GẶP GỠ THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG
Raniero Cantalamessa
Lm Micae Trần Đình Quảng chuyển ngữ
Dịch theo bản tiếng Pháp
LA MONTÉE AU SINAI
A la rencontre du Dieu vivant
Ed. Saint Paul, Versailles, 1996

Hãy lên núi với Ta
Quý độc giả thân mến,
Tiếp cận với việc đọc một cuốn sách mới lại không phải là thực hiện một cuộc hành trình mới cách nào đó sao? Vì vậy, điều này dường như cho tôi thấy rõ ngay từ đầu, là xác định cho bạn đọc biết mục tiêu mà các trang này đề ra và hướng đi mà chúng ta sẽ cùng nhau nhắm tới: chúng ta lên đường đi tới Núi Sinai, để tìm kiếm một vài dấu chỉ sẽ nói cho ta biết về Thiên Chúa hằng sống.
Những người hành hương muốn leo núi Sinai địa lý khởi hành từ sáng sớm, lúc trời còn tối và nhiệt độ khá khắc nghiệt. Họ rời đan viện Sainte-Catherine, nơi họ vừa qua đêm; âm thầm, một mình hoặc trong những nhóm nhỏ, họ bắt đầu liên tục leo một đường dốc với vô số bậc thang, để lên tới đỉnh lúc còn sớm, hầu có thể chiêm ngưỡng trên đó cảnh tượng nổi tiếng và đầy ấn tượng lúc mặt trời mọc.
Chúng ta sẽ làm theo cách của họ. Chúng ta sẽ leo núi Sinai thiêng liêng để chiêm ngưỡng trên cao Đấng mà mặt trời chỉ là sự phản chiếu mờ nhạt; để cả chúng ta nữa, trong mức độ có thể và theo cách Ngài muốn, chúng ta có được sự hiển linh bé nhỏ của Thiên Chúa, được Thiên Chúa tỏ mình ra. Chúng ta sẽ nhờ Môsê, Elia và cùng với họ là rất nhiều người khác đã từ Sinai trở về, hướng dẫn chúng ta.
Sinai là một ngọn núi mầu nhiệm: nó dường như ở khắp mọi nơi và không ở một nơi nào cụ thể. Chính tên núi cũng thay đổi: khi là núi Khoreb, khi là núi Sinai. Chỉ có một điều chắc chắn: đó là “núi của Thiên Chúa”. Điều đã xảy ra ở đó quan trọng đến nỗi Kinh Thánh nói về “Thiên Chúa của Sinai”, cũng như nói về “Thiên Chúa của Abraham” (x. Tv 68, 9; Tl 5, 5). Bất cứ ai đi trong “bốn mươi ngày đêm”, dù phát xuất từ đâu, bao giờ cuối cùng cũng đến núi này. Môsê, một kẻ chạy trốn ở xứ Mađian, một hôm “dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khoreb“. Tại đó, ông được thị kiến Thiên Chúa trong Bụi Cây cháy bừng và được mạc khải về danh Thiên Chúa (x. Xh 3,1tt). Cũng vậy, sau khi đi suốt “bốn mươi ngày đêm”, Êlia đã đến chân núi này (x. 1V 19,8)
Đỉnh núi này, chúng ta cũng muốn đạt tới. Nhưng “ai được lên núi Chúa?” (Tv 24,3); ai có thể dám thực hiện một bước lên như vậy? Sách Thánh đáp lại bằng một câu rất đơn giản: “Môsê lên gặp Thiên Chúa và từ trên núi Chúa gọi ông” (Xh 19,3). Ông đi lên và Chúa gọi ông. Trước bất kỳ sáng kiến nào về phía chúng ta, chúng ta sẽ gặp sáng kiến của Thiên Chúa. Chính Ngài gọi, chính Ngài mời: nếu bạn đang đọc những dòng chữ này, thì đó là dấu hiệu cho thấy Ngài vừa mời gọi cả bạn nữa.
Lời kêu gọi của Chúa tinh tế và mạnh mẽ biết bao! Con vật nhạy cảm với tiếng gọi của núi rừng; chàng nhạy cảm với tiếng gọi của nàng và nàng nhạy cảm với tiếng gọi của chàng. Lời Chúa kêu gọi mà linh hồn cảm nhận được từ Thiên Chúa sâu xa hơn vô cùng, mặc dù hoàn toàn khác về bản chất. “Lạy Chúa, Chúa đã hướng chúng con đến với Chúa, và tâm hồn chúng tôi không được yên hàn bao lâu chưa được nghỉ ngơi trong Chúa[1].”
Thiên Chúa nói với Môsê: “Hãy lên núi với Ta” (Xh 24,12). Có người đang gọi chúng ta và chờ chúng ta trên đó. Chúng ta đang tìm Ngài vì Ngài đã tìm chúng ta trước. Hơn nữa, chúng ta sẽ không tìm Ngài nếu chúng ta đã không tìm thấy Ngài. Một thánh đan sĩ đã nói: “Bạn sẽ tìm thế nào những gì bạn chưa đánh mất? Chỉ người nào đã biết Thiên Chúa và đã mất Ngài mới có thể tìm Ngài[2]“: đó thực sự là tình hình của chúng ta, của tất cả chúng ta, được tạo dựng để trở thành “hình ảnh của Thiên Chúa”. Nơi mỗi người chúng ta đều thấy lại sự đau buồn của Ađam, người bị đuổi ra khỏi Địa đàng, không còn nhìn thấy ánh mắt “dịu dàng và bình an” của Thiên Chúa mình.
Chúng ta sẽ sớm khám phá ra rằng ngọn núi mà chúng ta muốn leo không nằm ở bên ngoài mà nằm ở bên trong chính chúng ta, và chúng ta có thể coi suy tư của nhà thần bí là của mình, người đã viết: “Tôi là một ngọn núi trong Thiên Chúa, tôi phải lên cao để Chúa bày tỏ khuôn mặt yêu dấu của Người cho tôi”[3].
Thế mà Sinai lại là một ngọn núi dốc. Ngày nay, việc tìm kiếm Thiên Chúa hằng sống phải đương đầu với những gồ ghề và trở ngại mới, chưa được biết đến vào thời các Giáo Phụ hay khi thánh Bonaventura viết cuốn Hành trình của linh hồn đi tới Thiên Chúa. Trong thời đại chúng ta, hầu hết các cuộc hành trình xưa đã bị gián đoạn hoặc thậm chí không thể thực hiện được đối với con người thời nay, những người ít được đào tạo để vươn lên qua những mức độ suy tư, nhưng đúng hơn bị thu hút bởi những bằng chứng thuộc lãnh vực lịch sử hoặc hiện sinh. Đó là một Sinai của ngày hôm nay mà chúng ta phải leo lên, chứ không phải một Sinai trữ tình và vượt thời gian. Chúng ta muốn gặp Thiên Chúa hằng sống ngày hôm nay, chứ không chỉ biết Thiên Chúa đã từng sống ngày xưa. Nếu có thể, chúng ta muốn tìm lại ý nghĩa của Thiên Chúa hằng sống, bởi vì thế giới quanh ta cần Ngài – người ta thấy rõ điều đó!
Chúng ta theo cách của người ký lục có học, phục vụ Vương quốc bằng cả nova lẫn vetera, cái mới lẫn cái cũ, tiếng nói của người thời xưa lẫn tiếng nói của người thời nay. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa hằng sống được biết đến bằng kinh nghiệm hơn là bằng lý luận, bằng sự “lây lan” hơn là bằng tranh cãi. Cũng vậy, chúng ta sẽ không ngần ngại thường xuyên tìm đến những chứng từ nổi tiếng của những người đã gặp gỡ Thiên Chúa, lắng nghe tiếng nói sống động phát xuất từ “ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” (Dt 12,1).
Chúng ta muốn đón nhận lời mời gọi mà Thiên Chúa ngỏ với con người trong các trang Kinh Thánh: “Dừng tay lại và hãy biết Ta đây là Thiên Chúa!” (Tv 45,11). “Dừng tay lại”: nói cách khác: hãy ngừng khuấy động; hãy lấy lại bình tĩnh của bạn. Hoặc, theo một bản dịch cũ: “hãy nghỉ ngơi” (vacate), hãy dành một khoảng cách nào đó đối với mọi sự và mọi người, để khám phá thực tại độc nhất vô nhị này quý hơn cuộc sống: “Ta là Thiên Chúa”.
Vậy chúng ta hãy tìm kiếm sức mạnh của chúng ta nơi Chúa và quyết định trong lòng thực hiện: “cuộc hành trình thánh”.
Với lòng tin và khiêm nhường, chúng ta hãy thưa với Người: “Lạy Chúa, con tìm kiếm tôn nhan Chúa. Xin Chúa đừng ẩn mặt !” (Tv 26,8-9).
Qua các trang sách, Kinh Thánh trình bày các bản văn nói về Thiên Chúa như là Đấng “Hằng Sống”. Giêrêmia tuyên bố: “Ngài là Thiên Chúa hằng sống“, (10,19). Chính Thiên Chúa nói trong Êdêkien: “Ta là Đấng hằng sống” (33,11). Nơi một trong những Thánh vịnh đẹp nhất, được sáng tác trong thời lưu đày, người cầu nguyện thốt lên: “Linh hồn tôi khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống!” (Tv 42,3). Và: “Cả tấm thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống” (Tv 84,3).
Rõ ràng đây là một ẩn dụ rút ra từ kinh nghiệm của con người. Israel đã muốn dùng nó để phân biệt Thiên Chúa của họ với các ngẫu tượng, mà một Thánh vịnh nói rằng chúng “có mắt có miệng nhưng không nhìn không nói, có mũi có tai nhưng không ngửi không nghe… từ cổ họng không thốt ra một tiếng ”(Tv 133B, 5tt). Trái với các ngẫu tượng, Thiên Chúa của Kinh Thánh là “một Thiên Chúa thở”: một hình ảnh rất biểu cảm, vì Kinh Thánh gọi Chúa Thánh Thần là hơi thở (ruah) của Thiên Chúa.
Sau thời gian ưu thế lâu dài của chủ thuyết duy tâm và chiến thắng của “ý tưởng”, trong những thời còn gần với chúng ta, chính tư tưởng thế tục đã thấy cần phải trở lại với “thực tại”, được diễn tả trong cương lĩnh: “Hãy trở lại với chính sự vật![4], theo nghĩa không dừng lại ở những công thức diễn tả thực tại, những lý thuyết được xây dựng trên nó, những gì chúng ta thường nghĩ về nó, mà đi thẳng vào chính thực tại là nền tảng của mọi sự; dọn sạch các lớp đất khác nhau được thêm vào để tìm ra khối đá bên dưới.
Chương trình này cũng nên được áp dụng cho lãnh vực đức tin, vì có lời viết: “Hành vi của người tin không kết thúc ở lời tuyên bố, nhưng ở thực tại[5]“. Khi là về “sự vật” tối thượng trong lãnh vực đức tin, khi là về Thiên Chúa, thì “trở lại với chính sự vật” có nghĩa gì? Có nghĩa là trở lại với Thiên Chúa hằng sống; có thể nói đó là phá đổ bức tường khủng khiếp của ý tưởng chúng ta có về Thiên Chúa, và mau mắn đi gặp chính Thiên Chúa; là khám phá ra rằng Thiên Chúa không phải là một cái gì trừu tượng nhưng là một thực tại.
Chúng ta nhìn thấy vạn vật dưới ánh sáng mặt trời phản xạ và khuếch tán, nhưng hiếm khi nhìn lên để chiêm ngưỡng chính mặt trời, vì không thể chịu được ánh sáng chói chang của nó. Đối với Thiên Chúa hằng sống cũng vậy: “nơi Người, chúng ta sống, cử động và hiện hữu” (Cv 17,28), nhưng rất hiếm khi chúng ta hướng cái nhìn của tâm trí về Ngài, Đấng là nguồn mạch mọi sự. Ngay cả đối với những người tin, Thiên Chúa cũng thường ở trong hậu cảnh.
Chương trình “Trở lại với sự vật” đã có được một ứng dụng nổi tiếng: ứng dụng đưa đến chỗ khám phá ra mọi sự đều… hiện hữu. Chúng ta hãy nghe câu chuyện của chính một người từng trải nghiệm nó :
“Vừa rồi tôi ngồi trong công viên. Rễ cây dẻ lún sâu xuống đất, ngay dưới chiếc ghế dài tôi ngồi. Tôi không còn nhớ đó là một rễ cây nữa. Những từ đã biến mất và cùng với những từ này là ý nghĩa của sự vật, cách dùng, những điểm mốc mờ nhạt mà người ta đã vạch ra trên bề mặt của chúng. Tôi đang ngồi, hơi cong người, đầu cúi xuống, một mình trước khối mầu đen và có nhiều mấu này, hoàn toàn thô và khiến tôi sợ. Và rồi tôi được soi sáng. Điều đó khiến tôi rất đỗi ngạc nhiên. Chưa bao giờ trước những ngày cuối cùng này, tôi cảm nhận được ý nghĩa của “hiện hữu”. Tôi giống như những người khác, như những người đi dạo trên bờ biển trong bộ đồ mùa xuân. Giống như họ, tôi đã nói “biển thì xanh; chấm trắng đó, ở trên kia, là một con mòng biển”, nhưng tôi không cảm thấy rằng nó hiện hữu, rằng con mòng biển là một “con mòng biển hiện hữu”; thông thường, sự hiện hữu thì ẩn giấu. Nó ở đó, xung quanh chúng ta, nơi chúng ta, nó là chúng ta, người ta không thể nói lên hai từ mà không nói về nó và, cuối cùng, không chạm vào nó. Khi tôi tưởng mình đang nghĩ về điều đó, thì phải tin rằng tôi không nghĩ gì cả, đầu óc tôi trống rỗng, hoặc chỉ có một từ trong đầu, từ “hiện hữu”… Và rồi đột nhiên, rõ như ban ngày: hiện hữu bỗng được bày tỏ[6].”
Nhà triết học “khám phá” ra như vậy đã tuyên bố mình là một người vô thần; ông đã không vượt quá được nhận định là tôi hiện hữu, là thế giới hiện hữu, là sự vật hiện hữu. Chúng ta có thể khởi đi từ kinh nghiệm này và – như xẩy ra trong thiên nhiên đối với tất cả tạo thành (Rm 1,20) – hãy coi nó như một điểm tựa, một tấm ván lấy đà để vươn tới chỗ khám phá ra một Hiện Hữu khác, hoặc coi nó như là tia lửa để có thể có một sự soi sáng khác. Suy tư có thể có được từ rễ cây dẻ, tại sao không có được suy tư như vậy về Thiên Chúa? Thiên Chúa lại ít có thực đối với tâm trí con người hơn một rễ cây dẻ đối với mắt họ sao? Những trực giác về chân lý của các triết gia ngoại giáo, ngay cả của những người sẵn sàng nại tới quyền bính để chống lại các Kitô hữu, đã được các Giáo Phụ sử dụng để phục vụ đức tin. Chúng ta hãy noi gương các ngài và làm như vậy ngày hôm nay.
“Tia sáng” của triết gia này có thể mang lại cho chúng ta điều gì? Không có ứng dụng trực tiếp hay về nội dung, nhưng có ứng dụng gián tiếp hay về phương pháp. Điều này là đủ để chúng ta biết ơn ông. Câu chuyện của ông, đọc với một tâm thái nhất định, được ân sủng trợ giúp, dường như rất thích hợp để rũ bỏ thói quen của chúng ta, khơi dậy nơi chúng ta trước tiên sự hoài nghi, và rồi sự chắc chắn là chúng ta vẫn chưa hiểu biết về Chúa. Có lẽ cho đến lúc đó, chúng ta chưa bao giờ có thể hiểu được ý nghĩa của lời quả quyết “Thiên Chúa hiện hữu”, Ngài là một Thiên Chúa đang có, hay như Kinh Thánh nói, một Thiên Chúa hằng sống, và chúng ta vẫn còn một công việc phải làm, một khám phá phải thực hiện: cụ thể là Thiên Chúa “là”, đến độ cả chúng ta nữa, có lúc cũng rất đỗi ngạc nhiên! Đây hẳn là chuyến phiêu lưu của cuộc đời.
Trong ngôn ngữ của chúng ta, kiểu nói diễn đạt rõ nhất chương trình này là: “ý thức về Thiên Chúa”: “ý thức” theo nghĩa là đôi mắt đột ngột mở ra, một cú nhảy vọt của ý thức khiến chúng ta bắt đầu nhìn thấy sự gì đó đã có trước đây, nhưng cho đến lúc đó chúng ta đã không nhìn thấy.
Cùng với “tia sáng” này, chúng ta hãy đọc lại câu chuyện Bụi Cây bốc cháy, xảy ra chính xác ở chân núi Sinai (x. Xh 3,1tt): câu chuyện sẽ cho phép chúng ta, trong số những câu chuyện khác, nhận ra rằng ngay cả tư tưởng “hiện sinh” hiện đại có thể giúp chúng ta khám phá ra trong Kinh Thánh một khía cạnh mới mà tư tưởng cổ đại, được nghĩa hữu thể học giữ lại, không có khả năng khám phá ra, dù cho có tất cả sự phong phú của mình.
Trang Kinh Thánh trình bày câu chuyện về Bụi Cây bốc cháy tự nó là một bụi cây bốc cháy. Nó cháy mà không bị tiêu hao. Sau nhiều thiên niên kỷ, nó không mất đi khả năng truyền đạt ý nghĩa về thiêng thánh. Hơn bất cứ diễn từ nào, nó đặc biệt cho thấy hệ quả của một cuộc gặp gỡ thực sự với Thiên Chúa hằng sống. “Môsê tự bảo: mình phải lại xem…” Ông nghĩ thế, ông muốn thế; ông còn là chủ nhân của mình; chính ông là người dẫn dắt (hoặc nghĩ rằng mình đang dẫn dắt) cuộc chơi. Đột nhiên, với quyền năng của mình, Thiên Chúa ùa vào ông và áp đặt luật của Ngài: “Môsê! Môsê! Chớ lại gần! Ta là Thiên Chúa của cha ngươi…” Mọi sự đột nhiên thay đổi. Lập tức Môsê trở nên ngoan ngoãn, phục tùng, ông thưa: “Dạ, tôi đây“. Ông che mặt, giống như các thiên thần Sêraphim che mặt bằng đôi cánh của mình (x. Is 6,2). Yếu tố “thần thiêng” là ở đó, Môsê đi sâu vào mầu nhiệm.
Trong bầu không khí này, Thiên Chúa mạc khải danh của Ngài: “Ta là Đấng Hiện Hữu“. Được chuyển từ bản Bẩy Mươi sang vùng thuộc văn hóa Hy lạp, biểu thức này đã được hiểu như một định nghĩa về hữu thể của Thiên Chúa, Hữu Thể tuyệt đối, một sự khẳng định yếu tính sâu xa nhất của Ngài. Nhưng các nhà chú giải hiện nay coi cách giải thích này về cơ bản xa lạ với Cựu Ước…
“Trong toàn bộ ngữ cảnh tường thuật, biểu thức đúng hơn cho người ta hiểu Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra là ai để chiếu cố tới dân Israel… một sự hiện diện tương đối và hành động: hiện-diện-ở-đó, hay đơn giản hơn: “Ta sẽ ở đó vì các ngươi[7]”.
Đây là một quả quyết cụ thể, không trừu tượng, đề cập sự hiện hữu của Thiên Chúa hơn là yếu tính của Ngài, Ngài “hiện-hữu-ở-đó” hơn là “Ngài là Đấng nào”. Thế nên chúng ta đang rất gần với kiểu nói “Ta đang sống”, “Ta là Đấng Hằng Sống” như Thiên Chúa tuyên bố ở chỗ khác trong Kinh Thánh.
Ngày đó, Môsê đã hiểu ra một sự thật trong những sự thật đơn giản nhất, nhưng có khả năng khởi động và hỗ trợ toàn bộ phong trào giải phóng sẽ theo sau. Ông khám phá ra rằng Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp hiện hữu, rằng Ngài là một thực tại hiện tại và hoạt động trong lịch sử, một Đấng có thể tin cậy được. Vả lại, đó quả là sự thật mà ông cần biết vào chính lúc này.
Chúng ta ghi nhận một điểm chung giữa kinh nghiệm của triết gia về rễ cây hạt dẻ và kinh nghiệm của Môsê trước Bụi Cây bốc cháy. Cả hai cùng khám phá ra mầu nhiệm của hữu thể. Người trước ý thức về hữu thể của sự vật; người sau về Hữu Thể của Thiên Chúa. Với một điểm khác biệt: việc khám phá ra Thiên Chúa hiện hữu mang lại niềm vui và can đảm; còn việc khám phá ra sự vật hiện hữu chỉ tạo ra “buồn nôn”, như lời của chính triết gia.
Nếu ân sủng Thiên Chúa cho chúng ta nhận được, cả chúng ta nữa và ở một mức độ nào đó, một tia sáng và một mạc khải tương tự như tia sáng và mạc khải mà chúng ta đã tìm cách mô tả khởi đi từ triết học và Kinh Thánh, sẽ không có gì ngạc nhiên nếu chúng ta dùng cuộc đời còn lại, sau mọi thất bại hoặc ảo tưởng, trước mọi cám dỗ nản lòng hay khó khăn, lặp lại nơi chính chúng ta câu này: “Thiên Chúa ở đó, và thế là đủ! Thiên Chúa ở đó, và thế là đủ!”
Đã đến lúc cầu nguyện, để khi nói “về” Thiên Chúa hằng sống, chúng ta cũng sẽ luôn nói “với” Thiên Chúa hằng sống, trước sự hiện diện của Ngài chứ không phải khi Ngài vắng mặt. Cùng với thánh Anselmô Aosta, người hơn bất cứ ai khác đã làm việc để chứng minh rằng Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa-hiện hữu, chúng ta hãy thưa lên:
Lạy Chúa, xin dạy tâm hồn con biết tìm kiếm Chúa ở đâu và cách nào, tìm thấy Chúa ở đâu và cách nào; vì con không thể tìm kiếm Chúa nếu Chúa không dạy con, cũng không thể tìm thấy Chúa nếu Chúa không tỏ mình ra.
Xin cho con tìm kiếm Chúa bằng cách ao ước Chúa, cho con ao ước Chúa bằng cách tìm kiếm Chúa; xin cho con tìm thấy Chúa bằng cách yêu mến Chúa, và cho con yêu mến Chúa bằng cách tìm thấy Chúa.[8]“
2. THIÊN CHÚA, CẢM THỨC VỀ MỘT SỰ HIỆN DIỆN
Thiên Chúa hằng sống: nói về điều ấy theo nghĩa nào và định nghĩa nó như thế nào? Lúc đầu, tôi dự định trả lời câu hỏi này bằng cách vẽ phác sơ lược về Thiên Chúa hằng sống khởi đi từ Kinh Thánh. Rất nhanh chóng, tôi nhận thấy một công việc như vậy là ngốc nghếch. Muốn mô tả Thiên Chúa hằng sống, vẽ Ngài như một hình ảnh, ngay cả khởi đi từ Kinh Thánh, lại không có nguy cơ giản lược Thiên Chúa hằng sống vào một ý tưởng về Thiên Chúa hằng sống hay sao?
Cũng vì lý do đó, tôi đã không sắp đặt toàn bộ cuốn sách này với các tiêu đề và phụ đề. Dường như tôi thấy tốt hơn, là chấp nhận cách thức dùng các chương nhỏ nối tiếp nhau, không cần liên tục, giống như bao nhiêu bậc để đạt tới đỉnh núi Sinai của chúng ta. Như vậy tác phẩm sẽ không được thống nhất bằng một “luận lý”, mà bằng một “thực tại”, đó là chính Thiên Chúa hằng sống. Chính Ngài sẽ ấn định thứ tự các ý tưởng và suy tư, theo cách một cục nam châm thu hút và bố trí mạt sắt trong từ trường của nó.
Người ta có thể có một loại trực giác, một hình thức tri giác trực giác, một hình thức tiên cảm (pré-sentiment) về Thiên Chúa hằng sống, với tư cách một Thiên Chúa sống động. Người ta có thể khơi dậy niềm khát khao, hoài niệm về Ngài. Nhưng không đi xa hơn. Không thể nhốt cuộc sống vào trong một ý tưởng. Nơi Thiên Chúa, “suy nghĩ là sống, là hiện hữu, tất cả là một[9].” Điều này đủ để chứng minh rằng, tự nó, ở đỉnh cao nhất, không có đối kháng giữa ý tưởng và thực tại, giữa sống và nghĩ, và do đó giữa Thiên Chúa sống động và Thiên Chúa được nghĩ đến. Nhưng chỉ tìm thấy điều này nơi Thiên Chúa, chứ không phải nơi chúng ta; khi chính Thiên Chúa là Đấng hình thành một ý tưởng về Ngài, chứ không phải khi chính chúng ta là những người hình thành một ý tưởng về Thiên Chúa. Trong trường hợp trước, nghĩ và sống ở cùng một cấp độ; trong trường hợp sau, một không gian vô tận chia cách chúng.
Kết quả là người ta sẽ dễ dàng có cảm thức hoặc tri giác về Thiên Chúa hơn là có ý tưởng về Ngài; vì ý tưởng bao quanh con người, trong khi cảm thức mạc khải sự hiện diện của người ấy, mà vẫn bảo toàn tính toàn bộ và không xác định của người ấy. Theo nghĩa này, thánh Grêgôriô Nyssê nói về loại hình tri thức cao nhất về Thiên Chúa bằng cách trình bày nó như là “cảm thức về một sự hiện diện ở ngay bên[10]“.
Về điểm này, nói về “tri thức” hoặc “trực giác” hơn là về “cảm thức” hẳn là thích hợp. Dầu sao, cảm thức nói ở đây hoàn toàn không có gì chung với màu sắc lãng mạn hoặc mộ đạo của thuật ngữ. Thậm chí người ta có thể nhận ra phẩm chất của ý tưởng, như người ta ghi nhận nơi một số nhà tư tưởng “đam mê” suy nghĩ, một suy nghĩ bao hàm, thậm chí một cách hiện sinh, tất cả cuộc sống.
Một người nào đó có được tri giác thần bí phi thường nhất về Thiên Chúa trên thực tế sẽ giống như người có một ảo mộng mà, khi tỉnh dậy, vẫn giữ lại được một ấn tượng rõ ràng về nó, nhưng cho dù cố gắng thế nào đi nữa, tâm trí người đó vẫn không thể nhớ lại cả diễn tiến lẫn nội dung của giấc mơ. Sự êm dịu do giấc mơ đem lại, người chỉ giữ được nó sống động trong tâm khảm mà thôi[11].
Khoa hiện tượng học tôn giáo đã cho thấy rõ thần thánh thuộc một phạm trù tuyệt đối không giống với bất cứ phạm trù nào khác: “khoa này là đối tượng không phải để định nghĩa theo nghĩa chặt của thuật ngữ, nhưng chỉ là đối tượng để khảo sát. Người ta chỉ có thể tìm cách làm cho mọi người hiểu nó là gì, bằng cách cố gắng làm cho thính giả chú ý đến nó, cố gắng giúp cho người đó tìm ra trong đời sống nội tâm của mình điểm mà nó sẽ xuất hiện và vọt ra, khiến cho người đó nhất thiết phải ý thức về nó. Người ta có thể thêm vào phương pháp này cách chỉ ra những mối tương quan hoặc đối lập đặc trưng của nó với các hiện tượng xảy ra trong các lãnh vực khác được biết đến nhiều hơn của đời sống thiêng liêng… bằng cách cho thấy rõ đối tượng người ta nói đến không giống hệt nó, nhưng tương tự hoặc thậm chí đối nghịch với nó[12].”
Chỗ nào không thể có chút tương đồng, thì sự đối nghịch và tương phản, hơn là loại suy, thường được coi là con đường tốt nhất dẫn đến hiểu biết. Khi ấy áp dụng nguyên tắc theo đó “Thiên Chúa thích tự mạc khải mình trong cái ngược lại” (sub contraria specie).
Chính Kinh Thánh cũng luôn nói về Thiên Chúa bằng những hạn từ vô ngôn (apophatique), nghĩa là tiêu cực hoặc ám chỉ. “Mắt chưa được thấy, tai chưa được nghe, không bao giờ đi vào lòng người…”; hoặc bằng cách đặt câu hỏi: “Bạn có thể so sánh tôi với ai?“; “Ai đã từng là cố vấn cho Người?“; “Hỡi con người, ngươi là ai mà dám tranh cãi với Thiên Chúa?“; hay bằng những câu hô lên: “Thánh, thánh, thánh!“; “Thiên Chúa là Chúa thương xót và nhân từ!” “Ôi! sự phong phú, khôn ngoan và hiểu biết của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào!”. Cuối cùng và thường thấy hơn vẫn là các hình ảnh và biểu tượng: Thiên Chúa là ánh sáng, sự sống, nước hằng sống, lửa, đá tảng.
Điều chúng ta có thể làm, ngay cả trước mặt Thiên Chúa hằng sống, là vượt ra khỏi “những điểm tựa yếu ớt mà con người đã vẽ trên bề mặt của chúng”, phá vỡ những vỏ sò nhỏ bé chứa đựng những ý tưởng của chúng ta về Thiên Chúa, những “chiếc lọ nhỏ bằng thạch cao” mà chúng ta nhốt Ngài trong đó, để hương thơm của Ngài lan tỏa và “tràn ngập khắp căn nhà”.
Thánh Augustinô là bậc thầy trong vấn đề này. Trong một diễn từ trước dân chúng (chứ không phải trong một khảo luận dành cho các học giả), thánh nhân đã kêu gọi những thính giả của mình: “Anh em hãy đập vỡ những ngẫu tượng trong tâm hồn anh em!” Những ngẫu tượng này không phải là những ngẫu tượng bên ngoài, bằng gỗ hay cẩm thạch, nhưng là những ngẫu tượng bên trong. Không phải là những ngẫu tượng của dân ngoại, nhưng là những ngẫu tượng của Kitô hữu. “Có người hình dung Thiên Chúa sáng tạo như một nghệ nhân vĩ đại, người đã tạo nên, bố trí, sắp đặt, tạo hình, chỉnh sửa: đó là một ngẫu tượng về Thiên Chúa! Người khác coi Ngài như một vị vua vĩ đại ngồi trên ngai: đó là một ngẫu tượng về Thiên Chúa[13]!”
Cũng chính thánh Augustinô đã đề xuất một loại phương pháp để nâng lòng trí chúng ta lên tới Thiên Chúa hằng sống, gồm việc lặp lại câu sau đây cho chính chúng ta, sau mỗi lần suy về Thiên Chúa: “Đó không phải là Thiên Chúa của tôi! Đó không phải là Thiên Chúa của tôi!” Hãy nghĩ tới đất, hãy nghĩ tới trời, hãy nghĩ tới các thiên thần, hoặc tới bất cứ hữu thể nào hay người nào; cuối cùng hãy nghĩ tới những gì bản thân bạn nghĩ về Thiên Chúa, và mỗi lần hãy lặp lại: “Đó không phải là Thiên Chúa của tôi! Đó không phải là Thiên Chúa của tôi! Tất cả những cái đó chẳng là gì cả!” Và tất cả các thụ tạo được hỏi về Thiên Chúa đều trả lời cho người hỏi họ: “Chúng tôi không phải là Thiên Chúa của bạn. Hãy tìm kiếm Ngài ở trên đầu chúng tôi[14]!” Chúng ta phải tin vào một Thiên Chúa, Đấng thậm chí vượt trên cả Thiên Chúa mà chúng ta tin!
Thiên Chúa hằng sống có một tài sản độc quyền: Ngài là toàn thể trong khi tất cả các hình ảnh thể hiện khác nhau về Ngài không phải là toàn thể mà chỉ là một phần, một mảnh. Giữa thời Trung cổ, đối mặt với những phân biệt tế vi về Thiên Chúa (bản tính và ngôi vị; yếu tính và hiện hữu; những thuộc tính; những toàn hảo…) được phương pháp “phân biệt” (distinctions) của thần học kinh viện giới thiệu, một người chiêm niệm đã hiểu được trở ngại nào đã xẩy ra cho linh hồn tìm kiếm Thiên Chúa trong toàn bộ tính và đơn giản tính của Ngài. Khi ấy ông đưa ra một lời kêu gọi có thể tóm tắt bằng những lời như sau: “Chính Thiên Chúa mà con muốn có… chính Ngài mà con tìm kiếm, không gì ngoài Ngài. Xin ban tất cả Ngài cho con. Con muốn tất cả Ngài[15]!”
Tuy nhiên, một câu hỏi không thể không nảy sinh: chúng ta đang nói về ai khi chúng ta nói lên từ “Thiên Chúa” mà không cần nét đặc tả nào khác? Khi mà trong Cựu Ước tác giả Thánh vịnh ca lên: “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ” (Tv 63,2), thì chữ “Ngài” này ám chỉ ai? Ai trả lời ở đầu dây bên kia? “Ngài” này không chỉ đơn giản là Thiên Chúa-Cha, ngôi một Thiên Chúa, như thể ngôi này đã có hoặc có thể được nghĩ đến lúc nào đó mà không có hai ngôi kia. Cũng chắc chắn không phải là yếu tính thần linh vô định, như thể đầu tiên có một yếu tính thần linh, sau đó được đặc phân thành Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần.
Thiên Chúa duy nhất, Đấng nói trong Kinh Thánh là: “Ta là“, chính là Chúa Cha sinh ra Chúa Con và cùng với Ngài (hoặc qua Ngài) mà thở ra Thần Khí, chia sẻ với các Ngài toàn thể thần tính của mình. Đó là Thiên Chúa hiệp thông tình yêu, nơi Ngài duy nhất và ba ngôi đến từ cùng một nguồn, từ cùng một hành vi, và tạo thành ba trong một, trong đó không thực tại nào trong hai – một và nhiều – có trước thực tại kia hoặc hiện hữu mà không có thực tại kia, không cấp nào trong hai vượt trội hơn cấp kia hoặc “sâu thẳm hơn” cấp kia.
Đó là “toàn bộ” mà chúng ta cần; chính với toàn bộ ấy mà cả chúng ta nữa, chúng ta muốn hiệp thông. Tựu trung, Thiên Chúa hằng sống của các Kitô hữu không ai khác hơn là Ba Ngôi hằng sống. Giáo lý về Ba Ngôi được chứa đựng như hạt mầm (in nuce) trong mạc khải về Thiên Chúa là Tình Yêu. Quả quyết “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8), cũng là muốn nói: Thiên Chúa là ba ngôi. Thánh Augustinô giải thích điều đó theo cách sau đây: mọi tình yêu đều bao hàm một người yêu, một người được yêu, và một tình yêu nối kết họ. Có thể đưa ra một cách giải thích hơi khác. Thiên Chúa là tình yêu. Chúng ta biết mọi tình yêu là yêu một ai đó hoặc một sự gì đó; không có thứ tình yêu “trống rỗng”, không có đối tượng. Vậy, Thiên Chúa, Ngài yêu ai để được định nghĩa là tình yêu? Con người ư? Nhưng trong trường hợp này, đó là một tình yêu chỉ có từ vài trăm triệu năm trước. Vũ trụ ư? Nhưng tình yêu này cũng chỉ có từ vài chục tỉ năm… Trước đó, Thiên Chúa yêu ai để được gọi là Tình Yêu?
Các nhà tư tưởng Hy Lạp và nói chung các triết học tôn giáo ở mọi thời đại, khi quan niệm Thiên Chúa trước hết như là “ý tưởng”, đã có thể trả lời rằng Thiên Chúa nghĩ tưởng về chính mình; rằng Ngài là “ý tưởng thuần túy”, “ý tưởng của ý tưởng”. Người ta không thể nghĩ thế khi nói rằng Thiên Chúa trước hết là tình yêu, vì “thuần túy yêu mình” sẽ là thuần túy ích kỷ, đây không phải là cách tôn vinh cao nhất dành cho tình yêu, nhưng là hoàn toàn phủ nhận nó. Đây là câu trả lời của mạc khải, được Giáo Hội làm rõ. Thiên Chúa là tình yêu từ muôn đời, ab aeterno, vì ngay cả trước khi có một đối tượng bên ngoài Ngài để yêu, Ngài đã có nơi mình Ngôi Lời, Chúa Con, Đấng mà Ngài yêu trong một tình yêu vô biên, nghĩa là “trong Chúa Thánh Thần”.
Tất nhiên, qua đó người ta không muốn nói “làm thế nào” mà duy nhất có thể đồng thời là ba ngôi (đây là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể biết, vì chỉ bắt gặp nơi Thiên Chúa) nhưng lời giải thích là đủ để giúp người ta nhận thấy, ít nhất do trực giác, “tại sao” nơi Thiên Chúa, một cũng phải là nhiều, thậm chí là ba : bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu!” Một Thiên Chúa là Tri Thức thuần túy, hoặc Luật thuần túy, hoặc Quyền Năng thuần túy, hẳn không cần phải là ba (điều này đúng ra lại làm cho mọi sự thêm phức tạp rất nhiều). Đối với một Thiên Chúa trên hết là Tình Yêu thì hoàn toàn khác, bởi vì “để nói về tình yêu, cần ít nhất hai người”. Cha de Lubac viết: “Thế giới phải biết rằng: mạc khải của Thiên Chúa Tình Yêu đã làm đảo lộn tất cả những gì nó đã quan niệm về thần tính[16].” Đối với cả các Kitô hữu, chỉ có một Thiên Chúa độc nhất, tuy vậy Ngài không là một Thiên Chúa cô độc.
Cùng với thánh Augustinô, người đã đồng hành với chúng ta trong chặng thứ hai này của cuộc hành trình, chúng ta hãy cầu nguyện:
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, niềm hy vọng duy nhất của con, xin nhậm lời con, kẻo vì mệt mỏi mà con không còn muốn tìm kiếm Chúa nữa, nhưng xin cho con luôn hăng say tìm kiếm khuôn mặt Chúa… Trước mặt Chúa là sức mạnh và sự yếu đuối của con: xin canh giữ sức mạnh của con, xin chữa lành sự yếu đuối của con… Chớ gì Chúa là Đấng con nhớ đến, là Đấng con hiểu, là Đấng con yêu[17]! “
3. KHI CON TÌM KIẾM CHÚA, CHÍNH LÀ HẠNH PHÚC CON KIẾM TÌM
Chúng ta tiến thêm một bước mới trong tiểu luận của chúng ta, và cố gắng, nếu không muốn “định nghĩa”, thì ít nhất cũng “mở ra” một vài cái nhìn bao quát về thực tại Thiên Chúa hằng sống. Chúng ta đã nói: “Thiên Chúa là tình yêu”, thì cũng phải nói thêm: Thiên Chúa là hạnh phúc! Ngài là “Thiên Chúa hạnh phúc, Đấng ban hạnh phúc”, như thánh Augustinô nói[18]. Được hạnh phúc và làm cho người khác hạnh phúc là nét riêng của Ngài, cũng như chiếu sáng và làm cho mọi vật có màu sắc là thuộc về ánh sáng. Hạnh phúc thuộc về chính mầu nhiệm hữu thể của Ngài. Vì Ngài là Sự Thiện tối cao, nên cũng là hạnh phúc vô biên và tối cao. Thánh Phanxicô đã ca lên trong bài “Ca ngợi Thiên Chúa tối cao”: “Chúa là niềm vui, là nỗi hân hoan vui sướng”. Trước câu hỏi: “Thiên Chúa là gì?”, giáo lý viên hẳn có thể dạy cho học sinh của mình trả lời rất đúng rằng: “Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn hạnh phúc, Đấng tạo dựng trời đất. Sẽ đúng không kém khi nói về hữu thể “tuyệt đối hoàn hảo” và chắc chắn trẻ em sẽ dễ hiểu hơn, vì chúng liên kết hạnh phúc với trò chơi cách tự nhiên và có lý.
Làm sao chúng ta biết Thiên Chúa là hạnh phúc? Ngài là hạnh phúc với cùng một lý do như Ngài là ba ngôi: vì Ngài là tình yêu. Thực tế, và kinh nghiệm cho thấy, hạnh phúc chính là yêu và được yêu. Chắc hẳn, cả sự thật lẫn kiến thức cũng làm cho con người hạnh phúc, nhưng với điều kiện phải có tình yêu đi kèm. Thế mà từ đời đời, Chúa Cha yêu Chúa Con bằng tình yêu vô biên, bù lại Chúa Con cũng yêu Chúa Cha bằng một tình yêu vô biên không kém. Nơi Ngài, Chúa Cha tìm lại được “tất cả tình yêu của mình”, và do đó hạnh phúc của mình. Thánh Augustinô viết: “Sự ôm ấp khôn tả của Chúa Cha và của Hình Ảnh không suôn sẻ nếu không có vui mừng, không có bác ái, không có hoan lạc. Sự yêu quý này, vui thú này, sung sướng này, chúng ta hãy nói hạnh phúc này, nếu có hạn từ nào của con người có thể diễn tả một cách phù hợp…, thì chính là Chúa Thánh Thần trong Ba Ngôi. Người không được sinh ra, là sự êm dịu của đấng sinh ra và đấng được sinh ra, Người làm cho mọi loài thụ tạo được chan chứa sự tự do của mình, sự phong phú bao la của mình, tùy theo khả năng của chúng[19].”
Khi Chúa Thánh Thần tuôn đổ tình yêu của Thiên Chúa vào lòng con người (Rm 5,5), thì đồng thời Người cũng đổ xuống trên họ hạnh phúc của Thiên Chúa. Bởi vậy, niềm vui là một trong những hoa trái đầu mùa của việc Người đến trong tâm hồn (x. Gl 5,22). Chính vì tình yêu, tự bản tính, có khuynh hướng lan tỏa mà Thiên Chúa “đã tạo ra thế giới để muôn loài được đầy tràn ơn phúc và vui hưởng ánh sáng huy hoàng của Ngài[20]“. Hạnh phúc của Thiên Chúa giống như “dòng sông tràn bờ và cánh tay của Đấng làm vui mừng thành đô của Thiên Chúa” là toàn thể thế giới. “Thiên Chúa, nguồn vui hoan lạc của tôi“: đây là danh hiệu được gán cho Thiên Chúa trong một Thánh vịnh (Tv 43,4).
Nếu Thiên Chúa là hạnh phúc, bất cứ điều gì Ngài làm là lấy lòng vui mà làm; Ngài lấy lòng vui mà tạo dựng “khi các vì sao ban sáng đang hòa tấu nhịp nhàng và hết mọi con cái Thiên Chúa cùng rập tiếng tung hô” (G 38,7). Ngài lấy lòng vui mà cứu vớt, thậm chí lấy lòng vui mà chịu khổ (vì đúng là Thiên Chúa “chịu khổ” với con người và cho con người, chừng nào con người có nguy cơ đánh mất chính mình). Julienne Norwich viết: “Tôi thấy rằng Thiên Chúa vui mừng vì được làm Cha của chúng ta, vui mừng vì được làm Mẹ của chúng ta, vui mừng vì trở thành Phu Quân thật sự của chúng ta, và vui mừng vì được linh hồn của chúng ta làm hiền thê[21].” Thiên Chúa hạnh phúc! Thiên Chúa hạnh phúc! Đây là một lời khẳng định mới về Thiên Chúa chứ không phải một lời khuôn sáo, thậm chí còn tốt hơn rất nhiều diễn từ, để giúp chúng ta nhận thức được rằng Thiên Chúa đúng là “Thiên Chúa hằng sống”.
Sự thật này là cốt yếu trong bước đi của chúng ta hướng tới mục tiêu mà chúng ta đã tự đặt ra cho cuộc hành trình của mình : con đường đến với Thiên Chúa hằng sống cũng là con đường đến với hạnh phúc. Thánh Augustinô viết[22]: “Lạy Chúa, khi con tìm kiếm Chúa, chính là cuộc sống hạnh phúc mà con kiếm tìm”. Đỉnh cao mà chúng ta đã quyết định leo lên là đỉnh cao mà mọi người cũng đang hướng tới. Than ôi, họ rất hay chọn sườn dốc khó leo. Mọi người đều muốn được hạnh phúc. Chỉ với từ hạnh phúc, mọi người đứng thẳng dậy và nhìn vào bàn tay bạn để xem liệu bạn có thể tình cờ cho họ thứ gì đó để làm dịu cơn khát hạnh phúc của họ. Khát vọng này chung cho tất cả mọi người, bất kể tốt hay xấu, không trừ ai, vì không ai xấu nếu nhờ khao khát mà hy vọng tìm thấy hạnh phúc. Nếu chúng ta có thể hình dung ra cảnh tượng toàn thể nhân loại trong hoạt động sâu sắc nhất của mình, chúng ta sẽ thấy giống như một đám đông rất nhiều người xung quanh một cây ăn trái: tất cả đều kiễng chân và tuyệt vọng vươn tay cố gắng hái một trái mà thực tế không ai hái được. Theo Dante, hạnh phúc là “trái cây dịu ngọt đến nỗi, trong số bao nhiêu cành, nó đi cầu xin sự quan tâm của con người[23].”
Chúng ta đã biết hạnh phúc ở đâu và khi nào, để mang trong mình một khao khát mãnh liệt về nó từ khi mới sinh ra? Ở kiếp trước chăng? Nhưng điều đó sẽ chỉ đưa vấn đề trở lại kiếp trước, mà không giải quyết được. Chúng ta mang trong mình niềm khao khát được sống hạnh phúc, vì Thiên Chúa đã tạo ra chúng ta “theo hình ảnh Ngài và giống Ngài“: Ngài chính là Đấng hạnh phúc hoàn hảo, đã tạo ra chúng ta để được hạnh phúc. Chúng ta được nhào nặn với khát vọng hạnh phúc.
Một câu hỏi được đặt ra: tại sao rất ít người thật sự hạnh phúc? Và những người như vậy, tại sao họ lại như vậy theo cách thức như trốn chạy? Tôi nhắc lại: chúng ta đang leo lầm sườn dốc, chọn một sườn dốc không thể dẫn chúng ta đến đỉnh núi. Một số bản vẽ, bức tranh hoặc ảnh chụp của thế kỷ trước và đầu thế kỷ này trình bầy những tai nạn nổi tiếng và khủng khiếp xảy ra tại Cervin: toàn bộ dây của những người leo núi tuột móc và rơi xuống đáy thung lũng. Như thể ngọn núi giận dữ hất ra khỏi sườn những người khinh suất để loại bỏ họ. Chúng ta lại không thể thấy ở đây một hình ảnh của số phận dành cho bất cứ ai cố gắng leo lên tới hạnh phúc sao?
Không khó để tìm ra sai lầm nằm ở chỗ nào. Mạc khải nói: “Thiên Chúa là tình yêu.” Và con người đã nghĩ có thể đảo ngược mệnh đề bằng cách tuyên bố : “Tình yêu là chúa tể!” Khi mạc khải dạy: “Thiên Chúa là hạnh phúc”, con người lại đảo ngược mệnh lệnh để quả quyết: “Hạnh phúc là chúa tể!” Điều đó đưa chúng ta tới đâu? Con người không biết hạnh phúc thuần khiết, tuyệt đối, vĩnh cửu, siêu việt, cũng không biết tình yêu tuyệt đối. Họ chỉ biết những mẩu hạnh phúc, thường chỉ là những cơn say thoáng qua của giác quan. Những lúc vui mong manh như pha lê, trong chốc lát làm lóa mắt bằng vẻ lộng lẫy của chúng, nhưng lại mang trong mình nỗi lo có thể biến thành mảnh vụn bất cứ lúc nào. Như thế, con người thần hóa kinh nghiệm của mình. Họ gọi công việc của đôi tay hay khối óc của mình là “chúa tể”. Người xưa công khai biến hạnh phúc thành một nữ thần có tên là Felicitas (thần hạnh phúc). Về căn bản, đó cũng là niềm vui được Beethoven ca lên ở cuối Bản Giao hưởng số 9: “Niềm vui, tia sáng tuyệt đẹp của các vị thần! Con gái của Elysê.” Một niềm vui mà không phải ai cũng có được, vì nó chỉ dành riêng cho những người “mà số phận đã cho làm bạn của một người bạn,… chinh phục một người vợ quyền quý”, như được hát trong phần tiếp theo của bài ca.
Ở đây chúng ta tìm thấy lời giải thích: ai tìm kiếm Thiên Chúa luôn tìm thấy niềm vui, nhưng ai tìm kiếm niềm vui không phải lúc nào cũng tìm thấy Thiên Chúa. Tìm kiếm hạnh phúc trước khi tìm kiếm Thiên Chúa, hoặc tìm kiếm hạnh phúc ngoài Thiên Chúa, chỉ là tìm thấy ảo ảnh của nó, “một vú nuôi khô cằn”, “những hồ nước nứt rạn, không giữ được nước” (Gr 2,13). Con người giảm khát khao hạnh phúc xuống mức định lượng: họ theo đuổi những thú vui và cảm xúc ngày càng mãnh liệt hơn, thêm hết thú vui này vào thú vui khác. Và kinh nghiệm dạy cho họ biết rằng “Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới” (Gv 1,8). Trong suốt cuộc đời của mình, bác sĩ Faust đã tìm kiếm khoảnh khắc tuyệt vời này khiến ông phải kêu lên: “Dừng lại, ngươi thật đẹp!” Ông đã không bao giờ tìm thấy nó. Cuối cùng điều sẽ cứu ông chính là: “Không có khoái cảm nào làm ông thỏa mãn, không có hạnh phúc nào là đủ cho ông”, kẻ thù của linh hồn ông bực mình mà lưu ý như vậy[24].
Do đó, để đi vào niềm vui, phải vượt từ số lượng sang phẩm chất. Chỉ mình Thiên Chúa là hạnh phúc và làm cho con người hạnh phúc. Một Thánh vịnh khuyên bảo theo nghĩa này: “Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn, Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng” (Tv 37,4). Với Ngài, ngay cả những niềm vui trong cuộc sống hiện tại vẫn giữ được hương vị ngọt ngào và không biến thành nỗi âu lo. Chỉ mình Ngài đã có thể khiến một vị thánh phải kêu lên: “Đủ rồi, lạy Chúa, đủ vui rồi! Trái tim con không thể nhận thêm được nữa!” Để mô tả cuộc sống vĩnh cửu, Kinh Thánh sử dụng những hình ảnh lễ lạc, tiệc cưới, hát ca và múa nhảy, bao nhiêu biểu tượng gợi lên bầu không khí hạnh phúc. Đi vào cuộc sống vĩnh cửu là dứt khoát đi vào niềm vui: “Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh” (Mt 25,21).
Nơi Thiên Chúa, con người tìm thấy tất cả những gì mình quen diễn tả bằng từ hạnh phúc và thậm chí còn vô hạn hơn thế nữa, vì “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người” (1Cr 2,9). Mục tiêu cuối cùng mà đức tin Kitô giáo đề ra cho con người không phải là thuần túy chấm dứt mọi đau khổ hay dập tắt mọi ham muốn. Còn vô cùng hơn thế nữa: thỏa mãn mọi ham muốn của mình. “Trước thánh nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16,11).
Như đã nói, chúng ta đang sống trong một thời kỳ khắc khoải. Khái niệm khắc khoải đã thay thế cho suy tư của cổ nhân về hạnh phúc; nó đã tràn ngập triết học, tâm lý học, văn học. Giả sử, trong tương lai, ai đó muốn biết cách sống của con người ở thế kỷ XX bằng cách dựa vào một tác giả như Kafka chẳng hạn: anh ta sẽ giữ lại ấn tượng về một nỗi lo âu chết người, thâm nhập vào mọi chỗ sâu kín của con người. Rất nhiều trang viết về thân phận bất hạnh của con người đã bày tỏ ít nhất một sự thật này: con người không cam chịu bất hạnh; đó là một thực tại xa lạ với con người anh ta; không phải là tự nhiên đối với anh ta. Một cách đặc biệt, cuộc đấu tranh chống lại sự lo âu minh chứng cho nhu cầu được sống hạnh phúc, một nhu cầu không cưỡng lại được.
Vậy đã đến lúc bắt đầu can đảm công bố “tin vui” này: Thiên Chúa là hạnh phúc, hạnh phúc sẽ thắng, chứ không phải đau khổ, thiếu thốn hay thập giá; và: đau khổ đơn giản hữu ích cho việc loại bỏ những gì ngăn cản niềm vui, làm cho tâm hồn giãn ra, để có thể nhận được niềm vui ấy ở mức lớn nhất có thể. Niềm vui đến từ Thiên Chúa rất mạnh mẽ đến nỗi chiến thắng, cho dù chúng ta vẫn còn phải ở trên thế gian đầy thử thách. Như ông Nêhêmi đã loan báo điều ấy cho dân chúng đang nức nở: “Niềm vui của Đức Chúa là thành trì bảo vệ anh em” (Nkm 8,10).
Chớ gì việc loan báo niềm vui này đánh dấu hồi kết của thiên niên kỷ thứ hai đầy sóng gió và chuẩn bị chúng ta đón nhận điều mới! Chớ gì niềm vui sẽ là dấu hiệu đặc biệt của công cuộc tân Phúc âm hóa! Là vì cuối cùng nhân loại xác tín rằng họ phải lựa chọn giữa Thiên Chúa và hạnh phúc. Một cách vô thức, chúng ta đã làm cho Thiên Chúa trở thành người cạnh tranh, thù nghịch với niềm vui của con người; một Thiên Chúa “đố kỵ”, giống như vị thần của một số tác giả ngoại giáo. Đó là công trình tuyệt vời của Satan, là vũ khí giúp cho nó rất thành công với Evà.
Vậy, chúng ta hãy tiếp tục cuộc hành trình của mình với một sự chắc chắn đổi mới, có thể chắp cho chúng ta đôi cánh: giúp chúng ta bay lên tới Thiên Chúa hằng sống, đồng thời cũng giúp chúng ta bay lên tới hạnh phúc. Theo sườn núi thuận lợi!
Chúng ta kết thúc bằng một lời kinh của Giáo Hội:
“Lạy Chúa, chỉ có Chúa mới làm cho chúng con nên một lòng một ý; xin cho tất cả chúng con biết yêu luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dầu sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, chúng con vẫn một lòng thiết tha với cõi phúc chân thật[25].”
4. MẦU NHIỆM ĐÁNG SỢ VÀ LÔI CUỐN
Như chúng ta đã thấy, nếu không thể định nghĩa Thiên Chúa hằng sống, thì ít nhất chúng ta cũng có thể xác định tìm thấy Ngài cách nào và ở đâu. Một đêm kia, triết gia Pascal nán lại lâu hơn bình thường để cầu nguyện. Khi đó, ông sống một kinh nghiệm cháy bỏng về Thiên Chúa hằng sống mà ông tìm cách ghi lại trên giấy dưới dạng những tiếng thốt lên ngắn gọn. Sau khi ông qua đời, người ta tìm thấy miếng vuông khâu bên trong áo của ông, ngang ngực ông. Ông nói:
“Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacob, không phải của các triết gia và học giả… Sự Chắc Chắn. Tình Cảm, Niềm Vui. Bình An. Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. “Thiên Chúa của bạn sẽ là Thiên Chúa của tôi.” Quên đi thế giới và mọi sự, ngoại trừ Thiên Chúa. Ngài chỉ được tìm thấy nhờ những con đường được chỉ dẫn trong Phúc Âm. Sự vĩ đại của tâm hồn con người. “Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con đã biết Cha…” Xin cho con mãi mãi không bao giờ xa Chúa. Niềm vui, niềm vui, niềm vui, khóc vì vui.”
Bản văn này giúp cho người ta hiểu ngay ý nghĩa của việc khám phá ra Thiên Chúa hiện hữu và “rất đỗi ngạc nhiên” về chuyện đó.
Một nhận xét của Pascal làm chúng ta phải lưu ý đặc biệt hơn ở đây: Thiên Chúa hằng sống “chỉ được tìm thấy nhờ những con đường được chỉ dẫn trong Phúc Âm”, nghĩa là trong Kinh Thánh. (Pascal giúp cho người ta hiểu điều này cách thực tế, khi ông hầu như chỉ sử dụng các biểu thức lấy từ Kinh Thánh). Thiên Chúa hằng sống hiện diện khắp nơi trong Sách Thánh, “Người đi dạo trong đó” như Sách Thánh chép là Ngài đã làm như thế ngay từ khởi thủy, trong vườn địa đàng (x. St 3,8). Rất nhiều khi người ta gặp Ngài ở đó. Thánh Ambrôsiô viết: “Thiên Chúa đi dạo trong vườn địa đàng theo nghĩa nào, vì Ngài luôn hiện diện khắp nơi? Theo tôi, điều đó có nghĩa là Thiên Chúa bày tỏ sự hiện diện của Ngài trong những bản văn khác nhau của Sách Thánh, nơi người ta bắt gặp Ngài hiện diện khắp nơi[26].”
Giống như Môsê, chúng ta hãy ẩn mình trong hốc đá, nghĩa là trong một trang nào đó của Kinh Thánh, để, ít nhất cách gián tiếp và tình cờ, nắm bắt ánh hào quang của Ngài, một cách bày tỏ nào đó của cuộc đời Ngài. Chúng ta không thể mô tả Thiên Chúa hằng sống cũng như không thể nhốt Ngài trong khuôn khổ các định nghĩa, điều ấy đúng! Nhưng thánh Cyrillô Giêrusalem viết: “Lấy lý do không có khả năng uống cả dòng sông, phải chăng tôi lại không uống một chút nước tôi cần? Hoặc lấy lý do đã vào một vườn cây ăn trái, và không thể ăn tất cả các trái cây trong đó, có phải cuối cùng tôi chịu đói mà ra khỏi vườn chăng[27]?
Hãy lấy ví dụ về những phán quyết của Thiên Chúa. Kinh Thánh rất hay nói đến những phán quyết này, công bố những phán quyết này thật công minh, thánh thiện, khôn dò khôn thấu, đáng sợ và đồng thời “ngọt ngào hơn mật ong, hơn mật ong nguyên chất” (Tv 19, 11). “Sự giầu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu ! Đường lối của Người, ai theo dõi được!” (Rm 11,33). Theo một Thánh vịnh, “Thành thị miền Giuđa hớn hở nhảy mừng vì những phán quyết của Ngài, lạy Chúa!” (Tv 97,8). Và: “Quyết định của Ngài sâu tựa vực thẳm! (Tv 36,7).
Ý tưởng về Thiên Chúa được các triết gia phác họa không bao gồm bất cứ điều gì như thế về vấn đề này. Nó thậm chí không cho phép nghi ngờ về sự tồn tại của những phán quyết giống như vậy, vốn “là luật cho toàn vũ trụ” như thánh vịnh Tv 105,7 nhắc nhở. Những phán quyết của Thiên Chúa là một thực tại khác xa những ý tưởng của phái Platon ẩn giấu trong tâm trí của Thiên Chúa. Đây vừa là những ý tưởng vừa là những quyết định, những ý tưởng sáng tạo “quyết định” về con người và lịch sử. Một sự khôn ngoan như thế gợi hứng cho người ta nhớ rằng người ta vĩnh viễn sống dưới phán quyết của Thiên Chúa! nhớ rằng mọi sự đều phơi bầy không che đậy trước sự hiện diện của Ngài, ngay cả tư tưởng của người phủ nhận Ngài! Tác giả sách Gương Chúa Giêsu Kitô nói: “Lạy Chúa! Chúa khiến cho tiếng sấm những phán quyết của Chúa vang lên trong con; Chúa làm xương cốt con rụng rời vì sợ hãi và rùng mình; linh hồn con vô cùng sợ hãi, rất kinh khiếp vì những phán quyết ấy. Con ngạc nhiên khi thấy ngay cả các tầng trời cũng không được tinh tuyền trước mắt Chúa[28].”
Thiên Chúa hằng sống mạc khải mình đặc biệt trong phán quyết mầu nhiệm nhất: phán quyết bày tỏ nơi thập giá Đức Kitô. Để khám phá ra nét mới do thập giá mang lại, khi tìm hiểu về Thiên Chúa hằng sống, điều thích hợp là nhớ lại một số thì mạnh (temps forts) của mạc khải Kinh Thánh về Thiên Chúa.
Trong sách Xuất hành, Thiên Chúa tỏ mình ra với Môsê bằng cách xướng lên: “Đức Chúa ! Đức Chúa!” Tiếp theo là hai chuỗi thuộc tính: “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhận nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi… nhưng (và ở đây bắt đầu chuỗi thuộc tính thứ hai) không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời, vì lỗi lầm của cha ông” (Xh 34, 5-7).
Sự tương phản đặc trưng này được duy trì trong suốt Kinh Thánh. Các Thánh vịnh ca lên khi thì khía cạnh này, khi thì khía cạnh kia: Thiên Chúa là Đấng tha thứ hoặc Thiên Chúa là Đấng sửa phạt. Một Thánh vịnh có tựa đề: “Ca ngợi Thiên Chúa đáng sợ”: ở đó, Thiên Chúa được ca ngợi là “lẫm liệt uy hùng, đáng sợ, đập tan khí thế bao thủ lãnh, gây kinh hoàng cho vua chúa trần gian” (Tv 76). Ở chỗ khác, cũng chính Thiên Chúa được ca ngợi là “nhân hậu và từ bi, chậm giận và giầu tình thương, nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 145,6-9).
Để cố gắng thể hiện một thực tại vô biên, con người không có phương sách nào tốt hơn là sử dụng những hình thức đối nghịch nhau trong một ngôn ngữ bằng những kiểu tương phản. Ví dụ, để diễn tả Chúa Thánh Thần, họ nại tới hai biểu tượng trái ngược nhau hoàn toàn: nước và lửa. Về Đức Giêsu Kitô, người ta nói Ngài vừa là chiên vừa là sư tử (x. Kh 5,5). Việc sử dụng các hạn từ trái ngược nhau thiết lập một không gian rộng mở giữa chúng, không có giới hạn. Kinh Thánh luôn duy trì, làm sức căng, hai đặc điểm cơ bản này của Thiên Chúa với nhau : một bên là sự thánh thiện và quyền năng, bên kia là sự tốt lành vô hạn; một bên là cơn giận, bên kia là thương xót, không bao giờ tìm cách san bằng chúng, không bao giờ làm tăng chút mâu thuẫn nào giữa chúng. Đối mặt Thiên Chúa này, hai phản ứng hay thái độ được bày tỏ song song diễn tả những bổn phận cơ bản của thụ tạo: kính sợ và yêu thương: “Ngươi sẽ yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi… Ngươi sẽ kính sợ Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Đnl 6,5.13).
Tất cả những kinh nghiệm tuyệt vời về Thiên Chúa hằng sống làm nổi bật nét tương phản giữa hai cái nhìn này về Thiên Chúa, trình bày chúng sao cho có sự cân bằng với nhau. Trong kinh Magnificat, Đức Maria công nhận Thiên Chúa là “Chúa”, “Đấng toàn năng”, “Thánh”, những tước hiệu thể hiện sự uy nghi, siêu việt và khơi dậy lòng kính sợ và tôn kính. Nhưng Thiên Chúa đồng thời cũng là “Đấng Cứu Độ tôi”, là điều nói lên sự tốt lành, nhân từ của Ngài và khơi dậy sự đáp lại của tình yêu và phó thác. Thánh Phanxicô Assisi bắt đầu Bài Ca Vạn Vật của mình bằng cách hát lên lời ca tụng Thiên Chúa “tối cao, toàn năng, là Chúa tốt lành…”, sau đó cảnh báo rằng không ai xứng đáng “nhắc đến” Ngài, nghĩa là xướng danh Ngài. Trong một lời cầu nguyện khác, thánh nhân gọi Ngài là: “Thiên Chúa toàn năng, vĩnh cửu, công bình và thương xót…!” Đối với ngài, “Đấng Tối Cao, toàn năng, vĩnh cửu, công bình” đồng thời cũng là “Thiên Chúa nhân hậu và thương xót”.
Hơn ai khác, thánh Augustinô nhấn mạnh sự tương phản giữa hai phản ứng yêu thương và sợ hãi của con người. Ngài thưa lên với Chân Lý Vĩnh Cửu: “Khi lần đầu tiên con biết Chúa, Chúa đã nâng con lên tới Chúa… Chúa dùng tia sáng mãnh liệt của Chúa chiếu trên con, để đánh vào cái nhìn yếu đuối của con và con run lên vì yêu mến và kinh sợ.” Trong một đoạn khác, ngài thú nhận: “Trước mặt Chúa, con run lên vì yêu và sợ[29].”
Từ sự kiện này, một đại diện nổi tiếng của hiện tượng học tôn giáo đã soạn một luận án về thần linh như một mầu nhiệm “đáng sợ và lôi cuốn”, theo nghĩa quyền năng của thần làm người ta kinh sợ, nhưng sự tốt lành của thần lại lôi cuốn họ. Tác giả cho chúng ta thấy quan niệm cơ bản này về Thiên Chúa trong các vũ trụ tôn giáo đa dạng nhất, cả cổ đại lẫn hiện đại. Tuy nhiên, ông nhận ra biểu hiện cao nhất của mầu nhiệm này trong Kitô giáo, vì phẩm chất đạo đức của tôn giáo này[30].
Nói cho đúng, ngay cả nơi các Kitô hữu, không phải lúc nào người ta cũng biết cách duy trì sự quân bình chính đáng giữa những mặt đối lập này. Một số trào lưu tâm linh (thường có nguồn gốc Công giáo) đã nhấn mạnh khía cạnh tốt lành và ban ơn (“Thiên Chúa nhân lành”) đến nỗi quên đi khía cạnh uy nghi và kính sợ Thiên Chúa. Các trào lưu khác (trào lưu được biết đến nhiều nhất gắn liền với Calvin) đã quá nhấn mạnh sự uy nghi chói lọi, quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa, đến độ hầu như con người không còn biết gì hơn là khiếp sợ Thiên Chúa. Calvin viết: “Khi chúng ta nghĩ đến sự uy nghi đáng sợ của Thiên Chúa, thì không thể không kinh hãi”. Và ở những chỗ khác: “Sợ hãi là nền tảng của tôn giáo.”
Trước khi tiếp tục suy tư, chúng ta hãy cầu nguyện dựa vào một bản văn của thánh Phanxicô Assisi:
“Xin cho sự hiểu biết của chúng con về Chúa trở nên rõ ràng; để chúng con biết chiều rộng của những ơn lành Chúa ban, chiều dài của những lời Chúa hứa, chiều cao của Chúa uy nghi và chiều sâu của việc Chúa phán xét. Amen[31].”
5. TA GHÉT CÁC CÔNG VIỆC NGƯƠI LÀM, CÒN NGƯƠI, TA YÊU NGƯƠI
Đôi khi người ta nghĩ rằng, trong Phúc Âm, Đức Giêsu đã trả lời dứt khoát cho sức căng giữa hai khía cạnh thuộc thần tính này: Ngài chỉ nói về một Thiên Chúa tốt lành, dịu dàng, đầy tình cha con mà thôi, không bao giờ giận dữ và không làm ai phải sợ. Một Thiên Chúa chỉ là tình yêu vô hạn mà không đồng thời là quyền năng vô hạn. Marcion là người đầu tiên đưa ra tuyên bố này. Thánh Irênê viết: “Marcion, người phân chia Thiên Chúa thành hai và phân biệt một “Thiên Chúa tốt lành” với một “Thiên Chúa xét xử”, hủy bỏ Thiên Chúa ở cả hai phía. Quả thực, nếu Thiên Chúa xét xử mà không đồng thời tốt lành, Ngài không phải là Thiên Chúa, vì không có Thiên Chúa nào mà không tốt lành; ngược lại, nếu Thiên Chúa tốt lành mà không đồng thời xét xử, Ngài sẽ chịu số phận như Đấng trước và sẽ mất đi phẩm chất của Thiên Chúa[32].” Luận điểm của Marcion đã được nhóm Cathares lấy lại thời Trung cổ, và trong thời gian gần đây hơn, Simone Weil lặp lại, với những hạn từ tinh vi hơn. Như vậy, người ta đi tới kết quả là tách rời Tân Ước khỏi Cựu Ước, như thể Tân Ước thuộc về một Thiên Chúa khác, cho tới lúc đó không được biết đến.
Một cách nhìn như vậy không đúng với cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Ý tưởng về một Thiên Chúa của Cựu Ước chỉ có nghiêm khắc và công bình khơi dậy những phản ứng có cơ sở nơi người anh em Do Thái của chúng ta, vì không để ý đến những kiểu nói thống thiết về sự dịu dàng của người cha mà các tiên tri đặt vào miệng Thiên Chúa (x. Gr 31,20; Hs 11,8-9). Cũng thế, luận đề cho rằng Thiên Chúa của Phúc Âm chỉ tốt lành và nhân từ, cũng không chính xác.
Đức Giêsu mời gọi chúng ta kính sợ Thiên Chúa, Đấng có thể đưa người ta xuống địa ngục. Ngài loan báo một cuộc phán xét mà chính Ngài sẽ là thẩm phán và sẽ tuyên bố điều khủng khiếp: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt ta… ” (Mt 25,41). Phaolô sẽ tiếp tục nói về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa (x. Rm 1,18) và một chỗ khác của Tân Ước cảnh báo chúng ta: “Thật là khủng khiếp khi phải rơi vào tay Thiên Chúa hằng sống” (Dt 10,31).
Sự mới mẻ do Đức Giêsu mang lại thì khác. Nó dạy chúng ta biết rằng, Thiên Chúa, trong khi vẫn là như Người là, tức Thiên Chúa rất thánh, tối cao, toàn năng, từ đây được ban cho chúng ta theo một cách mới, như một người cha, hoặc đúng hơn, như một abba, (papa). Chúng ta không thấy ở đó một ý tưởng phai nhòa hay nhạt nhẽo nào về Thiên Chúa. Kinh “Lạy Cha” liên kết hai khuôn mặt này của Thiên Chúa. Những từ “Cha chúng con” bày tỏ sự hạ cố, gần gũi, nhân hậu, tình phụ tử lớn nhất của Thiên Chúa. Người là “cha” và là “của chúng ta”. Ngược lại, các từ “ở trên trời” duy trì sự xa cách, siêu việt, thánh thiện[33], vì kiểu nói “ở trên trời” không chỉ một nơi chốn, nhưng một điều kiện hiện hữu; hoặc, nói cách khác, Thiên Chúa là thần trí chứ không phải xác thịt, vô phương đạt tới, tối cao, “xa chúng ta như trời xa đất” (x. Is 55,9).
Nét cao cả và mới mẻ này trong lời dạy của Đức Giêsu về Thiên Chúa hằng sống có thể cô đọng trong một câu ngắn gọn: “Chúng ta có một Thiên Chúa là cha! Chúng ta có một người cha là Thiên Chúa!” Giáo Hội đã trung thành giữ lại hình ảnh tương phản này về Thiên Chúa: đầu Kinh Tin Kính, Giáo Hội quả quyết: “Tôi tin kính một Thiên Chúa, là Cha toàn năng.” Cha, nhưng toàn năng; toàn năng, nhưng là Cha.
Không chỉ bằng lời nói, Đức Giêsu còn hoàn tất mạc khải về Thiên Chúa hằng sống bằng một sự kiện cụ thể: cái chết của Ngài trên thập giá. Cây thánh giá là biểu hiện tối cao của Thiên Chúa hằng sống; đó là sự phán xét tối hậu của Thiên Chúa trong lịch sử. Thật có ý nghĩa khi sách Khải huyền trình bày thập giá như “ấn của Thiên Chúa hằng sống” (Kh 7,2tt).
Xem xét loạt biểu hiện kép này của Thiên Chúa hằng sống, người ta có thể vẫn bị vấp phạm bởi Thiên Chúa này, Đấng lúc phạt, lúc tha; khi thì bùng lên cơn giận, khi thì tràn đầy tốt lành. Người ta có thể nghĩ là đang đối phó với một hữu thể thất thường và tùy tiện hoặc ít nhất là không thể đoán trước được. Thực sự, mối nguy hiểm này không phải lúc nào cũng tránh được trong một số công trình tái tạo hiện tượng học tôn giáo, như chúng ta đã chỉ ra ở trên. Ở đây, lời giải thích duy nhất được đưa ra cho chúng ta bằng khái niệm phi lý tính. Thiên Chúa bày tỏ nơi mình cả khía cạnh thuộc lý tính, mà chúng ta có thể hiểu được, lẫn khía cạnh thuộc phi lý tính không làm sáng tỏ được bằng các phạm trù thuộc lý tính, nhưng bằng các phạm trù và các biểu tượng khác.
Cây thánh giá là chìa khóa thực sự để giải quyết sự hàm hồ này. Thiên Chúa không phải lúc nghiêm khắc, lúc nhân từ, theo sở thích thay đổi. Ngài không tùy tiện và vô cớ tỏ ra toàn năng lúc này, nhân từ lúc khác. Câu giải thích cho đặc tính lưỡng giá này là như sau: Thiên Chúa tốt lành, đầy lòng nhân từ với tội nhân; Ngài là thánh, nhưng đáng sợ và không khoan dung đối với tội lỗi. Một công thức được cho là của thánh Augustinô nói lên điều đó: “Ta ghét các công việc ngươi làm ; còn ngươi, ta yêu ngươi” (Odi tua, amo te). Thiên Chúa không giận ghét cũng không khinh miệt các thụ tạo của Ngài (x. Kn 11,21-26). Điều Ngài giận ghét, và “cho đến muôn ngàn đời”, có nghĩa là cho đến những hậu quả tối hậu, chính là điều Ngài đã không làm, điều Ngài đã không muốn, đó là sự dữ. Và sự dữ là kẻ đầu tiên hủy diệt các thụ tạo. Vậy cơn giận của Ngài đối với tội lỗi là cơn giận chống lại kẻ thù chung; cuối cùng, giận đó mà yêu đó. Vì vậy, khi nghe chính Thiên Chúa tuyên bố: “Trong lúc tức giận, Ta đã đánh phạt, nhưng vì ân tình, Ta lại xót thương ngươi” (Is 60,10), chúng ta hãy hiểu rõ ý nghĩa của câu nói: “Ta đã đánh vào cái ác của ngươi vì xót thương ngươi”.
Vậy cây thập giá là mạc khải tối cao của Thiên Chúa hằng sống trong Kinh Thánh theo nghĩa nào? Theo nghĩa thập giá là chữ “không” khủng khiếp nhất đối với tội lỗi và là chữ “có” đáng yêu nhất đối với tội nhân. Thánh Phaolô viết rằng đối với chúng ta, Thiên Chúa đã đồng hóa Đức Giêsu với tội lỗi, để nhờ Ngài mà chúng ta trở nên công chính và thánh thiện, nghĩa là được Thiên Chúa yêu thương (x. 2Cr 5,21). Ngài đã “lên án tội trong thân xác Con mình để sự công chính được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta” (x. Rm 8,3-4) Sự toàn năng và tình yêu không đối lập nhau và cũng không đơn thuần được đặt cạnh nhau hoặc được định lượng một cách khéo léo, nhưng được đặt trong mối tương quan sinh tử: Thiên Chúa biểu lộ sự toàn năng của Ngài bằng cách thương xót.
Công lý và hòa bình liên kết chặt chẽ với nhau nơi thập giá Đức Kitô, sự thánh thiện của Thiên Chúa và tình yêu của Ngài dành cho con người gặp gỡ nhau. Kể từ đây, chính khi chiêm ngắm thập giá Đức Kitô mà chúng ta nhận biết Thiên Chúa hằng sống; điều này giải thích tại sao những người chỉ tìm kiếm Ngài trong sách vở hoặc trong các hệ thống triết học lại dễ dàng không thấy Ngài. Kiểu nói “thần học về thập giá” (theologia crucis) cho thấy rằng chỉ nhờ nó mà thôi, từ nay người ta không thể nói về Thiên Chúa nữa (chính xác là làm thần học) mà không bắt đầu từ thập giá. “Người ta không trở thành nhà thần học bằng cách hiểu, đọc hay suy tư, nhưng bằng cách sống và, ở giới hạn cuối cùng, bằng cách chết và bằng cách trải nghiệm sự kết án[34]“. Nói cách khác, bằng cách sống mầu nhiệm thập giá.
Như ta thấy: Kinh Thánh vượt xa quan sát thuần túy thuộc hiện tượng học cho rằng Thiên Chúa là một mầu nhiệm đáng sợ và lôi cuốn!
Ngay cả trước khi Đức Kitô chết trên thập giá, sự ra đời của Ngài đã mở đầu một giai đoạn mới trong sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa hằng sống. Nhập thể và Mầu nhiệm Vượt qua đã cùng nhau thay đổi sâu sắc mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa hằng sống, bằng cách làm cho việc thờ ngẫu tượng vĩnh viễn lỗi thời và “không thể bào chữa”. Chính Thiên Chúa đã trình bày hình ảnh của Ngài, vì Đức Kitô là “Hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15). Một hình ảnh không được tạc bằng một chất liệu nào khác – đá cẩm thạch, đá hay bất cứ nguyên tố nào khác được tạo thành – nhưng là cách diễn tả chính bản chất của Thiên Chúa. Một hình ảnh “đồng bản thể”, như Công đồng Nicêa sẽ nói và được lặp lại trong Kinh Tin Kính. Thật vậy, Chúa Con “là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3).
Trước câu hỏi của Đức Giêsu: “Người ta bảo Thầy là ai?”, Phêrô trả lời: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,6). Từ nay, trên trái đất, Thiên Chúa hằng sống được biểu thị “chính yếu” bởi Chúa Con. Không còn cần đến những hình ảnh biểu thị, người đóng thế hay một vật thế chân nào đó. Từ nay và trong thời gian còn lại, chúng ta sẽ không còn biết Thiên Chúa nữa qua một hình ảnh do bàn tay con người tạo ra, nhưng qua hình ảnh mà Ngài đã ban cho chúng ta về chính Ngài; không còn qua một ý tưởng nữa, nhưng là trong một thực tại. “Thiên Chúa đã phán: ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm. Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng con, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Kitô” (2Cr 4,6). Vinh quang Thiên Chúa mà có thời không thể thấy mà vẫn sống (x. Xh 33,18-20), thì từ nay, tất cả mọi người đều có thể chiêm ngưỡng vinh quang ấy trên trái đất.
Chúng ta hãy cùng với Giáo Hội dâng lời cầu nguyện:
Lậy Chúa, khi Chúa thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả. Xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời, là hạnh phúc Chúa đã hứa ban, mà chúng con đang hết lòng theo đuổi. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.[35]
6. THIÊN CHÚA, NÚI ĐÁ VĨNH CỬU
Từ những phán xét của Thiên Chúa, chúng ta đã cố gắng đánh thức nơi mình “cảm thức” về Thiên Chúa hằng sống. Như chúng ta đã thấy ở trên, cùng một cảm thức này có thể được khơi dậy bằng loại suy và tương phản. Kinh Thánh cung cấp cho chúng ta một hình ảnh thuộc loại này, hình ảnh Thiên Chúa–núi đá: một thực tại trong số những thực tại vật chất và tĩnh tại nhất hướng tới thực tại thiêng liêng nhất và năng động nhất (cách tương phản); một thực tại trong số những thực tại vững chắc nhất và quan trọng nhất trở thành biểu tượng của Đấng không thay đổi và không thể lay chuyển (cách loại suy). Có ít tước hiệu Kinh Thánh dành cho Thiên Chúa có thể tạo ra nơi chúng ta một cảm giác cũng sống động, cho dù là tự phát và phi lý, bằng cảm giác về đá; hơn những cảm giác khác, nó giúp chúng ta nhận biết Thiên Chúa là gì và đặc biệt Ngài là gì đối với chúng ta. Vậy, chúng ta hãy tìm cách, như lời Kinh Thánh mời gọi, để cả chúng ta cũng được thưởng thức “mật ong chảy ra từ hốc đá” (Đnl 32,13).
Cần xác định rõ là Kinh Thánh không áp dụng cho Thiên Chúa phẩm tính “đá tảng” hay “núi đá” như một tước hiệu thuần túy, mà đúng hơn như một tên riêng, đến mức đôi khi người ta thấy nó được viết hoa: “Người là Núi Đá, sự nghiệp Người hoàn hảo” (Đnl 32,4); “Đức Chúa là Núi Đá bền vững ngàn năm” (Is 26,4). Một hình ảnh như vậy, bởi sự cứng cáp và vô cảm mà nó gợi lên, có thể khiến chúng ta sợ hãi hoặc đe dọa chúng ta. Ngoài ra, bản văn thánh còn được bổ túc ngay bằng một phẩm tính khác: Thiên Chúa là “đá tảng của chúng ta”, “đá tảng của tôi”. Ngài là núi đá cho chúng ta và không chống lại chúng ta. “Chúa là đá tảng của con, là núi đá cho con trú ẩn” (Tv 18,3); “Núi đá và thành lũy bảo vệ con, chính là Chúa” (Tv 31,4); “Tung hô Người là Núi Đá độ trì ta” (Tv 95,1). Những người dịch Kinh Thánh đầu tiên, nhóm Bẩy Mươi, đã do dự trước một hình ảnh vật chất như vậy về Thiên Chúa, hình ảnh này dường như hạ thấp Ngài; họ đã thay thế một cách có hệ thống thuật ngữ cụ thể “núi đá” bằng những từ trừu tượng như “sức mạnh”, “nơi ẩn náu”, “sự cứu độ”. Để đúng nghĩa hơn, tất cả các bản dịch hiện nay đều trả lại cho Chúa tước hiệu ban đầu là núi đá.
Khi từ thung lũng đi lên và sau khi vượt qua một con đèo, lần đầu tiên tôi nhìn thấy núi Cervin trước mắt, tôi nhận ra ngay điều Kinh Thánh muốn chúng ta hiểu khi đặt cho Chúa cái tên “núi đá” này. Trước hinh chóp bằng đá này, nổi bật đơn độc và gần như siêu nhiên trong bầu trời xanh, người ta cảm thấy mình rất nhỏ bé và như bị một hình thức khiêm tốn kỳ lạ bắt chộp. Mọi người im lặng theo dõi, không bình luận gì. Cervin vẫn bất động. Còn chúng tôi, khi trở lại thung lũng, chúng tôi chỉ mang theo ấn tượng cảm nhận được và một vài tấm ảnh lưu niệm. Không giống như vậy đối với Núi Đá kia. Nếu chúng ta muốn Ngài, Ngài theo chúng ta, chúng ta giữ Ngài trong tim. Về tảng đá có nước vọt ra trong sa mạc, Kinh Thánh chép rằng tảng đá này đã “đi theo” dân (x. 1Cr 10,4). Với Thiên Chúa thì cũng như vậy.
Để thực sự khám phá ra “Thiên Chúa–Núi Đá” là gì, cần phải có kinh nghiệm trước đó: kinh nghiệm là mọi sự sẽ qua đi. Ngày qua đi, phút này qua phút khác, và bất chợt chiều buông. Hết mùa này đến mùa khác. Cây cối đang nở hoa, kết trái, rồi rụng lá và mùa đông trở lại. Sẽ có lúc cây già cỗi gẫy đổ. Đó là số phận của vạn vật; đó cũng là số phận của con người.
Vì mong muốn không qua đi và không chết hoàn toàn, người ta tìm cách bám vào tuổi trẻ, hoặc vào tình yêu hay vào con cái, hoặc thậm chí vào danh vọng, xác tín rằng qua đó mà dựng lên “những tượng đài bền vững hơn đồ đồng”. Vô ích! Chính lúc sinh ra là lúc bắt đầu đếm ngược không ngừng cả ngày lẫn đêm. “Ấy con người khác chi hơi thở, vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu” (Tv 144,4).
Trước trải nghiệm phổ quát là mọi sự qua đi, con người phản ứng thế nào? Trước Đức Kitô, người ta thấy có những câu trả lời đối nghịch nhau nhất. Triết gia Parménide cho rằng mọi sự đều bất động và thay đổi chỉ là vẻ bên ngoài; tựu trung, không có gì thực sự qua đi. Sau ông, một triết gia khác là Héraclite đã dạy ngược lại: trên đời không có gì là bất biến, mọi sự đều trong quá trình trở thành; người ta gán cho nó từ nổi tiếng panta rei: “mọi sự đều qua đi”. Rồi đến một nhà tư tưởng thứ ba, Empédocle, người đã tìm một thỏa thuận giữa hai thái cực trên. Theo ông, đúng là mọi sự đều qua đi, nhưng một cái gì đó vẫn tồn tại dưới dòng chảy không ngừng của vạn vật. Cái đó, ông gọi là “Duy Nhất”,” Thiên Cầu “, hay “Thần lực sinh sản”, nhưng ông không thể nói thêm về nó và thậm chí bị mắc kẹt trong một vài mâu thuẫn. Tuy vậy, ông hòa nhập vào điều mà các Giáo Phụ sẽ gọi là “sự chuẩn bị Phúc Âm”: ông lờ mờ cảm nhận trước chân lý được Kinh Thánh công bố khi Kinh Thánh gán cho Thiên Chúa danh xưng “Núi Đá vĩnh cửu”. Trong thiên nhiên, núi đá gợi lên những gì bất biến qua những thay đổi địa chất và khí hậu của cảnh quan xung quanh:
“Chúng tiêu tan, Chúa còn hoài
Chúng như áo cũ thảy rồi mòn hao
Ngài thay chúng khác nào thay áo
Nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên
tháng năm Ngài vẫn triền miên” (Tv 102, 27tt).
Có lẽ bị ấn tượng bởi sự tương phản giữa cát của sa mạc và đá của núi Sinai, phải chăng các thi sĩ Israel đã khám phá ra ở đó một biểu tượng về sự khác biệt giữa con người và Thiên Chúa? Con người như “cát”; Thiên Chúa thì như “đá tảng vĩnh cửu”. Thánh Têrêxa Avila đã cô đọng nhận thức của cảm thức này về Thiên Chúa trong một vài công thức ngắn gọn: “Không để điều gì làm phiền bạn, không để điều gì làm bạn kinh hãi. Tất cả đều qua đi, chỉ còn lại một mình Thiên Chúa. Kiên nhẫn chiến thắng mọi sự. Người có Chúa không thiếu thốn gì. Chỉ mình Chúa là đủ.”
Còn về Thiên Chúa–Núi Đá, sự xuất hiện của Đức Kitô mang lại một sự mới mẻ căn bản. Người ta không còn có thể nói về Thiên Chúa bằng cách dừng lại trước Đức Kitô, hoặc bỏ qua không nói đến Đức Kitô: làm thế là cắt xén mạc khải. Khi nói về tảng đá vẫn “đi theo” dân Israel trong sa mạc, thánh Phaolô viết: “Tảng đá này chính là Đức Kitô” (x. 1Cr 10,4). Tảng đá không thể tiếp cận được đã trở nên rất gần gũi và hữu hình trong Ngôi Lời đã đến ở giữa chúng ta. “Hốc đá”, nơi ông Môsê trú ẩn để chiêm ngắm Thiên Chúa (Xh 33,21), theo các Giáo Phụ, tiên trưng cho nhân tính của Đức Kitô, cho phép chúng ta tiếp xúc với Thiên Chúa mà không bị vinh quang của Ngài tiêu diệt. Từ đó mà có lời mời gọi của thánh Bonaventura và các thánh khác gửi đến những tâm hồn khao khát Thiên Chúa: họ hãy như chim bồ câu ẩn trong hốc đá, “trong vách núi cheo leo” (Dc 2,14), nghĩa là trong cạnh sườn mở rộng của Đức Kitô[36].
Từ cõi chết sống lại, Đức Kitô đã trở thành tảng đá theo cách mới, “đi theo” chúng ta trong suốt dòng lịch sử. Xây trên lời Ngài chính là xây trên đá (x. Mt 7,24). Ngài là “đá tảng góc tường” mà Giáo Hội đặt nền móng trên đó (x. Ep 2,20), viên đá bị chối bỏ đã trở thành “đá tảng góc tường” (1Pr 2,6), nhưng cũng là “hòn đá làm cho vấp” những ai từ chối (Rm 9,32tt). Đá Tảng vĩnh cửu từ đây trở thành “đá tảng của chúng ta”, “đá tảng cứu rỗi chúng ta”.
Tước hiệu “đá tảng” này không phải là một hình ảnh trừu tượng; nó không chỉ cho biết Thiên Chúa là gì mà còn cho biết chúng ta phải làm gì. Tảng đá ở đó không chỉ để được chiêm ngắm từ xa, mà còn để được trèo lên, để người ta tìm được nơi ẩn náu ở đó. Tảng đá thu hút, mê hoặc. Nếu Chúa là một tảng đá, con người phải trở thành một người leo núi đá. Bất quá người ta có thể nghĩ đến một câu lạc bộ rất đặc biệt: “Những người bạn của Núi Đá”. Đức Giêsu nói: “Hãy học từ chủ nhà”; “Hãy nhìn tội nhân.” Thánh Giacôbê nói thêm: “Hãy xem người nông dân.” Chúng ta có thể bổ túc: “Hãy xem những người leo núi.” Họ thấy cơ thể nặng nề của họ không ược an toàn nếu chỉ bám vào những cây con mọc từ chỗ đá nứt ; họ không chọn những lối đi có nhiều người qua lại, lấy lý do là thuận tiện hơn. Khi màn đêm buông xuống hoặc một cơn gió lốc báo hiệu, họ không dại dột tìm cách leo xuống, nhưng còn bám chặt hơn vào đá chờ yên tĩnh trở lại. Họ ép sát vào đá, bám chặt tay chân vào đó; theo nghĩa đen, họ như được tán vào đó bằng đinh. Chớ gì cách hành xử của chúng ta với Đá Tảng của chúng ta là như thế. Cách chắc chắn nhất để gắn bó với Đá Tảng ấy là gắn chặt vào thập giá, “đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá” (Gl 2,19). Bằng cách ôm chặt lấy Ngài, là viên đá sống động, thì chính chúng ta cũng sẽ có thể trở thành “những viên đá sống động” (x. 1Pr 2,4). Những viên đá rất nhỏ.
Một Thánh vịnh kể lại cuộc phiêu lưu của một tín hữu sắp từ bỏ Thiên Chúa “khi nhìn thấy những kẻ ác lên ngôi”. Khi ngẫm lại, người đó hiểu rằng mình sai: những kẻ vô đạo đi trên đường trơn trượt và sụp đổ trong nháy mắt. Khi đó, nhận ra việc được đặt nền trên đá tảng có ý nghĩa gì, người đó thốt lên: “Đá tảng của trái tim tôi chính là Thiên Chúa… thật tốt cho tôi được ở gần Chúa, tôi đã nương náu bên cạnh Thiên Chúa của tôi” (Tv 73). Đây chẳng phải là một định nghĩa tuyệt vời về đức tin sao, nếu thật sự credo (“Tôi tin”) nguyên thủy có nghĩa là “để trái tim mình dựa vào cái gì đó”?
Hình ảnh một trái tim nằm yên trên đá tảng mới gây ấn tượng làm sao! Thực tại yếu ớt nhất tiếp xúc với thực tại cứng cát nhất. Các người leo núi hẳn sẽ gợi ra một câu trả lời tốt cho câu hỏi này. Họ dành nhiều ngày đêm đương đầu với tảng đá và họ tin tưởng nó sẽ bảo đảm cuộc sống của họ; cuối cùng họ khám phá ra tất cả các tĩnh mạch của nó. Dưới ngón tay của họ, tảng đá dường như linh hoạt, đáp lại, trở thành tảng đá sống động. Họ nói về nó bằng những giọng thơ. Đối với chúng tôi, Thiên Chúa là tảng đá sống động, có trái tim phập phồng, một tảng đá dịu dàng! Vì vậy, một Vịnh gia khác có thể ca lên: “Lạy Chúa là núi đá, con yêu mến Ngài!” (Tv 18,2). Cần lưu ý rằng đây là đoạn văn duy nhất trong Cựu Ước mà con người thưa với Thiên Chúa “Con yêu mến Ngài” (thường ra, chính là Thiên Chúa nói như thế với con người). Và con người thưa như thế khi nói với Thiên Chúa–Núi Đá!
Kinh Thánh nhấn mạnh Thiên Chúa–Núi Đá là muốn thụ tạo bén rễ sâu trong lòng tin phó thác và xua đuổi ra khỏi lòng mọi nỗi sợ hãi. Một Thánh vịnh nói: “Dầu cho địa cầu chuyển động, núi đồi có sập xuống biển sâu, ta cũng chẳng sợ gì”. Người ta đưa ra lý do: “Thiên Chúa nhà Giacóp là thành bảo vệ ta” (Tv 46,3). Đó là sự tin tưởng được diễn tả trong bài thánh thi: “Thiên Chúa của tôi là pháo đài không thể lay chuyển”, là bài ca đã góp phần rất nhiều vào việc hình thành tình cảm tôn giáo của thế giới Tin lành[37]. Trước mặt Thiên Chúa–Núi Đá này, chỉ còn một nỗi sợ hãi thôi. Nhưng nó không thực sự là sợ hãi, mà là kính sợ: kính sợ thánh đối với Thiên Chúa.
Mạc khải về Thiên Chúa–Núi Đá phải đưa chúng ta đến một quyết định hiện sinh: đi về phía núi đá này, leo lên nó, “giữ chặt đôi chân chúng ta ở đó”. Như chúng ta biết, từ “Vượt Qua” có nghĩa là “đi qua”. Tự nó, đi qua là một thực tại tiêu cực, hàm chứa ghi nhận về sự bất ổn, tạm thời. Có phải lễ Vượt Qua là bí tích của tạm thời, một sự xác nhận không biết thứ mấy rằng “mọi sự đang qua” chăng? Hoàn toàn ngược lại! Cử hành lễ Vượt Qua có nghĩa là vượt qua, nhưng là “vượt qua thế gian này về với Chúa Cha” (x. Ga 13,1), đi từ sự bất ổn của thế gian này đến với Nước Thiên Chúa vững chắc hơn mọi sự. Và chính để không vượt qua cùng với thế gian này, mà chúng ta đi đến tảng đá tồn tại đến muôn đời. Tất nhiên, mọi người đều vượt qua, cả tốt lẫn xấu. Nhưng vượt qua “khỏi” thế gian hoàn toàn khác với vượt qua “cùng với” thế gian. “Thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó, còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi” (1Ga 2,17).
Chúng ta hãy cùng với Giáo Hội dâng lời cầu nguyện:
Lậy Chúa, xin cho chúng con hằng trọn niềm tôn kính và ái mộ Thánh Danh, vì những ai được Chúa cho khăng khít với Chúa, Chúa sẽ chẳng bỏ rơi bao giờ[38].
7. TRỜI XANH TƯỜNG THUẬT VINH QUANG THIÊN CHÚA
Giờ đây chúng ta hãy mở ra cho Thiên Chúa “góc rộng” là chính bầu trời. Một Thánh vịnh bắt đầu bằng những lời này: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19,1). Thiên Chúa đã viết hai cuốn sách: Sách Thánh và sách sáng tạo. Cuốn thứ nhất gồm những chữ viết và lời nói, cuốn thứ hai gồm những sự vật. Không phải tất cả mọi người đều biết và có thể đọc Sách Thánh, nhưng mọi người, ngay cả những người mù chữ, đều có thể đọc sách sáng tạo; bất cứ nơi nào trên trái đất, ban đêm còn hơn ban ngày, mà “tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu, và thông điệp đã loan đi khắp chân trời góc biển” (Tv 19,5): một cuốn sách mở rộng trước mắt mọi người, giống như một trong những bộ Thánh vịnh to lớn bằng giấy da, với các ký tự lớn và ký hiệu grégorien (bình ca) màu trắng và đỏ, từng được đặt trên bục giảng ở trung tâm dàn hợp xướng, và nhờ đó mà tất cả các đan sĩ, mỗi người ở chỗ mình ngồi, có thể đọc và hát.
Thiên Chúa không tạo ra mọi sự để rồi rút lui và biến mất. Một cách nào đó, Ngài đã ẩn mình trong sự vật, như giấu mặt sau tấm voan. “Thật vậy, những gì người ta người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người” (Rm 1,20).
Có bao nhiêu người đã nghe “sứ điệp” im lặng này của bầu trời, nhờ đó họ có thể có được một trực giác đầu tiên về mầu nhiệm Thiên Chúa, hoặc, nếu họ đã là tín hữu, họ có thể được trực giác đó làm cho họ vững tin. Cả chúng ta nữa, chúng ta hãy dừng lại một chút để nghe những lời của họ: cho đến nay sau khi đã tìm kiếm Thiên Chúa hằng sống trong Kinh Thánh, giờ đây chúng ta hãy khám phá Ngài trong tạo thành.
Các tầng trời nói gì trong lời tường thuật không ngừng của chúng? Trước hết là Thiên Chúa hiện hữu. Tất cả bầu trời là một Bụi Cây bốc cháy, nơi Thiên Chúa tiếp tục công bố danh Ngài: “Ta là Đấng Tự Hữu”. Chúng ta không được quên lập luận “cổ điển” ủng hộ sự hiện hữu của Thiên Chúa, cũng như không để mình phải sợ hãi cách nào đó khi tiếp tục đề xuất nó, như thể nó có vẻ quá đơn giản, quá ngây thơ đối với con người thời nay. Hoặc như thể nó đã bị bác bỏ và vấn đề được giải quyết một lần vĩnh viễn bằng “lý trí phê bình” (raison critique) hiện đại. Hoàn toàn ngược lại, sự thật vẫn là: không bao giờ có một ai có thể khiến cho tiếng nói này dứt khoát phải im lặng. Chính lập luận này còn gây xúc động nhất cho bất cứ ai có tâm hồn không định kiến và có đôi mắt kinh ngạc như trẻ em.
Kant, triết gia của lý trí phê bình, đã viết rằng trong tất cả các tri thức thì quan trọng nhất là tri thức quả quyết Thiên Chúa hiện hữu; chính vì vậy, Thiên Chúa quan phòng không muốn xây dựng nó trên những nét tinh tế của luận chứng triết học, nhưng trao nó cho trí khôn tự nhiên thông thường, chừng nào trí khôn này không bị hư hoại. Ông sẵn lòng thừa nhận là “có tấm lòng đầy tràn sự ngưỡng mộ mới, một sự ngưỡng mộ ngày càng gia tăng do hai thực tại sau: bầu trời đầy sao trên đầu ông và luật đạo đức trong bản thân ông[39]“. Đến nỗi ông muốn người ta khắc những dòng chữ đó trên mộ của mình sau khi chết.
Ai dám chắc rằng hàng tỷ tỷ thiên thể không giây phút nào hỗn loạn, nhưng tiếp tục quay với một sự hài hòa hoàn hảo và bất biến như vậy? Rằng các hành tinh, trong vòng quay của chúng, có đủ nhanh để thoát khỏi hấp lực trí mạng của mặt trời, tuy vậy không hoàn toàn rời xa mặt trời để lạc vào một vũ trụ băng giá chăng? Nói tắt, làm thế nào để giải thích “sự hài hòa vũ trụ” mà không thừa nhận một trí thông minh sắp đặt ở bên ngoài vũ trụ? Nhìn thấy trên thế giới có hàng ngàn chiếc máy bay đi và đến mỗi ngày, vào những giờ chính xác, bay trên bầu trời theo mọi hướng mà không đụng nhau, mỗi chiếc bay theo lộ trình ở độ cao của nó, ai dám nghĩ rằng sự hài hòa đó là do may rủi, không cần có người đã lên chương trình chuyến bay và đặt ra những quy tắc giao thông? Tuy nhiên, không lưu này có là gì so với chuyển động của vũ trụ? Cho rằng tất cả những điều này là do ngẫu nhiên hoặc do các quy luật vũ trụ chưa được biết đến, là nhắm mắt làm ngơ trước vấn đề, hay nói đơn giản hơn, tương đương với việc đổi danh xưng Thiên Chúa bằng danh xưng “Ngẫu nhiên” hoặc “Luật vũ trụ”.
Péguy, người bạn thơ của chúng ta, đã đúng khi tuyên bố rằng tin tương đối dễ, và đúng hơn, hy vọng mới khó:
“Thiên Chúa nói:
Tin không làm ta ngạc nhiên
Ta lộ ra rất rõ trong công cuộc sáng tạo của ta,
trong mặt trời, mặt trăng và các vì sao.
trong các tinh tú trên bầu trời và nơi các loài cá trong đại dương…
Để không thực sự nhìn thấy ta, những người nghèo này sẽ phải bị mù.
Để tin, ngươi chỉ cần buông bỏ, ngươi chỉ cần nhìn.
Để không tin, phải tự bạo hành, dằn vặt, chống lại mình, làm cho mình căng thẳng, đi ngược lại mình[40]”.
Than ôi, điều “đi ngược lại” này, “chống lại mình” này, chính là điều ghi dấu con người ngày nay: tiến bộ khoa học đã làm cho lý luận của họ trở nên phức tạp và cầu kỳ.
Tất cả điều này vẫn chỉ là khởi đầu cho những gì các tầng trời công bố. Đây là sứ điệp dành cho người mới bắt đầu. Các tầng trời không chỉ công bố sự hiện hữu của Thiên Chúa (người ta thường coi sự hiện hữu này là hiển nhiên); chúng cũng công bố vinh quang, huy hoàng, rực rỡ của Ngài. Sứ mệnh của chúng là bày tỏ một khía cạnh chính xác của Thiên Chúa: sự vô biên của Ngài. Thân thể con người, hoa lá, màu sắc, một chiếc lá đơn lẻ, tất cả những cái đó tự nó là đủ để giúp cho người ta khám phá ra vẻ đẹp vô tận, sự phong phú và khả năng sáng tạo của Thiên Chúa. Ai sẽ tuyên bố sự vô biên và cao cả của Ngài? Trên bình diện tôn giáo, vai trò này thuộc về vũ trụ trong phạm vi vô hạn của nó.
Tôi còn giữ nguyên trong tâm trí một ký ức của tuổi thơ. Một ngày hè nóng nực, tôi đang nằm nghỉ trên bãi cỏ, lưng duỗi thẳng. Phía trên tôi là vòm trời xanh mênh mông, với những đám mây trắng bất động. Tôi bắt đầu tự hỏi: Có gì bên ngoài cái vòm trời trong xanh này? và bên ngoài nó nữa? Trong đầu tôi đã có ấn tượng về không gian vô hạn và về một sự im lặng có chiều sâu vô tận. Đó là trải nghiệm đầu tiên về sự vô tận và vĩnh cửu trong cuộc đời tôi.
Quan sát bầu trời giúp tâm trí chúng ta đạt đến cực điểm khả năng của nó, chạm tới ngưỡng của sự suy sụp, thừa nhận sự bất lực. Chóng mặt làm sao! Riêng giải Ngân hà được vài trăm tỷ ngôi sao tạo thành. Và kính thiên văn mạnh nhất của chúng ta có thể đếm được gần mười tỷ thiên hà tương tự như thiên hà của chúng ta! Ngôi sao xa nhất mà chúng ta biết được cách Trái đất 14 tỷ năm ánh sáng. Để minh họa phần nào một con số như vậy, chúng ta hãy nghĩ rằng mặt trời, cách trái đất gần một trăm năm mươi triệu cây số, mất khoảng hơn 8 phút để gửi đến cho chúng ta ánh sáng của nó.
Trước những tỷ lệ như vậy của vũ trụ, ngay cả “trí tưởng tượng mạnh mẽ nhất vẫn không thể tưởng tượng nổi.[41]” Quả thực, làm thế nào nhận ra điều mà “hàng tỷ năm ánh sáng” nói lên? Ở đây chúng ta buộc phải bất lực và khiêm nhường: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8,4tt). Khi ấy, nảy sinh cảm giác sững sờ đặc trưng hầu như luôn chuẩn bị và đi kèm với đức tin.
Những con số “thiên văn” này về vũ trụ đôi khi khiến chúng ta bối rối và gần như gây gương mù. Chúng ta bị cám dỗ muốn hỏi: “Tại sao lãng phí đến vậy?” (x. Mt 26,6). Những suy nghĩ này khiến ngày càng có nhiều người xác tín rằng cũng phải có các sinh vật thông minh sống ở các phần khác của vũ trụ. Theo một tác giả: “Các nhận xét sinh hóa và sinh học, kết hợp với các nhận xét thống kê về số lượng thiên hà, cho thấy rất có thể có sự hiện hữu của các dạng đời sống thực vật, động vật và thậm chí sinh vật thông minh trong vũ trụ”.
Giả thiết như thế có cần không? Và trong trường hợp này, các phép tính xác xuất và các định luật thống kê có giá trị gì? Chúng ta lại không thấy có sự bất tương xứng và phung phí tương tự của Đấng Tạo Hóa trên trái đất của chúng ta sao? Có bao nhiêu loài “vô dụng” và dư thừa trong số các loài hoa, cây cỏ, tôm cá, côn trùng! Và tinh trùng của con người thì sao? Thiên nhiên ban tặng mỗi lần hàng chục triệu tinh trùng, trong khi thực tế chỉ một con được sử dụng và đủ để làm cho một con người mới được sinh ra. Chính vì sự sống và ý thức thuộc một trật tự khác và cao hơn như vậy, nên để bảo đảm thành công của chúng, thiên nhiên không tiết kiệm hao phí.
Chúng ta đi tới điểm quan trọng nhất đối với chúng ta. Nếu các tầng trời tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thì sứ mệnh của con người sẽ là gì, nếu không phải là làm vang vọng từ trái đất, bản hợp ca của vũ trụ? Kinh Thánh nói: “Trời đất đầy vinh quang Chúa.” Chúng đang thai nghén, nếu có thể nói được như vậy, không thể tự mình đạt tới “sự giải thoát” của mình. Giống như một phụ nữ mang thai, họ cũng kêu gọi bàn tay khéo léo của một bà đỡ để sinh ra đứa con đã “đầy tháng”. Chúng ta phải là những bà đỡ cho vinh quang Thiên Chúa. Vũ trụ đã phải chờ đợi lâu biết bao, đã phải đề ra và duy trì một kế hoạch lâu như thế nào, để đi tới thời điểm ngày hôm nay! Hàng triệu và tỷ năm, trong đó vật chất, xuyên qua sự mờ đục của nó, tiến triển nhọc nhằn về phía ánh sáng của ý thức, giống như nhựa cây, từ lòng đất, đi lên đến tận cuối các cành cây để nở hoa và kết trái. Sau cùng vũ trụ đã đạt tới ý thức này khi “hiện tượng con người” xuất hiện.
Kể từ bây giờ, vũ trụ đã đạt được mục tiêu của nó và đang chờ con người làm tròn bổn phận của mình. Ước gì con người, có thể nói, đảm nhận hướng dẫn ca đoàn, nhân danh tất cả xướng lên câu “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời!” Chân phước Henri Suso viết: “Khi tôi xướng lên câu Sursum corda (Hãy nâng tâm hồn lên) trong thánh lễ, thường xảy ra là trái tim và linh hồn tôi hòa lẫn vào nhau… Khi đó tôi xem xét bản thân mình trong cái nhìn bên trong của tôi theo những gì tôi là… Tôi đặt xung quanh tôi tất cả các thụ tạo mà Chúa đã dựng nên, trên trời, dưới đất và trong bốn yếu tố, cho dù đó là chim trời, thú rừng, cá nước, tán lá và cây cỏ của đất, vô số hạt cát của biển, tất cả những hạt bụi nhỏ lấp lánh dưới tia nắng mặt trời và tất cả những giọt nước từ sương, tuyết hay mưa, đã từng rơi xuống hoặc sẽ không bao giờ rơi xuống… Tôi tưởng tượng mình ở giữa những thụ tạo này như một ca trưởng có dàn hợp xướng khổng lồ bao quanh. Tôi mong ước mỗi người có một đàn dây mềm mại và xuyên thấu để làm vang lên lời ca ngợi cao quý đối với Thiên Chúa đến muôn thuở muôn đời.”
Việc chiêm ngưỡng vũ trụ đưa con người tôn giáo đến chỗ không chỉ ca ngợi mà còn vâng phục: người đó khám phá ra trong các vì sao một tấm gương, kỳ diệu ngay cả khi anh ta vô thức, về sự vâng phục mà vui vẻ. “Thiên Chúa sai ánh sáng và ánh sáng liền đi; gọi ánh sáng lại, ánh sáng run rẩy vâng lời. Các tinh tú, mỗi ngôi ở vị trí mình, tưng bừng chiếu sáng; Ngài gọi chúng và chúng thưa: “Có mặt!”, và hân hoan chiếu sáng vì Đấng tạo nên mình” (Br 3,33-35).
Chúng ta kết thúc bằng kinh nguyện mà nhà thiên văn học nổi tiếng Kepler đã đặt ở phần kết luận cuốn sách L’harmonie cosmique (Sự hài hòa vũ trụ) của ông:
“Chúa vĩ đại và quyền năng của Ngài lớn lao, sự khôn ngoan của Ngài không có giới hạn. Hỡi các tầng trời, mặt trời, mặt trăng và các hành tinh, hãy ca ngợi Ngài, cho dù các ngươi dùng ngôn ngữ nào để ca ngợi Đấng tạo nên mình. Hỡi linh hồn tôi, ngươi cũng hãy ca ngợi Ngài. Bởi vì tất cả mọi sự đều từ Ngài, bởi Ngài và trong Ngài, cả những điều chúng ta hoàn toàn không biết, cũng như những điều chúng ta biết và chỉ là một phần rất nhỏ bé. Xin dâng Ngài lời ca ngợi, danh dự và vinh quang đến muôn thuở muôn đời. Amen[42]!”
Thánh Phaolô viết rằng trong thế giới này, chúng ta thấy Thiên Chúa “như trong một tấm gương” (1Cr 13,12). Theo những cách khác nhau, tấm gương này là hai cuốn sách : sách Kinh Thánh và sách thế giới được tạo dựng; nhưng, trên tất cả, tâm hồn chúng ta là một tấm gương. Dưới chân dãy núi Dolomites, đôi khi chúng ta khám phá ra những hồ nước nhỏ, nơi những ngọn núi, tất cả đều có màu trắng, được phản chiếu với độ trong sáng đến mức nhìn một bức hình chụp người ta không dễ dàng phân biệt được ngọn núi thật với hình ảnh phản chiếu của nó trong nước. Tương tự như một trong những hồ nước nhỏ này, linh hồn chúng ta phản ánh thực tại đầy đủ của Thiên Chúa, toàn thể Ba Ngôi. Tôi sử dụng từ “linh hồn”, mặc dù ngày nay – cứ như tôi biết – chúng ta hầu như không nói đến nó nữa; bất quá người ta thích nói đến “psyché“, vì sợ bị coi là quá duy linh.
Người ta không thể biết Thiên Chúa bên ngoài mình, qua Kinh Thánh và thụ tạo, nếu người ta không biết Ngài bên trong mình, ngay cả một cách bất toàn, vì nơi đích thực mà con người gặp gỡ Thiên Chúa, chính là bên trong con người của mình. Đơn giản là vì Thiên Chúa đã tạo dựng người nam người nữ, và chỉ có họ là “theo hình ảnh và giống Người” (St 1,26). Thế mà người giống chỉ được biết đến bởi người giống mình, và trong vũ trụ vật chất, chỉ có linh hồn con người mang nét giống với Thiên Chúa. Thêm vào động lực căn bản này, xuất phát từ thụ tạo, còn có một động lực khác không kém mạnh mẽ, phát xuất từ sự cứu chuộc: phép rửa đã làm cho chúng ta trở thành “đền thờ của Thiên Chúa” (1Cr 3,16).
Sự hiện hữu đơn thuần của linh hồn là bằng chứng rõ nhất về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nếu một người không tin hỏi tôi, như hỏi Vịnh gia trên đất lưu đày: “Này Thiên Chúa ngươi đâu ?” (Tv 42,4), thì đến lượt tôi, tôi hỏi lại anh ta: “Linh hồn bạn ở đâu? Hãy chỉ cho tôi linh hồn của bạn, nếu bạn làm được như thế, thì tôi sẽ cho bạn thấy Thiên Chúa của tôi. Bạn nói: “Tôi sẽ cho anh thấy linh hồn của tôi dựa vào các việc làm của nó, vì ngay cả khi tôi không nhìn thấy nó, không chạm vào nó, tôi vẫn nhận rõ nó hoạt động. Theo lệnh của nó, các chi thể của thân thể tôi bắt đầu di chuyển; tôi im lặng hoặc nói, theo những gì linh hồn tôi ra lệnh.” Tôi trả lời bạn: “Thiên Chúa của tôi, tôi cũng có thể nhìn thấy Ngài trong những gì Ngài làm và những gì Ngài liên tục thực hiện trên thế giới này, tất cả những việc không có câu giải đáp tương xứng trên thế giới, nhưng chỉ có nơi Thiên Chúa mà thôi.”
Theo nghĩa này, khi trình bày chương trình của mình đi tìm Thiên Chúa, thánh Augustinô đã cảnh báo chúng ta: “Nhờ linh hồn tôi, tôi sẽ lên tới Ngài.” Trong số các quan năng khác nhau của linh hồn, ngài coi việc khám phá Thiên Chúa đặc biệt trong ký ức: “Chúa đang ở đâu trong ký ức của con… Chúa đã dọn phòng nghỉ ngơi nào ở đó cho Chúa? Chúa đã xây dựng cung thánh nào cho Chúa?… Chắc chắn Chúa đang sống trong đó vì con nhớ tới Chúa từ khi con biết Chúa; và chính nơi đó, con tìm thấy Chúa khi con gợi lại kỷ niệm về Chúa[43]“. Tiếp theo, những người đại diện cho phong trào thần bí vùng sông Rhin còn cố gắng đi xa hơn tới tận những chỗ sâu kín của linh hồn để tìm kiếm điểm gặp gỡ Thiên Chúa. Họ khám phá ra Ngài trong cái mà họ gọi là “tận đáy linh hồn”, nơi bắt nguồn của trí nhớ, trí thông minh và ý muốn, nơi đó, các quan năng này hội tụ trong sự hiệp nhất.
Khi thụ tạo cố đạt tới Thiên Chúa “ở bên trong mình” trong mức độ nào đó, nó ý thức được sự siêu việt thần linh và hiểu rằng Thiên Chúa không được chứa đựng trong linh hồn, nhưng chứa đựng linh hồn. Những hình ảnh “đáy” hoặc “vực” còn xen kẽ với những hình ảnh “đỉnh”, “điểm” của linh hồn, và phải vươn ra ngoài linh hồn để đạt tới Thiên Chúa hằng sống: “Nếu linh hồn đã không vươn lên trên chính nó, nó sẽ không đạt tới chỗ thị kiến Thiên Chúa[44].”
Trong cách tiếp cận của chúng ta, những chi tiết như vậy chắc hẳn không cần thiết. Điều chúng ta đặc biệt muốn biết là làm thế nào để đạt tới chỗ khám phá êm dịu về Thiên Chúa nơi chúng ta. Bước đầu tiên là trở vào bên trong chúng ta, trở về với tâm hồn (“tâm hồn” và “con người bên trong”: Kinh Thánh sử dụng những thuật ngữ này để diễn đạt những gì chúng ta đã nói về tận đáy linh hồn). Thánh Augustinô một lần nữa khuyên chúng ta: “Trước hết hãy trở về với tâm hồn của bạn. Bạn lang thang bên ngoài, lưu đày xa chính mình. Bạn không biết chính bạn, mà bạn lại tìm cách biết Đấng đã tạo ra bạn!… Hãy trở về với tâm hồn bạn và hãy xem nơi tâm hồn điều mà có lẽ bạn phải nghĩ về Thiên Chúa, vì đó là nơi tìm thấy hình ảnh của Thiên Chúa.” “Chân Lý ngự nơi con người bên trong[45].”
Tất cả những điều ấy đòi hỏi những lựa chọn rõ ràng. Trước hết là thói quen hồi tâm. Chúng ta đang sống trong một văn minh hoàn toàn hướng ngoại. Con người gửi những máy dò không gian đến tận những đường biên cuối cùng của thái dương hệ, nhưng lại không biết làm thế nào để “thăm dò” tâm hồn riêng của mình. Họ di chuyển dễ dàng trong đại vũ trụ hơn là trong tiểu vũ trụ là chính họ. Họ có khuynh hướng thoát ra ngoài hơn là hồi tâm. Trốn thoát, ra khỏi mình, dường như là một khẩu hiệu. Một số người mơ được sống đơn độc, nhưng chỉ mơ thế thôi. Họ thích nó, miễn nó là một giấc mơ và không bao giờ được cụ thể hóa trong thực tế khắc khổ của nó. Nhiều người sợ thinh lặng. Nhân loại phát bệnh vì tiếng ồn. Tuy nhiên, chúng ta thực sự cần thời gian thinh lặng và đơn độc để xuống tận nơi sâu thẳm của tâm hồn, nơi Chân Lý ngự trị. Một đan sĩ viết: “Thiên Chúa đã tạo nên linh hồn thinh lặng của chúng ta. Lúc chịu phép rửa tội, trong một sự thinh lặng không bị xâm phạm. Ngài lấp đầy linh hồn đó bằng chính Ngài, không gì khác ngoài Ngài. Chỉ sau này, thế giới dần dần ùa vào trong nó. Tiếng ồn xâm chiếm nó, che lấp đi giọng nói êm dịu của Thiên Chúa. Thế rồi tiếng ồn được khuếch đại. Hãy trở về với sự thinh lặng lúc chịu phép rửa, hỡi người anh em của tôi. Tiếng ồn có ba máy phát: những ký ức, sự tò mò, những âu lo. Hãy làm tê liệt hành động của chúng[46].”
Một tấm gương nước, với điều kiện hoàn toàn bình lặng, phản chiếu hình ảnh của ai nghiêng người xuống nhìn nó. Nếu nước bị khuấy động và mặt nước gợn sóng, nó không còn phản chiếu được gì, người ta không còn nhìn thấy đáy, và mọi sự thành mờ đục. Đó là điều mà những lo lắng không cần thiết và những háo hức không chính đáng xuất hiện trong linh hồn chúng ta: linh hồn không có khả năng phản chiếu một chút hình ảnh nào về Thiên Chúa. Nó bị chia cắt và phân tán giống như một tấm gương vỡ thành hàng nghìn mảnh. Vả lại, yên lặng là không đủ. Nó phải được tư tưởng của Thiên Chúa chứ không phải của chúng ta cư ngụ. Khi tôi nghĩ về bản thân mình, hình ảnh méo mó của tôi trong chiếc gương của linh hồn thay thế cho hình ảnh của Chúa và xóa đi hình ảnh này.
Chúng ta đừng để bị lừa bởi những người cho rằng có thể gặp Thiên Chúa bên ngoài mình, trong việc chiêm ngưỡng thế giới, trong các anh em, trong cuộc chiến đấu cho công lý. Chắc chắn tất cả những việc ấy là đúng; nhưng làm sao có thể khám phá ra Thiên Chúa trong những thực tại này, nếu không qua tâm hồn của bạn?
Cùng với thánh Augustinô, chúng ta hãy cầu xin ơn học cách đi vào trong nội tâm ta:
“Lạy Chúa, bỏ Chúa mà đi tất phải gục ngã, còn quay đầu về với Chúa lại được sống, và ở nơi Ngài là tìm được nơi nương tựa vững chắc. Lạy Chúa, Đấng không ai mất nếu không bị lừa dối, Đấng không ai tìm nếu trước hết không được mời gọi, Đấng không ai tìm thấy nếu trước hết không được thanh tẩy, Xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con[47]!“
9. LẠY CHÚA, CHÚA LÀ AI VÀ CON LÀ AI?
Những lời cuối cùng của lời cầu nguyện mà chúng ta vừa nghe (“Xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con”) nói lên một sự thật quan trọng: biết Chúa cũng là cách để biết mình. Chỉ khi biết Chúa, chúng ta mới biết mình.
Thời cổ đại, nhà hiền triết tự đặt cho mình một mệnh lệnh: “Ngươi hãy tự biết mình” và ông đã vận dụng mọi phương tiện ông có để thực hiện điều đó. Thời hiện đại đã thêm vào những kỹ thuật hoặc phương tiện nội quan truyền thống một phương tiện khác riêng của mình: tâm lý học chiều sâu. Trong những hành trình này và những hành trình khác tương tự, người ta luôn và chỉ giữ lại những yếu tố, khía cạnh và tâm trạng riêng. Thiếu một nhận thức tổng hợp và toàn thể về bản thân như một con người, như một toàn bộ. Vì vậy, người ta không đạt được kiến thức thực sự về bản thân, vì “chỉ những gì hoàn chỉnh mới đúng”.
Để có được kiến thức như vậy, cơ sở duy nhất và thước đo duy nhất, chỉ có thể tìm thấy nơi Thiên Chúa. Kierkegaard, một triết gia mà chúng ta sẽ còn có cơ hội gặp gỡ trong chuyến đi của mình, đã viết: “Người ta nói rất nhiều về nguy khốn, về những lầm than của con người; tôi cố gắng hiểu chúng và tôi đã nhìn sát những khía cạnh khác nhau của chúng; người ta nói nhiều về những cuộc sống lãng phí, nhưng chỉ lãng phí cuộc sống của người nào đã trải qua những ngày sống mà để cho bản thân bị những niềm vui hay nỗi buồn của cuộc sống phỉnh phờ, đến mức người đó chưa bao giờ có một ý thức vĩnh viễn và dứt khoát về bản thân như một thần trí, như một “cái tôi”, hoặc, tương tự như vậy là không bao giờ nhận thấy cũng như có cảm tưởng sâu sắc rằng có một Thiên Chúa, và rằng “chính mình”, con người của mình, cái tôi của mình được tạo ra cho Thiên Chúa… Và dường như tôi có thể khóc thương vĩnh viễn trước nỗi thống khổ này, nơi người ta thấy rất nhiều người trải qua cuộc đời của họ[48].”
Khi con người chấp nhận Thiên Chúa hằng sống trong cuộc đời của họ, khi đó họ mới trở thành con người trọn vẹn và ý thức về chính mình. Cũng triết gia trên tiếp tục viết: “Người chăn bò (nếu sự việc có thể xẩy ra) là một cái tôi trước những con bò cái, một cái tôi rất thấp kém; một ông chủ cũng là một cái tôi trước nô lệ; nhưng trong cả hai trường hợp, không có cái tôi đích danh, vì không có thước đo. Đứa trẻ mà cho đến bây giờ không có thước đo nào khác ngoài cha mẹ nó, trở thành một cái tôi ở tuổi trai tráng, khi nó có Nhà Nước là thước đo… Nhưng cái tôi được nhấn mạnh đến vô hạn như thế nào, khi nó có Thiên Chúa là thước đo của nó! Cái tôi vươn lên đầy quyền lực với thước đo của cái tôi, và quyền lực vô hạn khi Thiên Chúa là thước đo của nó… Chính khi cái tôi ý thức mình đang ở trước mặt Thiên Chúa, và chỉ khi đó, nó mới là cái tôi vô hạn.”
Có một thời, vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, người ta không còn truyền bá ý tưởng về một Thiên Chúa có ngôi vị và một mạc khải chủ động. Các triết gia và thi sĩ thích nhìn thấy trong Nhà Nước, trong Thiên Nhiên, trên Thế Giới hoặc trong Tinh Thần (được hiểu là sản phẩm toàn cầu của sự tự do của con người và lãnh vực của nó), nền tảng cuối cùng, nơi con người định vị mình và ý thức về mình. Đã không có một thước đo quy chiếu xác thực! Khi đó, con người giống như những đại thánh đường thời Trung cổ, rất uy nghi trong một không gian quá nhỏ hẹp. Qua nhiều thế kỷ, người ta đã có những công trình xây dựng sát bên, thành ra không có sự giải phóng mặt bằng cần thiết để có thể chiêm ngưỡng toàn bộ. Người ta cảm thấy khó chịu về mặt thể lý: các chi tiết chắc chắn có thể nhìn thấy được nhưng lại thiếu viễn cảnh chung, mà chỉ viễn cảnh này mới cho phép chiêm ngưỡng công trình trong tổng thể và môi trường của nó.
Không khó để tìm ra lý do cho việc thu hẹp chân trời liên hệ đến con người. Không thừa nhận điều đó với bản thân, con người dường như tìm cách tránh né bất cứ cuộc đối đầu nào, nếu không chắc chắn trước là sẽ chiến thắng. Họ biết mình sẽ chiến thắng trong cuộc đương đầu với thiên nhiên và với thế giới, bởi vì “khi bị vũ trụ đè bẹp, con người còn cao quý hơn thứ giết chết họ, vì họ biết mình chết và vũ trụ đang có lợi thế trước họ; nhưng ‘vũ trụ lại không biết gì về điều đó[49]. Nhưng mặt khác, con người cũng biết rất rõ là mình sẽ không có được chiến thắng (theo nghĩa mà họ gán cho từ này) trong cuộc đối đầu với Thiên Chúa hằng sống. Vì vậy mà họ từ chối đối đầu. Qua đó, họ khước từ “tính xác thực” thường được tuyên bố là lý tưởng tối cao của mình. Họ khước từ việc biết mình là ai. Họ vẫn là một “người chăn bò đáng thương”.
Con người tôn giáo, đặc biệt là thánh nhân, không tìm gì khác hơn là một cuộc đối đầu như vậy. Họ coi nó quan trọng hơn mọi sự khác. Họ mong muốn nó, ngay cả khi biết rằng mình sẽ kết thúc như bị thiêu đốt, bởi vì họ không chỉ tìm thấy ở đó “hữu thể” của mình được mạc khải, mà cả “thân phận tội lỗi” của mình nữa. Thánh Phanxicô Assisi đã dành nhiều đêm để lặp đi lặp lại: “Lạy Chúa rất dịu dàng của con, Chúa là Đấng nào? Còn con đây, đầy tớ vô dụng của Chúa, con là ai?” Có khi ngài ngước nhìn lên trời, với đôi mắt được bầu trời làm sáng lên; có khi ngài nhìn xuống đất, tất cả đều lộn xộn. Ngài tâm sự rằng “nói lên những lời này đã mang lại cho ngài hai ánh sáng, một là ánh sáng của mạc khải và của sự hiểu biết về Đấng Tạo Hóa, còn ánh sáng kia là của sự hiểu biết về chính ngài[50].” Kiến thức kép này đã luôn tạo nên cho các thánh và các hiền nhân tột đỉnh sự khôn ngoan đích thực.
Một nhân vật hiện đại đã khám phá ra Thiên Chúa trong linh hồn mình và biến hai thực tại này, Thiên Chúa và linh hồn, trở thành hai cực điểm định hướng cho sự tìm tòi của mình, đó là Hồng y Newman. Ngài mô tả sự “hoán cải” của mình ở tuổi mười lăm như sau: “Tôi cảm thấy ngờ vực là tôi đã có liên quan đến thực tại của các hiện tượng vật chất: và tôi tập trung mọi suy nghĩ của mình vào hai hữu thể, và chỉ hai hữu thể mà thôi, mà sự hiển nhiên của chúng là tuyệt đối và rõ ràng: chính tôi và Đấng Tạo Hóa của tôi.” Ngài nói thêm rằng nếu ai đó hỏi ngài tại sao lại tin vào Thiên Chúa, ngài sẽ trả lời: “Bởi vì tôi tin vào bản thân mình. Quả thực, tôi cảm thấy không thể tin vào sự hiện hữu của tôi mà lại không tin vào Đấng sống như một hữu thể có ngôi vị, Đấng nhìn thấy mọi sự và phán xét mọi sự trong lương tâm tôi. Tôi tin mình đúng. Làm sao tôi biết điều đó? Tôi biết là tôi biết điều đó[51]!”
Rõ ràng, đây không phải là một minh chứng có giá trị phổ quát về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Đây là một chứng từ. Nhưng đối với chủ đề mà chúng ta đang bàn trong cuốn sách này, một chứng từ, như từ đây chúng ta biết, có giá trị như một minh chứng, nếu không muốn nói là còn hơn thế nữa. Kant viết: “Phải tuyệt đối tin chắc về sự hiện hữu của Thiên Chúa, nhưng sau đó không cần phải chứng minh sự hiện hữu đó[52].”
Trên hành trình từ Ý trở về quê hương, Newman đã sáng tác một bài cầu nguyện nổi tiếng bằng thơ. Chúng ta sắp biến nó thành của chúng ta, ít nhất một phần, cầu xin cho ánh sáng chiếu trên chúng ta, thứ ánh sáng đã chiếu trên ngài lúc mười lăm tuổi, và khiến ngài vui mừng kêu lên: “Chính tôi và Đấng Tạo Hóa của tôi! “
Hỡi ánh sáng dịu dàng, xin hướng dẫn con trong bóng tối bao quanh con,
Ôi! Xin hướng dẫn con!
Đêm dày đặc và con ở xa nhà.
Xin hướng dẫn con về phía trước!
Xin canh giữ đường con đi: con không xin được thấy chân trời ở xa: chỉ một bước là đủ cho con!
Cho tới lúc này chúng ta đã cố gắng khám phá ra những con đường nhận biết Thiên Chúa: tìm Ngài ở đâu? Nhưng hạn từ “biết” có nghĩa gì khi chúng ta nói về Thiên Chúa?
Trong sách Xuất hành, chúng ta đọc thấy: “Môsê đã đến gần đám mây đen nơi Thiên Chúa ngự” (Xh 20,21). Và một lần nữa: “Môsê vào trong đám mây và lên núi” (Xh 24,18). Ở chỗ khác trong Kinh Thánh, nhân nói về Môsê, tác giả cho biết Thiên Chúa đã “dẫn ông vào đám mây dày đặc và, diện đối diện, ban cho ông các điều răn” (Hc 45,5). Những quả quyết này đã luôn lôi cuốn sâu xa những độc giả chăm chú nhất của Kinh Thánh. Họ đã nhận ra trong đó nguyên tắc lớn này được biểu lộ: Thiên Chúa mạc khải mình… bằng cách che mình đi. Bức màn này được Cựu Ước biểu thị bằng đám mây, thì trong Tân Ước trở thành chính nhân tính của Đức Kitô. “Người đã mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Người” (Dt 10,20). Thiên Chúa là ánh sáng, lại mạc khải mình qua bóng tối; là Chúa của mọi sự uy nghiêm, lại tỏ mình ra trong sự khiêm nhường. Thực sự, Ngài làm cho người ta biết Ngài “trong cái ngược lại”.
Chúng ta lấy ví dụ về cách đọc thần bí biểu tượng mây, một cách đọc đã ảnh hưởng mạnh đến linh đạo Tây phương. Điônysiô Arêôpagit viết: “Chỉ khi băng qua thế giới nơi người ta được thấy và trông thấy, Môsê mới vào trong Bóng tối thật sự huyền bí của sự bất tri; chính ở đó mà ông làm im bặt mọi kiếnthức tích cực, hoàn toàn thoát khỏi mọi hiểu biết và thị kiến; là vì ông hoàn toàn thuộc về Đấng vượt trên mọi sự; khi đã từ bỏ mọi kiến thức thủ đắc, ông không còn thuộc về mình nữa, cũng không thuộc về bất cứ ai khác, nhưng nhờ kết hợp bằng những gì tốt nhất của bản thân với Đấng thoát khỏi mọi hiểu biết, và nhờ chính sự bất tri này mà ông biết vượt quá mọi hiểu biết[53].” Chính ý tưởng này đã được tác giả ẩn danh cuốn La nuée de l’inconnaissance (Mây mù của bất tri) muốn thể hiện, qua tựa đề tác phẩm của mình.
Có thể rút ra hệ quả gì từ những suy tư này? Có phải phần cao quý nhất của con người, tức lý trí, bị loại khỏi công cuộc tìm kiếm Thiên Chúa? Có phải do đó người ta buộc phải lựa chọn giữa vâng phục của đức tin hoặc đi theo trí khôn? Đây thường là suy diễn của một số người. Nhưng một kết luận như vậy là rất hời hợt. Khi bước vào đám mây, nghĩa là bằng đức tin, con người không từ bỏ lý trí của mình. Con người vượt lên trên lý trí. Đây là chuyện hoàn toàn khác. Nói khác đi, đức tin cho phép lý trí thực hiện hành vi cao nhất, vì “bước cuối cùng của lý trí là nhận ra rằng có vô số điều vượt qua lý trí[54]”. Lời cuối cùng mà lý trí, trước khi im lặng, sẽ thốt ra khi có ai đó hỏi về Thiên Chúa, nếu không phải là chính những lời mà toàn thể thụ tạo đã kêu lên cho chính nó, khi nó còn đang tìm kiếm Thiên Chúa: “Hãy tìm ở trên tôi! Hãy tìm nơi cao hơn!”
Thánh Tôma Aquinô, được công nhận chính đáng là một trong những người bảo vệ mạnh mẽ nhất những đòi hỏi của lý trí, đã viết: “Người ta bảo: nói theo sự hiểu biết của chúng ta, Thiên Chúa được biết như là Đấng Không Được Biết, bởi vì tâm trí chúng ta đã đạt tới giới hạn cuối cùng của sự hiểu biết về Thiên Chúa, khi nó nhận ra rằng, cuối cùng, yếu tính của Ngài ở trên tất cả những gì nó có thể biết trên trái đất[55].”
Chính lúc lý trí nhận ra những giới hạn của mình, nó lật đổ chúng và vượt qua chúng. Nó hiểu rằng mình không thể hiểu, nhưng nó cũng hiểu rằng “một Thiên Chúa mà người ta hiểu được sẽ không còn là Thiên Chúa nữa.” Chính lý trí giúp nhận ra như vậy, cho nên qua đó, việc thừa nhận này là một hành vi hoàn toàn hợp lý. Theo đúng nghĩa, nó là một sự “vô tri thông thái (docte ignorance)[56]“. Một “sự vô tri mà biết lý do”, khi biết mình vô tri.
Bởi vậy, đúng hơn phải nói ngược lại: đó là đặt ra một giới hạn cho lý trí và hạ thấp nó, hơn là từ chối khả năng của nó là bị vượt qua. Kierkegaard viết: “Cho đến nay, người ta luôn nói bằng những lời này: Nói rằng người ta không thể hiểu điều này hoặc điều nọ không làm thỏa mãn sự thông hiểu của người muốn hiểu. Sai lầm là ở đó. Người ta phải khẳng định hoàn toàn ngược lại: khi khoa học nhân văn không muốn thừa nhận có những sự việc không thể hiểu, hay nói chính xác hơn, có những sự việc mà nó có thể rõ ràng “hiểu rằng nó không thể hiểu”, chính khi đó mọi sự bị đảo lộn. Tuy nhiên, bổn phận của lương tâm con người là phải hiểu rằng nó không thể hiểu được một số điều và những điều này là gì[57].”
Nhưng bóng tối này là gì, bao gồm những gì? Về đám mây chen vào giữa người Ai Cập với người Do Thái, một cách đọc bản văn Kinh Thánh cho hay Đám Mây “mịt mù bên này và sáng soi bên kia” hoặc “mịt mù cho những người này và sáng soi cho những người kia” (x. Xh 14, 20). Lại là một trong những biểu tượng gợi ý nhất! Thế giới của đức tin tối tăm đối với những ai nhìn từ bên ngoài, nhưng lại sáng láng đối với những ai sống bên trong. Và với một độ sáng đặc biệt chạm đến con tim hơn là trí óc: đây là những “lý lẽ của con tim mà lý trí không hiểu nổi”, một câu nổi tiếng. Trong cuốn La nuit obscure (Đêm tối, một biến thể của chủ đề đám mây) của thánh Gioan Thánh Giá, linh hồn tuyên bố muốn tiến triển bằng một con đường mới “không có ánh sáng hoặc hướng dẫn nào khác, ngoại trừ ánh sáng đã cháy lên trong trái tim tôi … một ánh sáng bảo đảm hơn mặt trời lúc chính ngọ[58].”
Thật đúng biết bao người nào đã nói: “Người ta chỉ nhìn thấy rõ bằng con tim”!
Ngay cả bài trình bầy hiện tại của chúng ta cũng rõ cho người này và tối cho người kia. Không thể yêu cầu cung cấp cho những người vẫn đang ở “bên ngoài” một minh chứng hợp lý về những thực tại này. Cách duy nhất để bước vào ánh sáng mới này là đưa ra quyết định nói: “Tôi tin! Tôi tin để hiểu”, chứ không phải “Tôi tin vì tôi đã hiểu.” Cũng giống như một số cửa ra vào hiện đại: chúng tự mở ra lúc người ta đến gần.
Nói về Mẹ Thiên Chúa, Chân Phước Angela Foligno cho biết bà “được kết hợp khôn tả với Chúa Ba Ngôi tối cao và tuyệt đối không thể diễn tả được, đến nỗi trong đời này bà được hưởng niềm vui mà các thánh đang được hưởng trên trời, đó là niềm vui không hiểu được, vì các ngài hiểu rằng mình không thể hiểu[59].” “Niềm vui không hiểu được!” Thánh nữ đã bày tỏ những gì đẹp đẽ nhất và những gì quan trọng nhất đối với chúng ta là biết về một Thiên Chúa không thể hiểu: không những không gây ra thất vọng, sự không thể hiểu này còn làm cho con người tràn đầy niềm vui và hăng hái. Đến nỗi khi kết thúc quá trình đi lên của mình, người ấy có vẻ thất vọng nếu không phải như vậy, nếu anh ta có thể hiểu được mọi sự. Biết rằng Thiên Chúa vô cùng vĩ đại, vô cùng đẹp đẽ, vô cùng tốt lành, hơn những gì người ta có thể tưởng tượng, biết rằng tất cả những điều này là dành cho bạn, để niềm vui của bạn thật sự tràn đầy, để không bao giờ bạn nghĩ mình có thể cảm thấy nhàm chán khi ở bên Ngài đến muôn đời!
Lời cầu nguyện sau đây của một người phụ nữ lên đỉnh Sinai trước chúng ta, chúng ta hãy coi là của chúng ta:
Lạy Chúa, xin cho con được hiểu biết rất đơn sơ về Chúa. Chúa là nguyên nhân của tất cả những gì hiện hữu. Xin cho mọi sự xung quanh con là sương mù dày đặc và qua màn sương mù này, linh hồn con lao về phía trước, tới ánh sáng và niềm vui của tình Chúa yêu con!”
Theo định nghĩa, Thiên Chúa là Đấng bất khả tri: chính vì vậy mà cách chúng ta tiếp cận Ngài khuyến khích chúng ta luôn đi xa hơn, vượt ra ngoài tất cả những gì đã được nói về Ngài. Đó là con đường của siêu việt. Đừng bao giờ dừng lại, nhưng lặp lại ở cuối mỗi giai đoạn câu này: “Phải, nhưng Thiên Chúa là một cái gì đó khác!” Sau mỗi câu khẳng định là một câu phủ định. Vượt ra ngoài vũ trụ, vượt ra ngoài linh hồn con người, thậm chí vượt ra ngoài chữ nghĩa của Kinh Thánh, điều mà cho đến nay, tuy vậy, đã giúp chúng ta nhận thức được một số dấu hiệu về Thiên Chúa hằng sống.
Người ta có thể đến được với Thiên Chúa bằng cách loại trừ. Loại trừ có nghĩa là “đóng cửa”, để sang một bên. Kinh Thánh và linh đạo Kitô giáo giới thiệu cho chúng ta một loạt các ví dụ để giúp chúng ta hiểu phương pháp này cụ thể bao gồm những gì và cách chúng ta có thể áp dụng nó trong cuộc sống của mình.
Chúng ta hãy bắt đầu với câu chuyện Giacóp, người đã chiến đấu chống lại Thiên Chúa và được Ngài chúc phúc. Sự chuẩn bị nào cho cuộc gặp gỡ mầu nhiệm với Thiên Chúa, kết thúc bằng tiếng kêu của tổ phụ: “Tôi đã nhìn thấy Chúa diện đối diện”? Kinh Thánh chép: “Giacóp dậy, đem theo hai bà vợ, hai người nữ tỳ, mười một đứa con, và ông lội qua sông Yabbốc. Ông đem họ theo, đưa họ qua sông, rồi đưa tài sản của ông qua. Ông Giacóp ở lại một mình (St 32,23tt). Yabbốc là một dòng sông chảy dưới lũng hẹp. Như vậy giữa ông và phần còn lại của thế giới, thậm chí giữa ông và gia đình ông, Giacóp đặt một dòng chảy và một khe trũng, hoặc ít nhất một quãng đường khá xa, nếu người ta hiểu bản văn theo nghĩa vị tổ phụ một mình ở lại đàng sau, trong khi phần còn lại của đoàn tiếp tục lên đường. Tất cả xảy ra trong sa mạc, trong bóng đêm tịch mịch.
Động tác loại trừ đặc trưng đã xuất hiện trước mắt chúng ta. Phụ nữ, nô lệ, trẻ em, tài sản: trước hết người ta phải gạt bỏ mọi sự và được giải thoát khỏi mọi sự. Không cần mang theo! Giống như khi bạn chờ một bạn thân đến mà bạn biết người đó sẽ chỉ đến khi biết chắc chỉ có mình bạn.
Cảnh Kinh Thánh này gợi lên một cảnh khác. Tiên tri Khabacúc, trước khi nhận được “thị kiến” nổi tiếng của mình được khắc trên tấm bia, và sấm ngôn lớn về người công chính “sống nhờ lòng thành tín của mình“, đã tự nhủ như để tuân theo một lời kêu gọi bên trong: “Tôi sẽ ra đứng ở chòi canh, đứng gác trên tường lũy, canh chừng xem Người nói với tôi điều gì…” (Kb 2,1)
Có một ngày, đoạn văn này đã nói với tôi cách trực tiếp hơn. Dường như tôi có thể chứng kiến tận mắt và muốn chính mình làm những gì nhà tiên tri gợi ý. Lên, lên cao hơn, như cầu thang hẹp của một tòa tháp hay một lâu đài, không nói với ai, bỏ lại phía sau hết tầng này đến tầng khác, con người, tiếng ồn, tất cả. Không dừng lại, để cuối cùng đến chỗ “đứng gác trên tường lũy”, nơi đó chỉ còn lại trước mặt là bầu trời để chiêm ngưỡng và Thiên Chúa để mình nói chuyện, tất cả những gì khác được bỏ lại dưới chân. Tất nhiên, đó là hình ảnh của một chuyến đi lên khác, bằng một cầu thang dẫn lên đỉnh của một lâu đài hoàn toàn bên trong. Trong một thời gian dài, đọc lại hoặc nghe những lời của vị tiên tri và làm sống lại tâm trạng này, tất cả chỉ là một đối với tôi. Chỉ cần tôi lại tự nhủ: “Đi lên tường lũy!” Mỗi lần như vậy, hình ảnh này trợ giúp tôi mạnh mẽ, kích thích tâm hồn tôi cầu nguyện bằng cách giải thoát tôi khỏi mọi trở ngại.
Trong Phúc Âm, Đức Giêsu cũng đưa ra một trong những hình ảnh hướng dẫn này: “Khi cầu nguyện, anh hãy vào phòng, đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt 6,5). Giacop để một dòng sông giữa ông và mọi người mọi vật khác. Khabacúc muốn nhốt mình trong pháo đài. Đức Giêsu yêu cầu chúng ta khóa cửa. Một vị ẩn danh thời Trung cổ mà chúng ta đã nghe ở trên gợi ý cho chúng ta đặt một đám mây chen vào giữa, mà ông gọi là đám mây lãng quên: “Đặt một đám mây lãng quên bên dưới bạn, đám mây này sẽ ở giữa bạn và mọi thụ tạo, giống như đám mây bất tri ở trên bạn, giữa bạn và Thiên Chúa của bạn[60] ”.
Các đan sĩ xưa không hài lòng với những chia cách quá dễ vượt qua này; họ muốn đặt sa mạc giữa họ và thế giới. Tuy nhiên, chúng ta hãy cẩn thận đừng khinh thường vấn đề này. Những chữ “hãy chạy trốn, hãy im lặng” (fuge, quiesce) mà họ liên tục nhắc nhở bản thân và các môn đệ của họ như là lý tưởng thuần túy của việc fuga mundi (“chạy trốn thế gian”) phát xuất từ đó, không có nghĩa là chạy trốn khỏi một cái gì đó (đây chỉ là thứ yếu, một phương tiện) nhưng chạy trốn đến một cái gì đó. Một cuộc chạy trốn đến chóng mặt, hướng tới Thiên Chúa hằng sống.
Về điểm này, một câu chuyện đầy tinh tế thuật lại kinh nghiệm của Augustinô và mẹ ngài là Monica, ở Ostia, trong chuyến hai người trở về châu Phi. Chúng ta hãy đọc lại một vài đoạn khá tiêu biểu mà ngài đã viết về những giờ phút may mắn đó. Những lời đầu tiên cho phép ta hình dung về khung cảnh. “Ngày bà (mẹ con) sắp từ giã cuộc đời này… chúng con chỉ có hai người, đứng tựa cửa sổ; từ đó, khu vườn bên trong ngôi nhà chúng con đang ở hiện ra trước mắt chúng con: Đó là ở Ostia, gần cửa sông Tevere. Tránh đám đông, sau cuộc hành trình dài mệt mỏi, chúng con đang phục hồi sức lực cho chuyến vượt biển… Chúng con đã nói chuyện với nhau, rất nhẹ nhàng… Lúc đó, khi hướng tâm trí lên cao hơn tới chính Hữu Thể, với trái tim nhiệt thành hơn, chúng con đã rảo qua hết vật thể này đến vật thể khác cho tới chính bầu trời… Và chúng con còn hướng lòng chúng con lên, khi suy niệm, mô tả, ngưỡng mộ những công trình của Chúa. Và chúng con đi tới linh hồn chúng con; rồi chúng con vượt qua chúng để đến vùng đất dồi dào vô tận, nơi Ngài mãi mãi chăn dắt Israel trong đồng cỏ của sự thật… Và khi chúng con nói về sự khôn ngoan cao cả và khao khát nó, thì đây chúng con chạm được một chút vào nó, trong đà vươn của tất cả con tim. Sau tiếng thở dài và để lại đó những của đầu mùa của thần khí, mà lòng còn gắn bó, chúng con quay trở lại với tiếng động của môi miệng, nơi lời nói bắt đầu và kết thúc… Ngày đó, thế giới này đối với chúng con, qua những lời nói, mất hết mọi lợi ích cùng với mọi thú vui của nó[61].”
Đó là một vài mẫu gương về những người đã thực sự “gặp gỡ” Thiên Chúa hằng sống. Bằng cách đặt những câu chuyện của họ như những linh ảnh sống động trước mắt tâm trí chúng ta, chúng ta hãy tìm cách bắt chước ngần nào có thể. Thánh Anselmô khuyên chúng ta làm như vậy trong một bản văn như làm vang vọng câu chuyện của thánh Augustinô: “Và giờ đây, can đảm lên, hỡi con người chẳng ra gì! Hãy xa rời nghề nghiệp của bạn trong chốc lát, trốn khỏi những tư tưởng xao động, vứt bỏ những lo lắng nặng nề, để lại sau lưng những căng thẳng mệt nhọc. Hãy đến với Chúa một chút và nghỉ ngơi một chút trong Ngài. Hãy vào phòng tâm hồn bạn, loại bỏ mọi sự, ngoại trừ Chúa hoặc bất cứ điều gì giúp bạn tìm kiếm Ngài. Đóng cửa lại, tìm kiếm Ngài, rồi mở rộng lòng mình và thưa ngay: “Con tìm kiếm thánh nhan Ngài, lậy Chúa. Thánh nhan Ngài, con tìm kiếm!… Hãy dạy cho trái tim con biết tìm Ngài ở đâu và cách nào, tìm thấy Ngài ở đâu và cách nào[62]. “
Cách thức “tiếp xúc thiêng liêng” này với Thiên Chúa hằng sống là mỗi lần một mầu nhiệm, một thực tại mới mẻ và không thể lường trước. Hai sự hiện diện luôn theo nhau lúc này, giống như hai nữ tỳ trao đổi trong thinh lặng những thông điệp tương ứng của ông chủ: ân sủng và tự do. Một nhà thần bí lớn đã viết: “Thiên Chúa là biển lúc lên lúc xuống. Ngài không ngừng mở rộng lúc thủy triều lên cho tất cả những ai yêu mến Ngài, và lúc thủy triều xuống, Ngài đưa về tất cả những ai đã được thỏa mãn, trên trời dưới đất, với tất cả những gì họ có và tất cả những gì họ có thể cho[63].”
Những lời này cho chúng ta thấy một hình ảnh rất gây ấn tượng: hình ảnh đại dương, khi nước lên, phình ra, xâm chiếm bãi biển và khi nước rút, mang theo tất cả những gì không bị vướng mắc. Một số thuyền nhỏ bị dây neo cản trở hoặc được giữ cho cố định bằng một dây chão cột chặt vào cọc chôn trên đất liền. Đại dương bao quanh chúng, vuốt ve chúng như mời gọi chúng đi theo. Có một lúc, chúng được nâng lên, nhưng vì bị buộc, thủy triều xuống không thể kéo chúng đi: chúng vẫn ở lại trên bờ. Trong khi những con thuyền khác, những thuyền không bị cột, ra khơi dưới ánh mặt trời trong một vùng biển yên tĩnh.
Với Thiên Chúa cũng vậy. Ngài gửi lời và ân sủng của Ngài như một cơn mưa nhân từ bao bọc linh hồn và mời gọi đi theo Ngài trong sự bao la của Ngài. Những linh hồn “không bị buộc” và sẵn sàng vui vẻ đi theo Ngài, khi sẵn sàng để Ngài “hút” theo, lúc nước rút. Những linh hồn khác, bị cản trở bởi những ràng buộc của thói quen cũ hoặc bởi sợ điều không được biết, trong một thời gian rất muốn được nâng lên và ru ngủ, nhưng khi phải quyết định lúc khởi hành, họ thiếu can đảm để cắt dây neo, và họ ở lại trên bờ. Điều gì sẽ xảy ra? Liệu một ngày nào đó họ sẽ trải qua cơn say cuồng giữa biển khơi? Hay họ sẽ giống như những con thuyền vẫn còn trên bãi biển và cuối cùng sẽ bị những bụi nước biển ăn mòn hết?
Một bài thơ của Tagore dường như được viết ra để khơi dậy nơi chúng ta khát vọng giải thoát khỏi mọi xiềng xích, để trải nghiệm trong giây lát sự rất thân mật với Thiên Chúa, xa lánh mọi sự. Trong bản văn này, nhà thơ thưa chuyện với Chúa; ông sử dụng các thuật ngữ mà chúng ta có thể lấy lại dưới dạng một lời cầu nguyện như một lời hứa mà chúng ta nhắc cho bản thân và cho Chúa:
“Sáng sớm, một tiếng rì rào nói cho biết là chúng ta sắp bắt đầu, chỉ có con và Chúa, và không một linh hồn nào biết gì về cuộc lữ hành bất tận và không có mục đích này của chúng ta. Trên đại dương không bờ không bến này, với nụ cười chăm chú thầm lặng của Chúa, các bài ca của con sẽ đầy những giai điệu tự do như những cơn sóng, thoát khỏi những cản trở của lời[64].”
12. PHÚC CHO AI CÓ TÂM HỒN TRONG SẠCH VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC NHÌN THẤY THIÊN CHÚA
Nếu chúng ta muốn đến gần Thiên Chúa, phải “loại bỏ” nhiều trở ngại: tiếng ồn, đám đông, thế giới, thụ tạo, chính chúng ta… Tuy nhiên, trong số những trở ngại này, có một trở ngại tuyệt đối cần thiết, chứ không chỉ tương đối, mà chúng ta phải loại bỏ: trở ngại “phân cách chúng ta với Thiên Chúa”, khiến Người phải “ẩn mặt” (Is 59,2). Đó là tội lỗi.
Kinh Thánh dạy rằng để gặp gỡ Thiên Chúa, chúng ta phải “cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang bao quanh chúng ta” (Dt 12,1). Từ “gánh nặng” dịch theo thuật ngữ tiếng Hy lạp oncos, là gốc của từ ung thư học và có nghĩa là khối u; từ “bao quanh”, trong bản văn gốc, gợi ra ý tưởng về một cái ôm hôn rất nhẹ nhàng nhưng ngột ngạt. Tự phụ đến gần Thiên Chúa mà không từ bỏ tội lỗi là tưởng rằng có thể tiến tới bằng cách tiến một bước và lùi một bước. Trên thực tế, theo định nghĩa cổ điển nhất, phạm tội “là quay lưng với Thiên Chúa” (aversio a Deo) để quay lại với các thụ tạo.
Thường thường, trở ngại thực sự cho việc nhận biết Thiên Chúa không nằm trong lãnh vực trí khôn, nhưng trong lãnh vực đạo đức; rất thường ở trong ý muốn hơn là ở trong trí khôn. Một nhà hộ giáo xưa, một Kitô hữu, khi nói với người ngoại giáo vào thời ông, đã viết: “Nếu bạn nói với tôi: Hãy cho tôi thấy Thiên Chúa của bạn!”, tôi có thể trả lời: “Hãy cho tôi thấy bạn là người thế nào…” Ông giải thích ý nghĩa lời nói của mình như sau: Chỉ những ai mở rộng đôi mắt linh hồn mới nhận ra Thiên Chúa. Là vì nếu mọi người đều có mắt, thì một số người có mắt bị che phủ. Mặt trời có chiếu sáng rực rỡ cũng vô ích, người mù không nhìn thấy gì và thậm chí anh ta còn nói không có ánh sáng mặt trời. Hoặc, nếu một tấm gương han rỉ, người ta không còn có thể nhìn thấy hình ảnh phản chiếu khuôn mặt của mình. Cũng vậy, khi cái nhìn nội tâm của con người bị tội lỗi che đậy, thì người đó không thể thấy được Thiên Chúa nữa, vì tội lỗi đã nhận chìm con tim trong bóng đêm và tăm tối[65].
Đối với những người được gọi là “phóng túng”, Pascal đã cho một nhận xét, không được hiểu theo nghĩa không có sự phân biệt nào (vì trong số những người vô thần, có những người không thể chê trách về mặt đạo đức, cũng như trong số các Kitô hữu có những người phóng túng) nhưng bao gồm nhiều sự thật: “Họ nói: Tôi sẽ sớm từ bỏ lạc thú, nếu tôi có đức tin. Nhưng tôi nói cho bạn hay: Bạn sẽ sớm có đức tin nếu bạn từ bỏ lạc thú[66].” Người tín hữu không có quyền ban đức tin và do đó xác minh điều người phóng túng quả quyết; nhưng người phóng túng có khả năng từ bỏ tội lỗi và xác minh sự thật của những gì người tín hữu nói.
Trước câu hỏi: “Ai được lên núi Chúa?”, tác giả Thánh vịnh đã trả lời: “Đó là kẻ tay sạch lòng thanh” (Tv 24,3-4). Đức Giêsu cô đọng tất cả giáo huấn của Kinh Thánh về điểm này trong một câu rất vắn tắt: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa!” (Mt 5,8).
Chúng ta biết những thuật ngữ “trong sạch”, “sự trong sạch”, trong Kinh Thánh cũng như trong ngôn ngữ thường ngày, bao hàm nhiều ý nghĩa: sự trong sạch về mặt thẩm mỹ, sự tinh tuyền về đường nét, sự đúng đắn về mặt đạo đức biểu lộ trong tư tưởng hoặc trong ý định, v.v. Chúng ta cũng biết rất rõ là, trong lãnh vực tính dục, từ chỉ phẩm chất một số hành vi phải được ghi dấu bằng hai cách tôn trọng: tôn trọng cứu cánh tính nội tại của tính dục và tôn trọng ý muốn của Đấng Tạo Hóa. Chỉ có thể tương giao với Thiên Chúa là thần trí bằng thần trí của chúng ta. Thế mà tình trạng rối loạn, hoặc tệ hơn, những lệch lạc trong lãnh vực này, gây ra hiệu quả là làm cho thần trí đen tối: không chỉ các nhà luân lý mà thôi, nhưng mọi người đều nhận thấy thế. Khi người ta dùng chân khua nước ao, bùn nổi lên từ đáy làm nước bị đục. Thiên Chúa là ánh sáng; ai làm tâm trí u tối bởi những rối loạn như vậy chứng tỏ người đó “ghét sự sáng”(Ga 3,20).
Tội lỗi không còn cho phép nhìn thấy bộ mặt của Thiên Chúa, hoặc bất quá chỉ cho thấy một bộ mặt hoàn toàn biến dạng. Tội lỗi không cho thấy Thiên Chúa như là bạn, là đồng minh hay là người cha, nhưng là kẻ đối nghịch, kẻ thù, Đấng mà qua các lệnh “Ngươi phải” hay “Ngươi không được”, không cho phép dung dưỡng những ham muốn xấu xa của bạn. Tội lỗi khơi dậy trong lòng con người một sự căm phẫn âm ỉ đối với Thiên Chúa, đến mức đôi khi con người muốn không có Thiên Chúa, nếu điều này tùy thuộc vào họ.
Nói chung, để khuyên con người chạy trốn tội lỗi, người ta đưa ra những động cơ tiêu cực: tội lỗi làm suy thoái thụ tạo, dẫn đến cái chết và diệt vong. Và người ta bỏ qua lý do tích cực, là lý do mạnh nhất: từ bỏ tội lỗi là tìm thấy Thiên Chúa! Tìm thấy những gì người ta đã tìm kiếm một cách vô ích trong tội lỗi. Chính nỗi nhớ “cơm bánh dư dật” ở nhà cha đã thuyết phục người con hoang đàng từ bỏ đồ ăn của heo chứ không phải mùi vị chẳng ra gì của nó! Có lẽ người ta sẽ có được nhiều hơn từ xã hội băng hoại hiện nay, bằng cách nói cho nó về Thiên Chúa hằng sống, Đấng có vẻ đẹp tỏa rạng trước mắt thế giới, bằng cách khơi dậy nơi con người nỗi nhớ về Thiên Chúa, hơn là bằng cách vứt tội lỗi của mình vào mặt Ngài chăng?
Những lời này không chỉ dành cho những người “phóng túng”, cho những người không tin, mà còn, và thậm chí ưu tiên, cho chúng ta, những người tuyên bố mình là Kitô hữu và thậm chí có lẽ có ơn gọi loan báo cho người khác Thiên Chúa hằng sống. Khi Thiên Chúa “kêu gọi” tiên tri Isaia, Ngài không chỉ dẫn cho ông phải nói gì hoặc nói thế nào. Ngài chỉ đưa một cục than hồng chạm vào môi miệng ông và nói: “Ngươi đã được tha lỗi và xóa tội.” Đồng thời, nhà tiên tri cảm thấy phát sinh nơi ông một lời kêu gọi mới và không cưỡng lại được, kêu gọi loan báo Thiên Chúa ba lần thánh, và ông kêu lên: “Dạ, con đây: xin hãy sai con đi!” (x. Is 6,1-8)
Cần phải cam kết “đoạn tuyệt với tội lỗi” (x. 1Pr 4,1) để nhờ kinh nghiệm mà biết được khả năng và niềm vui loan báo mầu nhiệm Thiên Chúa. Khi đó tiếng nói có được một âm thanh mới mẻ và tự do, khác với những gì nó đã có cho đến lúc đó; tầm quan trọng của nó không chỉ còn trên phương diện hộ giáo, nhưng trên phương diện khởi giảng (kérygmatique). Nếu quả thực không thể chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì vẫn luôn có thể cho thấy điều đó! Hai người du hành trên một chuyến xe lửa, một phụ nữ và một linh mục, ngồi đối diện nhau. Vị linh mục về nhà sau một cuộc tĩnh tâm. Ngài vừa nhận được ơn xá giải, rạng rỡ hạnh phúc vì đã nhận được ơn tha thứ tội lỗi. Sau một thời gian im lặng, người phụ nữ bỏ cuốn sách đang đọc xuống, nhìn vị linh mục mà thốt lên: “Thưa cha, cha có vẻ mặt khiến cho người ta tin vào Thiên Chúa!”
Một lời thật kích thích chúng ta tiếp tục cuộc chiến đấu chống lại tội lỗi, bằng cả nghị lực và “đến mức đổ máu” (Dt 12,4) nếu cần. Thánh Basiliô khuyên chúng ta làm như vậy: “Một khi được thanh tẩy khỏi sự xấu xa do mắc phải những thói hư tật xấu, và trở lại vẻ đẹp của hình thức nguyên thủy, chỉ với điều kiện này, chúng ta mới có thể đến gần Đấng Bảo Trợ. Như mặt trời, Người có con mắt rất tinh tuyền, sẽ cho bạn thấy nơi Người Hình Ảnh của Đấng Vô Hình; khi sung sướng chiêm ngắm Hình Ảnh, bạn sẽ thấy vẻ đẹp khôn tả của Nguyên Mẫu… Như những vật thể rõ ràng và trong suốt trở nên lấp lánh khi có tia sáng chiếu vào và tự chúng khuếch tán ra một ánh chói khác, cũng vậy, những linh hồn mang Thần Khí, được Thần Khí chiếu sáng, tự chúng trở nên linh thiêng và đổ tràn ân sủng trên những người khác[67].”
Để có được “tâm hồn trong sạch nhìn thấy” Thiên Chúa, chúng ta hãy dùng Thánh vịnh Misereremà cầu nguyện:
“Xin xóa tội con đã phạm. Lạy Chúa Trới, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng… Đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài. Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài!
13. HÃY RA NGOÀI VÀ ĐỨNG TRÊN NÚI TRƯỚC MẶT ĐỨC CHÚA
Đã đến lúc lắng nghe nhiều hơn lời chứng của một số nhân vật vĩ đại đã trở về từ núi Sinai. Trước tiên là các tiên tri.
Sứ mệnh tuyệt vời của các tiên tri là giúp dân chúng sống trước mặt Thiên Chúa hằng sống hiện diện. Công việc này đã không cô lập họ, cũng như không làm cho họ thờ ơ với các nhu cầu cụ thể của người dân, ngay cả về mặt xã hội hoặc chính trị; đúng hơn, ông kích thích họ đối mặt với mọi tình huống phát xuất từ Thiên Chúa. Êlia là một trong những tiên tri rất nhiệt thành đã buộc toàn dân và ngay cả các vua phải thường xuyên chịu sự phán xét của Thiên Chúa. Để hoàn thành một công việc như vậy, trước hết chính ông phải hoán cải và học cách “đứng trước mặt Chúa”. Chúng ta hãy nhớ lại vắn tắt kinh nghiệm của ông: nó có thể giúp chúng ta hiểu điều gì đang chờ đợi chúng ta, nếu chúng ta cũng muốn trở thành chứng nhân của Thiên Chúa hằng sống, trong phạm vi nhỏ bé của mình.
Êlia là con người đang ở giữa cuộc đấu tranh sinh tử giữa sự thánh thiện của Thiên Chúa và tội lỗi của con người. Sau một cuộc đối đầu kinh hoàng không biết lần thứ mấy với các lực lượng dẫn đầu cuộc nổi loạn ở Israel, thì một ngày kia, ông gặp khủng hoảng mệt mỏi và chán nản. Ông cay đắng nhận rằng: “Chỉ sót lại mình tôi là tiên tri của Đức Chúa” (1V 18,22). Khi ấy, ông bị cám dỗ chạy trốn và từ bỏ. Ông tìm nơi trú ẩn vắng vẻ trong sa mạc. Ông “trỗi dậy, ra đi để thoát mạng” (1V 19,3tt). Quá mệt mỏi, ông đến ngồi dưới một cây kim tước, rên rỉ: “Lạy Đức Chúa, đủ rồi! Bây giờ, xin Chúa lấy mạng sống con đi!“
Và này đây, cuộc gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống sắp biến đổi giờ phút khủng hoảng này, kinh nghiệm đau buồn về cuộc chạy trốn và thất bại này, thành kinh nghiệm trở lại và chiến thắng trong hân hoan. Một thiên sứ chỉ cho ông thấy một chiếc bánh nướng trên những hòn đá nung và nói với ông: “Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa!” Nhờ lương thực ấy bổ dưỡng, ông đi suốt bốn mươi đêm ngày tới Khorép, núi của Thiên Chúa. Đây là núi Sinai.
Nhưng cuộc khủng hoảng vẫn không vì vậy mà được giải quyết. Khi đến Khorép, thì như Kinh Thánh chép, Êlia: “vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó.” Chắc hẳn ông đang nghĩ đến thời gian nghỉ ngơi và tĩnh lặng, và cho nỗ lực của mình được thư giãn. Thấy cuộc chiến đấu của mình rõ ràng là vô ích, ông rơi vào tình trạng chờ đợi thụ động, một loại vô cảm. Ông nghĩ: “Khi Chúa tỏ mình ra lần nữa thì tôi sẽ đứng dậy, tôi sẽ làm…” Một tác giả đã mô tả tâm trạng này, một tâm trạng không phải là hiếm nơi các tôi tớ Thiên Chúa: “Khi linh hồn chúng ta bắt đầu không còn ham muốn những thú vui của thế gian, thì rất thường xảy ra là có tâm trạng vô cảm (acédie: mệt mỏi, buồn nản, chán ngấy) không còn thích phục vụ lời và làm cùn nhụt ước muốn những thiện ích trong tương lai, thậm chí đối với nó, cuộc sống phù du này dường như hoàn toàn không đem lại hứng thú, trong mức độ nó không mang lại bất cứ công việc nhân đức nào xứng với nó… Chúng ta sẽ không còn khó chịu do sự ủ rũ và lạnh nhạt gây ra, nếu chúng ta đặt ra những giới hạn chặt chẽ cho tư tưởng của mình, bằng cách chỉ chăm chăm tưởng nhớ đến Chúa. Chỉ như vậy tâm trí sẽ có thể mau chóng trở lại với sự nhiệt thành của nó và thoát ra khỏi tình trạng rối loạn không lý do này[68]“.
Chúa không để nhà tiên tri của mình ở lâu trong tình trạng này: “Êlia, ngươi làm gì ở đây? Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa.” Những lời đó có nghĩa gì? Có nghĩa là: không được phép để cho nỗ lực suy giảm; với Thiên Chúa, không có thời gian chết. Đêm tối của tâm trí không phải là để trốn tránh bằng cách ngủ vùi, nhưng bằng cách canh thức trong tư thế chờ đợi, “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sáng, để khi chủ về tới và gõ cửa là mở ngay” (Lc 12,35). Phải luôn biết mình không là gì và bất lực, nhưng ở trong thái độ năng động, chứ không thụ động và trơ ỳ. Hướng về phía người đã biến mất nhưng sẽ trở lại.
Chúng ta cũng hãy học lấy một giáo huấn khác được gương của Êlia nêu ra: tầm quan trọng của sự im lặng trong những tình huống như vậy. Nhà tiên tri không còn bận tâm đến những lời nói và tin đồn từ bên ngoài và bên trong chính ông, ông phải thoát ra khỏi bất cứ sự hiện diện nào khác, kể cả của tôi tớ ông, để đứng “trước mặt Thiên Chúa.” Trong thời gian cô đơn chờ đợi trên núi – và điều này cũng giống như mỗi tiên tri –, Elia trước hết nhận thấy gió, lửa, động đất, là biết bao nhiêu hình thức thử thách, lo âu, kinh hoàng, làm cho sự vắng mặt của Thiên Chúa mỗi lúc một nặng nề hơn (“Chúa không ở trong gió, trong lửa, hoặc trong trận động đất…”). Cuối cùng, được thông báo bởi tiếng rì rào của một cơn gió nhẹ, biểu thị sự bình an trong lòng, này đây Thiên Chúa trở lại và cùng với Ngài là sự can đảm và niềm vui của một khởi đầu mới. Cuộc gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống luôn luôn xảy ra ở cuối con đường thanh tẩy, tước bỏ, hư vô hóa mình. Kinh Thánh nói: “Không ai có thể nhìn thấy Chúa mà sống sót”: phải “chết” trước đã. Một người phụ nữ cùng thời với chúng ta, người đã leo lên Sinai cách thiêng liêng và thực tế, khi nói về những gì xẩy ra trước cuộc hành trình của mình, đã viết: “Cuộc gặp gỡ Thiên Chúa luôn đi sau những giai đoạn tăm tối của nghi ngờ khiến chúng ta chìm trong bóng đêm, để ánh sáng của Ngài có thể ùa vào mà không lẫn với ánh sáng lừa dối của lý trí chúng ta[69]“.
Kinh Thánh cho biết sự khôn ngoan của Thiên Chúa đào tạo các tiên tri và chứng nhân của Ngài như thế nào: “Ban đầu khôn ngoan sẽ đồng hành với họ qua nẻo đường quanh co, giáng xuống trên họ hãi hùng run rẩy và dùng kỷ luật của mình mà tôi luyện bao lâu chưa tin tưởng họ được; rồi lại thử thách họ qua những phán quyết của mình. Sau đó khôn ngoan sẽ trở lại với họ trên con đường thẳng khiến họ được mừng vui và khôn ngoan mạc khải cho họ những bí nhiệm của mình” (Hc 4,17-18)
Cuộc phiêu lưu của Êlia được lặp lại khá giống như thế trong cuộc đời của một nhà tiên tri vĩ đại khác là Giêrêmia. Chính Gêrêmia cũng bị cuốn vào một cuộc đối đầu khủng khiếp giữa sự thánh thiện của Thiên Chúa và sự nổi loạn của dân chúng. Quá bực tức, một hôm ông rên rỉ: “Con vô phúc quá, mẹ ơi, mẹ sinh con ra làm gì?” (Gr 15,10tt). Cũng nơi ông, sự cám dỗ len lỏi vào, lần này dưới hình thức một lời than vãn thưa lên với Thiên Chúa: “Con đã chẳng đem thiện chí phục vụ Ngài hay sao?…Phải chăng đối với con, Ngài chỉ là ngọn suối trong ảo mộng?” Đúng vậy, hay nói cách khác: đã biết Ngài và đã trở thành đối tượng để Ngài lựa chọn, đó quả là một việc tồi tệ. Đối với Giêrêmia, chính là cơ hội cho một cuộc hoán cải mới và một kinh nghiệm sâu sắc hơn nhiều về Thiên Chúa hằng sống so với lần kêu gọi đầu tiên. Thiên Chúa đáp lại câu “Thế là đủ” của nhà tiên tri, không phải bằng cách giảm bớt nhưng gia tăng những đòi hỏi của Ngài. Chính nhà tiên tri kể lại: “Đức Chúa phán như sau: Nếu ta đưa ngươi về mà ngươi chịu trở về, thì ngươi sẽ được đứng trước nhan Ta”. Có thể hiểu như thế này: “Nếu ngươi biết phân biệt những gì quý giá trong cuộc đời làm tiên tri của mình – cụ thể là sự đau khổ –, với những gì kém quý giá hơn – cụ thể là những tiếng vỗ tay và sự thành công – thì ngươi sẽ như miệng của Ta”. Một lời hứa gây bàng hoàng: Thiên Chúa thấy giống như miệng của Ngài!
Nhưng nhà tiên tri cần phải thay đổi tấm lòng, từ bỏ thái độ tự thương xót mình và nổi loạn khôn khéo. Thiên Chúa yêu cầu mọi lý do ông đưa ra, dù chính đáng và có thực, một lần nữa phải bị hủy bỏ, để có được một đức tin tinh tuyền hơn, thanh thoát hơn. Qua đó nhà tiên tri trải nghiệm nơi chính mình sự phán xét của Thiên Chúa mà ông phải công bố cho người khác. Từ bên trong ông hiểu ý nghĩa của việc “đứng trước nhan Thiên Chúa các đạo binh” và “ở gần được lửa thiêu” (Is 33,14).
Một tác giả hiện đại đặt lên môi miệng thánh Phanxicô Assisi những lời gợi lại cách nào đó hình ảnh này của Thiên Chúa, một hình ảnh nguy hiểm nếu hiểu cách tuyệt đối, tuy vậy nó lại nói lên một yếu tố của sự thật không nên quên.
Một hôm, Người Nghèo thành Assisi nói với anh Lêô: “Cho đến nay, nhiều từ chỉ phẩm chất đã được sử dụng để tôn vinh Thiên Chúa. Riêng tôi, tôi đã khám phá ra những từ mới. Anh nghe xem tôi sẽ gọi chúng như thế nào: Vực thẳm khôn dò, Đấng không biết chán, Đấng nhẫn tâm, Đấng không mỏi mệt, Đấng chưa hài lòng. Đấng đã không bao giờ nói “đủ rồi” với con người bất hạnh”…
Này anh Lêô, nếu anh muốn biết những gì Thiên Chúa đã nói đi nói lại với tôi suốt ba ngày ba đêm trong hang đá, anh hãy cẩn thận lắng nghe: “Chưa đủ đâu!” Đây là điều Ngài liên tục hét vào con người bất hạnh: “Chưa đủ đâu!”… “Chưa đủ đâu!” Giọng nói của Phanxicô khàn đi… Tôi thương anh, theo lời anh Lêô thuật lại. Tôi cáu kỉnh nói:
– Ngài còn muốn gì ở anh. Anh không xây lại nhà thờ thánh Đamianô sao?
– Chưa đủ!
– Anh không bỏ cha mẹ anh sao?
– Chưa đủ!
– Anh không hôn người cùi sao?
– Chưa đủ[70]!”
Cho đến nay một tác giả hiện đại lên tiếng nói như vậy. Chắc hẳn Phanxicô đã nhắc cho chúng ta một sự thật liên quan khác: câu nói “Chưa đủ!” mà Thiên Chúa nói không ngừng, cũng là tình yêu và ân sủng, và Thiên Chúa không chỉ sử dụng nó khi Ngài yêu cầu, nhưng còn sử dụng nhiều hơn khi Ngài ban cho.
Chúng ta hãy cầu nguyện như Người Nghèo bé nhỏ cầu nguyện trong lời Ca ngợi của ngài trong mọi Giờ Kinh:
“Lạy Thiên Chúa toàn năng, rất thánh và tối cao, là sự tốt lành rất mực, tối cao, toàn hảo, chỉ mình Ngài là tốt lành, xin cho chúng con dâng lên Ngài tất cả lời ca ngợi, vinh quang, ân sủng, danh dự, chúc tụng và mọi điều tốt lành. Vâng! Vâng! Chớ gì được như vậy! Amen!”
Sau các tiên tri, chúng ta hãy hỏi một dòng dõi chứng nhân khác trở về từ Sinai: các nhà thần bí, những người không chỉ có khoa học lý thuyết mà còn có kinh nghiệm thực tế về Thiên Chúa, những người “đã chịu khổ vì Thiên Chúa[71].” Ôi, định nghĩa này không đau đớn khi bắt gặp trong sách vở, nhưng thực tế thì thật khủng khiếp! Sau khi đã trải nghiệm về nó, tác giả Thánh vịnh phải phàn nàn: “Sóng cồn theo nước cuốn, Ngài để cho tràn ngập thân này”; và: “Bao cơn thịnh nộ Ngài đổ ngập thân con, bấy nỗi kinh hoàng khiến con rời rã” (Tv 42,8; 88,17)?
Người ta có thể ghi nhận một nét tương tự nào đó giữa cách mà Thiên Chúa dự định lúc ban đầu để tạo dựng trời đất và cách mà Ngài sử dụng để uốn nắn các thánh. Thánh nhân, đặc biệt là thánh thần bí, phải trải qua giai đoạn hỗn loạn đau đớn để trở thành “vũ trụ”, một sáng tạo mới, nơi ngự trị của trật tự, hài hòa và toàn hảo. Bằng nhiều khía cạnh, đêm tối của tâm trí nhắc lại sự “trống rỗng và bóng tối” mà sách Sáng thế nói đến (St 1,2). Thiện và ác, nhân đức và tật xấu, dường như hòa quyện vào nhau trong một cơn lốc ý tưởng và cám dỗ mà trí khôn không thể hiểu và ý muốn không thể chế ngự. Một nhà thần bí đã viết: “Khi đó con người hoàn toàn chịu thua đến nỗi không còn biết gì về Thiên Chúa. Anh lo âu đến mức không còn biết mình có đi theo đường ngay nẻo chính hay không, có một Thiên Chúa cho anh hay không và chính mình hiện hữu hay không, và điều đó làm anh đặc biệt khó chịu, khó chịu đến nỗi thế giới rộng lớn này dường như quá chật hẹp đối với anh. Anh không còn cảm thức nào về Thiên Chúa của mình, không còn biết gì về Ngài và mọi sự khác làm anh phật lòng. Cứ như thể anh đang kẹt giữa hai bức tường[72].”
Những con người nam nữ này đã “liều mạng sống mình” để đến gần Thiên Chúa (x. Gr 39,21). Họ vật lộn với Ngài và cũng như Giacóp, vật lộn xong mà phải mang “vết thương” mãi mãi (x. St 32,23tt). Đọc các tác phẩm của họ, hoặc nếu may mắn được gặp trực tiếp người nào đó trong số họ, trong khi họ vẫn đang phải “chiến đấu” khủng khiếp, thì những luận chứng tinh tế nhất của các người […] xem ra xa vời và ngây ngô biết bao! Những lý do và lập luận gây ra cảm giác sững sờ, nếu không muốn nói là đau đớn, như khi đứng trước một người nào đó nói về điều mà anh ta rõ ràng không biết, hoặc như một người khoe là mình nhận ra những lỗi liên tục về ngữ pháp nơi người đối thoại, mà không biết rằng người đó thuần túy nói một ngôn ngữ khác mà chính mình không biết. Tại sao tìm cách bác bỏ những người nói ngược lại như vậy, đến nỗi ngay cả những lời nói để bênh vực Thiên Chúa khi đó cũng có vẻ trống rỗng và không liên quan?
Các nhà thần bí thật tuyệt vời là những người đã khám phá ra Thiên Chúa “hiện hữu”. Hơn thế nữa: chỉ có mình Ngài thực sự hiện hữu, vô cùng thật hơn những gì thường được gọi là thực tại. Họ biết câu “đi đến chính những sự vật!” có nghĩa gì.
Chính trong một cuộc gặp gỡ như vậy mà một nữ đồ đệ của triết gia nổi tiếng E. Husserl (người khởi xướng chương trình “trở về với những sự vật”), bản thân là một triết gia, người Do Thái […], một đêm kia đã khám phá ra Thiên Chúa hằng sống. Tôi muốn nói về Edith Stein, người sau này vào dòng Cát Minh, đã bị Đức Quốc Xã sát hại ở trại Auschwitz và mới đây được Giáo Hội phong chân phước (*). Chị đã được những người bạn Kitô hữu đón nhận. Một buổi tối, ở nhà một mình, vắng chủ nhà và không biết phải làm gì, chị đọc một cuốn sách lấy ngẫu nhiên trên giá sách. Đó là cuốn tự truyện của thánh Têrêxa Avila. Suốt đêm chị dán mắt vào những dòng chữ, tiếp tục đọc. Đọc xong, chị chỉ thốt lên: “Sự thật là đây!” Sáng sớm, chị ra phố mua một cuốn sách giáo lý Công giáo và cuốn sách lễ. Sau khi tìm hiểu, chị đến một nhà thờ gần đó và xin chịu phép rửa tội.
Đối với dân Kitô giáo, các nhà thần bí giống như những người thám báo, những người đầu tiên lén lút vào Đất Hứa, rồi khi về đã kể lại cho dân chúng khám phá của họ – “một vùng đất chảy sữa và mật” – để cổ võ họ vượt qua sông Giođan (Ds 14,6-9). Qua các nhà thần bí, những ánh sáng đầu tiên của thành phố vĩnh cửu đến với chúng ta trong cuộc đời này.
Thật không may, một thứ văn học nào đó đã thường thành công là vô hiệu hóa ngay cả “bằng chứng” sống động về sự hiện hữu của Thiên Chúa, là các thánh và cách riêng các nhà thần bí. Nó tiến hành theo một phương pháp rất đặc biệt: không phải giảm con số chứng nhân về Thiên Chúa hằng sống này, nhưng làm tăng lên; không phải hạn chế hiện tượng, nhưng khuếch đại nó quá đáng. Tôi nói về những người, trong một bộ sưu tập các tác giả thần bí, trong một tuyển tập các tác phẩm của họ hoặc thậm chí trong lịch sử của môn thần bí, vì cho là thuộc cùng một mẫu hiện tượng, nên đặt thánh Gioan Thánh Giá bên cạnh Nostradamus, các vị thánh bên cạnh những người lập dị, đặt thần bí Kitô giáo bên cạnh pháp thuật thời Trung cổ, thuật bí hiểm, thông thiên học, các hình thức phiếm thần khác nhau và thậm chí cả thuật giả kim. Theo tôi, những người tiên thiên phủ nhận khả năng và tính xác thực của kinh nghiệm thần bí hoặc những người đưa ra lời giải thích bệnh lý về nó, gây thiệt hại ít nghiêm trọng hơn cho khoa thần bí đích thực.
Tôi cũng không muốn dừng lại ở lập trường của những trường phái thần học này, mà có lẽ vì sự nhầm lẫn mà tôi vừa nêu ra, bác bỏ chính ý tưởng về một khoa thần bí Kitô giáo hoặc coi đó là một hiện tượng ngoại giáo của việc tôn vinh con người. Đề tài này phần lớn cũng phát xuất từ sự nhầm lẫn giữa thần bí và ý tưởng về khoa thần bí. Kinh nghiệm của các nhà thần bí, được xem xét trong cái cụ thể của các tiểu sử chứ không phải theo ý thức hệ, là minh chứng mạnh mẽ nhất cho sự hủy diệt yếu tố con người, các công lao, các nhân đức riêng và ý định cứu rỗi. Nó là kinh nghiệm tốt nhất có thể làm sáng tỏ quyền chúa tể tuyệt đối của hành động Thiên Chúa và của ân sủng. Những nhà thần bí chân chính là những người, một lần vĩnh viễn, đã chấp nhận “trở về” với đức tin tinh tuyền.
Trong số những người này, tôi chọn một người, thỉnh thoảng đã gặp trong những trang này sách: chúng ta sẽ lắng nghe lâu hơn chứng từ của người đó. Chúng ta muốn nói về chân phước Angêla Folignô. Sau khi đã tiến bộ trên con đường nên thánh, một hôm, Angêla đã khám phá ra một điều rất cay đắng: Thiên Chúa chưa thực sự là tất cả đối với bà. Điều mong ước của bà là “muốn Thiên Chúa” vẫn còn quá “ngập ngừng”, vì ước muốn ấy không bao hàm toàn bộ vũ trụ của bà và không đạt đến cường độ tuyệt đối. Khi đó, một sự kiện kỳ lạ xẩy đến với bà: bà cảm thấy một sự thống nhất mới mẻ được thực hiện bên trong con người của bà, như thể toàn bộ con người của bà tập hợp lại thành một điểm: thân xác hòa hợp với linh hồn, trí khôn với ý muốn, và bà ý thức được rằng từ đây bà chỉ còn một ý muốn mà thôi. Ngay lúc đó, Chúa hỏi bà: “Con muốn gì?” và bà mạnh mẽ thưa: “Con muốn Thiên Chúa!”
Ở trên, chúng ta đã nói về “những phán xét” như một dấu ấn riêng và vô song của Thiên Chúa hằng sống. Vào thời của Angêla, có vẻ như Kinh cầu Các Thánh, trong số những lời cầu khác, còn có lời cầu như sau: “Nhờ những phán xét thánh thiện của Chúa, lạy Chúa, xin giải thoát chúng con!” Quả thực, bà viết: “Không gì khiến tôi biết Chúa đầy đủ nếu không phải là trong những phán xét của Ngài. Vì vậy, sáng hay chiều, khi cầu nguyện với Ngài, tôi thưa: “Lạy Chúa, nhờ việc Chúa đến, xin giải thoát con!… nhờ Chúa sinh ra… nhờ cuộc khổ nạn của Chúa…, xin giải thoát con!” Nhưng không gì làm con vui mừng hơn là đầy lòng tin tưởng mà thưa với Chúa: “Nhờ những phán xét thánh thiện của Chúa, xin giải thoát con!” là vì con nhận biết sự tốt lành của Chúa không phải nơi một con người tốt lành và thánh thiện và nhiều vị thánh, cho bằng nơi một kẻ bị luận phạt hay nơi vô số những kẻ bị luận phạt… Và nếu tất cả những chân lý đức tin suy yếu đi, thì con chỉ còn tin chắc điều này, đó là tin chắc về những phán xét của Chúa và sự công bình trong những phán xét của Ngài. Ôi! Sâu thẳm chừng nào! Ở đây chiều sâu thăm thẳm chừng nào!” Người anh em–văn sĩ đã sưu tầm và chép lại những dòng tâm sự này ghi nhận: “Tôi đã nghe bà ấy nói những điều tuyệt vời nhất trên đời”. Thực tế, bà đã nói chính xác những gì? Không nói gì hết! Đối với bà, chỉ nhắc đến những phán xét của Thiên Chúa cũng đủ cho bà bày tỏ tâm tình về Thiên Chúa hằng sống và thánh thiện và để bà truyền đạt cho người anh em đang lắng nghe. Và người anh em này đã rất có ấn tượng về cái “thiêng sáng” (lumineux) và cái siêu nhiên, là điều mà độc giả thường cảm nghiệm, kể cả ngày nay, khi tiếp xúc với các tác phẩm của nhà thần bí này.
Angêla từng nói rằng linh hồn càng cảm nếm Thiên Chúa thì càng ít biết cách nói về Ngài, bởi vì càng tiến bộ trong sự hiểu biết Thiên Chúa vô biên và khôn tả, thì khả năng truyền đạt một tiếng vang nào đó về Ngài càng giảm đi. Chính người anh em–văn sĩ này một hôm xin bà nói rõ ý hơn, tin rằng với nhiều cố gắng bà có thể làm được điều đó. Để đáp lại, thánh nữ nói với anh điều anh sẽ làm, nếu một ngày nào đó, sau khi đã cảm nghiệm được Thiên Chúa, anh phải nói về Ngài khi giảng. Bà nói với anh: “Lên tòa giảng, anh sẽ không biết nói gì về Chúa, vì lòng nhân từ vô biên sẽ vượt quá sức anh, giống như bất cứ điều gì anh có thể nói hoặc nghĩ về Ngài! Trước tiên anh sẽ im lặng trong giây lát. Sau đó, quay về phía dân chúng, anh sẽ kêu to: ‘Anh chị em thân mến! Hãy ra đi với phúc lành của Thiên Chúa! Bởi vì tôi không thể nói gì với anh chị em về Thiên Chúa.’ Và anh im lặng rời khỏi bục giảng.”
Sau nhiều năm được nhìn thấy Thiên Chúa “xuyên qua bóng tối lớn lao”, Angêla đã được ân sủng đưa đến chỗ thị kiến Thiên Chúa “bên trên bóng tối”. Chúng ta hãy kính cẩn lắng nghe lời chứng của bà: “Tôi thấy mình hoàn toàn ở nơi Thiên Chúa hơn bình thường, theo cách thức không thể nhận ra được; dường như tôi ở trong Thiên Chúa Ba Ngôi hơn mọi khi… Tôi không thấy một thiên thần nào, một thụ tạo nào có đủ trí khôn và khả năng để hiểu những hoạt động thần linh này và vực thẳm không đáy này… Vào lúc này, linh hồn được giải thoát khỏi mọi bóng tối và được hiểu biết tốt hơn về Thiên Chúa… Tôi thấy Đấng là Hữu Thể và tôi hiểu rằng Ngài là hữu thể của tất cả các thực tại thụ tạo.”
Cuối cùng, có một ngày Angêla đạt đến những đỉnh cao nhất. Bà đã trải nghiệm những gì xảy ra trong thị kiến “diện đối diện”, khi những bức màn xen giữa Thiên Chúa và thụ tạo rơi xuống. Bà viết: “Khi đó linh hồn tôi đã trình diện với Thiên Chúa trong sự an toàn bao la và không chút sợ hãi, với một vui thú lớn lao chưa từng có trước đây, với niềm hoan lạc đầy tràn hoàn toàn khác, cảm nếm một phép lạ mới, chưa từng trải qua, theo một cách đa dạng và rực rỡ như trong cuộc gặp gỡ này. Tôi đã gặp Thiên Chúa, đồng thời, tôi hiểu và có được sự bày tỏ khôn tả của Thiên Chúa cho linh hồn và sự bày tỏ của linh hồn tôi cho Thiên Chúa. Những lời quá sâu sắc đã được nói cho tôi đến nỗi tôi không muốn người ta thuật lại chúng.”
Gần ngày bà qua đời, những người thân cận của bà đã nghe bà kêu lên những lời về Thiên Chúa hằng sống – chúng nói lên hơn nhiều bài diễn văn: “Ôi! Thụ tạo nào cũng đều thất bại! Ôi! Trí khôn nào của thiên thần cũng không đủ!” Có người hỏi bà: “Mọi thụ tạo đều thất bại ở điểm nào?” Trí khôn thiên thần không đủ để làm gì?”. Bà đáp: “Để hiểu[73]! “
Ngày nay, người ta xuất bản vô số sách, với những câu trích dẫn từ các triết gia, để trả lời câu hỏi: “Có Thiên Chúa không?” Thường ra, người ta đọc đến trang cuối cùng mà dấu chấm hỏi không chuyển thành dấu chấm than. Rồi một ngày kia, người ta tình cờ mở một cuốn sách nhỏ giống như cuốn sách được viết bởi một phụ nữ thời Trung cổ, chắc chắn ít được học hành, làm mẹ rồi góa bụa, thuộc dòng ba Phansinh… Và đột nhiên, người ta khám phá ra không chỉ có Thiên Chúa, nhưng Ngài thực sự là một “đám lửa nóng cháy”, một “sự êm dịu vô bờ”.
Chúng ta hãy cầu nguyện và cùng với Đức Giêsu thưa lên:
“Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn” (Mt 11,25).
—–
(*) Đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô phong hiển thánh ngày 11/10/1998. (Chú thích của người dịch)
15. LẠY CHÚA TỂ HOÀN VŨ, CON TẠ ƠN NGÀI!
Thường ra, khi phân tích người có tôn giáo, phương thức tiến hành cơ bản giống như phương thức tiến hành đối với Thiên Chúa: người ta không muốn bàn về thực tại, nhưng là về ý tưởng; về những khuôn đúc của người có tôn giáo, chứ không phải về các tu sĩ, nam hay nữ, bằng xương bằng thịt, những người đã được biết đến, được lắng nghe hoặc ít nhất người ta đã đọc những tác phẩm của họ. Người được người ta nói đến và đưa ra phán xét không phải là một người có tôn giáo trong lịch sử, đã thực sự sống, nhưng là một sản phẩm trong phòng thí nghiệm. Và thường là một bức tranh biếm họa về một người có tôn giáo. Hoặc người ta sẽ dừng lại ở những trường hợp mà chính đức tin coi chúng như một hình thức bệnh lý tôn giáo, hoặc như một tính giả tôn giáo (pseudo-religiosité).
Đối với tôn giáo và đức tin, các khoa học thế tục đôi khi chấp nhận một thái độ hoàn toàn giống với thái độ mà các khoa học ấy trách cứ tôn giáo đã thể hiện đối với khoa học, trong những thế kỷ qua. Để đánh giá các kết luận của khoa học, họ cáo buộc tôn giáo (và với lý do chính đáng) đã không dựa trên các quan sát trực tiếp, các kiểm tra và thí nghiệm, nhưng dựa trên các ý tưởng tiên định có tính cách trừu tượng và suy diễn, hoặc trên thẩm quyền không ai tranh cãi của một số bậc thầy vĩ đại trong quá khứ, chẳng hạn Aristote. Thực ra đây lại không phải là thái độ của một khoa tâm lý học nào đó, khi ngày nay bàn về những vấn đề liên quan đến đức tin hay sao? Phải chăng nó lại không dựa trên những quan sát trực tiếp, không phán xét đức tin từ bên trong mà từ bên ngoài, không phải theo những gì kinh nghiệm trực tiếp sẽ dạy cho nó, mà theo những gì nó quan sát ở nơi khác, hoặc bằng cách dẫn chứng uy tín của một vài tên tuổi lớn, như Freud chẳng hạn?
Do đó, khoa học ngày nay xử sự đối với tôn giáo như tôn giáo đôi khi đã xử sự trong quá khứ đối với khoa học, chẳng hạn trong trường hợp Galileo. Trong bất cứ nghiên cứu nào, ngày nay khắp nơi đều áp dụng nguyên tắc thí nghiệm như một tiêu chí để xác minh sự thật của một thực tại hay một hiện tượng. Ngoại trừ đức tin. Tốt hơn, dường như để nói về tôn giáo một cách nghiêm túc và khoa học, điều kiện tiên quyết không phải là có kinh nghiệm cá nhân về nó, cách nào đó miễn nhiễm với nó, tức “không bị lây nhiễm”. Chính xác giống như bệnh điên: bởi vì rõ ràng người cuối cùng có thể nói một cách nghiêm túc và khoa học về bệnh điên, là chính người điên.
Câu trả lời của Kitô giáo trước thách đố này chỉ có thể dựa vào một lời kêu gọi khẩn cấp đối với sự sống, đối với những con người thật và cụ thể, đối với lịch sử các tâm hồn, chứ không chỉ đối với lịch sử các tư tưởng. Thông thường, ngay cả khi không nhận ra điều đó, người ta vẫn sai lầm khi chấp nhận giả định mang tính ý thức hệ của những người không có tín ngưỡng, tức là người ta có thể khám phá ra bản chất của tôn giáo hoặc đức tin dựa trên những định nghĩa và ý tưởng, và như vậy là trên lãnh vực trừu tượng. Những người chiến đấu mạnh nhất chống lại sự trừu tượng đến mức biến nó thành chính mục đích và một tước hiệu độc đáo cho triết học của mình, là những người, sau đó, đã không ngừng thực hành nó một cách có hệ thống liên quan đến tôn giáo. Khi là chuyện tuyên bố ủng hộ hay chống lại tính xác thực của cuộc sống của những người theo đạo, tôi coi là trừu tượng tất cả những gì không liên quan đến việc kiểm tra trực tiếp về nội dung và diễn tiến cuộc sống của họ, về ý thức của họ liên quan đến bản thân họ, về ảnh hưởng của họ đối với môi trường và kết quả cuối cùng của cuộc đời họ, mà không quên phẩm chất, thời lượng và phạm vi ảnh hưởng của họ theo thời gian. Tóm lại, tôi kêu gọi một sự khách quan thực tế và lịch sử: phải đứng vững trong đường lối này. Một Giáo Phụ ở sa mạc nói: “Người ta luôn có thể đưa ra một lời nói chống lại một lời nói khác và một học thuyết chống lại một học thuyết khác; nhưng người ta có thể lấy gì chống lại một cuộc sống?”
Một nhân vật khác “trở về từ Sinai” giúp chúng ta đo lường khoảng cách giữa ý tưởng về con người có tôn giáo mà các cha đẻ của thuyết vô thần dùng làm kim chỉ nam cho công việc của họ, và người có tôn giáo thực sự. Thánh Symêon, Nhà Thần Học Mới, sống vào năm 1000. Ngài được coi là hình mẫu tiêu biểu nhất của sự thánh thiện Đông phương, ngang với thánh Phanxicô Assisi bên Kitô giáo Tây phương (Như vậy, chúng ta thực sự hít thở không khí của Thiên Chúa hằng sống “bằng hai lá phổi của Giáo Hội, Giáo Hội Đông phương và Giáo Hội Tây phương). Một số hoàn cảnh của cuộc sống buộc Symêon phải tự mình mô tả cuộc hành trình tâm linh của mình, do đó, lời chứng của ngài có giá trị đặc biệt có ý nghĩa.
Sau một thời gian sống theo tinh thần thế tục, ngài đã gặp được Thiên Chúa. Trong một bức tranh gây ấn tượng, ngài mô tả những hiệu quả của cuộc gặp gỡ này. Ngài viết: “Một người mà trái tim nhiễm độc, bị một tình cảm nội tâm dữ dội tấn công và hành hạ, lại sẽ quan tâm đến những vết thương nhỏ trên thân xác, hoặc sẽ lo lắng cho chúng, người đó là ai vậy? Nỗi âu lo và đau đớn không chịu nổi trong lòng khiến ông ta quên đi những vết thương trên thân xác… Ông sẽ không quay mặt nghiêm khắc với kẻ đã nguyền rủa mình…, sẽ không lo lắng về cơ nghiệp hay sự giầu có của mình, sẽ để mặc tài sản của mình cho bất cứ ai muốn cướp đoạt nó. Ông sẽ không quan tâm đến bất cứ điều gì, thậm chí không nghĩ đến nó, vì sự lo lắng của tâm hồn khiến ông coi mọi sự chỉ là hư không. Bất cứ người nào, chính trực hay không, thậm chí mọi thụ tạo dưới bầu trời, đối với ông, dường như có phúc và đáng được quý trọng… Chỉ riêng ông thấy mình không xứng đáng hiện hữu và hít thở, vì vô số tội lỗi của ông, thấy mình bị bóng tối, ngu muội và đớn đau vô tận bao phủ…” Đó là những gì ý thức về tội lỗi gây ra, “chất độc” này ăn mòn từ bên trong con người ông.
Đây chẳng phải là một xác nhận tuyệt vời về phân tích của triết gia vô thần đối với con người có tôn giáo sao, khi ông nói: “Thiên Chúa sinh ra ở đâu, thì ở đó con người phải chết!”? Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó. Chúng ta hãy lắng nghe phần còn lại của câu chuyện mà Symêon viết ở ngôi thứ ba. Người đàn ông bị bỏ rơi này, một mình kêu lên Thiên Chúa nỗi thất vọng của mình: “Lạy Chúa, Chúa thấy công trình tay Chúa làm ra suy vi tới đâu… Con không biết Chúa; con nghe nói về Chúa mà rùng mình. Làm gì đây? Con không biết! Con không có lý do thoái thác trước mặt Chúa.” Dần dần, vị đắng tan biến, chuyển thành “sự êm dịu của rượu ngọt”; một niềm vui mới lạ chưa từng thấy nảy mầm trong lòng người đó, niềm vui và sự dịu ngọt khiến anh ta “nôn ra chất độc của rồng…” Khi đó cuộc sống của anh “tràn đầy hoan lạc”; niềm vui trong lòng anh coi thường sự chết và âm phủ, mọi điều ác và hiểm nguy”. Anh vui mừng “gấp ngàn lần những ông vua thống trị trái đất, hơn tất cả những người mạnh khỏe, có vẻ đẹp thể hình và giàu có vô hạn”.
Rồi anh bắt đầu một hoạt động mãnh liệt biến đổi nội tâm sẽ tiếp tục suốt cuộc đời anh. Đôi lúc, sau khi đã được đưa lên trời – anh không thể nói là với thân xác hay không – anh trở lại cuộc sống hàng ngày bình thường như thể không có gì xảy ra với anh và anh vẫn còn kinh hãi vì sự lầm than của mình. Đôi khi anh bật khóc vì những đau khổ của người khác và của mình. Cuối cùng, đến ngày anh nghe thấy tiếng nói của Đức Kitô và thấy mình đang ở trước mặt Ngài. “Thưa Thầy, con là ai?… Con đã làm gì mà Thầy phán xét con xứng đáng hưởng những sự lành ấy? Thầy đã đưa con tới những dịu ngọt nào?” Tiếng của Thần Khí đáp lại: “Chừng nào ngươi không được giải thoát khỏi xác thịt, ngươi sẽ không thể thưởng thức niềm vui trọn vẹn và hoàn toàn.” Anh đưa ra câu hỏi mới: “Vậy có gì lớn hơn hoặc nổi bật hơn cái mà con đã có?”. Thì được trả lời: “Ngươi thực bủn xỉn khi hài lòng với những sự lành này, so với những sự lành tương lai, chúng tương đương với thiên đường được vẽ trên giấy đang cầm ở tay: thiên đường này kém hơn thiên đường thật bao nhiêu, thì vinh quang tương lai cao hơn những gì ngươi thấy bây giờ bấy nhiêu và không so sánh được.”
Về cuối đời, anh ta sẽ hát một bài thánh thi vô tận để tạ ơn: “Con cảm tạ Chúa, con tôn thờ Chúa, con phủ phục trước nhan Chúa, lạy Chúa tể vũ trụ… vì Chúa đã làm cho con biết bao nhiêu điều; Chúa đã làm cho con được vẻ vang; Chúa đã tôn vinh con; Chúa đã đáp ứng mọi yêu cầu của con… Chúa đã đưa con từ hư vô tới chỗ hiện hữu… Chúa đã cho con được tự do… Chúa đã thanh tẩy trí khôn con; Chúa đã làm cho linh hồn con biết nhìn xa trông rộng[74]…”
Kết quả của cuộc gặp gỡ này với Thiên Chúa không phải là cái chết mà là sự sống mới trong mọi lãnh vực, kể cả lãnh vực trí thức. Một sự sống quá viên mãn, phong phú, đến nỗi biết bao nhiêu thế hệ Kitô hữu, đặc biệt ở Đông phương, đã kín múc ở đó và ngày hôm nay vẫn còn tiếp tục kín múc rất nhiều. Một kinh nghiệm đã vượt qua thử thách khó khăn nhất, đó là kinh nghiệm về thời gian, về sự thay đổi của các văn hóa và thị hiếu. Kết quả của cuộc phiêu lưu tôn giáo chắc chắn không phải là sự bần cùng hóa hay bị gạt ra bên lề cuộc sống, cũng không phải là sự thu hẹp các chân trời, mà trái lại là sự triển nở công khai nhất của tất cả hữu thể.
Những chứng từ này được nêu lên trong cuộc đời của các thánh chỉ là xác nhận giáo huấn của Kinh Thánh. Bình giải tước hiệu “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và của Giacóp”, Đức Giêsu xác định rằng “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống” (Lc 20,38). Thiên Chúa hằng sống là điều kiện để con người cũng được sống. Thánh Irênê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống, và sự sống của con người là được nhìn thấy Thiên Chúa[75].” Không có sự cạnh tranh nào, không có sự xung khắc nào giữa hai bên, nhưng là sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính chất sinh tử. Thiên Chúa của Kinh Thánh không muốn con người phải chết, cũng không muốn “hy tế đổ máu”, nhưng muốn cho “con người thay đổi đường lối để được sống” (Ed 33,11). Đức Giêsu nói: “Tôi đến để cho họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Trước những cuộc đời như của Pascal, của thánh Symêon và của vô số những Kitô hữu khác, là những người vui mừng và hát lên: “Vui! Vui! Thật vui!”, [phương tiện bảo vệ duy nhất còn lại cho người vô thần là nghi ngờ về niềm vui này]. Thánh Bênađô đã viết rằng một khi dấn thân vào con đường hoàn toàn tự chủ liên quan tới Thiên Chúa, con người “thích khẳng định sự độc lập của mình đối với Thiên Chúa, ngay cả khi phải trả giá bằng sự bất hạnh của mình, hơn là được hạnh phúc trong sự vâng phục Thiên Chúa[76].” Ở đây, chúng ta nhận ra một khía cạnh thuộc “thảm kịch của chủ nghĩa nhân bản vô thần”: buộc phải lựa chọn giữa hạnh phúc và tự do, là tù nhân của một khái niệm tự do, mà, tự bản chất, dẫn đến bất hạnh.
Trước khoa thần bí, sự hoài nghi đã mang một hình thức tinh vi và lừa lọc. Người ta nói rằng việc mô tả các trạng thái thần bí nhắc nhớ rất gần gũi các trạng thái yêu đương; những gì các nhà thần bí mô tả về tình yêu Thiên Chúa thực sự rất gần với những biểu hiện của tình yêu con người! Cuộc hôn nhân thần bí của họ với Thiên Chúa lại không phải là một sự “thần bí hóa”, một sự thăng hoa hay một sự thay thế cho hôn nhân tự nhiên sao? Đây là câu trả lời của tôi: tại sao, đúng hơn, không xem xét giả thuyết ngược lại và cho rằng hôn nhân tự nhiên chỉ là bắt chước, trong khi hôn nhân thần bí mới là thực tế? Không phải là chính đáng hơn khi coi sự kết hợp tính dục là một biểu tượng, một dụ ngôn và như nhắm tới “sự viên mãn” khác mà các nhà thần bí đã nếm thử trước sao? Còn hơn thế nữa vì phải chăng sự kết hợp tính dục rõ ràng mang trong mình những dấu hiệu của sự không trọn vẹn, bấp bênh và khát vọng về một thực tại vừa sâu sắc vừa khác biệt? Chúng ta được tạo ra không phải để sống trong một mối tương quan vĩnh cửu của đôi lứa nhưng là trong một mối tương quan vĩnh cửu với Thiên Chúa, với Đấng Tuyệt Đối. Không phải một nhà thần bí, cũng không phải một người của Giáo Hội, đã thốt ra câu nổi tiếng: “Tất cả những gì qua đi chỉ là dụ ngôn[77].”
Bản chất của hoài nghi và “tai ác” của nó nằm ở chỗ nó thoát khỏi mọi đối đầu và do đó mọi khả thể bị phản bác. Người ta có thể phản bác một lý do, một sự kiện, nhưng không thể phản bác một hoài nghi. Hoài nghi liên quan đến ý muốn hơn là đến lý trí. Nó gần gũi với bản chất của tội lỗi, là “tự ý.” Con rắn không lôi kéo Ađam và Evà đến chỗ phạm tội bằng cách đưa ra một lý do chống lại Thiên Chúa, nhưng bằng cách làm cho họ nghi ngờ Thiên Chúa.
Do đó người ta không thể loại bỏ sự hoài nghi bằng suy luận. Nhưng có lẽ không tốt nếu loại bỏ nó, vì chính nhờ nó mà tin trở thành một việc nghiêm trọng. Sự kiện có thể nghi ngờ bên trong hoặc bên ngoài chúng ta sẽ thanh tẩy đức tin và giữ cho người tin ăn ở khiêm nhường. Theo nghĩa này, con đuòng đi vào trong lịch sử thế giới của các triết gia vô thần, mà chúng ta đã nói hoặc sẽ nói sau này, đã không vô ích. Thật nghịch lý, họ đã phục vụ và vẫn phục vụ cho chính nghĩa của đức tin mà họ muốn tiêu diệt.
Lời kinh của vị thánh đã đồng hành với chúng ta trong chặng đường này của cuộc hành trình, chúng ta hãy coi đó là lời kinh của mình:
“Con cảm tạ Chúa, con tôn thờ Chúa, con phủ phục trước nhan Chúa, lạy Chúa tể vũ trụ… vì Chúa đã làm cho con biết bao nhiêu điều; Chúa đã làm cho con được vẻ vang; Chúa đã tôn vinh con; Chúa đã đáp ứng mọi yêu cầu của con… Chúa đã đưa con từ hư vô tới chỗ hiện hữu… Chúa đã cho con được tự do… Chúa đã thanh tẩy trí khôn con; Chúa đã làm cho linh hồn con biết nhìn xa trông rộng”.
Những suy nghĩ cuối cùng của chúng ta về “sự hoài nghi” đã dẫn chúng ta đến với một môi trường rất khác với môi trường của chúng ta. Những người quen với núi Sinai cho biết, vào một số mùa trong năm, đôi khi mưa gió dữ dội xảy ra đột ngột khi đang lên núi. Bây giờ cả chúng ta nữa cũng sẽ phải đương đầu với một trong những cơn bão này. Như thường lệ trong những tình huống như vậy, chúng ta sẽ gặp những người đi xuống, vừa đi vừa bảo chúng ta: “Lùi lại! Lùi lại!”
Là vì giờ đây chúng ta đi đến vấn đề mấu chốt. Không thể đi xa hơn trên con đường của chúng ta, như thể Thiên Chúa hằng sống là một niềm tin được mọi người chấp nhận một cách hòa bình trong tinh thần chia sẻ. Như thể con đường dẫn đến Ngài chỉ là một cuộc dạo chơi bình yên hay một cuộc diễu hành khải hoàn. […] Trong cuộc sống cụ thể, chúng ta thường xuyên bị tấn công bởi những tiếng nói mâu thuẫn với những gì đã nghe từ trước đến nay; chúng ta không thể bỏ qua chúng. Vì hai lý do: thứ nhất, vì chúng ta phải “trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta” (1Pr 3,15); thứ hai, vì những lý do mà những người vô tín đưa ra, rốt cuộc cho thấy một hiệu quả khác thường trong việc thanh tẩy lòng tin vào Thiên Chúa của những tín hữu.
Trong bối cảnh này, tôi sẽ phải nói về các học thuyết và các nhà tư tưởng, mà chắc chắn không phải ai cũng quen thuộc. Đừng có ai nản lòng: chúng ta sẽ mau lại được hít thở không khí trong lành hơn. Khi người ta muốn vượt qua một eo biển, điều quan trọng nhất là đừng dừng lại trên bãi biển để xem xét kỹ lưỡng những gì có thể hoặc không thể nhìn thấy ở bờ biển đối diện. Thực tế hơn, là lấy thuyền sang bờ bên kia. Tương tự như vậy đối với chúng ta: điều quan trọng hơn hết không phải là tư biện về Thiên Chúa hằng sống, để cố hiểu những trình bày khác nhau, thuận hay nghịch, của các triết gia về vấn đề, nhưng là ở trong đức tin của Giáo Hội, người đưa chúng ta đến với Thiên Chúa hằng sống. Ngay cả ngày nay, thách đố được đưa ra cho các tín hữu là: “Thiên Chúa ngươi ở đâu? ” (Tv 42,4). Chúng ta hãy nêu ra thách đố đau đớn này, đừng quên rằng chúng ta đạt đến chân lý không phải bằng cách tranh luận với kẻ thù, nhưng bằng cách vun đắp nó, yêu mến, giới thiệu nó vì chính nó.
Trong thế giới hôm nay, một trở ngại về văn hóa có mặt khắp nơi và bén rễ sâu chống lại đức tin và việc loan báo Thiên Chúa hằng sống, đến độ khiến cho những việc đó, ngay từ đầu, là bất khả trong một số trường hợp. Do đó, cần phải vạch mặt chỉ tên và, ngần nào có thể, loại bỏ trở ngại này. Bởi vì đó là một ý nghĩ len lỏi vào tâm trí mọi người như một liều thuốc độc có thể vô hiệu hóa việc loan báo Phúc Âm, ngay cả trước khi nó đến được với trái tim. Một loại “thuốc tránh thai” khủng khiếp giết chết hạt giống Lời Chúa, ngăn không cho nó làm tổ trong tâm trí và sinh ra sự sống vĩnh cửu trong linh hồn. Ngay cả khi nó không hoạt động như một điều chắc chắn trái ngược với đức tin, ý nghĩ này vẫn len lỏi làm cho người ta hoài nghi và không thể xét đoán. Nó mang hỉnh thức một lập luận hấp dẫn do cực kỳ đơn giản. Nó cho người ta có cảm tưởng là cùng một lúc làm rõ mọi sự: “Không phải Thiên Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài, chính con người đã tự biến mình thành một Thiên Chúa theo hình ảnh riêng của mình… Khi tôn thờ Thiên Chúa, con người tôn thờ chính mình mà không hay, và càng tôn thờ Thiên Chúa thì con người càng tôn thờ chính mình.”
Phải chăng chúng ta đang đứng trước một loại cách mạng Copernic thuộc trật tự tinh thần? Nếu từ trước đến nay người ta luôn nghĩ rằng vật chất là một dẫn xuất của tinh thần, thì từ đây người ta tuyên bố tinh thần là một dẫn xuất của vật chất. Đây là nhãn quan của Plato về thực tại, nhưng là nhãn quan đảo ngược. Vật chất không còn là sự phóng chiếu, bóng mờ, hình ảnh hư ảo của thế giới thần linh và thiêng liêng; hoàn toàn ngược lại, chính thế giới thần linh mới là sự phóng chiếu của con người lịch sử và của thiên nhiên trong một thế giới tưởng tượng và lý tưởng.
Với giả định này trong tâm trí, bất cứ ai nghe thấy sứ điệp của Kitô giáo về Thiên Chúa, về Đức Giêsu Kitô, về sự sống vĩnh cửu, sẽ phản ứng đúng như chúng ta có thể tưởng tượng Copernic và một vài bạn thân, biết được khám phá của ông, sẽ phản ứng. Nếu trong một bài giảng hoặc một cuộc trò chuyện, họ được nghe lặp đi lặp lại rằng mặt trời xoay quanh trái đất, thì một cái nháy mắt thôi, như giữa những người thực sự biết sự việc, sẽ đặt mọi thứ vào trật tự! Khác biệt duy nhất là ở chỗ các bạn của Copernic có lý, trong khi những “Copernic hiện đại” đã lầm: họ đã vượt quá giới hạn và muốn chúng ta tin rằng không phải mặt trời xoay quanh trái đất, cũng không phải trái đất xoay quanh mặt trời, mà là mặt trời không tồn tại; rằng mặt trời chỉ là sự khách quan hóa một nhu cầu của trái đất. “Không còn thiên đường! Không còn địa ngục! Không có gì khác ngoài trái đất[78]!”
Công việc tôi đang cố gắng mô tả liên quan đặc biệt đến ba tên tuổi lớn trong một số môi trường văn hóa của hai thế kỷ qua: Feuerbach, Marx, Freud. Hai vị sau đã xây dựng công trình của họ – một vị làm công khai, một vị làm ngấm ngầm – dựa trên lý thuyết của vị đầu tiên, là người trình bày phiên bản gốc. Như người ta biết, đối với Feuerbach, yếu tính thần linh là yếu tính của con người được thanh tẩy và giải thoát khỏi những giới hạn của mỗi con người cụ thể, yếu tính ấy được chiêm ngưỡng và tôn kính như thể nó là một yếu tính phân biệt với chính mình, “một loại tinh chất của một số đông người có thực.” “Trong tôn giáo, con người khách quan hóa yếu tính bí ẩn của mình; anh ta được phản ánh trong một hữu thể là hữu thể sâu thẳm của anh ta.” Chính Feuerbach là người đã thay thế quả quyết của Kinh Thánh “Thiên Chúa là tình yêu” bằng quả quyết “tình yêu là Thiên Chúa” (“tình yêu” hiểu theo nghĩa yêu mình)
Nói cách khác, không phải Thiên Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh và giống mình, như Kinh Thánh nói, nhưng chính con người đã tạo ra Thiên Chúa như một hình ảnh rút ra từ chính mình, một sản phẩm tuyệt vời do mình tưởng tượng. “Tin vào Thiên Chúa không gì khác hơn là tin vào phẩm giá của con người.” Con người gán cho Thiên Chúa những gì tốt hơn nơi mình. Chính vì vậy nó càng làm cho Thiên Chúa hoàn hảo, thì càng làm cho con người mất hoàn hảo; Thiên Chúa càng giàu lên thì con người càng nghèo đi. “Chỉ có người nghèo mới có một Thiên Chúa giàu có. Thiên Chúa đáp ứng cảm thức về một nhu cầu.”
Tiếp đến, cũng triết gia trên sẽ xác định rõ học thuyết của mình bằng cách đồng hóa Thiên Chúa với yếu tính của thiên nhiên hơn là với yếu tính của con người. “Không phải sự hiện hữu của thiên nhiên dựa trên sự sự hiện hữu của Thiên Chúa, mà ngược lại, sự hiện hữu của Thiên Chúa, hoặc đúng hơn, niềm tin vào sự hiện hữu của Ngài dựa trên sự hiện hữu của thiên nhiên[79].” Trên thực tế, vị trí phát xuất vẫn được giữ nguyên.
Điều luôn gây ấn tượng cho tôi, đồng thời khiến tôi có chút nghi ngờ, là lưu ý cách những người […] hình thành một số châm ngôn của họ bằng cách đảo ngược có hệ thống các chân lý nền tảng của Kitô giáo. Kinh Thánh nói: “Đức Giêsu Kitô vốn giầu sang phú quý, nhung đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có” (2Cr 8,9). Theo mạc khải, chính Thiên Chúa đã trở nên nghèo khó để làm cho con người được giầu có, chứ không phải ngược lại, như Feuerbach quả quyết.
Tên của Feuerbach trong tiếng Đức có nghĩa là “dòng thác lửa”. Theo Marx, nếu chúng ta muốn đạt tới sự thật, thì từ đây chúng ta phải vượt qua dòng thác lửa này. Nó là “lò luyện tư tưởng hiện đại[80]“. Chính Marx đã mang lại cho hoạt động nổi bật này sự thành công như ta biết: ông đã biến nó thành cơ sở lý thuyết cho chủ thuyết […] của mình, nhưng chuyển đổi dấu nhấn. Đối với Feuerbach, Thiên Chúa trước hết là sự khách thể hóa yếu tính của con người, con người là gì, những sự hoàn hảo của con người, và chỉ sau đó mới là sự nghèo nàn và trống rỗng của con người. Vậy con người là ảo tưởng, nhưng là ảo tưởng hoàn toàn, theo cách riêng của nó, bởi vì có một nội dung tích cực. Theo Marx, Thiên Chúa cũng là sự khách thể hóa nhưng không phải ở yếu tính tích cực của con người, ở chỗ con người là gì, cho bằng ở những nhu cầu không được thỏa mãn của nó. Ông viết: “Tôn giáo là tiếng thở dài của thụ tạo bị bất hạnh đè nặng, linh hồn của một thế giới nhẫn tâm. Nó là một thứ thuốc phiện cho dân… Tôn giáo chỉ là mặt trời hư ảo di chuyển xung quanh con người, chừng nào con người không tự di chuyển xung quanh mình[81].”
Điểm nhấn chuyển từ vấn đề Thượng Đế sang vấn đề thế giới bên kia, thiên đường. Thiên đường này được xem là nơi con người chuyển đến những kỳ vọng chưa thành và những giọt “nước mắt” đổ vào thung lũng cuộc đời này. Ý tưởng về Thiên Chúa phát sinh từ ý tưởng về một thế giới bên kia, về một phần thưởng bên ngoài cõi thế. (Sự phát triển của đức tin Kinh Thánh hoàn toàn bác bỏ chủ đề này: trên thực tế, Israel tin vào một Thiên Chúa thánh thiện và toàn năng trong nhiều thế kỷ trước khi chắc chắn về phần thưởng dành cho người công chính ở đời sau, và họ đã duy trì niềm tin vào một Thiên Chúa như vậy, ngay cả khi đã chắc chắn là không có phần thưởng trần gian nào cho họ khác hơn hoặc tốt hơn phần thưởng dành cho những người vô đạo).
Như vậy Thiên Chúa là sự phóng chiếu ảo tưởng vào một thế giới tưởng tượng không phải của một sự sung mãn nhân tính, nhưng của một nhu cầu, một khoảng trống, và do đó, mang tính tiêu cực gấp đôi. Ngài chỉ là “hướng mà con người kêu lên theo hướng đó.” Chính lý thuyết này của Freud có được một màu sắc mới, không còn mang tính kinh tế–xã hội, mà mang tính tâm lý học, nhưng không vì vậy mà bản chất của nó bị thay đổi. Tôn giáo, giống như chính Thiên Chúa, là một “ảo tưởng”, chính là sự khách thể hóa nhu cầu vô thức về sự che chở của người cha và người mẹ mà con người giữ lại sau khi đã qua tuổi thơ. Ông viết: “Chính trong mặc cảm về cha mẹ mà chúng ta nhận ra cội rễ của nhu cầu tôn giáo. Chúng ta coi Thiên Chúa công chính và toàn năng và Thiên Nhiên tốt lành như những thăng hoa vĩ đại của người cha và người mẹ[82].” Một lý thuyết phủ định kép: sự khách thể hóa không phải một thực tại nhưng là một nhu cầu và một khoảng trống.
Ảnh hưởng mà luận đề này tiếp tục gây ra trong thế giới Tây phương trong số những người được giáo dục tốt là khôn lường. Nói chung, ý tưởng này về Thiên Chúa và tôn giáo được giữ lại như một giả định hòa bình và được chứng minh trong cái gọi là “các tạp chí thời sự và văn hóa”, khi các tạp chí này đề cập vấn đề ấy; chúng là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để phổ biến văn hóa thế tục này. Người ta thấy lại ở đó sự nghi ngờ ngăn cản nhiều người tiếp cận đức tin hoặc ngăn cản họ công khai tuyên bố mình là tín hữu khi họ sống trong xã hội.
Như vậy, trên thế giới, hành động của người mà Đức Gioan Phaolô II đã vạch mặt như là “thần ngờ vực trong chân tướng tai ác”, trong thông điệp về Chúa Thánh Thần[83], vẫn còn tiếp tục. Khi người ta muốn đi vào trọng tâm những lập luận được ba tác giả mà chúng ta vừa trích dẫn đưa ra, người ta nhận thấy rằng tất cả những gì vững chắc không tạo ra một bằng chứng mà chỉ là sự nghi ngờ Thiên Chúa hiện hữu. Vì ngay cả khi Thiên Chúa mà chúng ta tin là một sự khách thể hóa con người, một “yếu tính được mong muốn”, thì điều này không liên quan tí nào đến sự hiện hữu hay không hiện hữu thực sự của Ngài. Đừng quên rằng trên cơ sở bình đẳng, người tín hữu có thể gây nghi ngờ cho người vô tín bằng cách nại tới suy tư của triết gia Francois Bacon: “Những người duy nhất dám phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa là những người tin rằng Ngài không hiện hữu thì có lợi[84].”
Hơn nữa, cách tiến hành này hướng sự nghi ngờ về con người ngay cả trước khi hướng nó về Thiên Chúa. Bởi vì chính con người được tuyên bố là đáng ngờ trong những ước muốn sâu xa nhất của anh ta. Freud viết: “Chắc chắn sẽ rất đẹp nếu có một Thiên Chúa sáng tạo ra thế giới và Đấng Quan Phòng đầy lòng nhân từ, một trật tự đạo đức của vũ trụ và một cuộc sống tương lai, nhưng rất lạ là tất cả những điều đó đúng là những điều chúng ta có thể mong ước cho chính chúng ta[85].”Một quả quyết cho thấy sự khinh miệt sâu xa đối với con người: một điều trở thành đáng ngờ chỉ do sự kiện là con người quan niệm nó và ước muốn nó! Như vậy người ta có thể nghi ngờ tình yêu và hôn nhân với lý do chúng đáp ứng một ước muốn phổ quát và một nhu cầu sâu xa của trái tim con người, hoặc người ta có thể phủ nhận sự tồn tại của chân lý và hạnh phúc chỉ vì con người khao khát chúng. […]
Một nhiệm vụ quan trọng là quay lại điểm phát xuất và tố cáo không mệt mỏi công việc tuyệt vời nhưng dối trá, nguồn gốc của tất cả những lý thuyết này. Đây cũng là dịp để hành động theo đường lối của Thiên Chúa: tránh kết án con người cùng với những sai lầm của họ, và lương tâm của họ mà chỉ một mình Thiên Chúa biết. Do đó, không có cuộc thập tự chinh nào, nhưng đúng hơn, tôn trọng người nào ít ra đã chấp nhận coi vấn đề Thiên Chúa là quan trọng. “Trong hai người không có kinh nghiệm về Thiên Chúa, người phủ nhận Ngài có lẽ ở gần Ngài hơn”: đây là nhận xét sáng suốt của Simone Weil.
Nhớ rằng tin vào Thiên Chúa hằng sống, ngay cả trước khi là một cuộc chinh phục, thì đã là một hồng ân Thiên Chúa ban cho, chúng ta hãy cầu xin cho chính mình và cho người khác có được đức tin ấy, bằng cách lấy lại lời cầu nguyện “cho những người không tin vào Thiên Chúa”, mà Giáo Hội đưa ra trong phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh:
“Lậy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã dựng nên con người, để họ hết lòng tìm kiếm Chúa, và để lòng họ được xoa dịu khi tìm thấy Chúa, xin cho mọi người đang sống giữa những khó khăn của thế giới này, có thể nhận ra những dấu chỉ sự tốt lành của Chúa và gặp được nơi chúng con những chứng nhân của tình yêu Chúa: xin cho họ có được hạnh phúc khi nhận ra và tin vào Chúa, là Thiên Chúa duy nhất chân thật duy nhất và là Cha của mọi người. Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.”
17. NHỮNG VŨ KHÍ CHIẾN ĐẤU CỦA CHÚNG TA
Để làm tốt nhiệm vụ mà chúng ta đã đề ra cho mình, phần khởi đầu thư của thánh Phaolô gửi cho người Rôma giúp đỡ chúng ta nhiều nhất. Ở đó, thánh Tông Đồ trình bày chẩn đoán của ngài về tình hình của thế giới ngoại giáo thời ngài. Trước hết chúng ta hãy nói đôi chút về bản chất của chẩn đoán này và nền tảng của nó. Người ta có thể dễ dàng phản đối thánh Phaolô: “Ngài thậm chí không phải là một triết gia, ngài còn lâu mới nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả các tác giả ngoại giáo, và, trong nửa trang của bức thư, ngài tự phụ đưa ra lời xét đoán về những thế kỷ nghiên cứu và kết quả, và xét đoán những con người mà trước mặt họ ngài không có tư thế gì cả!”
Theo Origen, kẻ ngoại đạo Celsô hầu như cũng dùng những hạn từ này khi đánh giá những lời khẳng định của Kinh Thánh trong cuốn “Diễn thuyết trung thực” của ông chống lại các Kitô hữu. Hiển nhiên, còn dễ dàng hơn việc đưa ra những lời trách móc tương tự đối với bất kỳ ai đề nghị nại tới thánh Phaolô để bác bỏ hàng thế kỷ những tư biện sáng chói của châu Âu và phương Tây, hoặc để tấn công những tên tuổi mà cả một nền văn hóa và một xã hội đã nghiêng mình bái phục, và không phải không có lý do.
Trước những phản đối có thể đoán trước này, thánh Tông Đồ đã trả lời ra sao? “Khí giới chúng tôi dùng để chiến đấu không phải là thứ khí giới thuộc xác thịt, nhưng là những khí giới, nhờ Thiên Chúa, có sức mạnh đánh đổ các đồn lũy. Chúng tôi đánh đổ các kiểu lý luận và mọi thái độ kiêu căng chống lại sự hiểu biết Thiên Chúa” (2Cr 10,4-5).
Thứ nhất, các lập luận của chúng ta sẽ không thuộc “xác thịt”: chúng ta không muốn đưa ra một quan điểm hợp lý chống lại một quan điểm hợp lý khác. Lý do của chúng ta không ở trên cùng một bình diện; chúng không dựa trên một sự phân tích và bác bỏ tỉ mỉ: chúng đi thẳng vào trọng tâm vấn đề.
Thứ hai, những lập luận này dựa vào quyền năng “của Thiên Chúa” chứ không phải của con người hay nhà giảng thuyết. Thánh Phaolô tuyên bố: “Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí” (2Cr 3,5-6).
Thứ ba, chúng có thể đánh đổ các “đồn lũy”. Lý thuyết chúng ta vừa nhắc lại ở trên đặt chúng ta trước một bức tường thành được dựng lên chống lại sự hiểu biết hoặc thừa nhận Thiên Chúa. Tư tưởng của con người, một cách nào đó, coi khinh những luận chứng này. Nhưng lời Chúa, như thánh Phaolô còn viết, có sức mạnh đánh đổ những đồn lũy này, phá hủy những lý luận này. Đức Giêsu đã trả lời cho những kẻ thù: “Các ông không biết Kinh Thánh cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa” (x. Mt 22,29). Những lời ấy, ngày nay Thần Khí còn nói ngay cả với những tín hữu: anh em không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa chứa đựng trong đó! Chính vì vậy anh em rất ít nại tới nó và rất ít chờ đợi nơi nó! Anh em cho sứ điệp của mình dựa vào “những lời lẽ khôn ngoan hấp dẫn” hơn là dựa vào “bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa” (1Cr 2,4). Anh em nghĩ mình đã đạt được mức tối đa khi nghĩ mình có thể dựa vào một triết gia này để chống lại một triết gia khác thù địch với anh em, dựa vào một trường phái có vẻ thuận lợi hơn chống lại một trường phái khác đối nghịch vói anh em. Chính xác giống như thời kỳ của những liên minh xen kẽ này, khi thì đi với Ai Cập chống lại Syria, lúc lại đi với Syria chống lại Ai Cập, một điều đã làm cho Thiên Chúa và các tiên tri trong Cựu Ước nổi cơn thịnh nộ và mang lại kết quả không chấp nhận được mà cũng không lâu bền. Chắc chắn nơi các Kitô hữu cũng có chỗ cho loại nỗ lực này: đó là hộ giáo. Nhưng hộ giáo không phải là tất cả, lại còn ít nói điều chủ yếu. Không phải nhờ hộ giáo, nhưng nhờ khởi giảng được công bố trong Thần khí và quyền năng, mà các Tông Đồ đã Phúc Âm hóa và hoán cải thế giới.
Yêu cầu duy nhất: lời công bố “trong Thần Khí và quyền năng” cùng lúc phải triệt để khiêm tốn, không dính dáng với bất cứ tự phụ nào phải “chiến thắng lúc này”, nghĩa là chiến thắng ngay cả trên bình diện con người và lý trí. Thông thường, con người phải thua trong cuộc đối đầu này để Thiên Chúa thắng. Khi Phaolô rời Arêôpagô ở Athêna, thính giả nhìn sau lưng ngài mà thương hại… Đó lại không phải là một hình ảnh khá trung thực với những gì sứ giả Phúc Âm bắt gặp, khi xâm nhập vào thành trì khôn ngoan của thế giới này sao? Có lẽ chính kinh nghiệm này phải chăng đã giúp cho thánh Tông Đồ sau này viết một bản văn rất hùng hồn về những vũ khí chiến đấu “không thuộc xác thịt” của chúng ta?
Khi chuẩn bị đáp lại những lời chỉ trích của Celsô chống lại đức tin Kitô giáo, Origen đã thưa lên với Chúa một lời kinh mà tôi dám coi nó là của mình vào lúc này:
“Xin Chúa ban cho con không đề cập một chủ đề như vậy với tinh thần và lý trí thuần túy của con người, và không có sự linh ứng của Thần Khí, để đức tin của những người con muốn giúp đỡ không dựa trên sự khôn ngoan của loài người… và để con có thể tiêu diệt bất kỳ quyền năng nào chống lại sự hiểu biết Thiên Chúa… Và xin Đấng ban cho “các sứ giả của Lời Ngài với quyền năng lớn lao” cũng ban cho con điều ấy… để đức tin dựa trên Lời và quyền năng Thiên Chúa có thể nẩy sinh nơi các người đọc[86].”
18. BIẾT THIÊN CHÚA LÀ NHẬN RA NGÀI
Mở đầu thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma, chúng ta đọc: “Từ trời, Thiên Chúa mạc khải cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính của những người lấy sự bất chính mà giam hãm chân lý. Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người. Do đó họ không thể tự bào chữa được, vì tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội” (Rm 1,18-21).
Trong tâm trí những người học thần học, bản văn này hầu như chỉ liên kết với đề tài về khả năng hiểu biết tự nhiên về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Chính vì vậy, một khi câu hỏi này đã được giải quyết hoặc khi nó không còn mang tính thời sự như trước đây, nó rất ít khi được trích dẫn và người ta không quan tâm làm cho nó nổi bật. Tuy nhiên, trong bối cảnh của bức thư, vấn đề khả năng hiểu biết tự nhiên về Thiên Chúa hoàn toàn ở bên lề. Trên thực tế, giáo huấn của thánh Tông Đồ có tầm quan trọng rất khác: nó vang lên như một “tiếng nói của Chúa,” “tiếng sấm”, có khả năng làm gẫy nát ngay cả những cây hương nam ở Libăng.
Thánh Tông Đồ muốn minh chứng một sự thật rất chính xác: đó là mọi người đều đã phạm tội, không trừ ai. Theo nguyên tắc này, ngài chia thế giới thành hai nhóm: nhóm người Hy Lạp và nhóm người Do Thái, tức nhóm người ngoại giáo và nhóm người tin. Phần đầu của bản cáo trạng, ngài chống lại tội của dân ngoại. Tội cơ bản này của thế giới ngoại giáo, ngài cho thấy đặc tính của nó là sự vô đạo và bất chính. Ngài coi đó là một âm mưu chống lại sự thật. Không phải chống lại sự thật đặc biệt này khác, nhưng chống lại sự thật là nguồn gốc của mọi sự. Và ngài lập tức giải thích điều đó (chính về vấn đề này mà ngài đề cập chủ đề khả năng hiểu biết tự nhiên về Thiên Chúa). Theo ngài, những người ngoại giáo có thể biết Thiên Chúa và họ đã biết Ngài. Họ đã biết ít nhiều rõ ràng là có một Thiên Chúa, nhưng họ không tôn vinh hay cảm tạ Ngài cho phải đạo. Họ dừng lại nửa đường, không đi đến những hệ quả cuối cùng: đến một lúc nào đó, họ không chịu đi xa hơn trong lý luận và tâm trí họ ra mê muội. Chính đó là tội lỗi làm cho họ “không thể tự bào chữa được“.
Do đó, vấn đề ở đây không phải là sự vô tri thuần túy, như Socrate và những người Hy Lạp đã nghĩ. Một tội lỗi như vậy trước hết không thuộc lãnh vực tri thức nhưng thuộc lãnh vực ý chí. Nó hệ tại ở chỗ ý chí từ chối làm theo tiếng nói của lương tâm; từ chối trông thấy cách dứt khoát, chứ không đơn giản là không thấy. Về điểm này, thánh Gioan hoàn toàn đồng ý với thánh Phaolô: tội, chính là không đón nhận ánh sáng, và không đón nhận ánh sáng để khỏi phải từ bỏ những việc làm xấu xa (x. Ga 3,19). Tội, không phải là mù quáng; chính là thấy và không hành động phù hợp với những gì mình thấy (x. Ga 9,41).
Ở đây, nảy sinh một ý kiến phản đối. Làm sao thánh Tông Đồ có thể chắc chắn rằng dân ngoại “đã biết Thiên Chúa”, trong khi ở chỗ khác, ngài quả quyết ngược lại rằng “thế gian, dù hết sức khôn ngoan, vẫn không biết Thiên Chúa” (1Cr 1,21)? Câu trả lời nằm ở chỗ có hai cách biết: cách của người Hy Lạp, cũng có thể gọi là cách cổ điển và triết học, và cách của Kinh Thánh. Các tác giả có tư cách và được công nhận mô tả như sau về hai cách thức đó. Đối với người Hy Lạp, biết là một cách nhìn, là chiêm ngưỡng đối tượng từ xa, trong sự bất động của nó; là tìm cách rút ra mô thức của nó, nghĩa là những phẩm tính cốt yếu của nó, để hiểu nó và làm chủ thực tại của nó. Nhưng đối tượng biết và chủ thể biết tách biệt nhau, không có tác động qua lại, để tính khách quan của tri thức không bị xáo trộn. Ngược lại, đối với con người Kinh Thánh, biết là có kinh nghiệm về đối tượng, đi vào trong tương quan với nó, quan tâm đến nó và cảm thấy nó liên quan đến mình. Do đó, đối với một người Hy Lạp, biết Thiên Chúa là chiêm ngưỡng thực tại tối cao, Hữu Thể trong yếu tính bất biến; đối với một người Do Thái, đó là nhận ra Ngài trong công trình của Ngài, đáp lại những lời kêu gọi và đòi hỏi của Ngài. Cách thức trước chỉ đơn giản là biết (connaitre) Thiên Chúa; cách sau còn dẫn đến chỗ “nhận ra” (re-connaitre) Ngài.
Vì vậy ý nghĩa những lời của thánh Tông Đồ được làm sáng tỏ: dân ngoại đã biết Chúa theo cách thứ nhất, nhưng họ đã không biết Ngài theo cách thứ hai. Biết Thiên Chúa không phải là biết nhiều điều về Ngài, nhưng biết Ngài là Thiên Chúa, không hơn: “để các ngươi nhận biết và tin Ta, và hiểu rõ Ta vẫn là Ta“, như chính sấm ngôn của Thiên Chúa (Is 43,10). Điều còn thiếu cho những người ngoại giáo và làm thành tội của họ là đã không tôn vinh và cảm tạ Ngài. Chúng ta có thể nói rằng họ đã có đến hai thiếu sót, tức là: Thiên Chúa có sao thì nhận ra Ngài có vậy, và bày tỏ lòng biết ơn Ngài.
Thánh Augustinô đã nhận thức rõ các triết gia ngoại giáo, về cơ bản, thiếu khiêm nhường. Vì vậy họ không đón nhận việc Nhập Thể mà họ cho là vô lý và lố bịch. Một sự kiện mang tính chất báo hiệu: sự khiêm nhường đã không bao giờ được thừa nhận trong danh mục các nhân đức của người Hy Lạp và ngoại giáo. Đối với những người ngoại giáo khôn ngoan, sự khiêm nhường chỉ là vô giá trị, không khác gì nhút nhát và tầm thường. Theo họ, chính ý tưởng về một Thiên Chúa khiêm nhường dường như là một cực điểm của vô nghĩa. “Khiêm nhường là điều đáng ghê tởm đối với người ngoại giáo[87].” Ngoại giáo kết thúc trong sự vô luân vì đã bắt đầu từ sự thiếu khiêm nhường.
Hiểu tất cả những điều đó theo cách nào? Phải chăng văn chương ngoại giáo có lẽ đã không biết đến những thánh thi ca ngợi thần minh và tạ ơn vì các ân huệ của thần minh? Hoàn toàn không phải vậy! Thánh Phaolô đã công nhận là người Athêna “sùng kính thần minh hơn ai hết” (Cv 17,22). Chính là một sự thiếu sót khác, triệt để hơn: họ đã không tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa, xứng đáng với Ngài là Thiên Chúa và chỉ dành cho một mình Ngài. Phaolô nói rõ trong thư của mình: họ đã không tôn vinh và tạ ơn Ngài cho phải đạo.
Tín ngưỡng ngoại giáo bày tỏ sự sợ hãi và tôn kính một cách chung chung đối với “thần minh”; người ta hiểu thần minh với dấu hiệu tích cực là Thiên Chúa, hoặc thần minh với dấu hiệu tiêu cực là ma quỷ, hoặc các thần ở trên bầu trời hay các thần ở âm phủ. Trong câu chuyện cám dỗ ở sa mạc, khi ma quỉ đề nghị Đức Giêsu tôn thờ nó, nó không đề nghị một cử chỉ mới, nhưng chỉ đơn giản là cử chỉ mà cho đến lúc đó, nó thường có được nơi những người ngoại giáo. Nhân dịp này, Đức Giêsu chấm dứt vĩnh viễn tình trạng nước đôi khi tuyên bố người ta phải “bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (x. Mt 4,10).
Vậy thế giới ngoại giáo thiếu một nhận thức triệt để, đó là: Thiên Chúa là tất cả, và không gì cũng như không ai có thể hiện hữu trước mặt Ngài nếu không phải nhờ “ơn” của Ngài; con người là cho vinh quang Thiên Chúa chứ không phải cho vinh quang của mình; Thiên Chúa không phải là một hữu thể mà người ta có thể nói và định đoạt theo ý mình, như thể ai đó có thể coi mình ngang hàng với Ngài và coi Ngài như một người đối thoại có thẩm quyền. Người ta đã mất ý thức về sự khác biệt vô biên về phẩm chất giữa Thiên Chúa và con người, hay chính xác hơn, người ta chưa bao giờ ý thức được điều đó. Sự khác biệt căn bản giữa Thiên Chúa và con người đã bị suy giảm hoặc mờ nhạt bởi tất cả một loạt các thực tại, các “quyền lực” cấp thấp, được gọi là “các thần trung gian” hoặc “thuộc loại hai”.
Kết quả là người ngoại giáo không biết đến hành vi hoàn toàn dành riêng cho Thiên Chúa; không biết đức tin theo nghĩa mạnh nhất của Kinh Thánh, và cũng không biết thờ phượng. Sự thờ phượng (prokynesis), họ dành nó cho Thiên Chúa, mà cũng dành cho ông vua, cho chúa tể, cho chúa một lãnh thổ, và ưu tiên dành cho các quyền lực trên trời và ma quỷ. Họ không nhận ra rằng “chỉ mình Thiên Chúa là Thiên Chúa”. Không phải vì vô tri thuần túy. Đây là thái độ mà ngươi ta thấy gốc gác nơi tội lỗi của Lucifer, nguyên mẫu của tất cả những ai biết Thiên Chúa nhưng không muốn tôn vinh hoặc tạ ơn Ngài. Gốc rễ này của tội là không muốn sống nhờ ân sủng của một Đấng khác, không muốn nhìn nhận bản thân mình chỉ là một thụ tạo, tùy thuộc tận căn. “Bao lâu tôi thừa nhận mình còn tùy thuộc, thì tôi chẳng là gì cả[88].” Tính chặt chẽ triết học đã định nghĩa thái độ này như một sự “từ chối tuyệt vọng là cái mình là[89]”; không chịu là một thụ tạo tùy thuộc. Từ chối “tuyệt vọng”, vì một nỗ lực như vậy không có cơ hội thành công, bởi vì Quyền Năng thiết lập thụ tạo nơi hữu thể mạnh hơn thụ tạo. Nỗ lực này chỉ có thể dẫn đến thất vọng mà thôi.
Thánh Tông Đồ không tuyên bố tất cả những người ngoại giáo, ai cũng vậy, đều sống trong loại tội lỗi này. Ở đoạn sau, ngài sẽ nói đến những người tuân giữ luật Thiên Chúa đã ghi tạc vào lòng (x. Rm 2,14 tt). Ngài chỉ muốn làm rõ đâu là tội lỗi điển hình của dân ngoại, tức là tội của người không có niềm tin Kinh Thánh vào Thiên Chúa.
Vậy nên chúng ta hãy cầu nguyện cùng với các Giáo Phụ và với phụng vụ của Giáo Hội, trước khi tiếp tục suy tư của chúng ta:
Lậy Chúa là Đấng làm cho chúng con được sống, cho dù chúng con muốn hay không; Đấng mà tất cả chúng con yêu mến, dù biết hay không biết điều đó, bằng sức mạnh của tình yêu của Chúa, cho dù những ý muốn của chúng con phản đối, xin hãy mang chúng trở lại với Ngài. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con[90]. “
19. MỘT THIÊN CHÚA BỊ KHUẤT PHỤC
Như chúng ta vừa thấy, thánh Phaolô bảo đảm rằng việc không nhìn nhận Chúa là Thiên Chúa và việc không tôn vinh và tạ ơn Ngài tạo nên sự vô đạo và bất chính lớn lao của con người. Phần tiếp theo lá thư của ngài cho thấy rõ những người ngoại giáo “đã suy luận viễn vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội. Họ khoe mình khôn ngoan nhưng đã trở nên điên rồ. Thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đã thờ hình tượng người phàm là loài phải chết, hay hình tượng các loài chim chóc, thú vật, rắn rết ” (Rm 1,22-23).
Chúng ta dễ dàng nhận ra trong đoạn văn này có ám chỉ đến câu chuyện sáng tạo (x. St 1,26-27). Trong khi Kinh Thánh dạy rằng Thiên Chúa đã tạo nên con người theo hình ảnh của Ngài và giống Ngài, thì, như Phaolô nhận định, “thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, con người đã thờ ngẫu tượng người phàm phải chết”. Nói khác đi, việc thờ ngẫu tượng là kết quả của một kiểu đảo ngược trật tự do Thiên Chúa thiết lập trong công cuộc sáng tạo, giống như một sự đảo ngược các vai trò: Thiên Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài và bây giờ con người tạo ra cho mình một Thiên Chúa theo hình ảnh của mình.
Vậy việc thờ ngẫu tượng xẩy ra như một bước thứ hai hoặc một giai đoạn thứ hai của cuộc hành trình đưa con người rời xa Thiên Chúa. Thánh Tông Đồ nhìn nhận trong đó một sự cụ thể hóa về phương diện lịch sử và, có thể nói, một cách thể chế hóa sự tách biệt bên trong của con người với Đấng Tạo Hóa của mình. Chính xác thì việc thờ ngẫu tượng biểu thị điều gì? Câu tiếp theo định nghĩa là “tôn thờ thụ tạo thay vì Đấng Tạo Hóa”. Thoạt nhìn, điều này có vẻ như là một sai lầm thuần túy về viễn tượng, một kiểu trao đổi chủ yếu dẫn đến sự bất lợi hoàn toàn cho con người, vì gắn bó với chủ chắc chắn tốt hơn với tớ. Nếu chỉ giới hạn ở khía cạnh này mà thôi, tại sao Kinh Thánh gọi sự ghê tởm này là đáng sợ? Sự kiện mang tính quyết định, đó là khi tôn thờ thụ tạo, con người tôn thờ thụ tạo “của mình”, tác phẩm của bàn tay mình, và như vậy, tự nền tảng, họ tự tôn thờ mình! Xét cho cùng, họ thế chỗ Thiên Chúa. Ở trung tâm của mọi sùng bái ngẫu tượng, người ta thấy hình thức tự sùng bái mình, “yêu mình đến độ khinh mạn Thiên Chúa.”
Đó chẳng phải là tìm cách “bóp nghẹt sự thật” sao? Con người không muốn chấp nhận Thiên Chúa, nhưng tạo cho mình một Thiên Chúa của mình và chính họ là người quyết định. Mối tương quan của thụ tạo bị đảo ngược: con người trở thành người thợ gốm và Thiên Chúa là chiếc bình mà con người nặn đúc theo ý mình, gán cho nó những công dụng và phẩm chất phù hợp với mình.
Tôi muốn cho thấy, ở một số khía cạnh, Tây phương đã dẫn đến một tình hình như vậy trên bình diện tôn giáo[…]. Ở trên, tôi đã […] không đưa ra câu trả lời. Vậy đã đến lúc phải làm điều này, nhưng “với sự hiền hòa và kính trọng“, như Kinh Thánh khuyên chúng ta làm, và với mong muốn “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta” (1Pr 3,15) chứ không phải trong tình trạng tâm trí của người trang bị cho mình những gì cần thiết để bác bỏ đối thủ.
Đối với những ai cho rằng Thiên Chúa không hiện hữu và Ngài chỉ là một sự khách thể hóa thuần túy con người, câu trả lời đầu tiên là nhận rằng họ có lý. Đúng! Như họ nói, Thiên Chúa thực sự là sản phẩm của tâm trí con người. Tất cả vấn đề là chỉ rõ đó là Thiên Chúa nào. Từ đó tôi muốn chứng minh cho thấy những triết gia này không chiến đấu hay lật đổ Thiên Chúa thật, mà chỉ là một thần tượng, một sự mô phỏng (simulacre) hão huyền về Thiên Chúa.
Trong lịch sử tu đức Tây phương, có lúc người ta đã đưa ra một loại Thiên Chúa đóng thế, một Thiên Chúa giống hệt với “Thiên Chúa của Sinai”. Người ta hẳn có thể nghĩ về một kẻ soán ngôi, đã bịt miệng và nhốt vị vua thực sự trong một tòa tháp bí mật, để sau đó tự phong mình lên làm vua. Nếu sau này, nhân có cuộc cách mạng loại bỏ người đó, người ta sẽ ngây thơ tưởng tượng mình đã được giải thoát khỏi quyền lực hoàng gia và khi ấy họ sẽ tuyên bố nền cộng hòa. Cứ nói thẳng ra là họ sẽ thông báo rằng Thiên Chúa đã chết.
Chúng ta hãy tưởng tượng thêm là một hôm, có người đàn ông “mát” dùng búa phá bức tượng David của Michelangelo, nằm ở ngoài trời trước cung điện Signori ở Firenze. Và rồi anh ta khoe khoang với giọng điệu đắc thắng: “Tôi đã phá hủy tượng David của Michelangelo! David không còn ở đó nữa! David không còn tồn tại nữa!” Trong ảo tưởng đáng thương của mình, anh ta không biết rằng đó chỉ là một bản sao, dành cho khách du lịch qua đường chiêm quan, còn David thật của Michelangelo từ lâu không còn để cho công chúng xem và được cất giữ ở một nơi an toàn. Đây không phải hơi giống như cuộc phiêu lưu của Nietzsche khi ông để cho một trong những nhân vật của mình tuyên bố: “Thiên Chúa…, chúng ta đã giết Ngài! Tất cả chúng ta đều là những kẻ giết Ngài[91]” sao?
Phải giải thích sự đóng thế nổi tiếng mà chúng ta đang nói đến được thực hiện khi nào và như thế nào. Để hiểu điều này, chúng ta hãy quay trở lại câu chuyện về con bê bằng vàng được thuật lại trong sách Xuất hành. Đâu là bản chất của tội lỗi nặng nề này về con bê bằng vàng khiến cho Kinh Thánh nhiều lần lên án nó? Không như người ta đôi khi nghĩ, chắc chắn đây không phải là tội hà tiện biến vàng thành Thiên Chúa của họ, vì trong dịp này dân chúng đã tỏ ra hào phóng khác thường khi cúng nhiều vàng mà họ có. Cũng không phải họ bỏ Thiên Chúa để theo một vị thần ngoại bang nào đó, vì con bê bằng vàng được ca tụng là Thiên Chúa của Israel, Đấng đã đưa dân ra khỏi Ai Cập, và lễ hội được tổ chức xung quanh con bê quả thực là “lễ kính Đức Chúa” (x. Xh 32,4 tt).
Vậy tại sao Phaolô, cùng với toàn bộ Kinh Thánh, gọi hành vi như vậy là thờ ngẫu tượng (x. 1Cr 10,7)? Thờ ngẫu tượng, vì mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa của họ bị đảo ngược. Dân chúng làm một con bê bằng vàng để “có một vị thần dẫn đầu họ” (Xh 32,1). Họ muốn một loại cờ hiệu hoặc cờ xí tung bay trước mặt để bảo đảm chiến thắng trong cuộc chiến chống lại kẻ thù. Lịch sử cho ta biết đây thực sự là phong tục của các đội quân trong thời cổ đại. Sau này Israel sẽ làm như thế với hòm bia giao ước (x. 1Sm 4,3tt). Tóm lại, những gì người ta tìm kiếm là một vị thần mang lại may mắn, bảo đảm cho thành phố. Thiên Chúa đã giải thoát dân khỏi Ai Cập “để phục vụ họ trong sa mạc”; và từ đó về sau, dân chúng sử dụng Thiên Chúa thay vì phục vụ Ngài. Chúng ta đang có khuynh hướng trực tiếp dẫn đến mê tín và ma thuật: chiếm đoạt quyền lực của Thiên Chúa để sử dụng nó cho lợi ích của mình, để có được sự giúp đỡ của Ngài không phải bằng lời cầu nguyện mà như bằng vũ lực.
Sự so sánh giữa những gì đã xảy ra xung quanh cách biểu thị này về Thiên Chúa và cách bày tỏ sự hiện diện của Thiên Chúa hằng sống ở Sinai giúp nhận thức rõ hơn về sự thay đổi sâu xa trong lòng người dân. Ở Sinai, dân chúng đứng đàng xa vì sợ, một sự sợ hãi thánh. Xung quanh con bê bằng vàng, họ ăn uống, nhảy múa, thậm chí còn tổ chức một lễ hội dân gian. Họ không còn phục tùng Thiên Chúa nữa, nhưng bắt Thiên Chúa phục vụ mình. Để hiểu sự khác biệt giữa Thiên Chúa hằng sống và con bê bằng vàng, nên đọc lại trình thuật về các biến cố sau khi Thiên Chúa giả bị hủy diệt. Hai chương tiếp theo của sách Xuất hành đưa chúng ta vào bầu không khí của thần linh, của siêu nhiên, như thể Thiên Chúa tìm lại được quyền tự do hành động của mình, muốn biểu lộ sự hiện diện vừa đáng sợ vừa giáng phúc của Ngài. Ngài đi qua, công bố tên của mình: “Đức Chúa, Đức Chúa, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi…” Con người hiểu rằng mình phải ẩn náu trong một hốc đá để không phải chết; họ phải hài lòng với việc nhìn thấy Chúa như trộm vụng, từ phía sau lưng. Môsê sấp mình xuống đất. Đây là cách mà chính Thiên Chúa, chứ không phải một mô phỏng vô hồn, “cùng đi với dân mình” (x. Xh 34,9).
Môsê đã hiểu rõ mối nguy hiểm chết người cho đức tin mà câu chuyện con bê bằng vàng che giấu. Điều này giải thích phản ứng dữ dội của ông: ông cho tán nhuyễn tượng mô phỏng, rắc trên mặt nước, rồi bắt con cái Israel uống. Chắc chắn do kết quả của sự kiện này mà Kinh Thánh bắt đầu cấm hoặc củng cố việc cấm chế tạo các hình ảnh và biểu tượng nhạy cảm về Thiên Chúa.
Giờ đây chúng ta dùng một bản văn của Claudel để cầu nguyện:
“Lạy Thiên Chúa của con, chúc tụng Chúa đã cứu con khỏi các ngẫu tượng và là Đấng khiến con chỉ tôn thờ một mình Chúa, chứ không phải Isis và Osiris, hoặc Công Lý, hoặc Tiến Bộ, hoặc Chân Lý, hoặc Thần Linh, hoặc Nhân Loại, hoặc Luật Thiên Nhiên, hoặc Nghệ Thuật, hoặc Sắc Đẹp, … hoặc Hư Không do sự vắng mặt của Chúa[92].“
20. THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM VÀ THIÊN CHÚA CỦA CÁC TRIẾT GIA
Nỗ lực “bắt Thiên Chúa phục vụ” con người, than ôi, vẫn chưa kết thúc dưới chân núi Sinai. Nó được đổi mới trong suốt dòng lịch sử nhân loại dưới những hình thức khác nhau. Một trong những hình thức này đã dẫn đến cuộc khủng hoảng hiện nay mà chúng ta đang tìm hiểu. Với sự tiến bộ và tinh tế hơn của cảm tính tôn giáo, các phương thức hoặc chất liệu để đục khắc tượng sẽ thay đổi, nhưng chính bản chất của việc thờ ngẫu tượng thì không. Đây sẽ không còn là một ngẫu tượng bên ngoài và hữu hình, nhưng là một ngẫu tượng bên trong và vô hình. Không còn là một ngẫu tượng vật chất bằng vàng, bạc hay cẩm thạch, nhưng là một ngẫu tượng tinh thần: ý tưởng về Thiên Chúa! Con người định hình ý tưởng của mình về Thiên Chúa (vẫn còn hợp pháp và thậm chí cần thiết); họ suy tư về ý tưởng này và dần dần, một cách khó nhận ra, đi đến chỗ nhầm lẫn (không còn hợp pháp hoặc cần thiết) ý tưởng này với thực tại.
Khi ấy, nếu muốn hiểu điều gì đang xảy ra giữa con người và Thiên Chúa, chúng ta có thể tưởng tượng cảnh sau đây. Một ông vua đồng ý tạo dáng trước một họa sĩ để anh ta vẽ chân dung của mình. Khi các nét vẽ nhà vua trở nên chính xác hơn trên vải, họa sĩ ngày càng bận với công việc; rất vui, anh đi quanh tác phẩm của mình để chiêm ngưỡng. Đến độ, khi công việc hoàn thành, anh nhiệt tình quá nên hoàn toàn quên mất nhà vua đang ở đó trước mặt mình; anh quay lưng về phía ông, đặc biệt háo hức giải thích cho bạn bè những đặc điểm của bức tranh anh vừa vẽ xong… Công việc không kết thúc ở đó. Các sinh viên của nghệ sĩ này đến lấy những bản sao của tác phẩm, mỗi người có những sửa đổi và phóng tác theo phong cách riêng và thị hiếu cá nhân của họ. Những người khác dấn mình vào hết bản sao này đến bản sao khác… Chân dung của nhà vua có thể thấy khắp nơi, nhưng khác xa với thực tế đến nỗi khi nhà vua bí mật vi hành qua đó, không ai nhận ra ông.
Từ “ngẫu tượng” (eidôlon) mang tính mạc khải. Trong cách sử dụng thông thường, nó đi tới chỗ biểu thị một đối tượng vật chất được tôn kính như Thiên Chúa, hoặc theo nghĩa bóng, biểu thị các giá trị hoặc thực tại (chẳng hạn như tình dục, tiền bạc, danh vọng, v.v.) được người ta gán cho một tầm quan trọng quá đáng, như thể chúng là điều tuyệt đối của cuộc sống. Thực ra, “ngẫu tượng” có cùng từ nguyên với “ý tưởng”, và thường trong thực tế, hai thuật ngữ này có thể bị nhầm lẫn. Trong một ngôn ngữ kỹ thuật hơn, người ta gọi eidôla là những hình ảnh nằm giữa chủ thể suy tưởng và thực tại: chúng là những hình ảnh biểu thị thuộc tâm trí. Chúng có thể là những phương tiện để biết thực tại, nhưng có thể dễ dàng trở thành những tấm màn ngăn cách chúng ta với thực tại, thay thế cho thực tại, nếu chúng ta tách chúng ra khỏi thực tại này. “Những định kiến”: Bacon đã định nghĩa chúng như thế trong danh sách nổi tiếng của mình về các idola, specus, fori, theatri: nghĩa là “những phán đoán có trước” gắn liền với bản tính con người nói chung, với cá nhân, với ngôn ngữ, với trường học, với hệ thống.
Ý tưởng hay khái niệm, với tư cách là thành quả của trí khôn, chắc chắn là giá trị cao quý nhất nơi con người trước ân sủng; nhưng cũng như mọi khi, ngay cả một giá trị tuyệt vời, nếu đi chệch hướng hoặc hư hỏng, cũng trở thành điều tồi tệ nhất: trong tiếng latinh, người ta nói corruptio optimi pessima(làm hư hoại điều tốt nhất là lỗi xấu nhất).
Vậy, có một hình thức thờ ngẫu tượng thuộc tôn giáo bao gồm không phải việc tạo ra những hình ảnh hoặc biểu thị bên ngoài và hữu hình về Thiên Chúa, như bê bằng vàng, nhưng là làm cho chúng trở thành những hình ảnh bên trong, tinh thần và vô hình, coi những hình ảnh như vậy, mà bản thân chúng là một ý tưởng về Thiên Chúa, như Thiên Chúa hằng sống và chân thật. Và hài lòng với việc đó. Hình thức thờ ngẫu tượng này, không hề giảm đi trong suốt nhiều thế kỷ, mà chỉ tăng cường cho đến lúc đạt tới đỉnh điểm khi lòng tin vào Thiên Chúa bị thay thế bởi ý thức hệ về Thiên Chúa, nghĩa là bởi một suy nghĩ cắt đứt khỏi thực tại và phát triển trong phần trừu tượng trên dữ kiện riêng của nó. Idéo-logie (ý thức hệ) là hình thức hiện đại của Idéo-latrie (thờ ngẫu tượng).
Vậy có sự khác biệt nào giữa Thiên Chúa và ý tưởng về Thiên Chúa? Điểm khác biệt đầu tiên là ý tưởng không có sự tồn tại riêng; nó không tồn tại và Thiên Chúa thì tồn tại! Một sự khác biệt đến vô hạn. Nơi các tiên tri, danh xưng của Thiên Chúa “Ta là Đấng Hiện Hữu”, được mạc khải cho Môsê nơi Bụi Cây cháy, thường được Kinh Thánh giữ lại để đánh dấu sự khác biệt giữa Đức Chúa và các ngẫu tượng (x. Is 42,8; 45,18). Như thể Chúa muốn nói: Ta, Ta thực sự hiện hữu và làm cho mọi loài hiện hữu; Ta không phải là một Thiên Chúa trơ trơ và không uy tín, giống như ngẫu tượng của các nước.
Điểm khác biệt thứ hai giữa Thiên Chúa và ý tưởng về Thiên Chúa là ở chỗ Thiên Chúa hằng sống thì độc nhất, trong khi những ý tưởng về Thiên Chúa thì có bao nhiêu người nghĩ về Thiên Chúa hoặc những người suy tư về Ngài là có bấy nhiêu ý tưởng về Ngài. Con người là độc nhất, nhưng những bức ảnh chân dung về người đó, có thể được nhân lên đến vô tận. Thiên Chúa là toàn thể; còn ý tưởng luôn luôn và chỉ thể hiện về Ngài một phần rất nhỏ.
Thiên Chúa hằng sống là một Thiên Chúa “dò xét” bạn ngay lúc bạn dò xét Ngài; là Đấng thấu suốt tư tưởng của bạn ngay cả trước khi tư tưởng ấy hình thành nơi bạn (x. Tv 139,1tt). Ý tưởng về Thiên Chúa thì không thể làm gì về tất cả những việc ấy. Thiên Chúa hằng sống, thì không thể làm chủ được Ngài, không thể hiểu Ngài, trong khi đối với ý tưởng về Thiên Chúa, ngay cả ý tưởng về Thiên Chúa hằng sống, thì có thể.
Sự phân biệt giữa thực tại và ý tưởng về Thiên Chúa, theo một số khía cạnh, nhắc lại sự phân biệt giữa Thiên Chúa hằng sống và “Thiên Chúa của các triết gia”. Cả Thiên Chúa hằng sống lẫn Thiên Chúa của các triết gia đều được gọi là Thiên Chúa của ai đó. Thiên Chúa hằng sống được gọi là “Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacob”; Thiên Chúa của các triết gia là Thiên Chúa của Descartes, của Kant, của Hegel… Nhưng đây là hai cách nói hoàn toàn khác nhau. Trong trường hợp trước, thuộc dạng (génitif) là một thuộc dạng chủ quan; trong trường hợp sau, là thuộc dạng khách quan. Trường hợp trước là về Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho Abraham và đã tuyển chọn ông: nhân vật chính là Thiên Chúa chứ không phải Abraham. Trường hợp sau là về Thiên Chúa mà Descartes, Kant, Hegel đã nghĩ và đã nói tới: nhân vật chính là triết gia chứ không phải Thiên Chúa. Một sự khác biệt lớn lao!
Blondel đã viết: “Thiên Chúa của các triết gia và các nhà bác học là hữu thể của lý trí, được đạt tới hoặc giả thiết bằng một phương pháp trí tuệ, được coi như một nguyên tắc giải thích hay hiện hữu, mà con người tự phụ có thể xác định, thậm chí gây ảnh hưởng, như một đối tượng mà họ sẽ sở hữu trong cách trình bầy mà họ rất thích thú. Thiên Chúa của Abraham là hữu thể mầu nhiệm và tốt lành, Đấng tự do mạc khải điều gì đó về những sự hoàn hảo khôn dò của mình, mà người ta không đạt tới chỉ bằng tâm trí mà thôi, nơi Ngài người ta thực tế nhận ra một Thực Tại sâu kín, mà sự hiểu biết tự nhiên của chúng ta không thể tiếp cận được, và đối với Ngài sự khởi đầu của minh triết chỉ có thể là sợ hãi và khiêm tốn; nhưng đồng thời, đó chính là Thiên Chúa, khi mạc khải cho con người những bí mật của cuộc đời Ngài, cho họ tham dự vào chính thần tính của Ngài, kêu gọi họ thay đổi thân phận tôi đòi tự nhiên của thụ tạo thành tình bạn, thành một tình nghĩa tử cách siêu nhiên, truyền yêu mến Ngài và chỉ ban mình cho người hiến thân cho Ngài[93].”
Mặc dù khác biệt, nhưng thực tế, Thiên Chúa của Abraham và Thiên Chúa của các triết gia không xung khắc nhau. Kiểu nói “Thiên Chúa của các triết gia” không được tạo ra để đối lập với Thiên Chúa của Kinh Thánh, mà trái lại, để nói về Thiên Chúa này, ngay cả trong bối cảnh tranh cãi. Đối với những người theo ngộ đạo thuyết Marcion cảm thấy vấp phạm vì “những nóng nảy” của Thiên Chúa trong Cựu Ước, Tertullianô trả lời: “Nếu bạn thực sự muốn có một Thiên Chúa vô hình, điềm tĩnh và yên lặng, thì này, hãy biết cho rằng Ngài chính là Chúa Cha, và chúng ta nói thêm, là Thiên Chúa của các triết gia (philosophorum Deus), rồi hãy gán cho Chúa Con nhập thể hoặc sắp nhập thể, tất cả những gì đối với bạn dường như không xứng với Thiên Chúa[94].”
Ở một mức độ sâu sắc hơn và mang tính xây dựng hơn, sự hòa giải giữa Thiên Chúa hằng sống của Kinh Thánh và Thiên Chúa của các triết gia là công trình mà Thánh Tôma Aquinô đã biết đưa tới chỗ hoàn tất. Khi định nghĩa Thiên Chúa là ‘chính Hữu Thể tồn tại’, ngài đã liên kết giữa Thiên Chúa của Aristote, ‘nguyên nhân đầu tiên, bất động, và làm cho vạn vật chuyển động”, và Thiên Chúa của Kinh Thánh và của truyền thống Kitô giáo, chính xác (dựa vào sự đào sâu câu Xh 3,14) là “Đấng hiện hữu”.
Trong một đoạn trích dẫn ở trên, Pascal đã lấy lại và làm cho nổi tiếng cách diễn đạt của Tertullianô; ông muốn phân biệt hai công thức nhưng không đặt chúng chống đối nhau. Công thức của ông: “Thiên Chúa của Abraham… không phải của các triết gia và các nhà bác học” chỉ là một cách diễn giải những lời của Đức Giêsu: “Lạy Cha la Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn… ” (Mt 11,25). Do đó, ông không phải là một “người theo chủ nghĩa phi lý trí”, người thiếu tin tưởng vào lý trí, nên không thừa nhận vai trò của nó trong việc tìm kiếm Thiên Chúa. Đơn giản hơn, trong trường hợp này, ông bắt lý trí phụ thuộc vào mạc khải. Hầu hết các trường hợp, không phải các tín hữu, trong những thế kỷ trước, đã muốn bỏ qua Thiên Chúa của các triết gia, nhưng đúng hơn, các triết gia đã không biết đến Thiên Chúa của các tín hữu.
Chúng ta dùng một đoạn trong bài thánh thi nổi tiếng mà thánh Grêgôriô Nadian dâng lên Thiên Chúa làm lời cầu nguyện: chúng ta có thể thấy ở đó ý nghĩa thực sự của Thiên Chúa hằng sống, “Đấng vượt ra ngoài lý trí nhưng không chống lại nó”:
“Lạy Chúa, vượt quá mọi sự, đó không phải là tất cả những gì người ta có thể ca ngợi về Chúa sao? Thánh thi nào sẽ nói với Chúa, ngôn ngữ nào? Không một lời nào diễn tả Chúa cho được. Tinh thần sẽ gắn bó với điều gì? Chúa vượt xa mọi trí khôn. Chỉ mình Chúa là không thể diễn tả, vì mọi sự được nói ra đều phát xuất từ Chúa. Chỉ mình Chúa là không thể biết được, vì tất cả những gì được nghĩ ra đều phát xuất từ Chúa.”
21. CÁC ÔNG GIẾT MỘT THIÊN CHÚA ĐÃ CHẾT
Làm thế nào đi đến điểm mấu chốt của tiến trình làm cho Thiên Chúa hằng sống chỉ còn là ý tưởng về Thiên Chúa đối với con người? Người ta đã có thể đi đến cuộc khủng hoảng đã nói như thế nào? Theo một nghĩa nào đó, một sự tiến hóa như vậy là tự nhiên: sự phát triển của nó vẫn luôn tiếp diễn, đã tăng tốc trong thời hiện đại, bắt đầu từ Descartes.
Nhà triết học này là nguồn gốc của một sự đảo ngược: Đối với ông, biết Ngài ưu tiên hơn hữu thể của Ngài, hoặc, nói theo ngôn ngữ kỹ thuật, tri thức luận ưu tiên hơn hữu thể học. Điểm khởi đầu hay nền tảng mọi sự không phải: “Thiên Chúa hiện hữu”, nhưng: “Tôi, tôi hiện hữu.” Ở nền tảng, người ta không đặt cái “Tôi hiện hữu” vĩ đại của Thiên Chúa, nhưng cái “tôi hiện hữu” nhỏ bé của con người. “Tôi suy tưởng, vậy tôi hiện hữu”, chứ không phải: “Thiên Chúa suy tưởng (hay đúng hơn: Ngài yêu), nên tôi hiện hữu.” Sự dịch chuyển của điểm phát xuất lôi kéo theo sự dịch chuyển của trọng tâm: chuyển từ thực tại sang ý tưởng, từ đối tượng sang chủ thể. Theo Descartes, “sự hiện hữu của Thiên Chúa được chứng minh a posteriori (hậu thiên)”, khởi từ sự kiện là chúng ta mang trong mình ý tưởng về Thiên Chúa. Ý tưởng về Thiên Chúa ở hàng đầu và đến ngự trên chính ngai của Thiên Chúa.
Theo quan điểm này, Thiên Chúa giản lược thành “ý tưởng bẩm sinh” mà chúng ta có về Ngài và là ý tưởng–mẹ của tất cả những ý tưởng khác, nhưng nó vẫn luôn luôn và đơn giản là một ý tưởng. Thiên Chúa không tự giới thiệu và không buộc con người phải nhận mình trước tiên như một thực tại, nhưng như một ý tưởng về một thực tại, ngay cả đó là thực tại cao xa nhất. Ngài không được công nhận như Đấng mà không có Ngài chúng ta không thể hiện hữu, nhưng như Đấng mà không có Ngài chúng ta không thể suy tưởng, vì ý tưởng về Thiên Chúa mang tất cả những ý tưởng khác. Trong khi thánh Phaolô dạy rằng “ở nơi Người, chúng ta sống, cử động và hiện hữu” (x. Cv 17,28) thì Descartes cho rằng Thiên Chúa là Đấng mà trong Ngài và nhờ Ngài chúng ta được ban việc suy tưởng. Thiên Chúa trước hết là nền tảng của khả năng suy luận và chỉ sau đó mới là nền tảng sự hiện hữu của chúng ta. Sự đảo ngược có vẻ tinh vi, nhưng trên thực tế lại mở đường cho những hậu quả khôn lường.
Chúng ta không muốn đánh giá về tính chất có căn cứ của phương pháp lập luận này nơi chính nó (mà nếu cần, là công việc của triết học); chúng ta cũng không muốn phủ nhận công lao của tác giả đã đưa một phương pháp chặt chẽ hơn vào thực hành triết học. Chúng ta chỉ tìm cách nêu bật ảnh hưởng tiêu cực của phương pháp này đối với sự phát triển của đức tin và tình cảm tôn giáo.
Cũng như rất thường xẩy ra trong những trường hợp như vậy, hậu quả không xuất hiện ngay lập tức. Bản thân Descartes vẫn trung thành với tinh thần đã tồn tại cho đến lúc đó. Là một nhà tư tưởng có đạo, ông muốn củng cố đức tin chứ không muốn phá hủy nó. Nhưng vận hành đã được tung ra. Chỉ cần một triết gia – và triết gia đó sẽ là Kant – thực hiện bước tiếp theo khi khẳng định rằng khởi sự từ một Thiên Chúa “được suy tưởng”, người ta không thể tìm thấy bất kỳ con đường nào dẫn đến một Thiên Chúa hiện hữu, và rằng, từ ý tưởng về Thiên Chúa, người ta không bao giờ có thể suy ra “thực tại” Thiên Chúa[95]” để ngay lập tức thấy rõ hậu quả của việc thay đổi quan điểm này sẽ nghiêm trọng như thế nào.
Bước tiếp theo dẫn đến chủ thuyết duy tâm tuyệt đối của Hegel, theo đó “Ý tưởng là một Thượng Đế sáng tạo, mà khi sáng tạo, thì tạo ra chính mình”. Từ dây ý tưởng về Thiên Chúa nằm trong sự tự chủ đối với thực tại: không phải thực tại gợi ra ý tưởng, nhưng ý tưởng gợi ra thực tại và cho nó hiện hữu. Các vai trò hoàn toàn bị đảo ngược. Thiên Chúa hằng sống ở bên ngoài hệ thống tư tưởng này; và hệ thống tư tưởng thế chỗ của Ngài. Eidolon của Thiên Chúa đã thay thế Thiên Chúa. Ý tưởng được “tuyệt đối hóa”. Nó được xưng tụng là Đấng Tuyệt Đối. Người ta thấy lại tình trạng thờ bản thân(autolatrie) mà thánh Tông Đồ đã vạch trần dưới hình thức thờ ngẫu tượng ngoại giáo. Như Péguy lưu ý, con người hiện đại tôn thờ bản thân trong vỏ bọc của một vị thần lần lượt thuộc trí tuệ, lịch sử hoặc xã hội học.
Thiên Chúa hằng sống phải chịu số phận của nhà vua già trong thảm kịch: trước tiên ông được chào đón với tất cả vinh dự trong lâu đài (đó là tinh thần con người); một khi ông đã ở bên trong, thì cửa đóng lại, cây cầu được nâng lên và nhà vua, không có khả năng tự vệ, mất đội quân cấm vệ, bị truất phế khi ông đang ngủ. Macbeth thay thế vua của mình. Sự thay thế mà tôi nói ở trên đã hoàn tất: thay cho Thiên Chúa thật, người ta đã đặt một Thiên Chúa giả.
Khi đó, một sự kiện đã được báo hiệu: Feuerbach xuất hiện, người sẽ làm nổ tung toàn bộ tiến trình này bằng cách tấn công tận gốc “chính ý tưởng về Thiên Chúa”. Thiên Chúa không hiện hữu. Thực tại của ý tưởng về Thiên Chúa, trong chừng mực mang một thực tại nào đó, không phải là một Hữu Thể riêng biệt, cao siêu, vô hạn; chính là con người. Con người đã tạo ra một Thiên Chúa theo hình ảnh của họ. Bằng cách này, Feuerbach đã hoàn thành chương trình được Hégel, thầy của ông, loan báo, là người đã viết nơi một trong những tác phẩm hồi còn trẻ: “Sau tất cả những nỗ lực trong quá khứ, chính là một công lao dành cho thời đại chúng ta khi đòi lại cho tài sản của con người, ít nhất trên lý thuyết, những kho báu đã bị lãng phí trên trời; nhưng thế kỷ nào sẽ có khả năng thực tế đòi được hưởng quyền này và bảo đảm tài sản này[96]? Feuerbach có “tài năng” ấy. Ông đã “công bố trên mái nhà” điều mà thầy của ông, chắc hẳn giữ ý vì những quy định rất nghiêm khắc vẫn còn tác động mạnh đến những kẻ tấn công giáo huấn chính thức, nên chỉ dám “nói thầm vào tai” trong giảng dạy riêng tư và kín đáo hơn.
Không ai ngoài một tín hữu Kitô có thể đánh giá đúng sự thật sâu xa và tính chất có căn cứ của hoạt động này; không ai sẽ tỏ lòng biết ơn nhiều hơn đối với người đã đưa nó đến chỗ kết thúc, tuy nhiên, bằng cách xác định rõ rằng điều bị hủy hoại như vậy không phải là đức tin nhưng là sự thờ ngẫu tượng. Tiến trình bị vạch trần như thế của việc hình thành niềm tin vào Thiên Chúa chính xác là tiến trình ẩn dưới sự thờ ngẫu tượng. Thánh Tông Đồ đã mặc nhiên cảnh báo chúng ta rằng: quả thật trong việc thờ ngẫu tượng, con người chế tạo cho mình một Thiên Chúa theo hình ảnh của mình.
Do cuộc tranh luận đang diễn ra giữa các trường phái triết học, Feuerbach đã nhầm lẫn hình ảnh với thực tại, mà thậm chí không biết điều đó: nhầm lẫn hình ảnh méo mó và không có đức tin Kitô giáo, với đức tin Kitô giáo. Như ông đã tuyên bố, ông đã không bóc trần “yếu tính Kitô giáo”, nhưng yếu tính của việc thờ ngẫu tượng hay ý thức hệ về Thiên Chúa.
Phê bình của Feuerbach liên quan đến việc thờ ngẫu tượng, chứ không phải niềm tin thực sự vào Thiên Chúa hằng sống, là một điều được công nhận ngay cả nơi các nhà tư tưởng không nghi ngờ là có mục đích hộ giáo. Erik Fromm viết: “Con người chuyển những đam mê và phẩm chất của mình cho thần tượng. Người đó càng vét rỗng mình, thần tượng càng lớn lên và mạnh mẽ. Thần tượng là hình thức tha hóa của kinh nghiệm mà con người trải qua. Bằng cách tôn thờ thần tượng, con người tôn thờ chính mình… Người đó phụ thuộc vào thần tượng, vì đơn giản bằng cách phục tùng nó, anh ta tìm thấy cái bóng của mình, ngay cả khi không có thực chất. Thần tượng chỉ là một vật vô hồn, trong khi ngược lại Thiên Chúa là một Thiên Chúa hằng sống[97]. “
Bằng chứng chắc chắn nhất mà các lý thuyết gia của thuyết vô thần hiện đại không thể đạt tới Thiên Chúa hằng sống, đó là họ không biết Ngài. Họ biết Thiên Chúa của các trường phái, các hệ thống, của thầy này thầy kia, nhưng không biết đủ Thiên Chúa của đức tin mà các tín hữu chân chính đã sống. Họ chỉ biết Thiên Chúa qua sách vở. Thế mà Thiên Chúa hằng sống được gặp thấy trong cuộc sống của những con người hơn nhiều so với trong sách vở, bởi vì một hữu thể sống động không thể được chứa đựng trong những thực tại chết.
Sự vắng mặt của bất kỳ tham chiếu nào về Thiên Chúa Ba Ngôi cho thấy một dấu hiệu rõ ràng là chúng ta không còn ở trước mặt Thiên Chúa hằng sống của mạc khải. Có những người tuyên bố tín điều về Thiên Chúa Ba Ngôi “thực tế không quan trọng đối với con người” (Kant); những người khác, thay vì Ba Ngôi được biết đến trong Kinh Thánh như là hiệp thông, lại chỉ muốn nói về một thứ ba ngôi trên bình diện triết học, như một sự trở thành biện chứng (Hegel: un devenir dialectique). Điều này hoàn toàn đối nghịch với Ba Ngôi, vì không thể nói về hiệp thông tình yêu giữa các Ngôi trong Ba Ngôi, những Ngôi nối tiếp nhau trong một “sự trở thành vĩnh cửu”. Cùng lắm là các Ngôi có thể yêu nhau “trong dự kiến”, chứ không phải trong thực tế.
Thật sự sẽ không dễ dàng đưa Thiên Chúa trở lại với một ảo ảnh do việc chiêm quan yếu tính của Ngài gây ra, nếu người ta khởi sự từ Thiên Chúa, Đấng là sự hiệp thông tình yêu giữa Ba Ngôi. Quả vậy, con người cần gì phải tự phân chia, cần gì “tự nhân mình thành ba”, thành Cha, Con và Thánh Thần?
Về vấn đề này, trách nhiệm của các Kitô hữu ngay lập tức là rõ ràng. Họ đã ưu đãi cho kết luận đáng buồn này, theo mức độ họ dần dần mất đi ý thức về thực tại ba ngôi sống động và cảm thấy được, để chạy theo một khái niệm mơ hồ về “thần tính” hoặc “yếu tính thần linh”, là khái niệm dọn đường cho “tự nhiên thần giáo” (déisme). Hoặc theo mức độ họ cho phép chủ trương Thiên Chúa, vốn là Hữu Thể (Esse), dần dần giảm xuống thành một Thực Thể (Ens) với rất nhiều bài giảng mơ hồ về Thiên Chúa, trong đó chính Thiên Chúa cuối cùng không gì khác hơn là một Deus vagus (Thiên Chúa mơ hồ), một hữu thể “thuộc loại Thiên Chúa”, mơ hồ và bất định.
Vậy các cha đẻ của thuyết vô thần đã không biết Thiên Chúa của truyền thống lớn của Giáo Hội, mà chỉ biết Thiên Chúa như được giới thiệu trong các môi trường đại học. Thực tế họ không biết gì về Thiên Chúa thánh thiện và mầu nhiệm, Đấng tuyên bố trong Kinh Thánh: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi; đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55,8). Thiên Chúa đã làm cho người biết những lời xé lòng sau đây phải thốt lên: “Chúa làm con run sợ vì kinh hoàng”; hoặc một lần nữa: “Lạy Chúa, muôn lạy Chúa, sao Ngài nỡ bỏ rơi con?” (Tv 22,2). Thiên Chúa mà một tín hữu Do Thái, trước khi chết, có thể thưa với Ngài lời nói kinh khủng khắc trên tường một ngôi nhà bị hỏa hoạn tại một trong rất nhiều cuộc tàn sát người Do Thái mà lịch sử ghi nhận: “Lạy Chúa, Chúa đã làm mọi sự khiến con mất niềm tin, nhưng Chúa đã không thành công!” Hoặc, nếu họ biết một Thiên Chúa như vậy qua việc miệt mài thường xuyên đọc Kinh Thánh, thì Ngài đã không thành công đi vào khuôn khổ tư duy của họ.
Một Thiên Chúa như vậy – và chính họ cũng ý thức được điều đó – con người không có khả năng bịa đặt, vì Ngài là một Thiên Chúa hoàn toàn khác với hình ảnh mà chính con người có thể tạo ra. Một Thiên Chúa mà con người không thể “sử dụng”. Một Thiên Chúa, không những không đáp ứng được những khát vọng và ham muốn của con người, mà còn làm cho họ bối rối và hoàn toàn “làm mờ tối” tâm trí họ, cho dù để ban cho họ hạnh phúc sau đó.
Sự khác biệt giữa Thiên Chúa và những người thế chân Thiên Chúa thì không có nền tảng. Thiên Chúa của Kinh Thánh sẽ không than vãn vì con người muốn bỏ rơi Ngài (như Sartre trình bày trong tác phẩm Les mouches); Ngài sẽ không xin xỏ tín đồ hay những chứng từ công nhận như một nhà sáng lập nào đó của những tôn giáo mới mẻ và rỗng tuếch này. Ngài không nói: “Xin ngươi xá cho, Ta cầu xin ngươi, hãy tin vào Ta…” Đúng hơn, Ngài lấy quyền bính cao cả và êm ái mà quả quyết, như chúng ta đã nhắc nhớ lúc đầu: “Hãy dừng lại và hãy biết rằng Ta là Thiên Chúa.” “Dù các ngươi muốn hay không, tin hay không, ta vẫn là Thiên Chúa.”
Tertullianô đã viết: “Để biết Thiên Chúa là ai, chúng ta đừng đến trường học của các triết gia, cũng không phải nơi Epicurus, nhưng hãy lắng nghe các tiên tri và Đức Kitô[98].” Khi một triết gia chỉ biết hỏi các triết gia khác, để biết Thiên Chúa là ai, thì ông ta hành động như một người vẽ bản đồ đi hỏi ý một người vẽ bản đồ khác, để biết những đặc điểm của một vùng mà cả hai đều chưa từng đến xem hoặc rảo bộ qua. Như đôi khi người ta vẫn nói, trong trường hợp này, phải dùng bản đồ địa lý để xem địa hình được vẽ trên đó.
Một người lính đánh thuê bị thương nói với kẻ thù sắp kết liễu cuộc đời anh ta: “Ngươi muốn giết một người đã chết”. Đối với những người ngày nay tuyên bố rằng Thiên Chúa đã chết và chính họ là những kẻ giết Ngài, hoặc với những người nói thêm rằng Ngài đã chết “mà không cần xét xử[99]”, một tín hữu có thể trả lời cũng bằng ấy lý do: “Các ông đã giết một Thiên Chúa đã chết rồi.”
Một Thiên Chúa như thế đã chết, đó là một tin vui cho cả chúng ta nữa. Nhưng chúng ta hãy cảnh giác và đừng tìm cách làm cho Ngài sống lại! Thần tượng đúng là phủ nhận Thiên Chúa hằng sống. Trong mức độ những người này đã dẫn đầu cuộc chiến không phải chống lại Thiên Chúa hằng sống nhưng là chống lại cái bóng của Ngài, thuyết vô thần của họ không phải là phủ nhận Thiên Chúa, nhưng là chối bỏ sự phủ nhận Thiên Chúa. Theo một cách nào đó, họ đã làm cho con đường để khám phá lại Thiên Chúa hằng sống dễ dàng hơn. Họ là đồng minh của chúng ta hơn là đối thủ của chúng ta.
Lời chỉ trích mà Bonhoeffer gửi đến cái được gọi là “Thiên-Chúa-trám-lỗ”, cuối cùng cũng đi theo cùng một chiều hướng: đó là một lời chỉ trích mang tính Kinh Thánh điển hình, dựa vào Môsê. Bởi vì vai trò được gán cho Thiên-Chúa-trám-lỗ của các Kitô hữu rất gần với những ý định mà người Do Thái gán cho con bê bằng vàng ở sa mạc. Tuy nhiên, chúng ta hãy cẩn thận để không rút ra từ lời chỉ trích này kết luận hàm hồ rằng chúng ta phải làm quen với cách sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu (“etsi Deus non daretur“). Dĩ nhiên, đó là điều mà cả Môsê lẫn Kinh thánh không bao giờ có ý định dạy bảo.
Chúng ta hãy mở rộng tâm trí đến những chiều kích vô hạn của Thiên Chúa thật, bằng cách lấy phần tiếp theo của bài thánh ca mà Grêgôriô Nadian thưa lên với Chúa làm lời cầu nguyện của chúng ta:
Tất cả mọi chúng sinh, những người nói và những người câm, tôn xưng Chúa. Tất cả mọi chúng sinh, những người suy nghĩ và những người không suy nghĩ gì, tỏ lòng tôn kính Chúa. Mong muốn của mọi người, tiếng rên rỉ của mọi người hướng về Chúa. Tất cả những gì hiện hữu đều cầu xin Chúa, và hướng về Chúa, mọi chúng sinh đang nghĩ về vũ trụ của Chúa, dâng lên một bài thánh ca của thinh lặng.”
Tiếp theo những gì đã trình bầy cho đến lúc này, chúng ta có thể xác định thái độ mà thánh Phaolô, ở đầu thư gửi tín hữu Rôma, coi là “vô đạo” và “bất công”, ở chỗ nào? Câu trả lời là rõ ràng và như sau: ở một thời điểm nào đó, người ta hoàn toàn quên là không thể nói về Thiên Chúa mà không đồng thời uốn cong “đầu gối của trái tim”, không tôn vinh Ngài, không tỏ lòng biết ơn Ngài, không nhận rằng Ngài vẫn là Thiên Chúa. Nói tóm lại, chúng ta đã không còn nói về Thiên Chúa vì vinh quang của Thiên Chúa, nhưng là vì vinh quang của con người.
Như vậy các vai trò đã bị đảo ngược. Thiên Chúa phải giúp bảo đảm sự thành công của nhà triết học và, như chúng ta sẽ thấy, đôi khi thậm chí của nhà thần học. Do đó mà có bầu khí tranh chấp giữa các nhân vật và trường phái, nơi mà chính Thiên Chúa hoàn toàn chuyển sang vị trí thứ hai. Ngài không còn là một ngôi vị nữa, nhưng là một luận chứng. Từ đó, không còn khen ngợi, không còn khiêm tốn tạ ơn, không còn tôn thờ, trong khi những thái độ này, dù không biểu lộ ra bên ngoài, luôn thấp thoáng nơi một tác giả có chúng trong lòng. Điều xấu này tái tạo điều xấu của thế giới ngoại giáo xưa: thiếu khiêm tốn. Người ta thường nói về sự bất ổn trong nền văn minh của chúng ta. Dựa vào ánh sáng lời Chúa, sự bất ổn này đến từ một nguồn ai nấy đều biết rõ, đó là kiêu ngạo.
Không khó để phân biệt một số nguyên nhân chính khiến thời kỳ hiện đại đánh mất ý thức về sự khác biệt vô biên về phẩm chất giữa Thiên Chúa và con người và thậm chí khiến một số Kitô hữu gác qua một bên việc ca ngợi và thờ phượng.
Trước hết, người ta sẽ ghi nhận việc nhấn mạnh một phía sự kiện nhập thể và tính nội tại của Thiên Chúa, như thể qua việc nhập thể và tính nội tại của mình, Thiên Chúa đã không còn là Thiên Chúa nữa, trong khi bằng cách nhập thể, Ngài “trở thành cái Ngài đã không là, mà vẫn còn là cái đã là” như người ta biết rất rõ.
Ở nguồn gốc của thái độ này, hơn cả sự nhập thể, tức là sự hạ mình của Thiên Chúa, trước hết phải đặt ảnh hưởng của sự tán dương con người quá mức, hình thức của chủ nghĩa nhân bản này được quan niệm như một hệ thống đặt con người ở trung tâm và đỉnh cao mọi sự. Tertullianô trả lời cho Marcion: “Nhờ nhập thể, Thiên Chúa đã lấy một cái gì đó của mình để ban cho con người[100].” Và con người đã làm ngược lại: đã lấy trộm cái gì đó của Thiên Chúa, và giữ nó để làm lợi cho mình.
Chúng ta lại còn đề cao việc tìm kiếm sự thật như là giá trị tối cao, quan trọng hơn chính sự thật. Lessing, người theo thuyết thiên cảm (illuministe), viết: “Nếu Thiên Chúa nắm trong tay phải tất cả sự thật và nắm trong tay trái chỉ là khát khao luôn sinh động muốn sự thật, và Ngài nói với tôi: “Hãy lựa chọn đi!”, ngay cả có nguy cơ Ngài đánh lừa tôi mãi mãi đến muôn đời, tôi vẫn khiêm nhường phủ phục hướng về phía tay trái Ngài mà thưa: “Con chọn tay này, lạy Chúa! bởi vì sự thật thuần túy hiển nhiên chỉ thuộc về một mình Chúa[101]!” Niềm vui của cuộc đi săn lớn hơn nhiều so với niềm vui bắt được con mồi: niềm vui được biện minh ở cuộc đi săn đó. Như thể trong lãnh vực này, niềm vui đáng kể hơn bổn phận.
Dưới vỏ bọc khiêm tốn, và với lý do không bao giờ muốn “tin chắc ở mình”, quan điểm này che giấu sự kiêu căng lớn nhất của con người. Bao lâu việc tìm kiếm sự thật còn kéo dài, người hướng dẫn cuộc chơi là người tìm kiếm chứ không phải sự thật. Sự “chân thực” (véracité), tức là sự “thành thật” (sincérité) của nghiên cứu, sự lương thiện với chính mình khi đó thay thế cho sự thật. Kinh Thánh nói đến những người “học mãi mà chẳng bao giờ biết được chân lý” (2Tm 3,7). Chúng ta coi đây là một cố gắng tinh tế để làm cho Thiên Chúa phải lúng túng, vì với trạng thái tâm trí như vậy, con người có thể dành cả cuộc đời để nghiên cứu về Thiên Chúa mà không bao giờ thờ phượng Ngài. Gần giống như người đó đã mất hàng bao nhiêu năm mãi mãi tìm lại tài khoản của mình, để trì hoãn thời gian giải quyết các khoản nợ của mình. Tôi còn nhớ chuyện tâm sự, đượm nhiều hối tiếc vô hạn, mà tôi thu thập được bên giường bệnh của một người đã dành cả cuộc đời để viết và thuyết trình về Thiên Chúa: “Tôi đã dành cả đời nghiên cứu về Thiên Chúa, nhưng tôi đã không tìm kiếm Ngài!”
Bao lâu là vấn đề nghiên cứu, thì tôi xin nói: chính con người mới dẫn dắt cuộc chơi. Nhưng khi Chân Lý (viết hoa) đã được tìm thấy, thì khi ấy chính nó mới lên ngôi và ban hành luật. Người tìm kiếm phải là người đầu tiên quỳ gối trước nó. Nhiều người có học và có trình độ cố gắng trì hoãn lúc này càng lâu càng tốt, vô thời hạn. Người ta có thể áp dụng cho việc tìm kiếm này về Thiên Chúa một suy tư có tầm quan trọng tổng quát hơn của Dostoievski: “Con người quan tâm đến việc theo đuổi một mục đích, chứ không phải chính mục đích… Anh ta vượt qua đại dương và hy sinh mạng sống mình trong việc tìm kiếm này, nhưng đạt được mục đích của mình, tìm thấy thực sự, thì có thể nói anh ta sợ chuyện đó[102].”
Tôi nghĩ đó là điều giải thích ít nhất một phần thành công của rất nhiều tôn giáo ngoài Kinh Thánh. Một đặc điểm của hầu hết các tôn giáo mới này là đề ra một Thiên Chúa vô ngôi: Tinh Thần tuyệt đối, Thần Lực sống, Luật vũ trụ, Tất Cả, hoặc có thể là Không Gì, và những kiểu nói khác… Sự khác biệt chính giữa Thiên Chúa ngôi vị và Thiên Chúa vô ngôi là ở chỗ Thiên Chúa ngôi vị có một ý muốn mà người ta phải tính đến và phục tùng: đây không phải là trường hợp của Thiên Chúa vô ngôi. Cúi đầu trước một Thiên Chúa vô ngôi chẳng có giá trị gì, thực tế giống như cúi đầu trước chính mình. Con người không thích nghe những kiểu nói như: “Ngươi phải!”, hoặc “Ngươi không được!”, là những kiểu nói làm họ rất khó chịu. Nhưng họ cũng không nghe thấy nữa những lời như: “Ta đã yêu ngươi bằng một tình yêu vĩnh cửu“, hoặc: “Hãy vào mà hưởng niềm vui của Chúa ngươi.“
Một triết gia đã nói: “Đấng Tuyệt Đối giết chết sự tìm kiếm”. Và một triết gia khác: “Đấng Tuyệt Đối giết chết lương tâm.” Một triết gia thứ ba thêm: “Đấng Toàn Năng dập tắt tự do.” Bây giờ Đấng Tuyệt Đối giết chết sự kiêu căng của con người chứ không phải con người hay việc tìm kiếm của con người. Ngay cả khi đã tìm ra Sự Thật, việc tìm kiếm vẫn tiếp tục và hăng say hơn trước, vì nó đã khám phá ra một cánh đồng rộng lớn để hoạt động. Nhưng khi đó chính là một người tín hữu tiếp tục tìm kiếm.
Sự toàn năng của Thiên Chúa không dập tắt tự do. Ngược lại, nó tạo ra tự do và làm cho người ta có thể thi hành nó. Kierkegaard viết: “Điều vĩ đại nhất có thể làm cho một con người và vĩ đại hơn nhiều so với những gì một người có thể làm, là làm cho người đó được tự do. Để đạt được điều này, thì phải toàn năng. Điều này có vẻ kỳ lạ, bởi vì sự toàn năng sẽ khiến người ta phải tùy thuộc… Một người không bao giờ có thể làm cho một người khác được hoàn toàn tự do… Chỉ có sự toàn năng mới có thể lấy lại được chính mình khi tự hiến mình, và mối tương quan này chính xác tạo nên sự độc lập của người nhận. Mọi quyền năng hữu hạn đều làm cho người ta phải phụ thuộc; chỉ sự toàn năng mới có thể làm cho người ta độc lập mà thôi[103].” Nói cách khác, chỉ với Thiên Chúa, người ta mới có thể được tự do thực sự.
Chúng ta hãy dùng hai đoạn cuối cùng của bài thánh ca của thánh Grêgôriô mà cầu nguyện:
“Tất cả những gì tồn tại đều do Chúa mà tồn tại; sự chuyển động vũ trụ cũng tồn tại do Chúa. Chúa là cùng đích của mọi hữu thể; Chúa là tất cả hữu thể và không là hữu thể nào trong số đó. Chúa không phải là một hữu thể duy nhất, không phải là toàn bộ hữu thể. Chúa có tất cả các tên và con sẽ gọi tên Chúa thế nào? Phải chăng Chúa là Đấng duy nhất không thể gọi tên? Tâm trí nào sẽ có thể xuyên qua những đám mây bao phủ chính bầu trời? Trí khôn thiên thần nào có thể xâm nhập vào Chúa? “Xin xót thương, lạy Chúa, Đấng vượt lên trên mọi sự, đó không phải là tất cả những gì người ta có thể ca ngợi về Chúa sao[104]?”
23. ĐỨC TIN KHÔNG KẾT THÚC Ở NHỮNG CÔNG THỨC
Chúng ta sẽ thiếu lương thiện nếu chỉ tố cáo hình thức thờ ngẫu tượng đã phát triển trong văn hóa và triết học, mà không làm sáng tỏ ít nhiều các hình thức thờ ngẫu tượng khác đã xâm nhập ngay cả trong Giáo Hội nơi các tín hữu. Thánh Tôma Aquinô đã đưa ra nguyên tắc lớn mà chúng ta đã nhắc lại lúc đầu: “Hành vi của người tin không kết thúc ở một lời tuyên bố nhưng ở thực tại.” Khi những lời tuyên bố hoặc công thức đức tin, kể cả những tín điều là những công thức trang trọng nhất, bắt đầu được chuyển đạt và được đón nhận vì chính chúng, mà mỗi lần không mở ra như những cánh cửa cho phép tiếp cận thực tại sống động của Thiên Chúa hoặc của Đức Giêsu Kitô, khi chúng hóa thạch, nếu có thể nói như vậy, thì cuối cùng sẽ đi đến chỗ vụ hình thức. Đối với các người thực hành đạo, điều này tương đương với ý thức hệ. Khi ấy các công thức về Thiên Chúa trở thành ý tưởng về Thiên Chúa như các triết gia thường nói: đó là những cái thay thế cho Thiên Chúa hằng sống, những bản sao mờ nhạt, không liên quan đến thực tại. Các thuật ngữ và định nghĩa hơi giống các đường kinh tuyến và vĩ tuyến trên bản đồ: chúng có công dụng để định hướng cho chúng ta (và do đó rất quý giá và cần thiết) nhưng thật ngu ngốc khi thu gọn Trái đất vào giao điểm của các đường này hoặc không còn khả năng hình dung ra nó nếu không có hàng lưới mắt cáo ấy!
Làm thế nào để giải thích thái độ này? Sự tiến triển trong cách quan niệm vai trò và sứ mệnh của thần học chắc chắn đã có ảnh hưởng ở đây. Chúng ta có những công trình tốt đã tái tạo lịch sử của thuật ngữ “thần học” từ nguồn gốc của nó cho đến nay. Những nghiên cứu này làm minh bạch một sự thay đổi trong những thay đổi rõ nhất với một nét mới vào khoảng thế kỷ XII. Cho đến lúc đó, người ta hiểu thần học là “một cách nào đó biết Thiên Chúa và nói về Ngài” trong một ngôn ngữ in dấu sự ca ngợi, thờ phượng, hoàn toàn chấp nhận Thiên Chúa trong đời sống cá nhân. Đôi khi thuật ngữ thần học, có nghĩa là nói về Thiên Chúa, được sử dụng gần như đồng nghĩa với theosebeia, thờ phượng Thiên Chúa[105].
Khi trong các bản văn Kitô giáo đầu tiên lần đầu xuất hiện động từ theologein, “làm thần học”, ý nghĩa đó được xác định rõ ràng là: “nhờ các Thánh vịnh và thánh ca ngợi khen Ngôi Lời Thiên Chúa, coi Ngài như Thiên Chúa[106].” Theo Origen, các nhà thần học trước hết là các tiên tri, sau đó là Gioan Tẩy Giả, người đã công bố công khai thần tính của Đức Kitô, và nhất là chính Đức Kitô, khi Ngài nói về Chúa Cha. Truyền thống sẽ phong cho thánh sử Gioan danh hiệu “Nhà Thần Học”, vì ngài đã công bố thần tính của Ngôi Lời nhập thể. Người ta rất thường coi thần học như một sự khôn ngoan, một ân sủng, một đặc sủng. Chỉ có Chúa Thánh Thần, Đấng dò thấu những nơi sâu thẳm của Thiên Chúa, mới có thể dạy cho người ta cách nói về Thiên Chúa. Vào thế kỷ thứ IV, Evagre đã diễn tả quan điểm này trong phương trình nổi tiếng: “Nếu bạn là một nhà thần học, bạn sẽ thực sự cầu nguyện và nếu bạn thực sự cầu nguyện, bạn sẽ là một nhà thần học[107].”
Từ thế kỷ XII, dưới ảnh hưởng của Abélard và triết học của Aristote, biện chứng pháp được thừa nhận trong các khoa học thánh và thần học có được một ý nghĩa mới: đó là kiến thức có hệ thống, đầy đủ và có tính khoa học về các dữ kiện của mạc khải, một cách trình bầy hợp lý về những gì liên quan đến Kitô giáo, như thánh Tôma đã định nghĩa nó trong phần mở đầu của bộ Summa (Tổng luận). Theo nghĩa này, người ta có thể nói chính xác về một “tổng luận thần học,” một tổng thể hữu cơ và chặt chẽ các vấn đề liên quan đến Thiên Chúa và mạc khải. Đây là lúc khái niệm thần học như là khoa học ra đời[108].
Trong những ngày đầu, sự thay đổi này không đem lại điều gì đặc biệt mang tính cách mạng. Nó không hề loại trừ đặc điểm tôn giáo của sự khiêm tốn phục tùng Thiên Chúa, từ khởi thủy đã liên kết với hoạt động thần học. Nhưng mối nguy hiểm do quan niệm thần học theo phương thức mới này sớm bộc lộ. Từ thời kỳ tiếp sau thời kỳ của các bậc thầy thần học, chủ thuyết duy danh sẽ chiến thắng. Luồng tư tưởng này sẽ có ưu thế trong suốt những thế kỷ XIV và XV. “Thần học đã trở thành một cơ hội cho nhà thần học chứng tỏ sự tài khéo của mình trong việc sử dụng thuật luận lý, nhưng thiếu mối tương quan bên trong với đối tượng. Thần học không còn là học thuyết về sự cứu rỗi, và nhà thần học có thể dễ dàng miệt mài với những suy tư táo bạo vì ông ít thấy ơn cứu độ của mình hàm chứa trong hệ thống thần học của mình[109].” Trong trường hợp này, người ta không còn có thể nói về thần học đích thực nữa, bất quá nói về tài khéo thần học. Ngay cả khi các đề tài riêng cho trường phái này sau đó hầu như bị bỏ rơi, kể từ đó, người ta không bao giờ có thể hoàn toàn đi lên lại triền dốc hoặc hoàn toàn quên đi cách thức “làm thần học” đã được thiết lập lâu đời này.
Qua chủ thuyết duy danh, các ý tưởng bắt đầu mất liên hệ với hữu thể để giản lược thành những “danh xưng”, mà người ta có thể tự do thao túng vì từ đây chúng không có bất cứ nội dung thực sự nào và không bám vào “sự vật”, nghĩa là vào lịch sử cứu độ. Người ta sẽ đi đến chỗ mâu thuẫn rõ ràng nhất với nguyên tắc theo đó “đức tin không kết thúc ở những lời tuyên bố nhưng ở thực tại”.
Cũng phải để ý đến một yếu tố khác giải thích sự tiến triển tiêu cực của thần học được quan niệm như “khoa học”. Vào thời thánh Tôma và thánh Bonaventura, thần học là nữ hoàng của các khoa học. Các trường đại học đã thừa nhận nó đứng đầu trên tất cả các môn khác mà nó “tạo hình” và gợi hứng, chính những môn này còn được quan niệm trong một viễn tượng thiêng thánh và tôn giáo. Những bất tiện sẽ xuất hiện sau đó, khi mà, một cách thích đáng, các ngành khoa học sẽ được giải phóng và các mối quan hệ sẽ thay đổi theo. Triết học trở thành khoa học tuyệt vời, sau đó, trong những thế kỷ gần đây, đến lượt môn vật lý. Từ đó, các ngành khoa học khác sẽ áp đặt quy chế riêng của chúng lên thần học mà không dễ nhận ra, chủ yếu khi thần học được giảng dạy ngang hàng với các bộ môn khác trong các trường đại học thế tục. Nhà khoa học phải giữ thái độ trung lập trước đối tượng nghiên cứu của mình, đó không phải là một trong những định đề của não trạng khoa học sao? Hoặc đúng hơn, ông phải thống trị đối tượng đó và trở thành chủ nhân của nó. Để tỏ ra tôn trọng một nhà khoa học, chẳng phải người ta nói rằng ông ấy hoàn toàn “làm chủ” vấn đề của mình đó sao? Như đã thấy, làm chủ đối tượng mà chúng ta biết là một phần của chính tri thức, như Tây phương quan niệm, theo đường lối của triết học Hy Lạp.
Nguyên tắc khoa học này, hoàn toàn có giá trị ở những chỗ khác, cho thấy ngay là sai lầm nếu được áp dụng cho thần học. Làm thế nào có thể “làm chủ” Thiên Chúa và Kinh Thánh? Bởi vì trong trường hợp này, một trường hợp chắc chắn là độc nhất, đối tượng là Thiên Chúa làm chủ chủ thể là con người; người ta không thể bắt đối tượng này phục tùng và không thể giữ trung lập đối với Ngài. Tuy nhiên, chính đó là điều đã xảy ra: nguyên tắc hiện đại này đã lan truyền rất rộng, nhưng lại quá chậm, quá lan tỏa, nên rất hiếm khi người ta ý thức vấn đề. Đặc biệt là khi học Kinh Thánh và lời Chúa, người ta đã không biết tránh nguy hiểm này.
Một cách tổng quát, thần học đã mất đi chiều kích thiêng liêng mà một thời đã hoàn toàn thấm nhiễm chiều kích ấy. Thế rồi, vào một giai đoạn nào đó, người ta cảm thấy cần phải khôi phục lại giá trị này. Khi ấy người ta đưa vào một nhánh độc lập được gọi là “Thần học tu đức”. Nhưng đây luôn luôn chỉ là một môn nhiệm ý, cũng nhanh chóng được quan niệm theo kiểu một khoa học và do đó có tính khách quan và trung lập. Khuynh hướng vẫn là loại bỏ chính khái niệm “xây dựng”, vốn thuộc một thể loại thấp hơn, loại “văn chương (gọi là) xây dựng”, dành cho những tâm hồn đạo đức. Tuy nhiên, người ta có lý do chính đáng mà không viết rằng “theo quan điểm Kitô giáo, mọi sự, tuyệt đối mọi sự, đều phải phục vụ cho việc xây dựng. Tinh thần khoa học nào, cuối cùng, không đóng góp vào việc đó, thì tự thân là xa lạ với Kitô giáo[110].” Chỉ ý nghĩ thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc và ngợi khen vào giữa diễn từ về Thiên Chúa, như cách thánh Phaolô quen làm, ngày nay dường như hoàn toàn phi lý, phản khoa học và không nghiêm túc lắm. Tuy vậy, nó lại không nằm trong lôgich hoàn hảo của các sự việc sao?
Nhà thần học không bao giờ được giống nhà địa lý mà Le Petit Prince (Hoàng tử bé) của Saint-Exupéry nói đến:
“Hoàng tử bé nhận xét:
– Hành tinh của ông rất đẹp. Nó có biển cả không?
Nhà địa lý nói:
– Tôi không thể biết.
– Vậy à! (Hoàng tử bé thất vọng). Thế còn núi?
– Tôi không thể biết.
– Và các thành thị, sông ngòi và sa mạc?
– Tôi cũng không thể biết nữa.
– Nhưng ông là nhà địa lý mà!
Nhà địa lý nói:
– Đúng vậy, nhưng tôi không phải là nhà thám hiểm. Tôi tuyệt đối không có những nhà thám hiểm. Không phải nhà địa lý sẽ đếm các thành thị, sông ngòi, núi non, biển cả, đại dương và sa mạc. Nhà địa lý quá quan trọng nên không thể đi lang thang. Ông không rời khỏi văn phòng. Nhưng ông đón nhận những nhà thám hiểm. Ông hỏi họ, và ghi lại những kỷ niệm của họ.”
Nhà thần học không thể miễn cho mình việc cầu nguyện, vì các sông, núi, biển, đại dương và sa mạc nơi “hành tinh” của Thiên Chúa chỉ có thể được khám phá bằng lời cầu nguyện.
Nếu tội lỗi mà thánh Phaolô tố cáo giác hệ tại ở chỗ biết Thiên Chúa mà không đồng thời tôn vinh và tạ ơn Ngài, thì chúng ta không thể không kết luận rằng lời này của thánh Tông Đồ cũng phán xét, và chắc chắn phán xét đặc biệt, một cách nào đó làm thần học, một cách đã chiếm ưu thế rất lâu ở châu Âu, từ đó đã được xuất khẩu sang phần còn lại của thế giới.
Kể từ Công đồng Vatican II, và thậm chí trước đó, một sự thay đổi đã hình thành. Thần học đã tìm cách tiến gần lại con người và những vấn đề cụ thể của dân Thiên Chúa; nói tóm lại là để “trở về với chính sự vật”. Đóng góp của nó quan trọng trong nhiều lãnh vực; vai trò cứu độ của nó rất cần thiết cho đời sống của Giáo Hội. Còn tu đức Kitô giáo sẽ ra sao nếu không có một thần học lành mạnh hợp lý để bảo vệ nó khỏi những nguy cơ của chủ quan thuyết và không dấn thân? Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm theo hướng khác, hướng mà thần học tiếp cận – và đặc biệt – trước hết xích lại gần Thiên Chúa. Một tác giả xưa đã viết: “Không có gì nghèo nàn hơn một tư tưởng thuyết lý về những sự việc của Thiên Chúa bên ngoài Thiên Chúa[111].”
Chúng ta hãy coi là của chúng ta kinh mà thánh Tôma Aquinô đã đọc trước khi nghiên cứu thần học:
“Lạy Thiên Chúa giầu lòng thương xót, chúng con cầu xin Chúa ban cho chúng con biết nhiệt thành khát khao điều đẹp lòng Chúa, thận trọng tìm kiếm và phát hiện ra điều ấy mà không sai lầm và hăng say thực hành. Tất cả là để ca tụng và vì vinh quang Danh Chúa. Amen[112].”
24. AI TRONG CHÚNG TA CÓ THỂ ĐỨNG VỮNG TRONG LỬA HỎA HÀO MUÔN KIẾP?
Câu chuyện cuối cùng của chúng ta về các công thức thần học, chúng ta có thể lấy lại và áp dụng nó vào các thực tại khác của Giáo Hội, chẳng hạn các nghi lễ và phẩm trật. Thật vậy, mối nguy hiểm gặp phải cũng tương tự, cho dù với những gì “biểu thị” Chúa hay với những người “đại diện” Ngài. Những người đại diện này là những con người, những cơ cấu, những quyền bính, những vị thế trung gian, thay thế Thiên Chúa và không thiếu trong Giáo Hội. Những đại diện này, nếu từ từ tách ra khỏi thực tại và thẩm quyền duy nhất mà chúng đại diện, nếu đánh mất đặc tính khiêm tốn và dụng cụ của mình, nếu trong mọi việc và lúc nào cũng tin chắc mình là những người mang ý muốn và tư tưởng của Thiên Chúa, thì sẽ đến lúc chúng mang dáng vẻ ít nhiều rõ nét của ngẫu tượng và khơi dậy sự tôn thờ ngẫu tượng: thờ ngẫu tượng quyền bính, ngẫu tượng các cơ cấu, và thậm chí (ít nhất là trong quá khứ) ngẫu tượng Huấn quyền.
Ai dám khẳng định rằng rủi ro này chỉ là giả thuyết? Khi người ta có ý định nhốt chặt Thiên Chúa và ý muốn sống động của Ngài trong một hệ thống khép kín những tín điều, luật lệ, thể chế và giáo luật, không có bất cứ dư lượng nào còn sót lại, không có câu hỏi nào đang chờ giải quyết, người ta không tránh khỏi chuyện đánh mất ý thức về Thiên Chúa hằng sống.
Các dấu chỉ, và trước hết các dấu chỉ bí tích, các trung gian, công thức, là cần thiết và cốt yếu trong Kitô giáo, đúng là để không giản lược Thiên Chúa và Chúa Giêsu Kitô thành những ý tưởng trừu tượng. Nhưng chính những dấu chỉ này phải được thanh tẩy, đổi mới trong Thần Khí, để cuối cùng không trở thành “xác thịt vô tích sự” và “văn tự giết chết”. Thánh Tôma đã dạy rằng “ngay cả chữ viết của Phúc Âm cũng có thể giết chết, nếu người ta không thêm vào nó từ bên trong ân sủng và đức tin chữa lành[113].” Khi đó phải nói gì về những “chữ viết” khác kém thiêng thánh hơn nhiều so với Phúc Âm?
Trong lănh vực này, còn phải nói đến một thực tại khác cần phải cảnh giác, để tránh mọi hình thức thờ ngẫu tượng: đó là điều được gọi là tín ngưỡng bình dân. Câu chuyện con bê bằng vàng là một trường hợp điển hình. Dân chúng tụ họp bên tư tế Aaron và xin: “Xin ông làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi.” Aaron trả lời: “Hãy gỡ các khuyên vàng mà vợ và con trai con gái anh em đeo ở tai, rồi đem đến cho tôi.” Cảnh này thường được lặp lại ở một số vùng nào đó của Kitô giới, chẳng hạn xung quanh tượng của một thánh bổn mạng. Hiển nhiên tín ngưỡng bình dân là tốt: nó phải được tôn trọng nếu nó dùng để diễn tả, với những hình thức phù hợp với dân chúng, đức tin chân chính Kitô giáo vào Thiên Chúa hằng sống và vào Đức Giêsu Kitô. Nhưng nếu các buổi lễ và kiệu rước để tôn vinh một vị thánh bổn mạng, hoặc một biến cố nào khác được cử hành như là cao điểm của năm phụng vụ, nếu chúng là thời gian sống đạo nhiệt thành nhất, đôi khi hơn cả lễ trọng thể mừng Chúa Phục Sinh, thì đó là dấu hiệu đi sai đường cần chấn chỉnh. Lời biện minh Aaron nói với Môsê: “Chính dân đã muốn thế“(x. Xh 32,22) hoàn toàn vô giá trị trong trường hợp này.
Những nhận xét phê bình này không có nghĩa là trong suốt những thế kỷ qua, cả bên ngoài lẫn bên trong Giáo Hội, tất cả chỉ là ý thức hệ, tính hình thức và do đó là thờ ngẫu tượng theo nghĩa đã trình bày ở trên. Như thể Thiên Chúa hằng sống đã biến mất không những khỏi văn hóa và triết học mà còn khỏi đời sống của Giáo Hội. Từng bước theo thánh Phaolô trong giáo huấn của ngài, tôi chỉ muốn làm rõ nét một yếu tố tiêu cực, giống như một vằn xám trong mạch vàng nguyên chất phải loại bỏ, để vàng có thể tỏa sáng rực rỡ. Đôi khi đây là một nguy cơ hoặc một mối đe dọa, người ta phải biết cách tự bảo vệ trong tình hình như vậy. Cũng như sắt và rất nhiều đồ vật khác bị oxy hóa hoặc xỉn màu khi tiếp xúc với không khí, cũng vậy đức tin, trong môi trường não trạng, đời sống và văn hóa chúng ta, có khuynh hướng bị oxy hóa và xỉn đi do những cách con người thực hành đạo; cần phải định kỳ loại bỏ các lớp cặn hoặc lớp xỉn màu này, để khôi phục lại độ sáng bóng của nó.
Hơn nữa, tại sao lại phải ngạc nhiên? Khuynh hướng tạo ra những con bê bằng vàng và đặt những tấm màn bảo vệ giữa mình và Thiên Chúa, phát xuất từ thân phận con người nguyên thủy của chúng ta: sau khi phạm tội, Ađam là người đầu tiên muốn “ẩn mình” trong những tán lá để tránh gặp Thiên Chúa (x. St 3,10). Sách Samuel, trong một câu có tính mạc khải, biện minh cho đề nghị của dân chúng tống khứ hòm bia của Chúa: “Ai có thể đứng trước nhan Đức Chúa, Thiên Chúa thánh thiện này?” (1Sm 6,20). Isaia kể lại điều những kẻ vô đạo và tội nhân ở Sion đã nói hoặc nghĩ trong lòng: “Ai trong chúng ta có thể đứng vững? Đó là lửa thiêu… Đó là một ngọn lửa tiêu hao … đó là hỏa hào muôn kiếp!” (Is 33,14).
Những người thường xuyên phải đối mặt với lửa, chẳng hạn lính cứu hỏa, phải mặc (hoặc trước đây đã từng mặc) bộ đồ bằng a-mi-ăng chống cháy. Đó là những gì con người làm với Thiên Chúa, “Bộ đồ bằng a-mi-ăng”, đó có thể là ý tưởng, công thức, dấu hiệu, truyền thống của con người hoặc rất nhiều giá trị khác đủ loại: trên thực tế, tất cả những gì có thể dùng làm chất cách ly giữa chúng ta và ngọn lửa đang cháy là Thiên Chúa. Ngay cả Giáo Hội, với văn hóa, tổ chức, lịch sử của mình, có thể trở thành một bức bình phong bảo vệ, một nơi trú ẩn để thoát khỏi cuộc đối đầu “nóng bỏng” với Thiên Chúa hằng sống, trong khi Giáo Hội là và phải là nơi diễn ra cuộc gặp gỡ này.
Trong đoạn văn được trích dẫn, Isaia đáp lại bằng cách chỉ ra phương tiện sống giữa lửa hỏa hào muôn kiếp này: “Theo đường chính trực, ăn nói thẳng ngay …” Thế mà chính đó là điều mà con người không thấy có can đảm chấp nhận. Phúc Âm theo thánh Gioan, qua hình ảnh ánh sáng, cũng dạy một chân lý như vậy: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3,19).
Có lẽ trong tất cả những điều đó, có một lý do chi phối mọi lý do khác. Tiếp theo thánh Tôma Aquinô, một nhà thần học vĩ đại giải thích rằng thái độ chống lại cái siêu nhiên phát xuất từ ước vọng kiêu căng của con người muốn “để cho Thiên Chúa chăm sóc các công việc thần linh của mình, miễn Ngài không đến quấy rầy chúng ta trong những công việc nhân loại của chúng ta[114]“. Đây không phải là một giả thuyết thuần túy của các nhà thần học được soạn thảo một cách trừu tượng, vì Goethe cho chúng ta một bằng chứng về điều đó trong những vần thơ khủng khiếp này, có tựa đề chính xác là “Những cảm giác của con người”:
“Hỡi các vị Thần, các vị Thần vĩ đại,
ngự trên bầu trời bao la!
Xin ban cho chúng tôi trên trái đất
một tinh thần vững vàng và táo bạo,
và bằng cả trái tim, chúng tôi sẽ để lại cho các ngài
bầu trời bao la trên cao[115].”
Nói tóm lại, con người tìm kiếm sự bảo vệ bên trong những giới hạn của mình. Trong chính những giới hạn của mình là thụ tạo, họ muốn tìm một nơi trú ẩn chống lại vô biên. Họ ý thức rằng trước mặt Thiên Chúa hằng sống, họ không thể đùa giỡn với chủ và phải sống khiêm nhường, như dưới ách thống trị, nhưng họ tìm cách trốn khỏi tình trạng này. Họ muốn được “tự chủ”.
Thế nên ý thức suy yếu về Thiên Chúa sống động và khuynh hướng thay thế Thiên Chúa bằng ý tưởng về Thiên Chúa hoặc bằng những hình thức thay thế khác không bắt nguồn từ Thiên Chúa. Đó không phải là một loại tương ứng tâm linh nào đó của quy luật vật lý entropi (*), chẳng hạn khiến các vật thể phóng xạ, theo thời gian, mất đi tính phóng xạ và trở thành các vật thể chết. Đúng hơn, đó là hậu quả của những gì mà vị Tông Đồ coi là “vô đạo”! Trong chừng mực chúng ta quên tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa, do đó, cử chỉ cụ thể nhận biết Chúa là Thiên Chúa và thờ phượng Ngài biến mất, thì chính Thiên Chúa ẩn mình đi; không gì còn lại về Ngài ngoài một ảo ảnh (simulacre) vô hồn. Như khi một ngọn núi lửa tắt, dòng dung nham nóng sáng chảy ra từ miệng núi lửa được phân tầng trong đá bazan.
———-
(*) Entropie : thuật ngữ nhiệt động lực học. Đại lượng mà giá trị của nó, đối với mỗi vật thể, phụ thuộc vào trạng thái thực tế của vật thể này, và không đổi khi vật thể trải qua một loạt các biến đổi trong đó nó không nhận hoặc mất nhiệt; nó biểu thị cho giá trị của tích phân của tỷ số giữa sự gia tăng vô hạn nhiệt lượng truyền cho một vật thể, với nhiệt độ tuyệt đối của vật thể này; biểu thức này luôn luôn có thể tích hợp (Dictionnaire de francais “Littré”).
Cùng với tác giả sách Gương Chúa Giêsu Kitô, chúng ta hãy cầu nguyện:
“Con cái Israel ngày xưa nói với Môsê: Xin chính ông hãy nói với chúng tôi, chúng tôi mới dám nghe, nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất” (Xh 20,19). Lạy Chúa, đó không phải là lời con cầu nguyện. Trái lại, xin đừng để Môsê hay bất cứ tiên tri nào nói với con, nhưng xin Chúa hãy nói, lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Chúa là ánh sáng của các tiên tri và là thần trí soi dẫn họ[116].”
25. HÃY ĐỂ CHO THIÊN CHÚA ĐƯỢC TỰ DO
Để kết thúc, chúng ta hãy quyết định để cho Thiên Chúa được tự do. Thế giới đòi hỏi quyền tự do của con người; họ không ngừng nói về nó. Trên hết, là sự tự do của mình đối với Thiên Chúa, đối với mạc khải, đối với luật pháp của Ngài. Nhưng chúng ta, những người tín hữu, chúng ta phải bảo vệ sự tự do của Thiên Chúa. Chúng ta phải nhìn nhận sự tự do của Thiên Chúa, như tác giả Thánh vịnh đã tuyên bố: “Hãy nhìn nhận sức uy hùng của Thiên Chúa!” (Tv 68,35)
Nhìn nhận hoặc trả lại cho Thiên Chúa sự tự do của Ngài có nghĩa gì? Có nghĩa là biết chấp nhận Chúa là Thiên Chúa luôn luôn mới, Đấng luôn luôn làm ra điều mới, ngay cả trước khi chúng ta chưa hiểu điều cũ, điều “cũ” mà dĩ nhiên chúng ta sẽ không bao giờ có thể hiểu được hoàn toàn. Điều đó còn có nghĩa là không buộc Ngài phải đi theo nước bước của chúng ta, một cám dỗ của Giáo Hội trong thực tại nhân loại của mình: muốn “hệ thống hoá” hoặc muốn cho Thiên Chúa phù hợp với quan điểm của chúng ta, giản lược Ngài thành một hệ thống, được tổ chức tốt, hoàn chỉnh và đã đóng kín, tất cả đã sẵn sàng để được chuyển đạt, không có vấn đề nào tồn đọng, không có điều gì đang thay đổi. Người ta có thể so sánh Giáo Hội với một nhà xuất bản phải đối phó với một thiên tài. Người này đã thực hiện một cuốn tiểu thuyết vĩ đại và đã ủy thác việc phát hành cho một nhà xuất bản đăng dần từng kỳ. Theo đà xuất hiện, tác phẩm lớn dần, các nhân vật mới xuất hiện cũng như các tập mới, tập đầu tiên được lấy lại và phát triển… Sáng tạo nghệ thuật dường như luôn phong phú hơn. Nhà xuất bản ngày càng mất kiên nhẫn. Ông muốn tác phẩm cuối cùng được hoàn thành để có thể liên kết nó lại thành một cuốn sách đẹp, đăng ký nó vào danh mục của mình và bắt đầu phân phối. Thế mà, ông buộc phải tiếp tục không ngừng in ấn, vì tất cả các độc giả đều muốn có ấn bản cuối cùng, và ông, một nhà xuất bản tội nghiệp, không thể bán những ấn bản đầu tiên mà ông phải chất đống trong kho.
Theo tôi, dường như chúng ta đang bỏ qua sự tự do mà chúng ta phải thừa nhận nơi Thiên Chúa, và khuynh hướng này đã ăn sâu vào chúng ta đến nỗi chúng ta thậm chí không ý thức về nó. Thiên Chúa, Đấng đòi hỏi quyền được trồng và nhổ, xây dựng và phá đổ, đánh đập và chữa lành, đày xuống địa ngục và lôi lên trở lại, Ngài ở đâu? Có lẽ đây là Thiên Chúa đã biến mất lúc Tân Ước lên ngôi chăng? Và phải chăng Đức Giêsu Kitô, như Marcion nghĩ, là sứ giả của một Thiên Chúa khác, dễ gần gũi hơn và nhân từ hơn? Ôi! Lạy Chúa, chúng con bủn xỉn với Chúa dường nào, chúng con thông thái rởm biết bao!
Những phương tiện mà chúng ta sử dụng để ràng buộc sự tự do của Thiên Chúa thì rất nhiều và được biện minh rất nhiều về mặt thần học, đến nỗi chúng ta xác tín đang bảo vệ sự nghiêm túc của Thiên Chúa, sự đáng tin cậy của Ngài, sự trung tín, sự gắn bó chặt chẽ và tính bất biến của Ngài. Chúng ta không hiểu rằng lòng trung tín của Ngài hệ tại ở chỗ luôn trung thành với sự mới mẻ của mình, luôn tạo ra cái mới, làm những điều mới và làm mới lại những cái mới đang có. Nếu mạc khải khách quan khép lại, thì sự phong phú vô tận của Thiên Chúa vẫn luôn hoạt động. Chỉ có Kinh Thánh là được “đóng thành một quyển” mà người ta không thể thêm bớt gì. Hoàn toàn khác với tất cả những gì, bắt đầu từ Kinh Thánh, phát sinh liên tục trong Giáo Hội.
Sự tự do tuyệt đối này, Thiên Chúa yêu cầu nó đặc biệt trong cách Ngài gợi ra các vị thánh và dẫn dắt các linh hồn. Người ta nói rằng sống quá gần các thánh là chuyện không dễ. Lý do sâu xa là vì sự tự do tối cao và sự sáng tạo của Thiên Chúa được thể hiện nơi họ. Đối với những người có thẩm quyền và có trách nhiệm về công ích, việc “chịu đựng” một sự tự do như vậy có thể trở thành một cuộc tử đạo thực sự: bị dẫn dắt trong một màn sương mù mầu nhiệm dày đặc, đôi khi đến mức phi lý.
Giêrêmia nhận được lời này: “Người chạy với người đi bộ mà còn mệt nhọc, thì chạy đua với ngựa làm sao? Nếu ngươi chỉ thấy an tâm trong một xứ thái bình, thì trong bụi rậm sông Giođan, an tâm làm sao được?” (Gr 12,5). Đúng vậy, người ta có thể được kêu gọi chạy đua với ngựa, lại là ngựa đua, trong khi do tính khí, người ta thích ru rú ở nhà hơn. Người ta có thể bị buộc phải đi trong “rừng rậm”, không nhìn thấy gì, không hiểu gì, không biết mình đi đâu, chung quanh có rất nhiều thú dữ và nguy hiểm… Nhưng thực ra, người ta cảm thấy rằng liều mình vì Thiên Chúa và với Thiên Chúa (bởi vì Thiên Chúa cũng liều mình qua sự tự do của chúng ta) thì vô cùng tốt hơn so với việc đi trong an toàn không có bất ngờ nào. Rủi ro –nặng nề hơn chính cuộc đời – là không rõ liệu đang đi về phía Thiên Chúa hay theo hướng hoàn toàn ngược lại; là không biết điều đó, ít ra bằng “lý lẽ” riêng của mình, nhưng biết điều đó bằng cách khác, bằng đức tin, bằng trái tim, bằng sự trung gian của vâng phục và bằng sự phân định của Giáo Hội, điều này giống như một “lý lẽ” cao hơn. Điều chính yếu cần giữ là sự tự do này của Thiên Chúa không bao giờ trở thành cái cớ để sống theo xác thịt. Để tránh nguy cơ này, con người phải luôn chết một chút cho chính mình và “gắn chặt mình vào thập giá với Đức Kitô”.
Nếu chúng ta xem xét Thiên Chúa để ý đến sự tự do của chúng ta đến mức nào, thì chúng ta hẳn phải bối rối thấy ít có trường hợp chúng ta để ý đến sự tự do của Ngài. Chúng ta hẳn phải giữ chút thể diện cho mình là để cho Thiên Chúa được tự do. Không chỉ bên ngoài chúng ta, trong Giáo Hội, nhưng trên hết là bên trong chúng ta, trong đời sống thiêng liêng của chúng ta. Tự do ban cho chúng ta niềm vui và tự do để chúng ta phải buồn, tự do nói và tự do thinh lặng, tự do xuất hiện và tự do ẩn mình. Theo một cách nào đó, trả lại cho Thiên Chúa sự tự do mà Ngài đã có đối với chúng ta tức khắc trước đó, ngay trước khi Ngài tạo ra chúng ta, khi chúng ta mới chỉ là “ý nghĩ trong lòng Ngài” và khi Ngài có thể tùy nghi sử dụng chúng ta mà không cần phải đợi chúng ta đồng ý.
Đây là những gì Đức Maria đã làm. Origen đã ghi nhận điều đó một cách đúng đắn: “Khi nói: ‘Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa’ (lc 1,38), thì như thể Người nói: Tôi là một tấm bảng bằng sáp; xin sứ thần của Chúa cứ viết những gì Ngài muốn! Xin làm những gì Ngài muốn! lạy Chúa Tể vũ hoàn[117].”
Theo nghĩa này, chúng ta hãy biến lời cầu nguyện của Charles de Foucault thành lời cầu nguyện của chúng ta:
“Lạy Cha, con phó mình con cho Cha, xin biến con thành những gì làm cho Cha hài lòng. Cha làm nơi con điều gì đi nữa, con đều tạ ơn Cha. Con sẵn sàng mọi sự; con chấp nhận tất cả. Miễn là ý muốn của Cha được thực hiện nơi con, nơi mọi thụ tạo của Cha, con không mong muốn gì khác, lạy Thiên Chúa của con. Con phó thác hồn con trong tay Cha. Con trao nó cho Cha, lạy Thiên Chúa của con, với tất cả tình yêu của trái tim con, vì con yêu mến Cha và vì con cần tình yêu để hiến thân, để hết lòng phó thác con nơi bàn tay Cha, với lòng tin tưởng vô hạn, vì Cha là Cha của con.”
Trước khi vĩnh viễn rời bỏ phần có nhiều khó khăn này trong cuộc hành trình của chúng ta, nơi chúng ta đã cho thấy ý thức về Thiên Chúa hằng sống vắng bóng trong văn hóa chúng ta, một câu hỏi được đặt ra, liên quan đến cả quá khứ lẫn tương lai: làm sao chúng ta đã có thể đi đến chỗ sai lệch như vậy, và có thể làm gì để tránh những chuyện tương tự trong tương lai?
Một danh xưng cho chúng ta câu trả lời: Chúa Thánh Thần! Thánh Grêgôriô Nyssê đã viết: “Nếu chúng ta lấy Chúa Thánh Thần ra khỏi Thiên Chúa, thì những gì còn lại không phải là Thiên Chúa hằng sống, mà là thây ma của Ngài[118]”. Đó là lời giải thích về “cái chết của Thiên Chúa”, một đề tài nổi tiếng; đây là điều mà bất cứ ai muốn xây dựng một “thần học” trên một nền tảng như vậy, cần phải tiên vàn làm sáng tỏ.
Chính Đức Giêsu đã đưa ra lý do. Ngài nói: “Thần Khí mới làm cho sống chứ xác thịt chẳng có ích gì” (Ga 6,63). Trong trường hợp chúng ta, những lời này mang lại một ánh sáng quý giá: chính Thần Khí mới ban sự sống cho ý tưởng về Thiên Chúa cũng như cho bất cứ học hỏi nào về Thiên Chúa. Lý trí của con người, bị tội lỗi ghi dấu, không thể tự nó là đủ. Thậm chí nó không giúp gì trên thực tế, vì nếu nó khám phá ra Thiên Chúa hiện hữu, nó không thể lôi kéo theo một cách cư xử cho phù hợp, là tôn vinh và tạ ơn Ngài. Người nào chuẩn bị nói về Thiên Chúa dưới bất cứ danh nghĩa nào, nếu là một tín hữu, đều phải nhớ rằng “không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa” (1Cr 2,11).
Chúa Thánh Thần là “môi trường sống” đích thực, Sitzt im Leben, nơi tất cả thần học Kitô giáo đích thực ra đời và phát triển. Các nghiên cứu gần đây đã có thể xác định rõ ý nghĩa đầu tiên của thuật ngữ ruah trong tiếng Do thái, (pneuma, tinh thần), trong thế giới Kinh Thánh, trước hết không phải là hơi thở hay gió, mà là “không gian mở”, nơi gió có thể bày tỏ sức mạnh của nó, và nơi mà người ta có thể nhận thấy nó hiện diện. Sự xác định này, mang lại cho sự hiểu biết của chúng ta về Chúa Thánh Thần một yếu tố mới, được xác nhận bằng cách sử dụng thuật ngữ truyền thống như một túc từ chỉ nơi chốn: “trong” Chúa Thánh Thần. Thánh Thần là không gian vô hình, nơi mà sau ngày phục sinh, người ta có thể nhận ra Thiên Chúa đi qua và là nơi chính Thiên Chúa tự biểu lộ như một thực tại sống động và hoạt động. Điều này cũng đúng với Đức Kitô. “Trong Chúa Thánh Thần” chỉ ra môi trường mầu nhiệm, nơi mà, sau sự phục sinh, người ta có thể tiếp xúc với Đức Kitô và cảm nghiệm hành động thánh hóa của Ngài. Thật vậy, Đức Kitô đang sống “trong Chúa Thánh Thần” (x. Rm 1,4; 1Pr 3,18).
Giữa Thiên Chúa và con người, cung điện lớn do đó không sáng lên, tia sáng bất ngờ và khôn lường của nó chỉ có thể phát ra bên trong một từ trường đặc biệt: từ trường này chính là Chúa Thánh Thần đối với tất cả những gì liên quan đến đức tin. Chính Ngài là Đấng tạo ra, nơi sâu thẳm nhất của con người, tình trạng ân sủng mà một ngày nào đó sẽ cho phép xuất hiện tia sáng vĩ đại, sự “chiếu sáng” bên trong. Khi đó, người ta như thể bị lóa mắt, đến mức “rất đỗi ngạc nhiên vì nó”: phải, Thiên Chúa hiện hữu, Ngài là thực tại. Trong suốt sự nghiệp thần học hoặc nghiên cứu đơn thuần về Thiên Chúa, sự chiếu sáng này gây ra một chỗ ngắt và một bước nhảy vọt, tương tự với những gì chúng ta đôi khi quan sát thấy ở một số tác giả: trong cùng một bài viết, họ bất ngờ chuyển từ văn xuôi sang thi ca, không có sự chuyển tiếp, như thể suy nghĩ của họ, đột nhiên được chắp cánh, cuối cùng chỉ có thể bày tỏ mình bằng lời ca. Đó là trường hợp rất hay xẩy ra nơi Péguy.
Một nhà thần học đương thời, người đã sống kinh nghiệm này, giải thích như sau: “Nếu thần học muốn thực sự là một nguồn mạch sự sống và tiếp xúc với thực tại, nó phải bắt đầu bằng một kinh nghiệm về Thiên Chúa chứ không phải bằng một suy tư triết học về Hữu Thể tuyệt đối. Trong tương lai, như chúng ta thấy trong Tân Ước, thần học sẽ phải bắt đầu, bằng kinh nghiệm về Chúa Thánh Thần hiện diện trong cộng đồng Kitô giáo. Giáo thuyết và con người của Chúa Thánh Thần không phải là một trong số những học thuyết, nhưng là học thuyết và là thực tại nền tảng trong Giáo Hội. Một cuộc canh tân đời sống trong Thần Khí, chẳng hạn như cuộc canh tân mà chúng ta bắt đầu thoáng thấy, sẽ không chỉ ảnh hưởng đến một lãnh vực thần học, nhưng là toàn thể thần học và Giáo Hội[119].
Vậy thì làm sao chúng ta có thể hy vọng tiếp xúc với Thiên Chúa hằng sống, khi hoàn toàn không quan tâm đến Chúa Thánh Thần? Và với những ai muốn tìm thấy Thiên Chúa ở chỗ khác, trong sách vở hay trong suy luận của con người, thì hẳn là thích hợp khi nhắc cho họ sứ điệp của thiên thần nói với các phụ nữ: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa những kẻ chết?” (Lc 24,5). Thánh Basiliô viết rất đúng: “Sự thân tình với Thiên Chúa tùy thuộc vào Chúa Thánh Thần[120].” Sự thân tình ấy tùy thuộc vào Chúa Thánh Thần theo nghĩa là Thiên Chúa sẽ thân tình hay xa lạ với chúng ta tùy thuộc vào sự nhạy cảm hoặc dị ứng của chúng ta với Thần Khí.
Người ta có thể phản bác: Phải chăng người ta đã nói không đủ về Thần Khí vào thời kỳ được đề cập? Tôi trả lời: Tất nhiên, người ta đã chưa bao giờ nói nhiều về Thần Khí. Chính ý niệm Thần Khí –với tư cách là một thực tại khác với vật chất, thế giới và thiên nhiên – khi đó đã bị đẩy đến những phát triển cực đoan nhất, đến khái niệm về “Tinh Thần tuyệt đối.” Người ta thậm chí còn lưu ý rằng ý niệm Thần Khí là một sự chinh phục của triết học hiện đại phần lớn không được biết đến ở thời Thượng cổ. Vậy thì lời giải thích chính xác là gì? Nó nằm ở chỗ đây không thực sự là Thần Khí “Thánh”, nhưng là “tinh thần của lịch sử”, “tinh thần của thế gian”, chính xác là điều mà Kinh Thánh ghi nhận như một điều đối lập hoàn toàn với “Thần Khí Thiên Chúa” (x.1Cr 2,12). Hơn nữa, ngay cả khi nói về Chúa Thánh Thần, người ta cũng rất hay nói về ý tưởng chứ không phải thực tại Thần Khí.
Do đó, phương thức là tiếp xúc lại ngày càng đầy đủ hơn với thực tại Chúa Thánh Thần hoặc đúng hơn, với ngôi vị Chúa Thánh Thần. Không hài lòng với một khoa Thánh Thần học được đổi mới, nghĩa là một thần học về Thần Khí, nhưng khao khát biến Thần Khí thành một kinh nghiệm cá nhân. Nếu trong cụ thể sự vắng mặt của Chúa Thánh Thần ảnh hưởng tiêu cực đến việc tìm kiếm Thiên Chúa như thế nào và tại sao lại ngăn cản không cho đến với Thiên Chúa hằng sống, người ta sẽ khám phá ra tầm quan trọng của kinh nghiệm này, ngay cả chỉ trên bình diện thần học và lý trí. Như chúng ta đã thấy, những bằng chứng truyền thống về sự hiện hữu của Thiên Chúa đã bị bác bỏ, với lý do chúng chuyển từ tư tưởng sang hữu thể, từ ý tưởng về một sự vật sang sự tồn tại của sự vật đó. Người ta đã không lưu ý rằng đây là hai cấp độ thuộc hai thế giới khác nhau. Chỉ khi Thiên Chúa là đối tượng của kinh nghiệm chứ không chỉ là đối tượng của suy tưởng, người ta mới có thể suy ra sự hiện hữu thực sự của Ngài. Điều mà khi đó rõ ràng là không thể.
Giờ đây chúng ta đang ở trong trọng tâm của vấn đề. Trong con người, nơi Chúa Thánh Thần hoạt động, Thiên Chúa không chỉ sống như một ý tưởng; Ngài còn là thực tại ở đó. Trong Thần Khí, người ta đúng là cảm nghiệm được Thiên Chúa; một kinh nghiệm chắc chắn không hoàn hảo, theo kiểu ân huệ mở đầu (Rm 8,23; 2Cr 5,5), nhưng là một kinh nghiệm thật sự, mặc dù thiêng liêng và không cảm thấy được.
Trong các tác phẩm của Gioan, Chúa Thánh Thần được gọi là “Thần chân lý” (Ga 14,17; 16,13) hay thậm chí đơn giản là “Chân Lý” (1Ga 5,6). Thuật ngữ “chân lý” có nghĩa là thực tại Thiên Chúa đạt tới được nơi chính nó chứ không qua một hình ảnh hay một trung gian nào. Vậy đây vừa là vấn đề thực tại đã biết, mà cũng là kiến thức về thực tại. Và vì phải thờ phượng Thiên Chúa “trong tinh thần và chân lý”, chứ không theo cách thờ phượng của con người gắn liền với những địa điểm và đền thờ do bàn tay con người xây dựng, tương tự như vậy, phải biết Thiên Chúa “trong tinh thần và chân lý”, có nghĩa là trong phạm vi riêng của mình, không có những giới hạn do các biểu trưng và ý tưởng thuần túy của con người đặt ra. Nói cách khác, nhờ Thiên Chúa mà biết Thiên Chúa.
Đối với những tín hữu chân chính, và đặc biệt đối với những nhà thần bí thực hiện điều kiện này ở mức độ cao, Thiên Chúa không còn chỉ là đối tượng của sự suy tư nhưng là của kinh nghiệm. Nếu đúng là mọi người không thể là những nhà thần bí, thì vẫn đúng là mọi người đều có thể lắng nghe lời chứng của họ và đánh giá cao nó, ít nhất cũng bằng đánh giá cao lời chứng của các triết gia.
Đặc biệt mọi người trong Giáo Hội đều có thể tự mình trải nghiệm về Thiên Chúa trong Thần Khí. Tân Ước đưa ra hai định nghĩa có liên quan với nhau. Chúa Thánh Thần được gọi là “Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống” (2Cr 3,3) và Giáo Hội là “Giáo Hội của Thiên Chúa hằng sống” (1Tm 3,15). Sau Đức Giêsu Kitô, một cách rất đặc biệt nhưng không độc quyền, Giáo Hội là “không gian mở” của Thần Khí, nơi con người có thể tiếp xúc với mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống.
Để thực sự được như vậy, đặc biệt là ở những nơi học thần học và những nơi chuẩn bị những bậc thầy tương lai của đức tin, chúng ta hãy đọc những lời nổi tiếng của một bài thánh thi dâng lên Chúa Thánh Thần:
“Xin ngự đến lạy Thánh Thần sáng tạo
Đến viếng thăm và tuôn đổ ơn trời
Xuống cõi lòng và tâm trí bề tôi
Là sản phẩm do tay Ngài mà có…
Xin Ngài dạy cho biết Cha từ ái
Cùng am tường về Thánh Tử khoan nhân
Và hằng tin Ngài là chính Thánh Thần
Nguồn thương mến giữa hai ngôi bền chặt”.
Về ba Đạo Sĩ, người ta biết rằng sau khi rời khỏi Giêrusalem, để lại đó những cuộc tranh luận của các tiến sĩ Luật và những mưu đồ của Hêrôđê, họ tiếp tục hành trình, vui mừng vì ngôi sao lại hiện ra và họ tìm thấy Hài Nhi. Khi ấy “họ sấp mình thờ lạy Người” (Mt 2,11). Chúng ta sẽ theo gương của họ, một chút thôi. Sau khi vượt qua thời khắc ‘bão táp’ trong cuộc hành trình của chúng ta, cũng là lúc chúng ta nên rời bỏ những luồng dư luận của người ta và tiếp tục con đường đi tới Thiên Chúa hằng sống để thờ phượng Ngài.
Nếu tội lỗi khiến con người “không thể bào chữa được”, ở chỗ không nhận biết Chúa là Thiên Chúa, thì thuốc giải độc đặc trị chỉ có thể là sự thờ phượng, là vì chỉ có nó, do đã được dành riêng cho một mình Thiên Chúa, làm chứng cách tuyệt vời rằng người ta thực sự thừa nhận Chúa “là Thiên Chúa”. Sự thờ phượng là biểu hiện cao nhất của việc “tôn vinh” và “tạ ơn” mà thánh Tông Đồ nói ở đầu thư gửi tín hữu Rôma.
Như chúng ta đã nói ở trên, chính Tân Ước đã gán cho thuật ngữ thờ phượng phẩm giá mà trước đây nó không có. Trên thực tế, mỗi lần trong Tân Ước có ai đó cố gắng thờ phượng vị nào khác ngoài chính Thiên Chúa, thì ngay lập tức phản ứng sẽ là: “Không! Không phải vị đó! Sự thờ phượng chỉ thuộc về Thiên Chúa!” (Kh 19,20; 22,9; Cv 10,25-28; 14,13tt). Đến độ nếu làm ngược lại, dường như người ta sẽ gặp nguy hiểm chết người. Giáo Hội đã nhận được giáo huấn này và biến thờ phượng thành một hành vi tôn kính tuyệt vời lâtrie, phân biệt với tôn kính dulie dành cho các thánh, và tôn kính hyperdulie (biệt tôn) vốn dành cho Đức Trinh Nữ Maria. Do đó, thờ phượng là hành vi tôn giáo duy nhất, mà trong toàn thể vũ trụ, người ta chỉ có thể đưa về một mình Thiên Chúa, chứ không đưa về ai khác, ngay cả với Đức Trinh Nữ Maria. Đây là phẩm giá và sức mạnh độc nhất của nó.
Thờ phượng bao gồm những gì và biểu lộ ra sao? Nó có thể được chuẩn bị bằng một suy tư lâu dài, nhưng dẫn đến một trực giác không khác mọi trực giác, không tồn tại lâu, giống như một tia sáng lóe lên trong đêm; một tia sáng đặc biệt: không phải ánh sáng của chân lý cho bằng ánh sáng của thực tại. Đó là cảm nhận sự vĩ đại, uy nghi, vẻ đẹp, đồng thời sự tốt lành của Thiên Chúa và sự hiện diện của Ngài, và làm cho người ta phải rất đỗi thán phục. Giống như một con tàu đắm giữa đại dương uy nghi của Thiên Chúa, một đại dương không bờ không đáy. “Ôi! Ngọt ngào biết bao khi bị đắm tàu giữa đại dương này[121]!”
Thinh lặng là một hình thức thờ phượng hiệu quả hơn bất cứ lời nói nào. Bản thân nó nói lên rằng thực tại hoàn toàn nằm ngoài tất cả những lời mà người ta có thể nói ra. Mệnh lệnh này có âm vang rất lớn trong Kinh Thánh: “Toàn thể cõi đất, hãy thinh lặng trước nhan Người!” (Kb 2,20); và: “Hãy lặng thinh trước nhan Đức Chúa là Chúa Thượng!” (Xp 1,7). Khi “các giác quan được sự thinh lặng vô biên bao quanh và ký ức mất dần đi nhờ được thinh lặng giúp đỡ”, thì không còn gì khác hơn là thờ phượng.
Một số người cho rằng từ adorare trong tiếng latinh gợi nhắc cử chỉ đưa tay lên miệng, như để buộc phải im lặng. Nếu điều này đúng, thì đó là điều Gióp đã làm khi mà, vào cuối cuộc thử thách của mình và được nói và nghe những lời thân mật khi đối diện với Đấng Toàn năng, ông đã tuyên bố: “Con đây tầm thường bé nhỏ, biết nói chi để trả lời Ngài? Con sẽ đưa tay lên che miệng” (G 40,4). Theo nghĩa này, câu thánh vịnh được phụng vụ lặp lại, nói rằng (theo bản văn tiếng Do Thái): “Đối với Ngài, thinh lặng là lời ca ngợi”: Tibi silentium laus (x. Tv 65,2). Theo cách diễn đạt lạ lùng của thánh Grêgôriô Nadian mà chúng ta đã đọc ở trên, thì thờ phượng có nghĩa là “dâng lên Thiên Chúa một bài thánh thi thinh lặng”. Cũng như chúng ta càng leo lên một đỉnh núi cao, không khí càng trở nên loãng, cũng vậy “chúng ta càng đến gần Thiên Chúa, lời nói của chúng ta càng phải giảm đi tương ứng với sự đi lên của chúng ta, đến nỗi khi tới cuối đường, chúng ta sẽ hoàn toàn thinh lặng và hoàn toàn kết hợp với Đấng khôn tả[122].’
Nếu thực sự muốn nói lời nào đó để “giữ chặt” tâm trí, không cho nó đi lang thang nơi khác, hãy dùng những từ vắn tắt nhất có thể, như: A-men! Vâng! Thờ phượng chính là thuận theo. Đó là để cho Thiên Chúa là Thiên Chúa. Đó là nói vâng với Thiên Chúa, vì Ngài là Thiên Chúa, và nói vâng với chúng ta, là những thụ tạo của Thiên Chúa. Đó là phương dược chữa trị sự thất vọng này, thất vọng ở chỗ, như chúng ta đã thấy, “không muốn là cái mình là”, tùy thuộc vào Thiên Chúa.
Vậy thờ phượng đòi người ta phải cúi đầu và im lặng. Một hành động như vậy có xứng với con người không? Phải chăng sẽ không làm nhục người đó, làm sút giảm địa vị của người đó? Và thậm chí nó có thực sự xứng với Thiên Chúa không? Để Thiên Chúa là Thiên Chúa, Ngài có cần các thụ tạo phải im lặng khi phủ phục trước Ngài không? Phủ nhận điều đó cũng vô ích: đối với các thụ tạo, sự thờ phượng có một khía cạnh của khiêm nhường triệt để; phải làm cho mình thành nhỏ bé, phải phục tùng. Như chúng ta biết, chính lý do này đã chặn đứng dân ngoại và ngăn cản họ thờ phượng Thiên Chúa như một Thiên Chúa. Sự thờ phượng luôn có khía cạnh hy sinh, từ bỏ. Qua đó, nó chứng thực Thiên Chúa là Thiên Chúa và không gì cũng như không ai có quyền hiện hữu trước mặt Ngài, nếu không phải nhờ ân sủng của Ngài. Qua thờ phượng, người ta sát tế và hy sinh bản thân, vinh quang riêng của mình, sự tự mãn của mình: một vinh quang giả dối, không bền. Đối với con người, loại bỏ được nó là được giải thoát.
Qua thờ phượng, người ta “giải thoát sự thật đã bị sự bất công giam cầm”. Người ta trở nên “chính thực” (authentique) theo nghĩa sâu xa nhất của từ này. Qua thờ phượng, người ta cảm thấy trước mọi vật sẽ trở lại cùng Thiên Chúa; người ta phó thác cho chiều hướng và dòng chảy của hữu thể. Cũng như nước được yên hàn khi chảy ra biển, chim được vui vẻ bay lượn theo chuyển động của gió, người thờ phượng cũng được như vậy khi thờ phượng. Vậy thờ phượng Thiên Chúa không phải là một bổn phận hay nghĩa vụ cho bằng là một đặc ân và thậm chí một nhu cầu. Con người cần “một thực tại uy nghi nào đó để yêu mến và thờ phượng”. Nó được tạo ra để làm điều đó. Thiên Chúa không cần chúng ta thờ phượng; chính con người cần thờ phượng. Nietzsche đã hoàn toàn “đi trệch” đường khi trách Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một “người phương đông ham hố danh vọng ở trên cao, ở trên trời [123].” (Nhiều tác giả, ngay cả trong số các tín hữu và nhà thần học, trích dẫn thiếu thận trọng tác giả này!)
Ngôn ngữ của người tín hữu Kierkegaard thật khác biệt biết bao: “Con người, thân thể hướng lên trời, là một hữu thể thờ phượng. Vóc dáng của họ là dấu chỉ để phân biệt họ, nhưng khả năng phủ phục tôn thờ là một đặc tính còn đẹp đẽ hơn. Họ vinh quang vì được là chúa tể đứng thẳng, nhưng vinh quang tối cao là không không, khi thờ phượng… Chính nhờ thờ phượng mà con người giống Thiên Chúa… Nhà hiền triết ngoại đạo tìm cách giống Thiên Chúa bằng quyền thống trị… nhưng không những không ở quyền năng này, trái lại sự giống Thiên Chúa ở giữa lòng một sự khác biệt vô hạn… Con người và Thiên Chúa không giống nhau vì lý do trực tiếp, nhưng vì lý do ngược lại. Trước hết, trong sự vô biên, Thiên Chúa phải trở thành đối tượng thờ phượng vĩnh viễn và ở khắp nơi, và con người phải là một hữu thể thờ phượng không ngừng để có sự giống nhau giữa hai bên. Nếu con người có ý giống với Thiên Chúa bằng sự thống trị tức là họ đã quên Thiên Chúa và một khi Thiên Chúa biến mất, con người đóng vai trò chúa tể khi Ngài vắng mặt. Ngoại giáo là như thế: là cuộc sống của con người khi Thiên Chúa vắng mặt[124].”
Cuối cùng, sự thờ phượng phải được tự do. Tự do làm cho nó xứng đáng với cả Thiên Chúa lẫn con người. Không phải một sự tự do tiêu cực, ở chỗ không bị ép buộc, nhưng là tự do tích cực, hăm hở vui mừng, một món quà tự phát của thụ tạo diễn tả niềm vui qua việc thờ phượng vì mình không phải là Thiên Chúa và do đó chấp nhận ở trên mình có một Thiên Chúa để tôn thờ, ngưỡng mộ và ca tụng.
Ngay cả đối với Thiên Chúa, chính sự tự do làm cho việc thờ phượng có giá trị. Thiên Chúa nói:
“Chính Ta được tự do, và Ta đã tạo ra con người theo hình ảnh của Ta và giống Ta… Quyền tự do của thụ tạo là phản ánh đẹp đẽ nhất trên thế gian sự Tự do của Đấng Tạo Hóa… Một khi biết mình được yêu thương một cách tự do, thì sự tùng phục không còn ý vị gì nữa. Một khi biết mình được những con người tự do yêu thương, thì sự cúi lạy của những nô lệ chẳng có nghĩa lý gì đối với ngươi nữa[125]. “
Chúng ta hãy cầu nguyện, sử dụng cách diễn đạt và cảm nghĩ của triết gia mà chúng ta vừa nói đến:
“Lạy Thiên Chúa của con, cho dù theo giả thuyết, Chúa không phải là tình yêu mà chỉ là sự uy nghi vô biên và xa vời, thì con cũng không thể làm gì hơn là yêu Chúa. Trong linh hồn con có lòng khao khát một sự uy nghi khiến con không bao giờ coi thờ phượng là nhàm chán[126].”
Ở điếm đến, chúng ta hãy lấy lại bản văn của thánh Phaolô đã hướng dẫn chúng ta khi bắt đầu suy tư. Điều này sẽ giúp chúng ta tránh đề ra một phương dược không thích hợp, ở một nơi không có thờ phượng, vì nó khác với phương dược được lời Chúa cung cấp. Thánh Tông Đồ yêu cầu điều gì với dân ngoại, để chữa họ khỏi tội chống lại Thiên Chúa? Phải chăng hoán cải sẽ đưa họ đến chỗ tôn vinh Thiên Chúa, như ngày xưa, trước khi tâm trí họ ra tối tăm? Phải chăng là lại chiêm ngưỡng cách chính đáng hơn các tinh tú và thế giới được tạo dựng, để khám phá ra Thiên Chúa và thờ phượng Ngài? Không! Không có gì như vậy hết! Không được tìm kiếm phương dược bằng cách trở lại phía sau, mà là nhìn về phía trước. Thánh Phaolô nói về điều này mãi sau trong thư của ngài. Phương dược thực sự không thể tìm thấy cả trong lãnh vực tạo dựng lẫn trong lãnh vực cứu chuộc. Sau khi trình bày công trình của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần, ngài nói về sự thờ phượng (latreia) dành cho Thiên Chúa. Và sự thờ phượng mới này sẽ được thực hiện bởi “Thần Khí Thiên Chúa” (Pl 3,3), chứ không chỉ bởi trí khôn của con người nữa, như trong quá khứ.
Kết luận thực hành là từ nay sự thờ phượng phải nhờ Đức Kitô: “Tôn vinh Người trong Hội Thánh và nhờ Đức Giêsu Kitô” (Ep 3,21). Ngay cả phẩm chất của thờ phượng cũng đã thay đổi. Đó là một thực tại mới, khác với mọi hình thức thờ phượng trong thực hành nơi các hệ thống tôn giáo khác. Đức Kitô, Người-Chúa, là vinh quang tuyệt vời và là lời tạ ơn hoàn hảo dâng lên Chúa Cha. Từ đây, thờ phượng Thiên Chúa là kết hiệp trong Thần Khí với Đức Giêsu Kitô, là Đấng thờ phượng Chúa Cha cách hoàn hảo, “mầu nhiệm cao cả của đạo thánh” (1Tm 3,16), Đấng đã chấm dứt mọi sự vô đạo. Đó là sự thờ phượng được dâng lên Thiên Chúa bởi một Ai đó duy nhất, Thiên Chúa và con người trong cùng một ngôi vị, và do đó, có thể vượt qua vực thẳm bản thể học ngăn cách giữa người thờ phượng và Đấng được thờ phượng. Tựu trung, đó là một sự thờ phượng “xứng với Thiên Chúa”.
Như vậy, chính Đức Giêsu và Chúa Thánh Thần, với tư cách là những ngôi Thiên Chúa, được thờ phượng. Bằng cách thay thế từ “cầu nguyện” bằng từ “thờ phượng”, chúng ta có thể lấy lại bản văn của thánh Augustinô: “Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa… là Đấng vừa thờ phượng cho chúng ta, vừa thờ phượng trong chúng ta, và được chúng ta thờ phượng. Ngài thờ phượng cho chúng ta với tư cách là tư tế, Ngài thờ phượng trong chúng ta với tư cách là đầu, Ngài được chúng ta thờ phượng vì Ngài là Thiên Chúa[127].”
Như chúng ta đã thấy: trong Tân Ước, khi ai đó muốn thờ phượng một thiên thần hoặc một tông đồ, phản ứng tức thì của người có liên quan là hét lên: “Không! Không phải như vậy!” Nhưng khi người phụ nữ xứ Canaan, người mù từ lúc mới sinh, và các tông đồ làm cử chỉ này đối với Đức Giêsu ở trần gian, thì Ngài không bao giờ phản đối. Ngài không bao giờ nói: “Đừng làm thế!” Và các tông đồ biết rõ rằng người ta chỉ thờ phượng một mình Thiên Chúa (x. Mt 4,10), nên các ông không cho rằng mình phải từ chối những bằng chứng thờ phượng như thế. Sự kiện đặc biệt này càng thuyết phục hơn vì được thuật lại mà không có ý định cung cấp bằng chứng về nó, biểu lộ rõ ràng niềm tin của Giáo Hội sơ khai vào thần tính của Đức Kitô.
Do đó, sự thờ phượng của Kitô giáo mang tính ba ngôi. Nó mang đặc tính này trong sự phát triển và trong tính năng động của nó, vì nó là sự thờ phượng hướng “lên Chúa Cha nhờ Chúa Con trong Chúa Thánh Thần.” Nó mang đặc tính này trong đối tượng của nó, vì là sự thờ phượng cùng hướng lên “Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.”
Từ tất cả những điều trên, chúng ta rút ra một số áp dụng thực tiễn. Khi xẩy ra lúc mà, dưới chuyển động bên trong của ân sủng, chúng ta cảm thấy nhu cầu thờ phượng nẩy sinh trong chúng ta và chúng ta thấy lời nói là không đủ, phủ phục là không đủ, ngay cả im lặng cũng không đủ, mọi sự đều vô vị và quá ít ỏi, khi đó, đối mặt với cảm giác bất lực này, chúng ta thấy có một lối thoát đang mở ra cho chúng ta: nhờ đức tin, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần (và Người chỉ mong có thế) kết hiệp chúng ta với Đức Giêsu Kitô, và do kết hiệp với Ngài, chúng ta thờ phượng Thiên Chúa Cha. Nếu cần, chúng ta có thể sử dụng những lời hoặc công thức phụng vụ của Thánh lễ, là những gì diễn tả cách tuyệt vời sự thờ phượng này: “Nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô, mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hợp nhất của Thánh Thần đến muôn đời.”
Đó là thờ phượng “trong thần khí và sự thật” mà Đức Giêsu đã nói khi trò chuyện với người phụ nữ Samari. Nó tạo nên đại hiến chương của sự thờ phượng Kitô giáo: “Này chị, hãy tin tôi; đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết, còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đã đến – chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật.”(Ga 4,21-24). Các từ “thần khí và sự thật” ở đây chắc chắn bao gồm nhiều cấp độ ý nghĩa, một số, chủ quan hơn, liên quan đến các tính cách chuẩn bị của con người (nội tâm, chân thành, tự do), một số khác, khách quan hơn, đạt đến những thực tại bên ngoài con người. Mức độ cao nhất trong số các ý nghĩa khách quan này là mức độ mà “thần khí” chỉ về Chúa Thánh Thần và sự thật liên quan đến chính Chúa Kitô, Đấng là sự thật.
Thần khí và sự thật, Đức Kitô đã đưa cả hai đến thế gian: đây là khả năng mới được tạo ra bởi việc Ngài đến giữa chúng ta. Trong sách Xuất hành, chúng ta thấy trên núi Sinai, Thiên Chúa đã chỉ cho Môsê một cái hốc đá, nơi mà khi ẩn mình, ông có thể chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa mà không chết (x. Xh 33,21). Chú giải đoạn văn này, thánh Basiliô đã viết: “Đối với người Kitô hữu chúng ta hôm nay, hốc đá này, nơi này, nơi chúng ta có thể nương náu để chiêm ngắm Thiên Chúa và tôn thờ Người, là gì? Là Chúa Thánh Thần! Chúng ta đã học được điều ấy từ ai? Từ chính Chúa, Đấng đã nói: “Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật[128]!” Vậy nếu theo một nghĩa, chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần (x. 1Cr 6,19), thì theo một nghĩa khác, chính Chúa Thánh Thần là đền thờ của chúng ta. Chúng ta là đền thờ nhân loại của Ngài, còn Ngài, Ngài là đền thờ thần linh của chúng ta.
Lý tưởng của sự thờ phượng Kitô giáo tìm thấy ở đó những viễn tượng, vẻ huy hoàng, sức mạnh và lôi cuốn biết mấy! Trong cơn lốc điên cuồng của thế giới, ai lại không cảm thấy nhu cầu thỉnh thoảng phải trốn vào hốc đá thiêng liêng này, để chiêm quan Thiên Chúa và thờ phượng Ngài theo gương Môsê? Nơi tâm hồn chúng ta, chúng ta hãy khám phá ra khoảng trống này, một loại hốc đá vô hình này, luôn sẵn sàng đón nhận chúng ta, dù chúng ta ở đâu hay làm gì. Nơi đó, luôn luôn có thể thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật. Ngày nay, Chúa Thánh Thần ngày càng thu hút nhiều linh hồn vào hốc đá mầu nhiệm này: một số tác giả mà chúng ta đã bắt gặp, gọi đó là “đáy của tâm hồn”. Họ thất bại không tìm được sự bình an, khi nghĩ rằng Cha trên trời “tìm kiếm những người thờ phượng như vậy”, chờ đợi họ và mong muốn họ; người ta có thể nói rằng Ngài thăm dò khắp mặt đất để tìm kiếm họ. Và Ngài tìm kiếm họ để làm cho họ được thỏa mãn bằng chính Ngài, để được “Ngài cho uống thỏa thuê nơi suối hoan lạc” (Tv 36,9).
Một trong những món quà kỳ diệu nhất, mà việc tái khám phá Chúa Thánh Thần mang lại cho Giáo Hội ngày nay, là sự ý thức khích lệ và hướng về việc tôn thờ Thiên Chúa hằng sống. Công cuộc “Canh tân đặc sủng” đã bắt đầu trong Giáo Hội Công giáo với kinh nghiệm rất mạnh về sự hiện diện của Thiên Chúa hằng sống do Chúa Thánh Thần khơi dậy. Nhóm tham gia cuộc tĩnh tâm đầu tiên, nơi thực tế này lần đầu tiên được biểu lộ, đã gặp nhau vào một buổi tối trong nhà nguyện trước Thánh Thể. Đột nhiên, xẩy ra một biến cố kỳ lạ. Một trong những người tham gia đã mô tả như sau:
“Sự kính sợ Chúa bắt đầu lan tỏa nơi chúng tôi; một loại sợ hãi thánh khiến chúng tôi không thể nhìn lên. Ngài ở đó, cá nhân Ngài hiện diện, và chúng tôi sợ mình không thể chịu đựng được tình yêu thái quá của Ngài. Chúng tôi thờ phượng Ngài, lần đầu tiên khám phá ra ý nghĩa của thờ phượng. Chúng tôi đã sống một kinh nghiệm cháy bỏng về thực tại khủng khiếp và về sự hiện diện của Chúa. Kể từ đó, một cách rõ ràng mới mẻ và trực tiếp, chúng tôi đã hiểu được những hình ảnh về Đức Chúa, Đấng xuống trên Sinai trong đám lửa và nói trong tiếng sấm. Chúng tôi đã hiểu kinh nghiệm của Isaia và cách diễn tả Thiên Chúa như một ngọn lửa thiêu hủy. Theo một cách nào đó, nỗi sợ hãi thánh này giống như tình yêu, hoặc ít nhất đó là cách chúng tôi cảm thấy như thế. Nó là một cái gì đó cực kỳ đáng yêu và đẹp đẽ, mặc dù không ai trong chúng tôi thấy được chút hình ảnh khả giác nào về nó. Cứ như thể thực tại cá nhân của Thiên Chúa, huy hoàng và chói lọi, xâm nhập vào căn phòng chúng tôi đang ở, làm tràn ngập nó cùng lúc với chúng tôi[129].”
Sự hiện diện đồng thời: một bên là uy nghi và nhân từ nơi Thiên Chúa; bên kia là kính sợ và yêu mến nơi người chiêm ngưỡng Ngài. Lúc đó, tác giả bản văn không biết rằng việc mô tả kinh nghiệm này, bằng những hạn từ hoàn hảo, lấy lại những nét chính yếu về Thiên Chúa hằng sống của Kinh Thánh mà chúng ta đã muốn trình bày ở đầu cuốn sách này.
Cùng với Giáo Hội, chúng ta hãy cầu nguyện:
“Lậy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa không cần chúng con ca tụng, nhựng tạ ơn Chúa lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con không thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.[130]”
29. “HÃY KÍNH SỢ THIÊN CHÚA VÀ TÔN VINH NGƯỜI!”
Cho đến đây, tôi đã gợi ra một số cơ hội và hình thức có thể giúp ích cho việc thờ phượng riêng tư và thinh lặng. Không chỉ có thờ phượng riêng tư. Còn có những hình thức khác, với những cách diễn tả bên ngoài, những cử chỉ, lời nói, kinh nguyện xác định, tất cả liên kết và giúp cho người ta tham dự vào một buổi thờ phượng rộng lớn hơn, có tính phụng vụ, vốn thuộc phạm vi của Giáo Hội. Trên thực tế, đối với những người cảm thấy có nhu cầu và ước muốn mới là tôn thờ Thiên Chúa trong tâm hồn, thì phụng vụ và việc thực hành của Giáo Hội cung cấp kèm cho họ toàn bộ thời gian, phương tiện, nghi thức, từ lúc thức dậy buổi sáng cho đến lúc nghỉ đêm. Buổi sáng, khi thức dậy, bắt đầu cử hành Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Khi ấy, lời kinh giáo đầu là lời đầu tiên mời gọi thờ phượng, một trong những văn bản đẹp nhất trong toàn bộ Kinh Thánh: “Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục, quỳ trước tôn nhan Người là Đấng dựng nên ta” (Tv 95,6).
Kinh Gloria (Vinh danh) đầu Thánh lễ nói lên lời ca ngợi và tôn thờ: “Chúng con ca ngợi Chúa. Chúng con chúc tụng Chúa. Chúng con thờ lạy Chúa. Chúng con tôn vinh Chúa. Chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa”. Tôn thờ và cảm tạ không phải vì ơn lành nào đó Chúa ban cho chúng ta, nhưng “vì vinh quang cao cả Chúa”: đơn giản vì Chúa là Thiên Chúa, đơn giản vì Chúa hiện hữu. Biểu hiện của một tình cảm rất tinh tuyền! Chính đó là tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa “xứng với Thiên Chúa”. Sau đó là kinh Sanctus: “Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh…” Kể từ khi tiên tri Isaia được nghe các thiên thần Sêraphim trên trời hát lên, bài ca này đã luôn được coi như một trong những biểu hiện thờ phượng cao cả nhất sự uy nghi của Thiên Chúa.
Trong ngày, mỗi lần quỳ gối đều có thể trở thành một cơ hội để khơi dậy tinh thần thờ phượng, vì mỗi lần nghiêm trang quỳ gối tự nó đã là một hành vi thờ phượng hoàn hảo: trong ngôn ngữ Hy Lạp của Tân Ước, thờ phượng (proskyneo) chính xác có nghĩa phủ phục xuống đất.
Tuy vậy việc thờ phượng không giới hạn vào những lúc cụ thể này. Nó là một tình trạng tâm hồn, một ý định của con tim, mà người ta có thể duy trì trong mọi tình huống. Khi hiện diện trong cuộc sống, nó biến mọi kinh nguyện và mọi hành động thành việc thờ phượng; nó luôn tạo ra một thời gian thờ phượng. Mỗi người khám phá ra lối vào riêng của mình, một phương tiện rất riêng, giúp người đó đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa hằng sống, đi vào tình trạng thờ phượng, một loại con đường bí mật mà chỉ mình người đó biết. Đó có thể là một lời trong Kinh Thánh, mà người đó đặc biệt yêu thích (“Linh hồn tôi khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống“; “Hồn con hướng về Chúa!“…). Đó có thể là một hình ảnh bên trong hoặc bên ngoài, một linh ảnh, như linh ảnh Ba Ngôi của Rublev, hoặc ký ức về một khoảnh khắc tràn đầy ân sủng và ánh sáng trong quá khứ.
Chúng ta phải khôi phục ý nghĩa của việc thờ phượng Thiên Chúa trong văn hóa và linh đạo phương Tây của chúng ta. Và tiên vàn trong cuộc sống đạo đức cá nhân. Trên bình diện cá nhân này, thờ phượng chứng tỏ là một vũ khí tuyệt vời mà chúng ta sử dụng cho cuộc chiến thiêng liêng. Trong những lúc bị cám dỗ nặng nề hoặc nội tâm muốn nổi loạn, khi một “luồng chống đối” bên phía con người cũ, điều gì sẽ xảy ra nếu tôi hiểu theo đúng nghĩa đen của loại tiếng hô ra trận mà chúng ta vừa nhắc đến: “Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục, quỳ trước tôn nhan Chúa…”, và nếu tôi thực sự quỳ xuống trước một cây thánh giá? Lúc ấy tôi bắt tính kiêu căng của tôi, đam mê nhục dục của tôi, nói tắt là tội lỗi của tôi, “quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên tôi”. Tôi đặt những kẻ thù của Thiên Chúa làm “bệ đỡ ngai của Ngài”. Tôi làm trước cuộc phán xét cuối cùng, khi “mọi người sẽ quỳ gối lạy Ngài” (x. Rm 14,11), mọi sự dữ sẽ được vạch trần và Thiên Chúa “thật công bằng khi tuyên án” (x. Tv 51,6). Chẳng phải là “để làm cho kẻ thù của ta và của Thiên Chúa phải bất ngờ sao, buộc hắn phải thừa nhận sự thất bại của hắn sao? Sau này, tuy tội vẫn còn, nhưng nó không “ngự trị” nơi ta nữa: nó bị buộc phải thoái vị. Quyền năng thánh hóa của việc thờ phượng là thế!
Vượt lên trên lòng đạo đức cá nhân, việc thờ phượng cũng sẽ cần được tôn vinh trong phụng vụ, trong nghiên cứu thần học và khoa chú giải, và đặc biệt trong việc Phúc Âm hóa. Việc Phúc Âm hóa tốt nhất là bắt đầu bằng thờ phượng và dẫn tới thờ phượng. Theo các sử gia, phép rửa mà thánh giám mục Rémi ban cho Clovis, vua của người Francs, ở Reims, vào đêm Giáng sinh năm 498 hoặc 499, ghi dấu bước đầu của công cuộc Phúc Âm hóa có tổ chức ở châu Âu, sau những cuộc xâm lược của dân man di. Những lời vị thánh nói khi ấy trở thành nổi tiếng: “Hãy khiêm nhường cúi đầu, hỡi Sicambre, hãy thờ lạy vật mà ông đã thiêu hủy và thiêu hủy vật mà ông đã thờ lạy[131].” (Sicambers là một dân tộc rất kiêu hãnh và hiếu chiến, đóng tại các vùng giữa Pháp và Đức ngày nay, ở trung tâm châu Âu).
Nghe hai động từ: “Khiêm tốn cúi đầu và thờ lạy” vào lúc khởi đầu công cuộc Phúc Âm hóa châu Âu, lại chẳng gợi nhắc điều gì sao? Chúng ta hẳn rất ước ao một nhân vật có quyền bính của một thánh Remi, một thánh Bonifaciô, một thánh Gall, một thánh Colomban hoặc những người đi tiên phong vĩ đại khác của công cuộc Phúc Âm hóa đầu tiên này, tiếp tục và còn đưa ra lời kêu gọi như thế cho ngày hôm nay! Thờ phượng không phải là một phương tiện thuần túy chuẩn bị hoặc hỗ trợ cho việc Phúc Âm hóa, tự nó đã là Phúc Âm hóa. Một thừa sai đã nhiều năm làm việc tại một trong những khu vực nghèo nhất của châu Phi, mới đây đã viết: “Chúng ta được kêu gọi đáp lại một nhu cầu cơ bản của con người, nhu cầu sâu xa về Thiên Chúa, đáp lại khát khao Đấng Tuyệt Đối, chúng ta được kêu gọi cho người ta thấy con đường của Thiên Chúa, dạy họ cầu nguyện. Đây là lý do tại sao ở những vùng này, người Hồi giáo kết nạp được rất nhiều dự tòng: ngay từ đầu và bằng những lời rất đơn giản, họ dạy cho người ta thờ phượng Thiên Chúa.” Các Kitô hữu được hưởng những lợi lộc rất quý giá cho sự thờ phượng của họ! Họ phải khám phá ra chúng, vì ý nghĩa của những giá trị này đã rất thường xuyên bị mất đi.
Trong lãnh vực này, những anh em Do Thái của chúng ta, ít nhất những người thực hành đức tin của họ, có thể dạy chúng ta rất nhiều điều. Đạo đức và lành thánh biết bao tục lệ mà họ đã duy trì trong văn chương tôn giáo Do Thái, như sách Talmud và các tác phẩm viết khác, là không bao giờ kêu tên Chúa (Adonai, trong ngôn ngữ của họ), mà lại không lập tức thêm câu xen: “Chúc tụng Chúa đi! Chúc tụng Chúa đi!”, như thể họ sợ không kính trọng Thiên Chúa khi lướt qua quá nhanh và không chú ý đủ đến tên của Người, khi đọc bản văn thánh.
Sách Khải huyền nói về một thiên thần “bay trên đỉnh vòm trời” và lớn tiếng tuyên bố với cư dân trên mặt đất: “Hãy kính sợ Thiên Chúa và tôn vinh Người … Hãy thờ lạy Đấng đã tạo thành trời đất” (Kh 14, 7). Ước mong Thiên Chúa ban cho các Giáo Hội Kitô ở châu Âu và phương Tây từ bỏ những chia rẽ lâu đời và những tranh chấp không mấy liên quan đến vinh quang Thiên Chúa; ước mong trong sự hòa hợp huynh đệ, họ trở thành một âm vang trên trái đất tiếng nói trên đây của thiên thần. Bởi vì “thật là khủng khiếp khi phải rơi vào tay Thiên Chúa hằng sống” (Hr 10,31). Rơi như kẻ thù, hoặc thuần túy như những người không quan tâm đến Thiên Chúa!
Chúng ta hãy cầu nguyện bằng những lời của một thi sĩ và nhà thần bí Tin lành, giữa thế kỷ Khai sáng, lên tiếng nhắc nhở mọi người về bổn phận thờ phượng của mình:
“Thiên Chúa hiện diện ở đây: chúng ta hãy đến tôn thờ Người! Với lòng tôn kính thánh, chúng ta hãy vào trước nhan Người. Thiên Chúa ở đây giữa chúng ta: chớ gì tất cả đều im lặng nơi ta, chớ gì tâm khảm chúng ta phủ phục trước nhan Người. Bất cứ ai biết Người, bất cứ ai xướng tên Người, hãy nhìn xuống đất và nâng tâm hồn lên với Người[132]”.
Cùng với việc thờ phượng, phải duy trì một tình cảm khác trong tương quan của chúng ta với Thiên Chúa hằng sống, đó là khao khát. Tôi biết rất rõ là đức tin, đức cậy và đức mến là ba phương thức thiết yếu diễn tả mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, qua đó một loại “tiếp xúc thiêng liêng” được thiết lập với Ngài. Tầm quan trọng và vẻ đẹp của khao khát chính xác ở chỗ nó là kết quả và tổng hợp của ba nhân đức tin, cậy, mến. Nó giống như ngọn lửa duy nhất chiếu sáng trên một chiếc kiềng ba chân. Nó giống như mặt trái hiện sinh của ba thần đức, giống như một người tiết lộ về sự hiện diện và hoạt động của chúng.
Để biết khao khát Thiên Chúa là gì, trước hết chúng ta phải biết khao khát là gì. Nó gồm hai yếu tố, một tiêu cực, một tích cực. Từ Latinh, gốc gác của thuật ngữ tiếng Pháp, nhấn mạnh hơn khía cạnh tiêu cực; từ Hy lạp, dùng trong Tân Ước, nhấn mạnh hơn giá trị tích cực. Đối với người Latinh, trong ngôn ngữ của nghệ thuật bói toán, desiderare áp dụng vào việc thiếu các ngôi sao (sidera) cần thiết để thiết lập “điềm báo” hoặc điềm. Do đó, trong cách sử dụng phổ thông, “khao khát” có nghĩa là “cảm thấy hoặc trải nghiệm sự thiếu thốn hoặc vắng mặt của một cái gì đó”.
Thuật ngữ Hy lạp tương ứng, potheo, nguyên thủy cho thấy chuyển động vươn vai, nằm dài, căng ra, hít vào hoặc đeo đuổi một cái gì đó. Điểm nhấn mạnh chính là khía cạnh tích cực và năng động của khao khát. Đối với những người phái Khắc Kỷ, khao khát là một khát vọng tinh thần khởi đi từ một quyết định có ý thức về ý chí do lý trí hướng dẫn. Qua khao khát, linh hồn, có thể nói, vươn mình lên, kéo dài ra trong khoảng thời gian chờ đợi, nóng lòng muốn đạt đến chỗ cuối cùng mà nó khao khát. Người ta có thể hiểu theo nghĩa này đoạn Kinh Thánh trình bày con người sống trong cuộc đời này như những kẻ lưu đày “khao khát” (epipotheo) tới quê hương vĩnh cửu (x. 2Cr 52). Sự phân biệt giữa hai khía cạnh tiêu cực và tích cực của khao khát phần nào tương ứng với sự phân biệt trong tiếng Anh giữa hai động từ to miss và to long for (nhớ và mong mỏi), hoặc trong tiếng Pháp là “thiếu, không có” và “mòn mỏi, nóng lòng chờ đợi”.
Trong Kinh Thánh, người ta bắt gặp hai ý nghĩa này khi Kinh Thánh nói về lòng khao khát Thiên Chúa; và đôi khi chúng được sử dụng song song với nhau: “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trong mong tìm đến Ngài, lạy Chúa.” Ở đây sự khao khát được diễn tả theo nghĩa tích cực, bằng hình ảnh một con nai khát nước: thấy một dòng suối, nó lao đến, băng qua những chỗ dốc đứng đến chỗ nước chảy. (Người nào đi từ Giêrusalem đến Giêricô, men theo con suối Wadi Keltqua sa mạc Giuđa, có thể dễ dàng hình dung cụ thể điều tác giả Thánh vịnh gợi ra). Ngay sau câu trên là những lời: “Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống.” Nói cách tiêu cực, đó là lối diễn tả cùng một sự khao khát: một sự khát khao, một sự thiếu thốn, thiếu thốn và khát khao Thiên Chúa.
Với một vài ý niệm này về khao khát nói chung, chúng ta đi tới chỗ xem xét cụ thể lòng khao khát Thiên Chúa. Trong tất cả các khao khát của nhân loại, khao khát Thiên Chúa là sâu xa nhất, cho dù rất thường bị bỏ qua. Một bài thơ hay của Tagore ca ngợi niềm khao khát sâu xa này hướng tới Thiên Chúa:
“Khi màn đêm che giấu trong bóng tối của nó đòi hỏi của ánh sáng… Như cơn bão còn khao khát được kết thúc trong hòa bình khi nó dùng hết sức để chống lại hòa bình, cũng như vậy trong sâu thẳm vô thức của tôi vang lên tiếng kêu: “Chính Ngài là Đấng con muốn, chỉ mình Ngài thôi[133]!”
Ở hai cấp độ, theo hai cách khác nhau, chúng ta nói về sự khao khát Thiên Chúa. Trước hết và quan trọng nhất là sự “khao khát tự nhiên hướng tới Thiên Chúa”, như một khái niệm triết học và thần học. Thánh Augustinô và thánh Tôma biến nó thành khởi điểm của một trong những bằng chứng nổi tiếng về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tiếp đến, sự khao khát Thiên Chúa mà những tâm hồn yêu mến biết đến và không nhằm chứng minh Thiên Chúa hiện hữu nhưng nhằm chiếm hữu Ngài: đó không phải là một khái niệm nhưng là một tình cảm. Sự khác biệt giữa hai điều này có thể so sánh với mô tả vật lý về hiện tượng khát và với thực tế về cơn khát của một người đã đi bộ hàng giờ dưới cái nắng chang chang trong sa mạc. Người quan tâm đến sự khao khát tự nhiên hướng tới Thiên Chúa rất có thể chưa từng tự mình trải nghiệm khao khát này trong tâm hồn họ. Ngược lại, ai đã có kinh nghiệm sống động về sự khao khát này rất có thể chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy, để từ đó kết luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tuy nhiên, hai sự khao khát này hướng về Thiên Chúa, tức khao khát tự nhiên và khao khát siêu nhiên, không đối lập nhau; ngược lại, khao khát sau giả thiết khao khát trước và được xây dựng trên nó, như ân sủng giả thiết bản tính.
Có nhiều điều để nói ngay cả về sự khao khát tự nhiên hướng tới Thiên Chúa. Nó là “cái sâu sắc nhất, cốt yếu nhất và cao cả nhất trong hữu thể con người”; Theo H. de Lubac, “nó là nền tảng của nhân học Kitô giáo”. Nhưng câu hỏi được đặt ra: sự khao khát tự nhiên này hướng tới Thiên Chúa có còn nơi con người hiện đại bị tục hóa hay không? Luận chứng của Augustinô về “tâm hồn không an nghỉ” có còn đứng vững hay không? Đối với tôi, dường như trong số những người ủng hộ văn hóa hiện đại, yếu tố tích cực của khao khát đã biến mất: chỉ còn lại yếu tố tiêu cực. Khát vọng, hướng tới Chúa, bằng đức tin và lời cầu nguyện, đều biến mất; chỉ còn lại trống rỗng do những hành vi trên đã biến mất. Chỉ còn lại cảm giác về một sự thiếu thốn, nỗi nhớ về Thiên Chúa, mà một tác giả đã gọi là “Nỗi nhớ về Đấng Hoàn Toàn Khác[134]“.
Điều khiến chúng ta quan tâm hơn hết, là hình thức khác của sự khao khát hướng tới Thiên Chúa, khao khát siêu nhiên, một biểu hiện chung của đức tin, đức cậy và đức mến. Nó là động cơ hoặc yếu tố thúc đẩy của đời sống thiêng liêng. Nó mang lại đà tiến cần thiết để vượt qua khó khăn. Không gì lớn lao được thực hiện mà không khao khát. Người ta không đạt tới sự thánh thiện nếu không khao khát mạnh mẽ đạt tới đó. Người ta không đến gần Thiên Chúa bằng cách bước từng bước bằng đôi chân của mình, nhưng bằng những khao khát của tâm hồn.
Thánh Augustinô đôi khi đã nhận được danh hiệu tiến sĩ của lòng khao khát Thiên Chúa, vì tầm quan trọng ngài gán cho đề tài này và vì những lần nhấn mạnh khi nói về nó. Ngài viết: “Khao khát là đáy lòng. Chúng ta sẽ nhận được nếu chúng ta mở rộng lòng khao khát ngần nào có thể. Khao khát càng mở rộng con tim, chúng ta càng cho nó khả năng có thể đón nhận Thiên Chúa.” “Tất cả cuộc đời của một Kitô hữu chân chính là một khao khát thánh… Khao khát giúp bạn có thể được lấp đầy, khi xẩy đến những gì bạn phải thấy…; bằng cách mở rộng nó, bạn làm tăng khả năng của nó…; bằng cách bắt người ta chờ đợi, Thiên Chúa mở rộng khao khát; bằng cách làm cho người ta khao khát, Ngài mở rộng tâm hồn; bằng cách mở rộng tâm hồn, Ngài làm cho nó có khả năng đón nhận. Khao khát càng sống động thì chính việc cầu nguyện cũng càng sống động: “Khao khát của bạn, chính đó là lời cầu nguyện của bạn. Nếu khao khát của bạn liên tục, lời cầu nguyện của bạn cũng liên tục… Nếu bạn không muốn ngừng cầu nguyện, đừng ngừng khao khát.” “Cầu nguyện nhiều chính là đánh động lâu dài bằng một chuyển động hiếu thảo của con tim nơi Đấng mà chúng ta cầu nguyện[135].” Có một kinh nguyện của phụng vụ dạy chúng ta cầu xin Chúa “cho tâm trí chúng con rạng rỡ nơi mắt Chúa bằng sự khao khát tìm thấy Chúa[136]“. Như thể khi từ trời cao nhìn xuống, Thiên Chúa thấy các điểm trên trái đất ít nhiều phát sáng tùy theo cường độ của khao khát trong lòng mỗi người.
Văn chương thần bí đầy dẫy chủ đề khao khát Thiên Chúa, thường liên kết với câu trong sách Diễm ca: “Được ngồi dưới bóng chàng, tôi thỏa lòng mơ ước, và hoa trái của chàng ngọt lịm trong miệng tôi” (Dc 2,3). “Khao khát yêu thương”, đó là cái tên mà tác giả vô danh thời Trung cổ trích dẫn ở trên đưa ra: “Hãy chú ý nhiều đến công việc này và đến cách thức lạ lùng mà công việc này được thực hiện trong tâm hồn bạn. Để hiểu cho đúng thì công việc này không là gì khác ngoài một xung lực đột ngột và tự phát mạnh mẽ vọt lên tới Thiên Chúa, giống như một tia lửa tóe ra từ than hồng đang cháy… Hãy dùng mũi lao của khao khát yêu thương nồng cháy đập vào đám mây dày đặc của sự vô minh này và đừng quay sang phía khác để nhìn điều gì đó sắp xảy ra[137].”
Như biển ngày đêm không ngừng xô đẩy vào bờ những ngọn sóng lúc to lúc nhỏ, cũng vậy chúng ta sẽ không bao giờ ngừng đưa những xung lực âm thầm của tâm hồn chúng ta lên tới Thiên Chúa. Nếu trong nỗ lực này, tâm trí hỗn loạn của bạn muốn đặt ra cho mình những câu hỏi như: “Thiên Chúa, Ngài là ai? Và làm thế nào để nghĩ về Ngài?, thì hãy trả lời: “Tôi không biết gì cả và trong lúc này, tôi không muốn biết gì về Ngài. Người ta phải yêu Thiên Chúa nhiều hơn là nghĩ về Ngài.”
Khao khát Thiên Chúa cũng là một tâm thái quan trọng không chỉ đối với đời sống khổ hạnh và thiêng liêng, mà còn đối với việc loan báo Nước Trời. Tôi phải thừa nhận rằng đôi khi tôi hơi than thở trước nhan Thiên Chúa. Tôi thưa với Ngài: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn rằng khi rao giảng, con thường nói cho người khác về sự khiêm nhường, bác ái, cầu nguyện, thì tại sao Chúa không ban cho con một chút về tất cả những gì con đang quá thiếu thốn như thế?” Và tôi nghe thấy câu trả lời trong thâm tâm: “Chúng ta nói về điều gì cách hăng hái nhất: về những gì đã có hay về những gì đang khao khát?” – Tôi trả lời ngay: “về những gì đang khao khát”. Khi đó tôi hiểu rằng suốt cuộc đời này, tôi sẽ phải tiếp tục nói về những gì tôi không có, nhưng tôi khao khát. Ít nhất tôi cũng cố gắng biến thành của tôi lời khuyên mà một Giáo Phụ xưa dành cho người buộc phải nói và viết về những giá trị thiêng liêng mà, trong suốt cuộc đời, người đó đã chưa thể đạt được: “Hãy nói về chúng như một người thuộc hạng môn đệ, và không dùng uy quyền mà nói, sau khi đã hạ mình xuống và làm cho mình nhỏ bé hơn người nghe mình[138].”
Chúng ta hãy lấy lại “Bài ca của Ađam bị đuổi ra khỏi Địa đàng” mà cầu nguyện, một bài được nhiều nhà khổ hạnh Chính thống giáo đánh giá cao:
“Lạy Chúa, linh hồn con mong mỏi Chúa, và con khóc lóc tìm kiếm Chúa. Lạy Chúa, Chúa thấy nỗi đau khổ và nước mắt của con.. Hãy thắp sáng bóng tối của con : chớ gì tâm hồn con mừng rỡ hân hoan. Làm sao Chúa có thể quên con được? Ánh mắt bình yên và dịu dàng của Chúa đã lôi kéo linh hồn con, và tâm trí con hân hoan trên Thiên đường, nơi con được nhìn thấy ánh mắt của Chúa[139].”
31. HỒN CHÚNG CON KHÁT VỌNG THÁNH DANH, VÀ ƯỚC MONG TƯỞNG NHỚ ĐẾN NGÀI
Khao khát tự nhiên và khao khát siêu nhiên hướng tới Thiên Chúa thuộc về trật tự khác nhau. Một trong những yếu tố của sự khác biệt này ở chỗ khao khát tự nhiên là bẩm sinh, trong khi khao khát siêu nhiên phải được đánh thức, rồi được nuôi dưỡng và phát triển. Bằng cách nào? Bằng phương pháp cắt tỉa và loại bỏ! Đó là nghệ thuật và kỹ thuật của nhà điêu khắc biết cách loại bỏ khỏi một khối đá cẩm thạch những phần vô dụng và dư thừa để dần dần biến nó thành một tác phẩm nghệ thuật mà ông đã hình thành trong trí. Cũng vậy, chúng ta phải loại bỏ nơi mình những khao khát không cần thiết, những khao khát trần tục, để lòng khao khát Thiên Chúa bén rễ và được củng cố.
Là vì giữa những khao khát trần tục và khao khát Thiên Chúa hầu như không có đặc điểm chung nào. Những khao khát trần tục, cho dù cháy bỏng đi nữa, không phải lúc nào cũng được thỏa mãn. Còn khao khát Thiên Chúa chắc chắn sẽ được thỏa mãn, vì Thiên Chúa không bao giờ khơi dậy một cách vô ích lòng khao khát chiếm hữu Ngài. Đàng khác, khát vọng trần tục, một khi đạt được, làm cho người ta chán ngấy và không thỏa mãn. Khao khát Thiên Chúa, một khi đạt được, vẫn làm cho người ta khao khát còn mãnh liệt hơn: “Ai uống Ta, sẽ còn khát” (Hc 24,21).
Thế tại sao những khao khát trần tục nơi chúng ta lại mạnh mẽ và có quyền lực đến vậy? Tại sao chúng thu hút chúng ta quá dễ dàng, hơn rất nhiều so với khao khát Thiên Chúa? Bởi vì chúng giới thiệu cho chúng ta những đồ vật có thể tiếp cận tức khắc hơn, trực tiếp đập vào các giác quan của chúng ta và khát khao khoái lạc vốn ở trong trái tim con người. Mặt trời lớn hơn nhiều so với trái đất và khối lượng của nó có sức hút lớn đến mức nó có thể giữ được các hành tinh và vệ tinh ở rất xa. Tuy nhiên, sức hút mặt trời này không kéo chúng ta về phía mặt trời; đôi chân của chúng ta luôn dính vào trái đất. Là vì trái đất, do ở gần hơn, nên có thể chống lại sức hút của mặt trời. Cũng xẩy ra tượng tự như vậy những gì liên hệ tới lòng khao khát Thiên Chúa, ước muốn của cải và thú vui trần tục.
Do đó, cần phải có một nỗ lực đưa ta tới chỗ thật tình biến câu hô của tác giả Thánh vịnh: “Bên Ngài, thế sự thật tình chẳng ham!” (Tv 73,25) thành tiếng hô của ta. Thánh Ignatiô Antiokia tử đạo đã đạt tới chỗ đó, khi ngài có thể viết cho các Kitô hữu ở Rôma: “Khao khát trần thế của tôi đã bị đóng đinh vào thập giá và trong tôi không còn nồng nhiệt yêu quý vật chất nữa, nhưng một nguồn nước sống động thì thầm tận đáy lòng tôi: Hãy đến với Chúa Cha[140]!” Thoạt nhìn, hai thuật ngữ nồng nhiệt và khao khát, được thánh Ignatiô nhấn mạnh, có vẻ rất gần gũi với nhau, đến nỗi đôi khi Kinh Thánh diễn tả một trong hai tình cảm này bằng cùng một từ. Tuy nhiên, trong thực tế, có một vực thẳm chia cách hai bên: khao khát dẫn ra ngoài mình, nồng nhiệt của đam mê lại lôi kéo tới mình; khao khát muốn hiến mình, còn đam mê muốn giữ lại và giữ cho riêng mình.
Dĩ nhiên, tu đức Kitô giáo cũng biết chiến đấu để dập tắt những ham muốn, để đạt tới chỗ “vô cảm” (impassibilité), hay nói theo ngôn ngữ được các bậc thầy tu đức Kitô giáo ưa thích, là đạt tới chỗ “thờ ơ thánh” (sainte indifférence). Bên ngoài Kitô giáo, người ta bắt gặp những lý tưởng có vẻ gần gũi với nhau, nhưng thực tế lại rất khác nhau. Trong Kitô giáo, dập tắt ham muốn tự nó không phải là mục đích, động cơ không phải là ý chí tiêu cực “chận đứng bánh xe đau khổ”. Việc gạt bỏ ham muốn nhằm đào sâu ước muốn duy nhất, mà, một khi đã được thỏa mãn, sẽ xoa dịu hoàn toàn cho đến muôn đời. Người ta không gạt bỏ ham muốn để không đạt được gì, nhưng đạt được tất cả.
Đối với người Kitô hữu, chế ngự và hy sinh những ham muốn trần tục là những phương tiện ít quan trọng hơn là hành động tích cực của Chúa Thánh Thần. Chính Thần Khí làm nẩy sinh lòng khao khát Thiên Chúa tận thâm tâm: “Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì” (Rm 8,27). Chính Thần Khí rên siết trong chúng ta, nghĩa là Người làm cho chúng ta rên siết bằng những tiếng rên khôn tả. Chính Người tạo ra sự hoài niệm đích thực và sâu sắc về Thiên Chúa. Nói về sự lôi cuốn này, về tiếng rên siết hướng về quê hương trên trời, nơi làm rõ nét điều kiện của chúng ta là những người hành hương ở dưới đất, thánh Tông Đồ kết luận: “Đấng đã tạo thành chúng ta vì tương lai này chính là Thiên Chúa. Người đã ban Thần Khí cho chúng ta làm bảo chứng” (2Cr 5,5). Qua đó chúng ta hiểu, khi kết thúc cuốn “Cuộc hành trình của tâm trí hướng tới Thiên Chúa”, thánh Bonaventura đã có thể viết ra bản văn rất mạnh mẽ và đầy sức gợi ý này như thế nào: “Món quà thần bí rất bí ẩn này “không ai biết nếu người đó chưa nhận được nó”, và không ai nhận được nó, nếu không khao khát nó, và người ta không thể khao khát nó, trừ khi được lửa của Chúa Thánh Thần, mà Đức Kitô đã mang đến thế gian, thiêu đốt đến tận xương tủy[141].”
Trong lời cầu nguyện, chúng ta có nhiều phương tiện để bày tỏ với Thiên Chúa lòng khao khát của chúng ta đối với Ngài. Kinh Thánh cung cấp cho chúng ta những phương tiện tốt nhất, đặc biệt là trong Thánh vịnh. Ở trên, chúng ta đã đọc Thánh vịnh 42, với hình ảnh tuyệt đẹp về con nai khát nước tìm đến suối trong. Đây không phải là bản văn duy nhất. Những bản văn khác, chẳng hạn Thánh vịnh 63: ở cả dạng tiêu cực lẫn tích cực, nó diễn tả lòng khao khát Thiên Chúa, được bày tỏ như cảm giác về một sự thiếu vắng và như một sự hướng tới cuộc gặp gỡ:
“Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ
Ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.
Linh hồn con đã khát khao Ngài,
Tấm thân này mòn mỏi đợi trông
Như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước”
Một Thánh vịnh khác nói về con người “nâng” tâm hồn lên tới Thiên Chúa (Tv 25,1); tiên tri Isaia, nhân danh toàn dân, tuyên bố: “Lạy Chúa, chúng con trông cậy Chúa; hồn chúng con khát vọng Thánh Danh và ước mong tưởng nhớ đến Ngài!” (Is 26,8). Đối với chúng ta và hợp với chúng ta, mỗi bản văn này có thể trở thành một kiểu cầu nguyện vắn được thường xuyên lặp lại trong trái tim chúng ta để thắp lại ngọn lửa khao khát.
Vào cuối cuộc hành trình, cả chúng ta mữa, chúng ta hãy dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện nhiệt thành của thánh Augustinô, người đã thường xuyên hướng dẫn chúng ta trong cuộc tìm kiếm này:
“Con đã chậm trễ yêu Ngài, ôi vẻ đẹp vừa rất cũ lại vừa rất mới, con đã chậm trễ yêu Ngài.
Này đây Ngài ở trong con mà con lại ở ngoài và đi tìm Ngài ở ngoài, nơi mà con nhào tới, một cách trái khoáy trên những cái đẹp tại thế này, những công trình tay Chúa làm nên. Ngài ở với con, nhưng con lại không ở với Ngài; những vẻ đẹp ấy giữ con xa Ngài, tuy nhiên nếu chúng không ở trong Ngài, chúng sẽ không tồn tại.
Chúa đã kêu gọi, đã la lên và đã phá vỡ sự điếc lác của con. Chúa đã chiếu sáng, đã tỏa rạng, đã làm tan đi sự mù lòa của con. Chúa đã tỏa hương thơm, con hít vào và hổn hển khát vọng Chúa. Con đã nếm hưởng và đói khát. Chúa đã chạm vào con: con được hun nóng lên cho sự bình an của Chúa[142].”
Lời bạt: “TA SẼ LÀ THIÊN CHÚA CÁC NGƯƠI!”
Bạn đọc thân mến, đến đây chúng ta kết thúc quá trình leo núi Sinai. Tuy nhiên, mong rằng trang cuối cùng của cuốn sách này không có nghĩa là kết thúc việc tìm kiếm của chúng ta! Đúng hơn, nó đánh dấu sự khởi đầu. Khi tiếng nói đã tắt và lời nói im ắng, thì trong thinh lặng, việc gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống sẽ dễ dàng hơn. Giống như ý tưởng, cuốn sách cũng có thể dễ dàng biến thành một bức bình phong và tấm màn che chắn hơn là mở ra một con đường dẫn đến Thiên Chúa hằng sống. Khi viết những trang này, bản thân tôi rất thường xuyên ý thức được mối nguy hiểm như vậy. Và có lẽ, dù không nhận ra điều đó, tôi đã mắc sai lầm giống như họa sĩ bận tâm với chân dung đức vua hơn là với chính đức vua của mình. Nếu vậy, tôi cầu xin Thiên Chúa và bạn đọc tha thứ cho tôi. Diễn giải ý tưởng của một tác giả mà chúng ta đã gặp trong những trang này, tôi nói với bạn: “Này bạn, từ giờ trở đi, như vậy là đủ. Nếu bạn muốn đọc điều gì khác về Thiên Chúa hằng sống, bạn hãy đi, và chính bạn hãy trở thành cuốn sách và chữ viết của Ngài[143].”
Chúng ta không thể tách ra và lại xuống khỏi Sinai của mình mà không tiên vàn cam kết bằng một cử chỉ cụ thể, một cử chỉ sẽ như đóng dấu vào cuộc hành trình thiêng liêng của chúng ta. Sinai là núi nơi Chúa hiển linh mà cũng là núi của giao ước. Tại đó, Thiên Chúa ban Lề Luật cho Môsê và ký kết giao ước mà Đức Giêsu sẽ biến đổi để trở thành giao ước “mới và vĩnh cửu” trong máu Ngài.
Cử chỉ còn lại phải hoàn thành sẽ là làm mới lại giao ước của chúng ta với Thiên Chúa, bằng cách lại chọn Ngài, với tất cả ý thức và dứt khoát, làm Thiên Chúa duy nhất của cuộc đời chúng ta. Tất cả những gì còn lại phải làm là thống nhất toàn bộ con người chúng ta: thân xác, linh hồn, trí khôn, ý chí, tình cảm, ước muốn, quá khứ, hiện tại và tương lai, và bằng tất cả sức mạnh quyết định mà chúng ta có thể có, được Thần Khí nâng đỡ, Đấng “đến giúp đỡ sự yếu hèn của chúng ta“, là tuyên bố và gần như hô to lên câu không thể thay đổi: “Tôi muốn Thiên Chúa!”
Cùng với Thiên Chúa, chúng ta cũng đón nhận mọi ý muốn của Người, được bày tỏ trong các điều răn và trong Phúc âm của Đức Giêsu, bằng cách lặp lại lời cam kết long trọng của dân chúng ở Sinai: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo” (Xh 24,7). Nhân dịp này, chúng ta có thể biến thành của chúng ta lời cầu nguyện tuyệt vời mà các anh em Tin lành theo truyền thống Giám lý (Méthodiste) có thói quen đọc cuối nghi thức dự liệu cho việc đổi mới giao ước: “Con không còn là của con nữa mà là của Chúa. Xin đặt con nơi nào Chúa muốn, kết hợp con với người làm Chúa hài lòng; cho con biết hành động hoặc chịu đựng, sử dụng con hoặc gạt con ra; cho con được đưa lên cao vì Chúa, hoặc hạ xuống thấp vì Chúa; xin làm cho con được lấp đầy hay trống rỗng; cho con có mọi sự cần thiết hoặc không có gì cả. Một cách tự do trong tâm tình vui mừng, con đặt mọi sự theo ý Chúa và theo sự xếp đặt của Chúa[144].”
“Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi” (Ed 36,28), đó là công thức cổ điển của giao ước. Hạnh phúc biết bao khi khám phá ra sức mạnh của tính từ sở hữu: “của Chúa”. Thiên Chúa là của chúng ta! Thiên Chúa hằng sống, Đấng mà chúng ta, “như thể mò mẫm”, đã tìm cách khám phá trong những trang sách này, chính là “Thiên Chúa của chúng ta”; Ngài thuộc về chúng ta! Ngài là “của tôi” hơn ngôi nhà tôi đang sống, hơn người phụ nữ tôi lấy làm vợ, hơn những đứa con do tôi đã sinh ra, là của tôi hơn cả thân thể tôi, hơn chính cuộc đời tôi. Ngài “thâm sâu với tôi hơn sự thâm sâu của chính tôi[145].”
Hình thức sở hữu này là hoàn hảo nhất, bởi vì nó là một sở hữu nội tại chứ không ngoại tại, nó là sở hữu Đấng chiếm hữu chúng ta. Chủ sở hữu thực sự của một đồ vật hay của một người là “người hưởng lợi” về vật hay người đó, người có thể định đoạt và hưởng thụ vật hay người đó. Thế mà thực sự “sự vui hưởng Thiên Chúa” (frui Deo) này được hứa ban cho chúng ta đến muôn đời.
Ai sẽ có thể diễn tả mầu nhiệm ân sủng này? Thiên Chúa “là” Thiên Chúa, nhưng thụ tạo thì “có” Thiên Chúa. Có thể nói, sự khác biệt giữa chúng ta và Thiên Chúa rút lại là sự khác biệt giữa là và có. Không ai, trừ một mình Thiên Chúa, có thể tuyên bố: “Tôi, tôi là Thiên Chúa”, nhưng tất cả chúng ta đều có thể quả quyết nếu muốn: “Tôi, tôi có Thiên Chúa!” Thiên Chúa là của tôi.” “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa của con!” (Tv 63,2) Đó là niềm vui “của thụ tạo”, niềm vui thiếu vắng nơi những ai không muốn có Thiên Chúa, nhưng muốn mình là Thiên Chúa.
Theo một nghĩa nào đó, chúng ta hạnh phúc hơn Thiên Chúa. Thiên Chúa không có một Thiên Chúa ở trên mình để ngưỡng mộ và có thể tự hào, một Thiên Chúa để thổ lộ những lời phàn nàn. Còn chúng ta, chúng ta có Ngài! Nhưng khi suy nghĩ sâu hơn về tất cả những điều đó, chúng ta có thể thấy rằng điều vừa nói không hoàn toàn chính xác, bởi vì Thiên Chúa cũng có một Đấng để yêu thương, ngưỡng mộ, một Đấng để vui mừng và khiến cho mình không còn cô độc. Đúng vậy, Thiên Chúa hằng sống vừa là một vừa là ba: Chúa Cha có Chúa Con, Chúa Con có Chúa Cha và cả hai đều có Chúa Thánh Thần.
Sau khi nghe Thiên Chúa kêu gọi ông trên Sinai: “Hãy lên với ta!”, giờ là lúc Môsê nhận được một mệnh lệnh khác: “Hãy đi xuống! Rồi lại trở lên, đem theo Aaron với ngươi” (Xh 19, 24). Cũng những lời ấy giờ đây nói với chúng ta. Chúng ta phải “kể lại” Thiên Chúa hằng sống cho người khác và làm cho họ cũng mong muốn lên núi Sinai. “Aaron” của chúng ta, mà chúng ta sẽ bắt đầu với ông, rất có thể là người bạn đồng hành sống gần chúng ta, người cộng tác này hay người nào khác mà Thiên Chúa đặt định trên con đường chúng ta đi. Sinai, người ta một mình leo lên lần đầu tiên; lần thứ hai cùng leo với một người khác, không còn là một người leo núi đơn thuần, nhưng là một hướng dẫn viên cho người khác.
Có lời chép: “Khi Môsê từ núi Sinai xuống, ông không biết rằng da mặt ông sáng chói” (Xh 34,29). Ông không biết điều đó, nhung những người khác thì biết, và từ giờ trở đi ánh sáng huyền bí này nơi khuôn mặt và đôi mắt của Môsê cho dân Israel biết về Thiên Chúa hằng sống đang đi giữa họ: bóng tối và hình ảnh nhất thời, mong đợi và loan báo vinh quang Thiên Chúa sẽ tỏa sáng trên một khuôn mặt khác, khuôn mặt của Đức Kitô (x. 2Cr 4,6).
Cũng như trước lúc chia tay khi kết thúc một chuyến hành hương đi chung với nhau, vốn là nguồn gốc một sự hiệp thông sâu xa của tình bạn giữa những người tham gia, giờ đây chúng ta hãy trao đổi với nhau lời chào từ biệt biết rất đơn giản này và, trong trường hợp của chúng ta, đúng theo nghĩa đen: “Tạm biệt Chúa”, tạm biệt Thiên Chúa hằng sống, cho đến muôn đời, chúng ta sẽ không bao giờ xa cách Ngài nữa. Ở gần Ngài, chúng ta sẽ không cần sách vở hay lời nói nữa. “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt” (1Cr 13,12).
Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa trong ngày lễ Hiển Linh:
“Lạy Chúa, chúng con đã nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường, xin dủ lòng thương đưa chúng con về chiêm ngưỡng thánh nhan vinh hiển. Nhờ Đức Giêsu Kitô… Amen“.
[1] Saint Augustin, Confessions, I,1; cf. BA t.13, p.273.
[2] Cf. Archimandrite Sophronius, Starets Silouane, moine du Mont-Athos, trad. du russe par híeromoine Syméon, Paris, Présence, p.95.
[3] Ange Silesius, Le Pèlerin chérubinique, II, 83; tr. R. Munier, Paris, 1970.
[4] Zu den Sachen selbst : c’est le programme de l’Ecole phénoménologique de Husserl.
[5] Saint Thomas d’Aquin, Somme théologique, II-II, q. 1, 2, 2; trad. Cerf, 1984.
[6] J. P. Sartre, La nausée, Paris, Gallimard/Folio, 1938, p. 181sv.
[7] cf. G. von Rad, Théologie de l’Ancien Testament, trad. E. Peyer, 3e édit., Genève, Labor et Fides, 1971, p. 160.
[8] Saint Anselme, Proslogion, I; cf. trad. Corbin, Paris, Cerf, 1986, p. 237.
[9] Saint Augustin, La Trinité, VI, x, 11; x. BA 1, 15, p. 497.
[10] Grégoire de Nysse, Sur le Cantique, XI, 5, 2; x. Migne, p. 224.
[11] Dante Alighieri, Paradis, XXXIII, vv, 59-63.
[12] R. Otto, Le sacré, 2, 2, trad. A Jundr, Paris, Payot, 1955, p. 21.
[13] Saint Augustin, Sermon 223 A, 5 (Miscellanea Agostiniana, Roma 1930, pp. 151).
[14] Saint Augustin, Sur le psaume 85, 12, x. Humeau, p. 229; Confessions, X, VI, 9 BA t. 14, p. 155.
[15] cf. Anonyme anglais, Le nuage de l’inconnaissance, VII, trad. Notinger, Mame. 1925, p. 88.
[16] H. de Lubac, Histoire et Esprit, Paris, Aubier, 1950, ch. 5, p. 242 sv.
[17] Saint Augustin, La Trinité, XV, XXVIII, 51; x. BA t. 16, p. 565.
[18] Augustin, La Cité de Dieu, IX, xv, 2; x. tr. Moreau, Paris, Seuil, 1994, p. 390.
[19] Saint Augustin, La Trinité, VI, x, 10; x. BA, t. 15, p. 499.
[20] Sách Lễ Rôma, Kinh Nguyện Thánh Thể IV.
[21] Julienne de Norwich, Révélations de l’Amour de Dieu, 52, Paris, Oudin 1910, p. 220.
[22] Saint Augustin, Confessions, X, xx, 2 9; x. BA t. 14, p. 193.
[23] Dante Alighieri, Purgatoire, XXVII, v. 115.
[24] J.W. Goeth, Faust, 2e partie, V, 11581-11587.
[25] Sách Lễ Rôma, Lời nguyện Chúa nhật XXI Mùa Thường niên.
[26] Saint Ambroise, De Paradiso, 14, 18 (PL 14, 308).
[27] Cyrille de Jérusalem, Catéchèses VI, 5. x. Migne, 1993, p.97.
[28] Imitation de Jésus-Christ, III, 14.
[29] Saint Augustin, Confessions, VII, 10; XI, 9; x. BA t. 13,p. 617; t. 14, p. 289.
[30] cf. R.Otto, Le Sacré (cité note 12), 4B, p. 27sv
[31] Saint Francois, Paraphrase du Pater, 3, Ecrits. C. SC 285, p. 277.
[32] Saint Irénée, Contre les hérésies, III, xxv, 2; trad. Rousseau, Paris, Cerf, 1983.
[33] cf. R. Otto, Le Sacré (cité note 12), 14, p. 124-126.
[34] M. Luther, Sur les psaumes (WA 5, p. 163).
[35] Sách Lễ Rôma, Lời nguyện Chúa nhật XXVI Mùa Thường niên.
[36] cf. Grégoire de Naziance, Discours 28, 3 (PG 36, 29); saint Bonaventure, L’arbre de vie, VIII, 30; x. d’Oeuvres spirituelles, t. 3, Paris-Gembloux, 1932, p. 98 sv.
[37] Luther, Hymne “Mon Dieu est une forteresse imprenable”.
[38] Sách Lễ Rôma, Lời nguyện Chúa nhật XII Mùa Thường niên.
[39] E. Kant, L’unique fondement possible de la démonstration de l’existence de Dieu, préface; Oeuvres, 2, Berlin, 1905, p. 65; Critique de la raison pratique, Conclus. Paris, Gallimard, 1985, p. 211-212.
[40] Ch. Péguy, Le portique du mystère de la seconde vertu, Oeuvres poétiques, Paris, Gallimard, 1975, p. 531-537.
[41] Dante Alighieri, Paradis, XXXIII, v. 142.
[42] G. Kepler, Harmonices mundi, V, 10; Opera omnia, 5, Francfort-Erlangen 1864, p. 327.
[43] Saint Augustin, Confessions, X, vii, 25; x. BA t. 14, p. 205.
[44] Saint Augustin, Sur le psaume 130, 12; x. Humeau, p. 481.
[45] Saint Augustin, Sur l’Évangile de Jean, XVIII. X. 10; x. BA t. 72, p. 149; De la vraie religion; x. Ba, t. 8.
[46] Un moine, Les portes du silence, Genève, Lib. Martingay. 2e éd., p. 9.
[47] Saint Augustin, Soliloques, I, I, 3; II, I, 1; x, BA, t. 5.
[48] S. Kierkegaard, La maladie mortelle, IB & II, 1; x. Oeuvres, t. 16, Paris, Orante, 1971, pp. 184 & 235.
[49] B. Pascal, Pensées, éd. Brunschwicg, 347.
[50] Fioretti de saint Francois, 3e considération sur les stigmates; cf. saint Francois d’Assise/Document, 2e éd., Paris, E!d. Franciscaines, 1981, p. 1228 sv.
[51] J.H. Newman, Apologie pour sa vie, I et IV, 2, 5; cf. Textes nawmaniens, t. I, Paris 1955, p. 111 et 163 sv.
[52] cf. E. Kant, L’unique fondement possible (cité note 40) 3e partie.
[53] Denys l’Aréopagite, La théologie mystique, I, 3; cf. Oeuvres complètes, trad. de Gandillac, Éd. Montaigne, Paris, Aubier, 1934, p. 179.
[54] B. Pascal, Pensées, éd. Brunschwig, 267.
[55] Saint Thomas d’Aquin, In Boet. Trin. Proem., 1. a. 2. ad 1.
[56] Saint Augustin, Lettre 130, 28 (PL 33, 505).
[57] S. Kierkegaard, Journal, VIII A 11.
[58] Saint Jean de la Croix, La nuit obscure, ch. XXIV. 3; Paris, Desclée de Brouwer, 1958, p. 452.
[59] Le livre de la bienheureuse Angèle de Foligno, trad. P. Doncoeur, Paris, Au catholique, 1936, p. 452.
[60] Anonyme anglais, Le nuage de l’inconnaissance, V (cité note 15), p. 83.
[61] Saint Augustin, Confessions, IX, x, 23-26; BA t. 14, p. 115-121.
[62] Anselme, Proslogion, I; x. trad. Corbin, Paris, Cerf, 1986, p. 237.
[63] G. Ruysbroeck, L’ornement des noces spirituelles, II, 41, Paris, Vromant, 1920, p. 139.
[64] R. Tagore, Gitanjali (L’offfrande lyrique), XVII, Paris, Gallimard, 1939, p.55.
[65] Théophile d’Antioche, Ad Autolicos, 1, 2. x. SC 20, p. 58 sv.
[66] B. Pascal, Pensées, édit. Brunschwicg, 240
[67] Basile, Traité du Saint-Esprit, IX, 23; x. SC 17 bis, p. 147sv
[68] Diadoque de Photicé, La perfection spirituelle, 58; x. Migne, 1990, p. 41.
[69] M. Basileia Schlink, Dieu dans ma vie (Wie ich Gott erlebte), Darmstadt 1973.
[70] Nikos Kazantzakis, Le Pauvre d’Assise, trad. Prassinos, Paris, Plon, 1970, p. 124.
[71] Denys l’Aréopagite, Les Noms divins, II, 9; x. Oeuvres, trad. Gandillac, Paris, Aubier, 1943, p. 86 (note 1: Ils ne sont pas seulement thémathes mais aussi théopathes”).
[72] Jean Tauler, Sermon, XI, x. trad. Hagueny-Théry, Paris, Desclée & Cie, 1938, t. 2, p. 211.
[73] Le livre de la bienheureuse Angèle de Foligno (cité note 60), pp. 109. 119. 136. 141. 163 tt. 349.
[74] S. Syméon le Nouveau Théologien, Catéchèses XXIII & XXV-XXVI; x. SC 113,pp 15-23; et 305-351.
[75] Saint Irénée, Contre les hérésies, IV, 20, 7; trad. Rousseau, Cerf, Paris, p. 474.
[76] Saint Bernard, Sur les degrés d’humilité, X, 36; ed. Soleil Levant, Namur, 1958, p.62.
[77] J.W. Goethe, Faust, 2e partie, finale acte V, v,12104 sv.; Ed. Montaigne, Paris, 1933.
[78] J.P. Sartre, Le diable et le bon Dieu, Paris, Gallinard, 1951, p. 267 sv.
[79] Feuerbach, L’essence du christianisme; trad. J.Roy, 1864, pp. 27, 52 sv, 92; x. Principes de la philosophie de l’avenir, 1849; La religion, 1864; trad. Roy, p. 192; voir de Lubac, Le drame de l’humanisme athée, Ire partie, ch. I-III, Paris, Spes, 1994, pp. 15-54.
[80] K. Marx, Luther arbitre entre Strauss et Feuerbach, dans Anekdota, 1843, p. 206; trad. A. Marc.
[81] K. Marx, Contribution à là crituque de la philosophie de Hegel, dans Oeuvres philosophiques; trad. Molitor, t,I, p. 83-84.
[82] S. Freud, Un souvenir d’enfance de Léonard de Vinci, V, cf. Gallimard/Folio, 1991, p. 235.
[83] Jean Paul II, Encyclique “Dominum et vivificantem”, n. 37.
[84] F. Bacon, Essais de morale et de politique, XVI – De l’athéisme; cf. Oeuvres, Paris, Delagrave, p. 477.
[85] S. Freud, L’avenir d’une illusion, 1927; Paris, PUF, 1971, p. 47.
[86] Origène, Contre Celse, V, I; SC 147, p. 16.
[87] Saint Augustin, Sur le psaume 93, 15 (CCL 39, p. 1316).
[88] Feurbach, dans Oeuvres complètes 7, p. 2
[89] Kierkegaard, La maladie mortelle, I, A. C. (cité note 49), p. 176.
[90] Cf. Tertullien, Apologétique 24, 10; thánh Augustinô, Soliloques I, 1, 2; cf. BA, t. 5; Lời nguyện trên lễ vật, Thứ Bẩy tuần IV Mùa Chay
[91] F. Nietzsche, Le gai savoir, no 125; Paris, Gallimard, 1982, p. 149.
[92] P. Claudel, Cinq grandes Odes, III, cf. Oeuvres poétiques, Paris, Gallimard, 1967, p. 251.
[93] M. Blondel, dans Vocabulaire technique et critique de la philosophie, par A. Lalande. 13e éd., Paris, PUF, 1980, p. 229, note.
[94] Tertullien, Contre Marcion, II, XXVII, 6; cf. SC 368, p. 165.
[95] Voir l’ouvrage déjà cité (note 40): L’unique fondement possible pour une démonstration de l’existence de Dieu.
[96] G.W.F. Hegel, Écrit de jeunesse, 1, 34; Oeuvres complètes, 1. Hambourg 1989, p. 372.
[97] E. Fromm, You shall be as Gods, New York, 1966, chap. 2.
[98] Tertullien, Contre Marcion, II, xvi; cf. SC 368, p. 103.
[99] J.P. Sartre, Le diable et le Bon Dieu, X, 5’ Paris, Gallimard, 1951, p. 231.
[100] Tertullien, Contre Marcion, II, xxvii, 6, cf SC 368, p. 165.
[101] G. Lessing, Eine Duplik, I, dans Oeuvres 3, Zurich, 1974, p. 149.
[102] F. Dostoievski, Notes d’un souterrain, 9; trad. L. Denys, Paris, Flammarion, 1992, p. 75.
[103] Kierkegaard, Journal, VII, A 181.
[104] Grégoire de Naziance, Poèmes, 29. cf. Priere du Temps présent, Office des Lectures, Ier et IIIe Mercredi du Temps Ordinaire.
[105] cf. saint Athanase, Contre les Ariens, I, 18 (PG 26, 49).
[106] Eusèbe de Césarée, Histoire Ecclésiastique, V, xxviii, 5; x. SC 41, p.75
[107] Evagre le Pontique, Traité de l’oraison, 60. x. Hausherr, Les lecons d’un contemplatif, Paris, Beauchesne, p. 85.
[108] x. Solignac, Théologie, dans D. Sp. t. XV, c. 463-487.
[109] E. Iserloh, Storia della Chiesa, V/2, Milano, 1977, p. 71.
[110] S. Kierkegaard, La maladie mortelle (cité note 49), Avant-propos, p. 165.
[111] Diadoque de Photicé, La perfection spirituelle, 7; cf. Migne, 1990, p. 18.
[112] Saint Thomas d’Aquin, Opuscules théologiques, t. 2.
[113] Saint Thomas d’Aquin, Somme théologique, I-II. q. 106. 2; cf. Paris, Cerf, 1984
[114] De Vio (Gajetan), Commentaire de la Somme théologique de saint Thomas, I, q. 63, a, 3, 13. (dum superbe vellemus in nostris quiescere, divina Deo relinquendo).
[115] J.W. Goethe, Sentiments humains; Gedichte, Stuggart, 1992, p.73
[116] Imitation de Jésus–Christ, III, 2.
[117] Origène, Commentaire sur l’évangile de Luc, frag. 17; cf. SC 87, p. 477.
[118] Saint Grégoire de Nysse, De eo qui sit ad imaginem Dei (PG 44, 1340)
[119] H. Muhlen, dans The Spirit and the Church, R. Martin, New York, 1976, pp. 177 sv.
[120] Saint Basile, Traité de l’Esprit Saint, XIX, 49, SC 17 bis, p. 228.
[121] G. Leopardi, L’infine.
[122] cf. Denys l’Aréopagite, Théologie mystique, 1, 3; Migne, Paris, 1991, p. 35.
[123] F, Nietzsche, Le gai savoir, no 135, Paris, Gallimard, 1982, p. 155.
[124] S. Kierkegaard, Ce que nous apprennent les lis des champs et les oiseaux du ciel dans Discours édifiants; cf. Oeuvres, t. 13, Paris, Orante, 1966, p. 185 sv.
[125] Ch. Péguy, Le mystère des Saints Innocents, Oeuvres poétiques complètes, NRF, Paris, Gallimard, 1975, p. 715-716.
[126] S. Kierkegaard, Journal, XI 2 A 154.
[127] Saint Augustin, Sur le psaume 85; cf. Humeau, p. 215.
[128] Saint Basile, Traité de l’Esprit Saint, XXVI, 62; SC 17 bis, p. 473.
[129] Dans The Spirit and the church, cit. (note 120) p. 16.
[130] Sách Lễ Rôma, Kinh Tiền tụng chung IV.
[131] Saint Grégoire de Tours, Histoire des Francs, II, 31; cf. trad. Latouche, Paris, Belles-Lettres, 1963, p. 121.
[132] G. Tersteegen, Geiliches Blumengarlein II, Stuttgart 1969; p. 340.
[133] R. Tagore, Gitanjàli (L’Offrande lyrique), XXXVIII, Paris, Gallimard, 1982, p.50.
[134] x. M. Horkheimer, Die Sebnsucht nach dem ganz Anderen, Hamburg, 1970.
[135] Saint Augustin, Sur l’évangile de Jean, XL, 10; cf. BA t. 73B, p. 191; Sur la 1re lettre de Jean, IV, 6; cf. SC, 75, p.231; Sur le ps. 37, cf. Humeau, p. 46; Lettre 130, X, 20.
[136] Sách Lễ Rôma, Thứ Ba tuần I Mùa Chay
[137] Anonyme anglais, Le nuage de l’inconnaissance (cité note 15), ch. IV, p. 80; ch. VI, p. 87.
[138] Isaac de Ninive, Discours ascétique, 4, Roma, Citta Nuova, 1984, p. 89.
[139] Starets Silouane, moine du Mont-Athos (cité note 2), p. 254.
[140] Saint Ignace d’Antioche, Lettre aux Romains, 7, 2; cf. SC 10, p. 261.
[141] Saint Banaventure, Itinéraire de l’esprit vers Dieu, VII, 4; cf. trad. H. Dunéry, Paris Vrin, 1960, p. 103.
[142] Saint Augustin, Confessions, X, XXVII, 38; BA t.14, p. 209.
[143] cf. Ane Silesius, Le pèlerin chérubinique, VI, 263; tr. Munier, Paris, 1970.
[144] cf. John and Charles Wesley, Selected Writings and Hymns, Paulist Press, New York 1981, p. 387.
[145] Saint Augustin, Confessions III, vi, II; cf Ba t. 13, p. 383.








