Suy niệm theo những tài liệu làm việc, những đề cương của Hội Nghị đặc biệt về Á Châu của THĐGM để chuẩn bị cho Tông Huấn “ECCLESIA IN ASIA “. Mục đich của những bài suy niệm nầy là để dẫn đưa vào tinh thần của Tông Huấn ” Giáo Hội tại Á Châu “mà HĐGMVN quyết định sẽ tổ chức học hỏi lâu dài …..

Đề tài 1 : Bổn phận rao giảng Tin Mừng của các Giáo Hội tại Á Châu

Đề tài 3 : Sự cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô được đem đến cho các dân tộc Á-Đông

Đề tài 4 : Loan báo Tin Mừng tại Á Châu

 

 


Đề tài 1 : Bổn phận rao giảng Tin Mừng của các Giáo Hội tại Á Châu

– Hiện nay, các Giáo Hội trong các nước ở Á Châu cần phải đồng hành với nhau, cùng nhau tiến bước đến Năm Ngàn Thứ Ba và phải loan báo Chúa Kitô, bằng lời nói vàbằng việc làm, không những cho những Đồng bào Á Châu của mình, mà còn cho tất cả các dân tộc của toàn thế giới.

– Trước hết, các Giáo Hội Á Châu phải cùng nhau đi với Chúa Giêsu Kitô như các môn đệ thành Êmau đã làm :

“Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Trong lúc họ đang trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ ” (Lc 24,14-15).

” Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng : ” Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ, Người ở lại với họ ” (Lc 24,28-29).

để xin Ngài mở lòng trí mình ra cho Lời Chúa :

” Bấy giờ Đức Giêsu nói với hai ông rằng : ” Ôi, những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? ” Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh ” (Lc 24,26-27).

” Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất ” (Lc 24,31).

để mỗi người chúng ta sốt sắng nhiệt thành yêu mến Chúa và yêu mến các linh hồn vì Chúa :

” Họ nói với nhau : ” Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24,32);

thấy được ý nghĩa luôn luôn mới mẻ của Lời Chúa :

” Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát, mà do hạt giống bất diệt, nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tổn tại mãi mãi, vì mọi phàm nhân đều như cỏ và tất cả vinh quang của họ cũng đều như hoa cỏ; cỏ thì khô héo, hoa thì tàn rụng; Lời Chúa vẫn tổn tại đến muôn thuở muôn đời. Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng ” (1 Pr 1,23-25) ;

và đem Lời Chúa áp dụng vào trong nhiều hoàn cảnh hiện tại khác nhau ở Á Châu

” Anh em hãy đem Lời Chúa ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình ” (Gc 1,22).

– Các Giáo Hội Á Châu cũng phải cầu nguyện với Chúa Giêsu Kitô để Ngài làm cho Á Châu được nhận biết Ngài trong việc bẻ bánh như là căn nguyên của sự sống và của mọi sự sung mãn được tặng ban cho mọi dân tộc.

– Các Giáo Hội Á Châu hãy tìm cách đi theo Thánh Linh :

” Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thánh Linh ” (Gl 5,16).

– Chúa Thánh Linh đã soi sáng những nhà hiền triết và những vị thánh của Á Châu trong việc tìm kiếm chân lý hoàn hảo và sự sống sung mãn.

– Chúa Thánh Linh đã làm cho các dân tộc Á Châu có thể nhận ra sự hiện diện của Ngài và hưởng dùng sự hiện diện nầy bằng những tia sáng chân lý trong các triết học và các tôn giáo của họ.

– Các Giáo Hội Á Châu ao ưóc đồng hành với Giáo Hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Đồ :

– Giáo Hội thời các Tông Đồ với những lời giáo huấn của chính Chúa Kitô;

– Giáo Hội thời các Thánh Phụ với di sản thần học và thiêng liêng quý báu;

– Giáo Hội thời các nhà truyền giáo vĩ đại của Âu Đông và của Á Châu;

– Giáo Hội của các vị thánh và của các nhà thần học thời Trung Cổ;

– Giáo Hội của sự canh tân và đỗi mới, được hướng dẫn bởi các Công Đồng Trente, Vatican I, Vatican II.

– Trong khi trung thành với Thiên Chúa của mình, các Giáo Hội Á Châu vẫn tìm cách đồng hành với tất cả mọi dân tộc Á Châu anh em của mình, kết hiệp với đời sống của họ, với những nền văn hóa chung của các dân tộc anh em nầy.

– Các dân tộc Á Châu đều liên kết với nhau trong một vận mệnh chung, một số phận chung.

– Các dân tộc Á Châu đều có nhiều yếu tố tôn giáo và thiêng liêng, cần thiết cho Giáo Hội trong việc hoàn thành sứ mạng của mình.

– Với các dân tộc Á Châu, Giáo Hội muốn chia sẻ sự giàu sang vô tận của ơn cứu độ do Chúa Giêsu Kitô mang lại.

– Các Giáo Hội Á Châu muốn thích hợp với những nền văn hóa và những tập tục xã hội của những dân tộc mình.

– Các Giáo Hội Á Châu muốn rửa sạch những điều nầy khỏi những gì nghịch lại với Tin Mừng của Chúa Kitô để Tin Mừng nầy khỏi trở nên xa lạ trên miền đất Giáo Hội đang sống và để cho Giáo Hội, trong khi kết hợp với Chúa Kitô, nhận lấy cho mình ” những vui mừng và hy vọng, những đau khỗ và lo âu của dân chúng.”

 

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

VietCatholic News. 9/11/2000


Đề tài 3 : Sự cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô được đem đến cho các dân tộc Á-Đông

 

– Những thực-tại điạ lý, tôn giáo, văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế và phát triển nầy của Á Châu là những hoàn cảnh sống động và là những toàn cảnh trong đó, sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội phải thể hiện.

– Chính trong ngay vùng Á Châu nầy, với những tài nguyên, những sức mạnh và những thách đố của nó, mà các đồ đệ của Chúa Giêsu Kitô được sai đến, để làm thế nào cho tất cả các dân tộc Á Châu có được sự sống và được sự sống dồi dào, nghĩa là, có sự sống vừa theo chiều kích bề ngang cũng như vừa theo chiều kích hướng thượng.

– Như đồ đệ của Chúa Kitô đã làm, các phần tử của Giáo Hội phải dùng quyền năng do Thập Giá của Chúa Kitô phát xuất ra để tiếp cận với những hoàn cảnh của Á Châu.

– Chúa Giêsu Kitô đã mang lấy những gánh nặng của tất cả mọi dân tộc của mọi thời đại, đã cứu chuộc và thánh hóa mọi dân tộc, để cho tất cả mọi người và mọi dân tộc đuợc rỗi.

– Đây là nguồn gốc đem lại quyền năng và hứng khởi cho Giáo Hội.

– Một cách khiêm nhượng, Giáo Hội muốn mang lấy trên mình những gánh nặng của cuộc sống và vác lấy những gánh nặng đó với những người anh chị em của mình, và đem đến để cho Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc bằng cái chết cứu độ và sự sống lại của Ngài.

– Sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô làm cho tâm hồn các đồ đệ của Ngài ở Á Châu tràn đầy hy vọng và sức mạnh để họ tự canh tân mình, và nhờ thế, họ canh tân lục địa Á Châu.

– Giáo Hội ở Á Châu, mặc dầu là một đoàn chiên nhỏ về số lượng, nhưng vẫn muốn mang lấy những thực tại, những tiềm năng và những hy vọng của Á Châu (x.GS, 1).

– Thiên Chúa đã sai Con mình đến trần gian để trần gian được sống. Á Châu là một phần của ” trần gian ” nầy, nơi đây, Con Thiên Chúa tiếp tục hiện diện : ” Con Thiên Chúa ở ngay trong trái tim của lịch sử nhân loại như Đấng Cứu Chuộc. Ơn cứu Chuộc thấm nhuần tất cả lịch sử nhân loại, gồm cả phần lịch sử xảy ra trước Chúa Kitô và chuẩn bị cho tương lai thế mạt của con người. Đó là chính luồng sáng ” chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng ” (Ga 1,5). Uy quyền của Thập Giá của Chúa Kitô và của sự Phục Sinh của ngài thì luôn luôn mạnh hơn mọi sự dữ mà con người có thể sợ hoặc phải sợ. ” ( ĐGH Gioan Phaolô II, Entrez dans l’espérance, tr.318 )

– Chúa Giêsu Kitô là Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa ban cho trần gian.

– Đức tin cho ta biết Chúa Giêsu Kitô là Con Thật của Thiên Chúa, đã được Thiên Chúa sai đến trần gian để cứu chuộc nhân loại.

– Chúa Giêsu Kitô đã đến để cho tất cả các dân tộc được sự sống của Thiên Chúa và được một cách dồi dào.

– Chúa Giêsu Kitô đã đến từ Thiên Chúa, nhưng Ngài cũng đã đến từ lục địa Á Châu.

– Chúa Giêsu Kitô là một con người của lục địa Á Châu, một con người đã trải qua những kinh nghiệm của những điều kiện và những thực tại của Á Châu.

– Tại Á Châu, Ngài đã sinh ra khó nghèo trong một hang bò lừa.

– Từ Á Châu, Ngài đã chạy trốn qua Phi-Đông. Cuộc sống của Ngài đã bị đe dọa ngay lúc vừa mới chào đời.

– Trên đất Á Châu, Ngài đã sống bằng lao lực cực khổ của hai bàn tay thợ mộc.

– Đến đâu, Ngài đem ơn lành đến đó.

– Đi rao giảng Tin Mừng, Ngài không biết mỏi mệt.

 

Ngài rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, nước bình an hạnh phúc giữa Thiên Chúa với tất cả mọi người, không trừ ai, với tất cả mọi dân tộc, không trừ dân tộc nào.

– Trong Chúa Giêsu Kitô, có đầy tràn sự sống, sự thật và sự tốt lành.

– Trong Chúa Giêsu Kitô, mọi hy vọng và mọi ao ước của trái tim con người đều được thỏa mãn.

– Tất cả những ước muốn thiêng liêng của con người để được chữa lành, để được sung mãn, để được tự do, để được công bình, để được sống phẩm giá con người, để được sống trong tình yêu, tất cả những ước muốn cao quý nầy đều được thực hiện đầy đủ trong Chúa Giêsu Kitô.

– Cũng chính trong Chúa Giêsu Kitô mà sự giải thoát cuối cùng mới thực hiện được, sự giải thoát khỏi mọi thứ ngu dốt, khỏi mọi tội lồi, khỏi mọi ích kỷ. Những thứ nầy, chính là nguyên nhân của mọi tội lổi.

– Chúa Giêsu hoàn thành tất cả những điều trên nầy bằng việc hoàn toàn dâng hiến thân mình cho Thiên Chúa Cha qua sự tự hạ mình xuống bằng vâng phục, và vâng phục ngay cả bằng sự chết.

– Sự phục sinh của Chúa Giêsu bảo đảm cho chúng ta là Thiên Chúa Cha đã đóng ấn trên sứ mạng của Chúa Giêsu Kitô đối với nhân loại, một sứ mạng đem lại ơn cứu chuộc và ơn cứu rỗi đến cho mọi dân tộc trên khắp hoàn cầu.

– ĐGH Gioan-Phaolô II dạy chúng ta rằng : ” Trong Ngôi Lời của Mạc Khải, Thiên Chúa đã cho biết về Ngài một cách đầy đủ :

Ngài đã nói cho nhân loại biết Ngài là ai. Chính sự Mạc Khải mà Thiên Chúa cho biết về Ngài nầy, là lý do căn bản làm cho

Giáo Hội tự bản tính mình là truyền giáo. Giáo Hội không thể nào không loan báo Tin Mừng, nghĩa là không thể nào không loan báo sự sung mãn của chân lý mà Thiên Chúa đã cho chúng ta biết về chính Ngài ” (Redemptoris Missio, 5).

– Chúa Giêsu Kitô không phải chỉ là sự sung mãn của Mạc Khải của Thiên Chúa, nhưng Ngài còn là sự sung mãn của mạc khải cho từng người một.

– Sự sung mãn của tính Đức Chúa Trời ngự trị một cách hạnh phúc trong Chúa Giêsu Kitô, như nhận xét của thánh Phaolô : ” Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời ” (Cl 1,19-20).

– Trong Chúa Giêsu Kitô, nhân loại đạt đến mức cao cả nhất của mình.

– Chúa Giêsu Kitô là sự định nghĩa mới mẻ, dứt khoát và hoàn hảo của từng người một, nghĩa là, Ngài cũng là sự mạc khải viên mản của con người, như Công Đồng Vatican II đã nhận xét rất đúng : ” Đó chính là phẩm chất và sự cao quý của mầu nhiệm của con người, mầu nhiệm mà Mạc Khải kitô-hữu làm sáng ngời lên trước mắt các tín hữu. Chính qua Đức Kitô và trong Đức Kitô, bí nhiệm của sự đau khổ và của sự chết được sáng ngời lên, bí nhiệm mà nếu không có Tin Mừng của ngài, sẽ đè bẹp chúng ta ” (Gaudium et Spes, 22).

– ĐGH Gioan-Phaolô II nhắc lại sự kiện là ý nghĩa tối hậu của con người được trở nên rõ ràng trong Chúa Giêsu Kitô qua sự chết và sự phục sinh của Ngài : ” Chúa Kitô Cứu Thế mạc khải con người cho chính con người một cách hoàn toàn…Con người muốn tự hiểu chính mình cho đến tận cùng thâm sâu…thì phải tiếp cận với Chúa Kitô…Sự cứu chuộc được thực hiện nhờ phương thế của Thập Giá đã dứt khoát mang lại cho con người sự phẩm giá của mình và ý nghĩa cuộc đời của họ trong trần gian ” (Redemptor hominis, 10).

– Chúa Giêsu Kitô là Con của Thiên Chúa Cha, đã được Ngài sai đến để đem sự sống và sự viên mãn đến cho nhân loại.

– Danh từ truyền thống của hành động nầy gọi là ” Sự Cứu Chuộc “.

– Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa ban cho loài người được rỗi, như lời tuyên xưng của thánh Phaolô : ” Trong khi người Do-Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đớng đinh, điều mà người Do-Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-Thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa ” (1 Cr 1, 22-24).

– Theo Mạc Khải kitô-hữu, Chúa Giêsu Kitô là Đàng, là Sự Thật và là Sự Sống.

– Nói cách khác, mọi sự cứu rỗi phải đến từ Chúa Giêsu Kitô, phải đi ngang qua Chúa Giêsu Kitô, phải ở trong Chúa Giêsu Kitô.

– Chỉ có Chúa Giêsu Kitô là Vị Trung-Gian.

– Nhưng điều nầy không gây trở ngại cho những hình thức khác của sự trung gian cứu rỗi : ” Sự trung gian độc nhất và phổ quát của Đức Kitô, không bao giờ là một chướng ngại trên con đường dẫn đưa đến Thiên Chúa, nhưng là con đường được chính Thiên Chúa vạch ra. “(Redemptor Missio, 5).

– Sự trung gian cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô không loại trừ những hình thức trung gian khác, vì thế, những hình thức trung gian nầy, tùy theo những mức độ và tùy theo những hình thức khác nhau, có thể thông phần vào Sự Trung Gian duy nhất và độc nhất của Chúa Giêsu Kitô.

– Hiểu được như vậy, những hình thức trung gian nầy mang một ý nghĩa mới và một giá trị mới.

– Nhưng phải công nhận rằng những hình thức trung gian nầy không có một giá trị song song hoặc một sự bổ túc cho Sự Trung Gian của Con Thiên Chúa .

– Hiện nay, có những môn Kitô-học khác nhau. Tuy những môn Kitô-học nầy có một giá trị tích cực, là giúp chúng ta ” đọc lại ” bốn sách Tin Mừng và những sách Tân-Ước, và giúp chúng ta áp dụng Lời Chúa vào hiện tại. Những môn Kitô-học nầy chú ý đến những gì mà Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô có liên quan quan đến vấn đề xã hội. Và sự ” đọc lại ” Tin Mừng là điều giúp chúng ta thoát khỏi cơn mê ngủ về mặt thiêng liêng và về mặt bác ái xã hội, hoặc làm cho chúng ta không tự mãn, không đắc chí trong việc trình bày con người của Đức Kitô ; nhưng ở đây, các môn Kitô-học nầy lại căn cứ trên một chương trình xã hội, chính trị và văn hóa để ” đọc lại ” Tin Mừng, và sự ” đọc lại ” nầy là một sự bất công đối với đức tin.

– Lịch sử dạy cho chúng ta bài học rằng những sự đọc Tin Mừng lại như thế sẽ chóng đi xa rời đức tin vì bị những ý thức hệ dẫn dắt.

– Các Sách Tin Mừng cần phải được đọc lại với các Thánh Tông Đồ, với Giáo Hội sơ khai, với Huấn Quyền của Giáo Hội, với các nền văn hóa và các dân tộc của lục địa Á Châu, nhưng không bao giờ được đọc theo một chiều, gọi là chiều ” hội nhập văn hóa” thụ động, giống như con sông nhỏ ” hội nhập ” vào con sông lớn, nhưng phải đọc theo chiều ” Tin Mừng thấm nhập vào văn hóa ” và rửa tội cho văn hóa.

– Một vấn đề như thế, hiện nay, đang có tại Á Châu, như Hội Đồng Giám Mục Á Châu ( FABC ) có công nhận trong các tài liệu của mình : ” Không phải là một bí mật gì về việc có những vấn nạn căn bản đã nồi lên về duy-nhất-tính của Đức Giêsu Kitô trong lịch sử cứu độ, và về cái gọi là “huyền thoại về duy-nhất-tính kitô-hữu ” (For All The Peoples of Asia, FABC, trg XXI). ” Những thần-học-gia nầy có thể là thiểu số, nhưng là một thiểu số rộn ràng. Nguồn hứng bên trong, đường chính yếu và động lực để thi hành sứ mệnh kitô-hữu – là những điều nối kết chặt chẽ với sự xác quyết về duy-nhât-itính và trung-tâm-tính của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ – phải được bảo toàn. ” (FABC Papers, số 59 ).

– Khi thích nghi đức tin kitô-hữu vào những nền văn hóa Á Châu, chúng ta không muốn đề cao một Đức Giêsu Kitô từng phần, hoặc một Đức Giêsu Kitô bị thu hẹp vào những kích thước nhân loại và văn hóa.

– Trong khi các khoa Kitô-học Á Châu phải diễn tả Đức Giêsu Kitô cho người Á Châu, và điều nầy đã được những người khác đã làm trong hai mươi thế kỷ hiện hữu của Giáo Hội, thì tất cả các khoa Kitô-học phải lượng giá theo đức tin của các Thánh Tông Đồ, theo Giáo Hội Tông Truyền và theo chứng từ của Tin Mừng.

– Không một Kitô-học nào có óc môn phái hoặc bị chia ra từng phần, có thể chống lại với Đức Giêsu Kitô thật sự của các Sách Tin Mừng.

– Đức Giêsu Kitô không chỉ được xem như một người cải tổ xã hội, một kẻ giải phóng chính trị, một tôn sư của một linh đạo nào đó, một vị anh hùng bênh vực quyền con người, hoặc một kẻ đem lại sự giải thoát cho những ai sống bên lề xã hội.

– Đức Giêsu Kitô hơn thế nhiều. Ngài là Con của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian, hôm qua, hôm nay và mãi mãi muôn đời.

 

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang


Đề tài 4 : Loan báo Tin Mừng tại Á Châu

 

1. Nguồn gốc Tông Đồ của Kitô-giáo tại Á Châu

– Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Galata : ” Nhưng khi thời gian đến hổi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Mình tới, sinh làm con một người đàn bà, , và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử ” (Gl 4,4-5).

– Chính tại Á Châu mà Chúa Giêsu Kitô đã sinh ra về phần xác thịt.

– Chính tại Á Châu mà Chúa Giêsu đã rao giảng Tin Mừng, mà Ngài đã đau khỗ, đã chết, đã sống lại, đã gởi Chúa Thánh Thần đến với các môn đệ của mình, đã sai các môn đệ của mình đi khắp tận cùng thế giới loan báo Tin Mừng và đã quy tụ những cộng đoàn tín hữu.

– Lịch sử truyền bá Phúc Âm bắt đầu từ Giêrusalem ngày lễ Hiện Xuống. Cộng đoàn kitô-hữu đầu tiên đã được thành lập lúc đó. Từ Giêrusalem, cộng đoàn đầu tiên nầy lan đến Antiôkia. Từ Antiôkia, đi về hướng đông và hướng tây.

– Một số Công Đổng đầu tiên nhóm họp tại Á Châu.

– Nhiều Thánh phụ là người Á Châu.

– Phần nhiều các truyền thống đầu tiên về phụng vụ, các tòa thượng phụ đều có nguồn gốc ở Á Châu.

– Chính tại Á Châu mà các thánh Tông đồ loan báo Tin Mừng và thành lập những Giáo Hội đầu tiên như các Giáo Hội Giêrusalem và Antiôkia.

– Theo truyền thống thì các nước Mêsôtamia và Babilônia ( Canđê ) được hai thánh tông đổ Battôlômêô và Tôma đến rao giảng Tin Mừng.

– Cũng theo truyền thống thì sau khi thành lập Giáo Hội Babilônia, thánh Batôlômêô đến miền Tây-nam Ấn-Độ bằng đường bộ và rao giảng Tin Mừng tại đây. Thánh Tôma thì đến miền Nam Ấn-Độ bằng đường thủy và thành lập Giáo Hội Malabar, vùng bờ biển, vào những năm 50 sau Chúa Giêsu Kitô.

– Truyền thống theo đó thánh tông đổ Tôma thành lập cộng đoàn kitô-hữu trên vùng bờ biển Malabar ở Nam Ấn-Độ thì chắc chắn hơn là truyền thống về thánh Batôlômêô.

– Dẫu không có chứng cứ lịch sử hoàn toàn hiển nhiên, sự hiện diện của một cộng đoàn kitô-hữu ở tại vùng biển Malabar vào cuối thế kỷ thứ nhất, chứng minh được viiẹc thánh Tôma đã đặt chân đến đây.

– Lại nữa, phụng vụ, ngôn ngữ phụng vụ, cách tỗ chức Giáo Hội, nền thần học và linh đạo tại Malabar bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Giáo Hội Á Châu Syri.

 

2. Bành trướng truyền giáo

– Cộng đoàn tín hữu Syri lúc bấy giờ hoạt động truyền giáo không những hướng về Nam Á Châu, mà còn đi vào tân Trung Á, cho đến Trung-Hoa.

– Giữa thế kỷ thứ tư và thứ bảy, lướt thắng nhiều trở ngại địa dư và chính trị, họ mang Tin Mừng đến miền đát rộng bao la của Turkistan, Mông-Cỗ và Trung-Hoa. Giáo Hội Syri nầy thật là một Giáo Hội đầy lửa, có lòng nhiệt thành truyền giáo hăng say.

– ” Tấm bia của Hsianfu ” được tìm thấy năm 1625 ở trên Bắc nước Trung-Hoa với những dòng chữ Trung-Hoa và Syri, cho thấy có dấu hiệu sự truyền bá Kitô-giáo tại Trung-Hoa bởi các nhà truyền giáo Syri ở Á Châu.

– Phần đông những nhà truyền giáo đầu tiên và các giám mục nầy là những tu sĩ; những nhà truyền giáo khác, là những nhà buôn và những kitô-hữu thường.

– Họ dùng Sách Thánh để dạy dân chúng. Họ dùng các dấu hiệu tượng trưng của Phật-giáo, Khổng-giáo, Lão-giáo để trình bày đức tin kitô-hữu, và như vậy, họ làm cho người ta hiểu được sứ điệp kitô-hữu trong chính văn hóa của mình.

– Đến thế kỷ thứ mười ba, các tu sĩ Phanxicô thử nghiệm truyền giáo tại Á Châu. Vị truyền giáo danh tiếng nhất lúc bấy giờ là là Gioan Môntêcôvinô tai Trung-Hoa.

– Người kế vị Gioan Môntêcôvinô là Gioan Marignoli. Vị nầy đi qua Ấn-Độ và thiết lập tại đây vài cộng đoàn kitô-hữu.

– Tuy những cuộc bắt đạo đã tiêu diệt những cộng đoàn kitô-hữu do các tu sĩ Phanxicô lập nên, nhưnng gương anh dũng của các nhà truyền giáo nầy và tình yêu của họ đối với Chúa Giêsu Kitô và dân ngoại, đáng được ca tụng và gây hứng cho những người đi sau.

– Dù các cộng đoàn kitô-hữu do các thừa sai Phanxicô thành lập, đã bị tiêu diệt vì những cuộc bắt bớ, nhưng sự anh hùng của những nhà truyền giáo nầy, cũng như tình yêu của họ đối với Chúa Giêsu Kitô, đáng được chúng ta khen ngợi và bắt chước.

 

3. Những chứng từ truyền giáo nổi bật tại Á Châu

– Trong thế kỷ XIII, những nhà hàng hải, những nhà thám hiểm, những quân lính đánh thuê, những doanh thương, những công ty thương mại mang trong mình tinh thần thám hiểm, sở thích phiêu lưu và sự ham muốn lợi lộc.

– Trước hết là Marco Polo và Vasco de Gama ( 1498 ).

– Họ đi thám hiểm tìm thuộc cho những triều đình của các nước Bổ-Đaổ-Nha, Tây-Ban-Nha, Hòa-lan, Pháp và Anh.

– Họ đã đi đến được hầu hết tất cả các nước ở Á-Đông.

– Giai đoạn lúc nầy cũng là giai đoạn lớn lao về truyền giáo.

– Với sự bành trướng thuộc địa và với sự thành lập các trung tâm thương mãi tại Á Châu, các vị truyền giáo bắt đầu đặt chân đến nhiều nơi tại Á Châu. Các dòng Phan xicô, Dòng Tên, Dòng Đa-minh, Dòng Âucutinô, Dòng Kín, Dòng Thêatinoô thành lập các tu viện tai Á Châu giữa những măm 1510 và 1640.

– Thánh Phanxicô Xavie là vị truyền giáo lớn nhất hiện đại. Trong vòng 10 năm, ngài đã thành lập những Giáo Hội dọc theo bờ biển của Tây-Ấn, từ Goa đến Mũi Comorien, tai Sri Lanka, tại quần đảo Mã-Lai, và cuối cùng tại Nhật-Bản. Tại đây, ngài áp dụng những phương pháp khác với những phương pháp mà ngài đã dùng để dạy những ngư phủ ở miền Nam-Ấn. Sự thánh thiện trong suốt của ngài, những hoạt động không biết mệt của ngài, đời sống cầu nguyện sự không bao giừo ngừng dạy giáo lý của ngài, đó là những lý do đem lại sự thành công cho ngài trên con đường truyền giáo.

– Con đường truyền giáo do thánh Phanxicô Xavie vạch ra, cũng được những nhà truyền giáo sáng chói, thông minh và thánh thiện theo đuổi tại Á Châu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII.

– Chúng ta thấy các nhà truyền giáo Alexandre Valignano, Matteo Ricci, Ferdinand Verbiest, Adam Schall, Bento de Gomes và Vincent Lebbe, tại Trung Hoa cũng như tại Nhật Bản, đã tìm cách đối thoại với các nền văn hóa và các tôn giáo của các nước nầy, và làm sao cho Phúc Âm, phụng vụ và ngôn ngữ thần học được các dân tộc bản quốc hiểu thấu.

– Những cố gắng như vậy cũng đã được thực hiện tại Ấn Độ do những vị truyền giáo quan trọng không kém, như Robert de Nobili, Constant Beschi và Jean de Britto. Những vị truyền giáo nầy tìm cách áp dụng Kitô-giáo vào hệ thống các giai cấp tại Ấn Độ.

– Tương tự như thế, nhà truuyền giáo Alexandre de Rhodes cũng đã thực hiện tại Việt Nam.

– Những cố gắng quan trọng để loan báo Tin Mững cũng đã được thực hiện bởi nhà truyền giáo Rodolphe Aquaviva và các bạn của mình tại triều đình Mông Cỗ Akbar. Mặc dầu những cố gắng nầy đã thất bại, nhưng tầm quan trọng của chúng cho tương lai là điều không thể chối cải được.

– Những công cuộc của nhà truyền giáo Joseph Vaz, một linh mục Ấn Độ dòng Oratoire, được xem như là vị tông đổ của Sri Lanka, đã làm nhiều chuyện để đem đức tin công giáo vào quốc gia nầy, mặc dầu bị thực dân Hòa Lan bắt bớ.

-Tin Mừng được đưa vào Đại Hàn do một giáo dân tên là Phêrô Ly, và các bạn giáo dân của ông ta. Bởi thế, nét đặc biệt của Đạo Kitô tại Đại Hàn là do những giáo dân thành lập.

 

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang