn tả cùng một trật như tình phụ tử và tình mẫu tử. Tình phụ tử thì khích lệ và đầy quan tâm. Người cha muốn luôn nhìn thấy con mình khôn lớn, cho tới khi nó hoàn toàn trưởng thành. Một người cha sẽ không khen con mình một cách vô điều kiện trước mặt con, vì sợ làm con hư thân mất nết và cản trở sự tiến bộ của nó. Ngược lại, ông thường xuyên sửa dạy nó. Kinh Thánh nói: “Có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” (Dt 12,7); thì đây, Thiên Chúa cũng “sửa dạy người mình yêu” (Dt 12,6). Nhưng đó không phải là tất cả. Chúa Cha cũng là Đấng đem lại an toàn, bảo vệ, và, xuyên suốt Kinh Thánh, Thiên Chúa cho con người thấy mình như là “đá tảng, đồn lũy của họ, Đấng giải thoát họ” (Tv 18,2-3).

Còn tình mẫu tử thì đón nhận và dịu dàng; đó là một tình yêu từ lòng dạ, phát xuất từ những thớ thịt sâu thẳm nhất của người mẹ, nơi người con được hình thành, và từ đó nó chiếm lấy tất cả con người của bà, khiến bà “run lên vì thương cảm”. Dù con có thể phạm lỗi lầm, thậm chí tày đình, nếu nó quay về, phản ứng đầu tiên của người mẹ là mở rộng vòng tay đón nhận nó, đó là con của bà, dường như bà đang nói lời xin lỗi. Nếu một đứa con trai bỏ nhà ra đi mà trở về, thì chính người mẹ phải năn nỉ và thuyết phục người cha lại đón nhận nó, đừng nặng lời trách móc nó.

Một triết gia cổ đại đã viết: “Bạn không thấy cách yêu thương của cha và mẹ khác nhau thế nào sao? Các người cha đánh thức con từ sáng sớm để chúng bắt đầu học bài; không cho phép chúng ở nhưng, nhưng khiến chúng phải đổ mồ hôi và đôi khi thậm chí phải khóc. Trái lại, người mẹ nuông chiều chúng, để chúng dựa trên đầu gối của mình, ôm chúng vào lòng, tránh làm chúng khó chịu và mệt mỏi.”[4] Nhưng trong khi vị thần của triết gia ngoại giáo này chỉ dành cho con người “tâm hồn của một người cha yêu thương mà không tỏ ra yếu đuối”, thì Thiên Chúa của Kinh Thánh cũng có một tâm hồn người mẹ yêu thương nhưng lại “yếu đuối”.

Theo kinh nghiệm của con người, hai kiểu mẫu tình yêu này – tình phụ tử và tình mẫu tử – luôn được phân chia ít nhiều rõ nét; nơi Thiên Chúa, chúng liên kết với nhau. Đó là lý do tại sao tình yêu của Thiên Chúa được diễn tả, đôi khi thậm chí minh nhiên, qua hình ảnh của tình mẫu tử: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau?” (Is 49,15); “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy” (Is 66,13). Trong dụ ngôn người con hoang đàng, Đức Giêsu đã liên kết, dưới hình ảnh người cha, những nét đặc trưng của Thiên Chúa vừa là cha vừa là mẹ. Nói đúng ra, người cha trong dụ ngôn có tính cách mẹ hơn cha.

Nhờ kinh nghiệm, con người biết được một loại tình yêu khác, được cho là “mãnh liệt như tử thần và những ngọn lửa của nó là lửa hỏa hào” (x. Dc 8,6), và Thiên Chúa cũng đã nại đến loại tình yêu này trong Kinh Thánh, để cho chúng ta thấy một ý tưởng về tình yêu say đắm của Người dành cho chúng ta. Tất cả các giai đoạn và thăng trầm của tình yêu vợ chồng đều được gợi lên và sử dụng cho mục đích này: sự quyến rũ của tình yêu nảy sinh từ hôn nhân: “Ta nhớ lại lòng trung nghĩa của ngươi lúc ngươi còn trẻ, tình yêu của ngươi khi ngươi mới thành hôn” (Gr 2,2); niềm vui trọn vẹn trong ngày cưới: “Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ…, Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62,5); thảm kịch của sự đứt đoạn: “Hãy đưa mẹ các ngươi ra tòa, vì nó không phải là vợ của Ta, và Ta không phải là chồng của nó…Ta sẽ làm cho nó chết khát” (Hs 2,4) và cuối cùng là sự tái sinh, tràn đầy hy vọng của tình yêu ngày trước.

Tình yêu hôn nhân chính yếu là một tình yêu khao khát. Nếu đúng là con người khao khát Thiên Chúa và khao khát Thiên Chúa là “điều sâu xa nhất, chủ yếu nhất và cao cả nhất nơi con người”, thì cũng đúng một cách mầu nhiệm là Thiên Chúa khao khát con người! Một nét đặc trưng của tình yêu vợ chồng là sự ghen tương; và quả thật Kinh Thánh thường quả quyết rằng Thiên Chúa là một “Thiên Chúa hay ghen” (x. Xh 20,5; Đnl 4,24; Ed 8,3-5). Nơi con người, ghen tương là dấu hiệu của sự yếu đuối; đàn ông ghen, đàn bà ghen sợ cho chính họ; họ sợ một “ai đó mạnh hơn” sẽ lấy đi trái tim của người họ yêu. Thiên Chúa không sợ cho chính Người, nhưng cho thụ tạo của Người; không phải vì sự yếu đuối của Người, nhưng vì sự yếu đuối của thụ tạo. Người biết rằng nếu thụ tạo nép mình trong vòng tay những thần tượng, nó sẽ buông theo dối trá và hư vô. Theo Kinh Thánh, việc thờ ngẫu tượng dưới mọi hình thức là đối thủ đáng gờm của Thiên Chúa; thần tượng là những “tình nhân” giả dối (x. Hs 2,7s; Gr 2,4; Ed 16). Sự ghen tương của Thiên Chúa không phải là dấu chỉ cho thấy Người bất toàn, nhưng là dấu chỉ của tình yêu và sự nhiệt thành của Người.

Khi mạc khải tình yêu của Người, Thiên Chúa cũng đồng thời mạc khải sự khiêm nhường của Người. Quả thực, chính Người đi tìm con người, nhượng bộ, tha thứ và luôn sẵn sàng bắt đầu lại mọi sự. Yêu sẽ luôn là một hành vi khiêm nhường. Khi một chàng trai, như đã từng xảy ra ngày xưa, quỳ gối cầu hôn một cô gái, anh đã thực hiện một hành vi khiêm nhường triệt để nhất trong đời. Anh trở thành một kẻ ăn xin, như thể anh nói: “Hãy cho anh con người của em, vì con người của anh không đủ cho anh!” Nhưng tại sao Thiên Chúa lại yêu? Tại sao Người hạ mình? Có lẽ Người cũng cần một cái gì chăng? Không, ngược lại tình yêu của Người hoàn toàn cho không; Người yêu không phải để làm cho mình được đầy đủ, nhưng làm cho con người được đầy                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            đủ, không phải để thực hiện mình, nhưng để thực hiện con người. Người yêu chúng ta vì Người là sự thiện và “sự thiện thì muốn được tỏa rộng”. Đây là phẩm chất duy nhất và không thể bắt chước được của tình yêu Thiên Chúa. Khi yêu, Thiên Chúa thậm chí không tìm kiếm vinh quang của mình; hay đúng hơn, vinh quang của Người, Người tìm kiếm nó, đùng vậy, nhưng vinh quang này không gì khác hơn là vinh quang của việc yêu thương con người cách nhưng không. Thánh Irênê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống!”[5] Cũng chính vị thánh này đã để lại cho chúng ta một trang nói về sự nhưng không của tình yêu Thiên Chúa mà Giáo Hội không mệt mỏi suy niệm ngay cả ngày nay (quả thực, nó được đưa vào như một bài đọc trong các giờ kinh phụng vụ). Thánh nhân nói: “Thiên Chúa không tìm kiếm tình bạn của Abraham vì Người cần nó, nhưng vì nhân từ, Người muốn ban cho Abraham sự sống đời đời… vì tình bạn của Thiên Chúa mang lại sự không thể hư nát và sự sống đời đời. Như vậy, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã tạo ra Ađam không phải vì Người cần con người, nhưng để có một người mà Người tuôn đổ phúc lành của Người, Người làm thỏa mãn những kẻ phục vụ bằng chính việc họ phục vụ Người và những kẻ theo Người bằng chính việc họ theo Người, nhưng không phải để nhận được từ họ một lợi lộc nào đó, vì Người hoàn hảo và không cần gì hết… Người đã chuẩn bị cho các tiên tri, để trên trái đất, tập cho con người quen với việc mang Thần Khí của Người và hiệp thông với Thiên Chúa”[6]. Thiên Chúa yêu vì Người là tình yêu; tình yêu của Người là một sự cần thiết nhưng không và một sự nhưng không cần thiết. Đứng trước mầu nhiệm khôn dò của tình yêu này của Thiên Chúa, chúng ta hiểu được sự kinh ngạc của tác giả Thánh vịnh khi ông tự hỏi: “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến? Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm” (x. Tv 8,5).

2. “Tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta”

Mở đầu chương 5 thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô viết:

“Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. Nhưng không phải chỉ có thế; chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,1-5).

Đây là tin trọng đại và trọn vẹn mà thánh Tông Đồ đã loan báo cho chúng ta trong lời chào khởi đầu. Ở đây chúng ta gặp lại ba từ cứu rỗi: “tình yêu”, “bình an” và “ân sủng”, và lần này, thêm vào đó là dấu hiệu chỉ rõ nguồn gốc của tất cả những điều ấy, tức là: sự công chính hóa nhờ tin vào Đức Kitô. Cũng ở đây, còn hơn cả những ý tưởng thần học, thánh Tông Đồ muốn thông truyền cho chúng ta một tình trạng tâm hồn: ngài muốn chúng ta ý thức được tình trạng ân sủng đang có nơi chúng ta. Lại là một ngôn ngữ “cao quý”, một ngôn ngữ thuộc thần khí.

Như vậy, chúng ta đứng trước một lời chào tuyệt vời. Giờ đây chúng ta không còn nói mình “được Thiên Chúa yêu thương”, nhưng – đây là điều hoàn toàn khác – tình yêu của Thiên Chúa đã được “đổ vào lòng chúng ta”. Vì vậy kiểu nói “được Thiên Chúa yêu thương” của lời chào khởi đầu không chỉ đưa về quá khứ; không chỉ là một tước hiệu mà Giáo Hội được thừa hưởng từ Israel; nó nhắc đến các biến cố gần đây, nó nói về một thực tại mới mẻ và hiện tại. Khởi đầu của thực tại mới này là Đức Giêsu Kitô; nhưng lúc này chúng ta không khám phá nguồn gốc hay sự phát triển của tình yêu này. Chính sự kiện tình yêu này được ban cho chúng ta “bởi Chúa Thánh Thần” không phải là điều cốt yếu ở đây; thánh Tông Đồ sẽ nói sau, trong chương 8, về Chúa Thánh Thần. Còn lúc này chỉ đơn giản là đón nhận mạc khải mới mẻ và choáng ngợp: tình yêu của Thiên Chúa đã đến ở giữa chúng ta; từ đây nó ở trong lòng chúng ta! Dù sao, giữa tình yêu của Thiên Chúa và chúng ta, trong quá khứ, đã có hai bức tường ngăn cách, cản trở chúng ta hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa: bức tường bản tính (Thiên Chúa là “thần khí” và chúng ta là “xác thịt”) và bức tường tội lỗi. Qua việc nhập thể, Đức Giêsu đã phá đổ bức tường bản tính; qua cái chết trên thập giá, Ngài đã phá đổ bức tường tội lỗi; như vậy, không gì còn ngăn cản việc Ngài tuôn đổ Thánh Thần và tình yêu của Ngài. Thiên Chúa đã trở thành “sự sống của linh hồn tôi, sự sống của sự sống tôi, thân mật với tôi hơn chính tôi”[7].

Một cảm giác mới mẻ và lạ thường nảy sinh nơi chúng ta, liên quan đến tình yêu của Thiên Chúa, cảm giác chiếm hữu: chúng ta chiếm hữu tình yêu của Thiên Chúa, hay nói đúng hơn, chúng ta được tình yêu đó chiếm hữu. Cũng giống như một người kia, đã nhiều năm tìm kiếm để có được đối tượng mình mong muốn, hoặc một tác phẩm nghệ thuật khiến anh ta ngưỡng mộ, và nhiều lần sợ rằng mình đã đánh mất nó không thể lấy lại được, thì một buổi chiều bất ngờ tìm thấy nó, anh ta có thể mang nó về nhà và đóng cửa lại. Ngay cả vì một lý do nào đó, anh phải đợi hàng tháng, hàng năm mới có thể chiêm ngưỡng “mặt đối mặt” đối tượng mình rất mong muốn, thì bây giờ lại là một chuyện hoàn toàn khác; anh biết rằng đối tượng là “của mình”, và không ai có thể lấy nó khỏi anh. “Các ngươi sẽ là dân của Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi”, Thiên Chúa đã nói như thế qua các tiên tri của Người, loan báo những thời kỳ này (x. Ed 36,28). Giờ đây mọi sự đã được thực hiện. Theo một cách hoàn toàn mới, Thiên Chúa đã trở thành Thiên Chúa “của chúng ta”. Nhờ ân sủng, chúng ta chiếm hữu Thiên Chúa. Chính đó là sự phong phú tột đỉnh của thụ tạo, là tước hiệu vinh quang lớn nhất mà chính Thiên Chúa – tôi dám nói như vậy – cũng không có được. Thiên Chúa “là” Thiên Chúa – chắc chắn, còn hơn thế vô cùng – nhưng Thiên Chúa không “có” một Thiên Chúa, một Thiên Chúa để Người có thể vui mừng, một Thiên Chúa để có thể tự hào, một Thiên Chúa để ngưỡng mộ… Còn con người thì “có” Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói, sự khác biệt giữa Thiên Chúa và chúng ta chỉ là sự khác biệt giữa là và có. (Nói đúng ra, Thiên Chúa cũng có một Thiên Chúa để vui mừng, vì Thiên Chúa cũng là Ba Ngôi: Chúa Cha “có” Chúa Con, Chúa Con “có” Chúa Cha… nhưng “có” ở đây mang một ý nghĩa hoàn toàn khác với nơi chúng ta).

Để đánh giá sự khác biệt giữa tình trạng này và tình trạng trước khi Đức Kitô đến, cần phải có kinh nghiệm về cả hai tình trạng, nghĩa là trước hết đã sống thời Cựu Ước và sau đó là thời Tân Ước. Đúng là có một người đã sống kinh nghiệm độc đáo này, và người đó nói và bảo đảm với chúng ta rằng sự khác biệt là không thể so sánh được: người đó là Tông Đồ Phaolô! Ngài nói rằng điều ngày xưa đã là vinh quang, giờ đây không còn nữa, so với “vinh quang tuyệt vời của giao ước mới” (x. 2Cr 3,10). Đức Giêsu là tình yêu của Thiên Chúa nhập thể. Một tác giả Kitô giáo cổ đại đã giải thích dài dòng câu Gioan 1,14 là “tình yêu (của Chúa Cha) đã trở nên xác phàm nơi Ngài”[8].

Nhưng tình yêu đã đổ vào lòng chúng ta khi chịu phép rửa tội là gì? Đó có phải là một tình cảm của Thiên Chúa dành cho chúng ta chăng? Một tâm thái nhân từ đối với chúng ta chăng? Một luyến ái chăng? Nói cách khác: phải chăng là một cái gì đó thuộc ý định? Nhiều hơn thế nữa; đó là một cái gì có thật. Theo nghĩa đen, đó là tình yêu của Thiên Chúa, nghĩa là tình yêu ở nơi Thiên Chúa, là chính ngọn lửa bừng cháy trong trái tim của Ba Ngôi và đến “ngự” nơi chúng ta, để cho chúng ta tham dự vào sự sống của Người. “Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Chúng ta trở thành “những người được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2Pr 1,4), tức là thông phần tình yêu của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa “là” tình yêu, và tình yêu, có thể nói, là bản tính của Người. Một cách mầu nhiệm chúng ta như bị hút vào mạch hoạt động của Ba Ngôi. Chúng ta được lôi kéo vào chuyển động không ngừng của sự tự hiến và đón nhận nhau giữa Chúa Cha và Chúa Con, trong một sự kết hợp bằng niềm vui vô tận, từ đó ​​vọt ra Chúa Thánh Thần, Đấng mang đến cho chúng ta một tia lửa tình yêu này.

Một linh hồn, nhờ ân sủng mà có kinh nghiệm này, đã làm chứng cho điều đó: “Một đêm nọ, Ngài khiến tôi trải qua một kinh nghiệm phi thường. Giữa giờ kinh đêm, tôi cảm thấy sự dịu dàng lớn lao của Chúa Cha bao bọc tôi bằng sự âu yếm êm ái và dịu dàng của Người. Cuống cuồng, tôi phủ phục, cúi gằm xuống, thu mình trong bóng tối, tim đập mạnh và hoàn toàn phó mặc cho ý muốn của Người. Và Chúa Thánh Thần đã đưa tôi vào trong mầu nhiệm Tình Yêu Ba Ngôi. Cuộc trao đổi ngây ngất giữa “tự hiến” và “đón nhận nhau” cũng diễn ra qua tôi: từ Đức Kitô, Đấng mà tôi đã được kết hợp, hướng tới Chúa Cha và từ Chúa Cha hướng tới Chúa Con. Nhưng làm thế nào diễn tả điều khó bề diễn tả ấy? Tôi không thấy gì, nhưng đó còn hơn cả thị kiến, và lời nói của tôi không thể diễn tả cuộc trao đổi này, gồm trả lời nhau, bay bổng, đón nhận và cho đi, trong niềm hân hoan, cuộc trao đổi từ đó mà chảy ra, từ Ngôi này sang Ngôi khác, một sự sống mãnh liệt, giống như một dòng sữa âm ấm chảy từ vú người mẹ vào miệng đứa con gắn chặt với hạnh phúc này. Và đứa con này chính là tôi, là tất cả tạo thành, được Đức Kitô tái sinh, tham dự vào Sự Sống, vào Vương Quốc, vào Vinh Quang. Mở Kinh Thánh ra, tôi đọc thấy câu: “Thần Khí bất diệt của Ngài ở trong muôn loài muôn vật” (Kn 12,1). Ôi! Ba Ngôi thánh thiện và hằng sống… Tôi đã xuất thần trong hai hoặc ba ngày và ngay cả bây giờ kinh nghiệm này vẫn còn in đậm dấu trong tôi”.

Lời của thánh Phaolô: “Tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta” chỉ có thể thực sự được hiểu thấu đáo dưới ánh sáng của lời Đức Giêsu: “để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ” (Ga 17,26). Tình yêu đã được đổ nơi chúng ta chính là tình yêu mà Chúa Cha từ muôn đời yêu Chúa Con; đó không phải là một tình yêu khác biệt. Đó là sự tràn đầy tình yêu của Thiên Chúa, từ Ba Ngôi tới chúng ta. Thiên Chúa chuyển đạt cho linh hồn “chính tình yêu mà Người chuyển đạt cho Chúa Con, mặc dù điều này không xảy ra do bản tính, như trong trường hợp của Chúa Con, nhưng do sự kết hợp… Linh hồn dự phần vào Thiên Chúa, cùng với Người hoàn tất công trình của Ba Ngôi chí thánh”[9].

Đó là điều mà, ngay từ bây giờ, là nguồn mạch chính của hạnh phúc chúng ta được hưởng, và sẽ còn hơn thế nữa trong cuộc sống vĩnh cửu. Điều gì mang lại niềm vui và bảo đảm hơn cho đứa con, nếu không phải là tình yêu hỗ tương của cha và mẹ? Một cách vô thức, tình yêu này đối với nó quan trọng hơn chính tình yêu mà nó được yêu. Cha và mẹ, từng người một, có thể yêu con mình nhiều như họ muốn, nhưng nếu họ không yêu nhau (và thật không may, điều này lại thường xảy ra), thì không gì có thể ngăn cản đứa con, trong tận đáy tâm hồn, phải chịu bất hạnh và không an toàn. Đứa con không muốn được yêu bằng một tình yêu khác biệt và tách biệt, nhưng muốn được nhận vào trong tình yêu kết hợp cha mẹ nó, vì biết rằng chính từ tình yêu này mà nó được sinh ra. Và, đó là một mạc khải vĩ đại: các Ngôi trong Ba Ngôi yêu nhau bằng một tình yêu vô hạn và cho phép chúng ta chia sẻ tình yêu của các Ngài! Các Ngài cho chúng ta vào dự bàn tiệc sự sống. Thiên Chúa cho những kẻ Người chọn “được no say yến tiệc nhà Ngài và nơi suối hoan lạc Ngài cho uống thỏa thuê” (Tv 36,9). Nguyên tắc thần học theo đó “ân sủng là khởi đầu của vinh quang”[10] có nghĩa chính xác là chúng ta đã chiếm hữu, nhờ đức tin, những sản phẩm đầu mùa của những gì chúng ta sẽ chiếm hữu cách sung mãn một ngày nào đó, trong cuộc sống vĩnh cửu, tức là “tình yêu của Thiên Chúa”.

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã cho các tiên tri xuất hiện để vun trồng niềm mong đợi này, thì nay trong Giáo Hội, Người lại cho các thánh xuất hiện để vun trồng ký ức về niềm mong đợi ấy. Các thánh, đặc biệt những vị mà chúng ta gọi là thần bí, có sứ mệnh chính là nói với chúng ta về tình yêu của Thiên Chúa và cho chúng ta thoáng thấy một điều gì đó của thực tại vẫn còn ẩn khuất trước mắt chúng ta.

Không ai có thể làm chúng ta xác tín về sự kiện con người được tạo dựng bởi tình yêu, hơn thánh Catarina Sienna, trong lời cầu nguyện bừng cháy sau đây dâng lên Ba Ngôi chí thánh: “Lạy Cha Hằng Hữu, Cha đã tạo dựng thụ tạo của Cha như thế nào? Con rất ngạc nhiên về điều đó; con thực sự thấy, như Cha cho con thấy, Cha đã làm điều đó không vì lý do nào khác ngoài việc, trong ánh sáng, Cha thấy mình bị ngọn lửa tình yêu  thúc bách ban hữu thể cho chúng con, bất chấp những điều gian ác mà chúng con sắp làm chống lại Cha, ôi lạy Cha hằng hữu. Vậy, ngọn lửa đã thúc bách Cha! Ôi tình yêu khôn tả, mặc dù trong ánh sáng của Cha, Cha đã nhìn thấy tất cả những điều gian ác mà thụ tạo của Cha sắp làm chống lại lòng tốt vô biên của Cha, Cha vẫn gần như giả vờ như không nhìn thấy gì, nhưng Cha nhìn chằm chặp vào vẻ đẹp của thụ tạo mà Cha, như điên và say vì yêu, Cha đã say mê và vì yêu mà kéo nó ra khỏi Cha, ban cho nó hữu thể như hình ảnh của Cha và giống Cha. Cha là chân lý hằng hữu, Cha đã bày tỏ cho con chân lý này, tức là tình yêu…” Vì vậy, tôi không cần nhìn ra bên ngoài để tìm bằng chứng Thiên Chúa yêu tôi; bản thân tôi là bằng chứng; hữu thể của tôi, tự nó, là một ân huệ. Lầy đức tin mà nhìn vào mình, chúng ta có thể nói: Tôi hiện hữu, vậy tôi được yêu! Quả thật, “hiện hữu là được yêu” (Gabriel Marcel)

Coi tạo thành như thế, như một quà tặng của tình yêu, việc này không dành cho tất cả mọi người. “Chúng ta đã chào đời là do ngẫu nhiên”, một số người đã nói như vậy vào thời Kinh Thánh (Kn 2,2). Thời Cổ đại, có những người coi thế giới là tác phẩm của một đối thủ của Thiên Chúa, hoặc của một tạo hóa hạng hai (Démiurge), hoặc là kết quả của một sự tất yếu, hoặc của một tai nạn xảy ra trong thế giới thần linh do quá nhiều năng lượng (không phải tình yêu!), gần giống như một tá dược của sức mạnh không thể kiềm chế được nữa. Ngày nay, một số người giải thích sự tồn tại của con người và thế giới là hiệu quả của các quy luật vũ trụ chưa được biết đến. Thậm chí có một số người còn coi đó như một án phạt, gần như thể chúng ta đã “bị ném vào cuộc đời”. Việc khám phá ra sự tồn tại, khiến cho Catarina Sienna phải kinh ngạc và vui mừng, thì theo quan điểm cuối cùng này – vốn là quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh vô thần –  chỉ gây ra “buồn nôn”. Các thánh không nói điều gì mới, nhưng các ngài được ơn nói cho chúng ta những chân lý cũ, theo một cách không thể bắt chước được.

Đối với một linh hồn khác trong số những linh hồn được chọn này, một người cùng thời với thánh Catarina, Thiên Chúa đã từng cho thấy trong thị kiến “một vật nhỏ cỡ hạt phỉ, đặt trong lòng bàn tay của Người”; bà được cho biết rằng những gì bà nhìn thấy là tất cả tạo thành và trong khi bà tự hỏi làm thế nào mà một vật nhỏ bé mong manh như vậy có thể tồn tại, thì một giọng nói bên trong trả lời bà: “Nó tồn hữu và sẽ luôn tồn hữu vì Thiên Chúa yêu nó”[11]. Nhờ cũng nhà thần bí này, chúng ta được biết mạc khải về khía cạnh rất chắc chắn này – mặc dù hơi bị lãng quên – của học thuyết Kinh Thánh về tình yêu của Thiên Chúa, theo đó Thiên Chúa là Đấng đầu tiên vui mừng khi yêu chúng ta. Bà viết: “Và như vậy tôi đã thấy rằng Thiên Chúa hài lòng được làm Cha chúng ta, Thiên Chúa hài lòng được làm mẹ chúng ta, Thiên Chúa hài lòng được làm chồng thật của chúng ta, và linh hồn là hiền thê yêu dấu của Người. Và Đức Kitô hài lòng được làm anh em của chúng ta, và Ngài hài lòng được làm Đấng cứu tinh của chúng ta”. Về “tình mẫu tử” của Thiên Chúa, cũng nhà thần bí trên đã nói rằng “từ “mẹ”, rất đẹp đẽ và tràn đầy tình yêu, bản thân nó rất êm dịu và đáng yêu đến độ không thể thực sự nói về bất kỳ ai ngoại trừ Người (Thiên Chúa) và cho Người, Đấng là “mẹ” đích thực của sự sống và mọi sự”.

Với một linh hồn khác, người đại diện cho một trong những tột đỉnh của thần bí Kitô giáo, Chân phước Angela Foligno, Thiên Chúa đã nói những lời cho đến nay vẫn còn nổi tiếng: “Ta yêu con không phải chuyện đùa. Ta đã không yêu con bằng cách ở xa con! Con là Ta và Ta là con. Con đối với Ta thật đáng như con là; con rất cao quý trong sự uy nghi của Ta.” Đôi khi chính bà thú nhận là đối với bà dường như “bà đã ở và nằm gọn trong lòng Ba Ngôi”[12].

Chúng ta hãy yên tâm là Thiên Chúa không khơi lên những linh hồn như vậy chỉ để khiến chúng ta ghen tị, khi cho chúng ta thoáng thấy điều mà, tận đáy lòng, mỗi người mong muốn hơn hết, để rồi nói với chúng ta rằng tất cả những điều đó không dành cho chúng ta. Thiên Chúa yêu tất cả chúng ta như thế này: đó không phải là đặc ân của một hoặc hai người trong mỗi thời kỳ. Mỗi thời kỳ, Người trao phó cho một hoặc hai người, được tuyển chọn và thanh tẩy cho mục đích này, để nhắc nhở những người khác về tất cả những điều đó. Nhưng đâu là những khác biệt về mức độ, thời gian, cách thức, giữa các thánh và chúng ta, so với thực tại chính này mà chúng ta có chung với các ngài, là tất cả đều là đối tượng của một kế hoạch yêu thương lạ lùng của Thiên Chúa? Điều liên kết chúng ta với các ngài mạnh mẽ hơn nhiều so với điều chia cách chúng ta với các ngài.

Đối với dân Kitô giáo, các nhà thần bí giống như những người thám báo đã thâm nhập lần đầu tiên và bí mật vào Đất Hứa, và khi trở về, đã kể lại những gì mắt thấy (một vùng đất chảy sữa và mật), để kích thích dân vượt qua sông Giođan (x. Ds 14,6tt). Nhờ họ, những tia sáng đầu tiên của cuộc sống vĩnh cửu đến với chúng ta, ngay từ cuộc sống đời này. Sứ điệp của họ có thể được tóm tắt trong lời của thánh Phaolô, một trong số họ: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (x. 1Cr 2,9).

3. “Không có gì tách rời được chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa”

Lời thứ ba được Phaolô tuyên bố về chủ đề tình yêu của Thiên Chúa trong thư Rôma, là một lời có tính hiện sinh: đưa chúng ta trở lại với cuộc sống trần thế này, với khía cạnh hàng ngày và thực tiễn nhất, tức khía cạnh đau khổ. Diễn từ ở đây lại “cao giọng”, mang tính thần khí: “Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng thế. Tôi tin chắc rằng cho dầu là sự sống hay sự chết, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loại thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8,37-39).

Ở đây, thánh Phaolô chỉ cho chúng ta một phương pháp soi sáng cuộc sống cụ thể của chúng ta dưới ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa mà chúng ta đã chiêm ngắm cho tới lúc này. Những nguy hiểm đang rình chờ chúng ta và những kẻ thù của tình yêu Thiên Chúa, mà ngài liệt kê là những nguy hiểm và, như chúng ta biết, ngài đã thực sự trải qua trong cuộc đời mình: lo sợ, bách hại, gươm giáo… (x. 2Cr 11,23tt). Ngài lần lượt nhớ lại chúng, và thấy rằng không gì trong số đó đủ mạnh để sánh với ý nghĩ về tình yêu của Thiên Chúa. Điều dường như không thể vượt qua, thì dưới ánh sáng này, đều chẳng là gì cả. Ngài mặc nhiên mời gọi chúng ta làm điều tương tự: nhìn vào cuộc sống hiện tại của chúng ta, đưa ra trước thanh thiên bạch nhật những nỗi sợ hãi đang giữ kín, những buồn khổ, những mối đe dọa, những mặc cảm, một khiếm khuyết tồi tệ về thể lý hoặc luân lý, và phơi bày tất cả ra, dựa vào điều chắc chắn này: Thiên Chúa yêu tôi! Ngài mời gọi tôi tự hỏi: trong cuộc sống của tôi, điều gì hòng thắng tôi đây?

Trong phần tiếp theo của bản văn, sau khi nhìn vào đời sống cá nhân, Phaolô nhìn ra thế giới xung quanh. Ở đó, ngài lại tìm thấy thế giới của “mình”, với những sức mạnh đã khiến nó trở nên đe dọa: cái chết và sự mầu nhiệm của nó, sự sống và những quyến rũ của nó, những quyền lực thuộc thiên thể hoặc địa ngục đã gợi ra cho con người thời Cổ đại bao nỗi kinh hoàng… Chúng ta cũng được mời gọi làm điều tương tự: nhìn thế giới xung quanh đang làm chúng ta sợ hãi, bằng cái nhìn mới mà mạc khải về tình yêu của Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Đối với chúng ta hôm nay, trong khuôn khổ kiến ​​thức hiện tại về vũ trụ, cái mà Phaolô gọi là “chiều cao” và “chiều sâu” là cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ, vũ trụ và nguyên tử. Tất cả đều đã sẵn sàng nghiền nát chúng ta; con người quá nhỏ bé và quá đơn độc trong một vũ trụ bao la hơn họ rất nhiều, và vũ trụ này càng trở nên đe dọa hơn sau những khám phá khoa học của họ. Nhưng không điều nào trong số đó có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu tôi, và chính Người đã tạo ra chúng và giữ chúng trong tay! “Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta. Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta lâm cảnh ngặt nghèo. Nên dầu cho địa cầu chuyển động, núi đồi có sập xuống biển sâu, ta cũng chẳng sợ gì” (TV 46). Nhãn giới này khác với nhãn giới của người không biết đến tình yêu của Thiên Chúa và nói về thế giới như “một tổ kiến ​​đang sụp đổ” và về con người như “một niềm đam mê vô ích” hay như “nét vẽ của một con sóng trên bãi biển mà con sóng tiếp theo sẽ xóa đi”!

Khi nói về tình yêu của Thiên Chúa và của Đức Giêsu Kitô, dường như bao giờ thánh Phaolô cũng “xúc động”. Ngài nói về Đức Kitô: “Ngài đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Qua đó, ngài chỉ cho chúng ta, – những người đã nghe đi nghe lại mạc khải về tình yêu của Thiên Chúa – thấy phản ứng đầu tiên và tự nhiên nhất mà chúng ta phải có là như thế nào: đó là xúc động. Khi chân thành và phát xuất từ trong lòng, xúc động là cách đáp ứng hùng hồn và xứng đáng nhất của con người trước mạc khải về một tình yêu lớn lao hay một nỗi đau lớn lao. Dầu sao, xúc động là điều tốt nhất cho người nhận nó. Không một lời nào, cử chỉ nào, quà tặng nào có thể thay thế được vì chính nó là quà tặng đẹp nhất. Nó là sự mở lòng ra sâu xa nhất cho người khác. Vì vậy người ta cảm thấy có chút e thẹn về nó như về một điều gì đó sâu kín và thiêng thánh nhất, một điều mà qua đó người ta nghiệm thấy không còn hoàn toàn thuộc về mình nữa, nhưng thuộc về người khác. Không ai có thể hoàn toàn che giấu cảm xúc của mình mà không làm cho người khác mất đi điều gì đó thuộc về họ, vì điều đó là để dành cho họ. Đức Giêsu đã không giấu nổi xúc động của mình: “Ngài thổn thức trong lòng và xao xuyến” trước bà góa ở Naim và các người chị của Ladarô (x. Ga 11,33-35).

Nhưng xúc động trước hết là tốt cho chính chúng ta, những người đang chuẩn bị cho mình, trên hành trình này, để đón nhận lời Chúa vào cuộc sống theo một cách mới. Thật vậy, nó giống như cày ruộng trước khi gieo hạt: nó mở rộng lòng và cày những rãnh sâu để hạt không rơi trên đất quá cứng. Khi Thiên Chúa muốn ban cho ai đó một lời quan trọng đối với cuộc đời họ, thì Người cũng thường cho họ một cảm xúc nào đó để đón nhận lời ấy, và cảm xúc này trở thành dấu hiệu cho thấy lời ấy đến từ Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần ban ơn cảm xúc “tốt”, một cảm xúc không hời hợt, nhưng sâu xa. Tôi sẽ luôn nhớ tới khoảnh khắc khi mà, cả tôi nữa, trong một lúc, tôi được Thiên Chúa ban cho biết cảm xúc này. Trong một buổi cầu nguyện, tôi đã lắng nghe đoạn Phúc Âm trong đó Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa…nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15,15). Từ “bạn hữu” đến với tôi theo cách mà tôi chưa bao giờ trải nghiệm trước đây; nó đã chạm vào một điều gì đó sâu thẳm trong tôi, đến nỗi suốt cả ngày hôm đó, đầy kinh ngạc và sửng sốt, tôi tiếp tục lặp đi lặp lại với chính mình: Người gọi tôi là bạn! Tôi là bạn của Người! và đối với tôi, dường như tôi chắc chắn có thể bay trên những mái nhà của thành phố và thậm chí băng qua lửa đỏ.

Ở đây, tôi cũng đã cố gắng làm như người đưa tin, vừa đến đã vội vàng thông báo tin quan trọng nhất. Tôi muốn đặt lên trên hết mọi sự, lời loan báo Thiên Chúa yêu thương chúng ta, để lời này vang vọng khắp mọi nơi mọi lúc, giống như một “sự hiểu biết trước” không phải có nguồn gốc từ con người, nhưng từ Thiên Chúa. Khi lời Chúa trở nên nghiêm khắc đối với cả chúng ta nữa, và khiển trách chúng ta về tội lỗi của chúng ta, hoặc khi lòng chúng ta bắt đầu khiển trách chúng ta, thì dầu vậy một tiếng nói sẽ phải lặp lại trong chúng ta: “Nhưng dầu sao Thiên Chúa vẫn yêu thương tôi!” “Không gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, kể cả tội lỗi của tôi!”

Giờ đây, Thánh vịnh 136 sẽ giúp chúng ta kết thúc bằng lời cầu nguyện và cảm tạ tự đáy lòng những suy tư này về tình yêu của Thiên Chúa. Thánh vịnh này được gọi là “kinh chúc tụng quan trọng” và được chính Đức Giêsu đọc trong bữa Tiệc ly. Đó là một kinh cầu dài ca ngợi những việc Thiên Chúa làm cho dân Người, sau mỗi việc đó, dân được mời gọi đáp lại bằng điệp khúc: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!” Chúng ta có thể nối dài Thánh vịnh này bằng cách thêm những việc lành mới vào những việc lành cũ Thiên Chúa đã làm: “Người đã sai Con của Người đến với chúng ta; Người đã ban cho chúng ta Thần Khí của Người; Người đã gọi chúng ta đến với đức tin; Người đã gọi chúng ta là bạn hữu của Người…” và sau mỗi lần chúng ta đáp: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!”

 

2
MỌI NGƯỜI ĐÃ PHẠM TỘI
Mầu nhiệm của sự vô đạo

Chủ đề của bài suy niệm này chiếm phần đầu của thư Rôma (Rm 1,18-3,20) và là chủ đề được thánh Tông Đồ tóm tắt ở cuối phần, trong lời khẳng định nổi tiếng: “Mọi người đã phạm tội và bị mất vinh quang Thiên Chúa!” (Rm 3,23).

Chỉ có mạc khải của Thiên Chúa mới thực sự biết tội lỗi là gì; không một ai, không một đạo đức học hay triết học nhân văn nào biết điều đó. Không ai có thể tự mình nói tội là gì, vì lý do chính đáng là bản thân người đó đang ở trong tội. Tự cơ bản, tất cả những gì người đó nói về tội chỉ có thể là một sự xoa dịu, một sự giảm nhẹ tội lỗi. Như người ta nói, có một ý tưởng yếu về tội thuộc về bản chất tội lỗi của chúng ta.[13] “Tội ác thì thào trong thâm tâm kẻ dữ; hắn không thấy cần phải kính sợ Chúa. Hắn tự cao tự đại, nên chẳng thấy tội mình mà chê ghét” (Tv 36,2-3). Tội lỗi cũng lên tiếng, giống như Thiên Chúa trong Kinh Thánh; nó cũng tuyên sấm, và bục giảng của nó là trái tim con người. Trong trái tim con người, tội lỗi lên tiếng; do đó, thật vô lý khi mong đợi con người lên tiếng chống lại tội lỗi. Bản thân tôi đang ở đây để nói về tội, tôi là một tội nhân và do đó tôi nên nói với bạn là đừng quá tin tưởng vào tôi và những gì tôi nói! Ít nhất hãy biết điều này: tội là một chuyện nghiêm trọng, vô cùng nghiêm trọng hơn tất cả những gì tôi có thể nói với bạn về nó và làm cho bạn hiểu. Tự mình, con người bất quá sẽ có thể hiểu tội chống lại chính mình, chống lại con người, nhưng không hiểu tội chống lại Thiên Chúa; tội vi phạm quyền của con người, nhưng không vi phạm quyền của Thiên Chúa. Và quả thực, xét cho kỹ, chúng ta sẽ thấy đây chính là những gì đang xảy ra xung quanh chúng ta, trong nền văn hóa đương đại.

Vậy, chỉ có mạc khải của Thiên Chúa mới biết tội lỗi là gì. Đức Giêsu sẽ xác định rõ điều này, khi nói rằng chỉ có Chúa Thánh Thần mới có khả năng “bắt lỗi thế gian về tội” (x. Ga 16,8).

Tôi đã nói là chính Thiên Chúa phải nói cho chúng ta về tội. Quả thực, khi chính Thiên Chúa chứ không phải con người nói về tội, thật không dễ để giữ thái độ bình chân như vại; tiếng nói của Người giống như tiếng sấm “làm gãy đổ những cây hương bá Libanô”. Bài suy niệm của chúng ta hẳn sẽ đạt được mục đích, nếu nó không những có thể phá vỡ sự an ninh giả tạo của ta, mà còn khiến chúng ta phải khiếp sợ trước nguy cơ do tội lỗi gây ra hoặc do khả năng phạm tội mang lại. Nỗi sợ hãi như vậy sẽ trở thành đồng minh tốt nhất của chúng ta trong cuộc chiến chống lại tội lỗi. Kinh Thánh nói: “Hãy run sợ và đừng phạm tội” (Tv 4,5), nghĩa là hãy run sợ và đừng phạm tội nữa, hãy run sợ để đừng phạm tội! “Trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu” (Dt 12,4).

1. Tội lỗi là từ chối thừa nhận Thiên Chúa

Chúng ta hãy lắng nghe Tông Đồ Phaolô mạc khải cho chúng ta quan điểm của Thiên Chúa về tội lỗi:

“Từ trời, Thiên Chúa mạc khải cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính của những người lấy sự bất chính mà giam hãm chân lý. Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần linh của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của người. Do đó, họ không thể tự bào chữa được, vì tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí của họ hóa ra mê muội. Họ khoe mình khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên rồ. Thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đã thờ hình tượng người phàm là loài phải chết, hay hình tượng các loài chim chóc, thú vật, rắn rết” (Rm 1,18-23).

Theo thánh Phaolô, tội cơ bản, đối tượng chính yếu khiến Thiên Chúa thịnh nộ, chính là asebeia, nghĩa là sự vô đạo. Vô đạo là gì? Ngài giải thích ngay: nó hệ tại ở chỗ từ chối tôn vinh (doxazein) và tạ ơn (eucharistein) Thiên Chúa. Nói cách khác, là từ chối công nhận Thiên Chúa là Thiên Chúa, không dành cho Người sự kính trọng phải có đối với Người. Có thể nói, nó bao gồm việc “không biết đến” Thiên Chúa, không phải theo nghĩa “không biết Người hiện hữu”, nhưng theo nghĩa “hành động như thể không có Người”. Trong Cựu Ước, chúng ta nghe Môsê kêu gọi dân của ông: “Anh em phải biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thật là Thiên Chúa!” (x. Đnl 7,9) và tác giả Thánh vịnh lặp lại tiếng kêu này: “Hãy nhận biết rằng Chúa là Thiên Chúa: Người đã dựng nên ta, và chúng ta thuộc về Người!” (Tv 100,3). Xét từ mầm mống nguyên thủy của nó, tội là từ chối “sự thừa nhận” này; về phía thụ tạo, đó là cố xóa bỏ sự khác biệt vô biên giữa nó và Thiên Chúa, do sáng kiến ​​riêng và sự kiêu ngạo của mình. Như vậy, tội tấn công vào chính cội rễ mọi sự, “bóp nghẹt chân lý”, lấy bất chính giam hãm chân lý. Tội là một cái gì đó u ám và khủng khiếp hơn nhiều so với những gì con người có thể nói hoặc tưởng tượng. Trên thực tế, nếu biết tội là gì, thế giới hẳn sẽ chết khiếp vì sợ tội.

Hình thức cụ thể của sự từ chối Thiên Chúa là thờ ngẫu tượng, nơi mà thụ tạo được tôn thờ thay cho Đấng Tạo Hóa (x. Rm 1,25). Trong việc thờ ngẫu tượng, con người không chấp nhận Thiên Chúa, nhưng tự tạo cho mình một Thiên Chúa; chính họ quyết định về Thiên Chúa chứ không phải ngược lại. Các vai trò bị đảo ngược: con người trở thành thợ gốm, và Thiên Chúa trở thành chiếc bình mà con người nặn đúc theo sở thích của mình (x. Rm 9,20tt).

Cho đến lúc này, thánh Tông Đồ đã cho chúng ta thấy con người suy tư về chính mình, sự lựa chọn cơ bản của lòng mình chống lại Thiên Chúa. Bây giờ ngài cho thấy đâu là những hoa quả của nó về phương diện đạo đức. Tất cả đã dẫn đến chỗ phong hóa suy đồi, đến một “dòng thác sa đọa” thực sự, đưa nhân loại đến chỗ diệt vong mà thậm chí họ không nhận ra. Ở đây, thánh Phaolô phác họa một bức tranh gây ấn tượng về cuộc sống của xã hội ngoại giáo: đồng tính nam nữ, bất công, gian ác, tham lam, đố kỵ, dối trá, vu khống, phù phiếm, kiêu căng, phản nghịch với cha mẹ… Danh sách các tật xấu trích ra từ các nhà đạo đức ngoại giáo, nhưng bức chân dung tổng thể phát xuất từ đó là bức chân dung của sự “vô đạo” trong Kinh Thánh.

Điều khiến chúng ta ngạc nhiên khi thoạt nhìn:  thánh Phaolô coi tất cả những suy đồi đạo đức này là hậu quả do cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đem lại. Ngài đã ba lần lặp lại lời khẳng định rõ ràng này: “Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục vọng mà làm những điều ô uế…, để mặc họ buông theo dục tình đồi bại…, để mặc họ theo trí óc lệch lạc mà làm những điều bất xứng…” (Rm 1,24.26.28). Chắc chắn Thiên Chúa không “muốn” những điều như vậy, nhưng Người “cho phép” xẩy ra, để con người hiểu rằng từ chối Người tất sẽ đưa đến hậu quả đó. Thánh Augustinô nhận xét: “Những hành vi này, mặc dù là những hình phạt, nhưng chúng vẫn là tội lỗi, vì hình phạt của tội ác chính là tội ác: Thiên Chúa can thiệp để phạt điều ác và những tội lỗi khác nảy sinh từ chính hình phạt này”[14].

Tội lỗi là một hình phạt nơi chính nó; quả thực Kinh Thánh nói: “Phạm tội làm sao thì bị phạt làm vậy” (Kn 11,16). Trong khi thế giới còn tồn tại, công lý của Thiên Chúa được mạc khải trong đó; Thiên Chúa “bắt buộc” để mặc con người cho chính họ, để không bảo lãnh cho sự bất chính của họ và để họ từ bỏ con đường xấu xa của mình mà trở về.

2. “Mầu nhiệm sự ác đang hoành hành”

Cho đến lúc này, thánh Phaolô đã lên án tội lỗi của xã hội ngoại giáo vào thời ngài, tức tội vô đạo, thể hiện trong việc thờ ngẫu tượng và hậu quả là luân lý suy đồi. Ngày nay, nếu chúng ta muốn noi gương ngài và thực sự suy niệm bài học của ngài, chúng ta không thể dừng lại ở đây và chỉ biết thuần túy tố giác việc thờ ngẫu tượng của xã hội Hy-La thời ấy. Chúng ta còn phải làm điều chính ngài đã làm: nhìn vào xã hội của chúng ta – như ngài đã nhìn vào xã hội thời ngài – để khám phá ra hình thức vô đạo trong đó. Thánh Tông Đồ lột mặt nạ dân ngoại; ngài đã cho thấy, đằng sau tất cả niềm tự hào của họ, tất cả sự cao quý trong diễn từ của họ về thiện ác và lý tưởng đạo đức, trên thực tế, ẩn giấu sự tự tôn vinh và tự khẳng định của con người, tức là sự vô đạo và giả dối. Giờ đây chúng ta phải để lời Chúa hành động và sẽ thấy lời Chúa lột mặt nạ của thế giới hôm nay và của chính chúng ta như thế nào.

Vậy, chúng ta hãy nhìn vào thế giới hôm nay: hãy lắng nghe lời Chúa trong tính thời sự và tính lịch sử của nó, cố gắng xem liệu lời Chúa cũng nói với chúng ta trong mức độ nào; chữ “chúng ta” ở đây hiểu là: “những con người hôm nay”. Thánh Phaolô đã xác định gốc rễ của tội là từ chối tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa, nghĩa là phi tôn giáo, mà theo thuật ngữ Kinh Thánh, ngài gọi là vô đạo. Nói cách khác, là từ chối Thiên Chúa với tư cách Đấng sáng tạo, và từ chối chính mình với tư cách thụ tạo. Thế mà chúng ta biết, trong thời hiện đại, sự từ chối như vậy đã mang một hình thức có ý thức và công khai, điều đã không có vào thời của thánh Tông Đồ và có lẽ không có ở bất cứ thời nào khác trong lịch sử. Chúng ta cũng phải biết rằng “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (x. 2Tx 2,7); nó là một thực tại, một sự hiện diện, chứ không chỉ là một sự gợi lại lịch sử, hay một tư biện siêu hình.

Chúng ta hãy nghe một số tiếng nói nổi tiếng nhất, mà trong nền văn hóa của chúng ta ngày nay, đã diễn tả sự chối bỏ Thiên Chúa. Tuy nhiên, cần nói rõ là chúng ta đánh giá lời nói chứ không phải ý định và trách nhiệm đạo đức của những người này, vì chỉ mình Thiên Chúa mới biết họ, và họ có thể rất khác với những gì họ xuất hiện trước mắt chúng ta.

Karl Marx đã biện minh cho việc bác bỏ ý tưởng về “Đấng sáng tạo”: “Một hữu thể không thể coi mình là độc lập nếu không làm chủ mình, và nó chỉ làm chủ mình nếu nó chỉ nợ sự tồn tại của nó nơi mình nó mà thôi. Một người sống nhờ “ân huệ” của người khác tự coi mình là một hữu thể tùy thuộc… Nhưng tôi sẽ sống hoàn toàn nhờ ân sủng của người khác, nếu người đó đã tạo ra cuộc sống của tôi, nếu người đó là nguồn sống của tôi và nếu nguồn sống này không phải là sự sáng tạo của riêng tôi”[15]. Ông nói trong một bài viết khác về tuổi trẻ, cho rằng lương tâm của một người là “thần tính cao nhất”; “gốc rễ của con người là chính con người”. Một tiếng nói khác, rất được biết đến trong lãnh vực này, là của J. P. Sartre. Ông cho một trong những nhân vật của mình lên tiếng nói: “Chính tôi, tôi là người tự kết án mình ngày hôm nay, một mình tôi cũng có thể xá tội cho tôi, là con người. Nếu Thiên Chúa hiện hữu, con người chẳng là gì cả… Thiên Chúa không hiện hữu. Thật vui, những giọt nước mắt vui sướng! Alleluia! Không còn thiên đường! Không còn địa ngục! Không có gì ngoài trái đất”[16].

Một cách khác dùng sức mạnh hủy bỏ sự khác biệt giữa Đấng Tạo Hóa và thụ tạo, giữa Thiên Chúa và cái “tôi”, đó là cách… làm cho lộn tùng phèo và chính đó là hình thức mà sự vô đạo đôi khi sử dụng ngày nay trong lãnh vực tâm lý học chiều sâu. Phaolô đã khiển trách các “học giả” cùng thời với ngài là đã không nghiên cứu thiên nhiên và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó, mà chỉ dừng lại ở đó; cũng vậy, lời Chúa khiển trách một bộ phận tâm lý học chiều sâu nào đó ngày nay, không phải là đã khám phá ra một lãnh vực mới của thực tại là vô thức của con người, và đã cố gắng soi sáng mầu nhiệm của nó, nhưng là, từ chỗ khám phá này, đã tạo ra cơ hội không biết thứ mấy để tống khứ Thiên Chúa. Do đó, lời Chúa phục vụ chính tâm lý học, bằng cách thanh tẩy nó khỏi những gì đe dọa nó, cũng như, đến lượt mình, tâm lý học có thể phục vụ – và thực sự nó đã phục vụ trong nhiều trường hợp – thanh tẩy sự hiểu biết của chúng ta về lời Chúa.

Sự vô đạo ẩn giấu trong một số định hướng gần đây hơn của khoa học này là hủy bỏ sự phân biệt giữa thiện và ác. Bằng một phương pháp rất giống với phương pháp của lạc thuyết ngộ đạo cổ đại, các ranh giới của nó căng ra một cách nguy hiểm: ranh giới của Thiên Chúa thì đi xuống và ranh giới của ma quỷ thì đi lên, cho đến chỗ đưa chúng lại gần nhau và chồng lên nhau, chỉ còn coi cái ác là “bộ mặt khác thực tại” và coi ma quỷ là “bóng mờ của Thiên Chúa”. Theo đường hướng này, có những người đã đi xa đến mức tố cáo Kitô giáo là đã đưa vào thế giới “sự đối lập tai hại giữa thiện và ác”. Nơi ngôn sứ Isaia, chúng ta đọc thấy những lời dường như được nói ra cho chính hôm nay và cho tình hình này: “Khốn thay những kẻ bảo cái tốt là xấu và cái xấu là tốt” (Is 5,20).

Đối với các nhà tâm lý học theo khuynh hướng này, điều quan trọng không phải là “cứu rỗi linh hồn” (điều này thậm chí còn bị chế nhạo nữa), cũng không phải là “phân tích linh hồn”, nhưng là “làm nên linh hồn”, tức  là cho phép linh hồn con người – tức là cuối cùng cho phép con người tự nhiên – thể hiện bản thân theo mọi hướng, không dẹp bỏ bất cứ hướng nào. Sự cứu rỗi sẽ ở chỗ mạc khải chính mình, ở chỗ bày tỏ con người và tâm lý của mình; sự cứu rỗi sẽ ở chỗ tự thực hiện (autoréalisation). Như người ta nói, sự cứu rỗi ở bên trong, nội tại nơi con người; nó không đến qua lịch sử, nhưng qua nguyên mẫu bày tỏ trong thần thoại và biểu tượng; theo một nghĩa nào đó, nó đến từ vô thức. Sự vô thức này, lúc đầu được coi như có tiềm năng là nơi của điều ác, nơi bắt nguồn những chứng loạn thần kinh và ảo tưởng (một trong số những ảo tưởng này là “ảo tưởng” về Thiên Chúa), qua một sự tiến hóa gây bối rối cho một “khoa học”, giờ đây được coi là nơi tiềm năng (nếu có thể nói được như vậy) của điều thiện, giống như một cái mỏ đầy kho báu chôn giấu đối với con người.

Khi người ta từ chối một cách có hệ thống mọi chân lý mạc khải và mọi tham chiếu lời Thiên Chúa, tư tưởng thế tục liên quan đến con người chỉ là làm dao động một lời khẳng định được đưa ra cho điều ngược lại, không có sự vững chắc nào, làm hỏng các cuộc chinh phục của chính nó bằng cách trộn lẫn sai lầm vào đó.

Một hôm, khi đọc một số tác phẩm tâm lý học chiều sâu, chứa đầy những ý tưởng gợi ra ở trên, tôi bị sốc và kinh hoàng, tự hỏi Thiên Chúa có thể “phán xét” thế nào về tất cả những điều đó, và ngay sau đó tôi tìm được câu trả lời rõ ràng, khi đọc lời này của Đức Giêsu trong Phúc Âm Gioan: “Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3,19). Chúa Thánh Thần có quyền năng “bắt lỗi” ngay cả thế giới tâm lý chiều sâu, quá kiêu hãnh và coi thường Thiên Chúa và còn rất say sưa với sự mới mẻ và thành công riêng của mình.

Tuy vậy, vẫn chưa hết đâu.

Bên cạnh sự phủ nhận Thiên Chúa trong trí khôn nơi người vô thần, người tin chắc (thật lòng hay không) Thiên Chúa không hiện hữu, còn có sự phủ nhận trong ý muốn nơi người từ chối Thiên Chúa, dù biết Người hiện hữu, và công khai thách thức Người rằng: Tôi sẽ không tùng phục! “Non serviam!” Hình thức tội lỗi cực đoan này, tức là thù ghét Thiên Chúa và báng bổ Người, thể hiện qua việc xúc phạm Thiên Chúa cách công khai và đáng lo ngại, qua việc lớn tiếng tuyên bố, với những dấu hiệu và cử chỉ bỉ ổi, về sự ưu việt của sự ác hơn sự thiện, bóng tối hơn ánh sáng, ghét hơn yêu, Satan hơn Thiên Chúa. Hình thức ấy bị Satan trực tiếp thao túng; quả thực, ai khác ngoài Satan sẽ có thể có một ý nghĩ như: “Sự thiện là một sự lệch hướng của sự ác, và giống như bất cứ sự lệch hướng nào, có tính cách thứ yếu và một ngày nào đó sẽ biến mất”, hay nói cách khác: “Phải chăng sự ác trong thực tế chỉ là sự thiện không được đánh giá đúng”?

Những biểu hiện minh nhiên nhất của hình thức vô đạo này là: làm ô uế Thánh Thể (sự quá căm ghét và hoàn toàn vô nhân đối với Thánh Thể, tự nó, đối với người cần Thánh Thể, là một bằng chứng đáng sợ, theo cách tiêu cực, về sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể); dùng hình thức tục tĩu và châm biếm nhại những câu chuyện và lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh; dàn dựng nhân vật Giêsu trong các phim ảnh và kịch nghệ cố ý giải thiêng và nhục mạ. Mục tiêu cuối cùng của tất cả những điều đó là làm cho người ta mất linh hồn và tranh đấu chống lại Giáo Hội. Để đưa một linh hồn đến với Diêm vương của họ, những người này có khả năng kiên trì và mở rộng các phương tiện, có thể sánh với những gì mà chỉ những người thánh thiện nhất trong số những nhà truyền giáo mới biết cách thực hiện để đưa một linh hồn đến với Đức Kitô.

Đàng khác, tình trạng này không ở xa như nhiều Kitô hữu có thể nghĩ, trái lại, nó là một vực thẳm rất gần với sự thờ ơ và “trung lập” mà họ đang sống. Người ta bắt đầu bằng cách từ bỏ mọi thực hành tôn giáo và cuối cùng, vào một ngày đáng buồn, thấy mình trong số những kẻ thù công khai của Thiên Chúa. Điều này xẩy ra, hoặc vì gắn bó với các tổ chức có mục đích (hầu hết bị che giấu lúc đầu) là chống lại Thiên Chúa và làm đảo lộn các giá trị đạo đức, hoặc do lệch lạc tình dục và nghiện những gì khiêu dâm, hoặc do hậu quả tiếp xúc bất cẩn với các pháp sư, các nhà thông linh, các giáo phái bí truyền và những thứ khác tương tự. Quả thực, ma thuật là một cách khác (thô tục nhất) sa vào chước cám dỗ tổ tông xưa là nên “giống Thiên Chúa”.

Người ta đọc được nơi một trong những thủ bản của họ: “Sức mạnh ẩn giấu chi phối ma thuật là thèm khát quyền lực. Mục tiêu của pháp sư đã được xác định lần đầu tiên và khá thích hợp bởi chính con rắn ở vườn địa đàng… Tham vọng muôn đời của môn đồ ma thuật đen là chiếm đoạt quyền lực chi phối toàn thể vũ trụ và tự biến mình thành thần.” Không quan trọng nếu, trong phần lớn các trường hợp, đây đúng ra là thói lang băm, không hơn; ý định vô đạo chi phối người thực hiện thuật này hoặc nhờ đến nó, đủ để rơi vào quyền lực của Satan. Satan hoạt động thông qua dối trá và bịp bợm, nhưng những hiệu quả của công việc nó làm hoàn toàn khác với tưởng tượng. Thiên Chúa nói trong Kinh Thánh: “Giữa anh em, không được thấy ai…làm nghề bói toán, chiêm tinh, tướng số, phù thủy” (Đnl 18,10-12) và nơi tiên tri Isaia, chúng ta thấy có lời cảnh cáo nghiêm khắc này: Chúa sẽ đánh phá xứ sở vì xứ này “đầy thầy bói và thầy chiêm” (x. Is 2,6).

Chỉ có hai con đường hợp pháp để con người tiếp cận quyền lực đối với bản thân, đối với bệnh tật, các biến cố, công việc; hai con đường này là bản tính và ân sủng. Nói cách khác, bản tính, trí thông minh, khoa học, y học, công nghệ và tất cả những ân huệ mà con người đã nhận được từ Thiên Chúa trong tạo thành, để làm chủ trái đất, trong tinh thần vâng phục Thiên Chúa; còn ân sủng gồm đức tin và lời cầu nguyện, mà đôi khi cũng có được sự chữa lành và phép lạ; tuy nhiên, những điều này luôn từ Thiên Chúa mà đến, vì “sức mạnh thuộc về Thiên Chúa” (Tv 62,12).

Khi người ta đi vào con đường thứ ba, là tìm kiếm các quyền năng huyền bí, có được bằng các phương tiện huyền bí, như thể Thiên Chúa không hề biết và không cần Người chấp thuận, hoặc thậm chí bằng cách lạm dụng tên tuổi và các dấu hiệu của Người, thì, cách này cách khác, chủ nhân và người phát minh ra con đường thứ ba này vào cuộc; một ngày nào đó người này nói: tất cả quyền lực và vinh quang của các vương quốc đã được trao cho tôi, và tôi sẽ trao cho bất cứ ai tôi muốn, nếu họ thờ lạy tôi (x.Lc 4,6). Trong trường hợp này, sự suy tàn là chắc chắn; con ruồi đã rơi vào “mạng nhện lớn” và sẽ không dễ dàng sống sót. Trong xã hội công nghệ và tục hóa của chúng ta, hiện thời đã xẩy ra đúng như lời Phaolô đã viết: “Họ đã khoe mình khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên rồ” (Rm 1,22); họ đã từ bỏ đức tin để ôm lấy đủ thứ mê tín, dù ấu trĩ nhất.

3. “Tiền công của tội lỗi”

Chúng ta hãy nhìn đến hậu quả của sự vô đạo, để tâm trí con người thậm chí không còn một chút nghi ngờ nào: không ai có thể hơn Thiên Chúa. Nơi sách tiên tri Giêrêmia, chúng ta đọc thấy những lời này thưa với Thiên Chúa: “Những ai lìa bỏ Ngài sẽ phải xấu hổ” (Gr 17,13). Lìa bỏ Thiên Chúa dẫn đến xáo trộn và xa lạc cho tới tận bên trong con người của mình; Đức Giêsu nói: ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất nó (x. Mt 16,25). “Mất”, “lạc mất” là những thuật ngữ xuất hiện thường xuyên nhất trong Kinh Thánh khi nói về tội lỗi: con chiên lạc mất, đồng bạc bị mất, đứa con trai bị mất… Khái niệm Kinh Thánh về tội dịch từ tiếng Hy lạp hamartia, hàm chứa ý tưởng về sự lạc mất và thất bại. Quả thực, người ta nói về một con sông lạc dòng và mất hút trong đầm lầy, về một mũi tên được bắn ra trượt mục tiêu và mất hút trong khoảng không. Do đó, tội là một sự thất bại, một sự thất bại tận căn. Một người có thể thất bại dưới nhiều hình thức: với tư cách là một người chồng, một người cha, một doanh nhân; nếu là một phụ nữ, với tư cách là vợ, là mẹ; nếu là một linh mục, với tư cách là cha sở, cha bề trên, cha linh hướng. Nhưng đó là những thất bại tương đối, luôn có khả năng làm lại được; một người có thể gặp mọi thất bại và đồng thời là một người rất đáng kính và thậm chí là một vị thánh. Nhưng tội lỗi là chuyện khác: tội lỗi là sự thất bại của thụ tạo với tư cách thụ tạo, nghĩa là, trong thực tại cơ bản của nó, trong cái nó “là”, chứ không chỉ trong cái nó “làm”. Đây là trường hợp duy nhất có thể nói về một ai đó điều mà Đức Giêsu đã thực sự nói về Giuđa: “Thà nó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26,24). Khi phạm tội, con người tưởng rằng mình xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng thực ra con người chỉ “xúc phạm” – nghĩa là làm thiệt hại và hạ thấp phẩm giá – chính mình, chính mình phải xấu hổ. Thiên Chúa nói trong sách Giêrêmia: “Có phải chúng xúc phạm đến ta, hay là chúng xúc phạm đến chính mình, làm cho mặt mình phải xấu hổ” (Gr 7,19). Khi từ chối tôn vinh Thiên Chúa, con người bị “tước mất vinh quang Thiên Chúa”. Tội lỗi chắc chắn xúc phạm, tức là cũng làm buồn lòng chính Thiên Chúa, và làm Người buồn lòng sâu xa, nhưng chỉ vì nó giết chết kẻ Người yêu; nó xúc phạm tình yêu của Người.

Tuy vậy, chúng ta hãy cố gắng nhìn sâu hơn những hậu quả hiện sinh của tội lỗi. Thánh Phaolô quả quyết:  “tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rm 6,23). Tội dẫn đến cái chết; nhưng không coi cái chết như một hành vi – vốn chỉ kéo dài trong chốc lát – cho bằng như một tình trạng, một “căn bệnh chết dở”, một tình huống chết kinh niên. Trong tình huống này, thụ tạo hướng về hư vô mà vô vọng, vì không bao giờ có thể đạt được điều ấy; sống vì điều ấy trong cơn hấp hối muôn đời. Chính từ đó mà có đọa đầy và hình phạt địa ngục: thụ tạo bị một Đấng mạnh hơn bắt nó trở thành cái mà nó từ chối trở thành, nghĩa là tùy thuộc vào Thiên Chúa, và nó vĩnh viễn phải đau khổ vì không thể thoát khỏi cả Thiên Chúa lẫn chính mình. Có người ta đã nói rất đúng rằng “mong muốn cách tuyệt vọng thoát khỏi mình là chính công thức của mọi tuyệt vọng”[17].

Một tình huống như vậy, chúng ta có thể tìm lại được trước hết nơi chính Satan, nơi nó, tội lỗi đã giăng ra tất cả quyền lực của mình, như vậy cho thấy rõ đâu là kết quả của nó. Satan là nguyên mẫu của những kẻ “dù biết Thiên Chúa (và biết Người rất rõ!) nhưng không tôn vinh Người và tạ ơn Người cho phải đạo”. Tuy nhiên không cần phải nại đến trí tưởng tượng hoặc những tư biện thần học nào đó, để biết được những cảm nghĩ của Satan về vấn đề này, bởi vì chính nó đã nói to vào tai của những linh hồn mà ngày nay Thiên Chúa vẫn cho phép nó cám dỗ, như nó đã cám dỗ Đức Giêsu trong hoang địa. Nó kêu lên: Chúng ta không có tự do, chúng ta không có tự do! Ngay cả khi bạn tự sát, linh hồn bạn vẫn sống, bạn không thể giết nó, chúng ta không thể nói không. Chúng ta bị buộc phải tồn tại mãi mãi. Đó là một sự lừa đảo! Việc Thiên Chúa tạo dựng chúng ta tự do là không đúng, không phải vậy!” Những ý tưởng này làm chúng ta rùng mình, vì dường như chúng ta nghe thấy ngay tại chỗ một số âm vang của cuộc tranh chấp muôn đời giữa Thiên Chúa và Satan. Quả thực Satan hẳn muốn được tự do trở về hư vô.

Nhưng, bất chấp mọi nỗ lực của nó, sẽ không bao giờ có thể có chuyện đó, vì Quyền năng này, ở trên nó, mạnh hơn nó và buộc nó phải tồn tại. Và chính qua con đường này mà người ta đi đến chỗ tuyệt vọng. Khi chọn con đường tự chủ tuyệt đối trong tương quan với Thiên Chúa, thụ tạo cảm thấy rõ con đường này sẽ kéo theo bất hạnh và bóng tối, dầu vậy nó vẫn chấp nhận trả cái giá này, vì “thà bất hạnh mà được làm chủ, hơn là hạnh phúc mà phải quỵ lụy” (misere praeesse quam feliciter subesse), như thánh Bênađô đã nói[18].

Hình khổ đời đời của hỏa ngục, vốn làm cho người ta cảm thấy rất vấp phạm, không tùy thuộc vào Thiên Chúa, Đấng luôn sẵn sàng tha thứ, nhưng tùy thuộc vào thụ tạo không muốn được tha thứ, hình khổ ấy sẽ tố cáo Thiên Chúa là không tôn trọng sự tự do của mình, nếu Người đã làm điều đó.

Ngày nay, chúng ta có thể xác minh, cách cụ thể hơn và gần gũi hơn với kinh nghiệm của chúng ta, hậu quả của tội lỗi là gì, bằng cách quan sát những gì đang xảy ra trong nền văn hóa hiện nay của chúng ta, trong đó sự từ chối Thiên Chúa, trong một số môi trường, đã đi đến những hậu quả cực đoan. Một triết gia mà tôi đã đề cập – đối với ông tội lỗi chẳng là gì khác hơn là một “phát minh (tệ hại) của Do thái giáo”, thiện và ác chỉ là “những định kiến ​​(thuần túy) của Thiên Chúa” – đã viết như sau (một lần nữa, chúng tôi đánh giá lời nói chứ không phải ý định): “Chúng ta đã giết Thiên Chúa; chúng ta là nhưng kẻ sát thiên!” Nhưng cũng chính con người này, khi mà sau đó thoáng thấy, hoặc chính mình trải nghiệm thấy, những hậu quả tai hại của một hành vi như vậy, đã nói thêm: “Chúng ta đã làm gì khi tháo xiềng xích trói buộc trái đất này với mặt trời của nó? Bây giờ nó đi đâu? Chúng ta đi đâu? Trái đất của chúng ta, không phải là một sụp đổ vĩnh viễn sao? Lùi đàng sau, sang bên cạnh, tiến tới, khắp nơi? Chẳng phải chúng ta đang lang thang như thể xuyên qua một hư vô vô tận sao?”[19] Như người ta đã nói, “giết Thiên Chúa thực sự là vụ tự sát kinh khủng nhất.” Tiền công của tội lỗi thực sự là cái chết, và chủ nghĩa hư vô của một số tư tưởng hiện thời là bằng chứng.

4. “Kẻ đó, chính là bạn”

Chúng ta góp phần nào (bây giờ tôi muốn nói “chúng ta” theo nghĩa: chúng ta là những người đang hiện diện, chúng ta, những người tin), trong bản cáo trạng khủng khiếp chống lại tội lỗi mà chúng ta đã nghe? Từ những gì đã nói cho tới lúc này, quả thực có vẻ như chúng ta chủ yếu đóng vai nguyên cáo. Nhưng chúng ta hãy cẩn thận nghe những gì tiếp theo. Ở trên tôi đã nói rằng thánh Tông Đồ, bằng lời nói của mình, đã lột mặt nạ thế giới và chính chúng ta; giờ đây là lúc xem lời Thiên Chúa thực hiện hoạt động cuối cùng và khó khăn hơn này như thế nào.

Kinh Thánh kể câu chuyện như sau: Vua Đavit đã ngoại tình; để che giấu tội này, ông đã cho giết chồng của người phụ nữ đang lâm chiến, đến nỗi khi ấy, việc lấy bà ta làm vợ thậm chí có thể được coi như như một hành động hào hiệp của nhà vua, đối với người lính đã vì ông mà chết trên chiến trường. Một chuỗi tội lỗi thực sự. Khi đó, tiên tri Nathan được Thiên Chúa sai đến gặp ông, và kể cho ông nghe một câu chuyện ngụ ngôn (nhưng nhà vua không biết đó là chuyện ngụ ngôn). Nathan nói:  trong thành phố, có một người đàn ông rất giàu, có vô số chiên cừu; cũng có một người đàn ông nghèo chỉ có một con cừu mà ông rất quý, ông đã kiếm sống nhờ nó và nó ngủ chung với ông… Một vị khách đến nhà người đàn ông giàu có, người này không bắt cừu của mình, nhưng bắt cừu của người nghèo, sai giết nó để đãi khách. Nghe chuyện này, Đavít bừng bừng nổi giận và nói: “Kẻ làm điều đó thật đáng chết!” Khi ấy, Nathan đột nhiên cắt đứt câu chuyện ngụ ngôn và nói với Đavít: “Kẻ đó chính là ngài!” (x. 2Sm 12,1tt).

Thì này, Tông Đồ Phaolô cũng làm như vậy với chúng ta. Sau khi cùng với ngài tỏ thái độ phẫn nộ chính đáng và kinh hoàng vì sự vô đạo của thế giới, trong suốt chương đầu tiên của thư Rôma, giờ đây khi sang chương thứ hai, đến lượt ngài như đột nhiên quay về phía chúng ta mà kêu lên: “Kẻ đó chính là bạn!” “Dù bạn là ai đi nữa mà bạn xét đoán, thì bạn cũng không thể tự bào chữa được. Vì khi bạn xét đoán người khác, mà bạn cũng làm như họ, thì bạn tự kết án chính mình. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa cứ theo sự thật mà xét xử những ai làm những điều đó. Còn bạn, hỡi người xét đoán những kẻ đã làm những điều đó trong khi chính mình cũng làm như vậy, bạn tưởng mình sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét xử sao?” (Rm 2,1-3). Thuật ngữ “không thể tự bào chữa” (anapologetos), được dùng ở trên dành cho những người ngoại đạo, đột nhiên xuất hiện lại, khiến không còn nghi ngờ về những ý định của Phaolô. Theo ngài, khi bạn xét đoán người khác là bạn lên án chính mình. Bạn đã ghê tởm đối với tội lỗi, thì đã đến lúc phải ghê tởm như thế đối với chính bạn.

Trong chương thứ hai này, vị “thẩm phán” hóa ra lại là người Do Thái, nhưng ở đây, ông đại diện cho một loại người. “Người Do Thái” là người không phải người Hy Lạp, không phải người ngoại giáo (x. Rm 2,9-10), mà chính là người ngoan đạo và có lòng tin, mạnh mẽ với các nguyên tắc của mình và có một luân lý được mạc khải, xét xử phần còn lại của thế giới và, khi xét xử nó, thì cảm thấy mình được an toàn. Theo nghĩa này, “người Do Thái” là mỗi người chúng ta. Origen thậm chí còn nói rằng, trong Giáo Hội, tâm điểm những lời này của thánh Tông Đồ là các giám mục, linh mục và phó tế, nghĩa là những thầy dạy và chỉ đạo[20]. Bản thân Phaolô cũng bị sốc khi từ một người Pharisêu, ngài trở thành người Kitô hữu, và vì thế giờ đây ngài có thể nói một cách thật chắc chắn, và chỉ cho các Kitô hữu con đường thoát khỏi thói Pharisêu. Ngài vạch trần ảo tưởng kỳ lạ và thường xuyên của những người ngoan đạo và có tâm hồn tôn giáo, coi mình thoát khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, đơn giản vì họ có ý tưởng rõ ràng về thiện và ác, biết luật và đôi khi biết cách áp dụng nó cho người khác, trong khi về phần mình, họ tin tưởng vào đặc ân được đứng về phía Thiên Chúa, hoặc dù sao đi nữa, “lòng nhân từ” và “sự kiên nhẫn” của Thiên Chúa, Đấng mà họ biết rõ, sẽ giúp họ vào số ngoại lệ. Thái độ này giống như thái độ của một người con, thấy cha trách mắng đứa em phạm lỗi, cũng hùa vào mắng mỏ em mình, tưởng rằng như vậy sẽ được cha có thiện cảm và thoát khỏi hình phạt mà nó biết mình đáng chịu vì đã phạm lỗi tương tự. Nhưng người cha chờ ở nơi nó một điều hoàn toàn khác, ông mong rằng khi nó thấy ông sửa lỗi em mình, và trước sự kiên nhẫn và lòng tốt của ông đối với nó, nó sẽ quỳ xuống dưới chân ông, thú nhận lỗi lầm của mình và hứa sẽ sửa sai: “Hay bạn coi thường lòng Chúa vô cùng nhân hậu, khoan dung, đại lượng, mà không nhận ra rằng Thiên Chúa nhân hậu như thế là để thúc giục bạn hối cải sao?  Thế nhưng bạn lòng chai dạ đá không chịu hối cải, và như vậy bạn càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu bạn, trong ngày Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và biểu lộ phán quyết công minh” (Rm 2,4-5).

Thật là một xáo trộn lớn ngày bạn nhận ra rằng lời Chúa qua ngôn từ đó là dành cho bạn, không hơn không kém, và “bạn” này (trong thư Phaolô) chính là bạn! Như thể một luật gia, hoàn toàn mải mê phân tích một bản án đã ban hành trong quá khứ và mang tính chất hướng dẫn, khi xem xét kỹ hơn, đột nhiên nhận thấy bản án đó cũng áp dụng cho chính ông và nó vẫn còn hiệu lực: kết quả là tâm trạng của ông sẽ thay đổi và ông sẽ không còn quá yên tâm nữa. Ở đây, lời Chúa đi vào một công cuộc phi thường thực sự, phải đảo ngược tình thế của người nghiên cứu mình. Không thể có lối thoát; vấn đề là “sụp đổ” và nói như Đavít: Tôi thật đắc tội (2Sm 12,13) ​​hoặc khi đó con tim càng chai đá, và người ta càng không ăn năn. Nghe những lời này của Phaolô, người ta hoặc hối cải hoặc cứng lòng.

Nhưng đâu là lời buộc tội đặc thù của thánh Tông Đồ dành cho những người “ngoan đạo”? Theo ngài, họ “cũng làm những điều như vậy”, những điều mà họ xét đoán nơi người khác. “Những điều như vậy”, theo nghĩa nào? Có giống nhau theo nghĩa “thể chất” không? Phải, cũng có nghĩa đó (Rm 2,21-24); nhưng trên hết, những điều như vậy, về bản chất của chúng, là sự vô đạo và thờ ngẫu tượng. Hiện nay trên thế giới vẫn còn tồn tại tình trạng thờ ngẫu tượng tiềm ẩn. Nếu thờ ngẫu tượng là “thờ sản phẩm do tay mình làm ra” (x. Is 2,8; Hs 14,4), nếu thờ ngẫu tượng là đặt thụ tạo vào chỗ của Đấng Tạo Hóa, thì tôi là người thờ ngẫu tượng khi tôi đặt thụ tạo – thụ tạo của tôi, công trình của tay tôi – vào chỗ của Đấng Tạo Hóa. Thụ tạo của tôi có thể là ngôi nhà hoặc Giáo Hội mà tôi xây dựng, gia đình mà tôi hình thành, con trai mà tôi đã sinh ra (bao nhiêu người mẹ, ngay cả theo Kitô giáo, không nhận ra điều đó, coi đứa con của họ là chúa của họ, đặc biệt nếu nó là con một!); đó còn có thể là công việc mà tôi thực hiện, ngôi trường mà tôi điều khiển, cuốn sách mà tôi viết… Rồi còn có thần tượng tuyệt vời là cái “tôi” riêng của tôi. Tự nền tảng của mỗi việc thờ ngẫu tượng là “tự tôn thờ mình” (autolatrie), yêu mình, đặt con người của mình ở trung tâm và trên đỉnh vũ trụ, hy sinh mọi sự khác cho nó. “Bản chất” của tất cả những điều đó luôn là sự vô đạo, từ chối tôn vinh Thiên Chúa, nhưng muốn tôn vinh bản thân, chỉ và luôn sử dụng ngay cả điều tốt, ngay cả việc phục vụ Thiên Chúa, cho sự thành công riêng của chúng ta và sự khẳng định của cá nhân chúng ta. Tội mà thánh Phaolô lên án nơi “những người Do Thái” trong suốt lá thư chính là tội đó: tìm sự công chính riêng của mình, vinh quang riêng của mình và tìm nó ngay cả khi tuân giữ luật Chúa.

Có lẽ, khi suy nghĩ lại, giờ đây tôi sẵn sàng nhận ra sự thật, tức là cho đến nay, tôi đã sống “cho chính tôi”, tôi cũng tham gia vào mầu nhiệm vô đạo, mặc dù theo cách thức và ở mức độ khác. Chúa Thánh Thần đã “bắt lỗi tôi về tội”. Khi đó phép lạ luôn mới về sự hoán cải khởi sự trong tôi. Phải làm gì trong tình huống tế nhị này? Chúng ta hãy mở Kinh Thánh và cả chúng ta nữa, cũng hãy xướng lên bài “De profundis“: “Từ vực thẳm tôi kêu lên Ngài, lạy Chúa” (Tv 130). Bài này đã không được viết cho người chết, nhưng cho người sống; “vực thẳm” mà từ đó tác giả Thánh vịnh cất tiếng kêu, không phải là luyện ngục, nhưng là vực thẳm tội lỗi: “Ôi lạy Chúa, nếu Ngài cứ chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” Kinh Thánh viết rằng Đức Kitô “trong thần khí đã giảng cho các vong linh bị giam cầm” (x. 1Pr 3,19) và một Giáo Phụ thời xưa, khi bình giải điều này, đã nói: “Khi anh em nghe nói Đức Kitô xuống ngục tổ tông, để giải thoát các vong linh bị giam cầm ở đó, anh em đừng nghĩ là việc đó quá xa với những việc còn đang được thực hiện lúc này. Tin tôi đi, trái tim là một nhà mồ”[21].

Giờ đây, về đường thiêng liêng, chúng ta đang trong tình trạng của “các vong linh bị giam cầm”, chờ Đấng Cứu Tinh xuất hiện nơi Âm phủ, những linh hồn mà chúng ta nhìn thấy trong các linh ảnh (icônes), đang tuyệt vọng vươn tay ra nắm lấy bàn tay phải của Đức Kitô, Đấng đến với cây thánh giá của Ngài để kéo họ ra khỏi nhà tù. Cả chúng ta nữa, hãy cất tiếng kêu từ ngục tối sâu thẳm của cái “tôi”, nơi chúng ta bị giam cầm. Thánh vịnh mà chúng ta đang cầu nguyện tràn đầy hy vọng và trông đợi trong tin tưởng: “Hồn tôi trông chờ Chúa hơn lính canh canh mong đợi hừng đông… Chính Người sẽ cứu chuộc Israel cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn”. Chúng ta đã biết có sự giúp đỡ, có một phương thuốc trị điều xấu của chúng ta, vì “Thiên Chúa yêu thương chúng ta”. Vì vậy, mặc dù bị lời Chúa quở trách, chúng ta vẫn bình thản và tin tưởng thưa với Chúa: “Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (Tv 16,10).

 

3
SỰ CÔNG CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA ĐÃ TỎ HIỆN
Công chính hóa bởi đức tin

1. Thiên Chúa đã hành động

Thánh Phaolô đã mô tả tình trạng của con người dưới chế độ tội lỗi. Đọc hai chương đầu và nửa chương ba của thư gửi tín hữu Rôma, người ta có cảm tưởng như đang đi dưới bầu trời đen tối đầy đe dọa. Nhưng khi đọc tiếp một lúc  – chính xác ở câu 21 của chương ba – chúng ta nhận thấy giọng điệu đột ngột thay đổi, được thông báo bởi cách diễn đạt theo thời gian và đối nghịch: “Bây giờ, ngược lại…”. Bầu khí thay đổi, như thể bầu trời đột nhiên xé ra, để người ta lại trông thấy mặt trời. “Sự công chính của Thiên Chúa đã tỏ hiện!” (Rm 3,21): mặt trời đã xuất hiện trên bóng tối tội lỗi; đó là sự mới mẻ. Không phải con người bỗng dưng thay đổi nếp sống và bắt đầu làm điều tốt; không, sự mới mẻ là Thiên Chúa đã hành động và hành động của Người đã hoàn tất thời gian. Vậy sự kiện mới mẻ là Thiên Chúa đã hành động, Người đã phá vỡ sự im lặng, là Đấng đầu tiên giơ tay ra cho kẻ có tội. “Hành động” này của Thiên Chúa là một mầu nhiệm, mà mỗi lần đều làm cho trời đất kinh ngạc và hân hoan: “Hò reo lên, hỡi các tầng trời, Đức Chúa đã ra tay. Tung hô đi nào, hỡi vực sâu lòng đất” (Is 44,23). Thiên Chúa đã báo trước những điều này từ lâu; tất cả các tiên tri đã nói về nó; bây giờ, thình lình, Ngài đã hành động và chúng đã ập tới (x. Is 48,3).

Nhưng “hành động” này của Thiên Chúa hệ tại ở những gì? Chúng ta hãy lắng nghe toàn bộ những điều thánh Tông Đồ nói:

“Thật vậy, mọi người đã phạm tội, và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm hy lễ xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin. Như vậy, Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng Công Chính. Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ, Người muốn cho thấy rằng Người vừa là Đấng Công Chính, vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giêsu được nên công chính” (Rm 3,23-26).

Thiên Chúa tỏ sự công chính của mình bằng cách tỏ lòng thương xót! Đó là mạc khải vĩ đại, đó là sự “báo thù” của Thiên Chúa đối với những người đã phạm tội. Thánh Tông Đồ nói rằng Thiên Chúa “công chính và công chính hóa”, nghĩa là Người công chính với mình khi làm cho con người nên công chính; Người thực sự là tình yêu và thương xót; vì vậy Người thực thi công chính cho mình – nói cách khác, Người thực sự cho thấy mình là ai – khi Người tỏ lòng thương xót.

Nhưng người ta không hiểu gì về tất cả những điều đó, nếu không hiểu chính xác kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa”. Điều đáng sợ là khi nghe nói ở đây về sự công chính của Thiên Chúa mà không biết ý nghĩa của nó, một số người, thay vì cảm thấy được khích lệ, thì lại sợ hãi và tự nhủ: “Đúng như người ta phải chờ đợi, sau cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, giờ đây là sự công chính của Người, tức hình phạt chính đáng của Người, được tỏ lộ!” Chính Luthêrô là người đã khám phá ra, hay đúng hơn, tái khám phá ra rằng kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa” ở đây không ám chỉ hình phạt, hay tệ hơn, sự trả thù của Người đối với con người, nhưng trái lại, nó chỉ hành vi qua đó Thiên Chúa “làm cho con người nên công chính”. (Nói cho đúng, Luthêrô nói “tuyên bố” chứ không phải “làm cho trở nên” công chính, vì ông nói về một sự công chính hóa ngoại tại, pháp lý).  Tôi nói “tái khám phá”, vì lâu trước đó, thánh Augustinô đã nói: “Sự công chính của Thiên Chúa là sự công chính qua đó, nhờ ân sủng, chúng ta trở nên công chính, cũng như “sự cứu rỗi của Thiên Chúa” (Tv 3,9) là sự cứu rỗi qua đó Thiên Chúa cứu chúng ta”[22]. Luthêrô sau này đã viết: “Khi tôi khám phá ra điều này, tôi cảm thấy được tái sinh và đối với tôi dường như những cánh cửa thiên đường đã mở rộng cho tôi”.[23]

Vậy “Phúc Âm”, tức là tin mừng, mà thánh Phaolô loan báo cho các Kitô hữu ở Rôma, là thế này: giờ đây lòng nhân từ của Thiên Chúa đã được tỏ hiện cho con người, nói cách khác, thiện ý của Người đối với con người, sự tha thứ của Người; nói tắt là ân sủng Người. Chính thánh Tông Đồ đã giải thích như vậy quan niệm của mình về “sự công chính của Thiên Chúa”: “ngày xuất hiện lòng nhân lành của Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, và tình yêu của Người dành cho loài người, Người đã không quan tâm đến những việc làm của công chính mà chúng ta đã có thể làm, nhưng, chỉ do lòng thương xót thôi thúc, Người đã cứu chúng ta bằng phép rửa tái sinh và đổi mới trong Chúa Thánh Thần” (Tt 3,4-5). Nói: “Sự công chính của Thiên Chúa đã tỏ hiện” tương đương với nói: “Sự tốt lành của Thiên Chúa, tình yêu của Ngài, lòng thương xót của Người, đã tỏ hiện.”

2. Công chính hóa và hoán cải

Từ đây chúng ta hẳn phải khám phá ra tận gốc mà thánh Tông Đồ tham khảo về đề tài này, khám phá ra một tiếng nói khác vượt ra ngoài tiếng nói của ngài, một khởi giảng khác, một tiếng kêu khác, mà tiếng kêu của ngài chỉ là tiếng vọng trung thực. Thánh Phaolô nói rằng “Tin Mừng là sức mạnh của Thiên Chúa để cứu độ bất cứ ai có lòng tin” (Rm 1,16); ngài nói đến “thời” Thiên Chúa nhẫn nại, bây giờ đã “hoàn tất” (Rm 3,25 tt), về sự công chính của Thiên Chúa đã đến và tỏ hiện… Những lời này lại không giống với những lời chúng ta từng nghe sao? Ngôn ngữ này nhắc cho chúng ta ai vậy? Nhắc cho chúng ta lời Đức Giêsu công bố khi Ngài bắt đầu sứ vụ: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần; anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Phaolô truyền đạt cho chúng ta giáo huấn đơn thuần nhất của Đức Giêsu, sử dụng cùng thuật ngữ, cùng khái niệm: thời kỳ, tin mừng, tin. Có điều, Đức Giêsu loan báo bằng kiểu nói “Triều Đại Thiên Chúa” – sáng kiến ​​cứu độ của Thiên Chúa, hành động cứu độ nhưng không của Người vì lợi ích của con người – thì thánh Phaolô gọi nó bằng kiểu nói khác là: “sự công chính của Thiên Chúa”, nhưng cả hai nói về cùng một thực tại nền tảng, cùng một hành động của Thiên Chúa. “Triều Đại Thiên Chúa” và “sự công chính của Thiên Chúa” được chính Đức Giêsu liên kết với nhau khi Ngài nói: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người” (Mt 6,33). Theo một Giáo Phụ, điều Đức Giêsu gọi là “Triều Đại Thiên Chúa”, chính là sự công chính hóa bởi đức tin, sự thanh tẩy của phép rửa và sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần[24].

Khi Đức Giêsu nói: “Anh em hãy sám hối và tin vào Phúc Âm”, thì Ngài đã dạy về sự công chính hóa bởi đức tin. Trước Ngài, hoán cải luôn có nghĩa là “quay trở lại” (như thấy nơi cùng một thuật ngữ shub, được sử dụng trong tiếng Do Thái cho hành động này); hoán cải là trở về với giao ước mà mình đã xúc phạm, bằng cách lại tuân giữ Lề Luật: Chúa phán qua tiên tri Dacaria: “Hãy trở lại với Ta, hãy từ bỏ lối sống xấu xa và những hành vi gian ác của các ngươi mà trở lại” (Dcr 1,3-4; cũng xem Gr 8, 4-5). Do đó, hoán cải có một ý nghĩa đặc biệt là khổ hạnh, luân lý và sám hối, và được thực hiện trước hết trong việc thay đổi đời sống. Người ta coi nó như điều kiện để được cứu độ; ý nghĩa của nó là:  hãy hoán cải và các ngươi sẽ được cứu; quả thật ý nghĩa này chiếm ưu thế trên chính môi miệng của Gioan Tẩy Giả khi ngài nói về sự hoán cải (x. Lc 3,4-6). Nhưng trên môi miệng Đức Giêsu, ý nghĩa luân lý này chỉ là thứ yếu (ít nhất lúc Ngài bắt đầu rao giảng), dành cho “một ý nghĩa mới”, cho đến lúc đó chưa được biết đến. Chỉ mình Đức Giêsu có thể gán cho từ hoán cải ý nghĩa mới này, hướng về tương lai hơn về quá khứ; quả thực, chỉ mình Ngài có thể thay đổi trọng tâm của lịch sử, từ đây trở đi, điều quan trọng nhất không phải là quay lại đàng sau, nhưng tiến về phía trước.

Vậy, hoán cải không phải là quay lại đàng sau, trở về với giao ước cũ và tuân giữ lề luật, ngược lại, là nhảy vọt về phía trước, đi vào giao ước mới, chiếm lấy Triều Đại đã xuất hiện, và đi vào đó. Và đi vào đó bằng đức tin. “Hoán cải và tin” không chỉ  hai sự việc khác nhau và kế tiếp nhau, nhưng là cùng một hành động: hãy hoán cải, nghĩa là hãy tin; hoán cải bằng cách tin! Giữa hoán cải và ơn cứu độ, trật tự đảo ngược: không phải hoán cải trước rồi mới đến ơn cứu độ (theo kiểu: “Hãy hoán cải thì các ngươi sẽ được cứu; hãy hoán cải thì ơn cứu độ sẽ đến với các ngươi”), nhưng là ơn cứu độ trước rồi mới đến sự hoán cải (“Hãy hoán cải vì các ngươi đã được cứu; vì ơn cứu độ đã đến với các ngươi”). Trước tiên là công việc của Thiên Chúa, chỉ sau đó mới là sự đáp ứng của con người, chứ không ngược lại. Những người phản đối lời rao giảng của Đức Giêsu – các kinh sư và các người Pharisêu – đã vấp phải chính điểm này. Phaolô nói: “Họ không nhận biết rằng chính Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, và họ tìm cách nên công chính tự sức mình. Như vậy là họ không tuân theo đường lối Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính” (Rm 10,3). Chính Thiên Chúa đã khởi xướng công cuộc cứu độ: Người đã làm cho triều đại của Người trị đến, con người chỉ phải chấp nhận, trong đức tin, hồng ân của Thiên Chúa và sau đó, sống những đòi hỏi của hồng ân này. Giống như một ông vua, sau khi chuẩn bị một đại tiệc trong cung điện của mình, mở cửa và đứng ở đó, mời tất cả những người qua đường và nói: “Mời mọi người vào, tất cả đã sẵn sàng!”

Vậy “Hãy hoán cải và hãy tin” có nghĩa là: đi từ Giao Ước cũ dựa trên lề luật sang Giao Ước mới dựa trên đức tin. Học thuyết của thánh Tông Đồ về sự công chính hóa bởi đức tin cũng nói như vậy. Sự khác biệt duy nhất là do các sự kiện xảy ra giữa việc rao giảng của Đức Giêsu và của Phaolô. Quả thực, giữa hai người, Đức Kitô đã bị từ chối và bị giết chết vì tội lỗi của loài người. “Tin vào Phúc Âm” (“hãy tin vào Phúc Âm”) đã trở thành “tin vào Đức Giêsu Kitô”, “vào máu Người” (Rm 3,25).

Như vậy, sự hoán cải đầu tiên và cơ bản là đức tin, qua đó người ta đi vào Nước Trời. Nếu có ai nói với bạn: cửa vào Nước Trời là sự vô tội, là sự tuân giữ các điều răn, là nhân đức này hay nhân đức khác, thì bạn có thể thoái thác mà nói: Nó không dành cho tôi! Tôi không vô tội, tôi không có nhân đức này. Nhưng nếu có ai nói với bạn: cửa vào chính là tin, thì hãy tin! Khả năng này không quá cao đối với bạn, cũng không quá xa bạn, trái lại, “Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng, lời đó chính là lời chúng tôi rao giảng để khơi dậy đức tin. Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,8-9).

Tuy nhiên, thánh Phaolô hết sức nhấn mạnh một điều: tất cả những cái đó được ân sủng ban cách “nhưng không” (doreàn), như một quà tặng; người ta không thể đếm được ngài trở lại điểm này bao nhiêu lần, bằng những kiểu nói khác nhau. Khi đó, chúng ta tự hỏi: tại sao Thiên Chúa lại không nhân nhượng về vấn đề này? Đó là vì Người muốn loại trừ khỏi thụ tạo mới con sâu gặm nhấm đáng sợ đã hủy hoại thụ tạo đầu tiên: sự hãnh diện hão huyền của con người. “Vậy thì hãnh diện ở chỗ nào? Chẳng còn gì để hãnh diện… Thật vậy, chúng tôi nghĩ rằng người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì Luật dạy” (Rm 3,27-28). Thánh Phaolô còn nói: Chính nhờ ân sủng mà chúng ta được cứu, dựa vào đức tin; điều đó không đến từ chúng ta, nó là một ân huệ của Thiên Chúa; nó không đến từ việc làm, “để không ai có thể hãnh diện” (Ep 2,8-9). Con người che giấu trong lòng một khuynh hướng xấu là “trả giá với Thiên Chúa”. Nhưng “nào có ai tự chuộc nổi mình, và trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa?” (Tv 49,8). Muốn trả giá với Thiên Chúa bằng công trạng của mình, là một hình thức khác của cố gắng mãi mãi được tự do và không lệ thuộc vào Thiên Chúa. Và, không chỉ tự chủ, nhưng hơn thế nữa, còn muốn trở thành chủ nợ của Thiên Chúa, vì “người nào làm việc, thì lương trả cho người ấy không được kể là ân huệ, mà là nợ” (Rm 4,4). “Ai đã cho người (Thiên Chúa) trước, để người phải trả lại sau?” (Rm 11,35).

Những gì thánh Tông Đồ diễn tả bằng trạng từ “cách nhưng không”, thì Đức Giêsu diễn tả cách khác, qua hình ảnh trẻ em, và một lần nữa, chúng ta thấy ở đó sự hài âm hoàn hảo giữa hai lời loan báo. Đức Giêsu nói rằng chúng ta phải đón nhận Nước Trời “như một trẻ nhỏ” (x. Mc 10,15). Đón nhận Nước Trời như một trẻ nhỏ có nghĩa là đón nhận Nước Trời cách nhưng không, như một ân huệ, chứ không dựa trên công trạng. Một hôm, khi các môn đệ đang tranh luận xem “ai là kẻ lớn nhất trong Nước Trời” – nghĩa là ai trong số họ có thể đòi được hưởng nhiều quyền nhất để có được chỗ danh dự ở đó –, Đức Giêsu gọi một trẻ nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo rằng nếu các ông không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì chẳng được vào Nước Trời (x. Mt 18,1-3). Theo bản năng, trẻ em biết sự khác biệt giữa công trạng và đặc ân, và sẽ không bao giờ từ bỏ đặc ân của mình là con cái, để đổi lấy công trạng. Chắc chắn chúng xin cha mẹ những gì chúng cần: bánh mì, sách vở, đồ chơi, nhưng không phải vì chúng sẽ mang về nhà tiền lương riêng của chúng (đấy là việc làm của những người lớn, đặc biệt người nam), không phải vì chúng nghĩ mình đáng được, nhưng chỉ vì chúng biết mình được yêu thương. Chúng dựa trên sự kiện mình là con trai – đôi khi suy đoán như thế –, do đó là người thừa kế mọi sự.

Theo cách này, ý tưởng về công trạng, phần thưởng, nhân đức và nỗ lực, về sự hãm mình và mọi sự khác, đã được chỉ rõ trong Phúc Âm, đều không bị hủy bỏ; chỉ cần đặt tất cả cho đúng chỗ, không phải như nguyên nhân của ơn cứu độ, trái lại, như hiệu quả của ơn này, như những điều phải thoát thai từ đức tin. Công trạng giống như những đồng xu nhỏ mà cha mẹ bí mật bỏ vào túi của đứa con, để nó có thể mua một món quà nhỏ nhân ngày lễ của cha nó. Công đồng Trentô nói: “Lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người lớn lao đến nỗi Người coi là công trạng điều mà trên thực tế, chỉ là quà tặng từ phía Người”[25]

Vì thế, chúng ta hãy để cho Thiên Chúa lo về công trạng của chúng ta, trong khi làm tất cả những việc tốt có thể làm. Kinh Thánh nói Thiên Chúa vất bỏ sau lưng hết mọi lỗi lầm ta phạm (x. Is 38,17); đến lượt chúng ta, hãy vất bỏ sau lưng những công trạng của chúng ta. Thiên Chúa vất bỏ sau lưng tội lỗi của chúng ta, nhìn đến mọi việc lành chúng ta làm, kể cả một ly nước cho một người nghèo (x. Tb 12,12; Cv 10,4), đến lượt chúng ta, hãy vất bỏ sau lưng tất cả những việc lành chúng ta làm và nhìn đến những tội lỗi chúng ta phạm. Chúng ta càng nhìn đến tội lỗi mình, thì Thiên Chúa càng vất bỏ chúng sau lưng; chúng ta càng vất bỏ sau lưng những việc lành của mình, thì Thiên Chúa càng nhìn đến chúng.

Thánh Phaolô lấy đâu ra phúc âm của ngài về sự công chính hóa “nhưng không”, “bởi đức tin”, rất phù hợp với Phúc Âm của Đức Giêsu? Ngài không rút ra từ các sách Phúc Âm (lúc này chưa được viết ra), nhưng nhiều nhất từ những truyền thống truyền khẩu về việc rao giảng của Đức Giêsu và trên hết là từ kinh nghiệm của chính ngài, tức là từ chính Thiên Chúa, trong cách Thiên Chúa hành động trong cuộc đời của ngài. Ngài đã quả quyết như vậy khi nói rằng phúc âm ngài rao giảng (phúc âm về sự công chính hóa nhờ đức tin!), ngài không học nơi loài người, nhưng nhờ một mạc khải của Đức Giêsu Kitô, khi ngài liên hệ mạc khải này với việc ngài hoán cải (x. Gl 1,11 tt). Có thể nói, trong thư Rôma, thánh Tông Đồ chỉ dùng những thuật ngữ phổ quát chép lại bi kịch hoán cải của chính ngài. Khi viết cho tín hữu Philípphê, ngài trình bày cuộc hoán cải của mình như cuộc vượt qua từ “sự công chính do lề luật đem lại” đến “sự công chính do ​​Thiên Chúa ban, dựa trên đức tin” (Pl 3,9). Khi đọc những gì thánh Phaolô mô tả trong bản văn này về sự hoán cải của mình, tôi thấy hiện lên trong tâm trí tôi một hình ảnh: hình ảnh một người đi bộ trong đêm, xuyên qua rừng, dưới ánh sáng lờ mờ của một ngọn nến; anh rất cẩn thận không để nó tắt, vì đó là tất cả những gì soi đường cho anh. Nhưng rồi, đang khi anh tiến đi, bình minh ló rạng, mặt trời mọc ở phía chân trời, ánh sáng từ ngọn nến của anh nhanh chóng mờ nhạt, đến nỗi anh thậm chí không còn nhận ra mình đang cầm gì trong tay, và ném nó đi. Đó là điều đã xảy ra với Phaolô: ánh sáng lờ mờ, đối với ngài là sự công chính của ngài, là bấc nến thảm hại tỏa khói, ngay cả khi nó dựa trên những tước hiệu vang dội như: chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Israel, người Hipri, người Pharisêu, vô phương trách cứ trong việc tuân giữ lề luật…(x. Pl 3,5-6). Một ngày đẹp trời, ở chân trời cuộc đời của Phaolô, mặt trời cũng xuất hiện: “Mặt Trời công chính”, mà trong bản văn này ngài rất êm ái gọi tên: “Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi”, và khi đó sự công chính của ngài xuất hiện như một sự “mất mát”, như “rác rưởi” và ngài không còn muốn người ta thấy ngài với sự công chính của ngài, nhưng với sự công chính do lòng tin. Thiên Chúa đã cho ngài trải nghiệm trước tiên, đầy kịch tính, điều mà sau này Người sẽ yêu cầu ngài mạc khải cho Giáo Hội.

3. Đức tin – chiếm đoạt

Như tôi đã nói, chìa khóa của mọi sự là đức tin. Nhưng có nhiều loại đức tin khác nhau: có đức tin-tán đồng (foi-assentiment), đức tin-phó thác (foi-confiance), đức tin-kiên định (foi-stabilité), như Isaia nói (7,9). Khi Phaolô nói về sự công chính hóa “nhờ đức tin”, thì là đức tin nào? Đây là một đức tin rất đặc biệt: đức tin-chiếm đoạt (foi-appropriation), đức tin làm nên cú táo bạo! Về chủ đề này, chúng ta hãy nghe thánh Bênađô: “Điều con không thể tự mình đạt được, thì con tin tưởng mà chiếm đoạt nó (je l’usurpe!) từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa, vì Ngài đầy lòng thương xót. Như vậy, công trạng của con là lòng thương xót của Thiên Chúa. Chắc chắn con sẽ không nghèo nàn về công trạng, miễn là Người giàu lòng thương xót. Nếu lòng nhân từ của Chúa thật bao la (Tv 119,156) thì con sẽ dư dật công trạng. Còn sự công chính của con thì sao? Ôi lạy Chúa, con sẽ chỉ nhớ đến sự công chính của Chúa. Quả thực nó cũng là sự công chính của con, vì đối với con, Chúa là sự công chính của Thiên Chúa”[26]. Có lời chép rằng Đức Giêsu Kitô “đã trở nên sự khôn ngoan cho chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho chúng ta trở nên công chính, thánh hóa và cứu chuộc chúng ta” (1Cr 1,30).

Thực sự “chúng ta không bao giờ nghĩ đến điều đơn giản nhất”! Điều chúng ta vừa thấy quả thực là điều đơn giản và rõ ràng nhất trong Tân Ước, nhưng con đường dẫn đến chỗ khám phá ra nó quả là dài! Người ta khám phá ra nó, không phải lúc bắt đầu, nhưng là lúc cuối đời sống thiêng liêng. Giống như đối với một số định luật vật lý: phải thực hiện nhiều thí nghiệm để đi đến chỗ khám phá ra một nguyên lý mà, rốt cuộc, lại là nguyên tý đơn giản nhất và sơ đẳng nhất. Về cơ bản, đó chỉ đơn giản là nói “có” với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dựng nên con người tự do, để họ có thể tự do đón nhận sự sống và ân sủng; nhận mình là thụ tạo “đầy đủ”, được Thiên Chúa ban ân sủng. Chúa chỉ chờ đợi tiếng “xin vâng” của họ thì, ngược lại, Ngài chỉ nhận được một tiếng “không”. Giờ đây, Ngài ban cho con người một khả năng thứ hai, giống như một sự sáng tạo thứ hai; Ngài giới thiệu cho họ Đức Kitô như lễ xá tội, và hỏi: “Ngươi có muốn sống nhờ Ngài và trong Ngài không?” Tin có nghĩa là trả lời: “Vâng, con muốn!” Và ngay lập tức bạn là một thụ tạo mới, giàu có hơn thụ tạo đầu tiên; bạn được “tạo dựng trong Đức Giêsu Kitô” (x. Eph 2,10).

Đây là cú táo bạo mà chúng ta nói đến, và thật ngạc nhiên khi thấy những người thực hiện nó lại hơi ít. Cái giá của nó là “sự sống đời đời” và phương tiện nắm lấy nó là “tin”. Một Giáo Phụ, thánh Cyrillô Giêrusalem, đã diễn tả ý tưởng này về cử chỉ đức tin táo bạo này bằng những lời khác: “Ôi lòng nhân từ lạ lùng của Thiên Chúa đối với loài người! Những người công chính trong Cựu Ước phải vất vả nhiều năm để làm hài lòng Thiên Chúa, nhưng điều họ đạt được qua sự phục vụ lâu dài và anh hùng đẹp lòng Thiên Chúa, thì Đức Giêsu ban điều đó cho bạn trong khoảng thời gian vắn một giờ. Quả thực, nếu bạn tin Đức Giêsu Kitô là Chúa và Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại từ trong kẻ chết, bạn sẽ được cứu và được đưa vào thiên đàng bởi chính Đấng đã đưa người trộm lành vào đó”[27]. Những Giáo Phụ khác nói: Hãy tưởng tượng một cuộc chiến đấu bi tráng đã diễn ra trong sân vận động. Một người dũng cảm đã đương đầu với tên bạo chúa hung ác và, bằng nỗ lực phi thường và đau đớn, đã đánh bại hắn. Còn bạn, bạn không phải chiến đấu, không mệt nhọc, không bị thương tích. Nhưng nếu bạn ngưỡng mộ người dũng cảm này, nếu bạn vui mừng với ông trong chiến thắng của ông, nếu bạn kết vòng hoa cho ông, nếu bạn cổ võ và kích động đám đông ủng hộ ông, nếu bạn vui mừng nghiêng mình trước người chiến thắng, nếu bạn ôm lấy ông và bắt tay ông, nói tóm lại, nếu bạn vì ông mà điên lên vì sung sướng, đến nỗi bạn coi chiến thắng của ông là của mình, thì tôi nói với bạn rằng bạn chắc chắn sẽ chia sẻ phần thưởng của người chiến thắng. Nhưng còn hơn thế nữa: giả sử người chiến thắng không cần giải thưởng mà ông ta đã chinh phục, nhưng trên hết là mong muốn thấy người ủng hộ mình được vinh danh và coi việc đăng quang của bạn mình là phần thưởng cho cuộc chiến của ông, trong trường hợp đó, phải chăng người bạn này sẽ không có được vương miện, cho dù không mệt nhọc hoặc không bị thương tích nào? Chắc chắn người ấy sẽ nhận được nó! Chính đó là những gì xảy ra giữa Đức Kitô và chúng ta. Chúng ta không mệt nhọc, không chiến đấu, không có công trạng gì, tuy vậy, nhờ đức tin, chúng ta tung hô cuộc chiến đấu của Đức Kitô, chúng ta ngưỡng mộ chiến thắng của Ngài, chúng ta tôn vinh chiến tích của Ngài là thập giá, và vì Ngài, Đấng dũng cảm, chúng ta biểu lộ một tình yêu mạnh mẽ và cao cả; chúng ta làm cho những vết thương và cái chết của Ngài thành của chúng ta.[28]

Nhưng đức tin này, gắn liền với những sự việc vĩ đại như vậy, là đức tin nào! Thư gửi tín hữu Do Thái dành hẳn một chương để ca ngợi đức tin của tổ tiên, là những người “nhờ đức tin đã chiến thắng các nước, thực hành công lý, đạt được những gì Thiên Chúa đã hứa, khóa miệng sư tử, dập tắt lửa hồng mãnh liệt…, trở nên mạnh mẽ…” (Dt 11,33 tt), nhưng để cuối cùng kết thúc rằng “Thiên Chúa đã trù liệu cho chúng ta một phần phúc tốt hơn” (Dt 11,40), một điều gì còn lớn lao hơn để đổi lấy đức tin của chúng ta: đó là chính Ngài! Không còn là những thứ tạm thời hay “vương quốc” trần gian, nhưng là vương quốc của Thiên Chúa và sự công chính của Ngài! Quả thật, đức tin là một trong những phát minh đẹp đẽ nhất của Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Qua đó, cái hữu hạn có được cái vô hạn, thụ tạo có được Thiên Chúa. Nhờ đức tin mà dân Do Thái “vượt qua Biển Đỏ như đi trên đất khô” (Dt 11,29) nhưng cuộc xuất hành đầu tiên này là gì, so với cuộc xuất hành được thực hiện nhờ tin vào Đức Kitô? Cuộc xuất hành thứ hai này đưa chúng ta từ vương quốc bóng tối đến vương quốc ánh sáng, từ hữu hình đến vô hình. Thiên Chúa tạo dựng sự tự do là vì đức tin, tức là làm cho đức tin có thể thực hiện được. Chỉ trong đức tin mà con người, bằng cách tin, mới thực thi đầy đủ sự tự do của mình. Chỉ mình Thiên Chúa mới biết giá trị của hành vi tin tự do của một thụ tạo, vì chỉ mình Người biết giá trị của Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, người ta nói về Thiên Chúa thế nào thì cũng nói về đức tin thế ấy: rằng đức tin thì toàn năng: “Không có gì mà Thiên Chúa không làm được” (Lc 1,37) và “Cái gì cũng có thể đối với người có lòng tin” (Mc 9,23). Khi đó, người ta có thể đoán tại sao Thiên Chúa thậm chí đã chấp nhận nguy cơ tội lỗi, để làm cho đức tin khả thi.

Đức tin mạc khải bản chất thần linh của nó trong chính điều này là thực tế nó không bao giờ cạn kiệt. Không có giới hạn nào mà người ta không thể tiếp tục tin; người ta sẽ luôn có thể tin hơn. Tất cả ân sủng của Thiên Chúa đang hoạt động để đưa con người đến một đức tin ngày càng tinh tuyền và hoàn hảo hơn, ngõ hầu làm cho họ đi “từ đức tin này tới đức tin khác” (Rm 1,17), nghĩa là từ một mức độ tin này đến một mức độ tin khác, hoàn hảo hơn: từ một đức tin dựa trên các dấu chỉ đến một đức tin không có dấu chỉ. Ngay khi, nhờ đức tin, một tín hữu đã vượt qua trở ngại này, Thiên Chúa lại đưa ra một trở ngại khác cao hơn, luôn cao hơn, biết rõ vương miện sẽ như thế nào, vương miện mà Ngài chuẩn bị cho người ấy bằng tay kia. Và cứ như thế, cho đến khi yêu cầu anh ta điều không thể, xét về mặt con người: bước nhảy vào chỗ chưa ai biết. Trong đức tin, điều tương tự cũng xảy ra như trong các cuộc thi điền kinh nhảy cao: sau mỗi lần nhảy thành công, thanh ngang được nâng lên vài phân để cho phép nhảy cao hơn và như vậy mỗi lần vượt quá giới hạn trước đó mà không thể tiên liệu được kỷ lục cuối cùng. Chúng ta không bao giờ hết kinh ngạc trước phát minh vĩ đại này của Thiên Chúa, là đức tin. Vinh quang trên trời – chẳng hạn vinh quang Đức Mẹ được đưa lên trời – giống như một cây đại thụ có nhiều cành lắm trái, nhưng được sinh ra từ một hạt giống nhỏ bé được trồng trên mặt đất và hạt giống này là đức tin. Hãy tưởng tượng chúng ta sẽ làm gì, nếu một ngày nào đó chúng ta được một chuyên gia nổi tiếng trong lãnh vực này cho vào trong một chiếc hộp một hạt giống nhỏ, mà chúng ta được bảo đảm là hạt giống độc nhất vô nhị trên thế giới, và sẽ sản xuất ra một loại hạt được săn lùng nhiều, có thể làm giàu cho người có được nó: chúng ta sẽ chăm sóc nó như thế nào! làm sao chúng ta biết cách bảo vệ nó khỏi bất cứ cơn gió nào…! Thì đây, chúng ta phải hành động như thế đối với đức tin của mình; đức tin là hạt giống sinh ra “hoa trái” của sự sống đời đời!

4. “Đây là thời Thiên Chúa thi ân”

Diễn từ của thánh Phaolô về sự công chính hóa nhờ đức tin bắt đầu bằng một trạng từ chỉ thời gian: Giờ đây, ngược lại..” Trạng từ “Giờ đây” có ba bình diện hay ý nghĩa: bình diện lịch sử, bình diện bí tích và bình diện luân lý. Thật vậy, trước tiên nó nhắc đến “giờ” Đức Kitô chết cho chúng ta trên thập giá, nghĩa là nói đến biến cố lịch sử khi việc cứu chuộc chúng ta được hoàn tất; thứ hai, nó nhắc đến lúc chịu phép rửa, khi người Kitô hữu được “thánh tẩy, thánh hóa và công chính hóa” (x. 1Cr 6,11), cuối cùng, nó nhắc tới lúc hiện tại, về cuộc sống hôm nay của chúng ta, và chính ý nghĩa cuối cùng này đã được thánh Tông Đồ nhấn mạnh khi viết cho tín hữu Côrintô: “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2Cr 6,2). Ở bình diện này, “Giờ đây” theo nghĩa đen là lúc này, lúc mà chúng ta đang sống.

Vì vậy, về sự công chính hóa nhờ đức tin, có một việc gì đó phải làm ngay bây giờ; điều mà tôi – chứ không phải người khác thay cho tôi – phải làm, và nếu không có nó thì tất cả những suy nghĩ đẹp đẽ nhất và sâu sắc nhất về vấn đề này sẽ chỉ là những ý tưởng trên mây trên gió. Sự công chính hóa nhờ đức tin là khởi đầu của đời sống siêu nhiên, nhưng không phải là khởi đầu sẽ sớm bị một loạt biến cố khác vượt qua, nhưng là một khởi đầu luôn hiện tại, được lấy lại và tái lập không ngừng. Thiên Chúa luôn là Đấng “yêu thương trước” và là Đấng đầu tiên công chính hóa (và không phải chỉ một lần lúc đầu), vì vậy con người phải luôn là kẻ tin, kẻ để cho mình được công chính hóa một cách nhưng không. Tuy nhiên, trong sự liên tục này, có thể có những lúc gia tốc, bùng nổ, giống như những thức tỉnh của đức tin và lòng biết ơn của con người. Chúng ta ở đây, vào lúc này, chính là vì điều đó: không chỉ để nhìn về dĩ vãng mà hiểu những gì đã xảy ra nơi chúng ta, vào một ngày nào đó, lúc chúng ta lãnh nhận phép rửa, mà còn để lại sống nó; để làm một bước nhảy vọt, một bước nhảy vọt có phẩm chất, trong đức tin của chúng ta.

Một Giáo Phụ ở thế kỷ IV đã viết những lời này, cực kỳ hiện đại và, như người ta hẳn sẽ nói, “có tính chất hiện sinh”: Với mỗi người, lúc khởi đầu cuộc sống là lúc mà khởi đi từ đó Đức Kitô đã chịu sát tế vì họ. Nhưng Đức Kitô chịu sát tế vì họ ngay lúc họ nhận ra ân sủng và ý thức về sự sống mà sự sát tế này đem lại cho họ”[29]. Vậy mọi sự – cả cái chết của Đức Kitô lẫn phép rửa – trở thành hiện tại và có thật đối với chúng ta, vào lúc chúng ta ý thức về chúng, lúc chúng ta xác nhận chúng, lúc chúng ta hân hoan vì chúng và lúc chúng ta cảm tạ. Lúc này, nếu chúng ta muốn, có thể là bây giờ. Ngày hôm đó, người thu thuế đã lên đền thờ cầu nguyện và trong lời cầu nguyện vắn tắt của mình xẩy ra là “người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính” (x. Lc 18,14). Chỉ cần anh ta thưa với tất cả lòng thành: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!” Chúng ta cũng có thể trở về nhà mà được nên công chính, sau một lúc cầu nguyện sốt sắng, hoặc sau khi xưng tội, lúc chúng ta cuối cùng thưa lên những lời như trên, với niềm xác tín sâu xa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”

Vì vậy, tôi có thể về nhà với chiến lợi phẩm phong phú nhất: được công chính hóa nhờ đức tin, nghĩa là được nên công chính, được tha thứ, được cứu, trở thành thụ tạo mới. Lời Chúa không thể nói dối bảo đảm với tôi như thế. Tôi có thể làm một cử chỉ khéo léo đến mức tôi mãi mãi mừng rỡ về điều đó. Một lần nữa tôi có thể đặt tội lỗi của mình trong cánh tay của Đức Kitô trên thập giá, giống như người đàn ông đã đặt ba đứa con nhỏ ốm yếu của mình trong vòng tay của Đức Trinh Nữ Maria và ra đi mà không ngoảnh lại, vì sợ phải mang chúng về. Như thế, tôi có thể tin tưởng trình diện trước Chúa Cha và thưa với Người: giờ đây xin nhìn đến con, lạy Cha, xin nhìn đến con, vì giờ đây con là Giêsu của Cha! Sự công chính của Ngài ở trên tôi, “Vì Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công minh” (Is 61,10). Vì Đức Kitô đã “mang lấy tội lỗi của tôi”, còn tôi, tôi mặc lấy sự thánh thiện của Ngài. Tôi đã “mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27). Một lần nữa “công trình Chúa làm Chúa được hân hoan” (Tv 104,31).

Thiên Chúa nhìn vào tạo thành của mình và thấy rằng, nhờ hy tế của Đức Kitô, Con của Người, nó lại “rất tốt”. Vinh quang của con người “bị loại trừ”, tuy nhiên có một điều mà con người có thể tự hào: họ có thể tự hào trong thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: “Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa” (1Cr 1,31). Có thể tự hào về Chúa! Vinh quang nào có thể đẹp hơn thế! Ai sẽ còn đủ điên rồ để muốn đánh đổi vinh quang này lấy sự công chính của mình? Ồ vâng, chúng con sẽ tự hào trong Ngài, lạy Chúa. Muôn đời!

 

4
NGÀI ĐÃ BỊ GIẾT CHẾT VÌ TỘI LỖI CHÚNG TA
Suy niệm về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô

Chương thứ tư của thư gửi tín hữu Rôma minh giải điều mà thánh Phaolô coi là trường hợp mẫu mực nhất – trước khi Đức Kitô đến – về sự công chính hóa nhờ đức tin, tức là trường hợp của Abraham. Nó kết thúc bằng một lời long trọng tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu là Chúa, Đấng “đã bị trao nộp vì tội lỗi của chúng ta và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25). Ở đó chúng ta có một trong những công thức “cổ điển” nhất mà chúng ta được đọc trong toàn bộ Tân Ước liên quan đến khởi giảng (kérygme). Chúng ta tìm lại được cốt lõi nguyên thủy của đức tin, với những thay đổi nhỏ, ở những chỗ khác nhau của lá thư, giống như sự trồi lên trên mặt đất, chỗ này chỗ kia, của một tảng đá bên dưới: trong chương thứ sáu, nơi nói về phép rửa (Rm 6,3 tt), trong chương thứ tám, nơi tác giả chép rằng “Đức Kitô đã chết, hơn nữa, đã sống lại và đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Rm 8,34), và ở gần cuối lá thư, nơi tác giả chép rằng: “Đức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết (Rm 14,9). Chính đó là dữ kiện nguyên thủy của Truyền Thống mà thánh Tông Đồ nói rằng chính ngài đã nhận được (x. Cl 15,3) và do đó đưa chúng ta trở lại những năm đầu tiên của đời sống Giáo Hội.

Chính “Phúc Âm” này, mà thánh Tông Đồ đã ám chỉ khi loan báo chủ đề của toàn bộ lá thư, mà ngài nói: “Tôi không hổ thẹn vì Tin Mừng. Quả thế, Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin” (Rm 1,16). Quả thực, đối với thánh Phaolô, Phúc Âm cốt yếu là loan báo ơn cứu độ, mà trọng tâm là thập giá và sự phục sinh của Đức Kitô.

Do đó, chúng ta đã đạt đến một điểm dễ chạm nọc trong hành trình tái Phúc Âm hóa của mình. Cho đến đây, thánh Tông Đồ đã chỉ cho chúng ta thấy làm thế nào, từ tình trạng tội lỗi và tước đoạt vinh quang của Thiên Chúa mà chúng ta đang ở trong đó, chúng ta có thể chiếm hữu ơn cứu độ, nghĩa là một cách nhưng không, nhờ đức tin. Nhưng ngài vẫn chưa minh nhiên nói với chúng ta về chính sự cứu độ, và về biến cố làm cho điều đó có thể xảy ra. Sự công chính hóa, như chúng ta biết đến lúc này, đến từ đức tin, nhưng đức tin đến từ đâu? Lấy đâu ra sức mạnh để thực hiện “cú táo bạo” này, và người nhận ra mình chưa làm được điều đó vẫn còn hy vọng làm được? Các chương tiếp theo của thư Rôma sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi này. “Chúng nhằm khai triển lời loan báo về sự công chính hóa nhờ đức tin, mà công việc cứu độ của Đức Giêsu Kitô mang lại cho chúng ta…, bằng cách giải thích biến cố công chính hóa nhờ đức tin có liên quan đến những ân huệ bao gồm trong đó”[30].

Giờ đây chúng ta phải đi theo thánh Tông Đồ trong giai đoạn quyết định này của cuộc hành trình. Nếu chúng ta thực sự muốn Phúc Âm hóa hay tái Phúc Âm hóa mình, thì đã đến lúc phải làm như vậy, bằng cách đón nhận nơi chúng ta, với tất cả sức mạnh và sự mới mẻ của nó, trọng tâm của Phúc Âm là sự chết và sự sống lại của Đức Kitô. Như chúng ta biết, trọng tâm này không phải là tổng hợp toàn bộ Phúc Âm, qua một bản tóm lược và tập trung dần dần, nhưng là hạt giống ban đầu, nơi mà tất cả những phần còn lại đã hình thành. Ban đầu có khởi giảng, như chúng ta đọc nó trong những công thức ngắn gọn được đưa vào rải rác trong các tác phẩm của các Tông Đồ. Chưa có các sách Phúc Âm như chúng ta biết hiện nay. Những sách này sau đó đã được viết ra, chính xác là để “hỗ trợ” lời loan báo thiết yếu này và cho thấy hậu cảnh lịch sử, do lời nói và hoạt động trần thế của Đức Giêsu tạo ra.

Trong tinh thần này, trước tiên chúng ta chuẩn bị suy niệm sự chết của Đức Kitô, sau đó sự phục sinh của Ngài. Như các người tân tòng, một tuần sau lễ Phục Sinh, mặc áo trắng, vui vẻ trở lại dưới chân giám mục, để nghe huấn giáo nhiệm tính (catéchèse mystagogique) của ngài, nghĩa là giải thích về những mầu nhiệm cao cả của đức tin, chúng ta cũng trở lại dưới chân mẹ chúng ta là Giáo Hội, không phải một tuần, mà có lẽ nhiều năm sau khi chúng ta đã được rửa tội, để cũng có thể được khai tâm vào những mầu nhiệm cao cả. Chính khi nói với các người tân tòng, trong một hoàn cảnh như thế này, mà tác giả thư thứ nhất của thánh Phêrô đã thốt ra những lời sau đây, những lời cũng áp dụng cho chúng ta ngày nay: “Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ” (1Pr 2,2).

1. Cuộc Khổ Nạn nơi linh hồn Đức Kitô

Có lời chép: “Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa” (x. 1Cr 2,11). Giờ đây, cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô là một bí mật của Thiên Chúa và là một trong những điều bí mật nhất. Chỉ có Thần Khí “ở trong Người”, chứ không ai khác trên trời dưới đất, biết bí mật này, vì sự đau khổ lớn lao đến nỗi chỉ người nào đã chịu mới thực sự biết nó và có thể nói về nó. Bất cứ ai cho rằng mình có thể nói về nó, đều có thể bị vặn: “Bạn đâu có chịu khổ như thế mà biết? Khi đau khổ chuyển từ sự kiện cụ thể sang khái niệm, hoặc sang lời nói, thì nó không còn là đau khổ nữa. Vì vậy, chúng ta phó thác cho Chúa Thánh Thần và khiêm tốn xin Người cho chúng ta nếm thử ít nhất một chút gì đó về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, một vài giọt trong chén thánh của Ngài.

Lời loan báo về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, trong một công thức ngắn gọn ở cuối chương thứ tư, được tiếp tục và khai triển ngay sau đó trong chương thứ năm, bằng những lời sau đây: “Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hẹn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính. Họa may có ai chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta ” (Rm 5,6-8).

Thánh Tông Đồ nói về cuộc Khổ Nạn như thế nào trong bản văn này và nói chung trong thư gửi tín hữu Rôma? Thoạt nhìn, có vẻ như ngài nói về nó một cách hoàn toàn khách quan, gần như từ bên ngoài, như thể về một dữ kiện hiển nhiên và có thể tóm tắt trong một vài từ đã trở nên gần như quy ước, chẳng hạn như “thập giá”, “cái chết”, “máu”. Theo Phaolô, chúng ta được công chính hóa “nhờ máu của Người”, được hòa giải “nhờ sự chết của Con Người” (Rm 5,9 tt), trong bình an “nhờ máu Người đổ ra trên thập giá” (Cl 1,20). Đức Kitô “chết vì những kẻ vô đạo”, “vì chúng ta”. Thánh Tông Đồ nói ngắn gọn (Rm 5,6.8), không dừng lại để giải thích về cách thức và hoàn cảnh của cái chết này, cũng như cái chết này trả giá cho nhân tính của Ngài ra sao. Nhưng cách nói có vẻ dửng dưng về cuộc Khổ Nạn này chỉ là bề ngoài; đó là do văn phong trần trụi của khởi giảng mà thánh Tông Đồ tự ý duy trì khi nói về cuộc Khổ Nạn. Trên thực tế, chính ngài là người bắt đầu lột “vỏ bọc cứng rắn” của các sự kiện và biến cố, và đưa ra ánh sáng những khía cạnh chủ quan và thảm thương nhất trong cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô.

Xa hơn một chút, ngài khẳng định rằng “Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình” (Rm 8,3), như vậy cho thấy ngay ai thật sự là những nhân vật chính của cuộc Khổ Nạn và những hạn từ thật sự của cuộc Khổ Nạn này: Thiên Chúa, tội lỗi, và Đức Giêsu ở giữa hai bên! Đức Giêsu xuất hiện như kẻ bị kết án, kẻ bị nguyền rủa: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta” (2Cr 5,21); Đức Kitô đã trở nên “đồ bị nguyền rủa vì chúng ta” (Gl 3,13).

Những lời quả quyết này bất ngờ đưa chúng ta vào trong một chiều kích hoàn toàn khác, mở ra những chân trời mới và chóng mặt về cuộc Khổ Nạn. Có một cuộc Khổ Nạn trong linh hồn Đức Kitô, đó là… linh hồn của cuộc Khổ Nạn, nghĩa là điều mang lại cho nó giá trị độc nhất và siêu việt. Có những người đã chịu những cực hình về thể xác mà Đức Kitô đã chịu, thậm chí có lẽ còn lớn hơn. Dầu sao, chắc chắn về phương diện thể lý, những nỗi đau mà mọi người phải chịu đựng trong suốt nhiều thế kỷ cộng lại, thì lớn hơn những nỗi đau của Đức Giêsu được xem xét riêng rẽ, trong khi tất cả những nỗi đau và thống khổ của con người cộng lại sẽ không bao giờ đạt tới cuộc Khổ Nạn trong linh hồn Đấng Cứu Thế; ngược lại, chính cuộc Khổ Nạn này chứa đựng chúng, như toàn bộ chứa đựng từng phần. “Chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53,4). Sự khác biệt giữa những đau khổ của chúng ta và của Đức Kitô, trên bình diện thể xác, chỉ là về định lượng (quantitative), nhưng trên bình diện linh hồn, là về định tính (qualitative); khi đó người ta đi vào một loại đau khổ khác, đau khổ của Con Người-Thiên Chúa, mặc dù những đau khổ trước cũng có một giá trị vô biên, vì là những đau khổ của Ngôi Lời.

Trong quá khứ, lòng đạo đức của Kitô giáo chú ý nhiều đến những cực hình về thể xác của Đức Kitô hơn là những cực hình về tinh thần của Ngài, và điều này xẩy ra là do một số dữ kiện rất chính xác, ngay từ đầu, đã ảnh hưởng đến sự phát triển lòng tin và sùng mộ. Để chống lại lạc giáo của những người theo thuyết ảo thân cho rằng Đức Kitô không có thân xác thật và không phải chịu khổ, các Giáo Phụ đã phải kiên quyết nhấn mạnh những đau khổ thực sự của thân xác Đức Kitô; đàng khác, để chống lại lạc giáo Ariô phủ nhận thần tính của Đức Kitô, các ngài phải cảnh giác để không nhấn mạnh những đau khổ của tâm hồn Ngài (chẳng hạn như không biết ngày Quang lâm, lo âu, sợ hãi), vì điều đó dường như làm phương hại đến thần tính đầy đủ của Ngài, được coi là liên kết chặt chẽ với linh hồn và, thậm chí, đôi khi được coi như yếu tố cấu thành linh hồn của Đức Kitô. Một số người đã giải thích chúng bằng cách nại tới ý tưởng về sự “nhượng bộ” (dispensatio), hoặc về phương pháp sư phạm của Thiên Chúa, theo đó Đức Kitô quan tâm trước hết đến việc chỉ cho chúng ta biết phải cư xử thế nào trong những tình huống tương tự[31].

Ngày nay chúng ta có thể đọc Tân Ước với một cái nhìn không vướng vào những mối bận tâm này, và như thế hiểu được một điều gì đó mới mẻ về “lời của thập giá”; đàng khác, một số thành tựu của tư tưởng hiện đại – chẳng hạn như ý tưởng về chủ thể và về hiện sinh – cũng giúp chúng ta theo chiều hướng này. Quả thực, đau khổ không phải là sự kiện của bản tính cho bằng của ngôi vị; nó không thuộc về yếu tính cho bằng thuộc về hiện sinh. Tâm lý học chiều sâu cũng gián tiếp giúp ích. Cuộc Khổ Nạn trong linh hồn Đấng Cứu Thế có được dụng cụ phân tích ít tương xứng nhất, trên bình diện con người, ít hơn nhiều trong vật lý hoặc y học so với trong tâm lý học chiều sâu. Khoa học này gần đây thậm chí còn cố gắng ít nhất xem xét vùng bí ẩn của con người mà Kinh Thánh gọi là “chỗ phân cách tâm với linh”, “cốt với tủy” của hữu thể (x. Dt 4,12).

Vả lại, chúng ta không phải là những người đầu tiên làm công việc này: các thánh và các nhà thần bí, đặc biệt ở phương Tây, đã đi trước chúng ta. Bằng cách làm sống lại nơi mình cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, các ngài đã hiểu – không theo lối phân tích, nhưng bằng kinh nghiệm – đâu là cuộc Khổ Nạn của Đấng Cứu Thế, và do đó, là những hướng dẫn viên bảo đảm nhất trong việc khám phá ra nỗi khổ của Thiên Chúa, như các ngài là những người như thế – như ta đã thấy – trong việc khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa. Các ngài giúp chúng ta hiểu rằng nếu tình yêu của Thiên Chúa là “đại dương vô tận, không bờ không bến”, thì nỗi khổ của Người cũng vậy, “không bến không bờ”.

Kinh Thánh chép rằng ở Giêrusalem có một cái hồ nước chữa bệnh. Khi mặt nước xao động thì ai xuống đó đầu tiên sẽ được lành bệnh (Ga 5,1-4). Giờ đây, chúng ta phải để tinh thần của mình lao xuống  hồ nước hay đại dương này, là cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô. Trong phép rửa, chúng ta được “dìm vào trong cái chết của Người”, “đã cùng được mai táng với Người” (x. Rm 6,3 tt): biến cố đã từng xảy ra một lần theo cách tượng trưng, ​​thì nay phải xảy ra trong thực tế. Chúng ta phải ngụp lặn trong hồ nước cứu độ là cuộc Khổ Nạn, để được đổi mới, tôi luyện và biến đổi. Một trong những nhà thần bí nhắc ở trên, đã viết: “Tôi đã chôn vùi mình trong cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô và tôi hy vọng sẽ được giải thoát trong đó”[32].

Vậy chúng ta hãy bắt đầu “đàng thánh giá” của mình qua cuộc Khổ Nạn trong linh hồn Đức Kitô, lập trong đó ba “chặng”, ba điểm dừng: một ở Ghetsêmani, một ở pháp đình và một ở đồi Canvê. Chúng ta hãy sử dụng đầy đủ những công bố “chính thức”, hay về nguyên tắc, của thánh Tông Đồ bằng nội dung “thực sự”, được các Phúc Âm trình bày cho chúng ta. Đến lượt chúng ta, hãy làm lại hành trình ban đầu của đức tin và giáo lý của Giáo Hội, khi biết rằng các Phúc Âm về cuộc Khổ Nạn đã được viết ra chính là để cho chúng ta thấy những gì đằng sau lời khởi giảng giản lược thời tông đồ: “Người đã chịu khổ hình, chịu chết và được mai táng, thời Phongxiô Philatô”.

2. Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani

Cơn hấp hối của Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani là một sự kiện đã được chứng thực trong các sách Phúc Âm bốn cột, tức là bốn sách Phúc Âm. Thật vậy, Gioan cũng nói về điều đó theo cách riêng của mình, khi ngài đặt lên môi miệng Đức Giêsu những lời này: “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến (lời này nhắc lại lời trong Phúc Âm nhất lãm: tâm hồn Thầy buồn đến chết được), và những lời: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này (nhắc lại lời: “Xin cất chén này xa con”)” (Ga 12,27tt). Chúng ta cũng có một dư âm về điều này trong thư gửi người Do Thái. Thư nói rằng Đức Kitô, khi còn sống kiếp phàm nhân, đã “lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” (Dt 5,7). Thật đáng ngạc nhiên khi một sự kiện ít “mang tính hộ giáo” như vậy lại có một chỗ đứng quan trọng trong truyền thống. Chỉ có đặc tính của một biến cố lịch sử đã được chứng thực mạnh mẽ, vào lúc này trong cuộc đời Đức Giêsu, mới giải thích được sự nổi bật dành cho nó.

Trong vườn Ghếtsêmani, các Tông Đồ thấy mình đứng trước một Đức Giêsu không nhận ra được nữa. Người mà một cử chỉ thôi cũng làm gió ngừng thổi, người lấy uy quyền mà trừ quỷ, người chữa lành mọi tật nguyền, người mà đám đông nghe suốt ngày không biết mệt, thì giờ đây người đó ở trong một tình trạng đáng thương và nài xin cứu giúp. Maccô viết: “Đức Giêsu bắt đầu cảm thấy hãi hùng và xao xuyến, Người nói với các môn đệ: tâm hồn Thầy buồn đến chết được; anh em ở lại đây mà canh thức” (Mc 14,33 tt). Các động từ được sử dụng (admoneinekthambeithai) gợi ra ý tưởng về một người đang vô cùng xao xuyến, sợ hãi, cô đơn, giống như một người cảm thấy bị cắt đứt khỏi thế giới loài người. Đức Giêsu cô đơn, chỉ có một mình, giống như người thấy mình bị treo lơ lửng trong một điểm lạc lõng của vũ trụ, nơi tiếng kêu của mình rơi vào khoảng không, nơi không có một điểm tựa dù là nhỏ nhất: không bên trên cũng không bên dưới, không bên phải cũng không bên trái. Những cử chỉ Đức Kitô thực hiện là những cử chỉ của một người đang trong cơn xao xuyến đến chết được: Người “sấp mình xuống đất”, đứng dậy đi gặp các môn đệ, trở lại quỳ xuống cầu nguyện… nài xin: “Abba, Cha ơi! Cha làm được mọi sự. Xin cất chén này xa con” (Mc 14,36).

Trong Kinh Thánh, hình ảnh chén hầu như luôn gợi lên ý tưởng về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chống lại tội lỗi. “Chén uống choáng váng” như tiên tri Isaia nói (Is 51,22), mà người ta nói tội nhân đã uống “đến không chừa cặn” (Tv 75,9). Sách Khải huyền cũng nói đến “thứ rượu là cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, rượu nguyên chất rót vào chén thịnh nộ của Người” (Kh 14,10). Mở đầu lá thư, thánh Phaolô đã thiết lập một sự kiện có giá trị nguyên tắc phổ quát: “Từ trời, Thiên Chúa mạc khải cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính” (Rm 1,18). Đâu có tội lỗi, đấy chỉ có thể áp dụng sự phán xét của Thiên Chúa chống lại nó, nếu không như thế, tức là Thiên Chúa sẽ chấp nhận thỏa hiệp với tội lỗi, Thiên Chúa ba phải, không còn phân biệt giữa thiện và ác. Thế mà, Đức Giêsu ở Ghêtsêmani là sự vô đạo, tất cả sự vô đạo của thế gian. Ngài là con người “trở thành tội lỗi”. Đức Kitô  đã chết “vì những kẻ vô đạo”, thay cho họ, không chỉ vì lợi ích của họ. Ngài đã chấp nhận trả lời cho mọi người; do đó Ngài là người phải chịu trách nhiệm về mọi việc, là người có tội trước Thiên Chúa! Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa “được mạc khải” chống lại Ngài, và chính đó là “uống chén”. Sự hiểu biết đúng về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô bị bóp méo bởi một nhãn quan bên ngoài về những sự việc, theo đó, một bên là con người với tội lỗi của họ, và bên kia là Đức Giêsu, Đấng chịu khổ và đền bồi cho những tội lỗi này, nhưng đứng yên, ở xa, không hành động. Ngược lại, mối liên hệ giữa Đức Giêsu và tội lỗi không phải là mối liên hệ từ xa, gián tiếp hay chỉ mang tính pháp lý, nhưng gần gũi và rất thật. Nói cách khác, tội lỗi đè nặng lên Ngài, Ngài đã gánh lấy chúng, vì Ngài đã tự do “biến chúng thành của mình”: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể” (1Pr 2,24). Một cách nào đó, Ngài cảm thấy mình là tội lỗi của thế gian. Vậy, vì thiện chí, chúng ta hãy gán một bộ mặt và một cái tên cho thực tại này là tội lỗi, để nó không còn là một ý tưởng trừu tượng đối với chúng ta. Đức Giêsu đã làm thành của mình mọi kiêu ngạo của con người, mọi nổi loạn chống lại Thiên Chúa, mọi dâm đãng, mọi giả hình, mọi bất công, mọi bạo lực, mọi dối trá, mọi căm thù là điều thật khủng khiếp. (Người nào đã từng bị ghét cay ghét đắng, đã cảm nghiệm được những ảnh hưởng của nó đối với mình, người đó hãy nhớ lại lúc này và sẽ hiểu.)

Đức Giêsu bước vào “đêm tối của tâm trí”, bao gồm việc trải nghiệm – đồng thời và theo một cách không chịu nổi – sự gần kề của tội lỗi và do đó, sự xa cách với Thiên Chúa. Chúng ta có hai phương tiện khách quan để ít nhất nhìn về vực thẳm này, nơi giờ đây có Đấng Cứu Thế: một là, bằng lời Kinh Thánh, và đặc biệt các Thánh vịnh, mô tả theo cách tiên tri những đau khổ của người công chính, và theo lời quả quyết của các Tông Đồ cũng như của chính Đức Giêsu, liên quan đến người này; hai là, nhờ kinh nghiệm của các thánh, nhất là các nhà thần bí, những người đã được ơn sống lại cách đau đớn cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô.

Nơi Đức Giêsu, trong vườn Ghếtsêmani, những lời của Isaia 53,5: “người đã bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an”, được thực hiện trọn vẹn. Giờ đây, những lời bí ẩn của biết bao Thánh vịnh được thực hiện, chẳng hạn Thánh vịnh 88: “Cơn giận Chúa đè nặng thân con, như sóng cồn xô đẩy dập vùi. Bao cơn thịnh nộ Ngài đổ ngập thân con, bấy nỗi kinh hoàng khiến con rời rã”. Chúng gợi ra hình ảnh một hòn đảo mà cơn bão đi qua, để lại hoang vu và tàn phá. Điều gì sẽ xảy ra nếu toàn bộ vũ trụ vật chất, với hàng tỉ tỉ thiên thể, chỉ dựa trên một điểm duy nhất, giống như một kim tự tháp khổng lồ bị lật ngược? Điểm này lại không phải chịu áp lực gì sao? Thì này, tất cả vũ trụ đạo đức của lỗi lầm, không kém phần vô hạn so với vũ trụ vật chất, vào lúc đó, đè nặng lên linh hồn Đức Giêsu. Đức Chúa đã đổ trên đầu Ngài tội lỗi của tất cả chúng ta (Is 53,6); Ngài là Chiên Thiên Chúa xóa bỏ tội lỗi trần gian (Ga 1,29). Thập giá đích thực mà Đức Giêsu vác trên vai, vác lên đồi Canvê, và cuối cùng Ngài bị đóng đinh trên đó, chính là tội lỗi!

Vì Đức Giêsu mang tội lỗi nơi mình, nên Thiên Chúa ở xa; hơn nữa, Thiên Chúa là nguyên nhân khiến Ngài đau khổ nhất. Không theo nghĩa Ngài chịu trách nhiệm về tội lỗi, nhưng vì sự kiện đơn giản là tội lỗi tồn tại đưa tội ra ánh sáng khiến nó không thể chịu nổi. Hấp lực vô hạn giữa Chúa Cha và Chúa Con giờ đây bị  một lực đẩy cũng vô hạn như thế cản trở. Sự thánh thiện tối cao của Thiên Chúa va chạm với sự độc ác tối cao của tội lỗi, do đó gây ra một cơn bão không thể diễn tả được trong linh hồn Đấng Cứu Chuộc; giống như trên dãy Alpes, một khối khí lạnh từ phương bắc va chạm với một khối khí nóng từ phương nam, và bầu khí quyển đầy sấm chớp làm cho chính các ngọn núi như giật nẩy lên. Sau những sự kiện đó, chúng ta có còn ngạc nhiên với tiếng kêu phát ra từ môi miệng Đức Kitô: “Linh hồn Thầy buồn đến chết được!” chăng? có còn ngạc nhiên với mồ hôi máu của Ngài chăng? Đức Giêsu đã sống “tình huống giới hạn” theo nghĩa tuyệt đối.

3. Đức Giêsu ở dinh Philatô

Từ Ghétsêmani, giờ đây chúng ta đi đến dinh Philatô. Đây là một đoạn ngắn ven giữa việc kết án và hành hình, vì thế dễ dàng không được chú ý khi đọc các trình thuật về cuộc Khổ Nạn, trái lại, nó có ý nghĩa phong phú. Các Phúc Âm thuật lại cho chúng ta hay, khi Đức Giêsu bị trao vào tay quân lính để bị đóng đinh, họ đưa Ngài vào bên trong dinh và triệu tập cả cơ đội để hành hạ chế nhạo Ngài: “Chúng khoác cho Người một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người. Rồi chúng bái chào Người: ‘Vạn tuế đức vua dân Do Thái. Chúng lấy cây sậy đập lên đầu Người, khạc nhổ vào Người, và quỳ gối bái lậy” (Mc 15,17-19). Xong việc, chúng lột tấm áo điều, mặc lại áo cho Người, và đem Người ra ngoài để đóng đinh.

Có một bức tranh của một họa sĩ Hòa Lan ở thế kỷ XVI (L. Mostaert), bức tranh luôn gây ấn tượng mạnh cho tôi, đặc biệt vì nó chỉ tập hợp dữ kiện của các tác giả Phúc Âm khác nhau về lúc này của cuộc Khổ Nạn, do đó làm cho mắt chúng ta có thể nhìn thấy được  sự việc xẩy ra. Đức Giêsu đội trên đầu một vòng gai mới hái, những lá xanh vẫn còn đeo trên cành cho thấy như thế. Những giọt máu từ trên đầu Ngài chảy xuống, hòa lẫn với những giọt nước mắt. Đức Giêsu khóc rất nhiều; nhưng nhìn vào Ngài, người ta hiểu ngay Ngài không khóc vì mình, nhưng vì những người đang nhìn mình; Ngài khóc vì tôi, người vẫn chưa hiểu sự việc. Chính Ngài sẽ nói với các thánh nữ: “Đừng khóc thương tôi làm gì”. Ngài đã hé miệng, như một người khó thở và đang đau khổ đến chết được. Trên vai, một chiếc áo khoác nặng nề và xơ xác, làm liên tưởng đến kim loại hơn là vải. Nhìn xuống, chúng ta bắt gặp cổ tay của Ngài bị một sợi dây thô trói nhiều vòng; một cây sậy được đặt vào một tay của Ngài và tay kia là một bó gậy, biểu tượng của sự chế nhạo dành cho vương quyền của Ngài. Nhìn đôi bàn tay của Ngài khiến chúng ta rùng mình: Đức Giêsu thậm chí không thể cử động dù chỉ một ngón; Ngài hoàn toàn bất lực, như thể bất động. Khi tôi dừng lại để chiêm ngắm hình ảnh này, nhất là khi sắp đi rao giảng lời Chúa, tâm hồn tôi rất bối rối, vì tôi đo lường được tất cả khoảng cách giữa Ngài và tôi: tôi, người tôi tớ, tự do đến và đi, cột vào và tháo ra; còn Ngài là Chúa, bị trói buộc và cầm tù; Lời thì bị xiềng xích, còn người loan báo Lời lại được tự do!

Đức Giêsu ở dinh Philatô là hình ảnh của người đã “trả lại quyền năng cho Thiên Chúa”. Ngài đã đền bù cho tất cả những hành vi lạm dụng mà chúng ta đã và đang tiếp tục làm, do chúng ta được tự do; sự tự do này mà chúng ta rất tha thiết, lại không là gì khác hơn là sự nô lệ của chúng ta. Chúng ta phải khắc sâu vào tâm trí câu chuyện này về Đức Giêsu ở dinh Philatô, vì đối với chúng ta, cũng sẽ có ngày chúng ta phải sống trong tình trạng này trong thể xác hay trong tinh thần, hoặc do người ta hoặc do tuổi tác; và khi đó chỉ một mình Ngài, Đức Giêsu, sẽ có thể giúp chúng ta hiểu biết và ca ngợi sự tự do mới của chúng ta, qua nước mắt. Có một sự thân mật với Đức Kitô mà chỉ có thể đạt được bằng cách này: ở rất gần Ngài, bên cạnh Ngài, lúc Ngài và chúng ta bị sỉ nhục, bằng cách chính chúng ta cũng gánh vác “nỗi sỉ nhục của Đức Kitô” (x. Dt 13,13). Rất nhiều người suốt đời chỉ ở trong chiếc ô tô nhỏ hoặc nằm trên giường, phải sống với bệnh tật hoặc khuyết tật, sống bất động giống như Đức Kitô. Đức Giêsu mạc khải sự cao cả thầm kín ẩn giấu trong những cuộc sống này, nếu chúng được sống mà kết hợp với Ngài.

4. Đức Giêsu trên thập giá

Giờ đây chúng ta đi tới chặng thứ ba của Đàng Thánh Giá, qua cuộc Khổ Nạn trong linh hồn Đấng Cứu Thế; bằng tinh thần, chúng ta hãy lên đồi Canvê. Ở đó cũng có một cuộc Khổ Nạn hữu hình – những  chiếc đinh, cơn khát, giấm chua, mũi giáo đâm, – sẽ là điều tốt nếu không bao giờ quên; và có một cuộc Khổ Nạn vô hình, sâu sắc hơn nhiều, được hoàn tất nơi thâm sâu nhất của Đức Kitô; được lời Chúa hướng dẫn, giờ đây chúng ta muốn cố gắng nhìn tới cuộc Khổ Nạn này.

Khi viết cho tín hữu Galát, thánh Phaolô nói đã cho họ thấy “những nét của Đức Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá phơi bầy ra trước mắt họ” (Gl 3,1). Đấng bị đóng đinh này, mà ngài đưa ra trước mắt và in sâu vào tâm trí tín hữu trong các cộng đồng mà ngài đã thiết lập, Đấng đó là ai vậy? Thánh Phaolô cho chúng ta hiểu ngay sau đó, trong cùng chương này của thư Galát. Chắc chắn không phải là một Đấng bị đóng đinh được tô hồng. Ngài nói: “Đức Kitô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi, vì chúng ta, chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: “đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ” (Gl 3,13). Phaolô đã không “tô hồng thập giá” đâu! Trong Kinh Thánh, nguyền rủa (katàra) đồng nghĩa với bỏ rơi, trống rỗng, cô đơn, tách khỏi Thiên Chúa và bị dân khai trừ. Đó là một loại vạ tuyệt thông triệt để. Ở một chỗ nào đó của thư Rôma, khi nói về những người Do Thái thuộc chủng tộc của mình, thánh Tông Đồ đưa ra giả thiết đáng sợ về việc chính mình trở thành “người bị vạ tuyệt thông, tách khỏi Đức Kitô, vì anh em mình” (x. Rm 9,3). Điều ngài đã thoáng thấy như một sự đau khổ tột cùng, nhưng đã không phải chịu, thì Đức Giêsu trên thập giá đã thực sự sống nó đến cùng: Người đã thực sự trở thành kẻ bị vạ tuyệt thông, tách khỏi Thiên Chúa, vì anh em mình! Trên thập giá, Ngài đã kêu lên: “Lậy Thiên Chúa, lậy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” (Mt 27,46)

Kinh nghiệm về sự im lặng của Thiên Chúa, được con người hiện đại cảm nhận rất sâu sắc, cũng giúp chúng ta hiểu một điều gì đó mới mẻ về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, miễn là người ta nhớ rằng sự im lặng của Thiên Chúa không giống nhau đối với con người của Kinh Thánh và đối với con người ngày nay. Nếu Thiên Chúa không lên tiếng, con người của Kinh Thánh giống “như kẻ xuống mồ” (Tv 28,1), người đó chết, vì điều làm cho người đó sống là lời Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, con người sống được định nghĩa là người được Chúa ngỏ lời. Người ta đo lường sự thinh lặng của Thiên Chúa theo chính cường độ mà người ta tin vào Người và kêu cầu Người. Sự thinh lặng này hầu như không có ý nghĩa gì đối với người không tin hoặc tin hời hợt. Trái lại, càng tin tưởng nơi Người, càng cầu xin tha thiết, thì sự thinh lặng của Người càng đau đớn. Từ đó, chúng ta có thể đoán được sự thinh lặng của Chúa Cha đối với Đức Giêsu là như thế nào. Những kẻ thù của Ngài dưới chân thập giá chỉ làm cho nỗi đau này thêm trầm trọng, khi coi sự thinh lặng của Thiên Chúa là dấu Thiên Chúa không ở với Ngài. Họ nói với nhau như để cho Ngài nghe: “Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn” (Mt 27,43). Dưới chân thập giá, Đức Maria cũng biết thế nào là sự thinh lặng của Thiên Chúa. Không ai hơn Mẹ có thể coi là của mình lời thưa lên với Chúa Cha, khi nhớ lại lúc Giáo Hội bị bách hại dữ dội: “Lạy Chúa, chịu đựng sự thinh lặng của Chúa ngày hôm đó thật khó biết bao!”

Trên thập giá, Đức Giêsu đã cảm nghiệm đến cùng hệ quả căn bản của tội lỗi, đó là mất Thiên Chúa. Ngài trở thành Người không-Thiên Chúa, người vô thần, không phải thứ vô thần có lỗi, nhưng Ngài bị phạt làm người vô thần, và điều này là để đền bồi cho thứ vô thần có lỗi trên thế giới và nơi mỗi chúng ta, dưới hình thức nổi loạn chống lại Thiên Chúa, thờ ơ với Thiên Chúa (có thứ vô thần tích cực của những người từ chối Thiên Chúa và thứ vô thần tiêu cực của những người bị, hoặc cảm thấy mình bị, Thiên Chúa từ chối). Thực sự, “hình phạt giúp cho chúng ta được bình an, là dành cho Ngài”. Theo một số tiến sĩ Giáo Hội và một số nhà thần bí, Đức Giêsu đã cảm nghiệm nơi chính mình một cách mầu nhiệm hình phạt của kẻ bị kết án, đó là thiếu vắng Thiên Chúa, bất ngờ khám phá ra Thiên Chúa là tất cả, và không có Người thì không thể sống cũng không thể chết, và người ta đã mất Người mãi mãi.

Những gì Đức Giêsu đã cảm nghiệm, khi Ngài bị đóng đinh trên thập giá và trong những giờ sau đó, chúng ta có thể biết, ở một mức độ nào đó, nhờ những người mà Ngài cho phép mang những dấu thánh của Ngài, hằn sâu trong da thịt hoặc trong lòng họ. Chúng ta dễ dàng coi các dấu thánh, mà một số vị thánh đã nhận được, như dấu hiệu nói lên lòng nhân từ của Thiên Chúa, như một đặc ân duy nhất và một loại chiến tích vinh quang, và chúng đúng là như vậy; nhưng người nhận được chúng thì cảm nghiệm được chúng thực sự là gì đối với Đức Kitô, khi Ngài nhận chúng trên đồi Canvê, tức như dấu chỉ sự phán xét khủng khiếp của Thiên Chúa đối với tội lỗi, như một sự “cắt xuyên” (“transfixion”) thực sự vì tội ác của chúng ta. Tôi sẽ luôn nhớ tới ấn tượng khi đọc bản tường thuật, được trưng bầy tại bàn thờ cạnh của San Giovanni Rotondo, cho biết P. Pio Pietrelcina đã mô tả cho cha linh hướng của mình biến cố ngài được in năm dấu thánh chính xác ở nơi này. Ngài đã kết thúc bản tường thuật bằng lời Thánh vịnh, mà ngài coi là lời cầu nguyện của mình: “Lạy Chúa, xin đừng trách mắng con lúc thịnh nộ, đừng sửa trị con lúc nổi lôi đình.” Và người ta đoán ngài phải đọc phần tiếp theo của Thánh vịnh với tâm trí nào: “Trên mình con, những mũi tên Ngài cắm ngập, bàn tay Ngài giáng nặng xuống thân con. Chính vì Chúa giận mà da thịt con không chỗ nào lành…Bị suy nhược, nát tan, kiệt sức, tim thét gào thì miệng phải rống lên…” (Tv 38,2). Đọc bản văn này, người ta cảm nhận được điều gì đó của tấn bi kịch Canvê, không còn cái nhìn phiến diện về biến cố. Có thể thoáng thấy những gì đằng sau những lời của tác giả Thánh vịnh mà chúng ta vừa đề cập: “Sự kinh hoàng của Chúa khiến con không còn là gì” và những lời đó áp dụng cho Đức Kitô như thế nào.

Tất cả những điều đó là cần thiết để “con người do tội lỗi thống trị bị hủy diệt” (Rm 6,6) và để đổi lời nguyền rủa lấy lời chúc lành cho chúng ta (x. Gl 3,13). Ngay từ thời xa xưa nhất, các Giáo Phụ đã áp dụng cho Đức Kitô trên thập giá hình ảnh Kinh Thánh về nước “đắng” ở Mara biến thành nước ngọt, khi tiếp xúc với khúc gỗ mà Môsê đã ném xuống đó (x. Xh 15,23 tt).  Trên cây gỗ thập giá, chính Đức Kitô đã uống nước đắng tội lỗi và biến chúng thành nước ngọt ân sủng. Ngài đã biến đổi tiếng “không” vô cùng lớn của con người đối với Thiên Chúa, thành tiếng “có”, thành tiếng “Amen” còn vô vùng lớn hơn nữa, đến nỗi từ đó trở đi “nhờ Người mà chúng ta hô lên Amen để tôn vinh Thiên Chúa” (x. 2Cr 1,20). Nhưng tất cả những điều đó làm cho linh hồn nhân loại của Đấng Cứu Thế phải trả giá như thế nào, thì không ai có thể biết hoặc mô tả. Không ai biết cuộc Khổ Nạn của Chúa Con ngoại trừ Chúa Cha…

Giờ đây chúng ta hãy dừng lại một chút dưới chân thánh giá, để ôm lấy tất cả cuộc Khổ Nạn trong linh hồn Đức Kitô, và để nhìn thấy sự mới lạ đã được thực hiện trên thế giới qua cuộc Khổ Nạn này. Trong cuộc Khổ nạn, Đức Giêsu đã thực hiện “mầu nhiệm đạo thánh” cao cả (1Tm 3,16): bằng eusebia, lòng đạo đức, Người đã lật đổ asebia, sự vô đạo, như vậy tạo ra tình trạng mới của con người trước mặt Thiên Chúa, điều  mà chúng ta gọi là sự cứu độ.

Sau tội lỗi, sự cao cả của một thụ tạo trước mặt Thiên Chúa hệ tại ở chỗ mang trên mình, từ chính tội lỗi, ít lỗi lầm nhất có thể và nhiều đau khổ nhất có thể. Nói cách khác, nó hệ tại ở chỗ trở thành “con chiên”, tức lễ vật, và “vô tì tích”, tức vô tội. Nó ít hệ tại ở chỗ vô tội hay đau khổ xét riêng rẽ, cho bằng ở chỗ tổng hợp và hiện diện đồng thời của cả hai trong cùng một người. Do đó, giá trị tối cao là sự đau khổ của những người vô tội. Đứng một mình trên đỉnh bậc thang giá trị mới này, là Đức Giêsu Nadarét, Đấng mà Kinh Thánh định nghĩa chính xác là “Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích” (x. 1Pr 1,19). Quả thật, Ngài không hề phạm một tội lỗi nào, đã phải gánh chịu mọi hình phạt của tội lỗi: “Người không hề phạm tội…Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể” (1Pr 2,22.24).

Nói rằng Đức Giêsu mang án phạt của tội lỗi trên mình không có nghĩa là Ngài chỉ mang lấy hình phạt mà thôi, nhưng còn mang lấy một điều gì đó khủng khiếp hơn nhiều, đó là sự quy lỗi. Ngài mang trên mình lỗi mà Ngài không hề phạm. Con người được tạo ra để sống vô tội: lỗi lầm làm cho nó ghê tởm hơn mọi sự, còn hơn cả đau khổ. Không ai muốn phạm tội; nếu đôi lúc có người khoe khoang những lầm lỗi của mình, chính là vì trong thực tế trước đó người ấy đã đảo ngược các giá trị theo ý mình, hoặc tìm những biện minh khác, đến nỗi điều người khác cho là có lỗi, thì người ấy cho là một công trạng. Ở một mức độ nào đó, tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm cay đắng khi bị buộc tội, và có lẽ trong mắt người mà chúng ta quý mến và có cảm tình nhất, khi ấy chúng ta đã biết điều đó gây ra cái gì từ tận đáy lòng. Hàng ngày chúng ta đều thấy rằng thật khó để công khai nhận lỗi, dù chỉ là một lỗi nhẹ, thậm chí là lỗi thật, mà không cố gắng bảo vệ mình. Khi đó, chúng ta có thể hiểu vực thẳm ẩn chứa trong sự kiện Đức Giêsu bị “quy lỗi” trước mặt Cha Ngài về mọi tội lỗi trên thế giới. Đức Giêsu đã trải nghiệm, ở một mức độ cao nhất, nguyên nhân khủng khiếp nhất, triệt để nhất và phổ biến nhất gây ra đau khổ cho con người: cảm thức tội lỗi. Chính vì thế sự đau khổ này cũng được cứu chuộc tận gốc rễ của nó.

Vậy, điều vĩ đại nhất trên thế giới không phải là đau khổ chính đáng, nhưng là “đau khổ bất công”, theo cách gọi của thư thứ nhất thánh Phêrô (x. 1Pr 2,19). Nó quá vĩ đại và quý giá vì chỉ có nó mới tiếp cận cách Thiên Chúa chịu đau khổ. Chỉ mình Thiên Chúa, nếu Người đau khổ, mới có thể đau khổ một cách vô tội và do đó một cách bất công. Mọi người khi đau khổ đều phải nói như người trộm lành trên thập giá: “Chúng tôi chịu như thế này là đích đáng”; riêng về Đức Giêsu, người ta phải nói, theo nghĩa tuyệt đối, điều người trộm lành còn nói: “Ông này đâu có làm điều gì sai trái!” (x. Lc 23,41).

Đây cũng là điểm khác biệt chính mà thư Do Thái nhận thấy giữa hy lễ của Đức Kitô và hy lễ của bất cứ tư tế nào khác: Đức Giêsu không có nhu cầu “mỗi ngày phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân” (Dt 7,27). Khi người đau khổ không có tội cá nhân để đền bồi, sự đau khổ của người đó chuyển thành sức mạnh thuần túy đền bồi; không mang nơi mình dấu vết buồn bã của tội, âm sắc của sự đau khổ này thuần khiết hơn và giọng của nó “hùng hồn” hơn. Đó là tiếng nói của máu Abel ngày xưa (x. St 4,10; Dt 12,24). Điều mà trong con mắt của thế giới là cớ vấp phạm lớn nhất và không thể vượt qua – nỗi đau của những người vô tội – trước mặt Thiên Chúa lại là sự khôn ngoan và công bình vĩ đại nhất. Đó là một mầu nhiệm, nhưng chính như thế, và về phương diện này, mà Thiên Chúa dường như lặp lại với chúng ta điều Đức Giêsu nói trong Phúc Âm: “Ai hiểu được thì hiểu”.

5. “Vì chúng ta”

Suy niệm về cuộc Khổ Nạn không thể giới hạn vào việc tái tạo biến cố một cách khách quan và lịch sử, cho dù việc tái tạo này có thể được nội tâm hóa, như chúng ta đã cố gắng thực hiện cho tới đây. Nếu như vậy, là sẽ dừng lại giữa chừng. Khởi giảng, hay loan báo, về cuộc Khổ Nạn, ngay cả trong những công thức vắn nhất, luôn bao gồm hai yếu tố: một sự kiện: “Ngài chịu khổ”, Ngài chịu chết”, và động cơ của sự kiện: “vì chúng ta”, “vì tội lỗi chúng ta”. Thánh Tông Đồ nói: “vì tội lỗi chúng ta” (Rm 4,25); Ngài chết “vì những kẻ vô đạo”, Ngài chết “vì chúng ta” (Rm 5,6.8). Luôn là như thế. Điểm thứ hai này không ngừng lộ ra lác đác trong suốt những suy tư trước, nhưng như thể thoáng qua thôi. Bây giờ đã đến lúc đưa nó ra ánh sáng đầy đủ và chúng ta tập chú vào nó. Cuộc Khổ Nạn trước sau vẫn xa lạ với chúng ta, cho đến khi, qua cánh cửa nhỏ rất hẹp “vì chúng ta” này, chúng ta thâm nhập vào bên trong, vì chỉ người nào công nhận đó là công trình của Ngài, người đó mới thực sự biết cuộc Khổ nạn.

Nếu Đức Kitô chết “vì tôi” và “vì tội lỗi tôi”, thì điều đó có nghĩa là – chỉ cần đổi câu thành thể năng động – tôi đã giết Đức Giêsu Nadarét, tội lỗi tôi đã nghiền nát Ngài. Đây là điều mà Phêrô mạnh mẽ tuyên bố trước ba ngàn thính giả, trong ngày lễ Ngũ Tuần: “Anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi”; “Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính” (x. Cv 2,23; 3,14); thánh Phêrô phải biết rõ ba ngàn người này, và những người khác mà ông đưa ra cùng một lời buộc tội, không phải tất cả đều có mặt trên đồi Canvê, đều tham gia vào việc đóng đinh, cũng như xin Philatô cho đóng đinh Đức Giêsu. Tuy nhiên, ông lặp lại ba lần lời khủng khiếp này, và những người nghe, được Chúa Thánh Thần tác động, nhận ra rằng lời đó cũng đúng với họ, vì có lời chép rằng “Họ đau đớn trong lòng, và hỏi Phêrô cùng các Tông Đồ khác: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2,37).

Điều này chiếu một luồng sáng mới vào những gì chúng ta đã suy niệm cho tới lúc này. Ở vườn Ghếtsêmani cũng chính tội lỗi của tôi – tội này mà tôi biết – đã đè nặng lên tâm hồn Đức Giêsu; ở dinh Philatô, cũng chính sự lạm dụng quyền tự do của tôi đã khiến Ngài bị trói; trên thập giá, cũng chính chủ nghĩa vô thần của tôi mà Ngài đã đền bồi. Đức Giêsu biết điều đó, ít nhất với tư cách là Thiên Chúa, và có lẽ có một ai vào lúc đó, đặt nó trước mắt Ngài, trong một nỗ lực tuyệt vọng ngăn cản Ngài và khiến Ngài bỏ cuộc.

Có lời chép rằng, sau những cơn cám dỗ trong hoang địa, Satan đã bỏ đi, chờ đợi thời cơ thuận tiện (x. Lc 4,12) và chúng ta biết rằng đối với thánh sử, “thời cơ thuận tiện” này là giờ Khổ Nạn, “giờ của bóng tối, như chính Đức Giêsu gọi thế lúc bị bắt (x. Lc 22,53). “Thủ lãnh thế gian đang đến”, Ngài nói lúc ra khỏi phòng Tiệc ly để đi vào cuộc Khổ Nạn (Ga 14,30 tt). Ở hoang địa, tên cám dỗ chỉ cho Ngài thấy tất cả các vương quốc trần gian, ở đây, hắn chỉ cho Ngài thấy mọi thế hệ của lịch sử, kể cả thế hệ của chúng ta, và kêu gọi Ngài trong lòng: Hãy nhìn đi, nhìn đi, ông đang chịu khổ vì ai! Hãy nhìn xem họ sẽ làm gì với tất cả những đau khổ của ông! Họ sẽ tiếp tục phạm tội như mọi khi, không một chút lo lắng. Tất cả đều vô ích! Và, than ôi, chắc rằng chính tôi, tôi cũng ở đó, trong đám đông không một chút lo lắng này, tôi thậm chí có khả năng viết những điều này về cuộc Khổ Nạn của Ngài mà vẫn vô cảm, mà lẽ ra phải nói về nó trong nước mắt. Tôi nghe văng vẳng bên tai những lời và nhạc của một bài thánh ca da đen, đầy lòng tin, nói thế này: “Bạn có ở đó không, bạn có ở đó không, khi họ đóng đinh Chúa?”, và trong thâm tâm, tôi buộc mỗi lần phải trả lời: Phải, tôi cũng ở đó, tôi cũng ở đó, khi họ đóng đinh Chúa. Và phần tiếp theo của bài hát này cũng thật: “Đôi khi hẳn có điều gì đó để run sợ, run sợ, vẫn còn run sợ.”

Trong cuộc đời của mỗi người, một ngày nào đó phải xảy ra một loại trận động đất, và điều gì đó phải xảy ra trong lòng anh ta như đã xảy ra trong thiên nhiên theo cách cảnh cáo, vào lúc Đức Kitô qua đời, khi màn trong Đền thờ xé ra từ trên xuống dưới, những tảng đá vỡ ra và các mồ mả mở tung. Lòng kính sợ thánh đối với Thiên Chúa phải dứt khoát làm vỡ tan lòng dạ cao ngạo và dù sao cũng vững tin nơi mình. Tất cả những người “ngoan đạo” tham dự cuộc Khổ Nạn nêu gương và khuyến khích chúng ta theo hướng này: người trộm lành kêu lên: “Xin nhớ đến tôi!”, viên đại đội trưởng tôn vinh Thiên Chúa, đám đông đấm ngực (x. Lc 23,39 tt).

Bản thân Tông Đồ Phêrô cũng có một kinh nghiệm tương tự, và nếu ngài đã có thể nói to lên những lời khủng khiếp này trước đám đông, chính vì trước tiên ngài đã nói to với chính mình: “Chính ngươi, ngươi đã chối bỏ Đấng công chính và Đấng Thánh!”. Chúng ta đọc thấy một sự kiện trong trình thuật cuộc Khổ Nạn: “Chúa quay lại, đăm đăm nhìn Phêrô. Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,61 tt). Cái nhìn của Đức Giêsu đã đâm thấu Phêrô, làm ông xáo động. Những lời này của Luca làm tôi liên tưởng đến một cảnh tượng. Hãy hình dung hai tù nhân trong một trại tập trung. Một trong hai người, chính là bạn, đã cố gắng bỏ trốn dù biết rằng điều đó sẽ dẫn đến án tử hình. Người đồng hành của bạn bị buộc tội thay cho bạn, trước sự hiện diện của bạn, và anh im lặng; anh bị tra tấn trước sự chứng kiến ​​​​của bạn, và anh im lặng. Cuối cùng, khi bị giải đến nơi hành quyết, chỉ một lúc anh quay lại và im lặng nhìn bạn, không một chút trách móc. Về nhà, có bao giờ bạn sẽ như trước chăng? Bạn sẽ quên được ánh mắt đó chăng? Đã bao lần, khi nghe nói hoặc chính tôi nói về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, hoặc nhìn vào hình ảnh Đức Giêsu ở pháp đình, được gợi ra ở trên, tôi hầu như giận dữ mà lặp lại với chính mình câu thơ nổi tiếng trong Địa Ngục của Dante Alighieri: “Nếu bạn không khóc, thì bạn sẽ khóc về cái gì?”

Sự mập mờ bắt nguồn từ việc chúng ta coi cuộc Khổ Nạn một cách vô thức như một biến cố xảy ra cách đây đã hai ngàn năm, và được khép lại mãi mãi. Liệu chúng ta có thể xúc động và khóc lóc cho một biến cố đã xảy ra cách đây hai ngàn năm? Ta chỉ có thể đau khổ khi sự kiện làm ta đau khổ đang xẩy ra, chứ không phải khi nhớ về nó. Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô chỉ có thể được chiêm ngưỡng như những người đương thời. Tuy nhiên, các bậc thầy tư tưởng đã viết rằng “Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô tiếp tục cho đến ngày sau hết” và “Đức Kitô sẽ còn hấp hối cho đến tận thế”[33].

Vô số người, ngay cả ngày nay, cảm thấy Ngài vẫn còn đau khổ, Ngài sẽ ở trên thập giá, chừng nào còn tội lỗi trên thế giới, vả lại, chính Kinh Thánh đã nói rằng những người phạm tội là “đã tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa” (Dt 6,6).

Tất cả điều đó là sự thật, không chỉ là một cách nói. Trong Thần Khí, Đức Giêsu vẫn ở trong vườn Ghếtsêmani, trong pháp đình, trên thập giá, và không chỉ trong thân xác mầu nhiệm của Ngài – những người đau khổ, những người bị cầm tù hoặc bị giết – nhưng, theo một cách mà chúng ta không thể giải thích được, ngay cả trong chính con người của Ngài. Điều này đúng, không phải “bất chấp” sự sống lại, nhưng, ngược lại, chính xác “vì” sự sống lại đã làm cho Đấng Chịu Đóng Đinh trở thành “Đấng Hằng Sống muôn đời”. Sách Khải huyền trình bày cho chúng ta Con Chiên ở trên trời trong tư thế “đứng”, nghĩa là sống lại và đang sống, nhưng “như thể đã bị giết” (x. Kh 5,6).

Nhờ Thần Khí của Ngài mà Ngài đã ban cho chúng ta, chúng ta trở nên những người đồng thời với Đức Kitô, cuộc Khổ Nạn của Ngài xẩy ra “hôm nay” như phụng vụ nói. Khi suy niệm cuộc Khổ Nạn, chúng ta ở trong tình huống của một người con, sau nhiều năm, bỗng nhiên thấy cha trở về, người đã vì lỗi của anh mà bị kết án, bị đầy biệt xứ, chịu đủ mọi thứ ngược đãi, bây giờ đứng trước mặt anh, trong im lặng, mang trên thân thể những dấu vết của sự ngược đãi có thể nhìn thấy được, mà ông đã phải chịu. Đúng là bây giờ mọi chuyện đã qua, người cha đã trở về nhà, không còn đau khổ nữa, nhưng liệu người con có vì thế mà thản nhiên chăng? Hay anh ta lại không bật khóc, gieo mình dưới chân cha, khi cuối cùng anh nhìn thấy tận mắt những gì mình đã làm chăng? Trong Phúc Âm Gioan, chúng ta đọc thấy câu: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37) và lời tiên tri được trích dẫn tiếp tục như sau: “Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu, như người ta khóc than đứa con một. Chúng sẽ thương tiếc, như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng” (Dcr 12,10). Tất cả việc suy niệm về cuộc Khổ Nạn, vốn đã tràn ngập lịch sử Giáo Hội và làm nên biết bao vị thánh, đều lấy đó làm nền tảng; cuộc Khổ Nạn ứng nghiệm lời tiên tri này. Trong cuộc đời tôi, lời tiên tri này có được đôi lúc thực hiện chăng? Phải chăng nó vẫn đang chờ đợi để được thực hiện? Tôi đã bao giờ nhìn lên Đấng bị đâm thâu chưa?

Đã đến lúc câu “được rửa tội trong cái chết của Đức Kitô” cũng được thực hiện trong cuộc sống của chúng ta, đã đến lúc một cái gì đó của con người cũ rời khỏi chúng ta, và vĩnh viễn chôn vùi trong cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô. Con người cũ với những ham muốn xác thịt phải bị “đóng đinh với Đức Kitô”. Một điều gì đó mạnh mẽ hơn đã xảy ra, làm nó sợ chết khiếp và buộc nó phải buông bỏ (như xảy ra lúc bị điện giật) tất cả những gắn bó và những phù phiếm của nó. Thánh Phaolô kể lại kinh nghiệm của ngài về vấn đề này khi ngài nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Không còn là tôi sống, tức là cái “tôi” của tôi không còn sống nữa. Phải chăng Phaolô đã không còn bị con người cũ thúc giục hay cám dỗ gì nữa? Có phải bây giờ ngài đang sống trong hòa bình thời cánh chung, không có đấu tranh chăng? Không phải, vì chính ngài thú nhận cuộc đấu tranh bên trong giữa luật xác thịt và luật Thần Khí (x. Rm 7,14 tt), vả lại, chính chúng ta có thể thấy điều đó khi đọc các thư của ngài. Nhưng một điều gì đó không thể đảo ngược đã xảy ra, nhờ đó ngài có thể nói rằng cái “tôi” của ngài không còn sống nữa; ngài tự do chấp nhận đánh mất cái “tôi”, phủ nhận chính mình; còn nữa, dù cái “tôi” có sống và có lồng lộn lên, thì từ nay về sau nó vẫn là kẻ bại trận. Điều đáng kể đối với Thiên Chúa ở bình diện này là ý muốn, bởi vì điều này liên quan chính xác đến ý muốn. Đó là điều chúng ta cũng phải làm để được “đóng đinh với Đức Kitô”.

Do đó, kết quả của việc suy niệm về cuộc Khổ Nạn là giết chết con người cũ và làm sinh ra con người mới sống theo Thiên Chúa; nhưng hiệu quả thứ hai này – bước đi “trong đời sống mới” – có liên hệ trực tiếp hơn với sự sống lại của Đức Kitô; vì vậy chính cái chết của con người cũ là kết quả của cuộc suy niệm này. Trong đó diễn ra “sự dừng lại” và “sự đảo ngược xu hướng” mà việc chôn vùi trong phép rửa tội là biểu tượng. Thánh Basiliô viết: “Sự tái sinh là nguyên lý của một cuộc sống mới. Nhưng để bắt đầu cuộc sống thứ hai này, cần phải chấm dứt cuộc sống thứ nhất. Cũng như trong “cuộc đua lượt đi lượt về” ở thao trường, có  một lúc ngừng nghỉ giữa hai lượt, cũng vậy, khi người ta đổi đời, dường như cần phải có một cái chết xẩy ra, để chấm dứt cuộc sống trước và bắt đầu cuộc sống sau”[34].

6. “Ước gì tôi chẳng hãnh diện điều gì hơn”

Sau khi đi qua phép rửa mới trong cái chết của Đức Kitô, phép rửa của khát khao và quyết tâm, chúng ta thấy thập giá và cái chết của Đức Kitô hoàn toàn thay đổi ý nghĩa: từ chỗ tố giác chúng ta, làm chúng ta sợ hãi và đau buồn, giờ đây lại làm cho chúng ta vui mừng và an toàn. Thánh Tông Đồ thốt lên: “Giờ đây những ai ở trong Đức Kitô Giêsu, thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8,1): sự lên án đã cạn kiệt sức mạnh đối với Ngài, nhường chỗ cho lòng nhân từ và tha thứ.

Thập giá giờ đây xuất hiện như là “vinh dự”, là “vinh quang”, nghĩa là, theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, như một sự an toàn tưng bừng, kèm theo một sự biết ơn đầy xúc động, cho tới chỗ con người vươn tới sự biết ơn đó trong đức tin, và sự biết ơn đó được diễn tả trong lời ngợi khen và hành động tạ ơn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Làm sao chúng ta có thể hãnh diện về một thứ không thuộc về chúng ta? Chính vì bây giờ cuộc Khổ Nạn đã trở thành “của chúng ta”. Kiểu nói “vì chúng ta”, từ chỗ có nghĩa chỉ lý do, đã trở thành bổ ngữ chỉ sự ưu ái. Nếu trước đây nó có nghĩa là “vì tội của tôi” (dia, propter, như chúng ta đọc trong các bản văn), thì bây giờ, sau khi khiêm tốn thừa nhận lỗi lầm và đã xưng thú nó, nó có nghĩa là “có lợi cho tôi” (hyper, pro, như chúng ta đọc những lần khác trong các bản văn). Có lời chép rằng người chưa biết tội lỗi, thì Thiên Chúa biến thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để chúng ta có thể trở nên sự công chính của Thiên Chúa (x. 2Cr 5,21). Đây là sự công chính mà thánh Tông Đồ đã nói: “Nhưng ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã tỏ hiện” (Rm 3,21). Đây là điều đã tạo ra – và tiếp tục tạo ra – khả năng thực hiện “cú táo bạo” đã đề cập ở trên. Quả thực, khi mà về phía chúng ta, đức tin được thêm vào cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, thì chúng ta thực sự trở thành những người công chính của Thiên Chúa, các thánh của Người, các kẻ Người yêu. Đối với chúng ta, Thiên Chúa trở nên Đấng mà Người đã tiên báo: “Đức Chúa, sự công chính của chúng ta” (Gr 23,6).

Giờ đây, chúng ta có thể không sợ mà mở lòng đón nhận chiều kích vui mừng và thần khí này của thập giá, nơi thập giá không còn là sự “điên rồ và cớ vấp phạm” nữa, nhưng ngược lại, là “sức mạnh của Thiên Chúa và khôn ngoan của Thiên Chúa”. Chúng ta có thể biến nó thành lý do khiến chúng ta có được sự chắc chắn không thể lay chuyển, thành bằng chứng tối cao về tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta, thành chủ đề vô tận để loan báo. Cả chúng ta nữa, có thể nói như thánh Tông Đồ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

 

5
NGÀI ĐÃ ĐƯỢC THIÊN CHÚA LÀM CHO SỐNG LẠI ĐỂ CHÚNG TA ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH
Sự Phục Sinh của Đức Kitô, nguồn hy vọng của chúng ta

Thiên thần hiện ra với các phụ nữ buổi sáng ngày Phục Sinh đã nói với các bà: “Đừng hoảng sợ. Các bà tìm Đức Giêsu Nadaret, Đấng bị đóng đinh chứ gì? Người đã trỗi dậy rồi” (Mc 16,6).

Ngài đã trỗi dậy, đã sống lại! Ngài đang sống! Lời loan báo về sự Phục Sinh càng hữu hiệu và thuyết phục, khi mà ngay cả ngày nay, nó gần với hình thức nguyên thủy, rất đơn giản và mang tính khởi giảng này.

Chúng ta có thể tưởng tượng những gì đã xảy ra ngay sau đó. Những phụ nữ vội vã xuống thành phố qua những ngọn đồi, dùng tay nâng váy để chạy nhanh hơn. Tất cả đều thở hổn hển, đi vào nhà Tiệc ly. Trước khi họ mở miệng, mọi người nhìn họ đều hiểu rằng đã xẩy ra chuyện gì đó lạ lùng. Các phụ nữ bắt đầu cùng nhau kêu lên:  Thầy chúng ta sống lại rồi, sống lại rồi! Ngôi mộ, ngôi mộ… Nó trống rỗng!” Tin tức quá bùng nổ khiến cho những phụ nữ đáng thương này không thể ở yên, hoặc không thể nói một cách bình tĩnh và có trật tự. Có lẽ các Tông Đồ đã phải to tiếng để họ bình tĩnh lại và nói rõ đã xảy ra việc gì. Nhưng trong lúc đó các ông cũng rùng mình; sự hiện diện của yếu tố siêu nhiên đã choán đầy căn phòng và tất cả những người ở đó.

Kể từ lúc này, thế giới sẽ không còn như trước. Tin mừng về sự Phục Sinh của Đức Kitô đã bắt đầu lan truyền như thế suốt dòng lịch sử, giống như một làn sóng yên ả và uy nghiêm, không gì và không ai có thể ngăn cản được.

Seraphin Sarov, vị thánh được người Nga yêu mến nhất, sau nhiều năm sống trong rừng, không thốt ra một lời nào, ngay cả với người anh em thỉnh thoảng mang thức ăn cho ngài, và khi kết thúc thời gian dài im lặng này, ngài đã được Thiên Chúa gửi trở lại giữa đám người, và sau đó khi gặp những người đang tuốn đến đan viện mỗi lúc một đông, ngài rất nhiệt tình kêu to: “Niềm vui của tôi là Đức Kitô đã sống lại!” Lời đơn sơ này, do ngài thốt ra, đủ để thay lòng đổi dạ người nghe và cả thế giới quanh. Ngài có giọng nói như thiên thần. Cả tôi nữa, khi coi những lời của vị thánh này là của mình, tôi nói với bạn, người đã đi theo cuộc hành trình này cho đến nay, băng qua đêm tối của cuộc Khổ Nạn: “Niềm vui của tôi là Đức Kitô đã sống lại!”

Những gì “vụ nổ lớn” ban đầu đã xảy ra với vũ trụ vật chất – theo những khám phá gần đây –, khi một vật chất nhỏ bắt đầu chuyển hóa thành năng lượng, do đó khởi đầu cho mọi chuyển động giãn nở của vũ trụ, vẫn còn tiếp tục sau hàng tỷ năm, thì sự Phục Sinh của Đức Kitô cũng như vậy, liên quan đến vũ trụ tinh thần. Quả thực, tất cả những gì hiện hữu và sống động trong Giáo Hội – các bí tích, các lời, các định chế – đều có được sức mạnh từ sự Phục Sinh của Đức Kitô. Sự Phục Sinh này là lúc mà sự chết biến thành sự sống, lịch sử biến thành cánh chung. Đó là sáng tạo mới, vì vậy phụng vụ khắc sâu trong tâm trí chúng ta khi chọn câu chuyện về việc tạo dựng trong sách Sáng thế, chương 1, làm bài đọc 1 trong Đêm Vọng Phục Sinh. Đó là lời “fiat lux” (hãy có ánh sáng!) mới, được Thiên Chúa công bố. Tôma dùng ngón tay chạm vào nguồn mọi năng lực thiêng liêng là thân thể của Đấng Phục Sinh, và nhận được từ đó một sức “bắn ra” đến nỗi ngay lúc đó ông hết nghi ngờ và đầy tin tưởng mà thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Trong hoàn cảnh này, chính Đức Giêsu đã nói với Tôma là có một cách chạm đến Ngài còn có phúc hơn, đó là đức tin: “Phúc cho những người không thấy mà tin” (Ga 20,29). Vậy “ngón tay” mà chúng ta có thể chạm vào Đấng Phục Sinh là đức tin; và giờ đây chúng ta phải giơ ngón tay này ra, với niềm khao khát mãnh liệt nhận được ánh sáng và sức mạnh nhờ sự tiếp xúc này.

1. “Nếu lòng bạn tin rằng…”

Hai con đường mở ra trước lời loan báo về sự Phục Sinh của Đức Kitô: con đường giải thích (hay, như các học giả nói, chú giải) và con đường đức tin. Con đường thứ nhất dựa trên nguyên tắc: hiểu để tin, con đường thứ hai dựa trên nguyên tắc: tin để hiểu. Tự chúng, hai con đường này có thể dung hòa với nhau, nhưng sự khác biệt vẫn đáng kể và, trong một số trường hợp cực đoan, có thể đi đến chỗ loại trừ nhau và các định hướng đối nghịch nhau. Những gì đã được viết trong thời gian gần đây về sự Phục Sinh, sau khi lý thuyết giải thần thoại hóa ra đời, phần lớn là ở bình diện giải thích. Người ta cố gắng làm sáng tỏ ý nghĩa của lời: “Ngài đã sống lại”, hay của lời: “Ngài đã xuất hiện”; có phải là vấn đề khẳng định mang tính lịch sử, thần thoại hay cánh chung chăng? Đức Kitô đã sống lại trong lịch sử hay trong khởi giảng, đó có phải là con người của Đấng Phục Sinh hiện đang sống trong Giáo Hội, hay chỉ là sự nghiệp của Ngài? Khi được thực hiện với đức tin và sự khiêm tốn, nỗ lực này rất có giá trị; nó dẫn chúng ta vượt ra ngoài một số cách trình bày thô thiển về sự Phục Sinh, vốn không thể chấp nhận được đối với con người ngày nay; do đó, nó tạo thuận lợi cho việc thanh tẩy chính đức tin.

Nhưng rủi ro khi đi trên con đường này thì lớn; đó là việc không bao giờ thực hiện bước tiếp theo, là cú nhảy của đức tin. Nếu người ta tự phụ muốn hiểu để tin, mà vì sẽ không bao giờ có thể hiểu hoàn toàn sự Phục Sinh – bởi đó không phải là công việc của con người, nhưng là của Thiên Chúa toàn năng – thì cuối cùng người ta sẽ trì hoãn vô thời hạn thời điểm tin, và người ta sẽ không bao giờ tin. “Đức tin muốn nhường chỗ cho Đấng Tuyệt Đối, trong khi lý trí muốn theo đuổi suy tư”. (S. Kierkegaard) Và điều đó giải thích rất nhiều chuyện về tình trạng tranh luận thần học hiện nay xung quanh sự Phục Sinh của Đức Kitô. Hễ còn có người đi tìm chân lý, thì nhân vật chính là người đó, người đi tìm, chính người đó dẫn dắt cuộc chơi. Với những điều kiện này, người duy lý chấp nhận thậm chí dành cả cuộc đời để diễn thuyết về chủ đề Thiên Chúa. Nhưng ngược lại, khi chân lý đã được công nhận, thì chính chân lý lên ngôi, và kẻ đã đặt nó lên ngai phải là người đầu tiên quỳ gối trước nó. Và đó là điều ít người sẵn sàng làm.

Con đường chắc chắn nhất và có lợi nhất là con đường thứ hai: tin để rồi hiểu… rằng người ta không thể hiểu! Kết thúc sách Phúc Âm của mình, ngay sau trình thuật về các lần hiện ra của Đấng Phục Sinh, Gioan viết: “Những điều chép ra đây (những dấu lạ đó) là để anh em tin” (Ga 20,31); ngài không nói: để anh em giải thích, nhưng để anh em tin. Do đó, chúng ta chọn ngay con đường đức tin, con đường mà thánh Tông Đồ đề nghị cho chúng ta trong thư của ngài. Chính bằng cách này mà ngay từ đầu, lời loan báo về sự Phục Sinh của Đức Kitô đã hoán cải con người, làm thay đổi thế giới và khai sinh Giáo Hội: không phải vì được giải thích và chứng minh một cách khoa học, nhưng vì được công bố “trong Thần Khí và quyền năng”. Đó là một dữ kiện cụ thể không thể chối cãi, mà người ta không bao giờ để ý cho đủ.

Lời loan báo: “Đức Giêsu đã được Thiên Chúa làm cho sống lại, để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25) được thánh Phaolô lấy lại và khai triển, đặc biệt trong chương thứ mười của thư Rôma. Ngài viết: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,9). Vậy ơn cứu độ tùy thuộc niềm tin vào sự sống lại. Vả lại, ngài nói con người cũng sống lại “vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Đức Giêsu trỗi dạy từ cõi chết” (x. Cl 2,12). Thánh Augustinô bình giải: “Qua cuộc Khổ Nạn, Chúa đã từ cõi chết bước vào cõi sống, mở đường cho chúng ta là những kẻ tin vào sự sống lại của Ngài, để chúng ta cũng được vào cõi sống”. Làm cuộc vượt qua tức là vượt qua sự chết đến sự sống, chính là tin vào sự sống lại. Thánh nhân nói tiếp: “Tin Đức Giêsu đã chết không phải là điều quan trọng; ngay cả những người ngoại giáo, những người Do Thái và những người vô đạo cũng tin như thế; mọi người đều tin như thế. Nhưng điều thực sự quan trọng là tin rằng Ngài đã sống lại. Đức tin của người Kitô hữu chính là sự sống lại của Đức Kitô”[35]. Cái chết của Đức Kitô, tự nó,  không phải là bằng chứng đủ cho thấy sự thật về sự nghiệp của Ngài, nhưng chỉ cho thấy sự kiện là Ngài đã tin vào sự thật này. Đã có những người chết cho một sự nghiệp sai lầm hoặc thậm chí bất chính, tin cách sai lầm nhưng thực tâm, rằng sự nghiệp đó là tốt. Cái chết của Đức Kitô là bằng chứng tối cao về lòng bác ái của Ngài, điều đó đúng (kể từ lúc “không có tình yêu lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình cho những người mình yêu”), nhưng không phải bằng chứng cho sự thật của Ngài. Chỉ có sự Phục Sinh mới là bằng chứng tương xứng cho sự thật này. Quả thực, tại Aêrôpagô, thánh Phaolô nói rằng Thiên Chúa đã ban cho mọi người “một bảo đảm” về Đức Giêsu, bằng cách cho Ngài sống lại từ cõi chết (Cv 17,31); theo nghĩa đen: Thiên Chúa “tạo niềm tin” (pistis) về Đức Giêsu, chứng thực cho Đức Giêsu. Sự sống lại như một dấu ấn thần linh mà Chúa Cha đóng vào cuộc đời, cái chết, lời nói và việc làm của Đức Giêsu. Phục Sinh là “Amen” của Ngài, tiếng “có” của Ngài. Khi hấp hối, Đức Giêsu đã thưa “vâng” với Cha mình, vâng lời Người cho đến chết; khi cho Ngài sống lại, Chúa Cha đã nói “có” với Con mình, đặt Ngài làm Chúa.

2. “Đức tin là nhờ nghe giảng”

Nếu tin vào sự Phục Sinh có tầm quan trọng như thế, đến nỗi mọi sự trong Kitô giáo đều phụ thuộc vào đó, thì lập tức chúng ta tự hỏi: làm thế nào để có được đức tin này và lấy nó từ đâu? Câu trả lời của thánh Phaolô rất rõ ràng, minh bạch: từ việc lắng nghe: Fides ex auditu! (Rm 10,17). Niềm tin vào sự Phục Sinh triển nở khi có lời công bố nó. Đây là điều kỳ lạ và duy nhất trên thế giới. Nghệ thuật được sinh ra từ cảm hứng; triết học, từ lý luận; kỹ thuật, từ tính toán và thí nghiệm. Chỉ có đức tin là từ việc lắng nghe. Trong tất cả những gì đến từ con người, đầu tiên có tư tưởng và sau đó là lời diễn tả nó, nhưng trong những gì đến từ bên ngoài con người, từ Thiên Chúa, thì lại xẩy ra điều ngược lại; đầu tiên là lời và sau đó là tư tưởng nhờ đó người ta tin, hoặc làm nên thần học. Chính vì vậy con người không thể cho mình đức tin; điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào một biến cố, một ân huệ, tùy thuộc vào việc người ta nghe một cách nào đó lời sau đây: “Ngài đã sống lại”, là lời, đến lượt mình, lại được công bố cách nào đó.

Nhưng sức mạnh của lời loan báo: “Ngài đã sống lại,” để làm phát sinh đức tin và làm người ta đi vào một thế giới mới, sức mạnh đó từ đâu mà đến, vì nó không đến từ sự minh chứng lịch sử của nó, cũng không từ bất cứ bằng chứng nào của con người? Nó đến từ sự kiện, bởi vì điều nó tuyên bố thực sự xảy ra. Lịch sử hành động trong nó theo một thể thức mạnh mẽ và trực tiếp rất nhiều, hơn là trong sự chứng minh lịch sử của sự kiện, vốn sẽ là công việc của một người. Biến cố nằm ngay trong lời loan báo, trong những lời truyền tải nó, biến cố ấy trở thành ánh sáng ở đó và áp đặt vào tâm trí. Đối với những ai có mắt để thấy và có tai để nghe, tính lịch sử của nó cũng tự lộ ra, không cần phải chứng minh.

Nhưng nếu đức tin đến từ việc nghe, vậy tại sao những người nghe không phải tất cả đều tin? Chính thánh Phaolô, trong bản văn của chúng ta, đã buồn bã nhận xét: “Không phải mọi người đều đã vâng theo Tin Mừng” (Rm 10,16). Khi ghi nhận sự kiện, ngài đã mặc nhiên đưa ra lời giải thích. Quả thực, lời giải thích được thấy chính xác trong sự vâng phục, trong thực tế là không phải tất cả đều sẵn sàng vâng phục và cúi đầu trước Thiên Chúa. Ở đây, chúng ta chạm đến gốc rễ của vấn đề chìm sâu trong lãnh vực sóng gió của sự tự do nơi con người, có thể mở ra hoặc đóng lại trước hành động tối cao của Thiên Chúa. Có nhiều mức độ trách nhiệm trong việc không vâng phục Phúc Âm: một số người không tin vì không được nghe lời loan báo, hoặc vì người truyền đạt cho họ lời loan báo đã làm cho nó méo mó, hoặc làm cho nó mất ý nghĩa, do thiếu đức tin hoặc thiếu gắn bó chặt chẽ, và trong trường hợp này, trách nhiệm được chia cho cả hai bên, đến độ chỉ có Thiên Chúa biết điều đó và là Đấng phán xét điều đó. Nhưng chúng ta, chúng ta quan tâm đến những người đã nhận được lời loan báo “đúng”, như trường hợp những người được chính các Tông Đồ loan báo. Vậy tại sao trong số này không phải tất cả đều tin? Về vấn đề này, thánh Phaolô có một câu mang tính tiết lộ. Sau khi đã công bố Thiên Chúa của tổ phụ họ đã cho Đức Giêsu sống lại, đặt Ngài làm thủ lãnh và Đấng Cứu Độ, ngài nói thêm: “Về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người” (Cv 5,32; cũng x. Ga 15,26 tt). Qua đó người ta thấy hành vi tin vào sự sống lại triển nở như thế nào. Trước hết, có một chứng từ tông đồ bên ngoài và hữu hình, có thể nói được truyền đạt theo chiều ngang trong Giáo Hội, và có một chứng từ bên trong, vô hình, có thể nói truyền đạt theo chiều dọc cho từng người nghe. Chúng ta thử suy nghĩ về cả hai chứng từ đó.

Chứng từ tông đồ, chỉ mình nó, làm nên tất cả những gì cần và đủ để tin cách “hợp lý”, nghĩa là để hành vi tin cũng có một nền tảng lịch sử, mà người ta có thể chấp nhận (giống như các bí tích, đức tin là “cho con người”). Quả thật đây là một chứng từ không thể nghiêm túc và đáng tin hơn. Chính những khác biệt về số lượng, thứ tự và địa điểm của các lần hiện ra, suy cho cùng, củng cố ấn tượng về tính xác thực hơn là làm suy yếu nó, vì chúng cho thấy đây không phải là bằng chứng được tạo ra tại bàn làm việc, để thuyết phục mọi người bằng mọi giá. Các Tông Đồ không thể nhầm lẫn, vì các ngài không có khuynh hướng dễ tin, và điều này đã xảy ra khi Thầy còn sống. Theo các bản văn, chúng ta có bằng chứng chắc chắn rằng các ngài đã nghi ngờ và do dự cho đến cuối cùng để rồi tin rằng Ngài đã sống lại. Đàng khác, chúng ta không thể tưởng tượng được là các ngài muốn đánh lừa người khác, khi biết mọi sự đã xẩy ra như thế nào, vì lợi ích quan trọng nhất của các ngài chống lại điều đó, và khi ấy chính các ngài sẽ là những người đầu tiên mắc sai lầm và từng cá nhân phải trả giá cho việc đó.

Gioan Kim Khẩu nhận xét: Làm thế nào mà mười hai người, những con người dốt nát, lại nghĩ đến một việc làm như vậy, họ, những người sống bên biển hồ, sông nước và trong sa mạc? Những người chưa bao giờ lui tới các thành phố và các cuộc tụ họp ở đó, làm sao có thể nghĩ đến việc huy động chống lại cả trái đất? Lúc Đức Kitô bị bắt, sau khi đã làm vô số phép lạ, hầu hết đều bỏ trốn, và người đứng đầu các ông chỉ ở lại để chối Thầy. Những con người này đã không thể chịu nổi sự tấn công của người Do Thái khi Đức Kitô còn sống. Và khi Ngài chết và được mai táng, khi Ngài chưa sống lại, bạn dám chắc là Ngài không nói lời giúp các ông can đảm, thì từ đâu mà các ông được huy động chống lại cả trái đất? Phải chăng các ông đã không tự nhủ: “Chuyện gì vậy? Ngài không thể tự cứu mình, lại sẽ bảo vệ chúng ta sao? Khi còn sống, Ngài không thể tự bảo vệ mình, và bây giờ chết rồi, Ngài sẽ đưa tay ra cứu chúng ta sao? Khi còn sống, Ngài đã không khuất phục được bất cứ nước nào, và chúng ta sẽ thuyết phục cả trái đất bằng cách công bố danh của Ngài sao? Làm sao không vô lý, khi thậm chí không làm điều đó, mà chỉ nghĩ đến nó thôi?” Do đó, điều hiển nhiên là: nếu họ đã không nhìn thấy Ngài sống lại và nếu họ không có bằng chứng về sự toàn năng của Ngài, thì họ đã không mạo hiểm như vậy.[36]

Vậy trước hết có một chứng từ bên ngoài và lịch sử chứng thực về thực tại Phục Sinh; đó là chứng từ của các Tông Đồ, những người không ngừng lặp đi lặp lại: “Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy tù cõi chết. Về điều này, chúng tôi xin làm chứng” (Cv 3,15). Nhưng chứng từ này, tự nó, là không đủ. Bất quá chúng ta có thể thừa nhận chứng từ này là đáng tin, nhưng không vì thế mà tin. Cùng một chuyện như vậy có thể xảy ra với chúng ta như với các môn đệ, những người đã ra mộ ngày Phục Sinh, và “thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy” (x. Lc 24,24). Phải có chứng từ bên trong của Chúa Thánh Thần thêm vào chứng từ bên ngoài. Thế mà, như thánh Phêrô nói, chứng từ bên trong này, Thiên Chúa không từ chối một ai, nhưng ban cho tất cả những ai “lụy phục Người”, nghĩa là cho những ai có một tâm hồn ngoan ngùy, sẵn sàng vâng phục Thiên Chúa. Nói khác đi, đức tin giả thiết một ý muốn căn bản là vâng phục Thiên Chúa. Tự nó, tin là vâng phục (x. Rm 1,15). Vấn đề là xem liệu con người có sẵn sàng tôn kính Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải mình, và công nhận quyền làm Thiên Chúa của Người không. Đó là điểm phân biệt giữa người tin và người không tin.

Vậy, có người không tin sự sống lại vì không nghe nói đến, hoặc vì nghe nói cách không thích đáng, có người không tin vì kiêu căng, không muốn nhường chỗ cho Đấng Tuyệt Đối, hoặc vì lười biếng, biết rằng nếu tin thì sẽ phải thay đổi đời sống của mình, mà lại không sẵn sàng làm như vậy. Pascal nhận xét: “Nếu tôi tin, thì không bao lâu tôi sẽ phải từ bỏ các lạc thú; nhưng tôi nói cho bạn hay: nếu bạn đã từ bỏ các lạc thú, thì không bao lâu bạn sẽ có đức tin”. Một hôm Đức Giêsu nói với một số kinh sư và người Pharisêu thời bấy giờ: “Các ông tôn vinh lẫn nhau…thì làm sao các ông có thể tin được?” (Ga 5,44). Một số học giả không tin vào sự sống lại cũng vì lý do cơ bản này: vì họ tôn vinh lẫn nhau; họ muốn nói những điều độc đáo hơn là lặp lại những điều có thật. Đây là lời cảnh báo cho tất cả mọi người, kể cả bản thân tôi là người viết.

Điều thánh Tông Đồ nói về những người không tin vào sự sáng tạo cũng có giá trị, theo một nghĩa nào đó, đối với những người không tin vào sự sống lại. Họ “không thể tha thứ được”, vì những gì có thể biết được về sự sống lại (chúng ta thực sự không thể biết tất cả mọi sự) đã được bày tỏ cho họ; chính Thiên Chúa đã bày tỏ cho họ điều đó. Thật vậy, kể từ khi Đức Kitô sống lại, người ta có thể chiêm ngắm thực tại và sự hiện diện của Đấng Phục Sinh trong các công trình Ngài thực hiện trong Giáo Hội.

Tóm lại, trong chương 10 của thư Rôma, chúng ta hãy xem thánh Phaolô đã vẽ một bức tranh hoàn chỉnh về hành trình của lời như thế nào. Hành trình này đi từ đôi tai đến trái tim và từ trái tim đến môi miệng. Theo ngài, đức tin đến từ những gì người ta nghe. Lời “Ngài đã sống lại” đến tai một con người, từ tai đi vào trái tim và ở đó xẩy ra phép lạ luôn mới của đức tin, cuộc gặp gỡ nhiệm mầu giữa ân sủng và tự do; vòng tay ôm ngày cưới, lúc cô dâu (tự do) hiến mình cho Chúa của mình… Và đây là lúc thứ ba: từ tận đáy lòng, lời này trào ra bên ngoài trên môi miệng, trở thành một lời tuyên tín vui mừng vào quyền làm chúa của Đức Kitô: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,9 tt).

3. Sự Phục Sinh, công trình của Chúa Cha

Cho đến nay, chúng ta đã chiêm ngắm sự Phục Sinh hầu như chỉ liên quan đến chính chúng ta. Nhưng lời Chúa trình bày cho chúng ta một chiều kích khác, thâm sâu hơn, mà từ đó mầu nhiệm Phục Sinh rút ra sức mạnh.

Sự Phục Sinh của Đức Kitô không chỉ là một sự kiện hộ giáo, nhằm đưa ra một “bằng chứng” về Đức Giêsu; nó chủ yếu không phải là một minh chứng về sự thật hay sức mạnh; không chỉ là sự khởi đầu của Giáo Hội và của một thế giới mới. Có thể nói tất cả những điều này chỉ đến sau, như những hậu kết. Chúng ta không được giản lược sự Phục Sinh vào một sự kiện chỉ công khai, bên ngoài, liên quan đến lịch sử hoặc Giáo Hội, như thể Thiên Chúa làm cho Đức Giêsu sống lại vì người khác, chứ không phải cho chính Đức Giêsu. Sự Phục Sinh trước hết là một hành vi dịu dàng vô biên, nơi mà Chúa Cha, sau những đau đớn khôn lường của cuộc Khổ Nạn, nhờ Chúa Thánh Thần, đánh thức Con của Người từ cõi chết và đặt Ngài làm Chúa. Nó tạo nên hành động tột đỉnh của Thiên Chúa trong lịch sử, tước hiệu vinh quang vĩ đại nhất của Người. Từ nay về sau Thiên Chúa sẽ được gọi là “Đấng làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết (x. 2Cr 4,14; Gl 1,1; Cl 2,12).

Như vậy, sự Phục Sinh trước hết là quà tặng của Chúa Cha ban cho Con yêu dấu của Người, Đấng mà Người đã ôm lấy với tất cả sự ân cần, sau cuộc “chia lìa” ghê gớm của thập giá, một hành vi vô cùng dịu dàng của người cha. “Từ lâu Người đã từng nín lặng, Người làm thinh, Người đã dằn lòng, nhưng giờ đây Người gào thét” (x. Is 42,14). Sự Phục Sinh của Đức Giêsu là tiếng gào thét mà Thiên Chúa dùng để phá vỡ “sự thinh lặng” của Người. Ngay cả trong diễn tiến các sự kiện, các chứng nhân chỉ lên tiếng sau; hoa quả đầu mùa của sự Phục Sinh, tất cả đều được hoàn thành giữa Đức Giêsu và Cha của Ngài, trong Chúa Thánh Thần, trong sự thân mật tuyệt đối nhất. Không một ai hiện diện vào thời điểm Phục Sinh, nhưng Chúa Cha thì hiện diện. Những lời đầu tiên mà Giáo Hội, được Thần Khí Đức Kitô dạy bảo, đặt trên môi miệng Đấng Phục Sinh, trong ca nhập lễ Thánh Lễ Phục Sinh, là tiếng kêu vui mừng mà Ngài thưa với Chúa Cha: “Con đã sống lại, và lại được ở với Cha! Resurrexi et adhuc tecum suum. Bàn tay Cha đã đặt trên con! Đây là những lời trích từ các Thánh vịnh 3 và 138, và từ thời cổ đại nhất (từ thánh Clêmentê Rôma và thánh Giustinô) được áp dụng cho sự Phục Sinh của Đức Kitô. Về phần mình, Chúa Cha kêu lên với Đức Giêsu sống lại, như chính Kinh Thánh chứng thực: “Con là Con Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Cv 13,33; x. Rm 1:4), như thể sự Phục Sinh của Đức Kitô đã đổi mới nơi Người niềm vui được sinh ra Ngôi Lời từ đời đời.

Tôi nhấn mạnh: chiều kích thâm sâu và “phụ tử” này của sự Phục Sinh có trong Kinh Thánh, chứ không chỉ trong phụng vụ và trong lòng đạo đức; nó không chỉ là một trí tưởng tượng sốt sắng, nó là một thực tại. Thánh Phêrô công bố trong ngày lễ Ngũ Tuần: Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết”. Như vậy ngài áp dụng cho Đức Kitô những lời của Thánh vịnh: “Tôi luôn luôn nhìn thấy Đức Chúa ở trước mặt tôi…” (x. Tv 16,8tt). Thánh Tông Đồ nói: Không phải Đavít, thực ra là chính Đức Giêsu nói trong Thánh vịnh này; Ngài tin tưởng Chúa Cha sẽ không bỏ mặc linh hồn Ngài trong cõi âm ty, và Ngài sẽ không nhìn thấy sự hư nát. Chính Đức Giêsu nói với Chúa Cha: “Trước thánh nhan, con vui sướng tràn trề” (x. Cv 2,24 tt). Trong sự Phục Sinh, Chúa Cha đã trịnh trọng nói với Chúa Con: “Bên hữu Cha đây, con lên ngự trị” (Cv 2,34); Người “đã ra tay uy quyền nâng Ngài lên ” (x. Cv 5,31) và cho Ngài ngự bên Người, “trên ngai của Ngài” (x. Kh 3,21).

Động từ được các tác giả Tân Ước ưa sử dụng dùng để diễn tả biến cố phục sinh là động từ “trỗi dậy” (egeiro). Nó được sử dụng ngay cả trong bản văn Rm 4,25 của chúng ta, dịch theo nghĩa đen, vang lên như thế này: “Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy để chúng ta được nên công chính.” Để diễn tả theo cách của con người, Chúa Cha đã đến gần Đức Giêsu nằm trong mồ, như người ta nhẹ nhàng đến gần con nhỏ đang ngủ trong nôi, và làm nó trỗi dậy ra khỏi giấc ngủ của sự chết. Phúc Âm kể lại rằng một hôm Đức Giêsu đến gần một thanh niên nằm chết trong quan tài. Ngài kêu to: “Này người thanh niên, tôi bảo anh, hãy trỗi dậy”, và người thanh niên ngồi lên và Ngài trao anh ta cho mẹ nó. (x. Lc 7,14). Giờ đây, chính Cha trên trời tiến đến gần mồ và kêu lên: “Con ơi, con của Cha, chính Cha đang nói với con: “con trỗi dậy đi”, và Đức Giêsu trỗi dậy và sống lại.

Trong một Thánh vịnh – mà người ta không thể không nghĩ đến sự Phục Sinh của Đức Kitô – người cầu nguyện mô tả mình được giải thoát như sau:

Từ chốn cao vời Chúa đưa tay nắm lấy

vớt tôi lên khỏi nước lũ mênh mông

cứu tôi thoát đối phương tàn bạo

và kẻ thù manh thế hơn tôi.

Chúng tấn công tôi ngày tôi lâm nạn

nhưng Chúa thương bênh đỡ phù trì

Người kéo tôi ra chỗ thảnh thơi

vì yêu thương tôi nên Người giải thoát. (Tv 18, 17-20)

Trong số tất cả những người được tuyển chọn đã trải qua cơn thử thách lớn lao, có lời chép rằng Thiên Chúa chờ đợi họ để “lau sạch nước mắt họ” (x. Kh 21,4). Vậy phải nói gì khi Đức Giêsu đến với họ? Ngài, Đấng đã thực sự “ra khỏi cơn thử thách lớn lao”!

Quả thật – như phụng vụ lễ Phục Sinh ca lên – ngày Phục Sinh này là “công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (x. Tv 118,22 tt). Đức Giêsu là “viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được chọn lựa và coi là quý giá” (x. 1Pr 2,4). Chúa Cha đã biến Ngài thành “đá góc” của thế giới mới. Khi làm như thế, Chúa Cha muốn chứng tỏ mình chấp nhận hy tế của Chúa Con. Theo nghĩa này, sự Phục Sinh là sự đăng quang của hy lễ thập giá và, trong mỗi thánh lễ chúng ta cử hành, chúng ta có thể nói: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại…”

4. Nhờ Chúa Thánh Thần

Bàn tay Chúa Cha “đặt” trên Đức Giêsu không gì khác ngoài Chúa Thánh Thần. Và thật vậy, thánh Phaolô nói ngay từ đầu thư Rôma: Đức Giêsu khi sống lại đã được đặt làm Con Thiên Chúa với quyền năng “theo Thần Khí thánh”, nghĩa là Chúa Thánh Thần (Rm 1,4). Lời quả quyết Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết “nhờ vinh quang của Chúa Cha” (Rm 6,4) cũng có nghĩa như vậy. Ở một chỗ khác, người ta đọc thấy Đức Giêsu “đã được công chính hóa trong Thần Khí” (1Tm 3,16); tức là được tuyên bố là công chính, được vinh hiển, trong Thần Khí. Thư thứ nhất của thánh Phêrô nói rằng Đức Giêsu đã chịu chết theo xác thịt, đã được “sống lại theo Thần Khí” và, luôn luôn “trong Thần Khí”, Ngài đã xuống âm ty loan báo ơn cứu độ (x. 1Pr 3,18 tt).

Trong Kinh Tin Kính, Giáo Hội tuyên xưng “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống”: sự Phục Sinh của Đức Kitô là sự thực hiện tối cao đặc ân này, là hành động tuyệt hảo của Chúa Thánh Thần, Ðấng ban sự sống. Đôi khi chúng ta tưởng tượng sự Phục Sinh giống như một số nghệ sĩ, theo một cách khá thể chất và bên ngoài: Đức Giêsu ra khỏi mồ, tay cầm một loại cờ, trong khi những người lính canh ngã lăn ra đất. Nhưng sự Phục Sinh đích thực là một biến cố hoàn toàn bên trong và “thuộc linh”. Chúa Thánh Thần, Đấng cư ngụ trọn vẹn trong nhân tính của Đức Kitô và không bao giờ tách khỏi linh hồn của Ngài (ngay cả khi tách khỏi thân xác) theo dấu thánh ý Chúa Cha, ùa vào trong thân thể bất động của Đức Kitô. Người làm cho Ngài sống lại và đưa Giáo Hội vào cuộc sống mới, mà Tân Ước gọi chính xác là cuộc sống “theo Thần Khí”. Sự Phục Sinh của Đức Kitô đã xảy ra như đã được tiên báo trong lời tiên tri về những bộ xương khô, lời tiên tri này được thực hiện cách gương mẫu và chuẩn mực nơi Ngài: “Này chính Ta mở huyệt cho các ngươi. Ta sẽ đưa các người lên khỏi huyệt…Ta sẽ đặt thần khí của ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống” (Ed 37,12.14). Chúa Cha đã đặt Thần Khí của Người nơi Đức Giêsu và Ngài sống lại và mộ mở ra, vì không thể chứa quá nhiều sự sống.

Hành động này của Chúa Thánh Thần trong sự Phục Sinh của Đức Kitô là nguồn vui và hy vọng cho chúng ta, bởi vì điều đó có nghĩa là chúng ta cũng sẽ được như vậy: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới” (Rm 8,11). Một bậc thầy tu đức vĩ đại bên Đông phương đã nói: “Sự sống lại của mọi người được thực hiện bởi Chúa Thánh Thần. Và tôi không nói là chỉ sự sống lại của thân xác trong ngày tận thế, mà cả sự tái sinh thiêng liêng và sự sống lại của các linh hồn đã chết, được thực hiện hàng ngày cách thiêng liêng. Sự sống lại này được ban qua Chúa Thánh Thần, nhờ Đức Kitô, Đấng đã chết một lần, đã sống lại và sống lại nơi tất cả những ai sống xứng đáng”[37].

5. Quyền năng của sự Phục Sinh

Vậy sự Phục Sinh là biến cố của Chúa Cha, Đấng nhờ Chúa Thánh Thần, đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết và đặt Ngài làm Chúa và làm Đấng Kitô (x. Cv 2,36). Đỉnh cao của mọi sự, nơi mọi sự tổng hợp lại và làm cho hành vi là sự phục sinh trở thành một tình trạng, là quyền làm chúa của Đức Kitô: “Vì Đức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14,9). Bước còn lại mà chúng ta phải thực hiện, sau khi đã tin trong lòng rằng Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại từ cõi chết, là tuyên xưng nơi môi miệng rằng: “Đức Giêsu là Chúa” (Rm 10,9).

Trong sự Phục Sinh, thánh Tồng Đồ nói Đức Giêsu đã được đặt làm “Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng (Rm 1,4). Lời cuối cùng này mở ra cho chúng ta một chân trời mới liên quan đến niềm tin vào sự Phục Sinh của Đức Kitô; một chân trời dành riêng cho người nào, nhờ ân sủng, đã tin vào sự kiện Phục Sinh. Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô nói mình đã chấp nhận mất tất cả, coi tất cả như rác, và ngài nói thêm: điều này là “để biết Người, nhất là biết Người quyền năng thế nào, nhất là đã phục sinh” (Pl 3,10). Phaolô đã biết rõ sự Phục Sinh của Đức Kitô, ngài đã nhiệt thành bảo vệ nó trong diễn từ ở Aêrôpagô và trong thư gửi tín hữu Côrintô, ngài đã từng thấy ngay cả Đấng Phục Sinh (x. 1Cr 15,8). Vậy ngài còn thiếu gì để biết, đối tượng của một ước muốn như thế là ai? Ngài trả lời: Quyền năng bên trong của sự Phục Sinh! “Biết” ở đây rõ ràng có nghĩa là “trải nghiệm” hoặc “nắm được”. Thánh Tông Đồ đã bị khuất phục bởi cảm giác về quyền năng phục sinh của Đức Kitô. Trong thư gửi tín hữu Corintô, ngài nói về “quyền lực lớn lao Người đã thi thố… là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực” mà Thiên Chúa đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết (x. Ep 1,18 tt). Ngài tập hợp tất cả các từ mà ngôn ngữ Hy Lạp cung cấp, để diễn tả sức mạnh, năng lực và quyền năng, và ngài áp dụng chúng vào biến cố Phục Sinh.

Do đó, đối với sự Phục Sinh của Đức Kitô, phải vượt lên trên một đức tin thuần túy trí thức để biến nó thành một kinh nghiệm sống: một công trình không có điểm kết thúc, ngoại trừ thiên đàng. Người ta có thể dành ra cả đời để nghiên cứu, viết rất nhiều sách về sự Phục Sinh của Đức Kitô mà không “biết” sự Phục Sinh của Đức Kitô! Chúng ta sẽ moi móc sự hiểu biết mới mẻ và sống động này về sự Phục Sinh ở đâu? Câu trả lời là: ở trong Giáo Hội! Giáo Hội được sinh ra từ niềm tin vào sự Phục Sinh; Giáo Hội được “thụ tinh” (theo đúng nghĩa đen). Nói “trong Giáo Hội” có nghĩa là trong phụng vụ, trong giáo lý, trong nghệ thuật, trong kinh nghiệm của các thánh. Bài ca Exultet, mà đỉnh điểm là tiếng kêu: “O felix culpa!”, làm cho người ta run lên vì sự Phục Sinh, gần như bằng cách lây lan, đặc biệt nếu bạn được nghe người ta hát lên. Một lời cầu nguyện trong Đêm Vọng Phục Sinh, có từ thời sách bí tích Gêlasiô, xin như sau: “Xin cho cả thế giới nhận ra điều kỳ diệu này: những gì hạ xuống được nâng lên, những gì cũ kỹ được đổi mới và mọi sự tìm lại được sự nguyên vẹn ban đầu của mình.”

Về điểm này, đặc biệt Giáo Hội Đông phương có rất nhiều chứng từ và mẫu gương sáng chói. Cũng như trong mầu nhiệm Ba Ngôi, Giáo Hội Đông phương nhận thức nhiều hơn về ba ngôi vị, còn Giáo Hội Tây phương nhận thức nhiều hơn về sự duy nhất bản tính, cũng như trong mầu nhiệm cứu độ, Giáo Hội Đông phương coi trọng mầu nhiệm nhập thể hơn và Giáo Hội Tây phương coi trọng mầu nhiệm vượt qua hơn, cũng như trong chính nội tại của mầu nhiệm vượt qua, Giáo Hội Đông phương coi trọng sự Phục Sinh hơn và Giáo Hội Tây phương coi trọng cuộc Khổ Nạn hơn. Có điều đó, là để làm cho chúng ta phụ thuộc vào nhau và làm lộ ra lời kêu gọi hiệp nhất đại kết, từ chính những chiều sâu của các mầu nhiệm mà chúng ta cùng nhau cử hành. Đối với mỗi mầu nhiệm lớn này, Thiên Chúa muốn có hai “chìa khóa”, được sử dụng cùng nhau, và Ngươi đã trao một chiếc vào tay Giáo Hội Đông phương và chiếc kia vào tay Giáo Hội Tây phương, để không chiếc nào có thể mở và đạt tới chân lý đầy đủ nếu không có chiếc kia. “Người ta không thể đến với một mầu nhiệm vĩ đại như vậy bằng một con đường duy nhất”.

Chẳng hạn chúng ta thấy hiện tượng đồng hình với Đấng Bị Đóng Đinh nhờ những dấu tích chỉ dành riêng cho sự thánh thiện bên Latinh, trong khi ở Chính thống giáo, hiện tượng đồng hình với Đức Kitô phục sinh là phổ biến. Chúng ta thấy sự đồng hình ấy, chẳng hạn, trong cuộc đời của thánh Symeon, Nhà thần học mới và trong cuộc đời của thánh Seraphin Sarov, hai trong số những vị thánh được yêu mến nhất của Kitô giáo Chính thống. Ở chóp đỉnh của sự thánh thiện Tây phương, chúng ta thấy thánh Phanxicô Assisi, trên núi Alverno, được đồng hình với Đấng Bị Đóng Đinh, thậm chí có thể thấy được, và ở chóp đỉnh của sự thánh thiện Đông phương, chúng ta thấy thánh Seraphin Sarov, ở ngoài trời và dưới băng tuyết của mùa đông, trong khi nói chuyện với một trong các môn đệ của mình, ngài được biến đổi, thậm chí có thể thấy được, thành hình ảnh của Đấng Phục Sinh, do đó cho chúng ta một ý tưởng về Đức Kitô là: Đấng Phục Sinh như thế nào, thì đã như thế ấy trước mắt các môn đệ, khi Ngài hiện ra với họ sau lễ Vượt Qua[38].

Cách diễn tả rõ ràng nhất cảm giác về sức mạnh của sự Phục Sinh riêng cho linh đạo chính thống giáo chính là linh ảnh (icône) về sự Phục Sinh. Nó cho chúng ta thấy Đức Kitô, chói sáng hào quang uy lực của Thiên Chúa, đi xuống Âm phủ với một cử chỉ kiên quyết, nắm tay Ađam và Evà, dẫn họ ra khỏi địa ngục, trong khi phía sau các ngài là hàng dài vô tận những người công chính của Cựu Ước cùng các ngài tiến về phía ánh sáng. Qua đôi tay dang rộng của Đức Kitô, bức linh ảnh âm thầm khẳng định rằng chúng ta đang đứng trước một cuộc xuất hành mới của toàn thế giới: Thiên Chúa đích thân đến giải thoát dân Người “bằng bàn tay mạnh mẽ và những cánh tay dang rộng”. Ngay cả ngày nay, khi chiêm ngắm linh ảnh này, chúng ta được tràn đầy đức tin. Bản thân tôi thú nhận rằng tôi mắc nợ linh ảnh này hơn tất cả những cuốn sách viết về sự Phục Sinh. Đó là một khởi giảng “bằng màu sắc”; trong đó, sự Phục Sinh không được chứng minh, nhưng là lộ ra. Nó cất bỏ bức màn che và cho chúng ta tiếp xúc với thực tại vô hình. Trong mọi hình ảnh thể hiện, con người ngắm nghía hình ảnh, nhưng trong linh ảnh, hình ảnh nhìn con người và hoàn toàn chế ngự con người.

6. “Được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động”

Cũng như lời loan báo về cái chết, lời loan báo về sự sống lại cũng bao gồm hai yếu tố: sự kiện (“Ngài đã sống lại”) và ý nghĩa của sự kiện đối với chúng ta (“để chúng ta được nên công chính”). Về sự công chính hóa này khép lại chương 4 của thư Rôma, đến lượt chương sau mở ra giống như một kiểu anaphora (Kinh tạ ơn). Ở đầu chương này, thánh Tông Đồ cho thấy ba nhân đức đối thần: tin, cậy, mến lộ ra từ mầu nhiệm vượt qua như thế nào. Ngài nói: “Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa…, chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa…Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta…” (Rm 5,1-5).

Trong ba thần đức này, đức cậy được thánh Phêrô trong thư thứ nhất cho liên quan với sự sống lại, khi ngài nói rằng Thiên Chúa là Cha “cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động” (1Pr 1,3). Do đó, khi cho Đức Giêsu sống lại, Chúa Cha không chỉ ban cho chúng ta “bằng chứng chắc chắn” về Người, mà còn cho chúng ta một “niềm hy vọng sống động”; sự Phục Sinh không chỉ là một luận chứng đặt nền tảng cho chân lý Kitô giáo, mà còn là một sức mạnh nuôi dưỡng niềm hy vọng từ bên trong.

Lễ Phục Sinh là “dies natalis” (ngày đản sinh) của niềm hy vọng Kitô giáo. Từ “hy vọng” không có trong lời rao giảng của Đức Giêsu. Các sách Phúc Âm ghi lại nhiều lời của Ngài về đức tin và bác ái, nhưng không có lời nào về hy vọng. Bù lại, sau Phục Sinh, trong lời rao giảng của các Tông Đồ, chúng ta thấy bùng nổ theo nghĩa đen ý tưởng và ý kiến về sự hy vọng bên cạnh đức tin và đức ái, như một trong ba yếu tố cấu thành cuộc sống mới của người Kitô hữu (x. 1Cr 13,13). Chính Thiên Chúa được định nghĩa là “Thiên Chúa của niềm hy vọng” (Rm 15,13). Và chúng ta cũng hiểu lý do của sự kiện này: khi sống lại, Đức Kitô đã mở ra chính nguồn hy vọng, Ngài đã tạo ra đối tượng của đức cậy thần học là một đời sống với Thiên Chúa, thậm chí bên kia sự chết. Điều mà trong Cựu Ước, một số Thánh vịnh đã thoáng thấy và ao ước: “được ở với Chúa luôn” (Tv 72,23), “vui sướng tràn trề trước thánh nhan Người” (Tv 16,11), nay đã trở thành hiện thực trong Đức Kitô. Ngài đã mở một lỗ hổng trong bức tường khủng khiếp của chết chóc, qua đó tất cả có thể theo Ngài.

Ngày nay, người ta cảm nhận rất rõ mối liên hệ giữa sự Phục Sinh và niềm hy vọng, nhưng đôi khi mối liên hệ này bị đảo ngược: không phải sự Phục Sinh đặt nền tảng cho niềm hy vọng, nhưng là niềm hy vọng đặt nền tảng cho sự Phục Sinh. Nói cách khác, người ta đi từ những hy vọng trong lòng con người là không hoàn toàn chịu thua trước cái chết, không chiều theo bất công mãi, và với những hy vọng này, người ta cố gắng biện minh và chứng minh sự Phục Sinh của Đức Kitô. Trong một số trường hợp cực đoan, điều xảy ra là “vì chúng ta”, hoặc “vì hy vọng của chúng ta”, thay thế cho sự kiện: “Ngài đã sống lại”. Ý nghĩa của biến cố thay thế cho chính biến cố. Không có một sự kiện thần linh nào làm nảy sinh niềm hy vọng của chúng ta, hoặc đặt nền móng cho nó, nhưng chính niềm hy vọng của chúng ta đòi hỏi ý tưởng về sự Phục Sinh. Khi đó, quả quyết sự Phục Sinh đồng nghĩa với việc đặt nền móng cho những hy vọng của chúng ta và khẳng định giá trị của chúng. Sự Phục Sinh, là một sự kiện có thật và thần linh, lại biến thành một sự đòi hỏi của con người; nó không còn là uy quyền của Thiên Chúa toàn năng đặt nền móng cho biến cố, mà là lý do thực tế hoặc tôn giáo của con người. Tuy nhiên, điều này đi ngược lại những gì thánh Tông Đồ nói, nghĩa là nếu Đức Kitô đã không sống lại thực sự và cứ thực (de facto), thì niềm hy vọng cũng như đức tin của chúng ta sẽ ra “vô ích”, nghĩa là trống rỗng, không có nền tảng (x. 1Cr 15,12) hay ít ra là không có cơ sở nào khác ngoài ước muốn của con người cho nó một nền tảng. Đó hẳn là một cách lập luận còn lấp lửng. Cũng như có một cách làm cho thập giá của Đức Kitô ra vô ích (x. 1Cr 1,17), thì cũng có một cách làm cho sự Phục Sinh của Đức Kitô ra vô ích, đó là tục hóa nó, và nỗ lực này một lần nữa bắt đầu từ sự “khôn ngoan”, nghĩa là từ chỗ muốn đặt sự giải thích lên trên và thay cho đức tin.

Viễn tượng đích thực về đức tin đã được khôi phục như vậy, giờ đây chúng ta có thể mở rộng lòng đón nhận niềm hy vọng sống động đến từ sự Phục Sinh của Đức Kitô, và để bản thân mình được niềm hy vọng đó bao quanh như một hơi thở đổi mới. Về vấn đề này, thánh Phêrô nói về một sự tái sinh (anagennsis), về cảm thức tái sinh. Thực sự, đây là điều đã xảy ra với các Tông Đồ. Họ đã cảm nghiệm được sức mạnh và sự êm dịu của niềm hy vọng. Chính niềm hy vọng vừa chớm nở đã đưa họ lại với nhau, khiến họ reo lên mừng rỡ: “Ngài đã sống lại, Ngài đang sống, Ngài đã hiện ra, chúng tôi đã nhận ra Ngài!” Chính niềm hy vọng đã làm cho các môn đệ đang rất buồn bã ở Emmau quay gót, đưa họ trở lại Giêrusalem.

Giáo Hội được sinh ra từ một phong trào hy vọng và chính phong trào này mà chúng ta cần đánh thức hôm nay, nếu chúng ta muốn in sâu trong đức tin một đà tiến mới và làm cho nó có khả năng chinh phục thế giới một lần nữa. Không gì được thực hiện nếu không có hy vọng. Một nhà thơ mà ngày nay chúng ta biết đến với “cú táo bạo”, đã viết một bài thơ về đức cậy. Ông nói rằng ba nhân đức đối thần giống như ba chị em gái: hai trong số họ là chị, trong khi người thứ ba là một bé gái. Họ nắm tay nhau đi dạo, bé gái (đức cậy) đi ở giữa. Nhìn chúng, người ta tưởng như hai chị dắt em bé, nhưng thực ra hoàn toàn ngược lại: chính em bé lôi hai chị lớn, chính đức cậy lôi đức tin và đức ái. Không có hy vọng, mọi sự sẽ dừng lại.[39]

Chúng ta cũng thấy trong cuộc sống hàng ngày.  người nào thực sự mất hết hy vọng, buổi sáng thức dậy mà tuyệt đối không mong đợi điều gì, thì người đó kể như đã chết. Cũng như đối với người sắp ngất, phải mau cho ngửi một thứ gì đó mạnh mùi để giúp họ hồi tỉnh, cũng vậy, đối với người sắp buông xuôi và bỏ cuộc, phải đem đến cho họ lý do để hy vọng, cho thấy họ có thể hy vọng, sau đó họ hồi tỉnh và lấy lại sức mạnh. Mỗi khi có mầm mống hy vọng nào tái sinh trong lòng một con người, thì một phép lạ xảy ra: mọi sự trở nên khác, ngay cả khi không có gì thay đổi. Thậm chí một cộng đồng, một giáo xứ, một dòng tu hồi sinh và lại bắt đầu thu hút những ơn gọi mới, bởi niềm hy vọng lại nảy nở trong tâm hồn họ. Không có sự tuyên truyền nào có thể làm những gì niềm hy vọng làm được. Chính niềm hy vọng làm cho người trẻ hành động. Ngay cả trong gia đình cũng vậy: chúng ta sống ở đó, chúng ta sẵn sàng trở lại với gia đình, nếu chúng ta tìm thấy hy vọng trong đó. Cho ai niềm hy vọng là điều đẹp đẽ nhất mà một người có thể cho. Cũng như các tín hữu ngày xưa, khi ra khỏi nhà thờ, đã trao tay nhau nước phép, thì các Kitô hữu cũng phải truyền đức cậy từ tay này sang tay khác, từ cha sang con. Cũng như trong đêm Vọng Phục Sinh, các tín hữu thắp nến cho nhau, khởi đầu từ linh mục thắp cây nến Phục Sinh, chúng ta cũng phải truyền cho nhau đức cậy đã chôn vùi trong lòng dân Kitô giáo. Trong dân Kitô giáo, chưa bao giờ người ta nói nhiều về cánh chung học như ngày nay, và cũng chưa bao giờ nó đã ít được sống như ngày nay. Cánh chung học – nghĩa là mở ra cho tương lai, nhưng cho tương lai tối hậu và vĩnh cửu – đã bị loại bỏ khỏi cuộc sống, sợ rằng nó làm cho người ta không còn dấn thân và bị vong thân, và đã được chuyển sang các sách thần học. Trong một số trường hợp, nó đã biến thành ý thức hệ, co cụm vào một thứ tương lai hạn chế, hoàn toàn giới hạn trong lịch sử.

Tôi đã nói, đối tượng của niềm hy vọng Kitô giáo chính là sống lại: “Đấng đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy, cũng sẽ làm cho chúng tôi được trỗi dậy” (2Cr 4,14). Đức Kitô đã là của đầu mùa (x. 1Cr 15,20) và của đầu mùa báo hiệu một vụ bội thu; của đầu mùa không như thế, nếu sau đó không có vụ bội thu. Nhưng không chỉ có thân xác sống lại, mà còn có sự sống lại của tâm hồn, và nếu sự sống lại của thân xác là dành cho “ngày sau hết” thì sự sống lại của tâm hồn là của mỗi ngày. Đây là sự sống lại phải làm cho chúng ta quan tâm hơn hết, vì đó là sự sống lại tùy thuộc cụ thể vào chúng ta, ngay từ bây giờ. Thánh Lêô Cả nói: “Chớ gì những dấu chỉ của sự sống lại sau này cũng xuất hiện giờ đây trong thành thánh, và những gì phải được thực hiện trong thân xác, thì cũng được thực hiện lúc này trong tâm hồn”[40].

Trong những trang này, chúng ta đã bắt đầu một hành trình đổi mới thiêng liêng. Để biến nó thành hiện thực, phải để cho cô bé (đức cậy) nắm lấy bàn tay chúng ta. Phải hy vọng một cái gì đó cũng có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta, không phải mọi sự sẽ tất yếu tiếp tục, trước sao sau vậy, hay không bao giờ có bất cứ điều gì mới cho chúng ta dưới ánh mặt trời. Hy vọng có nghĩa là tin rằng “lần này” sẽ khác, cho dù đã tin như thế cả trăm lần và lần nào cũng thấy không có gì thay đổi. Có lẽ rất nhiều lần trong quá khứ, trong thâm tâm bạn đã quyết định thực hiện “hành trình thánh thiện” hoán cải, nhân dịp lễ Phục Sinh, một cuộc tĩnh tâm, một cuộc gặp gỡ quan trọng, bạn như lấy đà để nhảy qua hào, rồi bạn thấy đà này yếu đi và tắt dần khi bạn đến gần bờ hào, và mỗi lần như vậy, bạn lại thấy mình như đang ở trên bờ biển phía Ai Cập. Dầu vậy, nếu bạn vẫn hy vọng, bạn sẽ chạm đến trái tim của Chúa, Đấng sẽ đến giúp đỡ bạn. Thiên Chúa xúc động trước niềm hy vọng của các thụ tạo. Người nói: “Đức tin mà Ta thích nhất, là sự hy vọng. Đức tin không làm ta ngạc nhiên. Cái làm Ta ngạc nhiên, chính là sự hy vọng. Chớ gì những người con đáng thương này thấy như mọi sự đó xẩy ra, và tin rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn. Điều đó thật kỳ diệu và thực sự là điều kỳ diệu nhất của ân sủng được ban cho chúng ta. Và chính tôi ngạc nhiên về điều đó. Và quả thực ân sủng của tôi phải có sức mạnh không tin nổi”.[41]

Không một nỗ lực nào, ngay cả khi chẳng đi đến đâu, lại hão huyền và vô ích, nếu nó chân thành. Thiên Chúa để ý đến mọi việc và một ngày nào đó, ân sủng của Người sẽ tương xứng với tất cả những lần chúng ta có can đảm để bắt đầu lại, dù cả trăm lần trước đây đã thất bại. Có lời chép: “Những người cậy trông Đức Chúa thì được thêm sức mạnh. Như thể chim bằng, họ tung cánh. Họ chạy hoài mà không mỏi mệt, và đi mãi mà chẳng chùn chân” (Is 40,31).

Chúng ta phải hy vọng rằng không có xiềng xích nào, dù chắc chắn và xưa cũ đến đâu, mà không thể bị phá vỡ. Đức Giêsu, trong Thần Khí, đã đến viếng thăm những ai đang nằm trong bóng tối âm ty và là Đấng “phá tung cửa đồng, bẻ gẫy then sắt” (x. Tv 106,16), có thể giải thoát khỏi mọi tình trạng tù đày thiêng liêng và chết chóc. Ngài có thể kêu lên – và thực tế đã kêu lên – cho tôi, ở đây và lúc này, điều mà Ngài đã kêu lên cho Ladarô đang ở trong mồ rằng: “Hãy ra ngoài!”

Do đó, chúng ta hãy nắm lấy bàn tay dang rộng của Đấng Cứu Thế, giống như Ađam và Evà trong linh ảnh, và chúng ta cũng hãy sống lại với Đức Giêsu. Chúng ta hãy nói với nhau khi gặp nhau, đặc biệt là trong mùa Phục Sinh, những lời thánh thiện này của Seraphin Sarov: “Niềm vui của tôi là Đức Kitô đã sống lại!”

 

6
ĐẾN NHƯ CHÍNH CON MỘT THIÊN CHÚA CŨNG CHẲNG TIẾC
Mầu nhiệm đau khổ của Thiên Chúa

Bài huấn giáo này được dành nói về Chúa Cha. Chúng ta luôn, hoặc ít là rất thường xuyên, nói về Đức Giêsu Kitô, và từ ít lâu nay, về Chúa Thánh Thần. Nhưng Chúa Cha thì sao? Ai nói về Chúa Cha? Tôi nhận thấy lời của Đức Kitô: “Không ai biết Cha…” (Mt 11,27) vẫn còn đúng cho đến nay, và tôi cảm thấy hơi bất nhẫn, vì cuối cùng mới đến lúc có thể nói về Chúa Cha. Nhưng việc đó thật quá lớn đến nỗi tôi buồn lòng khi nghĩ đến việc lãng phí cơ hội này; và có lẽ, khi cố gắng nói thật nhiều về Chúa Cha, sức mạnh của danh xưng này hầu như chắc chắn sẽ bị mất mát, và tôi sẽ đi xa thực tại sống động, rất đơn giản và khôn tả là Chúa Cha. Vì vậy, tôi muốn lập tức nói lên danh xưng của Người, và, có thể nói, tìm chỗ an toàn cho danh xưng ấy trong lòng bạn, trao hoàn toàn cho bạn,  trước khi phân tán nó thành những mảnh vụn và lời nói. Danh xưng này là “nguồn gốc mọi dân tộc trên trời dưới đất”, và trước danh xưng này, Phaolô mời gọi chúng ta cùng với ngài “quỳ gối trước mặt Chúa Cha” (x. Ep 3,14). Lúc này, tôi muốn có tấm lòng và môi miệng của Đức Giêsu để nói về Chúa Cha cho thích hợp.

Mỗi người loan báo đều có đề tài tủ yêu thích của mình, đề tài ruột của mình, đề tài mà người nói không biết chán và trong đó nghệ thuật của người này được diễn tả hay nhất. Đức Giêsu có Chúa Cha! Khi Ngài nói về Chúa Cha, mắt các môn đệ mở to, một nỗi nhớ da diết dường như nảy sinh trong lòng họ và Philip thưa lên: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14,8). Nhưng đối với Đức Giêsu, Chúa Cha không phải là một “đề tài”, Người là Abba của Ngài, là cha của Ngài, Đấng đã ban cho Ngài vinh quang và danh xưng “trước khi có thế gian”, Đấng mà Ngài cảm thấy bị lôi cuốn, ngay cả với tư cách một con người, bằng một sức thu hút vô tận. Tất cả sứ mệnh của Ngài trên trần gian là làm cho người ta biết Chúa Cha, nên Ngài kết thúc việc rao giảng Nước Trời bằng câu: “Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa” (Ga 17,26). Chính cuộc Khổ Nạn phải làm cho loài người biết tình yêu của Ngài đối với Chúa Cha. Ngài nói: “Thế gian biết là Thầy yêu mến Chúa Cha” (x. Ga 14,31).

Nhưng chúng ta hãy thử xem diễn từ về Chúa Cha hòa nhập vào lúc này của lộ trình chúng ta đang đi như thế nào. Các chương trọng tâm của thư Rôma (5-8) có chủ đề cơ bản là ơn cứu độ do Đức Kitô thực hiện, qua cái chết và sự sống lại của Ngài. Khi đó, câu hỏi được đặt ra: sự cứu độ chúng ta có phải là công trình duy nhất và độc hữu của Chúa Con, hay đó lại không phải là công việc của cả Ba Ngôi sao? Có phải là một việc được quyết định hoàn toàn trong lịch sử, hay nó đến từ bên trên, bên kia lịch sử? Trong thư Rôma – chính xác là chương 5 – chúng ta tìm thấy câu trả lời cho vấn đề này, một câu trả lời mạc khải cho chúng ta một chiều kích mới, chiều kích ba ngôi, của ơn cứu độ và chính cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô. Chúng ta đã có cơ hội làm nổi bật hành động của Chúa Cha, khi nói về sự Phục Sinh của Đức Kitô, nhưng do tầm quan trọng và tính thời sự của chủ đề, giờ đây chúng ta muốn tiếp tục và đào sâu hơn.

1. Chúa Cha bị chối từ

Trong thư Rôma 5,6-11 và sau đó, để kết thúc đoạn này bằn câu Rm 8,32, thánh Tông Đồ nói với chúng ta về tình yêu của Thiên Chúa Cha dành cho chúng ta, như là nguồn mạch tối hậu phát sinh ơn cứu độ. Hãy chú ý đến điều ngài nói: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8); và ngài còn viết: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc” (Rm 8,32). Thiên Chúa Cha bày tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta bằng cách làm cho Con của Người phải chết! Cứ như con người nghĩ, đây là một quả quyết đáng ngạc nhiên, thậm chí gây gương mù; theo họ, việc Đức Kitô chết không biểu lộ tình yêu của Chúa Cha, mà ngược lại là sự tàn ác, hoặc ít nhất, sự công bình cứng nhắc của Người. Và quả thực trong văn hóa hiện nay, sự hiểu biết về Chúa Cha như bị một núi những định kiến che đậy. Chắc chắn Đức Giêsu phải buồn bã lặp lại những lời này: Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha!

Khó khăn mà con người ngày nay gặp phải trong việc dung hòa lòng tốt của Chúa Cha với cái chết tàn khốc của Đức Kitô trên thập giá, có hai nguồn chính. Tôi không nói về những cách giải thích được những bậc thầy vĩ đại về đức tin (như của Tôma Aquinô) đưa ra, những người nói chung là khá dè dặt và kính trọng mầu nhiệm, nhưng là về những cách giải thích được các sách thủ bản và một thứ giảng thuyết nào đó về cuộc Khổ Nạn phổ biến, cuối cùng đã tạo ra một bức tranh méo mó về tấn kịch cứu chuộc. Đây là cách Bossuet chẳng hạn, trình bày hình ảnh của Chúa Cha, trong một bài giảng vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1662, tại triều đình vua nước Pháp: “Linh hồn thánh thiện của Đấng Cứu Độ tôi tràn ngập sự ghê sợ thánh của một Thiên Chúa đang thịnh nộ; và khi linh hồn ấy muốn ngả mình vào vòng tay của Thiên Chúa này, để tìm sự nâng đỡ, thì chỉ thấy Người ngoảnh mặt đi, trao nộp nó làm mồi cho cơn thịnh nộ của công lý của mình… Ôi Chúa Giêsu, Chúa sẽ trông chờ vào đâu? Bị đẩy đến cùng bởi những con người dùng bạo lực tối đa, Chúa ngả mình vào vòng tay của Chúa Cha; và Chúa cảm thấy bị đẩy ra, thấy rằng chính Người bách hại Chúa, chính Người bỏ rơi Chúa, chính Người đè nặng lên Chúa bằng sức nặng không thể chịu nổi của sự báo thù của Người… Chúa Giêsu chịu sự khinh miệt của một Thiên Chúa, vì Ngài khóc mà Cha Ngài không lắng nghe; Chúa chịu cơn thịnh nộ của một Thiên Chúa, vì Ngài cầu xin mà Cha Ngài không nhậm lời; Chúa chịu công lý của một Thiên Chúa, vì Ngài đau khổ mà Cha Ngài không nguôi”[42]. Trong một bài giảng khác của Thứ Sáu Tuần Thánh, ông nói rằng “Thiên Chúa Cha, trong cuộc Khổ Nạn, đã cho Chúa Con thấy một khuôn mặt đầy công lý giận dữ; Người nhìn Ngài với con mắt khao khát báo thù”. Nếu một trong những nhà hùng biện nổi tiếng và sâu sắc nhất, mà lịch sử còn nhắc đến, nói như vậy, thì chúng ta có thể hình dung những nhà giảng thuyết khác hẳn đã phải đi quá xa đến mức nào!

Rõ ràng là một cái nhìn như vậy, dựa trên khái niệm pháp lý về sự chuộc tội, về lâu về dài không thể không tạo ra một sự ghê tởm thầm kín đối với Chúa Cha “khắt khe” này, Đấng từ trời cao đang thản nhiên chờ đợi máu và giá chuộc được đổ ra cho mình, và điều đó là do chính Con của mình. Giải thích sự việc như vậy vì người ta không lưu ý đủ, trong số những điều khác, chân lý cơ bản này: có sự duy nhất về thánh ý giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, theo đó điều Chúa Cha muốn cũng là điều Chúa Con muốn. Vậy nếu có một sự “tàn ác” nơi Thiên Chúa, thì đó không phải là sự tàn ác của Chúa Cha đối với Chúa Con, nhưng là sự tàn ác của Thiên Chúa đối với chính mình. Thiên Chúa đã tàn ác với chính mình vì yêu con người.

Lý do thứ hai khiến Chúa Cha bị từ chối phát sinh từ bên ngoài Giáo Hội và thần học, và đến từ vô số thành kiến ​​và nghi ngờ nảy sinh liên quan đến hình ảnh người cha. Tâm lý học hiện đại đã có một nhiệm vụ dễ dàng, bằng cách làm nổi bật tất cả những biến dạng, qua đó hình ảnh về Chúa Cha đã được cụ thể hóa nơi con người: chủ nghĩa gia trưởng, chủ nghĩa độc đoán, chủ nghĩa nam tính… Sau đó, với Freud, phân tâm học đã khám phá ra cái gọi là mặc cảm Oedype, theo đó, trong vô thức của mỗi con trai đều tồn tại một ý muốn ít nhiều tiềm ẩn là giết cha mình. Những quan sát này được duy trì trong lãnh vực tâm bệnh học của con người, mà từ đó chúng được rút ra, vẫn còn có thể tốt và mang tính giải phóng; vấn đề nảy sinh khi người ta muốn gán cho những khám phá này một giá trị phổ quát và tuyệt đối, đi xa tới chỗ áp dụng chúng cho Thiên Chúa và thậm chí, sử dụng chúng để giải thích cho niềm tin vào sự tồn tại của một Thiên Chúa là Cha.

Nhưng rõ ràng là không phải phân tâm học đã từ chỗ không mà tạo ra những khởi đầu tiêu cực này. Nhiều khởi đầu bắt nguồn từ cuộc sống của con người. Sự oán giận đối với Chúa Cha có thể là kết quả của những kinh nghiệm và sự kiện đa dạng nhất. Có người từ chối Chúa Cha vì có một người cha chuyên quyền; có người từ chối Người, mặc dù không biết gì về người cha. Khởi đi từ kinh nghiệm riêng của mình, một cô gái trẻ đã giải thích như thế việc cô từ chối Thiên Chúa Cha. Cô đã lớn lên, mồ côi cha và mỗi lần cô phạm lỗi, mẹ cô đều chỉ tay vào mặt cô mà nói: “Cha mày mà còn sống thì mày đã không làm thế!” Rất nhanh chóng, cô đã vui mừng trong lòng là may mà cha mình đã chết. Đối với cô, cha đồng nghĩa với cấm đoán; cha không phải là người mang lại tự do, cha là người làm mất tự do.

2. Sự đau khổ của Thiên Chúa

Một trong những động lực khiến con người suy nghĩ nhiều hơn về việc Chúa Cha bị chối từ là sự đau khổ của những người vô tội. Cứ như người ta nói, chúng tôi không thể chấp nhận một Thiên Chúa để cho quá nhiều trẻ em vô tội phải chịu khổ! Và nếu chúng ta cố gắng chỉ ra cho họ thấy rằng Đức Giêsu cũng chịu đau khổ, thì họ trả lời: chính Đức Giêsu là luận chứng chủ yếu của chúng tôi! Tại sao Ngài cũng phải chịu khổ? Ít nhất Ngài chắc chắn mình vô tội! Do đó, dưới đáy sự oán giận của con người đối với Thiên Chúa Cha, có sự đau khổ của thế giới, sự kiện con người chịu khổ, còn Thiên Chúa thì không; sự kiện Chúa Con chịu khổ, trong khi Chúa Cha vẫn thản nhiên. Được Chúa Thánh Thần giúp đỡ, chúng ta sẽ cố gắng làm sáng tỏ vấn đề này.

Trước hết là thái độ của Chúa Cha đối với đau khổ nói chung. Khi Kinh Thánh tiếp xúc với triết học Hy Lạp, điều làm cớ vấp phạm lớn nhất là “sự đau khổ” của Thiên Chúa, sự kiện Thiên Chúa của Kinh Thánh “chịu đau khổ”. Thật vậy, chúng ta đọc thấy trong Cựu Ước, Thiên Chúa “buồn rầu trong lòng” (x. St 6,6), Người đã buồn lòng trong hoang địa (Tv 78,41). Và không chỉ một vài câu tách rời. Toàn bộ Kinh Thánh từ đầu tới cuối là một kiểu Thiên Chúa than phiền, được diễn tả trong tiếng kêu này: “Dân Ta hỡi, Ta đã làm gì ngươi. Ta đã làm chi khiến người phiền lòng. Hãy trả lời cho ta” (Mk 6,3). Lý do sâu xa của lời than phiền này là tình yêu của Chúa Cha đã bị phản bội: “Ta đã nuôi nấng đàn con cho chúng khôn lớn, nhưng chúng đã phản nghịch cùng Ta” (Is 1,2) ” Nhưng Thiên Chúa không đau buồn cho chính mình, như thể nơi mình còn thiếu điều gì đó. Người đau buồn cho con người hư mất. Người đau khổ chỉ vì yêu. Kinh Thánh không ngại nói rõ một thứ “bất lực” nào đó của Thiên Chúa, chỉ vì yêu con người. Con người làm mọi cách để khiêu khích Thiên Chúa, bằng thần tượng và những lần phản nghịch của họ. Chiếu theo sự công bình thì Ngài phải tiêu diệt họ, nhưng ở đây chúng ta chứng kiến ​​​​một cuộc xung đột, một tấn kịch nào đó, nơi chính Thiên Chúa; tấn kịch này được mạc khải cho chúng ta qua lời tiên tri Hôsê: “Hỡi Ephraim, ta từ chối ngươi sao nổi! Hỡi Israel, Ta trao nộp ngươi sao đành!…Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi. Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận” (Hs 11,8-9). Ngay cả khi Thiên Chúa “buộc” phải dùng đến hình phạt để đưa dân trở lại và thanh tẩy tội lỗi của họ, như trong thời lưu đày, thì có lời chép: “Có hạ nhục và làm khổ người ta, Người cũng chẳng vui vẻ gì” (Ac 3,33). Vậy nếu con người đau khổ, thì Thiên Chúa cũng đau khổ, vì Ngài phải hành động ngược với ý muốn của mình.

Tôi đã ám chỉ đến cớ vấp phạm của các triết gia trước mạc khải lạ lùng này về Thiên Chúa. Theo họ, Thiên Chúa không phải là một ngôi vị sống, nhưng là một ý tưởng, ý tưởng về Sự Thiện; ý tưởng thì không phải khổ, không “chịu khổ”. Thật vậy, cứ như người ta nói, Thượng Đế của họ “không thể trà trộn với con người”[43], cùng lắm Người có thể được “yêu”, nhưng không bao giờ “yêu”: Theo Aristote, “Người làm cho thế giới chuyển động với tư cách Đấng được yêu”, như nguyên nhân cứu cánh, không phải vì Người yêu và yêu trước[44]. Nếu làm thế, Người sẽ đánh mất tư cách của mình, vì phải tùy thuộc vào những gì hay thay đổi và cụ thể. Thượng Đế là “động cơ bất động”, nghĩa là Đấng làm cho mọi vật chuyển động, nhưng chính Người thì bất động và thản nhiên (impassible). Chúng ta hiểu vì sao họ không thể chấp nhận sự tức giận, đau khổ và tất cả những “khổ nạn” khác của Thiên Chúa trong Kinh Thánh. Chúng ta đọc được ở một trong những bậc thầy về tư tưởng này: “Thượng đế không được lệ thuộc vào bất cứ tình cảm hận thù hay yêu thương nhất thời nào; do đó Người không thể gần gũi với tức giận hay thương xót; Người cũng không được để cho đau khổ làm bối rối, cũng không bị cuốn theo sự bất nhẫn, nhưng một khi thoát khỏi mọi khổ nạn, Người không thể lệ thuộc vào đau buồn hay vui sướng, không thể đột nhiên muốn hay không muốn một cái gì đó nhất định”[45].

Đó là ý tưởng về Thiên Chúa nổi bật khi thần học Kitô giáo mới khai sinh. Tuy nhiên, trong nhiều thế kỷ, về phía một số học giả (những người theo thuyết ngộ đạo), đã có một nỗ lực kiên trì nhằm loại bỏ tất cả những điều này khỏi Kinh Thánh và thích nghi khái niệm về Thiên Chúa cho phù hợp với khái niệm của các triết gia, nhằm biến “Thiên Chúa của Abraham, của Israel và của Giacóp” thành “Thiên Chúa của các triết gia”. Nhưng phản ứng đức tin của Giáo Hội lúc bấy giờ thế nào? Đây là những gì Tertullian nói:

Để biết Thiên Chúa là ai, chúng ta không học với của các triết gia hay với Epicure, nhưng học với các tiên tri và với Đức Kitô. Là những người tin vào một Thiên Chúa đã đến thế gian, đã muốn chia sẻ với chúng ta thân phận hèn mọn của con người, để cứu rỗi chúng ta, chúng ta khác xa với ý kiến ​​của những người muốn có một Thiên Chúa không quan tâm đến bất cứ điều gì. Từ đó dẫn đến luận chứng sau đây của những kẻ lạc giáo : Nhưng nếu Thiên Chúa nổi giận, nếu Người tranh chấp, nếu Người cao giọng và buồn bã, điều đó có nghĩa là khi ấy Người biến chất và chết! Quả thực, đặc điểm của các Kitô hữu là tin rằng Thiên Chúa đã chết, ngay cả khi Người sống đến muôn đời. Thật ngu xuẩn! Họ đánh giá những điều thuộc về Thiên Chúa theo thước đo của những điều thuộc về con người, và bởi vì nơi con người những đau khổ này hàm chứa sự hư hoại, nên họ nghĩ rằng Thiên Chúa cũng vậy. Trong khi nếu tính hư hoại của bản tính con người làm cho những đau khổ này nơi chúng ta thành dấu chỉ của sự hư hoại, thì ngược lại, nơi Thiên Chúa, tính bất hoại của Thiên Chúa làm cho chúng không lệ thuộc vào bất cứ sự hư hoại nào.[46]

Về điểm này, ngay cả những nhà tư tưởng nhạy cảm nhất với sức hấp dẫn của triết học Hy Lạp vẫn trung thành với Kinh Thánh. Chính trong việc bình giải về Kinh Thánh mà Origen – người được biết đến nhiều nhất – đã đi xa đến mức khẳng định rằng, theo một nghĩa nào đó, nơi Thiên Chúa, cuộc Khổ Nạn có trước  việc Nhập Thể, và cuộc Khổ Nạn trần thế và lịch sử của Đức Kitô là biểu hiện và hậu quả của cuộc Khổ Nạn trước mà chính Chúa Cha đã chịu vì chúng ta. Quả thực ông viết: “Đấng Cứu Thế đã xuống thế gian vì thương hại loài người. Ngài đã chịu khổ nạn của chúng ta ngay cả trước khi chịu khổ nạn trên thập giá, ngay cả trước khi đoái thương mặc lấy xác phàm của chúng ta. Là vì, nếu Ngài đã không chịu khổ nạn trước, Ngài sẽ không đến để chia sẻ kiếp người với chúng ta. Sự đau khổ mà Ngài chịu vì chúng ta ngay từ đầu là gì? Đó là khổ nạn của tình yêu. Chính Chúa Cha là Chúa của vũ trụ, Đấng rộng lượng bao dung, giầu lòng thương xót và thương hại, chẳng phải Người cũng chịu khổ một cách nào đó sao? Hay bạn không biết rằng khi Người bận tâm đến những chuyện của con người, Người cũng chịu một khổ nạn của con người đó sao? Người chịu một cuộc khổ nạn vì yêu”.[47]

Như vậy, Origen đưa cuộc tranh luận trở lại gốc rễ  thực sự của nó, là liệu chúng ta có tin vào một Thiên Chúa là Tình Yêu hay không. Các triết gia ngoại đạo biết rõ là nếu Thiên Chúa yêu thương con người và quan tâm đến số phận của họ, thì theo một cách nào đó, Người sẽ quay cuồng như họ và không còn “thản nhiên và lặng lẽ” nữa. Vì vậy, họ tích cực phủ nhận việc Người yêu, quả quyết rằng Người có thể “được yêu”, nhưng không thể “yêu”. Tuy nhiên, các Kitô hữu không thể chấp nhận kết luận này mà không bác bỏ ngay toàn bộ Kinh Thánh; ngoài ra, họ còn mở lòng đón nhận mầu nhiệm một Thiên Chúa “chịu khổ”. Chính thánh Phaolô đã nói đến khả năng “làm buồn phiền”, nghĩa là làm cho Chúa Thánh Thần đau khổ (x, Ep 4,30). Đau khổ và cuộc Khổ Nạn chắc chắn “thích hợp” hơn điều ngược lại với chúng – tức sự thản nhiên – đối với một Thiên Chúa “là tình yêu”. Thiên Chúa chịu “một cuộc khổ nạn tình yêu”, nghĩa là một khổ nạn phát xuất từ việc Người thực sự yêu. Trong ngôn ngữ của chúng ta, chính từ “khổ nạn” diễn tả mối liên hệ mầu nhiệm giữa tình yêu và đau khổ; quả thực, nó được sử dụng hoặc để chỉ một tình yêu cao vời và không thể cưỡng lại, hoặc để chỉ một nỗi đau lớn lao: “Tình yêu không thể được sống mà không có đau khổ”[48].

Chắc chắn, những từ “khổ nạn”, “đau khổ” áp dụng cho Thiên Chúa, có một ý nghĩa loại suy, khác với ý nghĩa của chúng trên bình diện con người. Trong Người là một sự đau khổ tự do đến vô tận, không tùy thuộc vào bất cứ sự cần thiết hay định mệnh nào, và không phá hủy các thuộc tính khác của Thiên Chúa, nhưng củng cố chúng, ngay cả khi chúng ta không thấy bằng cách nào. Đó là “khổ nạn của người không chịu khổ nạn”[49]. Ngược lại, theo nhận xét của một số Giáo Phụ, một sự bất khả triệt để chịu khổ, đối với Thiên Chúa, sẽ tạo ra một giới hạn và đó sẽ là dấu chỉ của sự thiếu tự do. Nếu muốn, Thiên Chúa thậm chí có thể đau khổ, và vì yêu, nên Người muốn điều đó. Cuộc Khổ Nạn của Thiên Chúa là một dấu chỉ của chủ quyền và quyền năng vô hạn, không kém gì những sự hoàn hảo khác của Người.

3. Sự đồng khổ của Chúa Cha

Giờ đây chúng ta hãy xem xét khía cạnh khác của vấn đề nảy sinh với Kitô giáo, sau mạc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi và “thiên chức làm cha” mới của Thiên Chúa Cha: thái độ của Chúa Cha đối với cuộc Khổ Nạn của Con Người là Đức Giêsu Kitô. Có thật Chúa Cha chỉ là người “làm cho” Con mình đau khổ chăng? Nếu có lời chép rằng “Người làm cho con cái loài người đau khổ trái với ý muốn của mình”, thì phải nói gì về người Con yêu dấu này, hết lòng yêu mến và vâng phục Chúa Cha? Thánh Phaolô quả quyết rằng Thiên Chúa “không tha chính Con của Người, nhưng đã trao nộp người Con ấy vì tất cả chúng ta”. Nếu chúng ta đọc bản văn này trong một ấn bản Kinh Thánh có kèm theo những ghi chú phù hợp (ví dụ, trong bản được gọi là Kinh Thánh Giêrusalem), thì chúng ta thấy, ở phần lề của đoạn thư Rôma này, có đề cập sách Sáng thế 22,16. Đoạn văn này nói về ai? Về Abraham. Thiên Chúa nói với Abraham: “Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi.” Origen viết: “Chúng ta hãy so sánh những lời này với những lời của thánh Tông Đồ khi ngài nói rằng: “Đến như chính Con một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta”[50]. Abraham bước đi trong im lặng, tiến về núi Môria, để sát tế con trai mình là Isaac, đó là hình ảnh của một người Cha khác.

Điều này giúp chúng ta có một ý tưởng chính xác hơn về thái độ của Chúa Cha trong mầu nhiệm cứu chuộc. Người không vắng mặt, ngự trên trời, ngược lại, Người ở với Ngài. Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Anh em… để Thầy cô độc một mình, nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy” (Ga 16,32). Ai có thể diễn tả tình cảm trong lòng Abraham, lúc đi với con trai đến nơi sát tế? Origen nói rằng lúc thử thách nhất cho Abraham là lúc đang đi trên đường, con trai ông không rõ sự việc, quay sang hỏi ông xem lễ vật để sát tế ở đâu, và thưa với ông “thưa cha”. Nghe lời này, Abraham run rẩy như bị bắt quả tang phạm tội và trả lời: “Cha đây, con”. Làm sao ông có thể nói với con trai mình: “Lễ vật chính là con đó”? Đối với Abraham, đó thực sự là tiếng nói thử thách, tất cả tấm lòng người cha của ông run lên khi nghe những lời “thưa cha”. Ai có thể kể lại điều đã xảy ra trong lòng dạ Chúa Cha trên trời, khi Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani thưa với Người bằng chính những lời: “Abba, Cha ơi! Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con!” (Mc 14,36). Abraham chắc chắn mình thà chết ngàn còn hơn để con mình chết. Vậy Chúa Cha và Chúa Con cùng ở với nhau trong cuộc Khổ Nạn, và lúc Đức Giêsu có cảm tưởng Chúa Cha ở xa mình nhất, Ngài đã kêu lên: “Sao Cha bỏ rơi con?” trên thực tế, đó là lúc mà Chúa Cha ở gần nhất và ôm lấy con trong vòng tay yêu thương mạnh mẽ hơn bao giờ hết, vì đó là mà ý muốn nhân loại của Chúa Con kết hợp nhất với ý muốn thần linh của Ngài.

Giờ đây chúng ta hiểu những lời của thánh Phaolô: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì chúng ta hết thảy”, muốn nói gì. Muốn nói là Người không giữ Ngài như một báu vật. Chúa Cha không chỉ là người nhận hy tế của Con mình, mà còn là Đấng hiến tế Con: Người đã thực hiện một lễ hy sinh cao cả khi ban Con của Người cho chúng ta! Thánh Augustinô kêu lên: “Lạy Cha nhân từ, Cha yêu chúng con biết bao, cha đã không tiếc Con Một của Cha, nhưng đã trao nộp người Con ấy vì chúng con là những kẻ vô đạo! Cha yêu chúng con biết bao![51]

Trong thần học cổ xưa nhất, người ta nói cách đơn giản và tự tin về sự đau khổ của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Một chứng nhân của thần học cổ xưa này, đặc biệt phổ biến ở Tiểu Á, đã nói những lời này được Tertullianô thuật lại: “Nếu Chúa Con đã đau khổ, thì Chúa Cha cũng đồng khổ”, và một lần nữa: “Làm sao Chúa Con có thể đau khổ mà Chúa Cha lại không đồng khổ?[52] Tuy nhiên, rất nhanh chóng một lạc giáo đã gây rối loạn cho đức tin đơn thuần, được Kinh Thánh linh hứng này (Người ta không nói những cách diễn đạt được trích dẫn ở trên đã là một phần của lạc giáo, như Tertullianô nói bóng gió điều ấy khi thuật lại). Lạc giáo này phủ nhận sự phân biệt giữa Chúa Cha và Chúa Con, nói chung là phủ nhận Ba Ngôi; bởi vì, theo quan điểm của lạc giáo này, nơi Thiên Chúa chỉ có một ngôi, nói rằng Chúa Con đã chịu đau khổ thì cũng như nói rằng Chúa Cha đã chịu đau khổ; danh xưng thay đổi, nhưng ngôi vị thì không. Chính vì vậy những người theo học thuyết này bị đối thủ của họ gọi là những người theo “khổ phụ thuyết”: những người gán cuộc Khổ Nạn cho Chúa Cha. Tuy nhiên, đó là một ý tưởng rất khác với ý tưởng chính thống, theo đó Chúa Cha, trong khi vẫn là Chúa Cha, đã tham dự vào cuộc Khổ Nạn của Chúa Con, Đấng vẫn là Chúa Con, nghĩa là, một ngôi tách biệt. Như thường xảy ra, trong những trường hợp này, việc từ chối lạc giáo kéo theo việc từ chối sự thật trước đó, như thể để loại bỏ mọi viện cớ cho chính lạc giáo. Đề tài về sự đồng khổ của Chúa Cha sau đó đã biến mất khỏi ngôn ngữ và ý thức của Giáo Hội, trở thành một xác tàu chìm trong quên lãng. Người ta có thói quen phân biệt rõ cuộc Khổ Nạn được muốn, là chung cho Chúa Cha và Chúa Con, với cuộc Khổ Nạn phải chịu, chỉ là việc riêng của Chúa Con. Tiến trình thích ứng chung và không thể lay chuyển với nền văn hóa đương thời đã khiến ý tưởng của Kinh Thánh về sự đau khổ của Thiên Chúa bị hy sinh cho ý tưởng của Hy Lạp về sự thản nhiên của Thiên Chúa. Cũng đóng góp vào việc này là sự thản nhiên hay “vô cảm” (apatheia), trong một số môi trường đan viện, đã trở thành lý tưởng cao nhất, thậm chí chóp đỉnh của sự thánh thiện; như vậy, người ta đi đến chỗ gán nó cho Thiên Chúa ở mức độ cao nhất.

Tuy nhiên, một điểm chắc chắn sẽ vẫn còn trong tín điều của Giáo Hội, từ đó chúng ta có thể bắt đầu lại; đức tin của Giáo Hội, bất chấp vô số chống đối, vẫn không ngừng tuyên xưng theopaschia, nghĩa là học thuyết về sự đau khổ của Thiên Chúa trong Đức Kitô, duy trì vững chắc lời quả quyết có từ xưa rằng “Thiên Chúa đã chịu đau khổ”[53]. Ý nghĩa của lời quả quyết  tín điều này là Thiên Chúa đã chịu đau khổ “trong xác thịt”, nhưng thần học cho chúng ta biết “Đấng” chịu khổ trong xác thịt, chủ thể chịu khổ, là ngôi Con, tức Thiên Chúa. “Ba Ngôi đã chịu khổ” và nếu một ngôi đã chịu khổ, thì do pericoresis, tức sự tương thông hay tương nhập của Ba Ngôi Thiên Chúa,  cả Ba Ngôi cùng đau khổ. Trong thân thể Đức Kitô là Giáo Hội, “nếu một chi thể đau, thì mọi chi thể cùng đau” (1Cr 12,26): Điều áp dụng cho sự hiệp thông Giáo Hội, sao lại không áp dụng cho sự hiệp thông Ba Ngôi vốn là nguồn gốc và kiểu mẫu của nó? Chắc chắn trong trường hợp của Chúa Cha, đó là một sự đau khổ khác với sự đau khổ của Chúa Con làm người, một sự đau khổ như dội lại (từ sự đau khổ của Chúa Con), hay một sự đồng khổ. Những nhà thần học đầu tiên này đã có lý biết bao khi nói: “Nếu Chúa Con đã đau khổ, thì Chúa Cha đã đồng khổ”!

Ngày nay, sau một thời gian dài im hơi lặng tiếng trước sự đau khổ của Thiên Chúa Cha – sự im lặng mà trong đó người ta thấy ý tưởng kỳ lạ về Chúa Cha “khôn nguôi” – chúng ta đang chứng kiến ​​chân lý này một lần nữa lại xuất hiện trong ý thức của Giáo Hội[54]. Đây là một trong những bất ngờ không thể lường trước, nhưng mang tính quan phòng của Chúa Thánh Thần, một thời điềm chính thực. Các nhà thần học từ các quốc gia khác nhau và thuộc các khuynh hướng khác nhau bắt đầu lại nói về chuyện mầu nhiệm này. Một số người đã quả quyết rằng hành vi “trao nộp Con mình” gây ra đau khổ cho Thiên Chúa sâu sắc hơn bất cứ đau khổ nào khác trong thế giới thụ tạo, và sứ mệnh của Đấng Chịu Đóng Đinh chính là bày tỏ cuộc Khổ Nạn của Chúa Cha. K. Barth nhận xét: Ý kiến ​​​​của chúng tôi là Thiên Chúa chỉ có thể hoạt động tuyệt đối và độc nhất, liên quan đến mọi đau khổ, hóa ra là sai lầm và ngoại đạo dưới ánh sáng của sự kiện là Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, là và thực hiện chính xác điều đó (có nghĩa là Người hạ mình, liên đới với thế giới và chịu khổ); chúng ta không phải là những người khôn ngoan hơn Người, và thiết lập điều gì phù hợp với bản tính của Thiên Chúa và điều gì không, nhưng ngược lại, chúng ta phải suy ra điều đó từ những gì Người làm; vinh quang của Người hệ tại ở sự tự do của tình yêu của Người”[55] . Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã hoan nghênh việc “tái khám phá” này về khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa trong Kinh Thánh. Ngài viết trong Thông điệp về Chúa Thánh Thần:

“Khái niệm về Thiên Chúa như hữu thể nhất thiết hoàn hảo rõ ràng loại bỏ khỏi Thiên Chúa mọi đau khổ do khiếm khuyết hay do thương tích. Nhưng trong các “điều sâu thẳm nơi Thiên Chúa”, có một tình yêu của Chúa Cha là Đấng, trước tội của con người, phản ứng, theo ngôn ngữ Kinh Thánh, đến độ phải thốt lên: “Ta hối hận đã làm ra con người”… Sách Thánh nói với chúng ta về một Chúa Cha đầy lòng trắc ẩn đối với con người, như thể muốn chia sẻ nỗi đau khổ của họ. Rốt cuộc, sự “đau khổ” khôn lường và khôn tả của người cha đặc biệt sẽ làm phát sinh kế hoạch lạ lùng của tình yêu cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, để nhờ mysterium pietatis (mầu nhiệm đạo đức), tình yêu tỏ ra mạnh hơn tội lỗi trong lịch sử loài người…Sự “đau khổ” của Thiên Chúa được cụ thể hóa nơi nhân tính Đức Giêsu Đấng Cứu Chuộc”.[56]

Ngay cả trước các nhà thần học, một số linh hồn ẩn dật đã cảm nhận được trong lòng tiếng vọng xa xôi của lời Thiên Chúa phàn nàn, và kể từ ngày đó, cuộc sống của họ đã biến đổi đến độ không thể nói về bất cứ điều gì khác. Những linh hồn này đã không học biết, qua nghiên cứu thần học – như một việc của quá khứ –, sự đau khổ của Thiên Chúa Cha; họ đã học biết ngay tại chỗ, bởi vì ngày nay Thiên Chúa Cha vẫn còn đau khổ vì loài người, vì người ta từ chối tình yêu của Người… Trong cuộc đời của một số vị thánh, chúng ta đọc thấy các ngài gần như phát điên lên khi nghĩ rằng “tình yêu không được yêu”; các ngài cứ lặp đi lặp lại những lời này hằng đêm, ngay cả kêu lên với những thụ tạo vô tri vô giác để chúng liên kết với nước mắt của các ngài. Vậy làm sao chúng ta còn có thể lặp lại câu: “Con người đau khổ và Thiên Chúa thì không”? Hỡi người vô tâm, hãy dừng lại một lúc và xem liệu có nỗi đau nào giống như nỗi đau của Thiên Chúa không!

4. Yêu thương và vâng phục

Nhưng giờ đây chúng ta phải đối mặt với điểm tế nhị nhất, đó là nguồn gốc của hình ảnh Chúa Cha “không dung tình” với Con của Người là Đức Giêsu Kitô. Tại sao Chúa Cha lại “trao nộp” Con của mình cho sự chết và làm sao điều này có thể dung hòa được với “sự đồng khổ” của Người? Trong Phúc Âm Gioan, Đức Giêsu nói: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyên hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,17-18). Vấn đề ở đây là một “quyền”: quyền hiến dâng mạng sống mình và một “mệnh lệnh”: mệnh lệnh hiến dâng nó một cách hiệu quả; về sự tự do và vâng phục; nhưng đúng là chìa khóa mở mầu nhiệm lại nằm trong nghịch lý này.  Khi nào và bằng cách nào Chúa Cha đã ban cho Con của mình “mệnh lệnh” tự do hiến dâng mạng sống của Ngài? Thánh Tôma trả lời rằng Chúa Cha đã trao nộp Con mình cho cái chết “bằng chính điều này là đã gợi ý cho Ngài ý muốn chịu khổ, bằng cách tuôn đổ tình yêu cho Ngài”[57]. Hình ảnh hiện ra từ những lời này khác biết bao, nếu so sánh với hình ảnh được gợi lên lúc đầu! Vậy “mệnh lệnh” mà Chúa Con nhận được từ Chúa Cha trước hết là mệnh lệnh yêu thương chúng ta. Khi thông truyền cho Chúa Con bản tính của mình là tình yêu, Chúa Cha đã truyền cho Ngài, bằng chính việc đó, “khổ nạn tình yêu” của mình, và khổ nạn tình yêu này đã đưa Đức Giêsu đến thập giá!

Tân Ước có lúc nói Đức Giêsu chết “vì yêu chúng ta” (x. Eph 5,2) và lúc khác lại nói Ngài chết vì “vâng phục” Chúa Cha (x. Pl 2,8). Đối với con người chúng ta, yêu thương và vâng phục xem ra khác nhau, và có lẽ chúng ta thích tin rằng Ngài đã chết vì yêu ta, hơn là vì vâng phục. Nhưng lời Chúa và thần học của Giáo Hội cho chúng ta thoáng thấy một quan điểm sâu xa hơn, theo đó hai hành vi trên cũng chỉ là một. Chắc chắn Đức Giêsu đã chết vì yêu chúng ta, nhưng chính xác đó là sự vâng phục của Ngài đối với Chúa Cha! Dâng hiến và đòi hỏi, yêu thương và vâng phục, đan xen với nhau theo một cách mà chúng ta không thể hiểu hết được, vì lẫn vào trong chính mầu nhiệm Ba Ngôi, tức là trong thực tại của Thiên Chúa, vừa là một vừa là ba. Tình yêu phát xuất từ một Thiên Chúa, còn sự vâng phục lại phát xuất từ Ba Ngôi. (Quả thực, tình yêu là chung cho ba ngôi, nhưng sự vâng phục là riêng cho một mình Chúa Con.) Khi Thánh Bênađô viết rằng “Thiên Chúa Cha không đòi máu của Con mình, nhưng khi máu này được hiến dâng, Người đã chấp nhận”[58], ngài đưa ra ánh sáng một khía cạnh của mầu nhiệm, mặc dù là một phần, nhưng không phải vì thế mà không đúng. Sự vâng phục hoàn hảo nhất không phải là thi hành mệnh lệnh cách hoàn hảo, nhưng là biến ý muốn của người ra lệnh thành ý muốn của mình. Đó là sự vâng phục của Chúa Con, ý muốn của Ngài nên một với ý muốn của Chúa Cha. Tuy nhiên, sự vâng phục của Đức Giêsu không phải là một sự vâng phục dễ dàng, trái lại, là một sự vâng phục khó khăn ngoài sức tưởng tượng, đến nỗi nó làm Ngài phải đổ mồ hôi máu, vì Con Thiên Chúa đã vâng phục “theo bản tính loài người”; Ngài đã phải thực hiện sự vâng phục hoàn hảo như vậy với một ý muốn rất giống ý muốn của chúng ta! Ngài đã phải thực hiện, với tư cách con người, một sự vâng phục ngang tầm với Thiên Chúa.

5. Tin tưởng vào Chúa Cha

Đâu là ý nghĩa của việc suy tư lâu dài này về sự đau khổ của Thiên Chúa? Liệu Người có bất lực trước sự dữ chăng? Chúng ta hãy cẩn thận để không rơi vào sai lầm bóp méo hình ảnh Kinh Thánh về Chúa Cha theo hướng ngược lại. Thiên Chúa vẫn là Đấng “ba lần thánh”, Đấng toàn năng, Đấng ngự trên muôn vật; tất cả những đau khổ của Người là một dấu chỉ, không phải của yếu đuối, nhưng của “hạ cố”. Đặc điểm độc nhất của Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô là, trong khi vẫn là Thiên Chúa, Đấng Tối Cao, “Đấng ngự trên trời”, trên hết mọi sự và là Đấng có thể làm mọi sự, thì Người được ban cho chúng ta như là Cha, là Abba. “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng”, đây là tín khoản đầu tiên trong đức tin của chúng ta: Cha, nhưng toàn năng; toàn năng, nhưng là Cha! Một người cha chỉ tốt lành, và không đồng thời tự do, mạnh mẽ, có thể bảo đảm an toàn cho con cái, sẽ không phải là một người cha thực sự, và người ta không thể hoàn toàn tin tưởng vào ông. Đó là điều mà kẻ thù đôi khi cố gắng gieo vào lòng con người, nghĩa là Thiên Chúa không thể ngăn chặn sự dữ; nhưng đó là một sự dối trá, vì chính trong đau khổ mà Thiên Chúa biểu lộ quyền năng của Người ở mức độ cao nhất, bởi vì, như một lời kinh phụng vụ nói, “Thiên Chúa biểu lộ sự toàn năng của Người đặc biệt khi Người tha thứ và thương xót”. Trong sự khôn ngoan vô hạn của mình, Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan đã muốn chiến thắng sự dữ bằng cách chịu đựng nó, mang lấy nó trên mình một cách nào đó. Phù hợp với bản tính của mình, Người muốn chiến thắng không phải bằng vũ lực, nhưng bằng tình yêu, như thế là Đấng đầu tiên nêu gương cho chúng ta phải biết “lấy  thiện mà thắng ác” (x. Rm 12,2). Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng “sự đồng khổ” của Chúa Cha với Con của Người không dừng lại ở thập giá, nhưng ở sự phục sinh. Người truyền cho Con mình hy sinh mạng sống để “lấy lại”. Không lúc nào Người nghĩ đến cái chết của Con, mà không nghĩ đến sự sống lại của Con. Chính chúng ta mới không đi tới chỗ nghĩ về hai thực tại này cùng một lúc. Khi sống lại, Đức Giêsu đã được “công chính hóa trong Thần Khí” (x. 1Tm 3,16), tức là Chúa Cha, nhờ Thần Khí, đã làm cho Ngài nên công chính, do đó thực hiện sự công chính cho chính mình, cho tình yêu chiến thắng của mình. Theo thánh Phaolô, khi làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, Thiên Chúa Cha đã cho thấy “quyền lực lớn lao Người đã thi thố…đó là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực” (x. Ep 1,19-20).

Vì vậy, chúng ta có thể tin cậy vào Chúa Cha! Chính đó là sự chắc chắn mà chúng ta theo đuổi và chúng ta cần. Một người từng trải nghiệm về điều đó có nói: Tình phụ tử của Thiên Chúa “là điều duy nhất không thể lay chuyển trong cuộc đời, điểm thực sự của Archimède”[59]. Làm cho một đứa con xác tín rằng cha nó yêu thương nó, tức là làm cho nó cảm thấy an tâm và có thể đương đầu với cuộc sống. Một đứa con được cha dắt tay đi chơi, hoặc được nói chuyện thân mật với cha, là một đứa con hạnh phúc nhất, tự do nhất trên đời. Một ngày nọ, có một diễn viên nhào lộn tập ở tầng trên cùng của một tòa nhà chọc trời; anh hoàn toàn ngả người ra ngoài, chỉ dựa vào đầu ngón chân và ôm đứa con nhỏ trong tay. Khi họ trở xuống, có người hỏi đứa bé có sợ không, và nó ngạc nhiên trả lời: “Không, con đã ở trong vòng tay của bố con mà!” Đức tin muốn trả lại cho chúng ta một chút bảo đảm có thể làm cho chúng ta trở thành những thụ tạo mới, có tự do; nó muốn đưa chúng ta đến nơi mà chúng ta kêu lên, đầy xác tín, như thánh Phaolô trong hoàn cảnh của chúng ta: “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta…Chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (x. Rm 8,31tt). Đức Giêsu nói: Vậy đừng sợ, đừng nhu nhược, đừng chán nản. Ngươi sợ cái gì? Cha ngươi “biết”…Ngay cả tóc trên đầu ngươi cũng đã được đếm cả rồi. Ngươi đáng giá hơn chim sẻ bội phần.

Chính lời quả quyết long trọng “đến như Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc” đã giúp thánh Tông Đồ khắc sâu hơn trong chúng ta niềm tin tưởng này: Nếu Thiên Chúa đã không tiếc chính Con của Người, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta, thì, ngài nói tiếp, “lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta? (Rm 8,32): phần đầu của câu nhằm làm cho phần sau trở nên khả tín.

Thánh Irênê nói: Chúa Cha có hai cánh tay; hai cánh tay của Chúa Cha là Chúa Con và Chúa Thánh Thần[60]. Với những cánh tay này, Người đã đi tìm chúng ta giữa bóng tối của thế giới và giờ đây Người đã tìm thấy chúng ta, ôm chúng ta vào lòng. Chúng ta được kết hợp với Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần, mật thiết hơn bất cứ người con nào từng được kết hợp với cha mình, vì chúng ta không ở ngoài Người, nhưng được nhận vào trong sự thân mật của Người. Đức Giêsu đã cầu xin – và chắc chắn Ngài luôn được nhậm lời – “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con” (Ga 17,24), và Chúa Con có thể ở đâu nếu không phải ở “trong lòng Chúa Cha?” Vậy đó là “nơi đã chuẩn bị sẵn” cho chúng ta, là “ngôi nhà” của chúng ta, ở đó chúng ta sẽ đến, chúng ta sẽ ở lại đó mãi mãi, chiêm ngưỡng vinh quang của Người và thưa lên lời Abba vĩnh cửu, kỳ diệu!

Đối diện với mầu nhiệm dịu dàng này của Cha trên trời, chúng ta hướng về Đức Giêsu và nói với Ngài: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa là anh cả của chúng con, xin cho chúng con biết phải làm gì để tỏ ra xứng đáng với bao yêu thương và bao đau khổ từ Chúa Cha!” Và Đức Giêsu trả lời qua Phúc Âm và cuộc đời của Ngài. Ngài nói: “Có một điều con có thể làm, điều mà chính Ta đã làm và khiến Chúa Cha hài lòng: hãy tin tưởng vào Người, phó thác nơi Người, hãy tin Người! Bất chấp mọi sự, mọi người và bất chấp chính con.” Chúng ta hãy tưởng tượng một người bị mọi người buộc tội; mọi bằng chứng đều chống lại ông, đến nỗi những người trong nhà ông cũng không còn tin vào ông nữa; vả lại, họa có điên mới muốn bênh vực ông. Nhưng giờ đây, con trai ông đứng trước mặt mọi người, tuyên bố rằng những gì người ta tố cáo ông là không thể có, bởi vì anh ta biết cha mình là ai và sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước những luận chứng của họ… Niềm vui và lòng can đảm mà anh tỏ ra với cha mình, bằng sự tin tưởng không thể lay chuyển của mình, liệu chúng có đền bù cho anh về thái độ không hiểu của tất cả những người khác không? Thì này, chúng ta có thể là người con trai đó đối với Cha trên trời! Khi chúng ta ở trong bóng tối, trong đau khổ, khi mọi sự xung quanh và trong chúng ta dường như buộc tội Thiên Chúa, khi chúng ta không còn nhìn thấy gì trước mắt ngoại trừ sự phi lý vô lý nhất và khi chúng ta sắp buông bỏ hết, ngay lập tức chúng ta hãy trấn tĩnh trong niềm tin bộc phát và cũng hãy kêu lên: “Lạy Cha, con không còn hiểu Cha nữa, nhưng con tin tưởng vào Cha!” Đức Giêsu cũng đã kêu lên như vậy trong Vườn Cây Dầu; Ngài nói: “Lạy Cha, xin cất chén này xa con!” Chén vẫn còn đó, nhưng Đức Giêsu không mất niềm tin tưởng và kêu lên: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha!” Và Ngài đã được nhậm lời vì lòng đạo đức của mình. Ngài đã được nhậm lời, vì Chúa Cha đã cho Ngài sống lại từ trong kẻ chết và đã đặt Ngài làm Chúa mọi người, ngay cả với tư cách một con người.

Một tác giả cổ đại, khi đề cập hoàn cảnh của con người trước Đức Giêsu Kitô, đã nói: “Sự vô tri về Chúa Cha là nguồn mạch của thống khổ và sợ hãi”[61]. Hy vọng xua tan phần nào sự vô tri về Chúa Cha, mà, than ôi, vẫn còn tồn tại trên thế giới, giờ đây chúng ta hãy tiếp tục cuộc hành trình khám phá ơn cứu độ, luôn bám chắc vào lời Chúa.

 

7
TỘI LỖI ĐỪNG CÓ THỐNG TRỊ THÂN XÁC PHẢI CHẾT CỦA ANH EM NỮA!
Việc giải thoát khỏi tội lỗi

Chương 6 thư Rôma tiếp tục khai triển đề tài cứu độ, nhưng theo một quan điểm khác. Cho đến lúc này, thánh Phaolô đã giúp chúng ta khám phá ra cách thức một người được ơn cứu độ (một cách nhưng không, bởi đức tin); đã nói cho chúng ta về tác giả của ơn cứu độ và của biến cố làm cho ơn cứu độ này có thể thực hiện được (Đức Giêsu Kitô qua cuộc Khổ Nạn của Ngài và sau Ngài là Chúa Cha, do sự đồng khổ của Người). Giờ đây thánh Tông Đồ muốn nói với chúng ta về nội dung của ơn cứu độ, nghĩa là về các yếu tố cấu thành ơn cứu độ. Nội dung này có một khía cạnh tiêu cực là giải thoát khỏi tội lỗi và lề luật (Rm 6-7) và một khía cạnh tích cực là ân huệ của Chúa Thánh Thần (Rm 8). Chính như thế mà các tiên tri đã mô tả ơn cứu độ cho chúng ta và đã loan báo trước giao ước mới và vĩnh cửu, và chính như thế mà nó đã được thực hiện: “Ta sẽ rảy nước trong sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch… mọi ô uế và mọi tà thần. Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí mới vào lòng các ngươi” (Ed 36,25-26). Đức Giêsu đã thực hiện việc trước bằng cuộc Vượt Qua của Ngài, và việc sau bằng lễ Ngũ Tuần.

Hai khía cạnh này tùy thuộc lẫn nhau: quả thực, giải thoát là điều kiện để Chúa Thánh Thần đến; giải thoát bản thân khỏi quyền thống trị của tội lỗi là điều kiện tiên quyết để sống trong quyền thống trị của Đức Kitô, vốn được thể hiện trong Chúa Thánh Thần. Sách Khôn ngoan viết: “Tâm hồn gian ác, Đức Khôn Ngoan chẳng ngự vào. Xác thịt đắm chìm trong tội lỗi, Đức Khôn Ngoan không cư ngụ” (Kn 1,4) và Đức Giêsu thì nói: “Người ta không đổ rượu mới vào bầu da cũ” (x. Mt 9,17). Thiên Chúa không đổ rượu mới của Thần Khí Người vào bầu da cũ, là tâm hồn còn nô lệ cho tội lỗi. “Bạn phải đầy tràn sự lành, vậy hãy giải thoát bạn khỏi sự dữ. Giả sử Thiên Chúa muốn đổ đầy mật ong, nếu bạn đầy giấm chua, bạn sẽ để mật ong ở đâu? Cần phải vứt bỏ những thứ bên trong chiếc bình, hơn nữa, phải rửa sạch nó, và rửa lại cho thật kỹ, chà xát tận đáy, để nó xứng đáng lãnh nhận thực tại mới”[62]. Về vấn đề này, thánh Phêrô đã nói trong ngày lễ Ngũ Tuần một lời với đám đông và đưa ra một lời hứa cũng có giá trị đối với chúng ta: “Anh em hãy sám hối…Anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2,38).

Đoạn thư Rôma vốn là kim chỉ nam của chúng ta trong nỗ lực giải thoát khỏi tội lỗi, chính là toàn thể chương 6, nhưng đặc biệt là những câu sau đây: “Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy con người do tội lỗi thống trị bị hủy diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa… Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi. Vậy tội lỗi đừng có thống trị thân xác phải chết của anh em nữa… Anh em đừng dùng chi thế của anh em như khí cụ để làm điều bất chính, phục vụ cho tội lỗi nữa” (Rm 6,6-13).

Đây là một cuộc xuất hành vượt qua thực sự. Mừng lễ Vượt Qua có nghĩa là “loại bỏ men cũ để trở thành bột mới”; và đi từ “men cũ là lòng gian tà và độc ác” đến “bánh không men là lòng tinh tuyền và chân thật” (x. 1Cr 5,7-8); các Giáo Phụ bình giảng: điều đó có nghĩa là “từ tội lỗi đến sự sống, từ lỗi lầm đến ân sủng, từ ô uế đến thánh thiện”[63]. Qua những lời của thánh Tông Đồ cũng như những lời khác của Tân Ước nói về sự giải thoát khỏi tội lỗi, chúng ta có thể nhận ra đâu là những “hành vi” hay các “bước” mà chúng ta phải làm, để hoàn tất “cuộc di chuyển tốt đẹp” của mình, là xa lánh tội lỗi và, với sự trợ giúp của Thiên Chúa, để thực hiện chúng nơi ta. Nếu có thể, hãy bắt đầu ngay từ hôm nay. Quả thực có lời chép: “Ngày hôm nay, nếu anh em nghe tiếng Chúa, thì đừng cứng lòng” (Dt 4,7).

1. Nhận biết tội lỗi

Thế giới đã mất ý thức về tội. Người ta nói đùa về tội như thể về chuyện vô tội nhất từng có. Họ thêm thắt những sản phẩm, những trình diễn của mình, với ý tưởng về tội, để giúp cho chúng hấp dẫn hơn. Họ nói về tội, kể cả những tội nặng nhất, bằng những kiểu nói giảm nhẹ tội: những tội dễ thương, những tật xấu nhỏ, những tội lỗi nhẹ… Họ không còn sợ chúng nữa. Họ sợ mọi thứ, trừ ra tội. Họ sợ khí quyển ô nhiễm, những “căn bệnh âm thầm” của thân xác, chiến tranh hạt nhân; nhưng không sợ chiến tranh chống lại Thiên Chúa là Đấng hằng hữu, toàn năng, là tình yêu, trong khi Đức Giêsu dạy đừng sợ những kẻ giết thân xác, nhưng hãy sợ Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào địa ngục (x. Lc 12,4-5).

Tình trạng “bao quanh” này gây ảnh hưởng đáng sợ ngay cả đối với các tín hữu, những người vẫn muốn sống theo Phúc Âm. Nó làm cho lương tâm họ cùn nhụt, sản sinh ra một loại thuốc gây mê thiêng liêng. Người Kitô hữu không còn nhận ra kẻ thù thực sự của họ, ông chủ đang bắt họ làm nô lệ, đơn giản vì đó là thứ nô lệ mạ vàng; cuối cùng, con người đồng hóa tội lỗi với chỗ đứng của những kẻ thù chính trị hoặc ý thức hệ của mình. Người này nói: tội ở bên cánh tả; người kia bảo: tội ở bên cánh hữu. Nhưng điều Chúa Kitô nói về vương quốc Thiên Chúa cũng có giá trị đối với vương quốc tội lỗi (x. Lc 17,21): Khi người ta nói tội ở đây này, tội ở kia kìa, thì đừng có tin, vì tội ở trong lòng ta. Một cuộc khảo sát xem người ta nghĩ gì về vấn đề tội lỗi, tội là gì, hẳn sẽ mang lại những kết quả có thể khiến chúng ta kinh sợ. Tất cả nỗ lực ngày nay tập trung vào cố gắng giải thoát bản thân không phải khỏi tội lỗi, nhưng là khỏi sự hối hận vì đã phạm tội. Thay vì chiến đấu chống lại tội lỗi, người ta chiến đấu chống lại ý tưởng về tội lỗi. Người ta làm điều mà trong tất cả các lãnh vực khác, được coi là điều tồi tệ nhất, và điều đó bao gồm việc phủ nhận vấn đề thay vì giải quyết, đè nén và chôn vùi cái ác trong vô thức thay vì loại bỏ. Như người tin rằng mình đang loại bỏ cái chết bằng cách loại bỏ ý nghĩ về cái chết, hay như người lo làm hạ cơn sốt mà không chữa lành bệnh, cơn sốt chỉ là một triệu chứng lộ ra bên ngoài mang tính chất quan phòng. Thánh Gioan nói rằng quả quyết mình không có tội là chúng ta tự lừa dối mình và cho Thiên Chúa là kẻ nói dối (x. 1Ga 1,8-10). Thật ra Thiên Chúa nói ngược lại: Người nói rằng chúng ta đã phạm tội. Kinh Thánh cho biết Đức Kitô “chết vì tội chúng ta” (x. 1Cr 15,3). Không thừa nhận tội lỗi, bạn làm cho chính sự cứu chuộc của Đức Kitô trở nên vô ích, bạn phá hủy ý nghĩa cái chết của Ngài. Khi ấy, Đức Kitô chiến đấu với những chiếc cối xay gió đơn thuần, đã đổ máu mình ra vô ích.

Sự thừa nhận tội lỗi mà chúng ta đã nói cho tới lúc này là một sự thừa nhận có thể coi là về mặt giáo lý, theo nghĩa chấp nhận giáo lý của Kinh Thánh và Giáo Hội về tội lỗi. Nhưng như thế là không đủ; chúng ta còn phải có một kiểu thừa nhận khác, không chỉ mang tính lý thuyết và chung chung, mà còn mang tính hiện sinh và cá nhân. Sự thừa nhận này hệ tại ở chỗ đột nhiên ý thức rằng tội lỗi – thứ quái dị và khủng khiếp này – đang ở bên cạnh bạn, ở trong lòng bạn. Ý thức mà run sợ. Giống như người, một buổi sáng thức dậy, phát hiện ra mình đã ngủ cả đêm với một con rắn độc nằm cuộn tròn trong góc phòng. Một tác giả thời Trung cổ nói: Hãy cố gắng cảm nhận tội lỗi trong tổng thể của nó, giống như một khối to đùng mà bạn chỉ biết đó là cái tôi riêng của bạn. Khi đó, ngần nào có thể, bạn kêu lên trong tâm trí tiếng kêu duy nhất này: Tội lỗi đó! Tội lỗi đó![64]

Vậy bước đầu tiên trong cuộc xuất hành của chúng ta ra khỏi tội lỗi là nhận biết tội lỗi, nhận ra nó có một cái gì đó nghiêm trọng khủng khiếp.

2. Sám hối tội lỗi

Bước thứ hai là sám hối. Sách Công vụ thuật lại rằng khi nghe lời tố cáo khủng khiếp của Phêrô: “Anh em đã đóng đinh Đức Giêsu người Nadaret!”, những người có mặt ở đó “đau đớn trong lòng”, họ nói với Phêrô và các tông đồ: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì? Phêrô đã trả lời họ “Anh em hãy sám hối!” (Cv 2,37 tt). Cũng trong sách Công vụ này, xa hơn vài đoạn, chúng ta hấy một sự kiện làm chúng ta phải suy nghĩ nhiều. Phêrô nói: “Đức Giêsu đã bị các ông treo lên cây gỗ mà giết đi; nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã làm cho Người trỗi dậy.” Nhưng lần này phản ứng rất khác: “Nghe vậy, họ giận điên lên và muốn giết các ông.” (Cv 5,30.35) Điều mà lúc này họ chưa thể làm cho Phêrô, thì sau đó họ sẽ làm cho Têphanô. Sự đối chiếu hai tình huống này đặt gần nhau cho chúng ta thấy, trước lời Chúa khiển trách về tội lỗi, người ta có thể đi theo hai con đường ngược chiều nhau: con đường sám hối hoặc con đường cứng lòng. Trong số ba nghìn người nghe Phêrô ngày lễ Ngũ Tuần, tất cả đều “ăn năn” (katenufesan), đến nỗi họ cảm thấy đau đớn trong lòng. Còn các người trong Hội đồng cũng vậy, khi nghe Phêrô và Têphanô giảng, cũng cảm thấy đau lòng đấy chứ, nhưng không phải vì sám hối, nhưng vì uất giận (dieprionto). Đấy là tội chống lại Chúa Thánh Thần, tội mà Đức Giêsu nói là sẽ không bao giờ được tha (x. Mt 12,31). Thật vậy, tội lỗi này hệ tại ở chỗ từ chối đón nhận việc tha tội, một hành vi chỉ làm cho người biết sám hối.

Như tôi đã nói, sự kiện này phải làm cho chúng ta sợ hãi và run rẩy; quả thực, lựa chọn bên này hoặc bên kia cũng mở ra trước mắt chúng ta; chúng ta có thể đi vào một trong hai con đường: con đường của đám đông dân chúng hoặc con đường của Hội đồng Do Thái.

Nhưng sám hối là gì? Thuật ngữ gốc, metanoein, chỉ sự thay đổi tư tưởng, não trạng. Nhưng vấn đề không phải là thay thế cách suy nghĩ của chúng ta bằng một cách suy nghĩ vẫn còn là của chúng ta, cho dù khác với trước đây. Vấn đề không phải là thay não trạng của chúng ta bằng một não trạng khác vẫn còn là của chúng ta; hoặc thay phán đoán của chúng ta bằng một phán đoán khác vẫn còn là phán đoán của chúng ta. Thay là thay cách suy nghĩ của chúng ta bằng cách suy nghĩ của Thiên Chúa. Phải, sám hối là đi vào sự phán đoán của Thiên Chúa. Thiên Chúa có cách phán đoán riêng của Người về chúng ta, về tình trạng thiêng liêng của chúng ta, về cách hành xử của chúng ta. Phán đoán này là hoàn toàn và tuyệt đối đúng; chỉ mình Thiên Chúa biết tận đáy lòng chúng ta, những trách nhiệm cũng như những hoàn cảnh giảm nhẹ của chúng ta; Thiên Chúa biết mọi sự về chúng ta. Sám hối là làm cho phán đoàn này của Thiên Chúa về ta trở thành phán đoán của ta bằng cách nói: Lạy Chúa, con xin phục tùng phán đoán của Ngài. “Ngài thật công bình khi tuyên án, và liêm chính khi xét xử” (Tv 51,6) Tất cả những điều này bao gồm một sự “ăn năn”, nghĩa là một kiểu cắt xuyên tâm hồn, bởi vì để chứng minh Thiên Chúa đúng, bạn phải chứng minh mình sai, phải chết cho chính mình. Bạn càng đi vào sự phán đoán của Thiên Chúa, bạn càng thấy tội lỗi là gì và kinh khủng như thế nào. Một Thánh vịnh nói rằng sự phán đoán của Thiên Chúa “tựa vực sâu thăm thẳm” (Tv 36,7).

Một thành phần thiết yếu của ăn năn chân thành là đau buồn. Con người không chỉ nhận ra mình đã hành động sai trái mà còn buồn vì mình đã hành động sai trái, và buồn không chỉ vì hình phạt mình đáng phải chịu và nỗi đau mình sẽ phải chịu, nhưng càng buồn hơn vì nỗi đau mà mình đã gây ra cho Thiên Chú, vì đã phản lại tình yêu vĩ đại của Người. Con người đó đau buồn vì tất cả những gì tội lỗi đã gây ra cho Đức Giêsu trên thập giá. Sự đau buồn đích thực chỉ có thể nảy sinh khi có tình yêu: “Ngài đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Nước mắt thường là dấu chỉ hữu hình của sự đau buồn này, một nỗi đau làm dịu tâm hồn và rửa sạch nó. Thật tốt khi cầu xin được trải nghiệm một lần tắm trong lửa thanh tẩy này. Một ngày kia, khi đang suy gẫm về cơn hấp hối của Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani, một người nghe thấy giọng nói này vang vọng trong mình: “Ngươi muốn Ta luôn phải trả giá bằng máu của nhân tính Ta, mà ngươi không khóc sao?… Ta là bạn ngươi hơn người này người khác, bởi vì Ta đã làm cho ngươi nhiều hơn họ và họ sẽ không phải chịu đựng những gì Ta phải chịu đựng vì ngươi, và họ sẽ không chết cho ngươi những lúc nguơi bất trung và tàn ác, như Ta đã làm và như Ta sẵn sàng làm[65]. Chúng ta đã khóc lóc đủ cho mình, đã có những giọt nước mắt thương xót, những giọt nước mắt không trong sạch. Đã đến lúc phải đổ những giọt lệ khác, những giọt lệ ăn năn, những giọt lệ tinh tuyền.

Trong việc sám hối, chính Chúa Thánh Thần đã hoạt động, ngay cả khi Người hoạt động với sự tự do của chúng ta và trên sự tự do của chúng ta. Đức Giêsu nói rằng “Người sẽ tố cáo thế gian về tội lỗi” (x. Ga 16,7). Chúa Thánh Thần, ngón tay rực lửa của Thiên Chúa, chạm đến trái tim chúng ta, nghĩa là lương tâm chúng ta, ở nơi mà chỉ mình Người biết, và làm nó mở ra cho ánh sáng chân lý. Bấy giờ tội nhân òa khóc bày tỏ “ý thức” mới này về chính mình: “Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm, Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy Ngài thật công bình khi tuyên án” (Tv 51,5tt). Thiên Chúa được nhìn nhận là “công bình”; con người bắt đầu thấy đau khổ dưới mọi hình thức với đôi mắt khác, không còn do Thiên Chúa gây ra, nhưng do tội lỗi của mình. Thiên Chúa được minh oan khỏi sự dữ, Người được tuyên bố vô tội; tình yêu và lòng nhân từ của Người được bảo toàn. Sự thật bị “bất chính giam cầm” được giải thoát. Điều kỳ diệu của sám hối là ngay khi con người chống lại mình, thì Thiên Chúa lại đứng về phía họ, Ngài lập tức bắt đầu bảo vệ họ chống lại những lời buộc tội, thậm chí những lời buộc tội của chính lòng họ (x. 1Ga 3,20tt). Người con của dụ ngôn vừa lên tiếng: “Thưa cha, con đã lỗi phạm!” thì người cha đã nói: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu…” (x. Lc 15,21tt).

Sám hối thực sự không phải là một “tình cảm nô lệ”. như có người đã tuyên bố[66]. Tâm lý học hiện đại đôi khi cho người ta cảm tưởng lên án bừa bãi mọi tình cảm tội lỗi như một hiện tượng do bệnh thần kinh. Nhưng nó đã có thể chứng minh trên thực tế rằng tình cảm này có thể thoái hóa và trở thành một “mặc cảm” tội lỗi. Nhưng điều đó, ai lại không biết? Tuy nhiên, trong những trường hợp này, tình cảm tội lỗi không phải là nguyên nhân gây ra tình trạng bệnh hoạn, mà ngược lại, nó bộc lộ tình trạng này, khi nó không hoàn toàn đơn giản là kết quả của một nền giáo dục tôn giáo sai lầm. Trong thực tế, ý thức về lỗi lầm và sám hối, khi chúng thật sự chính thực và tự do, bao giờ cũng bộc lộ rõ ​​ràng hơn, ngay cả trên phân tích tâm lý, như những tình cảm hoàn toàn nhân bản và xây dựng. Khác xa với việc khiến một người thụt lùi về tình trạng “bệnh hoạn” của thụ động và tự gây thương tích, sám hối trở thành nguồn mạch phục hồi liên tục và đổi mới cuộc sống. Không có gì phục hồi niềm hy vọng và sự tin tưởng tốt hơn là, trong một số trường hợp, nói lên được rằng: Tôi đã phạm tội, tôi đã sai, và làm điều này trước con người cũng như trước Thiên Chúa. Nếu “lầm lỗi thuộc về con người” thì việc nhận ra mình có lỗi, tức là sám hối, lại càng thuộc về con người hơn. Sám hối không ích gì cho Thiên Chúa, mà có ích cho chúng ta. Thiên Chúa không đòi con người phải sám hối để Người được vui lòng vì chiến thắng và hạ nhục thụ tạo, nhưng vì Người biết rằng đó là sự cứu rỗi, đó là cách xứng đáng duy nhất để con người trở về với sự sống và sự thật sau khi đã phạm tội. Một Thánh vịnh mô tả sự biến đổi kỳ diệu do sám hối thực hiện:

Hạnh phúc thay, kẻ lỗi lầm mà được tha thứ,

Người có tội mà được khoan dung…

Bao lâu con lặng thinh không thua lỗi,

Thì gân cốt rã rời, cả ngày con gào thét.

Vì ngày đêm con bị tay Ngài đè nặng…

Bởi thế con đã xưng tội ra với Ngài

Chẳng giấu Ngài lầm lỗi của con.

Con tự nhủ: “Nào ta đi thú tội với Chúa

Và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con

(Tv 32,1 tt).

Chừng nào con người còn giữ tội lỗi trong lòng và không muốn nhận ra nó, thì tội làm cho họ hao mòn và buồn bã; nhưng khi con người quyết định xưng thú tội đó với Thiên Chúa, họ lại cảm thấy được bình an và hạnh phúc.

Vậy bước thứ hai là sám hối tội lỗi. Để “hoàn thành” bước này, không cần thiết phải làm ngay, vào chính lúc chúng ta cảm thấy vết thương này trong tâm hồn và những giọt lệ đã tuôn trào nơi mắt chúng ta. Điều đó tùy thuộc vào ân sủng và có thể xẩy ra ngay hoặc từ từ qua năm tháng, mà thậm chí chúng ta không nhận thấy. Điều được đòi hỏi là bắt đầu ngay ước ao và muốn sám hối, khi thưa với Chúa: “Xin cho con biết sám hối thật lòng; đừng từ chối ơn này với con trước khi con chết!” Muốn sám hối là đã sám hối rồi.

3. “Dứt khoát đoạn tuyệt với tội lỗi”

Bước thứ ba trong cuộc xuất hành của chúng ta bao gồm việc “dứt khoát đoạn tuyệt với tội lỗi”. Hướng dẫn chúng ta trong quá trình này vẫn là lời Chúa. Thánh Phaolô nói: “Hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi”, và: “Tội lỗi đừng có thống trị trong thân xác phải chết của anh em”. Thánh Phêrô làm vang vọng lời này khi ngài nói: “Ai chịu đau khổ trong thân xác, thì đoạn tuyệt với tội lỗi, để bao lâu còn sống trong thân xác, người ấy không còn theo những đam mê của con người nữa, mà theo ý muốn của Thiên Chúa.. Thật thế, trong quá khứ anh em đã sống theo sở thích của dân ngoại đạo. Vậy là quá đủ rồi!.. ( 1Pr 4,1-3) Do đó, bước này hệ tại ở chỗ nói “Đủ rồi”, đối với tội lỗi, hoặc nói như Phaolô: “coi mình như đã chết đối với tội lỗi”. Chính đó là giai đoạn quyết định hay quyết tâm. “Về vấn đề gì? Rất đơn giản. Vấn đề là đưa ra quyết định chân thành và không thể thu hồi, trong chừng mực điều đó tùy thuộc chúng ta, tùy thuộc vào việc không phạm tội nữa. Diễn đạt theo cách này, sự việc có thể xem ra mơ hồ và ít thực tế, nhưng không phải vậy. Không ai trong chúng ta có thể một sớm một chiều không còn phạm tội nữa, nhưng đó không phải là điều Thiên Chúa muốn nơi ta. Nếu xét mình cho kỹ, mỗi người chúng ta sẽ nhận ra, bên cạnh bao nhiêu tội mình phạm, còn có một tội, không giống những tội khác, vì cố ý hơn. Đó là tội mà chúng ta vẫn âm thầm một chút gắn bó với nó, tội mà chúng ta thú nhận nhưng không thực sự muốn nói: “Đủ rồi!” Tội này, chúng ta có cảm tưởng là sẽ không bao giờ có thể thoát khỏi, vì thực ra, chúng ta không muốn thoát, hoặc không muốn thoát ngay. Trong Confessions, thánh Augustinô mô tả cuộc đấu tranh của mình chống lại tội nhục dục. Đã có lúc ngài xin với Chúa: “Xin ban cho con sự khiết tịnh và tiết dục… nhưng một tiếng nói thầm kín xen vào: chưa phải ngay bây giờ nha!”, cho đến khi ngài kêu lên cho mình: “Tại sao lại ngày mai? Tại sao không phải bây giờ? Tại sao chính giờ phút này lại không chấm dứt cuộc đời đáng xấu hổ của tôi?[67] Ngài chỉ cần nói: “đủ rồi”, là cảm thấy được tự do. Tội lỗi cầm giữ chúng ta cho đến lúc chúng ta nói với nó: “đủ rồi”. Khi đó nó hầu như mất hết quyền lực đối với ta.

Điều xẩy ra trong thiên nhiên cũng xẩy ra trong đời sống chúng ta. Đôi khi người ta nhìn thấy những cây ô liu già với thân cây nứt nẻ và khô héo, nhưng bất chấp điều đó, vẫn có những cành xanh ở trên cùng, vào mùa của chúng, với những quả ô liu xinh đẹp. Quan sát kỹ, chúng ta phát hiện ra lời giải thích hiện tượng: đó là ở đâu đó, giữa thân cây khô và sần sùi này, vẫn có một “mạch” gỗ sống chìm sâu trong đất và cho phép cây tiếp tục sống. Đó là điều xảy ra với cây tội lỗi xấu xa trong đời sống chúng ta. Lẽ ra nó phải hoàn toàn chết và không sinh hoa trái, lúc mà chúng ta không muốn phạm tội, đã xưng thú và từ chối nó rất nhiều lần, nhưng nó vẫn tiếp tục sinh hoa trái. Tại sao vậy? Lý do là vì trong chúng ta vẫn còn một “cành xanh” nào đó đâm rễ sâu vào mảnh đất sống tự do của chúng ta.

Để khám phá ra “cành xanh” này là gì đối với chúng ta, phải cố gắng xem đâu là điều chúng ta sợ bị lấy mất, điều chúng ta bảo vệ mà không thú nhận nó, điều chúng ta duy trì ở mức độ vô thức và điều chúng ta không đưa ra ánh sáng, để sau đó không bị buộc phải từ bỏ nó, dưới sự thôi thúc của lương tâm. Thường xuyên hơn một tội lỗi cụ thể, vấn đề là một thói quen phạm tội, hoặc một ” thiếu sót” cần phải chấm dứt. Lời Chúa mời gọi chúng ta khám phá ra “sợi dây” vẫn đang trói buộc chúng ta và cương quyết cắt đứt nó.

Cụ thể phải làm gì? Trong một lúc hồi tâm, trong một buổi tĩnh tâm, hoặc ngay cả hôm nay, hãy đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa và quỳ gối thưa với Người: “Lạy Chúa, Chúa biết con yếu đuối, và con cũng biết điều đó. Vì vậy, chỉ tin tưởng vào ân sủng và lòng thành tín của Chúa, con xin thưa cùng Chúa, từ nay trở đi, con muốn bỏ qua sự hài lòng này, sự tự do này, tình bạn này, sự oán giận này, tội lỗi “này”…; con muốn chấp nhận giả thiết từ nay phải sống mà không có điều đó. Giữa tội lỗi và bản thân con – tội lỗi này mà Chúa biết – kết thúc rồi. Con nói “đủ rồi”. Xin hãy giúp con nhờ Thần Khí Chúa. Xin đổi mới trong con một tâm trí vững vàng, bảo đảm trong con một tâm trí hào hiệp. Con coi mình như đã chết cho tội lỗi”. Sau đó, tội không còn “ngự trị” nữa, đơn giản là vì bạn không muốn nó ngự trị nữa; quả thực nó đã ngự trị trong ý muốn của bạn. Nếu trong cuộc sống của bạn vẫn còn tội lỗi – và gần như chắc chắn là sẽ còn – thì đó là bạn không đồng lõa với tội lỗi nữa, mà chỉ là chung sống với nó, miễn cưỡng chung sống với nó, chấp nhận nó như một phần sự thanh tẩy của bạn, chiến đấu chống lại nó; đây là điều hoàn toàn khác so với tình huống trước đây, khi bạn đồng lõa với tội. Ngoài mặt thì có thể không có gì thay đổi; những người sống với bạn cũng có thể nhận thấy rõ cũng những lỗi đó, nhưng đối với Thiên Chúa, có điều gì đó đã thay đổi, vì sự tự do của chúng ta đã đứng về phía Người.

Nhưng phải nhấn mạnh một điểm: đó là một quyết định phải được thực hiện ngay, nếu không sẽ thất bại. Phải lập tức hành động ngược lại, mau mắn nói tiếng “không” đầu tiên với đam mê hoặc thói quen tội lỗi, nếu không nó sẽ lập tức lấy lại toàn bộ sức mạnh của mình. Một nhà văn Kitô giáo đưa ra một nhận xét tế nhị như sau. Ông nói: đối với một người nào đó, lời Chúa cho biết tội của anh ta là mê đánh bạc, đó là điều mà Thiên Chúa yêu cầu anh ta hy sinh cho Người. (có thể mở rộng thí dụ này cho các thói quen tội lỗi khác, chẳng hạn ma túy, uống rượu, thù hận, thói quen nói dối, giả hình, dâm ô.) Người này biết như thế là có tội, quyết định dừng lại và tuyên bố: “Tôi lập một lời hứa long trọng và thiêng thánh là không bao giờ đánh bạc nữa, không bao giờ nữa: đêm nay sẽ là lần cuối cùng!” Anh ta không giải quyết được gì, sẽ tiếp tục chơi như trước. Lẽ ra anh phải tự nhủ: “Được, mai mốt mày sẽ chơi, tha hồ, nhưng đêm nay thì không!” Nếu anh giữ vững lập trường và không chơi vào đêm đó, anh sẽ được giải thoát; và có lẽ trong quãng đời còn lại, anh sẽ không bao giờ đánh bạc nữa. Giải pháp đầu tiên là một mánh khóe mà đam mê giở trò với tội nhân; ngược lại, giải pháp thứ hai là một mánh khóe mà tội nhân giở trò với đam mê.[68]

Thành thật mà nói, cái “đủ rồi!” của chúng ta không chỉ liên quan đến tội lỗi mà còn đến cả cơ hội phạm tội nữa. Theo lời khuyên của khoa luân lý truyền thống, chúng ta phải tránh dịp tội gần; bởi vì nuôi dưỡng dịp tội sẽ đi đến chỗ nuôi dưỡng chính tội. Dịp tội giống như một số ác thú quyến rũ và thôi miên con mồi, để sau đó con mồi bị ngấu nghiến mà không thể nhúc nhích một tí nào. Cơ hội kích hoạt nơi con người những cơ chế tâm lý kỳ lạ: nó “quyến rũ” ý chí bằng ý tưởng đơn giản: “Không lợi dụng cơ hội này thì sẽ không bao giờ có cơ hội khác nữa đâu; không tận dụng là ngốc”. Cơ hội khiến cho người không tránh nó rơi vào trong tội, giống như sự chóng mặt khiến người đi bên bờ vực rơi xuống vực.

4. “Hủy diệt thân xác tội lỗi”

Trong bản văn của chúng ta, thánh Phaolô ám chỉ một hoạt động cuối cùng khi đối diện với tội lỗi, hệ tại ở chỗ “hủy diệt thân xác tội lỗi”. Ngài viết: “Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị hủy diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa” (x. Rm 6,6). Qua đó, ngài muốn nói rằng Đức Giêsu, trên thập giá, đã hủy diệt cách tiềm tàng toàn bộ thân thể – nghĩa là tất cả thực tại – tội lỗi, và giờ đây Ngài cho chúng ta khả năng hủy diệt thực tế, cùng với ân sủng của Ngài, con người tội lỗi nơi ta. Hoạt động này bao gồm những gì, tôi muốn thử giải thích bằng một ví dụ, hoặc tốt hơn bằng cách cho biết chính Chúa đã khiến tôi hiểu nó như thế nào. Một hôm tôi đang đọc Thánh vịnh nói rằng: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ… Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa… Mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả” (Tv 139,1tt); một Thánh vịnh cho chúng ta cảm tưởng, khi đọc nó, như được cái nhìn của Thiên Chúa chiếu tia điện, được ánh sáng của Ngài lướt qua. Có lúc khi suy nghĩ, tôi thấy mình đứng về phía Thiên Chúa, như thể đang dò xét mình bằng ánh mắt của Ngài. Trong đầu tôi lúc đó hiện lên một hình ảnh rất rõ: hình ảnh của một măng đá, nghĩa là một trong những cột đá vôi được hình thành dưới đáy của một số hang động hàng nghìn năm, do những giọt nước đá vôi từ trên vòm của hang động rơi xuống. Cùng lúc tôi có được lời giải thích về hình ảnh này. Những tội lỗi hiện thời của tôi, bao năm qua, đã rơi xuống tận đáy lòng tôi như bao giọt nước đá vôi. Mỗi giọt đã để lắng ở đó một ít đá vôi, tức là một ít mù tối, cứng cỏi, chống lại Thiên Chúa, giọt nước ấy sẽ làm thành khối với giọt mà tội lỗi trước đó đã để lại. Hoàn toàn giống như điều xảy ra trong thiên nhiên, đá vôi lớn nhất cũng tan biến như nước, nhờ xưng tội, Thánh Thể, cầu nguyện… Nhưng mỗi lần như vậy, vẫn còn lại một điều gì đó không tan hết, và sở dĩ có điều này là vì sự sám hối và kiên định không trọn vẹn và tuyệt đối, chúng không “hoàn hảo”. Và thế là măng đá của tôi đã lớn lên như một cái cột, như một tảng đá lớn đè nặng trên tôi. Lúc ấy tôi chợt hiểu ra thế nào là “thân xác tội lỗi” như thánh Phaolô nói, thế nào là “tâm hồn chai đá” như Thiên Chúa nói trong sách Êdêkien: “Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các người một quả tim bằng thịt” (Ed 36,26). Đó là quả tim chúng ta đã tạo ra cho chính mình, qua thỏa hiệp và tội lỗi. Đó không chỉ là nỗi đau đơn thuần vẫn còn lại, một khi lỗi lầm đã được tha; đó là tội và lỗi cùng với nhau. Đó là con người cũ.

Vậy phải làm gì trong tình huống này? Tôi không thể loại bỏ viên đá này theo ý muốn của mình tôi, vì nó ở trong ý muốn của tôi. Ở đây, phần thuộc về con người (điều mà thần học gọi là opus operantis) dừng lại, và bắt đầu phần thuộc về Thiên Chúa (opus operatum), ngay cả khi Thiên Chúa chắc chắn không vắng mặt trong các bước trước đó. Về tội lỗi, điều quan trọng nhất trong Kinh Thánh không phải sự kiện chúng ta là tội nhân, nhưng là việc Thiên Chúa tha tội. Con người có thể phạm tội, nhưng không thể tha tội. “Chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội” (x. Mc 2,7). Hôm ấy, thánh Phêrô, sau khi nói: “Anh em hãy sám hối”, đã nói thêm: “Mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu để được ơn tha tội” (Cv 2,28), như thế là kết hợp chặt chẽ việc sám hối với bí tích. Nếu là lần đầu tiên hoán cải tới đức tin, thì bí tích trong trường hợp này là bí tích rửa tội, còn bí tích lúc này là bí tích sám hối, mà các Giáo Phụ đã gọi là “tấm bè cứu rỗi thứ hai cho những ai đắm tàu ​​sau khi chịu phép rửa”[69]. Thánh Gioan nói: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi, tôi viết cho anh em những điều này để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha, đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính. Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền tội chúng ta” (1Ga 2,1-2); và ngài còn nói: “Máu của Đức Giêsu rửa chúng ta sạch mọi tội lỗi”. Máu của Đức Kitô là “dung môi” tuyệt vời và mạnh mẽ mà trong bí tích sám hối, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần hoạt động trong Ngài, có thể làm tiêu tan thân thể tội lỗi. Giáo Hội được ban quyền tha tội nhân danh Đức Giêsu, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha” (Ga 20,22tt). Chúa Thánh Thần không chỉ “tố cáo chúng ta về tội lỗi”, nhưng còn giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. Hơn nữa, chính Người là “sự tha thứ tội lỗi”.

5. “Đấng đã chịu đau khổ trong thân xác…”

Chúng ta có thể “cộng tác” vào việc hủy diệt thân xác tội lỗi, bằng cách hỗ trợ hoạt động của các bí tích, và làm điều này nhất là bằng hai cách: bằng đau khổ và bằng lời ca ngợi. Giáo Hội gọi tất cả những việc đó là đền tội hoặc đền bù, và tượng trưng bằng việc đền tội nhỏ phải làm sau khi xưng tội. Việc đền tội nhỏ này là một “dấu chỉ”: nó chỉ ra một hành động và một thái độ phải vượt ra ngoài bí tích. Thánh Phêrô, trong bản văn từ nay đã trở thành quen thuộc, nói: “Chính vì Đức Kitô đã chịu đau khổ trong thân xác, nên anh em cũng phải lấy tư tưởng này làm khí giới: ai chịu đau khổ trong thân xác thì đoạn tuyệt với tội lỗi” (1Pr 4,1). Bằng cách này, ngài thiết lập một nguyên tắc vô cùng quan trọng: ai chịu đau khổ thì đoạn tuyệt với tội lỗi. Kể từ khi Con Thiên Chúa đã trải qua đau khổ để thánh hóa nó, nó có sức mạnh nhiệm mầu “hủy diệt” tội lỗi, phá vỡ mạng lưới đam mê và xua đuổi tội lỗi ra khỏi các chi thể của chúng ta. Giống như một cây bị rung chuyển mạnh thì mọi trái thối rụng xuống đất. Chúng ta không biết tại sao lại như vậy, nhưng chúng ta biết nó là như vậy. Chúng ta thấy điều đó mỗi ngày trong chúng ta và xung quanh chúng ta: “Đau khổ có nghĩa trở nên đặc biệt thụ cảm, đặc biệt mở rộng cho hành động của những sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa được ban cho nhân loại trong Đức Kitô”[70]. Đau khổ là một kênh kết hợp độc đáo với cuộc khổ nạn qua đó ơn tha thứ tội lỗi đến với chúng ta. Thường ra, vấn đề không phải là đi tìm đau khổ, nhưng là đón nhận với một tâm hồn mới đau khổ đã có trong đời sống chúng ta. Trên hết, chúng ta nên cẩn thận để không lãng phí những đau khổ “bất công” nhỏ nhoi có trong cuộc đời, vì nó đặc biệt liên kết chúng ta với Đức Kitô: những sỉ nhục, những chỉ trích bất công, những xúc phạm, những thù địch dường như đã được định trước đối với chúng ta, khiến chúng ta đau khổ rất nhiều. Một mức độ mật thiết nào đó với Đấng Cứu Chuộc chỉ có thể đạt được qua con đường “thông phần những đau khổ của Người” (Pl 3,10), chứ không phải cách nào khác. Chính nhờ đó mà chúng ta chiến thắng được tội lỗi cơ bản là sự hãnh diện, vênh vang. Không bỏ phí sự đau khổ này hệ tại trước hết ở chỗ không nói về nó nếu không thật sự cần thiết và hữu ích: bo bo giữ nó như một bí mật giữa Thiên Chúa và chúng ta, để đừng làm mất đi hương vị và đặc tính đền tội của nó. Một Giáo Phụ ở sa mạc đã nói: “Đau khổ của bạn có lớn thế nào đi nữa, bạn phải chiến thắng nó trong thinh lặng”[71].

Song song với đau khổ, một phương tiện mạnh mẽ khác để “hủy diệt thân xác tội lỗi” là ca ngợi. Ca ngợi là cách chống lại tội tuyệt hảo. Nếu mối tội đầu, như thánh Tông Đồ giải thích cho chúng ta ngay từ đầu, là vô đạo, nghĩa là từ chối tôn vinh Thiên Chúa và tạ ơn Người, thì ngược lại hoàn toàn với tội lỗi không phải là nhân đức mà là ca ngợi! Phải, tôi xin nhắc lại, ngược với tội lỗi không phải là nhân đức, mà là ca ngợi! Trái ngược với vô đạo là đạo đức. Phải học cách chiến đấu chống lại tội lỗi, không phải bằng những phương tiện nhỏ, mà bằng những phương tiện lớn, không chỉ bằng những phương tiện tiêu cực mà còn bằng những phương tiện tích cực; phương tiện lớn và tích cực tuyệt vời là chính Thiên Chúa. Chúng ta sẽ không có tội nếu chúng ta có Thiên Chúa. Nơi nào Thiên Chúa đi vào, thì tội lỗi đi ra. Kinh Thánh thường nói về một “hy lễ ca ngợi”: “Hãy tiến dâng Thiên Chúa lời tạ ơn làm hy lễ… Kẻ dâng lời tạ ơn làm hy lễ sẽ làm hiển danh Ta… Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn” (Tv 50, 14.23; Tv 116, 17).

Có thể có mối liên hệ nào giữa ca ngợi và hy tế? Hy tế đồng nghĩa với sát tế và phá hủy một cái gì đó; nhưng ca ngợi sát tế và phá hủy cái gì? Nó sát tế và phá hủy sự kiêu căng của con người! Người ca ngợi Thiên Chúa là người hiến dâng cho Người một lễ vật làm đẹp lòng Người nhất: chính vinh quang riêng của mình. Khả năng thanh tẩy lạ lùng của lời ca ngợi là ở đó. Ẩn giấu trong lời ca ngợi là sự khiêm nhường. Điều phi thường nhất là mọi sự đều có thể trở thành lý do ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa, kể cả tội lỗi, nếu muốn. Không có tình trạng thiếu hiểu biết nào, dù nặng nề đến đâu, mà không thể đảo ngược được, miễn là, dùng bạo lực thần thánh xé bỏ mọi lý luận của xác thịt, con người quyết định bắt đầu tôn vinh Thiên Chúa. Tôi dám nói là có thể tôn vinh Thiên Chúa, ngay cả đối với tội lỗi của tôi; không phải vì tôi đã phạm tội (đó là báng bổ Thiên Chúa), nhưng vì những gì Người đã làm, khi đối mặt với tội lỗi của tôi: vì đã giữ cho tôi được sống và đã không rút lại lòng thương xót của Người đối với tôi. Kinh Thánh biết nhiều lý do để ca ngợi Thiên Chúa, nhưng không có lý do nào cao cả hơn lý do này: Người là Thiên Chúa tha tội: “Thần minh nào sánh được như Ngài, Đấng chịu đựng lỗi lầm, Đấng bỏ qua tội ác cho phần còn sót lại của cơ nghiệp Ngài? Ngài không giữ mãi cơn giận, nhưng chuộng lòng nhân nghĩa” (Mk 7,18). Chúng ta có thể ca ngợi Thiên Chúa vì Đấng đã biến đổi điều dữ lớn nhất trên thế giới thành điều lành: tội của Ađam sẽ biến đổi thành điều tốt lành và vinh quang cho Người, bằng một cách mà chúng ta không biết, chính tội lỗi của những người đón nhận ơn cứu độ, mà chắc chắn nhẹ hơn tội Ađam. Chính Thiên Chúa đã bảo đảm với một nhà thần bí nổi tiếng: “Tội thì không thể tránh được, nhưng cuối cùng mọi sự và mỗi một sự rồi sẽ tốt đẹp”[72].

Chúng ta đã suy nghĩ về việc giải thoát tội như một cuộc xuất hành vượt qua, giờ đây khi chúng ta đã đi đến lúc kết, việc giải thoát đó phải biến thành một buổi lễ, tất cả giống như trường hợp cuộc xuất hành đầu tiên. Người Do Thái tỏ ra miễn cưỡng rời khỏi Ai Cập, và khi họ giáp mặt Biển Đỏ, trong một khoảnh khắc, họ đã bị rối loạn và càm ràm; nhưng vừa được đưa lên khỏi mặt nước, ở bờ bên kia, họ đã vui mừng khôn xiết và bắt đầu ca hát theo Môsê và Miryam:

“Tôi xin hát mừng Chúa,

Đấng cao cả uy hùng.

Ky binh cùng chiến mã,

Người xô xuống đại dương” (Xh 15,1)

Đó cũng là điều chúng ta cũng muốn làm lúc này. Pharaô mà Thiên Chúa xô xuống biển là “con người cũ” của chúng ta, kỵ mã và kỵ binh Ai Cập là tội lỗi của chúng ta, Ngài “ném xuống đáy biển mọi tội lỗi của chúng ta” (Mk 7,19). Sau khi vượt qua Biển Đỏ, giờ đây chúng ta lên đường hướng tới Sinai của chúng ta; sau khi cử hành lễ Vượt Qua, chúng ta chuẩn bị cử hành lễ Ngũ Tuần. Từ đây tâm hồn chúng ta là bầu da mới sẵn sàng đón nhận rượu mới là Chúa Thánh Thần.

 

8
LUẬT CỦA THẦN KHÍ BAN SỰ SỐNG
Chúa Thánh Thần, nguyên lý của Giao Ước mới

Trình thuật về việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trong sách Công vụ bắt đầu như sau: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi” (Cv 2,1). Theo những lời này, chúng ta có thể suy ra lễ Ngũ Tuần đã có trước… lễ Ngũ Tuần. Nói cách khác, có một lễ Ngũ Tuần trong Do Thái giáo và Chúa Thánh Thần hiện xuống trong lễ này. Thậm chí, sau đó và trong nhiều năm sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, các Tông Đồ đã tiếp tục, cùng với những người Do Thái khác, cử hành vào ngày đã định lễ Ngũ Tuần này của người Do Thái (Cv 20,16). Chúng ta cũng biết rằng chính lễ Vượt Qua đã có trước, và nếu Đức Giêsu chết đúng vào dịp lễ Vượt Qua, thì không phải là ngẫu nhiên, nhưng để mạc khải mình là lễ Vượt Qua đích thực, thực hiện dứt khoát điều mà trước đây chỉ là hình bóng. Chúng ta chỉ có thể hiểu lễ Vượt Qua khi coi nó như nối dài lễ Vượt Qua cũ, lễ Vượt Qua của cuộc xuất hành và của phụng vụ Do Thái. Nhưng nếu mọi người đều biết đã có một lễ Vượt Qua của người Do Thái và những gì lễ này tưởng niệm, thì ngược lại, ít người biết đã có một lễ Ngũ Tuần và những gì lễ này tưởng niệm. Cũng như người ta chỉ hiểu lễ Vượt Qua của Kitô giáo dựa vào lễ Vượt Qua của người Do Thái, cũng vậy, người ta không thể hiểu lễ Ngũ Tuần của Kitô giáo nếu không dựa vào lễ Ngũ Tuần của người Do Thái. Chính việc Chúa Thánh Thần hiện xuống cũng thực hiện một hình bóng, và bây giờ vấn đề là biết hình bóng mà lễ này thực hiện là gì.

1. Lễ Ngũ Tuần và Lề Luật

Trong Cựu Ước có hai cách giải thích cơ bản về lễ Ngũ Tuần. Khởi thủy, đó là lễ bảy tuần (x. Tb 2,1), lễ mùa gặt (x. Ds 23,16 tt), khi hoa lợi đầu mùa lúa mì được dâng lên Thiên Chúa (x. Xh 23,16; Đnl 16,9). Sau này, vào thời Đức Giêsu, lễ này có thêm một ý nghĩa mới: đó là lễ ban hành lề luật trên núi Sinai và giao ước; tựu trung, đó là lễ tưởng niệm các biến cố được mô tả trong sách Xuất hành 19-20. Theo tính toán lấy từ Kinh Thánh, quả thực lề luật đã được ban hành trên Sinai năm mươi ngày sau lễ Vượt Qua. Từ một lễ gắn liền với chu kỳ của thiên nhiên (mùa gặt), lễ Ngũ Tuần biến đổi thành một lễ gắn liền với lịch sử cứu độ. Theo một bản văn của phụng vụ Do Thái hiện nay: “Ngày lễ các tuần là thời điểm ban hành luật Torah của chúng ta.” Ra khỏi Ai Cập, dân chúng đi trong sa mạc năm mươi ngày và hết thời gian này, Thiên Chúa ban cho Môsê lề luật, khi thiết lập một giao ước với dân dựa trên luật này và biến họ thành “một vương quốc tư tế và một dân tộc thánh” (x. Xh 19,4-6). Có vẻ như thánh Luca đã cố ý mô tả việc Chúa Thánh Thần hiện xuống với những nét đặc trưng cho cuộc thần hiện ở núi Sinai.

Phụng vụ của Giáo hội xác nhận cách giải thích này, khi xen bài Xuất hành 19 vào trong các bài đọc trước lễ Hiện Xuống (lễ Vọng).

Liên quan gần gũi này giữa hai sự kiện cho chúng ta biết gì về lễ Hiện Xuống của chúng ta? Nói cách khác, đâu là ý nghĩa của việc Chúa Thánh Thần xuống trên Giáo Hội vào chính ngày dân Israel tưởng niệm việc ban lề luật và giao ước? Thánh Augustinô đã tự đặt ra câu hỏi này. Ngài nói: “Tại sao người Do Thái cũng cử hành lễ Ngũ Tuần? Có một mầu nhiệm kỳ diệu vĩ đại ở đó, thưa anh em: nếu anh em để ý kỹ, vào ngày lễ Ngũ Tuần, họ đã nhận được lề luật do ngón tay Thiên Chúa viết ra, và vào cùng ngày lễ Ngũ Tuần đó, Chúa Thánh Thần đã đến”[73]. Một Giáo Phụ khác, thuộc Đông phương, cho phép chúng ta thấy cách giải thích lễ Ngũ Tuần này như thế nào trong các thế kỷ đầu tiên, di sản chung của toàn thể Giáo Hội. Ngài viết: “Vào ngày lễ Ngũ Tuần lề luật được ban hành; vì vậy thật phù hợp khi cũng vào ngày ban hành luật cũ mà ân sủng của Chúa Thánh Thần được ban”[74].

Như đã nói, câu trả lời cho câu hỏi của chúng ta rất rõ ràng: Chúa Thánh Thần xuống trên các Tông Đồ đúng vào ngày lễ Ngũ Tuần, để biểu thị rằng chính Người là luật mới, luật thuộc linh, đóng ấn cho giao ước mới và vĩnh cửu, đồng thời thánh hiến dân vương giả và tư tế là Giáo Hội. Thật là một mạc khải vĩ đại về ý nghĩa của lễ Ngũ Tuần và về chính Chúa Thánh Thần! Thánh Augustinô còn viết: “Ai mà không kinh ngạc về sự trùng hợp này mà cũng là sự dị biệt này? Giữa cử hanh Vượt Qua với ngày Môsê nhận bản văn lề luật do ngón tay Thiên Chúa viết ra, có năm mươi ngày phân cách. Cũng vậy, năm mươi ngày sau cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đấng bị đem đi sát tế như chiên con, ngón tay Thiên Chúa, tức Chúa Thánh Thần, cũng làm cho các tín hữu đang tụ họp nhau được đầy tràn bằng chính Người”[75]. Chính vì vậy, những lời tiên tri của Giêrêmia và Êdêkien về giao ước mới trở nên rõ ràng: “Đây là Giao Ước ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó – sấm ngôn của Đức Chúa – Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta” (Gr 31,33). Không còn là luật viết trên bia đá nữa, nhưng là trong tim lòng; không còn phải là luật bên ngoài, nhưng là luật bên trong. Êdêkien giải thích rõ hơn luật này khi lấy lại và bổ túc lời tiên tri Giêrêmia như sau: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần trí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi, và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi. Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (Ed 36, 26-27).

Những gì thánh Phaolô nói về ân huệ của Thần Khí trong chương 8 của thư Rôma chỉ có thể được hiểu trong viễn tượng của những lời giáo đầu về ý nghĩa của lễ Ngũ Tuần và của giao ước mới. Thực ra, nó bắt đầu bằng những lời này: “Luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết” (Rm 8,2). Tất cả những gì Phaolô trình bầy về Thần Khí trong thư Rôma đều đối lập với những gì được trình bầy về lề luật. Chính Thần Khí được đồng hoá với một luật: “luật của Thần Khí” thực sự có nghĩa là “luật là Thần Khí”. Hơn nữa, việc thánh Tông Đồ có trước mắt tất cả những lời tiên tri liên quan đến đề tài giao ước mới, việc đó được thấy rõ trong đoạn văn trong đó ngài gọi cộng đồng của giao ước mới là “bức thư của Đức Kitô, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người”, và trong đó ngài xác định các Tông Đồ là những “người phục vụ giao ước mới, không phải căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống” (x. 2Cr 3,3.6).

Trong lộ trình của chúng ta, bài huấn giáo trên là một bài huấn giáo “soi sáng”; nó không chỉ giúp chúng ta đưa ra những quyết định thiết thực, mà còn phải giúp khai sáng tâm trí chúng ta; theo một số công trình chú giải khá hay[76], nó đề nghị chúng ta mở rộng chân trời đức tin của mình, cho phép cơ thể tâm linh của chúng ta thở bằng cả hai lá phổi chứ không phải bằng một phần nhỏ trong số chúng, đến nỗi chúng ta không hài lòng với những thực hành bên ngoài u ám, nhưng chúng ta có được như mục tiêu là tiếp cận tất cả sự viên mãn của mầu nhiệm Kitô giáo.

2. Thần Khí của Đức Kitô

Cựu Ước nói về Chúa Thánh Thần như hơi thở của Thiên Chúa, tạo dựng và ban sự sống, đến với một số người, ban cho họ sức mạnh và quyền năng phi thường để chiến đấu, cai trị hoặc nói tiên tri. Nhưng chỉ với các tiên tri, nhất là với Giêrêmia và Êdêkien, chúng ta mới đi từ hoạt động công khai và bên ngoài của Chúa Thánh Thần, sang một hoạt động bên trong và cá nhân, nơi chúng ta thấy Chúa Thánh Thần hoạt động trong lòng mỗi người, trong tư cách nguyên lý canh tân bên trong giúp con người có thể trung thành tuân giữ luật Thiên Chúa, trở thành nguyên lý của giao ước mới và cuộc sống mới nơi người này. Bản văn rõ ràng nhất của định hướng mới này chính xác là của Edêkien, mà chúng ta đã đề cập. Bản trình bầy của thánh Phaolô về sự sống mới trong Thần Khí nằm trong viễn tượng “bên trong” này. Căn bản của những lời này là: Thiên Chúa đã viết luật của Người trong lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần; luật mới này chính là tình yêu mà Người đã đổ vào lòng chúng ta trong phép rửa, nhờ Chúa Thánh Thần (x. Rm 5,5) ); đồng thời luật mới này cho phép chúng ta thực hành các luật khác, những luật đã được viết ra hoặc công bố; tóm lại, nó giúp chúng ta bước đi theo Thần Khí bằng cách vâng phục Phúc Âm.

Bây giờ chúng ta hãy xem sự mới mẻ vĩ đại do Đức Kitô mang lại và do sự xuất hiện của giao ước mới nằm ở đâu trong tất cả những điều đó. Thánh Phaolô quả quyết rằng luật cũ – nghĩa là tất cả luật bên ngoài và thành văn – chỉ cho “biết tội lỗi” (Rm 3,20), chứ không cất bỏ được tội, không ban sự sống mà chỉ đưa ra ánh sáng tình trạng của chúng ta là chết chóc và thù nghịch với Thiên Chúa: “Thật vậy, giả như có một luật nào đã được ban cho con người, mà lại có khả năng làm cho sống, thì quả là người ta được nên công chính” (Gl 3,21). Luật Môsê – và nói chung bất cứ luật thiết định nào – là quy phạm bên ngoài con người, không thay đổi tình huống bên trong, cũng không ảnh hưởng đến tâm hồn con người. Sự sống và sự chết có trước lề luật; chúng tùy thuộc vào việc con người hết lòng hướng về Thiên Chúa hay hướng về mình. Lề luật, trong cả hai trường hợp, nghĩa là tuân giữ hay vi phạm, chỉ là biểu hiện bên ngoài của một điều gì đó đã được quyết định từ trước trong lòng. Đây là lý do khiến cho tội cơ bản là tính ích kỷ, “yêu bản thân đến độ khinh mạn Thiên Chúa”, như thánh Augustinô nói[77], không thể loại bỏ bằng việc tuân giữ luật; chỉ có thể loại bỏ nếu tình bạn đã có ngay từ đầu giữa Thiên Chúa và con người được tái lập, tình bạn mà con rắn, vì ghen tị, đã đẩy con người đến chỗ hủy diệt. Đó là điều đã xảy ra nhờ ơn cứu chuộc do Đức Kitô thực hiện: “Điều mà Lề Luật không thể làm được, vì bị tính xác thịt làm cho ra suy yếu, thì Thiên Chúa sẽ làm: Khi sai Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta, để đền tội chúng ta, Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình” (Rm 8,3). Trên thập giá, Đức Giêsu đã cất đi trái tim đá của toàn thể nhân loại, nghĩa là mọi thù nghịch và oán hận Thiên Chúa, mà nhân loại đã tích chứa nơi mình, dưới chế độ lề luật. Đức Giêsu đã “đóng đinh con người cũ” và “hủy diệt thân xác tội lỗi” (x. Rm 6,6). Ngài đã đảm nhận cái chết của ta, đổi lại, Ngài ban cho chúng ta sự sống, tức là tình yêu của Ngài dành cho Chúa Cha, sự vâng phục của Ngài, mối tương quan mới của Ngài với Thiên Chúa, “tinh thần làm con” của Ngài. Thánh Phaolô diễn tả tất cả điều này bằng cách gọi Chúa Thánh Thần là “Thần Khí của Đức Kitô” (Rm 8,9), bằng cách nói rằng Thần Khí ban sự sống “trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 8,2).

Chúa Thánh Thần, Đấng được tuôn đổ trên Giáo Hội vào lễ Ngũ Tuần, đến từ cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, đó là Thần Khí Vượt Qua. Ngài là hơi thở của Đấng Phục Sinh. Nhờ sự sống lại, Ađam mới trở nên “Thần Khí ban sự sống” (1Cr 15,45). Phúc Âm thứ tư diễn tả cùng một xác tín này của Giáo Hội sơ khai, dưới hình thức một hình ảnh cụ thể. Đức Giêsu trên thập giá đã “trao Thần Khí” (x. Ga 19,30); theo ngôn ngữ của Gioan, việc này có hai nghĩa: một nghĩa tự nhiên: “Ngài trút hơi thở cuối cùng, Ngài chết”, và một nghĩa thần bí: “Ngài trao Thần Khí”. Theo thánh sử Gioan, hơi thở cuối cùng của Đức Giêsu là hơi thở đầu tiên của Giáo Hội; Giáo Hội được tượng trưng bằng các bí tích rửa tội và Thánh Thể (nước và máu) được sinh ra từ cái chết của Đức Kitô. Ý nghĩa thần bí này sẽ được xác nhận ít lâu sau đó, khi mà, vào buổi tối Phục Sinh, tại nhà Tiệc Ly, Đấng Phục Sinh sẽ “thổi hơi” trên các môn đệ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22).

Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận, còn hơn một sự vật, chắc chắn là một “ngôi vị”; Người là ngôi thứ ba trong Ba Ngôi, như vậy, trước hết cũng phát xuất từ ​​Chúa Cha. Tuy nhiên, trong chế độ cứu chuộc, Người đến với chúng ta từ Đức Kitô; Người là Chúa Thánh Thần, từ nay, trong Đức Kitô, “quen sống với loài người”, là Đấng đã choán đầy và thánh hóa đầu, từ đó Người tỏa ra trong các chi thể để cùng với các chi thể này làm nên “một thân thể duy nhất và một Thần Khí duy nhất”. Như vậy, thật vô lý khi nghĩ rằng lễ Ngũ Tuần có thể che lấp vai trò của lễ Phục Sinh, và việc nhấn mạnh Chúa Thánh Thần làm lu mờ Đức Giêsu, như thể Chúa Thánh Thần đại diện cho một nhiệm cục thứ ba hoặc một “thời kỳ” thứ ba vượt trội hơn thời kỳ của Đức Kitô. Ngược lại, Chúa Thánh Thần là Đấng giữ cho “ký ức về Đức Giêsu được sống động”, Đấng “làm chứng cho Ngài”, Đấng “lấy những gì của Ngài” mà loan báo cho chúng ta (x. Ga 16,14). Chúa Thánh Thần không làm nên những gì mới, nhưng làm cho mọi sự nên mới.

3. “Tâm hồn mới”

Thần Khí này của Đức Kitô, khi đến với tín hữu qua các bí tích, lời Chúa và tất cả các phương tiện khác mà họ sử dụng, trong chừng mực mà họ được  đón nhận và được trợ giúp, cuối cùng có thể thay đổi tình huống bên trong mà lề luật không thay đổi được. Điều đó được thực hiện như sau: Bao lâu con người còn sống “cho mình”, nghĩa là trong tội lỗi, Thiên Chúa chắc chắn xuất hiện với họ như một đối thủ và một chướng ngại vật. Giữa Thiên Chúa và họ có một sự thù nghịch ngấm ngầm mà lề luật chỉ cho thấy hiển nhiên. Con người “ham muốn” đủ thứ, và Thiên Chúa là Đấng, qua các điều răn của Người, ngăn chặn con đường của họ, chống lại những ham muốn của họ khi dạy: “Ngươi phải” và “Ngươi không được”. Thánh Phaolô nói: “Hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa” (Rm 8,7). Con người cũ đang nổi dậy chống lại người tạo ra mình và, nếu có thể, thậm chí còn muốn Người không hiện hữu. Chỉ cần – do chúng ta phạm tội hoặc chống đối, hoặc đơn giản được Thiên Chúa cho phép – đôi khi chúng ta không cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa, để nhận ra ngay là chúng ta chỉ cảm thấy mình đang tức giận và nổi loạn, và tất cả sự thù nghịch chống lại Thiên Chúa và chống lại anh em, vốn xuất phát từ gốc rễ xa xưa của tội lỗi chúng ta, đến độ làm tâm trí chúng ta mờ tối và sợ hãi chính mình.

Một khi Chúa Thánh Thần đến và làm chủ tâm hồn chúng ta, thì khi đó có thay đổi. Nếu lòng người còn có “mầm mống oán hận Thiên Chúa”, thì giờ đây Thần Khí từ Thiên Chúa đến với họ. Người làm chứng cho họ rằng Thiên Chúa thực sự ưu ái và nhân từ đối với họ, Người là đồng minh chứ không phải kẻ thù, Người cho họ thấy tất cả những gì Thiên Chúa có thể làm cho họ, Người đã không tiếc chính Con của Người vì họ. Thần Khí đổ vào lòng con người “tình yêu của Thiên Chúa” (x. Rm 5,5). Bằng cách này, Người gợi lên trong họ như một người khác yêu mến Thiên Chúa và sẵn lòng làm theo điều Thiên Chúa truyền cho mình[78]. Vả lại, Thiên Chúa không còn giới hạn ở việc ra lệnh cho con người làm hay không làm, nhưng chính Người thực hiện, cùng với con người và trong con người, những gì Người truyền cho con người. Luật mới là Thần Khí còn hơn là một dấu chỉ cho thấy ý muốn Thiên Chúa, nó là một “hành động”, một nguyên tắc sống động và hoạt động. Luật mới là sự sống mới. Chính vì thế, nó thường xuyên được gọi là ân sủng, hơn là luật: “Anh em không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng” (Rm 6,14).

Do đó, luật mới hay của Thần Khí, theo nghĩa hẹp, không phải luật được Đức Giêsu ban hành trên Núi Bát Phúc, nhưng là luật được Ngài ghi khắc trong lòng vào ngày lễ Ngũ Tuần. Các lệnh truyền Phúc Âm chắc chắn cao hơn và hoàn hảo hơn các chỉ thị của Môsê; tuy nhiên, nếu chỉ mình chúng, chúng vẫn không hoàn toàn hữu hiệu. Nếu chỉ coi việc công bố ý muốn mới của Thiên Chúa qua Phúc Âm là đủ, người ta sẽ không thể giải thích được tại sao Đức Giêsu phải chết và Chúa Thánh Thần phải hiện xuống. Chính các Tông Đồ đã cho thấy việc đó là chưa đủ; các ngài đã lắng nghe đủ điều, chẳng hạn chìa má kia cho kẻ tát mình, thế mà lúc Chúa chịu khổ nạn, các ngài không có can đảm thực hiện chỉ một điều trong các điều răn của Đức Giêsu. Nếu Đức Giêsu chỉ ban hành điều răn mới khi nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34), thì điều răn này sẽ vẫn là luật cũ như trước đây, sẽ là “chữ viết”. Chính khi Đức Giêsu, nhờ Chúa Thánh Thần, tuôn đổ tình yêu này trong tâm hồn các môn đệ vào ngày lễ Ngũ Tuần, mà nó trở thành luật mới theo nghĩa đầy đủ, thành luật của Thần Khí ban sự sống. Chính nhờ Thần Khí mà điều răn này là “mới”, chứ không phải bởi chữ viết; bởi chữ viết nó vẫn là “cũ”; thánh sử Gioan dường như ý thức được điều này vì ngài nói: “Đây không phải là điều răn mới tôi viết cho anh em, nhưng là điều răn cũ”, nhưng rồi ngài mạnh mẽ lặp lại: “Đó cũng là điều răn mới” (1Ga 2,7-8).

Nếu không có ân sủng bên trong của Chúa Thánh Thần, thì ngay cả Phúc Âm, ngay cả điều răn mới, cũng vẫn là một luật cũ, một chữ viết. Lấy lại một tư tưởng táo bạo của thánh Augustinô, thánh Tôma Aquinô viết: “Chữ viết có nghĩa là mọi luật thành văn nằm bên ngoài con người, kể cả những lệnh truyền luân lý trong Phúc Âm; vì thế, ngay cả chữ viết của Phúc Âm cũng sẽ giết chết, nếu ân sủng đức tin chữa lành không được thêm vào bên trong”[79]. Ngài còn viết: “Luật mới là chính ân sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng được ban cho các tín hữu.[80] Chúng ta đang đứng trước một sự chắc chắn đức tin thật sự mang tính đại kết, nghĩa là, một sự chắc chắn là di sản chung của tất cả các truyền thống lớn Kitô giáo. Quả thực, không chỉ thần học Công giáo và Tin lành, cả hai thừa kế tư tưởng của Augustinô chia sẻ nhãn quan này về sự việc, mà cả thần học Chính thống giáo nữa. Một đại biểu lớn của truyền thống này viết:

“Các Tông Đồ, những người cha của đức tin chúng ta, đã có lợi thế là được hướng dẫn về tất cả các giáo lý và hơn thế nữa, bởi chính Đấng Cứu Thế, các ngài đã được thấy tất cả những ân sủng khác nhau do Ngài mang lại trong bản tính nhân loại, và tất cả những đau khổ mà Ngài phải chịu vì con người. Các ngài đã thấy Ngài chết, sống lại và lên trời, tuy vậy, dù đã biết tất cả những điều đó, bao lâu các ngài chưa chịu phép rửa (muốn nói là vào lễ Ngũ Tuần, bởi Chúa Thánh Thần), các ngài không cho thấy điều gì mới mẻ, cao quý, thuộc linh, tốt hơn trước. Nhưng khi phép rửa đến với các ngài và Đấng Bảo Trợ ùa vào tâm hồn các ngài, thì các ngài trở thành những con người mới và đón nhận cuộc sống mới; các ngài là những người hướng dẫn những người khác và thắp lên ngọn lửa tình yêu của Đức Kitô trong chính các ngài và trong những người khác. Cũng theo cách đó, Thiên Chúa đưa các thánh đến sau các ngài tới chỗ hoàn hảo: các ngài biết Người và yêu mến Người, không phải chỉ bị thu hút bởi những lời nói suông, nhưng được biến đổi nhờ quyền năng của phép rửa, trong khi Đấng được yêu uốn nắn và biến đổi họ, tạo ra nơi họ một quả tim thịt và loại bỏ sự vô cảm. Người viết, nhưng như thánh Phaolô nói, “không phải trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (2Cr 3,3); và Người không chỉ đơn giản ghi khắc luật vào đó, mà còn là chính nhà lập pháp. Chính Người ghi khắc mình vào đó.[81]

Nhưng một cách cụ thể, luật mới này là Thần Khí hoạt động như thế nào và chúng ta có thể gọi nó là “luật” theo nghĩa nào? Nó hành động qua tình yêu! Luật mới không gì khác hơn điều mà Đức Giêsu gọi là “điều răn mới”. Chúa Thánh Thần đã ghi khắc luật mới vào lòng chúng ta, bằng cách đổ tình yêu vào đó: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Đây là tình yêu mà Thiên Chúa yêu thương chúng ta, đồng thời nhờ nó Người làm cho chúng ta yêu mến Người và tha nhân. Chính là một khả năng mới để yêu. Tình yêu là dấu chỉ và mạc khải sự sống mới mà Thần Khí đã đem đến cho chúng ta. Gioan viết: “Chúng ta biết rằng chúng ta từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em” (1Ga 3,14).

Ai tiếp cận Phúc Âm với một não trạng con người, thấy thật vô lý khi coi tình yêu là một “điều răn”; người ta phản bác: “Tình yêu mà không được tự do, nhưng được truyền phải làm, nó là tình yêu nào vậy? Câu trả lời là thế này: có hai cách con người có thể được đưa tới chỗ làm hoặc không làm một việc nào đó: ép buộc hoặc thu hút; luật pháp đưa con người theo cách thứ nhất, bằng ép buộc, có hình phạt đi kèm; tình yêu đưa con người theo cách thứ hai, bằng sự thu hút. Cho một đứa trẻ xem các hạt và bạn sẽ thấy nó nhào tới để lấy. Có ai thúc ép nó không? Không ai cả, nó bị thu hút bởi vật nó muốn. Cho một tâm hồn khao khát chân lý thấy sự Thiện, người đó vồ vập lấy. Có ai thúc ép người đó không? Không ai cả, người đó bị thu hút bởi lòng ham muốn của mình. Tình yêu như một “sức nặng” của tâm hồn thu hút nó đến với đối tượng nó thích, nơi nó biết sẽ tìm được sự yên nghỉ.[82]

Theo nghĩa này, Chúa Thánh Thần – cụ thể là tình yêu – là một “luật”, một “điều răn”: Người tạo ra nơi người Kitô hữu một động lực thúc đẩy họ làm bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn, một cách tự phát, không cần suy nghĩ, bởi vì họ biến ý muốn của Thiên Chúa thành ý muốn của mình, họ yêu tất cả những gì Người yêu. Tình yêu múc ý muốn của Thiên Chúa nơi chính nguồn mạch của nó. Trong Thần Khí, nó múc ý muốn sống động của Thiên Chúa. Giống như khi một người yêu: bị tình yêu chiếm đoạt, người đó vui vẻ làm mọi việc, một cách bộc phát, không theo thói quen hay tính toán.

“Người nào yêu thì vui vẻ bay bổng, chạy nhảy; họ được tự do, và không có gì giữ họ lại… Thường thì tình yêu không có giới hạn, nhưng lòng nhiệt thành của nó chiếm ưu thế vượt quá mọi mức độ. Tình yêu không cảm thấy gánh nặng của mình; không kể đến công việc; muốn làm nhiều hơn khả năng và không từ chối về điều không thể, bởi tin rằng mọi sự đều được phép và đều có thể. Nó cũng có khả năng làm mọi sự; trong khi người không yêu nản lòng và bỏ cuộc thì người yêu làm nhiều việc và hoàn thành chúng”[83].

Có thể nói rằng sống dưới ân sủng, theo luật của Thần Khí, là sống “như người đang yêu”, nghĩa là được tình yêu đưa đẩy. Sự kiện yêu nhau tạo ra sự khác biệt thế nào trong nhịp điệu của cuộc sống con người và trong mối quan hệ giữa hai con người, thì sự xuất hiện của Chúa Thánh Thần cũng tạo ra sự khác biệt thế ấy trong mối quan hệ giữa con người và Thiên Chúa.

4. Tình yêu bảo vệ lề luật và lề luật bảo vệ tình yêu

Đâu là chỗ đứng của việc tuân giữ các điều răn trong nhiệm cục mới này, là nhiệm cục của Thần Khí? Đây là một điểm dễ chạm nọc cần làm rõ, đặc biệt vì nó cũng có thể giúp vượt qua một trong những trở ngại lớn nhất mà người ta bắt gặp khi đối thoại với thế giới Do Thái, một thế giới không muốn từ bỏ những gì “Lề Luật” biểu thị đối với nó. Ngay cả sau lễ Hiện Xuống, luật thành văn vẫn còn: các điều răn của Thiên Chúa, thập giới, các lệnh truyền Phúc Âm; thêm vào đó sau này còn có luật Giáo Hội. Đâu là ý nghĩa của Bộ Giáo luật, của các luật đan viện, của các lời khấn dòng, nói tắt, của tất cả những gì cho thấy một ý muốn khách quan từ bên ngoài áp đặt lên tôi? Đó có giống như vật thể lạ trong cơ cấu Kitô giáo chăng? Chúng ta biết trong suốt dòng lịch sử Giáo Hội, đã có những phong trào nghĩ như vậy và, nhân danh sự tự do của Thần Khí, đã từ chối bất cứ lề luật nào, đến độ tự gọi mình chính xác là những phong trào “chống luật lệ”, nhưng họ luôn bị quyền bính Giáo Hội và của chính lương tâm Kitô giáo từ chối. Ngày nay, trong một bối cảnh văn hóa mang đậm dấu ấn hiện sinh vô thần, khác với xưa, người ta từ chối luật không nhân danh sự tự do của Thần Khí, nhưng nhân danh sự tự do của con người thuần túy và đơn giản. Một nhân vật của J.P. Sartre nói: “Không có gì trên trời, không thần Thiện thần Ác, cũng không một ai ra lệnh cho tôi… Bởi vì tôi là một con người, và mỗi người phải phát minh ra con đường của riêng mình”[84].

Câu trả lời của Kitô giáo cho vấn đề này, chúng ta gặp thấy trong Phúc Âm. Đức Giêsu nói Ngài đến không phải để “hủy bỏ lề luật”, nhưng “để kiện toàn” (x. Mt 5,17). Thế nào là kiện toàn luật? Thánh Tông Đồ trả lời: “Yêu thương là chu toàn Lề Luật! (x. Rm 13,10). Còn Đức Giêsu thì nói: Tất cả lề luật và các tiên tri đều tùy thuộc vào điều răn yêu thương (x. Mt 22,40). Do đó, tình yêu không thay thế lề luật, nhưng tuân giữ nó, “chu toàn” nó, nghĩa là đem nó ra thực hành. Thậm chí tình yêu là sức mạnh duy nhất có thể giúp cho người ta thực sự tuân giữ nó. Trong tiên tri Edêkien, người ta minh nhiên gán cho ân huệ tương lai của Thần Khí và của tâm hồn mới khả năng tuân giữ ngay cả lề luật Thiên Chúa: “Thần Trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi. Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (Ed 36,27). Đức Giêsu nói theo cùng một nghĩa: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy” (Ga 14,23), nghĩa là người đó sẽ có khả năng giữ được nó.

Giữa luật bên trong của Thần Khí và luật thành văn bên ngoài, không có sự đối kháng hay bất tương hợp trong nhiệm cục mới, trái lại, có sự cộng tác trọn vẹn: luật bên trong được ban để giữ luật bên ngoài: “Lề luật đã được ban để tìm kiếm ân sủng, và ân sủng đã được ban để tuân giữ lề luật”[85]. Việc tuân giữ các điều răn (và trong thực hành, là vâng phục) là viên đá thử của tình yêu, là dấu chỉ để biết mình sống “theo Thần Khí” hay “theo xác thịt”: “Yêu mến Thiên Chúa là giữ các điều răn của Người” (1Ga 5,3). Chính Đức Giêsu cũng vậy; Ngài đã vạch ra nơi mình mẫu mực cao cả của một tình yêu thể hiện trong việc tuân giữ các điều răn, nghĩa là qua sự vâng phục. Ngài nói: “Nếu anh em giữ các điều răn của Cha Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15,10).

Do đó, mệnh lệnh không hủy bỏ các điều răn, nhưng giữ và thực hiện chúng. Không chỉ theo nghĩa là người yêu có sức mạnh để tuân giữ những gì luật truyền dạy, mà còn theo nghĩa sâu xa hơn, theo đó người yêu – và chỉ mình người đó  – thực hiện được mục tiêu cuối cùng của mọi tình yêu là đưa chúng ta hòa hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Giả sử có người tuân giữ mọi luật cách hoàn hảo, nhưng không có thái độ bên trong của tâm hồn phát xuất từ tình yêu, thì trên thực tế, người đó sẽ không tuân giữ luật, mà chỉ giả vờ tuân giữ. Vì vậy thánh Phaolô có lý khi nói rằng toàn bộ lối trình bày của ngài không nhằm “tước đoạt giá trị của Lề Luật”, trái lại, nhằm “xác lập” và “củng cố” nó (x. Rm 3,31).

Để hiểu mối tương quan tích cực được thiết lập trong chế độ ân sủng, giữa lề luật và tình yêu, chúng ta nêu ví dụ về người phụ nữ mang thai. Bác sĩ hoặc nữ hộ sinh hoặc – tùy theo phong tục địa phương – cha mẹ, truyền đạt cho người phụ nữ trẻ những quy tắc phải giữ khi mang thai; họ nói với chị những gì có thể ăn và những gì không thể ăn, những bộ quần áo có thể mặc và những bộ quần áo không thể mặc… Người phụ nữ, – đặc biệt nếu mang thai lần đầu – bị tác động bởi phép lạ của sự sống mới mà chị cảm thấy đang nảy nở và lớn lên trong dạ, và vì chỉ sống cho sự sống mới này, chắc chắn chị sẽ giữ mọi “quy tắc” áp đặt cho chị và thậm chí sẽ biết ơn từ tận đáy lòng những người đã truyền đạt chúng cho chị; nhưng chị sẽ không giữ vì “nó đã được viết” ở đâu đó, cũng không phải để làm vinh dự cho bản thân, cũng không phải để tránh sự trách móc của người khác, mà chỉ vì chị yêu con mình. Luật của chị là tình yêu, chị không hành động vì bị cưỡng ép, nhưng bị thu hút, tuy vậy không ai có thể hành động nhiệt thành và cần mẫn hơn chị. Chị yêu con, chỉ muốn điều tốt cho nó, nhưng vì còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, chị không biết chính xác điều gì có lợi hay điều gì có hại cho sự sống mới này; chính vì vậy chị sẵn sàng phục tùng những chỉ dẫn từ bên ngoài, từ kinh nghiệm và quyền bính của người khác. Chính xác đó là vai trò và ý nghĩa của luật, dưới chế độ ân sủng! Chúng ta hiểu vì sao thánh Tông Đồ, sau khi đã dành trọn các chương của lá thư để chứng minh rằng thời kỳ của lề luật đã chấm dứt, thì trong phần thứ hai, ngài lại đưa ra rất nhiều luật cho các Kitô hữu: “lòng bác ái của anh em không được giả hình”, “phục tùng các quyền bính có trách nhiệm”… Cái phải chấm dứt chính là một cách quan niệm về luật, và bắt đầu một cách quan niệm khác. Từ nay những luật này là để phục vụ sự sống mới nhen nhóm trong chúng ta khi chịu phép rửa; chúng giống như những chỉ thị dành cho người phụ nữ đang cưu mang trong dạ một mầm sống mới.

Như người ta có thể thấy, giữa tình yêu và lề luật, có một sự trao đổi đáng ngưỡng mộ, một loại hỗ tương. Quả thật nếu đúng là tình yêu bảo vệ luật, thì cũng đúng là luật bảo vệ tình yêu. Tình yêu là sức mạnh của luật và luật là thành lũy của tình yêu. Bằng nhiều cách khác nhau, luật phục vụ và bảo vệ tình yêu. Trước hết chúng ta biết rằng “luật được đặt ra là cho người tội lỗi” (x. 1Tm 1,9) và chúng ta còn là tội nhân; chắc chắn chúng ta đã nhận được Thần Khí, nhưng chỉ như của đầu mùa thôi; nơi chúng ta, con người cũ vẫn còn ăn chung ở chạ với con người mới; bao lâu những dục vọng vẫn còn trong chúng ta, thì Thiên Chúa quan phòng ban cho ta những điều răn giúp ta nhận ra chúng và chống lại chúng, dù chỉ vì sợ bị phạt. Luật là chỗ dựa cho sự tự do của ta, còn bấp bênh và lung lay trong điều thiện. Nó không chống lại, nhưng là vì sự tự do; cần nói rằng ai tưởng phải từ chối mọi luật lệ nhân danh sự tự do của con người, người đó sai lầm, khi không biết đến tình huống thực tế và lịch sử của sự tự do này sau khi phạm tội.

Bên cạnh vai trò này, có thể nói là tiêu cực, luật còn thực hiện một vai trò khác, vai trò tích cực, là biện phân. Với ân sủng của Chúa Thánh Thần, chúng ta gắn bó tổng quát với ý muốn của Thiên Chúa, biến nó thành ý muốn của mình và mong muốn thực hiện nó, nhưng chúng ta chưa biết hết những gì nó hàm chứa. Những điều này cũng được mạc khải cho chúng ta trong luật, không kể trong các biến cố của cuộc sống.

Nhưng có một ý nghĩa còn sâu sắc hơn, theo đó người ta có thể nói rằng luật bảo vệ tình yêu. Có người nói: “Chỉ khi nào có bổn phận phải yêu, thì tình yêu mới được bảo đảm mãi mãi chống lại mọi thay đổi, vĩnh viễn được tự do trong sự độc lập hạnh phúc; được bảo đảm trong hạnh phúc vĩnh cửu chống lại mọi tuyệt vọng”[86]. Ý nghĩa của những lời này như sau: con người khi yêu, càng yêu mặn nồng, càng lo lắng nhận thấy mối nguy bắt gặp trong tình yêu của mình, mối nguy không đến từ ai khác ngoài chính mình; anh thực sự biết rất rõ mình hay thay đổi và ngày mai, than ôi, mình có thể đã mệt mỏi và không còn yêu nữa. Và vì bây giờ đang yêu, anh thấy rõ điều đó sẽ dẫn đến những mất mát không thể bù đắp, nên ở đây anh đi bước trước, dùng luật “cột mình” vào tình yêu và như vậy cắm chặt vào vĩnh cửu hành vi yêu thương của anh còn sống trong thời gian. Con người hôm nay ngày càng thường xuyên tự hỏi có thể có mối liên hệ nào giữa tình yêu của hai người trẻ tuổi và luật hôn nhân, và tình yêu có cần phải “cột mình” chăng. Ngoài ra, ngày càng có nhiều người hướng tới việc bác bỏ định chế hôn nhân, trên lý thuyết cũng như trên thực tế, và chọn điều gọi là tình yêu tự do hay chung sống đơn thuần. Chỉ khi dựa vào lời Chúa khám phá ra mối liên hệ sinh tử và sâu sắc giữa luật và tình yêu, giữa quyết định và thể chế, người ta mới có thể trả lời đúng những câu hỏi này, và đưa ra một lý do thuyết phục để mãi mãi “cột mình” vào tình yêu, không ngại biến tình yêu thành một “bổn phận”. Bổn phận yêu thương bảo vệ tình yêu khỏi “sự tuyệt vọng” và làm cho nó trở nên “hạnh phúc và độc lập”, theo nghĩa nó bảo vệ khỏi sự tuyệt vọng vì không thể yêu mãi mãi.

Sự xem xét này không chỉ có giá trị đối với tình yêu của con người, mà còn và càng có giá trị đối với tình yêu dành cho Thiên Chúa. Chúng ta có thể tự hỏi tại sao phải cột mình để yêu mến Thiên Chúa, bằng cách tuân giữ một luật dòng; tại sao lại tuyên những “lời khấn” “buộc” chúng ta sống nghèo khó, khiết tịnh, vâng phục, vì chúng ta có một luật bên trong có thể có được tất cả những điều đó nhờ sự thu hút? Đó là vì, trong một lúc sốt sắng, bạn cảm thấy được Thiên Chúa thu hút, bạn yêu mến Người và ước muốn chiếm hữu Người mãi mãi, và vì sợ mất Người do mình hay thay đổi, bạn đã “cột” mình để bảo đảm cho tình yêu của mình không biến chất. Điều tương tự cũng xảy ra, theo những cách khác nhau, đối với bất cứ ai hoán cải và quyết định nghiêm túc hiến mình cho Thiên Chúa… Ngay lập tức, anh ta khám phá ra Thiên Chúa là ai, nếu mất Người thì sẽ thiệt hại không thể bù đắp được; khi đó, chừng nào anh còn ở trong tình trạng hạnh phúc của tình yêu, anh tự cột mình bằng một quyết định, bằng một lời hứa, bằng một ước muốn cá nhân hoặc bằng bất cứ cách nào khác được Thần Khí sẽ phát minh ra hoặc gợi ý. Anh tự cột mình vì cùng một lý do như nhà hàng hải nổi tiếng năm xưa, vì nhất thiết muốn gặp lại quê nhà và vợ mình, đã cột mình vào cột buồm của con tàu, khi biết rằng anh sẽ phải băng qua một nơi có cư dân là những nàng tiên cá, và sợ bị đắm tàu ​​như rất nhiều người khác trước đây… Một trong những cách cần thiết và hiệu quả nhất để “cột mình” cách cụ thể vì tình yêu, hệ tại ở chỗ thường xuyên chọn cho mình một cha linh hướng hay một cha giải tội, cam kết cho ngài biết đều đặn những quyết định có tầm quan trọng nhất định trong cuộc đời của chúng ta, và vâng lời ngài.

Theo một nghĩa nào đó, con người được kêu gọi thể hiện lại nơi chính mình bằng ý muốn, những gì xẩy ra nơi Thiên Chúa do bản tính. Nơi Thiên Chúa, tình yêu là một bổn phận; Thiên Chúa “phải” yêu do tất yếu về bản tính, bởi vì Người “là tình yêu”; Người không thể làm khác, Người bị ràng buộc. Tuy nhiên, không gì tự do và nhưng không hơn tình yêu của Thiên Chúa. Bổn phận yêu không chống lại tự do yêu; ngược lại, cả hai hoàn toàn trùng hợp với nhau. Con người đến gần Thiên Chúa và bắt chước Thiên Chúa, khi tự do dấn thân yêu mãi mãi; con người biến tình yêu thành một bổn phận, một luật, hay đúng hơn, con người chấp nhận luật mà lời Chúa truyền dạy là: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi…ngươi phải yêu người thân cận ngươi như chính mình” (Mt 22,37 tt).

5. Một lễ Hiện Xuống mới cho Giáo Hội

Biết được sự khác biệt giữa luật cũ và ân sủng không chỉ là một câu hỏi lý thuyết liên hệ đến sự hiểu biết ít nhiều quan trọng về đức tin, mà còn là một câu hỏi thực tế, từ đó phát sinh những hệ quả tức thời đối với định hướng cuộc đời của chúng ta. Quả thực, chúng ta không chỉ phải “hiểu” việc chuyển từ lề luật sang ân sủng bao gồm những gì, mà còn phải “thực hiện” nó nữa. Việc chuyển từ Cựu Ước sang Tân Ước đã xảy ra dứt khoát trong lịch sử, đã hai ngàn năm, với sự xuất hiện của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã thiết lập giao ước mới bằng máu mình, nhưng về mặt hiện sinh và thiêng liêng, giao ước đó luôn phải được tái thực hiện, ở mỗi thời kỳ và ở mỗi tín hữu. Chúng ta sinh ra với những ước muốn xác thịt chống lại Thiên Chúa, chúng ta sinh ra với sự sợ hãi, với “hư danh” và tin tưởng vào việc làm. Thực tế, chúng ta sinh ra “dưới chế độ lề luật”. Ngay từ lúc sinh ra, chúng ta là những con người cũ. Trên nguyên tắc, việc chuyển qua giao ước mới được thực hiện trong lúc rửa tội, nhưng trên thực tế, quá trình chuyển đổi về đạo đức, tâm lý đòi hỏi cả một đời. Người ta có thể sống một cách khách quan và lịch sử dưới chế độ ân sủng và một cách chủ quan, bằng tấm lòng, dưới chế độ lề luật.

Chưa hết, vì chúng ta có thể từ từ trở lại với chế độ lề luật, ngay cả sau khi chúng ta đã đến gần sự tự do của Thần Khí và ân sủng. Thánh Phaolô đã phải chống đỡ trong hai trận chiến lớn trong cuộc đời làm tông đồ của mình: trận chiến thứ nhất để thúc đẩy Do Thái giáo chuyển từ lề luật sang ân sủng, từ giao ước cũ sang giao ước mới; trận chiến thứ hai để ngăn chặn mọi cộng đồng, sau khi đã thực hiện cuộc vượt qua này, đừng quay trở lại và để mình lại bị cuốn vào lề luật và việc làm. Đây là trận chiến trợ lực cho người Galat. Ngài khiển trách giáo đoàn, sau khi đã khởi sự nhờ Thần Khí, lại kết thúc nhờ xác thịt (x. Gl 3,3). Ngài nói với họ: “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta. Vậy anh em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa” (Gl 5,1). Như vậy, thánh Tông Đồ cho chúng ta thấy rằng một người có thể mất ân sủng không chỉ do phạm tội mà còn do những cách khác. Có một lúc ngài đã kêu lên: “Anh em mà tìm sự công chính trong Lề Luật, là anh em đoạn tuyệt với Đức Kitô và mất hết ân sủng” (Gl 5,4). Chúng ta biết chỉ có một cách duy nhất để đánh mất ân sủng – chính xác là do tội trọng – vì chúng ta đã gán cho từ “ân sủng” một ý nghĩa rất nghèo nàn và khá “sự vật hóa”. Người ta có thể giảm sút về ân sủng vì vụ luật, vì tìm kiếm sự công chính của mình, và vì sợ hãi. Chính vì vậy thánh Phaolô cảnh báo người Rôma: “Anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa” (Rm 8,15).

Nguy cơ “kết thúc nhờ xác thịt”, tâm trí và con tim trở lại với Cựu Ước, đã không biến mất với cái chết của Phaolô; nó đã và sẽ luôn tồn tại, và chúng ta phải chống lại nó và xua đuổi nó như thánh Tông Đồ vào thời kỳ của ngài. Sống trong giao ước mới giống như bơi ngược dòng; ngay khi ngừng bơi, chúng ta lại bị dòng nước cuốn đưa chúng ta trở lại. Origen đã viết: “Đừng nghĩ rằng sự đổi mới cuộc sống diễn ra một lần vĩnh viễn ngay từ đầu là đủ; phải đổi mới liên tục, mỗi ngày, chính sự mới mẻ” (“ipsa novitas innovanda est”)[87]. Dữ kiện mạc khải chính là xem ý tưởng nào về Thiên Chúa mà người Kitô hữu sống, họ nhìn Người như thế nào: có phải với cái nhìn sợ hãi và vụ lợi của người nô lệ hay ánh mắt tin tưởng của đứa trẻ. Ngày nay, người ta đang khám phá ra một cách mới viết lịch sử Giáo Hội, không chỉ dừng lại ở những thăng trầm bên ngoài, ở các định chế, hoặc ở những nhân vật lớn, nhưng còn đi sâu vào cái “vốn sống” của người Kitô hữu bằng việc tìm cách tái lập lại phẩm chất đời sống tôn giáo của một phần Giáo Hội, tại một thời điểm nhất định trong lịch sử của nó. Chẳng hạn bằng cách, dựa trên cơ sở nghiên cứu tài liệu lưu trữ, xem xét lời rao giảng của một cha sở, trong suốt khoảng thời gian ông ta ở trong một giáo xứ, người ta thấy rõ tôn giáo nào và ý tưởng nào về Thiên Chúa khi đó đã được khắc sâu trong dân chúng; rất thường thấy rằng tính tôn giáo được đề nghị, về cơ bản, là “một tôn giáo của sợ hãi”[88].

Sự mới mẻ Kitô giáo lu mờ, điều này xảy ra mỗi khi trong việc rao giảng, huấn giáo, linh hướng và tất cả những “nơi” khác đào tạo đức tin, người ta nhấn mạnh một phía các bổn phận, nhân đức, thói xấu, hình phạt, và nói chung, những gì “con người phải làm”, coi ân sủng như một thứ trợ cấp dành cho con người, trong suốt nỗ lực của họ, để bổ sung cho những gì họ không thể tự mình làm được, chứ không phải là điều gì đó đi trước tất cả nỗ lực này và làm cho nó có thể thực hiện được và có công phúc; việc đó xảy ra khi luật, chứ không phải ân sủng, tạo ra bổn phận và kết quả là khi người ta không quan niệm bổn phận như một món nợ mắc với Thiên Chúa để tỏ lòng biết ơn Người, nhưng đúng hơn như một điều gì đó, nếu được chúng ta thực hiện, tạo ra một món nợ biết ơn mà Thiên Chúa mắc với chúng ta; nói cách khác, khi đạo đức bị tách khỏi khởi giảng.

Trong một môi trường hạn chế hơn – môi trường đời sống tu trì – sự lu mờ tương tự cũng xảy ra, khi mà trong việc đào tạo giới trẻ và tập sinh, trong các kỳ linh thao và trong suốt quãng đời còn lại, người ta dành nhiều thời gian để nói về đặc sủng riêng của gia đình dòng, các truyền thống, quy luật, hiến pháp và linh đạo của dòng, hơn là nói về Đức Kitô và Thần Khí của Ngài. Do đó, trọng tâm chú ý từ từ hoán chuyển, từ Thiên Chúa sang con người và từ ân sủng sang lề luật. Thánh Gioan nói: “Lề luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng nhờ Đức Giêsu Kitô mà có” (x. Ga 1,17) và điều này, áp dụng cho chúng ta hôm nay, trong Giáo Hội, có nghĩa là con người có thể ban hành lề luật, các đấng sáng lập có thể ban hành những quy luật sống, nhưng chỉ một mình Đức Giêsu Kitô, nhờ Thánh Thần của Ngài, có thể ban sức mạnh để đem những luật đó ra thực hành.

Từ suy tư mà chúng ta vừa thực hiện nảy sinh lời kêu gọi và đòi hỏi nội tâm hướng tới một sự đổi mới sâu xa trong Thần Khí và hướng tới một sự “hoán cải về với Chúa”. Thánh Phaolô nói tới một tấm màn che khuất tâm hồn không cho nhìn thấy vinh quang siêu việt của giao ước mới, và giao ước mới này sẽ chỉ bị cất đi khi người ta trở lại với Chúa (x. 2Cr 3,14 tt). Sự hoán cải này phải bắt đầu với những người hướng dẫn đời sống thiêng liêng của người dân. Vào đầu thế kỷ V, người dân Hippone rất đơn sơ và mù chữ, nhưng họ biết rất rõ sự khác biệt giữa lề luật và ân sủng, giữa sợ hãi và tình yêu; họ thực sự là dân của giao ước mới, đơn giản vì ở đó có một người, ngày này qua ngày khác, khi giải thích Kinh Thánh, đã nói với họ về những điều này. Đó là Augustinô, giám mục của họ. Ngài không ngại dùng những lời sau đây mà nói với họ: “Hãy lột bỏ những gì cũ kỹ, hỡi anh em là những người biết bài ca mới. Con người mới. Giao ước mới. Bài ca mới. Bài ca mới không liên quan đến những con người cũ: những người mới là những người duy nhất học nó, vì họ được ân sủng đổi mới ra khỏi tình trạng cũ kỹ của họ, và từ đây họ thuộc về Tân Ước, là Nước Trời”. Ngài còn nói trong một bài giảng cho dân chúng: “Đức Kitô đã ban cho chúng ta một điều răn mói: yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta. Chính tình yêu này đổi mới chúng ta, để chúng ta trở thành những con người mới, những người thừa hưởng Giao ước mới, những ca viên hát bài ca mới”[89].

Trong thế kỷ của chúng ta, Chúa Phục Sinh đã gieo rắc đây đó, trong những phần khác nhau của thân thể bị chia cắt của Ngài, khát vọng và kinh nghiệm về một “lễ Hiện Xuống mới”. Khát vọng này, nhân dịp Công đồng chung Vatican II, đã hình thành mạnh mẽ ngay cả trong Giáo Hội Công giáo. Nó không chỉ là lời cầu nguyện trên môi miệng một vị giáo hoàng, nhưng nó bắt đầu trở thành hiện thực qua nhiều dấu chỉ. Nhưng việc cầu xin “một lễ Hiện Xuống mới” cho Giáo Hội có nghĩa gì? Một lễ Hiện Xuống mới không thể hệ tại ở chỗ nở rộ các đặc sủng, các thừa tác vụ, các chức vụ, ở một luồng gió mát trên khuôn mặt của Giáo Hội. Chúng ta đã thấy lễ Hiện Xuống đầu tiên bao gồm những gì: ân huệ của luật mới tạo ra trái tim mới và giao ước mới và làm cho một cách thức mới yêu mến và phục vụ Thiên Chúa có thể thực hiện được trong Đức Kitô. Lễ Hiện Xuống không chỉ là thực hiện lời tiên tri Giôen nói về đủ loại đặc sủng: báo mộng, thị kiến.​​.. (x. Cv 2,17 tt), mà còn và ngay cả trước hết, về các lời tiên tri Giêrêmia và Êdêkien về quả tim mới và thần khí mới. Thần khí của Đức Kitô, đặc trưng cho giao ước mới, tiên vàn không phải là biểu hiện bên ngoài của quyền năng lạ lùng và thuộc đặc sủng, nhưng là một nguyên lý bên trong của đời sống mới. Do đó, một lễ Hiện Xuống mới, để thực sự như vậy, phải có sự sâu sắc này; phải đổi mới không chỉ trang phục của Hiền Thê, nhưng là trái tim của nàng! Nói tóm lại, đó phải là một “sự đổi mới giao ước”.

Đối với mỗi người chúng ta, cánh cửa để bước vào lễ Hiện Xuống mới này, đang hoạt động trong Giáo Hội, là canh tân phép rửa của chúng ta. Lửa Thần Khí được thắp lên trong ta ngày ta chịu phép rửa; chúng ta phải loại bỏ lớp tro bao phủ nó, để nó bắt đầu bùng trở lại và khiến chúng ta có khả năng yêu thương. Nếu bài suy niệm này đã làm nảy sinh trong chúng ta hoài niệm về sự mới mẻ của Thần Khí, nếu chúng ta khao khát và kêu gọi nó bằng nguyện ước của chúng ta, thì Thiên Chúa cũng sẽ mau chóng ban cho cả chúng ta nữa, cơ hội trải nghiệm về nó, để đến lượt chúng ta trở thành, một cách có ý thức và đích thực, “những con người mới, những người thừa hưởng Giao ước mới, những ca viên hát bài ca mới”.

 

9
THẦN KHÍ CHUYỂN CẦU CHO CHÚNG TA
Cầu nguyện “trong Thần Khí”

Chương 8 của thư Rôma là chương nói về Chúa Thánh Thần. Trong số ba mươi lần từ “Thần Khí” xuất hiện trong toàn bộ lá thư, người ta bắt gặp mười chín lần trong chương này. Cả chương tràn ngập sự hiện diện mầu nhiệm và hoạt động của thực tại thần linh này. Từ Thần Khí, vốn đã trở thành nguyên lý của đời sống mới trong phép rửa nơi mỗi người chúng ta, giờ đây thánh Tông Đồ làm nổi bật một số hoạt động quan trọng hơn, mà trước hết là kinh nguyện. Chúa Thánh Thần, nguyên lý của đời sống mới, vì thế cũng là nguyên lý của kinh nguyện mới. Trong số những việc tốt mà con người được cứu chuộc có thể làm, để lớn lên trong ân sủng, cầu nguyện có đặc tính độc đáo này là “lợi ích mọi bề” (x. 1Tm 4,8); nó là dụng cụ cần thiết để tiến tới trong mọi nhân đức sắp được lời Chúa chỉ ra cho chúng ta, để chúng ta đem ra thực hành. Cầu nguyện là hồi tâm và dìm linh hồn chúng ta vào trong vực thẳm vô biên là Thiên Chúa. Cầu nguyện giống như hơi thở của linh hồn: cũng như khả năng thở tốt là cần thiết cho hoạt động bình thường của tất cả các cơ quan trong thân thể, đặc biệt nếu một người muốn đạt được thành tích thể thao cao, cũng vậy, một ý chí mạnh mẽ muốn cầu nguyện là cần thiết cho linh hồn, đặc biệt khi chuẩn bị cho những thăng tiến của đời sống thiêng liêng. Do đó, bài suy niệm dành cho việc cầu nguyện “trong Thần Khí” đóng vai trò bản lề giữa phần đầu tiên, tức khởi giảng, trong hành trình của chúng ta, nơi mà nhờ đức tin, chúng ta đã chiếm hữu hành động của Đức Kitô, và phần thứ hai, phần khuyến thiện, nơi chúng ta được khuyến khích bắt chước hành động của Đức Kitô trong cuộc sống của chúng ta.

1. Học tập kinh nguyện của Kinh Thánh

Tất cả nửa sau của chương 8 thư Rôma nói về Chúa Thánh Thần khơi dậy lời cầu nguyện từ trái tim của tạo vật và từ trái tim của con người. Chúng ta sẽ khởi đi từ hai câu có liên hệ với chúng ta hơn: “Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn. Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,26-27).

Thánh Phaolô quả quyết rằng Thần Khí cầu nguyện trong chúng ta “bằng những tiếng rên siết khôn tả” (và khi nói rằng Thần Khí “cầu nguyện”, như thể ngài đang nói: “Thần Khí khiến chúng ta cầu nguyện”). Nếu chúng ta có thể khám phá ra Thần Khí cầu xin cho “cái gì” và cầu nguyện như thế nào, trong tấm lòng của người tín hữu, chúng ta sẽ khám phá ra bí mật của sự cầu nguyện. Tôi thấy điều đó dường như có thể. Thật vậy, Thần Khí cầu nguyện trong chúng ta cách kín đáo và âm thầm cũng chính là Thần Khí đã cầu nguyện minh nhiên trong Kinh Thánh. Đấng “linh hứng” các trang Kinh Thánh cũng linh hứng những lời cầu nguyện mà chúng ta đọc thấy trong Kinh Thánh. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng không gì chắc chắn hơn và được “diễn tả” rõ ràng hơn những tiếng rên siết “không được diễn tả” này của Thần Khí. Về phương diện tín lý, đúng là ngày nay Người tiếp tục nói trong Giáo Hội và trong các linh hồn, lặp lại theo một cách luôn mới những điều Người đã nói trong Kinh Thánh qua các tiên tri, thì cũng đúng là Người đang cầu nguyện hôm nay trong Giáo Hội và trong các linh hồn, như Người đã dạy cầu nguyện trong Kinh Thánh. Chúa Thánh Thần không có hai cách cầu nguyện khác nhau đâu.

Do đó, chúng ta phải học tập cầu nguyện trong Kinh Thánh, để học cách “hòa hợp” với Thần Khí và cầu nguyện như Người cầu nguyện. Đâu là những tình cảm của người cầu nguyện trong Kinh Thánh? Chúng ta hãy thử khám phá điều đó qua lời cầu nguyện của một số người bạn lớn của Thiên Chúa, như Abraham, Môsê, Giêrêmia, những người mà chính Kinh Thánh coi là những người cầu bầu có thế giá nhất (x. Gr 15,1; 2Mc 15,14). Điều đầu tiên gây ấn tượng nơi những người cầu nguyện “được linh hứng” này là sự tin tưởng tuyệt vời và sự bạo dạn đến độ khó tin, khi họ thưa chuyện với Thiên Chúa. Không có dấu vết nô lệ thường được gán cho việc cầu nguyện. Chúng ta biết rõ lời cầu nguyện của Abraham xin cho hai thành Sôđôma và Gômôrra (x. St 18,22tt). Abraham bắt đầu nói: “Ngài thực sự định tiêu diệt người công chính cùng với kẻ tội lỗi sao?”, như thể muốn nói: Tôi không thể tin được Ngài lại làm chuyện động trời như vậy! Rồi xin tha cho thành, liên tiếp nhiều lần, mỗi lần Abraham đều lặp lại đại khái: Tôi quả đường đột mà thưa với Chúa tôi…Xin đừng chấp, để tôi nói…Xin Ngài đừng giận, để tôi nói lần nữa. Lời cầu xin của ông thật táo bạo, và chính ông cũng nhận ra điều đó, nhưng chính vì Abraham là “bạn của Thiên Chúa” (Is 41,8) và giữa bạn với nhau, người ta biết mình có thể đi tới đâu.

Môsê còn táo bạo hơn. Chúng ta có một gương mẫu lạ lùng về điều này, được thuật lại trong Xuất hành 32 và Đệ nhị luật 9. Sau khi dân chúng đúc con bê vàng, Thiên Chúa nói với Môsê: “Đứng lên, xuống mau khỏi đây, vì dân của ngươi đã hư đốn rồi, dân mà ngươi đã đưa ra khỏi Ai Cập.” Môsê trả lời: “Nhưng họ là dân của Ngài, là cơ nghiệp Ngài đã dùng sức mạnh lớn lao và cánh tay uy quyền đưa ra khỏi đất Ai Cập” (Đnl 9,12-29); Xh 32,7-11). Truyền thống kinh sư Do Thái đã hiểu được ẩn ý trong những lời của Môsê khi cho là ông muốn nói: “Khi dân này trung thành với Ngài, thì họ là dân của Ngài, dân mà Ngài đã đưa ra khỏi đất Ai Cập; nhưng khi họ bất trung với Ngài, thì họ là dân của tôi, dân mà tôi đã đưa ra khỏi đất Ai Cập.” Khi đó Thiên Chúa dùng đến chiêu bài quyến rũ, Người cho tôi tớ Người hiểu rằng, một khi dân nổi loạn bị tiêu diệt, thì Người sẽ biến Môsê thành “một dân tộc vĩ đại” (Xh 32,10); nhưng Môsê nói với Chúa: “Ngài cẩn thận nha! Kẻo người Ai cập có thể rêu rao: chính vì Đức Chúa đã không thể đưa chúng vào đất Người đã thề hứa với chúng, và chính vì ghét chúng mà Người đã đưa chúng ra để giết chúng trong sa mạc!” (x. Xh 32,12; Đnl 9,28). Kinh Thánh bình giải rằng Chúa nói với Môsê “như hai người bạn với nhau” (Xh 33,11), hầu như giữa con người với nhau. Và chính Chúa Thánh Thần đã linh hứng những lời cầu nguyện lạ lùng này!

Giêrêmia còn phản đối rõ ràng và kêu lên với Chúa: “Ngài đã quyến rũ con!” và: “Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa!” (Gr 20, 7-9).

Và nếu chúng ta muốn xem qua các Thánh vịnh, người ta hẳn nói Thiên Chúa chỉ đặt lên môi miệng con người những lời hiệu quả nhất để phàn nàn về Người. Một trong những học giả nổi tiếng nhất về Thánh vịnh đã đặt tiêu đề cho cuốn sách của ông là Khen Ngợi và Phàn Nàn, vì bộ Thánh vịnh là sự đan xen độc đáo giữa những lời khen ngợi cao cả nhất và những lời phàn nàn thống thiết nhất. Thiên Chúa thường bị công khai cáo giác: “Lạy Chúa, xin thức dậy, Ngài ngủ mãi được sao?”; “Đâu rồi những lời Ngài đã hứa ngày xưa?”; “Sao Chúa tránh xa và ẩn mình ngày con gặp hoạn nạn?”; “Ngài đối xử với con như bầy vật!”; “Cho tới khi nào Ngài nhìn đến chúng con?”

Giải thích thế nào về tất cả những điều trên? Phải chăng Thiên Chúa xúi con người bất kính với Người, vì suy cho cùng thì chính Người đã linh hứng và chấp thuận cách cầu nguyện này? Câu trả lời như sau: Có thể xẩy ra điều trên vì nơi người cầu nguyện trong Kinh Thánh, mối quan hệ giữa tạo vật với Đấng Tạo Hóa của mình được hoàn toàn bảo đảm. Người cầu nguyện trong Kinh Thánh thấm nhuần ý thức sâu xa về sự uy nghiêm và thánh thiện của Thiên Chúa, ông hoàn toàn phục tùng Ngài, Thiên Chúa là “Thiên Chúa” đối với ông, đến nỗi trên cơ sở dữ kiện hiển nhiên này, mọi sự đều an toàn. Tựu trung, lời giải thích nằm ở tâm hồn những người cầu nguyện: họ không cầu nguyện như những con người “xấu” (mali) và vì vậy họ không cầu nguyện “theo cách xấu” (male). Giữa những lời cầu nguyện xáo động này, Giêrêmia tiết lộ bí mật giải thích mọi sự và đặt mọi sự trở lại đúng vị trí: “Lạy Đức Chúa, Ngài biết rõ con và Ngài thấy rõ. Ngài dò xét lòng con, lòng con ở bên Ngài” (Gr 12,3). Các tác giả Thánh vịnh cũng xen kẽ những biểu hiện tương tự về lòng trung thành tuyệt đối giữa những lời phàn nàn của họ: “Đức Chúa là đá tảng của lòng con” (Tv 73,26). Phần Môsê, ông là người liên tục nhắc nhở dân chúng: “Anh em phải biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thật là Thiên Chúa” (x. Đnl 7,9). Có một sự gắn bó giữa tâm hồn của những con người này và tâm hồn của Thiên Chúa, và không gì cũng không ai sẽ có thể thay đổi được điều đó. Sự tương phản, những câu hỏi bày tỏ sự lo âu, rắc rối là ở trên bình diện tư tưởng của họ (vì họ không hiểu hành động nhiệm mầu của Thiên Chúa) nhưng không ở trong tâm hồn họ. Tâm hồn họ hoàn toàn phục tùng Người. Quả thực người cầu nguyện luôn sẵn sàng nhìn nhận Thiên Chúa có lý, dù Người làm gì đi nữa, ngay cả khi Thiên Chúa nổi giận với ông (x. Is 12,1), ngay cả khi con người hứng chịu “cơn thịnh nộ của Người” (Tv 76,11). Con người biết mình phải đối phó với ai và chấp nhận Người đến cùng; họ cũng biết rằng mình đã phạm tội, và lời giải thích về tất cả những gì nơi Chúa mà họ không hiểu được, đều ở đó. Lời cầu nguyện ưa thích của họ, trong lúc thử thách, luôn luôn giống nhau, lời ấy như thế này: “Trong hết mọi việc Chúa làm cho chúng con, Chúa đã xử công minh chính trực. Mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Đường lối Chúa quả là ngay thẳng. Mọi phán quyết của Ngài thật công mình… Bởi vì chúng con đã phạm tội, nên Người đã giáng xuống tất cả những điều ấy” (Đn 3,27tt; Đnl 32,4tt).

2. Kinh nguyện của Gióp và của các bạn ông

Kinh Thánh trình bày cho chúng ta một trường hợp mẫu mực mà từ đó có thể phân biệt và đánh giá – như trong một bộ đôi – hai loại cầu nguyện được mô tả cho đến nay: đó là trường hợp của Gióp và của các bạn ông. Thiên Chúa gửi cho bạn mình là Gióp một thử thách khủng khiếp. Điều đầu tiên Gióp làm khi gặp thử thách là bảo đảm mối quan hệ của mình với Thiên Chúa. Giống như khi một cơn bão ập vào một hòn đảo, một người chạy về nhà, vội vàng cất vào chỗ an toàn thứ quý giá nhất mà mình có và rất thích, Gióp cũng tỉnh ngộ và vội vàng bảo toàn sự phục tùng của mình đối với Chúa: “Bấy giờ ông Gióp trỗi dậy, xé áo mình ra, sấp mình xuống đất, sup lạy và nói: Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa” (G 1,20-21). (lưu ý: Gióp mau mắn thực hiện một mạch mọi cử chỉ và lời nói, như thể sợ không đi đến cùng)

Giờ đây chúng ta hãy theo dõi diễn biến các sự kiện. Những người bạn của Gióp đến và họ giữ im lặng trong bảy ngày. Sau đó, một cuộc đối thoại mở ra, lập tức tạo ra một bước ngoặt kỳ lạ và bất ngờ. Gióp nguyền rủa ngày ông được sinh ra; khi đó các bạn bắt đầu lên tiếng say sưa và khá dài để bảo vệ Thiên Chúa (G 4,1tt). Họ nói: “Chẳng lẽ người phàm công chính hơn Thiên Chúa?”, Gióp đã kêu lên “Khốn thân tôi!” và họ trả lời “Hạnh phúc thay người được Đức Chúa sửa trị”. Như vậy, những đường nét chính cho thấy diễn tiến của tấn bi hài kịch được vạch ra. Một bên là Gióp tội nghiệp nói bậy, van xin, thách thức, buộc tội Thiên Chúa, từ kêu to chuyển sang khẩn cầu, nói với Thiên Chúa bằng những lời đau lòng xót dạ: “Xin đừng luận phạt tôi! Chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ đi tìm tôi, nhưng Ngài sẽ không tìm thấy. Tại sao lại coi tôi như kẻ thù? Tôi đã làm chi nên tội?”. Bên kia, ba người bạn thay phiên nhau đứng về phía Thiên Chúa, nói những điều kỳ lạ có lợi cho Thiên Chúa và chống lại con người. Gióp hoang mang trước cách Thiên Chúa hành động và thú nhận mình chẳng hiểu gì về điều đó: “Tôi vẹn toàn ư?” ông tự hỏi và trả lời: “Chính tôi cũng không hay” (9,21). Ngược lại, những người bảo vệ Thiên Chúa biết mọi sự; đối với họ tất cả đều rõ ràng: đâu có đau khổ, đấy có tội lỗi; họ thậm chí không nghi ngờ có thể có một công lý của Thiên Chúa còn phải được mạc khải; theo quan điểm của họ, không cần gì nữa, ngay cả sự xuất hiện của Đức Giêsu Kitô. Gióp lên án các bạn mình là “thiên vị” Thiên Chúa và giả hình; ông nói rằng nếu Thiên Chúa dò xét tận đáy lòng họ, Người sẽ thấy lời họ nói là dối trá (G 13,7tt). Nhưng rồi trong cơn đau khổ, ông cũng van xin họ: “Xin thương tôi, xin thương xót tôi, hỡi các anh là những người bè bạn, vì chính tay Thiên Chúa đã đánh tôi” (19,21).

Nhưng đoạn kết của vở bi hài kịch này giữa Thiên Chúa và con người là gì? Thiên Chúa phản ứng thế nào trước tất cả những lời tuyên bố mâu thuẫn trên về Người? Thiên Chúa vào cuộc trong chương 38; trước hết Người nói trực tiếp với Gióp, về sự cao cả của Người, mà người ta không thể hiểu nổi, và ngay lập tức Gióp đổi ý và ăn năn bằng cách đưa tay lên che miệng (40,4; 42,2). Nhưng bối rối nhất là những gì xảy ra ngay sau đó; quả thực kết thúc diễn từ giữa hai người với Gióp, Thiên Chúa nói với Êlipha người Teman rằng: “Ta bừng bừng nổi giận với ngươi và cả hai người bạn của ngươi nữa, bởi vì các ngươi đã không nói đúng đắn về Ta như Gióp, tôi tớ của Ta” (42,7). Chính đó là một mầu nhiệm! Tại sao phán quyết lạ lùng này của Thiên Chúa lại có lợi cho người tố cáo Người và chống lại những người bênh vực Người? Đó là vì Thiên Chúa nhìn vào tấm lòng chân thành. Gióp đã chân thành với Thiên Chúa; quá đau buồn, ông đã kêu lên với Thiên Chúa: “Tại sao, tại sao?”, nhưng thần trí ông phải đương đầu – đúng là đôi khi loạng choạng – với sự căng thẳng khủng khiếp này. Ông không tách rời khỏi Thiên Chúa, không rút lại sự tùng phục Thiên Chúa lúc đầu; mối liên hệ sâu xa của ông với Thiên Chúa là “bảo đảm. Khi nói về Thiên Chúa, ông có thể quả quyết: “Chân tôi bước theo vết chân Người” (23,11). Thiên Chúa biết rằng, với người bạn của mình là Gióp, Người có thể để thử thách của mình đi rất xa, còn Gióp thì biết rằng, với Thiên Chúa, ông có thể để lời phàn nàn của mình đi rất xa. Sự bảo vệ của bạn bè là quá dễ; về cơ bản, nó giả hình và dối trá, vì đã không trải qua ngọn lửa đau khổ. Đó là sự bảo vệ của kẻ đánh giá mình quá cao, nghĩ rằng khi có dịp thì mình sẽ cư xử tốt hơn; của kẻ tưởng rằng mình biết mọi sự về Thiên Chúa, do đó xúc phạm tới Người, không biết Thiên Chúa thực sự là ai, không tôn trọng nỗi đau là điều thánh thiêng nhất đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo ra sự khác biệt giữa những người ngưỡng mộ và những kẻ xu nịnh. Bạn bè của Gióp – Gióp đã hiểu điều này – là những kẻ xu nịnh hơn là những người ngưỡng mộ Thiên Chúa cách chân thành. Thiên Chúa không muốn những kẻ xu nịnh, Người không cần họ. Những kẻ xu nịnh luôn che giấu một điểm có lợi riêng cho họ, và ai biết được liệu những người bạn của Gióp, khi làm thế, phải chăng là không nghĩ đến việc khỏi rơi vào tình huống giống như bạn của họ.

3. Kinh nguyện của Đức Giêsu và của Thần Khí

Sách Gióp không chỉ là một phần của các sách “khôn ngoan” mà còn là một phần của các sách “tiên tri”, nghĩa là nó không chỉ chứa đựng một giáo huấn đạo đức, mà còn chứa đựng lời tiên tri. Quả thực, nơi Đức Giêsu, biến cố người công chính đau khổ sẽ được lặp lại ở một mức độ vô cùng cao hơn, không có sự bấp bênh như chúng ta nhận thấy ở Gióp. Đức Giêsu cũng vậy, trong giờ thử thách, “đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Thiên Chúa” (x. Dt 5,7). Những người quen bênh vực Thiên Chúa – những người Pharisêu và các luật sĩ – đã nói về Ngài (như những người bạn đã nói với Gióp): “Hắn nói phạm thượng!” và họ liên tục tìm cách bắt quả tang Ngài phạm tội chống lại Thiên Chúa. Nhưng Ngài trả lời họ: “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8,46). Nơi Gióp, sự vô tội chỉ là tương đối, nơi Đức Giêsu là tuyệt đối. Đức Giêsu cũng thưa với Chúa Cha một lời thống thiết “Tại sao?”: “Tại sao Cha bỏ rơi con?” Nhưng bản án của Thiên Chúa, một lần nữa, có lợi cho kẻ mà chính Người đã trừng phạt. Trong trường hợp của Gióp – phù hợp với giai đoạn vẫn chưa hoàn hảo của đức tin – những gì Gióp nhận lại được đều trên bình diện trần thế: các con trai và các đoàn vật (“Thiên Chúa đã ban cho Gióp gấp đôi những gì ông có trước đây!”); trong trường hợp của Đức Giêsu, điều này được thực hiện trên bình diện thiêng liêng và vĩnh cửu, hệ tại ở sự phục sinh của Ngài. Gióp tìm lại được cuộc sống trước đây của mình; còn Đức Giêsu thì đi vào một cuộc sống khác.

Nếu biết cách Chúa Thánh Thần đã cầu nguyện nơi Môsê, trong các Thánh vịnh, nơi Giêrêmia và nơi Gióp là điều quan trọng, thì biết cách Người đã cầu nguyện nơi Đức Giêsu lại càng quan trọng hơn, bởi vì chính Thần Khí của Đức Giêsu giờ đây cầu nguyện trong chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả. Nơi Đức Giêsu, sự gắn bó bên trong của tâm hồn và tất cả con người với Thiên Chúa đạt tới chỗ hoàn hảo, điều này tạo nên bí quyết của kinh nguyện theo Kinh Thánh, như chúng ta đã thấy. Chúa Cha luôn nhậm lời, vì Ngài luôn làm điều đẹp lòng Chúa Cha (x. Ga 4,34; 11,42). Chúa Cha nhậm lời Ngài “vì tấm lòng hiếu thảo của Ngài”, nghĩa là vì Ngài phục tùng với thái độ con thảo. Khi lời cầu nguyện của Con Thiên Chúa đạt tới tột đỉnh lý tưởng, thì có sự hài hòa đặc biệt của hai ý muốn: vì con người không xin gì ngoài điều Thiên Chúa muốn, nên Thiên Chúa muốn mọi điều con người xin.

Vì thế, lời Chúa đạt tới tột đỉnh trong cuộc đời Đức Giêsu dạy chúng ta rằng điều quan trọng nhất trong kinh nguyện không phải là những gì chúng ta nói, nhưng trên hết những gì chúng ta là, không phải là những gì chúng ta nói ra trên môi miệng, nhưng trước tiên những gì có trong lòng. Như tôi đã nói, không phải ở đối tượng, nhưng trên hết là ở chủ thể. Kinh nguyện, giống như hoạt động, “theo sau hữu thể”. Sự mới mẻ do Thần Khí mang lại trong đời sống cầu nguyện hệ tại ở chỗ Người tái tạo “hữu thể” của người cầu nguyên; như chúng ta đã thấy trong bài suy niệm trước, Người khơi dậy con người mới, con người là bạn và đồng minh của Thiên Chúa, bằng cách loại bỏ khỏi ngời đó tâm hồn giả hình và thù địch với Thiên Chúa, vốn là của nô lệ. Khi đến với chúng ta, Thần Khí không chỉ dạy chúng phải cầu nguyện thế nào, nhưng còn cầu nguyện trong chúng ta, cũng như về lề luật, Người không chỉ dạy chúng ta điều phải làm, nhưng còn làm với chúng ta. Thần Khí không ban cho chúng ta luật cầu nguyện, nhưng là ơn cầu nguyện. Do đó, việc cầu nguyện theo Kinh Thánh không đến với chúng ta thông qua học tập bên ngoài và phân tích, nghĩa là vì chúng ta tìm cách bắt chước những thái độ mà chúng ta đã gặp nơi Abraham, Môsê, Gióp và nơi chính Đức Giêsu (ngay cả khi tất cả những điều đó cũng cần thiết và được yêu cầu trong một thì thứ hai), nhưng đến với chúng ta bằng thiên phú, như một ân huệ. Đây là “tin mừng” về kinh nguyện Kitô giáo! Chính nguyên tắc của kinh nguyện mới này đến với chúng ta và nguyên tắc này hệ tại ở điều này, là: “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Abba, Cha ơi!” (Gl 4,6). Chính đó là cầu nguyện “trong Thần Khí” hay “nhờ Thần Khí” (x. Eph 6,18; Gđ 20).

Như thế trong lời cầu nguyện, cũng như ở chỗ khác, Thần Khí “không nói về mình”, Người không nói những điều mới và khác; Người chỉ làm sống lại và hiện tại hóa lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong tâm hồn các tín hữu. Đức Giêsu nói về Đấng Bảo Trợ: “Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,14), vậy ở đây, Người sẽ lấy kinh nguyện của Thầy mà ban cho anh em. Nhờ đó, chúng ta có thể kêu lên trong tất cả sự thật: “Không còn phải là tôi cầu nguyện nữa, nhưng là Đức Kitô cầu nguyện trong tôi!” Chính tiếng kêu “Abba!” chứng tỏ Đấng ở trong chúng ta, qua Thần Khí, là Đức Giêsu, Con độc nhất của Thiên Chúa. Quả thật, Chúa Thánh Thần không thể gọi Thiên Chúa là Cha, bởi vì Người không được “sinh ra”, Người “nhiệm xuất” từ Chúa Cha. Một tác giả xưa đã nói: Khi dạy chúng ta kêu lên “Abba!”, Chúa Thánh Thần “giống như một người mẹ dạy con mình nói “bố” (“ba”), và lặp lại tên này với nó, cho đến khi nó có thói quen gọi bố (ba) ngay cả trong giấc ngủ”[90].

Do đó, chính Chúa Thánh Thần gieo vào lòng chúng ta tình cảm của người con, giúp chúng ta cảm thấy (không chỉ biết mà thôi) mình là con cái Thiên Chúa: “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,16). Đôi khi hoạt động cơ bản nảy của Thần Khí được thực hiện cách đột ngột và mãnh liệt, và chính lúc đó chúng ta có thể chiêm ngưỡng tất cả vẻ huy hoàng của nó, giống như khi chúng ta quan sát một bông hoa nở trong một cuốn phim màu rút ngắn thời gian nở hoa, bằng cách làm tăng tốc độ chuyển động.

Trong dịp tĩnh tâm, lãnh nhận bí tích với những tâm thái đặc biệt, nghe lời Chúa với tâm hồn sẵn sàng, hoặc dịp cầu nguyện xin được tuôn đổ Thần Khí (gọi là “phép rửa trong Thần Khí”), linh hồn tràn ngập ánh sáng mới, trong đó Thiên Chúa mạc khải mình là Cha, theo một cách thức mới. Khi đó, người ta có kinh nghiệm tư cách làm cha của Thiên Chúa thực sự như thế nào; tâm hồn dịu lại, con người có cảm giác được tái sinh từ kinh nghiệm này. Trong kinh nghiệm này nảy sinh một sự tin tưởng và dịu dàng lớn lao, và một cảm giác về sự hạ cố của Thiên Chúa mà người đó chưa bao giờ cảm thấy trước đây. Ngược lại, vào những lúc khác, sự mạc khải này của Chúa Cha đi kèm với tình cảm về sự uy nghiêm và siêu việt của Thiên Chúa đến nỗi linh hồn như thể sửng sốt và thậm chí trong một thời gian, không thể xướng lên từ “Cha”, vì ngay khi bắt đầu xướng lên, tâm hồn đầy kính sợ thánh và kinh ngạc, và không thể tiếp tục. Khi đó, đọc “Lạy Cha chúng con” không còn là một điều đơn giản và vô hại nữa, nhưng có vẻ như một công việc, một rủi ro, một mối phúc và một sự hạ cố đến nỗi linh hồn sợ làm hỏng điều kỳ diệu này và lại phải thinh lặng. Người ta hiểu vì sao có một số vị thánh mở đầu kinh “Lạy Cha” mà hàng giờ sau vẫn không đọc tiếp được. Về thánh Catarina Sienna, cha giải tội và là người viết tiểu sử thánh nữ là Chân phước Raymond de Capoue, cho biết thánh nữ “thật khó đọc được hết kinh “lạy Cha” mà không xuất thần”[91]. Khi Thánh Phaolô nói về giây phút Chúa Thánh Thần tràn ngập tâm hồn người tín hữu và khiến người ấy kêu lên: “Abba! Cha ơi!”, ngài ám chỉ đến cách kêu cầu này, đến âm vang này trong toàn hữu thể, ở mức độ cao nhất. Tertullianô kêu lên vào buổi đầu Kitô giáo: “Hạnh phúc thay ai nhận biết Chúa Cha!” (“Felices qui Patrem agnoscunt“)[92]; và chúng ta cũng lặp lại như thế : hạnh phúc thay ai nhận biết Chúa Cha!

Nhưng cách thức sống động này để nhận biết Chúa Cha thường không tồn tại lâu ở đời này, trên trần gian này; sẽ nhanh chóng trở lại lúc mà người tín hữu thưa lên “Abba“, mà không “cảm thấy” gì và tiếp tục chỉ lặp lại tiếng đó theo lời dạy của Đức Giêsu. Chính đó là lúc nhớ rằng tiếng kêu này càng ít làm cho người thốt ra nó được hạnh phúc, thì càng làm cho Chúa Cha nghe tiếng đó được hạnh phúc, vì khi đó nó được thốt ra bằng đức tin tinh tuyền và từ bỏ. Khi đó, chúng ta giống như nhạc sĩ nổi tiếng, bị điếc, vẫn tiếp tục sáng tác và biểu diễn những bản giao hưởng tuyệt vời, để làm hài lòng những người nghe, mà bản thân ông không thể thưởng thức được một nốt nhạc nào, đến độ khi công chúng nghe xong một trong những tác phẩm của ông, vỗ tay vang như sấm, người ta phải kéo đuôi áo của ông để ông biết mà quay xuống nhìn họ. Chứng điếc, thay vì dập tắt âm nhạc của ông, lại làm cho nó tinh tuyền hơn. Và đây là hậu quả của sự khô khan trong kinh nguyện của chúng ta. Thật vậy, thông thường khi chúng ta kêu lên “Abba, Cha ơi”, chúng ta chỉ nghĩ tới từ này có ý nghĩa gì đối với người thốt ra nó, tới những gì liên quan đến chúng ta. Chúng ta hiếm khi nghĩ đến nó có ý nghĩa thế nào đối với Thiên Chúa đang nghe nó, và những gì nó khơi dậy nơi Người. Tựu trung, chúng ta không nghĩ đến niềm vui của Thiên Chúa khi nghe người ta gọi mình là Cha. Người làm cha chắc chắn phải vui khi nghe con gọi “cha, ba, bố”, với giọng nói và âm sắc độc đáo của con. Mỗi lần được nghe gọi, người đó như thể lại trở thành cha, vì tiếng kêu đó nhắc nhở vai trò của người đó là cha, nhắc thực hiện vai trò làm cha, phần bí mật nhất của người đó. Đức Giêsu biết thế nên Ngài thường gọi Thiên Chúa là Abba! Và Ngài đã dạy cũng hãy làm như vậy. Khi gọi Thiên Chúa là cha, chúng ta làm cho Người vui hết chỗ nói: niềm vui của thiên chức làm cha. Khi nghe chúng ta gọi là cha, lòng Người “thổn thức” và “ruột gan Người bồi hồi” (x. Hs 11,8). Và, như tôi đã nói, chúng ta có thể làm tất cả những điều đó, ngay cả khi chúng ta “không cảm thấy” gì.

Chính trong thời gian vắng bóng Thiên Chúa và khô khan này, chúng ta khám phá ra tất cả tầm quan trọng của Chúa Thánh Thần đối với đời sống cầu nguyện của chúng ta. Dù chúng ta không nhìn thấy hoặc nghe thấy Người, Người vẫn làm cho lời nói và tiếng rên siết của chúng ta được đầy sự khao khát Thiên Chúa, sự khiêm nhường, tình yêu và “ai dò xét lòng người đều biết điều Thần Khí mong muốn.” Chúng ta không biết, nhưng Người thì biết! Khi đó Thần Khí trở thành sức mạnh cho lời cầu nguyện “yếu hèn” của chúng ta, ánh sáng cho lời cầu nguyện đã tắt của chúng ta; tóm lại, Người trở thành linh hồn cho lời cầu nguyện của chúng ta. “Người tắm tưới những gì khô khan”, như chúng ta đọc trong bài Ca tiếp liên (lễ Hiện Xuống) để vinh danh Người. Tất cả được thực hiện bởi đức tin. Đối với tôi, chỉ cần nói hoặc nghĩ: “Lạy Cha, Cha đã ban cho con Thần Khí Đức Giêsu; do đó, trong một Thần Khí duy nhất với Đức Giêsu, con đọc Thánh vịnh này, con cử hành Thánh lễ này, hay đơn giản là con giữ thinh lặng, tại đây, trước thánh nhan Cha. Con muốn dâng lên Cha vinh quang và niềm vui mà Đức Giêsu sẽ dâng lên Cha, nếu như chính Ngài còn cầu xin Cha trên trần gian.”

Tôi đã khám phá ra rằng nếu tôi muốn chắc chắn cầu nguyện thực sự với Thần Khí Đức Giêsu, cách đơn giản nhất là dùng chính những lời của Đức Giêsu mà cầu nguyện, khi đọc “Lạy Cha chúng con”. Không có nhu cầu tinh thần hay vật chất nào, cũng như không có tình trạng linh hồn nào, mà không tìm thấy trong kinh “Lạy Cha” không gian và khả năng thể hiện thành lời cầu nguyện. Xét bề ngoài, kinh “Lạy Cha” thiếu điều quan trọng nhất: Chúa Thánh Thần, đến nỗi ngày xưa, trong một số thủ bản,  người ta đã cố thêm vào, sau lời cầu xin bánh hằng ngày, những lời sau: “Xin Thần Khí ngự xuống trên chúng con và thanh tẩy chúng con.” Nhưng sẽ đơn giản hơn khi nghĩ rằng Chúa Thánh Thần nằm trong số những điều được xin, chính xác vì Người là Đấng xin những điều đó. Có lời chép: “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Abba, Cha ơi!” (Gl 4,6); vậy chính Chúa Thánh Thần kêu lên trong chúng ta lời “lạy Cha chúng con”; và bất cứ ai kêu lên mà không có Người, thì có kêu “Abba” cũng vô ích.

Như tôi đã nói, không có một tình trạng tâm hồn nào mà không được phản ánh trong “Kinh Lạy Cha” và không thấy nơi kinh này khả năng thể hiện thành kinh nguyện: vui mừng, ca ngợi, tôn thờ, tạ ơn, ăn năn. Nhưng Kinh Lạy Cha trên hết là kinh nguyện trong giờ thử thách. Có một sự tương đồng rõ ràng giữa lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ và lời cầu nguyện mà chính Ngài đã dâng lên Chúa Cha trong vườn Ghetsêmani. Thực ra, đó là lời cầu nguyện riêng của Ngài và Ngài để lại cho chúng ta. Trong vườn Ghetsêmani, Ngài ngỏ lời với Thiên Chúa, gọi Người là “Abba Cha ơi” (Mc 14,36), hay “Lạy Cha” (Mt 26,39); Ngài cầu nguyện cho “ý Cha” thể hiện; Ngài xin cho “chén được cất khỏi” Ngài, như khi chúng ta xin “cứu chúng con cho khỏi sự dữ” và không “sa chước cám dỗ”, nghĩa là bị thử thách (peirasmos). Thật an ủi biết bao, trong giờ thử thách và bóng tối, khi biết rằng Chúa Thánh Thần tiếp tục trong chúng ta lời cầu nguyện của Đức Giêsu tại Ghetsêmani, và “những tiếng rên siết khôn tả”, qua đó Thần Khí chuyển cầu cho chúng ta trong những lúc đó, lên tới Chúa Cha, hòa lẫn với “những tiếng kêu van khóc lóc”, mà Chúa Con “khi còn sống kiếp phàm nhân” đã dâng lên Người (x. Dt 5,7).

Thánh Augustinô nói: “Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, là Đấng cầu nguyện cho chúng ta, cầu nguyện trong chúng ta và được chúng ta cầu nguyện. Ngài cầu nguyện cho chúng ta với tư cách là linh mục của chúng ta. Ngài cầu nguyện trong chúng ta với tư cách là Đầu của chúng ta. Ngài được chúng ta cầu nguyện với tư cách là Thiên Chúa chúng ta, Vậy chúng ta hãy nhận biết tiếng của chúng ta nơi Ngài, và tiếng của Ngài ở nơi chúng ta”[93].

4. Xin ban cho con điều Chúa truyền cho con

Vì tất cả những điều đó, trong chúng ta có một nguồn cảm hứng cầu nguyện bí ẩn. Có một “kho tàng ẩn giấu” trong cánh đồng tâm hồn chúng ta! Nói về tiếng nói bên trong này của Thần Khí, thánh tử đạo Ignatiô Antiôkia đã viết: “Không có gì hơn là nước hằng sống đang thì thầm trong lòng tôi và nói: Hãy đến cùng Chúa Cha!”[94] Ở một số quốc gia bị ảnh hưởng bởi hạn hán, khi người ta phát hiện ra, từ những manh mối nhất định, là có một mạch nước ở địa hình bên dưới: người ta tiếp tục đào cho đến khi thấy mạch nước này và đưa lên bề mặt. Chúng ta cũng đừng bao giờ ngừng nỗ lực để luôn đưa ra ánh sáng tâm trí chúng ta “mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,14), vốn ở trong chúng ta nhờ phép rửa. Tôi nói luôn đưa nó ra ánh sáng, vì chúng ta ném rác và chất bẩn vào nguồn nước này và che đậy nó, mỗi khi chúng ta để tâm hồn mình chứa đầy những ồn ào, phóng đãng, hiếu động vô ích và cuồng nhiệt, mỗi khi chúng ta buông theo những tư tưởng và ước muốn xác thịt vốn “trái ngược với Thần Khí” (Gl 5,17).

Tôi muốn nói với các Kitô hữu ngày nay tái khám phá ra nhu cầu và sở thích cầu nguyện và đôi khi bị cám dỗ đi xa, đến tận phương Đông, hoặc những người không ngừng tìm kiếm những nơi và những người hướng dẫn để cầu nguyện ở bên ngoài: Bạn đi đâu? Bạn đang tìm kiếm ở đâu? “Hãy trở vào bên trong chính bạn: Chân lý ở trong con người”[95]. Thiên Chúa ở bên trong bạn, mà bạn lại tìm Người ở bên ngoài sao? Kinh nguyện ở bên trong bạn mà bạn lại tìm nó ở bên ngoài sao?

Nguồn mạch cầu nguyện bên trong này, vốn được cấu tạo bởi chính sự hiện diện của Thần Khí Đức Kitô nơi chúng ta, không chỉ làm sống động lời cầu xin, mà còn làm cho mọi hình thức cầu nguyện khác trở nên sống động và chân thực: kinh nguyện ca ngợi, kinh nguyện tự phát, kinh nguyện phụng vụ, đặc biệt kinh nguyện phụng vụ. Quả thực, khi chúng ta cầu nguyện tự phát bằng lời của mình, chính Thần Khí biến lời cầu nguyện của chúng ta thành lời cầu nguyện của Người, nhưng khi chúng ta cầu nguyện bằng lời Kinh Thánh hoặc phụng vụ, thì khi ấy chính chúng ta biến lời cầu nguyện của Thần Khí thành lời cầu nguyện của chúng ta, điều này bảo đảm hơn nhiều.

Khả năng cầu nguyện “trong Thần Khí” là phương sách tuyệt vời của chúng ta. Nhiều Kitô hữu, ngay cả những Kitô hữu dấn thân thực sự, cảm thấy bất lực trước những cám dỗ và không thể hòa hợp với những đòi hỏi rất cao của luân lý Phúc Âm, đến nỗi đôi khi họ đi đến kết luận là không thể sống toàn vẹn đời sống Kitô hữu, và họ sẽ không bao giờ đạt tới đó. Theo một nghĩa nào đó, họ có lý. Quả thực không thể một mình tránh được tội lỗi; chúng ta cần ân sủng; nhưng, như chúng ta được dạy, chính ân sủng là cho không, không phải do ta đáng được. Vậy phải làm gì: tuyệt vọng chăng, bỏ cuộc chăng? Công đồng Trentô nói: “Khi ban ơn cho ta, Thiên Chúa truyền cho ta làm điều ta có thể làm, và truyền ta xin điều ta không thể làm”[96]. Khi một người đã làm mọi sự trong khả năng của mình mà không thành công, người đó vẫn có một điều có thể làm là cầu nguyện, và nếu đã cầu nguyện rồi thì cầu nguyện nữa! Sự khác biệt giữa giao ước cũ và giao ước mới chính là ở chỗ này: trong chế độ lề luật, Thiên Chúa truyền lệnh khi nói với con người: “Hãy làm điều ta truyền cho ngươi”; còn trong chế độ ân sủng, con người xin khi thưa với Chúa: “Xin ban điều Chúa truyền cho con”. Khi khám phá ra bí mật này, thánh Augustinô, người cho đến lúc đó đã chiến đấu để sống trong sạch mà không ăn thua, đã thay đổi cách chiến đấu,  thay vì chống lại thân xác, ngài bắt đầu cùng với Thiên Chúa chiến đấu; ngài nói: “Lạy Chúa, Chúa truyền cho con phải trong sạch; xin ban cho con điều Chúa truyền, rồi truyền cho con điều Chúa muốn!”[97] Và ngài đã có được đức trong sạch! Như tôi đã nói lúc đầu, cầu nguyện là hơi thở của linh hồn. Cũng như một người sắp ngất hoặc ngạt thở, người ta bảo người đó thở mạnh, hít sâu, cũng vậy, người sắp sa chước cám dỗ hoặc sắp đầu hàng trước những khó khăn chán nản, phải khuyên người đó cầu nguyện. Nhiều người có thể làm chứng là đời sống của họ đã thay đổi kể từ lúc họ quyết định ghi vào thời biểu của mình một giờ cầu nguyện riêng mỗi ngày, khoanh tròn thời gian này trên lịch trình của họ, giống như một hàng rào thép gai, để bảo vệ nó chống lại mọi việc khác.

5. Kinh nguyện chuyển cầu

Sức mạnh của lời cầu nguyện được thể hiện trước hết trong sự chuyển cầu. Có lời chép: Chúa Thánh Thần “chuyển cầu ” cho chúng ta. Do đó, cách chắc chắn nhất để hòa hợp với lời cầu nguyện của Thần Khí là ta cũng chuyển cầu cho anh em chúng ta, cho dân chúng. Thực hiện lời chuyển cầu có nghĩa là hiệp nhất, trong đức tin, với Đức Kitô phục sinh, Đấng thường xuyên chuyển cầu cho thế giới (x. Rm 8, 34; Dt 7,25; 1Ga 2,1). Trong lời cầu nguyện tuyệt vời để kết thúc cuộc đời trần thế của mình, Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta một mẫu gương chuyển cầu rất cao đẹp. Ngài nói: “Con cầu xin cho họ, cho những người Cha đã ban cho con… Xin hãy gìn giữ họ trong danh Cha. Con không cầu xin Cha đưa họ ra khỏi thế gian, nhưng gìn giữ họ khỏi Ác thần. Xin thánh hóa họ trong sự thật.. . Con không chỉ cầu nguyện cho họ, mà còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con” (x. Ga 17,9tt). Đức Giêsu tương đối ít khi cầu nguyện cho mình (“Lạy Cha, xin hãy tôn vinh Con Cha”) và dành nhiều lúc hơn để cầu nguyện cho người khác, tức là chuyển cầu. Nhờ Chúa Thánh Thần chuyển cầu cho chúng ta, chính Đức Giêsu tiếp tục kinh nguyện chuyển cầu cho chúng ta.

Hiệu quả của việc chuyển cầu không tùy thuộc vào “nhiều lời” (x. Mt 6,7), mà tùy thuộc vào mức độ kết hợp với tâm thái hiếu thảo của Đức Kitô mà người ta đã có thể đạt được. Đúng hơn, điều hữu ích là gia tăng những người chuyển cầu, nghĩa là cầu xin sự giúp đỡ của Đức Maria và các thánh, như Giáo Hội làm trong ngày lễ kính các thánh, khi Giáo Hội xin Thiên Chúa nhậm lời “nhờ bấy nhiêu vị thánh nguyện giúp cầu thay” (“multiplicatis intercessoribus“). Chúng ta cũng nhân lên nhiều người chuyển cầu khi chúng ta cầu nguyện cho nhau. Thánh Ambrôsiô nói: “Nếu bạn cầu nguyện cho bạn, bạn chỉ có một mình cầu nguyện cho bạn. Và nếu mỗi người chỉ cầu nguyện cho mình, ân sủng mà người cầu nguyện nhận được ít hơn là nơi người chuyển cầu cho những người khác. Nhưng nếu mỗi người cầu nguyện cho mọi người, thì khi ấy, mọi người cầu nguyện cho mỗi người. Tóm lại, nếu bạn chỉ cầu nguyện cho bạn mà thôi, bạn sẽ chỉ có một mình. Nhưng nếu bạn xin cho mọi người, mọi người sẽ xin cho bạn”[98].

Như vậy, không những Chúa Thánh Thần chuyển cầu cho chúng ta, mà Người còn dạy chúng ta chuyển cầu cho người khác nữa. Xuyên suốt Kinh Thánh, Chúa Thánh Thần đã cho chúng ta thấy người cầu nguyện đích thực rất “táo bạo” khi cầu nguyện, nhất là khi chuyển cầu cho người khác. Lời cầu nguyện chuyển cầu rất đẹp lòng Thiên Chúa, vì khi không còn dấu vết ích kỷ, nó phản ánh rõ nhất tính nhưng không của Thiên Chúa và phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa, vốn muốn cho “mọi người được cứu độ” (1Tm 2,4). Ở đoạn cuối sách Gióp, chúng ta đọc thấy Thiên Chúa tha cho ba người bạn “vì Gióp đã chuyển cầu cho họ”, và đến lượt Người, Người phục hồi cho Gióp tài sản trước đây của ông, vì ông đã cầu nguyện cho ba người bạn của mình (x. Is 53,8-10). Do đó, yếu tố quyết định mọi sự dường như là kinh nguyện chuyển cầu. Từ người tôi tớ của chính Thiên Chúa – thực ra là Đức Giêsu – có lời chép rằng Thiên Chúa “đã ban muôn người làm gia sản, vì đã can thiệp cho những người tội lỗi” (x. Is 53,12). Thiên Chúa như một người cha hay thương xót, có bổn phận phải phạt, nhưng lại tìm mọi tình tiết giảm nhẹ có thể có, để không phải làm như vậy, và Người sung sướng trong lòng khi các anh em của tội nhân xin cho tội nhân khỏi bị phạt. Nếu không thấy những cánh tay huynh đệ giơ lên về phía Nguời, van xin Người, thì Người phàn nàn trong Kinh thánh: “Người đã chẳng thấy có ai phản ứng. Người ngạc nhiên vì không thấy ai can thiệp” (Is 59,6). Edêkien cho chúng ta biết lời than phiền này của Thiên Chúa: “Ta đã tìm kiếm trong bọn một người… đứng trước nhan Ta… nhằm ngăn cản Ta…, nhưng Ta không tìm ra” (Ed 22,30).

Lời Thiên Chúa làm nổi bật quyền năng phi thường – do chính bản tính của Người – nơi lời cầu nguyện của những người được Thiên Chúa đã đặt làm đầu trong dân. Lời đó cho biết có lần Thiên Chúa đã quyết định tiêu diệt dân mình vì con bê vàng, thì “chính Môsê đã đứng trước nhan Thiên Chúa, như đứng nơi tiền tuyến, để ngăn ngừa con thịnh nộ của Thiên Chúa” (x. Tv 106,23). Đối với các mục tử, tôi dám nói thế này: Khi cầu nguyện, bạn cảm thấy Chúa đang tức giận với những kẻ Người đã giao phó cho bạn, đừng bênh vực Chúa, nhưng hãy bênh vực dân! Đây là cách Môsê đã làm, đến độ tuyên bố mình muốn cùng với họ được xóa tên khỏi sách sự sống (x. Xh 32,32) và Kinh Thánh giúp chúng ta hiểu rằng chính đó là điều Thiên Chúa muốn, vì Người đã “từ bỏ làm điều ác mà Người đã đe dọa làm cho dân”. Nhưng khi bạn đứng trước dân, thì phải hết sức bênh vực Thiên Chúa. Khi Môsê, ngay sau đó, đứng trước mặt dân, thì ông nổi cơn thịnh nộ; ông đập vỡ con bê vàng, tán nhuyễn ra, rắc trên mặt nước và bắt họ uống (x. Xh 32,19tt). Ông nói với Israel: “Hỡi dân tộc ngu si khờ dại, ngươi đáp đền ơn Đức Chúa vậy sao?” (Đnl 32,6). Chỉ người nào đã bảo vệ dân trước mặt Thiên Chúa và đã gánh lấy gánh nặng tội lỗi của dân, mới có quyền – và có can đảm – chống lại họ, như Môsê đã làm, để bảo vệ Thiên Chúa.

 

10
LÒNG BÁC ÁI KHÔNG ĐƯỢC GIẢ HÌNH
Tình yêu Kitô giáo

Trong hành trình tái Phúc Âm hóa, giờ đây, sau khi chiêm ngắm điều Thiên Chúa đã thực hiện cho chúng ta trong Đức Kitô, và đã biến nó thành của mình trong đức tin, chúng ta đi đến chỗ phải đáp lại Người bằng đời sống và những lựa chọn của mình; đã lãnh nhận hồng ân của Thần Khí, chúng ta phải làm trổ sinh “hoa quả của Thần Khí.” Thánh Tông Đồ không bàn trước về các bổn phận của người Kitô hữu (bác ái, khiêm nhường, phục vụ, v.v.) để rồi mới bàn về ân sủng, như thể ân sủng là hệ quả của những bổn phận, nhưng ngược lại, trước hết ngài đề cập đến sự công chính hóa và ân sủng, sau đó mới đến các bổn phận phát sinh từ đó, vì “người ta không đạt tới đức tin nhờ các nhân đức, nhưng đạt tới các nhân đức nhờ đức tin”[99]. Thánh Tông Đồ viết: “Quả thực, chính do ân sủng và lòng tin mà anh em được cứu độ. Đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện. Thật thế, chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu, đã sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta” (Ep 2,8-10). Chính chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa: đó là điều chính yếu; việc lành là do Thiên Chúa làm; những “việc lành” mà chúng ta phải làm sẽ đến sau và chính nhờ việc lành của Thiên Chúa mà việc lành của chúng ta mới có thể làm được và phải làm. Quả thực, người ta không được cứu vì những việc lành, nhưng không được cứu nếu không có những việc lành.

Chính phong cách và thể loại văn học thay đổi vào chỗ này trong lá thư: từ khởi giảng chuyển sang khuyến thiện hoặc khuyên nhủ: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em…” Đây là cách mà chương 12 mở đầu cho phần thứ hai của thư Rôma. Người ta đi từ những gì Thiên Chúa đã làm “cho chúng ta” đến những gì Người muốn làm “với chúng ta”. Quả thực, chúng ta biết rằng “Đấng đã tạo nên chúng ta mà không cần chúng ta, thì lại không cứu chúng ta mà không có chúng ta”[100]. Do đó, như tôi đã nói trong phần giới thiệu, chúng ta được giúp lập lại một trong những tổng hợp quan trọng nhất và khó duy trì nhất: tổng hợp giữa yếu tố bí nhiệm và khổ hạnh trong đời sống thiêng liêng của chúng ta, giữa Đức Kitô là “hồng ân” và Đức Kitô là “kiểu mẫu”. Theo một tác giả, “vì thời Trung cổ ngày càng đi chệch hướng khi nhấn mạnh Đức Kitô như một kiểu mẫu, nên Luthêrô nhấn mạnh khía cạnh khác, quả quyết Ngài là một hồng ân và người ta phải lấy đức tin mà đón nhận hồng ân này “[101]. Bằng cách đi theo con đường do thánh Phaolô đã vạch ra trong thư Rôma, chúng ta có thể sắp xếp lại hai khía cạnh đức tin này, để có sự hiệp nhất công giáo và đại kết. Thánh Tông Đồ dạy rằng chúng ta không được bắt đầu bằng việc bắt chước, nhưng bằng đức tin (về điểm này chúng ta lấy lòng biết ơn mà chấp nhận lời nhắc nhở của Luthêrô), nhưng ngài cũng dạy rằng chúng ta không được dừng lại ở chỗ “chỉ đức tin mà thôi”, nhưng đức tin phải đi đôi với việc “bắt chước” (“những việc lành”) như là biểu hiện đích thực duy nhất của sự gắn bó và biết ơn của chúng ta và như một biểu hiện thật sự và trọn vẹn của chính đức tin. Thánh Augustinô nói: “Nếu chúng ta thực sự yêu mến, hãy bắt chước. Quả thực, chúng ta chỉ có thể đáp lại một thứ hoa quả tinh tế của tình yêu bằng hoa quả hệ tại ở sự bắt chước”[102].

Mục đích của bắt chước không chỉ là làm cho chúng ta nên giống Đức Kitô, làm những gì Ngài đã làm, nhưng là làm cho chúng ta “mặc lấy Đức Kitô”, nghĩa là làm cho chúng ta được tràn đầy Đức Kitô, biến đổi chúng ta thành Ngài, sao cho cùng với Ngài làm nên “một tinh thần” (1Cr 6,17). Một vị thánh người Nga, đi thẳng vào điều chủ yếu, đã nói: “Mục đích của đời sống Kitô hữu là thủ đắc Chúa Thánh Thần”[103].

1. Một tình yêu chân thành

Trong số các hoa quả của Thần Khí, hay các nhân đức Kitô giáo, mà thánh Tông Đồ liệt kê trong thư Galat 5,22, đứng đầu là tình yêu. Và trong lá thư của chúng ta, chính tình yêu cũng khởi đầu phần khuyến thiện về các nhân đức. Tất cả chương 12 là một chuỗi những lời khuyên sống bác ái: “Lòng bác ái “không được giả hình giả bộ…; anh em hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác hơn mình…” (Rm 12,9tt).

Chương 13 chứa đựng những lời tuyên bố nguyên tắc nổi tiếng về bác ái như một sự tóm lược và chu toàn lề luật: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái… Yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13,8-10). Chương 14 khuyên sống bác ái dưới hình thức đặc biệt là bác ái với những người yếu đuối và những người trong cộng đồng có những ý kiến ​​khác về một số điểm. Trong chương 8, thánh Tông Đồ nói về bác ái như một “luật của Thần Khí”, nghĩa là như một tâm thái thiên phú giúp cho chúng ta có khả năng yêu thương; giờ đây ngài nói với chúng ta về bác ái như là “hoa quả của Thần Khí”, nghĩa là như một nhân đức thủ đắc nhờ một nỗ lực tự do được lặp đi lặp lại cộng tác với ân sủng.

Để hiểu được linh hồn thống nhất tất cả những lời khuyên này, ý tưởng cơ bản, hay tốt hơn, “tâm tình” của Phaolô về bác ái, chúng ta phải bắt đầu từ câu đầu tiên: “lòng bác ái của anh em không được giả hình giả bộ”. Đây không phải là một trong số nhiều lời khuyên, nhưng là khuôn mẫu từ đó phát xuất tất cả những lời khuyên khác. Nó chứa đựng bí mật của đức ái. Chúng ta hãy cố gắng hiểu bí mật này, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Thuật ngữ nguyên thủy được thánh Phaolô sử dụng và được dịch là “không giả hình giả bộ”, là anhypokritos, nghĩa là không giả hình. Từ này là một loại ánh sáng dẫn đường; quả thực, đây là một thuật ngữ hiếm hoi được sử dụng trong Tân Ước hầu như chỉ để định nghĩa tình yêu Kitô giáo. Kiểu nói “tình yêu chân thành” (anhypokritos) còn gặp thấy trong 2Cr 6,6 và 1Pr 1,22. Bản văn của thư Phêrô cho phép chúng ta hiểu rất chắc chắn ý nghĩa của thuật ngữ đang bàn, vì nó giải thích thuật ngữ này bằng cách nói dài dòng; theo bản văn, tình yêu chân thành hệ tại ở chỗ yêu nhau cách mãnh liệt, yêu “hết lòng”.

Do đó, thánh Phaolô, bằng lời quả quyết đơn giản: “Lòng bác ái của anh em không được giả hình giả bộ”, đặt cuộc tranh luận vào tận gốc rễ của bác ái là tấm lòng. Điều người ta đòi hỏi ở tình yêu là nó phải chân thật, xác thực, không giả vờ. Cũng như rượu nho phải ép từ trái nho mới “gin”, tình yêu cũng phải xuất từ tấm lòng mới thật. Cũng ở đây, thánh Tông Đồ trung thành lặp lại tư tưởng của Đức Giêsu; Đức Giêsu đã nhiều lần và mạnh mẽ nói rõ tấm lòng như là “nơi” quyết định giá trị của những gì con người làm, điều gì trong sạch hay không trong sạch trong cuộc sống của con người: “Tự lòng phát xuất những ý định gian tà…” (Mt 15,19). Chúng ta có thể nói về một trực giác của thánh Phaolô liên quan đến bác ái; ở chỗ cho thấy, vượt ra ngoài vũ trụ bác ái hữu hình và bên ngoài, gồm các việc làm và lời nói, có một vũ trụ khác hoàn toàn bên trong, tương quan với vũ trụ thứ nhất như linh hồn tương quan với thân xác. Chúng ta gặp lại trực giác này trong đoạn văn khác nổi tiếng về bác ái trong thư 1Corintô 13: điều Phaolô nói trong đoạn văn này, khi xem xét kỹ, hoàn toàn quy chiếu về bác ái bên trong, về những khuynh hướng và tình cảm bác ái: bác ái thì rộng lượng, bác ái thì phục vụ, bác ái không ghen tương, không nổi giận, tha thứ hết, tin mọi sự, hy vọng mọi sự… Trong tất cả những điều đó không có gì, tự nó, liên quan trực tiếp đến sự kiện làm điều tốt hoặc làm những công việc từ thiện, nhưng tất cả đều trở lại với gốc rễ là muốn điều tốt. Muốn điều tốt đi trước làm điều tốt. Chính thánh Tông Đồ đã giải thích sự khác biệt giữa hai lãnh vực bác ái, khi nói rằng hành vi lớn nhất của bác ái bên ngoài (phân phát tất cả của cải cho người nghèo) không ích gì nếu không có bác ái bên trong. Khi đó, nó sẽ hoàn toàn trái ngược với bác ái “chân thành”. Thật vậy, bác ái giả hình chính là làm điều tốt mà không yêu, biểu lộ một cái gì đó bên ngoài mà không có cái tương ứng bên trong. Trong trường hợp này, nó chỉ có mã ngoài là bác ái, nó có thể che giấu tính ích kỷ, tìm kiếm bản thân, muốn biến anh em thành dụng cụ, hoặc thậm chí làm vì do áy náy hối hận trong lương tâm mà thôi.

Sẽ là một sai lầm chết người nếu đối lập giữa bác ái của tấm lòng và bác ái của hành động, hoặc dựa vào bác ái bên trong, để coi đó như một loại bằng chứng ngoại phạm về việc thiếu bác ái hữu hiệu. Chúng ta biết những lời của Đức Giêsu (Mt 25), của thánh Giacôbê (2,16tt) và của thánh Gioan (1Ga 3,18) thúc giục chúng ta sống bác ái hữu hiệu mạnh mẽ như thế nào. Chúng ta biết tầm quan trọng mà chính thánh Phaolô đã dành cho việc quyên góp ủng hộ người nghèo ở Giêrusalem; hơn nữa, khi nói nếu không có lòng bác ái, thì ngay cả việc phân phát tất cả tài sản của tôi cho người nghèo cũng “chẳng ích lợi gì cho tôi”, không có nghĩa là nó không ích lợi gì cho ai và nó vô dụng; đúng hơn, nó không ích lợi “cho tôi”, nhưng có thể có ích cho người nghèo nhận được nó. Do đó, vấn đề không phải là giảm bớt tầm quan trọng của các công việc từ thiện, cho bằng bảo đảm cho chúng một nền tảng chắc chắn chống lại tính ích kỷ và vô số thủ đoạn của nó. Thánh Phaolô muốn người Kitô hữu phải “bén rễ sâu và xây dựng trên đức ái” (Ep 3,17), có nghĩa bác ái là gốc rễ và nền tảng của mọi sự. Chính Thiên Chúa đã thiết lập nền tảng này khi Người nói: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,39). Người sẽ không đạt được kết quả này cả khi Người nói: “Ngươi phải yêu người thân cận như Thiên Chúa của mình”, vì người ta có thể gian dối khi yêu mến Thiên Chúa, nhưng không thể gian dối khi yêu mình. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ai nấy đều biết rất rõ phải yêu mình ra sao; chính đó là tấm gương luôn sống động trước mắt người đó.

Yêu chân thành có nghĩa là yêu tới mức bạn không thể nói dối, vì bạn chỉ có một mình đối diện với mình. Chỉ một mình trước “tấm gương”, trước ánh mắt của Thiên Chúa. Bằng cách này, người thân cận đi vào phần thân mật thiêng thánh nhất của con người tôi, cái mà Kinh Thánh gọi là “con người bên trong”; theo nghĩa đầy đủ của thuật ngữ này, người đó thật sự trở thành “người thân cận”, vì tôi mang người đó trong tâm khảm, ngay cả khi tôi ở một mình với Thiên Chúa và với chính tôi. Đúng hơn, người thân cận trở thành thân thiết bên trong. Đó là phẩm giá cao quý nhất mà một người có thể ban tặng cho một người khác, và chính nhờ bác ái mà Thiên Chúa đã tìm ra phương tiện để thực hiện điều cao cả này, mở đầu cho điều cuối cùng sẽ là sự hiệp thông các thánh, khi mà từng người, vì tình yêu, sẽ ở trong mọi người và mọi người sẽ ở trong từng người, và niềm vui của từng người sẽ được nhân lên bởi niềm vui của mọi người.

Một tình yêu chân thành là sự phản ánh trên trái đất tình yêu của Thiên Chúa, Đấng đã làm điều tốt cho chúng ta vì Ngài muốn điều tốt cho chúng ta. Nguồn gốc của tất cả những gì Thiên Chúa đã làm là “ý muốn và lòng nhân ái của Người” (Ep 1,5), nghĩa là lòng nhân ái của Người đối với nhân loại.

2. Một tình yêu thần linh

Để đích thực, bác ái Kitô giáo phải phát  xuất từ bên trong, từ tâm hồn, và các công việc từ thiện phải phát xuất từ “lòng thương cảm” (Cl 3,12). Tuy nhiên, chúng ta phải xác định ngay ở đây là chúng ta đang bàn về một điều gì đó triệt để hơn nhiều so với sự “nội tâm hóa” thuần túy, nghĩa là thuần túy chuyển điểm nhấn từ thực hành bác ái bên ngoài sang thực hành bác ái bên trong. Đây mới chỉ là bước đầu. Chiều sâu của con người không chỉ là chiều sâu tâm lý. Nhờ Chúa Thánh Thần cư ngụ, chiều sâu đó cũng đã trở thành chiều sâu thần học, chiều sâu của Thiên Chúa. Đó là mầu nhiệm bác ái; ở đó có sự mới mẻ, được sự sống mới trong Thần Khí tạo ra nơi chúng ta. Không hiểu điều này là không hiểu gì hết và chúng ta vẫn bị đóng khung trong chân trời cũ và tự nhiên, nơi mà tình yêu Kitô giáo không khác biệt về phẩm chất với các loại tình yêu khác. Bác ái “luân lý” dựa trên bác ái “đối thần”, đưa về bác ái đối thần. Nội tâm hóa dẫn đến thần hóa. Theo thánh Phêrô, người Kitô hữu là người yêu “bằng một quả tim tinh tuyền”; nhưng quả tim nào là tinh tuyền? Chính là quả tim mới. Ngày xưa, dưới chế độ lề luật, người ta đã xin một quả tim mới: “Lạy Chúa xin tạo cho con một quả tim trong trắng” (x. Tv 51,12); Chính Thiên Chúa đã hứa sẽ ban một quả tim mới (x. Ed 36,26). Giờ đây quả tim mới này đã được tạo ra, nó là một thực tại hữu hiệu, có nơi tất cả những người đã được rửa tội. Phải làm cho nó hoạt động, thực hành. Chính đó là việc mà phần khuyến thiện của thánh Tông Đồ hướng tới.

Khi chúng ta yêu “hết lòng”, thì chính Thiên Chúa, hiện diện trong chúng ta nhờ Thần Khí của Người, yêu trong chúng ta; chính tình yêu của Thiên Chúa sang qua chúng ta. Hành động của con người thực sự được thần hóa. Trở thành “những người thông phần bản tính Thiên Chúa” (2Pr 1,4) thực sự có nghĩa là trở thành những người tham sự vào hành động của Thiên Chúa (hành động của Thiên Chúa là yêu thương, vì Thiên Chúa là tình yêu). Một thực tại lớn lao như vậy, không phải chúng ta, tôi không biết nói sao, đã suy ra từ lời Chúa; nó được chứa đựng rõ ràng trong Tân Ước. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Người đã ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Chúng ta yêu con người không chỉ vì Thiên Chúa yêu họ, hoặc vì Người muốn chúng ta yêu họ, nhưng vì khi ban cho chúng ta Thần Khí của Người, Người đã đặt vào lòng chúng ta tình yêu của Người dành cho họ. Đức Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha để tình yêu mà Ngài đã nhận được từ nơi Cha cũng có nơi các môn đệ (x. Ga 17,26). Cũng giống như sự an ủi. Thánh Phaolô viết: “Thiên Chúa luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (2Cr 1,4). Chúng ta an ủi bằng sự an ủi mà Thiên Chúa an ủi chúng ta, chúng ta yêu bằng tình yêu mà Thiên Chúa yêu chúng ta. Không phải bằng một tình yêu nào khác đâu. Điều đó giải thích ảnh hưởng hẳn là không tương xứng, đôi khi có nơi một hành vi yêu thương rất đơn giản, thậm chí đôi khi ẩn giấu nữa, và sự mới mẻ cũng như cuộc sống mà nó tạo ra xung quanh. Chính vì tình yêu này là dấu chỉ và là máng chuyên một tình yêu khác, phần nào – có chú ý đến mọi sự khác nhau – giống như Thánh Thể là dấu chỉ của một lương thực khác. Vậy tình yêu Kitô giáo phân biệt với tất cả các tình yêu khác, vì thực tế đó là tình yêu của Đức Kitô; không còn phải là tôi yêu, nhưng là Đức Kitô yêu trong tôi. Agape từ nguồn mạch vĩnh cửu của Chúa Ba Ngôi tuôn xuống, trong Đức Giêsu Kitô, đã mặc lấy hình hài và quả tim con người, nay khao khát mở rộng để “tưới chan hòa” khắp trái đất; nó muốn lưu chuyển trong các tâm hồn, như mật ong trên tầng ong. Ở bình diện sâu thẳm và ẩn giấu, sự biến đổi thực sự của thế giới khi ấy được thực hiện. Nguồn mạch ích kỷ bị bịt kín để rồi mở ra nguồn mạch yêu thương “lan tỏa”. Sáng tạo lại bắt đầu. Bác ái thực sự là bản chất của thế giới mới.

Nếu muốn, tôi có thể là trung tâm chiếu tỏa tình yêu của Thiên Chúa. Tuy nhiên, không ngoa đâu và cũng không phô trương đâu. Đó là suy nghĩ “tỉnh táo” nhất, bởi vì “tôi có gì mà đã không nhận lãnh” (x. 1Cr 4,7); suy nghĩ “tỉnh táo” nhất còn vì một lý do khác: để làm cho quả tim mới hoạt động, phải làm cho quả tim cũ lặng yên: phải chết cho chính mình.

3. Loại bỏ nọc độc của những xét đoán

Có một lúc, khi suy niệm về lời khuyên của thánh Tông Đồ liên quan đến bác ái, tâm trí tôi nghĩ đến những lời mà chúng ta đọc trong tiên tri Giêrêmia: “Vỡ đất hoang đi và đừng gieo vào gai góc…Hãy cắt bì để thuộc về Đức Chúa” (Gr 4,3-4). Về tình yêu chân thành, quả thực tôi như nhìn thấy nơi trái tim tôi một vùng đất hoang đầy gai góc, đang chờ được cày xới. Nhưng đồng thời tôi cũng thấy có nhu cầu và ước muốn mới làm công việc dọn dẹp, biến trái tim tôi thành một nơi “chào đón” các anh em tôi, giống như trái tim của Thiên Chúa. Trái tim đó được Kinh Thánh diễn tả là “xót thương hết mọi người…không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã tạo ra” (x. Kn 11,23tt).

Có lần ở châu Phi, đứng trước một khung cảnh tương tự như khung cảnh mà nhà tiên tri Giêrêmia chắc hẳn đã nhìn thấy trước mắt, tôi hiểu những gì ông ám chỉ qua những lời tôi vừa nhắc lại. Trong mùa khô, những cánh đồng bỏ hoang hoàn toàn đầy bụi rậm, bụi gai và các cây con khác. Khi mùa mưa và mùa gieo hạt gần đến, người nông dân ra đồng, chất tất cả những cây cỏ dại này thành đống và đốt đi, để không gieo vào bụi gai. Khi màn đêm buông xuống, bạn có thể nhìn thấy đây đó, trong khung cảnh châu Phi bao la và tĩnh lặng, nhiều đám lửa đốt cây cỏ dại. Theo nhà tiên tri, chúng ta cũng phải làm như vậy đối với mảnh đất là quả tim chúng ta. Chúng ta phải “tiêu diệt sự thù địch trong ta”. Lời Chúa gợi ý rằng chúng ta nên đặc biệt thực hiện ba vụ đốt cây cỏ dại sau đây.

Đám cây cỏ dại đầu tiên phải đốt là xét đoán xấu. Thánh Phaolô nói: “Sao lại xét đoán người anh em? Sao lại khinh dể người anh em? Vậy ta đừng xét đoán nhau nữa” (Rm 14,10-13). Những phán xét hằn học, đầy ác cảm và lên án, là những cái gai mà  tiên tri Giêrêmia nói tới; phải nhổ tận gốc và đốt đi, làm cho tâm hồn chúng ta được tự do. Đức Giêsu nói: “Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán… Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình, thì lại không để ý tới?” (Mt 7,1-3). Ý nghĩa của những lời này không phải là: anh đừng xét đoán người khác, thì người khác sẽ không xét đoán anh (kinh nghiệm cho hay không phải lúc nào cũng như vậy), nhưng đúng hơn: đừng xét đoán anh em mình, để Thiên Chúa không xét đoán anh, thậm chí còn hơn thế nữa: đừng xét đoán anh em mình, vì Thiên Chúa đã không xét đoán anh. Đây không phải là một thứ luân lý thực dụng, nhưng là luân lý của Tin Mừng. Chúa so sánh tội của người lân cận (tội bị xét đoán), dù thế nào đi nữa, giống như một cọng rơm, với tội của người xét đoán (tội xét đoán) giống như một cái xà. Cái xà là chính việc xét đoán, vì là tội nặng trước mắt Thiên Chúa.

Cả thánh Giacôbê lẫn thánh Phaolô mỗi người đều đưa ra lý do riêng và sâu xa cấm xét đoán.

Thánh Giacôbê nói: “Anh là ai mà dám xét đoán người thân cận?” (Gc 4,12). Ngài muốn nói: Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể xét đoán, vì Người biết những bí mật của tâm hồn, lý do, ý định và mục đích của mỗi hành động. Còn chúng ta, chúng ta biết gì về điều xẩy ra trong tâm hồn một con người, khi người đó làm một việc như vậy? Chúng ta biết gì về tất cả những điều kiện mà người đó phải chịu vì tính khí, về học vấn và những ý định uẩn khúc của người đó? Muốn xét đoán là một công việc cực kỳ liều lĩnh, giống như phóng mũi tên mà nhắm mắt, không biết nó sẽ ghim vào đâu; người ta tỏ ra bất công, tàn nhẫn, đần độn. Chỉ cần lưu ý rằng ngay bản thân còn khó hiểu và đánh giá, và bóng tối bao quanh suy nghĩ của chúng ta như thế nào, để hiểu rằng chúng ta hoàn toàn không thể đi sâu vào cuộc sống của người khác, quá khứ của người đó, hiện tại của người đó, đau khổ mà người đó đã phải chịu. “Ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người nơi con người?” (1Cr 2,11). Người ta thuật chuyện một hôm, khi biết một trong những anh em mình đã phạm tội, một đan sĩ nói: “Thầy ấy đã làm một điều ác quá lớn!” Khi đó một thiên thần đưa đến trước mặt đan sĩ linh hồn của thầy đã phạm tội và nói: “Đây này, kẻ mà ngươi xét đoán đã chết. Ngươi muốn ta đưa thầy ấy đi đâu, vào Nước Trời hay nơi bị  phạt đời đời?”. Vị tu sĩ già đã bị chấn động đến nỗi dành cả cuộc đời còn lại để rên rỉ, khóc lóc và đau khổ, nài xin Chúa tha thứ cho tội lỗi của mình[104].

Còn lý do mà thánh Phaolô đưa ra là người xét đoán cũng làm những điều mà người ấy lên án! “Dù bạn là ai đi nữa mà xét đoán, thì bạn cũng không thể bào chữa được… vì khi bạn xét đoán người khác, mà bạn cũng làm như họ, thì bạn tự kết án chính mình” (Rm 2,11). Đây là một sự thật mà có lẽ chúng ta cũng đã nhận thấy, không có lợi cho chúng ta, mỗi lần xét đoán người khác xong, sau đó chúng ta có dịp suy nghĩ về cách hành xử của mình. Một nét điển hình của tâm lý con người là xét đoán và lên án nơi người khác đặc biệt những gì cũng có nơi mình, nhưng mình không dám đương đầu. Người hà tiện lên án tính hà tiện, người ham mê nhục dục thấy chỗ nào cũng là tội nhục dục, và không ai sáng suốt và chú ý hơn người kiêu ngạo khi cho thấy xung quanh mình những tội kiêu ngạo…

Nhưng nghĩ về các xét đoán thì tế nhị và phức tạp, và nếu hiểu thuần túy là không được xét đoán ai, thì có thể thấy ngay là thiếu thực tế. Quả thực, làm sao có thể sống mà không đưa ra bất cứ một xét đoán nào? Sự xét đoàn tiềm ẩn nơi chúng ta, ngay cả trong cái nhìn của chúng ta. Chúng ta không thể quan sát, lắng nghe, sống mà không đưa ra những đánh giá, nghĩa là không xét đoán. Thực ra, cái cần phải loại bỏ khỏi lòng ta không ở chỗ xét đoán cho bằng sự độc địa trong xét đoán! Tức là sự thù oán, lên án. Theo thánh Luca, lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em đừng xét đoán thì anh em sẽ không bị xét đoán”, được tiếp ngay sau bằng một lệnh truyền như để làm rõ ý nghĩa của những lời trên: “Anh em đừng lên án thì anh em sẽ không bị lên án” (Lc 6,37). Tự nó, hành vi xét đoán vô thưởng vô phạt, nó có thể dẫn đến chỗ bị phạt cũng như đến chỗ tha thứ hoặc công chính hóa. Chính những xét đoán tiêu cực mới bị lời Chúa lên án và bài xích. Một người mẹ và một người ngoài gia đình có thể đánh giá đứa con về cùng một lỗi mà nó phạm một cách khách quan; nhưng sự xét đoán của người mẹ và của người ngoài sẽ khác nhau biết bao! Người mẹ quả thực đau khổ về lầm lỗi này, như thể đó là lỗi của mình; bà cảm thấy có trách nhiệm, quyết tâm giúp cho đứa con thoát khỏi lỗi đó, bà sẽ không muốn cho thiên hạ biết con mình có lỗi… Thì đây, sự xét đoán của chúng ta về các anh em cũng phải giống như sự xét đoán của người mẹ, vì “chúng ta là những chi thể của nhau” (x. Rm 12,5).

Đôi khi, tùy theo chức vụ mà một người đảm nhận hoặc loại thánh thiện mà người đó được kêu gọi, Thiên Chúa có thể đòi hỏi – đồng thời cũng ban ơn cho – người đó phải ngừng mọi hoạt động xét đoán người khác. Nhưng thông thường thì không phải như vậy; cha mẹ, bề trên, cha giải tội, thẩm phán, bất cứ ai có trách nhiệm đối với người khác đều phải xét đoán. Ngay cả đôi khi xét đoán là loại phục vụ mà một người được mời gọi thực hiện cho xã hội hoặc cho Giáo Hội, giống như đôi mắt trong thân thể con người, có chức năng quan sát. Sức mạnh của tình yêu Kitô giáo chính là ở đó. Trong lá thư của chúng ta, thánh Phaolô xét đoán người Do Thái đồng bào của ngài – và chúng ta biết ngài sáng suốt và nghiêm khắc như thế nào (x. Rm 2,17tt) – nhưng ngài vẫn có thể nói: “Có Đức Kitô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cùng làm chứng cho tôi rằng: lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi. Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, thì tôi cũng cam lòng” (Rm 9,1-3). Trước mặt Thiên Chúa và trước lương tâm mình, thánh Tông Đồ “biết” rằng mình yêu thương họ. Chính là tình yêu chân thành và không giả hình.

Đó là một lãnh vực cụ thể của công việc. Đừng xét đoán, trừ khi có thể nói điều thánh Phaolô nói, hoặc – nếu buộc phải làm như vậy mà chưa đạt đến mức độ bác ái này – khiêm nhường, nhận ra điều đó và không ngạc nhiên nếu sửa dạy mà không có kết quả tức khắc và rõ ràng. Thiên Chúa muốn sửa dạy chúng ta trong khi chúng ta sửa dạy người khác; có nghĩa là Người muốn sử dụng việc chúng ta cần sửa dạy người khác để đồng thời sửa dạy chính chúng ta. Thậm chí Người lưu tâm sửa dạy chúng ta hơn bất cứ điều gì khác. Có khi đã cố gắng làm cho người dưới quyền hay người anh em hiểu điều gì đó, trong một thời gian dài mà vẫn vô ích, chúng ta nhận ra rằng mình đã không thực sự yêu thương người đó hết lòng; mọi khó khăn đều từ đó mà ra. Phải khởi sự lại từ đầu, theo một cách thức khác. Đức Giêsu nói rõ: phải lấy cái “cái xà” trong mắt mình trước đã, rồi mới thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình (x. Mt 7,5); nghĩa là phải dẹp bỏ oán hờn, không yêu thương, vì sau này sự quan sát sẽ được đón nhận và người anh em chúng ta có lẽ sẽ để chúng ta lấy cái rác ra khỏi mắt. Người đó sẽ tin tưởng. Ai lại cho phép người khác chọc tay vào mắt mình để lấy cái rác ra, nếu người đó làm một cách thô bạo, như thể nhổ cỏ dại?

Một điểm khác xác định phẩm chất của bác ái bên trong, liên quan chặt chẽ với điểm trước, là sự kính trọng: “Hãy coi người khác hơn mình” (Rm 12,10). Nhưng cũng ở đây, một lần nữa, chúng ta đụng vào điểm dễ chạm nọc, nơi tình yêu va chạm với kẻ thù của nó là sự ích kỷ. Để kính trọng anh em mình, không được quá tự trọng, không được “đi quá mức khi đánh giá mình” như thánh Tông Đồ nói (x. Rm 12,3). Ai quá tự cao tự đại thì giống như một người ban đêm đứng trước một nguồn sáng chói chang trước mắt: người đó không thể thấy gì bên ngoài ánh sáng này; không thể nhìn thấy ánh sáng của các anh em, phẩm chất và giá trị của họ.

Đám cây cỏ dại thứ hai phải đốt là những tư tưởng và tình cảm coi thường và khinh miệt những người anh em chúng ta. “Tương đối hóa”, hoặc đánh giá cách tương đối, phải trở thành động từ yêu thích của chúng ta, trong mối tương giao của chúng ta với người khác: chỉ nên đánh giá cách tương đối những phẩm chất của chúng ta và những khuyết điểm của người khác, đừng làm ngược lại như chúng ta thường có khuynh hướng làm, tức đánh giá cách tương đối các khuyết điểm của mình và những phẩm chất của người khác! Phải học cách cẩn thận giữ cái “tôi” của mình trên ghế bị cáo, và ngay khi nó rời chỗ đó để đến ngồi vào ghế quan tòa, hãy mang nó trở lại ghế bị cáo, nhẹ nhàng nhưng cương quyết. Đó là đường đưa tâm hồn tới chỗ thống hối thực sự, một điều giúp bạn đồng thời lớn lên trong sự khiêm nhường và bác ái.

Trở ngại có thể ngăn cản mọi công việc có lợi cho lòng bác ái chân thành này chính là dừng lại ở thái độ của người khác đối với chúng ta (“họ không quý trọng tôi, họ khinh miệt tôi…), trong khi, dưới ánh sáng Tân Ước, điều này hoàn toàn chuyển hướng. Quả thực, luật yêu thương mới không hệ tại ở chỗ làm cho người khác điều họ làm cho mình (như trong luật cũ ăn miếng trả miếng), nhưng ở chỗ làm cho người khác điều Thiên Chúa đã làm cho mình: “Chúa đã tha thứ cho anh em, thì cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,13). Đành rằng người khác cũng có thể được dùng làm tiêu chuẩn đo lường, tức là bạn muốn dựa vào mức độ người khác làm cho bạn, để hành động đáp lại, nhưng ngay cả trong trường hợp này, vấn đề không phải là người khác làm gì cho bạn, nhưng là bạn muốn người khác làm gì cho bạn (x. Mt 7,12). Vì vậy, bạn phải đương đầu không phải với người khác, nhưng với Thiên Chúa và với chính bạn. Bạn chỉ phải quan tâm về những gì bạn làm cho người khác và về cách thức bạn chấp nhận những gì người khác làm cho bạn, còn những gì khác nữa chỉ làm cho bạn chia trí mà thôi, không ảnh hưởng tí nào đến vấn đề. Cái đó liên hệ tới người khác.

4. Không nói lời xấu

Giữa cấp độ bên trong của tình cảm, xét đoán và coi trọng, và cấp độ bên ngoài của những việc bác ái, có một cấp độ trung gian, hơi đứng bên này và bên kia, đó là lời nói. Miệng cho biết lòng, vì “lòng có đầy miệng mới nói ra” (Mt 12,34). Đúng là chúng ta không chỉ yêu “bằng lời nói và miệng lưỡi” (1Ga 3,18), nhưng cũng phải yêu cả bằng lời nói và miệng lưỡi nữa. Thánh Giacôbê nói miệng lưỡi có thể huênh hoang làm được chuyện to lớn” cả tốt lẫn xấu: nó có thể “làm bốc cháy đám rừng to lớn”; nó “chứa đầy nọc độc giết người” (Gc 3,1-12). Có biết bao nhiêu vụ “giết người không gươm” (bằng lời nói)! Trong đời sống cộng đoàn và gia đình, những lời nói tiêu cực, xúc phạm, không chút xót thương, có thể làm cho mỗi người thu mình lại, dập tắt sự tin tưởng và bầu khí huynh đệ. Những người nhạy cảm nhất bị “giết chết” vì những lời nói tàn nhẫn, và có lẽ bản thân chúng ta cũng đã hơn một lần chịu những cái chết này trong lương tâm… Đúng là chúng ta không được lo sửa lời ăn tiếng nói cách giả hình, mà bỏ qua tâm hồn là nguồn gốc của nó (ở đây thánh Giacôbê nói: “nước mặn không thể sinh ra nước ngọt”), nhưng cũng đúng là chuyện này giúp ích cho chuyện kia. Chính vì vậy thánh Phaolô đã ban bố cho các Kitô hữu luật vàng về lời nói như sau: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Ep 4,29). Chỉ riêng những lời này thôi hẳn có thể làm thành chương trình tu đức của cả Mùa Chay; chúng thực sự chứa đựng một hình thức chay kiêng rất bổ ích: kiêng những lời nói xấu. Người nào quyết định lấy những lời này của thánh Tông Đồ làm quy tắc ứng xử, người ấy sẽ sớm cảm thấy môi miệng của mình, và rồi tâm hồn của mình, như được cắt bì, điều mà Giêrêmia đã nói ở trên. Đây là vụ đốt cây cỏ dại thứ ba cần thực hiện: đó là đốt tất cả những lời nói xấu.

Không khó để học cách nhận ra lời xấu và lời tốt; chỉ cần, nếu có thể nói như vậy, theo dõi hoặc dự đoán trong trí quỹ đạo của chúng, xem chúng dẫn tới chỗ nào: xem đó là vinh quang riêng của chúng ta, hoặc vinh quang của Thiên Chúa hoặc của người anh em chúng ta, xem chúng được dùng để biện minh, để đồng cảm và tăng giá trị của mình, hay của người thân cận, Dầu sao, có thể lúc đầu môi miệng vẫn còn lời nói xấu, và chúng ta sẽ phải rút lại bằng một cử chỉ xin lỗi và sửa sai; rồi dần dần, như người ta nói, nó sẽ được giữ lại nơi chót lưỡi đầu môi, cho tới khi những gì nó bắt đầu biến mất để nhường chỗ cho tình bác ái huynh đệ! Một lời nói tốt phát xuất từ tấm lòng chính là niềm an ủi, là sự nâng đỡ đối với người anh em chúng ta, đó là quà tặng của chính Thiên Chúa; vì như đã thấy, khi chúng ta yêu mến hết lòng, thì chính Thiên Chúa yêu thương nơi chúng ta. Thiên Chúa đã làm cho lời trở thành một phương tiện đặc biệt để an ủi, soi sáng, ban sự sống cho thế giới và bày tỏ tình yêu của Người. Chính Đức Giêsu là “lời của Chúa Cha” phát xuất từ ​​cung lòng Chúa Cha (Tv 45,2 theo bản Phổ Thông).

5. Nhìn anh em bằng con mắt mới

Tình yêu thực sự là giải pháp phổ quát. Thật khó để thiết lập cho mỗi cá nhân điều gì nên làm: im lặng hay lên tiếng, bỏ qua lỗi lầm hay sửa chữa nó. Nhưng nếu tình yêu ở nơi bạn, thì bất cứ điều gì bạn làm, đó sẽ là điều phải làm, vì “đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại” (Rm 13,10). Chính theo ý nghĩa chính xác này mà thánh Augustinô đã nói: hãy yêu, rồi làm những gì bạn muốn. “Vì vậy, lệnh truyền ngắn gọn này được ban cho bạn một lần và mãi mãi: Hãy yêu rồi làm những gì bạn muốn; nếu bạn im lặng, hãy vì yêu mà im lặng; nếu bạn nói, hãy vì yêu mà nói; nếu bạn sửa lỗi, hãy vì yêu mà sửa lỗi; nếu bạn tha thứ, hãy vì yêu mà tha thứ, hãy có gốc rễ của tình yêu tận đáy lòng bạn, từ gốc rễ này, không gì có thể phát sinh ngoài điều tốt đẹp”[105].

Tình yêu là món nợ duy nhất mà chúng ta mắc với tất cả mọi người: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8). Mỗi người đến với bạn đều là một chủ nợ đến để nhận món nợ mà bạn mắc. Có lẽ người đó sẽ yêu cầu những điều bạn không thể cho, thậm chí đôi khi còn phải từ chối cách tích cực; nhưng cả khi bạn để người đó ra về mà không cho gì cả, bạn cũng hãy cẩn thận, đừng để người đó ra về mà không nhận được món nợ bạn mắc là tình yêu. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã ban cho bạn một tình yêu để chia sẻ với những người anh em. Tình yêu này không thuộc về bạn; người anh em bạn có quyền đòi phần tình yêu của mình. Bạn mắc một món nợ sẽ không bao giờ trả hết, vì dù bạn làm gì đi nữa, bạn vẫn không bao giờ cho đi hết tình yêu mà bạn đã nhận được để phân phát. Đây là “phần lương thực” mà chủ nhà khi đi xa, đã ủy thác cho người quản gia của mình để chia sẻ đúng lúc cho các đầy tớ (x. Mt 24,45tt).

Bác ái bên trong mà thánh Tông Đồ đã chỉ ra cho chúng ta cho đến lúc này, là bác ái mà tất cả chúng ta có thể và luôn thực hành. Những hành vi bác ái bên ngoài nhất thiết phải bị gián đoạn; nhưng bác ái thì không. Đây không phải là thứ bác ái mà một số người phải thực hành và một số người khác thì nhận; không phải là một thứ bác ái phân biệt người giàu với người nghèo, người khỏe mạnh với người đau yếu. Mọi người đều có thể thực hành bác ái này, người nghèo cũng như người giàu. Nó thường đảo ngược các phạm trù được thiết lập bởi số phận hoặc sự bất công của con người và, làm những người nghèo trở thành những người giàu có thực sự và những người cho đi thực sự.

Lòng bác ái này không chỉ phổ quát, mà còn rất cụ thể. Quả thực, vấn đề không phải là thực hiện một cuộc đấu tranh trừu tượng chống lại những suy nghĩ riêng của mình, nhưng là bắt đầu nhìn bằng con mắt mới những người và hoàn cảnh xung quanh chúng ta. Chúng ta không phải tự mình đi tìm cơ hội để thực hiện chương trình này: chính họ là những người tìm kiếm chúng ta không ngừng. Đây là những người chúng ta có việc phải làm với họ chính ngày hôm nay. Chỉ cần bạn “quyết định” nhìn một người bằng tình yêu chân thành này là đủ, và bạn sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng một thái độ hoàn toàn khác đối với người đó là có thể. Như thể một con mắt khác mở ra nơi bạn, khác với con mắt tự nhiên mà chúng ta thường thấy. Tất cả các quan hệ đều thay đổi. Không có tình huống nào mà chúng ta không thể làm điều gì đó để tiến tới trong công việc này.

Tôi đưa ra một ví dụ. Bạn đang nằm trên giường, bị bệnh, hoặc bị mất ngủ, bạn không thể cầu nguyện mọi lúc. Lời Chúa gợi ý cho bạn một điều cực kỳ quan trọng để thực hiện: luân phiên cầu nguyện với bác ái huynh đệ. Làm thế nào đây. Hãy mang vào phòng bạn – bằng đức tin – trong số những người mà bạn biết, những người nào mà Thiên Chúa làm cho bạn nhớ đến vào lúc này, và là những người có lẽ sẽ có nhiều điều hơn để thay đổi. Trong khi mỗi người ở đó, trước mặt bạn, và ngay cả trong trái tim của bạn, hãy bắt đầu nhìn người đó bằng cái nhìn và trái tim của Thiên Chúa, cái nhìn và trái tim mà bạn hẳn muốn Người nhìn bạn. Bạn sẽ thấy tất cả những lý do của thành kiến ​​hoặc thù địch, tất cả những oán giận, tan biến như một phép lạ; bạn sẽ thấy mỗi người như một thụ tạo đáng thương, thụ tạo này chịu đựng, chiến đấu chống lại những yếu đuối và giới hạn của mình, giống như bạn, giống như tất cả chúng ta. Giống như “người mà Đức Kitô đã chết cho người ấy” (Rm 14,15). Và bạn sẽ ngạc nhiên vì đã không phát hiện ra điều đó sớm hơn, và bạn sẽ cho người ấy ra ngoài, sau khi đã im lặng ôm hôn anh ta. Như vậy, hết người này đến người khác, bao lâu bạn còn nhận được ân sủng hỗ trợ bạn… Không ai đã nhận thấy gì; nếu có người đến gặp bạn, người ấy sẽ thấy mọi sự như trước; có lẽ chỉ có khuôn mặt bạn sẽ rạng rỡ hơn một chút; nhưng, trong khi đó, Nước Thiên Chúa đã đến với bạn. Bạn đã được Nữ hoàng Bác ái viếng thăm! Một chút trời mới đất mới đã diễn ra trên trái đất cũ và những người đầu tiên được hưởng lợi từ điều đó sẽ chính là những người anh em mà bạn đã được hòa giải với họ. Vì “bác ái thì xây dựng” (1Cr 8,1). Thế giới được hòa giải yên hàn này – nơi từng người được công nhận phẩm giá và địa vị của mình – mà tất cả chúng ta đều mong muốn và cầu khẩn, hôm nay, nó đã bắt đầu trở thành hiện thực xung quanh giường của bạn. Quả thực, thế giới này sẽ không được thực hiện “bên ngoài” con người, nếu trước hết nó chưa được thực hiện cách nào đó “bên trong” con người, trong trái tim con người.

 

11
ĐỪNG ĐI QUÁ MỨC KHI ĐÁNH GIÁ MÌNH
Khiêm nhường Kitô giáo

Người đi mò ngọc trai ở vùng biển phía Nam lặn xuống nước để tìm ngọc trai quý, có một kinh nghiệm đặc biệt, kinh nghiệm mà bất cứ ai cũng có thể có, tuy ở một mức độ thấp hơn, nếu trong khi bơi, đôi khi anh ta cố gắng lặn sâu xuống đáy. Khi đó, nước biển, với tất cả khối lượng của nó, đẩy anh ta ngược trở lại. Chúng ta biết nguyên lý Archimèdes về lực đẩy từ dưới lên trên. Thân thể càng lớn và to tướng thì lượng nước tách ra càng lớn, do đó, lực đẩy hướng lên càng mạnh. Vì vậy, mọi thứ đều có xu hướng giữ anh lại hoặc đưa anh lên mặt nước. Nhưng anh bị lôi cuốn lặn xuống do hy vọng và thậm chí thường là do cần thiết, vì anh kiếm sống bằng công việc này. Bằng những cú đập mạnh và nhanh của tay chân, anh lao thẳng xuống đáy. Tuy rất mỏi mệt, nhưng anh vui khôn tả khi nhìn thấy dưới đáy biển một vỏ sò hé mở giúp anh nhìn thấy viên ngọc trai sáng ngời ở bên trong.

Việc tìm kiếm sự khiêm nhường là một cuộc phiêu lưu tương tự như cuộc phiêu lưu của người mò ngọc trai. Quả thực, phải xuống dưới, lao xuống dưới mặt hồ phẳng lặng của ảo tưởng về chính mình, đi xuống, đi xuống, cho đến khi chạm tới mảnh đất vững chắc này, nơi trú ngụ của sự thật về bản thân chúng ta. Trong khi làm những việc này, thì lại có một sức mạnh khủng khiếp hơn nhiều so với biển cả – sức mạnh của lòng kiêu căng bẩm sinh của chúng ta – có khuynh hướng đưa chúng ta “lên”, làm chúng ta “nổi lên”, nâng chúng ta lên trên chính mình và những người khác. Nhưng viên ngọc trai đang chờ đợi chúng ta ở cuối hành trình này, bị cầm giữ trong vỏ sò trái tim chúng ta, lại quá quý giá, khiến chúng ta không từ bỏ công việc và coi mình là kẻ thất bại. Thực sự, vấn đề là vượt ra ngoài vùng ảo tưởng của “tỏ vẻ ta đây”, hoặc “tin vào chính mình”, để tiếp cận “hữu thể” thực sự của chúng ta, bởi vì – như thánh Phanxicô Assisi đã nói – “con người trước mặt Thiên Chúa như thế nào, thì thực sự là thế ấy, không hơn”[106].

Như người ta lưu ý, con người có hai cuộc đời, một cuộc đời thực, một cuộc đời tưởng tượng sống theo ý kiến của mình hoặc của người khác. Chúng ta không ngừng làm đẹp và duy trì con người tưởng tượng của mình và bỏ qua con người thực. Có được một nhân đức hay công trạng nào, chúng ta sẽ vội vàng tìm hết cách rao báo cho người khác biết, để làm phong phú con người tưởng tượng của chúng ta bằng nhân đức hay công trạng này, ngay cả sẵn sàng quên mình, thêm thắt điều gì đó, thậm chí đôi khi sẵn sàng trở thành kẻ hèn nhát, miễn là tỏ ra dũng cảm và thậm chí mất mạng, miễn là mọi người nói về nó[107]. Do đó, việc tìm kiếm sự khiêm nhường là tìm kiếm “hữu thể” và để trung thực, nó liên quan với chúng ta trong tư cách là những con người, trước khi với tư cách là những tín hữu. Khiêm nhường có tính cách nhân vi! Con người (homo) và khiêm nhường (humilitas) có nguồn gốc từ cùng một từ (humus) có nghĩa là đất. Nietzsche, người đã đấu tranh quyết liệt với luân lý Kitô giáo vốn rao giảng sự khiêm nhường, đã đấu tranh vì một trong những món quà đẹp nhất mà luân lý đó mang lại cho thế giới. Vì vậy, chúng ta hãy tin tưởng vào người hướng dẫn chắc chắn của chúng ta là Tông Đồ Phaolô, hay đúng hơn, vào lời Chúa; nhờ quyền năng của Thần Khí, lời Chúa sẽ làm cho chúng ta trở thành những người mò ngọc trai, những người sẽ không thể cũng không muốn làm điều gì khác, kể từ lúc này trong đời, hơn là tìm kiếm viên ngọc quý này.

1. Khiêm nhường là từ tốn

Lời khuyên sống bác ái mà chúng ta đã thu nhận từ miệng thánh Tông Đồ trong bài giáo huấn trước đây  (“lòng bác ái không được giả hình..), xen giữa hai lời khuyên ngắn về sự khiêm nhường, rõ ràng ám chỉ lẫn nhau, theo cách tạo thành một loại khuôn khổ xung quanh suy tư về bác ái. Đọc theo trình tự, bỏ qua phần ở giữa, hai lời khuyên này như sau: “Đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tùy theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho…Đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan” (Rm 12,3.16).

Đây không phải là những lời khuyên chi tiết về sự điều độ và đúng mức; qua vài lời này, phần khuyến thiện mở ra trước mắt chúng ta tất cả chân trời bao la của sự khiêm nhường. Bên cạnh bác ái, thánh Phaolô nhìn nhận khiêm nhường là giá trị căn bản thứ hai, chiều hướng thứ hai mà chúng ta phải thực hiện, để đổi mới đời sống chúng ta trong Thần Khí.

Thánh Phaolô áp dụng vào đời sống của cộng đồng Kitô hữu giáo huấn truyền thống của Kinh Thánh về sự khiêm nhường, được diễn tả thường xuyên qua ẩn dụ không gian là “đưa mình lên” và “hạ mình xuống”, “hướng lên cao” và “hướng xuống thấp”. Người ta có thể “khao khát những điều quá cao” bằng trí khôn, bằng những tìm tòi nghiên cứu phóng đại, mà không biết rằng trí khôn có hạn và không để ý đến lời khởi giảng của vị tông đồ; hoặc bằng ý chí, với tham vọng có được quyền cao chức trọng. Thánh Tông Đồ nhìn tới cả hai hình thức có thể xẩy ra trên đây, và dầu sao, lời của ngài cùng một trật liên quan đến cả hai: cả sự tự phụ của trí khôn lẫn tham vọng của ý chí. Khi làm như vậy – nghĩa  là khi chuyển đạt giáo huấn truyền thống của Kinh Thánh về sự khiêm nhường – thánh Phaolô mang đến một động lực có phần mới mẻ và độc đáo của nhân đức này, làm cho giáo lý của Kinh Thánh về sự khiêm nhường tiến thêm một bước.

Trong Cựu Ước, động lực hay lý do biện minh cho sự khiêm nhường là một lý do từ phía Thiên Chúa, chính Thiên Chúa “chống lại kẻ kiêu căng và ban ơn cho người khiêm nhường” (x. Cn 3,34 LXX; G 22,29). Tuy nhiên người ta không rõ, ít nhất cách minh nhiên, tại sao Thiên Chúa lại làm như vậy, nghĩa là tại sao “Người nâng cao kẻ khiêm nhường và hạ thấp kẻ kiêu ngạo”. Các dân tộc khác, các tôn giáo và văn hóa khác có thể đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về việc này: chẳng hạn như sự ghen tương hay “sự cả ghen của Thiên Chúa”, như một số tác giả Hy Lạp từng nghĩ, hay đơn giản là ý muốn thần linh nhằm trừng phạt sự kiêu ngạo của con người (hybris). Khái niệm quyết định được thánh Tông Đồ đưa vào trong cuộc tranh luận về sự khiêm nhường là khái niệm về sự thật. Trước lý do từ phía Thiên Chúa mà chúng ta có thể gọi là thần học, ngài thêm một lý do từ phía con người mà chúng ta có thể gọi là nhân học. Thiên Chúa yêu người khiêm nhường vì người khiêm nhường ở trong sự thật; đó là con người thật. Người phạt kẻ kiêu căng vì kẻ kiêu căng, ngay cả trước khi kiêu căng, là dối trá. Tất cả những gì nơi con người không khiêm nhường, quả thực là dối trá. Vì không biết chắc điều  này, các triết gia Hy Lạp, tuy biết và đề cao hầu như mọi nhân đức, lại không biết đến sự khiêm nhường. Nơi họ, từ khiêm nhường (tapeinosis) luôn có một ý nghĩa đặc biệt tiêu cực chỉ sự thấp hèn, ti tiện và nhát đảm. Có hai “cột trụ” giúp cho người ta có thể liên kết khiêm nhường với sự thật ở nơi con người, thì họ lai không biết: ý tưởng về sự sáng tạo và khái niệm Kinh Thánh về tội. Quả thực, theo khái niệm về sự sáng tạo, chắc chắn tất cả những gì tốt đẹp nơi con người đều đến từ Thiên Chúa, không có ngoại lệ; còn theo khái niệm Kinh Thánh về tội, chắc chắn mọi điều thực sự sai trái và xấu xa nơi con người, theo nghĩa luân lý của thuật ngữ này, đều đến từ sự tự do của họ, từ chính họ. Con người Kinh Thánh hướng tới sự khiêm nhường hoặc do điều tốt, hoặc do điều xấu mà người đó khám phá ra nơi mình.

Nhưng chúng ta hãy trở lại với tư tưởng của thánh Tông Đồ. Thuật ngữ được ngài sử dụng trong bản văn của chúng ta để chỉ sự khiêm nhường-sự thật là thuật ngữ từ tốn hay khôn ngoan (sophrosyne). Ngài khuyên các Kitô hữu đừng có một ý tưởng sai lầm và phóng đại (hyperphronein) về mình, nhưng đúng hơn phải biết đánh giá đúng và từ tốn (sophronein) về mình, chúng ta gần như có thể nói là đánh giá khách quan. Trong lời khuyên được đưa ra ở câu 16, kiểu nói “đánh giá mình cho đúng mức” tương đương với kiểu nói “ham thích những gì hèn mọn” (tapeinos). Qua đó, thánh Tông Đồ muốn nói rằng người ta khôn ngoan khi khiêm nhường và khiêm nhường khi khôn ngoan. Bằng cách hạ mình xuống, con người tiến đến sự thật. Lý do của sự khiêm nhường, mà tôi đã gọi là lý do nhân học, tuy vậy, cũng là một lý do thần học, vì nó không chỉ liên quan đến con người, nhưng còn liên quan đến chính Thiên Chúa. Thánh Gioan nói: “Thiên Chúa là ánh sáng” (1Ga 1,5), Người là sự thật và chỉ có thể gặp gỡ con người trong sự thật. Người ban ơn cho kẻ khiêm nhường vì chỉ kẻ khiêm nhường mới có khả năng nhận ra ân sủng, vì người đó không nói: “Chính năng lực của tôi và sức mạnh của bàn tay tôi đã tạo ra cho tôi sự giầu có này” (x. Đnl 8,17; Is 10,13).

Thánh Têrêxa Avila đã viết: “Một ngày nọ, tôi đã tự hỏi tại sao Chúa lại yêu thích sự khiêm nhường đến thế và đột nhiên, không cần suy nghĩ, tôi nhận ra rằng đó là vì Người là Sự Thật tối cao và khiêm nhường là sự thật”[108]. Vậy là thánh nữ đi đến cùng một kết luận như thánh Phaolô; Thiên Chúa đã truyền đạt cho thánh nữ chân lý lời Người, không phải bằng con đường chú giải, nhưng bằng sự soi sáng bên trong.

2. “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?”

Như thế, chúng ta bắt đầu đi xuống đáy, tới “viên ngọc trai” mà chúng ta đã nói lúc đầu. Lúc này thánh Tông Đồ không để chúng ta vất vưởng hay ở bên ngoài sự thật này về chính chúng ta. Một số câu súc tích của ngài, tuy ở trong các thư khác, nhưng cùng nằm trong dòng ý tưởng này, có sức mạnh làm cho chúng ta thoát khỏi mọi “điểm tựa” và khiến chúng ta thực sự đi sâu vào việc khám phá ra sự thật. Một trong những câu đó là: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1Cr 4,7). Chỉ có một điều mà tôi đã không nhận lãnh, một điều hoàn toàn và duy nhất là của tôi, đó là tội lỗi. Tôi biết và cảm thấy tội đến từ tôi, nó có nguồn gốc nơi tôi, hoặc ít nhất là nơi con người và thế giới, chứ không phải nơi Thiên Chúa, trong khi mọi sự khác – kể cả việc tôi biết tội là do tôi – đều đến từ Thiên Chúa. Một câu khác: “Ai tưởng mình là gì, mà kỳ thực không là gì hết. thì là lừa gạt chính mình” (Gl 6,3). “Đánh giá đúng” về mình là thế này: thừa nhận mình là hư không! Chính là nền tảng vững chắc mà đức khiêm nhường hướng tới! Viên ngọc quý chính là xác tín chân thành và bình an rằng, tự bản thân, chúng ta chẳng là gì cả, chúng ta không thể nghĩ gì, không thể làm gì. Đức Giêsu nói: “Không có Thầy, anh em chẳng làm được gì”, và thánh Tông Đồ còn thêm: “Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng, để nghĩ rằng mình làm được gì..” (2Cr 3,5). Khi có dịp, chúng ta có thể sử dụng một trong những câu trên đây như một “lưỡi gươm thật sự của Thần Khí”, để cắt đứt một cám dỗ, một tư tưởng, một sự tự mãn hão huyền: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” Người ta đặc biệt cảm nghiệm được hiệu năng của lời Chúa, khi áp dụng lời Chúa cho mình, hơn là khi áp dụng cho người khác.

Bằng cách này, chúng ta đi dần đến chỗ khám phá ra bản chất đích thực của sự hư vô của mình, đó không phải là một sự hư vô thuần túy và đơn giản, một “người không là gì mà vô tội”. Chúng ta thoáng thấy mục tiêu cuối cùng mà lời Chúa muốn dẫn chúng ta đến, mục tiêu đó là nhận ra chúng ta thực sự là gì: không là gì mà lại kiêu căng! Tôi là người “tưởng rằng mình là một cái gì đó”, trong khi chẳng là gì hết; tôi là người không có gì mà đã không nhận lãnh, nhưng lại luôn khoe khoang, hoặc bị cám dỗ khoe khoang, về một điều gì đó, như thể đã không nhận lãnh! Đây không phải là tình huống của một số người, nhưng là nỗi khốn khổ chung cho mọi người. Đây là định nghĩa về con người cũ: một người không là gì lại tưởng mình là một cái gì đó, một người không là gì mà lại kiêu căng. Chính thánh Tông Đồ, khi thăm dò tận đáy lòng minh, đã thú nhận điều mình khám phá ra: “Tôi thấy một luật khác… luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể của tôi. Tôi thật là một người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?” (x. Rm 7, 14-25). Theo thánh Phaolô, luật khác này, tội lỗi này cư ngụ trong tôi, như chúng ta biết, tiên vàn là sự vênh vang, kiêu căng, khoe khoang về bản thân.

Vậy ở dưới đáy đường đi xuống của mình, chúng ta khám phá ra nơi ta, không phải sự khiêm nhường, nhưng là sự kiêu căng. Nhưng chính xác thì đó là khám phá ra rằng chúng ta kiêu căng tận căn, và chúng ta như vậy là do lỗi của chúng ta, không phải lỗi của Thiên Chúa, vì chúng ta đã trở thành như vậy do sử dụng không đúng sự tự do của mình; do đó, chính khám phá này là sự khiêm nhường, vì đó là sự thật. Đạt tới mục tiêu này, hoặc thậm chí chỉ thoáng nhìn thấy nó từ xa, nhờ lời Chúa, là một ân sủng lớn lao. Điều đó mang lại một sự bình an mới. Giống như một người, trong thời chiến, phát hiện ra dưới căn nhà của mình một nơi trú ẩn an toàn chống lại các cuộc dội bom hoàn toàn không thể trả đũa, mà không cần phải rời khỏi đó. Chân phước Angela Foligno, một bậc thầy về linh đạo, lúc gần chết đã kêu lên: Ôi, con người không là gì mà vô danh, con người không là gì mà vô danh! Linh hồn không thể có tầm nhìn cao hơn trong thế giới này ngoài việc coi mình chẳng là gì và giam mình ở đó như trong phòng giam của một nhà tù”[109]. Cũng chính vị chân phước này đã khuyên những người con thiêng liêng của mình cố gắng hết sức để trở lại phòng giam này ngay, khi vì bất cứ lý do gì mà họ ra khỏi đó. Phải làm như một số con vật nhỏ rất nhút nhát không bao giờ rời xa hang ổ của chúng, để có thể quay lại đó kịp thời, khi có những dấu hiệu đầu tiên cho thấy có nguy hiểm.

Có một bí mật lớn trong lời khuyên này, một sự thật mầu nhiệm mà người ta trải nghiệm bằng cách cố gắng thực hành nó. Khi đó, người ta khám phá ra rằng phòng giam này thực sự tồn tại và người ta thực sự có thể vào bất cứ khi nào muốn. Nó hệ tại ở cảm giác an bình và tĩnh lặng mình không là gì cả, không là gì mà lại kiêu căng. Khi thấy mình ở trong phòng giam này, người ta không còn nhìn thấy khuyết điểm của người thân cận nữa, hoặc nhìn họ dưới một ánh sáng khác. Người ta hiểu rằng, với ân sủng và tập tành, có thể thực hiện điều thánh Tông Đồ nói mà thoạt nhìn có vẻ quá đáng, tức là: “coi người khác hơn mình” (Pl 2,3), hoặc ít nhất hiểu được làm thế nào các thánh có thể thực hiện điều trên đây. Vậy, nhốt mình trong ngục tối này là một điều gì đó hoàn toàn khác với nhốt mình trong chính mình, trái lại nó mở ra cho người khác, cho hữu thể, cho tính khách quan của sự vật. Ngược lại với điều kẻ thù của sự khiêm nhường Kitô giáo đã luôn nghĩ. Khép mình lại, không phải để sống ích kỷ, nhưng để không sống ích kỷ. Đó là chiến thắng một trong những điều xấu mà ngay cả tâm lý học hiện đại cũng cho là nguy hại đối với con người, tức là mê mình quá đáng (narcissisme).

Ngoài ra, trong phòng giam này, kẻ thù không vào được… Một ngày kia thánh Antôn ẩn tu có một thị kiến: có một lúc ngài thấy vô số tấm lưới của kẻ thù giăng ra trước mặt mình và ngài rên rỉ: “Ai có thể tránh được tất cả những tấm lưới này”, và ngài nghe thấy một giọng nói trả lời: “Người khiêm nhường!”[110]

Nhưng bí mật lớn nhất của phòng giam này là trong đó người ta được Thiên Chúa viếng thăm. Không có nơi nào trên thế giới mà Thiên Chúa thích hơn được gặp tạo vật của Người. Phòng giam tối tăm là trái tim thống hối và khiêm nhường này, thực ra, rất sáng láng, vì sự thật tỏa chiếu ở đó. Đó là nơi ở yêu thích của Thiên Chúa, nơi Người thích “xuống và đi dạo”, như Ngài đã làm trong vườn địa đàng, trước khi tổ tông phạm tội. Nơi tiên tri Isaia, chúng ta nghe thấy lời độc thoại siêu phàm sau đây của Thiên Chúa. Người nhìn lên bầu trời và nói: “Trời là ngai của Ta”; rồi nhìn xuống đất và nói: “Đất là bệ dưới chân Ta”, “Các ngươi có thể xây cho Ta nhà nào, và nơi nào sẽ là chốn Ta nghỉ ngơi, khi tất cả những thứ đó đều do tay Ta làm ra?” Và câu trả lời của Thiên Chúa là: “Kẻ được Ta đoái nhìn là kẻ nghèo khổ và hèn mọn, kẻ nghe lời Ta mà run sợ” (Is 66,1tt; cũng xem Is 57,15).

Trong vũ trụ mọi sự thuộc về Thiên Chúa; không có gì mới lạ đối với Người ở bất cứ đâu, không có gì đáng ngạc nhiên; mọi sự đã được sự toàn năng của Người tác tạo, và mọi sự đều có thể được sự toàn năng ấy tác tạo. Nhưng có một điều mà, một cách mầu nhiệm, sự toàn  năng của Người không thể hoặc sẽ không muốn làm, đó là một tâm hồn biết hạ mình và nhìn nhận mình tội lỗi. Để có được điều này, Người cần sự tự do của con người giúp đỡ. Một tấm lòng hạ mình mỗi lần là một điều mới lạ đối với Thiên Chúa, một điều ngạc nhiên khiến Người run lên vì sung sướng. Quả thật, “một tấm lòng thống hối khiêm cung, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (x. Tv 51,17). Trong căn phòng hư vô của mình, Thiên Chúa “tiết lộ” những bí mật của Người cho kẻ khiêm nhường” (x. Hc 3,18tt). Căn phòng tự biết mình cũng trở thành căn phòng biết Thiên Chúa, căn phòng mà sách Diễm ca gọi là “tháp ngà” (Dc 2,4). Đức Giêsu nói: “Thiên Chúa giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết điều này, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11,25). Thiên Chúa đã mặc khải cho những người khiêm nhường – những kẻ bé mọn – bí mật của các bí mật: Đức Giêsu.

Phúc Âm trình bày cho chúng ta một mẫu mực vô song về sự khiêm nhường này mà chúng ta đang bàn, và là khiêm nhường-sự thật: đó là Đức Maria. Đức Maria ca ngợi trong kinh Magnificat: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới” (Lc 1,28). Nhưng ở đây Đức Trinh Nữ hiểu thế nào về “khiêm nhường”? Đây không phải là nhân đức khiêm nhường, nhưng là điều kiện khiêm nhường của người, hoặc cùng lắm là người thuộc hạng người khiêm tốn và nghèo khó, vấn đề được nhắc đến trong phần còn lại của Kinh Ngợi khen. Việc tham chiếu rõ ràng bài ca của bà Anna, mẹ của Samuel, đã xác nhận điều đó, trong đó cùng một thuật ngữ (tapeinosis) được Đức Maria sử dụng ở đây rõ ràng có nghĩa là lầm than, son sẻ, thân phận khiêm nhường chứ không phải cảm thức khiêm nhường. Nhưng chuyện đó là hiển nhiên. Làm sao có thể tưởng tượng Đức Maria đề cao sự khiêm nhường của mình mà đồng thời lại không thực sự hủy hoại sự khiêm nhường của mình? Làm sao dám nghĩ việc Thiên Chúa chọn mình là do sự khiêm nhường của mình, chứ không phải do ơn nhưng không của Thiên Chúa, làm cho toàn bộ cuộc đời của Đức Maria trở nên khó hiểu, bắt đầu từ sự Vô nhiễm Nguyên tội của Mẹ? Tuy nhiên, người ta vẫn tiếp tục nói một cách thiếu thận trọng về Đức Maria, cho rằng người không khoe khoang nhân đức nào khác ngoài sự khiêm nhường của mình, như thể nói thế là làm cho Mẹ được vinh dự, chứ không phải ngược lại, gây hại lớn cho nhân đức này. Đức khiêm nhường có một quy chế đặc biệt: người ta có nó khi không tưởng rằng mình có nó, người ta không có nó khi tưởng rằng mình có nó. Chỉ mình Đức Giêsu có thể tuyên bố mình là người “khiêm nhường trong lòng” và thực sự là thế; như chúng ta sẽ thấy, đây là đặc tính độc nhất vô nhị của sự khiêm nhường nơi con người-Thiên Chúa.

Vậy Đức Maria không có nhân đức khiêm nhường sao? Chắc chắn là có, vượt bực là khác, nhưng chỉ mình Thiên Chúa biết. Chính xác đó là phẩm chất vô song của sự khiêm nhường đích thực: hương thơm của nó chỉ mình Thiên Chúa nhận ra, chứ người tỏa hương thơm ấy cũng không nhận ra. Trong tất cả các ngôn ngữ mà Kinh Thánh đã sử dụng để đến với chúng ta, thuật ngữ “khiêm nhường” có hai nghĩa cơ bản: một nghĩa khách quan, chỉ sự hèn mọn, nhỏ bé hoặc lầm than thực tế; một nghĩa chủ quan, chỉ ý thức về sự hèn mọn. Mẹ Maria đã nói lên lời khiêm nhường theo nghĩa khách quan và Thiên Chúa lắng nghe lời ấy theo nghĩa chủ quan. Dĩ nhiên ở đây Mẹ cũng có “công trạng” chứ, công trạng ở chỗ biết mình chẳng có công trạng gì.

Chúng ta cũng thấy điều đó trong đời sống các thánh. Một ngày nọ, anh Massé, một trong những người bạn đồng hành của thánh Phanxicô Assisi, đã hỏi thẳng vị thánh rằng làm thế nào mà mọi người chạy theo ngài và muốn gặp ngài như vậy. Nhưng câu trả lời khi đó của thánh Phanxicô là gì? Có phải nói rằng điều đó xảy ra vì Thiên Chúa không thấy ai “khiêm nhường” hơn ngài không? Không, ngài trả lời rằng điều đó xảy ra vì Thiên Chúa không thấy ai “thấp hèn” hơn ngài. Ngài nói rất nhiệt tình: “Bạn có muốn biết tại sao mọi người lại chạy theo tôi không? Tôi biết được điều đó từ đôi mắt của Thiên Chúa trên cao, Đấng không thấy ai trong số những tội nhân thấp hèn hơn, bất tài hơn, đại phạm nhân hơn tôi”[111]. Còn thánh Bênađô thì nói tất cả những điều này trong một vài từ: “Ai thực sự khiêm nhường luôn muốn được coi là thấp hèn, và không muốn được tuyên bố là khiêm nhường”[112].

Linh hồn Đức Maria, thoát khỏi mọi dục vọng thực sự liên quan đến tội lỗi, trước tình huống mới do tư cách của mình là Mẹ Thiên Chúa tạo ra, đã tức khắc và tự nhiên ở vào trung tâm sự thật của mình – vào sự hư vô của mình – và không gì cũng không ai có thể đưa Mẹ ra khỏi đó. Trong sự việc này, sự khiêm nhường của Mẹ Thiên Chúa xuất hiện như một điều kỳ diệu độc nhất của ân sủng. Mẹ đã được Luthêrô ca ngợi như sau: “Mặc dù Đức Maria sẽ đón nhận công trình vĩ đại này của Thiên Chúa, nhưng Mẹ đã và vẫn có một ý thức về bản thân đến nỗi Mẹ không vượt lên trên những người nhỏ nhất của trần thế… Chính tại đây chúng ta phải ăn mừng tinh thần của Đức Maria, trong sạch cách lạ lùng. Trong khi chúng ta đem lại cho Mẹ một vinh dự lớn lao như vậy, Mẹ vẫn không để mình bị cám dỗ; như thể không trông thấy gì, Mẹ vẫn đi đúng đường”[113]. Sự từ tốn của Đức Maria thì khôn sánh, ngay cả trong số các vị thánh. Mẹ đã chịu nổi sức căng ghê gớm của ý tưởng này: “Bà là mẹ Đấng Cứu Thế, mẹ Thiên Chúa, bà là người mà mọi phụ nữ trong dân đều muốn là”. Bà Elisabet đã kêu lên: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm?” và Đức Mẹ trả lời: “Người đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Người.” Mẹ đã chìm vào cõi hư vô của mình và chỉ mình Chúa mà Mẹ cất tiếng nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa”. Chúa, chứ không phải nữ tỳ. Đức Maria thật là tuyệt tác của ơn thánh Chúa.

Như tôi vừa nói, Đức Maria đã chìm vào cõi hư vô trước mặt Thiên Chúa và ở đó suốt cuộc đời, bất chấp những cơn bão ập đến với Mẹ. Chúng ta có thể thấy điều này khi nhìn cách Mẹ khiêm nhường im lặng đứng cạnh Con mình. Thậm chí không yêu sách ngồi hàng ghế đầu để nghe Ngài nói với đám đông, và ngay cả phải đứng ở bên ngoài, đến độ buộc phải nhờ người khác nói dùm mới có thể nói với Ngài (x. Mt 12,46tt). Đức Maria, mặc dù là Mẹ Thiên Chúa, đã không ghen tị coi việc được làm Mẹ Thiên Chúa như một kho báu, như một quyền khoe mình, nhưng Mẹ đã bỏ mình đi, mang tước hiệu và thái độ của người nữ tỳ và nên giống như bất cứ người phụ nữ nào… Đức Maria là hiện thân hoàn hảo của lời thánh Phaolô khuyên ăn ở khiêm nhường, Mẹ không khao khát những điều cao sang, nhưng trái lại, chỉ hài lòng với những điều hèn mọn.

3. Khiêm nhường và những tủi nhục

Chúng ta đừng có ảo tưởng đạt đến sự khiêm nhường, chỉ vì lời Chúa đã dẫn chúng ta đến chỗ khám phá ra sự hư vô của mình. Điều chúng ta có ở đây bất quá là một học thuyết nào đó về sự khiêm nhường, chứ không phải sự khiêm nhường. Chúng ta thấy mình khiêm nhường đến mức nào, khi sáng kiến ​​chuyển từ chúng ta sang những người khác, nghĩa là khi không phải chính chúng ta nhận ra những khuyết điểm và lỗi lầm của mình, nhưng là những người khác; khi chính chúng ta có thể không những nói ra sự thật của mình mà còn vui lòng để người khác nói ra sự thật cho mình. Nói khác đi, khiêm nhường là khi để cho người khác nhận xét, sửa chữa, phê bình, làm cho mình phải tủi nhục. Tự phụ dùng những vũ khí riêng để giết chết sự kiêu căng của mình, mà không nhờ ai can thiệp từ bên ngoài, là dùng cánh tay của mình để trừng phạt mình: chúng ta sẽ không bao giờ làm cho mình phải đau. Đó là muốn tự mình cắt bỏ khối u trên da thịt mình. Có những người (chắc chắn trong đó có tôi) có thể rất chân thành tự thú mọi điều xấu xa của mình, có thể có và có thể tưởng tượng được; những người, khi xưng tội hay cầu nguyện, thành thật và rất can đảm nhận lỗi, nhưng nếu có ai xung quanh, dù chỉ nói thoáng qua, dường như cho những lời thú tội của họ là thực, hoặc liều mình nói một phần nhỏ về những gì họ tự động nói ra, chắc là họ sẽ nổi tam bành lên. Hiển nhiên, vẫn còn một chặng đường dài phải vượt qua, trước khi chúng ta đạt tới chỗ khiêm nhường thật sự và sự thật hèn mọn.

Khi tôi tìm cách để được người khác tôn vinh về điều gì đó tôi nói hoặc làm, thì để đáp lại, chính người đó gần như chắc chắn sẽ tìm cách để được tôn vinh về điều gì đó anh ta nói hoặc làm, và do vậy, mỗi người đều tìm kiếm vinh quang riêng của mình và không ai có được nó; mà nếu tình cờ có được nó, thì đó chỉ là “vinh quang hão huyền”, nghĩa là một vinh quang trống rỗng, sẽ tan thành mây khói khi mình chết. Nhưng hiệu quả của nó dầu vậy vẫn đáng sợ; Đức Giêsu cho rằng việc tìm kiếm vinh quang riêng của mình thậm chí không thể có lòng tin. Ngài nói với nhóm Pharisêu: “Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa độc nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?” (Ga 5,44). Khi còn bám víu vào những ý nghĩ và ước muốn vinh quang của con người, hãy ném vào trong mớ ý nghĩ lộn xộn đó, như một ngọn đuốc cháy, lời mà chính Đức Giêsu đã sử dụng và để lại cho chúng ta: “Tôi không tìm vinh quang cho mình” (Ga 8,50). Lời đó có sức mạnh gần như của bí tích để thực hiện điều nó biểu thị, để xua tan những ý nghĩ như vậy.

Khiêm nhường là một cuộc đấu tranh – như chúng ta thấy – kéo dài suốt đời và ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống. Sự kiêu căng có thể được nuôi dưỡng bằng cả điều thiện lẫn điều  ác, do đó sống sót trong mọi tình huống và mọi hoàn cảnh. Thậm chí, không giống như điều xảy ra với tất cả các tật xấu khác, không phải điều ác nhưng chính điều thiện lại là nơi sinh sản ưa thích của loại “virút” khủng khiếp này. Pascal đã viết: “Sự kiêu ngạo cắm sâu trong lòng con người, đến nỗi một người lính, một tên đểu cáng, một người làm bếp, một phu khuân vác cũng kiêu ngạo, muốn có người thán phục mình, ngay cả các triết gia cũng muốn điều đó…”[114]. Hư danh có khả năng biến nỗ lực của chúng ta hướng tới chỗ khiêm nhường thành một hành vi kiêu ngạo. Nhưng với ân sủng, chúng ta có thể chiến thắng trong trận chiến khủng khiếp này. Nếu thực sự con người cũ của bạn thích biến những hành vi khiêm nhường của bạn thành những hành vi kiêu ngạo, thì bạn, với ân sủng, hãy biến những hành vi kiêu ngạo thành những hành vi khiêm nhường bằng cách nhận ra chúng là những hành vi kiêu ngạo, khiêm tốn nhận biết rằng mình chẳng là gì mà lại kiêu căng. Như thế, Thiên Chúa được tôn vinh ngay cả bằng sự kiêu ngạo của chúng ta.

Trong trận chiến này, Thiên Chúa thường trợ giúp những người của mình bằng một phương thuốc rất hữu hiệu và đặc biệt. Thánh Phaolô viết: “Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mạc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả vào mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại” (2Cr 12,7). Để con người “không tự hào về những ý nghĩ kiêu ngạo này”, nghĩa là để họ không bị đẩy ngược trở lại mặt nước sau khi đã tìm thấy viên ngọc trai, Thiên Chúa dùng mỏ neo gắn họ xuống đất; Người “chồng chất gánh nặng lên vai họ” (x. Tv 66,11). Chúng ta không biết đích xác “cái dằm đâm vào thịt” và “thủ hạ của Satan” này là gì đối với thánh Phaolô, nhưng biết rõ chúng là gì đối với chúng ta. Ai muốn theo Chúa và phục vụ Giáo Hội đều có nó. Chính là những tình huống nhục nhã mà chúng ta liên tục, đôi khi cả ngày lẫn đêm, bị đưa trở lại với thực tế phũ phàng của con người chúng ta. Đó có thể là một khiếm khuyết, một căn bệnh, một sự yếu đuối, một sự bất lực mà Chúa để cho chúng ta phải chịu, dù chúng ta có van xin thế nào đi nữa. Một cơn cám dỗ dai dẳng và nhục nhã, có lẽ chính xác là cám dỗ kiêu ngạo. Một người mà chúng ta buộc phải chung sống và là người, bất chấp ý định ngay thẳng của bên này hay bên kia, là cái gai thực sự đâm vào thịt, có sức mạnh vạch trần sự mong manh của chúng ta, phá bỏ sự tự phụ của chúng ta. Đôi khi là về những điều thậm chí còn nặng nề hơn: những tình huống mà tôi tớ Chúa buộc phải bất lực chứng kiến mọi nỗ lực của mình đều thất bại và đối mặt với những điều quá lớn đối với anh ta, khiến anh ta thấy rất rõ sự vô giá trị của mình là thụ tạo tội lỗi. Nhất là khi ấy anh ta học được điều đó muốn nói gì, đó là “tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa” (x. 1Pr 5,6).

Trong chương này, chúng ta đã tìm cách tự nhốt mình trong nhà tù của sự hư vô. Tuy nhiên, trước khi chấm dứt vấn đề của chúng ta, chúng ta phải lưu ý một điều: tư tưởng triết học đương thời cũng đã tìm cách nhốt con người trong ngục tù của sự hư vô. Nhưng nhà tù mà Thiên Chúa bị trục xuất này thật khác biệt và bi đát làm sao! Chúng ta ám chỉ điều đó để hiểu đức tin gìn giữ chúng ta khỏi vực thẳm nào.

Nhà tư tưởng nổi tiếng nhất của thế kỷ chúng ta đã hỏi cái gì là “cột trụ vững chắc, bảo đảm và không thể tránh” mà lương tâm gán cho con người và trên đó con người phải xây dựng cuộc sống của mình, nếu muốn “chính thực”? Câu trả lời là đây: sự hư vô của nó. Tất cả những khả thể của con người, trên thực tế, đều là những bất khả thể. Mọi nỗ lực phóng mình ra và vươn lên đều là một cú nhảy từ hư vô và quay trở lại hư vô. “Cái hư vô hiện sinh này hoàn toàn không có đặc tính tước đoạt và thiếu thốn liên quan đến một lý tưởng hướng tới mà không bao giờ đạt được. Ngược lại, chính sự hiện hữu của hữu thể này là hư vô trước tất cả những gì nó có thể phóng chiếu và trên nguyên tắc là đạt tới; nó đã là hư vô như một một sự phóng chiếu”[115].

Do đó, cuộc sống chính thực là cuộc sống hiểu được sự hư vô triệt để của cuộc sống và biết rằng “sống là để chết”. Khả năng độc nhất còn lại cho con người là chấp nhận sự hư vô của mình, cam chịu nó và, như người ta nói, làm cho sự tất yếu trở thành một nhân đức.

Tư tưởng của thế gian, vốn trước đây phản ứng chống lại lời rao giảng của Kitô giáo về sự khiêm nhường, chính nó đi đến chỗ đề xuất một hình thức khiêm nhường và từ tốn không kém phần triệt để hơn sự khiêm nhường của Kitô giáo, cho dù khác với sự khiêm nhường sau, nó không có lối thoát. Đó không phải là một “nhân đức”, nhưng là một “tất yếu”. Theo Phúc Âm, như chúng ta đã thấy, tự chúng ta, chúng ta không có “khả năng” nào – không suy nghĩ, không muốn, cũng không làm điều thiện – nhưng chúng ta biết, và chúng ta có kinh nghiệm thực tế về điều đó, rằng, trong đức tin, Thiên Chúa qua Đức Kitô ban cho chúng ta mọi khả năng, vì “mọi sự đều có thể cho người tin” (Mc 9,23).

Điều tích cực từ sự so sánh nhanh chóng với tư tưởng hiện sinh hiện đại chính là một sự xác nhận không nghi ngờ gì về sự kiện khiêm nhường là sự thật và người ta không “chính thực” nếu người ta không khiêm nhường. Điều này thúc giục chúng ta yêu mến và trau dồi nhân đức phúc âm này nhiều hơn.

4. Khiêm nhường noi gương Đức Kitô

Để hiểu cho hết tư tưởng của Phaolô về sự khiêm nhường, phải lưu ý đến đoạn văn khác mà chúng ta đã đọc trong thư gửi tín hữu Philíp: “ Anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chỉ vì ganh tỵ hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác…” (Pl 2,2-5). Tuy nhiên, bên cạnh nhiều điểm tương đồng và gần như theo nghĩa đen, bản văn bản này còn đưa ra những yếu tố mới so với bản văn thư Rôma; đây là những điều khiến chúng ta quan tâm nhất vì giúp chúng ta hiểu biết phong phú hơn về sự khiêm nhường theo Kinh Thánh.

Yếu tố mới đầu tiên được tạo ra bởi chính thuật ngữ chỉ sự khiêm nhường. Trong khi ở thư Rôma – chúng ta đã lưu ý – thuật ngữ chuyên môn, nếu có thể nói như vậy, về sự khiêm nhường chưa có trong ngữ vựng của thánh Phaolô, thì lại được làm nổi bật ở đây. Giờ đây chúng ta không chỉ nói về sự từ tốn (sofrosyne) (x. Rm 12,3), mà còn nói về sự khiêm nhường (tapei-nofrosyne) (x. Pl 2,3), Bằng cách sử dụng thuật ngữ ghép này, có nghĩa là cảm thấy (fronein) một cách khiêm nhường (tapeino) và dường như thánh Phaolô đã tự nghĩ ra, ngài làm sáng tỏ sự mơ hồ mà cho đến lúc đó người ta vẫn thấy, hơn nữa vẫn tồn tại, trong thuật ngữ thông thường, được sử dụng để chỉ sự khiêm nhường (tapeinosis). Thuật ngữ này thực sự có thể có một ý nghĩa khách quan, theo đó cho thấy một sự nhỏ bé trong thực tế hoặc trong thân phận (như trong kiểu nói “sinh trong thân phận mọn hèn”) hoặc một ý nghĩa chủ quan, theo đó nó cho thấy cảm giác mình nhỏ bé, hoặc đúng hơn, ý muốn làm cho mình trở nên nhỏ bé. Với thuật ngữ mới này, thánh Phaolô rõ ràng nhấn mạnh sự khiêm nhường nội tâm, hay trong lòng, nghĩa là nhấn mạnh điều mà ngày nay chúng ta gọi là nhân đức khiêm nhường.

Yếu tố mới khác liên quan đến động lực của sự khiêm nhường, hoặc nền tảng của nó, nói cách khác, “tại sao” lại khiêm nhường. Theo quan điểm của thư Rôma, câu trả lời là: người ta phải khiêm nhường vì khiêm nhường là sự thật. Động lực này vẫn còn tất cả giá trị của nó; tuy nhiên, một động lực khác, hoàn toàn mới, được thêm vào, đó là bắt chước Đức Kitô: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu, Người đã…hạ mình” (Pl 2,8). Ở đây, động lực chính của khiêm nhường không còn là một ý tưởng, nhưng là một con người, không còn là một nguyên tắc trừu tượng, nhưng là một sự kiện: “Người đã hạ mình”.

Khiêm nhường trước đây là công việc của con người, từ đây trở thành công trình của Thiên Chúa, mà con người phải bắt chước. Thiên Chúa đã hành động với chúng ta như một người cha muốn dạy con mình làm một việc gì đó, chẳng hạn như thiết kế một ngôi nhà. Đầu tiên, ông đưa ra những chỉ dẫn, một tờ giấy, những hộp màu… Đứa con thử nhiều lần nhưng không thành công. Khi đó, người cha lấy tờ giấy và tự mình vẽ trước mặt con, rồi bảo con vẽ lại. Đây là cách Thiên Chúa làm với chúng ta: trước hết, trong Lề Luật, Người chỉ cho chúng ta biết khiêm nhường như một việc phải làm, rồi sau đó, trong Phúc Âm, Người ban cho chúng ta sự khiêm nhường như một việc phải bắt chước. Thiên Chúa không còn nói với con người, như Ngưởi đã nói trong chế độ Lề Luật: “Hãy đi giữ lấy chỗ chót”, nhưng Người nói với con người: “Hãy đến giữ lấy chỗ chót”. Ngài không chỉ đẩy họ đến chỗ khiêm nhường, mà còn lôi kéo họ đến tới đó. Người nói qua miệng Đức Kitô: “Anh em hãy học với Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29).

Nhưng Đức Giêsu khiêm nhường ở điểm nào? Rảo qua các sách Phúc Âm, chúng ta không bao giờ thấy một lời thú tội nào về phía ngài, khi ngài trò chuyện với con người, cũng như khi ngài trò chuyện với Chúa Cha. Nhân tiện, đây là một trong những bằng chứng ẩn kín nhất, nhưng cũng thuyết phục nhất, về thần tính của Đức Kitô và về sự độc nhất tuyệt đối của lương tâm Ngài. Ý thức về sự vô tội như vậy không có ở bất cứ vị thánh nào, bất cứ “vĩ nhân” nào trong lịch sử, hay ở bất cứ người sáng lập tôn giáo nào. Tất cả họ ít nhiều đều thừa nhận mình có lỗi lầm nào đó và có điều gì đó cần được tha thứ, ít nhất được Thiên Chúa tha thứ. Gandhi chẳng hạn, nhận thức sâu sắc mình đã có những quan điểm sai lầm trong một số trường hợp; ông cũng đã hối hận. Đức Giêsu thì không bao giờ. Chỉ một mình Ngài có thể nói với kẻ thù: “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8,46). Đức Giêsu xưng mình là “Thầy và là Chúa” (x. Ga 13,13), cao trọng hơn Abraham, hơn Môsê, hơn Giôna, hơn Salomon. Vậy đâu là sự khiêm nhường của Đức Giêsu để Ngài có thể nói: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng khiêm nhường”? Ở đây, chúng ta khám phá ra một điều quan trọng. Khiêm nhường chủ yếu không ở chỗ là người hèn mọn, vì có thể hèn mọn mà không khiêm nhường; cũng không chủ yếu ở chỗ cảm thấy mình nhỏ bé, vì có thể cảm thấy mình nhỏ mọn và thực sự là thế, và như vậy mới chỉ một điều khách quan, chưa phải là sự khiêm nhường, chưa kể việc cảm thấy mình nhỏ mọn và tầm thường có thể nảy sinh từ một mặc cảm tự ti, đưa đến chỗ thu mình lại và thất vọng, thay vì khiêm nhường. Tự nó, sự khiêm nhường, ở mức độ hoàn hảo nhất, không hệ tại ở chỗ là hèn mọn, cũng không ở chỗ cảm thấy mình hèn mọn, nhưng ở chỗ làm cho mình thành hèn mọn. Sự khiêm nhường lớn nhất không phải là sự khiêm nhường khách quan, thậm chí cũng không là sự khiêm nhường chủ quan, nhưng là sự khiêm nhường hoạt động.

Vậy sự khiêm nhường hoàn hảo ở chỗ làm cho mình thành hèn mọn, và làm cho mình thành hèn mọn không phải vì một nhu cầu hoặc lợi ích cá nhân nào, nhưng vì tình yêu, để “nâng cao” người khác. Sự khiêm nhường của Đức Giêsu là thế; Ngài trở thành hèn mọn cho đến chỗ hủy mình ra không vì chúng ta.

Sự khiêm nhường của Đức Giêsu là sự khiêm nhường từ Thiên Chúa mà đến, có mẫu mực tối cao nơi Thiên Chúa, chứ không phải nơi con người. Quả thực, Thiên Chúa không hèn mọn, không cảm thấy mình hèn mọn, nhưng làm cho mình thành hèn mọn, và Người làm như thế vì yêu. Về chủ đề này, các Giáo Phụ đã sử dụng thuật ngữ “hạ cố” (synkatabasis) chỉ ra hai điều: sự kiện Thiên Chúa hạ mình, đi xuống, đồng thời chỉ ra động lực thúc đẩy Người làm như vậy: tình yêu của Người dành cho con người. Ở địa vị của Người, Người không thể “lên cao hơn”; không có gì hiện hữu bên trên Người. Nếu Thiên Chúa ra khỏi mình và hành động bên ngoài Thiên Chúa Ba Ngôi, thì đó chỉ có thể là hạ mình trở thành thấp hèn, nói cách khác, đó chỉ có thể là khiêm nhường từ phía Người. Dưới ánh sáng này, tất cả lịch sử cứu độ hiện ra trước mắt chúng ta như lịch sử những sự sỉ nhục nối tiếp nhau của Thiên Chúa: khi Thiên Chúa tạo dựng thế giới, Người “đi xuống”, khi Người thích nghi với sự lắp bắp của ngôn ngữ nghèo nàn của con người và linh hứng Kinh Thánh, Người “đi xuống”; khi Thiên Chúa nhập thể, đó là sự sỉ nhục tột đỉnh của Thiên Chúa, là sự hoàn thành của tất cả những sỉ nhục khác. Thánh Phanxicô Assisi ngạc nhiên kêu lên: “Anh em hãy xem Thiên Chúa khiêm nhường biết bao!” “Mỗi ngày Người tự hạ nhục, giống như lúc Người rời khỏi hoàng cung, nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ”. Trong Ca Tụng Thiên Chúa Tối Cao do chính tay ngài viết và được lưu giữ ở Assisi, cũng chính vị thánh, khi liệt kê những sự hoàn hảo của Thiên Chúa (“Chúa là thánh, Chúa mạnh mẽ. Chúa là Một và la Ba, Chúa là Tình Yêu, Chúa là sự Khôn Ngoan…”), có lúc nói thêm: “Chúa là sự khiêm nhường”[116]. Như thế, ngài đã đưa ra một trong những định nghĩa đơn giản và đẹp đẽ nhất về Thiên Chúa: Thiên Chúa thực sự là sự khiêm nhường. Chỉ một mình Thiên Chúa thực sự khiêm nhường. Chúng ta phải khiêm nhường vì lý do này, sâu xa nhất: “giống” Cha chúng ta, chứ không giống “cha của sự dối trá”, vì người cha này luôn có xu hướng “nâng mình lên”, đặt ngai vàng của mình trên trời.

Thánh Phanxicô đã biến “Chị Nước” của chúng ta thành biểu tượng của sự khiêm nhường khi nói rằng chị “rất hữu ích và rất khiêm nhường, quý giá và trong sạch”. Quả thực, nước không bao giờ lên, nhưng luôn chảy xuống chỗ thấp nhất. (Đúng ra chính hơi nước mới lên và do đó nó là biểu tượng của kiêu ngạo!).

Giờ đây chúng ta biết lời của Đức Giêsu có nghĩa gì: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng khiêm nhường”. Đó là một lời mời gọi trở nên hèn mọn vì yêu thương, rửa chân cho anh em mình, giống như Ngài. Tuy nhiên, nơi Đức Giêsu, chúng ta cũng thấy sự lựa chọn này nghiêm túc và triệt để biết bao. Thật vậy, đối với Ngài, vần đề không phải là đi xuống và trở nên hèn mọn lần này hay lần khác, giống như một ông vua, đôi khi do lòng quảng đại vi hành giữa thần dân của mình, thậm chí làm cho họ điều gì đó. Đức Giêsu đã trở nên “hèn mọn”, như Ngài “đã trở nên xác phàm”, nghĩa là một cách bền vững, cho đến cùng. Ngài đã chọn thuộc về hạng người hèn mọn và khiêm nhường. “Có lòng hiền hậu và khiêm nhường”, điều này cũng có nghĩa là Ngài thuộc thành phần dân khiêm nhường và nghèo khó của Thiên Chúa. Từ sự khiêm nhường mà tôi đã gọi là hoạt động hay tích cực này, nảy sinh một sự khách quan mới, nghĩa là một điều kiện khiêm nhường mới, không còn đơn giản là do di truyền, áp đặt hay chịu đựng, nhưng được tự do lựa chọn và hệ tại ở chỗ làm cho mình thành hèn mọn với những người hèn mọn, ở chỗ liệt mình vào hàng những người hèn mọn.

Có một từ tóm tắt khuôn mặt mới của khiêm nhường: đó là từ phục vụ. Như đọc thấy trong Phúc Âm, một hôm các môn đệ bàn cãi nhau xem ai là người lớn nhất; bấy giờ Đức Giêsu ngồi xuống – như để thêm phần long trọng cho bài học Ngài sắp giảng – Ngài gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35). Muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, nghĩa là đi xuống, hạ mình; nhưng lập tức Ngài giải thích ý nghĩa của việc làm người rốt hết: đó là người phục vụ mọi người. Vậy sự khiêm nhường được Đức Giêsu công bố chính là phục vụ. Trong Phúc Âm Mátthêu, bài học này được củng cố bằng một mẫu gương: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mt 20,28). Biết bao điều mới mẻ chứa đựng trong những lời giản dị này về sự khiêm nhường, trong đó, ngoài những điều khác, có sự dung hòa hoàn hảo giữa hai nhân đức khiêm nhường và cao thượng. Theo Phúc Âm, chính sự khiêm nhường là thước đo sự cao cả: “Ai muốn làm người đứng đầu..”, “Ai muốn làm lớn giữa anh em…” (Mt 20,26): vậy, được phép muốn làm đầu, muốn làm những việc lớn. Chỉ có điều, chính Phúc Âm đã làm thay đổi cách thức đạt tới những điều đó: không được thực hiện những điều đó mà làm thiệt hại cho người khác, bằng cách thống trị theo kiểu thủ lãnh các quốc gia, nhưng trái lại, làm lợi cho người khác. Phúc Âm đã đảo ngược thang giá trị, so với thang giá trị cũ, do tội lỗi lập ra và củng cố, đảo ngược giữa cao cả và khiêm nhường, giữa khôn ngoan và điên rồ: phải điên rồ mới trở nên khôn ngoan thực sự (x. 1Cr 3,18); phải biến thành nhỏ để thành lớn thực sự. Bản thân các thánh đã nhận ra sự cao cả mới mẻ và vượt trội này, được đo lường không chỉ bằng những điều đã thực hiện, mà còn và trên hết bằng ý định thực hiện những việc đó, nghĩa là bằng tình yêu. Các ngài cao cả theo cách của Thiên Chúa, chứ không phải theo cách của con người.

Thánh vịnh 131 cho thấy tất cả những gì thánh Tông Đồ nói cho chúng ta về sự khiêm nhường-từ tốn, được viết theo kiểu thơ. Tôi dùng nó làm lời cầu nguyện kết thúc bài suy niệm này:

Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi

Đường cao vọng chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức chẳng cầu

Hồn con con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng giữ sao an bình

Như thẻ thơ nép mình lòng mẹ

Trong con hồn lặng lẽ an vui

Cậy vào Chúa Israel ơi

Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm.

 

12
NHỜ MỘT NGƯỜI DUY NHẤT ĐÃ VÂNG LỜI…
Vâng phục Thiên Chúa trong đời sống người Kitô hữu

Bằng cách vẽ ra những nét hay những nhân đức phải tỏa sáng trong đời sống của những người đã được Thần Khí đổi mới – “cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2) – sau khi đã nói đến bác ái và sự khiêm nhường, thánh Phaolô trong chương 13 của thư Rôma cũng nói đến sự vâng phục. Ngài nói: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu la do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra” (Rm 13,1tt). Phần tiếp theo của bản văn nói về gươm giáo và thuế má, cũng như so sánh với các bản văn khác của Tân Ước về cùng một chủ đề (x. Tt 3,1; 1Pr 2,13-15), cho thấy rõ ở đây thánh Tông Đồ không nói về quyền bính nói chung, hoặc về mọi quyền bính, nhưng chỉ nói về quyền bính dân sự và Nhà Nước, như tất cả các bản dịch và các bình luận chú giải đều nhấn mạnh. Thánh Phaolô đề cập một khía cạnh cụ thể của sự vâng phục vốn là vấn đề thời sự nóng bỏng lúc ngài viết và có lẽ trong chính cộng đồng mà ngài ngỏ lời. Đó là lúc mà cuộc nổi dậy cuồng nhiệt chống lại Rôma đang chín muồi trong Do Thái giáo ở Palestine, sẽ lên đến đỉnh điểm vài năm sau cuộc tàn phá Giêrusalem. Kitô giáo phát xuất từ Do Thái giáo, nhiều thành viên của cộng đồng Kitô giáo, ngay cả ở Rôma, là người Do Thái đã cải đạo. Có phải vâng phục Nhà Nước Rôma hay không, đó là vấn đề gián tiếp được đặt ra ngay cả với người Kitô hữu. Giống như tất cả Tân Ước, thánh Phaolô giải quyết vấn đề dựa vào thái độ và lời nói của Đức Giêsu, đặc biệt trong việc nộp thuế cho Caesar (x. Mc 12,17). Nước Trời do Đức Kitô rao giảng “không thuộc về thế gian này”, nghĩa là không có tính chất quốc gia và chính trị. Ngoài ra, có thể sống dưới bất cứ chế độ chính trị nào, bằng cách chấp nhận những thuận lợi (chẳng hạn như việc sử dụng tiền Rôma) và cả luật pháp của nó. Tóm lại, vấn đề được giải quyết theo chiều hướng vâng phục Nhà Nước. Vâng phục Nhà Nước chỉ là hệ quả và là một khía cạnh của một sự vâng phục quan trọng hơn nhiều, mà thánh Tông Đồ gọi là “sự vâng phục Phúc Âm” (x, Rm 10,16).

Đã hẳn chúng ta không thể giới hạn suy tư về việc vâng phục chỉ ở khía cạnh vâng phục Nhà Nước, một vấn đề khá mơ hồ lúc ấy, nhưng ít mơ hồ hơn nhiều đối với chúng ta ngày nay, ít nhất trên bình diện lý thuyết. Thánh Phaolô chỉ ra cho chúng ta chỗ đứng của suy tư Kitô giáo về sự vâng phục; nhưng ngài không cho chúng ta biết, ít nhất trong bản văn này, tất cả những gì có thể nói về nhân đức này. Ngài rút ra ở đây những hệ quả của các nguyên tắc đã được đặt ra trước đó, trong thư Rôma và cả ở những chỗ khác. Chính chúng ta phải tìm những nguyên tắc này để trình bày sự vâng phục sao cho hữu ích và phù hợp với chúng ta hôm nay. Chúng ta phải đi đến chỗ khám phá ra sự vâng phục “chủ yếu”, từ đó phát sinh mọi sự vâng phục đặc biệt, kể cả vâng phục quyền bính dân sự. Trên thực tế, có một sự vâng phục liên quan đến tất cả chúng ta – bề  trên và người thuộc quyền, tu sĩ và giáo dân –, quan trọng nhất trong mọi thứ vâng phục, chi phối và làm sinh động mọi thứ vâng phục khác; không phải là sự vâng phục “của con người đối với con người,” nhưng là sự vâng phục của con người đối với Thiên Chúa. Đó là sự vâng phục mà chúng ta muốn khám phá tại trường học Lời Chúa. Một tác giả viết: “Nếu ngày này có vấn đề vâng phục, thì đó không phải là vấn đề trực tiếp tuân theo Chúa Thánh Thần – ngược lại, mọi người đều sẵn sàng nại tới Người – nhưng là vấn đề phục tùng một phẩm trật, một luật pháp, một quyền bính, được bày tỏ theo cách con người”. Tôi cũng đồng ý như vậy. Nhưng để có thể vâng phục cách cụ thể luật pháp và quyền bính hữu hình, chúng ta phải trở lại với việc vâng phục Thiên Chúa và Thần Khí của Người. Ngoài ra, chúng ta phó thác cho Chúa Thánh Thần, để Người nắm tay dẫn chúng ta trên con đường mà chúng ta sắp đi, khám phá lại bí mật vĩ đại của sự vâng phục.

1. Sự vâng phục của Đức Kitô

Khám phá bản chất và nguồn gốc của sự vâng phục Kitô giáo tương đối đơn giản: chỉ cần xem từ quan niệm nào về sự vâng phục mà Đức Giêsu được Kinh Thánh gọi là “Đấng vâng phục”. Ngay tức khắc, chúng ta khám phá ra nền tảng thực sự của sự vâng phục: đó không phải là một ý tưởng về sự vâng phục, nhưng là một hành vi vâng phục; không phải là một nguyên tắc trừu tượng (“người dưới phải phục tùng người trên”) nhưng là một sự kiện; không dựa trên một “trật tự tự nhiên đã được thiết lập”, nhưng chính nó đã thiết lập và tạo ra một trật tự mới; không ở trong lý trí (recta ratio), nhưng trong khởi giảng; nền tảng này là như sau: Đức Kitô đã vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8); Đức Kitô “đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,8-9). Trong thư Rôma, tâm điểm soi sáng mọi suy tư về sự vâng phục là câu này: “Nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Sự vâng phục của Đức Kitô là nguồn mạch trực tiếp và lịch sử của sự công chính hóa; hai việc có liên quan mật thiết với nhau. Người nào biết vai trò của sự công chính hóa trong thư Rôma, thì cũng có thể hiểu vai trò của sự vâng phục trong đó! Đối với Tân Ước, sự vâng phục của Đức Kitô không chỉ là gương mẫu vâng phục cao cả nhất, mà còn là nền tảng của sự vâng phục. Chính nhờ sự vâng phục của Ngài mà Nước Thiên Chúa được thiết lập!

Chúng ta hãy cố tìm hiểu bản chất của hành vi vâng phục là nền tảng của trật tự mới; nói cách khác, hãy cố tìm hiểu sự vâng phục của Đức Kitô hệ tại ở chỗ nào. Khi còn nhỏ, Đức Giêsu vâng phục cha mẹ, rồi khi trưởng thành thì vâng phục luật Môsê, Hội đồng Do Thái, Philatô… Nhưng thánh Phaolô không hề nghĩ tới những vâng phục đó, nhưng đúng hơn ngài nghĩ đến sự vâng phục của Đức Kitô đối với Chúa Cha. Thật vậy, sự vâng phục của Đức Kitô được coi như đối lại chính xác với sự bất tuân của Ađam: “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19; x. 1Cr 14,22). Ngay trong bài thánh ca của thư Philiphê, sự vâng phục của Đức Kitô “cho đến chết và chết trên thập giá” đã mặc nhiên đối lập với sự bất tuân của Ađam muốn cho mình “ngang hàng với Thiên Chúa” (x. Pl 2,6tt). Nhưng Ađam đã không vâng phục ai? Chắc chắn không phải cha mẹ mình, không phải chính quyền, cũng không phải lề luật… Ông đã không vâng phục Thiên Chúa. Nguồn gốc của mọi sự bất tuân là không vâng phục Thiên Chúa và nguồn gốc của mọi sự vâng phục là vâng phục Thiên Chúa.

Thánh Irênê giải thích sự vâng phục của Đức Giêsu dựa vào các bài ca về Người Tôi Trung, như một sự tùng phục nội tâm và tuyệt đối đối với Thiên Chúa, được thực hiện trong một tình huống hết sức khó khăn. Ngài viết: “Tội này (tức tội Ađam) phát xuất từ một cây, thì đã được hủy bỏ do sự vâng phục trên một cây gỗ, vì khi vâng phục Thiên Chúa, Con Người đã bị đóng đinh trên cây gỗ, và như thế, hủy diệt sự dữ và đưa sự lành vào thế gian. Sự dữ là không vâng phục Thiên Chúa. Vì thế, qua miệng tiên tri Isaia, Ngôi Lời đã nói: “Tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giựt râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50,56). Thế nên, do sự vâng phục đến chết mà Ngài đã chấp nhận, khi bị treo trên cây gỗ, Ngài đã tháo gỡ sự bất tuân xưa xẩy ra từ một cây”[117].

Sự vâng phục bao trùm cả cuộc đời Đức Giêsu. Nếu thánh Phaolô và thư gửi tín hữu Do Thái nêu bật vai trò của sự vâng phục trong cái chết của Đức Giêsu (x. Pl 2,8; Dt 5,8), thì thánh Gioan và Phúc Âm Nhất lãm bổ túc bằng cách nhấn mạnh vai trò của sự vâng phục trong cuộc đời của Đức Giêsu, trong đời sống thường ngày của Ngài. Trong Phúc Âm Gioan, Đức Giêsu nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Cha Thầy”, “Tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 4,34; 8,29).

Sự vâng phục của Đức Giêsu đối với Chúa Cha được thực hiện đặc biệt qua việc vâng phục những lời đã viết. Trong câu truyện Ngài bị cám dỗ trong hoang địa, sự vâng phục của Đức Giêsu hệ tại ở việc nhắc lại lời Thiên Chúa và ở ý muốn gắn bó với lời đó: “Có lời chép”. Lời Thiên Chúa, dưới tác động hiện tại của Thần Khí, chuyển tải ý muốn sống động của Thiên Chúa và mạc khải tính cách “bắt buộc” như những mệnh lệnh thực sự của Thiên Chúa. Sự vâng phục của  Ađam Mới trong hoang địa phát xuất từ đó. Sau câu “Có lời chép” cuối cùng về Đức Giêsu, Luca tiếp tục câu chuyện bằng cách nói rằng “quỷ bỏ đi” (Lc 4,12) và Đức  Giêsu trở về Galilê “với quyền năng Chúa Thánh Thần” (Lc 4,14). Chúa Thánh Thần được ban cho những ai “vâng phục Thiên Chúa” (x. Cv 5,32). Thánh Giacôbê nói: “Anh em hãy phục tùng Thiên Chúa; hãy chống lại ma quỷ, chúng sẽ chạy xa anh em” (Gc 4,7); đây là điều đã xảy ra trong những lần Đức Giêsu bị cám dỗ. Sự vâng phục của Đức Giêsu được thực thi cách đặc biệt, liên quan đến những lời đã viết về Ngài và cho Ngài “trong lề luật, các tiên tri và các Thánh vịnh”, là những lời mà, với tư cách một con người, Ngài càng hiểu biết và thi hành sứ mệnh thì càng khám phá ra. Sự phù hợp hoàn hảo giữa các lời tiên tri trong Cựu Ước và các hành vi của Đức Giêsu, mà người ta nhận thấy khi đọc Tân Ước, không thể giải thích bằng cách nói rằng các lời tiên tri tùy thuộc vào các hành vi (có nghĩa là chúng được áp dụng cho Đức Giêsu, theo sau những việc Ngài làm), nhưng bằng cách khẳng định rằng chính những hành vi tùy thuộc vào các lời tiên tri. Đức Giêsu đã “hiện thực hóa”, trong sự vâng phục hoàn toàn đối với Chúa Cha, những gì đã được viết về Ngài. Khi có người muốn phản đối việc bắt Ngài, Ngài nói: “Như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được? Vì theo đó mọi sự phải xẩy ra như vậy” (Mt 26,54). Cuộc đời của Đức Giêsu như thể được dẫn dắt bởi một lằn rẽ sáng mà những người khác không thấy, và được tạo thành từ những lời viết cho Ngài; chính từ Kinh Thánh mà Đức Giêsu đã rút ra điều “phải làm” (dei) này, là điều chi phối cả cuộc đời của Ngài.

Sự vâng phục cao cả của Đức Giêsu được đo lường cách khách quan “bằng những gì Ngài phải chịu” và cách chủ quan bằng tình yêu và sự tự do mà Ngài đã vâng phục. Nơi Ngài, sự vâng phục của một người Con đối với Cha mình đạt tới tột đỉnh và vô biên. Ngay trong lúc khó khăn nhất, như lúc Chúa Cha muốn Ngài uống cạn chén đắng của cuộc Khổ Nạn, Ngài vẫn thốt lên những lời của một người con yêu mến và phó thác. Trên thập giá, Ngài đã kêu lên: “Abba, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” (Mt 27,46); nhưng rồi theo thánh Luca ca, Ngài đã tiếp ngay: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Trên thập giá, Đức Giêsu “đã phó thác mình cho Thiên Chúa là Đấng đã bỏ rơi Ngài!”. Đó là sự vâng phục cho đến chết; đó là “đá tảng ơn cứu độ của chúng ta”.

2. Vâng phục như một ân sủng nhờ phép rửa

Trong chương 5 của thư gửi Rôma, thánh Phaolô trình bày cho chúng ta Đức Kitô như là nguyên mẫu của kẻ vâng phục, đối lập với Ađam là nguyên mẫu của kẻ bất tuân. Trong chương tiếp theo, chương 6, thánh Tông Đồ cho thấy chúng ta đi vào phạm vi của biến cố này, tức qua phép rửa, như thế nào.

Trước hết, thánh Phaolô thiết lập nguyên tắc này: nếu bạn tự do phục quyền ai, thì bạn phục vụ và vâng lời người đó: “Anh em không biết sao? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, thì em là nô lệ của người mà anh em vâng phục: hoặc làm nô lệ tội lỗi, thì sẽ phải chết; hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa, thì sẽ được công chính” (Rm 6,16).

Sau khi đã thiết lập nguyên tắc, thánh Phaolô nhắc lại sự kiện: các Kitô hữu đã tự do phục quyền Đức Kitô, trong ngày họ nhờ phép rửa mà nhận Ngài là Chúa của mình: “Trước kia anh em làm nô lệ tội lỗi, nhưng nay anh em đã hết lòng vâng phục theo quy luật đạo lý đã đào tạo anh em. Anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi, mà trở thành nô lệ sự công chính” (Rm 6,17). Khi chịu phép rửa, chúng ta thay đổi chủ, thay đổi chiến tuyến: từ tội lỗi sang công chính, từ bất tuân sang vâng phục, từ Ađam sang Đức Kitô. Phụng vụ diễn tả tất cả những điều này bằng kiểu đối lập nhau: “Tôi từ bỏ – tôi tin”. Ngày xưa, trong một số sách nghi thức rửa tội, có những cử chỉ đầy kịch tính, nếu có thể nói như vậy, cho thấy tận mắt sự thay đổi nội tâm này. Người được rửa tội trước tiên quay về hướng Tây, được coi như biểu tượng của bóng tối, và làm cử chỉ từ bỏ và lìa xa Satan cùng với các việc của nó; tiếp đến quay về hướng Đông, biểu tượng của ánh sáng, cúi mình sâu chào đón Đức Kitô là Chúa mới của mình. Giống như trong chiến tranh giữa hai vương quốc, một người lính rời bỏ đạo quân của bạo chúa để gia nhập đạo quân của người giải phóng.

Do đó, sự vâng phục là một yếu tố cấu tạo đời sống người Kitô hữu; nó là hệ quả thực tế và cần thiết của việc nhận Đức Kitô là Chúa của mình. Không có quyền làm chúa trong hành động, nếu không có sự vâng phục từ phía con người. Khi chịu phép rửa tội, chúng ta đã nhận một Chúa, một Kyrios, nhưng là một Chúa “vâng phục”, chính Ngài đã trở thành Chúa vì sự vâng phục của Ngài (x. Pl 2,8-11), và do đó, có thể nói, sự vâng phục là chính bản chất của quyền làm chúa. Sự vâng phục ở đây không phải lụy phục cho bằng trở nên giống; vâng phục một Chúa như vậy là giống với Ngài, vì Ngài cũng đã vâng phục.

Về phương diện này, thư thứ nhất thánh Phêrô xác nhận đặc biệt tư tưởng của thánh Phaolô. Chúng ta đọc ở đầu thư là các tín hữu “được Thiên Chúa Cha biết trước và kén chọn, trong sự thánh hóa của Thần Khí, để vâng phục… Đức Giêsu Kitô” (1Pr 1,2). Các Kitô hữu đã được kén chọn và thánh hóa “để vâng phục”; ơn gọi Kitô hữu là ơn gọi vâng phục! Xa hơn một chút, trong cùng lá thư, các tín hữu được định nghĩa bằng một công thức rất gợi ý, “những người con biết vâng phục”: “Như những người con biết vâng phục, anh em đừng chiều theo những đam mê trước kia, lúc anh em còn mê muội” (1Pr 1,14).

Qua đó, chúng ta khám phá ra rằng sự vâng phục là một ân huệ trước khi là một nhân đức, là một ân sủng, trước khi là một luật. Sự khác nhau giữa hai điều này là: luật thì truyền làm, trong khi ân sủng thì cho người ta làm. Sự vâng phục trước hết là việc của Thiên Chúa trong Đức Kitô, sau đó được ban cho người tín hữu để đến lượt họ, họ biết trung thành bắt chước Chúa trong cuộc sống của mình. Nói cách khác, chúng ta không chỉ có bổn phận phải vâng phục, mà từ đây còn có ơn vâng phục.

Vậy sự vâng phục của người Kitô hữu cắm rễ trong phép rửa tội; qua bí tích này, mọi Kitô hữu đều được “dành cho” sự vâng phục; theo một nghĩa nào đó, họ cũng làm cho sự vâng phục thành lời “khấn”. Việc tái khám dữ kiện này là chung cho mọi người, đặt nền tảng trên phép rửa tội, đáp ứng một nhu cầu sống còn của người giáo dân trong Giáo Hội. Công đồng Vaticanô II đã đưa ra lời mời gọi mọi người nên thánh[118]. Nhưng do không có sự thánh thiện mà không có sự vâng phục, nên khẳng định mọi người đã được rửa tội đều được mời gọi nên thánh cũng là nói rằng mọi người đều được mời gọi vâng phục. Dĩ nhiên, đối với giáo dân, sự thánh thiện và vâng phục phải ngang tầm với họ, phù hợp với điều kiện sống của họ, không có những tính chất quá riêng biệt, không gắn liền với những bậc sống và những truyền thống quá xa cách đời sống của họ. Cho nên sự thánh thiện này, trong yếu tố khách quan của nó, chỉ có thể là sự thánh thiện chủ yếu do lời Chúa vạch ra và đặt nền tảng trên phép rửa.

3. Vâng phục như một bổn phận: noi gương Đức Kitô

Trong phần đầu của thư Rôma, thánh Phaolô giới thiệu cho chúng ta Đức Giêsu Kitô như một “ân huệ” để đón nhận bằng đức tin, trong khi ở phần thứ hai – phần khuyến thiện – ngài giới thiệu Đức Giêsu Kitô như một “gương mẫu” để chúng ta bắt chước bằng cuộc sống. Hai khía cạnh này của ơn cứu độ cũng có mặt trong mỗi nhân đức hoặc hoa quả của Thần Khí. Trong mọi nhân đức Kitô giáo đều có một yếu tố thần bí và một yếu tố khổ hạnh, một yếu tố thuộc về ân sủng và một yếu tố thuộc về sự tự do. Có một sự vâng phục được “in dấu” nơi ta và một sự vâng phục được “bày tỏ” bởi ta. Giờ đây là lúc xem xét khía cạnh thứ hai này, đó là chúng ta noi gương cách hữu hiệu sự vâng phục của Đức Kitô. Vâng phục như một bổn phận.

Ngay khi cố tìm trong Tân Ước xem bổn phận vâng phục hệ tại ở chỗ nào, người ta khám phá ra một điều đáng ngạc nhiên: sự vâng phục hầu như luôn được coi là vâng phục Thiên Chúa. Dĩ nhiên, Tân Ước cũng nói đến tất cả những hình thức vâng phục khác: vâng phục cha mẹ, thầy dạy, bề trên, chính quyền dân sự, “mọi định chế của con người” (1Pr 2,13), nhưng ít thường xuyên hơn và ít long trọng hơn nhiều. Danh từ hy lạp để chỉ “vâng phục” (hypakoè) – là thuật ngữ mạnh nhất – luôn luôn và chỉ được sử dụng để biểu thị sự vâng phục Thiên Chúa hoặc dầu sao cũng là những trường hợp có bản tính thần linh, trừ một chỗ duy nhất trong thư Philêmôn chỉ sự vâng phục vị Tông Đồ. Thánh Phaolô dùng thuật ngữ đó để chỉ sự vâng phục đức tin (Rm 1,5; 16,26), vâng phục giáo huấn (Rm 6,17) vâng phục Phúc Âm (Rm 10,16; 2 Tx 1,8), vâng phục chân lý (Gl 5,7) vâng phục Đức Kitô (2Cr 10,5). Thuật ngữ này cũng thấy ở những chỗ khác: sách Công vụ nói về sự vâng phục Thiên Chúa (Cv 4,19) và vâng phục đức tin (Cv 6,7), thư thứ nhất của thánh Phêrô nói về sự vâng phục Đức Kitô (1Pr 1,2) và vâng phục chân lý (1Pr 1,22).

Nhưng liệu ngày nay, khi ý muốn mới mẻ và sống động của Thiên Chúa, được bày tỏ trong Đức Kitô, đã được quy tắc hóa trong một loạt những luật lệ và phẩm trật, người ta còn có thể nói về sự vâng phục Thiên Chúa nữa không? Có được phép nghĩ rằng, sau tất cả những điều đó, vẫn còn tồn tại những ý muốn tự do của Thiên Chúa mà chúng ta phải đón nhận và thi hành không? Có thể trả lời: Nếu tất cả ý muốn sống động của Thiên Chúa đã được quy tắc hóa và khách thể hóa cách triệt để và dứt khoát trong một loạt các luật lệ, quy tắc và định chế, theo một “trật tự” được thiết lập và xác định một lần dứt khoát, thì Giáo Hội cuối cùng sẽ hóa đá. Việc tái khám phá tầm quan trọng của việc vâng phục Thiên Chúa là hệ quả tự nhiên của việc tái khám phá, bắt đầu từ Công đồng Vatican II, chiều kích Thần Khí của Giáo hội – bên cạnh chiều kích phẩm trật – và tính ưu việt của Lời Chúa trong Giáo Hội. Nói cách khác, sự vâng phục Thiên Chúa chỉ có thể hình dung được khi người ta quả quyết rõ ràng – như chính Lumen Gentium đã làm – là Chúa Thánh Thần “dẫn đưa Giáo Hội tới chân lý toàn vẹn, kết hợp với Giáo Hội trong sự hiệp thông và phục vụ, trang bị cho Giáo Hội bằng những ân huệ khác nhau, phẩm trật và đặc sủng, nhờ đó Người hướng dẫn Giáo Hội, tô điểm cho Giáo Hội bằng những hoa quả của Người. Nhờ sức mạnh của Phúc Âm, Người làm cho Giáo Hội tươi trẻ, không ngừng canh tân và dẫn đưa Giáo Hội đến kết hợp hoàn toàn với Phu Quân của mình[119]. Nếu chúng ta tin vào “quyền làm chúa” hiện nay và đúng lúc của Đấng Phục Sinh trong Giáo Hội, nếu chúng ta xác tín sâu xa rằng ngay cả ngày nay “Chúa vẫn đang nói, Người sẽ không nín lặng” (Tv 50), thì chỉ khi đó, chúng ta mới có thể hiểu rằng vâng phục Thiên Chúa là cần thiết và quan trọng. Nó là sự chú ý đến Thiên Chúa, Đấng đang nói trong Giáo Hội qua Thần Khí của Người, Đấng làm sáng tỏ lời của Đức Giêsu và toàn bộ Kinh Thánh, làm cho những lời này trở thành những lời có uy quyền, vì chuyển đạt cho chúng ta ý muốn sống động của Thiên Chúa.

Sự vâng phục Thiên Chúa và Giáo Hội nhất thiết sẽ giảm sút, ít nhất ở bình diện suy tư thần học, vào thời người ta quan niệm Giáo Hội đặc biệt bằng những hạn từ thể chế, như một “xã hội hoàn hảo”, ngay từ đầu đã được ban mọi phương tiện, quyền hành và cơ cấu có khả năng mang lại ơn cứu độ cho con người, không cần có sự can thiệp mới nào từ Thiên Chúa. Kể từ lúc Giáo Hội lại được quan niệm rõ ràng một trật là “mầu nhiệm và thể chế”, thì sự vâng phục lại tự động trở thành vâng phục Thần Khí, chứ không chỉ vâng phục thể chế nữa; không chỉ vâng phục con người, mà còn và trên hết là vâng phục Thiên Chúa, như đã được thánh Phaolô trình bầy.

Nhưng cũng như trong Giáo Hội, thể chế và mầu nhiệm không đối lập nhau nhưng liên kết với nhau, cũng vậy, giờ đây chúng ta phải chứng tỏ rằng sự vâng phục Thần Khí không làm mất đi sự vâng phục quyền bính hữu hình và thể chế, mà ngược lại, đổi mới, tăng cường và làm cho nó sống động, đến nỗi sự vâng phục con người trở thành tiêu chuẩn để xét xem có vâng phục Thiên Chúa hay không, và nếu có thì có xác thực hay không. Quả thực đây là điều xảy ra khi là vấn đề vâng phục Thiên Chúa trong một trường hợp nhất định. Thiên Chúa cho bạn thoáng thấy ý muốn của Người đối với bạn; chính là một “sự gợi ý” mà thông thường, phát sinh từ một lời Chúa mà bạn nghe hoặc đọc khi cầu nguyện. Bạn không biết nó từ đâu đến, cũng không biết một ý tưởng nào đó đã hình thành như thế nào trong bạn, nhưng nó ở trong bạn như một mầm mống còn mong manh có thể bị bóp nghẹt như không có gì xẩy ra cả. Bạn cảm thấy bị lời này hoặc sự gợi ý này “chất vấn”; bạn cảm thấy nó đang “yêu cầu” bạn một điều gì đó mới và bạn nói “vâng”. Đó là một tiếng “vâng” vẫn còn mơ hồ và mù mờ về điều phải làm và cách làm, nhưng rất rõ ràng và chắc chắn về nội dung chính. Như thể bạn nhận được một lá thư niêm phong mà bạn đón nhận với tất cả nội dung của nó, nói lên hành vi tin của bạn. Sau đó, sự rõ ràng bên trong không còn nữa; những động lực, trước đây quá hiển nhiên, giờ đây mờ nhạt đi. Bạn chỉ còn lại một điều mà bạn không thể nghi ngờ, ngay cả khi bạn muốn: đó là một ngày kia, bạn nhận được một mệnh lệnh từ Thiên Chúa và bạn đã trả lời “xin vâng”. Phải làm gì trong hoàn cảnh này? Thật vô ích khi gia tăng những nỗ lực trí nhớ của bạn và những phân tích.

Lời mời gọi này không phát sinh từ “xác thịt”, tức là từ trí khôn của ngươi, cho nên bạn không thể tìm lại nó bằng trí khôn của mình; nó phát sinh từ “Thần Khí” và chỉ có thể tìm lại được trong Thần Khí. Nhưng bây giờ Thần Khí không còn nói với bạn như lần đầu tiên, trực tiếp và bên trong bạn nữa; Người im lặng và trả bạn về cho Giáo Hội và các cơ quan được thiết lập của Giáo Hội. Bạn phải nhờ đến các bề trên hoặc những người có quyền bính cách nào đó đối với bạn, và tin rằng nếu nó đến từ Thiên Chúa, thì chính Người sẽ giúp những người đại diện của Người công nhận lời mời gọi đó đúng là như thế.

Nhưng phải làm gì khi có xung đột giữa hai điều vâng lời, và cấp trên yêu cầu bạn làm điều gì đó khác và ngược với những gì bạn tin là mệnh lệnh của Thiên Chúa? Chỉ cần hỏi: Đức Giêsu đã làm gì trong trường hợp như vậy? Ngài chấp nhận sự vâng phục bên ngoài và phục tùng con người; nhưng khi làm như vậy, Ngài không hề phủ nhận sự vâng phục của mình đối với Chúa Cha, nhưng Ngài đã làm điều ngược lại. Chính đó là điều Chúa Cha muốn. Không biết và không muốn, đôi khi vì ý ngay, đôi khi không, con người – như đã từng xảy ra với Caipha, Philatô và đám đông – trở thành những dụng cụ, để ý Chúa được thực hiện chứ không phải ý của họ. Tuy nhiên, ngay cả quy tắc này cũng không tuyệt đối: ý muốn của Thiên Chúa và sự tự do của Người có thể đòi người ta phải vâng lời Thiên Chúa, hơn là vâng lời con người, như Phêrô đã trả lời trước Hội đồng Do Thái (x. Cv 4,19-20).

Sự vâng phục Thiên Chúa chính là sự vâng phục luôn có thể thực hiện được. Thỉnh thoảng, ba hoặc bốn lần trong đời, chúng ta phải vâng phục các mệnh lệnh và các quyền bính hữu hình – tất nhiên tôi nói về các hành vi vâng phục có tầm quan trọng nhất định – nhưng vẫn đòi chúng ta phải vâng phục Thiên Chúa bất cứ lúc nào. Chúng ta càng vâng phục, mệnh lệnh của Thiên Chúa càng gia tăng, vì Người biết rằng đó là ân huệ đẹp nhất Người có thể ban cho chúng ta, cũng chính là ân huệ Người đã ban cho Đức Giêsu, Con yêu dấu của Người. Khi Thiên Chúa thấy một người quyết tâm vâng phục, Người sẽ nhận trách nhiệm về cuộc đời của người đó, giống như người cầm lái một con tàu, hoặc như một người cầm dây cương ngựa. Người thực sự trở thành “Chúa”, chứ không chỉ trên lý thuyết – tức là “người điều khiển”, người “cai quản” –, có thể nói là xác định từng lúc những cử chỉ, lời nói của người này, cách người đó sử dụng thời gian, cuối cùng là mọi sự.

Tôi đã nói rằng vâng phục Thiên Chúa là điều mà chúng ta có thể luôn thực hành mọi lúc, và tôi phải nói thêm rằng đó cũng là sự vâng phục mà tất cả chúng ta đều có thể thực hành, cả người thuộc quyền lẫn các bề trên. Người ta thường nói phải biết vâng phục thì mới có thể ra lệnh. Đây không chỉ là một nguyên tắc theo lương tri mà còn có một lý do thần học. Điều đó có nghĩa là nguồn gốc thực sự của quyền bính thiêng liêng hệ tại ở sự vâng phục hơn là ở tước vị mà người ta sở hữu hoặc ở trách vụ mà người ta thi hành. Quan niệm quyền bính như một sự vâng phục có nghĩa là không hài lòng với quyền pháp lý đơn thuần, mà còn tìm kiếm quyền bính thiêng liêng này phát xuất từ việc Thiên Chúa đứng đàng sau bạn và ủng hộ quyết định của bạn. Điếu đó có nghĩa là tiếp cận với mẫu quyền bính phát xuất từ ​​con người và khiến người ta phải thốt lên: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền” (Mc 1,27). Khi một mệnh lệnh được cha hay mẹ hoặc một bề trên đưa ra, là người đang cố gắng sống theo ý muốn của Thiên Chúa, người đã cầu nguyện trước khi đưa ra mệnh lệnh, và không tìm kiếm lợi ích cho riêng mình, mà chỉ tìm kiếm lợi ích của đứa con hoặc người thuộc quyền, khi đó chính quyền bính của Thiên Chúa đến để xác nhận mệnh lệnh hoặc quyết định này. Nếu có tranh chấp, Thiên Chúa sẽ nói với vị đại diện Người điều mà một hôm Người đã nói với Giêrêmia: “Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được, vì có Ta ở với ngươi” (Gr 1,18-19).

Thánh Inhaxiô Antiokia đã đưa ra lời khuyên này cho một giám mục: “Đừng làm gì nếu ngài không đồng ý, nhưng ngài, ngài đừng làm gì nếu Thiên Chúa không đồng ý”[120].

Tự nó, con đường này không có gì khác thường, nó dành cho mọi người đã được rửa tội. Nó hệ tại ở việc “trình các việc lên Thiên Chúa” (x. Xh 18,19). Tôi có thể tự mình quyết định thực hiện một cuộc du lịch hay không, một công việc, một khoản chi phí và sau đó, khi đã quyết định, tôi cầu nguyện Thiên Chúa để có được thành công trong sự việc. Nhưng nếu tôi yêu mến sự vâng phục, tôi sẽ hành động cách khác: trước tiên tôi sẽ xin Thiên Chúa – một phương tiện rất đơn giản có sẵn trong tầm tay – để biết xem Người có muốn tôi làm cuộc hành trình này, công việc này, chuyến thăm này, chi phí này hay không, và sau đó tôi sẽ làm hoặc không làm. Được như vậy, bất cứ điều gì cũng sẽ là một hành vi vâng phục Thiên Chúa và không còn là sáng kiến ​​tự do của tôi nữa. Thông thường, hiển nhiên là trong lời cầu nguyện vắn tắt của tôi, tôi sẽ không nghe thấy tiếng nào trả lời rõ ràng về việc nên làm, tuy vậy không nhất thiết Chúa phải lên tiếng để hành vi của tôi là hành vi vâng phục. Quả thực, khi hành động như thế, tôi sẽ trao sự việc cho Chúa, tôi sẽ từ bỏ ý riêng, tôi sẽ không tự mình quyết định, và tôi sẽ để cho Chúa xen vào cuộc sống của tôi, nếu Người muốn. Hiện tại, nếu tôi có quyết định điều gì theo tiêu chuẩn biện biệt thông thường, thì đó sẽ là vâng phục Thiên Chúa. Cũng như người đầy tớ trung thành không bao giờ nhận một sáng kiến ​​hay mệnh lệnh nào từ người lạ, mà không nói: “Để tôi hỏi ý chủ tôi xem đã”, cũng vậy, người tôi tớ thật của Thiên Chúa không làm gì mà không tự nhủ: “Tôi phải cầu nguyện giây lát để xem ý Chúa muốn tôi làm gì!” Như vậy, chúng ta để Thiên Chúa chỉ đạo cụ thể cuộc đời chúng ta. Ý muốn của Thiên Chúa ngày càng thâm nhập, như những mao mạch, vào đời sống chúng ta, khiến đời sống đó trở nên quý giá và biến nó thành “của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1).

Nếu nguyên tắc “trình các việc lên Thiên Chúa” có giá trị đối với những việc nhỏ hàng ngày, thì nó có giá trị biết bao đối với những việc lớn, chẳng hạn như việc lựa chọn ơn gọi của chúng ta: kết hôn, dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì, v.v. Chính thuật ngữ “ơn gọi” – nhìn từ phía Thiên Chúa, có nghĩa là kêu gọi – từ phía con người, theo nghĩa thụ động, có nghĩa là đáp lại, tức vâng phục. Theo nghĩa này, ơn gọi thậm chí còn là sự vâng phục căn bản của cuộc sống, tạo ra một tình trạng vâng phục vĩnh viễn nơi người tín hữu. Vì vậy, ai kết hôn phải kết hôn “trong Chúa” (1Cr 7,39), nghĩa là trong tinh thần vâng phục. Do đó, hôn nhân trở thành sự vâng phục Thiên Chúa, nhưng theo nghĩa tự do chứ không phải bó buộc, như khi một người kết hôn vì vâng lời cha mẹ hoặc vì một sự cần thiết nào đó. Không phải tự mình chọn trước, rồi đến trình sự việc với Thiên Chúa, cốt để Người chấp thuận và chúc lành cho sự lựa chọn đó, thì khác với sự lựa chọn cùng làm với Người, trong tình con thảo gắn bó với ý muốn của Người, một ý muốn chắc chắn đầy yêu thương. Khác biệt không phải là nhỏ. Cái khác ở trường hợp thứ hai, trong những tình huống khó khăn gắn liền với sự lựa chọn của mình, là biết rằng mình chọn như vậy là do ý Thiên Chúa, mình đã không một mình muốn điều đó, và vì vậy, Người sẽ không để mình thiếu sự giúp đỡ và ân sủng của Người.

Như chúng ta thấy, vâng phục Thiên Chúa không phải là đặc quyền duy nhất của các tu sĩ trong Giáo Hội. Nó mở ra cho mọi người đã được rửa tội. Trong Giáo Hội, giáo dân không có bề trên để vâng phục, như kiểu tu sĩ và giáo sĩ, nhưng họ có một “Chúa” để vâng phục! Họ có lời Chúa! Ngay cả trong nguồn gốc Do Thái xa xưa nhất của nó, từ “vâng phục” có nghĩa là lắng nghe và liên hệ đến lời Chúa. Thuật ngữ Hy Lạp được sử dụng trong Tân Ước cho sự vâng phục (hypakouein), theo nghĩa đen, có nghĩa là “chăm chú nghe” hoặc “lắng nghe”. Thuật ngữ Latinh “oboedientia” (do ob-audire) cũng có nghĩa tương tự. Do đó, theo nghĩa nguyên thủy nhất, vâng phục có nghĩa là phục tùng lời Chúa, nhận ra trong đó một sức mạnh thực sự đối với bản thân. Khi đó, chúng ta hiểu tại sao, sau khi tái khám phá vai trò của lời Chúa trong Giáo Hội hôm nay, thì tiếp theo phải tái khám phá “sự vâng phục”. Người ta không thể đào sâu lời Chúa mà không đào sâu sự vâng phục. Làm khác đi sẽ trở thành ipso facto (đương nhiên) không vâng phục. “Không vâng phục” (parakouein) có nghĩa là nghe như nước đổ đầu vịt, nghe một cách lơ đãng. Chúng ta có thể nói: nghe mà dửng dưng, trung lập, không cảm thấy bị chi phối bởi điều mình nghe, duy trì quyền quyết định của mình trước lời Chúa. Và điều này, không theo nghĩa là họ để sau vấn đề thực hành, cho bằng theo nghĩa là họ thậm chí không đặt ra vấn đề thực hành. Họ học hỏi lời Chúa nhưng không cảm thấy phải phục tùng lời Chúa; họ làm chủ lời Chúa, theo nghĩa là họ có các dụng cụ phân tích lời Chúa, nhưng không muốn để lời Chúa làm chủ mình; họ muốn giữ sự trung lập mà mọi nhà khoa học đều muốn trước đối tượng nghiên cứu của mình. Trái lại, con đường vâng phục mở ra trước mắt người đã quyết định sống “cho Chúa”; đây là một đòi hỏi được phát động với sự hoán cải thực sự. Cũng như đối với một tu sĩ vừa khấn dòng được trao bản Quy luật của dòng để tuân giữ, thì cũng vậy đối với một Kitô hữu mới trở lại với Phúc Âm, trong Chúa Thánh Thần, người ta cũng trao cho quy luật đơn giản chứa đựng trong một câu duy nhất: “Hãy vâng phục! Hãy vâng phục lời Chúa!” Trong trận chiến giữa hai “vương quốc”, vương quốc của Thiên Chúa và vương quốc của Satan, đang diễn ra trên thế giới, ơn cứu độ sẽ ở trong sự vâng phục. Chính dân gồm những người vâng phục sẽ được cứu và khẩu hiệu của họ sẽ là: “Vâng phục Thiên Chúa!”

4. “Lạy Thiên Chúa, này con đây…”

Để khắc phục cuộc khủng hoảng hiện nay về sự vâng phục trong Giáo Hội, chúng ta phải yêu mến sự vâng phục, vì những người yêu mến sự vâng phục sẽ tìm ra cách để thực hành. Tôi đã cố gắng làm nổi bật một số động lực có thể giúp chúng ta trong việc này: gương của Đức Giêsu, phép rửa của chúng ta… Nhưng có một động lực có thể nói với tấm lòng của chúng ta hơn bất cứ động lực nào khác: đó là sự hài lòng của Chúa Cha. Vâng phục là chìa khóa mở trái tim của Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa nói với ông Abraham, khi ông từ trên núi Môria trở về: “Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta” (St 22,18). Giọng điệu những lời này làm người ta liên tưởng đến một người cố nín từ lâu, bây giờ mới có thể bộc bạch hết những gì chất chứa trong lòng. Nơi Đức Giêsu cũng vậy, nhưng ở một mức độ vô cùng cao hơn: vì Đức Kitô đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, nên Chúa Cha tôn vinh Ngài và ban cho Ngài danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu (x. Pl 2, 8-11). Nói về sự hài lòng của Thiên Chúa Cha không phải là một cách nói ẩn dụ và thiếu thực tế; sự hài lòng của Thiên Chúa là chính Chúa Thánh Thần! Trong sách Công vụ, thánh Phêrô nói: Thiên Chúa ban Thánh Thần cho những ai vâng phục Người (x. Cv 5,32).

Nếu muốn làm cho Thiên Chúa hài lòng, chúng ta cũng phải học cách nói: “Này con đây!” Lời này vang vọng trong cả cuốn Kinh Thánh, thuộc vào số những lời đơn giản và ngắn nhất trong ngôn ngữ loài người, nhưng lại vào số những lời được Thiên Chúa yêu thích nhất. Nó diễn tả mầu nhiệm của sự vâng phục Thiên Chúa: Abraham nói: “Hineni!”, có nghĩa là: “Này tôi đây!” (St 22,1); Môsê nói: “Này tôi đây!” (Xh 3,4); Samuel nói: “Này con đây!” (1Sm 3,1tt)’ Isaia nói: “Này tôi đây!” (Is 6,8); Đức Maria nói: “Này con đây” (Lc 1,38); Đức Giêsu nói: “Này con đây” (Dt 10,9). Người ta có cảm tưởng như đang tham dự một lần điểm danh, trong đó tất cả những người được gọi tên lần lượt đáp lại: “Có mặt!” Những người này đã thực sự đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa!

Thánh vịnh 40 mô tả một kinh nghiệm thiêng liêng giúp chúng ta hình thành “quyết tâm” của riêng mình, để kết thúc bài suy niệm này. Một ngày kia, tác giả Thánh vịnh, sau khi tràn ngập niềm vui và lòng biết ơn về những phúc lành Thiên Chúa ban cho mình (“Tôi hy vọng vào Chúa với niềm hy vọng lớn lao, Người cúi xuống trên tôi… Ngài kéo tôi ra khỏi vũng lầy…”), thấy mình ở trong tình trạng ân sủng thực sự, đã tự hỏi mình có thể làm gì để đáp lại quá nhiều ơn lành từ Thiên Chúa: dâng của lễ toàn thiêu ư? Các lễ vật ư? Ngay lập tức ông hiểu rằng đây không phải là điều Thiên Chúa mong đợi nơi ông; điều đó còn quá ít, chưa nói lên hết tấm lòng của ông. Thế rồi ông có trực giác và được mạc khải thế này: điều Thiên Chúa mong đợi nơi ông, chính là một quyết định quảng đại và long trọng để, từ đó trở đi, chu toàn tất cả những gì Người mong muốn nơi ông, vâng lời Người trong mọi việc. Bấy giờ ông ông thốt lên: “Này con xin đến. Trong cuộn sách có chép về con rằng con thích làm theo thánh ý”. Khi xuống thế, Đức Giêsu đã biến những lời này thành của mình khi nói: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để làm theo ý Chúa” (Dt 10,5tt). Bây giờ đến lượt chúng ta. Tất cả đời sống chúng ta, ngày này qua ngày khác, có thể được sống dưới ánh sáng của cũng lời đó: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để làm theo ý Chúa!” Buổi sáng, khi bắt đầu một ngày mới, rồi đi đến một nơi hẹn, một cuộc gặp gỡ, bắt đầu một công việc hoặc văn phòng mới được giao phó cho chúng ta: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để làm theo ý Chúa”. Chúng ta không biết ngày hôm nay, cuộc gặp gỡ này, công việc này có ý nghĩa gì đối với chúng ta, chúng ta chỉ biết chắc một điều: đó là chúng ta muốn thi hành ý muốn của Thiên Chúa. Chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao đối với mỗi người chúng ta, nhưng thật tốt khi tiến về phía Người với những lời này trên môi miệng: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để làm theo ý Chúa!”

 

13
HÃY CẦM LẤY VŨ KHÍ CỦA SỰ SÁNG
Sự trong sạch Kitô giáo

Đọc thư Rôma cho tới lúc này, chúng ta bắt gặp lời tác giả nói: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ra hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày, không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” (Rm 12,13-14).

Trong Confessions, thánh Augustinô mô tả cho chúng ta vai trò của bản văn này trong cuộc hoán cải của ngài. Cho đến lúc này ngài đã gần như hoàn toàn gắn bó với đức tin; những vấn nạn lần lượt tan biến và tiếng nói của Thiên Chúa ngày càng thúc bách hơn. Nhưng có một điều làm ngài lưỡng lự: sợ không thể sống khiết tịnh. Ngài viết: “Điều khiến con lưỡng lự là sự phù phiếm trên hết các phù phiếm, sự hão huyền hơn hết các hão huyền, những bạn thân cũ của con. Họ cầm lấy áo xác thịt của con mà lôi con xuống dưới, nói thầm bên tai con: “Có đúng là bạn đang đuổi chúng tôi đi không?” Kể từ giây phút này, chúng tôi sẽ mãi mãi không còn ở bên bạn nữa, phải không? Ôi, lạy Chúa, có phải họ sẽ gợi ý cho con điều gì, thông qua điều mà con vừa gọi là “điều này” và “điều kia” sao?” Nhưng đàng khác, ngài cảm thấy sự nhắc nhở ngày càng cấp bách của lương tâm đã mời gọi ngài hiến thân cho Thiên Chúa và nói với ngài: “Hãy mạnh mẽ lao mình vào Người và đừng sợ nữa. Người sẽ không lẩn tránh để khiến ngươi phải gục ngã. Hãy lao mình và đừng lo lắng: Người sẽ đón nhận ngươi và chữa lành cho ngươi!”[121]

Một hôm, ngài đang đi dạo trong vườn của chủ nhà, lúc tâm hồn đang bị xâu xé, nước mắt ràn rụa, thì từ nhà bên cạnh, ngài nghe thấy một giọng nói giống như một cậu bé hay một cô bé, vừa hát vừa lặp đi lặp lại: “Tolle et lege” (Hãy cầm lấy và hãy đọc). Ngài coi đây là lời Thiên Chúa mời gọi mình; đang cầm cuốn sách các thư thánh Phaolô, tình cờ ngài mở ra và định bụng hễ thấy câu nào đầu tiên, thì câu đó nói lên ý muốn của Thiên Chúa. Câu đầu tiên ngài thấy, chính là câu mà chúng ta vừa nghe. Một ánh sáng thanh thản chan hòa trong tâm hồn ngài, xua tan mọi phân vân. Từ đó, ngài hiểu rằng, với ơn Chúa giúp sức, ngài có thể sống trong sạch[122].

Trong bản văn của thư Rôma, điều thánh Tông Đồ gọi là “những việc làm đen tối”, thì ở chỗ khác ngài gọi là “những ước muốn hoặc việc do tính xác thịt” (x. Rm 8,13; Gl 5,19), và điều ngài gọi là “những vũ khí của ánh sáng”, thì ở chỗ khác là “những công việc của Thần Khí” hoặc “những hoa quả của Thần Khí” (x. Gl 5,22). Trong bối cảnh lúc này, thánh Tông Đồ không bàn đến khía cạnh này của đời sống Kitô giáo, nhưng theo bản liệt kê các thói xấu ở đầu thư (x. Rm 1,26tt), chúng ta thấy điều đó quan trọng biết bao đối với ngài. Nếu ngài không minh nhiên bàn ở đây về sự trong sạch, thì ít nhất, ngài giúp chúng ta hiểu rằng đây là nơi hẳn phải làm điều đó. Đây là mối tương quan cơ bản thứ ba mà Thần Khí muốn sửa chữa. Thần Khí sửa chữa mối tương quan của ta với Thiên Chúa bằng sự vâng phục, mối tương quan của ta với người thân cận bằng bác ái, thì cũng muốn sửa chữa mối tương quan của ta với chính mình bằng sự trong sạch. Thánh Phaolô thiết lập mối liên hệ rất chặt chẽ giữa sự trong sạch và sự thánh thiện cũng như giữa sự trong sạch và Chúa Thánh Thần: “Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh: xa lánh gian dâm, không đam mê dục vọng như dân ngoại là những người không biết Thiên Chúa… Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện” (1Tx 4,3-8). Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng thu nhận lời khuyên cuối cùng này của lời Chúa, bằng cách đào sâu hoa quả này của Thần Khí, là sự trong sạch.

1. Những lý do Kitô giáo của sự trong sạch

Trong thư gửi tín hữu Galát, thánh Phaolô viết: “Hoa quả của thần khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22). Nguyên ngữ Hy Lạp, mà chúng ta dịch là “tiết độ” hoặc làm chủ mình, là enkrateia. Quả thực, nó có ý nghĩa rất rộng, người ta có thể làm chủ mình trong ăn uống, nói năng, kiềm chế cơn giận của mình, v.v. Nhưng ở đây, cũng như ở hầu hết các chỗ khác trong Tân Ước, nó chỉ sự tự chủ trong một lãnh vực rất rõ ràng của con người: lãnh vực tình dục. Chúng ta suy ra điều đó từ sự kiện là, trước đó một chút, khi chỉ “các việc làm của thân xác”, thánh Tông Đồ gọi là porneia, nghĩa là sự ô uế, trái ngược với sự tự chủ.

Như vậy, chúng ta có hai từ khóa để hiểu thực tại mà chúng ta muốn nói: một từ tích cực (enkrateia) và một từ tiêu cực (porneia), một từ cho thấy sự việc và một từ cho thấy sự việc vắng mặt hoặc một điều trái ngược với nó. Thế mà, tôi đã nói rằng thuật ngữ enkrateia có nghĩa đen là sự tự chủ, làm chủ thân xác mình, đặc biệt những bản năng tình dục của một người. Còn porneia thì nghĩa là gì? (lúc này đây chúng ta hãy cố gắng rút ra tất cả những chỉ dẫn có thể có từ những tên gọi đơn giản của sự việc, trước khi đi xa hơn.) Trong các bản dịch Kinh Thánh hiện đại, thuật ngữ này được dịch nhiều kiểu: đĩ điếm, mại dâm, dâm bôn, thông dâm, gian dâm hoặc ngoại tình và những kiểu dịch khác. Tuy nhiên, ý tưởng cơ bản của porneia là: “bán mình”, làm thân xác mình bị tha hóa và do đó là mại dâm. (Thuật ngữ này phát xuất từ động từ peremi, có nghĩa là “tôi bán mình”). Khi dùng từ này để chỉ hầu hết các cách biểu lộ sự sa đọa về tình dục, Kinh Thánh cho hay mọi tội về sự không trong sạch, theo một nghĩa nào đó, là một cách bán dâm, bán mình.

Vậy các thuật ngữ mà thánh Phaolô sử dụng cho chúng ta biết có thể có hai thái độ trái ngược nhau, đối với thân xác và tính dục của chúng ta, một thái độ là hoa quả của Thần Khí, và thái độ kia là việc làm của xác thịt; một là nhân đức, một là tật xấu. Thái độ trước bao gồm việc làm chủ bản thân và thân xác của mình; ngược lại, thái độ sau bao gồm việc bán mình hoặc làm cho thân xác mình bị tha hóa, nghĩa là sử dụng tình dục theo ý riêng, vào các mục đích vụ lợi và những mục đích khác với mục đích mà Thiên Chúa đã đặt nơi nó, biến hành vi tình dục thành một hành vi mua bán, ngay cả khi cái “lợi” không phải lúc nào cũng bằng tiền, như trong trường hợp mại dâm đúng nghĩa, nhưng chỉ bằng thú vui ích kỷ, được tìm kiếm như mục đích tự thân.

Khi một người nói về sự trong sạch hay không trong sạch bằng những thuật ngữ đơn giản về nhân đức hay thói xấu, mà không đi sâu vào chủ đề, thì ngôn ngữ của Tân Ước không khác nhiều so với ngôn ngữ của các nhà luân lý ngoại giáo, chẳng hạn như các người phái Khắc Kỷ; thật vậy, họ đã sử dụng phổ biến hai thuật ngữ mà chúng ta đã thấy: enkrateiaporneia, làm chủ mình và không trong sạch. Ngoài ra, người chỉ dừng lại ở ngôn ngữ này, sẽ không thu nhận được điều gì có tính chất đặc biệt Kinh Thánh và Kitô giáo. Các nhà luân lý ngoại giáo cũng đề cao việc làm chủ mình, nhưng chỉ để phục vụ cho sự an bình bên trong, cho sự dửng dưng (apatheia); đối với họ, sự trong sạch được nguyên lý “lẽ phải” (droite raison) chi phối. Trên thực tế, bên trong những từ ngoại giáo cổ xưa này, từ đây có một nội dung hoàn toàn mới mẻ, phát xuất từ khởi giảng như mọi khi. Điều này thấy rõ trong bản văn của chúng ta, nơi mà, đối lại với sự sa đọa tình dục theo một cách rất có ý nghĩa,  là “mặc lấy Đức Giêsu Kitô”. Các Kitô hữu tiên khởi đã có thể hiểu được nội dung mới này, vì trong những bối cảnh khác, nội dung này là đối tượng của những huấn giáo đặc biệt.

Giờ đây chúng ta hãy xem xét một trong những huấn giáo đặc biệt này về sự trong sạch, để khám phá ra nội dung đích thực và những lý do Kitô giáo đích thực của nhân đức này, là những gì phát xuất từ ​​biến cố vượt qua của Đức Kitô. Huấn giáo đó là bản văn 1Corintô 6,12-20. Dường như người Côrintô – có lẽ hiểu sai ý một câu của thánh Tông Đồ – đã dựa vào nguyên tắc: “Tôi được phép làm mọi sự” để thậm chí biện minh cho tội không trong sạch. Câu trả lời của thánh Tông Đồ cho thấy một động lực hoàn toàn mới của sự trong sạch, phát xuất từ chính mầu nhiệm Đức Kitô. Ngài nói rằng không được phép dâm ô (porneia), không được phép bán mình, hoặc định đoạt bản thân theo ý mình, vì đơn giản là chúng ta không còn thuộc về mình nữa, nhưng thuộc về Đức Kitô. Chúng ta không thể định đoạt điều không còn thuộc về chúng ta, “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?…Anh em đâu còn thuộc về mình nữa” (1Cr 6,15.19). Theo một nghĩa nào đó, lý do ngoại giáo bị đảo ngược; giá trị tối cao phải bảo toàn không còn phải là làm chủ mình, nhưng chính xác chúng ta không còn là “chủ” của mình nữa. “Thân xác con người không phải để gian dâm, nhưng để phụng sự Chúa” (1Cr 6,13); vậy lý do tối hậu của sự trong sạch chính là “Đức Giêsu là Chúa”. Nói cách khác, sự trong sạch Kitô giáo không ở chỗ để cho lý trí làm chủ các bản năng cho bằng để cho Đức Kitô làm chủ toàn thể con người: cả lý trí lẫn bản năng. Điều quan trọng nhất không phải là tôi làm chủ bản thân tôi, nhưng là Đức Giêsu làm chủ bản thân tôi. Có một cú nhảy gần như vô hạn về phẩm chất giữa hai viễn tượng: trong trường hợp trước, sự trong sạch phục vụ tôi, tôi là mục đích, trong trường hợp sau, sự trong sạch phục vụ Đức Giêsu, Đức Giêsu là mục đích. Đương nhiên là tiên vàn phải cố gắng làm chủ mình, nhưng sẽ nhường cho Đức Kitô làm chủ ta.

Lý do Kitô học này về sự trong sạch còn mạnh hơn do chính lời của thánh Phaolô thêm vào bản văn này: chúng ta không chỉ là “của” Đức Kitô một cách chung chung, như tài sản hay đồ vật của Ngài, chúng ta còn là chính thân thể của Đức Kitô, những chi thể của thân thể ấy. Điều này làm cho mọi sự trở nên vô cùng tế nhị, vì nó có nghĩa là: phạm tội dâm ô là tôi làm cho thân thể Đức Kitô ra ô uế, tôi mắc một thứ tội phạm thánh ghê tởm; tôi “bạo hành” thân thể Con Thiên Chúa: “Tôi lại lấy phần thân thể của Đức Kitô mà làm thành phần thân thể của người kỹ nữ sao?” (1Cr 6,15). Chỉ giả thiết như thế mà thôi đã làm cho người ta cảm thấy rụng rời do tội ấy quá nặng.

Thêm ngay vào lý do Kitô học này là lý do Thánh Thần học, tức là lý do liên quan đến Chúa Thánh Thần: “Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em” (1Cr 6,19). Do đó, lạm dụng thân xác mình là làm cho đền thờ của Thánh Thần ra ô uế; nhưng nếu ai phá hủy đền thờ của Thiên Chúa, thì chính Thiên Chúa sẽ hủy diệt người đó (x. 1Cr 3,17). Phạm tội tà dâm là “làm phiền lòng Chúa Thánh Thần” (x. Ep 4,30).

Bên cạnh những lý do Kitô học và Thánh Thần học, thánh Tông Đồ còn chỉ ra cho chúng ta lý do cánh chung học, lý do liên hệ đến số phận cuối cùng của con người: “Thiên Chúa đã làm cho Chúa Kitô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại” (1Cr 6,14). Người đã hứa làm cho thân xác chúng ta sống lại; thân xác ấy một ngày kia sẽ dự phần vào hạnh phúc và vinh quang của linh hồn. Sự trong sạch Kitô giáo không dựa trên sự khinh miệt thân xác, nhưng trái lại, trên sự kính trọng phẩm giá của nó. Trong cuộc chiến chống lại những người theo thuyết Ngộ đạo, các Giáo Phụ đã nói rằng Phúc Âm không bảo chúng ta được cứu “khỏi” xác (như chúng ta được cứu “khỏi” chết), nhưng chúng ta được cứu “cùng với” xác. Những ai coi thân xác như “chiếc áo ngoài” sẽ bị bỏ lại ở trần gian này, sẽ không hiểu lý do vì sao người Kitô hữu lại giữ cho thân xác được trong sạch. Các phong trào “tự do quá trớn” trong lịch sử hầu như luôn phát xuất từ các trào lưu rao giảng một thứ duy linh triệt để, chẳng hạn phái Cathares. Một Giáo Phụ đã viết: “Vì thân xác kết hợp với linh hồn trong mọi hoạt động, nó sẽ là bạn đồng hành của linh hồn trong mọi điều sẽ xảy ra trong tương lai. Hỡi anh em tôi, vậy chúng ta hãy tôn trọng thân xác của mình và đừng lạm dụng nó như những thứ gì đó xa lạ, chúng ta đừng nói như những kẻ lạc giáo rằng chiếc áo thân xác là một thứ gì đó xa lạ, nhưng hãy tôn trọng nó như một thứ thuộc về con người chúng ta. Chúng ta phải tính sổ với Thiên Chúa về mọi điều chúng ta đã làm với thân xác chúng ta”[123].

Thánh Tông Đồ kết thúc giáo huấn về sự trong sạch bằng một lời mời gọi tha thiết: “Anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1Cr 6,20). Vậy thân xác con người là dành cho vinh quang Thiên Chúa và thể hiện vinh quang này khi con người sống tính dục của mình và toàn thể thân xác của mình trong sự vâng phục yêu thương đối với ý muốn của Thiên Chúa, điều này có nghĩa là: tuân theo chính ý nghĩa của tính dục, bản tính nội tại và nguyên thủy của nó, vốn không phải là “bán mình”, nhưng là “hiến mình”. Tôn vinh Thiên Chúa bằng thân xác không nhất thiết đòi phải từ bỏ hành vi tính dục. Thật ra, trong chương sau, thánh Phaolô cho thấy có hai cách tôn vinh khác nhau, bởi hai đặc sủng khác nhau: qua hôn nhân, hoặc qua sự đồng trinh. Người đồng trinh hoặc người không lập gia đình tôn vinh Thiên Chúa trong thân xác mình, nhưng người  lấy vợ lấy chồng cũng tôn vinh Thiên Chúa, miễn là mỗi người sống đúng những đòi hỏi của bậc mình.

2. Trong sạch, vẻ đẹp và tình yêu đối với người thân cận

Trong ánh sáng mới phát xuất từ ​​mầu nhiệm vượt qua, ánh sáng mà cho đến lúc này thánh Phaolô đã minh giải cho chúng ta, lý tưởng về sự trong sạch chiếm một vị trí ưu đãi, và điều này đều có trong mỗi bản tổng hợp luân lý Kitô giáo của Tân Ước. Có thể nói: không một lá thư nào của thánh Phaolô, trong đó ngài không dành một chỗ cho lý tưởng đó, khi ngài mô tả đời sống mới trong Thần Khí (x. chẳng hạn Ep 4,17–5,33; Cl 3,5- 12). Đòi hỏi cơ bản này về sự trong sạch trở nên rõ ràng hơn, lần lượt tùy theo những bậc sống khác nhau của các Kitô hữu. Các thư mục vụ cho thấy thế nào là sự trong sạch nơi người trẻ, phụ nữ, vợ chồng, người già, quả phụ, linh mục và giám mục; các thư đó trình bày sự trong sạch dưới những khía cạnh khác nhau: khiết tịnh, chung thủy vợ chồng, điều độ, tiết dục, đồng trinh, e thẹn. Nhìn chung, khía cạnh này của đời sống Kitô giáo xác định điều mà Tân Ước – đặc biệt là các thư mục vụ – gọi là “vẻ đẹp” hay “cái đẹp” (kalòs) của ơn gọi Kitô hữu, vốn là một với một nét khác, nét của sự tốt lành (agathòs), tạo nên lý tưởng độc nhất của “vẻ đẹp tốt lành”, hay “sự tốt lành đẹp đẽ”, khiến người ta nói về việc làm tốt hay việc làm đẹp, gì cũng được, không phân biệt. Khi gọi sự trong sạch là “nhân đức đẹp”, truyền thống Kitô giáo đã thu nhận nhãn quan của Kinh Thánh diễn tả một điều gì đó rất đúng, bất chấp những lạm dụng đã xảy ra trong quá khứ và một sự nhấn mạnh quá thiên lệch. Thật vậy, sự trong sạch là đẹp!

Không chỉ là một nhân đức thuần túy, sự trong sạch còn là một kiểu cách sống, thể hiện bằng một loạt những khía cạnh vượt ra ngoài lãnh vực tình dục đích danh. Có sự trong sạch về thân xác, nhưng cũng có sự trong sạch trong tâm hồn, ghê tởm không chỉ những hành vi, mà ngay cả những tư tưởng và ước muốn “xấu xa” (x. Mt 5,8.27-28). Cũng có sự trong sạch trên môi miệng, ở chỗ, theo nghĩa tiêu cực là kiêng nói những lời dâm ô, thô tục và ngu xuẩn (x. Ep 5,4; Cl 3,8) và theo nghĩa tích cực là nói những lời thành thực và ngay thẳng, có nói có, không nói không, theo gương Con Chiên tinh tuyền “trong miệng Người không một lời gian dối” (x. Mt 5,37; 1Pr 2,22). Cuối cùng, có sự trong sạch hay trong sáng của con mắt và của cái nhìn Đức Giêsu nói: Đèn của thân thể là con mắt, nếu mắt sáng thì toàn thân sẽ sáng (x. Mt 6,22tt; Lc 11,34). Thánh Phaolô dùng một hình ảnh rất gợi ý để diễn tả kiểu cách sống mới này: ngài nói rằng các Kitô hữu được sinh ra từ cuộc Phục Sinh của Đức Kitô, phải là “bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật” (x. 1Cr 5,8). Thuật ngữ eilikrinéia được thánh Tông Đồ sử dụng ở đây, tự nó gợi lên hình ảnh “sự trong suốt của mặt trời”. Hơn nữa, trong bản văn của chúng ta, ngài nói về sự trong sạch như một “vũ khí của sự sáng”.

Ngày nay, có một xu hướng nào đó đối nghịch nhau giữa tội lỗi đức trong sạch và tội lỗi với người thân cận; người ta có xu hướng chỉ coi tội lỗi với người thân cận là tội thực sự; đôi khi, còn mỉa mai thái độ trong quá khứ quá tôn thờ “nhân đức đẹp”. Thái độ này được giải thích một phần: chả là trong quá khứ, khoa luân lý đã nhấn mạnh cách thiên lệch những tội xác thịt, đến độ đôi khi tạo ra những chứng rối loạn thần kinh thực sự, khiến người không còn chú ý đến những bổn phận đối với người thân cận, chưa kể cách nhấn mạnh như vậy còn gây hại cho chính đức trong sạch, vì theo cách đó, nhân đức này trở nên nghèo nàn và hầu như biến thành một nhân đức tiêu cực, chỉ biết nói không (trước cám dỗ). Giờ đây, người ta lại đi đến chỗ thái quá ngược lại, với xu hướng coi nhẹ tội lỗi đức trong sạch, để chú ý (thường chỉ bằng lời nói) tới bổn phận đối với người thân cận. Sai lầm cơ bản ở chỗ người ta đối lập hai nhân đức trong sạch và bác ái, trong khi căn cứ vào lời Chúa, chúng liên kết chặt chẽ với nhau. Chỉ cần đọc đoạn tiếp theo đoạn 1 Tx mà tôi đã trích dẫn lúc đầu, là đủ để nhận ra sự tùy thuộc lẫn nhau giữa trong sạch và bác ái (x. 1Tx 4,3-12). Mục đích duy nhất của sự trong sạch và bác ái là để có thể sống một cuộc đời “đầy phẩm giá”, một cuộc đời đoan chính, đoan chính trong tương quan với mình tức sống trong sạch, và trong tương quan với người khác tức sống bác ái. Trong bản văn của chúng ta, thánh Tông Đồ đã tóm tắt tất cả những điều đó bằng kiểu nói: “ăn ở cho đứng đắn, như người đang sống giữa ban ngày” (x. Rm 13,13).

Sự trong sạch và bác ái với người thân cận có liên hệ với nhau cũng như sự tự chủ và tận tụy với người khác. Làm sao tôi có thể hiến mình cho người khác, nếu tôi chưa hiểu điều thánh Tông Đồ đã nói là tôi không thuộc về tôi và thân xác tôi không thuộc về tôi, nhưng thuộc về Chúa? Thật là ảo tưởng khi nghĩ có thể dung hòa được việc thực sự phục vụ anh em, vốn luôn đòi hỏi hy sinh, vị tha, quên mình và quảng đại, và một đời sống cá nhân buông thả, chỉ lo làm thỏa mãn bản thân và những đam mê của mình. Người ta chắc chắn sẽ biến anh em mình thành “dụng cụ”, như người ta làm thế cho chính thân xác mình: Ai không biết nói “không” với chính mình, sẽ không thể nói “có” với các anh em.

Một trong những “lời bào chữa” góp phần nhiều nhất vào việc thúc đẩy tội lỗi đức trong sạch, trong não trạng của thế gian, và để giảm bớt mọi trách nhiệm, là, xét cho cùng, nó không làm hại ai, không vi phạm các quyền hay tự do của những người khác, trừ khi đó là một trường hợp bạo lực về thân xác. Thế nhưng, chưa kể vi phạm quyền cơ bản của Thiên Chúa ban lề luật cho con người, lời bào chữa đó cũng sai liên hệ tới người thân cận. Không đúng khi cho rằng tội ô uế kết thúc với kẻ phạm. Có một sự liên đới giữa mọi tội lỗi. Mọi tội lỗi, dù phạm ở đâu, dù do ai phạm, đều gây ô nhiễm và làm ô uế môi sinh đạo đức của con người; Đức Giêsu gọi sự ô nhiễm này là một “gương mù” (scandale), Ngài lên án bằng những lời kinh khủng nhất trong tất cả Phúc Âm (x. Mt 18,6tt; Mc 9,42tt; Lc 17,1tt). Ngay cả những ý nghĩ xấu trong lòng, Ngài cũng cho rằng chúng làm ô uế con người và do đó cả thế giới: “Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế” (Mt 15,19-20) Mọi tội lỗi đều bào mòn các giá trị và tất cả cùng nhau tạo ra điều mà Phaolô định nghĩa là “luật của tội lỗi”, có quyền lực khủng khiếp trên mọi người (x. Rm 7,14tt).

Sách Talmud của người Do Thái có kể một câu chuyện ngụ ngôn minh giải rất rõ sự liên đới này trong tội lỗi, cũng như sự nguy hại mà bất cứ tội lỗi nào, kể cả tội cá nhân, gây ra cho người khác. Chuyện là thế này: “Có nhiều người đi trên một chiếc thuyền, một người trong bọn táy máy khoan một lỗ nhỏ dưới chỗ mình ngồi. Thấy vậy, những người khác lên tiếng can ngăn: “Anh đang làm gì vậy?” Người đó trả lời: “Có hệ gì đến các anh đâu? Tôi khoan dưới chỗ tôi ngồi mà!” Nhưng họ phản đối: “Đúng, nhưng nước sẽ tràn vào và chúng ta sẽ chết đuối hết!”

Cần phải nói thêm rằng sự trong sạch không những tạo điều kiện cho mối tương giao đúng đắn với chính mình và với người khác, mà còn cho mối tương giao mật thiết và thân thuộc với Thiên Chúa. Cựu Ước cũng như Tân Ước không ngừng nhấn mạnh điều này. Người ta không thể cầu nguyện với một tâm hồn dơ bẩn; chính kinh nghiệm cho thấy là không thể. Không thể vươn lên tới Thiên Chúa là thần trí, khi còn là tù nhân của xác thịt là vật chất; giống như một con chim đang bị cột chân, dù chỉ bằng một sợi dây nhỏ, đừng có hòng bay bổng lên được. Thánh Phêrô đã viết cho các Kitô hữu đầu tiên: “Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ, để có thể cầu nguyện được” (1Pr 4,7). Nếu thánh Phaolô, vì tình trạng hiện tại của bản tính con người, khuyên chính vợ chồng đôi khi kiêng chuyện chăn gối, tuy đây là chuyện hợp pháp và thánh thiện, để có thể chuyên tâm cầu nguyện cách tự do hơn (x. 1Cr 7,5) ), thì phải nói sao về các hành vi tình dục buông thả? Chúng làm cho việc cầu nguyện thực tế không thực hiện được, trừ khi có ý chân thành muốn chiến đấu và chiến thắng những yếu đuối của mình, và muốn nhờ cầu nguyện xin ơn Chúa trợ giúp.

3. Trong sạch và đổi mới

Khi nghiên cứu lịch sử những nguồn gốc Kitô giáo, người ta thấy rõ Giáo Hội đã có thể biến đổi thế giới ngoại giáo thời bấy giờ bằng hai phương tiện chính: thứ nhất là loan báo lời Chúa, kerygma, và thứ hai là chứng từ đời sống của các Kitô hữu, martyria; trong lãnh vực chứng từ đời sống, người ta thấy cũng có hai thực tại đặc biệt đã khiến những người ngoại giáo kinh ngạc và cải đạo: bác ái huynh đệ và phong hóa tốt. Ngay lá thư đầu tiên của thánh Phêrô đã ám chỉ đến sự ngạc nhiên của thế giới ngoại giáo trước lối sống quá khác biệt của các Kitô hữu. Ngài viết: “Họ kinh ngạc vì thấy anh em không cùng chạy ùa theo cuộc sống trụy lạc ồ ạt như dòng thác lũ” (1Pr 4,3-4).

Những nhà hộ giáo – tức là các tác giả Kitô giáo đã viết để bảo vệ đức tin trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội – chứng thực rằng lối sống trong sạch và khiết tịnh của các Kitô hữu là một điều “phi thường và khó tin” đối với những người ngoại giáo. Một trong những tác giả này viết: “Họ lấy vợ lấy chồng như mọi người, có con cái, nhưng không bỏ rơi trẻ sơ sinh, Họ chung bàn ăn nhưng không chung giường. Họ ở trong thân xác nhưng không sống theo xác thịt. Họ ở trần gian nhưng là công dân trên trời”[124]. Đặc biệt, sự lành mạnh trong gia đình đã có một tác động phi thường trên xã hội ngoại giáo; các nhà chức trách thời đó muốn canh tân nó, nhưng vẫn bất lực, không ngăn cản nổi đà suy thoái của nó. Một trong những luận chứng mà thánh Giustinô tử đạo dựa vào để viết cuốn Apologie (Hộ giáo) gửi cho Hoàng đế Antoninô (le Pieux), đó là: các hoàng đế Rôma lo làm trong sạch các phong tục và gia đình, và vì mục đích này, cố ban hành các luật lệ thích hợp; tuy vậy, những luật đó là không đủ. Thế thì tại sao không thừa  nhận những luật lệ Kitô giáo, là những luật đã có thể giúp cho người Kitô hữu được như thế, và có thể giúp cho chính xã hội dân sự cũng được như thế? Một số khuôn mặt sáng ngời của các thiếu nữ Kitô giáo, chết vì đạo, cho thấy, về điểm này, sức mạnh của Kitô giáo có thể tiến xa tới đâu.

Tuy nhiên, không vì thế mà nên tin rằng nơi cộng đồng Kitô giáo không có những phóng túng và tội lỗi về tình dục. Thánh Phaolô thậm chí đã phải khiển trách một trường hợp loạn luân trong cộng đồng Côrintô. Tuy nhiên những tội lỗi này đã được vạch mặt chỉ tên, bị tố cáo và sửa chữa. Trong vấn đề này, cũng như trong các vấn đề khác, quan trọng không phải là không có tội, nhưng là phải chống lại tội. Ngoại tình, cùng với sát nhân và bội giáo, được coi là một trong ba tội nặng nhất, đến nỗi có thời và có nơi, người ta đã tranh luận xem có thể tha hay không bằng bí tích sám hối.

Từ nguồn gốc Kitô giáo, giờ đây chúng ta đi đến ngày nay. Tình hình trên thế giới ngày nay, liên quan đến sự trong sạch, như thế nào? Cũng giống như tình hình ngày xưa, nếu không muốn nói là tệ hơn! Chúng ta đang sống trong một xã hội mà phong hóa trở lại với ngoại giáo cổ thời và hoàn toàn thờ ngẫu tượng tình dục. Bức tranh ảm đạm mà thánh Phaolô phác họa về thế giới ngoại đạo, ở đầu thư Rôma, giống từng điểm một với thế giới hôm nay, đặc biệt là trong cái gọi là xã hội thịnh vượng. Ngài viết: “Thiên Chúa đã để họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau, đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình… Không những họ cứ phạm những tội đó, lại còn tán thành những kẻ làm như vậy ” (Rm 1,26-27.32). Ngày nay người ta không chỉ làm những chuyện đó, còn làm những chuyện khác tệ hơn, không những vậy, còn ra sức biện minh cho chúng, nghĩa là biện minh cho bất cứ phóng túng luân lý và đồi bại tình dục nào, miễn là – như người ta nói – chúng không bạo hành với ai hoặc làm tổn hại đến quyền tự do của người khác. Như thể Thiên Chúa không can dự gì vào những chuyện đó! Người ta phá hủy toàn bộ gia đình mà vẫn nói: có hại gì đâu? Chắc chắn một số phán đoán về luân lý tình dục truyền thống cần phải được sửa đổi và khoa học nhân văn hiện đại đã góp phần soi sáng một số cơ chế và điều kiện của tâm lý con người, là những gì loại bỏ hoặc giảm bớt trách nhiệm đạo đức của một số hành vi có thời được coi là tội lỗi. Nhưng sự tiến bộ này không liên quan gì đến chủ nghĩa toàn tính dục (pansexualisme) của một số lý thuyết giả khoa học (pseudo-scientifiques) và rộng phép có xu hướng phủ nhận bất kỳ chuẩn mực khách quan nào về luân lý tình dục, quy mọi sự về vấn đề tiến hóa tự phát của các tập tục, tức là về vấn đề văn hóa. Nếu xem xét kỹ những gì được gọi là cách mạng tình dục ngày nay, chúng ta kinh hoàng nhận ra rằng đó không đơn giản là một cuộc cách mạng chống lại quá khứ, mà thường còn là một cuộc cách mạng chống lại Thiên Chúa. Những cuộc đấu tranh đòi ly dị, phá thai và những điều tương tự thường đưa tới tiếng kêu: “Tôi thuộc về tôi! Thân xác tôi là của tôi!”, đó là phản đề chính xác của chân lý được thiết lập trên lời Chúa, vốn khẳng định với chúng ta rằng chúng ta không phải là của chúng ta, chúng ta không thuộc về mình, vì chúng ta “ở trong Đức Kitô”. Vậy đó là tiếng nói phản kháng chống lại Thiên Chúa, một yêu sách đòi được tự trị tuyệt đối!

Thật không may, ngày nay vẫn còn điều gì đó nghiêm trọng hơn thời thánh Phaolô; đó là một số lý thuyết rộng phép đã xâm nhập vào chính bên trong Giáo Hội, trong một số môi trường và ấn phẩm nhằm biện minh, mà không phân biệt, cho đồng tính luyến ái và những sa đọa khác rõ ràng bị lời Chúa lên án. Người ta nghe được, từ chính môi miệng của những người lẽ ra phải dạy giáo lý lành mạnh cho dân chúng, những nhận xét gây kinh ngạc vì sự hời hợt của chúng, giống như nhận xét mà chính tai tôi đã nghe: “Bạn thế nào thì Thiên Chúa yêu bạn thế ấy; Người muốn trên hết là sự thực hiện của bạn; vì vậy nếu bạn là “như thế” và bạn cảm thấy điều như thế là đúng cho bạn, hãy thẳng tiến và đừng băn khoăn làm gì. Thiên Chúa là Cha mà!” Như thể người ta có thể tự “thực hiện” bằng tội lỗi, ngoài ý muốn của Thiên Chúa! Theo cách này, người ta phạm tội tiên vàn do thiếu niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa; thay vì nói với người anh em bệnh tật hay yếu đuối: “Thiên Chúa yêu anh, Người mạnh hơn sự yếu đuối của anh!”, cuối cùng người ta lại nói tội lỗi và sự yếu đuối của người đó mạnh hơn Thiên Chúa.

4. Trong sạch trong tâm hồn

Nhưng tôi không muốn dừng lại quá lâu để mô tả tình hình hiện tại xung quanh chúng ta, hơn nữa, ai nấy đều rõ cả. Quả thực, đối với tôi, điều quan trọng hơn là khám phá và truyền đạt những gì Thiên Chúa muốn nơi chúng ta, những Kitô hữu, trong tình huống này. Thiên Chúa đã kêu gọi các tín hữu ngày xưa làm công việc nào, thì cũng kêu gọi chúng ta ngày nay làm công việc ấy: “Chống lại dòng thác lũ diệt vong này”. Người kêu gọi chúng ta thanh tẩy đền thờ của Chúa Thánh Thần, là thân thể chúng ta và thân thể của cả Giáo Hội. Người kêu gọi chúng ta làm cho “vẻ đẹp” của đời sống Kitô hữu lại tỏa sáng trước mắt thế giới. Người kêu gọi chúng ta đấu tranh cho sự trong sạch, đấu tranh cương quyết nhưng khiêm tốn; không nhất thiết phải hoàn hảo ngay, không nhất thiết mọi người phải hoàn hảo. Đây là một cuộc đấu tranh xưa như chính Giáo Hội. Nhưng hôm nay, có một cái gì đó mới mẻ mà Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta thực hiện: Người kêu gọi chúng ta làm chứng cho thế giới về sự tinh tuyền nguyên thủy của thụ tạo và mọi sự. Thế giới đã xuống cấp rất nhiều; như có người viết, tình dục đã ăn sâu vào đầu óc chúng ta và mọi người. Cần phải có một thứ gì đó rất mạnh để phá vỡ loại ham mê và nghiện ngập tình dục này. Phải trả lại cho con người hoài niệm về sự vô tội và đơn sơ mà họ mang theo như một khát khao cháy bỏng tận đáy lòng, cho dù nó rất thường xuyên bị bùn đất bao phủ. Không phải sự tinh tuyền tự nhiên, thuở tạo dựng, vốn không còn nữa, nhưng là sự tinh tuyền của phép rửa, của sự cứu chuộc, đã được Đức Kitô ban lại cho chúng ta và được ban trong các bí tích và lời Chúa. Thánh Phaolô cho chúng ta biết chương trình này khi viết thư cho tín hữu Philiphê: “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay phản kháng. Như thế anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì” và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ lời ban sự sống” (Pl 2,15tt). Đây là điều mà trong bản văn của chúng ta, thánh Tông Đồ gọi là “cầm lấy vũ khí của sự sáng”.

Ngày nay, một khía cạnh quan trọng của ơn gọi giữ đức trong sạch, nhất là nơi những người trẻ, là sự e thẹn. Tự nó, e thẹn nói lên mầu nhiệm của thân xác con người kết hợp với một linh hồn; nói lên rằng, trong thân xác chúng ta, có một cái gì đó vượt ra ngoài và siêu việt trên thân xác. E thẹn là tôn trọng bản thân và người khác. Khi không còn biết e thẹn, tính dục con người chắc chắn trở thành tầm thường, không còn phản ánh tinh thần, dễ dàng hạ giá xuống thành một đối tượng tiêu dùng. Thế giới hôm nay chế nhạo sự e thẹn và cạnh tranh với những người luôn đẩy giới hạn của nó đi xa hơn. Thế giới này đưa những người trẻ cảm thấy xấu hổ về điều mà lẽ ra họ phải tự hào và ghen tị, khi thực hiện bạo lực thực sự đối với họ. Điều này cần phải được chấm dứt. Phêrô đã khuyên các phụ nữ của cộng đồng Kitô hữu đầu tiên: “Ước chi vẻ duyên dáng của chị em không hệ tại cái mã bên ngoài…, nhưng là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng, là tính thùy mị hiền hòa; đó chính là điều quý giá trước mặt Thiên Chúa. Xưa kia các phụ nữ thánh thiện…cũng đã trang điểm như thế” (1Pr 3,4tt). Vấn đề không phải là lên án tất cả các hình thức trang điểm bên ngoài thân thể, các hình thức tìm cách nâng cao hình ảnh của mình và làm cho nó đẹp hơn, nhưng phải đi kèm với những tình cảm trong sáng trong tâm hồn; đúng ra là làm điều đó cho người khác hơn là cho mình, đặc biệt là cho ý trung nhân hoặc chồng con hơn là cho mình; để mang lại niềm vui, chứ không phải để khêu gợi, cám dỗ.

E thẹn là trang sức đẹp nhất của sự trong sạch. Có tác giả viết: “Thế giới sẽ được cứu bởi cái đẹp”; nhưng ngay lập tức ông thêm: “trên thế giới chỉ có một hữu thể tuyệt đẹp mà sự xuất hiện của Ngài là một phép lạ của vẻ đẹp: đó là Đức Kitô”[125]. Sự trong sạch cho phép vẻ đẹp thần linh của Đức Kitô thể hiện và tỏa sáng trên khuôn mặt của một thanh niên hay một thiếu nữ Kitô hữu. Sự e thẹn là một bằng chứng huy hoàng cho thế giới. Trong Tử đạo lục, người ta thấy gương của một trong những vị tử đạo Kitô giáo đầu tiên, thiếu nữ Perpêtua: trong đấu trường, khi bị bò mộng húc tung lên trời và rơi xuống đất, mình đầy máu me, cô vẫn lo chuyện choàng lại áo che thân, hơn là nghĩ đến chuyện đau đớn đang phải chịu[126]. Những chứng tá như thế đã góp phần làm biến đổi thế giới ngoại giáo và giúp họ quý trọng sự trong sạch.

Giữ đức trong sạch vì sợ hãi, cấm kỵ, cấm đoán, kiểu “nam nữ thọ thọ bất thân”, không đủ đâu, như thể, thay vì “giúp đỡ” nhau, họ lại luôn luôn và nhất thiết là một cái bẫy và một kẻ thù tiềm tàng của nhau. Trước đây, ít ra trong thực tế, đôi khi sự trong sạch rút cục chỉ còn là những cấm kỵ, cấm đoán và sợ hãi này, như thể người ta coi việc xấu hổ trước thói xấu là thuộc về nhân đức, chứ không coi việc xấu hổ trước nhân đức là một thói xấu. Nhờ sự hiện diện của Thần Khí trong ta, chúng ta phải khao khát một sự trong sạch mạnh mẽ hơn những thói xấu; một sự trong sạch tích cực chứ không chỉ tiêu cực, có thể giúp chúng ta cảm nghiệm được chân lý trong lời này của thánh Tông Đồ: “Mọi sự đều trong sạch với những người trong sạch” (Tt 1,15) và của lời Kinh Thánh khác: “Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (1Ga 4,4).

Chúng ta phải bắt đầu làm sạch từ gốc rễ là chính tâm hồn ta, vì tất cả những gì thực sự làm ô uế đời sống con người đều phát sinh từ đó (x. Mt 15,18tt). “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Thấy thật đó! Tức là họ sẽ có đôi mắt mới để nhìn thấy Thiên Chúa trên thế giới, đôi mắt trong sáng có thể khám phá ra cái gì đẹp và cái gì xấu, cái gì là sự thật và cái gì là giả dối, cái gì là sự sống và cái gì là sự chết. Cuối cùng, có đôi mắt giống như đôi mắt của Đức Giêsu; Đức Giêsu có thể nói về mọi sự cách tự do: về trẻ em, phụ nữ mang thai, sinh nở… Có đôi mắt giống như đôi mắt của Đức Maria. Chúng ta phải say mê cái đẹp, nhưng là cái đẹp đích thực, cái đẹp mà thụ tạo đã nhận được từ Thiên Chúa và những ai có tâm hồn trong sạch sẽ nhìn thấy nó. Sự trong sạch không ở chỗ từ chối thụ tạo, nhưng chấp nhận nó, vì nó là thụ tạo của Thiên Chúa, đã và hiện vẫn “rất tốt”. Tuy nhiên, để được thế, phải đi qua thập giá, vì sau khi phạm tội, cái nhìn của chúng ta về các thụ tạo bị vẩn đục; đam mê nhục dục hoành hành trong ta; tình dục không nằm yên, nhưng trở thành một sức mạnh mơ hồ và đe dọa, đưa ta đến chỗ lỗi luật Thiên Chúa, bất chấp ý muốn của ta.

5. Những phương tiện: hãm mình và cầu nguyện

Khi nói điều trên, tôi đã giới thiệu suy tư về những phương tiện để đạt được và duy trì sự trong sạch. Quả thực, phương tiện đầu tiên trong số này chính là hãm mình. Sự tự do bên trong thực sự cho phép chúng ta tiếp cận bất kỳ thụ tạo nào trong ánh sáng, lắng nghe và đón nhận mọi đau khổ, mà không bị ô uế, không phải là kết quả của việc thuần túy làm quen với điều xấu, tức là: không có được nó bằng cách nếm cho đủ mùi, tìm làm cho mình miễn nhiễm khi tiêm từng liều lượng nhỏ thứ trực khuẩn của chính căn bệnh mà chúng ta muốn chống lại; nhưng có được nó bằng cách dập tắt trong ta cái ổ nhiễm trùng. Tựu trung, có được là do hãm mình: “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi ích kỷ của con người nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8,13).

Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể để xua tan sự nghi ngờ đã đè nặng quá lâu về thuật ngữ “hãm mình”. Bằng cách chiều theo những ham muốn của con người cũ mà không nhận ra điều đó, con người ngày nay đã tạo ra cho mình một triết lý đặc biệt nhằm biện minh, và thậm chí đề cao việc đem lại thoải mái, mà không có sự phân biệt nào, cho những bản năng của mình, hay như người ta quen nói, cho những thôi thúc tự nhiên của mình. Họ thấy ở đó phương tiện giúp con người triển nở, như thể, trong lãnh vực này, con người cần được khuyến khích bởi một triết lý phù hợp, vì chính bản tính hư hỏng và sự vị kỷ của con người đã không đủ cho việc đó. Quả thật, hãm mình là vô ích và còn là công việc của xác thịt, nếu hãm mình chỉ vì hãm mình, không có tự do, hoặc tệ hơn, nếu nhằm tìm cho mình những quyền trước mặt Thiên Chúa, hoặc nhằm tìm vinh quang trước mặt con người. Nhiều Kitô hữu đã biết điều đó và bây giờ họ sợ quay trở lại với nó, sau khi đã được hưởng sự tự do của Thần Khí. Nhưng có một cách khác để xem xét việc hãm mình và là cách mà lời Chúa dạy chúng ta, một cách rất thiêng liêng vì nó đến từ Chúa Thánh Thần: “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi ích kỷ nơi con người anh em, thì anh em sẽ được sống”. Sự hãm mình này là một hoa quả của Thần Khí, một sự hãm mình làm cho chúng ta sống.

Nói về sự trong sạch, tôi tưởng cần nhắc lại đặc biệt một sự hãm mình cụ thể: đó là hãm dẹp đôi mắt. Như người ta nói, con mắt là cửa sổ của linh hồn. Khi có gió lốc thổi tung bụi lá, không ai mở toang cửa sổ nhà, vì bụi sẽ phủ kín mọi vật. Đấng tạo ra con mắt cũng tạo ra mí mắt để bảo vệ nó.

Về việc hãm dẹp đôi mắt, chúng ta không thể bỏ qua mối nguy hiểm mới và lớn nhất của thời đại chúng ta: truyền hình. Đức Giêsu nói: “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi” (Mt 5,29) và Ngài nói thế đúng lúc Ngài giảng về cái nhìn trong sạch. Đối với chúng ta, tivi chắc chắn không cần thiết hơn con mắt; vậy cũng về mắt, phải nói: nếu truyền hình là dịp tội cho bạn, hãy móc mà ném nó đi! Thà làm như người không biết đến các biến cố và biểu diễn mới nhất của thế giới còn hơn là đánh mất tình bạn với Đức Giêsu, và làm cho lòng mình ô uế do biết rất nhiều về mọi sự. Nếu có người nhận ra rằng, bất chấp mọi quyết tâm tốt và mọi nỗ lực của mình, anh ta không thể gắn bó với những gì hữu ích và phù hợp với một Kitô hữu, thì anh ta phải dứt bỏ cơ hội. Nhiều gia đình Kitô giáo đã quyết định không dùng tivi trong nhà, vì thấy rằng, cuối cùng, tính hữu dụng không bù đắp được sự thiệt hại gây ra, cả trên bình diện Kitô giáo lẫn trên bình diện con người, và họ thực sự bối rối, khi qua một số dấu hiệu, họ nhận thấy một linh mục hoặc một tu sĩ đã xem một số biểu diễn mà họ biết rõ thuộc loại nào. Quả thực làm sao một linh mục và một tu sĩ buổi tối để mắt và tâm trí xem hàng giờ những hình ảnh hoàn toàn nhạo báng các mối phúc Tin Mừng và đặc biệt là sự trong sạch, để rồi sáng sớm hôm sau, tự phụ có thể cử hành những lời ca tụng Chúa, công bố lời Người, bẻ bánh hay rước lễ?

Ngoài việc hãm mình, chúng ta còn phải nại tới kinh nguyện. Thật vậy, sự trong sạch là “hoa quả của Thần Khí”, nghĩa là một ân huệ của Thiên Chúa, hơn là do ta cố gắng mà có, cho dù sự cố gắng này vẫn cần thiết. Về việc này, thánh Augustinô, trong bối cảnh đã gợi lên lúc đầu, mô tả kinh nghiệm cá nhân của ngài như sau: “Theo kinh nghiệm của con, con tưởng rằng sự tiết dục là công việc do các nỗ lực của con và con không cảm thấy những nỗ lực này trong con. Con thật điên rồ khi không nhận ra, như có lời chép: “không ai có thể tiết dục nếu Chúa không cung cấp phương tiện cho người đó” (x. Kn 8,21). Chắc chắn Chúa sẽ ban phương tiện cho con, nếu con đánh động tai Chúa bằng những lời rên rỉ của lòng con, và nếu con lấy đức tin mạnh mẽ mà trút nỗi lo âu của con cho Chúa… Chúa truyền cho con tiết dục, thì xin ban cho con sức mạnh dể làm điều Chúa truyền, và truyền cho con điều Chúa muốn!”[127] Và chúng ta đã biết chính nhờ cách này mà ngài có được sự trong sạch.

Ngay từ đầu tôi đã nói là có một mối liên hệ rất mật thiết giữa sự trong sạch và Chúa Thánh Thần: quả thực Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sự trong sạch và sự trong sạch ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần. Cũng như sự trong sạch đã lôi kéo Chúa Thánh Thần đến với Đức Maria, nó cũng lôi kéo Chúa Thánh Thần đến với chúng ta. Vào thời Chúa Giê-su, thế giới tràn ngập những thần ô uế hoạt động thoải mái giữa con người. Khi Đức Giêsu được đầy Thánh Thần sau khi chịu phép rửa ở sông Giođan, Ngài vào hội đường Capharnaum; một người bị thần ô uế ám bắt đầu kêu to: “Ông Giêsu Nadaret, chuyện chúng tôi can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1,24). Ai mà biết được người này đã đến hội đường từ lúc nào, mà không bị phiền hà, không ai nhận thấy gì cả! Nhưng khi Đức Giêsu, Đấng tỏa ra ánh sáng và hương thơm của Thần Khí, bước vào nơi này, thần ô uế bị lột mặt nạ, nó bắt đầu ngọ ngoạy, và vì không chịu được sự hiện diện của Ngài, nó xuất khỏi người này. Đây là phép trừ quỷ vĩ đại và thầm lặng mà ngày nay chúng ta rất cần, mà Đức Giêsu kêu gọi chúng ta thực hiện xung quanh chúng ta: xua đuổi những thần ô uế và tâm trí không trong sạch trong chúng ta và xung quanh chúng ta, trả lại cho anh em chúng ta, đặc biệt là giới trẻ, niềm vui đấu tranh cho sự trong sạch.

 

Kết luận
CHÚNG TA SỐNG CHO CHÚA

Ở cuối lá thư, trong khi thánh Tông Đồ đang đưa ra lời khuyên thiết thực về một vấn đề cụ thể – có nên ăn thịt cúng hay không – đột nhiên ngài lên giọng cách trang trọng, khiến người ta nghĩ về “một lời tuyên tín khi chịu phép rửa” hoặc một bài “thánh thi” ca ngợi Đức Kitô, ngẫu hứng đột xuất. Đây là những lời vượt xa vấn đề bình thường của cộng đồng Rôma và có ý nghĩa phổ quát bao trùm tất cả đời sống Kitô giáo. Nơi chúng, ta có thể thấy điểm đến và hoàn thành của tất cả lá thư và cuộc hành trình của chúng ta. Ngài nói: “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, và có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa. Vì Đức Kitô đã chết và sống lại, chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14,7-9).

Thánh Phaolô đã cầm tay chúng ta khi bắt đầu cuộc hành trình, lúc chúng ta còn đắm chìm trong sự vô đạo, “bị tước mất vinh quang Thiên Chúa” và sống “cho chính mình”, ngài đã dẫn chúng ta đến một tình huống mới, nơi chúng ta không còn sống “cho mình”, nhưng là “cho Chúa”. Sống cho mình là sống như một người có nguyên lý và mục đích riêng nơi mình; đó là sống tự mình và sống vì mình. Điều này cho thấy một cuộc sống khép kín, chỉ hướng tới sự thỏa mãn và vinh quang cho riêng mình, mà không có viễn tượng nào về vĩnh cửu. Trái lại, sống cho Chúa, có nghĩa là sống từ Chúa – từ sự sống đến từ Người, từ Thần Khí của Người – và sống vì Chúa, nghĩa là vì vinh quang của Người, đó là sự thay thế nguyên lý chủ yếu: không còn là “tôi”, nhưng là Thiên Chúa: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Không còn coi mình là trung tâm, để Đức Kitô là trung tâm của chúng ta. Đây là một loại cách mạng Copernic được hiện thực hóa trong thế giới nhỏ bé, hay tiểu vũ trụ, là con người. Trong hệ thống cũ của Ptolêmê, trái đất được cho là đứng yên ở trung tâm vũ trụ, trong khi mặt trời quay quanh nó, với tư cách là chư hầu và đầy tớ của nó, để thắp sáng và sưởi ấm nó. Nhưng khoa học, với Copernic, đã đảo ngược quan niệm này về sự vật, cho thấy chính mặt trời đứng yên ở trung tâm, và trái đất quay quanh nó, để nhận từ nó ánh sáng và sức nóng. Để hiện thực hóa cuộc cách mạng Copernic này trong thế giới nhỏ bé của chúng ta, chúng ta cũng phải chuyển từ hệ thống cũ sang hệ thống mới. Trong hệ thống cũ, chính cái tôi – trái đất! – muốn trở thành trung tâm và đặt ra các quy luật, chỉ định cho mỗi vật một vị trí đáp ứng với sở thích của mình: những gì mình thích hoặc những người có thiện cảm với mình thì có chỗ ở gần, còn những gì và những người mình không thích thì có chỗ ở xa. Trong hệ thống mới, chính Đức Kitô – mặt trời công chính! – ở trung tâm và ngự trị, trong khi “cái tôi” khiêm nhường hướng về Ngài, để chiêm ngắm Ngài, phục vụ Ngài và lãnh nhận từ Ngài Thần Khí sự sống.

Đây thực sự là một cuộc sống mới. Đối diện với nó, chính cái chết đã mất đi quyền lực vô song của nó. Mâu thuẫn lớn nhất mà con người từng trải qua, mâu thuẫn giữa sự sống và cái chết, đã được chế ngự; mâu thuẫn triệt để nhất không còn là mâu thuẫn giữa sống và chết, nhưng là giữa sống cho mình và sống cho Chúa. Từ nay, cái chết thực là sống cho mình. Đối với những ai tin, thì sự sống và sự chết chỉ là hai giai đoạn và hai cách sống khác nhau cho Chúa và với Chúa: giai đoạn thứ nhất trong đức tin và đức cậy, theo kiểu hoa quả đầu mùa; giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ sau cái chết của mình, mới là giai đoạn chiếm hữu trọn vẹn và vĩnh viễn. Thánh Tông Đồ viết: “Tôi tin chắc rằng cho dầu là sự sống hay sự chết…, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38). Hiểu theo nghĩa này, ngay cả cái chết cũng có thể là một “mối lợi”, vì nó cho phép người ta được ở “với Đức Kitô” mãi mãi (Pl 1,21tt).

Những lời của thánh Tông Đồ không phải chỉ là những tiếng kêu suông; đằng sau những lời này là một lập luận chặt chẽ. Ngài nói chúng ta thuộc về Chúa (c.8), lý do là “Đức Kitô đã chết và sống lại để làm Chúa” (c.9), nghĩa là để cứu chuộc chúng ta, để thiết lập vương quốc của Ngài nơi ta. “Vì chúng ta thuộc về Chúa, nên hãy sống cho Chúa!” Phần đầu của câu tóm tắt toàn bộ khởi giảng; phần sau tóm tắt tất cả các lời khuyến thiện.

Ở đây, ngài nói với chúng ta rằng lý do chúng ta phải sống cho Chúa, vì chúng ta thuộc về Ngài. Ngài “đã ban thân xác mình để đổi lấy thân xác chúng ta, linh hồn của mình để đổi lấy linh hồn chúng ta”[128]; Ngài đã cứu chuộc chúng ta hoàn toàn. Không một ai có thể mua được ý muốn cũng như thân thể của người khác. Ngay cả trong chế độ nô lệ, ý muốn vẫn tự do. Đối với Đức Kitô thì không như vậy. Ý muốn của chúng ta thuộc về Ngài, và thậm chí chính ý muốn mới đặc biệt thuộc về Ngài. Vì vậy, khi nào chúng ta sử dụng ý muốn để phục vụ cho riêng mình, mà không phục vụ cho chủ nhân hợp pháp của nó là Chúa, là chúng ta làm điều bất công thực sự cho Chúa.

Tuy nhiên, thêm vào lý do công bình này còn có lý do khác là tình yêu. Cũng chính thánh Tông Đồ viết: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người… Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5,14tt). Hơn cả quyền của mình, chính tình yêu của Đấng Cứu Thế thúc đẩy chúng ta đưa ra quyết định. “Người đã yêu chúng ta và đã trao nộp mình vì chúng ta” (Ep 5,2); Ngài đã yêu chúng ta “khi chúng ta còn là tội nhân”, “khi chúng ta còn thù nghịch với Ngài” (Rm 5,6.10). Ngài đặc biệt yêu thương từng người chúng ta: “Người đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi!” (Gl 2,20). Ngài sẽ chết ngay cả khi chỉ có người duy nhất để cứu trên thế giới này. Tình yêu của Đức Kitô thì vô tận, vì là tình yêu của một Thiên Chúa; và vì vô tận nên không thể chia sẻ; về phía Ngài, Ngài yêu cả nhân loại thế nào thì cũng yêu từng người thế ấy. Cũng như trong Thánh Thể, thân xác Chúa hiện diện hoàn toàn nơi mỗi hình bánh trong vô số hình bánh mà Giáo Hội truyền phép. Cũng vậy, tình yêu của Chúa hiện diện đầy đủ nơi mỗi người được Ngài cứu chuộc. Đối với mỗi người chúng ta, Thiên Chúa lặp đi lặp lại những lời sau đây: “Trước mặt Ta, ngươi thật quý giá, vốn được Ta trân trọng và mến thương” (Is 43,4). Thực sự tình yêu của Đức Kitô “thúc bách” chúng ta và bao vây chúng ta từ mọi phía! Ngày xưa, khi một ông chủ mua một người nô lệ, thì không phải vì mến nó, không phải vì muốn điều tốt cho nó, nhưng vì yêu mình, để được nó phục vụ, để nó làm việc cho mình. Nhưng với Chúa Giêsu thì ngược lại. “Ở đây mọi sự đã được làm vì vinh quang của các tôi tớ. Chúa đã không cứu chuộc để kiếm chút lợi lộc nào từ những con người được cứu chuộc, nhưng để thiện ích của Ngài trở thành thiện ích của họ, để chủ nhân và các công việc của chủ nhân là một mối lợi cho các tôi tớ, và để người được mua hoàn toàn chiếm hữu người mua … Các tôi tớ của Đức Kitô chiếm hữu Ngài, thừa tự những thiện ích của Ngài.[129]

Niềm vui có được do biết sống “cho Chúa” đưa chúng ta đến chỗ mà thánh Phaolô thích gọi là tự hào: “Chúng ta tự hào vì hy vọng được hưởng vinh quang Thiên Chúa” (Rm 5,2). Vinh dự này, hay sự tự hào này “là một sự bảo đảm làm ta vui”, khiến cho người được cứu chuộc sống trên một bình diện hoàn toàn xa lạ với người sống trên bình diện tự nhiên, người không có đức tin. Nó có được là do hy vọng vào vinh quang của Thiên Chúa và những gian truân không làm cho nó mất đi; ngược lại, nó biến chính gian truân thành động lực tự hào (x. Rm 5,4), vì “Tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vính quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18).

Một cách cụ thể, sống “cho Chúa” có nghĩa là sống cho Giáo Hội là thân thể của Ngài. Bởi vậy, quyết định phục vụ Đức Kitô theo cách mới nhất thiết phải chuyển thành quyết định đảm nhận vai trò của mình, dù nhỏ hay lớn, để phục vụ anh em trong cộng đồng, hoặc tiếp tục công việc đó nếu đã từ bỏ nó, sẵn sàng cho những nhu cầu của giáo xứ hoặc cộng đồng tu trì của chúng ta, không giữ gì cho riêng mình, và bày tỏ với cấp trên của chúng ta – nếu trong quá khứ có thể có điều gì đó về vấn đề này – là từ đây chúng ta muốn lại vâng phục trong mọi việc.

Cuối cuộc hành trình tái phúc âm hóa và đổi mới đời sống thiêng liêng, chúng ta phải có một quyết tâm, đó là lại chọn Đức Giêsu làm Chúa duy nhất của đời sống chúng ta. Chính ở điểm này mà phép rửa của chúng ta, như nói lúc đầu, được “hoàn tất”: chúng ta tháo dây buộc bí tích, để một sức mạnh mới thoát ra từ đó, và để các đặc sủng được ban cho ta nhằm “lợi ích chung” (x. 1Cr 12,7), có thể biểu lộ trong đời sống hoặc thừa tác vụ của chúng ta”. Cách đơn giản nhất để diễn tả quyết định này là học cách tuyên xưng: “Đức Giêsu là Chúa!” và tuyên xưng theo một cách mới, “trong Thần Khí”, với sức mạnh đã giúp Tông Đồ Phaolô có thể nói: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,9). Tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa với lòng tin, chính là hiệp thông cách mầu nhiệm vào cái chết và sự sống lại của Ngài. Tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa không chỉ là một lời khẳng định, nhưng nói lên một quyết định: tự do vào sống trong lãnh vực quyền chúa tể của Ngài; đó là nhìn nhận Ngài là Chúa của mình; tức là nhìn nhận Đức Giêsu là Chúa của tôi; Ngài là lẽ sống của tôi; tôi muốn sống cho Ngài, chứ không còn sống cho tôi nữa!” Những lời tuyên xưng như vậy có sức mạnh thật lớn. Phúc âm là “quyền năng Thiên Chúa dành cho những ai tin”, hoạt động trong những lời ấy. Chúng là bức tường thành vững chắc chống lại quyền lực cúa Ác thần, bên trong và bên ngoài chúng ta.

Bàn về luật của Thần Khí, chúng ta đã từng nói cần phải “tự ràng buộc mình” vào chính lúc chúng ta khám phá ra Tình Yêu và lúc chúng ta có nguy cơ đánh mất nó, hoặc thay đổi ý muốn, vì tính khí chúng ta thất thường. Giờ đây là lúc làm điều đó. Quyết định cam kết này có thể dưới hình thức lặp lại các lời hứa khi chịu phép rửa tội, lời khấn dòng hoặc hình thức đơn giản hơn, một lời hứa, một sự quyết tâm… Không phải ai cũng có thể tuyên các lời khấn truyền thống, nhưng tất cả đều có thể thực hiện một “lời khấn”… Các lời khấn dòng ra đời như một sự “nối dài” của lời hứa căn bản lúc chịu phép rửa, là muốn sống “cho Chúa”, hoàn toàn tận hiến và phó thác cho Người, khi sống cũng như lúc chết. Để thực hiện những việc lớn nơi chúng ta, Thiên Chúa mong muốn chúng ta đặt tất cả tự do của mình vào tay Người.

Trong cuộc đời của Chân Phước Angela Foligno, một nhà thần bí lớn từ nay được nhiều người biết đến, có một sự kiện có thể giúp chúng ta hiểu những gì đang nói ở đây. Từ lâu bà đã từ bỏ thế gian và tội lỗi, và sống một cuộc đời thật khổ hạnh, từ bỏ mọi của cải. Nhưng một hôm, bà thấy còn một việc phải làm, thấy Thiên Chúa chưa thực sự là tất cả cho mình, vì một đàng linh hồn thực sự muốn Thiên Chúa, nhưng đàng khác, cùng lúc nó muốn nhiều sự khác nữa. Khi đó, bà cảm thấy như phải thống nhất cả con người của mình, thể xác phải là một với linh hồn, ý muốn phải là một với trí khôn, để chỉ còn một ý muốn mà thôi. Lúc ấy, bà nghe thấy tiếng Chúa nói tự trong thâm tâm: “Con muốn gì, Angêla?”, và với tất cả sức lực của mình, bà kêu lên: “Con muốn Thiên Chúa!” và Thiên Chúa trả lời: “Ta sẽ thực hiện ý muốn của con”[130]. Qua tiếng kêu này, bà đã hoàn toàn từ bỏ sự tự do của mình, thế rồi, Thiên Chúa đã giúp Angêla kiến tạo một cuộc đời thánh thiện tuyệt vời, một cuộc đời không ngừng soi sáng Giáo Hội và thế giới suốt tám thế kỷ qua. “Con muốn Thiên Chúa!” Quả là những lời cao đẹp mà một con người có thể nói lên. Câu mạnh mẽ nhất mà Thiên Chúa có thể thốt ra – và thực sự Người thường thốt ra trong Kinh thánh – chính là: “Ta là Thiên Chúa!”

Giờ đây, câu hỏi này được đặt ra cho chúng ta, nếu chúng ta biết lắng nghe. Nơi tận thâm tâm chúng ta, Thiên Chúa gọi tên chúng ta và hỏi: “Con muốn gì?” Thật phúc cho những ai, bằng tất cả con người của mình và với sức mạnh Chúa Thánh Thần ban cho, can đảm đáp lại: “Con muốn Thiên Chúa!” Con muốn sống “cho Chúa”.

 

[1] Aristote, Métaphysique, XII, 7, 1072 b

[2] Saint Augustin, De catechizandis rudibus I, 8, 4; PL 40, 319

[3] S. Kierkegaard, Discours chrétiens, L’Evangile des souffrances, IV.

[4]  Sénèque, De Providentia, 2, 5 s.

[5]  Saint Irénée, Adversus haereses IV, 20, 7.

[6]  Ibid. IV, 13, 4 – 14, 2.

[7]  Saint Augustin, Confessions III, 6.

[8]  Evangelium Veritatis (Code de Nag-Hammadi).

[9]  Saint Jean de la Croix, Cantique spirituel A, str. 38.

[10]  Saint Thomas d’Aquin, Summa theologiae, II-IIae, q. 24, a. 3, 2.

[11]  Julienne de Norwich, Révélations de l’amour de Dieu, Paris, Oudin, 1910, chap. V, 52 et 60.

[12]  Le Livre de la bienheureuse Angèle de Foligno, Quaracchi, 1985.

[13]  S. Kierkegaard, La Maladie mortelle, II, chap. 2.

[14]  Saint Augustin, De natura et gratia. 22, 24; CSEL 60, 250.

[15]  K. Marx, Manuscrit de 1844, in Gesamtausgabe, III. Berlin 1932, p. 124 et Critique de la philosophie du droit de Hégel, in Gesamtausgabe, I, 1, Francfort-sur-le-Main 1927, p. 614 s.

[16]  J.-P. Sartre, Le diable et le bon Dieu, X, 4.

[17]  S. Kierkegaard, La Maladie mortelle, I, A.

[18]  Saint Bernard, De gradibus humilitatis X, 36.

[19]  F. Nietzsche, Le Gai Savoir, n. 125.

[20]  Cf. Origène, Commentaire sur la lettre aux Romains II, 2; PG 14, 873.

[21]  Macaire l’Egyptien, De libertate mentis 116; PG 34, 936.

[22]  Saint Augustin, L’Esprit et la lettre, 32, 56 (PL 44, 237).

[23]  Luther, Préfaces aux oeuvres latines, (éd. Weimar, 54, p. 186).

[24]  Saint Cyrille d’Alexandrie, Commentaire à l’Evangile de Luc, 22, 16 (PG 72, 95).

[25]   Denzinger-Schonmetzer, Enchiridion Symbolorum, 1548.

[26]  Saint Bernard, Sermons sur le Cantique 61,4-5; PL 183, 1072.

[27]  Saint Cyrille de Jérusalem, Catéchèses 5, 10; PG 33, 517.

[28]  Voir Saint Jean Chrysostome, De coemeterio; PG 49, 396; N. Cabasilas, De vita in Christo, I, 5; PG 150, 517.

[29]  Homélie pascale de l’année 387 (S.Ch. 36, p. 59 s.).

[30]  Voir H. Schlier, Der Romerbrief, Fribourg Br. 1977, p. 238.

[31]  Voir Saint Augustin, Enarrationes in Psalmos 93, 19 (CCL 39, p. 1320.

[32]  Le Livre de la Bienheureuse Angèle de Foligno, p. 148.

[33]  Saint Léon le Grand, Sermon 70, 5 ; PL 54, 383; B. Pascal, Pensées, n.553, éd. Brunschvicg.

[34]  Saint Basile, De Spiritu Sancto, XV, 35; PG 32, 129.

[35]  Saint Augustin, Enarrationes in Psalmos, 120, 6; CC 40, p. 1791.

[36]  Saint Jean Chrysostome, Homélies sur 1 Corinthiens 4, 4 ; PG 61, 35 s.

[37]  Saint Siméon le Nouveau Théologien, Catéchèse VI; SCh 104, p. 44 s.

[38] Cf. I. Gorainoff, Saint Séraphin de Sarov, Bellefontaine – Paris 1979.

[39]  cf. Charles Péguy, Le Porche du mystère de la deuxième vertu, Gallimard, Paris, 1975, p. 358 s.

[40]  Saint Léon le Grand, Sermo 66, 3; PL 54, 366.

[41]  Charles Péguy, op. cit., p. 531 s.

[42]  Bossuet, Oeuvres complètes, IV, Paris, 1836, p. 365.

[43]  Platon, Symposium, 203 a

[44]  Aristote, Métaphysique XII, 7, 1072 b.

[45]  Apulée, De deo Socratis, 12 (Teubner 1908), p. 20.

[46]  Tertullien, Adversus Marcionem II, 16; CCP I, p. 493.

[47]  Origène, Homélies sur Ézéchiel 6, 6 (GCS, 1925, p. 384 s.); cf. aussi Tomoi sur Matthieu 10, 23 (GCS, 1935, p. 33).

[48]  Imitation de Jésus-Christ III, 5.

[49]  Saint Grégoire le Thaumaturge, Ad Theopompum (ed. Pitra, Amalecta sacra IV, 1883, p. 363 s.)

[50]  Origène, Homélies sur la Genèse 8, 12 (CGS, 29, p. 84).

[51]  Saint Augustin, Confessions X, 43.

[52]  Tertullien, Adversus Praxean 29; CCL 2, 1203.

[53]  Cf. Denzinger-Schonmetzer, Enchiridion symbolorum 201.222.

[54]  Cf. K. Kitamori, Theology of the Pain of God, Richmond, 1965

[55]  K.Barth, Dogmatique ecclésiastique IV/1, 303 s.

[56] Dominum et vivificantem, n. 39.

[57]  Saint Thomas d’Aquin, Summa Theologiae III, q. 47, a. 3.

[58]  Saint Bernard, De errore Abelardi, 8, 21 (PL 182, 1070; cf. aussi Saint Anselme de Cantorbéry, Meditatio redemptionis humanae (éd, F, S, Schmitt, Opera omnia III, Stuttgart 1968, p. 84 s.

[59] S. Kierkegaard, Journal, III A 73.

[60]  Saint Irénée, Adversus haereses V, 1, 3.

[61]  Evangelium veritatis (Codes de Nag-Hammadi)

[62]  Saint Augustin, Sur la première lettre de Jean 4, 6 (PL 35, 2009.

[63]  Saint Ambroise, Sur les sacrements I, 4, 12.

[64]  Anonyme anglais, Le nuage de l’inconnaissance, 40

[65]  Blaise Pascal, Pensées, n. 553 Br.

[66]  Voir F. Nietzsche, Le Gai Savoir, n. 135

[67]  Saint Augustin, Confessions VIII, 7, 12.

[68]  S. Kierkegaard, Pour l’examen de soi-même: Lettre de saint Jacques I, 22.

[69] Cf. Tertullien, De paenitentia 4, 2; 12, 9; CCL 1, p. 326-340.

[70]  Jean-Paul II, Encyclique Salvifici doloris, n. 23.

[71]  Apophtegmata Patrum, Paemen 37; PG 65, 332.

[72]  Julienne de Norwich, Révélations de l’amour de Dieu, chap. 27.

[73]  Saint Augustin, Sermo Mai 158, 4; PLS 2, 525.

 

 

[74]  Sévérien de Gabala, dans Catena in Actus apostolorum 2, 1, (ed. J. A. Cramer, 3, Oxford 1838

[75]  Saint Augustin, De Spiritu et littera 16, 28; CSEL 50, 182.

[76] Voir S. Lyonnet, Liberté chrétienne et loi de l’Esprit selon saint Paul, dans I. de La Potterie – S. Lyonnet, La vie selon l’Esprit, condition du chrétien, ed. Du Cerf, Paris, 1965.

[77] Saint Augustin, De civitate Dei, XIV, 28.

[78]  Cf. Luther, Sermon de Pentecôte, ed. Weimar 12, p. 586 s.

[79]  Saint Thomas d’Aquin, Summa theologiae, I-IIae, q. 106, a. 2.

[80]  Ibid., q. 106, a. 1; cf. saint Augustin, De Spiritu et littera, 21, 36.

[81]  N. Cabasilas, La Vie dans le Christ, II, 8; PG 150, 552 s.

[82]  saint Augustin, Commentaire à l’Évangile de Jean, 26, 4-5 (CCL 36, 261); Confessions, XIII, 9.

[83]  Imitation de Jésus-Christ, III, 5.

[84]  J.P. Sartre, Les Mouches, Paris, 1943, p. 134 s.

[85]  Saint Augustin, De Spiritu et littera 19, 34.

[86]  S. Kierkegaard, Les Oeuvres de l’amour, I, 2, 40.                               

[87]  Origène, Commentaire sur la lettre aux Romains 5, 8; PG 14, 1042 A.

[88]  Cf. J. Delumeau, Histoire vécue du peuple chrétien, ed. Privat, 1979.

[89] Saint Augustin, Enarrationes in Psalmos 32, 8; CCL 38, p.253; Commentaire à l’Évangile de Jean 65, 1; CCL 36, p. 491.

[90]  Diadoque de Photicé, Chapitres sur la perfection 61, SCh. 5, p. 121.

[91]  Bh. Raymond de Capua, Légende majeure, 113.

[92]  Tertullien, De oratione 2, 3; CCL 1, 258.

[93]  Saint Augustin, Enarrationes in Psalmos 85, 1.

[94]  Saint Igance d’Antioche, Lettre aux Romains 7, 2.

[95]  Saint Augustin, De vera religione 39, 72; CCL 32, 234.

[96]  Denzinger-Schonmetzer, Enchiridion symbolorum, n. 1536.

[97]  Saint Augustin, Confessions X, 29.

[98]  Saint Ambroise, De Cain et Abel I, 39; CSEL 32, 1, p. 372.

[99]  Saint Grégoire le Grand, Homélies sur Ezéchiel II, 7; PL 76, 1018.

[100]  Cf. Saint Augustin, Sermo 169, 11. 13 (PL 38, 923).

[101]  S. Kierkegaard, Journal X A 154.

[102]  Saint Augustin, Sermo 304, 2 (PL 38, 1395 s.

[103] Saint Séraphin de Sarov, Colloque avec Matovilov, dans I. Gorainoff. p. 110.

[104]  Cf. Dorothée de Gaza, Enseignements, VI; SCh 92, p. 72.

[105]   Saint Augustin, Commentaire sur la Premìère lettre de saint Jean 7, 8; PL 35,2023.

[106]  Saint Francois d’Assise, Admonitions, XX (éd. Saint Francois d’Assise, Documents, Ed. Franciscaines, Paris, 1968, p. 50).

[107]  Voir B. Pascal, Pensées, n. 147 Br.

[108]  Sainte Thérèse d’Avila, Château intérieur, VI, chap. X.

[109]  Le Livre de la Bienheureuse Angèle Foligno, p. 737.

[110]  Apophtegmata Patrum, Antoine 7 (PG 65,77).

[111]  Les “Fioretti” de saint Francois, chap. X (Document 1084)

[112]  Saint Bernard, Sermons sur le Cantique, XVI, 10 (PL 183, 583).

[113]  M. Luther, Commentaire sur le Magnificat (ed. Weimar 7, p. 555 s.).

[114]  Bl. Pascal, Pensées, n. 150 Br.

[115]  M. Heidegger, Être et Temps, II, chap. 2, par. 58.

[116]  Saint Francois d’Assise, Lettre a tout l’Ordre, 28; Admonitions I; Louanges de Dieu (Documents, p. 41, 124, 150).

[117] Saint Irénée de Lyon, Démonstration de la prédication apostolique, 34.

[118]  Lumen gentium n.40

[119]  Ibid.

[120]  Saint Ignace d’Antioche, Lettre a Polycarpe, 4, 1.

[121]  Saint Augustin, Confessions VIII, 11.

[122]  Saint Augustin, Confessions VIII, 12.

[123]  Saint Cyrille de Jérusalem, Catéchèses, XIII, 20 (PG 33, 1041).

[124] Lettre a Diognète, 5, 5.

[125]  F. Dostoievski, Lettre à sa nièce Sonjia Ivànova.

[126]  Actes du martyre des saintes Félicité et Perpétue (PL 3, 35).

[127]  Saint Augustin, Confessions VI, 11; X, 29)

[128]  Saint Irénée, Adversus haereses V, 1, 1.

[129]  N. Cabasilas, La vie dans le Christ, VII, 5 (PG 150, 717).

[130]  Livre de la bienheureuse Angèle de Fologno, Quaracchi, 1985, p. 316.