Raniero Cantalamessa
Lm. Micae Trần Đình Quảng chuyển ngữ
Dịch theo bản tiếng Pháp
AIMER AUTREMENT
Éditions des Béatitudes, Paris 2004

MỤC LỤC

Lời nói đầu của nhà xuất bản

I. SỰ ĐỒNG TRINH

1. Dẫn nhập

2. Những động lực Kinh Thánh của sự đồng trinh và độc thân vì Nước Trời

– có những người không kết hôn vì Nước Trời

– đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa

– sự đồng trinh và mầu nhiệm vượt qua

3. Sống sự đồng trinh và độc thân vì Nước Trời như thế nào

– hôn nhân và đồng trinh: hai đặc sủng

– những phương tiện nuôi dưỡng độc thân và đồng trinh

– Đức Trinh Nữ Maria

4. Kết luận

II. SỰ VÂNG PHỤC

1. Canh tân sự vâng phục trong Thần khí

2. Sự vâng phục của Đức Kitô

3. Vâng phục là một ân sủng: Phép Rửa tội

4. Vâng phục là một “bổn phận”: ý nghĩa của đoạn thư Rm 13,1-7

5. Vâng phục Thiên Chúa trong đời sống Kitô giáo

6. Vâng phục và quyền bính

7. Đức Maria, người nữ vâng phục

8. Lạy Thiên Chúa, này con đây

III. SỰ NGHÈO KHÓ

1. Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo

– những người nghèo, họ hiện hữu

– “các ngươi đã không làm cho chính Ta”

– yêu thương, giúp đỡ, phúc âm hóa người nghèo

2. Người đã trở nên nghèo khó vì anh em

– canh tân sự nghèo khó trong Thần Khí

– sự nghèo khó trong cuộc đời Đức Giêsu

– phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó

3. Anh em không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được

– sự nghèo khó tinh thần phải chống lại

– người nghèo khổ

– tôn thờ tiền bạc, cội rễ sinh ra mọi điều ác

– ở trần gian này, con không muốn gì ngoài Chúa

– “khóc lên đi, hỡi anh em là những người giầu có

4. Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em

– sự nghèo khó tinh thần phải tìm kiếm

– “nghèo” và “có tâm hồn nghèo”

– lý tưởng Kinh thánh về sự nghèo khó trong tâm hồn

– sống mối phúc của những người nghèo như thế nào

– nghèo khó và trở về hiệp nhất

– “hãy trở vào trong chính bạn”

 

LỜI NÓI ĐẦU
CỦA NHÀ XUẤT BẢN

Trong năm 1990, ba phần của cuốn sách này là tựa đề cho ba tập sách nhỏ đã được viết và ấn hành liên tiếp nhau. Nhưng vào lúc ấy, khi cha Cantalamessa đề nghị xuất bản những gì ngài đã viết về các chủ đề này, ngay lập tức chúng tôi nghĩ nên gom các suy tư này vào trong một tác phẩm duy nhất trình bầy toàn bộ suy tư của tác giả về đề tài này.

Hai tập đầu tiên đã hết từ lâu khiến cho việc thực hiện công việc này trở nên cấp bách. Ấn bản này làm công việc đó.

Những tác phẩm tu đức về các lời khấn dòng, các lời khuyên Phúc Âm, có khá nhiều. Thông thường chúng được các nhà chuyên môn về đời sống tu dòng viết ra, và được coi là hầu như chỉ dành cho những tu sĩ nam nữ. Cuốn sách này có hai nét độc đáo.

Một đàng, nó lấy lại giáo huấn của cha Cantalamessa, không phải cho những người thánh hiến, hoặc vào dịp tĩnh tâm cho các tu sĩ nam hay nữ, nhưng cho giáo dân, cho các người trẻ họp nhau lại, cho thành viên các nhóm cầu nguyện. Nó cho thấy kiểu cách sống của Đức Giêsu và giáo huấn của Ngài về sự đồng trinh, vâng phục, nghèo khó, không chỉ liên hệ với một hạng Kitô hữu, những người lựa chọn đời sống tu dòng hay thánh hiến vì Nước Trời, nhưng cho tất cả những người đã được rửa tội, tất cả những người muốn cho lời mời gọi theo Đức Kitô trên con đường sống theo Phúc Âm là quan trọng.

Nét độc đáo thứ hai ở trong góc độ tiếp cận của tác giả. Dựa trên lời Chúa, cha cho thấy phải coi những lệnh truyền này trước hết như một cách “biểu hiện đặc biệt của Thần Khí”, một đặc sủng, nghĩa là một ân sủng, một ân huệ nhận được từ Thiên Chúa hơn là một quà tặng dâng cho Thiên Chúa. Và những đặc sủng này được ban vì ích lợi của mọi người, trong một số thời điểm và một vài lãnh vực của đời sống.

Ước vọng của chúng tôi khi xuất bản tác phẩm này là có thể giúp cho mỗi độc giả, dù có gia đình, sống độc thân, sống đời thánh hiến hay linh mục, khám phá cho chính mình những lệnh truyền này của đời sống Phúc âm, làm sao sống những lệnh truyền này trong khoa tu đức “đặt ân sủng lên hàng đầu”, mà tầm quan trọng đã được Đức Gioan Phaolô II nhắc lại trong Tông huấn cho ngàn năm thứ ba.

I

SỰ ĐỒNG TRINH

 1. Dẫn nhập

 Sự đồng trinh hay độc thân là một lời khuyên cho mọi người, và bằng cách khác, cũng là một lệnh truyền cho mọi người. Quả thực, không chỉ là một bậc sống tự do lựa chọn cho tất cả cuộc đời, nó còn là một bổn phận, hoặc đúng hơn, một lý tưởng và một lời mời gọi Phúc âm cho mọi người, vào một thời kỳ nhất định trong cuộc đời của họ, một lời mời gọi đi trước sự lựa chọn vĩnh viễn ơn gọi riêng của mình.

Theo nghĩa này, lời mời gọi như vậy không chỉ dành cho các tu sĩ và những người chuẩn bị làm linh mục, nhưng cho mọi người đã được rửa tội. Những lý do đồng trinh vì Nước Trời như chúng ta thấy, cũng có thể nâng đỡ và “là lý do” cho nỗ lực của một thiếu nữ hay một thanh niên tín hữu, để họ gìn giữ xác hồn được trong sạch và nguyên vẹn cho đến ngày cưới. Nếu sự đồng trinh là điều cho phép người được thánh hiến có thể nói: “Bao quả thơm trái tốt, em dành hết cho anh” (Dc 7,14), thì việc giữ mình nguyên vẹn cho hôn nhân là điều cho phép dâng cho người yêu ngày cưới một quà tặng vô giá mà hai bên đều âm thầm mong muốn, cho phép hợp ý với nhau nói chính những lời trên theo nghĩa đen nhất: “Bao quả thơm trái tốt, em/anh dành hết cho anh/em, hỡi người em/anh yêu.”

Việc này là thế, chưa kể đến việc người ta không thể nói về sự đồng trinh hay độc thân mà không ngừng tham chiếu hôn nhân, và do đó chuyện bàn về đồng trinh và độc thân, cũng là chuyện bàn về hôn nhân; ngay cả qua một số khía cạnh, đây là cách tốt nhất để, bằng cách so sánh, khám phá ra bản chất và sự tốt lành của đặc sủng riêng cho hôn nhân.

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến một cuộc tấn công thực sự của văn hóa chung quanh, chống lại giá trị của sự đồng trinh. Theo khuynh hướng ai nấy đều biết rõ là khinh rẻ những gì người ta đánh mất hoặc không đạt được (cũng như khuynh hướng khiến cho con cáo trong chuyện ngụ ngôn nói về những chùm nho: Nondum matura est, Nho còn xanh quá), văn hóa thế tục nghi ngờ, thậm chí chế nhạo, giá trị truyền thống của sự đồng trinh, được chính bản tính bảo vệ bằng sự e thẹn, một cách gìn giữ tế nhị nhưng bền bỉ. Con trai con gái bị môi trường thúc bách – thường ra ngay cả do môi trường học đường, mà lẽ ra phải giúp chúng đạt tới trưởng thành – xấu hổ về sự trong sạch của chúng, làm đủ cách để che giấu nó, thậm chí bịa ra những kinh nghiệm giả mạo mà chúng không có, chỉ để tỏ ra mình không khác với mọi người. Có người đã nói: Sự giả hình, ngày xưa là nợ mà nết xấu trả cho nhân đức, thì ngày nay là nợ mà nhân đức trả cho nết xấu.

Người ta cũng cảm thấy hiệu quả của một cuộc tấn công quá điên rồ dội lại trong lòng Giáo hội; không thể khác được, vì chúng ta đang sống và hít thở bầu không khí của thế giới này, một thế giới công kích chúng ta, làm chúng ta mất đi việc Phúc âm hóa, bằng đủ mọi phương thế bên ngoài cũng như bên trong ngôi nhà. Đôi khi chúng ta nghe nói, sự độc thân và đồng trinh không cho phép con người phát triển lành mạnh và đầy đủ; không cho phép đàn ông là đàn ông cách đầy đủ, phụ nữ là phụ nữ cách đầy đủ. Tôi thấy một hậu quả của việc đó trong cách chuẩn bị mục vụ về các ơn gọi.

Khi tham dự các cuộc gặp gỡ về ơn gọi, đôi khi tôi có cảm tưởng là lời mời theo tiếng gọi sống đời thánh hiến đặc biệt, được đưa ra với ẩn ý mặc nhiên nhưng rõ ràng là: “Cứ chọn cuộc sống của bạn đi, cho dù là độc thân hay đồng trinh; quả thực bạn sẽ góp phần làm cho nước Chúa trị đến, giúp đỡ người nghèo, làm cho đám đông ý thức, không nô lệ cho những sự vật của thế giới này, cổ võ cho công bằng xã hội.” Tôi tưởng rằng chúng ta chỉ cần xét lại mình thiếu lòng tin và can đảm mời gọi các bạn trẻ chọn đời sống thánh hiến, không phải cho dù có sự độc thân hay đồng trinh trong đời sống ấy, nhưng vì, hoặc ít nhất cũng vì, sự đồng trinh và độc thân này. Cũng như trong quá khứ và thuở đầu của Giáo hội, có lẽ chính lý tưởng này sẽ thu hút các bạn trẻ; và sẽ lôi kéo họ đến cuộc sống tu dòng hay linh mục, thay vì khiến họ rời xa nó.

Đồng trinh vì Nước Trời là một giá trị huy hoàng mà những thị hiếu và thời gian không thể làm phai nhòa. Mọi lực lượng có thể liên minh – cả sự khôn ngoan của thế gian lẫn những khoa học gọi là nhân văn – để phản đối hình thức đời sống này, đến chỗ coi nó như “một sự ô nhục của quá khứ”; gieo rắc mọi nghi ngờ trên nó; có thể thêm vào đó là mọi tội lỗi và những bất trung của ngay cả những người đã chọn đời sống ấy. Tuy vậy, nó vẫn tồn tại, vì Đức Giêsu đã thiết lập nó. Không một ai sẽ có thể làm cho cây này bật rễ, cây mà Con Thiên Chúa đã dùng đôi tay của mình mà trồng khi Ngài xuống thế.

Vào một thời kỳ như thời của chúng ta, thời mà sự lạm dụng trong lãnh vực tính dục đe dọa chính những nguồn mạch của sự sống, thời mà tạo hóa gửi đến những dấu chỉ tai hại về những cuộc phản kháng, thì bổn phận và cũng là niềm vui cho người tín hữu là tái khám phá thế phải lựa chọn triệt để, được Phúc Âm đề ra. Thế phải lựa chọn này không khiến cho giới tính bị loại bỏ hoặc cảm thấy có lỗi, nhưng làm sáng tỏ tính chất nhân bản, tự do và lý tính của nó, không cho nó thoái hóa thành bản năng thuần túy hay tầm thường. Như thi sĩ Tagore nói: “Khiết tịnh là một sự phong phú do sự phong phú của tình yêu” (không phải vì thiếu tình yêu).

2. Những động lực theo Kinh Thánh của sự đồng trinh và độc thân vì Nước Trời

“Có những người không kết hôn vì Nước Trời”

Ở đây, tôi sẽ nói về sự độc thân, sự đồng trinh, sự tự ý tiết dục, không phân biệt; vì đấy là tất cả những cách gọi thực tế chỉ cùng một thực tại, hoặc ít nhất cùng một bậc sống. Cá nhân tôi, tôi thích sử dụng hạn từ đồng trinh nhiều nhất. Quả thực, Tân Ước không dành tước hiệu này cho những phụ nữ không lấy chồng, nhưng cũng sử dụng nó cho những đàn ông không lấy vợ. Sách Khải huyền gọi những người không lấy vợ là “đồng trinh”, nhờ vậy “Con Chiên đi đâu, họ cũng đi theo đó ” (Kh 14,4).

Người ta thấy bậc sống này được thiết lập trong Phúc Âm Matthêu chương 19: “Các môn đệ thưa Người: “Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn”. Nhưng Người nói với các ông: “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn, lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu.” (Mt 19,10-12).

Trong nhiều bản dịch, những chữ “không thể kết hôn” được dịch là “hoạn quan”. Chữ “hoạn quan” hơi khó nghe đối với người thời nay, và cũng khó nghe đối với người thời Đức Giêsu. Theo một số người, việc chọn từ lạ lẫm này có lẽ là do các đối thủ của Đức Giêsu đã tố cáo Ngài là một hoạn nhân, vì Ngài không lập gia đình, như đã nhiều lần tố cáo Ngài là mê ăn uống và say sưa (x. Mt 11,19). Đó là một lời rất xúc phạm, vì theo não trạng Do thái đương thời, lập gia đình là một bổn phận luân lý; và lời kết án của rabbi Eléazar được nhiều người biết đến, theo đó một người đàn ông không có vợ thì không phải là người[1]. Đức Giêsu hẳn lấy lại lời tố cáo này của các đối thủ, và một cách nào đó biến nó thành của mình, nhưng giải thích bằng cách mạc khải một cách thức hoàn toàn mới mẻ và đặc biệt cho thấy thế nào là hoạn nhân.

Theo Đức Giêsu, có những người không kết hôn (tương đương với hoạn nhân mà không mang tính bút chiến), vì từ khi lọt lòng mẹ, họ không có khả năng do một khiếm khuyết tự nhiên nào đó. Có những người không kết hôn vì bị ngăn trở do lỗi của con người hoặc của những hoàn cảnh của cuộc sống. Cuối cùng, có những người không kết hôn vì Nước Trời. Trong trường hợp sau cùng này, từ hoạn nhân mang một ý nghĩa khác, không phải thể lý nhưng luân lý. Truyền thống Kitô giáo đã luôn giải thích như vậy, trừ trường hợp ai cũng biết của Origen, người đã hiểu lời Phúc Âm theo mặt chữ, ngược lại thói quen của mình, đã tự hoạn, và sau đó phải trả giá đắt vì sự sai lầm của mình.

Việc Nước Trời được nêu ra lập tức đưa vào trong diễn từ của Đức Giêsu một chiều kích mầu nhiệm, còn được bồi thêm bằng một câu vắn gọn kết thúc: “Ai hiểu được thì hiểu”, nói khác đi, ai có ơn ban để hiểu thì sẽ hiểu.

Như vậy một bậc sống thứ hai phát sinh trên thế giới và tự ý không kết hôn vì Nước Trời là hiến chương nền tảng của bậc này. Quả thực, trước Đức Giêsu, đã không có một điều kiện sống nào có thể sánh được với điều kiện do Ngài thiết lập, ít nhất trong những động cơ, nếu không muốn nói là trong những sự kiện. Những người Essêni ở Qumrân đã biết và cũng đã thực hành một hình thức sống độc thân, nhưng sự độc thân này, đối với họ, có một nghĩa phụ khổ chế là từ bỏ và trong sạch, hơn là một nghĩa phụ cánh chung. Lý do không phải do Nước Trời đến, nhưng là chờ mong Nước này. Vả lại, cũng chỉ có thể là như thế. Chỉ có sự hiện diện của Nước Trời trên thế gian mới có thể thiết lập một lối sống thứ hai có thể có, là sống độc thân “vì Nước Trời”.

Điều đó không hủy bỏ lối sống kia, tức lối sống hôn nhân, nhưng tương đối hóa nó. Người ta cũng đi đến kết luận như thế trong những gì liên hệ tới ý tưởng về Nhà Nước trong lãnh vực chính trị: lãnh vực này không bị hủy bỏ, nhưng được tương đối hóa tận căn do mạc khải về sự hiện diện – đồng thời trong lịch sử – của Nước Thiên Chúa. Sự tiết dục hoàn toàn trước hôn nhân hơi giống với Nước Thiên Chúa trước vương quốc của Cêsar: không loại bỏ, nhưng làm vương quốc này xuất hiện trong một vị thế khác với vị thế trước đây, không còn là sự kiện độc nhất trước mắt nữa. Vì Nước Thiên Chúa thuộc một trật tự cao cả khác với trật tự của vương quốc Cêsar, nên bên này không nhất thiết phải chối bỏ bên kia để tồn tại. Cũng vậy không nhất thiết phải chối bỏ hôn nhân để sự tiết dục tự ý được công nhận là thành sự. Ngược lại sự tiết dục ấy chỉ có ý nghĩa khi có sự quả quyết đồng thời về hôn nhân.

Chiều kích tiên tri của sự đồng trinh và độc thân

Để hiểu hình thức sống mới mẻ này và lý do thâm sâu hiện hữu của nó (ít nhất một lần trong đời, phải cố gắng hiểu nó, đặc biệt nếu hình thức sống mới đó là của chúng ta), phải đi từ động cơ được Đức Giêsu chấp nhận: “vì Nước Trời”. Bản chất và lời biện minh cho sự đồng trinh và độc thân tùy thuộc vào chính bản chất của Nước Trời (Nước Trời là kiểu nói Matthêu dùng thay cho Nước Thiên Chúa; là người Do Thái tốt, ông muốn tránh đề cập trực tiếp Thiên Chúa, nhưng cả hai chỉ cùng một thực tại).

Vậy Nước Trời có một đặc điểm mà ngày nay người ta diễn tả bằng kiểu nói rất thích hợp: “đã” và “chưa”. Nước Trời đã có đó, đã đến rồi, đang hiện diện. Đức Giêsu nói: “Nước Trời đã đến gần, đang ở giữa các ông”. Nhưng theo một nghĩa khác, Nước Trời chưa đến; nó phải đến, và chính vì vậy chúng ta vẫn cầu xin cho “Nước Cha trị đến”.

Vì Nước Trời đã đến, vì nhờ Đức Kitô mà ơn cứu độ cuối cùng đang tác động trên thế gian – và đây là hậu quả có liên hệ với chúng ta – nên những người được Thiên Chúa kêu gọi có thể ngay từ lúc này, lựa chọn sống như chúng ta sẽ sống trong điều kiện cuối cùng của Nước Trời. Chúng ta sẽ sống trong điều kiện cuối cùng này như thế nào? Chính Đức Giêsu đã nói trong Phúc Âm Luca: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại” (Lc 20,34-36; x. Mt 22,30).

Chiều kích tiên tri của sự đồng trinh và độc thân vì Nước Trời chính xác là ở đó. Hình thức sống mới này cho thấy điều kiện cuối cùng của con người kéo dài tới vĩnh cửu sẽ ra thế nào, qua cuộc sống đơn thuần của nó mà không cần phải nhiều lời. Đó là cuộc sống mang tính tiên tri. Trong quá khứ, người ta đã tranh luận nhiều xem có phải sự đồng trinh là bậc sống hoàn hảo hơn hôn nhân, và nếu đúng như vậy thì theo nghĩa nào. Theo tôi, về phương diện hữu thể học tức tự nó, nó không phải là một bậc sống hoàn hảo hơn (mỗi bậc sống đều hoàn hảo cho những ai được kêu gọi vào bậc sống ấy), nhưng nó là bậc sống cao hơn xét về phương diện cánh chung, theo nghĩa nó giống hơn với tình trạng vĩnh viễn mà tất cả chúng ta đang đi tới. Thánh Cyprianô viết cho các trinh nữ Kitô hữu đầu tiên: “Chị em đã bắt đầu là thế nào thì chúng tôi sẽ là như vậy[2]”.

Một lời tiên tri như thế, không những không chống lại người kết hôn, ngược lại, tiên vàn còn làm lợi cho họ. Nó nhắc cho họ nhớ rằng hôn nhân thì thánh thiện, tốt đẹp, được Thiên Chúa tạo ra, được Đức Kitô chuộc lại, và là hình ảnh sự kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo hội; nhưng… nó không phải là tất cả. Nó là một cơ cấu gắn liền với thế giới này, và như vậy chỉ là tạm thời. Nó không tồn tại nơi không còn sự chết. Như Đức Giêsu nói, khi không còn chết nữa, người ta sẽ không còn cưới vợ gả chồng (x. Lc 20,36). Đối với những người có gia đình, sự đồng trinh nhắc nhớ địa vị hàng đầu của thần trí và Thiên Chúa. Nó nhắc rằng Thiên Chúa đã tạo nên chúng ta cho Ngài, và như vậy tâm hồn chúng ta sẽ không bao giờ thỏa mãn, bao lâu không tìm được sự an nghỉ nơi Ngài. Nó cũng nhắc rằng người ta không được biến hôn nhân và gia đình thành thần tượng đòi phải hy sinh mọi sự, thành một loại tuyệt đối trong cuộc đời. Ai nấy đều biết nấp sau những bổn phận thuộc gia đình dễ dàng như thế nào – tôi có vợ con – để trốn tránh những đòi hỏi triệt để của Phúc Âm. Biến một gia đình tốt thành lý tưởng và mục đích của mình dễ dàng biết bao, bằng cách đo lường chính sự thành công của đời sống riêng theo sự thành công của gia đình. Và thực thể đầu tiên chịu tổn thương vì sự tuyệt đối hóa quá đáng này, chính là hôn nhân, vì nó như bị đè bẹp bởi những kỳ vọng không cân xứng, mà nó sẽ không bao giờ có thể làm thỏa mãn. Do đó vì sao tôi nói rằng sự đồng trinh giúp chính những ai có gia đình. Nó giải thoát cho hôn nhân và hai vợ chồng khỏi gánh nặng chịu không nổi phải là Tất Cả và chu toàn nhiệm vụ đối với Thiên Chúa. Sự dè dặt mang tính cánh chung mà sự đồng trinh ban cho hôn nhân, không che lấp niềm vui của nó, trái lại giữ cho nó khỏi thất vọng, vì mở ra một chân trời mới ngay cả sau khi chết. Chính vì có vĩnh cửu và Giêrusalem trên trời, mà đôi vợ chồng yêu nhau biết rằng sự hiệp thông của họ không chấm dứt với thế giới đang qua đi, và tan biến trong hư vô; nhưng được biến hình và thiêng liêng hóa, sự hiệp thông ấy sẽ kéo dài đến muôn đời.

Đi từ tính chất tiên tri của sự đồng trinh và độc thân, chúng ta có thể hiểu chủ đề cho rằng bậc sống này trái với tự nhiên, không cho đàn ông và đàn bà được đầy đủ là chính họ, tức là đàn ông hay đàn bà, chủ đề ấy thực mơ hồ và giả tạo. Chúng ta để cho tiếng nói to vang của nhiều người chống lại bậc sống này, nhân danh khoa tâm lý học và phân tâm học, gây ấn tượng nơi ta. Sự hoài nghi đè nặng kinh khủng trên tâm trí các bạn trẻ, và đó là một trong những lý do có thể ngăn cản họ đáp lại ơn gọi của mình. Người ta đã không luôn để ý đến những gì mà khoa học hiện đại – dựa trên nền móng của một nhãn quan duy vật và vô thần về con người – có thể, trong lãnh vực này, có một ảnh hưởng nào đó đối với người không tin có Thiên Chúa, không tin có một cuộc sống sau khi chết; nhưng nó không có ảnh hưởng nào đối với người tin. Người ta đánh giá sự khác nhau không đáng kể, trong khi nó mang tính chất quyết định. Quả thực, sự đồng trinh có ý nghĩa từ sự hiện hữu của một đời sống vĩnh cửu và một tình trạng phục sinh. Nó từ Thần Khí mà đến. Điều Phaolô nói về những gì từ Thần Khí mà đến, áp dụng cho nó, tức là: “Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán”, nghĩa là dưới ánh sáng đức tin (x. 1Cr 2,14). Chờ đợi điều ngược lại là về phía người có đức tin, một sự điên rồ hầu như cũng lớn bằng sự điên rồ trước.

Để trả lời cho một người bạn xác tín rằng lựa chọn sống khiết tịnh là cắt đứt khỏi mạch sống đích thực, Paul Claudel dùng những lời soi sáng sau đây: “Chúng ta luôn sống trong sự sai lầm lãng mạn ngày xưa, là hạnh phúc tối thượng, lợi lộc to lớn, truyện dài độc nhất của cuộc đời ở trong những mối liên hệ với phụ nữ, và ở những thỏa mãn xác thịt có được từ đó. Người ta chỉ quên một điều, là chính linh hồn, chính tinh thần là những thực tại cũng mạnh mẽ, cũng đòi hỏi như xác thịt (chúng còn mạnh mẽ và đòi hỏi hơn!), và nếu chúng ta chiều theo xác thịt tất cả những gì xác thịt đòi hỏi, thì đó là làm thiệt hại cho những niềm vui khác, những lãnh vực tuyệt diệu khác, vì chúng ta sẽ vĩnh viễn không được vào. Chúng ta uống cạn một ly rượu không ngon trong một quán hàng tồi tàn hay trong một phòng khách sang trọng, và chúng ta quên mất biển cả trinh nguyên xuất hiện cho những người khác lúc mặt trời mọc[3].”

Chính phân tâm học, từ khi vượt quá nguyên tắc căn bản thừa hưởng từ người sáng lập, và mở ngỏ cho chiều kích thiêng liêng và vĩnh cửu của con người, thấy lại được giá trị lạ lùng của sự đồng trinh như một dấu chỉ. Một trong những đồ đệ đầu tiên và nổi tiếng nhất của Freud đã nói: “Con đường độc nhất để thoát khỏi cuộc tranh chấp của con người là con đường hoàn toàn từ bỏ đưa chúng ta tới chỗ hiến dâng cả cuộc đời chúng ta cho Quyền Năng Tối Thượng…Sự hữu hiệu hóa chân thật và anh hùng của đời sống chúng ta nằm ở bên kia giới tính, bên kia người khác, bên kia những giới hạn của tôn giáo riêng tư và những mưu mẹo thuộc loại này, là những yếu tố hạ thấp và hạn chế phạm vi, tiếp đến để cho con người bị chia cắt trong sự hàm hồ…Để đi đến chỗ ổn định, cá nhân phải nhìn vượt lên trên những người khác và những sự an ủi của họ, vượt lên trên tất cả những việc của thế giới này[4].”

Thế nhưng chúng ta có thể đi tới cùng một kết luận bằng một con đường còn bảo đảm hơn, đó là con đường mạc khải; có thể thấy sự đồng trinh và độc thân không từ chối bản tính, nhưng thực hiện nó ở mức sâu sắc hơn như thế nào. Để biết con người là gì và cái gì “thuộc bản tính” của nó, tư tưởng con người đã luôn dựa trên sự phân tích bản tính của nó, trong khi hiểu bản tính, theo nghĩa nguyên ngữ của từ này, là cái mà con người là, và cái mà con người có, ngay từ lúc sinh ra. Ngược lại, do hoàn toàn không biết khái niệm về bản tính áp dụng cho con người, Kinh Thánh dựa trên khái niệm về ơn gọi: con người không chỉ là cái nó là lúc sinh ra, mà còn là cái nó được kêu gọi trở nên, nhờ có tự do, trong sự vâng phục lời Thiên Chúa. Như các Giáo Phụ nói, con người hoàn hảo chính là Đức Giêsu phục sinh, “con người thứ hai”, “Ađam cuối cùng” (x. 1Cr 15,45-47). Con người càng đến gần kiểu mẫu nhân tính này, càng thật sự là người và đầy đủ là người. Nếu nó chỉ có bản tính, nó sẽ không có lý do hữu hiệu để chống lại các khuynh hướng và những thôi thúc tự nhiên, nhưng còn có ơn gọi. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói tình trạng “thuộc bản tính” nhất của con người chính là sự đồng trinh; là vì chúng ta không được kêu gọi tới một tương quan vĩnh cửu của lứa đôi, nhưng tới cuộc sống trong một tương quan vĩnh cửu với Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa, chứ không phải một người cùng bên với mình, được trù định mãi mãi là “tất cả” của chúng ta (x.1Cr 15,28).

Chiều kích truyền giáo của sự độc thân và đồng trinh

Chính đó là lý do đầu tiên của sự đồng trinh và độc thân, vì Nước Trời “đã” đến. Giờ đây chúng ta hãy trở lại với lời căn bản của Đức Giêsu, để khám phá ra lý do thứ hai, gắn liền với bản tính của Nước Trời. Như chúng ta đã nói trong một nghĩa khác, Nước Trời “chưa” đến, nhưng đang trên đường. Nó phải đến bằng cường độ giữa lòng Giáo hội (biết bao nhiêu vùng trong ta vẫn còn là ngoại đạo, cần phải được Phúc âm hóa!); nó phải đến bằng trương độ, để đi tới tận cùng thế giới (biết bao nhiêu quốc gia và châu lục còn đang chờ đợi ánh sáng Phúc Âm!).

Lý do phát xuất từ sự kiện đó là: vì Nước Trời chưa đến, nhưng đang trên đường. Phải có những con người nam nữ, dành trọn vẹn thời gian và nhiệt huyết chuyên tâm vào việc làm cho Nước Trời đến. Như vậy, chúng ta đi tới chiều kích truyền giáo hoặc tông đồ của sự đồng trinh và độc thân, là chiều kích, như ta thấy, phát xuất từ lời Đức Giêsu “vì Nước Trời”, một lời rất rõ ràng và đòi hỏi nhiều nỗ lực. Lời ấy không chỉ liên hệ đến các người thánh hiến, những người, trên thực tế, đang đi đến những miền đất xa xôi để loan báo Phúc Âm, mà là tất cả những người nam nữ sống đồng trinh. Giáo hội đã công nhận điều này khi đặt thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, một người sống trong nơi kín cổng cao tường, làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Thực khó tưởng tượng bộ mặt của Giáo hội hôm nay như thế nào, nếu qua các thế kỷ đã không có đông những người nam nữ “bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ con và anh em vì Nước Trời” (x. Lc 18,29). Công cuộc loan báo Phúc Âm và truyền giáo phần lớn đè nặng trên vai họ. Giữa lòng Kitô giới, họ đã làm cho kiến thức về lời Chúa được tiến triển nhờ học hỏi. Họ đã mở ra những con đường mới cho tư tưởng và linh đạo Kitô giáo. Ở bên ngoài Giáo hội, họ đã loan báo Nước Trời cho những dân tộc ở xa xôi nhất. Chính họ làm nẩy sinh hầu hết các thể chế bác ái, làm phong phú biết bao cho Giáo hội và thế giới.

Đôi khi người ta trách Giáo hội Công giáo đã giải thích quá rộng lời Đức Giêsu nói về sự độc thân tự ý vì Nước Trời, khi áp đặt sự độc thân này cho các linh mục của mình. Đúng là Đức Giêsu đã không buộc phải chọn sống độc thân, và Giáo hội cũng không buộc như thế, và còn ít ngăn cản người nào đó kết hôn. Nhìn sự độc thân dưới ánh sáng này là một sự méo mó nghiêm trọng. Giáo hội Công giáo đã chỉ đặt nó ra như một trong những phẩm chất cần có cho người muốn thi hành thừa tác vụ linh mục, một thừa tác vụ do tự do lựa chọn. Giáo hội bắt chước nguyên xi cách hành động của Đức Giêsu trước một thanh niền giầu có và nói: nếu bạn muốn là cộng tác viên của tôi, bạn hãy chấp nhận sống khiết tịnh, rồi đến mà phục vụ tôi. “Nếu bạn muốn!” Vì chức tư tế là một lời mời gọi phục vụ Giáo hội với tư cách cộng tác viên của Giám mục, nên Giáo hội có quyền đặt ra những phẩm chất cần có cho việc phục vụ. Chính trên nền tảng của cùng một nguyên tắc này mà Giáo hội Chính thống dành chức giám mục cho những người không kết hôn. Giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính thống, sự khác nhau chỉ là trong ngoại trương áp dụng, không phải trên nguyên tắc. Thế nên tôi như có cảm tưởng là: sai lầm do khuyết điểm của những Giáo hội Kitô dự tính rao giảng “Phúc Âm đầy đủ”, nhưng lại thiếu mọi hình thức thực hiện lời mời gọi Phúc âm khác là sống độc thân vì Nước Trời, sai lầm đó nghiêm trọng hơn nhiều; cũng như các Giáo hội ấy cũng thường không có mọi hình thức thực hiện lời mời gọi khác, cũng rõ ràng và minh nhiên, là bán hết của cải để theo Đức Kitô trong sự nghèo khó tự ý. Do không bắt nguồn từ Thiên Chúa, sự độc thân bắt buộc của các linh mục không thể là chủ đề để tranh luận. Nhưng nói cho đúng, không ai có thể phủ nhận là, mặc dù có mọi bất tiện và khiếm khuyết không tránh được trong một vấn đề thuộc loại này, xét toàn bộ, sự lựa chọn này đã giúp rất nhiều cho Nước Trời và sự thánh thiện, và ngày nay nó vẫn còn là một dấu chỉ rất hữu hiệu giữa dân Kitô giáo.

Từ tất cả những gì nói trên đây, chúng ta thấy rõ đồng trinh không phải là son sẻ, mà ngược lại, sinh sản rất phong phú, dĩ nhiên trên một bình diện khác, cao hơn bình diện thể lý. Khi lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử cứu độ, sự đồng trinh được liên kết với việc sinh một em bé. “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và sinh hạ một con trai” (Is 7,14). Truyền thống đã thu nhận dây liên kết này khi không ngừng kết hợp tước hiệu trinh nữ với tước hiệu mẹ. Đức Maria là trinh nữ và là mẹ. Giáo hội là trinh nữ và là mẹ. Clêmentê Alexanđria viết: “Một Đấng là Cha của mọi người, một Đấng cũng là Ngôi Lời của mọi người, một Đấng và đồng nhất là Chúa Thánh Thần, một Đấng duy nhất là Trinh Nữ và là Mẹ. Tôi thích gọi Giáo hội như thế[5]”.

Cuối cùng, mọi linh hồn, đặc biệt mọi linh hồn tận hiến, đều là trinh nữ và là mẹ: “Mỗi linh hồn tín hữu, hiền thê của Ngôi Lời Thiên Chúa, mẹ, con gái và chị em của Đức Kitô, là trinh nữ và sinh sản phong phú theo cách của mình[6].”

Như tôi đã nói, đây là một sự sinh sản phong phú khác, thiêng liêng chứ không theo xác thịt. Nhưng vì con người cũng là thần trí chứ không chỉ là xác thịt, nên đây là một sự sinh sản phong phú cũng hết sức thuộc về con người, làm cho con người thực sự trở nên cha hay mẹ. Cũng chính loại sinh sản phong phú này cho phép thánh Phaolô lên tiếng khi ngài ngỏ lời với các Kitô hữu đã được ngài dạy dỗ trong đức tin: “Trong Đức Kitô Giêsu, tôi đã sinh ra anh em” (1Cr 4,15); và: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa.” (Gl 4,19) Dân Kitô giáo biết rõ ai là người, trong tất cả các văn hóa, đã tự ý gán cho các nam đồng trinh – linh mục, tu sĩ, đan sĩ – tước hiệu “cha”, và cho các nữ đồng trinh tước hiệu “mẹ”. Có rất nhiều thừa sai và các người sáng lập hội từ thiện được gọi đơn giản là “cha”, và rất nhiều phụ nữ được gọi là “mẹ”.

Ngày nay người ta nói nhiều về phẩm chất của cuộc sống. Người ta cho rằng quan trọng nhất không phải là gia tăng số lượng cuộc sống trên hành tinh chúng ta, nhưng là nâng cao phẩm chất của cuộc sống ấy. Người ta hiểu phẩm chất là phẩm chất vệ sinh, sức khỏe, văn hóa. Nhưng còn một phẩm chất thiêng liêng của cuộc sống quan trọng hơn hết, vì liên hệ đến linh hồn con người, cái tồn tại tới vĩnh cửu nơi con người. Vậy những người đồng trinh vì Nước Trời được kêu gọi xả thân để nâng cao phẩm chất thiêng liêng của cuộc sống, không kể những người thông thường đã và đang làm việc với tinh thần vô vị lợi, để cũng nâng cao phẩm chất khác của cuộc sống – phẩm chất vệ sinh, sức khỏe và văn hóa.

Thánh Grêgôriô Nadian có một kiểu nói lạ lùng để ca ngợi sự đồng trinh. Khi đọc câu ấy, trước hết tôi  nghĩ đây là kiểu nói hơi cường điệu, nhằm tâng bốc giá trị của đồng trinh. Ngài quả quyết rằng sự đồng trinh có một kiểu mẫu cao hơn Giáo hội, cao hơn Đức Maria: đó là Ba Ngôi! Ngài nói: “Người trinh nữ đầu tiên chính là Ba Ngôi Thánh[7]”. Một lần nữa khi suy nghĩ kỹ hơn về câu nói, tôi phải nhận rằng các Giáo Phụ không bao giờ nói mà không biết mình nói gì, cũng không bao giờ nói mà không có một lý do khách quan và sâu sắc. Đúng vậy, người “trinh nữ đầu tiên” thực sự là Ba Ngôi Thánh; không những vì việc sinh ra Ngôi Lời từ đời đời do Chúa Cha là đồng trinh, mà còn vì Ba Ngôi đã tạo dựng vũ trụ chỉ có một mình, không có sự cộng tác của bất cứ nguyên lý nào khác, ngay cả sự cộng tác của một “chất liệu đã có trước”. Ba Ngôi tạo dựng từ hư không, theo cách đồng trinh. Trong mọi việc sinh ra theo mẫu tính dục, có một yếu tố ích kỷ và nhục dục. Khi một người đàn ông và một người đàn bà sinh được đứa con, họ làm nên một quà tặng, nhưng họ cũng làm cho mình thành một quà tặng; họ thực hiện, nhưng họ cũng thực hiện mình, vì cần gặp gỡ người khác để làm cho mình được đầy đủ và phong phú thêm.

Khi Ba Ngôi tạo dựng, Ngài thực hiện, nhưng không thực hiện mình, vì đã hoàn toàn hạnh phúc và đầy đủ nơi chính mình. Kinh nguyện Thánh Thể IV nói: “Cha đã tác tạo mọi loài, để ban cho chúng đầy tràn ơn phúc, và cho nhiều thụ tạo được vui hưởng ánh sáng huy hoàng của Cha”.

Ở đây, sự đồng trinh cho thấy một đặc điểm đẹp đẽ nhất của mình là tính nhưng không. Người nam đồng trinh và trinh nữ Kitô giáo bắt chước một chút sự nhưng không này, khi mà, vì yêu thương, họ chăm sóc những đứa trẻ không phải là con của họ theo xác thịt, những người bệnh hay người già không phải là thân thích của họ, và khi – trường hợp đặc biệt của những người nam nữ sống trong tu viện kín cổng cao tường – họ gánh lấy những tội lỗi không phải của họ, để mang đến trước mặt Thiên Chúa và chuyển cầu cho thế giới. Trong quy luật thời Trung cổ dành cho các nữ tu loại trên, người ta đọc thấy: “Vào một số giờ trong ngày và đêm, chị hãy mang trong trái tim chị mọi bệnh nhân và mọi người đau khổ đang chịu đựng vì những nỗi vất vả và nghèo túng. Chị hãy nghĩ đến những nỗi đau đớn của những tù nhân đang mang xiềng xích… Với lòng trắc ẩn, chị hãy nghĩ đến những người đang bị cám dỗ nặng nề. Hãy giữ trong lòng chị những nỗi đau khổ của những người này. Hãy than thở cầu xin Chúa chúng ta dủ lòng thương đến họ, xin Người lấy lòng thương xót mà nhìn đến họ[8].” Chắc chắn chúng ta không thể gọi một cuộc sống như thế là son sẻ, một cuộc sống được sống bằng một tình yêu mang những chiều kích thế giới.

Sự sinh sản phong phú của người trinh nữ thuộc bản chất hôn nhân. Con cái được sinh ra do sự kết hợp vợ chồng, và người trinh nữ, khi kết hợp với Chúa mà không chia sẻ thì, như thánh Phaolô sẽ nói, sinh ra những người con cho Đức Kitô. Khi linh mục chúng ta bắt gặp các linh hồn, mà chúng ta không thể một mình đưa họ về với ánh sáng, vì họ đã lún sâu trong đường tà, chúng ta chạy đến với ai? Chúng ta gõ cửa một vài đan viện và phó thác họ cho một hiền thê của Đức Kitô. Biết bao lần chúng ta lại không chứng kiến phép lạ của một cuộc phục sinh, cho dù chúng ta sẽ không bao giờ biết – chỉ mình Thiên Chúa biết – cái giá phải trả như thế nào. Mai kia, khi các trinh nữ này đi vào trong Giêrusalem thiên quốc, và gặp những người con mà mình không biết là có, các chị rất ngạc nhiên như người trinh nữ Sion, và cũng sẽ kêu lên: “Ai đã sinh cho tôi những đứa con này đây? Tôi vốn là kẻ đã mất con, là người son sẻ…những đứa con này, ai đã dưỡng dục chúng?” (Is 49,21)

Sự sinh sản phong phú của một nữ đan sĩ tùy thuộc  điều này là, nhờ kinh nguyện, tình yêu thầm lặng, đức tin và đức cậy, nó tác động trực tiếp đến nguyên nhân đệ nhất, đến Thiên Chúa, chứ không đến những nguyên nhân đệ nhị. Chính Phu Quân phân phát hoa quả cho các bạn hữu của mình. Với nàng trong sách Diễm ca, nàng nói với Đức Kitô: “Bao quả thơm trái tốt, en dành hết cho anh, hỡi người em yêu dấu.” (Dc 7,14). Chàng thì nói: “Này em gái của anh, vườn của anh, anh đã vào rồi, đã hái mộc dược, hái cỏ thơm”. Và thi nhân nói với hai người: “Hãy ăn đi, này đôi bạn chí thiết, uống cho say, hỡi những kẻ si tình” (Dc 5,1). Nàng không muốn biết những hoa quả của lời mình cầu xin và nỗi đau khổ mình phải chịu đi đến với ai. Chúng thuộc về chàng, chàng cho ai tùy ý chàng. Những người khác phải lo làm thế nào phân phát và quản lý các hoa quả ấy, còn nàng thì không. Thực sự Chúa đặt trong nhà Ngài người đàn bà son sẻ, “thành mẹ đông con, vui cửa vui nhà” (Tv 113,9).

“Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa”

Bản văn quan trọng thứ hai của Tân Ước về sự đồng trinh, ngoài Matthêu 19 ra, là bản văn của thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô: “Bộ mặt thế gian này đang biến đi. Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy đàn bà không có chồng thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng chồng. Tôi nói thế là để mong tìm ích lợi cho anh chị em, tôi không có ý gài bẫy cho anh chị em đâu, nhưng chỉ muốn đề nghị với anh chị em một điều tốt, để anh chị em được gắn bó cùng Chúa mà không bị giằng co” (1Cr 7,31-35).

Thoạt nhìn, lý do thánh Phaolô đưa ra về sự đồng trinh dường như khác với lý do Đức Giêsu đưa ra. Một lý do chủ quan, kể như mang tính tâm lý học, với trọng tâm là thiện ích của cá nhân và sự thanh thản của người đó, hơn là Nước Thiên Chúa. Nhưng không phải vậy. Đây chính là lý do khách quan và thần học, có mục đích là Thiên Chúa chứ không phải chúng ta. Tất cả những động lực thánh Tông Đồ đưa ra để lựa chọn đồng trinh và độc thân tóm tắt trong kiểu nói “vì Chúa”, một kiểu nói tương đương chính xác sau ngày Phục Sinh với kiểu nói “Nước Trời”. Chúng ta biết rằng sau ngày Phục Sinh, kiểu nói “Nước Trời” hay “Nước Thiên Chúa” vốn là trọng tâm trong lời rao giảng của Đức Giêsu, lại hầu như biến mất trong lời rao giảng Kitô giáo. Thay vào đó, chúng ta thấy lời khởi giảng của các Tông đồ là Đức Kitô đã chết, đã sống lại và là Chúa! Quả thực lúc này, Nước Trời hay ơn Cứu độ là ở đó. Trước ngày Phục Sinh, Đức Giêsu nói: “Thời kỳ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,15). Sau ngày Phục Sinh, lời loan báo nền tảng gồm một tin (Nước Thiên Chúa đã đến gần) và một lệnh truyền (Anh em hãy sám hối) từ đây vang lên như sau: “Thiên Chúa đã đặt Đức Giêsu làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô…Anh em hãy ăn năn sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa…” (Cv 2,36-38).

Động cơ Phaolô dùng để biện minh cho lời khuyên sống đồng trinh, “bộ dạng thế gian này đang qua đi”, nhắc nhớ những gì chúng ta đã nói ở trên, tức là “thời giờ đã mãn”, từ đây thời kỳ cuối cùng đã khai mào, lúc người ta đã có thể sống như là “những con cái của sự sống lại”, theo những thể thức của thời tương lai.

Tuy vậy, có sự khác biệt giữa hai bản văn. Theo bản văn đầu, người ta không kết hôn là “vì Nước Trời”, nghĩa là vì một lý do; theo bản văn thứ hai, người ta không kết hôn là “vì Chúa”, nghĩa là vì một con người. Đây là một sự tiến triển trong ý tưởng đồng trinh; tuy vậy, không phải nhờ Phaolô mà là nhờ Đức Giêsu, Đấng giữa lúc đó, bằng cách chết và sống lại vì chúng ta, đã trở thành “Đức Chúa”, Phu Quân và Đầu của Giáo hội, “Đấng đã yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh, như vậy Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5,25-27).

Giờ đây, chúng ta hãy xem xét sát hơn một chút những lời của thánh Tông Đồ về sự đồng trinh. Ngài bắt đầu bằng cách nói mình muốn thấy các tín hữu “không phải bận tâm” (amerimnous). Nếu ngừng lại ở đây thì có nguy cơ chỉ thấy trong sự đồng trinh và độc thân một cơ hội tuyệt vời là có được một cuộc sống yên hàn, không có vấn đề cũng chẳng phải lo lắng. Cũng như thánh Phêrô, một hôm khi nghe Đức Giêsu công bố những đòi hỏi khắt khe của hôn nhân, thì đã kêu lên: “Nếu mà như vậy thà đừng kết hôn thì hơn” (x. Mt 19,10). Đức Giêsu cũng đồng tình với việc không kết hôn thì tốt hơn, nhưng với một lý do rất khác với lý do ích kỷ như thánh Tông Đồ hiểu. Và Ngài giải thích ngay lập tức khi nói về những người không kết hôn vì Nước Trời.

Quả thực, ai sẽ đặt bút ký vào một cuộc đời vô lo như vậy? Chính người phái khắc kỷ và khoái lạc, vào thời của Phaolô, đã theo đuổi một lý tưởng thuộc loại này mà họ gọi là apatheia hoặc atarassia, nghĩa là sống không có những chấn động xúc cảm hoặc đam mê, sẵn sàng hy sinh mọi sự vì điều đó, cho tới những vui mừng và lạc thú quá mãnh liệt.

Nhưng hãy để ý đến lời thánh Tông Đồ thêm vào ngay: “Đàn ông không có vợ thì chuyên lo (merimna) việc Chúa.”  Điều khác thường tương phản và nghịch lý: ngài vừa nói mình muốn những đứa con “vô lo”, và bây giờ ngài lại nói mình muốn tất cả chúng phải bận tâm. Ngài nói như vậy hai lần: một lần cho đàn ông không lấy vợ, và một lần cho đàn bà không lấy chồng. Vậy họ cũng phải lo lắng, nhưng là lo “việc của Chúa”. Đó không phải là một lý tưởng sống yên hàn và không động tâm, không bị phiền hà. Đó là một cuộc sống không lo chuyện thế gian, để dành tất cả thời giờ và lúc rảnh rỗi mà lo việc của Chúa. Và đâu là những việc của Chúa phải quan tâm? Đồng ruộng, tài sản giáo xứ hay tài sản Giáo hội? Tài sản hay những việc của Chúa là những linh hồn mà Ngài đã chết cho, là Nước Trời. Đó là lý do vì sao có những người đồng trinh và độc thân: để trong Giáo hội và trên thế giới, có những người chỉ lo lắng cho lợi ích của Thiên Chúa.

Cũng không đúng là những người này không kết hôn. Những người đồng trinh, đó không phải là những người từ chối kết hôn, nhưng là từ chối kết hôn với một thụ tạo. Điều này đúng và hiển nhiên đối với người nam hay người nữ đồng trinh, khi tự họ khám phá ra Đức Giêsu là Chúa của cuộc đời họ, và khi họ biết rằng Chúa không phải là một con người chỉ thuộc về quá khứ – khi Ngài sống ở trần gian – hoặc chỉ trong tương lai – khi chúng ta cũng sẽ ở trên trời – nhưng nhờ thần lực của sự phục sinh, Ngài sống “trong Thần Khí” và luôn hiện diện trong Giáo hội của Ngài. Vậy đối với người nam hay người nữ đồng trinh, đây không phải là từ bỏ một tình yêu “cụ thể” cho một tình yêu “trừu tượng”, từ bỏ một con người có thực cho một con người tưởng tượng.  Đây là từ bỏ một tình yêu cụ thể cho một tình yêu cụ thể khác, từ bỏ một con người có thực cho một con người khác còn thực hơn đến mức vô biên. Cái khác nhau chính là: một bên thì kết hợp với nhau “theo xác thịt”, một bên thì kết hợp với nhau “theo Thần Khí”. Trong trường hợp trước, người ta làm nên một xác thịt duy nhất, trong trường hợp sau là một thần trí duy nhất. Quả thực Kinh Thánh viết: “Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người” (1Cr 6,17). Chính tính thực tiễn này của đức tin làm cho thánh trinh nữ Anê phải thốt lên khi có người đề nghị lấy cô: “Tôi đã kết hôn… Chúa của tôi là Đức Giêsu Kitô đã kết hợp tôi với Ngài qua chiếc nhẫn” (kinh nhật tụng cũ ngày lễ).

Thế nên những người độc thân và đồng trinh vì Nước Trời không chỉ là những người “từ chối kết hôn”. Đúng hơn đó là những người, một cách mầu nhiệm (một ân huệ mà!) và đôi khi đau đớn, đã nhận thấy, có lẽ sau khi đã thử nghiệm, là một thụ tạo, một gia đình, các con cái, không đủ cho họ, họ cảm thấy quá “chật chội”, phải có một điều gì đó thần linh để yêu. Một con người vĩ đại đã nhận ra mình phải đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, chỉ một mình ở bên ngoài mọi chuẩn mực và thể chế, trong một môi trường như môi trường thệ phản Luthêrô, thù địch với ông, nhìn sự lựa chọn như thế bằng cặp mắt nghi ngờ (Luthêrô khước từ sự độc thân và đồng trinh, thích hôn nhân hơn). Người đó là Soren Kierkegaard. Ông đã đính hôn với một thiếu nữ tên là Regina mà ông yêu thương, như một thanh niên duy nhất nhạy cảm như ông có thể yêu. Khi ông hiểu sứ mệnh thực sự của ông là như thế nào, và đâu sẽ là cuộc đời của ông trong thế gian, ông phải chịu nỗi thống khổ rời xa người tình. Hơn nữa, ông còn tìm mọi cách để chính nàng rời xa ông, đến nỗi làm cho mình bị coi như một người bất xứng và bất nghĩa. Cuối đời, trong một trang Nhật ký, ông biện minh cho sự lựa chọn của ông bằng những lời thêm một điều gì đó mới mẻ vào tất cả những lời ca ngợi sự độc thân và đồng trinh, cũ và mới như tôi được biết, những lời (tôi ước mong điều đó đối với một số người) sẽ có hiệu quả của một sự mạc khải bất chợt về ơn gọi của họ. Ông viết: “Thiên Chúa muốn sự độc thân vì Ngài muốn được yêu. Lạy Đấng Uy Linh vô cùng, cho dù Chúa không phải là tình yêu, cho dù Chúa lạnh lùng trong sự uy linh vô cùng của Chúa, con sẽ không thể làm gì khác hơn là yêu Chúa. Con cần có cái gì đó uy linh để yêu. Điều mà những người khác than phiền, nghĩa là đã không tìm thấy tình yêu ở thế gian này, và vì vậy cảm thấy có nhu cầu yêu Chúa vì Chúa là tình yêu (con hoàn toàn đồng ý), con cũng muốn công bố điều đó so với điều uy linh. Đã có và đang có trong tâm hồn con nhu cầu về uy linh, một sự uy linh mà con có thờ lậy mấy cũng không bao giờ nhọc mệt hay chán ngán. Con đã không bao giờ tìm thấy gì trong thế giới của sự uy linh ai nấy đều thèm muốn này[9]”.

Thực sự, tôi ngờ rằng không có cách diễn tả nào tốt hơn là động từ “gắn bó với” (épouser), để nói lên tương quan mới mẻ và đặc biệt mà sự đồng trinh thiết lập với Đức Kitô và với Thiên Chúa, cả khi không kể đến nghĩa thần bí thường gắn liền với hạn từ này trong ngôn ngữ tôn giáo. Chúng ta nói về một người nào đó, theo nghĩa ẩn dụ, đã gắn bó với một vụ việc, khi người đó hoàn toàn hiến thân cho nó, cả hồn lẫn xác, biến thành của mình những lợi ích, nguy cơ và thành công của vụ việc này. Theo nghĩa này, chúng ta có quyền nói rằng người đồng trinh đã gắn bó với Nước Trời hay Chúa; nhưng trong một mức độ lớn hơn nhiều, vì không chỉ gắn bó với một vụ việc, mà còn với một người; không chỉ gắn bó trong một thời gian, mà còn tới muôn đời. Dây liên kết người độc thân hay đồng trinh với Chúa là một dây liên kết hoàn toàn, độc chiếm, trên mọi dây liên kết khác. Để tìm ra một mối dây tương đương trên bình diện con người, chỉ có dây liên kết của một người nam kết hôn với một người nữ, hoặc của một người nữ kết hôn với một người nam.

Rabbi Siméon ben Azzai, một giáo trưởng Do thái, người đã sống cùng một thế kỷ với Phaolô, miệt mài nghiên cứu Luật Môsê, thách thức não trạng chung của những người đồng hương, biện minh cho việc ông từ chối kết hôn như sau: “Linh hồn tôi say mê Torah; còn những người khác sẽ nghĩ tới việc làm thế giới sống mãi![10]” Huống chi, người độc thân hay đồng trinh Kitô giáo có thể coi là của mình những lời đó, thay đổi một chút mà nói: “Linh hồn tôi say mê Đức Giêsu Kitô; còn những người khác sẽ nghĩ tới việc làm cho thế giời sống mãi!”

Khi gắn bó với chính nghĩa là Nước Trời, chúng ta được kêu gọi phục vụ chính nghĩa này. Khi gắn bó với một ngôi vị, là Chúa, chúng ta được kêu gọi làm hài lòng ngôi vị này. Thánh Phaolô nói: “Người không kết hôn thì chuyên lo việc Chúa, lo có những phương tiện làm hài lòng Chúa.” Có cái gì đó còn hơn là “phục vụ” thuần túy! Không phải người vợ làm cho chồng mình hài lòng sao? Đấy không phải là ước muốn sâu xa của nàng sao? Nhưng người đồng trinh cũng phải làm hài lòng một Ai đó! Nhờ cách nói này, thánh Tông Đồ mặc nhiên mời gọi người đồng trinh Kitô giáo lấy người phụ nữ có chồng làm gương. Người vợ chưa cưới và người chồng chưa cưới, để làm vui lòng nhau, lại không làm gì cho nhau sao? Người vợ trung tín và trìu mến, lại không làm gì để chồng vui lòng sao? Cũng vậy là chồng đối với vợ. Để làm cho Chúa hài lòng, người đồng trinh Kitô giáo phải có nhu cầu sâu xa ấy, sức căng kiên trì ấy. Thánh Phêrô nhắc nhở một vài điều có giá trị cho mọi nữ tín hữu, đặc biệt cho các trinh nữ: “Ước chi vẻ duyên dáng của chị em không hệ tại cái mã bên ngoài như kết tóc, đeo vòng vàng, hay ăn mặc xa hoa, nhưng là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng, là tính thùy mị, hiền hòa: đó chính là điều quý giá trước mặt Thiên Chúa” (1Pr 3,3-4).

Các Giáo Phụ nhấn mạnh nhiều về điểm này, mô tả cách ăn mặc và đồ trang sức của các trinh nữ Kitô giáo phải như thế nào. Thậm chí thánh Cyprianô còn viết một khảo luận về chủ đề này, cuốn De habitu virginum. Nhưng về vấn đề này, ngươi trinh nữ có một vị cố vấn tuyệt vời hơn các Giáo Phụ, để giúp họ khám phá xem vị Hôn Phu của mình muốn gì và thích gì: vị cố vấn ấy là Chúa Thánh Thần. Phải tin tưởng vào Người trên con đường hôn ước kỳ diệu.

Nàng phải biết rằng, như vậy nàng phải làm tròn không những bổn phận riêng, mà cả bổn phận thuộc Giáo hội, không những bổn phận chủ quan, mà cả bổn phận khách quan: bổn phận là một hiển linh nhỏ bé hay một sự tỏ hiện hữu hình của Giáo hội, Hiền Thê của Đức Kitô. Tự mình, Giáo hội không có một bộ mặt hữu hình, cũng không có một linh hồn được ban sự tự do, vì không phải là một người thực sự, mà chỉ là “một người thần bí”. Trước mắt thế gian, ai sẽ thể hiện và bày tỏ phẩm chất của Giáo hội là “trinh nữ thanh khiết đính hôn với một người độc nhất là Đức Kitô” (2Cr 11,2), nếu không phải chính xác là người trinh nữ thánh hiến? Chắc chắn những vợ chồng cũng tham dự vào hệ thống biểu tượng này, nhưng với một sắc thái khác. Chồng và vợ là dấu chỉ của mầu nhiệm lớn nói lên sự kết hợp của Đức Kitô và của Giáo hội (x. Ep 5,32), nhưng “của Đức Kitô và của Giáo hội”, chứ không chỉ của Giáo hội trong tương quan với Đức Kitô. Đó là một loại hệ thống biểu tượng khác, cho dù thật bổ ích khi được thấy, trong toàn bộ, hai con đường này là biểu tượng cho những thực tại thiêng liêng, và vì thế đều thánh thiện, như thế nào.

Một trái tim không chia sẻ

Trong bản văn của chúng ta, có một ý tưởng được thánh Phaolô diễn tả mà chúng ta chưa lưu ý: ý tưởng về trái tim không chia sẻ. Người kết hôn chuyên lo việc thế gian và làm hài lòng vợ hay chồng mình, “thấy mình bị chia sẻ”, trong khi sự đồng trinh cho phép sống “kết hợp với Đức Kitô mà không đãng trí”.

Ở trên, tôi đã nói bậc đồng trinh, cứ như thánh Phaolô trình bầy, không có tính chất chủ quan và tâm lý học, nhưng khách quan. Trọng tâm và mục đích của nó là Chúa, chứ không phải lợi ích của riêng mình. Nhưng lúc này, chúng ta phải nói nó cũng đáp ứng theo cách tùy thuộc, với mục đích thứ hai là thăng tiến và làm tăng giá trị con người. Nói khác đi, nó cũng có một giá trị chủ quan và hiện sinh to lớn. Quả thực nó giúp con người thực hiện công việc khó khăn nhất và đẹp đẽ nhất có thể: công việc thống nhất nội tâm riêng, qua đó người ta không chỉ là một “nhân vị”, mà còn là một “nhân vị một”, nghĩa là một nhân vị được quy tụ và hợp nhất.

Ngay cả bên trong chúng ta, có một diaspora hay một sự phân tán. Nếu Đức Giêsu hỏi tôi như hỏi một con người đáng thương trong Phúc Âm: Tên ngươi là gì? Tôi cũng phải trả lời: “Tên tôi là đạo binh, vì chúng tôi đông lắm” (Mc 5,9). Chúng ta cũng đông như các ước muốn, các dự phóng, các hối tiếc mà chúng ta đang nuôi, điều này khác với điều kia, có khi đối nghịch với điều kia, lôi kéo chúng ta về những hướng đối nghịch.. theo nghĩa đen: chúng làm chúng ta chia trí!

Sự đồng trinh giúp đỡ hữu hiệu tiến đi trên con đường hướng tới sự hiệp nhất bên trong, vì cho phép chúng ta sống “kết hợp với Đức Kitô mà không đãng trí”. Kết hợp bên trong và kết hợp với Đức Kitô: sự hiệp nhất mà chúng ta nói hệ tại ở điểm này.

Thánh Augustinô viết: “Sự tiết dục gom những yếu tố của con người chúng con và dẫn chúng con về sự hiệp nhất mà chúng con đã đánh mất bằng cách làm cho chúng con phân tán trên nhiều đối tượng. Người yêu một thụ tạo đồng thời với yêu Chúa, không phải yêu thụ tạo ấy vì yêu Chúa, thì người đó yêu Chúa không đủ (ngài đang nói với Thiên Chúa)[11]

Sự hiệp nhất này được Đức Giêsu gọi là “sự trong sạch trong tâm hồn”. Nó được thực hiện đặc biệt ở cấp độ ý muốn. Nó hệ tại ở chỗ luôn luôn muốn ít sự vật nhất có thể, đi tới chỗ chỉ muốn “một sự duy nhất”. Khi một người có thể nói như tác giả Thánh vịnh: “Tôi xin với Chúa một điều, chỉ một điều tôi tìm kiếm” (Tv 27,4) và “Bên Ngài, thế sự thật tình chẳng ham” (Tv 73,25), thì người đó đang tiến gần đến sự đồng trinh thật trong tâm hồn, mà sự đồng trinh ngoài thân xác là dấu chỉ và người canh giữ. Là vì sự đồng trinh trong tâm hồn hệ tại ở chỗ chỉ muốn một sự duy nhất, khi sự duy nhất là Thiên Chúa.

Khía cạnh mang tính làm sáng tỏ và thống nhất này của sự đồng trinh là khía cạnh mà các Giáo Phụ, được tôi luyện trong khổ chế và thần bí, thích vạch rõ nhất, chẳng hạn Grêgôriô Nyssê. Theo ngài, sự đồng trinh thật là sự đồng trinh bên trong, hệ tại ở chỗ dần dần thoát khỏi những đam mê và ước muốn (pathe), để kết hợp với Thiên Chúa. Còn sự đồng trinh ngoài thân xác chỉ là tùy theo sự biến đổi của sự đồng trinh kia, được coi là vỏ bọc của sự đồng trinh kia. Ngài viết: “Linh hồn tự do và thanh thoát, để có thể chiêm ngắm tốt hơn sự vui thú thần linh và hạnh phúc, không được quay về bất cứ sự gì ở trần gian, cũng không được nếm mùi những gì người ta thường coi là lạc thú; nhưng đưa sự hăm hở say mê của mình về những gì là vật chất tới việc chiêm ngắm thuộc trí khôn và phi thể chất những gì là đẹp đẽ. Sự đồng trinh ngoài thân xác đã được nghĩ ra chính là để tâm thái này có thể được thực hiện: chức năng chính của nó là chức năng giúp cho linh hồn quên đi những hoạt động đam mê của bản tính, và ngăn cản những bản năng thấp hèn của xác thịt là thấy mình có nhu cầu. Một khi thoát khỏi những điều này, linh hồn quen dần với những gì dường như được luật tự nhiên cho phép, không còn gặp nguy cơ bỏ qua hoặc không biết thú vui thần linh và tinh tuyền, mà chỉ có người hướng dẫn chúng ta mới có thể theo đuổi sự tinh tuyền của yếu tố thuần lý[12]”.

Người ta không nghi ngờ, trên con đường này, có những người có gia đình lại tiến bộ hơn nhiều người độc thân hay đồng trinh. Cũng thánh Grêgôriô là người có gia đình, lại đã vạch ra chương trình tuyệt vời về sự trong sạch bên trong. Nhưng không vì thế mà người trinh nữ, tự mình, lại ở vị trí cao hơn, và như vậy có trách nhiệm hơn, nếu không nghĩ tới việc thực hiện nó. Người có gia đình không thể lo chuyện thế gian và gia đình mà không bị chia sẻ. Về vấn đề phụ nữ có chồng, cũng thánh Grêgôriô còn nói rằng “một mảnh nhỏ tâm hồn chị hướng về đứa con do chị sinh ra, và nếu chị đông con, thì có bao nhiêu con, tâm hồn chị phải chia thành bấy nhiêu phần, đến nỗi điều gì xẩy ra cho mỗi đứa con, chị đều cảm thấy trong lòng dạ[13]”. Rõ ràng điều này có thể trở thành một dịp thánh hóa cho chị (Kinh Thánh nói trong thư 1Tm 2,15: người đàn bà sẽ được cứu nhờ sinh con cái), nhưng điều đó không làm mất đi việc chị bị chia sẻ cách nào đó.

Tuy nhiên, về chủ đề trái tim không chia sẻ, tôi lại có dịp suy nghĩ và sợ hãi. Trái tim không chia sẻ là điều tốt, miễn là có một ai để yêu. Quả thực, một trái tim bị chia sẻ mà yêu, thì tốt hơn một trái tim không chia sẻ mà lại không yêu ai. Trong trường hợp này, đó sẽ là một sự ích kỷ không chia sẻ. Đó sẽ là một trái tim chứa đầy, nhưng đối tượng làm nó nhơ nhớp nhất có thể: chính mình. Về loại đồng trinh và độc thân này, bất hạnh thay lại hay có, người ta có lý mà nói: “Vì không thuộc về con người, họ tưởng mình thuộc về Thiên Chúa. Vì không yêu ai, họ tưởng mình yêu Thiên Chúa” (Ch. Péguy).

Dù quay về bên nào, người ta cũng thấy thực rõ cốt yếu của độc thân và đồng trinh vì Nước Trời là ở trong tình yêu phu thê đối với Chúa. Ngay cả sự sinh sản phong phú của bậc sống này cũng tùy thuộc vào đó. Cũng như một hôn nhân không có tình yêu thì không phải là hôn nhân thực, dù có thành sự, cũng vậy, một sự đồng trinh không có tình yêu thì không phải là sự đồng trinh thực, nhưng chỉ ngoài mặt, một vỏ sò trống rỗng, khô cứng, vô hồn.

Thế nên lý do chính của sự đồng trinh Kitô giáo là tích cực chứ không tiêu cực. Khoa hiện tượng học về tôn giáo biết đến nhiều hình thức đồng trinh, ít ra nhất thời, ngay cả ngoài Kitô giáo. Nhưng, hoặc nó có một lý do tiêu cực là tách biệt khỏi và kiêng thế giới và vật chất, như trong Phật giáo và ngộ đạo, với hiệu lệnh “chay kiêng tất cả những gì thuộc về thế giới”, hoặc có một động lực, cũng ngả theo tiêu cực, về sự trong sạch theo nghi thức, qua đó các trẻ nhỏ (pueri inupti) và các trinh nữ thờ thần, vì sự toàn vẹn của mình, được coi là xứng đáng hơn để đến gần Thiên Chúa[14]. Trường hợp sau cùng này nhắc lại nguyên tắc của pháp chế Do thái về hàng tư tế, là kiêng cữ việc vợ chồng khi người ta phải chu toàn những hành vi phụng tự và tế lễ.

Tôi rất thích các Giáo Phụ, nhưng về điểm này, tôi buộc phải một lần phê bình các ngài. Trong Tân Ước, chúng ta đã thấy sự đồng trinh có một động lực chủ yếu là tích cực: Nước Trời, Chúa. Nơi các Giáo Phụ, nó đã dần dần có một động lực đặc biệt là tiêu cực và khổ chế, tức từ bỏ hôn nhân và giải phóng khỏi các đam mê. Trước đó, động lực “vì Nước Trời, vì Chúa” thắng thế hơn sự kiện “không kết hôn”, bây giờ, sự kiện không kết hôn thắng thế động lực, cho dù động lực dĩ nhiên vẫn còn. Tôi đã nói ở trên về nguy hiểm dừng lại, trong bản văn Phaolô, ở viễn tượng do những lời “không phải bận tâm lo lắng” gợi ra. Điều này đôi khi xẩy ra, khi lý tưởng khắc kỷ của apatheia, (không còn những đam mê và ước muốn) trở thành điều đáng ao ước hơn trong bậc đan sĩ và đồng trinh.

Những khảo luận của các Giáo Phụ về sự đồng trinh, chẳng hạn khảo luận nổi tiếng của thánh Gioan Kim Khẩu, một nửa là cố gắng vạch rõ những điều xấu của hôn nhân. Ngài nói: “Khó khăn và không thể tránh được là sự nô lệ của hôn nhân. Cho dù tránh được mọi nỗi đau buồn, thì hôn nhân tự nó cũng chẳng có gì đáng kể. Hôn nhân hoàn hảo nhất sẽ có thể giúp gì vào lúc chết? Không giúp gì cả!” Ngay cả Grêgôriô Nyssê, người đã kết hôn như tôi đã nói, cảm thấy cần phải làm rõ “những khía cạnh khó chịu của hôn nhân”, trước khi viết khảo luận về sự đồng trinh. Ngài bắt đầu bản buộc tội của mình như sau: “Người ta phải bắt đầu từ đâu để miêu tả đời sống khó khăn này bằng những mầu sắc ảm đạm phù hợp với nó?” Ngài còn tiếp: “Tất cả những cái phi lý của cuộc đời đều từ hôn nhân mà ra[15]”. Ngay cả các Giáo Phụ Latinh – Ambrôsiô, Augustinô – cũng đi theo đường hướng này.

Dĩ nhiên, những Giáo Phụ này thỉnh thoảng có nhắc nhở rằng các ngài không thể đi quá xa trong đường hướng này mà không thấy mình ở cùng phe với những người theo lạc giáo Manikê, mà các ngài đã chống lại trong những tác phẩm khác. Đây là những tái quả quyết định kỳ về sự thiện thuộc bản chất của hôn nhân, như thánh Kim Khẩu đã viết một cách ngây thơ rằng “người chê bai hôn nhân cũng làm thiệt hại cho sự đồng trinh[16]”, mà không nhận ra đó là điều chính ngài đang làm! Như vậy người ta xây dựng sự đồng trinh trên đống đổ nát của hôn nhân, một điều không thực sự là phương pháp của Đức Giêsu.

Đây là một thứ nợ mà các Giáo Phụ này phải trả cho văn hóa đương thời, nhất là trong thành phần cấu tạo tân-Platô của nó vốn thấy khổ chế của linh hồn chủ yếu gắn chặt với thái độ dửng dưng trước vật chất và “xác thịt”, xác thịt này hiểu theo nghĩa siêu hình của người Hy Lạp, hơn là theo nghĩa luân lý của Phaolô. Không phải ngạc nhiên gì cả. Chúng ta cũng vậy, dù không nhận ra, chúng ta đang trả nợ cho văn hóa mà chúng ta đang là sản phẩm của nó: một văn hóa theo hướng đối nghịch với văn hóa của các ngài, hoàn toàn hướng về những sự ở trần gian, cũng như văn hóa của các ngài hướng về những sự trên trời. Một món nợ – món nợ của chúng ta – xét toàn bộ có lẽ còn nguy hiểm hơn nhiều, so với món nợ mà các ngài đã trả.

Trong nhãn quan của các Giáo Phụ, điểm nhấn chuyển từ cánh chung học sang khởi nguyên học, tức từ điều sẽ là lúc cuối cùng ở Giêrusalem trên trời, sang điều vào lúc bắt đầu ở địa đàng. Kiểu mẫu và điểm tới của trinh nữ, còn hơn là cuộc đời của “những con cái của sự sống lại”, là cuộc sống không có nhục dục, trước khi sa ngã. Còn hơn là một sự báo trước cho Vương Quốc sau cùng, sự đồng trinh được nhìn như một sự trở lại địa đàng. Hoặc đúng hơn, đó là cuộc sống của lúc cuối cùng, được quan niệm theo kiểu mẫu những gì đã xẩy ra lúc khởi đầu, như một sự “phục hồi” (apokatastasis) tình trạng nguyên thủy. Người ta cũng nói về “sự sống của thiên thần” (bios angelikos) hoặc “như các thiên thần”, nhưng nhắc tới bản tính phi vật chất của các tinh thần thuần túy hơn là theo nghĩa những hữu thể bất tử, như Đức Giêsu đã hiểu (x. Mt 22,30).

Đó cũng là điều người ta nhận thấy nơi hầu hết các nhân đức Kitô giáo, như tôi đã lưu ý trong một dịp khác, khi nói về sự vâng phục. Người ta thay thế động lực khởi giảng dựa vào việc bắt chước Đức Kitô, bằng động lực thoát thai từ đạo đức học Hy lạp dựa vào nguyên tắc “lý trí ngay thẳng”. Grêgôriô Nyssê nói về một linh hồn “đồng trinh bằng cách đi theo lý trí[17]”. Chúng ta hẳn thích kiểu nói “bằng cách đi theo lời gọi của Đức Kitô” hơn. Nhưng trong một thời gian dài các tác giả Kitô giáo cảm thấy cần phải tìm cho các nhân đức một nền tảng phổ quát, ít tùy tiện và mang tính lịch sử, hơn là nền tảng được thiết lập bởi lời Chúa và gương mẫu của Đức Kitô, và bởi mầu nhiệm vượt qua, mầu nhiệm là, hoặc dường như là, nền tảng của “lý trí ngay thẳng”.

Để giải thoát sự đồng trinh Kitô giáo khỏi những bãi cát, nơi đôi khi người ta thấy nó sa lầy trong đó – khi giờ đây người ta không chấp nhận sự đối chọi mặc nhiên của nó với hôn nhân nữa – cần tái khám phá động lực chỉ thuần túy thuộc Kinh thánh, một động lực, nhiều hơn trong những gì chúng ta đã xem xét cho tới lúc này, đã tỏa sáng trong cuộc đời của các nhân vật Tân Ước: nơi Đức Giêsu, Đức Maria, Phaolô, Gioan. Người ta thường viện dẫn vấn nạn là nhiều tông đồ như Phêrô đã có gia đình. Nhưng người ta quên rằng nếu họ có gia đình, Chúa đòi hỏi nơi họ một hy sinh còn lớn hơn rất nhiều: bỏ lại vợ con, nhà cửa vì Nước Trời. “Ông Phêrô thưa: ‘Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ những gì là của mình mà theo Thầy’. Người đáp: ‘Thầy bảo thật anh em: chẳng hề có ai bỏ nhà, bỏ vợ, anh em, cha me hay con cái vì Nước Thiên Chúa, mà lại không được gấp bội ở đời này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau’” (Lc 18,28-30).

Sự đồng trinh và mầu nhiệm vượt qua

Sự tiết dục hoàn hảo vì Nước Trời không có ý nghĩa hay giá trị nào về phương diện khổ chế sao? Nó cũng không phải là hy sinh và từ bỏ sao? Chắc chắn như vậy; nhưng khía cạnh này cũng phải tuyệt đối đưa về nền tảng Thánh kinh của nó là “Chúa Giêsu” và mầu nhiệm vượt qua của Ngài.

Nước Thiên Chúa đã đến khi nào và cách nào? Đức Giêsu đã trở thành “Chúa” khi nào và cách nào? Cũng tông đồ Phaolô trả lời cho chúng ta: trên thập giá! Ngài vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2,8-11). Thiên Chúa đã tặng ban cho Ngài danh hiệu Kyrios, Chúa.

Tôi nhớ đến ngày các anh em cầu nguyện cho tôi. Có một lúc họ mời gọi tôi lại lựa chọn, với tất cả tự do và hiểu biết, Đức Giêsu làm Chúa của đời mình. Lúc đó tôi ngẩng đầu và nhìn lên cây thánh giá treo trên tường trước mặt tôi, bên trên bàn thờ. Dường như cây thánh giá ở đó từ lâu để chờ đợi tôi. Ngay tức khắc, chân lý sau đây được in bằng những nét đanh thép bên trên tôi: “Bạn đừng có ảo tưởng, chính người đó, Đức Kitô, mà bạn đã chọn làm Chúa của bạn, chứ không phải một người nào khác tình cảm mầu mè!” Sau đó, tôi đã phải ghi nhận sự thật của lời này biết bao nhiêu!

Ở trần gian, hiền thê của Đức Kitô có nghĩa là “chịu đóng đinh cùng với Đức Kitô”, nhưng trong hy vọng được sống lại với Ngài. Niềm vui không bao giờ thiếu, nhưng là một niềm vui hy vọng (spes gaudentes), hệ tại ở hy vọng được hạnh phúc và hạnh phúc được hy vọng. Thánh Tông Đồ viết: “Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt họ vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5,24). Làm vang vọng những lời trên, thánh tử đạo Ignatiô Antiokia đã viết khi đang trên đường bị giải về Rôma để chịu tử hình: “Thật tốt cho cha được đi đến ngày cuối, khi rời bỏ thế gian này để về cùng Thiên Chúa, để trỗi dậy trong Ngài…Những đam mê (eros) trần gian của cha đã bị đóng đinh. Cha không còn ước muốn tha thiết những việc trần gian nữa[18]”.

Vì vậy, không nên ngạc nhiên nếu trong truyền thống khổ chế và thần bí của Giáo hội, thập giá thường được định nghĩa là “giường cưới”, nơi linh hồn kết hợp với phu quân thần linh của mình. Chân phước Angêla Folignô thưa với Đức Kitô: “Con đã đặt giường của con trong thập giá Chúa”. Đó là hoàn tất lời của Đức Giêsu: “Phần tôi, một khi được giương  cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Đức Giêsu đã lôi kéo những linh hồn chọn Ngài làm phu quân trên thập giá. Ở đó, một sự ôm ấp huyền diệu xẩy ra, mà sách Diễm ca có nói đến: “Chàng đưa tay trái cho tôi gối đầu, đưa tay phải ghì chặt lấy tôi” (Dc 8,3). Ở đó, lời tiên tri chúng ta đọc trong Giêrêmia cũng được thực hiện: “Đức Chúa đã tạo ra điều mới lạ trên mặt đất, đó là vợ tìm kiếm chồng mình” (Gr 31,22). Lời này quy chiếu tới cộng đồng của Tân Ước, được coi như hiền thê của Thiên Chúa, người không thoát khỏi phu quân của mình để chạy theo những thần tượng nữa; nhưng là chính nàng sẽ đi tìm chàng, để không bao giờ còn xa lìa chàng. Đó là một biến cố đã được thực hiện trong toàn thể Giáo hội, trong điều mà một Giáo Phụ đã gọi là “sự xuất thần của thập giá”, từ đó sinh ra Evà mới[19]; và được thấy lại cách thần bí nơi mỗi linh hồn hiền thê của Đấng chịu đóng đinh, và như vậy cho thấy hình ảnh và biểu tượng của giao ước phu thê mới giữa Thiên Chúa và dân Người.

Lý tưởng đóng đinh xác thịt mình vào thánh giá chắc chắn không hoàn toàn riêng cho các người đồng trinh – chúng ta đừng nghĩ tới điều đó! – nhưng được mở ra cho tất cả những ai nhận được Thần Khí của Thiên Chúa. Những người có gia đình cũng phải đi qua lửa của cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, nếu họ muốn hôn nhân của họ thực sự là “mầu nhiệm lớn” biểu thị sự kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo hội. Sự kết hợp này được thực hiện ở đâu và thế nào? Có phải là trong giường ấm chăn êm, hay đúng hơn, như thánh Phaolô nói, lại không phải là trong máu và trên thập giá sao? Vì vậy, sự kết hợp hoàn hảo nhất giữa đôi vợ chồng không phải là sự kết hợp họ trải nghiệm khi vui thú bên nhau; nhưng là sự kết hợp họ trải nghiệm khi cùng nhau chịu khổ, người này cho người kia, người này với người kia; khi họ yêu nhau trong đau khổ và mặc cho những đau khổ. Sự kết hợp thứ nhất phải giúp cho sự kết hợp thứ hai có thể thực hiện được.

Tôi đã nói việc đóng đinh xác thịt mình vào thánh giá không hoàn toàn thuộc về các người đồng trinh; tuy nhiên, việc đó thuộc về họ với một tước hiệu khác và mạnh hơn, vì họ biến việc đó thành hình thức sống của họ. Ở đây chúng ta thấy một tiềm lực khổ chế lớn lao của cố gắng, đấu tranh, cái chết, sự đồng trinh vì Nước Trời. Đóng đinh xác thịt mình với những đam mê và ước muốn, nhất là ước muốn tình dục thúc bách nhất trong tất cả các ước muốn, không phải là chuyện đùa, “vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí” (Gl 5,17). Đó là một kẻ thù bên trong khuấy khuất chúng ta không ngừng, ngày cũng như đêm, một mình hay cùng với những người khác. Nó có một liên minh rất hùng mạnh – thế gian – là lực lượng cho nó sử dụng mọi của cải, luôn sẵn sàng cho nó có lý và bảo vệ quyền lợi của nó nhân danh bản tính, lương tri, sự tốt lành căn bản của mọi sự…Đây thực sự là chiến trường “nơi mà trận đánh càng xẩy ra hàng ngày thì chiến thắng càng hiếm[20]”. Những nhà khổ hạnh nhiệt tình là các ẩn sĩ sa mạc đã có kinh nghiệm cay đắng về điều đó; một số người chịu ảnh hưởng của những cám dỗ về xác thịt, đã bị đẩy tới tận cùng của tuyệt vọng. Một người trong số họ đã kể lại: “Trong suốt 12 năm, sau khi tôi 50 tuổi, ma quỷ tấn công tôi không ngưng nghỉ, cả ngày lẫn đêm. Tưởng rằng Thiên Chúa đã bỏ tôi, và chính vì thế mà tôi sống dưới sự chi phối của Ác thù, tôi quyết định chọn cho mình một cái chết phi lý, hơn là chịu nhục nhã vì những đam mê xác thịt. Tôi ra đi, và sau khi lang thang trong sa mạc, tôi tìm thấy hang của linh cẩu. Trong hang này, ban ngày tôi ở trần, để các thú dữ khi ra khỏi hang sẽ xé xác tôi”. Sau nhiều toan tính theo cách này, ông nghe một giọng nói trong trí ông như sau: “Này Pacômô, cứ đi và chiến đấu; ta đã để ngươi cho Ác thù thống trị, để ngươi đừng kiêu ngạo tưởng mình mạnh mẽ, ngược lại để ngươi nhận ra sự yếu đuối của ngươi, và đừng quá tin tưởng vào lối sống của ngươi, ngươi trông nhờ vào Thiên Chúa giúp sức[21].”

Ngày nay, một số người nhìn vào cách chiến đấu khổ hạnh này với thái độ nghi ngờ, bị coi là hình thức khổ dâm (masochisme). Không nên đánh giá thấp lời tố cáo này. Tuy nhiên lời tố cáo này không có cơ sở, vì đây là cuộc chiến đấu với tất cả tự do, với những động lực khách quan và sâu sắc y như những động lực chúng ta đã đề cập cho tới lúc này. Ngay cả người kết hôn với một người, lại không phải chiến đấu và từ bỏ nhiều sự, để bảo vệ tình yêu và tỏ ra trung thành với người đó sao? Vậy có gì là lạ khi một người được kêu gọi làm phu quân hay hiền thê của Thiên Chúa Uy Linh, phải đương đầu với một cuộc chiến đấu và một sự từ bỏ triệt để và đòi hỏi hơn?

Đây không phải là lúc tôi nói nhiều về những hình thức và khía cạnh cụ thể của cuộc chiến đấu cho sự khiết tịnh (tôi sẽ trở lại sau). Điều quan trọng là làm sáng tỏ những nền tảng và động lực Thánh kinh của nó. Như tôi đã nói, khía cạnh khổ chế của sự từ bỏ trong sự đồng trinh và độc thân là dựa trên mầu nhiệm vượt qua. Tôi thật sự tin rằng lý do cuối cùng của độc thân và đồng trinh nằm ở đây. Hiểu biết điều này sẽ giúp ích rất nhiều, để vượt qua mọi nghi ngờ và dè dặt đã từng được đưa ra, chống lại bậc sống này trong lịch sử, không những ở bên ngoài Giáo hội, mà ít lâu nay còn ở trong Giáo hội nữa. Từ đây, chúng ta sống trong một bối cảnh xã hội, trong đó, không giống như trong quá khứ trong những gì liên hệ đến việc bảo vệ sự khiết tịnh, chúng ta không còn có thể dựa vào những kiểu bảo vệ bên ngoài, như “nam nữ thọ thọ bất thân”, hoặc kiểm soát chặt chẽ những cuộc tiếp xúc với thế giới, hoặc vô số biện pháp phòng ngừa chi tiết khác, trong đó có các “Quy luật” về việc tuân giữ lời khấn này. Những phương tiện thông tin và di chuyển dễ dàng tạo ra một tình hình mới. Từ nay, việc bảo vệ sự khiết tịnh được phó thác phần lớn cho chính đương sự. Nó chỉ có thể dựa trên những xác tín mạnh mẽ cá nhân có được nhờ tiếp xúc với Thiên Chúa trong kinh nguyện và trong lời Ngài. Chính trong tinh thần này và với tình hình này mà chúng ta tiếp tục suy tư.

Vậy, độc thân là vì Nước Trời. Nhưng tại sao Nước Trời lại đòi hỏi độc thân? Nước Trời lại không thể được thực hiện và bầy tỏ hoàn toàn qua hôn nhân, như đã xẩy ra trước Đức Kitô, trong chế độ Sáng Tạo sao? Chúng ta có câu trả lời của thánh Phaolô khi ngài viết ở đầu lá thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô: “Thật vậy, thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biệt Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin” (1Cr 1,21).

Chúng ta đứng trước một nguyên tắc có tầm quan trọng khôn lường, soi sáng tất cả cuộc đời trần gian của Đức Giêsu, ngay cả cuộc sống của người Kitô hữu. Sự “điên rồ” của lời rao giảng, chúng ta biết đó là thập giá. Ba lời khấn dòng nghèo khó, vâng phục, khiết tịnh bắt nguồn từ nguyên tắc này, cũng như được nguyên tắc này biện minh. Vì con người đã không thể sử dụng trí khôn và ý nuốn để đến với Thiên Chúa, nhưng biến chúng thành thần tượng, thì đây Thiên Chúa muốn tỏ cho thấy một con đường khác, con đường của sự điên rồ thập giá, của từ bỏ lý trí và ý muốn riêng của mình, mà những người “điên rồ vì Đức Kitô” và những người vâng phục Đức Kitô thực hiện theo những cách khác nhau. Vì con người đã không thể sử dụng tính dục để ra khỏi mình mà mở lòng cho tình yêu đối với người khác và Thiên Chúa, nhưng biến nó thành một thần tượng, được ban tặng những danh hiệu riêng (Astarté, Vénus…), thì đây Thiên Chúa muốn mạc khải trong Phúc Âm con đường từ bỏ việc thực hành tích cực tính dục, được diễn tả trong sự tiết dục vì Nước Trời và trong sự khiết tịnh hoàn hảo. Vì con người đã không thể sử dụng của cải trong sự vâng phục Thiên Chúa, nhưng biến nó thanh cơ hội tham lam, cướp đoạt, ức hiếp, thì đây Thiên Chúa đã muốn mạc khải trong Phúc Âm con đường từ bỏ giầu sang, trong sự nghèo khó triệt để vì Nước Trời.

Như ta thấy, ý nghĩa khổ chế của các lời khấn dòng dựa trên điểm quan trọng của mầu nhiệm Kitô giáo và trong chính lịch sử cứu độ. Nếu nhà cải cách Luthêrô từ chối toàn bộ đời sống tu dòng và các lời khấn thì chỉ là do những hoàn cảnh bên ngoài và do bút chiến hăng hái quá, khiến ông không phân biệt được điều tốt với các lạm dụng về nó. Thật ra, chưa bao giờ có một ai đã cho các lời khấn dòng một nền tảng vững chắc hơn ông, khi ông đặt ra nguyên tắc “Thiên Chúa mạc khải mình qua hình ảnh trái ngược” (sub contraria specie), nói cách khác, trong Tân Ước, Ngài mạc khải vinh quang trong sự khiêm nhường, sự khôn ngoan trong “điên rồ”.

Quả thực, nếu Thiên Chúa tự mạc khải mình dưới một hình thức đối nghịch với hình thức mà lý trí con người cho là xứng hợp, thì hậu quả là phải đón nhận Ngài theo cách Ngài tự mạc khải, đi vào trong cách Ngài làm, nói cùng một ngôn ngữ như ngôn ngữ của Ngài. Đón nhận một Thiên Chúa mạc khải mình là người “điên rồ”, nghèo khó, đau khổ, với tư cách của những người thông thái, giầu có, hưởng thụ, thật là lạ lùng. Không thể được, và chính Đức Giêsu quả quyết như thế khi nói rằng ai muốn đi theo Ngài phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo, và rằng Chúa Cha đã giấu không cho những người thông thái và khôn ngoan biết những mầu nhiệm Nước Trời, nhưng đã mạc khải cho những người bé mọn.

“Phát minh” thứ hai của Thiên Chúa, tức phát minh về sự cứu chuộc, dành ưu đãi cho sự “điên rồ”, nghèo khó và khiết tịnh, không hủy bỏ phát minh thứ nhất, tức phát minh về sự sáng tạo. Cả hai sống chung với nhau, ngay cả trong chế độ mới của cứu chuộc, trong đó có chỗ cho trí khôn, sự khôn ngoan và sự tìm kiếm trong lãnh vực con người và Thiên Chúa, cho hôn nhân, cho sự chiếm hữu và sử dụng của cải. Nhưng phát minh thứ hai tương đối hóa phát minh thứ nhất, khiến nó không còn tự phụ về tuyệt đối đưa nó tới chỗ thờ ngẫu tượng, khiến những thực tại này gặp khủng hoảng, nhưng là khủng hoảng có ích, nhờ đó mà những thực tại này được thanh tẩy và được đưa về hình thức nguyên thủy của chúng. Thánh Grêgôriô Nadian có lý khi viết: “sẽ không có sự đồng trinh nếu đã không có hôn nhân, nhưng hôn nhân sẽ không thánh thiện nếu đã không được hoa quả của sự đồng trinh đi kèm[22]”.

Một số Giáo Phụ, chẳng hạn thánh Gioan Kim Khẩu, thánh Grêgôriô Nyssê, thánh Maximô Người Tuyên Tín, đã nghĩ rằng nếu không có tội của Ađam, thì sẽ không có hôn nhân với sự sinh sản theo con đường tính dục đang là đặc điểm của nó; là vì, bằng cách mà giờ đây nó đang được thực hành, tính dục nơi con người là hậu quả của tội tổ tông truyền[23]. Nhưng trong một viễn tượng có tính cách Kinh thánh hơn và ít lý tưởng hơn, đúng ra phải nói rằng chính điều ngược lại mới là thật. Quả thực, nếu đã không có tội, sẽ không có sự đồng trinh, vì sẽ không cần cáo giác và xét đoán hôn nhân cũng như tính dục.

Nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục không phải là từ chối – hoặc, tệ hơn, lên án – một điều tốt do Thiên Chúa tạo dựng, nhưng là khước từ một điều xấu chồng lên điều tốt này. Vậy chúng là cách công bố tuyệt vời sự tốt lành nguyên thủy của tạo thành và những gì Thiên Chúa đã dựng nên. Chúng là một cách bắt chước Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng mà khi nhập thể, đã đảm nhận toàn thể con người, nhưng không mắc tội (x. Dt 4,15).

Những lời khuyên Phúc Âm và những lời khấn dựa trên đó công bố công trình của Thiên Chúa là tốt đẹp và mỹ miều, đồng thời tố giác cách chính đáng công trình của con người là hàm hồ. Việc không có khả năng hiểu biết giá trị của đồng trinh, cũng như vâng phục và nghèo khó tự ý, luôn cho thấy ý thức về tội lỗi đã giảm sút trên bình diện đức tin, nêu ra đặc tính của những thời kỳ tục hóa gay gắt, lạc quan ngây ngô đối với con người và thế giới.

Tất cả những gì nói cho tới lúc này phân biệt ở tận gốc rễ khổ chế Kitô giáo với tất cả những loại khổ chế khác – Manikê, Cathari – là những loại lên án chính thực tại hôn nhân và sự sở hữu của cải. Dưới ánh sáng này, nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục công bố hùng hồn nhất sự cứu chuộc của Đức Kitô, của mầu nhiệm vượt qua, là mầu nhiệm không hủy bỏ sự sáng tạo khởi nguyên, như lạc thuyết Marciô chủ trương, nhưng “thâu họp” nó, như thánh Irênê nói, nghĩa là đưa nó về lúc khởi đầu của nó.

Dưới ánh sáng này, người ta cũng có thể hiểu được yêu tố tích cực và luôn có giá trị trong trực giác của các Giáo Phụ về sự đồng trinh như là trở lại với tình trạng ở địa đàng, miễn là qua việc trở lại này, người ta không muốn gạt ra ngoài tính dục và hôn nhân (“Người đã dựng nên họ có nam có nữ”), nhưng chỉ tội lỗi, là yếu tố đã được chồng lên tính dục và hôn nhân do sự tự do của con người.

Như vậy, đời sống đồng trinh và khiết tịnh, theo một nghĩa rất sâu sắc, là một đời sống vượt qua. Thánh Tông Đồ viết: “Quả vậy, Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ” (1Cr 5,7-8). Chữ được dịch là tinh tuyền (heilikrineia) chứa đựng ý tưởng về sự huy hoàng của mặt trời (heile) và về thử thách hay xét xử (krino); như vậy nó có nghĩa là sự trong suốt của mặt trời, một sự việc đã được thử thách chống lại ánh sáng và thấy là tinh tuyền. Đó là kiểu mẫu sống phát xuất từ cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, chung cho mọi tín hữu; nhưng các người đồng trinh phải coi là của họ, với một tước hiệu hoàn toàn đặc biệt, đến độ trở nên các chứng nhân và dấu chỉ của nó đối với mọi người, trong Giáo hội.

Cùng một khái niệm căn bản này được thánh Phaolô diễn tả trong một bản văn khác ở thư Rôma, trong đó chúng ta cũng thấy ý tưởng về hy tế: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, nên tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,1-2). “Nên tôi khuyên nhủ anh em”: liên từ “nên” ở đây rất có ý nghĩa. Nó có nghĩa là của lễ sống động của người Kitô hữu là do hy tế của Đức Kitô đòi hỏi, hy tế mà Phaolô đã nói trước đây. Nó là một hậu kết lôgíc của hy tế này. Vì Đức Kitô đã hiến dâng thân mình làm hy tế, các môn đệ cũng phải hiến dâng thân xác mình làm hy tế. Chúng ta thấy ở đây đời sống người Kitô hữu, ngoài dấu vết vượt qua, còn có dấu vết Thánh Thể như thế nào.

Hy tế luôn giả thiết sự phá hủy và cái chết của một cái gì đó, và ở đây người ta nói đến một hình thức tách lìa và cái chết: người Kitô hữu không được rập theo thói đời này, ngược lại, họ phải “chết cho thế gian”. Có một loại suy nào đó giữa cái chết thể xác và cái chết thuộc khổ chế. Trong cái chết thể xác, linh hồn lìa khỏi xác. Trong cái chết tinh thần, hồn và xác, nghĩa là tất cả con người, lìa khỏi thế gian, một thế gian biểu thị một loại thân xác lớn hơn, nơi con người sống và hoạt động. Cả hai cái chết đều đau đớn, vì bị bứng khỏi đất, nơi mà chúng ta đã được trồng và đã mọc rễ. Do đó vì sao chúng ta nói đến một của lễ “sống động”: chết khi đang sống và sống khi đang chết. Như thánh Tông Đồ nói, đó thực sự là chịu đóng đinh: “Thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6,14).

Một lần nữa, chúng ta không được coi lý tưởng hy tế sống động này như độc quyền của các người đồng trinh. Chúng ta chỉ nói rằng người đồng trinh phải biến nó thành của mình, sống nó triệt để hơn, và làm cho nó trở thành bản chất của đời sống hàng ngày. Họ không được để mình bị lừa phỉnh, nếu ngày hôm nay người ta thường nghe nói đặt lại vấn đề về lý tưởng truyền thống “xa tránh thế gian”, như không còn đáp ứng được khái niệm về một Giáo hội “cho thế giới”. Người ta có thể chỉ trích và từ bỏ kiểu nói, nhưng bản chất thì không thể đụng đến, vì dựa trên lời Thiên Chúa là lời “hằng sống và vĩnh cửu”. Thánh Gioan, người đã viết trong sách Phúc Âm là “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian”, cũng là người đã viết cho các Kitô hữu trong lá thư đầu tiên của mình: “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian!”(1Ga 2,15).

Để kết luận cho phần đầu tiên này, trong đó tôi đã tìm cách làm sáng tỏ những động lực thuộc Kinh thánh của sự đồng trinh, tôi muốn nhắc lại một bản văn sắc lệnh của Công đồng Vaticanô II về việc canh tân đời sống tu trì, tóm tắt hầu như tất cả những động lực chúng ta đã nêu trên: “Sự khiết tịnh vì Nước Trời (Mt 19,12) mà các tu sĩ khấn giữ, phải được quý trọng như một ân huệ cao cả của ơn thánh. Thật vậy, ơn ấy giải thoát lòng con người cách đặc biẹt (x. 1Cr 7,32-35) để nồng nàn mến Chúa và yêu mọi người hơn (chiều kích hiện sinh của sự đồng trinh); vì thế, sự khiết tịnh là dấu chỉ đặc biệt của kho tàng trên trời (chiều kích tiên tri của sự đồng trinh) và cũng là phương tiện thích hợp nhất cho các tu sĩ hân hoan hiến mình phụng sự Thiên Chúa và làm việc tông đồ (chiều kích truyền giáo của sự đồng trinh). Do đó, họ gợi ra trước mặt mọi Kitô hữu sự kết hiệp lạ lùng do Thiên Chúa thiết lập, và sẽ tỏ hiện đầy đủ ở đời sau, là Giáo hội được nhận Đức Kitô làm đức lang quân độc nhất của mình (chiều kích hôn ước của sự đồng trinh).[24]

3. Sống sự đồng trinh và độc thân vì Nước Trời như thế nào

Hôn nhân và đồng trinh: hai đặc sủng

Ngày hôm nay trong Giáo hội, sự độc thân và đồng trinh đã trở thành một thể chế. Đối với xã hội, đó là một “tình trạng”, và thực ra, trên thẻ căn cước, người ta viết: “Tình trạng dân sự: độc thân”. Từ đây một tình trạng được luật pháp quy định, là đề tài cho vô số tranh luận giữa lòng Giáo hội – chẳng hạn xem có phải duy trì nó cho các linh mục không, và cứ như thế – bị nhìn bằng cặp mắt nghi ngờ và đôi khi, với lòng trắc ẩn bên ngoài Giáo hội, về phía nhiều đại diện của các khoa học nhân văn, như tâm lý học và xã hội học. Một trong số họ – chỉ đề cập người nổi tiếng hơn hết – đã nói rằng “ở thời đại chúng ta chứng loạn thần kinh thay thế cho tu viện, nơi mà ngày xưa tất cả những người thất vọng về cuộc sống, hoặc cảm thấy mình quá yếu nên không thể đương đầu với nó, đã có thói quen lui về ở ẩn[25]”. Sự đồng trinh và độc thân hẳn là cái tương đương ngày xưa của chứng loạn thần kinh ngày nay!

Trong bầu khí này, những từ độc thân và đồng trinh rất dễ gợi ngay lên ý tưởng về một vần đề không giải quyết được, một chủ đề nóng bỏng hơn là một lý tưởng, một “phát minh” thần linh của Đức Kitô. Có nguy hiểm là không còn nhìn thấy điều cốt yếu đối với những câu hỏi thuần túy ngẫu nhiên. Chúng ta phải trải qua một sự thay đổi não trạng và một sự hoán cải, một điều chỉ có thể xẩy ra nhờ công trình của Chúa Thánh Thần. Thần Khí không làm những sự mới, nhưng làm cho mọi sự nên mới. Ngài làm mới những con người và thể chế, và như vậy cũng làm mới sự độc thân và đồng trinh cho Chúa. Chúa Thánh Thần thổi hơi mạnh mẽ để khôi phục sự xác thực và huy hoàng thuộc Phúc âm cho tất cả những gì trong Giáo hội.

Tôi thích trích dẫn lời của Đức Gioan Phaolô II, viết nhân dịp kỷ niệm 1600 năm công đồng Constantinôpôli (381) công bố thần tính của Chúa Thánh Thần: “Tất cả công trình canh tân Giáo hội mà công đồng Vaticanô II do Chúa quan phòng đã đề ra và bắt đầu…chỉ có thể được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là với sự giúp đỡ của ánh sáng và sức mạnh của Ngài[26]”.

Quả thực, sự đồng trinh cả nơi người nữ lẫn nơi người nam là gì? Khởi đi từ một lời của Phaolô trong bản văn chúng ta đã bình giải trên đây: “Về vấn đề độc thân, tôi không có chỉ thị nào của Chúa, nhưng tôi chỉ khuyên nhủ anh em” (1Cr 7,25), sự đồng trinh trong quá khứ – cũng như sự nghèo khó tự ý và vâng phục – đã được xem xét và cắt nghĩa nhiều hơn trong loại các “lời khuyên Phúc âm” và như vậy là phân biệt với các “lệnh truyền”, chẳng hạn trung thành trong bậc vợ chồng. Điều người ta có thể nói và hiểu về sự đồng trinh và độc thân với một khái niệm như thế, tôi nghĩ là từ đây đã được minh giải rộng rãi. Chúng ta chỉ có thể thêm rất ít điều mới vào tổng hợp rõ ràng, mà thánh Tôma đã làm trong bộ Tổng luận Thần học[27]. Vì vậy, cũng nên tìm cách xem những gì chúng ta có thể hiểu là mới, bằng cách đi từ một loại khác được thánh Tông Đồ sử dụng trong cùng một văn mạch, để định nghĩa hôn nhân và đồng trinh: đó là loại đặc sủng. Ngài nói: “Mỗi người được Thiên Chúa ban cho đặc sủng riêng, kẻ thế này, người thế khác” (1Cr 7,7). Nói cách khác, người kết hôn có đặc sủng của mình, người đồng trinh có đặc sủng của mình. Ý tưởng về “quà tặng” vả chăng là mặc nhiên, trong chính lời Đức Giêsu thiết lập sự độc thân vì Nước Trời, khi Ngài nói rằng không phải ai cũng có thể hiểu ngôn ngữ này, nhưng chỉ những ai “được Thiên Chúa cho hiểu” (derdotai) mới hiểu mà thôi (x. Mt 19,11).

Một sự bầy tỏ đặc biệt của Thần Khí

Vậy nếu sự đồng trinh chủ yếu là một đặc sủng, thì chính là “một sự bày tỏ đặc biệt của Thần Khí”, vì đặc sủng được định nghĩa như vậy trong Tân Ước (1Cr 12,7). Nếu là một đặc sủng thì đó một quà tặng nhận được từ Thiên Chúa hơn là một quà tặng dâng cho Thiên Chúa. Lời của Đức Giêsu “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,6) đặc biệt áp dụng cho các người đồng trinh. Người ta không chọn sự độc thân và đồng trinh để vào Nước Trời, nhưng vì Nước Trời đã đi vào trong ta. Nói khác đi, người ta không giữ mình đồng trinh để cứu linh hồn mình tốt hơn, nhưng vì Nước Trời, hoặc đúng hơn, chính Chúa đã chiếm đoạt chúng ta, đã kén chọn chúng ta, và vì chúng ta cảm thấy nhu cầu được tự do để hoàn toàn đáp lại sự kén chọn này.

Từ những gì đã nói cho tới lúc này, người ta nhác thấy cần có một sự chuyển đổi về vấn đề đồng trinh và độc thân, và sự chuyển đổi này hệ tại ở chỗ chuyển thái độ của người tưởng mình đã làm một quà tặng, một sự hy sinh – một sự hy sinh lớn – sang thái độ hoàn toàn khác của người thấy mình đã nhận được một quà tặng – một quà tặng lớn – và trước hết phải tạ ơn. Chúng ta phải thú nhận đôi khi có tình cảm này nơi những người thánh hiến, ít nhiều ý thức. Đôi khi các anh em có gia đình của chúng ta, tuy không nhận ra tình cảm này, vẫn luôn xác tín với những ý kiến như: “từ chối xây dựng một gia đình, sống một mình, từ chối một tương lai xán lạn như thế, khép mình trong một chủng viện hay một tu viện, một sự từ chối đẹp biết bao, can đảm biết bao! Và cuối cùng chính chúng ta cũng tin vào điều đó. Trong khi nếu ơn gọi của chúng ta là xác thực, chúng ta biết rằng điều ngược lại mới đúng, và phải kêu lên: may quá! Tôi tin rằng không một ai đã được mời gọi theo Đức Kitô như thế, người đã không thấy rõ hoặc ít ra theo trực giác, vào một lúc nhất định – đặc biệt lúc đầu, lúc ơn gọi vừa chớm nở – rằng lời mời gọi này là một ân sủng của Thiên Chúa, ân sủng lớn nhất sau phép Rửa tội.

Chúng ta hãy tiến thêm một bước nữa. Nếu đồng trinh hoặc độc thân là một đặc sủng, nó phải được sống theo cách đặc sủng, và sống nó theo cách đặc sủng có nghĩa rất đơn giản là sống nó như thường sống một quà tặng. Trước hết, phải có lòng khiêm nhường. Vị tử đạo vĩ đại Ignatiô Antiôkia, người sống rất gần với thời tông đồ, đã viết: “Nếu ai có thể sống khiết tịnh để kính trọng xác thịt của Chúa, người đó hãy ăn ở khiêm nhường. Nếu vì đó mà kiêu ngạo, người đó thất bại; nếu người đó nghĩ mình hơn giám mục, sự khiết tịnh của người đó là hỏng[28].” Các Giáo Phụ, như thánh Hiêronimô, thánh Augustinô, thánh Bênađô, còn đi đến chỗ nói rằng “người không tiết dục mà khiêm tốn còn hơn là người độc thân mà kiêu ngạo”. Có mối liên quan lớn giữa khiêm nhường và khiết tịnh; cũng như giữa kiêu ngạo và dâm dật. Dâm dật là sự kiêu căng của xác thịt, và kiêu căng là dâm dật của tâm trí. Các người độc thân và đồng trinh đặc biệt dễ bị cám dỗ kiêu ngạo. Họ là những người không bao giờ quỳ gối trước một thụ tạo, thừa nhận mình cần một người khác khi nói: “Hãy cho tôi con người của anh, vì con người của tôi không đủ”. Người ta nói ra một sự thật sâu sắc: “Con người là một hữu thể kiêu ngạo. Đã không có cách nào khác giúp cho anh ta hiểu người lân cận hơn là làm cho người đó đi vào trong xác thịt anh ta. Đã không có cách nào khác giúp cho anh ta hiểu sự tùy thuộc, sự cần thiết, nhu cầu, một người khác về anh ta, luật của con người khác này về anh ta, không vì một lý do nào khác ngoại trừ lý do anh ta tồn tại[29]”. Hình thức đầu tiên, hình thức triệt để nhất của tùng phục là sự tùng phục của đàn ông đối với đàn bà, và của đàn bà đối với đàn ông. Những người độc thân và đồng trinh cũng sống, theo một cách khác chứ không phải theo cách vợ chồng, hình thức tùng phục này, rất có ích để chiến thắng sự tự mãn, kiêu ngạo và không muốn tùy thuộc. Nhưng chắc chắn họ ít bị ảnh hưởng bởi người khác phái, và vì vậy dễ có tâm trí kiêu ngạo hơn. Một vị kinh lý do giáo quyền sai đến với một cộng đồng trinh nữ sống rất khắc khổ và có văn hóa (tôi nghĩ đó là cộng đồng Port-Royal), đã phải nói trong bản tường trình: “Những người đàn bà này trong sạch như các thiên thần, nhưng kiêu ngạo như quỷ dữ”. Như vậy, cách đầu tiên sống ơn khiết tịnh là khiêm nhường.

Cách thứ hai là vui mừng bình an, vì Kinh Thánh viết: “Hoa quả của Thần Khí là bác ái, niềm vui, bình an” (Gl 5,22) và nếu khiết tịnh hoàn toàn vì Nước Trời là một đặc sủng, nó phải bầy tỏ những hoa quả của Thần Khí.

Cuối cùng, nếu đồng trinh là một đặc sủng, nó phải được sống cách tự do, vì Kinh Thánh cũng viết: “Ở đâu có Thần Khí của Chúa, ở đó có tự do” (2Cr 3,17). Một sự tự do bên trong, chứ không phải bên ngoài, có nghĩa là không có những mặc cảm, cấm kỵ, trở ngại, sợ hãi. Chắc chắn trong quá khứ người ta đã gây thiệt hại lớn cho sự đồng trinh Kitô giáo, khi làm cho con người quá sợ hãi, nghi ngờ nó, “phải để ý điều này điều nọ”, biến ơn gọi này thành một thứ đường đi có nhiều bảng chỉ dẫn “nguy hiểm! nguy hiểm!”. Chính là lặp lại sai lầm của người đầy tớ biếng nhác trong Phúc Âm, nhận một yến vàng quý giá lại đi chôn giấu dưới đất vì sợ mất, thay vì làm cho nó sinh lợi. Chúng ta đã để cho thế gian tin rằng nguyên tắc hành động nơi thế gian mạnh hơn nguyên tắc hành động nơi ta, trong khi thánh Gioan nói rõ với người Kitô hữu: “Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian.” (1Ga 4,4) Đôi khi chúng ta đã đặt ngọn đèn dưới đáy thùng, thay vì đặt trên giá đèn, để soi sáng cho mọi người trong nhà, tức là Giáo hội.

Chúng ta đã thấy đồng trinh vì Nước Trời vừa là rũ bỏ thế gian mang tính vượt qua, vừa là tiên tri về đời sống tương lai. Trong quá khứ các tu sĩ nam nữ đã chọn làm chứng bằng mầu tu phục và các dấu chỉ khác, nhất là dấu chỉ cho thấy khía cạnh đầu tiên là từ bỏ thế gian và cắt đứt với thế gian. Phải chăng sẽ không là điều tốt và hợp thời nếu những cộng đoàn tu sĩ mới, và cả những cộng đoàn truyền thống, cũng bày tỏ cho thế gian khía cạnh thứ hai của đặc sủng quan trọng hơn của họ, khía cạnh tiên báo, trong đức tin và đức cậy, sự sáng ngời và niềm vui của Giêrusalem thiên quốc, khi hiền thê sẽ mặc “áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (Kh 19,8)?

Một chứng tá tích cực như thế, cho thấy một vẻ đẹp khác và một niềm vui khác không biến chất, có lẽ cần thiết cho thế giới hơn là chứng tá tiêu cực chỉ nói về việc xa tránh thế gian, cho dù vẫn là điều tốt nếu nhắc lại rằng người ta làm chứng về niềm vui này qua ánh sáng của đôi mắt và qua ngôn ngữ dịu dàng, hơn là qua mầu sắc tu phục.

Thế nhưng kết quả quan trọng nhất mà người ta có được khi nói về đồng trinh và độc thân bằng những từ đặc sủng, có lẽ là kết quả vĩnh viễn làm tan đi sự đối kháng tiềm ẩn giữa đồng trinh và hôn nhân, đã từng gây biết bao đau khổ cho hai ơn gọi Kitô giáo này. Đồng trinh là một đặc sủng, hôn nhân cũng là một đặc sủng. Cả hai đều là cách “bầy tỏ đặc biệt của Thần Khí”. Sao lại có thể có đối kháng hay không tương thích, nếu cả hai phát xuất từ cùng một Thần Khí? Trong ý niệm về đặc sủng và ý niệm rất tương cận về ơn gọi, hai hình thức đời sống có thể cuối cùng hài hòa với nhau, thậm chí xây dựng cho nhau. Bên này củng cố bên kia, và không phá hoại bên kia. Chính vì hôn nhân, trong viễn tượng Kitô giáo, được đánh giá là một việc tốt và một quà tặng thiêng liêng, mà sự đồng trinh và độc thân là một cái gì đó đẹp đẽ và lớn lao. Quả thực, không kết hôn thì có công trạng gì, nếu hôn nhân là điều xấu xa, hoặc đơn giản là điều nguy hiểm và khuyên đừng làm? Tránh xa nó là một bổn phận, không hơn, cũng như có thái độ như vậy với bất kỳ cơ hội phạm tội nào. Nhưng chính vì hôn nhân là tốt và đẹp, mà từ chối nó vì một lý do cao hơn lại còn đẹp hơn. Người đi nghe một buổi hòa nhạc làm một chuyện tốt và lành mạnh. Nhưng người từ chối đi nghe vì tình yêu, mặc dù rất hấp dẫn – chẳng hạn được ở bên cạnh người mình yêu để cảm thấy mình ít đơn độc – làm một việc còn tốt hơn. Chính trong ý nghĩa này mà thánh Phaolô nói: “Ai cưới người trinh nữ của mình, thì làm một việc tốt, nhưng ai không cưới, thì làm một việc tốt hơn” (1Cr 7,38).

Suy cho kỹ, chỉ hôn nhân làm cho sự đồng trinh thành một sự lựa chọn, và chỉ có sự đồng trinh mới làm cho hôn nhân thành một sự lựa chọn. Không có một trong hai, sẽ không có lựa chọn nữa. Và nếu có một sự lựa chọn – chẳng hạn giữa hôn nhân và cái gọi là tình yêu tự do, giữa kết hôn và sống độc thân vì thích tự do và một đời sống yên tĩnh – lựa chọn ấy là không chấp nhận được về phương diện luân lý.

Chúng ta không nói điều gì mới hay có tính chất cách mạng. Chúng ta chỉ xích lại gần với suy nghĩ và thái độ của Đức Giêsu, khi vượt qua những điều kiện gắn liền với các văn hóa và những thời điểm lịch sử đặc biệt. Trong mọi lãnh vực, Chúa Thánh Thần không ngừng hướng dẫn Giáo hội tới chỗ hiểu biết chân lý toàn diện. Thánh Irênê nói: “Nhờ công trình của Chúa Thánh Thần, mạc khải giống như một thứ rượu quý đựng trong một chiếc bình có giá trị, không ngừng đổi mới và cũng làm mới chiếc bình đựng nó[30]”. Như tôi đã nói trên đây, Chúa Thánh Thần không làm những sự mới, nhưng làm cho mọi sự nên mới, Người đã làm cho mọi sự tươi trẻ lại, đưa chúng trở lại với vẻ huy hoàng đầu tiên, và Người cũng làm như thế với đặc sủng đồng trinh thánh hiến.

Liên hệ đến việc xích lại gần tinh thần và tư tưởng của Đức Giêsu, tôi rất ngạc nhiên là trong Phúc Âm Matthêu, ngay sau chuyện về những người không kết hôn vì Nước Trời là những lời Đức Giêsu nói về trẻ em, mà không có lời chuyển tiếp, thậm chí được liên kết bằng một trạng từ chỉ thời gian: “Bấy giờ (!), người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu, để Người đặt tay trên chúng và cầu nguyện. Các môn đệ la rầy chúng. Nhưng Đức Giêsu nói: ‘Cứ để trẻ em đến với Thầy’” (Mt 19,13-14).

Như vậy, những lời về sự tiết dục tự ý được đặt vào giữa những giáo huấn quan trọng của Đức Giêsu về hôn nhân: sự bất khả đoạn tiêu của hôn nhân (“Các ông không đọc thấy điều này sao: Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ”), và việc đón nhận trẻ em. Những trẻ này là hoa quả của hôn nhân. Chúng là tình yêu mặc lấy xác thịt của đôi vợ chồng. Đón nhận trẻ em, như Đức Giêsu đã làm, là đón nhận thực tại hôn nhân theo cách hoàn toàn nhất, trong những hàm ý thâm sâu nhất của nó. Nói: “Cứ để trẻ em đến với Thầy” cũng là nói: “Cứ để những vợ chồng, những ba má đến với Thầy”. Một người cha, một người mẹ biết rõ đón nhận con cái họ, thì cũng như đón nhận chính họ, và còn hơn thế nữa. Dĩ nhiên tất cả những điều đó có giá trị khi chính hôn nhân được sống trong đức tin và theo ý Chúa.

Chỉ trong đức tin mà hai đặc sủng gặp nhau và soi sáng cho nhau, Vì vậy, thánh tử đạo Ignatiô, người đã khuyên các trinh nữ sống khiêm nhường, cũng trong bản văn đã nói, khuyên những người kết hôn lấy nhau “theo ý Chúa”. Ngài viết (chúng ta đang sống ở đầu thế kỷ II): “Đàn ông đàn bà lấy nhau nên kết hôn với sự chấp thuận của đức giám mục, để mọi sự được thực hiện theo ý Chúa chứ không theo sự ham muốn xác thịt, và mọi sự được thực hiện để làm vinh danh Thiên Chúa[31]”. Tất cả luôn được đưa về một nguồn mạch, về quyền làm chúa của Đức Kitô. Sự đồng trinh chỉ có giá trị nếu nó được lựa chọn “vì Chúa”; hôn nhân chỉ có giá trị tôn giáo nếu nó được cử hành và sống “theo ý Chúa”.

Vì ích chung

Chúng ta đi thêm bước nữa trong đường lối giáo huấn về đặc sủng. Theo thánh Phaolô, đặc sủng là “việc Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách vì ích chung” (1Cr 12,7). Thánh Phêrô cũng quả quyết tương tự khi viết: “Ơn riêng (charisma) Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác” (1Pr 4,10).

Tất cả những điều đó, áp dụng cho vấn đề liên hệ đến chúng ta, có nghĩa gì? Có nghĩa là sự độc thân và đồng trinh cũng là cho những người kết hôn, và hôn nhân cũng là cho những người sống đồng trinh, nghĩa là làm lợi cho họ. Sự đồng trinh thánh hiến không phải là chuyện riêng tư, một sự lựa chọn của cá nhân muốn nên trọn lành. Trái lại, nó là “vì ích chung và để phục vụ kẻ khác”. Người được ban quà tặng chỉ là một số, tức những người được mời gọi; nhưng tất cả đều là những người được hưởng. Bản tính nội tại của đặc sủng là như thế, có vẻ mâu thuẫn: một điều gì đó riêng biệt, một sự tỏ hiện riêng biệt của Thần Khí, nhưng phục vụ mọi người vì công ích.

Trong Giáo hội, các người đồng trinh và các người kết hôn xây dựng lẫn nhau. Những người kết hôn được các người đồng trinh nhắc nhở quyền tối cao của Thiên Chúa và những gì không qua đi. Họ được đưa tới chỗ yêu mến lời Thiên Chúa mà những người thánh hiến, do có nhiều thời giờ và tình trạng sẵn sàng hơn, có thể đào sâu hơn và chia sẻ cho những anh chị em bận bịu hơn vì những chuyện trần thế.

Nhưng những người đồng trinh và độc thân cũng học được điều gì đó nơi những người kết hôn. Họ học nơi những người này sự quảng đại, quên mình, phục vụ sự sống, và thường ra một sự độ lượng nào đó do tiếp xúc trực tiếp với những biến cố trong cuộc đời. Tôi nói điều ấy do kinh nghiệm. Tôi thuộc về một dòng tu mà cách đây vài thập niên, chúng tôi thức dậy ban đêm để đọc kinh đêm kéo dài khoảng một tiếng. Thế rồi, xẩy ra một khúc quanh quan trọng trong đời sống tu dòng – có phần tích cực hơn kém  – sau Công đồng. Dường như nhịp sống của thời đại tân tiến, học tập cho người trẻ, thừa tác vụ tông đồ cho người già, không còn cho phép thức dậy ban đêm làm gián đoạn giấc ngủ, rồi dần dần hầu như nơi nào cũng bỏ. Nhưng trải qua năm tháng, Chúa đã cho tôi biết nhiều gia đình khác nhau trong thừa tác vụ của tôi. Trong số những gia đình này, đặc biệt có một nhóm các đôi vợ chồng trẻ có con cái, và những đứa tiếp tục sinh sau. Lúc đó tôi khám phá ra một điều đã lay động tôi mà có ích cho tôi: những bố mẹ trẻ này phải dậy ban đêm, không phải một lần nhưng là năm, sáu lần hoặc hơn, để cho con ăn, cho con uống thuốc, ru cho con ngủ nếu chúng khóc, trông con khi chúng bị cảm. Và buổi sáng, một trong hai hoặc cả hai vợ chồng đi làm cùng một giờ, sau khi đưa con nhỏ cho ông bà nội hoặc cho nhà trẻ, vì đã có tấm thẻ ghi trời đẹp hay xấu, sức khỏe của con tốt hay xấu. Lúc ấy tôi tự hỏi: nếu đời sống chúng tôi không giữ luật thực sự, không có thời biểu chính xác, không có những thói quen, nó có nguy cơ trở thành một đời sống mầu mè và làm cho tâm hồn chúng tôi ra cứng cỏi. Chúng tôi có quyền cảm thấy mình bị xúc phạm không, khi người ta coi chúng tôi như những người ăn bám? Chắc chắn chúng tôi có quyền đó, nhưng chỉ khi chúng tôi hết mình vì Nước Trời, khi chúng tôi “kết hợp với Chúa, không chia sẻ”. Nếu không, chúng tôi không có quyền đó.

Những gì cha mẹ tốt có khả năng làm cho con cái theo xác thịt, mức độ quên mình mà họ có khả năng đạt tới để chi cấp cho sức khỏe, học tập và hạnh phúc của chúng, phải xứng tầm với những gì chúng ta phải làm cho con cái hay anh chị em thiêng liêng của chúng ta. Trong việc đó, chúng ta có mẫu gương của tông đồ Phaolô, người đã nói là muốn “tiêu phí tiền của và cả sức lực lẫn con người của mình” vì các con cái Corintô (x. 2Cr 12,15).

Điều này cho thấy ích lợi khi có sự sáp nhập lành mạnh các đặc sủng trong cộng đồng Kitô giáo, nơi mà những người có gia đình và những người độc thân không tách biệt với nhau cách cứng nhắc, nhưng sao cho có thể giúp đỡ nhau và khuyên bảo nhau thăng tiến. Thật không đúng khi để người không kết hôn gần gũi với phái khác và những gia đình, vì điều này luôn luôn và nhất thiết là một cạm bẫy và đe dọa ngấm ngầm. Sự gần gũi ấy có thể là như vậy, nếu đã chưa có một sự chấp nhận tự do, vui vẻ và vĩnh viễn ơn gọi riêng của mình. Điều này cũng có giá trị cho người kết hôn.

Ngày nay, chúng ta được kêu gọi làm việc mục vụ trong một xã hội không dựa trên sự tách biệt giới tính, nhưng trên một cộng đồng sống và làm việc liên tục. Thế nên chúng ta phải thích nghi cách thức sống đặc sủng của chúng ta vào tình hình mới mẻ này.

Điều đó không có nghĩa là mỗi người phải từ bỏ kiểu cách và môi trường sống của mình. Trong buổi đầu của Giáo hội, những người đồng trinh và độc thân – như chúng ta có thể suy ra từ Phaolô, Tertullianô, Cyprianô và những người khác – sống trong nhà những người Kitô hữu, trong bối cảnh sống của tất cả cộng đồng. Nhưng rất mau chóng, và chắc chắn ở thế kỷ IV, họ cảm thấy cần có một nơi tách riêng, để họ có thể tổ chức nhịp độ thời giờ, sự thinh lặng, và những hoạt động tùy theo ơn gọi đặc biệt của họ. Những đan viện như đan viện do thánh Ambrôsiô thiết lập ở Milanô và vùng phụ cận xuất hiện như vậy.

Ngày nay nhiều kiểu mẫu cộng đồng mới mọc lên, nơi các gia đình và những người thánh hiến sống chung với nhau trong một môi trường, chia sẻ cùng một quy luật sống. Mọi người cùng nhau tuyên giữ vâng phục và nghèo khó. Chỉ phân biệt giữa họ: người có gia đình hay người đồng trinh và độc thân. Điều này cho thấy rõ một khía cạnh quan trọng của  Giáo hội:  là một thân thể có “nhiều chi thể”, chi thể này khác chi thể kia, nhưng do cùng một Thần Khí tác động (1Cr 12,12-27). Tuy vậy, tôi nghĩ rằng ngay cả trong hình thức đặc biệt này của cuộc sống, vẫn phải có một khoảng tự do đối ứng: người có gia đình, để lo cho con cái, chơi chung với chúng, giải quyết những căng thẳng không tránh được trong gia đình, nuôi dưỡng tình yêu hỗ tương; người đồng trinh, để nuôi dưỡng thinh lặng, học tập và “kết hợp với Chúa không chia sẻ”.

Tuy vậy, ngay cả khi tôn trọng lối sống của mỗi người, vẫn có nhiều cách giúp người có gia đình và người độc thân có thể kết hợp với nhau trong tinh thần giữa lòng một cộng đồng. Có lần tôi tham dự một cuộc họp của hàng giáo sĩ và hội đồng mục vụ tại Giáo hội địa phương, và tôi nhớ đến sức mạnh tinh thần, niềm vui và sự hiệp nhất nơi các thành viên khi nghe đọc lá thư của các nữ đan sĩ thuộc một đan viện trong giáo phận, cho biết các chị hiện diện trong buổi họp này bằng việc góp lời cầu nguyện của các chị.

Những phương tiện nuôi dưỡng đặc sủng độc thân và đồng trinh

Ở trên, tôi đã nói về sự tự do phải có khi sống đặc sủng đồng trinh. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nói là người ta đi đến sự tự do này bằng cách nào và với giá nào. Quả thực, một trong những nguy hiểm lớn phải giữ mình trong lãnh vực này là ảo tưởng. Sau tội lỗi, tính dục không còn là một thực tại trung tính mà chúng ta có thể dễ dàng chế ngự. Nó trở nên hàm hồ. Kinh Thánh biết rõ đặc điểm lưỡng giá và kịch tính này của tính dục. Kinh Thánh biết khả năng của đam mê đưa đến chỗ tan vỡ. Sách Diễm ca viết: “Tình yêu mãnh liệt như tử thần, cơn đam mê dữ dội như âm phủ” (Dc 8,6). Cựu Ước chứa đầy những câu chuyện ảm đạm trong đó những con người và tất cả thành phố là những nạn nhân của quyền lực phá hoại của hỗn loạn tình dục.

Đúng là Đức Giêsu đến để cứu chuộc con người và như vậy là cả tính dục của con người. Cũng đúng là ai ở trong Đức Kitô Giêsu thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8,1). Nhưng sự cứu chuộc không làm mất đi dục vọng và sự cần thiết phải chiến đấu nơi con người. Chắc chắn, Đức Giêsu chuộc lại và cứu vớt tính dục của con người, nhưng Ngài chuộc lại và cứu vớt, như Ngài đã làm như thế cho những cái khác, bằng thập giá, nghĩa là bằng cách mời gọi chúng ta cùng chiến đấu với Ngài, để rồi cùng chiến thắng với Ngài. Khi Israel vào chiếm hữu Đất Hứa, Kinh Thánh viết: “Đức Chúa đã để cho các dân ấy tiếp tục tồn tại, mà không vội trục xuất chúng, cũng chẳng trao chúng vào tay ông Giosuê” (Tl 2,23). Chúa đã bắt các nước xâm chiếm đất Canaan lụy phục Israel, nhưng không phải là tất cả, cũng không phải ngay tức khắc. Ngài tha cho một số nước “để dùng chúng mà thử thách những người Israel…và cho các thế hệ con cái Israel học việc binh đao” (Tl 3,1 tt). Chúa cũng đã làm như vậy với chúng ta trong phép Rửa: Ngài không cất bỏ mọi kẻ thù của chúng ta, mọi chước cám dỗ; Ngài để lại cho chúng ta một vài cám dỗ là những dục vọng của chúng ta, để chúng ta học biết chiến đấu, và trông cậy vào Ngài, và cũng để chúng ta trải nghiệm về sự mỏng dòn của chúng ta.

Sự hãm mình

Đức Giêsu đã không gạt bỏ khỏi chúng ta dục vọng của xác thịt, nhưng đã ban cho ta những phương tiện để chúng ta không quỵ ngã. Phương tiện đầu tiên và thông thường nhất ở trong tầm tay, để duy trì và làm gia tăng sự đồng trinh trong tâm hồn, là hãm mình. Thánh Phaolô cam đoan với chúng ta: “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8,13). Đó là sự hãm mình thiêng liêng. “Thiêng liêng” không có nghĩa là hãm mình bên trong, ngược với hãm mình bên ngoài nơi thân xác, nhưng là một sự hãm mình vừa bên ngoài vừa bên trong, với sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần. Tóm lại, một sự hãm mình không phải là công việc của “xác thịt”, nhưng của đức tin.

Đối với một linh hồn muốn làm hiền thê của Đức Kitô, sự hãm mình là cần thiết, cũng như trong trường hợp tình yêu nơi con người, học ngôn ngữ của người yêu là cần thiết. Triết gia mà chúng ta đã đề cập, và đã ở độc thân vì yêu mến Thiên Chúa Uy Linh, đã viết: “Hãy xem một tình huống thuần túy của con người. Nếu người yêu không thể nói tiếng nói người mình yêu, khi đó một trong hai phải học tiếng nói của bên kia, dù khó mấy đi nữa, nếu không, tương quan của hai người không thể hạnh phúc, vì họ không bao giờ có thể nói chuyện được với nhau. Cũng vậy là sự hãm mình, để có thể yêu mến Thiên Chúa. Thiên Chúa là thần trí; chỉ người nào hãm mình mới có thể cách nào đó nói ngôn ngữ của Ngài. Nếu bạn không muốn hãm mình, bạn cũng không còn yêu mến Thiên Chúa. Quả thực bạn nói một ngôn ngữ hoàn toàn khác với Ngài[32]”.

Khi nói về việc hãm mình, tôi nghĩ rằng ngày nay, người ta nên đặc biệt nhấn mạnh sự hãm dẹp con mắt. Đức Giêsu nói: “Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối” (Mt 6,22 tt). Trong một văn minh hình ảnh như văn minh hôm nay, hình ảnh trở thành phương tiện chuyên chở ưu đãi ý thức hệ của một thế giới thừa thãi sự dâm ô, biến tính dục của con người thành chiến mã của nó, khi hoàn toàn tách nó ra khỏi ý nghĩa nguyên thủy mà Thiên Chúa đã đặt định cho nó. Ngày nay, một sự chay tịnh bổ ích về hình ảnh đã trở nên quan trọng hơn là chay tịnh của ăn. Đồ ăn thức uống, tự nó, không dơ bẩn; ngược lai, một số hình ảnh thì có. Thánh Gioan đặt dục vọng của đôi  mắt (1Ga 2,16) vào số ba dục vọng căn bản, và đến lượt thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Chúng ta không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2Cr 4,18).

Những sự vật hữu hình có một quyền lực cám dỗ đáng sợ đối với chúng ta, khi làm cho chúng ta quên rằng chúng chỉ có “một thời”. Vẻ đẹp của chúng làm tâm trí chúng ta, còn nô lệ cho vật chất, thấy chúng như vĩnh cửu, mặc dù mắt chúng ta thấy chúng phai nhạt đi và ngày một biến chất. Thánh Augustinô, người đã biết rõ cuộc đấu tranh này chống lại cám dỗ của vật chất và của vẻ đẹp giả dối, có thể giúp chúng ta qua chứng tá của ngài. Ngài viết trong Tự thú: “Và đây Chúa ở trong con mà con lại ở ngoài, đi tìm Chúa ở ngoài; con nhào tới vẻ đẹp của những sự vật mà Chúa đã làm ra, hỡi người thất sủng đáng thương. Chúa ở với con nhưng con lại không ở với Chúa. Những sự vật ấy giữ con xa Chúa, những sự vật mà nếu không ở trong Chúa thì cũng không tồn tại (…) Con chống lại các cám dỗ của đôi mắt, sợ chúng quấn chặt lấy chân con. Biết bao nhiêu cám dỗ con người đã thêm vào những cám dỗ làm mắt con say mê bằng những nghệ thuật và kỹ nghệ đủ loại, trong quần áo, giầy dép, bình lọ, những chế tác đủ loại, tranh ảnh, điêu khắc đa dạng, vượt quá sự đòi hỏi của nhu cầu, sự sử dụng vừa phải, và lòng đạo đức nữa…Chính con công thức hóa những chân lý này để phân biệt rõ mà vô ích, bước chân con vẫn vướng vào những vẻ đẹp ấy…Con rơi vào bẫy một cách thảm hại, nhưng Chúa thương xót gỡ con ra khỏi[33]”.

Con đường tốt nhất giúp chiến thắng quyền lực của hình ảnh là đừng nhìn chúng, đừng để mình bị những cái hư ảo này lôi cuốn. Nếu bạn nhìn chúng, thì chúng đã một lần chiến thắng bạn. Quả thực, chúng chỉ chờ đợi điều này nơi bạn là: bạn cứ nhìn coi. “Xin giữ mắt này khỏi nhìn theo những gì hư ảo” (Tv 119,37). Một kết quả lạ lùng có được nhờ hãm dẹp con mắt! Nhờ nó, chúng ta có thể thật sự thực hiện điều gì đó thuộc lý tưởng này, rất quen thuộc với các Giáo Phụ, là “trở lại địa đàng”, lúc mọi sự được tinh tuyền, như buổi sáng mát mẻ và trong lành của mùa hè, “và chàng thanh niên khi ấy trong trắng đến nỗi cái nhìn của anh ta là một hồ nước sâu[34]”.

Chính động lực “vì Nước Trời” đòi hỏi chúng ta, đặc biệt các linh mục, cam kết giữ con mắt và toàn thân chúng ta trong ánh sáng, như Đức Giêsu nói. Khi các anh em chúng ta đang phải chiến đấu, yếu đuối và bị cám dỗ về xác thịt, đến gặp ta, họ mong được thấy một bàn tay bảo đảm giúp họ thoát khỏi bãi cát lầy của nhục cảm. Nhưng để có thể làm điều đó, chân chúng ta phải đứng vững trên đất chắc, nếu không, cả chúng ta cũng sẽ bị cuốn đi với họ. Thời đại hôm nay có một sự ô nhiễm đến khó chịu đang lan tỏa, đe dọa chính những nguồn mạch nhân sinh. Trong Giáo hội, phải có những con người sống khắc khổ, khiêm tốn, nhưng bảo đảm có sức mạnh nội tại của ân sủng, để đối kháng với dòng thác sa đọa này, theo kiểu nói của Kinh Thánh (1Pr 4,4). Ngày hôm nay, đây là một trong những việc cấp bách nhất phải làm, không những cho Nước Trời, mà còn cho chính xã hội. Thật sự, “phẩm chất của cuộc sống” đang ở trong cuộc!

Thế nhưng chúng ta có thể giúp đỡ thế nào, nếu chính chúng ta đang mắc bẫy, hoặc tệ hơn, đang chìm nghỉm trong bãi cát lầy này? Tôi nghĩ chúng ta không vì thận trọng hay liên đới về giai cấp mà im đi tiếng kêu phát ra từ lòng Mẹ Giáo hội. Nếu chúng ta không có quyền kiểm soát để tố giác tội lỗi của người khác và tội lỗi của xã hội, chúng ta không nên có quyền ấy nữa để tố giác tội lỗi của chúng ta. Quá nhiều đời sống của linh mục bị liên lụy, quá nhiều mất mát, quá nhiều chảy máu trong Giáo hội, vì những yếu đuối các của linh mục trong vấn đề này! Anh em linh mục của tôi, chúng ta hãy run sợ và mau mắn khắc phục nó nếu cần, vì Thiên Chúa rất giận và đau buồn trước vấn đề này. Kinh Thánh viết rằng Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa cả ghen (x. Xh 20,5). Chúng ta là ai mà thách thức sự cả ghen của Thiên Chúa? Chúng ta là bạn của Phu Quân. Kiểu gọi này phải làm cho chúng ta đầy tràn niềm vui, nhưng cũng đầy lòng sợ hãi thánh và kính trọng vô bờ đối với các linh hồn. Một sự hãm dẹp dịu dàng và sung sướng về tính xác thịt mang lại cho ta, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, ân sủng được thực sự là cha, tự do trong tâm hồn để yêu thương mọi thụ tạo, không muốn thống trị thụ tạo nào.

Không giá nào xem ra quá cao cho một lý tưởng được Lacordaire đã mô tả bằng những lời này: “Sống giữa thế gian mà không ao ước những thú vui của thế gian. Thành viên của mọi gia đình, nhưng không thuộc về gia đình nào. Chia sẻ mọi nỗi đau khổ, đứng ngoài mọi bí mật, chữa lành mọi vết thương. Mỗi ngày đi từ con người tới Thiên Chúa, để dâng cho Người lòng sùng kính và kinh nguyện, và từ Thiên Chúa trở về với con người, để mang lại cho họ ơn tha thứ và niềm hy vọng của Người. Có một trái tim thép cho sự khiết tịnh và một trái tim thịt cho bác ái. Dạy dỗ và tha thứ, an ủi và chúc lành và được chúc lành luôn mãi. Ôi Thiên Chúa, một lối sống hơn lối sống đó vĩ đại dường bao! Chính là cuộc sống của bạn, hỡi linh mục của Đức Giêsu Kitô[35]”.

Một sự hiểu biết lành mạnh về tính dục và chấp nhận nó

Một sự hiểu biết lành mạnh và chấp nhận chiều kích tính dục trong cuộc đời chúng ta cũng giúp chúng ta sống thanh thản đặc sủng của chúng ta. Như ngày nay chúng ta được biết, tính dục con người không chỉ giới hạn ở chức năng sinh sản, nó có một thang bậc rất rộng gồm đủ mọi tiềm năng và cộng hưởng trong con người, trong đó có một số cũng có giá trị đầy đủ cho những người độc thân và đồng trinh. Những người này đã từ chối thực hành chủ động tính dục, nhưng không từ chối tính dục. Chắc chắn họ không loại bỏ tính dục khỏi đời sống. Tính dục vẫn tồn tại và tạo hình cho nhiều cách diễn tả của nhân cách. Người đàn ông đồng trinh vẫn luôn là một người đàn ông, và một trinh nữ vẫn luôn là một người phụ nữ.

Sự kiện này cũng được tâm lý học công nhận, là khoa chấp nhận có thể thăng hoa bản năng tính dục mà không phá hủy nó, bằng cách thiêng liêng hóa nó và bắt nó phục vụ những cứu cánh xứng đáng với con người. Tiến trình thăng hoa có thể hàm hồ, nếu nó vô thức và đi đến chỗ tạo ra những yếu tố thay thế, nếu không được tự do; nhưng nó cũng có thể tích cực và là dấu chỉ trưởng thành, nếu phát xuất từ những động cơ lý tưởng và được hoàn toàn tự do. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói: có một chiều kích tính dục cũng được sống bởi những người độc thân, và một chiều kích độc thân cũng thường được sống bởi người có gia đình.

Một sự hiểu biết lành mạnh về tính dục giúp chúng ta có một ý tưởng thanh thản và không lệ thuộc – trong chừng mực còn có thể có trong tình trạng hiện nay bị tội lỗi làm nguy hại – vào bất cứ thực tại thụ tạo nào, kể cả thực tại chuyển đạt sự sống. Phải biết nhìn phái khác, sự sinh sản, con cái, bằng cặp mắt trong sáng. Tóm lại có cái nhìn như Đức Giêsu, Đấng mà, như các sách Phúc Âm ghi nhận, có thể nói về những điều đó hoàn toàn tự do, thậm chí còn biến những điều đó thành những dụ ngôn chỉ về những thực tại thiêng liêng. Một sự hiểu biết đúng đắn về đời sống của những người có gia đình giúp chúng ta không có một ý tưởng sai lạc đơn giản hóa quá mức về hôn nhân. Nó dạy cho người phải loan báo lời Thiên Chúa một thực tiễn lành mạnh, rất cần thiết. Nó làm chúng ta khám phá thấy mình được ưu đãi hơn họ trong bao nhiêu sự, làm chúng ta chú ý và hiểu biết những vấn đề của họ.

Sau cùng, một sự sáng suốt là hữu ích để không coi – nơi mình hoặc nơi những người mình hướng dẫn – xác thịt như thần trí và thần trí như xác thịt. Nói khác đi, sự sáng suốt hữu ích để phân định thiêng liêng. Người ta coi một tình yêu siêu nhiên và thần linh như một tình bạn thiêng liêng, mà tình bạn này chỉ là một tình yêu nhân loại. Một tình yêu nhân loại và xác thịt mới chớm nở đem lại những kết quả dễ được coi như những kết quả của ân sủng, và như một sự hoán cải của tâm hồn. Nó soi sáng bộ mặt, làm cho người ta dịu hiền và ngoan ngoãn; con người trải nghiệm sự quảng đại, tâm thái sẵn sàng, một lý tưởng mới và một sự nhiệt thành mới. Thực dễ nghĩ mình đang đứng trước một sự hoán cải của tâm hồn, trong lúc ngược lại, đây mới chỉ là bước đầu của một tình cảm thuần túy nhân loại, mà nếu không mau nhận ra như thế, có thể dẫn đến những kết quả tai hại. Một nữ tu sĩ, hay một nam tu sĩ, nghĩ rằng cuộc gặp gỡ của mình với con người ấy đã tạo nên nơi người này một sự biến đổi đích thực; và thế là người ta vui mừng, kiên trì nói với người ấy, trông thấy người ấy, hoặc nói qua điện thoại với người ấy. Thậm chí người ta cám ơn Thiên Chúa đã muốn dùng người ấy…trong khi Thiên Chúa hành động theo một chiều hướng hoàn toàn khác! Ngài cho phép tất cả những điều đó, để người ta ra khỏi ảo tưởng và tự phụ, để người ta trở nên khiêm nhường hơn và khôn ngoan hơn qua thất bại này.

Trái lại, người ta coi thần trí như xác thịt, nghĩa là coi điều tốt như điều xấu, khi không còn biết phân biệt cám dỗ với tội lỗi. Việc lựa chọn đồng trinh không miễn cho khỏi những cám dỗ, và thường làm gia tăng chúng, như thấy trong đời sống các thánh. Các Giáo Phụ sa mạc nói: không ai được nghĩ mình đã chắc chắn làm chủ được một nhân đức, bao lâu chưa trải qua thử lửa bằng cám dỗ. Thế nhưng tự nó, cám dỗ không phải là một điều xấu. Nó được coi như điều tốt, biết rằng với cám dỗ, Thiên Chúa sẽ ban cho ta phương tiện để thoát khỏi, và sức mạnh để chịu đựng (1Cr 10,13). “Không được hoàn toàn giải thoát khỏi những cơn cám dỗ, và chịu đựng những tấn công thường xuyên, thì hữu ích hơn, sợ rằng thanh thản về mình, người ta kiêu căng đưa mình lên, hoặc đi tìm quá nhiều an ủi ở bên ngoài[36]”.

Cám dỗ là lò luyện để sự khiết tịnh được thanh tẩy, là nước tắm lạnh để nó được tăng cường, cũng như thép nhúng vào nước thì được tôi. Nếu kẻ thù tiếp tục gây chiến, thì có thể hiểu rằng nó chưa có được điều nó tìm kiếm, nếu không, nó sẽ thôi không làm khổ mình nữa. Nếu bạn trải nghiệm cuộc chiến đấu về xác thịt, điều đó muốn nói là bạn đã không chiều theo nó, nếu không, bạn sẽ được bình an ngay, nhưng là bình an giả tạo! Hãy biết sợ hãi và tự hỏi xem bạn không gặp trận chiến nào, và thừa nhận rằng điều đó, hoặc do ân huệ nhưng không của Thiên Chúa, khi ấy bạn chỉ phải tạ ơn Người và thấy mình bất xứng với ơn ấy, hoặc do mình quen với điều xấu và thỏa hiệp, khi ấy bạn phải đánh thức bạn không được ngủ nữa.

Trong thời kỳ bị một cơn bão cám dỗ về xác thịt tấn công, thánh nữ Catarina Sienna được vị Hôn Phu của mình trên trời đến thăm. Chị nói: “Chúa ở đâu khi tâm hồn con bị bao nhiêu tư tưởng thiếu trong sạch khuấy khuất như vậy?” Chúa trả lời: “Ta vẫn ngự trong tâm hồn con”. “A! Chúa là chân lý, con cúi mình trước nhan thánh uy linh; nhưng làm sao con có thể tin được Chúa ngự trong tâm hồn con, khi con đầy những ý nghĩ đáng ghét đó?” “Những ý nghĩ và cám dỗ đó làm con vui hay buồn, thích thú hay khổ sở?” “Con quá buồn và quá khổ” “Ai làm con phải chịu nỗi khổ này, nếu không phải Ta, Đẩng ẩn mình ở giữa tâm hồn con?[37]

Điều nói về cám dỗ cũng có giá trị theo cách thức khác cho lời mời gọi thuần túy của phái khác. Không cần phải ngạc nhiên và lo lắng thái quá, nếu có những lúc người ta trải nghiệm một lời mời gọi mạnh mẽ từ phái khác, và đối với người nam là sự quyến rũ của nữ tính. Đó không phải là điều xấu, mà chỉ là bản tính tự nhiên, vì ngay từ đầu Thiên Chúa đã dựng nên người nam và người nữ. Không nên nấp sau tấm bình phong của một tư tưởng thoát tục giả tạo, hoặc tự vệ bằng một ngôn ngữ thô tục, để phô bầy trước phái khác một sự tự do còn đang thiếu.

Cũng không nên biến phái khác, cách riêng là phụ nữ, thành một quỷ dữ, hoặc chế nhạo và lăng nhục vẻ đẹp, chỉ vì vẻ đẹp ấy chỉ hữu hình và nhất thời, khi biết rằng nó từ Đấng Tạo Hóa mà đến, cho dù người ta sử dụng nó không tốt. Cũng như trong quá khứ, trong lãnh vực này cũng như mọi lãnh vực khác, sự việc luôn được nhìn theo quan điểm của đàn ông chứ không phải của phụ nữ, không nên ngạc nhiên thấy sự hàm hồ về giới tính chúng ta đã nói ở trên, thể hiện thành sự hàm hồ về phụ nữ và ghét phụ nữ. Chính Kinh Thánh, vì phản ánh một văn hóa nhất định, đã không hoàn toàn tránh khỏi điều đó (x. Hc 25,12 tt): “Khôngsự dữ nào bằng sự dữ do đàn bà gây nên, không độc ác nào bằng độc ác của người phụ nữ…Tôi thà ở chung với sư tử rắn rết còn hơn chung sống với người đàn bà xấu xa. Lòng độc ác biến đổi nét mặt người đàn bà…Mọi gian ác chẳng thấm vào đâu, so với gian ác của người đàn bà..” Tất cả những gì hỗn độn và nguy hại trong tính dục được đồng hóa với phụ nữ. Với tư cách người đồng hành và trợ giúp giống như đàn ông, người phụ nữ trở thành nỗi hối hận của đàn ông, một đe dọa ngấm ngầm và một cái bẫy. Nhưng điều này là do tội lỗi chứ không do Thiên Chúa.

Đúng hơn, nên biến lời “mời gọi” mà tôi đã nói, và sự lôi cuốn của phái khác, thành phần tốt nhất của “hy tế sống động” của chúng ta. Tự nhủ mình: “Này! Đây chính xác là điều tôi chọn dâng cho Nước Trời và cho Chúa”. Và nếu, vào những lúc nào đó, nhất là lúc còn trẻ, lời mời gọi này biến thành cám dỗ, hãy can đảm chiến đấu, bằng danh hiệu Đức Giêsu trong tâm hồn và trên môi miệng, như những người lính tốt xung trận, hô tên đức vua trong cuộc hỗn chiến.

Trong bối cảnh này, tôi muốn nói một chút về vấn đề tế nhị là sự đồng trinh thể xác hay bên ngoài, và sự đồng trinh thiêng liêng hay bên trong. Giáo hội luôn kính trọng sự đồng trinh trong khía cạnh thể lý và thân xác, gọi nó là “đồng trinh thánh” (sancta virginitas). Rõ ràng không phải sự đồng trinh với tính cách như thế là “thánh”, vì người ta có thể giữ mình nguyên vẹn và đồng trinh vì nhiều lý do không liên hệ gì với sự thánh thiện. Trong trường hợp này, điều cho phép nói về sự thánh thiện, chính là ý định hay mục đích thúc đẩy người ta giữ mình đồng trinh.

Đôi khi, người ta có thể sai lầm khi đánh giá quá cao khía cạnh thể lý của sự nguyên vẹn cả nơi phụ nữ lẫn nơi đàn ông. Để phản ứng lại, một văn hóa nào đó hiện nay như tôi đã nói lúc đầu, đi đến chỗ thái quá ngược lại, là từ chối mọi giá trị, thậm chí còn biến nó thành trò cười.

Chúng ta có thể nói gì khi dựa vào lời Thiên Chúa? Ở trên, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng người phụ nữ không có chồng, nghĩa là còn đồng trinh, thì chuyên lo việc của Chúa “để thuộc trọn về Người cả hồn lần xác” (1Cr 7,34). Giữ đồng trinh nơi thân xác không đáng kể, thậm chí chẳng là gì; giữ đồng trinh nơi tâm trí mới là một điều tốt đẹp; nhưng giữ đồng trinh nơi cả thể xác lẫn tâm trí, lại là điều rất tốt đẹp. Trong trường hợp này, dấu chỉ và ý nghĩa dấu chỉ gặp nhau và bổ túc cho nhau, giống như giữa bản tính và ân sủng. Sách Khải huyền dành cho những người đó một đặc ân riêng biệt là “Con Chiên đi đâu, họ cũng đi theo đó” (Kh 14,4), khi biến họ thành biểu tượng của những linh hồn hoàn toàn trung tín, không mang họa vào thân vì tôn thờ thần tượng.

Bởi vậy chúng ta phải khuyến khích những tâm hồn tận hiến này, những người chắc chắn không phải vì công trạng của mình nhưng do ơn Thiên Chúa, đã có thể bảo toàn sự trong sạch của mình, và hiến dâng cho Chúa một lễ vật toàn vẹn. Quả thực, trong việc đó, có một mức độ vinh quang Thiên Chúa không có ở nơi khác, vì nhà thi sĩ của chúng ta đã nói: “Cái được lấy lại, bảo vệ từng ly từng tí, không giống như cái đã không bao giờ bị mất. Và một tờ giấy tẩy trắng không phải là một tờ giấy trắng. Và một miếng vải tẩy trắng không phải là một tấm vải trắng. Và một linh hồn tẩy sạch không phải là một linh hồn trong trắng[38]”.

Đây không phải là một điều cấm kỵ, như người vô tín nghĩ, cũng không phải là một đặc ân đơn thuần hay một vinh dự mà người có nó thường tự hào. Trái lại, khi nó được tự do đón nhận, thì đây là một hy sinh nhắc lại sự hy sinh đầu tiên mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi thụ tạo, là từ chối muốn biết, do mình hay do kinh nghiệm, “sự lành và sự dữ”. Quả thực, từ chối sử dụng tính dục và thú vui xác thịt, sau khi đã có lần trải nghiệm, là một chuyện, và từ chối muốn trải nghiệm, chấp nhận một kinh nghiệm nền tảng với những đàn ông và những phụ nữ khác mà bạn, một cách tự do, vì Chúa, bạn từ chối muốn biết, lại là chuyện khác, đòi hỏi hơn nhiều. Chỉ mình Thiên Chúa biết hương thơm của hy sinh này chạm đến không những trái tim hay thân xác, mà chính hữu thể của thụ tạo.

Tiếp đến, cũng phải quả quyết rằng sự đồng trinh quan trọng nhất là sự đồng trinh tinh thần và, còn hơn một ân huệ nhận được phải bảo toàn, nó là cái gì đó mà người ta phải chinh phục ngày này qua ngày khác. Nhờ ân sủng, Thiên Chúa đã biến đổi những người đàn bà tội lỗi thành những người vợ yêu thương nhất và được yêu thương nhất. Vì vậy, người đã không thể giữ sự nguyên vẹn thể xác và sự vô tội sau khi chịu phép Rửa vì một lý do nào đó, thì đừng sống đời tận hiến mà cứ thường xuyên trở lại quá khứ để xem dọc xét ngang những lỗi lầm đã phạm. Bằng cách này, tình trạng chỉ tổ xấu đi, giống như người phụ nữ đội vò nước trên đầu, càng nghĩ tới nó và càng chú ý, thì càng dễ làm nó rơi xuống đất.

Ngược lại, phải cố gắng lớn lên trong sự đồng trinh bên trong bằng cách loại bỏ khỏi tâm hồn ta những ước muốn và tình cảm vô tích sự, vì sự trong sạch trong tâm hồn có thể khôi phục cho linh hồn một sự đồng trinh mới. Theo một nghĩa nào đó, người ta không sinh ra là đồng trinh, người ta trở nên đồng trinh. Điều đó có nghĩa là người ta có thể thanh thản chấp nhận bất cứ tình huống nào, chờ đợi cải thiện nó. Trái lại, nếu một người không đạt được một sự quân bình nào đó, cũng không làm chủ được mình trong lãnh vực tính dục, thì quy tắc thích hợp là khuyên người đó đừng cam kết vĩnh viễn sống độc thân hay đồng trinh.

Chính vì sự đồng trinh chủ yếu là đồng trinh trong tâm hồn, mà con đường đồng trinh, một cách nào đó, mở ra cho mọi người, ngay cả cho người kết hôn hay đã kết hôn. Nếu có những người “không kết hôn vì Nước Trời”, thì cũng có những người, vì cùng lý do đó, tức vì Nước Trời, không “tái hôn”, dù có thể làm như vậy. Trong Giáo hội, có một bậc góa bụa nào đó hiến thân cho gia đình hoặc cho việc từ thiện, đã luôn được kính trọng và được xếp ngay sau bậc đồng trinh.

Về chủ đề này, tôi còn muốn nói một chút về một tình trạng khác của con người: tình trạng của những người, dù không chọn điều đó và ngay cả với nhiều đau khổ, vì những lý do có thể rất khác nhau, đã không thể kết hôn, cho dù rất muốn. Tôi muốn nói với họ điều này: Đức Giêsu nói: “Có những người không kết hôn, vì từ khi lọt lòng mẹ họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn, vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời”. Xét bề ngoài, những người trên đây thuộc vào hạng thứ nhất. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, không ai bị kết án hết thuốc chữa, hoặc là tù nhân của tình trạng. Nói khác đi, có thể chuyển từ loại thứ nhất sang loại thứ hai; từ loại người không thể kết hôn vì sự độc ác của con người hay vì những hoàn cảnh khác của đời sống, sang loại người không kết hôn vì Nước Trời. Chỉ cần chấp nhận tình trạng này, như được Thiên Chúa hứa, chỉ cần họ giải hòa với đời sống, và sử dụng tự do để chuyên tâm vào việc cầu nguyện và cho chính nghĩa Phúc âm, thì họ cũng có thể dự phần vào “gấp trăm” như Đức Kitô hứa cho người bỏ mọi sự vì Ngài. Người lớn nhất trong Nước Trời không phải là người thuộc về “bậc hoàn thiện nhất”, nhưng là người yêu mến và chịu khổ nhất. Vì vậy, những người này có thể vượt nhiều người, xét bề ngoài, đã có thể thực hiện lý tưởng đời sống của họ hơn.

Cộng đoàn

Phương tiện cuối cùng tôi muốn nói một chút, giúp sống sự đồng trinh vì Nước Trời, chính là cộng đoàn. Đàn ông và đàn bà là những hữu thể có tương quan. Liên hệ với những người khác thuộc về con người, như trong Ba Ngôi, chính những tương quan (Chúa Cha với Chúa Con, Chúa Thánh Thần với Chúa Cha và Chúa Con) cấu tạo nên Ba Ngôi Thiên Chúa. Người ta không thể sống và phát triển cách hài hòa mà không có những tương quan liên vị đích thực và sâu xa. Cái “gấp trăm” của chúng ta trong cuộc sống này thường hệ tại ở cộng đoàn; khi cộng đoàn lành mạnh và trung thực, nó cho phép có (và là) những người cha, người mẹ, anh em, chị em, con cái.

Như vậy, tình bạn với những người khác phái – có thể dễ trở nên nguy hiểm, khi người ta chuyện trò chỉ giữa hai người và hầu như vụng trộm – là một quà tặng lớn, nếu nó được chia sẻ cách nào đó, với cộng đoàn riêng của mình.

Từ vài năm nay, trong Giáo hội, phát sinh những hình thức mới độc thân và đồng trinh thánh hiến, được gọi là những “Tu hội đời”. Các thành viên tu hội mỗi người sống trong nhà của họ, tại môi trường của họ. Tuy nhiên, việc họ chia sẻ cùng một linh đạo, giữ cùng một quy luật – và cả những mối dây mạnh mẽ liên kết họ, được tăng cường bằng những ngày và những tuần sống bên nhau trong năm – đối với họ có thể tương đương với cộng đoàn.

Ngược lại, mối nghi ngờ phát sinh nơi linh mục triều và cha sở hoàn toàn chỉ sống một mình. Một tình trạng thuộc loại này có thích ứng được với một một đời sống độc thân chăng? Tôi nghĩ phải có can đảm đương đầu với vấn đề này. Chính gương của các tu hội đời cho thấy có thể thực hiện một kiểu cộng đoàn và hiệp thông, mà vẫn không sống chung và dưới cùng một mái nhà. Đối với linh mục triều, cộng đoàn tự nhiên nơi họ có thể tìm thấy của ăn thiêng liêng, sự nâng đỡ, và sự giúp đỡ đúng lúc để khỏi sa ngã, chính là “linh mục đoàn”. Khi thừa tác vụ này xuất hiện lần đầu tiên trong Giáo hội, bên cạnh giám mục và phó tế, nó cho thấy một cộng đoàn các linh mục quy tụ chúng quanh giám mục của mình: một cộng đoàn mà thánh tử đạo Ignatiô so sánh với tông đồ đoàn vây quanh Đức Giêsu.

Mỗi cuộc canh tân hàng giáo sĩ đều cảm thấy nhu cầu đương đầu với vấn đề này, bằng cách tạo ra những hình thức đời sống chung cho hàng giáo sĩ, mà một số vẫn còn sống và hoạt động hiện nay. Một linh mục đoàn biết mình, nuôi dưỡng những mối dây thân hữu bền chặt khi đã có những năm tháng sống bên nhau trong chủng viện, gặp lại nhau để tĩnh tâm tháng và để linh thao với giám mục, trao đổi tin tức và kinh nghiệm, đặc biệt thời nay khi phương tiện thông tin liên lạc quá dễ dàng, thì đã là một hình thức cộng đoàn phải nuôi dưỡng bằng mọi giá.

Đức Trinh Nữ Maria

Lời Đức Giêsu về sự độc thân vì Nước Trời, như thường thấy trong Phúc Âm, đều có một sự kiện đi trước. Và sự kiện chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng không những giữ đồng trinh, mà còn sinh ra từ một người mẹ đồng trinh. Sau Đức Giêsu, được các Giáo Phụ gọi là “Đồng trinh đệ nhất” (Archipàrthenos), là Đức Maria, mà Giáo hội gọi là Đấng “Trọn đời đồng trinh” (Aeipàrthenos).

“Thiên Chúa sai sứ thần đến với một trinh nữ” (Lc 1,26). Dù có nhiều tranh luận, lời này trong Kinh Thánh vẫn ở yên đó như một tảng đá. Về khía cạnh chú giải, người ta cho nhận xét là trình thuật của Luca, về điểm này, tùy thuộc lời tiên tri Isaia 7,14: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai”. Đúng vậy, nhưng điều đó không làm thay đổi gì, thậm chí làm tăng thêm tầm quan trọng của trình thuật Phúc âm, khi cho thấy việc chuẩn bị lâu dài của lời tiên tri và sự bén rễ của nó trong lịch sử cứu độ. Việc trình bầy sự kiện có tính văn chương, trình thuật về biến cố, không phải biến cố được kể lại, đều tùy thuộc vào Isaia. Quả thực, nếu đã không có bên kia trình thuật một sự kiện mới mẻ thực sự xẩy ra, tại sao tác giả sách Phúc Âm và cộng đồng Kitô giáo lại nghĩ tới lời tiên tri – ít nhất trong bản Bảy Mươi – chứa đựng ý tưởng về sự đồng trinh, rất xa lạ với não trạng Do thái thời đó? Tại sao không rập theo, chẳng hạn, cách Isaia được sinh ra, được chấp nhận hơn nhiều và thuyết phục hơn nhiều theo Kinh thánh, hay Môsê, hay một nhân vật lớn nào đó trong Cựu Ước? Người ta trả lời: để đánh dấu dự khác biệt và ưu việt của Đức Kitô trên mọi nhân vật khác trước Ngài. Nhưng chính chúng ta là những người mới có thể nói điều đó sau khi sự việc đã xẩy ra. Các Giáo Phụ đã nói từ thế kỷ II, khi giá trị trổi vượt của sự đồng trinh được xác nhận, nhưng cộng đồng nơi trình thuật này được tạo ra, chưa có thể nói điều đó. Cộng đồng này chưa có các yếu tố để coi trọng đồng trinh hơn hôn nhân, nhất là trong cách giải thích về phụ nữ. Giả thiết là trong giai đoạn khởi đầu đức tin Kitô giáo, sự hiểu biết và ảnh hưởng của các thần thoại ngoại giáo trên việc đản sinh lạ lùng của một số thần, giả thiết ấy hoàn toàn nhân tạo và không có nền tảng.

Vậy điều quan trong nhất cần để ý không phải là trình thuật Phúc Âm tùy thuộc vào lời tiên tri Isaia, nhưng trình thuật và lời tiên tri cả hai tùy thuộc vào một biến cố mà Thiên Chúa đã loan báo trước, và rồi Ngài đã hoàn tất khi thời gian đến hồi viên mãn. Tôi đã không bao giờ hiểu những chuyên viên Kinh Thánh công nhận giá trị tiên tri của Cựu Ước như một loan báo và chuẩn bị cho Tân Ước, nhưng rồi lại không công nhận tính chất tiên tri của một bản văn cụ thể nào đó, kể cả bản văn Isaia mà chính Phúc Âm minh nhiên đưa về việc đản sinh của Đức Kitô, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria (x. Mt 1,23).

Lúc bình minh của thời kỳ mới, Đức Maria, nhờ sự đồng trinh của mình, là hiện thân của một hình thức đời sống mới có thể thực hiện được nhờ Nước Trời đến. Người ta có thể thấy một ý nghĩa tượng trưng trong cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà Elidabét trong ngày thăm viếng. Bà Elidabet biểu thị kế hoạch của Cựu Ước (Mt,13: “lề luật và các tiên tri cho tới Gioan”) là người đã kết hôn, còn Đức Maria, biểu thị kế hoạch mới, là người đồng trinh.

Nơi Đức Maria, người ta thấy động lực của sự đồng trinh trong tất cả vẻ huy hoàng của nó, được diễn tả bằng những lời: “vì Nước Trời”“vì Chúa”. Người đã được chọn, Nước Trời đã chiếm đoạt Người, đã “yêu cầu” Người và Người đã để mình bị bắt chộp (Giêrêmia nói: Người đã để mình bị lôi cuốn). Thánh Phaolô là con người được dành riêng hay được tách ra vì Phúc Âm (Rm 1,1); Đức Maria là người nữ được dành riêng và tách riêng cho tác giả Phúc Âm. Tôi tưởng rằng ý tưởng về một lời khấn đồng trinh của Đức Maria, ngoài chuyện ít có nền tảng Kinh thánh, còn làm giảm thay vì làm tăng sự đồng trinh của Đức Trinh Nữ Maria, làm nó đến từ sáng kiến cá nhân của một thụ tạo hơn là từ sáng kiến tối cao và nhưng không của Thiên Chúa; và vì vậy, biến nó thành một công trình khổ hạnh hơn là một công trình của ân sủng. Đức Maria không được ơn nơi Thiên Chúa vì Người đồng trinh, nhưng Người đồng trinh vì đã được ơn nơi Thiên Chúa. Người đã được chọn để, nhờ Người, Nước Trời có thể khởi đầu trên trần gian mà không mắc bợn nhơ. Chắc chắn, Đức Maria đã đáp lại cách hoàn hảo, với lòng tin tuyệt đối, lời mời gọi giữ đồng trinh. Người đã chấp nhận không ý kiến và vui vẻ tất cả những hậu kết của lời mời gọi ấy bằng lời thưa: “Xin vâng!”, như vậy trở thành khuôn mẫu cho biết bao nhiêu thanh niên thiếu nữ, qua các thế kỷ, sẽ đón nhận chia sẻ cùng một lời mời gọi “làm trinh nữ và làm mẹ”, “làm đồng trinh và làm cha”.

Cùng với tước hiệu Théotokos, Mẹ Thiên Chúa, tước hiệu “Trọn đời đồng trinh” là tước hiệu khiến Đức Maria hay được kêu cầu nhất, cả trong phụng vụ Latinh lẫn trong phụng vụ Đông phương. Phụng vụ Đông phương kính chào Người không mỏi mệt, trong thánh thi Akatistos đẹp nhất kính Người, qua câu điệp khúc: “Kính chào, Đức trinh nữ, hiền thê”, và kêu cầu Người như là kiểu mẫu và Đấng bảo vệ các kẻ đồng trinh: “Kinh chào Người là mẹ và là bảo mẫu các kẻ đồng trinh. Kính chào Mẹ là Đấng đưa dẫn các linh hồn về với Đấng Phu Quân. Kính chào Mẹ là hiền thê trinh nữ”. Thánh Grêgôriô Nyssê cho thấy rõ mối liên hệ sâu sắc giữa Đức Maria và mọi trinh nữ Kitô giáo, dựa trên mối liên hệ tương tự với Đức Kitô. Ngài viết: “Điều được chứng thực theo thể lý nơi Đức Maria vô nhiễm, khi thần tính viên mãn rạng rỡ nơi Đức Kitô qua sự đồng trinh của Ngài, thì cũng được lặp lại nơi mỗi linh hồn đồng trinh khi đi theo lý trí, cho dù Chúa không còn hiện diện theo thể chất[39]”.

Đức Maria không chỉ là một khuôn mẫu, Người còn là một “trạng sư” và Đấng bảo vệ các kẻ đồng trinh. Người không chỉ cho họ thấy con đường đồng trinh, mà còn giúp họ vượt qua con đường này nhờ lời chuyển cầu của mình và sự canh giữ theo dõi của mình. Thánh Basiliô viết: “Cũng như những vật thể sáng sủa và trong vắt trở thành chói lọi khi tia sáng dọi vào, và nhờ chúng mà làm tỏa ra một ánh chói khác, cũng vậy, những linh hồn mang Thần Khí, được Thần Khí chiếu sáng, trở thành hoàn toàn thiêng liêng và làm lan tỏa ân sủng trên những linh hồn khác[40]”.

Đức Maria là linh hồn “pneumatophore”, mang  Thần Khí tuyệt vời, và là thân xác chói sáng làm lan tỏa ánh sáng trên những người khác. Điều này đúng đến nỗi chính Luthêrô đã phải viết về Người như sau: “Không hình ảnh phụ nữ nào cống hiến cho người đàn ông những ý tưởng trong sạch bằng trinh nữ này[41]”. Đức Maria thực sự là một thụ tạo độc nhất, một thụ tạo được “chúc phúc giữa các người phụ nữ”. Tất cả các phụ nữ khác trong Giáo hội hoặc là trinh nữ về thể xác và mẹ về tinh thần, hoặc mẹ về thể xác và trinh nữ về tinh thần. Chỉ mình Người là “trinh nữ và mẹ” cả về thể xác lẫn về tinh thần. Thiên Chúa  đã không thể lựa chọn một ngôn ngữ có sức thuyết phục hơn ngôn ngữ này, để tôn kính cả hôn nhân lẫn sự đồng trinh, và để làm cho cả hai được chấp nhận như công trình của Ngài. Hai đặc sủng này đến từ “cùng một Thần Khí”, trước khi được chia nhau giữa hai loại người trong Giáo hội, thì được quy tụ lại nơi Đức Maria, là tế bào và khuôn mặt đầu tiên trong cả Giáo hội.

Như vậy, không bậc sống nào trong Giáo hội bị tước mất vinh dự có Đức Maria làm khởi đầu và kiểu mẫu của mình; và không một bậc sống nào có thể tự hào chỉ mình bắt chước Đức Maria, không cần bậc nào khác. “Còn thiếu điều gì đó cho mọi thụ tạo. Với những thụ tạo xác thịt, thì thiếu trong sạch. Với những thụ tạo trong sạch, thì thiếu xác thịt. Trái lại, chỉ mình Người, không thiếu gì cả. Vì là xác thịt, Người lại trong sạch. Nhưng vì là trong sạch, Người cũng là xác thịt. Chính như vậy, Người không chỉ là người phụ nữ độc nhất trong các phụ nữ, Người còn là thụ tạo độc nhất trong số thụ tạo. Theo đúng mặt chữ, Người là người thứ nhất sau Thiên Chúa[42]”.

Nếu thay vì đọc “trong sạch” và “xác thịt”, người ta đọc “trinh nữ” và “mẹ”, tất cả sẽ trở nên rõ ràng trong bản văn mang chất thi phú này.

Ở trên, tôi đã nói đến những phương tiện để vun trong đặc sủng độc thân và đồng trinh. Một sự chú ý liên tục và lòng sùng kính đối với Đức Maria chắc chắn là một trong những phương tiện đơn giản và hiệu quả nhất.

4. Kết luận

Chúng ta đã đặt vấn để về sự đồng trinh dựa trên sự kiện tiên vàn đó là một đặc sủng, một quà tặng nhận được từ Thiên Chúa, và do đó là một ơn gọi. Nhưng cũng như trong Thánh lễ chúng ta dâng lên Chúa bánh và rượu mà chúng ta nhận được từ “lòng tốt” của Ngài, để từ một quà tặng nhận được, nó trở thành một hiến vật dâng lên Ngài, cũng vậy, sự đồng trinh, một quà tặng nhận được từ Thiên Chúa, trở thành hiến vật dâng lên Thiên Chúa, một của lễ sống động, một sự bắt chước Thánh Thể của Đức Kitô. Một bậc thầy tu đức ở thời Thượng cổ đã viết: “Các Giáo Phụ đã không chỉ giữ các lệnh truyền, mà còn dâng cho Thiên Chúa những hiến vật. Tôi cắt nghĩa cho anh em thấy:  những lệnh truyền của Đức Kitô đã được ban cho mọi Kitô hữu, và mọi người buộc phải giữ. Người ta hẳn có thể nói đó là những khoản thuế phải nộp cho vua. Người nào nói: “Tôi không nộp”, có thể thoát được hình phạt chăng? Nhưng trên thế giới có những người vĩ đại và nổi tiếng không những nộp thuế cho vua, mà còn dâng cho ông những quà biếu, và như vậy đáng được hưởng nhiều vinh dự, những quà tặng lớn, những địa vị cao. Cũng vậy, các Giáo Phụ không những đã giữ các lệnh truyền, mà còn dâng cho Thiên Chúa những hiến vật. Sự đồng trinh và nghèo khó là những hiến vật. Quả thực, không đâu nói: ‘Đừng lấy vợ, đùng sinh con đẻ cái’[43]

Để kết thúc cho bài suy niệm của chúng ta, điều đẹp nhất phải làm là làm mới lại sự ban tặng này. Dâng lại cho Thiên Chúa lời “Xin vâng” của ta, nhờ tay Đức Maria. Điều làm nên vẻ đẹp và sự chín sớm của quà tặng, là sự nguyên vẹn của nó. Cái người ta tặng phải mới, còn nguyên. Không ai nghĩ tặng cho bạn thân một đồ vật đã sử dụng, một trái cây đã ăn dở. Trong lãnh vực này phải để ý sự tinh tế chứ không phải nội dung. Nói khác đi không được lấy đi điều gì trong ta – trong tư tưởng, trong cái nhìn, trong hành động – xúc phạm đến sự hiện diện của Thánh Thần và làm phiền lòng Ngài.

Trong lịch sử một tình yêu, thường có hai thì hay hai pha. Thì thứ nhất trong đó người ta biểu lộ tình yêu của mình bằng các quà tặng, nhất là ban tặng chính mình; và thì thứ hai trong đó tặng quà cho người yêu không đủ, nhưng phải có khả năng chịu khổ cho người ấy. Chỉ khi đó người ta mới thấy tình yêu này là chân thật. Cũng thế, trong lịch sử một ơn gọi đồng trinh thánh hiến, cũng thường có hai thì. Có thì khởi đầu của lời mời gọi, khi mà, được ân sủng thúc đẩy, được lý tưởng lôi cuốn, người ta thưa: “Này con đây”, đầy niềm vui và phấn khởi; và có thì thứ hai của cô đơn trong lòng, của mệt mỏi, khủng hoảng, khi phải chết để duy trì lời đáp này. Các tiên tri nói về kinh nghiệm đau buồn này trong tương quan với Thiên Chúa. “Ta nhớ lại lòng trung nghĩa của ngươi lúc ngươi còn trẻ, tình yêu của ngươi khi ngươi mới thành hôn, lúc ngươi theo Ta trong sa mạc…” (Gr 2,2). Cũng vậy, trong sách Khải huyền, chúng ta bắt gặp lời than phiền của Thiên Chúa trên những người đã đánh mất tình yêu ngày trước (Kh 2,4).

Niềm hy vọng của chúng ta là, nếu sự nhiệt tình ngày xưa của chúng ta giảm sút, thì ân sủng lại không bao giờ ngừng, cánh tay Chúa “đã không rút ngắn”. Trong trường hợp này, điều tốt là thu góp tất cả sức lực của mình, và nói như Samuel, một hay hai lần: “Dạ, con đây, Thầy gọi con” (1Sm 3,1 tt). Chúng ta có muốn làm điều đó không? Con đường bảo đảm nhất là lại chọn Đức Giêsu làm Chúa và Phu Quân của linh hồn ta. Đó là điều xẩy ra trong đời sống của một thanh niên hay một thiếu nữ khi họ thực sự yêu. Bao lâu họ có “tự do”, mở rộng cho những khả thể khác nhau, cô gái hay chàng trai đi qua bên cạnh đã có khả năng lôi kéo sự chú ý của người khác, làm người đó phải “chia trí”, như bờ dậu có gai khiến một con chiên không thể đến gần mà không để lại một nhúm lông móc vào đó. Nhưng một khi thật sự yêu say mê một người nào, tất cả những người khác đứng sang một bên một cách kính cẩn, thậm chí biến đi trong một khoảng thời gian. Từ đây trái tim họ gắn chặt vào một người mà thôi. Xẩy ra như trong một cuộc giải phóng: tương quan mới không phá hủy những tương quan khác – bạn đồng hành, bạn hữu, cha mẹ – nhưng một cách nào đó thu hút chúng, đặt mỗi người vào đúng chỗ của mình. Một điều gì đó thuộc loại này xẩy ra cho linh hồn tận hiến vào ngày mà, bị tình yêu bất thụ tạo là Chúa Thánh Thần khuấy động, linh hồn đó chọn Đức Giêsu làm Chúa và Phu Quân. Trái tim người đó không còn “tự do” nữa, không “lang thang” nữa,  không dễ dàng chia trí nhìn bên này ngó bên kia nữa.

Đó là sự đồng trinh thật sự vì Nước Trời. Xin Thiên Chúa giúp chúng ta ước muốn sự đồng trinh này, và dò dẫm hướng về nó, thậm chí từng bước ngắn như trẻ em.

II

SỰ VÂNG PHỤC

1. Canh tân sự vâng phục “trong Thần Khí”

Chương 13 của thư Rôma mở đầu bằng một bản văn nổi tiếng về sự vâng phục: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính, là chống lại trật tự do Thiên Chúa đặt ra” (Rm 13,1-2). Phần tiếp theo bản văn, nói về gươm giáo và thuế má, cũng như đối chiếu với các bản văn Tân Ước khác (chẳng hạn Tt 3,1 và 1Pr 2,13-15) cho thấy rõ ở đây thánh Tông Đồ không nói về chính quyền nói chung hay về mọi chính quyền, nhưng chỉ nói về chính quyền dân sự và Nhà Nước. Ngài muốn cung cấp cho các Kitô hữu những chỉ dẫn về việc họ hòa nhập cho đúng đắn vào thế giới chung quanh, nơi họ được mời gọi sống ơn gọi của họ. Có những bản dịch Kinh Thánh hiện đại hoàn toàn được công nhận (chẳng hạn bản dịch tiếng Đức của Giáo hội Công giáo và Giáo hội Luthêrô), xác định hợp thời ý nghĩa của bản văn khi dịch: “Mỗi người hãy vâng phục các đại diện quyền bính của Nhà Nước, vì không quyền bính của Nhà Nước nào mà không bởi Thiên Chúa”. Vả lại, ngay từ đầu, bản văn đã được các Giáo Phụ hiểu như thế, khi quyền bính chính trị mà Phaolô nhắc đến còn đang giữ chức vụ[44], cho dù sau đó nó dễ dàng được mở rộng trên thực tế tới mọi quyền bính, đến độ, trong nhiều thủ bản, biến nó thậm chí thành nền tảng, và có thể nói là “đại hiến chương” của sự vâng phục Kitô giáo.

Nhưng, cho dù được giới hạn vào quyền bính của Nhà Nước, bản văn của Phaolô vẫn luôn gây lo ngại cho những ai tìm cách cho nó là quan trọng, và rút ra những hậu quả cần thiết, đặc biệt sau khi Luthêrô dựa vào đó đặt ra lý thuyết về “hai vương quốc”; lý thuyết này, trên thực tế, đặt quyền lực dân sự trên cùng một bình diện với quyền lực của Giáo hội, như một trong hai cách, khác nhau nhưng có địa vị ngang nhau, qua đó Thiên Chúa cai trị và hướng dẫn trực tiếp công việc của thế giới này. Quả thực, bản văn Rôma 13,  khi được hiểu như vậy, tạo nên điều mà người ta gọi là “điểm chết người của sự thỏa hiệp với thế giới này” (M. Dibelius), và mở đường cho một loại siêu hình của Nhà Nước, mà ở thời nay, thường dẫn tới chỗ lý tưởng hóa và tuyệt đối hóa quyền bính của Nhà Nước, với những hậu quả tai hại.

Làm thế nào có thể quả quyết rằng “mọi quyền bính” của Nhà Nước là do Thiên Chúa thiết lập, rằng chống lại quyền bính ấy là chống lại Thiên Chúa, mà không đồng thời làm cho toàn bộ lịch sử cũng như chính hành động của các Kitô hữu cho tới nay phải ngưng lại hoặc không hiểu nổi? Và làm thế nào dung hòa nhãn quan này của Khải huyền 13, vốn hoàn toàn được phép, trong đó, về cùng một thực tại Nhà Nước “thực tế đang hiện hữu” (là đế quốc Rôma), người ta nói rằng quyền lực của nó là do Satan? Bằng cách này, người ta lại không gán cho quyền đời – ngay cả khi được quan niệm là không cần tới Thiên Chúa hoặc chống lại Thiên Chúa – một nền tảng tôn giáo nguy hiểm trói buộc lương tâm và được sử dụng rất nguy hiểm sao? Từ đây, một sự kiện như sau trở thành một sự kiện linh tinh xẩy ra hằng ngày: những viên chức của các chế độ chính trị, một khi bị dẫn ra tòa, biện minh cho những hành động giết người, tra tấn, quấy nhiễu đủ trò, là đã làm theo lệnh của “quyền bính cấp trên”.

Trên thực tế, tôi xác tín là người ta tuyệt đối không bao giờ giải quyết trọn vẹn khó khăn này, nếu không xem xét bản văn của Phaolô dựa vào những gì đã nói trước đây về sự vâng phục, nếu biến bản văn thành nền tảng của vâng phục, thay vì thấy ở đó – như trên thực tế – một trường hợp riêng biệt trong khung cảnh một sự vâng phục khác chủ yếu hơn nhiều, tức “vâng phục Phúc Âm”. Vì vậy, chúng ta phải hiểu sự vâng phục Kitô giáo khởi đi từ những mở đầu khác – như ta sẽ thấy – cho phép chúng ta cũng hiểu được bản văn nổi tiếng này.

Quả thực, một sự vâng phục liên hệ đến mọi người, người trên cũng như kẻ dưới, tu sĩ cũng như giáo dân, một sự vâng phục quan trọng nhất, chi phối và làm sống động mọi sự vâng phục khác: sự  vâng phục của con người đối với Thiên Chúa. Đó là sự vâng phục chúng ta muốn khám phá, hoặc tái khám phá, theo lời dạy của thánh Phaolô và tất cả Kinh Thánh. Sự vâng phục Thiên Chúa như sợi dây từ trên cao, giữ cho màng nhện rực rỡ treo vào hàng rào. Xuống theo đường dây mà chính nó làm ra, con nhện dệt tất cả tấm mạng, lúc này đây đã hoàn hảo và giăng ra mọi góc. Tuy vậy, sợi dây từ trên cao giúp cho nó giăng mạng không bị đứt, một khi mạng làm xong, dây vẫn còn. Chính nó, từ trung tâm, giữ cho cả mạng dây chằng chịt; không có nó, tất cả đều bung ra. Nếu một điểm bên cạnh nào đó bị đụng chạm, nhện vội vàng vá lại. Nhưng nếu sợi dây chính từ trên cao bị đứt, nhện rời đi, như thể từ đây nó không có gì để làm.

Một điều gì đó tương tự xẩy ra liên hệ đến cốt lõi của quyền bính và vâng phục trong xã hội, trong dòng tu, trong Giáo hội. Sự vâng phục Thiên Chúa là sợi dây từ trên cao. Tất cả được xây dựng từ sợi dây này. Nhưng nó không thể bị quên đi, một khi xong công trình. Trong trường hợp ngược lại, tất cả bị gẫy gập và bung ra.

Về sự vâng phục, cần làm một bản thâu tóm, tức là – theo ý nghĩa cổ điển của thánh Irênê – “lấy lại sự vật ở nguồn gốc của chúng và đưa chúng về hiệp nhất”. Trong nỗ lực này, thánh Irênê là trợ thủ lớn cho chúng ta. Ngài tỏ ra đặc biệt nhạy cảm về đề tài vâng phục, đồng thời ngài có lợi thế nhìn Kinh Thánh bằng đôi mắt trong trắng, nếu có thể nói như vậy, không bộ lọc của những giải thích và những suy diễn đặc biệt về sự vâng phục, như chúng ta thấy sau này. Ngài biểu thị giai đoạn cổ xưa nhất của Truyền Thống về sự vâng phục, gần với nguồn mạch nhất.

Thật vậy, những hình thức và đặc điểm của vâng phục trong đời sống Giáo hội thì vô tận. Có một sự vâng phục thuộc Giáo hội và một sự vâng phục thuộc đan viện. Trong sự vâng phục thuộc đan viện, có vâng phục theo mẫu thánh Basiliô, theo mẫu thánh Pacômô, theo mẫu thánh Biển Đức.

Thời Trung cổ, người ta phân biệt một sự vâng phục thuộc dòng Phan sinh có liên quan chặt chẽ với sự nghèo khó, nhấn mạnh khía cạnh từ bỏ ý riêng, và một sự vâng phục thuộc dòng Đa minh, cởi mở hơn với việc tông đồ, nhấn mạnh “công ích” hơn, đạt được nhờ sự hòa hợp các ý muốn khác nhau.

Thánh Ignatiô thì nhấn mạnh ở thời hiện đại sự triệt để vâng phục (“mù quáng như một xác chết”).

Hiện nay, sau Công đồng, người ta dễ dàng nói về  sự vâng phục có trách nhiệm, có đối thoại hay có tính bác ái. Tất cả những sự vâng phục đó, trong môi trường và thời đại của chúng, có những cách diễn tả xác thực sức sống của Giáo hội và đã làm nảy nở cách kỳ diệu những công trình và sự thánh thiện.

Nhưng cũng như vào tháng hai tháng ba cây ăn trái được cắt tỉa cành của mùa trước, cho dù chúng vẫn còn tốt, chỉ còn có thân cây hay hầu như vậy, để nhựa được thu thập lại và để cây sẵn sàng cho một vụ mùa mới vào tháng giêng, cũng thế, ở mỗi khúc quặt của đời sống Giáo hội, phải làm trần trụi lời Chúa, để có thể có một mùa xuân mới và một mủa hoa quả mới.

Những hình ảnh cắt tỉa và mùa xuân mới (“novum ver”) không phải là của tôi: chính Đức Phaolô VI là người đầu tiên sử dụng chúng, trong diễn từ khai mạc khóa thứ hai Công đồng[45]. Nhưng một mùa xuân thiêng liêng chỉ có thể xẩy ra nhờ công trình của Chúa Thánh Thần, và quả thực, hình ảnh “mùa xuân mới” chỉ là lấy lại ý tưởng rất tâm đắc của Đức Giáo hoàng Gioan XXIII về một “lễ Hiện Xuống mới” cho Giáo hội. Chính Chúa Thánh Thần “đổi mới mặt địa cầu”. Một Giáo Phụ đã nói: “Cũng như nhờ luồng gió ấm áp (…) mùa xuân mà khắp nơi những đồng cỏ đâm chồi và tỏa hương hoa thơm (…), cũng thế, nhờ hoạt động lạ lùng của Chúa Thánh Thần, những bông hoa đẹp của Giáo hội trổ sinh[46]”. Nhân kỷ niệm bách chu niên thứ XVI Công đồng chung Constantinôpôli – Công đồng đã định tín thần tính của Chúa Thánh Thần – Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết, với một sự thật sâu xa, là “mọi công trình đổi mới Giáo hội, mà Công đồng Vaticanô II đã đề ra và khởi sự theo ý Chúa quan phòng… chỉ có thể được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là được ánh sáng và sức mạnh của Người trợ giúp[47]”.

Nguyên tắc này cũng có giá trị cho việc canh tân sự vâng phục. Có tác giả viết rằng “nếu ngày nay có vấn đề vâng phục, thì không phải là vấn đề ngoan ngoãn trực tiếp với Chúa Thánh Thần, mà mỗi người sẵn lòng viện dẫn, nhưng là vấn đề phục tùng một phẩm trật, một lề luật, một quyền bính của con người”. Tôi cũng thâm tín như vậy. Nhưng để sự vâng phục cụ thể lề luật và quyền bính hữu hình lại có thể thực hiện được, chúng ta phải trở về với sự vâng phục Thiên Chúa và Thần Khí của Người. Điều đó có nghĩa là phải thật sự vâng phục Thần Khí, chứ không chỉ là sự vâng phục được cho là thế, nếu không thì thực tế trước sao sau vậy.

Quả thực, sự vâng phục không được đổi mới bằng lề luật, nhưng bằng ân sủng; không bằng chữ viết, nhưng bằng Thần Khí. Khi đến thế gian, Đức Giêsu không canh tân sự vâng phục của con người bằng cách tăng cường hay hoàn thiện hóa những lề luật đang hiện hành – cũng có làm điều đó – nhưng bằng cách ban cho ngày Ngũ Tuần một luật mới và bên trong, khi thực hiện lời tiên tri nói: “Chính thần trí Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi. Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (Ed 36,27). Chỉ Thần Khí, tức ân sủng, có thể ban cho con người, đồng thời với giới răn, khả năng vâng phục các “thánh chỉ và phán quyết”. Vì vậy, chúng ta phó thác cho Thần Khí, để Người cầm tay dắt chúng ta trên đường chúng ta sắp đi, để tái khám phá bí mật của sự vâng phục.

2. Sự vâng phục của Đức Kitô

Khám phá bản chất và nguồn gốc của sự vâng phục Kitô giáo tương đối đơn giản: chỉ cần khởi đi từ chỗ xem Đức Giêsu được Kinh Thánh định nghĩa như một người vâng phục theo khái niệm nào về vâng phục. Chúng ta sẽ thấy ngay nền tảng đích thực của vâng phục không phải là một ý tưởng vâng phục, nhưng là một hành vi vâng phục; không phải là một nguyên tắc trừu tượng (“người dưới phải phục tùng người trên”), nhưng là một sự kiện; không được thiết lập trên “một trật tự tự nhiên đã có sẵn”, nhưng thiết lập và cấu tạo một trật tự mới; không ở trong lý trí (“recta ratio”), nhưng trong khởi giảng. Và đây là nền tảng của nó: “Đức Kitô đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8); “Đức Kitô đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, và Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,8-9). Điểm sáng của tất cả suy tư về sự vâng phục trong thư Rôma là: “Nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Sự vâng phục của Đức Kitô là nguồn mạch trực tiếp và lịch sử của việc công chính hóa. Cả hai việc có liên hệ chặt chẽ với nhau. Ai biết vai trò của sự công chính hóa trong thư Rôma có thể hiểu vai trò của sự vâng phục, theo bản văn này. Đối với Tân Ước, sự vâng phục của Đức Kitô không những là tấm gương vâng phục cao cả nhất, mà còn là nền tảng của sự vâng phục ấy. Nó là “hiến chương” của Nước Thiên Chúa.

Chúng ta cố gắng xem bản chất của “hành vi” vâng phục này, trên đó trật tự mới được thiết lập. Nói khác đi, chúng ta cố gắng xem sự vâng phục của Đức Kitô hệ tại ở điều gì. Con trẻ Giêsu vâng lời cha mẹ; rồi khi lớn lên thì tùng phục luật Môsê, Hội đồng Do thái, Philatô…Nhưng thánh Phaolô không hề nghĩ tới những sự vâng phục này; ngài nghĩ tới sự vâng phục của Đức Kitô đối với Chúa Cha. Quả thực, sự vâng phục của Đức Kitô được coi như đối lại với sự bất tuân của Ađam: “Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19; x. 1Cr 15,22). Ngay cả trong thánh thi của thư Philipphê, sự vâng phục của Đức Kitô “cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” một cách mặc nhiên đối lại với với sự bất tuân của Ađam muốn mình “bằng Thiên Chúa” (x. Pl 2,6 tt) mặc nhiên đối lại với sự bất tuân của Ađam, người muốn bằng Thiên Chúa. Nhưng Ađam đã không vâng phục ai? Chắc chắn không phải cha mẹ, cũng không phải chính quyền hay lề luật…Ông đã không vâng phục Thiên Chúa. Nguồn gốc của mọi sự bất tuân là bất tuân với Thiên Chúa, và nguồn gốc của mọi sự vâng phục là vâng phục Thiên Chúa. Thánh Phanxicô nói rằng sự bất tuân của Ađam là ở chỗ chiếm đoạt ý muốn của Thiên Chúa: “Người ăn trái cây biết lành biết dữ là người chiếm đoạt ý muốn của Thiên Chúa[48]”. Để đối lại, chúng ta hiểu sự vâng phục của Ađam mới hệ tại ở chỗ nào. Ngài đã không theo ý mình, hủy mình ra không (ekenosen). Ngài đã thưa với Chúa Cha: “Xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” (Lc 22,42). Ngài còn nói: “Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38).

Thánh Irênê giải thích sự vâng phục của Đức Giêsu dựa vào những bài ca của người Tôi Trung, như một sự tùng phục bên trong và tuyệt đối đối với Thiên Chúa, thực hiện trong một tình huống cực kỳ khó khăn. Ngài viết: “Tội lỗi đến từ cây gỗ đã được hủy bỏ nhờ sự vâng phục trên cây gỗ, vì khi vâng phục Thiên Chúa, Con Người bị đóng đinh trên cây gỗ, như vậy phá hủy sự dữ, đưa sự lành vào sâu trong thế gian. Sự dữ là không vâng phục Thiên Chúa, cũng như sự lành là vâng phục Thiên Chúa. Vì vậy mà Ngôi Lời đã nói qua miệng tiên tri Isaia: “Tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50,5-6). Thế nên, do sự vâng phục mà Ngài đã chấp nhận tới chỗ chết treo trên cây gỗ, Ngài đã tháo gỡ sự bất tuân xưa xẩy ra ở một cây[49]”. Như chúng ta thấy, thánh Irênê coi cặp đối lập “bất tuân-vâng phục” là triệt để và phổ quát, đến nỗi tương đương với cặp đối lập lành-dữ. Ngài nói: sự dữ là không vâng phục Thiên Chúa, sự lành là vâng phục Thiên Chúa.

Sự vâng phục bao trùm tất cả cuộc đời Đức Giêsu. Nếu thánh Phaolô và thư Do thái cho thấy rõ vai trò của vâng phục trong cái chết của Đức Giêsu (x. Pl 2,8;  Dt 5,8), thì thánh Gioan và các tác giả nhất lãm bổ túc bằng cách cho thấy rõ vai trò của vâng phục trong đời sống hàng ngày của Đức Giêsu. “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy”, và “Tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 4,34;  8,29).

Sự vâng phục của Đức Giêsu đối với Chúa Cha thể hiện đặc biệt qua sự vâng phục những lời đã được viết ra. Trong câu truyện thử thách ở sa mạc, sự vâng phục của Đức Giêsu thể hiện trong việc nhắc lại lời Thiên Chúa và trong ý muốn giữ lời đó: “Có lời chép”. Dưới hành động hiện tại của Thần Khí, lời Thiên Chúa trở thành phương tiện chuyển tải ý muốn sống động của Thiên Chúa, và mạc khải tính chất “bó buộc” của nó, như là những mệnh lệnh đích thật của Thiên Chúa. Sự vâng phục của Ađam mới trong sa mạc là ở đó. Sau câu “Có lời chép” cuối cùng của Đức Giêsu, Luca tiếp tục trình thuật khi nói “quỷ bỏ đi” (Lc 4,13) và Đức Giêsu trở lại Galilêa, “với quyền năng của Chúa Thánh Thần” (Lc 4,14). Chúa Thánh Thần được ban cho những ai “vâng lời Thiên Chúa” (x. Cv 5,32). Thánh Giacôbê nói: “Anh em hãy phục tùng Thiên Chúa. Hãy chống lại ma quỷ, chúng sẽ chạy xa anh em” (Gc 4,7). Đó là điều đã xẩy ra khi Đức Giêsu bị thử thách. Sự vâng phục của Đức Giêsu thể hiện cách đặc biệt liên hệ tới những lời viết về Ngài và cho Ngài, “trong lề luật, các tiên tri và các thánh vịnh”. Là con người, Ngài khám phá ra những lời ấy theo mức độ Ngài tiến dần trong sự hiểu biết và thực hiện sứ mệnh của Ngài.

Sự hài hòa toàn hảo giữa những lời tiên tri của Cựu Ước và những hành vi của Đức Giêsu – người ta để ý thấy khi đọc Tân Ước – không sáng rõ khi nói những lời tiên tri tùy thuộc vào những hành vi (tức là chúng đã được áp dụng cho Đức Giêsu theo sau những việc Ngài thực hiện), nhưng sáng rõ khi quả quyết chính những hành vi tùy thuộc vào lời tiên tri. Trong sự vâng phục hoàn hảo đối với Chúa Cha, Đức Giêsu đã “hiện tại hóa” điều đã được viết về Ngài. Khi có người chống lại việc bắt giữ Ngài, Ngài nói: “Như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được, vì theo đó mọi sự phải xẩy ra như vậy?” (Mt 26,54). Cuộc đời của Đức Giêsu như được hướng dẫn bởi một một lằn rẽ sáng láng mà những người khác không thấy, và được hình thành nhờ những lời viết về Ngài. Chính trong Kinh Thánh mà Đức Giêsu rút ra “những gì cần” (dei), chi phối tất cả cuộc đời của Ngài.

Nét cao cả của sự vâng phục nơi Đức Giêsu được đánh giá cách khách quan nơi “điều Ngài chịu đựng” và cách chủ quan nơi tình yêu và sự tự do khiến Ngài vâng phục. Thánh Basiliô phân biệt ba tâm thái khiến người ta có thể vâng phục: thứ nhất, do sợ bị phạt, đó là tâm thái của người nô lệ; thứ hai, do muốn được thưởng, đó là tâm thái của người làm thuê; thứ ba, do tình yêu, đó là tâm thái của con cái[50]. Nơi Đức Giêsu, sự vâng phục của người con rạng rỡ tới mức tối cao và vô biên. Ngay cả trong những giờ phút cùng cực nhất, như khi Chúa Cha đề nghị Ngài uống chén khổ nạn, tiếng kêu của người con cũng không bao giờ tắt trên môi Ngài, như khi trên thập giá Ngài đã kêu lên: “Lậy Thiên Chúa, lậy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con!” (Mt 27,46). Trên thập giá, Đức Giêsu “phó mình cho Đấng bỏ Ngài”. Đó là sự vâng phục cho đến chết, đó là “đá tảng cứu độ chúng ta”.

Trong sự vâng phục của Đức Giêsu, như Tân Ước trình bầy, chúng ta được hiểu cách đầy đủ và sâu sắc hơn ý nghĩa của nhân đức này. Nó không chỉ là một nhân đức luân lý, mà còn là nhân đức đối thần. Trong tầm nhìn kinh viện – dựa trên những lược đồ các nhân đức rút ra từ Aristot và phái khắc kỷ – sự vâng phục liên quan chặt chẽ với công bình. Là nhân đức, nó được xếp vào số những nhân đức luân lý có đối tượng là những phương tiện, chứ không phải mục đích, và phân biệt rõ ràng với những nhân đức đối thần – tin, cậy, mến – qua đó, con người gắn chặt vào chính Thiên Chúa. Nhưng đối với Kinh Thánh, đặc biệt Tân Ước, sự vâng phục, trong chừng mực chính yếu là vâng phục Thiên Chúa, có liên quan chặt chẽ đặc biệt với đức tin, đến nỗi thường hòa lẫn vào đức tin. Để có điều đó, nó nhắm đến không chỉ các phương tiện, mà cả mục đích; nó làm người ta gắn chặt vào chính Thiên Chúa, chứ không chỉ vào những thiện ích trung gian, dù đó là “công ích”. Kinh Thánh viết: “Nhờ đức tin, Abraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi” (Dt 11,6). Sự vâng phục là một loại đức tin cần thiết, khi Lời mạc khải không chứa đựng một chân lý của Thiên Chúa phải tin cho bằng một ý muốn phải chu toàn. Theo một ý nghĩa khác, đức tin cũng là vâng phục khi được trình bày cho chúng ta như một chân lý phải tin, bởi lý trí không chấp nhận nó vì sự hiển nhiên của nó, nhưng vì thế giá của nó. Kiểu nói “vâng phục của đức tin”, thường được thánh Phaolô sử dụng, không chỉ muốn vâng phục điều mình tin, mà cả vâng phục bằng cách tin, do chính sự kiện tin vào điều đó. Thánh Irênê diễn tả tất cả điều ấy một cách súc tích khi nói: “tin là làm theo ý muốn của Ngài[51]”. Ngay cả những hạn từ diễn tả sự vâng phục cũng liên kết chặt chẽ với những hạn từ được sử dụng để diễn tả đức tin. Quả thực, một hạn từ (hypakuo, ob-audire) có nghĩa lắng nghe, hạn từ kia (peithomai, cùng căn rễ với pistis) có nghĩa để cho mình bị thuyết phục, xác tín, tin tưởng.

Ngoài ra, nhờ lời Chúa, chúng ta khám phá ra sự vâng phục là một nhân đức tích cực hơn tiêu cực. Cũng như ở đây, với thời gian và những quan tâm khổ chế có ưu thế hơn những quan tâm bí nhiệm và khởi giảng, sự vâng phục cuối cùng được coi như một nhân đức tiêu cực hoặc như một sự từ bỏ. Sự tuyệt vời của vâng phục giữa các nhân đức là do sự tuyệt vời của điều tốt mà người ta phải từ bỏ bằng ý riêng (cũng là một điều tốt tuyệt vời); điều tốt này lớn hơn điều tốt của những sự vật bên ngoài mà người ta từ bỏ bằng sự nghèo khó, lớn hơn điều tốt của thân xác mình mà người ta từ bỏ bằng sự khiết tịnh. Nhưng trong nhãn quan Kinh thánh, yếu tố tích cực “làm theo ý Thiên Chúa” quan trọng hơn yếu tố tiêu cực (không làm theo ý riêng mình). Đức Giêsu nói: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin cho ý Cha được thể hiện” (nhấn mạnh vế thứ hai); “Lương thực của tôi là làm theo ý Cha tôi”; “Này con đây, con đển để thực thi ý Ngài” (Dt 10,9). Quả thực, ơn cứu độ đến từ việc làm theo ý Thiên Chúa, chứ không phải không làm theo ý riêng. Trong kinh Lạy Cha, chúng ta xin cho “ý Cha thể hiện”. Chúng ta xin điều tích cực, chứ không phải điều tiêu cực.

Trong Kinh Thánh, chúng ta đọc thấy Thiên Chúa muốn sự vâng phục chứ không phải hy lễ (x. 1Sm 15,22; Dt 10,5-7). Tuy vậy, chúng ta biết trong trường hợp của Đức Giêsu, Thiên Chúa cũng muốn hy lễ, và Ngài muốn điều đó nơi chúng ta…Cắt nghĩa: chính là từ hai sự việc đó; một đàng là phương tiện, một đàng là mục đích; một đàng là sự vâng phục, Thiên Chúa muốn vì chính nó, một đàng là hy lễ, Thiên Chúa chỉ muốn gián tiếp vì sự vâng phục. Ý nghĩa của câu như sau: điều Thiên Chúa tìm trong hy lễ là sự vâng phục. Hy sinh ý riêng là phương tiện để hài hòa với ý Chúa. Với những người cảm thấy vấp phạm vì Chúa Cha có thể hài lòng trong hy tế của Con mình là Đức Giêsu, thánh Bênađô trả lời: “Không phải cái chết làm hài lòng Người, nhưng ý muốn của Đấng tự ý chết[52]”. Như vậy, cứu chuộc chúng ta chính là sự vâng phục của Đức Kitô cho tới chết, hơn là cái chết của Ngài.

Đúng là hai việc “không làm theo ý riêng” và “làm theo ý Thiên Chúa” tùy thuộc nhau cách chặt chẽ. Tuy vậy chúng không đồng nhất và bao hàm nhau. Không làm theo ý riêng không phải tự nó và luôn luôn là một việc có giá trị cứu rỗi, như việc làm theo ý Thiên Chúa. Động lực tích cực của vâng phục vượt lên trên động lực tiêu cực. Thiên Chúa có thể đòi hỏi những việc không có mục đích làm chúng ta từ bỏ ý riêng, nhưng thử thách và làm gia tăng đức tin và đức mến của ta. Việc Abraham sát tế con mình (x. St 22,18),   Kinh Thánh gọi là “vâng phục”, cho dù đây không phải là bắt Abraham từ bỏ ý riêng, nhưng là để thử thách lòng trung thành của ông. Quả thực, mục đích của tất cả là làm cho sự tự do của con người gắn chặt vào Thiên Chúa cách tự do, đến nỗi chỉ có một ý muốn lại bao trùm vũ trụ, trước khi có tội lỗi, tức ý muốn của Thiên Chúa. Trong sự vâng phục, sự kiện “thụ tạo trở về với Thiên Chúa” xẩy ra cách nào đó. Trên đỉnh mọi động lực Kinh thánh của sự vâng phục có đức ái, cao hơn chính đức tin. Vâng phục là lời chấp nhận trong ngày cưới của thụ tạo đối với Đấng Sáng Tạo, qua đó, ngay từ bây giờ đã thể hiện, dù bất toàn, sự kết hợp cuối cùng của các ý muốn, là điều tạo nên chính chủ tính của hạnh phúc vĩnh cửu. Một Giáo Phụ sa mạc nói: “Trong sự vâng phục, khi người ta bắt sự tự do của mình phục tùng Thiên Chúa, thì sự giống với Thiên Chúa, chứ không chỉ là hình ảnh của Thiên Chúa, được thực hiện[53]”. Do hiện hữu, chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, nhưng do vâng phục, chúng ta cũng giống với Người, theo nghĩa khi vâng phục, chúng ta hòa hợp với ý muốn của Người. Do sự tự do lựa chọn chúng ta trở nên điều Người là do bản tính. Chúng ta giống với Thiên Chúa vì chúng ta muốn điều Người muốn.

3. Vâng phục là một ân sủng: Phép Rửa tội

Trong chương 5 thư Rôma, thánh Phaolô giới thiệu cho chúng ta Đức Kitô là tiên mẫu của các người vâng phục, đối lại với Ađam là tiên mẫu của các người bất tuân. Như đã nói, sự vâng phục của Ngài trong cuộc đời và trong cái chết của Ngài tạo nên một nền tảng và tiêu chuẩn mới cho nhân đức vâng phục. Trong chương 6, thánh Tông Đồ cho thấy chúng ta đi vào trong phạm vi biến cố này như thế nào, nghĩa là qua phép Rửa tội. Như mọi khi, chính qua bí tích mà chúng ta tiếp xúc với biến cố. Chúng ta có thể so sánh sự vâng phục của Đức Kitô với một thác nước chảy mạnh làm quay máy điện khổng lồ. Từ sự vâng phục ấy bắt đầu một đường dây dẫn năng lượng xuyên qua lịch sử, trong Giáo hội. Nhưng một đường dây điện đi bên cạnh một ngôi nhà để có năng lượng và ánh sáng, là không đủ. Phải có một dây khác nối nó vào nhà. Đó là điều xẩy ra trên bình diện thiêng liêng với phép Rửa tội. Phép Rửa tội là lúc mỗi người đặc biệt tiếp xúc với luồng ân sủng từ mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô, và lúc mà đời sống mới “được sáng lên” nơi họ.

Đối với sự vâng phục Kitô giáo, phép Rửa tội có một ý nghĩa đặc biệt hầu như đã hoàn toàn mất hút trong huấn giáo. Thánh Phaolô tiên vàn đặt ra nguyên tắc này: nếu anh tự do đặt mình dưới quyền ai, thì anh phải phục vụ và vâng phục người đó: “Anh em không biết sao? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục; hoặc làm nô lệ tội lỗi thì sẽ phải chết, hoặc làm nô lệ cho sự Vâng Phục thì sẽ được nên công chính” (Rm 6,16) (tôi viết Vâng Phục chữ hoa, vì đây không còn nói về một sự vâng phục trừu tượng, nhưng về sự vâng phục của Đức Kitô, hoặc đúng hơn, về chính Đức Kitô vâng phục). Khi đã đặt ra nguyên tắc, thánh Phaolô nhắc lại sự kiện: người Kitô hữu tự do đặt mình dưới quyền của Đức Kitô, ngày họ chịu phép Rửa tội, họ đã nhận Ngài là Chúa của mình: “Trước kia anh em làm nô lệ tội lỗi, nhưng nay anh em đã hết lòng vâng theo quy luật đạo lý đã đào tạo anh em. Anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ sự công chính” (Rm 6,17). Trong phép Rửa tội, việc thay đổi chủ, thay đổi chiến tuyến, đã xẩy ra: từ tội lỗi sang công chính, từ bất tuân sang vâng phục, từ Ađam sang Đức Kitô. Phụng vụ diễn tả những điều đó bằng sự đối chọi nhau: “tôi từ bỏ” – “tôi tin”. Ngày xưa, trong một vài sách nghi thức Rửa tội, có những cử chỉ kịch tính, có thể nói, làm hiển thị biến cố nội tâm này. Người được rửa tội trước hết quay về hướng tây, được coi là biểu tượng của bóng tối, làm dấu từ bỏ và xa tránh Satan với các việc làm của nó; rồi quay về hướng đông, biểu tượng của ánh sáng, và cúi mình sâu chào đón Đức Kitô là Chúa mới của mình. Giống như trong trận chiến giữa hai vương quốc, một người lính bỏ đạo quân của tên bạo chúa, để gia nhập đạo quân của người giải phóng.

Như vây, sự vâng phục là một yếu tố cấu tạo đời sống Kitô giáo. Đó là hậu quả thực tế và cần thiết của việc nhận Đức Kitô làm Chúa. Không có quyền làm chúa trong hiện thể, nếu không có sự vâng phục về phía con người. Khi chịu phép Rửa, chúng ta đã nhận một Chúa, một Kyrios, nhưng là một Chúa “vâng phục”, Đấng đã trở nên Chúa vì sự vâng phục của Ngài (x. Pl 2,8-11), và sự vâng phục của Ngài, có thể nói, là chính bản chất quyền làm Chúa của Ngài. Ở đây, sự vâng phục không phải là lụy phục cho bằng giống. Vâng phục một Chúa như thế là giống Ngài, vì Ngài cũng đã vâng phục.

Về phương diện này, thư thứ nhất của thánh Phêrô, xác nhận đặc biệt tư tưởng của Phaolô. Như chúng ta đọc ở đầu lá thư, các tín hữu đã là “những người được Thiên Chúa Cha biết trước và kén chọn, những người được Thần Khí thánh hóa và vâng phục Đức Giêsu Kitô” (1Pr 1,2). Các Kitô hữu đã được kén chọn và thánh hóa “để vâng phục”. Xa hơn một chút cũng trong lá thư, các tín hữu được định nghĩa bằng một công thức rất gợi ý, “những người con của sự vâng phục”: “Như những người con biết vâng phục (theo đúng nghĩa: như những người con của sự vâng phục), anh em đừng chiều theo những đam mê trước kia” (1Pr 1,14). Dịch kiểu nói là “những người con vâng phục” (như một kiểu nói hipri thuần túy) thì không đủ, vì ở đây nhắc tới phép Rửa tội, như văn mạch rõ ràng cho thấy. “Con của sự vâng phục” tương đương với “được thánh hóa trong sự vâng phục” mà chúng ta đọc ngay ở sau (x. 1Pr 1,22).

Vậy nội dung không phải khổ chế, nhưng bí nhiệm. Thánh Phêrô nói về sự tái sinh nhờ lời Chúa (x. 1Pr 1,23). Các Kitô hữu là những con cái của sự vâng phục, vì được sinh ra do sự vâng phục của Đức Kitô, và do họ quyết định vâng phục Đức Kitô. Cũng như những con cá nhỏ, sinh trong nước, chỉ có thể sống trong nước, cũng vậy, các Kitô hữu sinh ra từ sự vâng phục, chỉ có thể sống cách thiêng liêng khi ở trong sự vâng phục, nghĩa là trong một tình trạng lụy phục liên lỉ và yêu thương đối với Thiên Chúa, tiếp xúc với mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô. Quả thực, qua bí tích, sự tiếp xúc với sự vâng phục của Đức Kitô không giảm sút với phép Rửa tội, nhưng được đổi mới hàng ngày trong Thánh Thể. Khi cử hành Thánh Thể, chúng ta tưởng niệm – còn hơn là tưởng niệm – sự vâng phục của Đức Kitô cho tới chết, chúng ta “mặc lấy” sự vâng phục của Ngài như mặc chiếc áo choàng công chính, và như vậy chúng ta trình diện trước Chúa Cha như những “con cái của sự vâng phục”. Khi nhận lấy mình và máu Đức Kitô, chúng ta được nuôi dưỡng bằng sự vâng phục của Ngài.

Qua đó chúng ta thấy, trước khi là một nhân đức, sự vâng phục là một quà tặng; trước khi là một lề luật, là một ân sủng. Sự khác biệt giữa hai bên ở chỗ lề luật truyền làm, trong khi ân sủng cho người ta làm. Sự vâng phục tiên vàn là một công việc của Thiên Chúa trong Đức Kitô, rồi được ban cho các tín hữu để họ diễn tả nó trong đời sống, qua việc trung thành bắt chước. Nói cách khác, chúng ta không chỉ có bổn phận vâng phục, nhưng từ đây còn có ơn vâng phục.

Như vậy sự vâng phục Kitô giáo bén rễ trong phép Rửa tội. Qua phép Rửa tội, mọi Kitô hữu được “hiến dâng” cho sự vâng phục. Theo một nghĩa nào đó, họ cũng biến nó thành một thứ lời “khấn”. Ngày nay khi chúng ta nói việc khấn dòng đặt nền trên phép Rửa tội, là một cách cắt nghĩa phép Rửa tội, coi những hàm ý của nó là đặc biệt quan trọng[54], chúng ta nói một điều gì đó rất thật. Trong nhiều thế kỷ, trước khi ý tưởng về khấn dòng và về bậc tu trì (điều đã xẩy ra thời Trung cổ) được khẳng định, ý định sống trong đời sống thánh hiến chỉ là giữ tốt hơn và triệt để hơn những đòi hỏi của đời sống Kitô giáo. Thánh Basiliô gọi các đan sĩ đơn giản là các “Kitô hữu”[55]. Vào thời của ngài (điều đó lại trở lại thời nay), tách biệt thực sự quan trọng không phải là tách biệt giữa các đan sĩ và phần còn lại của cộng đồng Giáo hội, nhưng là tách biệt giữa cộng đoàn xét toàn bộ với thế giới bên ngoài không sống theo Phúc Âm[56]. Ngày hôm nay, lời Chúa thúc đẩy chúng ta tái khám phá nền tảng này, chung cho mọi Kitô hữu, thúc đẩy chúng ta “tìm kiếm những gì hợp nhất chúng ta, hơn là những gì chia rẽ chúng ta”, và điều này không chỉ trong những tương quan giữa các Giáo hội khác nhau, mà cả giữa những phạm trù khác nhau trong lòng Giáo hội. Quả thực, điều phân biệt chỉ là cách sống nó.

Việc tái khám phá sự vâng phục căn bản này giúp ích rất nhiều cho chính các tu sĩ. Quả thực, ngày nay, họ luôn ý thức hơn rằng đổi mới sự vâng phục không do làm cho luật lệ và hiến pháp riêng hoàn thiện luôn mãi, ngay cả không do trở về với nguồn mạch riêng – hiểu là những nguồn mạch của dòng tu mà họ thuộc về – nhưng chỉ do Thần Khí hoạt động trong lời Chúa và trong các bí tích. Sự đổi mới là do trở về với “nguồn của các nguồn”, là Đức Kitô.

Thánh Gioan nói: “Lề luật đã được Thiên Chúa hứa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có” (Ga 1,17). Lời này vẫn còn đúng, muốn nói rằng luật hay quy luật vâng phục được ban cho chúng ta qua Basiliô, qua Biển Đức, qua Phanxicô, qua Ignatiô, qua Têrêxa …, nhưng ơn vâng phục chỉ đến từ Đức Giêsu Kitô, như đã đến với các ngài.

Thánh Phaolô nói rằng quan trọng không phải là được cắt bì hay không được cắt bì, nhưng là được trở nên một “thụ tạo mới” (x. Gl 6,15). Cũng vậy, quan trọng không phải là giáo dân hay giáo sĩ, thuộc dòng tu này hay dòng tu khác, nhưng là một thụ tạo mới. Nếu điều đó được kèm theo, thì mọi sự khác đều có tầm quan trọng, và rất quan trọng. Nếu không, chẳng có gì đáng kể. Những mầu sắc hiện hữu và tuyệt diệu, nhưng chỉ khi có ánh sáng tạo ra chúng và làm cho chúng linh động.

Việc tái khám phá dữ kiện này chung cho mọi người, dựa trên phép Rửa tội, đáp ứng với nhu cầu cốt tử của giáo dân trong Giáo hội. Công đồng Vaticanô II đã xướng lên nguyên tắc mọi người trong dân Chúa được kêu gọi nên thánh. Nhưng vì không có sự thánh thiện nếu không có vâng phục, nên quả quyết mọi người trong dân Chúa được kêu gọi nên thánh cũng là quả quyết họ được kêu gọi sống vâng phục.

Tuy vậy lúc này cần cho các người được rửa tội thấy một sự thánh thiện và vâng phục vừa tầm với họ, không có những đặc tính quá riêng biệt, cũng không được liên kết với những bậc sống và những truyền thống quá xa lạ với cuộc sống của họ. Sự thánh thiện này, trong yếu tố khách quan của nó, chỉ có thể là sự thánh thiện chủ yếu được lời Chúa vạch ra và dựa trên phép Rửa tội. Trong phần khuyến thiện, thánh Phaolô đề ra cho chúng ta một lối sống rất mực hoàn hảo, được thực hiện bằng đức ái, khiêm nhường, phục vụ, trong sạch, hy sinh, vâng phục, nhưng không có một nguồn mạch nào khác ngoài phép Rửa tội.

4. Vâng phục là một “bổn phận”: ý nghĩa của đoạn thư Rôma 13,1-7

Trong phần thứ nhất của thư Rôma, thánh Phaolô giới thiệu cho chúng ta Đức Giêsu Kitô như một “quà tặng”, phải lấy đức tin mà đón nhận, trong khi ở phần thứ hai, phần khuyến thiện, ngài giới thiệu cho chúng ta Đức Kitô như một kiểu mẫu, phải lấy đời sống mà bắt chước. Hai khía cạnh này của việc cứu độ cũng thấy có trong mỗi nhân đức hay hoa quả của Thần Khí. Trong bất cứ nhân đức Kitô giáo nào, có một yếu tố thần bí và một yếu tố khổ chế, một phần được phó cho ân sủng, một phần được phó cho sự tự do. Có một sự vâng phục được “in vào” (imprimée) trong ta và một sự vâng phục được “phô ra” (exprimée) bởi ta. Bây giờ là lúc xem xét khía cạnh thứ hai, tức là việc thực sự bắt chước sự vâng phục của Đức Kitô. Vâng phục như một bổn phận. Nhờ việc Đức Kitô đến, lề luật trở thành “ân sủng”; nhưng rồi nhờ việc Chúa Thánh Thần đến, ân sủng trở thành “luật”, “luật của Thần Khí”.

Ngay khi thử tìm kiếm trong Tân Ước xem bổn phận vâng phục này hệ tại ở điều gì, người ta có một khám phá gây ngạc nhiên: thấy rằng vâng phục hầu như luôn là vâng phục Thiên Chúa. Chắc chắn cũng có những hình thức vâng phục khác: cha mẹ, thầy dạy, bề trên, chính quyền, “mọi thể chế do con người đặt ra” (x. 1Pr 2,13), nhưng ít được nói đến hơn, và ít long trọng hơn nhiều.

Chính danh từ “vâng phục” (hypakoé), hạn từ mạnh nhất, đều luôn luôn và duy nhất được sử dụng để chỉ sự vâng phục Thiên Chúa, hoặc dù sao cũng để chỉ các cấp nắm quyền từ Thiên Chúa, trừ duy nhất một chỗ trong thư Philêmon hạn từ này chỉ sự vâng phục thánh Tông Đồ. Thánh Phaolô nói về sự vâng phục đức tin (x. Rm 1,5; 16,26), vâng phục giáo huấn (x. Rm 6,7), vâng phục Phúc Âm (x. Rm 19,16; 2Tx 1,8), vâng phục chân lý (x. Gl 5,7), vâng phục Đức Kitô (x. 2Cr 10,5). Cùng một ngôn ngữ này được thấy ở những chỗ khác: sách Công vụ nói về vâng phục đức tin (x. Cv 6,7), thư thứ nhất thánh Phêrô nói về vâng phục Đức Kitô (x. 1Pr 1,2) và vâng phục chân lý (x. 1Pr 1,23).

Điều mà tất cả những kiểu diễn tả này muốn nói, cũng dễ hiểu, nếu chúng ta đi từ bản văn Galát: “Anh em đang chạy ngon trớn như thế mà ai đã ngăn cản anh em vâng phục chân lý?” (Gl 5,7). Ở đây, thánh Tông Đồ nói với những người do thái hóa, tức là những người coi việc tuân giữ lề luật và các chỉ thị của lề luật là lý tưởng không thể hủy bỏ. Vậy người ta muốn nói gì khi bảo rằng người Galat “không còn vâng phục chân lý”? Muốn nói rằng họ vâng phục lề luật thay vì vâng phục Phúc Âm. Chân lý, đức tin, Phúc Âm, Đức Kitô, tất cả đều là những kiểu diễn tả cùng một thực tại. Đặc điểm chung của chúng là: những quyền bính thuộc Thiên Chúa chứ không thuộc con người. Trong Đức Kitô, một ý muốn mới của Thiên Chúa được bày tỏ, là hoàn tất mọi ý muốn trước đây; tiếp tục vâng phục lệnh truyền cũ, từ đây là bất tuân; thuận theo sự vâng phục cũ sẽ giống như người, lúc đầu vào nhà tập, nhận được một lệnh từ bề trên, nghĩ mình cứ tiếp tục thi hành lệnh đó trong suốt cuộc đời còn lại, dù chính bề trên truyền cho anh lúc này phải thay đổi và làm khác. Vâng phục chân lý chính là vâng phục điều mới, vâng phục Giao Ước “Mới”.

Trong khung cảnh ý tưởng này, bản văn gây tranh cãi của thư Rôma 13,1-7 về sự vâng phục quyền bính dân sự cũng được cắt nghĩa như dưới đây. Đây là lúc phải xem xét lại, cho dù việc này có làm gián đoạn một chút giọng điệu tu đức mà chúng ta đang bàn.

Thánh Phaolô, cũng như các tông đồ khác, thuộc về thế giới Do thái, mang theo mình những vấn đề và não trạng của thế giới này, như thấy qua việc ngài không ngừng tham chiếu tình trạng của Israel, trong suốt lá thư Rôma. Các người Do Thái là bạn đồng hành của ngài theo xác thịt. Ngài nhìn thế giới bằng đôi mắt Do thái, cho dù lúc này đôi mắt ấy được Đức Kitô soi sáng. Chúng ta không hiểu nổi khi mà vào khoảng năm 58, ngài lại có thể nói về quyền bính chính trị hiện hữu (vì ngài đang nói về nó), mà bỏ qua tình hình sôi sục lúc ấy trong thế giới Do thái. Đó là lúc chín muồi của cuộc khởi loạn công khai chống lại Rôma, do người phái Nhiệt Thành cầm đầu, khiến cho Giêrusalem bị tàn phá. Giả thiết là thánh Tông Đồ, qua những lời về Nhà Nước, chỉ muốn kìm hãm những Kitô hữu “cuồng nhiệt” tưởng mình được miễn khỏi mọi thứ tùy thuộc (nghĩa là giả thiết rằng thánh Tông Đồ chỉ muốn chống lại ý tưởng sai lạc về sự tự do Kitô giáo), giả thiết ấy không đủ để giải thích tất cả, vì chúng ta thấy, về căn bản, những ý tưởng như vậy trong các bản văn Tân Ước khác, trong đó hậu cảnh chắc chắn không phải là hậu cảnh của một Giáo hội “cuồng nhiệt”, nhưng hậu cảnh của một Giáo hội bị bách hại.

Như vậy, những lời của thánh Tông Đồ – cũng như những lời hoàn toàn tương tự trong thư thứ nhất Phêrô (1Pr 2,13) – được nói ra tiên vàn do mối quan tâm mục vụ. Đó là đặt cộng đồng Kitô giáo non trẻ bên ngoài cuộc tranh chấp có liên lụy trực tiếp tới sự thanh bình và tính chất phổ quát của nó. Thánh Tông Đồ kêu gọi cầu nguyện cho vua và cho những người cầm quyền để, như ngài nói, “chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh” (1Tm 2,2).

Sự vâng phục Nhà Nước, được Phaolô ghi khắc trong trí, thuộc cùng một mệnh lệnh và được cắt nghĩa bằng những lời giả định tương tự về sự vâng phục của nô lệ đối với chủ: “Kẻ làm nô lệ hãy vâng lời những người chủ ở đời này trong mọi sự” (Cl 3,22). Trong thư thứ nhất, thánh Phêrô đề cập hai thứ vâng phục tiếp theo nhau, như là thành phần của một bổn phận căn bản: “Vì Chúa, anh em hãy tuân phục mọi thể chế do loài người đặt ra: dù là vua, người nắm quyền tối cao, dù là quan…Là gia nhân, anh em hãy tuân phục chủ với tất cả lòng kính sợ” (1Pr 2,13-18). Về sự vâng phục thứ hai này, Kinh Thánh cũng nói đó là “ý Thiên Chúa” và phải thi hành “với tất cả tấm lòng” chứ không vì sợ hãi (x. Ep 6,5-6).

Tình trạng nô lệ được chấp nhận như một tình trạng thực tế trong thế giới đang qua này (x. 1Cr 7,20-24 và 31), như một điều gì đó mà Giáo hội đã thấy khi hiện hữu – cùng một cách thức như đã thấy Nhà Nước Rôma – và Giáo hội không cảm thấy mình được kêu gọi, ít ra vào lúc này, để tranh luận và thay đổi, vì khả năng cụ thể có hạn và vì ưu tiên của bổn phận thiêng liêng. Nhưng nó không có cùng một nghĩa như trước đây, vì trong trật tự mới, được Đức Kitô phục hồi, có một thứ tự do mới và một loại nô lệ hay vâng phục mới, do chủ và tớ ở trên cùng một bình diện và cả hai lãnh nhận cùng một di sản (x. Cl 12,13; Gl 3,28; Ep 6,5-9; Cl 3,11-24). Vì điều đó, người ta không nói Phaolô đặt Nhà Nước trên cùng một bình diện với nô lệ, điều đó chỉ muốn nói rằng thánh Tông Đồ coi Nhà Nước theo cùng một quan điểm mà ngài đã coi nô lệ, nghĩa là theo tình hình mới được tạo ra do quyền làm Chúa của Đức Kitô lên ngôi, mà không đi vào trong công trạng đặc biệt của bản tính hay sự hợp pháp của chúng. Điều được Phaolô tiên vàn làm rõ, là có thể thuộc về cộng đồng cứu độ, ngay cả trong sự phục tùng những ông chủ và quyền bính. Và thậm chí điều đó được đòi hỏi vì chính lợi ích của cộng đồng.

Điều dường như quan trọng nhất cần làm rõ là khi đảm nhận quan điểm vâng phục quyền lực chính trị ngoại bang này, thánh Tông Đồ hòa nhập vào trong một truyền thống tiên tri được xác định rõ, là truyền thống dính dáng đến quyền lực của Babylon thời lưu đầy. Vì vậy, nếu đúng như chúng ta đã chỉ ra cho thấy, là trong bản văn của chúng ta, Phaolô diễn đạt về Nhà Nước bằng ngôn ngữ Hy-La thế tục, thì phải xác định rõ là “thế tục”, cũng như “Hy-La”, chỉ là ngôn ngữ, vì ý tưởng nền tảng lại hoàn toàn có tính chất Kinh thánh.

Không thể không thấy một mối tương quan giữa những lời của Phaolô trong thư Rôma 13,1-7 với những lời Thiên Chúa nói với dân qua miệng tiên tri Giêrêmia, khi cảnh lưu đầy sắp xẩy ra đến nơi: “Chính Ta đã làm nên cõi đất, con người và súc vật trên mặt đất, nhờ sức mạnh lớn lao và cánh tay uy quyền của Ta. Ta ban cõi đất này cho ai vừa mắt Ta. Vậy giờ đây, chính Ta trao xứ này vao tay Nabucodonosor, vua Babylon, là tôi tớ của Ta. Ngay cả giống vật ngoài đồng, Ta cũng trao cho nó sử dụng. Mọi dân tộc sẽ phải làm tôi nó cũng như con cháu nó, cho đến khi đến thời của xứ sở nó, đến lượt nó phải làm tôi các dân tộc mạnh mẽ và các vua chúa hùng cường. Vậy dân tộc nào hoặc vương quốc nào không làm tôi nó, tức là Nabucodonosor, vua Babylon, và không chịu quàng ách Babylon vào cổ mình, thì Ta sẽ dùng gươm đao – sấm ngôn của Đức Chúa – cho đến khi Ta dùng tay nó mà làm cho dân tộc ấy biến mất hoàn toàn. Phần các ngươi, đừng nghe lời các ngôn sứ, các tay bói toán, giải mộng, chiêm tinh, phù thủy của các ngươi. Chính chúng đã nói với các ngươi rằng: “Anh em sẽ không phải làm tôi Babylon đâu!” Thật ra, chúng chỉ tuyên sấm điều dối trá dễ làm cho các ngươi phải xa rời đất nước của các ngươi, khiến Ta phải xua đuổi và tiêu diệt các ngươi. Nhưng dân tộc nào đưa cổ nhận ách của vua Babylon mà làm tôi nó, Ta sẽ cho dân tộc ấy ở lại trên đất nước mình, dân ấy sẽ trồng trọt và cư ngụ trên đó” (Gr 27, 5-11).

Ý tưởng trên được dội lại chính xác trong thư thứ nhất của Phêrô, trong đó thánh Phêrô nói về Rôma như về Babylon mới (x. 1Pr 1,13) và dù vậy vẫn chỉ thị phải vâng phục quyền bính của hoàng đế và các quan của ông (1Pr 2,13-14).

Thái độ của số sót mới và vĩnh viễn của Israel là Giáo hội được khuôn theo thái độ của “số sót” đã vâng phục Thiên Chúa và tiên tri trong thời lưu đầy. Vâng phục vua Babylon là điều kiện cốt yếu để được “thanh bình” trong đất riêng của mình; vào lúc đó, chống lại đá tảng Babylon là chống lại Thiên Chúa và chống lại “gươm đao”. Như thế việc Phaolô khuyên cầu nguyện cho “vua chúa và tất cả các người cầm quyền” được thấy trong truyền thống tiên tri này.

Trong thư của Giêrêmia gửi cho các người bị lưu đầy, Thiên Chúa truyền xây nhà mà ở, lấy vợ và sinh con đẻ cái, mưu tìm thịnh vượng cho thành mà họ bị lưu đầy tới, và “cầu nguyện cùng Chúa cho thành ấy”, vì sự thịnh vượng của họ cũng tùy thuộc sự thịnh vượng của thành ấy (Gr 29,4-7). Bao lâu những ngày ở Babylon chưa qua, thì Babylon còn là một dụng cụ vô thức và ngẫu nhiên do Thiên Chúa đặt định có lợi cho dân mình, để thanh tẩy họ. Những gì vừa nói không dùng để giúp cho quyền bính của Babylon có một nền tảng, quyền bính như nó vốn là, nghĩa là một quyền lực đã nối tiếp một quyền lực khác, giữa những chồng chéo của các thế lực con người cả tốt lẫn xấu, và một quyền lực khác sẽ tiếp nối nó.

Một tiên tri sau Giêrêmia, Isaia đệ nhị, trong cùng viễn tượng Kinh thánh này, sẽ nói rằng giờ đây Thiên Chúa bắt ông vua làm tôi cho kẻ phá hủy Babylon, tức vua Cyrô, và chính ông này, giờ đây, là dụng cụ cho các chương trình của Người, và người ta phải tuân phục ông (x. Is 41,1 tt; 45,1 tt). Điều này giúp cho ta hiểu nơi cùng một tiên tri có những lời kêu gọi tuân phục Babylon xen kẽ những lời chửi rủa Babylon, và tiên báo sự sụp đổ không tránh được của thành này.

Một thái độ lưỡng giá như thế cũng bắt gặp nơi các tác giả Tân Ước, sau tương quan với Babylon mới là Rôma. Nhưng quan trọng là tất cả các tác giả Tân Ước đều nhất trí xác lập những gì họ chờ đợi nơi các Kitô hữu trong tình hình này, nghĩa là phục tùng, nếu cần thì đi đến chỗ tử đạo, như chính Đức Giêsu đã làm.

Ý tưởng xây dựng quyền bính chính trị “hiện hữu” trên nền tảng thần linh xa lạ với tâm trí của Phaolô, cũng như xây dựng quyền lực của Babylon trên nền tảng thần linh xa lạ với Giêrêmia. Theo đường hướng của các tiên tri, thánh Tông Đồ giúp cho sự vâng phục của người Kitô hữu đối với Nhà Nước, hơn là giúp cho quyền bính của Nhà Nước, có một nền tảng thần linh. Ngài đặt nền cho việc vâng phục Nhà Nước, hơn là cho quyền của Nhà Nước được người ta vâng phục. Điểm cuối cùng này được quyết định trên những tiêu chuẩn và định giá khác, mà ngày nay chúng ta có thể gọi là thuộc phạm vi “thế tục”.

Thế nhưng bản văn thư Rôma 13 không chỉ phản ánh một truyền thống tiên tri trong Cựu Ước, mà còn phản ánh một truyền thống Phúc Âm, chính xác về những gì Đức Giêsu nói liên hệ tới việc nộp thuế: “Của Xêda trả về Xêda, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” (Mc 12,13). Lời này của Chúa được hiểu ngầm trong bản văn của chúng ta, trong đó Phaolô nói điều thuộc về người nào thì trả cho người ấy: phải nộp thuế cho ai thì nộp cho người ấy (Rm 13,7).

Ở đây chúng ta thấy có một bước nhảy vọt liên quan tới chính các tiên tri trong Cựu Ước, và sự vâng phục quyền bính chính trị được coi như một trường hợp đặc biệt của điều mà Phaolô gọi là sự vâng phục Phúc Âm. Với Đức Giêsu, Nước Thiên Chúa đã đến, và đến theo cách khác với sự chờ đợi của những người đương thời. Một vương quốc không đồng hóa với bất cứ một vương quốc chính trị nào. Nó có bản chất hoàn toàn khác, vì “không thuộc thế gian này”. Bởi vậy, thuộc về vương quốc này không tương thích với thuộc về một vương quốc trần gian, cũng như thuộc về và vâng phục một vương quốc trần gian không tương thích với việc gia nhập vương quốc mới này. Theo một nghĩa nào đó, có thể nói ý định chính của thánh Tông Đồ trong Rôma 13 không phải là nhắc cho người Kitô hữu nhớ phải vâng phục Nhà Nước, cho bằng nhắc cho họ nhớ họ có thể vâng phục Nhà Nước.

Phúc Âm đã tạo ra một tình hình hoàn toàn mới mẻ, đòi hỏi dân tuyển chọn phải hoán cải sâu xa để được chấp nhận. Sự xác tín ăn sâu trong tâm hồn mỗi người Do Thái thời đó, tức là quyền lực ngoại bang chiếm đoạt các quyền của Thiên Chúa trên Israel, và như vậy là chống lại Thiên Chúa, sự xác tín ấy không còn nữa. Thánh Phaolô xuất thân từ nhóm những người Biệt Phái, những người mà trong Phúc Âm, đã đặt ra cho Đức Giêsu câu hỏi về sự hợp pháp của việc nộp thuế cho Cêsar, hy vọng Ngài sẽ đưa ra câu trả lời tiêu cực (Mt 22,15). Thánh Tông Đồ nói là “trong đạo Do thái, ngài đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi, đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông” (Gl 1,14). Ngài là người đầu tiên sống sự chuyển đổi từ lề luật sang đức tin (x. Pl 3,7 tt), như vậy đã là người đầu tiên sống một sự chuyển đổi khác, liên hệ chặt chẽ với sự chuyển đổi thứ nhất, là chuyển đổi tâm lý từ chỗ thù nghịch sang chỗ vâng phục quyền lực chính trị ngoại bang trên Israel.

Sự tùng phục và trung thành với Nhà Nước là hậu quả thứ yếu, nhưng liên kết với việc chuyển từ lề luật sang ân sủng, từ cắt bì sang không cắt bì; nói vắn tắt, từ Cựu Ước sang Tân Ước. Nại tới việc Phaolô là một công dân Rôma, và điều đó có thể giúp cho thái độ tích cực của ngài, cũng chẳng ích gì, vì người ta đã thấy quan điểm ấy cũng có trong thư Phêrô, và trong các thư viết sau của chính Phaolô, khi Giáo hội bắt đầu có kinh nghiệm tiêu cực của mình về quyền lực chính trị.

Đọc trong bối cảnh thật của lịch sử, bản văn Phaolô về sự vâng phục quyền bính Nhà Nước cho thấy tính chất đổi mới sâu xa: đây là vâng phục điều mới mẻ và vâng phục sự thay đổi là điều khó khăn hơn hết. Đây là một bước chuyển đau lòng sang một nhân loại khác. Thánh Tông Đồ than phiền: “Không phải mọi người đã vâng phục Tin Mừng” (Rm 10,16; 1Tt 1,8), “vâng phục Tin Mừng”  không chỉ hiểu, và không hiểu vâng phục nội dung Phúc Âm, cho bằng và nhất là sự kiện Phúc Âm, tức là vâng phục tình hình mới mà Phúc Âm tạo ra qua sự xuất hiện thuần túy của nó.

Không những giúp duy trì tình trạng “statu quo” (nguyên trạng), sự vâng phục quyền bính như công thức được Phaolô ghi trong Rôma 13,1-7, ngược với sự vâng phục cần thiết trong những thời điểm xuất hiện những thay đổi sâu xa trong trật tự sự việc. Sự vâng phục không hướng tới chỗ duy trì một chế độ cũ cho bằng thừa nhận sự hiện hữu của một chế độ mới, và tùng phục nó. Chính như vậy mà những lời của Phaolô, được các Kitô hữu nghe khi đó, vang lên. Sự vâng phục này không dựa trên ý tưởng về một “trật tự được thiết lập”, thuộc tự nhiên hay thần linh,  cho bằng trên sự nhận thức một ý muốn sống động và hiện tại của Thiên Chúa dưới ánh sáng Phúc Âm.

Trong việc đọc có tính chất tiên tri và Phúc âm này, Nhà Nước hoàn toàn thuộc phạm trù những thực tại trần thế, mà sự tự trị và tính thế tục của chúng được hiến chế Gaudium et Spes của Công đồng Vaticanô II xác nhận, khi Công đồng nói “chính vì được được tạo dựng mà mọi vật đều có sự vững chãi, chân thực và tốt lành cùng những định luật và trật tự riêng”, đồng thời cũng quả quyết chúng luôn tùy thuộc vào Thiên Chúa và tùng phục sự xét xử của Ngài[57].

Tôi đã nói đến một sự chuyển đổi và một sự vâng phục điều mới. Chính các Kitô hữu cũng thấy cần có sự vâng phục và chuyển đổi như thế, khi mà sau cuộc xâm lược của dân man di và thành phố Rôma bị cướp phá, họ phải đi từ một trật tự của thế giới sang một trật tự khác, quay lưng lại với đế quốc Rôma, nơi mà họ đã hội nhập. Kịch tính và xáo trộn lúc đầu, khi chuyển từ thế giới Do thái sang thế giới Rôma, được lặp lại: người ta lại nghĩ đến ngày tàn của thế giới, và phải có một người có tầm vóc như Phaolô – người đó là thánh Augustinô – giúp cho lương tâm được bình thản và tiến về phía trước, khi nhắc lại, trong bối cảnh lịch sử mới này, rằng nước Thiên Chúa không phải là nước của Cêsar, “thành đô của Thiên Chúa” không đồng hóa với thành đô của con người; và vì vậy có thể sống sót trước mọi thăng trầm của thành đô này.

Một thứ vâng phục và hoán cải như thế đối với thực tại mẻ mới có lẽ cũng bắt gặp ngày hôm nay, trước một số thực tại mới mẻ lớn lao của lịch sử, do ngày tàn của chế độ “Kitô giới” và một số những thay đổi sâu xa do Công đồng du nhập gây ra, và biết đâu Thiên Chúa sẽ thấy chúng ta cương quyết vâng phục, hơn là những Kitô hữu ở thế kỷ V…

5. Vâng phục Thiên Chúa trong đời sống Kitô giáo

Sau chuyện bên lề về sự vâng phục chính quyền, cần thiết vì thế giá của bản văn Rôma 13,1-7 và những hiểu lầm về nó, chúng ta trở lại với những gì liên hệ đến chúng ta hơn, tức là: bắt chước sự vâng phục của Đức Kitô như thế nào. Thoạt nhìn, người ta thấy có một vấn nạn: quả thực, mối tương quan nào có thể có giữa sự vâng phục của Đức Kitô và sự vâng phục của chúng ta, nếu có vẻ như hạn từ cuối cùng của sự vâng phục thay đổi? Sự vâng phục của Đức Giêsu hệ tại ở chỗ làm theo ý Chúa Cha, trong khi sự vâng phục được giới thiệu cho ta là những tín hữu, như đã thấy, hệ tại ở chỗ vâng phục Phúc Âm, nghĩa là vâng phục Đức Kitô.

Câu trả lời là hiển nhiên. Hiện tại, ý muốn của Chúa Cha là: chúng ta vâng phục Con của Người. Khi hoàn toàn thực hiện ý Chúa Cha, Đức Kitô, cả với tư cách con người, nhân cách hóa ý muốn của Thiên Chúa. Đời sống và lời của Ngài là hình thức cụ thể thể hiện ý muốn sống động của Chúa Cha cho chúng ta. Thư Do thái nói: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người (Đức Giêsu)  đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,8-9). Khi vâng phục Chúa Cha, Đức Kitô trở nên nguyên nhân cứu độ cho những ai giờ đây vâng phục Ngài. Ý muốn của Đức Giêsu là chính ý muốn của Chúa Cha. Vâng phục Đức Kitô không phải là vâng phục một người trung gian, nhưng là chính Thiên Chúa. Vâng phục Phúc Âm là hình thức mới thể hiện vâng phục Thiên Chúa, một khi Giao Ước mới xuất hiện.

Nhưng ngày hôm nay chúng ta có thể nói về vâng phục Thiên Chúa không, và nói vậy có ý nghĩa gì, sau khi ý muốn mới mẻ và sống động của Thiên Chúa đã hoàn toàn được bày tỏ và được khách quan hóa trong tất cả những lề luật và phẩm trật? Có thể nghĩ rằng, sau những cái đó, có còn những ý muốn “tự do” của Thiên Chúa phải đón nhận và thực hiện chăng? Nếu là như vậy, không gì mới thoát thai từ Giáo hội trải qua hai mươi thế kỷ, trong khi, ngược lại, chúng ta thấy đầy những thực tại mới: thể chế mới, ơn gọi mới, hình thức đời sống mới.

Chẳng hạn chế độ đan tu phát sinh từ sự vâng phục Phúc Âm. Một ngày kia, chàng thanh niên Antôn vào trong một nhà thờ ở Alexanđria bên Ai Cập và nghe thấy tiếng nói: “Hãy đi bán tất cả những gì mình có, phân phát cho kẻ nghèo, rồi đến mà theo Ta[58].” Anh coi lời này của Phúc Âm như là một mệnh lệnh do Thiên Chúa nói riêng với anh vào lúc ấy, và anh trở thành đan sĩ. Cũng vậy, dòng Phan Sinh phát sinh từ một sự vâng phục Phúc Âm tương tự. Một hôm, trong những ngày đầu của cuộc hoán cải, Phanxicô Assisi vào trong một nhà thờ, nghe tiếng Phúc Âm qua lời linh mục: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo..” (Lc 9,3), anh cũng nghe tiếng Phúc Âm như một mệnh lệnh do Thiên Chúa nói riêng với anh vào lúc ấy, và anh kêu lên: “Đó là điều tôi muốn, điều tôi tìm kiếm, điều tôi ước ao làm hết tâm hồn tôi”, và thế là hình thức sống mới của anh ra đời[59]. Vào lúc ấy, cũng vị thánh này nhớ lại bước đầu dòng tu của ngài. Ngài viết: “Sau khi Chúa đã ban cho tôi các anh em, không ai đã chỉ cho tôi biết tôi phải làm gì, nhưng chính Đấng ngự trên cao cho tôi biết là tôi phải sống theo hình thức của Phúc Âm thánh[60]”.

Nếu chúng ta có thể quy tắc hóa ý muốn sống động của Thiên Chúa một cách khách quan, đầy đủ và vĩnh viễn thành các luật lệ, quy tắc và thể chế, trong một “trật tự” được thiết lập và xác định một lần vĩnh viễn, thì cuối cùng Giáo hội sẽ hóa đá. Việc tái khám phá tầm quan trọng của sự vâng phục Thiên Chúa là kết quả tự nhiên của việc tái khám phá, bắt đầu từ Công đồng Vatican II, chiều kích Thần Khí của Giáo hội, bên cạnh chiều kích phẩm trật[61], và về ưu tiên của lời Chúa[62]. Nói khác đi, sự vâng phục Thiên Chúa chỉ có thể quan niệm khi người ta khẳng định rõ ràng – như Lumen Gentium nói rõ – Chúa Thánh Thần đưa Giáo hội vào trong tất cả sự thật, kết hợp Giáo hội trong sự hiệp thông và phục vụ, ban cho các ân huệ khác nhau, phẩm trật cũng như Thần Khí, qua đó Người hướng dẫn Giáo hội, tô điểm cho Giáo hội bằng những hoa quả của Người. Nhờ sức mạnh của Phúc Âm, Người làm cho Giáo hội tươi trẻ lại, không ngừng canh tân Giáo hội, đưa Giáo hội đến kết hợp trọn vẹn với “Phu Quân” mình[63].

Chỉ khi tin vào một “quyền làm Chúa” hiện nay và đúng lúc của Đấng Phục Sinh trong Giáo hội – nếu xác tín rằng ngày hôm nay, như lời Thánh vịnh nói, “Chúa, Thiên Chúa của các thần, Ngài vẫn nói, Ngài không thinh lặng” (Tv 50) – thì khi ấy, và chỉ khi ấy, chúng ta lại có thể hiểu sự vâng phục Thiên Chúa là cần thiết và quan trọng. Nó là một sự chú ý đến Thiên Chúa, Đấng đang nói trong Giáo hội, nhờ Thần Khí Người, Đấng soi sáng những lời của Đức Giêsu và của tất cả Kinh Thánh, làm cho chúng có uy tín khi biến chúng thành những máng chuyên ý muốn sống động của Thiên Chúa cho ta.

Vâng phục Thiên Chúa và Giáo hội đã nhất thiết bị lãng quên đôi chút, ít là trên bình diện suy tư thần học, vào thời mà người ta nghĩ về Giáo hội đặc biệt bằng những hạn từ về thể chế, như một xã hội hoàn hảo, ngay từ đầu được trang bị mọi thứ phương tiện, quyền năng, và cơ cấu thích hợp, để đem ơn cứu độ cho con người, không cần những can thiệp mới mẻ của Thiên Chúa. Bắt đầu từ lúc Giáo hội lại được quan niệm rõ ràng là “mầu nhiệm và thể chế”, sự vâng phục lại tự động trở thành vâng phục Thần Khí, chứ không chỉ vâng phục thể chế; không chỉ vâng phục con người, nhưng còn và tiên vàn vâng phục Thiên Chúa, như quan niệm của Phaolô.

Nhưng cũng như trong Giáo hội, thể chế và mầu nhiệm không đối kháng nhưng hợp nhất với nhau, cũng vậy, hiện nay chúng ta phải cho thấy sự vâng phục Thần Khí không làm chúng ta ngừng vâng phục quyền bính hữu hình và thể chế, trái lại, đổi mới sự vâng phục này, tăng cường và làm nó sống động, đến nỗi sự vâng phục con người trở thành tiêu chuẩn để xét xem sự vâng phục Thiên Chúa có hiện hữu và xác thực hay không. Quả thực, khi là về vâng phục Thiên Chúa trong một trường hợp xác định, thì điều xẩy ra là: Thiên Chúa cho bạn thoáng thấy ý của Ngài về bạn. Một “linh hứng” thường do một lời Chúa mà bạn đọc hay nghe đọc mà có, trong lúc cầu nguyện. Bạn không biết nó đến từ đâu, không biết một tư tưởng nào đó hình thành nơi bạn như thế nào, nhưng nó ở nơi bạn như một mầm còn manh nha có thể bị bóp nghẹt như không. Bạn cảm thấy mình bị lời này hay linh hứng này tra vấn; bạn cảm thấy nó “yêu cầu” bạn điều gì đó mới mẻ và bạn đồng ý. Một sự đồng ý còn mơ hồ và mờ tối về những gì liên hệ đến điều phải làm và cách làm cái điều đó, nhưng rất rõ ràng và chắc chắn về mặt bản chất. Cũng như thể bạn nhận được một lá thư dán kỹ mà bạn đón nhận với tất cả nội dung của nó, cho thấy bạn tin tưởng.  Rồi, sự sáng tỏ bên trong biến mất ngay lúc đó; những động lực trước đây rất hiển nhiên mờ nhạt dần. Bạn chỉ còn một điều duy nhất không thể nghi ngờ dù bạn muốn: đó là có ngày bạn đã nhận được lệnh truyền của Thiên Chúa và bạn đã thưa “vâng”. Làm gì trong hoàn cảnh này? Gia tăng nỗ lực của trí nhớ và những phân tích cũng chẳng giúp gì cho bạn. Lời mời gọi này không nẩy sinh từ “xác thịt”, tức từ trí khôn của bạn. Bạn không thể dùng trí khôn mà thấy lại nó. Nó do Thần Khí mà có và chỉ có thể thấy lại nhờ Thần Khí. Nhưng hiện tại Thần Khí không còn nói cho bạn như lần đầu tiên, trực tiếp và bên trong bạn. Ngài yên lặng và trả bạn về cho Giáo hội và những trung gian được thiết lập. Bạn phải đặt lời mời gọi bạn trong bàn tay của các bề trên và của những người, cách này cách khác, có quyền trên bạn, và phải tin rằng nó từ Thiên Chúa mà đến. Chính Thiên Chúa sẽ làm bạn nhận ra là lời Ngài mời gọi, qua các vị đại diện của Ngài.

Về điểm này, tôi nhớ đến kinh nghiệm của các Đạo sĩ. Họ thấy một ngôi sao, và trong thâm thâm, nhận ra một lời mời gọi. Họ lên đường, nhưng trong lúc đó, ngôi sao lại biến mất. Họ phải tới Giêrusalem, hỏi các tư tế, và từ các tư tế này mà họ biết đích xác nơi Chúa sinh ra: Belem. Chỉ sau khi họ khiêm tốn tìm kiếm, ngôi sao mới lại hiện ra. Chính như vậy mà họ trở thành một dấu chỉ cho các tư tế ở Giêrusalem.

Từ đó, người ta thấy có thể bất tuân, thậm chí bằng cách “vâng phục”, như thế nào. Đó là khi người ta ẩn trốn trong sự vâng phục con người, để tránh vâng phục Thiên Chúa. Một người cảm thấy Thiên Chúa muốn nơi mình một điều, cảm thấy một lời mời gọi đòi hỏi thay đổi và đoạn giao với quá khứ, với công việc, với nhiệm vụ của mình…Nhưng anh ta lại không sẵn sàng; anh ta sợ nói “vâng” vì không biết việc đó sẽ đi đến đâu. Khi ấy anh phó thác cho quyết định của các bề trên, là những vị không biết ý muốn này của Thiên Chúa, định cho anh vào một trong những nhiệm vụ và một trong những nơi thông thường cho các tu sĩ. Chắc chắn anh phải phó thác vào sự vâng phục các bề trên, nhưng chỉ sau khi đã bày tỏ ý muốn của Thiên Chúa đối với anh mà anh cảm thấy. Biết bao nhiêu vị thánh sẽ không phải là thánh nếu đã không làm như thế! Giáo hội bây giờ sẽ nghèo nàn hơn biết bao, nếu trong quá khứ mọi người luôn và chỉ vâng phục điều các bề trên của họ đòi hỏi!

Nhưng phải làm gì khi hai sự vâng phục tranh chấp nhau, khi bề trên yêu cầu một việc ngược với việc mình nghĩ là Thiên Chúa truyền làm? Chỉ cần  tự hỏi: trong trường hợp như vậy, Đức Giêsu đã làm gì? Ngài chấp nhận sự vâng phục bên ngoài, và tùng phục con người; nhưng khi làm như vậy, Ngài không từ chối vâng phục Chúa Cha, ngược lại, Ngài chu toàn sự vâng phục ấy. Chính đó là điều Chúa Cha muốn. Dù không biết hay không muốn, đôi khi vì ý ngay, đôi khi không, con người – như Caipha, Philatô, đám đông dân chúng ngày xưa – trở thành dụng cụ để ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện, chứ không phải ý muốn của họ. Tuy vậy, quy tắc này không tuyệt đối: ý muốn của Thiên Chúa và sự tự do của Người có thể đòi hỏi con người – như đối với Phêrô trước mệnh lệnh của Hội đồng – vâng phục Thiên Chúa hơn là vâng phục người ta (x. Cv 4,19-20).

Có người phi bác: vâng phục Thiên Chúa như vậy dễ quá. Thiên Chúa vô hình, người ta có thể bảo Ngài nói những gì họ muốn…Đúng vậy. Nhưng nếu có ai đó có thể bảo mình được chính Thiên Chúa truyền làm những gì mình muốn, thì cũng sẽ có thể bảo mình được con người, tức các bề trên, truyền làm những gì mình muốn.

Kinh Thánh cung cấp cho chúng ta một tiêu chuẩn phân định sự vâng phục Thiên Chúa thật hay giả. Nói về Đức Giêsu, Kinh Thánh bảo rằng: “Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8). Mức độ và tiêu chuẩn của sự vâng phục Thiên Chúa, chính là đau khổ. Khi tất cả bên trong bạn kêu lên: “Thiên Chúa không thể muốn điều đó nơi tôi” và khi, ngược lại, bạn nhận thấy Ngài muốn điều đó, và khi bạn đứng đó, trước ý muốn của Ngài như trên một thập giá, trên đó bạn phải dang tay ra, khi đó bạn thấy sự vâng phục này nghiêm túc, cụ thể, hàng ngày biết bao, bạn thấy sự vâng phục này vượt quá quy luật đan viện biết bao.

Động lực giúp học tập tức là trải nghiệm sự vâng phục qua đau khổ, được Isaia nói đến, là: tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của chúng ta, đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của chúng ta. Như trời cao hơn đất bao nhiêu, tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa cũng cao hơn tư tưởng và đường lối của chúng ta bấy nhiêu (x. Is 55, 8-9).

Để vâng phục Thiên Chúa, biến tư tưởng và ý muốn của Ngài thành của ta, mỗi lần chúng ta phải chết đi một tí. Quả thực, những tư tưởng khởi đầu của chúng ta, không phải đôi khi như do tình cờ, nhưng theo định nghĩa luôn khác với những tư tưởng của Thiên Chúa. Thực sự, vâng lời chính là chết. Ở đây, người ta  khám phá ra giá trị khổ chế hay “tiêu cực” của sự vâng phục Thiên Chúa. Người ta thấy việc làm theo ý Thiên Chúa cũng giúp chúng ta không làm theo ý muốn riêng của chúng ta. Thật vậy, không gì giết chết ý muốn nhân loại cho bằng tiếp xúc và có tương quan trực tiếp với ý muốn của Thiên Chúa; vì ý muốn của Thiên Chúa “thì sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi, xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh” (Dt 4,12). Không thể thoát khỏi ý muốn của Thiên Chúa. Nó “đổ” xuống trên bạn, như mặt trời đổ xuống trên người đi trong sa mạc, nơi không có bóng cây để ẩn nấp.

Trong chừng mực sự vâng phục con người muốn mình “mù quáng”, sự vâng phục Thiên Chúa luôn cho phép một chất dự trữ tinh thần; là vì người ta biết rằng ý muốn nhân loại không phải là chỗ nại đến cuối cùng, khi không còn nhờ cậy vào đâu được nữa. Luôn có một khả thể – mặc dù nói chung người ta dễ quên nó – là ít nhất chạy đến với Thiên Chúa, và than thở với Người. Nhưng nếu là về Thiên Chúa, bạn có thể nại tới ai? Không có lối thoát nào khác: ý muốn nhân loại phải chết đi, người ta không thể do dự tránh né. Hãy xem Đức Giêsu ở Ghétsêmani, khi Ngài phải nói lời xin vâng với ý muốn của Chúa Cha: đó là cơn hấp hối, không phải trước Philatô hay Hội đồng. Để so sánh, ta thấy sự chấp nhận ý muốn của con người an bình hơn nhiều.

Sự vâng phục Thiên Chúa đòi hỏi mỗi lần một sự hoán cải đích thực và riêng. Có một trang trong Kinh Thánh giống như một bài thơ về sự vâng phục và hoán cải. Nó đáng để cho chúng ta nghe lại, ít ra một phần, vì là lời Thiên Chúa; nó có giá trị hơn mọi nhận xét của con người. Môsê nói với dân: “Nếu người quay về với Chúa, nếu ngươi vâng phục hết lòng và hết linh hồn, Chúa sẽ thương xót ngươi (…) Ngươi sẽ quay về, ngươi sẽ vâng nghe tiếng Chúa và ngươi sẽ thi hành mọi điều răn của Người (…) Chúa sẽ vui lòng làm cho ngươi được hạnh phúc và ngươi vâng nghe tiếng Chúa, Thiên Chúa của ngươi, bằng cách giữ mọi điều răn của Người (…) nếu ngươi quay về với Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng và hết linh hồn ngươi”. Như ta thấy, cùng một công thức áp dụng cho sự vâng phục được áp dụng cho tình yêu Thiên Chúa: đó là phải được làm “hết lòng và hết linh hồn mình”.

Vậy đúng hơn chúng ta phải nói ngược lại, tức là vâng phục con người tương đối dễ, nhưng vâng phục Thiên Chúa thì khó hơn nhiều. Con người, vì là con người, chỉ đòi hỏi những điều thuộc về con người, vừa tầm với con người và với lý trí của họ. Còn Thiên Chúa có thể đòi hỏi những điều vượt lên trên con người, bao gồm cái chết của lý trí. Không một cấp trên nào có thể đòi Abraham rời bỏ quê hương và lên đường đến một nơi xa lạ, nhưng Thiên Chúa thì có thể; không một ai có thể yêu cầu Maria điều Thiên Chúa yêu cầu nơi cô…

Chúng ta lấy một vài ví dụ gần gũi trong đời sống bình thường. Hôm nay bạn phải thi hành lệnh của bề trên xem ra không hữu lý đối với bạn, áp đặt cho bạn chỉ vì tính khí thay đổi thất thường và cứng đầu của ngài. Bạn nghe nói về sự vâng phục Thiên Chúa và bạn kêu lên: “Vâng phục Thiên Chúa còn dễ hơn vâng phục con người đến cả ngàn lần!” Nhưng có chắc như thế không? Chiều nay, Thiên Chúa truyền cho bạn “yêu mến” bề trên của bạn, và bạn bắt đầu sợ, vì bạn hiểu rằng bạn sẽ phải đi xin lỗi ngài, hoặc ít nhất đi xưng tội. Một ví dụ nhỏ khác có giá trị cho cả đời sống cộng đoàn lẫn đời sống gia đình. Có người đã lấy cho mình, hoặc thay đổi, hoặc làm hư một đồ vật của bạn: một chiếc áo khoác hay một đồ vật nào khác bạn đang sử dụng. Bạn cương quyết nhắc cho người đó lưu ý và đòi lại vật của bạn. Không có bề trên nào xen vào để cản bạn. Nhưng rồi, mặc dù không tìm trước, bạn cũng bắt gặp lời Đức Giêsu, hoặc thậm chí bạn tình cờ thấy lời ấy trước mặt khi mở Kinh Thánh: “Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh thì đừng đòi lại” (Lc 6,30). Bạn hiểu rõ lời này không phải lúc nào cũng có giá trị cho mọi người, nhưng chắc chắn nó có giá trị cho bạn trong hoàn cảnh chính xác này. Bạn thực sự thấy mình đứng trước một sự vâng phục phải làm, và nếu không làm, bạn cảm thấy mình bỏ lỡ một dịp vâng phục Thiên Chúa.

Sự vâng phục Thiên Chúa chính là một sự vâng phục luôn có thể làm. Thỉnh thoảng, ba hay bồn lần trong cả đời, chúng ta phải chu toàn những hành vi vâng phục trật tự và quyền bính hữu hình – tôi nói về những hành vi vâng phục ít nhiều quan trọng – nhưng vâng phục Thiên Chúa, chuyện này lúc nào cũng đòi hỏi chúng ta. Càng vâng phục, mệnh lệnh của Thiên Chúa càng gia tăng, vì Người biết rằng quà tặng đẹp nhất có thể ban cho ta, chính là quà tặng Người đã ban cho Đức Giêsu, Con yêu dấu của Người. Một khi Thiên Chúa thấy một linh hồn sẵn sàng vâng phục, thì Người nhận trách nhiệm về đời sống của người đó, như người cầm bánh lái một con tầu, hoặc như cầm dây cương xe ngựa. Người thực sự trở thành “Chúa”, chứ không trên lý thuyết, tức là người “chi phối”, “cai quản”, có thể nói, xác định từng lúc cử chỉ, lời nói của người này, cách người này sử dụng thời giờ, hết mọi sự. Người này cuối cùng hành sử như một tu sĩ tốt lành của ngày xưa, bất cứ điều gì cũng xin phép bề trên, hoặc “tuân lệnh”, như người ta nói.

Tự nó, con đường này không có gì khác thường, và mở rộng cho mọi người được rửa tội. Nó hệ tại ở chỗ “trình các việc lên Thiên Chúa” (x. Xh 18,19). Tôi có thể một mình quyết định làm việc này, việc kia, và rồi sau khi quyết định, tôi cầu xin Chúa giúp tôi làm tốt việc đó. Nhưng nếu tôi yêu mến sự vâng phục, tôi sẽ hành động cách khác: trước hết tôi cầu nguyện với Chúa để biết xem Người có muốn tôi làm việc đó hay không, rồi tôi sẽ làm hay không làm; sau đó dù xẩy ra thế nào, đó vẫn sẽ là một hành vi vâng phục Thiên Chúa, chứ không phải một sáng kiến tự do về phía tôi. Thông thường, trong lời cầu nguyện vắn tắt của tôi, tôi sẽ không nghe được tiếng nói nào, tôi sẽ không có câu trả lời minh nhiên nào về điều nên làm, nhưng không nhất thiết tôi phải có nó, để hành vi của tôi là một hành vi vâng phục.

Quả thực, khi hành động như vậy tôi trình sự việc cho Thiên Chúa, tôi từ bỏ ý riêng, không muốn một mình quyết định, và để cho Thiên Chúa có thể xen vào cuộc sống của tôi, nếu Người muốn. Hiện tại, mặc dù tôi quyết định làm dựa trên những tiêu chuẩn thông thường của phân định, đó vẫn là một sự vâng phục Thiên Chúa.

Cũng như một người tôi tớ trung thành không bao giờ nghe theo sáng kiến hay mệnh lệnh của người lạ mà không nói “tôi phải nghe chủ tôi đã”, cũng vậy, người tôi tớ chân chính của Thiên Chúa không làm gì mà không tự nhủ “tôi phải cầu nguyện một chút để biết xem Chúa muốn tôi làm gì”.

Như thế tôi đặt mọi thứ của cuộc đời tôi trong bàn tay Chúa. Ý muốn của Thiên Chúa ngày càng thấm nhập mọi đường tơ kẽ tóc, mọi ngóc ngách của cuộc đời tôi, làm cho nó trở thành quý giá, thành một “hy lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1).

Nếu nguyên tắc “trình các việc lên Thiên Chúa” có giá trị cho những việc nhỏ hàng ngày, nó sẽ có giá trị biết bao cho những việc quan trọng, chẳng hạn việc lựa chọn ơn gọi: kết hôn, tận hiến cho Thiên Chúa trong đời sống tu dòng, v.v. Chính từ “ơn gọi”, nếu xét về phía Thiên Chúa, có nghĩa là lời mời gọi, còn xét về phía con người, theo nghĩa thụ động, có nghĩa là đáp lại, tức vâng phục. Theo nghĩa này, ơn gọi là sự vâng phục căn bản của đời sống, một sự vâng phục, khi minh nhiên hóa phép rửa tội, tạo nên tình trạng vâng phục thường xuyên nơi người tín hữu.

Người kết hôn cũng phải làm như vậy trong Chúa (1Cr 7,39), tức là trong tinh thần vâng phục. Hôn nhân trở thành một sự vâng phục Thiên Chúa, nhưng theo  nghĩa tự do chứ không bắt buộc, như khi người ta kết hôn vì vâng lời cha mẹ hay vì những bó buộc nào đó. Khi ấy không còn là một sự lựa chọn hoàn toàn cá nhân nữa, khi người ta đến trình diện với Chúa chỉ để Người chấp thuận và chúc lành. Phải là một sự lựa chọn làm với Người, trong sự gắn bó hiếu thảo với ý muốn của Người mà chắc chắn là ý muốn tình yêu. Sự khác biệt không phải là nhỏ. Chuyện hoàn toàn khác là trong những tình huống khó khăn gắn liền với sự lựa chọn đã làm, chúng ta có thể tự nhủ rằng đó là do ý muốn của Thiên Chúa, chúng ta không muốn điều này một mình, và do đó, Thiên Chúa sẽ không để chúng ta thiếu sự giúp đỡ và ân sủng của Người.

Tinh thần vâng phục này giúp chúng ta lướt thắng những tình huống khó khăn bắt gặp trong mọi ơn gọi, như một phần trong ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Thánh Grêgôriô Cả nói: “Thiên Chúa dạy chúng ta đôi khi bằng lời, đôi khi bằng sự kiện, nghĩa là bằng những biến cố và tình huống”[64]. Có một sự vâng phục Thiên Chúa – và thường là trong số những vâng phục đòi hỏi nhất – hệ tại ở chỗ thuần túy vâng phục tình huống. Có lúc cho dù đã cố gắng và cầu nguyện, chúng ta thấy có những tình huống khó khăn trong cuộc đời, đôi khi phi lý, và theo ý kiến của ta, ngược với lợi ích thiêng liêng của ta, là những tình huống không thay đổi, thì lúc đó phải ngưng “chống lại cái gai chích”, và bắt đầu thấy ý muốn âm thầm nhưng cương quyết của Thiên Chúa đối với chúng ta trong những tình huống này. Kinh nghiệm cho hay chỉ sau khi nói lời xin vâng hoàn toàn phát ra tự đáy lòng trước ý muốn của Thiên Chúa, thì những tình huống đau khổ như thế mới mất đi quyền lực gây lo ngại, mà chúng có đối với chúng ta. Thêm vào đó phải sẵn sàng đình chỉ tất cả để làm theo ý Thiên Chúa: công việc, dự định, tương giao…Đức Giêsu ngưng giảng dạy, ngưng mọi hoạt động. Ngài không để cho ý nghĩ về điều sẽ xẩy đến với các tông đồ, về tai tiếng sắp xẩy ra vì Ngài, khiến Ngài phải dừng lại. Ngài không bận tâm đến những gì xẩy ra về lời của Ngài, vì nó chỉ được phó thác cho ký ức của một vài ngư phủ. Thậm chí Ngài không vì nghĩ tới mẹ ngài đang sống cô đơn khiến Ngài dừng lại. Sự vâng phục của Ngài thực sự là một sự vâng phục “mù quáng, câm lặng và âm thầm”. Ngài nói trong một Thánh vịnh: “Phần con, như người điếc chẳng nghe gì, tựa người câm không hề mở miệng, cầm bằng kẻ không nghe chi hết, chẳng một lời đối đáp ngoài môi” (Tv 38,14-15). Trong cuộc đời Đức Giêsu, những gì thánh Basiliô thích gọi là “sự vâng phục mau lẹ và không lay chuyển đối với Thiên Chúa” hoặc sự vâng phục “không lý do thoái thác, tức khắc và không lay chuyển”[65], chiếu sáng cách kỳ diệu và không thể vượt hơn.

Kết luận đẹp đẽ nhất của một đời sống vâng phục là “chết vì vâng phục”, tức là chết vì Thiên Chúa đã nói với tôi tớ của Người: “Hãy đến!” và anh ta đến. Môsê đã chết như vậy: “Ông Môsê, tôi trung của Đức Chúa, qua đời trong đất Moab, theo lệnh Đức Chúa” (Đnl 34,5). Sự vâng phục của Abraham thật lớn lao khi, theo lệnh của Thiên Chúa, ông từ bỏ “đứa con của lời hứa”; nhưng sự vâng phục của Mosê cũng lớn không kém khi, theo lệnh Thiên Chúa, ông từ bỏ “đất hứa”: “Đây là miền đất Ta đã thề hứa với Abraham. Isaac và Giacob, khi nói: Ta sẽ ban đất ấy cho dòng dõi ngươi. Ta đã cho ngươi thấy tận mắt, nhưng ngươi sẽ không được qua đó” (Đnl 34,4). Sự vâng phục của Môsê không xa kinh nghiệm của chúng ta, như chúng ta dường như thấy từ cái nhìn đầu tiên. Quả thực, cùng một loại vâng phục hiện ra ở chân trời, khi Thiên Chúa đòi một ai đó để cho người khác lo kết thúc công trình mà ông ta đã suốt một đời vất vả, và thu hoạch hoa trái: khi Thiên Chúa kêu gọi người nào đó thay đổi địa điểm, hoặc thậm chí kêu gọi ở đúng giữa hoạt động của ông ta…Một sự vâng phục thường đặt ra, một cách còn bi kịch hơn cho một người cha hay một người mẹ,  khi một trong hai thấy mình được gọi về với Chúa qua một cơn bạo bệnh, trước khi có thể lo cho cuộc sống của con còn nhỏ và còn cần đến mình. Được các cha mẹ Kitô hữu chu toàn trong tinh thần đức tin, sự vâng phục này biến đổi thành nguồn mạch phúc lành lớn lao cho chính con cái, trong một di sản quý giá hơn và phong phú hơn của chính đời sống.

Vậy, như ta thấy, vâng phục Thiên Chúa không phải là đặc hữu duy nhất của các tu sĩ trong Giáo hội; nó mở ra cho mọi người được rửa tội. Trong Giáo hội, giáo dân không có một bề trên để vâng phục – ít nhất theo nghĩa như nơi các tu sĩ và giáo sĩ – nhưng họ có một Chúa để vâng phục! Họ có lời của Người. Trong cội rễ Do thái xa xưa nhất, lời “vâng phục” chỉ việc lắng nghe và liên hệ với lời Thiên Chúa. Hạn từ Hy lạp dùng trong Tân Ước để chỉ sự vâng phục (hypakouein) có nghĩa đen là “nghe một cách chú ý” hoặc “đang nghe”. Hạn từ Latinh, oboedientia, (do ob-audire) cũng có nghĩa như vậy. Lắng nghe và vâng phục quyện vào nhau trong lời than phiền này của Thiên Chúa mà chúng ta đọc thấy trong Kinh Thánh: “Dân Ta hỡi, nghe Ta cảnh cáo, Israel này, phải chi ngươi chịu nghe Ta…Nhưng dân Ta đã chẳng nghe lời, Israel nào đâu có chịu…Ôi dân Ta mà đã nghe lời. Israel chịu theo đường Ta chỉ, thì hết những địch thù của chúng…Ta tức khắc trở tay quật ngã…” (Tv 81,9-15).

Theo nghĩa nguyên thủy nhất, vâng phục là tùng phục lời Chúa, thừa nhận lời có quyền năng thực sự trên ta. Người ta hiểu vì sao tiếp theo việc tái khám phá vai trò của lời Chúa trong Giáo hội hôm nay, phải tái khám phá sự vâng phục. Người ta không thể đào sâu lời Chúa mà không đào sâu sự vâng phục. Làm khác đi, đương nhiên sẽ trở nên không vâng phục. “Không vâng phục” (parakouein)  có nghĩa là nghe như không, nghe mà chia trí. Có thể nói nghe theo cách dửng dưng, lừng chừng, không thấy tỏ thái độ về điều mình nghe, vẫn giữ quyền quyết định của mình trước lời Chúa. Những người không vâng phục nghe lời Chúa, nhưng, như Đức Giêsu nói, không đem ra thực hành (x. Mt 7,26). Không thực hành không có nghĩa là chậm thực hành cho bằng không đặt ra vấn đề thực hành. Họ học hỏi lời Chúa, nhưng không có tâm tình muốn tùng phục lời Chúa. Họ làm chủ lời Chúa theo nghĩa có những dụng cụ phân tích lời Chúa, nhưng không muốn để lời Chúa làm chủ mình. Họ muốn giữ thái độ trung lập mà mọi nhà thông thái đòi hỏi trước đối tượng họ đang nghiên cứu.

Ngược lại, con đường vâng phục mở ra cho người quyết sống cho Chúa. Đây là một đòi hỏi được phát động cùng với sự hoán cải. Cũng như tu sĩ vừa tuyên lời khấn dòng được trao bản Quy luật phải giữ, người Kitô hữu vừa quay về với Phúc Âm trong Chúa Thánh Thần cũng được trao một quy luật đơn giản trong chỉ một câu: “Hãy là người vâng phục. Hãy vâng phục lời Chúa”. Trong cuộc chiến đấu giữa hai “triều đại”, triều đại của Thiên Chúa và triều đại của Satan, đang diễn ra trong thế gian, ơn cứu độ sẽ ở trong sự vâng phục. Chính dân của những người vâng phục sẽ được cứu thoát và hiệu lệnh sẽ là: “Vâng phục Thiên Chúa!”

6. Vâng phục và quyền bính

Như tôi đã nói, vâng phục Thiên Chúa là việc mà chúng ta có thể “luôn luôn” thực hành, bất cứ lúc nào. Nhưng nó cũng là việc mà “mọi người” có thể thực hành, cả kẻ dưới lẫn người trên. Người ta thường bảo phải học vâng phục để học điều khiển. Đó không chỉ là một nguyên tắc của lương tri mà còn là cái gì đó sâu sắc hơn nhiều. Điều này có nghĩa là nguồn mạch đích thực của quyền bính thiêng liêng Kitô giáo là vâng phục hơn là trách nhiệm. Viên đại đội trưởng nói với Đức Giêsu: “Chính tôi đây, tôi dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng dưới quyền tôi. Tôi bảo người này: “Đi” là nó đi; bảo người kia: “Đến” là nó đến, và bảo người nô lệ của tôi: “Làm cái này” là nó làm” (Lc 7,8). Ý nghĩa của lời này là: do chính sự kiện tùng phục, tức là vâng phục cấp trên và cuối cùng là hoàng đế, ông có thể ra lệnh, mà lệnh đến từ chính quyền bính của đích thân hoàng đế. Ông được quân lính vâng phục vì ông vâng phục và phục tùng cấp trên của ông. Như vậy, theo sự suy nghĩ của viên đại đội trưởng, chuyện xẩy ra với Đức Giêsu trong tương quan với Thiên Chúa là: lúc Ngài hiệp thông với Thiên Chúa và vâng phục Thiên Chúa, quyền bính của Ngài đến từ chính Thiên Chúa, và như vậy Thiên Chúa có thể truyền cho tôi tớ mình chữa lành và Người sẽ chữa lành, Người có thể truyền cho bệnh tật ra khỏi người đó và bệnh tật sẽ ra khỏi người đó.

Chính sức mạnh và sự đơn giản của luận chứng này khiến Đức Giêsu kinh ngạc và nói với ông là Ngài chưa bao giờ thấy một đức tin như thế nơi Israel. Ông hiểu rằng quyền bính của Đức Giêsu cũng như những phép lạ của Ngài là do Ngài hoàn toàn vâng phục Chúa Cha[66]. Viên đại đội trưởng không coi quyền bính của ông đối với quân lính tùy thuộc vào việc đã được hoàng đế “bổ nhiệm” làm đại đội trưởng – nghĩa là ông không coi quyền bính đó tùy thuộc vào thể chế hay tước hiệu – cho bằng tùy thuộc vào việc ông hiện đang phục tùng hoàng đế cách cụ thể. Ông không coi quyền bính tùy thuộc vào chức vụ cho bằng vào cách thức và tinh thần giúp ông thi hành nó. Ông hẳn có thể là một trong những đại đội trưởng có khả năng nổi dậy và làm loạn, và khi đó ông làm sao có thể đòi những người dưới quyền phục tùng ông? Chúng ta biết Đức Giêsu đã làm như thế. Ngài không coi quyền bính của Ngài và việc mọi người vâng phục Ngài tùy thuộc vào địa vị và tước hiệu của Ngài là Con Thiên Chúa, cho bằng vào sự kiện luôn làm theo ý Chúa Cha. “Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8,29).

Quan niệm quyền bính như một sự vâng phục có nghĩa là không hài lòng với quyền bính bên ngoài mà thôi, nhưng còn tìm kiếm quyền bính bên trong, một quyền bính chỉ có thể đến từ việc Thiên Chúa ở sau bạn và ủng hộ quyết định của bạn. Nó có nghĩa là tiến gần tới thứ quyền bính phát xuất từ hành động của Đức Kitô, khiến cho đám đông phải nói: Thế nghĩa là gì? Một giáo lý mới mẻ, do người dạy có quyền! (x. Mc 1,22-27; Mc 11,28). Dân chúng thời kỳ này biết rõ quyền bính, Do thái giáo đầy “quyền bính”. Tuy nhiên, đối diện với Đức Giêsu, người ta nhận thấy quyền bính như một điều gì đó mới mẻ, chưa thấy bao giờ. Quả thực, đây là một quyền bính khác, một “quyền năng” thực sự và hữu hiệu, không chỉ trên danh nghĩa hoặc “chính thức”, một quyền năng nội tại và ngoại tại.

Ngày hôm nay thế giới cũng đầy quyền bính đủ loại, nhưng ít có những người, ngoài quyền bính bên ngoài, còn có quyền bính bên trong. Các cộng đồng, gia đình có một nhu cầu cốt tử về thứ quyền bính thiêng liêng này. Khi một mệnh lệnh được ban ra do một bề trên hay do một trong những cha mẹ thường tìm cách sống phù hợp với ý Chúa, đã cầu nguyện, không bảo vệ điều gì riêng, nhưng chỉ bảo vệ thiện ích của người dưới quyền hoặc của con cái, thì khi đó quyền bính của Thiên Chúa chống đỡ cho mệnh lệnh hay quyết định này. Nếu có phản kháng, Thiên Chúa nói cho vị đại diện Ngài điều Ngài đã nói với Giêrêmia: “Này…chính Ta làm cho ngươi nên thành trì kiên cố, nên cột sắt tường đồng…Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được, vì có ta ở với ngươi” (Gr 1,18-19). Nếu trong thế giới chúng ta có khủng hoảng về sự vâng phục, thì chính vì trước hết có khủng hoảng về quyền bính, về quyền bính đó.

Điều đó không có nghĩa là phải làm giảm nhẹ tầm quan trọng của thể chế hay chức vụ, hoặc coi sự vâng phục của người dưới chỉ tùy thuộc vào cấp độ quyền bính thiêng liêng và thẩm quyền của bề trên; một điều rõ ràng sẽ đưa đến chỗ không còn bất cứ sự vâng phục nào nữa. Điều đó chỉ có nghĩa là người thi hành quyền bính phải dựa ít nhất có thể, hoặc chỉ như phương cách cuối cùng, trên tước hiệu hay trên chức vụ mình đảm nhận, ngược lại, dựa nhiều nhất có thể trên sự hợp nhất ý muốn của mình với ý muốn của Thiên Chúa, tức là trên sự vâng phục Người. Trong khi người thuộc quyền không được tự hỏi hay cho là mình có quyền biết xem quyết định của bề trên có phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa không, người đó phải phỏng đoán là phù hợp. Đối với người đó, tước hiệu và chức vụ là đủ. Khi thiết lập chức vụ này và trao nó cho người nào đảm nhận, Thiên Chúa đã bày tỏ ý muốn của Người. Như ta thấy, nhìn bên nào cũng chỉ có một nhận xét: sự vâng phục Thiên Chúa hay Phúc Âm đều tốt và là hoa quả của Thần Khí, nếu trong thâm tâm cũng muốn vâng phục các vị đại diện Thiên Chúa: quyền bính, quy luật, bề trên; trường hợp ngược lại, nó đáng ngờ. Vâng phục bề trên là sự xác minh, và có thể nói là giấy hướng dương; chính xác giống như tình yêu tha nhân trong trường hợp đức bác ái. Giới răn thứ nhất là giới răn “thứ nhất”, vì nguồn mạch và động cơ mọi sự chính là tình yêu Thiên Chúa. Nhưng tiêu chuẩn để xét đoán lại là giới răn thứ hai: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20). Nếu không vâng phục quyền bính được Thiên Chúa thiết lập – tức là những người mà Chúa Phục Sinh đặt làm đầu Giáo hội – làm sao có thể nói là vâng phục Đấng Phục Sinh?

Tuy nhiên, cả trong trường hợp vâng phục lẫn trong trường hợp bác ái, cần làm rõ giới răn “thứ nhất” để gìn giữ cho giới răn “thứ hai”. Thật vậy, để vâng phục, có một nguy hiểm tục hóa tương tự như nguy hiểm đối với bác ái. Giới răn thứ nhất là: “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi”; giới răn thứ hai là: “và tha nhân như chính mình ngươi”. Nếu ai đó yêu tha nhân, nhưng không qua giới răn thứ nhất, tức là không tham chiếu tới Thiên Chúa, chúng ta thấy hình thức được định nghĩa là “tôn giáo của giới răn thứ hai”, tôn giáo theo chiều ngang, chỉ có thể là thuần túy thương người. Như thế có thể có một hiện tượng tương tự với sự vâng phục, cho dù trong trường hợp này, có lẽ nên nói là thể chế hóa hơn là tục hóa. Khi đó, thay vì vâng phục ý muốn sống động của Thiên Chúa, người ta vâng phục những hình ảnh tách rời khỏi Thiên Chúa, có lẽ do tinh thần kỷ luật, nhưng rất thường là do thói quen thuần túy. Người ta không vâng phục trong sự mới mẻ của Thần Khí, nhưng trong sự cổ lỗ sĩ của chữ viết.

7. Đức Maria, người nữ vâng phục

Giờ đây, trước khi kết thúc bài suy niệm về sự vâng phục, chúng ta được vui mừng chiêm ngắm một hình ảnh vâng phục sống động, một hình ảnh không những bắt chước sự vâng phục của người Tôi Trung, mà còn cùng với Ngài sống nó. Thánh Irênê viết: “Song song (hiểu là song song với Đức Kitô, Ađam mới), người ta thấy Đức Trinh Nữ Maria cũng là người vâng phục khi Người nói: “Vâng tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Cũng như Evà, vì không vâng phục, đã trở nên nguyên nhân gây ra cái chết cho mình và cho toàn thể nhân loại, cũng vậy, nhờ vâng phục, Đức Maria đã trở nên nguyên nhân cứu độ cho mình và cho toàn thể nhân loại[67]”. Khi muốn tìm ra một cột trụ trên đó xây dựng một bên là song đối Giêsu-Maria và bên kia là phản đề Evà-Maria, thánh Irênê tìm thấy nó trong sự vâng phục. Chính trên lãnh vực vâng phục mà Đức Maria tiến gần đến Đức Giêsu và đối nghịch với Evà trong ba bản văn nói về đề tài này[68]. Thánh nhân đã hiểu rõ cốt lõi giáo lý của Phaolô trong Rôma 5,19 và đã mở rộng cách mạch lạc tới Đức Maria, và nơi Người, tới Giáo hội. Về mặt vâng lời, Đức Maria là bản lề giữa Đức Kitô và Giáo hội. Sự vâng phục của Người đã là một sự bắt chước có tính gương mẫu hoặc tiên mẫu, là khuôn mẫu cho toàn thể Giáo hội. Quả thực, chúng ta biết rằng, đối với Irênê cũng như đối với Truyến Thống sau ngài, kiểu nói “Evà mới” chỉ cả Đức Maria lẫn Giáo hội, một bên trong ý nghĩa cá nhân hay kiểu mẫu, môt bên trong ý nghĩa tổng quát, đến độ thường khó phân biệt trong trường hợp cụ thể nói bên nào trong hai thực tại. Đức Maria được giới thiệu cho suy tư thần học của Giáo hội – quả thực chúng ta đang đứng trước nét phác họa đầu tiên về Thánh Mẫu học – như là một người vâng phục. Đây là một đặc quyền cá nhân của Người, phần thuộc về Người, làm cho Người gần gũi nhất với Đức Kitô. Công đồng Vaticanô II đã lại giới thiệu nhãn quan này của thánh Irênê, khi trưng dẫn những quả quyết chính của ngài. Ngài nói rằng nhờ sự vâng phục của mình, Đức Maria “đã cộng tác vào việc cứu độ con người”, và dưới chân thập giá, nhờ vâng phục và đức tin, Người đã trở nên “mẹ trong trật tự ân sủng” và khuôn mẫu của Giáo hội[69].

Từ đầu tôi đã nói là khám phá bản chất của sự vâng phục Kitô giáo tương đối dễ: chỉ cần xem khởi đi từ quan niệm nào về sự vâng phục mà Đức Kitô được Kinh Thánh định nghĩa là người vâng phục. Ở đây tôi nói thêm: chỉ cần xem khởi đi từ quan niệm nào về sự vâng phục mà Đức Maria được Truyền Thống định nghĩa là người nữ vâng phục. Như thánh Irênê cho biết, Đức Maria tỏ ra là người vâng phục khi Người nói: “Vâng tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.

Thánh nhân còn viết: “Cũng như vì việc làm của người nữ bất tuân, con người bị đánh gục, và chết vội vàng; cũng vậy, nhờ  việc làm của người Trinh Nữ vâng phục lời Thiên Chúa, con người lại nhận được sự sống” (Dém. Pré. Apost. 33). Sự vâng phục của Người là điều trái ngược chính xác với sự bất tuân của Evà. Nhưng, một lần nữa, Evà đã không vâng phục ai để bị gọi là người bất tuân? Chắc chắn không phải là cha mẹ, vì bà không có, cũng không phải chồng mình hay một luật thành văn nào. Bà đã không vâng lời Thiên Chúa! Cũng như lời thưa fiat của Đức Maria trong Phúc Âm Luca đối xứng với lời thưa fiat của Đức Giêsu tại Ghếtsêmani (x, Lc 22,42), cũng thế, theo thánh Irênê, sự vâng phục của Evà mới đối xứng với sự vâng phục của Ađam mới.

Chúng ta suy niệm một chút về sự vâng phục của Đức Maria đối với lời Thiên Chúa. Origen viết: “Qua những lời: Tôi đây là nữ tỳ của Chúa…, như thể Đức Maria nói: tôi là tấm bảng nhỏ để viết: xin người viết cứ viết điều mình muốn; xin Chúa mọi loài làm cho tôi trở thành điều Người muốn[70]”. Ông so sánh Đức Maria với tấm bảng nhỏ bằng sáp mà thời ấy người ta dùng để viết, để cho thấy sự ngoan ngoãn tuyệt đối của Đức Maria. Đức Maria dâng mình cho Thiên Chúa như một trang giấy trắng trên đó người ta có thể viết bất cứ điều gì. Người phục hồi cho Thiên Chúa quyền tự do tuyệt đối mà Thiên Chúa đã có trên Người, thậm chí vào lúc tạo dựng Người, khi Người chỉ là “một ý tưởng trong lòng Thiên Chúa”, và Thiên Chúa có thể biến Người thành bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn, mà không cần Người đồng ý. Một nhà chú giải hiện nay viết: “Lời của Đức Maria luôn có tầm quan trọng căn bản cho suy tư đạo đức; Người đã hiểu lời đó như tột đỉnh của mọi cách hành xử tôn giáo trước Thiên Chúa, vì Người diễn tả cách cao quý nhất sự sẵn sàng thụ động kết hợp với sự nhanh chóng năng động[71]”.

Sự vâng phục của Đức Maria không kết thúc ngày Truyền tin. Theo một nghĩa nào đó thì mới chỉ là bắt đầu. Ngày dâng con trẻ trong đền thờ, một điều gì đó xẩy đến cho Đức Maria nhắc nhớ điều gì đó xẩy đến cho Đức Giêsu khi Ngài nhận lễ rửa ở sông Giođanô. Vào dịp này, qua những lời của Chúa Cha, ơn gọi của Đấng Mêsia được xác định rõ trong ý thức của Đức Giêsu – cũng là một ý thức của con người – như lời mời gọi làm một Đấng Mêsia đau khổ, một người Tôi Trung bị loại bỏ của Chúa; và Đức Giêsu đáp lại bằng sự vâng phục, khi lặp lại lời “Này con đây” của mình. Ngày dâng con trẻ trong đền thờ, ơn gọi của Đức Maria, qua lời của Symêon “một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà”, được xác định rõ như lời mời gọi làm mẹ một Đấng Mêsia bị phản đối và loại bỏ, nghĩa là như một ơn gọi trắc trở và đau đớn. Đức Maria cũng đáp lại bằng sự vâng phục im lặng.

Dần dần, Người mở rộng lời “xin vâng” tới chỗ nhận lấy mọi sự trong Người, ngay cả thập giá. Như vậy có thể nói về Đức Maria những gì thư Do thái nói về Đức Giêsu, tức là Người học biết sự vâng phục nhờ trải qua đau khổ (x. Dt 5,8). Cũng thánh Irênê mặc nhiên áp dụng lời này vào Đức Maria, khi ngài nói rằng, đạt  tới mức thành toàn, Người “trở nên nguồn ơn cứu độ” cho nhân loại[72]. Một sự quả quyết như thế – nghĩa là Đức Maria, nhờ sự vâng phục của mình, trở nên “nguồn ơn cứu độ cho nhân loại” – có vẻ không quá đáng, cũng không phải không thích hợp. Quả thực, trên đồi Canvê, chỉ có một sự vâng phục độc nhất, một lời xin vâng độc nhất của Con và của Mẹ. Lời fiat của Đức Maria liên kết với lời fiat của Con mình, giống như những giọt nước đổ vào rượu trong chén thánh và trở thành một máu duy nhất và một “của uống cứu độ” duy nhất.

Sự vâng phục của Đức Maria, kể từ lời thưa xin vâng của mình trong ngày Truyền tin, dễ có nguy cơ bị tầm thường hóa và trở thành một sáo ngữ, một cái gì đó thuần túy mộ đạo. Để hiểu tất cả sự nghiêm túc kinh khủng của sự vâng phục này, phải áp dụng cho Đức Maria phạm trù “đồng thời”, được S. Kierkegaard minh giải trong tác phẩm “Trường học của Kitô giáo”. Đức Maria là “người đồng thời” thật sự độc nhất của Đức Kitô, theo một nghĩa còn sâu sắc và triệt để hơn tất cả những gì triết gia này đã tưởng tượng. Chúng ta tin vào những gì đã xẩy ra, nhưng Đức Maria tin vào những gì xẩy ra chính lúc những điều đó xẩy ra. Đức Maria đã vâng phục trong “tình huống đồng thời”, không phải như chúng ta tin những sự việc xẩy ra đã hơn hai ngàn năm, sau biết bao nhiêu xác nhận, bao nhiêu chứng cớ mới, bao nhiêu việc làm sáng tỏ và giải thích. Chúng ta biết điều đã xẩy ra sau, còn Đức Maria, đó là lần đầu tiên trong lịch sử, ngoài mọi quy tắc, nguy hiểm biết bao. Vấn đề là trở thành mẹ trước khi có chồng. Đức Maria chắc chắn biết điều đã được ghi trong lề luật: “Nhưng nếu điều đó có thật (do chồng xác nhận), nếu người ta không tìm thấy nơi cô gái những dấu chúng tỏ cô còn trinh, thì họ sẽ lôi cô gái ra khỏi cửa nhà cha mẹ; người trong thành của nàng sẽ ném đá nàng cho chết” (Đnl 22,20-21). Đối với Đức Maria, không có một ai để dựa, không có điểm quy chiếu nào ngoài Thiên Chúa và lời của Ngài; không có một giải thích nào dành cho Người. Phải đặt mình vào địa vị của Đức Maria, để đánh giá sự vâng phục của Người quan trọng như thế nào; và không bao giờ một ai sẽ có thể thực sự làm điều đó, vì điều chỉ xẩy ra một lần trong lịch sử không thể được lặp lại.

Chúng ta phải học nơi sự vâng phục của Mẹ Thiên Chúa biết bao nhiêu! Chúng ta rất thường xin Người giúp đỡ, không phải để làm theo ý Chúa, nhưng để thay đổi ý ấy. Chắc chắn Người sẽ đọc và lắng nghe suốt cuộc đời trần gian lời Thánh vịnh trong đó Thiên Chúa nói: “Điều đẹp ý Ngài, xin dạy con thực hiện” (Tv 143,10). Chúng ta cũng phải học nói điều đó nhu Người đã nói.

8. “Lạy Thiên Chúa, này con đây”

Tôi xác tín rằng để vượt qua cơn khủng hoảng hiện nay về sự vâng phục trong Giáo hội, phải yêu mến sự vâng phục, vì người nào yêu mến sự vâng phục sẽ tìm ra phương thế để thực hành. Tôi đã cố vạch rõ một số động lực có thể giúp chúng ta trong tất cả những điều đó: gương Đức Giêsu, Đức Maria, phép rửa của chúng ta…Nhưng có một động lực có thể thúc đẩy tận tâm can chúng ta hơn mọi động lực khác: sự hài lòng của Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa nói với Abraham lúc ông từ núi Moriah trở về: “Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta” (St 22,18). Giọng điệu những lời này làm ta nghĩ tới một người đã phải cố nín từ lâu, và giờ đây cuối cùng có thể thổ lộ tất cả những gì chất chứa trong lòng. Cũng như nước trong đập tràn xuống hạ lưu khi người ta mở van, cũng vậy, làn sóng vâng phục của Abraham và làn sóng phúc lành của Thiên Chúa tràn lan qua mọi thế hệ tới chúng ta. Cũng vậy, nhưng ở một tầm mức cao hơn vô cùng đối với Đức Giêsu: vì Ngài đã vâng phục cho đến chết, Chúa Cha đã siêu tôn Ngài, và ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu (x. Pl 2,8-11). Nói về sự hài lòng của Thiên Chúa Cha không phải là một cách nói ẩn dụ mất đi nét thực tế. Sự hài lòng của Chúa Cha chính là Chúa Thánh Thần! Thánh Phêrô nói trong sách Công vụ: Thiên Chúa ban Thánh Thần cho những ai vâng phục Người (x. Cv 5,32). Lúc Đức Giêsu nhận lễ rửa ở sông Giođanô, Chúa Cha thừa nhận nơi Con Mình người Tôi Trung vâng phục, công bố sự “hài lòng” của mình, và “đặt” trên Ngài Thần Khí của mình (x. Mt 3,17; Mt 12,18; Is 42,1).

Nếu chúng ta muốn làm hài lòng Thiên Chúa, chúng ta cũng phải học nói: “Này con đây”. Rảo qua Kinh Thánh, chúng ta nghe thấy lời này vang lên, một lời trong số những lời đơn giản nhất và vắn tắt nhất thuộc ngôn ngữ của con người. Nó diễn tả mầu nhiệm vâng phục Thiên Chúa. Abraham nói: “Dạ, con đây” (St 22,1); Môsê nói: “Dạ, tôi đây” (Xh 3,4); Samuel nói: “Dạ, con đây” (1Sm 3,4); Isaia nói: “Dạ, con đây” (Is 6,8); Đức Maria nói: “Vâng, tôi đây” (Lc 1,38); Đức Giêsu nói: “Này con đây” (Dt 10,9). Người ta có cảm tưởng đang nghe một chuỗi những lời mời gọi và từng người được gọi đáp: “Có mặt”. Những người đó thực sự đáp lại tiếng Chúa gọi. Kinh Thánh thích lời vắn tắt đó đến nỗi đặt vào môi cả những thụ tạo bất động: “Người gọi chúng (các ngôi sao), chúng thưa: Có mặt, và hân hoan chiếu sáng mừng Đấng tạo nên mình” (Br 3,35). Trong số những lời “Này con đây” của Kinh Thánh, thiếu một lời, và lời thiếu này ghi dấu mãi mãi vận mệnh của con người. Khi Thiên Chúa gọi Ađam sau lúc ông phạm tội, có lẽ để tha thứ cho ông, thì thay vì đáp: “Này con đây”, Ađam lại đi trốn (St 3,10).

Thánh vịnh 40 mô tả cho chúng ta một kinh nghiệm thiêng liêng giúp chúng ta đưa ra một một quyết định riêng, lúc kết thúc bài sau niệm này.

Một ngày kia tác giả thánh vịnh, được đầy tràn niềm vui và biết ơn vì những hồng ân Chúa ban (“Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa. Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong…”), đang ở trong tình trạng thật sự ân sủng, ông tự hỏi phải lấy gì đáp lại biết bao nhiêu ơn lành của Chúa: dâng lễ toàn thiêu chăng? lễ vật chăng? Ngay tức khắc ông hiểu rằng Thiên Chúa không chờ đợi điều ấy nơi ông; quá ít để diễn tả điều ông có trong lòng. Rôi ông có trực giác và mạc khải: điều Thiên Chúa chờ đợi nơi ông là một quyết định quảng đại và long trọng từ nay thực hiện mọi điều Người muốn ông thực hiện, là vâng phục Người trong mọi sự. Bấy giờ ông nói: “Này con xin đến! Trong sách có lời chép về con, rằng con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng”.

Khi đến thế gian, Đức Giêsu đã biến những lời này thành của mình: “Lậy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,5).

Giờ đây, đến lượt chúng ta. Tất cả cuộc đời chúng ta, ngày lại ngày, có thể được sống dưới ánh sáng của cũng lời đó: “Lậy Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”. Buổi sáng, khởi đầu ngày mới; rồi đến một nơi hẹn, một cuộc gặp gỡ, bắt đầu công việc mới, hoặc một nhiệm vụ được trao phó cho ta: “Lậy Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”. Chúng ta không biết những gì mà ngày hôm nay, cuộc gặp gỡ này, công việc này dành cho chúng ta; chúng ta chỉ biết chắc một điều, đó là: trong tất cả những việc đó, chúng ta muốn thực thi ý Chúa. Chúng ta không biết những gì mà tương lai dành cho mỗi người chúng ta; nhưng quả là tốt khi chúng ta hành trình tiến về Người, trên môi lặp lại những lời: “Lậy Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”.

III

SỰ NGHÈO KHÓ

Hai hay ba lần trong quá khứ, tôi đã cố gắng bàn về đề tài nghèo khó khi giảng Mùa Vọng ở Phủ Giáo hoàng. Có một lần thậm chí tôi đã in và phổ biến chương trình về đề tài này. Nhưng cuối cùng, tôi luôn buộc phải bỏ. Tôi tuyệt đối cảm thấy mình không thể và không đáng để bàn về một đề tài như vậy. Có vẻ tôi phạm tội đối với người nghèo và vì giả hình. Tôi tự hỏi chúng ta có can đảm nào nói về sự nghèo khó, khi mà, điều đối với tôi hôm nay được coi là một sự nghèo khó gần như anh hùng, lại là một thực tế bình thường của mọi ngày và cả đời đối với hàng triệu con người, ngay cả khi đó không phải là một sự sang trọng. Đối với chúng tôi, ăn chay suốt đời chỉ có “bánh và nước lã” đã là kham khổ tối đa, trong khi đối với hàng triệu con người, đúng là nằm mơ mới có được “bánh ăn và nước uống bảo đảm”.

Tôi phải làm gì lần này để vượt qua khó khăn như thế? Trước hết, tôi nhớ lại gương của Đức Kitô. Thời Đức Giêsu, ở Galilêa và những nơi khác, dân chúng ít nghèo hơn cái nghèo hôm nay chăng? Tuy vậy điều đó không ngăn cản Đức Giêsu đưa ra lý tưởng nghèo khó. Ngược lại phải biến tình hình nghèo khó này thành một yếu tố kích thích hơn, để tái khám phá lý tưởng về sự nghèo khó tự ý, về sự đạm bạc và đơn giản của cuộc sống. Vậy điều gì làm nhiều người phải nghèo và giữ họ trong tình trạng nghèo, nếu không phải vì một số người quá tìm kiếm giầu sang và tiện nghi? Và ai có thể thực sự hiểu người nghèo và gắn bó với vấn đề của họ, nếu không phải là những người nghèo tự ý?

Theo tôi, một người có mọi quyền để nói về sự nghèo khó ngày hôm nay: người đó là Đức Giêsu Kitô. Vì vậy, tôi để Ngài nói, trực tiếp nhất có thể. Lời Chúa thì “hằng sống và vĩnh cửu” và không cạn kiệt. Cũng ngày hôm nay lời ấy có điều gì đó mới mẻ để nói cho chúng ta về sự nghèo khó. Chúng ta hãy chiếu lời Chúa như những chùm ánh sáng lên thực tại của chúng ta. Hãy làm cho lời Chúa sáng lên như những thanh gươm đỏ rực, hoặc như những đèn pha thăm dò từng góc biển ban đêm. Hoặc đúng hơn, hãy đặt mình trước lời Chúa như trước một tấm gương và hãy chăm chú nhìn mình trong đó.

Việc nhớ đến gương của cha thánh Phanxicô cũng đã giúp tôi. Trong Quy luật của ngài, sau khi đã giới thiệu cho các anh em lý tưởng về một sự nghèo khó cao cả nhất, ngài viết: “Tôi cảnh báo và cầu nguyện cho các anh em tôi đừng khinh chê và đừng phán đoán những người mặc quần áo lộng lẫy, mầu sắc bắt mắt, tìm kiếm quá đáng trong việc ăn uống, nhưng mỗi người hay tự xét mình và khinh chê chính mình[73]”. Vậy có thể nói về sự nghèo khó với bí quyết hoàn toàn tích cực, không phải xét đoán ai, mà chỉ xét đoán mình. Con sâu luôn làm hại cho việc rao giảng về sự nghèo khó trong cộng đồng Kitô giáo, làm cho người ta nghi ngờ nó, là khuynh hướng đòi hỏi người khác giữ, và luôn biến nó thành điểm chính tố cáo người nào đó.

Nét cao cả và mới mẻ của Phanxicô là phá vỡ thói quen này. Vào thời có nhiều người la toáng lên về sự giầu có của Giáo hội thể chế, ngài đã loại bỏ mọi trách cứ về đời sống Giáo hội, khai trừ mọi cái “chống”. Ngài không bút chiến với Giáo hội phẩm trật, cũng không muốn cùng với những người trong Giáo hội bút chiến chống lại người lạc giáo. Ngài là gương mẫu đẹp đẽ nhất của điều mà Yves Congar gọi là “canh tân thực sự” trong Giáo hội: không bằng đường lối chỉ trích, nhưng bằng sự thánh thiện[74].

Đối với tôi, không chỉ trích người khác hẳn phải dễ hơn thánh Phanxicô nhiều. Ngài là người nghèo khó, còn tôi, bất hạnh thay, tôi không nghèo, hoặc ít ra không đủ nghèo. Một Giáo Phụ xưa đã khuyên một người, vì nhiệm vụ, phải nói về những điều thiêng liêng mà đời sống người đó chưa đạt được: “Hãy nói như một người thuộc vào số các môn đệ, đừng tỏ ra có quyền, sau khi đã hạ nhục linh hồn mình, và biến mình thành người nhỏ nhất trong số các thính giả[75]”.

Tôi cũng sẽ cố gắng nói như vậy về sự nghèo khó trong các bài suy niệm này. Tôi biến những lời của thánh Grêgôriô Cả thành của tôi, trong một tình huống tương tự như của tôi: “Tôi sẽ nói để lưỡi gươm lời Chúa xuyên qua tôi chọc thủng tâm hồn người lân cận. Tôi sẽ nói để lời Chúa cũng vang lên qua tôi mà chống lại tôi[76]”. Chúng ta cùng nhau đặt mình trước tấm gương của lời Chúa và ở đó “ai nấy phải tự xét mình” (1Cr 11,28). Xét mình chứ không phải xét người khác. Chúng ta cố gắng không dành cả thời gian để xem xét học thuyết Kinh thánh về sự nghèo khó, sự tiến triển của nó, những hình thức khác nhau, những điểm song song ngoài Kinh Thánh, mà không bao giờ nhìn đến chúng ta. Đó chính là nhìn tấm gương, chứ không phải nhìn mình trong gương, như có người nói. Đó sẽ là một thủ thuật để làm cho lời Chúa mất tác dụng và cứ lần lữa mãi chuyện thực hiện lời Chúa[77].

Điều tôi cố mô tả cho tới lúc này chính là sự khó khăn chủ quan bắt gặp ngày hôm nay khi nói về sự nghèo khó, tức là tùy thuộc vào người phải nói về nó. Tuy vậy cũng có một khó khăn khách quan tùy thuộc vào đề tài riêng về sự nghèo khó. “Nghèo khó” là một hạn từ hàm hồ. Nó thuộc về loại hạn từ có thể có cả nghĩa tiêu cực lẫn tích cực. Chẳng hạn, hạn từ latinh sacer có thể vừa có nghĩa là thánh thiêng, vừa có nghĩa là tồi tệ. Chính Kinh Thánh dùng hạn từ nghèo khó lúc có nghĩa tiêu cực như một điều xấu, lúc có nghĩa tích cực như một điều tốt. Hạn từ giầu có cũng vậy. Nghĩa của hai hạn từ thay đổi tùy theo quan điểm thay đổi.

Sự hàm hồ này vẫn tồn tại, thậm chí còn gia tăng qua dòng thời gian, đến nỗi dường như không thể quả quyết cách nào đó về chủ đề nghèo khó hay giầu có mà không tức khắc thiên vị, thậm chí giả dối, khi hơi chú ý xem xét. Nghèo khó và giầu có thực sự không phải là những ý tưởng “rõ ràng và phân biệt”. Nó bác bỏ mọi cố gắng hợp lý hóa cứng nhắc.

Để vượt qua khó khăn này, sự phân biệt tôi đọc thấy nơi một tác giả hiện đại đã giúp tôi. Ông phân biệt hai loại nghèo khó: một loại nghèo khó vật chất và một loại nghèo khó tinh thần, và mỗi loại lại được ông phân biệt thành hai: một loại xấu và một loại tốt[78]. Như vậy, chúng ta có bốn loại nghèo khó có thể ấn định phạm vi như sau:

  1. một sự nghèo khó vật chất tiêu cực, phi nhân bản hóa và phải chống lại: nghèo khó như một điều kiện xã hội phải chịu đựng.
  2. một sự nghèo khó vật chất tích cực giải thoát và đưa lên: sự nghèo khó như là một lý tưởng Phúc Âm phải vun trồng.
  3. một sự nghèo khó tinh thần tiêu cực, không có những thiện ích tinh thần và những giá trị nhân bản thực sự: sự nghèo khó của người giầu.
  4. một sự nghèo khó tinh thần tích cực, với lòng khiêm nhường và tin tưởng vào Chúa, hoa quả đẹp đẽ nhất nở trên cây của sự nghèo khó Phúc Âm: sự giầu có của người nghèo.

Trong bốn chương, tương ứng với bốn bài suy niệm tại Phủ Giáo hoàng trong Mùa Vọng năm 1994, chúng ta bàn về những hình thức hay khía cạnh khác nhau của sự nghèo khó, vẫn giữ bầu khí nguyên thủy của mùa Giáng Sinh, rất hữu ích để hiểu sứ điệp của sự nghèo khó Kitô giáo.

Xin Chúa Thánh Thần, được kêu cầu trong phụng vụ như là “cha các kẻ nghèo” (pater pauperum), giúp chúng ta hân hoan đón nhận sứ điệp vui mừng gửi đến cho người nghèo, bằng cách tạo nên trong ta một “tinh thần vững mạnh” quyết định đem ra thực hành.

1. “Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo”

Sự nghèo khó vật chất

như một hiện tượng xã hội phải chống lại

Những người nghèo, họ hiện hữu!

Đề tài của bài suy niệm đầu tiên là sự nghèo khó vật chất tiêu cực, mà Thiên Chúa không muốn, nhưng do tội lỗi và hoàn cảnh; sự nghèo khổ không do mình chọn, nhưng phải chịu đựng, một sự kiện xã hội phi nhân bản hóa người phải chịu, làm ô danh xã hội gây ra nó hay khoan dung cho nó. Nói tắt, đề tài về những người nghèo theo nghĩa thông thường nhất.

Đề tài như thế này: Đâu là lời Chúa được coi như đèn pha hay tấm gương cho chúng ta? Đặc biệt có hai. Lời thứ nhất là câu đầu tiên của Thánh vịnh 41: “Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo”. Lời thứ hai là lời quen thuộc của Đức Giêsu: “là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”“là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40.45).

Tôi muốn nói ngay là những suy nghĩ mà tôi khai triển đây phát sinh như thế nào. Vì việc đó sẽ giúp chúng ta hơn mọi xem xét khác để nắm bắt trọng tâm của sứ điệp. Tôi vừa viết xong cuốn Lên núi Sinai, trong đó tôi cố gắng sử dụng mọi phương tiện mà Kinh Thánh, Truyền Thống và văn hóa cung cấp cho tôi để gợi lên cảm tưởng rằng Thiên Chúa hiện hữu, Người hằng sống, Người là một thực tại chứ không phải điều gì đó trừu tượng. Tựu trung là để kích thích người thời nay “nhận ra” Thiên Chúa. Đột nhiên tất cả những lời và luận chứng được sử dụng, có thể nói, quay lại chống tôi, khi chuyển sang một đề tài khác: người nghèo. Như thể có người nào đó thét vào tai tôi bằng chính những lời của tôi: cả người nghèo nữa, họ cũng hiện hữu, phải “nhận ra” họ nữa.

Danh xưng của Thiên Chúa “Ta hiện hữu” giờ đây trở thành danh xưng của người nghèo: “Chúng tôi hiện hữu”. Chúng tôi là một thực tại, không phải điều gì đó trừu tượng. Lời cầu nguyện của thánh Augustinô được tôi dùng để kết thúc cuốn sách: “Tôi yêu người quá muộn, ôi vẻ đẹp hết sức cũ mà cũng hết sức mới”, giờ đây được tôi nói ra, có thay đổi một chút: “Tôi yêu người quá muộn, ôi sự nghèo khó hết sức cũ mà cũng hết sức mới. Người đã ở với tôi, người bao vây tôi tứ phía, nhưng tôi đã không ở với người, tôi đã không thấy người, hoặc tôi chỉ thấy người bằng mắt chứ không bằng tâm hồn. Người đã lên tiếng gọi, đã thét lên, đã phá vỡ tật điếc lác của tôi”. Đúng là như “chết lặng”, theo kiểu nói của triết gia một ngày kia bắt gặp “hiện hữu của sự vật bỗng nhiên được mạc khải”[79].

Tội lớn nhất chống lại người nghèo có lẽ là thái độ dửng dưng, giả vờ như không thấy, “tránh qua bên kia mà đi” (x. Lc 10,31). Trong dụ ngôn, điều Đức Giêsu trách người giầu có bất nhân, chính là ông thờ ơ với người nghèo ngồi trước cửa, hơn là sự xa xỉ quá độ của ông. Ông cứng lòng và vô cảm.

Giữa chúng ta và người nghèo, chúng ta có khuynh hướng ráp hai tấm kính. Hiệu quả của kính đúp, rất được sử dụng ngày nay, là cản không khí lạnh và tiếng ồn, làm mọi sự dịu đi, giảm đi, nhẹ đi. Thực tế chúng ta thấy những người nghèo nổi dậy, khuấy động, hò hét sau màn ảnh truyền hình, trên các trang nhật báo, những tập san truyền giáo, nhưng tiếng họ kêu cứu dường như đến tai ta từ rất xa. Chúng không vào sâu trong lòng ta. Chúng ta tránh người nghèo. Kinh Thánh gọi tất cả những việc đó là: “Thấy nhiều mà vẫn chẳng lưu tâm, mở tai mà vẫn không nghe gì” (x. Is 42,20).

Trong những nước giầu có, lời “quân mạt rệp!” gây ra những gì mà tiếng kêu “quân mọi rợ!” gây ra nơi người Rôma xưa. Bối rối, kinh hoàng. Họ mệt mỏi xây tường thành và gửi quân đội ra biên giới để ngăn chúng từ xa. Chúng ta cũng làm như vậy, tuy một cách khác. Nhưng lịch sử cho ta thấy tất cả đều vô ích.

Việc đầu tiên phải làm đối với người nghèo là phá vỡ cửa kính đúp, vượt qua sự thờ ơ, vô cảm; bỏ đi sự bảo vệ chúng ta và để cho sự lo lắng lành mạnh xâm nhập chúng ta, vì sự khốn khổ đáng sợ trên thế giới; để cho những người nghèo đi vào trong da thịt chúng ta. Như tôi đã nói, phải “nhận ra” người nghèo. Và việc nhận ra cho thấy một sự mở mắt thình lình, một sự bộc phát lương tâm, nhờ đó chúng ta bắt đầu thấy một cái gì đó đã có ở đó trước, mà chúng ta đã không thấy. Đức Phaolô VI viết trong Evangelica Testificatio: “Việc thường xuyên có những đám người và những cá nhân khốn khổ là một lời mời gọi nài nỉ hướng tới hoán cải tâm trí và thái độ”. Tiếng kêu cứu của người nghèo buộc chúng ta “đánh thức lương tâm chúng ta trước bi kịch của sự khốn khổ và những đòi hỏi công bằng xã hội của Phúc Âm và của Giáo hội[80]”.

Thế nhưng trước khi có huấn quyền của Giáo hội, thì chính lời Chúa khắc ghi nơi chúng ta sự hoán cải tâm trí và thái độ này. “Phúc thay ai lưu tâm đến người nghèo” (beatus qui intellligit de egeno et paupere) (Tv 41,1), người không thấy mình hết nợ với người nghèo. Lời kinh khủng chúng ta đọc trong Isaia trách các mục tử, những người hướng dẫn mù, những con chó câm, có lý do là những lời sau đây: người công chính tiêu vong mà chẳng ai lưu tâm đến, người nghèo khó và người khiêm nhường bị cất đi mà chẳng ai coi chừng (et nemo percipit corde) (x. Is 56,10-57,1). Kiểu nói của bản Phổ Thông, “percipit corde” mô tả rất rõ thái độ bên trong cần thiết trước người nghèo và sự nghèo khổ. Phải đưa vấn đề người nghèo vào trong tâm hồn chúng ta, sao cho nó không còn là vấn đề xa lạ chỉ liên hệ đến người khác chứ không phải chúng ta, nhưng phải trở thành một vấn đề của gia đình.

Thử tưởng tượng một ngày kia, khi bạn xem thấy trên truyền hình những hình ảnh của một tai họa nào đó – một xe lửa trật đường rầy, một tai nạn xe hơi, một tòa nhà sụp đổ hay bốc cháy – bỗng nhiên bạn nhận ra trong số nạn nhân một người bà con gần, mẹ của bạn, anh của bạn, chồng của bạn. Bạn kêu khóc như thế nào! Trái tim bạn thay đổi như thế nào so với lúc trước! Mối quan tâm hoàn toàn khác như thế nào trước biến cố này! Điều gì đã xẩy ra? Chuyện rất đơn giản: những gì trước đây bạn chỉ thấy bằng mắt hay bằng trí óc, giờ đây bạn thấy bằng tâm hồn. Đó là những gì hẳn phải xẩy ra, ít nhất trong một mức độ nào đó, khi bạn thấy tiếp nối nhau trước mắt một số cảnh tượng kỳ lạ của tai họa. Có phải hay không phải là anh em chúng ta? Chúng ta hết thảy không thuộc về cùng một gia đình nhân loại sao? Kinh Thánh không viết rằng chúng ta là những chi thể của nhau sao (Rm 12,5)?

Bất hạnh thay, cùng với thời gian, người ta quen với mọi sự. Chúng ta quen với sự khốn cùng của người khác. Nỗi khổ ấy không gây ấn tượng nơi ta nữa, ta chấp nhận nó như không thể tránh được, nó hiển nhiên. Nhưng hãy để ra một lúc đặt mình bên cạnh Chúa, thấy mọi việc như Chúa thấy. Giống như một người cha trong gia đình có bẩy đứa con trai và bữa nào cũng vậy chứng kiến cùng một cảnh: chỉ có hai đứa hầu như ăn mọi đồ ăn trên bàn, để cho năm đứa còn lại phải đói. Người cha có nhẫn tâm trước cảnh tượng như vậy không? Có người so sánh trái đất với một phi thuyền bay trong vũ trụ, nơi một trong ba phi hành gia tiêu thụ 85% tài nguyên hiện nay và thậm chí còn có tham vọng chiếm đoạt 15% còn lại.

“Các người đã không làm cho chính Ta”

Giờ đây đã đến lúc chúng ta soi vào chiếc gương thứ hai do lời Đức Kitô tạo ra: “Các ngươi đã làm cho chính Ta”, “Các người đã không làm cho chính Ta”. Với lời này, vấn đề người nghèo mang một chiều kích mới trong lịch sử. Nó cũng trở thành một vấn đề Kitô học. Đức Giêsu Nadarét đã đồng hóa mình với người nghèo. Nếu do sự kiện nhập thể Ngôi Lời đã đảm nhận cả con người theo một nghĩa nào đó, như các Giáo Phụ nói, thì qua cách thức nhập thể, Ngài đã đảm nhận, với một tước hiệu rất đặc biệt, người nghèo, người khiêm nhường, người đau khổ, đến nỗi đồng hóa với họ.

Đấng đọc trên bánh lời: “Này là mình Thầy”, cũng đọc lời ấy trên người nghèo. Đấng ấy đọc lời này khi, nói về những gì được làm hay không được làm cho người đói khát, người ngồi tù, người trần truồng, đã long trọng tuyên bố: “là các ngươi đã làm cho Ta”“là các ngươi đã không làm cho Ta”. Quả thực, điều đó tương đương với nói: “Con người này ăn mặc rách bươm, cần một chút bánh, người nghèo này ngửa tay xin ăn, chính là Ta!”

Nơi người nghèo, Đức Kitô không hiện diện cùng một kiểu như trong Thánh Thể và trong các bí tích khác, nhưng Ngài cũng hiện diện “thực sự”. Chính Ngài đã “thiết lập” dấu chỉ này, như đã thiết lập Thánh Thể. Chúng ta hẳn có thể nói rằng nơi người nghèo Đức Kitô hiện diện thụ động, không phải năng động. Thật vậy, người nghèo không luôn, và không nhất thiết, có Đức Kitô nơi mình, cũng không truyền đạt Ngài cho người đón nhận, như các hình Thánh Thể và các dấu chỉ bí tích nói chung. Người nghèo không phải là một “dấu chỉ hữu hiệu” của ân sủng, không làm phát sinh ân sủng “ex opere operato” (do sự), như thần học dạy. Đúng là người ta có thể phân phát tất cả tài sản của mình cho kẻ nghèo, như thánh Tông Đồ nói, nhưng việc đó chẳng ích gì nếu không có đức ái (x. 1Cr 13,3).

Tuy vậy, ai không sẵn sàng đón nhận người nghèo được Đức Kitô đồng hóa với Ngài, thì không đón nhận Đức Kitô cách đầy đủ. Người nào lúc sắp chịu lễ, đầy lòng sốt mến tiến lên chịu lấy Đức Kitô, nhưng lại đóng của lòng mình với người nghèo, giống như người thấy một bạn thân ở xa lâu ngày không gặp, vui vẻ chạy đến bên bạn, nhẹ nhàng đứng trên đầu ngón chân để ôm hôn bạn, mà không biết mình đang dẵm lên bàn chân trần của bạn với những chiếc giầy đinh. Quả thực người nghèo là những bàn chân trần mà Đức Kitô còn đang để trên mặt đất này.

Tôi nhớ lại lần đầu tiên lúc sự thật này sáng lên trong tôi với tất cả ánh sáng của nó. Tôi đang đi truyền giáo tại một quốc gia thuộc thế giới thứ ba, và cứ mỗi cảnh tượng khốn khổ mới mà tôi thấy – hoặc một trẻ em, quần áo rách rưới, bụng thõng, mặt mũi đầy ruồi, hoặc từng nhóm người đi theo sau một một xe rác, hy vọng kiếm được chút gì khi chiếc xe vừa đổ rác, hoặc một người bị thương – tôi nghe thấy trong tôi như một giọng nói vang lên: “Này là mình Thầy”. Quả thực tôi cảm thấy như “chết lặng”.

Trở về nhà, sau vài ngày tôi nhận được thư của một phụ nữ không quen biết, nhưng có người đã nói cho tôi về cô ta. Cô xin tôi một sự phân định thiêng liêng về một kinh nghiệm xẩy ra với cô. Cô viết: “Với đôi mắt linh hồn, con đã thấy một thị kiến: Đức Giêsu, đầu đội mão gai, đang sống và có thật; máu chảy trên mặt Ngài. Ngài làm con đau lòng, con đã khóc nhiều. Rồi con thấy một cảnh tượng khủng khiếp, một đám đông trẻ em da mầu, ốm yếu và sắp chết dưới ánh mặt trời âm u, những con ruồi đậu trên chúng. Một điều gì đó làm con run rẩy. Cùng lúc ấy con như dính chặt vào ghế bành, không đứng dậy nổi. Rồi một giọng nói với con: Tôi ở đó. Chị thấy những trẻ em sắp chết đói này chứ? Chúng đang hấp hối giống như Đức Giêsu. Từ ngày đó, con không ngừng gây quỹ cho những người đói khát. Con xin của bố thí khắp nơi và gửi tiền thu được cho một viện mồ côi ở Ouganda. Thậm chí người ta còn đua nhau giúp con.” Sự phân định về thị kiến này hoàn tất. Đức Giêsu nói: “Xem quả biết cây”.

Người nghèo cũng là một vicarius Christi, đại diện Đức Kitô, một người thay thế Đức Kitô. Đại diện theo nghĩa thụ động, không phải năng động. Không theo nghĩa những gì người nghèo làm như thể Đức Kitô làm, nhưng theo nghĩa những gì người ta làm cho người nghèo như thể làm cho Đức Kitô. “là các người đã làm cho chính Ta”.

Một vị thánh đánh giá quan trọng mối liên hệ giữa sự hiện diện của Đức Giêsu trong Thánh Thể với sự hiện diện của Ngài nơi người nghèo: chính là thánh Gioan Kim Khẩu. Trong một trang sách nổi tiếng được Giáo hội đưa vào trong Phụng vụ các Giờ Kinh, ngài viết: “Bạn muốn tôn kính thân thể Đức Kitô ư? Đừng để Ngài bị khinh rẻ nơi các chi thể Ngài, nghĩa là các người nghèo, không có áo quần che thân. Đừng tôn kính Ngài ở đây, trong Giáo hội, bằng gấm vóc lụa là, trong khi bạn để Ngài ở ngoài trời chịu cảnh giá lạnh vì thiếu áo quần. Có lợi ích gì khi bàn của Đức Kitô đầy những bình bằng vàng, trong khi chính Ngài chết đói nơi người nghèo? Hãy bắt đầu cho người đó ăn, và trang hoàng bàn thờ bằng những gì còn lại. Bạn dâng cho Ngài một chén thánh bằng vàng mà lại không cho Ngài một chén nước lã sao? Và phủ cho bàn của Đức Kitô những tấm vải vàng óng ánh thì có ích gì, nếu bạn không cho Ngài một cái chăn cần thiết cho Ngài?… Do đó, khi bạn trang hoàng nhà thờ, đừng quên người anh em đang khốn khổ, vì đền thờ đó có giá trị hơn đền thờ kia sao?[81]” Chính là một giám mục nói, cũng như thể ngài nói: “Đừng mang đồ lễ cho tôi, hãy đưa cho người nghèo”, hoặc ít nhất: “Tiên vàn hãy đưa cho người nghèo, sau đó đưa cho tôi những gì còn lại”.

Triết gia Blaise Pascal diễn tả cách khác sự hiện diện của Đức Kitô nơi người nghèo là chắc chắn. Trong lần lâm bệnh cuối cùng, vì không thể chịu Của Ăn Đàng do không giữ lại được gì, ông xin người ta đưa đến phòng ông một người nghèo, để như ông nói, vì “không thể hiệp lễ với Đầu, ông có thể ít nhất hiệp lễ với thân thể Ngài”[82].

Vả lại, chính Đức Kitô đã mau mắn xác nhận qua dòng thời gian cách giải thích chặt chẽ và thực tế này của lời Ngài: “là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Truyện các thánh Kitô giáo đầy những giai thoại, trong đó một người nghèo được người ta giúp đỡ, lại cho thấy là chính Đức Giêsu. Có lẽ nổi tiếng nhất là câu truyện thánh Martinô thành Tours. Một ngày kia Martinô, khi ấy còn là quân nhân và dự tòng, ở miền Bắc Âu châu nơi ông đang phục vụ, gặp một người nghèo ở trần, đang rét run vì lạnh. Vì không có gì khác ngoài tấm áo choàng khoác trên mình, ngài đã dùng gươm cắt đôi chiếc áo đưa cho người đó một nửa. Đêm đến, Đức Kitô hiện ra với ngài, mặc nửa tấm áo choàng đó, đĩnh đạc nói với các thiên thần hầu cận: “Martinô đang còn là dự tòng mà đã mặc cho Ta tấm áo này[83].”

Người nghèo, chính là Đức Giêsu còn rảo quanh trên thế giới mà không ai biết. Hơi giống lúc Ngài hiện ra dưới hình dạng bề ngoài khác, sau ngày phục sinh – cho bà Maria Magđala, cho người giữ vườn, cho hai môn đệ Emmau giống như người khách đồng hành, cho các tông đồ trên biển hồ như một ngư phủ, đứng trên bãi biển – chờ “mắt họ mở ra” để nhận ra Ngài khi kêu lên: “Chúa đó” (Ga 21,7). Ôi, ước gì khi nhìn thấy một người nghèo, chúng ta cũng biết nhận ra Chúa mà kêu lên: “Chúa đó!”

Thánh Lêô Cả nói rằng, sau khi lên trời, “tất cả những gì hữu hình nơi Đức Kitô được chuyển sang các dấu chỉ bí tích của Giáo hội”[84]. Chúng ta phải nới rộng nguyên lý căn bản này. Đúng là về phương diện bí tích, tất cả những gì hữu hình nơi Đấng Cứu Thế thì hiện nay được chuyển sang các nghi thức và các thừa tác vụ của Giáo hội, nhưng cũng đúng là về phương diện hiện sinh, cũng được chuyển sang các người nghèo và tất cả những ai mà Ngài đã nói “là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Một quan sát viên tại Công đồng đã viết: “Các Nghị Phụ Công đồng đã tìm lại được bí tích của sự nghèo khó, sự hiện diện của Đức Kitô dưới các hình của những người đau khổ.[85]

Giờ đây chúng ta rút ra kết luận từ tất cả những điều trên về chương trình Giáo hội học. Nhân dip Công đồng, Đức Gioan XXIII đã đặt ra kiểu nói “Giáo hội của người nghèo”[86]. Kiểu nói này có một ý nghĩa có lẽ vượt quá những gì xuất hiện khi thoạt nhìn. Giáo hội của người nghèo không chỉ bao gồm những người nghèo trong Giáo hội, nhưng theo một nghĩa nào đó, bao gồm tất cả những người nghèo trên thế giới, được rửa tội hay không. Nếu các Kitô hữu là những người đã được “dìm vào trong cái chết của Đức Kitô” (Rm 6,3), thì ai hơn họ được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô?

Nhưng như người ta nói, người nghèo không luôn có đức tin. Đúng, nhưng những trẻ em được rửa tội có đức tin chăng? Cha mẹ, người đỡ đầu, Giáo hội tin thay cho chúng. Và ngay cả trong trường hợp này, điều gì ngăn cản Giáo hội tin thay cho chúng, “Giáo hội bù”, như chúng ta nói trong thần học? Nơi các trẻ em, chúng ta nói rằng ân sủng có ưu thế hơn đức tin, sáng kiến tự do và nhưng không của Thiên Chúa có ưu thế hơn sự đáp ứng có ý thức của chúng. Vả lại, các Anh Hài vô tội có đức tin chăng? Tuy vậy, chúng ta lại không tôn kính chúng như các vị thánh sao? Chúng chịu đau khổ vì Đức Kitô, nhưng trong trường hợp người nghèo, vấn đề còn hơn thế nữa: Đức Kitô chịu khổ nơi họ.

“Nhưng tất cả các người nghèo đều không tốt, không đạo đức, không vô tội!” Rất đúng. Nhưng cũng như trong Giáo hội hữu hình, ngay cả sau khi chịu phép rửa, vẫn có những Kitô hữu tốt và xấu, hạt giống tốt và cỏ lùng, cũng vậy trong số người nghèo, có những Kitô hữu tốt và xấu, dù nhìn bên ngoài tất cả đều thuộc về đàn chiên của Chúa. Làm sao lại không coi họ là Giáo hội của Đức Kitô cách nào đó, nếu chính Đức Kitô đã tuyên bố họ là thân thể Ngài? Họ là “Kitô hữu”, không phải vì họ tuyên bố mình thuộc về Ngài, nhưng vì Đức Kitô đã tuyên bố họ thuộc về Ngài: “là các người đã làm cho Ta”. Nếu có trường hợp kiểu nói gây tranh cãi “Kitô hữu vô danh” có thể có một áp dụng chấp nhận được, thì chính là trường hợp các người nghèo.

Như vậy Giáo hội Đức Kitô lớn hơn nhiều so với những gì chúng ta biết qua con số hiện hành. Không phải chỉ là cách nói, nhưng thật sự là vậy. Chúng ta không nói điều đó để phóng đại số liệu thống kê về các hệ phái, mà ít tốn công. Ngược lại, hãy để những chuyện đó xa người nghèo, nếu chúng ta không muốn họ biến thành điểm chính để buộc tội và làm gia tăng trách nhiệm của chúng ta, thay vì gia tăng con số của chúng ta. Chúng ta bị lời Đức Kitô buộc phải nói điều đó, để làm vinh danh Ngài. Không có một vị sáng lập tôn giáo nào đồng hóa mình với người nghèo như Đức Giêsu. Một số những vị đó thậm chí còn đồng hóa mình với người giầu, khi giới thiệu sự giầu có chứ không phải sự nghèo khó như một dấu chỉ được Thiên Chúa đặc biệt ưa thích, trong khi khắc sâu vào trí não người giầu bổn phận cứu giúp người nghèo bằng của bố thí. Không ai tuyên bố như Đức Giêsu: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40), khi chỉ ra, qua những chữ “nhỏ nhất của Ta đây”, không những người tin vào Đức Kitô, mà là mọi người, như mọi người đều chấp nhận.

Kết quả là Đức Giáo Hoàng, vị đại diện Đức Kitô, thật sự là “cha của các người nghèo”, mục tử của đàn chiên vô cùng lớn lao này. Thật sự người ta phải vui mừng và tạ ơn Thiên Chúa, vì ngày nay, điều đó cũng được thực hiện trên thực tế. Đức Giáo Hoàng là tiếng nói có thẩm quyền nhất đứng lên để bảo vệ họ khắp nơi trên trái đất, là tiếng nói của người không có tiếng nói. Đó là một sự kiện được biết đến bên ngoài Giáo hội, thậm chí bởi những nhân vật của các tôn giáo khác.

Yêu thương, giúp đỡ, Phúc âm hóa người nghèo

Yêu thương người nghèo

Giờ đây chúng ta xem xét vắn tắt điểm cuối cùng, nhưng quan trọng nhất đối với người nghèo: làm sao mối quan tâm của chúng ta đối với họ được thể hiện trong thực tế, làm sao cho sự “ưu tiên lựa chọn người nghèo”, được người ta nói quá nhiều ngày hôm nay, có một nội dung cụ thể, chứ không chỉ thuộc hệ tư tưởng? Quả thực, người nghèo không cần những tình cảm tốt của chúng ta, nhưng cần những hành động. Những tình cảm tốt mà thôi chỉ giúp làm cho lương tâm xấu của chúng ta được yên ổn. Những gì chúng ta phải làm cụ thể cho người nghèo có thể tóm tắt bằng ba chữ: yêu thương, giúp đỡ, Phúc âm hóa.

Yêu thương người nghèo là một trong những nét thông thường nhất của sự thánh thiện Kitô giáo. Đối với một số người, chẳng hạn thánh Vinhsơn Phaolô, thậm chí đó là con đường thánh thiện. Nhờ sự hiệp thông các thánh, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách xin cho chúng ta có được tình yêu này. Một sự nhạy cảm mới đối với họ, yêu mến Đức Kitô nơi họ và yêu thương họ trong Đức Kitô. Chúng ta biết rằng yêu mến Đức Kitô và yêu thương người nghèo đòi hỏi lẫn nhau. Một số người, như Charles de Foucauld, khởi đi từ lòng yêu mến Đức Kitô đến chỗ yêu thương người nghèo. Những người khác, như Simone Weil, từ chỗ yêu thương người nghèo, người ta được dẫn tới tình yêu Đức Kitô[87].

Yêu thương người nghèo có nghĩa là trước hết phải tôn trọng họ và thừa nhận phẩm giá của họ. Nơi họ, chính vì không có những tước hiệu khác và những phân biệt phụ tùy mà phẩm giá căn bản của con người sáng lên bằng một ánh sáng sống động hơn. “Nhãn quan đầy đủ về đời sống con người dưới ánh sáng của Đức Kitô nhìn thấy nơi người nghèo còn hơn là một người túng thiếu, nhìn thấy ở đó một người anh em có một phẩm giá cách mầu nhiệm, đòi phải tôn trọng họ, mau mắn đón nhận họ, có lòng trắc ẩn đối với họ vượt lên trên công trạng”[88].

Phẩm giá của người nghèo phải được tôn trọng trước hết trong Giáo hội, trong các buổi họp và thể chế của chúng ta. Ước gì có một nơi trên trái đất khiến họ có thể cảm thấy như nhà mình, được đón nhận chứ không chỉ được khoan dung. Không may là tránh né bổn phận căn bản này lại quá dễ. Thánh Giacôbê nói với các Kitô hữu đầu tiên: Giả như có người bước vào nơi anh em hội họp, tay đeo nhẫn vàng, áo quần lộng lẫy, đồng thời có một người nghèo ăn mặc bẩn thỉu cũng vào. Nếu anh em nói với người giầu: “Xin mời ông ngồi vào chỗ danh dự này”, rồi vội mang ghế đến cho ông ta, và nói với người nghèo: “Đứng yên đó!” hoặc “Ngồi dưới bệ chân tôi đây này!”, thì không phải anh em đang làm trái với việc Thiên Chúa làm hay sao? Quả thực, Thiên Chúa đã chọn người nghèo trước mặt người đời, cho họ trở nên giầu, còn anh em, ngược lại, anh em khinh rẻ người nghèo và chọn người giầu (x. Gc 2,1-6).

Yêu thương người nghèo có nghĩa là xin họ tha thứ. Tha, vì đã không thể thật lòng và lấy làm vui đi gặp gỡ họ. Tha, vì những khoảng cách dầu sao cũng đã làm ta xa họ. Tha, vì chỉ biết phản xạ tức giận trước bất công. Tha, vì đường lối mị dân đối với họ; vì mỗi người nói ý kiến của mình bằng cách cố hợp pháp hóa lối sống yên tĩnh của mình. Tha, vì luôn dám chắc như đinh đóng cột là không lầm lẫn, trước khi làm một cử chỉ nào đó đối với họ. Tha, vì không nhận ra nơi họ nhà tạm sống động của Đức Kitô nghèo khó và bị khinh rẻ. Tha, vì không thuộc vào nhóm họ.

Tuy vậy người nghèo không chỉ đáng cho ta thương cảm và động lòng trắc ẩn; họ cũng đáng cho ta thán phục. Họ là những nhà vô địch về tình nhân đạo. Mỗi năm, người ta phát giải Nobel, những chiếc cúp, những huy chương vàng, bạc, đồng, để tưởng niệm hoặc cho những người chiến thắng cuộc đua; ngay cả chỉ vì một số người đã có thể chạy trong thời gian ngắn nhất cuộc đua một trăm mét, hai trăm mét, bốn trăm mét, có vượt rào, nhảy cao hơn những người khác một phân, chiến thắng trong cuộc đua maratông hay cuộc đua lượn. Hàng năm, các kỷ lục Guiness kỳ cục nhất, vô ích nhất cứ dài thêm. Nhưng theo chỗ tôi biết, không có phần thưởng nào dành cho người nghèo. Tuy nhiên nếu người ta quan sát thấy họ có khả năng về những cú nhảy chết người nào, về sức chịu đựng nào, về khúc lượn nào, và không phải một lần, nhưng là cả đời, thì những cuộc trình diễn của các vận động viên nổi tiếng nhất cũng chỉ giống như trò trẻ con. Một vận đông viên chạy maratông có là gì so với việc làm của người chạy xe kéo ở Calcutta, suốt đời chạy xe với đường dài tương đương với vòng quanh thế giới nhiều lần, trong cái nóng nung người, kéo một hay hai người khách vạm vỡ, qua những con đường bị tàn phá, đầy ổ gà, lòn giữa một chiếc xe hơi hay một  chiếc khác để khỏi bị lật?

Tôi tự hỏi xem người ta lại không thể lập một giải thưởng dành cho sự nghèo khó, như đã có một giải về hòa bình. Dĩ nhiên, không phải để khuyến khích sống nghèo, hoặc để lập ra những cuộc tranh tài bỉ ổi về sự nghèo khó, nhưng để nhận ra những gì người nghèo có thể làm, dù họ nghèo khó: tính anh hùng ẩn kín của họ, sự nhẫn nại đến khó tin, tình liên đới gây xúc động, minh họa cho thế giới những người nghèo thường bằng một ánh sáng rất thuần khiết về lòng nhân đạo, mặc cho tất cả những khổ cực về vật chất và luân lý trên thế giới này.

Giúp đỡ người nghèo

Sau bổn phận phải yêu thương và tôn trọng người nghèo là bổn phận giúp đỡ họ. Ở đây, thánh Giacôbê một lần nữa lại giúp chúng ta. Theo ngài, ích gì khi tỏ lòng thương xót trước người anh em hay chị em không có quần áo hay thực phẩm, mà chỉ nói: “Anh thật tội nghiệp, thật đau khổ! Hãy đi mặc cho ấm và ăn cho no”, nếu anh không cho họ những thứ thân xác họ đang cần để được ấm, được no? Lòng trắc ẩn giống như đức tin, “không có hành động thì sẽ chết” (x. Gc 2,15-17). Ngày phán xét, Đức Giêsu sẽ không nói: “Ta trần truồng, các người đã thương xót ta”, nhưng “Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc”. Vì vậy, nếu ở ngay giữa Vatican, người ta dành một khoảng trống nhỏ để đón nhận người nghèo và cho họ ăn, cho họ mặc, thì tôi thấy dường như rất đẹp. Đó là một dấu chỉ.

Đừng nên trách Thiên Chúa trước nỗi khổ cực của thế giới, nhưng trách chính chúng ta. Một ngày kia, khi thấy một bé gái run vì lạnh và khóc vì đói, một người tỏ dấu nổi loạn kêu lên: “Thiên Chúa ở đâu? Tại sao Người không làm điều gì đó cho em bé vô tội này?” Nhưng một tiếng nói bên trong trả lời: “Chắc chắn Ta có làm đấy chứ. Ta tạo ra ngươi mà!” Người đó hiểu ngay.

Ngày nay, chỉ bố thí thôi thì không đủ. Do có thể có những phương tiện truyền thông mới, vấn đề nghèo khó mang tính toàn cầu. Khi các Giáo Phụ nói về những người nghèo, các ngài nghĩ đến những người trong thành phố của mình, hoặc bất quá trong thành phố lân cận. Các ngài không biết nhiều chuyện khác, hoặc chỉ biết mơ hồ thôi. Vả lại, cho dù có biết, thì vấn đề giúp đỡ cũng khó khăn hơn, trong một nền kinh tế như kinh tế của các ngài. Cho nên ta hiểu vì sao thánh Gioan Kim Khẩu, từ chỗ tính toán có bao nhiêu người giầu và bao nhiêu người nghèo ở Constantinôpôli vào thời ngài, ngài đã có thể phác họa một chương trình, mà theo ngài, hẳn có thể giải quyết vững chắc vấn đề nghèo khổ, chỉ bằng phương tiện bố thí.

Ngày nay chúng ta biết việc này là không đủ, cho dù chúng ta vẫn phải làm những gì có thể làm trên bình diện cá nhân. Không cầm súng chống lại bất công bằng bạo lực (hẳn là không phù hợp với đường lối của Đức Kitô), gương của nhiều người nam nữ ở thời đại chúng ta, chẳng hạn Dom Helder Camara, cha Pierre, Marcello Candia và biết bao nhiêu người khác, cho thấy có nhiều cách giúp đỡ người nghèo và cổ võ thăng tiến họ, tùy theo cách thức và khả năng riêng của mỗi người. Người ta có thể được kêu gọi chiếu cố đến người nghèo bằng cách sử dụng những vốn liếng văn hóa của mình, óc sáng kiến của mình, uy tín hay quyền lực chính trị mình có. Một cách biểu lộ quan trọng về việc sống cho người nghèo chắc chắn là thần học giải phóng, nở rộ ở Mỹ châu Latinh, mặc dù có những giới hạn kèm theo nó, trong một số trường hợp.

Nói về tiếng “kêu cứu của người nghèo”, trong văn kiện Evangelica testificatio, Đức Phaolô VI ngỏ lời đặc biệt với các tu sĩ: “Tiếng đó đã đưa một số người trong anh chị em đến với người nghèo trong điều kiện sống của họ, chia sẻ những lo âu ám ảnh của họ. Đàng khác, tiếng đó mời gọi nhiều hội dòng chuyển đổi lại một số công việc của họ vì ích lợi của người nghèo[89]”.

Điều cần hôm nay, là làm một cuộc thập tự chinh mới, huy động tất cả Kitô giới, thậm chí tất cả thế giới dân sự, để giải phóng những nhà mồ sống động của Đức Kitô là hàng triệu triệu người đang chết vì đói kém, bệnh tật và thiếu thốn. Đây là một cuộc thập tự chinh xứng với danh hiệu của nó, tức là xứng với thập giá Đức Kitô. Chúng ta phải vui mừng và cảm tạ Thiên Chúa, vì ít nhất đối với một phần nhỏ, cuộc thập tự chinh này đã hoạt động nơi nhiều cá nhân, thể chế, cộng đồng giáo xứ, tu sĩ và những hiệp hội nhân đạo. Đối với người biết nhìn ra, thì ngày hôm nay vẫn còn có một “Phêrô nhà Ẩn sĩ” rảo quanh khắp thế giới, khích động mọi người gia nhập cuộc thập tự chinh này. Đó là Đức Giáo Hoàng.

Loại bỏ hay giảm thiểu hố sâu bất công và gây gương mù ngăn cách người giầu với người nghèo trên thế giới là bổn phận cấp bách nhất và đáng kể nhất mà thiên niên kỷ vừa qua đã phải để lại cho thế kỷ vừa mới bắt đầu.

Phúc âm hóa người nghèo

Cuối cùng, sau yêu thương và giúp đỡ là Phúc âm hóa người nghèo. Đây là sứ mệnh mà Đức Giêsu công nhận như sứ mệnh tuyệt vời của mình (x. Lc 4,18) và Ngài trao phó cho Giáo hội. Chúng ta không được để cho lương tâm xấu đưa chúng ta đến chỗ phạm một bất công lớn, là tước quyền của những người phải là những người trước nhất và tự nhiên nhất được nghe Phúc Âm; cả khi viện dẫn câu châm ngôn “Hơi đâu mà nghe khi bụng đang đói” để có lý do thoái thác.

Đức Giêsu làm cho bánh hóa ra nhiều và cũng gia tăng lời của Ngài, thậm chí phục vụ lời cho họ trước, có khi trong ba ngày liên tiếp, và sau đó Ngài cũng lo cho họ có bánh. Người nghèo không chỉ sống bằng bánh, nhưng còn bằng hy vọng và mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra. Người nghèo có quyền bất khả xâm phạm được nghe Phúc Âm nguyên vẹn, chứ không phải trong ấn bản giản lược, thích nghi và pha chế.

Ngày nay họ cũng có quyền nghe tin vui: “Phúc cho anh em là những người nghèo”. Đúng, dù sao cũng hạnh phúc, vì một “khả thể” bao la, đóng lại cho người giầu hoặc rất khó cho họ, lại mở ra cho anh em: đó là Nước Trời. Chắc chắn, sự gắn bó đức tin vào Phúc Âm, hoặc ít nhất một cuộc sống hài hòa với những lời khuyên của tôn giáo mình hay của lương tâm mình, là cần thiết, để thực tế chiếm hữu Nước Trời đối với người không thể biết Phúc Âm. Nhưng có khả thể này mở ra trước mắt, nếu việc biến nó trở thành hiện thực chỉ tùy thuộc vào bạn, lại không phải là một cơ may và một động lực của hạnh phúc sao? Một triết học nào đó ngày hôm nay có nói: con người không chỉ là những “khả thể”. Nó càng giầu vì những “khả thể” phong phú. Và anh em, những người nghèo, anh em có khả thể bao gồm trong đó mọi khả thể khác. Không có khả thể đó thì những khả thể khác cũng vô ích.

Chúng ta kết luận bằng cách nhớ lại hai câu chính yếu của Thiên Chúa được dùng để hướng dẫn chúng ta. “Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo khó!” Trong Thánh vịnh, lời này được tiếp nối ngay bằng một lời hứa mà phụng vụ dùng làm lời cầu xin “cho Đức Giáo hoàng”: “Xin Chúa bảo vệ và giữ gìn mạng sống ngài, ban cho ngài hạnh phúc trên đời, và đừng trao ngài cho địch thù hung hãn.”

Lời hứa này không chỉ là lời hứa cho Đức Giáo hoàng, mà là cho mỗi mục tử và cho tất cả những ai quyết định quan tâm tới vấn đề của người nghèo. Lời hứa có tính chất trần thế và tạm bợ này, Đức Kitô đã biến thành lời hứa có tính chất thiên quốc và vĩnh cửu, khi Ngài mạc khải những gì Ngài nói vào ngày tận thế với những ai lưu tâm đến người nghèo: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (Mt 25,34).

2. “Người đã trở nên nghèo khó vì anh em”

Sự nghèo khó vật chất,

đề nghị của Phúc Âm để chọn lựa

Cũng về sự nghèo khó, việc đi từ Cựu Ước sang Tân Ước đánh dấu một bước nhảy có phẩm chất. Có thể tổng hợp như sau: Cựu Ước giới thiệu cho chúng ta một Thiên Chúa “cho người nghèo”, Tân Ước giới thiệu cho chúng ta một Thiên Chúa trở nên “nghèo”. Cựu Ước có rất nhiều bản văn nói về một Thiên Chúa “nghe tiếng kẻ nghèo kêu cứu”, “thương xót kẻ yếu đuối và nghèo khó”, “bảo vệ người yếu đuối”, “công bình với người bị áp bức”. Tuy vậy, chỉ Tân Ước nói về một Thiên Chúa trở thành một người trong số họ, đã chọn cho mình sự nghèo khó và yếu đuối: “Người vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em” (2Cr 8,9).

Sự nghèo khó vật chất, vốn là một điều xấu phải tránh, có giá trị như một điều tốt phải vun trồng, một lý tưởng phải theo đuổi. Đó là sự mới mẻ lớn lao mà Đức Kitô mang lại. Cựu Ước biết đến những gì chúng ta gọi là sự nghèo khó vật chất tiêu cực, tức là sự nghèo khó như một sự kiện xã hội phải chống lại hay phải tránh. Hơn nữa, ít nhất từ một thời kỳ nào đó, Cựu Ước biết đến sự nghèo khó tinh thần tích cực, nghĩa là lý tưởng của những người tin tưởng vào một mình Thiên Chúa. Cuối cùng là biết đến sự nghèo khó tinh thần tiêu cực của những người giầu có về vật chất của cải, nhưng nghèo khó về sự khôn ngoan, sự nghèo khó ấy là sự giầu có đích thực. Cựu Ước không biết đến sự nghèo khó vật chất tích cực, nghĩa là sự nghèo khó tự do lựa chọn. Ngay cả sự nghèo khó thịnh hành ở Qumran, trong số những người gọi là đan sĩ Essêni, tự nó không phải là một sự lựa chọn nghèo khó vật chất, nhưng đúng hơn – giống như sự nghèo khó của cộng đồng Giêrusalem tiên khởi – đặt mọi sự làm của chung để không ai trong số họ phải nghèo (x. Dt 15,4; Cv 4,34). Sự nghèo khó đó cũng có lẽ là do mối quan tâm bảo đảm sự trong sạch nghi thức của nhóm áp đặt, khiến họ thấy không cần phải tiếp xúc với bên ngoài, với những người “dơ”.

Bằng cách này, hai thành tố chủ yếu của sự nghèo khó theo Kinh thánh từ đây được xác định rõ ràng: “sống cho người nghèo” và “sống nghèo”. Lịch sử sự nghèo khó Kitô giáo là lịch sử của những thái độ khác nhau trước hai đòi hỏi này. Điều đó phản ánh, chẳng hạn, trong những cách giải thích khác nhau về câu chuyện chàng thanh niên giầu có (x. Mt 10,16 tt). Có khi người ta nhấn mạnh “hãy bán mọi sự”, có khi nhấn mạnh “hãy cho người nghèo”; nghĩa là khi thì nhấn mạnh từ bỏ để theo Đức Kitô một cách triệt để, khi thì nhấn mạnh quan tâm đến người nghèo[90].

Thời Thượng cổ, đối xứng với cách giải thích của phái Encratít (một phái cấp tiến chủ trương chối bỏ hoàn toàn (encrateia) hôn nhân và sự sở hữu) là xu hướng hòa giải của một Clêmentê Alexanđria. Đến lượt tác giả này lại có nguy cơ đi đến chỗ thái quá ngược lại khi quả quyết rằng, điều đáng kể không phải là sự nghèo khó cho bằng việc người ta sử dụng của cải: “Người coi những gì mình sở hữu, vàng bạc, nhà cửa như là những ân huệ của Thiên Chúa, và để vinh danh Người đã ban cho họ những ân huệ đó, họ cộng tác bằng những gì mình có vào việc cứu độ những người khác, thì đó là người được Chúa chúc phúc và có tâm hồn nghèo khó[91].”

Người ta thấy một tổng hợp đầu tiên và một nét quân bình giữa hai trường hợp này trong tư tưởng của những người như thánh Basiliô và thánh Augustinô, và trong kinh nghiệm đan tu được các ngài khởi xướng. Các ngài kết hợp sự nghèo khó cá nhân triệt để nhất với một mối quan tâm tương tự dành cho người nghèo và người bệnh, được cụ thể hóa trong các thể chế sẽ được dùng làm kiểu mẫu cho các hoạt động từ thiện sau này của Giáo hội.

Thời Trung cổ, chúng ta chứng kiến chu trình này được lặp lại trong một bối cảnh khác. Giáo hội, cách riêng các dòng đan tu cũ ở Tây phương, trở nên rất giầu có, từ đây thể hiện sự nghèo khó hầu như chỉ dưới hình thức giúp đỡ người nghèo, khách hành hương, nghĩa là quản lý các thể chế bác ái. Ngược với tình trạng này, từ đầu thiên niên kỷ thứ hai có những phong trào tự nhận là những người nghèo, ưu tiên thực hành hữu hiệu sự nghèo khó, đưa Giáo hội trở về với sự đơn giản và nghèo khó Phúc âm. Như vậy, sự quân bình và tổng hợp được thực hiện lần này do các dòng tu hành khất. Các dòng tu này cố gắng thực hành sự từ bỏ triệt để, đồng thời chăm sóc yêu thương những người nghèo khó, phong cùi, nô lệ, nhất là sống sự nghèo khó trong tình hiệp thông với Giáo hội, chứ không chống lại Giáo hội.

Có lẽ chúng ta có thể thoáng thấy một biện chứng tương tự với thời kỳ hiện đại. Sự bùng nổ của ý thức xã hội và của vấn đề vô sản trong thế kỷ vừa qua đã lại phá vỡ sự quân bình, đưa tới chỗ bỏ qua một bên lý tưởng nghèo khó tự ý, tự chọn và được sống theo gương Đức Kitô, để quan tâm đến vấn đề của người nghèo. Lý tưởng về một Giáo hội “sống cho người nghèo” thắng thế hơn lý tưởng về một Giáo hội nghèo, điều này được diễn tả qua hàng ngàn sáng kiến và thể chế mới mẻ, nhất là trong lãnh vực giáo dục và giúp đỡ những người bị bỏ rơi nhất. Học thuyết xã hội của Giáo hội cũng là kết quả của bầu khí thiêng liêng này.

Chính Công đồng Vaticanô II đã lại đưa lên hàng đầu suy tư về “Giáo hội và sự nghèo khó”, nhất là sau bài phát biểu được nhiều người biết đến của Đức Hông y Lercaro. Chúng ta đọc thấy trong Hiến chế về Giáo hội: “Như Chúa Kitô đã hoàn tất công trình cứu chuộc trong nghèo khó và bách hại, Giáo hội cũng được mời gọi đi cùng đường lối ấy. Như Chúa Kitô được Chúa Cha phái đến để “rao truyền Phúc Âm cho người nghèo, cứu chữa các tâm hồn đau khổ (Lc 4,18), tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư mất (Lc 19, 10), cũng thế, Giáo hội trìu mến và ấp ủ tất cả những ai đau khổ vì sự yếu hèn của con người, nhất là nhận biết nơi những kẻ nghèo khó và đau khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập nghèo khó và khổ đau, ra sức giảm bớt nỗi cơ cực của họ và nhằm phụng sự Chúa Kitô trong họ[92]”.

Trong bản văn này, chúng ta thấy hai khia cạnh liên kết với nhau: sống nghèo và phục vụ người nghèo. Cũng vậy, trong bài huấn giáo ngày thứ Tư hàng tuần của Đức Gioan Phaolô II, tiếp theo Thượng Hội đồng Giám mục về đời sống tu trì, chúng ta thấy nổi bật hai yếu tố đó: “Giáo hội ngày càng cảm nhận được Thần Khí thúc đẩy trở nên nghèo giữa các người nghèo, nhắc nhở mọi người cần phải đồng hình với lý tưởng nghèo khó được Đức Kitô rao giảng và sống, và bắt chước Ngài trong tình yêu chân thành và thực tế đối với người nghèo[93]”.

Tuy nhiên, chúng ta không bảo hai khía cạnh này phải và có thể được mỗi người tín hữu hoặc mỗi loại tín hữu thực hành với một mức độ như nhau. Quả thực cũng phải nhớ đến học thuyết về các đặc sủng và những chức năng khác nhau được chỉ định cho mỗi chi thể của thân thể Đức Kitô. Dường như thánh Phaolô cũng kể vào số các đặc sủng thậm chí việc tự ý từ bỏ của cải cho người khác. Đối với ngài, “cho cách chân thành” là một đặc sủng (x. Rm 12,6 tt), việc “đem hết gia tài mà bố thí”, cũng như nói tiên tri, nói các tiếng lạ, sự hiểu biết, trong cùng bối cảnh, cũng là những đặc sủng (x. 1Cr 13,3). Điều này giúp chúng ta lại thấy phạm trù truyền thống “lời khuyên”, chỉ mình nó, không đủ để cắt nghĩa đề nghị của Phúc Âm về khiết tịnh và nghèo khó như thế nào. Người đã nhận một quà tặng không được tự do đáp lại hay không, không như người đã nhận một “lời khuyên”. Vả lại, đặc sủng không phân chia, không tạo ra những phạm trù ít nhiều hoàn hảo. Không chỉ là một một ưu thế, nó còn tạo ra một trách nhiệm.

Vậy Giáo hội sẽ bày tỏ hơn một Đức Kitô nghèo khó nơi một số chi thể của mình: nói khác đi, Đức Kitô gánh lấy nơi Ngài “các tật nguyền và các bệnh hoạn” của người nghèo (x. Mt 8,13). Sự viên mãn của Thần Khí và các ân huệ của Người là ở nơi Giáo hội, chứ không phải nơi mỗi tín hữu. Tuy vậy, trong sự hiệp thông Giáo hội, sự viên mãn này trở thành sự kiện của mọi người. Quả thực, nếu tôi yêu mến sự hiệp nhất và gắn bó với sự hiệp nhất đó, những gì mỗi người có hay làm trong lãnh vực này, là của tôi,  chính tôi cũng làm. Thật vậy, tôi thuộc về thân thể này, là thân thể nghèo khó và săn sóc những người nghèo khó. Thánh Augustinô nói: “Bạn đừng ghen tương, điều của tôi cũng sẽ là của bạn: vì nếu tôi không ghen tương, điều bạn có cũng sẽ là của tôi[94]”.

Kết quả là chúng ta phải xua đuổi ác tâm và xét đoán, thay thế bằng sự quý trọng và vui mừng về điều tốt mà Thiên Chúa thực hiện qua những người khác. Những ai đang hoạt động cho công bằng xã hội và thăng tiến người nghèo phải vui mừng, vì có những người sống và loan báo Phúc Âm với sự đơn thành và nghèo khó, và ngược lại. Thánh Tông Đồ khuyên nhủ trong một tình huống tương tự: “Chúng ta đừng xét đoán nhau nữa. […] Chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau” (Rm 14,13.19).

Canh tân sự nghèo khó “trong Thần Khí”

Trong chương trước chúng ta đã nói về bổn phận phải sống “cho người nghèo”. Giờ đây chúng ta nói về sự cần thiết phải sống “nghèo”.

Tôi đã nói sự nghèo khó vật chất tích cực tạo nên nét mới mẻ của Phúc Âm. Nhưng phải xác định ngay theo nghĩa nào. Thánh Tôma viết: “Ngay cả lệnh truyền trong Phúc Âm cũng sẽ là chữ chết, nếu ân sủng của đức tin chữa lành không thêm vào đó[95]”. Như vậy ngay cả những mối phúc Tin mừng cũng sẽ là chữ chết, nếu Đức Giêsu chỉ công bố chúng trên núi. Nét mới mẻ lớn nhất không ở trong những gì Đức Giêsu đã truyền hoàn hảo hơn, so với luật cũ, cho bằng ở trong ân sủng mà Ngài ban cho ta, để ta đem ra thực hành. Cũng thánh Tôma kết luận: Luật mới chính yếu là “ân sủng của Chúa Thánh Thần[96]”. Nói khác đi, lời tiên tri Êdêkiel được thực hiện: “Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi. Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (Ed 36,27). Có nghĩa là: Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta trong các ngươi, điều đó sẽ giúp cho các ngươi tuân giữ và thi hành các lề luật của Ta. Các mối phúc, cũng như các lệnh truyền và các lời khuyên Phúc âm cũng là luật mới theo nghĩa chất thể, nghĩa là xét theo nội dung của chúng, trong khi ân sủng của Chúa Thánh Thần là luật mời theo nghĩa mô thức hoặc nguyên nhân, vì cho người ta khả năng thực hành những gì lề luật chỉ rõ.

Kết quả là tất cả những dự phóng hay nỗ lực canh tân sự nghèo khó trong Giáo hội, giống như dự phóng hay nỗ lực canh tân mà Công đồng dự đoán, chỉ có thể được thực hiện “trong Chúa Thánh Thần”. Nhân dịp kỷ niệm bách chu niên lần thứ XVI của Công đồng chung Constantinopôli năm 1981, Đức Gioan Phaolô II viết: “Mọi công trình canh tân của Giáo hội, mà công đồng Vaticanô II đã đề nghị và bắt đầu theo sự quan phòng, chỉ có thể được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là được ánh sáng và sức mạnh của Người giúp đỡ[97]”. Mọi cố gắng không kể gì đến Chúa Thánh Thần đều sẽ thất bại.

Nét khác biệt giữa canh tân “trong lề luật” và canh tân “trong Thần Khí” hệ tại ở điểm nào? Luật thiết định, vì ở ngoài con người, không làm thay đổi trạng thái tâm hồn; bằng chỉ thị, nó không cho con người khả năng thực hiện canh tân. Nói tắt nó không ban sự sống (x. Gl 3,21). Nó thúc giục con người làm hay không làm bằng cưỡng bách, kèm theo đe phạt hay chửi mắng. Nó dựa trên sợ hãi.

Ngược lại, luật bên trong là chính Chúa Thánh Thần (x. Rm 8,2) thay đổi tâm hồn. Nó không phải chỉ là chỉ dẫn của ý muốn, nhưng là một nguyên lý mới năng động và hoạt động. Nó không chỉ truyền làm, nhưng giúp người ta làm. Nó tạo ra một quả tim mới sẵn sàng làm điều Thiên Chúa truyền làm, vì yêu Thiên Chúa và tin tưởng nơi Người. Nó dựa trên tình yêu, và thúc giục hành động bằng cách lôi cuốn.

Tất cả những điều đó có giá trị đặc biệt đối với sự nghèo khó mà Đức Giêsu đã không bao giờ giới thiệu như một “luật”, nhưng như một “lời khuyên”, hoặc đúng hơn, như một “mối phúc”, tức là như một cái gì đó lôi cuốn do lời hứa hạnh phúc. “Quả thực, mỗi người được lôi cuốn bởi đối tượng của sự khao khát[98]”. Chúa Thánh Thần có thể canh tân trong Giáo hội lý tưởng Phúc âm về sự nghèo khó khi phú bẩm cho Giáo hội tình yêu đối với sự nghèo khó này. Nói chính xác hơn: tình yêu của Đức Giêsu đối với sự nghèo khó này. Khi nói về Chúa Thánh Thần, chúng ta thực ra nói về Thần Khí của Đức Giêsu.

Phải xin Thần Khí giúp chúng ta biết yêu mến sự nghèo khó, vì ai say mê sự nghèo khó sẽ tìm ra những con đường và cách thức thực hành. Không có cái đó thì lề luật, giáo luật, quy luật đan viện, hiến pháp có thể phác họa mãi những khung cảnh đẹp nhất và dễ chấp nhận nhất về sự nghèo khó, hết thảy đều là chữ chết. Chúng sẽ chỉ làm nổi bật nét tương phản giữa những gì chúng ta lẽ ra phải là và những gì chúng ta thực sự là. Chính xác đó là những gì thuộc về lề luật trước Đức Kitô (x. Rm 7,7 tt). Lịch sử tu đức Kitô giáo, đặc biệt các dòng tu, còn đó để chứng minh cho ta thấy, bằng cách gia tăng luật, người ta đã không bao giờ canh tân sự nghèo khó trong Giáo hội. Bất quá chỉ có thể hãm bớt một số lạm dụng thấy rõ nhất, hoặc làm chậm lại mức suy giảm của nó. Nói chung, sự nghèo khó thực sự càng suy giảm, thì những luật lệ liên hệ tới nó càng gia tăng. Nhưng chính luật lệ dễ biến đổi sự nghèo khó tinh thần thành nghèo khó vụ luật và giả hình.

Chỉ cần nghĩ tới sự nghèo khó của tu sĩ trong một số giai đoạn đã ra như thế nào, mặc dù người ta gia tăng những khoản luật và quy tắc. Theo những khoản luật và hiến pháp, một tu sĩ trên đường đi đã có thể, thậm chí phải nhận mọi sự từ người ta, vì mọi sự dâng cho ông đương nhiên thuộc về cộng đoàn; nhưng ông không có quyền cho ai một điều gì, ngay cả bố thí cho người nghèo, vì không làm chủ điều gì cả. Một sự nghèo khó chỉ cho phép nhận mà không bao giờ cho phép cho! Theo cùng cách thức ấy, khi người con đã tuyên bố những gì mình có là corban, “lễ phẩm đã dâng cho Thiên Chúa”, thì người biệt phái – chúng ta biết chuyện này qua Đức Giêsu – đã không cho anh ta dùng của đó mà giúp ngay cả cha mẹ mình; họ đã lấy truyền thống hủy bỏ giới răn của Thiên Chúa (x. Mc 7,11 tt).

Có người đã  tóm tắt tinh thần của luật cũ về vấn đề nghèo khó như sau: “quản lý tài khéo tiền bạc, tích lũy vốn khôn ngoan, gửi tiền ngân hàng rất bảo đảm[99]”. Sự nghèo khó cuối cùng chỉ là (phần đông ngày nay vẫn thế) tuỳ thuộc vào các bề trên trong việc sử dụng của cải và tiền bạc. Trước đây và bây giờ vẫn chỉ là một sự nghèo khó cá nhân, theo nghĩa là cá nhân “không có gì riêng”, không phải là một sự nghèo khó cũng mang tính cộng đoàn và tập thể, trong khi ngày nay ai nấy đều nhận rằng “không được phép nói mình nghèo khi thuộc về một cộng đoàn giầu”.

Chỉ những luật lệ thực hiện được cách hà khắc sự nghèo khổ nơi các tu sĩ (chúng tôi phải buồn rầu và bối rối mà nói ra điều này), một cách nghịch lý, lại là những dân luật của Nhà Nước. Một nữ tu truyền giáo nói: “Sau Công đồng, chúng tôi đã tranh luận suốt năm về cách thức canh tân sự nghèo khó của chúng tôi, nhưng không bao giờ kết luận được gì. Chính lúc ấy chế độ mácxít đã ập đến trên đất nước, lấy đi mọi thứ và chỉ mình nó đã làm được điều mà chúng tôi đã không bao giờ có thể làm”. Nhưng rõ ràng đó không phải là sự nghèo khó mà chúng tôi muốn và cần.

Những thời kỳ canh tân đích thực sự nghèo khó trong Giáo hội luôn xẩy ra “trong Thần Khí”, nhờ có sự tiếp xúc đổi mới, mãnh liệt, với con người Đức Giêsu và Phúc Âm của Ngài. Như thể có một ngọn lửa luôn cháy rực xuyên qua lịch sử: Thần Khí Đức Kitô phục sinh. Từ ngọn lửa này, mỗi lần có một tia sáng bắn ra, lại thắp lên lý tưởng nghèo khó trong Giáo hội. Vì vậy, trong vấn đề nghèo khó, cần trở lại định kỳ với nguồn mạch chủ yếu, không dừng lại ở các nguồn trung gian nào, dù được chính Đấng sáng lập khởi đầu. Những nguồn đặc biệt của Tu hội, cho dù phong phú, vẫn không có tính “hằng sống và vĩnh cửu”. Đó là những thực hiện một phần thuộc lịch sử, và như vậy liên kết với một tình hình và một bối cảnh đặc biệt, và như ta biết, bối cảnh văn hóa và kinh tế người ta sống quyết định như thế nào về vấn đề nghèo khó.

Một trường hợp tiêu biểu về những gì chúng ta nói đã được Đức Gioan Phaolô II cảnh báo ở một trong những bài “Huấn giáo thứ Tư” của ngài. Nó liên hệ tới một sự kiện thậm chí đã đặt tên của mình cho một loạt các dòng tu, các dòng hành khất. Ngài nói: “Trước đây, các tu sĩ lựa chọn cách ăn xin, dấu chỉ của sự nghèo khó, khiêm nhường và bác ái đối với người nghèo đói. Ngày nay, chính nhờ lao động của mình mà các tu sĩ tự kiếm cho mình những phương tiện cần thiết để giúp cho việc sinh sống và công trình của mình[100]”.

Chính vì đó là những thực hiện nhất thời mà những hình thức có tính lịch sử, được sự nghèo khó chọn lựa qua dòng thời gian, có nhiều và đa dạng. Có sự nghèo khó của ẩn sĩ, của các ẩn sĩ sống chung (thuộc dạng Pacômô, Basiliô, Biển Đức), của Phan sinh, có sự nghèo khó tông đồ, của giáo sĩ dòng, v.v. Vả lại, cho dù những quy luật nhằm dứt khoát chỉ ra con đường nghèo khó, chúng hầu như chưa làm được gì, vì chỉ mình chúng, chúng không có khả năng mang lại cho người ta sức mạnh giúp đi qua con đường này. Người ta có thể giải thích diễn ý một đoạn trong Phúc Âm Gioan: “Quy luật do các Đấng Sáng lập ban hành, nhưng ân sủng do Đức Giêsu mà có (x. Ga 1,17).

Vai trò đẹp đẽ nhất của các quy luật và các Đấng Sáng lập là quy chiếu chúng ta mỗi lần tới Đức Giêsu Kitô và Phúc Âm của Ngài. Thánh Phanxicô Assisi nói lúc gần chết: “Tôi đã làm tròn nhiệm vụ của tôi, xin Đức Kitô dạy anh em làm tròn nhiệm vụ của anh em[101]”.

Khi dừng lại ở các quy luật, chúng ta biến chúng, không phải thành những con đường giữa ta và Đức Kitô, nhưng thành những tấm chắn, mà chúng ta không biết. Điều này xẩy ra khi người ta bắt đầu nói ngay với những thỉnh sinh, tập sinh và nói chung trong việc đào tạo những người trẻ, về đặc sủng của Đấng Sáng lập, linh đạo của tu hội, khi dành phần lớn thời gian ở nhà tập, những tuần tĩnh tâm, những khóa cập nhật cho việc đó, mà trước tiên không giúp cho họ có một kiến thức chắc chắn về những gì chủ yếu cho mọi người: biết về Đức Kitô, làm quen với lời Chúa và Chúa Thánh Thần.

Vậy hãy trở về với nguồn mạch chính yếu. Thi sĩ Dante nói về Phanxicô và bà Chúa Nghèo: “Đi theo chồng, vợ sẽ hài lòng”[102]. Câu thơ này đúng biết bao, nếu chúng ta hiểu chính Đức Kitô Giêsu là “chồng”, chứ không phải Phanxicô, kẻ bắt chước Ngài. Đi theo Đức Giêsu, cầm tay Ngài, sự nghèo khó cũng được yêu thích, trở nên đẹp đẽ. Đây là cách thức duy nhất nó có, để làm hài lòng và làm cho mình được yêu thích. Thế nên chúng ta hãy đi ngược dòng sông cái nghèo khó, đến tận nguồn, không bao giờ dừng lại ở những dòng thác hay những cống nước trung gian.

Sự nghèo khó trong cuộc đời Đức Giêsu

Về Đức Giêsu, chúng ta đọc thấy Ngài khởi đầu bằng việc làm và giảng dạy (x. Cv 1,1). Ngài làm trước những gì Ngài giảng dạy sau. Vì thế chúng ta xem xét liên tiếp nhau cách Ngài sống nghèo và giáo huấn của Ngài về sự nghèo khó.

Một lần nữa chúng ta sử dụng hai lời như hai chiếc đèn pha soi sáng con đường của chúng ta. Lời dẫn chúng ta đi vào xem xét sự nghèo khó của Đức Kitô thì quá quen biết: “Đức Giêsu, vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có” (2Cr 8,9).  Chắc chắn đây là nói về sự nghèo khó vật chất của Đức Kitô. Ý nghĩa của nó là: Đức Kitô, trong (tình trạng) nghèo khó, làm cho mình thành nghèo khó về vật chất, để làm cho chúng ta giầu có về tinh thần. Thánh Tôma bình giải: “Ngài chịu nghèo khó vật chất, để ban cho ta những của cải tinh thần[103]”. Quả thực, Ngài không đến để làm cho con người được giầu có về của cải trần gian, nhưng cho họ được trở nên con cái Thiên Chúa và thừa hưởng sự sống vĩnh cửu.

Mọi người đều ghi nhận nét song đối giữa bản văn này và thánh thi ca ngợi Đức Kitô trong thư Philipphê, đặc biệt giữa kiểu nói “Ngài trở nên nghèo khó” (eptocheusen)  và kiểu nói: “Ngài hủy mình ra không” (ekenosen). Sự nghèo khó của Đức Kitô rõ ràng là một khía cạnh của kenosis của Ngài, của sự tự hủy trong Nhập Thể. Câu này cũng nhắc nhớ câu Kinh Thánh nói là Đức Kitô “đã được biến thành hiện thân của tội lỗi, để chúng ta được nên công chính” (x. 2Cr 5,21).

Sự nghèo khó của Đức Kitô trước hết có một khía cạnh cụ thể, hiện sinh, đi theo Ngài từ lúc sinh ra tới lúc chết. Chân phước Angêla Folignô đã viết một trang rất sâu sắc về sự nghèo khó của Đấng Cứu Thế: “Sự nghèo khó có ba cấp độ. Cấp thứ nhất về sự nghèo khó hoàn hảo của Đức Kitô là Ngài muốn sống nghèo đối với mọi của cải trên thế giới này. Ngài không muốn mình có một căn nhà, một mảnh đất, một vườn nho, một tài sản nào khác, không muốn vàng bạc. Ngài chịu nghèo khó, đói khát, nóng bức và lạnh giá, mệt nhọc, Ngài làm việc mà thiếu thốn mọi sự. Ngài không có những đồ tinh vi và đắt giá… Cấp nghèo khó thứ hai là Ngài lựa chọn sống nghèo về bà con và bạn hữu…Cấp nghèo khó thứ ba là Ngài muốn lột bỏ chính mình. Ngài muốn trở thành nghèo về chính quyền năng thần linh của mình, về sự khôn ngoan và vinh quang của mình[104]”. Như vậy là nghèo về của cải vật chất, nghèo chỗ nương tựa, nghèo về uy tín.

Cấp độ nghèo khó thứ ba sâu sắc hơn hết, vì đụng chạm tới phạm vi hữu thể, chứ không chỉ phạm vi cái mình có. Đối với Đức Kitô, nghèo ở cấp độ này là ở chỗ làm người, hủy bỏ mình, nếu không hủy bỏ thiên tính thì ít ra hủy bỏ tất cả những gì bản tính này có thể đòi hỏi về vinh quang, giầu có, huy hoàng. Thánh Grêgôriô Nyssê nói: “Có gì nghèo khó đối với Thiên Chúa hơn là thân phân nô lệ ? Có gì khiêm nhường hơn là chia sẻ bản tính của chúng ta?[105]” Nơi Đức Kitô, sự nghèo khó nổi bật dưới hình thức cao cả nhất, không phải hình thức là người nghèo (đây có thể là một tình huống thực tế bị bắt buộc hoặc do thừa kế), nhưng là hình thức làm cho mình trở nên nghèo, và làm như thế vì tình yêu, để làm cho người khác được giầu có.

Tuy vậy, về sự nghèo khó vật chất của Đức Giêsu, có lẽ có những nguồn chung phải điều chỉnh dựa trên một cách xem xét Phúc Âm chăm chú hơn. Cứ như những gì chúng ta biết, do điều kiện xã hội của Ngài, Đức Giêsu không thuộc về tầng lớp vô sản thời ấy, nghĩa là tầng lớp nghèo khổ của xã hội. Ngài là một người thợ thủ công, sinh nhai bằng lao động của mình, một điều kiện chắc chắn tốt hơn điều kiện của một lao động tùy thuộc. Thậm chí trong suốt cuộc đời công khai của Ngài, uy tín của một rabbi mà Ngài có, những lần mời mọc Ngài cũng nhận được từ những người khá giả, những tình bạn Ngài kết thân như với Ladarô và các chị của anh, sự giúp đỡ từ một vài phụ nữ có của (x. Lc 8, 2tt) là những yếu tố không thể cho phép chúng ta coi Ngài như một người nghèo nhất. Người ta hiểu lý do của câu “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58) khi nghĩ tới điều kiện của Ngài là một người đi rao giảng lưu động, không có chỗ cố định, hơn là vì thiếu một mái ấm, cho dù có lúc xẩy ra điều đó.

Về phương diện vật chất đích danh, vào thời kỳ ấy, chắc chắn có những người nghèo hơn Ngài, có cả những đám người mất phần gia tài mà chính Ngài chạnh lòng thương khi thấy họ “lầm than vất vưởng” (Mt 9,36). Ngay cả trong số các môn đệ tương lai, chẳng hạn một số nhà khổ hạnh và ẩn tu trong sa mạc, có những người còn khắc khổ và nghèo khó về vật chất hơn cả Thầy mình.

Điều mập mờ là người ta gán một giá trị thái quá cho những cách biểu lộ bên ngoài và vật chất của sự nghèo khó. Đức Giêsu đã không bao giờ cho mình là nghèo nhất, trong khi ngược lại Ngài làm như thế về đức bác ái khi nói rằng không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (x. Ga 15,13). Ngài cũng được tự do trước sự nghèo khó của mình, như Ngài đã tự do trong việc ăn uống đến nỗi bị coi như một người tham ăn tham uống, một điều không làm Ngài quá bực tức. Về phương diện khổ hạnh, Vị Tiền Hô còn nghiêm nhặt hơn Ngài.

Đức Giêsu không rơi vào bẫy như một số người bắt chước Ngài, tức là tuyệt đối hóa sự nghèo khó vật chất, coi đó là mức độ hoàn thiện, để rồi cuối cùng trở nên giầu có theo cách thức tệ hại nhất: bằng chính mình và sự công chính riêng của mình. Người ta không thể gán một giá trị tuyệt đối cho những sự vật vật chất, một điểm mà người ta không thể vượt qua. Dù muốn nghèo khó, người ta sẽ thấy luôn có người nghèo hơn mình. Sự nghèo khó vật chất không có nền tảng.

Tốt hơn chúng ta hãy nhìn tới những lý do khiến Đức Giêsu nghèo khó, “tại sao” Ngài trở nên nghèo. Những gì thánh Tông Đồ nói ở đầu thư thứ nhất Corintô cho ta thấy ý nghĩa của sự chọn lựa này: “Thật vậy, thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin” (1Cr 1,21). Nghĩa là: vì thế gian đã không nhận biết và tôn vinh Thiên Chúa khi Người tỏ mình ra trong huy hoàng, quyền lực, khôn ngoan và phong phú xuyên qua thụ tạo, thì giờ đây Người quyết định cứu nhân loại sa ngã bằng một phương thế đối nghịch, tức bằng sự nghèo khó, yếu đuối, khiêm nhường và điên rồ. Người quyết định tỏ mình ra “dưới sự đối nghịch của mình” để phủ nhận sự kiêu ngạo và khôn ngoan của con người.

Bằng cách này, những gì bị từ chối không phải là sự tốt đẹp của tạo thành, cũng như những gì tốt tạo nên nó, nghĩa là công trình của Thiên Chúa, nhưng là tội lỗi mà con người thêm vào đó. Như chúng ta nói ngày nay, không phải cấu trúc nhưng là thượng tầng kiến trúc. Trong Nhập Thể, Ngôi Lời không chỉ mặc lấy bản tính nhân loại, để đưa bản tính ấy lên như nó vốn là, nhưng tiên vàn Ngài phản kháng, sửa chữa, dựng lại bản tính này bằng cách mạc khải sự hư hỏng thâm sâu đè nặng bản tính ấy. Bằng cách này, việc khước từ của cải, thân xác, ý muốn, tức là những lời khuyên Phúc âm về sự nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục, được đặt trên một bình diện hoàn toàn mới, khác với bình diện của tất cả vũ trụ tôn giáo và triết học khác dựa trên nền tảng nhị nguyên.

Người ta quy chiếu tới những gì đã xẩy ra lúc Ađam phạm tội, mỗi khi nói về sự tự hủy của Đức Kitô. Quả thực, trái với Ađam, “Đức Giêsu đã không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” (Pl 2,6). Thế nên, con người phải từ bỏ những gì đã cướp đoạt từ Thiên Chúa, từ bỏ chính mình, ý muốn của mình, những của cải mình đã tham lam nhắm tới khi xa rời Thiên Chúa. Bằng cách này, một thứ trở lại với tình trạng nguyên thủy được hiện tại hóa qua sự nghèo khó, tình trạng mà con người không làm chủ gì nhưng được hưởng hết; không có gì riêng, nhưng mọi sự là của mình, vì “tình yêu xã hội” của con người chưa biến đổi thành “tình yêu riêng tư” muốn dành mọi sự cho mình[106].

Ngoài lý do có thể nói là tiêu cực này, lý do Thiên Chúa chọn nghèo khó, cũng thánh Phaolô còn làm rõ một lý do khác, tích cực, là tình yêu: “Người đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được giầu có” (2Cr 8,9). Món quà quý giá đặc biệt khi nó là kết quả của sự tự hủy, khi chịu thiếu thốn điều mình trao tặng. Ngôi Lời đã chịu thiếu thốn cách nào đó về sự phong phú thần linh của mình, để cho chúng ta được chia phần. Sự nghèo khó của Thiên Chúa là một cách diễn tả agape của Ngài, diễn tả hữu thể của Ngài là “tình yêu”. Ý nghĩa sâu xa trong lời của Phaolô được mạc khải qua những gì ngài nói ở chỗ khác: “Đức Kitô đã yêu thương chúng ta và vì chúng ta đã tự nộp mình làm hiến lễ” (Ep 5,2).

Mối dây liên kết mầu nhiệm giữa nghèo khó và tình yêu được làm sáng tỏ trong bài thánh ca Giáng Sinh nổi tiếng nhất bằng tiếng Ý, bài “Ngài từ các vì sao mà đến”, do thánh Anphong Maria Liguori sáng tác:

Hỡi Hài Nhi yêu dấu

Con say mê sự nghèo khó này biết bao

Vì tình yêu còn làm cho Ngài nghèo khó biết mấy.

“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó!”

Từ đời sống qua giáo huấn của Đức Giêsu về sự nghèo khó, chúng ta bắt gặp ngay một đèn pha khác của bài suy niệm này: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em” (Lc 6,20). Chúng ta biết Luca nhấn mạnh sự nghèo khó thật sự hoặc vật chất, hơn là sự nghèo khó tinh thần; tuy vậy sự nghèo khó này vẫn thấy trong Phúc Âm của ngài.

Chúng ta đi thẳng vào sứ điệp của Đức Kitô, vào động lực của mối phúc kỳ diệu này. Động lực này hiển nhiên, được trình bầy rõ ràng: Nước Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói về những người nghèo khó tự nguyện những gì Đức Giêsu nói về các hoạn nhân (x. Mt 19,12): “Có những người nghèo từ khi lọt lòng mẹ, có những người trở nên nghèo vì hành động của con người, có những người tự ý nghèo vì Nước Trời”.

Chúng ta hiểu vì sao lý tưởng nghèo khó vật chất và lý tưởng khiết tịnh hoàn hảo chỉ xuất hiện trong lịch sử cùng với Đức Kitô. Quả thực, chỉ với Đức Kitô mà Nước Trời xuất hiện, một Nước duy nhất biện minh cho những lý tưởng ấy. Ngài đã khai mào một thời kỳ mới, thời của Cứu Chuộc, hoặc thời của “thụ tạo quay về với Thiên Chúa”, sau thời tạo dựng hoặc thời của “thụ tạo rời khỏi Thiên Chúa”. Nước Thiên Chúa tạo ra một thế phải chọn lựa, một khả thế mới trên thế giới: của cải trần gian và chính hôn nhân không còn là  cấp duy nhất, giá trị duy nhất. Từ đây còn một cấp khác tuy không hủy bỏ những cấp trước đây, nhưng tương đối hóa chúng, cho thấy chúng thực sự như chúng là: những thực tại tạm bợ, sẽ biến mất trong thế giới mới. Cùng một sự việc xẩy ra cho ý tưởng về Nhà Nước, trong lãnh vực chính trị. Vương quốc của Cêsar không bị hủy bỏ, nhưng bị tương đối hóa triệt để bởi sự hiện diện đồng thời của Nước Thiên Chúa trong lịch sử. Nó không tuyệt đối trong lãnh vực của nó.

Nhưng chúng ta hãy xem cụ thể động lực này hoạt động như thế nào, tức là tại sao Nước Thiên Chúa biện minh và đòi hỏi sự nghèo khó. Ở đây tôi phải lặp lại một phần những gì tôi đã nói trong một dịp khác, khi bàn về sự đồng trinh. Tất cả có được ý nghĩa do bản chất của vương quốc này, một vương quốc “đã” hiện diện trong thế gian, nhưng “chưa” được thiết lập đầy đủ và vĩnh viễn.

Vì Nước Thiên Chúa đã hiện diện trên trái đất, nơi con người và lời rao giảng của Đức Giêsu, nên không được để nó thoát đi, nhưng nắm giữ lấy nó, vứt bỏ tất cả những gì ngăn cản nó, kể cả tay và mắt, nếu cần (x. Mt 18,8). Nói khác đi, có thể bắt đầu sống ngay từ bây giờ như thể chúng ta sẽ sống trong tình trạng cuối cùng của Nước Thiên Chúa, nơi mà những của cải trần gian không còn giá trị gì, nhưng là nơi Thiên Chúa sẽ là mọi sự nơi mọi người.

Đó là lý do của sự nghèo khó mà chúng ta có thể gọi là cánh chung học, hoặc mang tính tiên tri, vì nó loan báo trời mới đất mới. Sự nghèo khó mang tính tiên tri vì, do không còn màng tới của cải trần thế, người ta công bố cách thầm lặng nhưng hữu hiệu rằng có một của cải khác, người ta nhớ rằng hình bóng của thế gian này đang qua, và ở trần gian này chúng ta không cư ngụ vĩnh viễn, nhưng quê hương của chúng ta ở trên trời. Người ta quả quyết rằng tinh thần có ưu thế hơn vật chất, vô hình hơn hữu hình, vĩnh cửu hơn thời gian.

Minh họa rõ nhất cho lý do này là hai dụ ngôn về kho tàng ẩn giấu và hạt ngọc quý: “Nước Trời giống như chuyện kho báu giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy” (Mt 13,44 tt). Đức Giêsu không nói: “Một người bán tất cả những gì mình có và bắt đầu đi tìm một kho tàng ẩn giấu”. Nếu có người đến nói với ta chuyện đó, ta sẽ nghĩ ngay đây là một trong những người thường xuyên ảo tưởng cứ đến kỳ thì đi tìm một kho tàng ẩn giấu ma quái, để rồi cuối cùng mất những gì mình có mà chẳng tìm thấy gì. Không phải vậy. Đức Giêsu nói người này bán mọi sự, không phải để tìm được một kho tàng, nhưng vì đã tìm thấy nó. Người ta không chọn sự nghèo khó để tìm được Nước Trời, nhưng vì đã tìm thấy nó. Sự nghèo khó không phải là giá phải trả cho Nước Trời; nó không phải là lý do của việc Nước Trời đến, nhưng là hậu quả.

Đức Giêsu đã làm cho biết bao tâm hồn yêu mến sự nghèo khó bằng hai hình ảnh đơn sơ về kho tàng và hạt ngọc. Những hình ảnh này liên tục trở lại trong lịch sử các cuộc hoán cải lớn. Augustinô viết: “Từ đây tôi đã tìm thấy hạt ngọc quý, và phải bán mọi sự tôi có để có được nó[107]”. Đó là những dụ ngôn, một khi được nghe, có quyền năng đặc biệt đặt con người trước “quyết định đúng lúc”, không để nó còn thanh thản trong sự tầm thường của mình. Chúng cho con người thoáng thấy “cuộc trao đổi kỳ diệu”, cơ hội của sự sống. Chúng hấp dẫn người ta. Chúng thực sự hành động “bằng cách lôi cuốn”. Chúng bảo tồn nguyên vẹn sức mạnh của chúng. Điều đó có nghĩa là nếu bây giờ chúng tìm thấy giữa chúng ta một trái tim sẵn sàng để mình bị “cầm giữ” mà không sợ hãi, sẵn sàng cho chúng là quan trọng, như một lời mời được Đức Giêsu gửi riêng cho nó, thì những dụ ngôn đó có thể thực hiện rất tốt ngày hôm nay một trong những cuộc “hoán cải” mà chúng ta đã nói.

Động lực cánh chung học này dựa trên việc Nước Trời đột nhiên ùa đến, hoặc việc chờ mong Đức Kitô sắp trở lại sau Phục Sinh, tiếp tục hành động sau đó, nhưng dưới hình thức hơi khác. Người Kitô hữu không có một nơi cư ngụ vững bền ở trần gian này, họ thuộc về một thành đô khác. Vì vậy còn gắn bó với của cải đời này là vô lý, vì cuối cùng người ta sẽ phải bỏ chúng lại. Từ đây lý do cánh chung học hoạt động dưới hình thức hy vọng những của cải vĩnh cửu.

Trong bối cảnh này, chúng ta thấy lý tưởng ai cũng biết là “trốn khỏi thế gian”, qua đó người Kitô hữu cảm nhận trước cách nào đó việc ra khỏi đời này. Trong chiều hướng này, thánh Bênađô khuyên: “Hãy quyết định gạt sang một bên lòng tham tiền của. Phải khinh chê của cải thế gian, không phải vì nó được ban vì lợi ích của nó, nhưng vì nó gây ra đổ vỡ cho nhiều người. Người mang nặng không dễ chạy. Trái lại người không vướng mắc chạy nhanh hơn và bảo đảm hơn. Một khi không vướng mắc những tài sản trần thế như một hành lý nặng nề, chúng ta được trần trụi chiến đấu với ma quỷ cũng trần trụi. Chúng ta không được có gì có thể làm chậm bước tiến: người nào sẵn sàng chạy tới quê trời phải giũ bỏ tất cả những gì có thể giữ họ lại. Phải chọn sự nghèo khó tinh thần, đến nỗi người muốn sống đạo đức nghĩ rằng thiên nhiên sẽ lo liệu đền bù cho vô số của cải. Đường đi thì vắn, không cần mang theo quá nhiều đồ vật cho cuộc hành trình[108]”.

Đó là những gì liên hệ đến đặc điểm thứ nhất của Nước Trời “đã” đến. Nhưng vì theo một nghĩa khác Nước Trời còn phải đến, đang trên đường đi “đến tận cùng trái đất”, cần có những con người hoàn toàn hiến thân cho Nước Trời đến, không vướng mắc bất cứ dây liên hệ và thỏa hiệp trần thế nào có thể ngăn cản việc loan báo đó. Nếu Phúc Âm phải đi “đến tận cùng trái đất” (x. Cv 1,8), thì những sứ giả của nó, giống như vận đông viên chạy trong thao trường, phải nhẹ nhõm, không vướng mắc, trần trụi, để không kìm hãm việc phổ biến lời Chúa (x. 2Tx 3,1). Động lực thứ hai này, chúng ta có thể gọi là động lực truyền giáo hay tông đồ, được làm sáng tỏ đặc biệt trong diễn từ “sai đi” của Đức Giêsu: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9,3).

Đó là hình thức nghèo khó sẽ tiến triển sau đó trong Giáo hội, cuối cùng kết tinh, với những thích nghi sâu xa, trong những hình thức khác nhau của nghèo khó tu dòng. “Nhóm các môn đệ vây quanh Đức Giêsu có lẽ được đánh giá như tiên mẫu của đời sống theo những lời khuyên Phúc âm trong Giáo hội[109]”.

Mẫu mẫu gương sáng chói của sự nghèo khó tông đồ này, hoặc với mục đích loan báo, là sự nghèo khó chúng ta thấy hồi đầu trong các dòng tu hành khất, nhất là dòng các Anh Em Thuyết Giáo hay Đaminh. Trong cuộc đấu tranh chống lại nhóm Cathari, vào một thời điểm nhất định, người ta thấy rõ những thất bại liên tục của Giáo hội là do sự nghèo khó không dính bén của các nhà giảng thuyết lạc giáo, hiển nhiên tương phản với sự giầu có và trần tục của hàng giáo sĩ Công giáo. Dân chúng coi chứng tá đời sống quan trọng hơn sự chính thống của đạo lý, đôi khi thậm chí ném đá xua đuổi những nhà giảng thuyết nơi họ với những bộ khung giầu có. Chính lúc đó, Thần Khí tạo ra những người như Đôminicô Guzman và Phanxicô Assisi đem lại hiệu quả cho lời loan báo của Giáo hội, bằng cách tái lập lối sống nghèo khó của các Tông đồ.

Chúng ta đã tìm thấy người nghèo thực sự

Giờ đây, trong cố gắng làm rõ những động lực thực sự thúc đẩy sự nghèo khó Phúc âm, điều quan trọng là phải làm một bước về phía trước. Về sự nghèo khó tự ý, chúng ta thấy trong Tân Ước cùng một hiện tượng về sự khiết tịnh vì Nước Trời. Trong bản văn Mt 19, động lực của độc thân là “Nước Thiên Chúa”; trong bản văn 1Cr 7 về các người đồng trinh, động lực đó từ nay là “Chúa”: “Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa. Họ tìm cách làm đẹp lòng Người” (1Cr 7,32). Đó cũng là điều xẩy ra với sự nghèo khó. Việc đề cập Nước Trời ngày càng họa hiếm, nhường chỗ cho con người Đức Kitô. Lý do là vì Đức Giêsu Kitô chết và sống lại từ đây là cách cai trị mới của Thiên Chúa. “Thiên Chúa đã hiển trị nhờ cây gỗ” (Regnavit a ligno Deus), người ta mau chóng nói như thế trong Giáo hội, bằng cách thích nghi câu Thánh vịnh (x, Tv 96,10). Với Đức Kitô, sự nghèo khó cũng là bước lên ngai. “Đến nỗi nơi nào Đức Maria đứng dưới chân thập giá, thì Người cùng khóc với Đức Kitô trên thập giá nơi đó[110]”.

Sự nghèo khó theo Đức Giêsu tới thập giá. Ở đó, Ngài đã thực sự gắn kết với nghèo khó. Kể từ đây, người ta không thể chọn một bên mà bỏ bên kia: không thể chọn Đức Giêsu mà không chọn nghèo khó, cũng không thể chọn nghèo khó mà không chọn Đức Giêsu. Sự nghèo khó đã trở thành một khía cạnh quan trọng trong việc bắt chước Đức Kitô. Nó là thành phần của chương trình có nơi mình cũng những tâm tình có nơi Đức Kitô (x. Pl 2,5). Thánh Augustinô kêu lên: “Chúng ta đã tìm thấy người nghèo thực sự! Đó là người sẽ là chi thể của Người Nghèo này[111]”. Thánh Bênađô dựa vào nguyên tắc thần bí này khi viết: “Chớ gì mọi chi thể phải xấu hổ khi bày ra những bộ điệu dưới một đầu đội mão gai. Họ hãy hiểu rằng mọi duyên dáng không làm cho Ngài vinh dự, nhưng chỉ làm cho Ngài bị chế nhạo[112]”.

Quan sát cuộc đời của những người yêu mến sự nghèo khó nhất trong lịch sử Giáo hội, chúng ta nhận ra ngay ở tâm điểm là tình yêu dành cho Đức Kitô, ước muốn “trần trụi theo một Đức Kitô trần trụi”. Kho tàng ẩn giấu và hạt ngọc quý thường chỉ chính Đức Giêsu, Đấng mà “trong Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết” (Cl 2,3). Vậy không phải là một lý do nữa, dù là Nước Trời, mà chính là một con người. Một sự nghèo khó được Charles de Foucauld sống trước đây không lâu: một sự “thần bí của việc bắt chước Đức Kitô nghèo khó[113]”.

Dưới anh sáng này, chúng ta thấy sự nghèo khó không phải như một nhân đức hay một lời khuyên, một lý tưởng khổ hạnh, thậm chí cũng không phải như một đặc sủng, nhưng như một sự tham dự thâm sâu vào mầu nhiệm con người Đức Kitô, và do đó vào chính Giáo hội, hiền thê của Ngài. Đặc biệt thánh Phaolô làm rõ điều này. Có sự nhấn mạnh khác nhau trong cách thánh Gioan và thánh Phaolô trình bầy cho chúng ta mầu nhiệm Nhập Thể. Gioan làm nổi bật sự kiện, khía cạnh hữu thể học của biến cố: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm”. Thánh Phaolô làm nổi bật cách thức Nhập Thể, khía cạnh hiện sinh của mầu nhiệm: Ngài đã trở nên nghèo khó; đã mặc lấy thân nô lệ”. Theo Phaolô, quan trọng không chỉ là nói Ngôi Lời  đã trở nên người phàm, mà còn là nói Ngài đã trở nên loại người phàm nào: một con người nghèo khó, khiêm nhường, tôi tớ, đau khổ. Hơn nữa, điều này còn dựa trên những dữ kiện Phúc âm. Quả thực, chính những dữ kiện Phúc âm làm chứng Đức Giêsu đã sinh ra nghèo khó, đã sống nghèo khó hơn và đã chết rất nghèo khó.

Các Giáo Phụ thời Thượng cổ quan tâm đưa ra ánh sáng khía cạnh thứ nhất, khía cạnh hữu thể học của Nhập Thể, do văn hóa và những lạc giáo thời đó (thuyết ảo thân, thuyết ngộ đạo) thúc giục các ngài làm như thế. Ngày nay, chúng ta duy trì những gì các ngài đã thủ đắc, nhưng cũng cần làm tăng giá trị viễn tượng của Phaolô. Kitô học của các Giáo Phụ đã được xây dựng hầu như hoàn toàn dựa vào Ga 1,14 (“Ngôi Lời đã trở nên người phàm”). Không có dấu vết những gì, theo Phaolô, có tính quyết định, và theo một nghĩa nào đó tạo nên sự mới mẻ làm đảo lộn nhất của công trình Cứu Chuộc. Theo các Giáo Phụ, câu hỏi thực sự quan trọng được đặt ra về bản tính nhân loại của Đức Kitô, là xem bản tính ấy có đầy đủ hay không đầy đủ, tức là có xác thịt, linh hồn và ý muốn nhân loại hay không. Không phải các ngài không quan tâm đến sự nghèo khó và khiêm nhường của Đức Kitô, nhưng điều đó không nằm trong định nghĩa con người và mầu nhiệm của Ngài, hoặc nếu có thì cũng chỉ ở mức độ yếu. Để sử dụng chính ngôn ngữ của các ngài, chúng ta nói điều đó không chạm tới bản thể hay yếu tính, nhưng chỉ chạm tới những tùy thể, hành động, hiện sinh của Ngài; không phải nền tảng của việc cứu độ, nhưng chỉ diễn tiến của nó. Ngày nay, chúng ta có thể đặt sự nghèo khó không phải ở ngoại vi, nhưng ở chính trọng tâm mầu nhiệm Kitô giáo.

“Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”

Chúng ta đã xác định mục đích là, trong mức độ có thể, làm sáng lên lý tưởng nghèo khó Phúc Âm, tin vào sức hấp dẫn nội tại của nó, vì Đức Kitô, Đấng đã mạc khải nó. Có hai câu chuyện trong Phúc Âm, được kể lại liên tiếp nhau, khuyến khích chúng ta đi vào con đường này: một, tiêu cực, cho ta thấy không đi theo Ngài thì mất gì; và một, tích cực, đi theo Ngài thì được gì.

Anh thanh niên giầu có bỏ đi mà rất buồn. Anh buồn là có lý do. Anh đã được yêu mến, được Đức Giêsu gọi, đã nhận được từ nơi Ngài lời nói và ánh mắt yêu thương: “Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh và đem lòng yêu mến” (Mc 10,21). Sự giầu có đã ngăn cản anh đón nhận cử chỉ của Ngài. Bây giờ hẳn anh sẽ là tông đồ, được gọi bằng tên của mình, cùng với các người khác, được tôn kính, được yêu mến qua dòng thời gian. Nhưng ngược lại, anh biến mất không để lại tên tuổi, trong màn đêm của lịch sử.

Phía bên kia là Phêrô, vui mừng lên tiếng: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”. Đáp lại, Đức Giêsu đã hứa phần thưởng gấp trăm ở đời này và sự sống vĩnh cửu (Mc 10,28 tt). Ai trong số các Tông đồ, vào lúc này, có thể tưởng tượng được lời hứa của Đức Giêsu đúng cho họ đến mức nào, ngay cả ở đời này? Nếu họ đã không bỏ mọi sự mà theo Đức Giêsu, họ sẽ chỉ là những ngư phủ âm thầm ở Galilê, có lẽ không ai còn biết họ có mặt nữa; trong khi đó, giờ đây, thế giới đầy dẫy tên họ. Tôi nhận ra mầu nhiệm này mỗi khi vào trong Vương cung Thánh đường thánh Phêrô ở Rôma, trông thấy người ta xếp hàng để hôn bàn chân bức tượng đồng thánh Tông Đồ.

Thế nhưng điều quan trọng cho chúng ta là biết rằng sự lựa chọn vẫn còn để ngỏ. Đức Giêsu phục sinh và hằng sống đang đi qua và vẫn còn mời gọi. Chính chúng ta phải chọn lựa giữa hai số phận: số phận của anh thanh niên giầu có và số phận của Phêrô. Đúng là chúng ta đang ngồi đây, chúng ta đã chọn lựa. Chúng ta hẳn có thể cùng với Phêrô mà nói: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”. Nhưng chúng ta biết rõ có một mức độ mà sự chọn lựa không được đặt ra, còn phải làm hoặc ít nhất phải làm mới lại. Không nhất thiết phải có một quyết định gây ấn tượng mạnh, như lần đầu tiên, một quyết định làm thay đổi khung cảnh bên ngoài của đời sống chúng ta, cho dù Thiên Chúa có thể đòi hỏi điều đó. (Chỉ mới cách đây vài năm, Ngài đã kêu gọi Đức Liéger, đang là Hồng y Tổng Giám mục, làm nhà truyền giáo thuần túy ở Phi châu). Đúng hơn, đây là cụ thể hóa sự chọn lựa mà có ngày chúng ta đã làm.

Ở đây, diễn từ về lề luật đặt đúng chỗ. Thánh Tồng Đồ hỏi: “Vậy có phải là chúng ta dựa vào đức tin mà hủy bỏ Lề Luật chăng?  Và chính ngài trả lời: “Không phải thế. Trái lại, chúng ta củng cố Lề Luật” (Rm 3,31). Như vậy, có những luật liên hệ đến sự nghèo khó. Chúng không bị chối bỏ do người ta nhấn mạnh sự canh tân “nhờ Thần Khí”, nhưng chúng nhận được một nền tảng mới và một chức năng cao thượng hơn. Không phải chức năng làm sáng tỏ tội lỗi (x. Rm 7,7), nhưng chức năng mạc khải ý muốn và dự định của Thiên Chúa trên tôi; chức năng phục vụ ân sủng chứ không phải thế phẩm vô bổ của nó.

Giả sử chúng ta, được Thần Khí thúc đẩy, say mê sự nghèo khó Phúc âm, và chúng ta quyết định gắn bó với nó bằng một đà tiến mới. Tuy vậy, chúng ta không biết chính xác những gì sự chọn lựa này đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta, một cách cụ thể, vào lúc này. Hơn nữa sống trong cộng đoàn, chúng ta không thể từng người sáng kiến một hình thức nghèo khó để thực hiện và có ích cho cá nhân. Này đây, lề luật giúp chúng ta, nghĩa là cụ thể những khoản giáo luật, nếu tôi là giáo sĩ triều, và Quy luật, Hiến pháp, gương của Đấng Sáng lập, nếu tôi là một tu sĩ. Chúng giúp tôi đưa ra thực hành chọn lựa của con tim, những gì Thiên Chúa muốn nơi tôi, trong tình trạng cụ thể của tôi, về sự khó nghèo.

Khác biệt là giờ đây tôi được lôi kéo chứ không bị bó buộc. Tôi không còn thấy những quy luật, giáo luật, những lời nhắc nhở của Công đồng, của Đức Giáo hoàng, của Thượng Hội đồng Giám mục về đời sống tu trì, như là những áp đặt bên ngoài. Tôi thấy tất cả những cái đó như những giúp đỡ quý giá, để không đánh mất kho tàng mà tôi đã thoáng thấy, hạt ngọc quý. Vì vậy, tôi sẽ đọc, sẽ quan tâm, sẽ cố nhìn lại đời sống tôi dựa vào ánh sáng của chúng. Chính xác đó là điều xẩy ra thực tế trong các cộng đoàn, nơi lòng yêu mến sự nghèo khó đang sống động, trong khi trong những cộng đoàn khác, người ta phí sức vào những tranh luận vô bổ, hết tài liệu này đến tài liệu khác. Trong những cộng đoàn trước, người ta tự tra vấn theo định kỳ về phương cách tốt nhất để vun trồng sự nghèo khó; người ta kiểm điểm đời sống về vấn đề này.

Còn hơn thế nữa. Giả sử một người trẻ quyết định nghe lời đề nghị của Đức Giêsu, bán mọi sự và theo Ngài. Đây là lúc biểu hiện một ơn gọi, xét nhiều mặt, giống với lúc người ta bắt đầu yêu. Nhưng một người trẻ đang thật sự yêu phải làm gì? Anh biết rằng, vì mình hay thay đổi, ngày mai anh sẽ có thể thay đổi ý kiến, và như vậy đánh mất những gì hôm nay anh rõ ràng coi là điều tốt tối thượng của đời anh. Khi đó, anh đang trong tình trạng may mắn là yêu, nên anh tự ràng buộc mình. Anh biến tình yêu tự do và bộc phát thành một luật, để tình yêu này có thể kéo dài mãi mãi. Luật này, đối với người đang yêu bằng tình yêu của con người, chính là hôn nhân bất khả đoạn tiêu dược ký kết trước mặt Thiên Chúa và con người; đối với người được tình yêu Thiên Chúa thúc đẩy, chính là lời khấn dòng. Trong trường hợp đang bàn, là lời khấn nghèo khó. Đây là một hình thức dấn thân, vì một khi đã tuyên, lời khấn cột chặt ta mãi mãi. Tuy vậy, đây là “một ách êm ái và một gánh nhẹ nhàng”, vì bảo vệ sự chọn lựa của lòng ta. Như vậy, ít nhất nó sẽ phải là như thế và còn là như thế đối với nhiều người.

Vào cuối bài suy niệm, tôi không nói nhiều về cách thực hành, gợi ra những đường lối và những cách thực hành khác nhau về sự nghèo khó vật chất. Quả thực, những đường lối cụ thể thì vô hạn, khác nhau tùy theo bậc sống và lời tuyên của mỗi người; vạch ra một toàn bộ những quy tắc có giá trị cho mọi người thậm chí còn nguy hiểm là khác. Những quy tắc và chỉ dẫn thực hành đã có rồi, như tôi đã nói: chúng là những gì mà mỗi người chúng ta đã nhận với lời tuyên của mình. Từng người, trong kinh nguyện và sự phân định của cha linh hướng, hoặc của các bề trên, có thể dễ dàng khám phá ra những gì Thần Khí đòi hỏi trong cụ thể.

Với người này chẳng hạn, tôi biết Chúa đòi anh phải thỉnh thoảng từ bỏ những cái không hoàn toàn cần thiết mà lòng anh còn chút vương vấn; điều này giống như một phương tiện giữ cho quyết định của anh được sống động và tâm hồn anh được tự do. Với người khác, trước mọi quyết định hơi quan trọng về vật chất (chuyện mua sắm, du lịch, chọn nhãn hiệu xe hơi, quần áo, đồ đạc sử dụng), Người gợi ý cần xin phép không những bề trên, nếu anh sống trong một cộng đoàn, mà còn xin phép Đức Giêsu trong kinh nguyện. Đôi khi Đức Giêsu có thể đòi hỏi những gì mà bề trên nhân loại có lẽ không dám đòi. Chúng ta hẳn không nên vào số những người nghèo, như thánh Bênađô nói, là họ muốn nghèo, miễn là họ không thiếu gì.

Trong một bối cảnh xã hội đặt nặng vấn đề tiêu thụ, một lời Kinh Thánh cần thiết cho ngày hôm nay, khi nói về nghèo khó: sự tiết độ. Đây là một trong những từ thường đi đôi với tỉnh thức, năng gặp trong Tân Ước. Nó chỉ ra khả năng điều độ, dùng của cải cách khôn ngoan, sử dụng nó nhưng không làm tôi cho nó. Đó là một giá trị Kinh thánh có thể áp dụng rất thực tế cho ngày hôm nay.

Đối với chúng ta là những tu sĩ, đặc biệt quan trọng là biết nguy cơ cho sự nghèo khó của chúng ta, do chúng ta không có con cái. Đối với cha mẹ, con cái là một động lực thường xuyên khiến cha mẹ phải thiếu thốn, từ bỏ, dành dụm. Theo một nghĩa nào đó là phải nghèo khó. Có biết bao nhiêu sự mà một người cha hay một người mẹ phải từ bỏ vì con cái, thậm chí không nghĩ tới điều đó, để giúp cho chúng có thể sống một ngày mai tốt đẹp hơn ngày mà chính họ đã sống. Trước khi chi phí cho một việc không hoàn toàn cần thiết cho chính họ, họ nhìn vào đó nhiều lần. Không có nhân tố “tự nhiên” mạnh mẽ này, ngay cả không phải bận tâm về tuổi già của chúng ta, có đàng sau ta cả một cộng đoàn, chúng ta dễ bị cám dỗ cung ứng cho mình nhiều đồ vật mà phần lớn người ta phải chịu thiếu thốn. Cha mẹ đối con cái thế nào thì chúng ta cũng phải có như vậy đối với những người nghèo khó, túng đói ở các nơi truyền giáo: lý do gần khiến chúng ta từ bỏ, một lời nhắc nhớ liên tục những đòi hỏi nghèo khó của chúng ta.

Như tôi đã nói ở trên, những tia sáng định kỳ nhen nhúm lý tưởng nghèo khó trong Giáo hội phát xuất từ Thần Khí Đức Giêsu hằng sống trong Giáo hội. Cả ngày nay nữa, chúng ta đang chứng kiến sự nhen nhúm này, đây đó xuyên qua Giáo hội, của một vài gia đình sống nghèo. Đôi khi đó là những cộng đồng tu sĩ thuộc những tổ chức mới đây hoặc được canh tân, nơi mà tình yêu đối với sự nghèo khó và đối với người nghèo đi đôi với nhau, nuôi dưỡng nhau.. Đôi khi đó là những cộng đồng thuộc loại mới, nơi những người thánh hiến và những người có gia đình sống chung với nhau, chọn lựa sống nghèo cách vui vẻ và huynh đệ, hướng mọi sự tới việc loan báo Nước Thiên Chúa, và là nơi mọi tài nguyên có sẵn được sử dụng cho việc Phúc âm hóa và hoạt động thiêng liêng. Có lần ngồi chung bàn ăn với một trong những cộng đồng này, nhìn thấy bữa ăn đạm bạc và niềm vui trên những khuôn mặt, tôi thấy rõ một bầu khí đã bao trùm chung quanh thánh Phanxicô Assisi và các bạn đồng hành đầu tiên của ngài. Đó cũng là những gia đình thuần túy, khi chọn Đức Giêsu làm Chúa, đã quyết định chấp nhận một lối sống đơn giản và nghèo khó, từ chối mọi sự khác để hy sinh cho công việc và nghiệp vụ. Đây là những mầm nhỏ chớm mọc trên thân cây nghèo khó lâu đời trong Giáo hội, tiên báo một “mùa xuân mới” cũng trong lãnh vực này.

Tôi dùng lời của Đức Phaolô VI trong chúc thư thiêng liêng của ngài để kết thúc. Ngài viết: “Tôi sẽ nói gì cho Giáo hội  mà tôi mắc nợ mọi sự? Nguyện xin phúc lành của Thiên Chúa xuống trên Giáo hội. Xin cho Giáo hội ý thức những nhu cầu thực sự và sâu xa của nhân loại. Xin cho Giáo hội tiến về Đức Kitô trong tư thế nghèo khó, nghĩa là mạnh mẽ và yêu mến[114]”.

3. “Anh em không thể làm tôi Thiên Chúa và Mammon được”

Sự nghèo khó tinh thần phải chống lại

Trình thuật về việc Đức Giêsu sinh ra cho chúng ta thoáng thấy hai thế giới rõ ràng đối nghịch nhau, tượng trưng một bên bằng một quán trọ, và bên kia bằng một chuồng chiên nơi Ngài sinh ra. Trong thế giới trước, tất cả là ánh sáng, tiện nghi, linh hoạt: người ta ăn uống và vui vẻ. Người giầu có ra vào, y phục lộng lẫy, với những ví nặng đầy tiền ở đai lưng, với thú vật để cỡi đi theo. Trong thế giới sau thì ngược lại, tất cả là nghèo khó, tối tăm lạnh lẽo và phiền toái. Môt phụ nữ trẻ, có chồng yên lặng cùng đi, với con đầu lòng sắp sinh, buộc phải chia sẻ với súc vật “bàn ăn, phòng ở và giường nằm”.

Giờ đây chúng ta hãy nhìn cùng một cảnh tượng với những con mắt khác. Đâu là của cải lớn nhất, kho tàng lớn nhất: trong quán trọ hay trong chuồng chiên? Và những người “đã có chỗ” trong quán trọ, bây giờ đang ở đâu? Có ai nhớ đến họ? Họ bị quên lãng hoàn toàn, như thể đã không bao giờ có mặt. Trái lại, Maria, Giuse và Đức Giêsu vừa chào đời trong những hoàn cảnh này, biểu thị gì cho tất cả nhân loại ngày hôm nay? Hoàn toàn đảo ngược!

Hiện tại, chúng ta biết Đức Giêsu luôn lại đến trong thế gian. Giáng Sinh không chỉ là một kỷ niệm. Giáng Sinh cũng là một mầu nhiệm. Vào ngày Giáng Sinh có điều gì đó xẩy ra mỗi năm, chứ không chỉ là cử hành. Cả ngày hôm nay, Đức Giêsu khi đến giữa ta, tìm thấy, hoặc đúng hơn, tạo ra sự tương phản này. Sự hiện diện thuần túy của Ngài mạc khải hai thế giới khác nhau. Và chúng ta được mời gọi xác định tư thế, quyết định muốn thuộc về thế giới nào, không chỉ xét theo luật mà còn xét theo thực tế.

Trong hai bài suy niệm cuối cùng này, chúng ta muốn xem xét liên tiếp nhau hai thế giới: thế giới những người giầu có, quyền lực, no thỏa, và thế giới những người khiêm nhường, nghèo khó, với Đức Maria, thánh Giuse và nhất là Đức Giêsu, làm mẫu mực. Thế giới trước, để giúp chúng ta tách biệt với nó, ra khỏi nó, và giúp người khác làm như vậy; thế giới sau, để giúp chúng ta say mê nó, đi vào trong đó, làm thành phần trong đó, với lòng hăng say đổi mới.

Trong bài suy niệm này, chúng ta bàn về điều chúng ta gọi là sự nghèo khó tinh thần xấu – sự nghèo khó của những người giầu có – ; trong bài sau là về sự nghèo khó tinh thần tốt – sự giầu có của những người nghèo khó. Trong trường hợp trước, kiểu nói “nghèo khó tinh thần” có một giá trị khách quan, có nghĩa là thực sự thiếu những thiện ích của tâm trí; trong trường hợp sau, cũng kiểu nói đó có một giá trị chủ quan và chỉ tình trạng tâm hồn của người biết mình bị tước mất những tài nguyên riêng và vì thế phó thác nơi Thiên Chúa. Như thánh Phanxicô nói, nếu sự nghèo khó tốt hệ tại ở “nghèo về của cải và giầu về nhân đức[115]”, thì trái lại, sự nghèo khó xấu hệ tại ở giầu về của cải và nghèo về nhân đức.

Do đối tượng của nó tiêu cực, đây sẽ không phải là một bài suy niệm quá hấp dẫn và dễ chịu. Nhưng một phần rất đặc biệt của Phúc Âm ở trong cuộc, thì sẽ là nguy hiểm nếu cứ luôn cho qua mà không nói về nó, nếu không muốn phạm lỗi thuần hóa hay làm suy yếu Phúc Âm.

Ngươi nghèo khổ!

Theo đề nghị của tôi lúc đầu, trước hết chúng ta hãy nghe lời Thiên Chúa nói về sự nghèo khó tinh thần xấu. Phải nghe lời Chúa để không lạc vào những biện luận vô ích của con người. Trong Tân Ước, ít nhất có một bản văn cho thấy chữ nghèo khó chắc chắn có nghĩa tiêu cực mà chúng ta đã xác định rõ. Đấng Phục Sinh nói với Giáo hội Laođikia: “Ngươi nói: Tôi giầu có, tôi đã làm giầu, tôi chẳng thiếu thốn chi; nhưng ngươi không biết rằng ngươi là kẻ khốn nạn, đáng thương, nghèo khổ” (Kh 3,17). Đấng Phục Sinh vừa nói với Giáo hội Smyrna: “Ta biết nỗi gian truân và cảnh nghèo khó của ngươi, nhưng thực ra ngươi giầu có” (Kh 2,9).

Trong sự đối kháng này, chúng ta thấy tóm tắt và áp dụng cho Giáo hội tất cả giáo huấn của Phúc Âm về sự giầu có và nghèo khó. Có một sự giầu có của con người kinh khủng trước mắt Thiên Chúa, và vice versa (ngược lại), có một sự nghèo khó của con người là sự giầu có lớn lao đối với Thiên Chúa. Quả thực “Người giầu có điều gì nếu nó không có Thiên Chúa? Và người nghèo không có điều gì nếu nó có Thiên Chúa?[116]

Xuyên qua Phúc Âm, ta thấy có một vài thời điểm mạnh Đức Giêsu tố giác điều Ngài gọi là: thu tích của cải cho mình thay vì lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa (x. Lc 12,21). Nhưng tiên vàn là một nhận xét sơ khởi, cần thiết để tránh những hàm hồ có thể có. Phúc Âm không bao giờ kết án sự giầu có và những của cải trần thế vì chính chúng. Trong số bạn hữu của Ngài, ta cũng thấy có Giuse Arimathia “một người giầu” (Mt 27,57); Dakêu được tuyên bố là “được cứu độ” mặc dù ông giữ lại cho mình nửa phần gia tài, một con số đáng kể (Lc 19,9). Điều Ngài kết án, chính là sự gắn bó với tiền bạc và của cải, đặt tin tưởng vào chúng, “đặt mạng sống của mình tùy thuộc vào chúng” (x. Lc 12,15). Sự giầu có này lần lượt được định nghĩa là “bất chính” (Lc 16,9), “ngốc” (Lc 12,20), “sự ngăn cản”, là đối tượng của mối họa “khốn cho” đáng sợ (x. Lc 6,24).

Lưu ý hai động lực của lời tố giác này của Phúc Âm về sự giầu có: một động lực khôn ngoan và một động lực khởi giảng hay cánh chung. Động lực thứ nhất dựa trên sự kiện là sống mà chỉ lo thu tích của cải là điên rồ, khi biết mạng sống mình có thể bị lấy đi bất cứ lúc nào mà không biết của cải đó về tay ai: “Đồ ngốc, nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? (Lc 12,20).

Động lực này là truyền thống vì đã có trong các sách Khôn ngoan của Cựu Ước: “Khi (người giầu) nói: ‘Tôi đã tìm được an nhàn. Của tôi làm ra, bây giờ tôi hưởng. Nó đâu biết thời gian mình sống còn bao lâu, nó sẽ bỏ lại của cải cho người khác và sẽ chết” (Hc 11,18 tt; cũng x. Tv 49,17 tt). Một Thánh vịnh nói: “Đừng sợ chi khi có kẻ phát tài, vì khi chết nó đâu mang được cả (..) Dù sống trong danh vọng, con người cũng không hiểu biết gì; thật nó chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49,17 tt).

Trái lại, động lực cánh chung học tuyệt đối mới mẻ, do việc Nước Trời đến. Chính nơi đây mà sự giầu có mạc khải tất cả nguy hiểm bi đát của nó. Nó làm “khó” cho việc vào Nước Trời; còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim.

Chúng ta có thể đánh giá trong tất cả sự quan trọng của nó bản chất của sự giầu có-nghèo khó này, bằng cách xem xét hai quan điểm khác nhau nhưng bổ túc cho nhau: quan điểm hữu thể học và quan điểm lịch sử, nghĩa là trong tương quan với bản thể và trong tương quan với thời gian.

Trước hết trong tương quan với bản thể, nghĩa là với thực tại của cải trần gian và giá trị nội tại của nó. Pascal đã đặt ra nguyên lý nổi tiếng về ba cấp độ cao cả mà con người có thể nhận ra chính mình: cấp độ thể chất của thân xác, cấp độ trí thức của trí khôn và thiên tài, và cấp độ siêu nhiên của sự thánh thiện và ân sủng. Một vực thẳm chia cách giữa các cấp độ khác nhau này, cũng như trong thiên nhiên một vực thẳm chia cách ba loại khoáng sản, thực vật và động vật. Sự giầu có vật chất không thêm hay lấy đi điều gì nơi thiên tài, là người sinh hoạt trên một bình diện khác. Sự lớn lao về của cải vật chất cũng như trí thức không thêm hay lấy đi điều gì nơi vị thánh, là người thuộc về một cấp độ lớn khác, có Thiên Chúa làm chứng chứ không phải con mắt người phàm hay những tâm trí tò mò. Ông kết luận: “Một số người chỉ biết thán phục những sự cao cả về thân xác, như thể không có những sự cao cả về trí khôn; những người khác lại chỉ thán phục những sự cao cả về trí thức, như thể, trong lãnh vực khôn ngoan, không có những sự cao cả cao hơn đến vô tận[117]”.

Giầu có trong một cấp độ nghèo khó! Dựa vào cách phân loại này, chúng ta có thể định nghĩa người đặt tất cả vinh dự của mình nơi của cải vật chất là như thế. Người giầu có ảo tưởng mình ở trên đỉnh nấc thang cao cả, và không biết rằng ở trên mình có những thế giới mình không biết đến, hơi giống như người sống trong chuồng ngựa của một lâu đài không biết những gì ở tầng cao hơn, không biết ngay cả sự hiện hữu của những tầng ấy.

Người ta hẳn có thể tự hỏi chúng ta thiết lập thứ tự giá trị này khởi sự từ đâu, và câu trả lời thực đơn giản. Tự bản chất, những của cải vật chất là ích kỷ, riêng tư. Chúng không bao giờ làm cho một người giầu có, mà không đồng thời không làm cho những người khác nghèo khó. Những gì chúng ta tiêu thụ hôm nay cách vô ý thức bị trừ đi cho các thế hệ tương lai. Chúng không thể được chia sẻ cho người khác, nếu không có cách nào đó tước đoạt người sở hữu chúng. Theo nghĩa này, Đức Giêsu có lý để gọi là “bất công” thứ giầu có đó, mà Ngài gọi là Mammon (Lc 16,9). Nó luôn tạo ra một tình trạng bất bình đẳng, là nguồn sinh ra ghen tuông, ganh ghét, chia rẽ không chấm dứt. Thế nên, “bất công” không chỉ vì nó là kết quả của sự bất công, mà còn là lý do của sự bất công nữa.

Những thiện ích của trí khôn (nghệ thuật, tư tưởng, phát minh) mới đi được nửa đường. Chúng có thể làm giầu cho người khác, nếu tôi muốn, nhưng chúng có thể không làm giầu, thậm chí còn làm hại, cho người khác, nếu tôi sử dụng chúng không tốt, hoàn toàn cho lợi ích của tôi (Biết bao nhiêu phát minh khoa học được sử dụng cho chiến tranh hoặc để thao tác sự sống!). Ngược lại, những thiện ích thiêng liêng, do chính bản chất của chúng, luôn luôn có thể chuyển đạt, truyền thông cho người khác. Chúng không bao giờ làm giầu cho một người mà không đồng thời làm giầu cho mọi người. Chúng không phân rẽ, nhưng nối kết. Nếu tôi làm cho tôi phong phú bằng đức tin, đức cậy, đức mến, bằng Đức Giêsu Kitô, bằng ân sủng (tất cả những gì được Kinh Thánh gọi là những của cải đích thực, như ta sẽ thấy), không những tôi không lấy đi của người nào một sự gì, mà nếu là về những thiện ích tuyệt đối của con người, chúng còn làm cho cả nhân loại tăng trưởng[118].

Điều này cho thấy vì sao Đức Giêsu, theo một nghĩa nào đó, đã phải trở nên nghèo khó để làm cho chúng ta nên giầu có (x. 2Cr 8,9), và tại sao Phaolô có thể nói rằng: “coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao nhiêu người trở nên giầu có” (2Cr 6,10). Chính khi làm cho mình thành nghèo khó về vật chất mà những người khác được giầu có về thiêng liêng. Đây là một thứ luật.

Thứ hai là tương quan với thời gian. Theo quan điểm này, không nên nói về “giầu có trong một trật tự nghèo khó” cho bằng về “giầu có trong thời gian và nghèo khó trong vĩnh cửu”. Quả thực, những sự vật hữu hình chỉ có một thời gian, còn những sự vật vô hình thì vĩnh cửu (2Cr 4,18). Chúng ta đụng tới điểm dễ chạm nọc. Mọi suy nghĩ về sự giầu có và sự nghèo khó đứng vững hoặc sụp đổ với ý tưởng về vĩnh cửu. Không có vĩnh cửu, thực khó mà thoát khỏi kết luận này: “Chúng ta cứ ăn uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết” (Is 22,13; 1Cr 15,32). Chính vì thế, tôi cho rằng không có một từ nào cấp bách hơn để làm sống lại và cho thấy lại dấu hiệu của sự sống hơn là từ vĩnh cửu.

Dưới ánh sáng của vĩnh vửu, chúng ta thấy người giầu như một người ăn xin, một đêm kia, có một giấc mơ rất đẹp. Anh mơ có được một di sản rất lớn. Trong giấc ngủ, anh thấy mình vận y phục lộng lẫy, chung quanh đầy vàng bạc, làm chủ nhiều cánh đồng và vườn nho; trong lúc kiêu căng, anh khinh dể cha mình, vờ như không nhận ra ông. Nhưng rồi sáng hôm sau thức dậy, anh thấy mình tay không[119]. Cũng xẩy ra như vậy đối với người giầu, khi ông thức dậy trong đời sống vĩnh cửu. Còn kém hơn một giấc mơ nữa.

Tôn thờ tiền bạc, cội rễ sinh ra mọi điều ác

Lời Chúa còn đưa chúng ta đi xa hơn trong sự tố giác thái độ quá dính bén với tiền bạc. Kinh Thánh nói đó là thờ ngẫu tượng: “tham lam cũng là thờ ngẫu tượng” (Cl 3,5; Ep 5,5). Mammon, tiền bạc không phải là một ngẫu tượng trong số nhiều ngẫu tượng khác. Nó là thần tượng theo phép hoán xưng. Xét từng chữ, nó là thần đúc bằng kim loại (x. Xh 34,17). Và người ta hiểu vì sao. Ai, xét khách quan, nếu không là chủ quan (tức là trong hành vi, nếu không là trong ý định) là kẻ thù thực sự, người cạnh tranh với Thiên Chúa trong thế gian này? Satan chăng? Nhưng không một ai quyết định phục vụ Satan mà không có lý do. Ai làm điều đó, là làm vì tin sẽ mang lại một lợi lộc trần gian nào đó. Người chủ khác này là gì, phản thần chăng? Đức Giêsu nói rõ: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24).

Mammon là phản thần, vì tạo ra một loại thế giới luân phiên, thay đổi đối tượng của các thần đức. Tin, cậy, mến không còn được đặt nơi Thiên Chúa, nhưng nơi tiền bạc. Khi đó người ta chứng kiến một sự đảo ngược tai hại của tất cả các giá trị. Kinh Thánh nói: “Không gì là không có thể với Thiên Chúa”“Mọi sự đều có thể cho người tin”. Nhưng thế gian nói: “Mọi sụ đều có thể cho người có tiền”. Ở một mức độ nào đó, mọi sự dường như cho thấy nó có lý.

Karl Marx, người đã có một trong những phân tích sâu sắc nhất về tiền bạc, đã nói về “sự toàn năng làm tha hóa của thần tài”. Ông viết: “Tiền bạc có đặc tính là có thể mua được mọi sự, chiếm đoạt mọi vật, nên là đối tượng theo nghĩa trổi vượt. Sự phổ quát của đặc tính này tạo nên sự toàn năng của hữu thể của nó…Do tiền bạc, những gì thuộc quyền sử dụng của tôi, những gì tôi có thể trả, đó là cái mà tôi là. Quyền lực của tiền bạc càng lớn, quyền lực của tôi cũng lớn theo. Cái mà tôi là và có thể, thực ra không được xác định bởi cá thể của tôi. Tôi xấu dáng, nhưng có thể mua được người phụ nữ đẹp nhất. Vậy là tôi không xấu dáng… Nhìn với tư cách cá nhân, tôi bị què, nhưng tiền có thể kiếm cho tôi hai mươi bốn cái chân[120]”. (Câu này ám chỉ lời đối đáp của Méphistophélès, trong tác phẩm Faust của Goethe: “Nếu tôi có thể bỏ tiền ra để có được sáu con ngựa giống, sức mạnh của chúng lại không phải là của tôi sao? Tôi cỡi lên chúng và hoàn toàn thoải mái, như thể tôi có hai mươi bốn cái chân”)

Nhưng lời phê bình của Marx, dù sâu sắc, vẫn vô bổ. Nó không thể thay đổi sự việc. Nếu nhu cầu duy nhất của con người là nhu cầu kinh tế, làm thế nào để chứng minh rằng quyền lực của tiền bạc là một quyền lực làm tha hóa và phi nhân, trong lúc người ta dùng nó cách tuyệt vời để làm thỏa mãn những nhu cầu đó, như chính tác giả thừa nhận? Đi từ nền tảng này, người ta không vượt quá những lời chửi rủa ghét cay ghét đắng vẫn có về tiền bạc, mà chúng ta đọc được nơi các thi sĩ và triết gia. Thi sĩ Virgiliô đã nói về “lòng tham vàng bạc đáng ghét[121]”, Shakespeare cũng lên tiếng chống lại nó: “Đồ kim khí chết tiệt, đồ đĩ điếm của cả nhân loại, mi đem đến sự bất hòa giữa các dân tộc.[122]” Bằng một tổng hợp sâu sắc, ông gọi tiền bạc là “vị thần hữu hình”.

Đó chỉ là những tiếng kêu nổi loạn bất lực. Thần tài coi thường tất cả những chuyện đó. Người ta chỉ có thể phê bình hữu hiệu sự toàn năng làm tha hóa của tiền bạc nếu biết đến một trật tự giầu sang khác, một cấp trên hơn tương đối hóa nó và phán xét nó. Đức Giêsu không dừng lại ở chỗ mô tả hay gớm ghét quyền lực của tiền bạc; Ngài đã phá vỡ nó. Sách Đanien nói đến một pho tượng lớn có đầu bằng vàng và chân bằng đất sét, biểu tượng của các nước trên thế giới. Một tảng đá vỡ ra từ ngọn núi đập vào chỗ yếu của pho tượng, và pho tượng vỡ ra từng mảnh. Theo Kitô giáo giải thích, tảng đá này là chính Đức Giêsu. Việc Ngài đến đập tan ngay cả đế quốc khó diệt nhất là đế quốc của Mammon.

Không những đập tan nó, Ngài còn ban cho vô số môn đệ sức mạnh để, đến lượt mình, cũng đập tan nó. Tiền bạc là tất cả đối với dân chúng thì không là gì cả đối với Ngài. Thái độ khước từ hoàn toàn của Phanxicô Assisi được biết đến, như một sự phản kháng chống lại những cuộc đụng độ đầu tiên của quyền lực làm tha hóa này, biểu lộ thời đó bằng chủ nghĩa tư bản mới ra đời. Người ta đọc thấy về ngài là “đặc biệt ngài ghét bỏ tiền bạc và khuyên người ta trốn tránh nó như trốn quỷ hiện hình, và chỉ nên coi nó như phân bón.” Ngài nghiêm khắc cấm anh em mình chạm tới nó[123].

Tôi quen một nhà kinh doanh người Anh, có lòng tin sâu xa, vừa qua đời mới đây. Ở cuối một trong những bài báo của ông về việc sử dụng tiền bạc, người ta đọc được những dòng chữ như một thứ chúc thư cá nhân: “Tiền bạc là thứ làm nhơ bẩn và cách thức duy nhất để nó không làm cho mình nhơ bẩn là sử dụng nó cách lương thiện và quảng đại. Tôi phải coi nó như một phương tiện để làm điều tốt cho người khác, không phải để cá nhân tôi được hạnh phúc và bảo đảm. Tôi chỉ là người quản lý được Thiên Chúa kêu gọi sử dụng những tài năng và sự giầu có mà Ngài đã trao phó cho tôi để xây dựng Nước Trời trên trần gian này. Tôi sẽ bị xét xử về việc quản lý của tôi, chứ không phải về sự giầu có của tôi. Tôi không thể bỏ  tiền ra để có được một luật sư khá hơn, hoặc để hối lộ quan tòa. Tôi chỉ có thể dùng tiền để chuẩn bị cho tôi một kho tàng ở trên trời. qua từng hành vi nhỏ bé yêu thương và bác ái với người rốt hết trong số các anh chị em của Đức Giêsu mà tôi được Ngài sai đến để cứu giúp[124]”. Ai từng biết đến ông, đều biết đây thực sự là quy luật sống của ông. Quả thực, Đức Giêsu cũng ban cho ông quyền năng chiến thắng thần tài.

Kinh Thánh nói: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác, là lòng ham muốn tiền bạc” (1Tm 6,10). Khi tôi còn trẻ, tôi thấy quả quyết này có vẻ như một lối nói khoa trương, phải hiểu theo nghĩa tương đối chứ không tuyệt đối; nhưng giờ đây, tôi luôn có khuynh hướng hiểu theo nghĩa đen. Vả lại, ít có những lời Kinh Thánh mà con người thời nay sẵn sàng tán thành, cũng như đối với lời trên đây.

Đàng sau mọi điều xấu trong xã hội chúng ta, là có tiền bạc, hoặc ít ra cũng có tiền bạc. Đó là thần Moloch của dân Ammon, mà người ta sát tế những thiếu niên nam nữ để tế lễ, hoặc là Thiên Chúa của dân Aztèque, mà mỗi ngày phải dâng hiến một số quả tim con người. Có gì đàng sau việc buôn bán ma túy hủy hoại biết bao nhiêu mạng sống, đàng sau hiện tượng mafia, việc giam giữ con người, sự mua chuộc chính trị, việc chế tạo và buôn bán vũ khí? Cách đây không lâu, người ta nghe trên vô tuyến truyền hình chứng tá của một y sĩ tình nguyện ở Rwanda. Ông cho thấy những người bị què cụt vì mìn, nhiều nhất là những trẻ em đang chơi đùa, những bà mẹ đi kiếm củi và lương thực. Ông bình luận: “Bạn phải nghĩ là với những thân thể bị tàn phế này, có những kẻ kiếm được hành tỉ bạc bằng cách buôn bán mìn và chất nổ”.

Ngày nay, đã bao nhiêu lần chúng ta phải kêu lên như Đức Giêsu: “Điên rồ!” Những người ở các địa vị có trách nhiệm đã không còn biết tích lũy những lợi tức do hối lộ đang ở nhà băng nào hay chỗ giấu nào, những người đó phải ngồi vào ghế bị cáo, hoặc trong xà lim một nhà tù, ngay khi họ sắp tự nhủ: “Giờ đây, hỡi linh hồn tôi, hãy hưởng thụ đi.” Họ đã làm điều đó cho ai? Có đáng không? Họ có thực sự đóng góp cho lợi ích của con cái và gia đình, hay đảng phái, nếu đó chính là điều họ tìm kiếm không? Hay lại không phải là họ đã làm hỏng bản thân họ và những người khác?

Ở cấp gia đình, sự tham lam vô độ và thái quá về tiền bạc hầu như luôn phá hủy tình yêu, trước và sau hôn nhân. Nhiều thiếu nữ con nhà giầu cuối cùng không lấy chồng, hoặc dứt khoát không lấy người không nên lấy, do nghi ngờ (thường ra sự nghi ngờ này là có cơ sở): “Anh ấy có yêu mình không, yêu mình hay yêu tiền bạc của mình?” Theo Shakespeare, tiền bạc là “tên nô lệ da vàng kết hợp và phá vỡ những lòng trung thành, sự mâu thuẫn giữa cha và con trai, kẻ làm uế tạp giường cưới tinh tuyền nhất, kẻ quyến rũ lúc nào cũng trẻ trung, tươi tắn[125]”.

Tôi nhớ tới kinh nghiệm đã có lần trải qua, trong một chuyến đi bằng xe lửa. Tôi nhớ chuyện đó vì nó giúp tôi hiểu nỗi ám ảnh về tiền bạc đã lan rộng tới mọi tầng lớp xã hội như thế nào, không chỉ ở tầng lớp thượng lưu, và nó đã làm tha hóa, phi nhân hóa và bần cùng hóa đời sống như thế nào. Lúc ấy là mùa Giáng Sinh. Đây là một tuyến đường nội địa, địa phương, nơi người nào cũng biết nhau và nói chuyện tự do, và vì vậy tôi bó buộc phải nghe họ nói. Bên cạnh nhiều khía cạnh tích cực của những con người này, tội lỗi của họ cũng hiện ra. Tội này lớn dần, như một tiếng động đinh tai nhức óc, cho đến lúc tôi cảm thấy ngột ngạt. Gọi nó là gì nhỉ? Những đồng xu! Tiền, tiền, tiền. Trong toa xe lửa này, từ lúc đầu đến lúc cuối, tôi chỉ nghe chung quanh người ta nói về tiền: chiếc xe kéo đó giá bao nhiêu, kiếm được bao nhiêu trong vụ này, hết bao nhiêu tiền mua cái này cái nọ ở chợ, theo cách này chứ không phải cách khác thì tiết kiệm được bao nhiêu.

Đã có lúc tôi sắp kêu lên: “Mà này anh chị em, có phải Đức Kitô đến thế gian vì chuyện đó không vậy? Chỉ có chuyện tiền bạc trong đời sống thôi sao?” Tôi đã không kêu lên và có lẽ tôi đã phạm tội do tôn trọng con người. Tuy vậy, mối lo âu này vẫn ở trong lòng tôi, trong khi có lẽ chờ đợi môt dịp tôi có thể nói to lên điều đó, không chỉ cho vài mươi gia đình, nhưng cho hàng ngàn gia đình, hy vọng thế.

Có sự tham lam tiền bạc đưa đến giết người, cướp bóc, nhưng cũng có sự thèm muốn tiền bạc kín đáo hơn, bề ngoài xem ra vô hại, thậm chí được coi như dè sẻn, tiết kiệm, nhưng thực ra cũng là một thứ thờ ngẫu tượng. Có một nghĩa phổ thông của từ “vốn” (capital), khác xa với nghĩa “tư bản” của các nhà xã hội học, theo đó “vốn” (tiền của) là những gì người ta đi đến kết quả là dẹp qua một bên danh dự, uy tín trước những người hàng xóm. Vốn là cái người ta nhìn thấy, trước bất cứ sự gì khác, khi gả chồng cho con gái, hoặc khi đánh giá tầm quan trọng của một người hay một gia đình: “Cô ấy có vốn – người ta nói với vẻ thán phục –, cô ấy có vốn khá lắm” hoặc: “Cô ấy chả có vốn nào cả”. Đó cũng là những gì bóp nghẹt bất cứ tình cảm nào khác, tạo ra những tranh cãi và cả những thù nghịch dữ dội giữa các anh em, lúc phân chia gia tài. Và điều đó lại chỉ là một điều xấu nhỏ thôi sao?

Đức Giêsu hẳn có thể lặp lại dụ ngôn những người khách được mời dự tiệc, không cần phải thay đổi một dấu phẩy. “Một người đã làm một tiệc lớn. Đến giờ tiệc, người khách mới thứ nhất nói: ‘Tôi mới mua một thửa đất, ông hiểu rằng tôi không thể bận tâm đến chuyện khác’. Người khác nói: ‘Tôi mới tậu cặp bò’. Người khác nữa nói: ‘Tôi mới cưới vợ’”. (x. Lc 14,16 tt). Chỉ bản liệt kê là được kéo dài thêm. Một người khác nói: “Tôi vừa phát cỏ, tôi phải gom lại trước khi trời mưa”; một người khác nói: “Tôi đang xây nhà của tôi, tôi phải làm việc cả Chúa nhật”; một người khác nữa nói: “Tôi phải đi xem bóng đá ở sân vận động”. Những sự kiện trong dụ ngôn đã đáng buồn, nhưng còn buồn hơn biết mấy khi nghĩ đến thực tế. Chúa Cha đã sai Con của Người xuống thế gian. Người Con ấy đã chết vì chúng ta. Ngài mời chúng ta vào bàn và nói: “Anh em hãy đến. Mọi sự đã sẵn sàng. Tình yêu của tôi đã sẵn sàng cho anh em”, nhưng chúng ta phớt lờ, và điều ngăn cản chúng ta hầu như luôn là hám lợi.

Tất cả những cái đó nhằm mục đích gì? Với ngòi bút nghiêm khắc khác thường, thánh Phanxicô mô tả mục đích của một người chỉ biết sống để làm tăng “số vốn” của mình. Cái chết đã gần kề. Người ta cho mời linh mục đến. Linh mục hỏi người sắp chết: “Con có muốn lãnh nhận ơn tha thứ mọi tội lỗi của con không?” Người ấy đáp: “Thưa cha, có”. Linh mục: “Con có sẵn sàng sửa chữa những sai lầm đã phạm, trả lại những gì con đã tước đoạt của người khác không?” “Con không thể.” “Tại sao không thể?” “Vì con đã đặt mọi sự trong tay người thân và bạn bè của con”. Như vậy, người đó chết mà không hối lỗi, và khi vừa mới chết, người thân và bạn bè của nó nói với nhau: “Đồ chết tiệt! Nó đã có thể kiếm được nhiều hơn và để cái đó lại cho chúng ta, nhưng nó đã không làm vậy![126]

Người tham lam là người bất hạnh nhất. Vì nghi kỵ mọi người, hắn sống cô độc. Hắn không có tình cảm, ngay cả với những nguời ruột thịt. Hắn luôn nhìn họ như những người lợi dụng, những người chỉ ước muốn một điều duy nhất nơi hắn: hắn chết đi để họ thừa hưởng tài sản của hắn. Vì luôn muốn dành dụm đến điên rồ, hắn nhịn mọi sự trong cuộc sống, và như vậy hắn không có được cả thế gian lẫn Thiên Chúa, bởi chắc chắn hắn không từ bỏ vì Thiên Chúa. Thay vì có được an ninh, thanh thản, hắn mãi mãi là con tin cho tiền bạc của hắn. Kết cục, tính hà tiện là một thứ bệnh thực sự, một sự ám ảnh, nhưng thường ra, người ta không sinh ra cùng với nó. Người ta dần dần mắc vào tính này bằng những hành vi và sự lựa chọn của mình. Thật sự đôi khi tính này là phản ứng theo bản năng do hồi còn nhỏ đã phải sống cơ cực và thiếu thốn của cải, nhưng trong trường hợp này, cũng dễ nhận ra điều đó và dễ khoan dung hơn trong cách xét đoán.

Nếu xem xét Giáo hội dưới ánh sáng những gì xẩy ra trên thế giới, chúng ta để ý có biết bao điều xấu xa, qua dòng thời gian, cũng đã khích động người ta dính bén tiền bạc. Điều gì đàng sau những cuộc tranh chấp lâu đời đến kiệt sức giữa Giáo hội và đế quốc trong suốt thời Trung cổ? Và đàng sau lúc suy tàn của các giáo phận, các tu viện và đan viện, ở một số thời kỳ? Xác chết nằm đâu diều hâu tụ đó, Đức Giêsu đã nói như vậy (x. Mt 24,28). Sự giầu có tập trung ở đâu thì những sự thèm muốn của các vua chúa thế gian gặp nhau ở đó. Hệ thống bổng lợi và bổng lộc làm cho các chức vụ được chỉ định không vì sự thánh thiện và công trạng của con người, nhưng vì những quyền lợi và tập tục hoàn toàn xa lạ với đời sống và lợi ích của Giáo hội. Những chức vụ trong Giáo hội chỉ còn là những bổng lộc thuộc Giáo hội, được nắm giữ bởi những con người thường không một lần đặt chân đến giáo phận hay tu viện mà họ được quyền, nhưng chỉ sai các quản đốc theo kỳ hạn đến trưng thu lợi tức. Dante Alighieri cho thấy vết thương này nơi con chó sói cái đói khát, con vật không khoan nhượng nhất trong số các ác thú ngăn chặn đường vào ơn cứu độ, con vật “không để yên”, “sau bữa ăn” còn đói hơn trước[127].

Đức Giáo Hoàng Grêgôriô VII đã tranh chấp với hoàng đế, không để cho chức vụ của Giáo hội phải lệ thuộc quyền đời, tranh chấp về việc phong ban. Nhưng lạm dụng sớm tái xuất hiện dưới hình thức khác, giữa lòng các thể chế quốc gia đang hình thành ở Âu châu. Chúng ta biết cuộc cải cách của Thệ phản bắt gặp tình huống này như ta biết, cũng vì những vấn đề tài chính, vì nhiều Giám mục vướng vào những tài sản giầu có của họ, và phải tuân theo những luật lệ khác với luật của Đức Kitô.

Ở trần gian này, con không muốn gì ngoài Chúa

Chúng ta đến với phần quan trọng nhất của bài suy niệm này. Ngày nay, chúng ta sử dụng như thế nào tất cả phần này của Phúc Âm tố cáo quyền lực làm tha hóa và phá hoại của Mammon?

Việc đầu tiên phải làm là sống nó, để nó chất vấn và xét xử chúng ta. Giải phóng khỏi Mammon, để giúp người khác tự giải phóng khỏi Mammon. Chúng ta phải cảm tạ Thiên Chúa về tình trạng hiện nay của Giáo hội, của hàng giáo sĩ về điểm này. Chúng ta thường than phiền về thời kỳ xấu xa chúng ta đang sống, về sự sa sút đức tin. Đúng vậy. Tuy nhiên chúng ta dễ dàng coi quá khứ như lý tưởng. Chúng ta không nghĩ tới đời sống Giáo hội đã như thế nào trong nhiều thế kỷ, khi Giáo hội cũng có một “Nhà Nước”, “Nhà Nước Giáo hội”, và các Giám mục là những “ông hoàng”. Từ lâu, những chức vụ của Giáo hội phải là thế nào, thì chúng đã trở lại là thế ấy: thừa tác vụ, dịch vụ, chứ không phải là những chức vụ được thèm muốn vì những bổng lộc trần thế đi kèm.

Thế nhưng rõ ràng là chúng ta chưa đạt tới chỗ hoàn hảo theo Phúc Âm, và sẽ không bao giờ đạt tới. Có lẽ phải cho thấy hàng giáo sĩ cần tránh những đòi hỏi về tiền bạc, dù ở cấp giáo xứ, địa phương hay quốc gia, vì chúng thường gây ra hiệu ứng trái ngược, cho thấy một hình ảnh lệch lạc về Giáo hội và làm cho Giáo hội mất đi nhiều thiện cảm. Kinh nghiệm cho hay khi giữa dân chúng và mục tử có mối tương quan tốt đẹp, khi linh mục hiến cuộc đời mình cho đàn chiên, đàn chiên không những không để cho ngài phải thiếu thốn những gì cần, mà thậm chí còn tiên liệu những nhu cầu của ngài, chi cấp vượt quá những gì ngài thiếu, và làm điều này cách vui vẻ. Thật đáng buồn khi biết rằng trong nhiều nước, có hàng trăm ngàn người rời bỏ Giáo hội mỗi năm, để không phải đóng tiền vào việc thờ phượng, cho dù tôi biết rằng hiện tượng này là phức tạp, và không chỉ được gán cho một lý do duy nhất.

Thánh Phêrô nhắc nhở rằng “không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát” (1Pr 1,18). Thế nên những chuyện đó phải giúp cho người ta càng ít xa tránh những hoa quả của việc Cứu Chuộc càng tốt. Cũng cần phải tránh buôn thần bán thánh, cho dù chỉ có ngoài mặt như vậy, tức bán những gì là thánh thiêng, khi đặt ra những định suất cứng nhắc về việc đóng góp vào việc thờ phượng, Một số người công khai đòi chúng ta phải có “can đảm xem lại tất cả hệ thống bổng lễ bằng cách đưa chúng ra khỏi những cử hành phụng vụ”. Việc này đã bắt đầu được thực hành trong một số giáo phận.

Thánh Phaolô viết: “Điều tôi tìm kiếm không phải là của cải của anh em, mà là chính anh em. Không phải con cái có nhiệm vụ thu tích của cải cho cha mẹ, mà là cha mẹ phải thu tích của cải cho con cái. Phần tôi, tôi rất vui lòng tiêu phí tiền của, và tiêu phí cả sức lực lẫn con người của tôi vì linh hồn anh em” (2Cr 12,14 tt). Lời của thánh Tông Đồ đưa chúng ta tới một nhận xét. Tất cả những gì một Giám chức hay một thừa tác viên của Thiên Chúa nhận được và dành dụm cho việc phục vụ Nước Trời, không thể có người nhận chính đáng hơn là những người nghèo, vì họ được chính Đức Kitô biến thành những người thừa hưởng và những người “thu tiền” của mình. Quyền tác giả của những gì chúng ta viết về Phúc Âm thuộc về ai, nếu không phải thuộc về tác giả Phúc Âm, và do đó thuộc về Giáo hội và những người nghèo? Thừa tác viên Phúc Âm có quyền sống nhờ Phúc Âm, nhưng không dùng quyền đó để nuôi sống bà con cháu chắt của mình.

Những hãy gác qua một bên khía cạnh tiêu cực, và những nguy hiểm phải tránh. Tốt hơn chúng ta nhớ tới lý tưởng tích cực mà lời Chúa đề nghị cho người tín hữu, đặc biệt cho giáo sĩ và những người của Giáo hội, trong lãnh vực này. Không chỉ trong việc từ bỏ của cải, lý tưởng này còn muốn thay thế bằng một của cải khác. Chúng ta biết thánh Phaolô rất ít khi lên án của cải, tiền bạc trong các thư của mình. Hầu như ngài luôn nói về của cải theo nghĩa tích cực, vì qua của cải, từ đây ngài hiểu là của cải mới, đích thực mà ngài gọi là sự phong phú của vinh quang (x. Rm 9,23; Ep 3,16), của ân sủng (x. Ep 1,7; 2,7;  1Cr 1,5), nhất là của Đức Kitô. “Sự phong phú khôn lường của Đức Kitô” (Ep 3,8), đó mới là điều đáng kể đối với ngài. Có Đức Giêsu Kitô, các Tông Đồ là những người “không có gì nhưng làm chủ mọi sự”.

Lý tưởng của thầy tư tế và Lêvi trong Cựu Ước là có Thiên Chúa là phần gia nghiệp duy nhất: “Lậy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con…Phần tuyệt hảo may mắn đã về con. Vâng, gia nhiệp ấy làm con thỏa mãn” (Tv 16,5).

Trong việc phân chia Đất Hứa, chúng ta biết các thầy tư tế và Lêvi không được chỉ định phần đất nào, vì Chúa phải là sản nghiệp của họ. Sự phân cấp được thực hiện bằng cách rút thăm những phần đất khác nhau, vì thế thầy Lêvi nói rằng phần thầy đã rút thăm làm cho thầy vui sướng. Thiên Chúa là nơi vui sướng của thầy. Điều Thiên Chúa nói với Aaron, thì giờ đây Đức Kitô nói với linh mục trong Giáo hội: “Chính Ta là phần gia nghiệp của ngươi giữa dân chúng” (Ds 16,20) (Danh xưng “giáo sĩ” và “hàng giáo sĩ” phát xuất từ chữ  “gia sản”, trong tiếng hy lạp là cleros). Hạnh phúc về việc rút thăm của mình, đôi khi chúng ta nghe thầy Lêvi của Cựu Ước kêu lên: “Bên Ngài thế sự thật tình chẳng ham. Dẫu cho hồn xác suy tàn, thì nơi ẩn náu kỷ phần lòng con, muôn đời là Chúa cao tôn” (Tv 73,25 tt).

Một nguồn vui sướng và bảo đảm biết bao, cho linh mục của Tân Ước, là có thể biến những lời trên thành của mình, trước mọi cám dỗ hoặc mọi rung động của con tim, bằng cách từ nay đem những cám dỗ và rung động đó cụ thể về cho “Chúa”, là Đức Kitô Giêsu.

“Khóc lên đi, hỡi anh em là những người giầu có”

Việc thứ hai phải làm liên hệ đến giáo lý Phúc Âm, mà chúng ta đã suy niệm cho tới lúc này, là loan báo. Bên cạnh cuộc chiến chống lại thần tượng Tình Dục là cuộc chiến cũng mang tính quyết định chống lại thần tượng Tiền Của. Thánh Gioan Kim Khẩu so sánh giữa hai cuộc chiến này, và ngài đi đến kết luận là tình yêu dành cho tiền bạc còn tệ hơn tình yêu dành cho xác thịt. Nói cách khác, tính hà tiện là một nết xấu nghiêm trọng hơn sự dâm dật. Ngài nói: “Người dâm dật yêu thân xác, và người keo kiệt thích tiền của; nhưng người sau tệ hơn, vì sức mạnh lôi kéo nó ít hơn (…) Đức Kitô nói về tiền bạc: “Nếu anh em không từ bỏ hết những gì mình có…” (Lc 14,33), nhưng không chỗ nào Ngài nói: Nếu người nào đó không từ bỏ phụ nữ[128]”.  Một sự quả quyết như thế có lẽ cần có một vài lời giải thích rõ ràng, nhưng một nhà luân lý khắt khe như Kim Khẩu cảm thấy buộc phải nói bằng những lời lẽ mạnh bạo như vậy thì quả là điều có ý nghĩa.

Đối với chúng ta, Đức Maria là kiểu mẫu trong việc loan báo về sự nghèo khó và giầu có. Trong kinh Magnificat, Người công bố: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế…Người giầu có lại đuổi về tay trắng”. Người không nói “sẽ hạ bệ”, “sẽ đuổi về”, nhưng nói “đã hạ bệ”, “đã đuổi về”. Người loan báo như một sự kiện đã hoàn thành. Nhưng chúng ta có thể đặt vấn nạn: Ôi Mẹ Thiên Chúa, cuộc cách mạng mà Mẹ nói đến đã xẩy ra cách nào vậy? Những kẻ quyền thế, như Hêrođê, Mẹ từng biết do kinh nghiệm, vẫn vững chắc trên ngai vàng, còn những người khiêm nhường, như chính Mẹ và thánh Giuse, không những không được nâng cao, mà còn buộc phải tìm nơi trú ẩn trong một chuồng chiên và phải trốn sang Ai Cập.

Chính vì Đức Maria ngay từ đầu ở trên bình diện đức tin, nơi mà sự thay đổi đã đến. Người là chứng nhân cho giờ độc nhất và đơn độc của Nước Trời đã hiện diện, và đã tạo ra môt bậc thang giá trị mới. Những thế lực và giầu sang cũ không còn giá trị gì nữa; một thế lực và giầu sang mới đã xuất hiện. Cũng giống như vậy khi chế độ chính trị của một nước thay đổi: đồng tiền cũ được tuyên bố là không còn sử dụng nữa, và được thay thế bằng đồng tiền mới.

Thánh Irênê viết: “Trong ngày này, Đức Maria kêu lên như tiếng nói tiên tri nhân danh Giáo hội”. Người là người đầu tiên kêu lên những gì Giáo hội được mời gọi lặp lại sau Người. Chúng ta luôn biết rõ là không phải những ý thức hệ, cũng không phải những cuộc cách mạng, đã có thể cuối cùng thay đổi được những tình trạng bất công và bức bách người nghèo, trong biết bao nhiêu quốc gia. Tại sao chúng ta lại không thử theo phương pháp của Đức Kitô, tức là rao giảng với tinh thần tiên tri: “Khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, vì các người đã được phần an ủi của mình rồi” (Lc 6,24)?  Tôi đã chưa bao giờ hiểu lời đó kinh khủng như thế nào, chứa đựng sức mạnh như thế nào, cho tới khi tôi có dịp một ngày kia phải công bố tại một nơi mafia đang thản nhiên thống trị. Lúc ấy tôi hiểu rằng đó là khí giới duy nhất.

Trên môi miệng Đức Giêsu, tiếng kêu này không phải là một tiếng kêu nhức nhối bất lực. Đó là chân lý thuần túy và đơn giản của sự việc. Đó là tiếng kêu tình yêu, như mọi lời của Đức Giêsu, một tiếng kêu buồn phiền. Chính như thế mà nó phải vang lại trên môi miệng của Giáo hội. Khi ấy, nó cũng sẽ không để cho những người giầu nghe nó có thể dửng dưng. Phải, “khốn cho các ngươi”, vì điều bất hạnh các ngươi gây ra cho các ngươi lớn hơn điều bất hạnh các ngươi gây ra cho người khác. Các ngươi đã nhận được phần an ủi của các ngươi. Các ngươi không phải đợi gì nữa về tương lai. Không có tương lai nào cho các ngươi, trừ ra tương lai phải chịu xét xử khủng khiếp. Làm sao các ngươi có thể chiều tối ôm ấp vợ và con cái các ngươi cách yên hàn, khi các ngươi biết rằng trong một phần khác của thế giới, có những người cha, khi về nhà chiều tối, không thấy vợ và con cái nữa, vì họ đã bị mìn giết chết, mìn mà các ngươi chế tạo, hoặc vì ma túy mà các ngươi đã bán?

Tại sao chúng ta không thử nói như tiên tri Isaia đã lên tiếng chống lại các chủ đất thời ông: “Khốn thay những kẻ tậu hết nhà nọ đến nhà kia, nối thêm ruộng này đến ruộng khác” (Is 5,8). Hoặc dùng ngôn ngữ của Giacôbê: “Giờ đây, hỡi những kẻ giầu có, các người hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã hư nát” (Gc 5,1 tt). Ở đây, nếu tra vấn lịch sử, chúng ta không thấy lúa mì hư nát trong kho lẫm vào thời Giacôbê. Nhưng vị tông đồ, cũng như Đức Maria, ở trên một bình diện có thực hơn bình diện lịch sử. Những người giầu từ đây thì khác: đó là những người nghèo được Thiên Chúa “chọn làm người thừa hưởng Vương quốc” (Gc 2,5).

Có những chương trình và khía cạnh của thực tại mà chúng ta không thể thấy bằng mắt trần, nhưng chỉ có thể thấy bằng những tia hồng ngoại hay tử ngoại. Như vậy, chúng ta đã rảo qua những vùng hoàn toàn trên trái đất nhờ vệ tinh, không ảnh chụp bằng tia hồng ngoại. Chúng khác nhau biết bao! Với một số hình chụp để ánh sáng lướt qua, chúng ta thậm chí có thể xác định những gì nằm dưới lòng đất ở một nơi; nhờ thế mà khám phá ra vị trí địa hình những thành phố cổ và những nền văn minh đã bị vùi lấp. Thì nhờ lời Chúa, Giáo hội cũng có khả năng đưa ra một hình ảnh khác về sự sống đầy đủ và thực tại của thế giới, hình ảnh mà Thiên Chúa đã có. Không nên ngại luôn đặt lại hình ảnh này trước mắt người ta, trước khi cảnh tượng của thế giới này qua đi và quá muộn nên không thể khám phá ra sự thật.

Tình trạng của Giáo hội ở Laođikê là tiêu biểu: “Ngươi nói: Tôi giầu có, tôi đã làm giầu, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Kh 3,17). Đàng sau chữ “ngươi”, ngày nay có cả một nền văn minh được tán dương bởi các cuộc chinh phục kỹ thuật làm lóa mắt, chính nền văn minh này cũng bị cám dỗ tưởng mình giầu có, không cần gì, ngay cả Thiên Chúa. Vì vậy, những lời Đấng Phục sinh đã đáp lại, cũng là những lời nói với chúng ta hôm nay: “Nhưng ngươi không biết rằng người là kẻ khốn nạn, đáng thương, nghèo khổ, đui mù và trần truồng”. Chính là sự nghèo khó tinh thần của cái được gọi là “thế giới đầu tiên” của chúng ta.

Thế nhưng chúng ta không chỉ được kêu gọi tố giác thần tài và sự giầu có bất công. Đức Giêsu không để một ai phải thất vọng, ngay cả người giầu. Sau khi Ngài nói về con lạc đà và lỗ kim, các môn đệ ngạc nhiên và hỏi: “Vậy thì ai có thể được cứu độ?” Đức Giêsu trả lời: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được” (Mc 10,27). Thiên Chúa có thể cứu độ cả người giầu. Trong dụ ngôn ông nhà giầu bất nhân, Đức Giêsu nói: “Người nghèo này chết, và được đem vào lòng Abraham” (Lc 16,22), vậy là được đem vào lòng một người giầu, vì Abraham rất giầu. Chung quanh nôi của hài nhi Giêsu, chúng ta thấy có những người chăn chiên nghèo khổ, và có cả ba đạo sĩ đầy vàng bạc. Vấn đề không phải là “xem người giầu có được cứu” hay không (truyền thống Kitô giáo không bao giờ tranh luận về điều này), nhưng xem “người giầu nào được cứu” (tựa đề bài viết nổi tiếng của Clêmentê Alexanđria).

Đức Giêsu cho người giầu thấy một lối thoát trong tình trạng nguy hiểm của họ. Ngài nói: “Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời” (Mt 6,20) và: “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu” (Lc 16,9). Đức Giêsu khuyên người giầu chuyển vốn ra nước ngoài, không phải ở Thụy Sĩ, nhưng ở trên trời. Thánh Augustinô nói: “Nhiều người lo chôn tiền dưới đất, thậm chí mất cả cái thú được coi nó, đôi khi suốt đời, để biết nó đang được bào đảm. Tại sao không chôn nó trên trời, nơi bảo đảm hơn, nơi một ngày kia sẽ tìm lại được nó cho đời sống vĩnh cửu? Làm thế nào? Thánh nhân nói tiếp: Đơn giản thôi. Thiên Chúa ban cho bạn những người nghèo làm người mang dùm. Họ đi đến nơi mà bạn hy vọng một ngày kia sẽ đến. Thiên Chúa cần người mang nó nơi người nghèo và Người sẽ trả lại bạn ngày bạn ở trên trời. Trong khi Người cấm bạn cho người ta vay nặng lãi ở trần gian này, Người cho phép bạn làm điều đó với Người. Thiên Chúa nói: Ngươi đã cho ta ít, hãy lấy lại nhiều; ngươi đã cho Ta những của cải trần thế, hãy lấy những của cải đời đời; ngươi đã cho ta những gì là của Ta, hãy lấy chính Ta[129]”.

Như chúng ta đã lưu ý, ngày nay bố thí không phải là giải pháp duy nhất. Có những cách khác dùng của cải để phục vụ người nghèo. Môt hôm, có một kỹ nghệ gia giầu có đến xin một nữ đan sĩ cho ý kiến. Ông đã quyết định dùng tài sản của mình làm những gì Chúa muốn cho ông làm, kể cả bán đi tất cả và cho người nghèo, nếu đó là điều Chúa đòi hỏi. Chị nữ tu xin đi cầu nguyện trong giây lát, và khi người kia trở lại xin câu trả lời, chị nói với ông: “Ông có tiền ở bên cạnh lúc này không?” Ông đáp: “Có”. “Vậy ông cứ đi mở một nhà máy khác để những công nhân khác có việc làm”. Và ông ta đã làm theo lời chị.

Kinh Thánh đã phác họa một loại chân dung về người Kitô hữu giầu có, với một bản liệt kê những gì ông phải làm hay không được làm, để được cứu độ. Thánh Phaolô viết cho Timôtê: “Những người giầu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nnên giầu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy họ tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai, để được sự sống thật” (1Tm 6,17 tt).

Hàng năm. trên quảng trường thánh Phêrô này, người ta dọn một máng cỏ. Ở giữa các hàng cột, máng cỏ là một biểu tượng đẹp của Giáo hội đón nhận Hài Nhi Giêsu và quấn tã cho Ngài như muốn lấy lòng tin yêu ôm chặt lấy Ngài. Một hình ảnh thật tương phản giữa túp lều nhỏ dưới chân bút tháp và vương cung thánh đường Thánh Phêrô xa phía sau. Tuy nhiên hai hình ảnh không mâu thuẫn nhau. Đức Giêsu không cấm người đàn bà đổ dầu thơm quý giá trên đầu Ngài, thậm chí còn bảo vệ cô ta làm chuyện đó. Ngài không ngăn cản dân chúng cầm cành lá rước Ngài vào thành Giêrusalem, như người biệt phải hẳn là muốn thế.

Tuy vậy, việc nhắc đến máng cỏ này thật cần thiết. Giá được thì để lại đó suốt năm. Nhưng nếu không thể làm như vậy, ít nhất chúng ta hãy giữ nó trong tâm hồn chúng ta. Một cách nào đó, máng cỏ kia, tức vương cung thánh đường, với ánh sáng rực rỡ, phải nhắc nhở chúng ta Giêrusalem thiên quốc, nơi mà chúng ta đang tiến về, vinh quang của sự phục sinh mà Đức Kitô đang đi vào; còn máng cỏ này là túp lều, là Giáo hội ở trần gian. Máng cỏ kia là điểm tới, máng cỏ này là con đường. Người ta không vào trong máng cỏ kia, nếu không đi qua máng cỏ này; không thể vào Giêrusalem nếu không qua Belem.

Sau khi nghe thiên thần báo tin, các mục đồng đã có thái độ kiên quyết và nói: “Nào chúng ta sang Belem!” Chúng ta cũng hãy có thái độ đó.

4. “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó vì Nước Thiên Chúa là của anh em”

Sự nghèo khó tinh thần phải tìm kiếm

Linh hồn tương quan với thân xác thế nào, quả tương quan với cây thế nào, hương vị tương quan với quả thế nào, thì sự nghèo khó tinh thần (có “tâm hồn nghèo khó”) cũng tương quan với sự nghèo khó vật chất thế ấy. Thân xác mà không có linh hồn thì chết, cây không quả thì cằn cỗi, quả không hương vị thì nhạt nhẽo; sự nghèo khó vật chất cũng vậy, nếu nó không có sự nghèo khó tinh thần đi kèm. Tuy nhiên, cũng như linh hồn không thể sống và hoạt động mà không có thân xác, cũng như quả không thể hình thành nếu không có cây, cũng như hương vị không thể tỏa ra nếu không có quả, thì sự nghèo khó tinh thần trong tương quan với sự nghèo khó vật chất cũng như vậy.

Thế nên cả hai không tách lìa nhau, cho dù chúng ta bàn từng vấn đề riêng biệt; cũng không thể đối lập nhau vì bên này đòi hỏi phải có bên kia. Trong Kitô giáo, người ta không khắc sâu trong trí một sự nghèo khó tinh thần thoát xác có thể không cần mọi thứ nghèo khó thật sự, thậm chí đi đôi với sự thừa thãi. Và nếu có ai làm như thế thì tức khắc bị lương tâm lành mạnh của Giáo hội lên án. Ngày nay, đúng là ngươi ta nghe nói về một ý tưởng thuộc loại này, về Phúc Âm của sự phồn vinh (“Prosperity Gospel”), nhưng đó là những vấn đề rõ ràng sai lạc không đáng quan tâm.

Đàng khác, cả Phúc Âm lẫn Giáo hội đều không tâng bốc quá đáng sự nghèo khó vật chất vì chính nó, hoặc đo lường lối sống nghèo khó anh hùng chỉ dựa trên mức độ thiếu thốn của cải. Tuy nhiên, có sự đa dạng về mức độ và cách thức hài hòa nghèo khó vật chất với nghèo khó tinh thần trong cuộc đời của mỗi vị thánh và trong những thời kỳ khác nhau. Nét đa dạng này được giải thích, như chúng ta đã cho thấy, bằng cách để ý đến giáo thuyết về các đặc sủng và về những chức năng khác nhau được mỗi người thi hành trong thân thể Giáo hội.

Đã đến lúc nói về “linh hồn của tất cả sự nghèo khó”, về hoa quả và hương vị của nó, là sự nghèo khó tinh thần. Chúng ta hãy nghe lời Thiên Chúa soi sáng con đường cho chúng ta như một ngọn đèn pha. Lời này được chuẩn bị trong Phúc Âm Matthêu bằng một lời dẫn nhập long trọng khác thường: “Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ…” (Mt 5,1 tt). Chúng ta tham dự vào một thứ phụng vụ, phụng vụ lời Chúa thời sơ khai.

Điều có tính quyết định là trở nên “đồng thời” với Đức Kitô trong đức tin. Chính chúng ta trở nên các môn đệ này, biến nơi đó thành nơi của chúng ta ở đây, biến ngày đó thành ngày hôm nay, để lời Đức Kitô đến với chúng ta không phải như được thuật lại, theo kiểu những câu dẫn đơn thuần, như nước để trong chai, nhưng đến trực tiếp, như nước vọt lên đúng giờ từ nguồn mạch là Đấng Phục Sinh đang sống trong Thần Khí. Lời ngày hôm đó thốt ra từ môi miệng Đấng Cứu Thế và là lời lại được thốt ra cho chúng ta hôm nay, nói rằng: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).

Đức Giêsu so sánh lời của Ngài với một hạt giống, và quả thực lời này đã là hạt giống của một cây to lớn, nở hoa vào mỗi mùa của lịch sử Giáo hội, “khi choán đầy mặt đất”, và đem lại “nhiều hoa trái”.

Do sự can đảm nào và với mục đích nào mà bây giờ chúng ta dám điểm thêm chi tiết lời này, lời mà trong Phúc Âm hầu như chỉ có một hàng, khi chúng ta dành nhiều trang suy tư về nó, và làm tất cả những điều đó sau khi biết bao nhiêu trang khác đã viết về nó? Chính là vì Kinh Thánh là một cơ thể sống, nơi mỗi lời được xen vào trong một toàn bộ mà từ đó nó có được nghĩa đầy đủ. Phải làm cho mỗi lời vang lên trong tất cả Kinh Thánh và Truyền Thống, như một loại thùng truyền âm, để lời đó có được một âm thanh tròn đầy và đúng điệu. Khi vừa nghe một dấu nhạc, phải có khả năng nghe trong trí hợp âm mà nó là thành phần.

Mọi bản văn Kinh thánh được định vị cách lý tưởng ở điểm hai vòng tròn chồng lên nhau và chạm nhau, như ở trung tâm con số “8”. Từ bản văn, cần khởi động một hoạt động tìm kiếm bao gồm tất cả những gì, trong Kinh Thánh, đi trước và chuẩn bị cho nó, và một hoạt động tìm kiếm bao gồm điều theo sau nó, và điều được phát động trong phần còn lại của Kinh Thánh và trong đời sống Giáo hội, nhờ điều theo sau trên đây. Đó là những gì chúng ta muốn làm lúc này khi đi từ hoạt động thứ hai. Chúng ta không có tham vọng làm điều gì đó đầy đủ, nhưng chỉ để từ đó lấy đà, để hiện tại hóa lời; để cuối cùng lời lôi kéo ta tới hành động với tất cả sức mạnh và uy tín của Kinh Thánh và của Truyền Thống mà nó chứa đựng.

“Nghèo” và “có tâm hồn nghèo”

Về mối phúc thứ nhất, tiên vàn có vấn đề văn thể, do cùng một mối phúc lại được hai tác giả Matthêu và Luca thuật lại hơi khác nhau. Một người dùng kiểu nói gián tiếp: “Phúc thay những người nghèo khó”, người kia dùng kiểu nói trực tiếp: “Phúc cho anh em là những người nghèo” ; một người dùng kiểu “có tâm hồn nghèo khó”, người kia chỉ thuần túy nói “nghèo khó”. Đâu là bản gần gũi nhất với nội dung nguyên thủy của lời Đức Giêsu rao giảng?

Hầu như tất cả các nhà chú giải đều cho rằng kiểu nói “có tâm hồn” là một cách nói rõ của Matthêu. Việc khám phá ra trong những bản văn của Qumrân bản văn tương đương bằng tiếng aram của câu trên[130] chứng minh rằng câu đó được xen vào trong ngôn ngữ và tu đức học Do thái thời ấy. Tuy vậy điều đó không đủ để chứng minh rằng đó là lời thực sự của Đức Giêsu, vì tác giả Matthêu cũng phản ánh cùng một môi trường, và vì vậy chính ngài có thể đã đưa kiểu nói này vào trong bản văn.

Cách giải thích dễ chấp nhận nhất dường như là công nhận rằng cả Matthêu lẫn Luca đều tùy thuộc vào một nguồn chung chỉ thuần túy nói “nghèo khó”. Luca quan tâm nhấn mạnh tầm quan trọng xã hội của từ, nên giữ nguyên kiểu nói ấy, thậm chí còn tăng cường bằng cách cho nó đối lại với “giầu có”. Matthêu có ý định huấn giáo nên sớm làm rõ ý nghĩa tôn giáo của chữ “nghèo khó” trong tu đức học Do thái và trong tư tưởng của Đức Giêsu, khi thêm những chữ “có tâm hồn”. Khi làm như vậy, ngài chỉ thực hiện một tiêu chuẩn rất bình thường trong việc biên tập các tư liệu của truyền thống. Người ta cũng thấy cùng một mối quan tâm này của Matthêu, là làm nổi bật tầm quan trọng về phương diện luân lý của những lời Đức Giêsu nói, trong những mối phúc tiếp theo. Chẳng hạn “những ai đói khát” trở thành “những ai khát khao nên người công chính”.

Mới đây, nhất là trong những năm sau Công đồng, những sự khác biệt này trở thành đối tượng của những cuộc tranh luận nảy lửa. Một số người, ưu tiên chọn bản văn Luca, nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của các mối phúc, tiên vàn thấy ở đó một điều kiện xã hội, một tình trạng thực tế của đời sống được diễn tả bằng từ “nghèo khó” (đó là cách giải thích được những thần học giải phóng khác nhau chấp nhận). Những người khác dựa nhiều hơn vào Matthêu, nhấn mạnh ý nghĩa tôn giáo: “có tâm hồn nghèo khó”, cho thấy rõ một thái độ bên trong hơn là một tình trạng xã hội.

Những người này khai trừ ý tưởng cho rằng Đức Giêsu muốn chúc phúc cho một tầng lớp xã hội. Theo họ, chỉ tình trạng tâm linh mới có thể liên hệ với một thực tại tâm linh là Nước Trời. Thật vậy sự nghèo khó đích thực là một con đường ưu đãi hướng tới sự nghèo khó trong tâm hồn, và Đức Giêsu lặp lại điều đó bằng rất nhiều cách. Tuy vậy không nên nghĩ rằng những người vô sản hoặc những người mà Do thái giáo thời ấy gọi là “những người chân lấm tay bùn” được nói đến trong mối phúc. Người nghèo khó đích thực của Phúc Âm là người đánh cuộc cả đời sống mình vào Thiên Chúa, trong đức tin. Nơi Do thái giáo đương thời, hạn từ “nghèo khó” thực tế đồng nghĩa với “thánh thiện” (hasid) và “đạo đức”[131].

Những người khác phản ứng trước lối giải thích quá nhấn mạnh những tâm thái bên trong của người nghèo và nói quá ít về bản chất của Nước Trời đang đến. Theo họ, những mối phúc trước hết mạc khải lòng thương xót và sự công bình là đặc điểm của Nước Thiên Chúa. Chúng chứa đựng một mạc khải về Thiên Chúa hơn là về con người hay người nghèo. Hạn từ nghèo được sử dụng trong Phúc Âm (ptochos) để chỉ những người bần cùng, bất hạnh, đói khát, những người cần của bố thí để sống. Hạn từ hipri tương đương, anawim, theo nguồn gốc, chỉ những người hèn hạ, nhục nhã, bị áp bức. Họ bị buộc phải uốn gối trước những người mạnh nhất và giầu có nhất.

Người ta tự hỏi vì lý do gì mà những con người đó lại được Thiên Chúa chiếu cố? Không phải vì những công trạng tôn giáo đặc biệt của họ, cũng không vì những tâm thái tốt của họ, nhưng do Thiên Chúa, vì là một vị vua công bình, phải bảo vệ người không được bảo vệ. Theo não trạng Cựu Ước, người nghèo là những “người được đức vua bảo vệ”. Đây không phải là thứ công bình đòi phải trả công cho người nghèo, nhưng là thứ công bình theo mẫu vương giả. Thiên Chúa, đối diện với chính mình, buộc phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của những người không thể làm cho Người chiến thắng bằng những phương tiện riêng của họ.

Và trong trường hợp này, người ta cắt nghĩa thế nào về tình trạng nghèo khó và áp bức vẫn còn tồn tại ngay cả ở Israel? Cho dù các sự kiện cho thấy điều ngược lại, không nên từ bỏ xác tín về sự công bình theo mẫu vương giả của Thiên Chúa, nhưng trù định nó trong tương lai, trong Nước của những thời cuối cùng. Khi ấy, người nghèo sẽ báo thù những kẻ áp bức họ, thực sự hưởng những ơn lành và sự quan tâm của Thiên Chúa. Một Thiên Chúa “hạ bệ những kẻ quyền thế và nâng cao những người phận nhỏ”, và “cho người đói khát no đầy ơn phúc và để người giầu có trở về tay không” sẽ xuất hiện như những thực hiện hoàn hảo của ông vua lý tưởng.

Ý nghĩa tôn giáo của các mối phúc vẫn còn nguyên, nhưng đây là ý nghĩa thần học chứ không phải ý nghĩa nhân học, dựa trên Thiên Chúa chứ không dựa trên con người[132].

Đức Hồng Y Lercaro, người đóng vai trò quyết định trong việc đưa đề tài nghèo khó vào trong các cuộc bàn cãi của Công đồng, đã nói rõ là vào dịp này, phải hiểu những người nghèo “theo nghĩa thông thường của từ”; Đức Giêsu không muốn “thừa nhận những công trạng của một số người trong các thính giả của Ngài, và hứa cho họ một phần thưởng”, nhưng đây là một giáo huấn về lòng thương xót hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa”, nơi mà những “tâm thái về luân lý” không có tầm quan trọng nào, nhưng chỉ sự kiện Đức Kitô đã được sai đến để an ủi họ là quan trọng[133].

Vậy đây là hai cách giải thích chính về mối phúc của người nghèo. Như ta thấy, một lối giải thích dựa trên sự nghèo khó như một ‘tình trạng tâm hồn”, một lối dựa nhiều hơn trên sự nghèo khó như một “tình trạng xã hội”. Trong cả hai trường hợp, việc giải thoát khỏi nghèo khó đến từ Nước Thiên Chúa, nhưng trong trường hợp trước, nó giả thiết một tâm thái nơi con người, còn trong trường hợp sau, chỉ có yêu cầu của Thiên Chúa đối với chính mình. Tách  riêng ra, mỗi cách giải thích không làm người ta thỏa mãn hoàn toàn. Cách giải thích trước quá hướng về chỗ loại trừ quy chiếu tới xã hội, tới thực tại nghèo khổ;  cách giải thích sau lại triệt để khai trừ những tâm thái bên trong của người nghèo.

Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh những bất tiện của cách giải thích thứ hai mà tôi thấy quan trọng nhất. Nó không cắt nghĩa mối dây liên kết chặt chẽ thấy có trong Phúc Âm giữa khái niệm nghèo khó và khái niệm khiêm nhường, giữa đặc ân của người nghèo và đặc ân của trẻ em. Hơn nữa, cách cắt nghĩa này thực ra chẳng đi đến đâu. Công cuộc giải phóng người nghèo trên bình diện xã hội học hẳn phải được Nước Thiên Chúa thực hiện, nhưng rồi khi phân tích bản tính của Nước này, người ta thấy rằng điều đó không mang lại gì mới trong tình huống cụ thể của họ, vì không làm cho họ được giầu có hơn hay thỏa mãn hơn về vật chất.

Thế nên cách giải thích hiện đại này xem ra chỉ lưu ý tới mặt xã hội. Thậm chí có nguy cơ công cụ hóa sự nghèo khó, chỉ biến nó thành cơ hội để Thiên Chúa bày tỏ sự công bình cao cả của Ngài. Không kể, ngay trong trường hợp này, sự thực hiện ở trên một bình diện hoàn toàn khác với bình diện của lời hứa và chờ đợi: người ta hứa cho người nghèo được giải thoát khỏi cảnh nghèo vật chất, nhưng sự giải thoát này cuối cùng chỉ thuộc bản chất thiêng liêng.

Chắc chắn Đức Giêsu quan tâm đến những người  thật sự nghèo, nhưng Ngài không làm như thế khi chúc phúc cho những người nghèo, cho bằng khi Ngài thấy rằng điều được làm cho họ hay không được làm cho họ như thể người ta đã làm điều đó cho Ngài, và khi Ngài đe phạt hỏa ngục những người không quan tâm đến người nghèo, như trong dụ ngôn người giầu có bất nhân.

Trong trường hợp của chúng ta, khó khăn là do người ta sử dụng phạm trù “công trạng” và “nhân đức” nơi mà lẽ ra nên sử dụng phạm trù “đức tin”. Thiên Chúa không hành động ủng hộ người nghèo vì công trạng hay những tâm thái đạo đức của họ, nhưng vì tình trạng của họ sẵn sàng nhất để tin. Điều Thiên Chúa đánh giá cao nơi người nghèo không phải điều họ có cho bằng điều họ không có: khả năng tự túc, đóng cửa, tự phụ mình cứu nổi mình. Nghĩ ngược lại tức là cho rằng Nước Trời được trao ban tiên vàn cho những người thu thuế và gái điếm vì Thiên Chúa ưu đãi “tình trạng” này, chứ không phải vì những người tội lỗi có khả năng hối lỗi, trong khi người công chính giả hiệu không có khả năng đó.

Đây không phải là xem hành động của Thiên Chúa  giả thiết một điều gì đó phải có trước (rõ ràng Người không giả định trước: quả thực, ai đã cho Người trước, để Người đền ơn sau?); nhưng là xem Thiên Chúa đòi hỏi điều gì để đáp lại. Người nghèo phải nhận ra và đón nhận sự ban tặng ưu đãi này của Thiên Chúa; chung quy là người đó phải tin. Thánh Giacôbê nói: “Nào Thiên Chúa đã chẳng chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời để họ trở nên người giầu đức tin…sao?” (Gc 2,5).

Chúng ta phải đọc mối phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ” dưới ánh sáng của nhị thức ân sủng-đức tin: “Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ” (Ep 2,8). Trong mối phúc này, Nước Thiên Chúa biểu thị sự ban ơn, sự nghèo khó trong tâm hồn, sự đáp ứng của đức tin. Người có tâm hồn nghèo khó là người nghèo có lòng tin. Như thể Đức Giêsu nói : Phúc cho anh em là những người nghèo khó, vì anh em đã tin” (đừng quên là Ngài nói với những người đã theo Ngài, với cùng một cách như trong câu “Khốn cho các ngươi” lúc Ngài nói với những kẻ thực tế đã từ chối Ngài); hoặc : Phúc cho anh em “nếu anh em tin” hoặc “vì anh em sẵn sàng hơn để tin”. Đức tin là nền tảng của mọi diễn từ Đức Giêsu nói.

Thế nên chúng ta phải tìm phương thức giải đáp cho những vấn nạn bằng cách tổng hợp hai viễn tượng trên. Phải liên kết chứ không đối nghịch “những người nghèo khó” của Luca với “những người có tâm hồn nghèo khó” của Matthêu. Khi thêm “có tâm hồn” vào chữ “nghèo khó”, thì không chỉ là công việc của huấn giáo, mà còn là công việc của chú giải: Matthêu cho thấy rõ một thành tố mặc nhiên, nhưng có thực, của khái niệm nghèo khó trong cách sử dụng của Đức Giêsu.

Qua đó chúng ta thấy Công đồng đã khôn ngoan như thế nào khi đón nhận và xen vào trong hiến chế về Giáo hội việc nhắc tới sự nghèo khó, nhưng không đón nhận cách giải thích đặc biệt về nó vào lúc có sức căng xã hội mạnh mẽ có thể làm nghèo đi chính khái niệm về sự nghèo khó.

Bằng cách này, người ta củng cố nguyên tắc lớn của Truyền Thống: không thay thế, nhưng tiến triển. Cách giải thích truyền thống về sự nghèo khó không bị đảo lộn, nhưng được làm cho phong phú. Các Giáo Phụ đã giải thích sự nghèo khó trong tâm hồn như đồng nghĩa với khiêm nhường, hoặc theo nghĩa nghèo khó “tự ý” được thực hiện trong chế độ đan viện. Để trả lời cho câu hỏi: “Ai là người có tinh thần nghèo khó”, thánh Basiliô – chúng ta chỉ nêu ra những tiếng nói có thẩm quyền nhất – nói: “Người trở nên nghèo khó vì giáo huấn Phúc Âm, hoặc người đạt tới chỗ như vậy, cho dù bất cứ lý do nào”[134]. Thánh Augustinô thì đáp: “Người có tâm hồn nghèo khó là người khiêm nhường”[135]. Liên kết hai yếu tố khiêm nhừng và tự ý, thánh Gioan Kim Khẩu đáp: “Người có tâm hồn nghèo khó là người khiêm nhường và người có lòng thống hối…Có nhiều người nghèo khó nhưng không tự ý, nhưng thực tế là do nhu cầu: đây không phải là người Chúa nói”. Theo ngài, người nghèo thực sự là người có tâm hồn hòa bình và thống hối, như nói trong Isaia 66,2 chẳng hạn[136].

Cách giải thích truyền thống này, được làm cho hoàn hảo trong con đường thơ ấu của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, được làm cho phong phú, nhờ những tranh luận mới đây, bằng việc lưu ý nhiều hơn tới chiều kích xã hội học và hiện sinh của người nghèo, nhưng người ta đã không phủ nhận nó.

Lý tưởng Kinh thánh về sự nghèo khó trong tâm hồn

Sau khi nhìn những gì theo sau bản văn – những cách thực hiện và giải thích về sự nghèo khó trong Giáo hội –, lúc này, trở lại với bản văn, chúng ta thử xem những gì đã đi trước và chuẩn bị nó trong chính Kinh Thánh (chúng ta nhớ lại số “8”). Tôi không muốn phác họa lịch sử hình thành lý tưởng những người “nghèo khó của Chúa” nơi Israel. Ngược lại, tôi cố gắng vạch rõ những nội dung chủ yếu của lý tưởng này, những người ngày hôm nay có thể làm cho chúng ta trở thành những người có tâm hồn nghèo khó đích thực.

Có hai yếu tố, một tiêu cực và một tích cực. Cả hai được tóm tắt trong sấm ngôn của Sôphônia, một trong những người đầu tiên trình bầy lý tưởng này: “Ta sẽ cho sót lại giữa các ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ, chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa, số dân Israel còn sót lại” (Xp 3,12 tt).

Yếu tố tiêu cực, diễn ta bằng những hạn từ khiêm nhường và nghèo khó, hệ tại ở chỗ không có tự mãn, kiêu căng, cả cá nhân lẫn quốc gia, trong sự nhận biết tội mình và cần ơn cứu độ. Đây là một cách thức mới, tinh tế về phương diện tôn giáo, cho con người đối diện với Thiên Chúa, và là một bước nhảy thực sự về phẩm chất trong sự tiến triển về tình cảm tôn giáo của nhân loại. Tình cảm tùy thuộc này bắt đầu được vẽ phác, một tình cảm riêng cho thụ tạo đối diện với Thiên Chúa, mà một số người biến nó thành yếu tính của tính tôn giáo. Con người không còn nhận ra mình như liên minh hay bề tôi của Thiên Chúa, có thể tự hào về những quyền và uy tín trước mặt Người, nhờ việc tuân giữ lề luật và thực hành phụng tự, không những thế, mà còn như một người tùy thuộc Thiên Chúa trong mọi sự và vì mọi sự, mà vì thế chỉ có thể có tương quan với Người như một người mắc nợ mọi sự, trong tinh thần thuần túy biết ơn.

Như vậy, ý thức về sự kiêu hãnh mang tính quốc gia, thừa hưởng từ thời kỳ vàng son của chế độ quân chủ, nhường chỗ cho ý thức về sự nghèo khó và bé nhỏ. Sách Đanien viết: “Thế mà hôm nay, lạy Chúa, vì tội lỗi chúng con, chúng con đã thành dân nhỏ nhất, đã nếm mùi ô nhục trên khắp hoàn cầu” (Đn 3,37). Trong bối cảnh này, ý tưởng về tâm hồn thống hối và về tinh thần bị hạ nhục nẩy sinh, rất gần gũi với ý tưởng về sự nghèo khó trong tâm hồn (x. Is 66,2;  Đn 3,39).

Yếu tố hay bước ngoặt tích cực đi kèm với tình cảm tôn giáo này là sự tin tưởng vô điều kiện nơi Thiên Chúa, sự “phó thác tin tưởng”: “Số còn sót lại của Israel tin tưởng vào Chúa”. Những Thánh vịnh được gọi là “Thánh vịnh của những người nghèo” đầy những kiểu diễn tả cảm động về sự tin tưởng vào Thiên Chúa: “Người nghèo kêu lên Chúa liền nhậm lời” (Tv 34,7); “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, nhưng Chúa hằng nghĩ tới” (Tv 40,18). Trong những Thánh vịnh này, người ta đi từ ý nghĩa về những người nghèo tới những nghĩa tùy phụ mang tính xã hội (những người yếu đuối, làm mồi cho bọn giầu có và quyền lực gây phiền nhiễu) để cuối cùng tới ý nghĩa hoàn toàn tôn giáo, nơi mà “nghèo khó” tương đương với “công chính”“ngay lành” (x. Tv 140,13 tt) hoặc với “khiêm nhường”“nhỏ bé”.

Khiêm nhường và tin tưởng vào Thiên Chúa, hai yếu tố chủ chốt này của lý tưởng nghèo khó tinh thần được kết hợp cách tuyệt diệu trong Thánh vịnh được gọi là Thánh vịnh về con đường thơ ấu thiêng liêng: “Lòng con chẳng dám tự cao (…) giữ cho thinh lặng giữ sao thanh bình, như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui. Cậy vào Chúa, Israel ơi, từ nay đến mãi muôn đời muôn năm” (Tv 131).

Người ta cũng nhận thấy lý tưởng thiên sai trong bầu khí thiêng liêng mới mẻ này. Chính Đấng Thiên Sai cũng được coi như người dẫn đầu số sót nghèo khó và khiêm nhường này: “Kìa Đức Vua người đang đến với ngươi. Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa” (Dc 9,9).

Đức Giêsu đã thu nhận và đưa tới hoàn thiện lý tưởng thiêng liêng phong phú này. Cũng như mọi khi, Đức Giêsu sống điều đó trước và công bố sau trong Phúc Âm, khi dứt khoát diễn đạt nó qua mối phúc của những người có tâm hồn nghèo khó. Ngài dạy chúng ta học với Ngài vì Ngài “có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29): một kiểu diễn đạt mà, nếu để ý đến ý nghĩa của những từ “khiêm nhường” và “hiền hậu” trong Kinh Thánh, hẳn có thể được dịch là “có tâm hồn nghèo khó”. Ngài sinh ra do một thiếu nữ trong một môi trường thấm nhiễm lý tưởng “những người nghèo của Chúa”. Ngài được những con người không có tham vọng quyền cao chức trọng bao quanh. Ngài thực hiện, ngay cả về phương diện vật chất, lời tiên tri về Đấng Mêsia khiêm nhường, ngồi trên lưng một con lừa con mà đến (x. Mt 21,4 tt).

Tiếp đến, trong mọi bài giảng, Ngài khắc sâu hai yếu tố chúng ta vừa nói. Một đàng là khiêm nhường, thống hối, không muốn tự cứu bằng những công trạng riêng, như thấy trong dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế; đàng khác là tin tưởng tuyệt đối vào Cha trên trời, Đấng nuôi cả những chim trời, mặc đẹp cho những bông huệ (x. Mt 6,24-34). Ngài thường tóm lược hai nét đó bằng hình ảnh rất quen thuộc là trở nên như con trẻ, đến nỗi, như Đúc Giáo hoàng Gioan Phaolô II viết trong thư gửi các trẻ em, tất cả Phúc Âm “hầu như được đọc trong toàn bộ như ‘Phúc Âm của trẻ em’”[137].

Khởi từ kinh Magnificat của Đức Maria, trong Phúc Âm, hai loại người đối lập nhau được phân định ranh giới: một bên là người giầu có, quyền lực, no đủ, thông thái, bên kia là những người nghèo khó, khiêm nhường, đói khát, bé mọn. Có một ngày, Đức Giêsu được Thần Khi tác động, vui mừng hớn hở và nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi ken Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn” (Lc 10,21). Thánh Augustinô bình giải: “Ngài không nói ‘Cha đã mạc khải cho những người điên rồ ngốc nghếch’, nhưng nói: ‘Cha đã mạc khải cho những người bé mọn’. Ai là người bé mọn? Những kẻ khiêm nhường. Ôi, đường lối của Chúa! Hoặc nó không có, hoặc nó được giấu kín để được mạc khải cho chúng ta”[138].

Sống mối phúc của những người nghèo như thế nào

Giờ đây đã đến lúc chúng ta đứng trước lời Đức Giêsu nói “Phúc cho những người có tâm hồn nghèo khó”, với một thái độ khác với thái độ cho tới lúc này: không nói về những người muốn tìm hiểu nữa, nhưng về những người có ý định thực hành. “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành thì thật phúc cho anh em” (Ga 13,17). Hạnh phúc, không phải cho những ai biết tất cả về những người có tâm hồn nghèo khó, nhưng cho những ai có tâm hồn nghèo khó.

Trước hết, hãy áp dụng sự nghèo khó trong tâm hồn vào Giáo hội. Trước khi áp dụng vào các cá nhân, chúng ta đã thấy lý tưởng nghèo khó tinh thần được áp dụng cho một dân: “Ta chỉ để tồn hữu trong lòng ta một dân tộc khiêm nhường và nghèo khó”. Ngày hôm nay, dân thiên sai này được biểu thị bằng Giáo hội. Vậy đây là một nét cũng phải nói lên tính chất của toàn bộ Giáo hội, với tư cách là thể chế và dân Thiên Chúa.

Làm sao có thể tái tạo và gìn giữ ngày hôm nay cho sống động trong Giáo hội sự hoán cải được thực hiện nơi Israel, khi mà, từ sự tin tưởng ngây ngô vào nguồn lực chính trị và tôn giáo (lề luật, chế độ quân chủ, phụng tự, đền thờ) và một cảm tưởng vượt trên những dân tộc khác, người ta qua một tình cảm hoàn toàn mới mẻ về sự nghèo khó, nhỏ bé và tứ tán về tôn giáo. Tiếp nối cho sự tin tưởng vào mình là sự tin tưởng vào Thiên Chúa, không hơn. Không có ý định biến Thiên Chúa thành dụng cụ và sự tin tưởng này thành những gì chắc chắn và bảo đảm như một số người đã làm, khi đứng trước nguy hiểm đã bình tâm mà nói: “Đền thờ của Đức Chúa là đây. Đã có đền thờ của Đức Chúa” (Gr 7,4). Đây là lúc mà các tiên tri khuyên dân hãy thôi đừng muốn đóng vai trò của mình giữa các quyền lực lớn của thời đại, để chỉ nương tựa vào một mình Thiên Chúa.

Tất cả những điều đó không nói gì với chúng ta sao? Nếu không thể từ chối khía cạnh chính trị và ngoại giao của đời sống Giáo hội, khía cạnh ấy phải ngày càng thấm nhiễm tinh thần nghèo khó mà chúng ta đã chiêm ngắm. Những “Sứ thần Tòa thánh” chẳng hạn phải ý thức mình là đại sứ của một ông vua nghèo khó và khiêm nhường ngồi trên lưng một con lừa con, một ông vua sinh ra trong chuồng chiên và chết trên thập giá. Người ta không thể bày tỏ sự khác biệt thiêng liêng liêng này mà không đồng thời chấp nhận khác biệt ở bên ngoài trong những thể chế chính trị tương tự của thế giới: trong vẻ lộng lẫy, các tước hiệu, thái độ, ngôn ngữ, phong cách, trong mọi sự. Những tòa đại sứ Vatican, trong những nước có quan hệ ngoại giao, là những tòa đại sứ “ngoại quốc”, theo một nghĩa triệt để hơn nhiều so với những tòa đại sứ khác. Chúng không chỉ biểu thị một Nhà Nuóc khác, mà còn một thế giới khác.

Nhờ ơn Chúa, tiến trình này, nhất là từ những năm sau Công đồng, đang trong hành động, đặc biệt ở chứng tá đời sống cá nhân. Nhưng lời Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta không được ngừng lại lúc bắt đầu hay giữa đường. Thay đổi cơ cấu bên ngoài đôi khi khó hơn thay đổi trong tâm hồn. Cha Gauthier, trong bài “Sứ điệp Công đồng” của mình, đã viết như sau: “Niềm hy vọng của người nghèo, trước hết và trên hết, là được gặp Đức Giêsu Nadarét, người thợ mộc, sống trong Giáo hội, có thể nhận ra Ngài khi gặp gỡ Giáo hội. Người nghèo và công nhân không muốn biết gì về một Giáo hội tự nhận mình là hiền thê Đức Kitô và có dáng vẻ của mệnh phụ…Làm sao một người vợ lại có thể ăn mặc và sống khác với những gì chồng mình ham muốn và ưa thích?[139]

Sự nghèo khó của Đức Giêsu trước hết là từ bỏ mọi uy tín. Tìm kiếm uy tín không phải là một điều gì đó nhất thiết xấu, nhưng quan trọng là làm rõ những gì chúng ta hiểu qua uy tín. Đó là một hạn từ hàm hồ; thậm chí nó còn là một trong những thần tượng lớn nhất của thế gian. “Uy tín”: đừng gợi ra từ đó! Đức Giêsu dạy các môn đệ đặt uy tín đối nghịch với cách thế gian hiểu. Ngài nói: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10,44). Uy tín thuộc Phúc âm hệ tại ở chỗ chắc chắn phải tốt hơn hết, nhưng tốt hơn trong sự khiêm nhường và phục vụ. Nghề nghiệp đích thực của giáo sĩ, một nghề đáng để mắt Đức Kitô nhìn đến, là một bước tiến, nhưng là một bước tiến xuống dưới. Nói về “uy tín của Giáo hội” mà không xác định rõ như trên, là một sự mâu thuẫn trong chính các hạn từ.

Sự nghèo khó tinh thần này không chỉ cần thiết “ở trên đỉnh”, nhưng là ở mọi cấp độ đời sống của Giáo hội. Thánh Phêrô khuyên các linh mục “đừng lấy quyền mà thống trị” những người mà Thiên Chúa đã trao phó cho mình (x. 1Pr 5,3) và thánh Phaolô phản đối không muốn cư xử như những “quản lý” trong cộng đồng (x. 1Cr 1,24). Một cách cư xử như người quản lý thay vì là ngươi phục vụ hoặc kiểu mẫu của đàn chiên, là điều hành những gì thuộc cộng đồng (nhà thờ, dinh thự, những cơ cấu khác nhau, quỹ), là từ chối hoặc nhượng quyền sử dụng như thể cái đó là tài sản độc chiếm của mình chứ không phải là công ích mà tất cả cộng đồng, qua những cơ quan đại diện, có quyền phát biểu ý kiến về việc sử dụng chúng.

Về vấn đề này, quan sát cách thánh Tông Đồ điều hành quỹ tiền lạc quyên là việc có ích. Ngài muốn có bên ngài những người đại diện “được Giáo hội lựa chọn” chứ không phải ngài, và như ngài nói, làm như như thế để không ai có thể có cớ khiển trách ngài về số tiền lớn ngài chịu trách nhiệm (x. 2Cr 8,19 tt; 1Cr 16,3). Trong tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục về việc đào tạo linh muc, Pastores dabo vobis, Đức Gioan Phaolô II viết: “Đích thân hội nhập vào cộng đồng mà mình có trách nhiệm, linh mục cần phải nêu chứng tá về một sự “trong suốt” hoàn toàn trong việc quản trị tài sản của cộng đồng. Linh mục sẽ không bao giờ xử sự như thể các tài sản ấy là gia sản riêng tư của mình, nhưng như những gì mà mình phải thanh thỏa trước mặt Thiên Chúa và trước mặt anh em mình, nhất là trước những người nghèo”[140].

Lý tưởng của sự nghèo khó tinh thần, như người ta nói, luôn bao gồm sự phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa như một thay đổi tích cực không tin tưởng nơi mình. Đôi khi có lẽ ngay cả chúng ta cũng không nhận ra, chúng ta nói như thể tương lai của Giáo hội không chắc chắn hoặc thăng trầm theo những biến cố lịch sử của các phong trào quần chúng và của những thay đổi xã hội. Trước câu hỏi “Nghĩ gì trước viễn tượng một Kitô giáo xem ra sẽ trở thành một thiểu số tôn giáo trên thế giới?” Đức Gioan Phaolô II trả lời bằng cách trưng dẫn lời của Đức Kitô: “Hỡi đàn chiên nhỏ, đừng sợ” và nhắc lại rằng “Phúc Âm không hứa thành công dễ dàng, cho dù đồng thời vẫn là một lời hứa lớn[141]”. Đúng thế.

Tương lai của Giáo hội ở trong tay Đấng Phục Sinh, Đấng mà “mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho”, và như vậy ở trong những bàn tay tốt lành. Chúng ta có những xác nhận nhiều vô kể trong hai mươi thế kỷ này. Về điều đó, Đức Giêsu nói: “Đừng lo lắng. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy”. Thời kỳ nào có cái khổ của thời kỳ ấy.

Charles Péguy đặt vào miệng Chúa những lời sau đây:

Người ta nói với Ta

Có những người không ngủ

Làm việc tốt và ngủ không tốt

Thiếu tin tưởng vào Ta biết mấy

Họ điều hành công việc rất tốt ban ngày

Nhưng không muốn giao phó cho Ta việc điều hành ấy ban đêm.

Như thể Ta không có khả năng bảo đảm việc điều hành ấy ban đêm

Họ không nhẫn nại giao việc điều hành ấy cho sự khôn ngoan của Ta

Có lẽ các ngươi có thể giao vào tay Ta những công việc của các ngươi, mà không có những thiệt hại lớn, hỡi những con người khôn ngoan

Sáng hôm sau các ngươi sẽ lại thấy chúng có lẽ không quá hư hao

Có lẽ Ta còn có khả năng hướng dẫn chúng một chút[142].”

Sự bận tâm lo lắng về ngày mai là “cái bẫy mà chỉ những con người tự do mới có thể rơi vào”. Để chữa chúng ta, Đức Giêsu gửi đến cho ta bài học về chim trời và hoa huệ ngoài đồng. Nhưng với con người chúng ta, Ngài đòi hỏi chúng ta hơn những con chim và hoa huệ. Chúng không biết ngày mai sẽ ra sao, vì chúng không phải là những hữu thể tự do. Nhưng “sự hoàn hảo, chính là biết nguy hiểm, thấy bằng mắt mình, hoàn toàn tỉnh thức, có khả năng trải nghiệm sự quan tâm về vật chất, bằng cách vượt qua nỗi sợ hãi bằng đức tin và sự phó thác, để được thực sự giải phóng khỏi những tư tưởng gây phiền nhiễu trong sự vô tư lự của đức tin[143]”.

Chúng ta có thể làm một món quà đẹp đẽ cho Hài Nhi Giêsu là đặt trước chiếc nôi của Ngài mọi băn khoăn lo lắng không cho chúng ta yên giấc, những bận tâm vô ích, như các mục đồng bỏ mũ ra khỏi đầu và đặt chúng trước mặt Ngài. Chúng ta hãy nhớ lại những gì Đức Giêsu đã nói với các tông đồ trên thuyền, sau khi đã dẹp yên bão tố: “Sao nhát thế? Làm sao mà các anh vẫn chưa có lòng tin?” (Mc 4,40).

Nghèo khó và trở về hiệp nhất

Khi đọc Kinh Thánh, các Giáo Phụ được một tiêu chuẩn hướng dẫn mà các ngài tóm tắt bằng lời “Giáo hội hoặc linh hồn”, nghĩa là: những gì được viết ra trong lời Thiên Chúa luôn có hai mức áp dụng: một liên hệ tới Giáo hội và một liên hệ tới tâm hồn người tín hữu. Tôi muốn làm rõ những gì lý tưởng Kinh thánh về sự nghèo khó trong tinh thần có thể có nghĩa cho mỗi người tín hữu hôm nay, trong cuối thiên niên kỷ thứ hai này.

Chúng ta đã nói là phải tìm lý do sâu xa của sự nghèo khó trong tội lỗi, là tội đã xúi giục con người “không màng tới Thiên Chúa để quay về với thụ tạo”. Nhưng phải chăng đó không phải là lý do cuối cùng, theo nghĩa tuyệt đối? Cho dù không có tội, hẳn phải có một lý do để từ bỏ việc làm chủ và hưởng thụ ngay cả những gì tốt. Thiên Chúa đã đặt con người giữa các điều tốt đa dạng, không phải để họ dứt khoát ở trong tình trạng này, coi nó là vĩnh viễn, và làm “ba lều” tại đó. Không phải để họ yên hàn thỏa mãn giữa những điều tốt này, nhưng để từ nét đa dạng này, họ bắt đầu đi tới sự hiệp nhất, tới Sự Thiện duy nhất và tối cao, và cuộc chinh phục này cũng là công trình của họ, bao gồm sự siêu thoát, chọn lựa, thực hành cụ thể sự tự do.

Khi ban cho con người giới răn thứ nhất là yêu mến Người “hết sức lực”, Thiên Chúa mời gọi con người tập trung vào một tình yêu duy nhất, và vì vậy, theo một nghĩa nào đó, vào sự từ bỏ và nghèo khó. Thánh Gioan Thánh Giá nói: “Yêu mến Thiên Chúa có nghĩa là bỏ cho Chúa tất cả những gì không phải là Ngài[144].” Chúng ta được tạo ra cho sự hiệp nhất, để “là mọi sự một cách nào đó”. Nếu là mọi sự về phương diện vật chất, chúng ta sẽ tìm cách đạt được mục đích bằng cách tiến hành việc gia tăng, thêm thắt, sáp nhập, bằng cách kiếm cho ta những của cải mới, thú vui mới. Nhưng nếu là mọi sự về phương diện tinh thần, phải đi theo con đường đối nghịch và tiến hành bằng cách giảm bớt, giảm trừ, từ bỏ, trở về với mọi sự ở phía đối nghịch, có thể nói là đi ngược đường. Như thể có người nào đó, đang ở bờ Phi châu của eo biển Gibraltar, đi vòng quanh Địa Trung Hải để đến bờ đối diện bên Âu châu, và một người khác lao mình xuống nước bơi qua eo biển, đạt tới đích chỉ bằng ít sải tay. Chính đó là con đường nghèo khó. Nhờ nó, động tác “các thụ tạo ra khỏi Thiên Chúa”, tức động tác của việc tạo dựng, nhường chỗ cho động tác “các thụ tạo trở về với Thiên Chúa”, tức động tác của sự Cứu Chuộc.

Cách cắt nghĩa này về sự nghèo khó được diễn tả cách nổi tiếng nhất trong trường phái thần bí sông Rhine. Thầy Eckhart có một bài giảng thời danh về mối phúc nghèo khó, trong đó thầy quả quyết người có tâm hồn nghèo khó là người “không muốn gì, không biết gì, không có gì”. Về không muốn, nghèo khó là người “lột bỏ ý muốn thụ tạo của mình như nó đã là như thế khi nó còn chưa hiện hữu”. Về không biết, nghèo khó là “không biết điều gì, cả về Thiên Chúa, lẫn về thụ tạo và về chính mình”; thậm chí không tự phụ biết Thiên Chúa có hoạt động nơi mình hay không và hoạt động cách nào, từ bỏ mọi hoạt động riêng của ký ức, trí khôn và trí tưởng tượng, vì bản chất tản mát của nó, để đứng vững ở nơi mà mọi sự là một, nơi mà vô tri và tri thức trùng hợp. Về không có, nghèo trong tinh thần là không có ngay cả một nơi riêng để Thiên Chúa có thể hoạt động, nhưng chớ gì “con người được tự do cho Thiên Chúa và cho mọi công việc của Ngài, đến nỗi Thiên Chúa, nếu muốn hoạt động, chính Ngài là nơi để Ngài hoạt động[145]”.

Những nhà thần bí vùng sông Rhine không phải là nhưng người duy nhất nói như thế. Thánh Gioan Thánh Giá cũng giới thiệu dưới ánh sáng này sự nghèo khó tinh thần, nhưng tránh những gì thái quá nơi những người trước. Ngài gọi sự nghèo khó tinh thần là “trần trụi”, hệ tại ở từ bỏ những của cải có thể ở trong tâm hồn như những ước ao, thèm muốn, an ủi. Người nghèo thực sự là người “đặt lại mọi sự trong không gì cả[146]”.

Để hiểu những quả quyết này, phải đặt chúng trong viễn tượng toàn bộ của các tác giả này. Nơi con người có hai chiều kích: một chiều kích “thuộc yếu tính”, như một hạt nhân hợp nhất và bền vững, được gọi là “đáy linh hồn” có liên quan trực tiếp với Thiên Chúa; và một chiều kích “thuộc tùy thể” và đa dạng được diễn tả trong các quan năng (ý muốn, trí khôn, ký ức) và trong các giác quan kéo dài hoạt động của linh hồn ra bên ngoài. Cấp thứ nhất là cấp của hữu thể, cấp thứ hai là cấp của hành động.

Do đó, nơi con người cũng có hai chuyển động: một chuyển động hướng vào bên trong, vào tận đáy linh hồn, qua sự ngưng trệ của mọi hoạt động ý chí (sự nghèo khó tinh thần hệ tại ở đó); và một chuyển động hướng ra bên ngoài, ra hành động (muốn, biết, có). Chuyển động thứ nhất được gọi là “ùa vào” hay xâm nhập (irruptio) là một sự trở về hiệp nhất, chuyển động thứ hai được gọi là “mạnh mẽ ra khỏi” hay “thoát khỏi” (eruptio) là một lối đi tới đa dạng. Thiên Chúa ở cuối chuyển động thứ nhất. Do đó mà ở đây người ta thấy tầm quan trọng của sự nghèo khó tinh thần, sự nghèo khó này không chỉ là một nhân đức thuộc khổ chế, nhưng cũng thuộc thần bí.

Vậy điều gì xẩy ra ở cuối con đường trở vào nội tâm? Một lễ Giáng Sinh, lễ “Giáng Sinh của Thiên Chúa” trong tâm hồn. Cũng chính Thầy Eckhart, trong một bài giảng lễ Giáng Sinh, trình bầy biến cố thần bí này trong tất cả vẻ huy hoàng và mạnh bạo của nó[147].

Cùng với Origen, Augustinô và nhiều người khác trước thầy, Thầy lặp lại rằng: việc Đức Giêsu đã một lần được Đức Maria sinh ra ở Belem giúp ích gì cho tôi, nếu Ngài không lại sinh ra ở nơi tôi? Nơi của cuộc đản sinh này, máng cỏ hay chiếc nôi, chính là đáy linh hồn này. “Thế nên, linh hồn, nơi xẩy ra cuộc đản sinh này, cần được giữ cho hoàn toàn trong sạch và sống động để được hoàn toàn cao quý, linh hồn phải là một với chính mình và trong chính mình, không được tản mát qua năm giác quan trong các thụ tạo dạng, nhưng phải được kết hợp bên trong với chính mình trong những gì tinh tuyền nhất mà nó có”. Cũng trong trường hợp này, lời xuống từ trời “khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng” (Kn 18,14). Không ai có thể đi vào tận “đáy linh hồn” này, ngay cả chính linh hồn, mà chỉ có mình Thiên Chúa. Ở đây, như Người làm từ đời đời, Thiên Chúa tuyên bố “Lời toàn năng” của Người, và lời đó sinh ra.

Nhưng cách thức mà tất cả những điều đó xẩy đến là như thế nào? Chính xác là qua sự nghèo khó tinh thần. Con người không thể cổ võ hành động này của Thiên Chúa cách tốt hơn là không những không màng chi đến của cải, mà cả mọi hoạt động và những cách thể hiện chúng. “Nếu bạn lột bỏ chính bạn và tất cả những gì ở bên ngoài, bạn sẽ nhận được nó trong toàn thể của nó.” Vì vậy, “bạn hãy ra khỏi sự náo động của những hoạt động bên ngoài. Hãy trốn đi trước sự ồn ào của những công việc bên ngoài và những tư tưởng bên trong, vì chúng chỉ làm cho bạn lo lắng”.

Kết qủa của tất cả những chuyện đó là gì? Không những Chúa Cha sinh Con của Người nơi bạn mà chính bạn cũng được sinh ra như con Thiên Chúa và bạn nhận được quyền năng từ Người. “Ánh sáng rực lên trong bóng tối: nó đến trong lãnh địa của mình (đáy linh hồn), và những ai đón nhận thì được quyền trở nên con Thiên Chúa.”

Chúng ta tự hỏi: một lý tưởng xem ra quá xa với thực tại có còn ích gì cho chúng ta chăng? Các tác giả này không ngừng lặp lại rằng lý tưởng ấy không dành cho một số rất nhỏ, nhưng mở ra cho mọi người đã được rửa tội, và thậm chí, ở một mức nào đó, cho mọi người. Và có lẽ chúng ta có khả năng ngày hôm nay nhận ra những xác tín của các ngài là đúng. Ít ra chúng ta có thể hiểu một học thuyết, được cả một thế hệ những người đặc biệt, quy tụ ở thung lũng sông Rhine trong suốt thế kỷ XIV, soạn thảo ra, có thể có một ảnh hưởng rất lớn và may mắn trong thời đại ta ra sao. Chắc chắn học thuyết này phải được thanh luyện khỏi những yếu tố thái quá và nguy hiểm, điều mà Giáo hội đã bắt đầu thực hiện khi họ còn sống. Nhưng điều đó không làm chúng ta phải ngạc nhiên. Nếu “ơn nói tiên tri của chúng ta có hạn” (1Cr 13,9), thì khoa thần bí của chúng ta cũng có hạn.

Hiểu trong hạt nhân gợi hứng của nó và trong những yếu tốt chủ chốt của nó, nhãn quan này có thể cống hiến cho Giáo hội hôm nay một dụng cụ để trả lời cho một trong những thách đố nghiêm trọng nhất: thách đố đến từ sự quyến rũ do các truyền thống tôn giáo khác thực hiện, nhất là Phật giáo. Và đáp lại bằng cách gắn bó với gia sản thiêng liêng của mình. Và cũng là để loan báo cho những con người của thời đại ta những gì họ đang lần mò tìm kiếm ở nơi khác.

Chuyển động mang tính đặc trưng của văn minh hiện nay không phải là hướng tâm (“trở vào lại trong chính mình”), nhưng là ly tâm (“ra khỏi mình”), không phải trở về hiệp nhất, nhưng ùa tới đa tạp; không phải hướng tới hữu thể, nhưng tới hành động và sở hữu. Người ta biết có những lời phê bình gay gắt như thế nào nhắm vào linh đạo truyền thống, chẳng hạn phê bình cuốn Gương Chúa Giêsu Kitô, một linh đạo hoàn toàn hướng vào nội tâm và trốn khỏi thế gian. Người ta đưa ra một linh đạo đối lập gọi là dấn thân về xã hội và chính trị, một thứ tôn giáo được coi là “thuộc giới răn thứ hai”, đi vào thế giới và muốn thay đổi thế giới.

Bất hạnh là người ta đã không nhận ra rằng chuyển động này được xen vào một chuyển động khác có cùng một chiều hướng làm gia tăng hiệu quả. Thực tế, tất cả văn hóa của chúng ta đều hướng về hành động, về việc làm biến đổi thế giới, hướng tới chỗ chinh phục thế giới. Chúng ta đang sống ở kỷ nguyên có những truyền thông đại chúng. Truyền thông, được mọi người biết đến trong thời gian ngắn nhất có thể, đang là nỗi ám ảnh hàng ngày. Nhưng khi hành động như vậy, con người rời xa trung tâm và chính nguồn mạch sức mạnh của mình. Trong tiến trình này, con người bị phân tán, và các nhà thần bí mà chúng ta đã nhắc đến trên kia cho biết tại sao. “Mọi quan năng đổ ra bên ngoài đều bất toàn…Nếu mắt bạn muốn thấy hết, tai bạn muốn nghe hết, trái tim bạn muốn tất cả những cái đó hiện diện, thì linh hồn bạn bị đổ vỡ và phân tán nơi mọi sự, đó là chuyện không tránh được.[148]” Như thế, chúng ta hiểu sự “yếu kém” mà chúng ta bắt đầu ý thức. Thời đại chúng ta không chỉ có một “tư tưởng yếu kém”, như người ta nói, mà còn có một ý chí yếu kém, một ký ức yếu kém, một nghệ thuật yếu kém. Thần thoại thường nói đến một vị thần bị xâu xé, với các chi thể tản mát trong vũ trụ. Linh hồn con người cũng vậy. Có một sự phân tán của linh hồn, qua đó linh hồn bị phát tán, tản mát tứ phương.

Thế nhưng điều gì xẩy ra trong khi chờ đợi? Một điều gì đó nổi loạn chống lại sự tha hóa sâu xa. Chúng ta được thấy những dấu chỉ của nó trong những lãnh vực khác nhau. Nhưng dấu chỉ liên hệ nhất đối với chúng ta, mà cũng đáng lo ngại nhất, là dấu chỉ được ghi nhận trong lãnh vực tôn giáo. Luôn có đông người hướng tới những hình thức tôn giáo tính Đông phương có vẻ hứa hẹn cho con người từ chỗ phân tán trở lại sự hiệp nhất, để được tiếp xúc trực tiếp với thực tại hay ý thức (hoặc sự vắng mặt của thực tại hay ý thức, tùy người), được gọi, tùy trường hợp, là Thượng Đế, Chân Như, hoặc Chân Không.

Chúng ta đã thấy rõ trong kho tàng của Giáo hội có một cách khác trả lời cho đòi hỏi này đang lộ ra trong con người hiện đại. Chính ở đây người ta thấy khía cạnh tích cực của đối thoại tôn giáo. Nó khuyến khích mỗi người ý thức hơn không những về nét đặc thù và khác biệt của mình, mà cả những tiềm năng chưa được khám phá trong di sản tinh thần riêng của mình; đưa ra những câu trả lời từ bên trong các câu hỏi từ bên ngoài.

“Hãy trở vào trong chính bạn!”

Lý tưởng hình thành từ mối phúc tin mừng của các người nghèo tinh thần một lần nữa cống hiến cho chúng ta điều gì? Câu trả lời là rõ ràng, đặc biệt nếu chúng ta bổ túc cho Eckhart bằng Augustinô, người thường là nguồn gợi hứng cho Eckhart. Thánh Augustinô khuyên chúng ta: “Đừng đi ra ngoài. Hãy trở vào trong chính bạn; chân lý ở nơi con người bên trong[149]”.

“Hãy trở vào trong chính bạn”. Cho tới lúc này, nhiều người đã làm thế, nhưng Kitô giáo thêm: “Đức Kitô ở nơi con người bên trong[150]”. Một Ngôi vị, chứ không phải một “chân lý” trừu tượng. Khi vào trong trung tâm của mình, trong sự trần trụi của hữu thể, con người không chỉ tìm thấy chính mình, hoặc sự thinh lặng, hoặc sự vắng mặt tất cả hay trống rỗng; ngược lại, con người tìm thấy Hữu Thể, thấy Lời, sự Hiện Diện, sự Viên Mãn. Trong sâu thẳm, Chúa Cha “ban cho bạn Ngôi Lời vĩnh cửu, và trong Ngôi Lời này, Người ban cho bạn sự sống riêng của Người, hữu thể riêng của Người, thần tính của Người, một cách tuyệt đối[151]”.

Tất cả những điều trên đây phải chăng được giải quyết bằng việc phủ nhận hành động, phủ nhận bác ái hữu hiệu, phủ nhận đến với thế giới? Không phải. Trái lại, nhờ tiếp xúc đổi mới với trung tâm và nguồn mạch của hữu thể riêng (và như vậy là với Thiên Chúa), “các quan năng và cả con người bên ngoài của mình sẽ được chiếu sáng. Bởi vì Thiên Chúa vừa chạm tới đáy linh hồn bằng chân lý của Người, thì ánh sáng cũng lan tỏa trong các quan năng, và con người trong một lúc nhận được nhiều hơn tất cả những gì người ta dạy bảo cho nó[152]”.

Đó cũng là điều mà kinh nghiệm thông thường xác quyết. Những công việc trọng đại, những hành động thực sự có một ảnh hưởng trong suốt dòng lịch sử tu đức của nhân loại luôn là những việc đến từ một sự yên lặng lâu dài. Sứ điệp của Eckhart và của các nhà thần bí nói chung không phải là từ bỏ việc dấn thân, rút lui khỏi thế giới, nhưng là “tái lập sự quân bình và nhịp điệu mang tính sống còn của bên ngoài và bên trong, của duy nhất và đa dạng; sự cần thiết phải tái khám phá những nguồn phong phú của chiều sâu của linh hồn, để đưa chúng vào trong các mối tương quan giữa con người, là những tương quan chỉ có thể được cứu đặc biệt nhờ sự canh tân bên trong nơi mỗi người[153]”.

Thế giới hôm nay có một nhu cầu khẩn cấp tái khám phá sự quân bình này. Chúng ta bị đe dọa chết ngạt về đường thiêng liêng, nhất là trong các thành phố lớn hiện đại, nơi mà mọi sự đều mang tính bên ngoài, làm điếc tai và lóa mắt. Con người đi quá xa nơi mình ở, đến nỗi không thể tìm lại con đường trở về nữa. Phần chúng ta, những thừa tác viên của lời Chúa và những “người phục vụ Thần Khí”, như thánh Tông Đồ nói (x. 2Cr 3,8), chúng ta phải khiêm nhường phục vụ họ trong việc đó, tránh cho người trẻ đi đến tận Viễn Đông, để tìm kiếm người nào đó giúp họ khám phá chính họ và Thiên Chúa.

Chuẩn bị nhiệm vụ này như thế nào? Tiên vàn chính chúng ta là những người đầu tiên trở về với lòng mình, thực sự cử hành “lễ Giáng Sinh của tâm hồn” được đề nghị cho chúng ta. Như chúng ta đã nói nhân bàn về sự nghèo khó vật chất, việc đầu tiên phải làm là say mê lý tưởng này, xin Chúa Thánh Thần “lôi kéo chúng ta” đến lý tưởng này. Rồi bắt đầu thực hành nó, ít nhất trong những việc nhỏ.

Những gì chúng ta nghe từ các nhà thần bí vùng sông Rhine về sự nghèo khó tinh thần là cao cả, nhưng có lẽ còn quá trừu tượng và suy lý, nên không thể đưa ra thực hành. Và đây, con người khiêm nhường Phanxicô Assisi cho chúng ta thấy một vài bước cụ thể mà ai nấy đều có thể bắt đầu làm. Ngài viết: “Có nhiều người say mê cầu nguyện và đọc kinh phụng vụ, đánh tội thường xuyên và hãm mình. Nhưng trước một lời xem ra là lăng nhục hoặc một việc bất công với cái “tôi” thân thương của họ, hoặc một đồ vật nào đó bị người ta lấy mất, ngay lập tức họ cảm thấy bị vấp phạm và mất đi sự bình an trong tâm hồn. Những người đó không có tinh thần nghèo khó đích thực: vì người có tinh thần nghèo khó đích thực ghét bỏ mình và yêu mến ai tát họ”. Đối với Phanxicô, người có tinh thần nghèo khó là người tôi tớ “không tự hào về điều tốt Chúa nói và thực hiện nhờ người đó, hơn là điều tốt Chúa nói và thực hiện nhờ một người khác[154]”.

Còn biết bao việc phải làm, ít nhất đối với tôi.

Cuộc sống cho ta nhiều cơ hội thực hành sự nghèo khó tinh thần. Một môn đệ của Phanxicô, chân phước Angêla Folignô, nói rằng sự nghèo khó tinh thần đích thực làm cho linh hồn “hoạt động không có những mục đích thứ hai, không tự phụ về một công trạng nào[155]”. Chính như thế mà mối phúc của những người có tâm hồn nghèo khó đưa đến mối phúc của những người có tâm hồn trong sạch. Thế nên chúng ta hãy bắt đầu hoặc theo đuổi cuộc tranh đấu của chúng ta chống lại những “mục đích thứ hai”. “Ôi, lòng yêu mến sự nghèo khó, vương quốc của thanh thản!”, một nhà thần bí lớn khác kêu lên như thế[156], khi cũng cho thấy trong sự nghèo khó con đường đưa tới một mối phúc khác, mối phúc của những người xây dựng hòa bình.

Trước khi kết luận, chúng ta hãy hướng suy nghĩ của chúng ta về lễ Giáng Sinh lịch sử và phụng vụ. Lễ này biểu thị điều gì sau tất cả những gì chúng ta nghe về lễ Giáng Sinh thần bí hoặc trong tâm hồn? Nó có phai mờ đi không? Trái lại, nó là biến cố xây dựng tính khả thể của mọi sự lặp lại thần bí và làm cho việc này có giá trị. Đức Giêsu có thể sinh ra trong tôi vì ngày xưa Ngài đã sinh ra từ lòng Đức Maria ở Belem. Lễ Giáng Sinh thực sự cũng là biểu tượng, là khuôn mẫu của lễ Giáng Sinh vô hình. Trong sự nghèo hèn đến cùng cực, trong thinh lặng, trong yên tĩnh và bình an sâu sắc nhất, lần đầu tiên Ngôi Lời toàn năng từ ngai trời xuống thế, ánh sáng bừng lên trong tối tăm. Điều này nhắc nhớ cho chúng ta phải có những điều kiện nào để lễ Giáng Sinh lặp lại trong linh hồn ta.

Một bản văn của Vaticanô II viết: “Đức Maria đứng hàng đầu trong số những người khiêm nhường và nghèo khó của Chúa, với lòng tin tưởng chờ đợi và đón nhận ơn cứu độ từ Ngài[157]”. Nói khác đi, Người là sự thực hiện hoàn hảo của lý tưởng nghèo khó trong tinh thần mà chúng ta đã cố gắng tái lập. Người đi đầu trong số sót của “những kẻ khiêm nhường và nghèo khó đặt tin tưởng vào Chúa”, Người không cần phải “trở về với lòng mình”, vì Người đã không bao giờ ra khỏi đó. Cái nhìn của Người và mọi tư tưởng của Người, nhất là khi Người mang thai Đức Giêsu trong dạ, hoàn toàn hướng vào bên trong, vì “Chân Lý” thật sự ở nội tâm Người, chứ không chỉ ở một cách thiêng liêng.

Suốt thời gian tôi chuẩn bị những suy tư này, tôi luôn để trước mặt tôi một bức icône Đức Trinh Nữ Maria tay bồng con trẻ Giêsu mặc áo vương giả. Mặt Người nghiêng về người Con, trong một thái độ khiêm nhường và thờ lậy khôn cùng, diễn tả chính nét tinh túy của sự nghèo khó Phúc âm. Nếu có dù chỉ một tư tưởng có giá trị trong những suy tư tôi trình bầy về sự nghèo khó, tôi tin chắc tư tưởng ấy đến từ Người. Icône này là sách dạy tôi về sự nghèo khó.

Xin Người ban cho chúng ta ơn biết yêu mến sự nghèo khó, và, theo sau Người, được vào số những người “nghèo khó và khiêm nhường chỉ tin tưởng vào Chúa”.

[1] Talmud Babil., Jabamot 63 a.

[2] De habitu virginum, 22;  PL 4, 475.

[3] J. Rivière – P. Claudel, Correspondance, Paris, 1926, tr. 261 tt.

[4] O. Rank, in E. Becker, The Denial of Death, The Free Press, 1973.

[5] Pédagogue, 1, 6.

[6] Isaac de l’Etoile, Sermon 51;  PL 194, 1863.

[7] Carmina 1, 1;  PG 37, 523A

[8] Règle des ermites (Ancrene Riwle), éd. de M.B. Salu, London, 1955, tr. 12

[9] Journal, XI A 154.

[10] Genèse Rabbah, 34, 14a.

[11] Confessions X, 29.

[12] Saint Grégoire de Nysse, De virginitate, 5;  SCh 119, tr. 336 tt.

[13] De Virg., 3.

[14] cf. G. Van der Leeuw, Phénoménologie de la religion 2, §29, 1948.

[15] cf. saint Grégoire de Nysse, De virginitate, 3-4.

[16] De virginitate, 10;  SCh 125, tr. 122.

[17] De virginitate, 2, ch. 19, tr. 268.

[18] Saint Ignace d’Antioche, Aux Romains 2 và 7.

[19] Saint Méthode d’Olympe. Banquet des dix vierges, 3, 8;  PG 18, 73A.

[20] Saint Césaire d’Arles, Sermon 41, 2 ;  CCL, 103, tr. 181.

[21] Pallade, Histoire lausiaque, 23, 1981.

[22] Oratio 37, 10 ;  PG 36, 293 C.

[23] cf. saint Jean Chrysostome, De virginitate, 17, 5 ; saint Gregoire de Nysse, De hominis opificio, 16 ;  PG 44, 181 sq.

[24] Perfectae caritatis 12

[25] Sigmund Freud, Cinq conférences sur la psychanalyse, 1909.

[26] AAS, 73, 1981, tr. 521.

[27] cf. Somme Théologique, I-IIae, q. 108a. 4.

[28] À Polycarpe 5, 2.

[29] Paul Claudel, Le soulier de satin, III, sc. 8.

[30] Adv. Haer. III, 24, 1.

[31] À Polycarpe, 5, 2.

[32] S. Kierkegaard, Journal X, A 624.

[33] Saint Augustin, Confessions, X, 27 và 34.

[34] Charles Péguy, Ève, Oeuvres poétiques, 1975, tr. 941.

[35] H. Lacordaire, cité par D. Rice, Shattered Vows, The Blackstaff Press, 1990, tr. 137.

[36] Imitation de Jésus-Christ, I, 20.

[37] Bienheureux Raymond de Capoue, Vie de Catherine de Sienne, XI, 110.

[38] Charles Péguy, Le mystère des saints Innocents, Oeuvres Poétiques, p. 804

[39] De virginitate 2

[40] Thánh Basiliô, De Spiritu Sancto, XI, 23.

[41] Sermon sur l’Evangile de Noel, 1522.

[42] Ch. Péguy, Le porche du mystère de la deuxième vertu, Oeuvres Poétiques, tr. 575 tt.

[43] Dorothée de Gaza, Oeuvres spirituelles, I, 11-12;  Sch 92, tr. 164.

[44] Voir saint Irénée, Adv. Haer, V, 24, 1-4 và Origen, Comm. In Rom., PG 14, 1226.

[45] AAS, LV, tr. 850 sq.

[46] Saint Zénon de Verona, Tract. I, 33;  CC 22, tr. 84.

[47] AAS, 73, 1981, tr. 521.

[48] Admonitions, 2;  Saint Francois d Assise, Documents, 1968, tr. 41.

[49] Dém. Préd. Apost. 34.

[50] cf. Reg. Fus. Proem.;  PG 31, 186.

[51] Adv. Haer. IV, 65.

[52] De l’erreur d’Abélard, 8, 21;  PL 182, 1070.

[53] Diadoque de Photicé, Chap. Gnost, 4; Sch 5, tr. 86.

[54] Cf. par exemple Lumen Gentium 44.

[55] cf. Reg. fus. 22;  PG 31, 977A.

[56] cf. saint Basile, De bapt.,  PG 31, 1513 sq.

[57] Gaudium et Spes, 35-36.

[58] Thánh Athanasiô, Vie d’Antoine, 2;  PG 26, 841 C.

[59] x. Celano, Vita prima, 22;  Documents, đã trích dẫn tr. 209.

[60] Testament, 14;  Documents, tr. 94.

[61] cf. Lumen Gentium.

[62] cf. Dei Verbum.

[63] cf. Lumen Gentium, 4.

[64] cf. Homm, In Evang. 17, 1;  PL 76, 1139.

[65] Saint Basile, De bapt, 1;  PG 31, 1524 C. 1529 C.

[66] cf. C.H. Dodd, The founder or Christianity, 1970.

[67] Adv. Haer. III, 22, 4.

[68] Adv. Haer. V, 19,1;  Dem. Préd. Apost. 33.

[69] Lumen Gentium 56.61.63.

[70] Origène, Comm. In Luc, fragm. 18;  GCS, 49, p. 227.

[71] H. Schurmann, Das Lukasevavgelium, Freiburg i.Br. 1982, ad loc.

[72] x. Adv. Haer, III, 22, 4.

[73] Règle définitive (1223), ch. 2 (Saint Francois d’Assise. Documents écrits et premiers biographiques, Éditions Franciscaines, 1968, p. 85).

[74] cf. Y. Congar, Vraie et fausse réforme dans l’Église, 1968.

[75] Isaac de Ninive, Discours ascétiques, 4 (bản dịch của M. Dallo và P. Bettiolo, 1984, tr. 89).

[76] Saint Grégoire le Grand, Sur Ézéchiel, 1, 11, 5 (PL 76, 907 sq.)

[77] cf. S. Kierkegaard, Pour l’examen de soi-même.

[78] cf. J.F Kavanaugh, Faces of Poverty, faces of Christ, Orbis Books, Maryknoll, 1991.

[79] cf. J.P. Sartre, La nausée, Gallimard, 1936, tr. 181.

[80] Pape Paul VI, Evangelica testificatio, 17 sq (Enchiridion Vaticanum [EV], 4, tr. 649 tt.).

[81] Saint Jean Chrysostome, Homélies sur Matthieu, 30, 3-4, (PG 58, 508 sq.)

[82] Vie de Blaise Pascal do bà Périer, chị ông, viết, dans Oeuvres complètes de B. Pascal, J. Chevalier, 1954.

[83] Sulpice Sevère, Vita Martini, 3 (éd. Milano 1975, tr. 13 sq).

[84] Saint Léon le Grand, Discours 2 sur l’Ascension, 2 (PL 54, 398).

[85] J. Guitton, cit. par R. Gil. Presencia de los pobres en el concilio, “Proyeccion” 48, 1966, p. 30.

[86] AAS 54, 1962, p. 682.

[87] J.-M. Tillard, Pauvreté chrétienne, Dictionnaire Spirituel 12, col. 667.

[88] Cardinal G.B. Montini, Natale e povertà, trong “Rivista Diocesana Milanese”, 1960, 31 sq.

[89] Paul VI, Evangelica testificatio, 18 (EV, 4, p. 651).

[90] x. AA. VV., Per foramen acus, Il cristianesimo di fronte alla pericope evangelica del giovane ticco, Vita e Pensiero, 1986.

[91] Clément d’Alexandrie, Quis dives salvetur, 16, 3 (GCS 17, p. 170).

[92] Lumen Gentium, 4.

[93] L’Osservatore Romano, 1/12/1994, p. 4.

[94] Saint Augustin, Commentaire sur Jean, 32. 8 (CCL 36, p. 304).

[95] Saint Thomas d’Aquin, Somme théologique, I-IIae, q. 106, a. 2.

[96] Ibidem, q.106, a.1.

[97] AAS, 73, 1981, p. 521.

[98] Saint Augustin, Commentaire sur Jean, 26, 4-5 (CCL 36, p.261 sq.)

[99] cf. J, Alvarez Gomez, La povertà religiosa, Institut Clarétien, 1975, tr.79.

[100] L’Osservatore Romano, 1/12/1994, p.4.

[101] Tôma de Celano, Vita secunda, 162 (Thánh Phanxicô Assisi, Documents cités, tr.505).

[102] Dante, Paradiso, XI, 84.

[103] Saint Thomas d’Aquin, Somme théologique, III, q.40, a.4.

[104] Le livre de la Bienheureuse Angèle de Foligno, Quaracchi, Grottaferrata 1985, p. 642 sq.

[105] Saint Grégoire de Nysse, Sur les béatitudes, I  (PG 44, 1201B).

[106] cf. Saint Augustin, De Genesi ad litteram 11, 15, 20 (CSEL,28, p.348.

[107] Saint Augustin, Confessions, VIII, 1-2.

[108] Saint Bernard, Sentences, III, 94 (Opera omnia, 6,2, 1972, p. 152).

[109] A. Hornung, La povertà religiosa, cit., p. 52.

[110] Dante, Paradiso, XI, 71 sq.

[111] Saint Augustin, I 14, 9 (Pl 38, 115 sq).

[112] Saint Bernard, Sermons 2 (Opera omnia, 5, 1968, 364 sq).

[113] cf. J.-M. Tillard, Pauvreté chrétienne, trong Dictionnaire de Spiritualíté 12, col 664 sq.

[114] Paul VI, Pensées à la mort, Libreria Editrice Vaticana, 1979.

[115] Saint Francois d’Assise, Règle définitive, 6 (Documents, p. 89 sq).

[116] Saint Augustin, Sermons, 85,3.3  (PL 38, 521).

[117] B. Pascal, Pensées, 793, Brunschwicg.

[118] cf. S. Kierkegaard, Discours chrétiens, III.

[119] cf. Saint Augustin, Sermons, 39, 5 (PL 38, 242).

[120] K. Marx, Manuscrits économico-philosohiques du 1884.

[121] Virgile, Énéide, III, 57 (“Auri sacra fames”).

[122] W. Shakespeare, Timon d’Athènes, acte IV, sc. 2.

[123] Celano, Vita secunda, 35, 65 (Docments, tr. 379).

[124] R. Hobbes, Money, a tained thing?, in The Month, 2/1989, p. 77.

[125] W. Shakespeare, Timon d’Athènes, đd.

[126] Saint Francois d’Assise, Lettre à tous les fidèles (II). IV (Docments, p. 116 sq).

[127] Dante Alighieri, Enfers, I, 49 sq.

[128] Saint Jean Chrysostome, Homélies sur la Lettre à Tim. 5, 2 (PG 62, 689).

[129] Saint Augustin, Sermons. 38, 8-9 (PL 38, 239 sq).

[130] 1QS IV, 3.

[131] cf. A. Gelin, Les pauvres de Jahvé, 1953; cf aussi du même auteur Les pauvres que Dieu aime, 1968.

[132] cf. J. Dupont, Les Béatitudes, 2 vol., 1969.

[133] Cité par J. Dupont, I, dans La Chiesa del Vaticano II, 1965, tr. 410, số 76.

[134] cf. Saint Basile, Les Règles brèves, 205 (PG 31, 1217).

[135] Saint Augustin, Sermons, 53, 1 (PL 38, 363).

[136] Saint Jean Chrysostome, Homélies sur Matthieu 15, 1 (PG 58, 224).

[137] Jean-Paul II, Lettre aux enfants, trong l’Osservatore Romano, 16/12/1994.

[138] Saint Augustin, Sermons 67, 5, 8 (PL 38, 436).

[139] Père Gauthier, Jésus, l’Eglise et les pauvres, trong ICI, 15/12/1962.

[140] Pape Jean-Paul II, Pastores dabo vobis, 30 (AAS 84, p.705 sq).

[141] Pape Jean-Paul II, Entrez dans l’espérance, Plon/Mame, 1994, p.166.

[142] Ch. Péguy, Le Porche du mystère de la seconde vertu, trong Oeuvres complètes, Gallimard, 1975, p. 657 sq.

[143] S. Kierkegaard, Discours édifiants, II (Ce que l’on peut apprendre des lis des champs et des oiseaux du ciel).

[144] Saint Jean de la Croix, La montée au Carmel, II, 5, 7.

[145] Meister Eckhart, Sermons 52, trong Trattati e prediche, éd. par Faggin, Milano 1988, pp. 365-372.

[146] Saint Jean de la Croix, La montée, đã dẫn, I, 3,4; III, 13,1; Lettres 16.

[147] M. Eckhart, La naissance éternelle, I, bản dịch tiếng Pháp do P. Petit, 1942

[148] Ibidem.

[149] Saint Augustin, La vraie religion, 39, 72 (CCL 32, p. 234).

[150] Saint Augustin, Sur l’Évangile de Jean, 18, 10 (CCL 36, p. 186).

[151] Meister Eckhart, Sermons. 49. dans Trattati e prediche, cité, p. 351.

[152] Meister Eckhart, La naissance éternelle, cité.

[153] G. Faggin, Il Natale dell’anima, 1984, p. 12 sq.

[154] Saint Francois d’Assise, Admonitions 14 và 17 (Documents, p. 48 sq).

[155] Il libro della B. Angela Foligno, Quaracchi, Grottaferrata, 1998, tr.334.

[156] Sainte Catherine de Gêne, Vie, 39, éd. C. da langasco, 1987, p. 59.

[157] Lumen Gentium n. 35.