
“Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.”
(Mt 10, 1)
Bài Ðọc I (Năm I): St 41, 55-57; 42, 5-7a. 17-24a
“Chúng ta phải chịu thế này thật xứng đang, vì chúng ta đã phạm đến em chúng ta”.
Trích sách Sáng Thế.
Trong những ngày ấy, cả nước Ai-cập gặp nạn đói kém, dân chúng kêu vua Pharaon, xin cho họ của ăn. Vua trả lời họ rằng: “Các ngươi hãy đến cùng Giuse và ông bảo thế nào, các ngươi hãy làm như vậy”. Cơn đói kém ngày càng gia tăng khắp mặt đất. Bấy giờ ông Giuse mở các kho lúa, bán cho người Ai-cập, vì họ cũng đói kém khổ sở. Khắp mọi nước, người ta tuôn đến Ai-cập để mua lương thực ăn cho đỡ đói.
Các con ông Giacóp cũng đi chung với những người khác đến Ai-cập để mua lúa, vì nạn đói cũng hoành hành trong đất Canaan. Giuse có quyền trên toàn lãnh thổ Ai-cập, nên ông bán lúa thóc cho hết mọi người. Khi các anh của Giuse sấp mình lạy ông, ông nhận ra các anh, nên ông nói giọng cứng cỏi như nói với khách lạ. Ông hỏi họ: “Các ngươi ở đâu đến?” Họ đáp: “Chúng tôi từ đất Canaan đến mua thực phẩm”.
Giuse đã truyền giam họ trong ba ngày; đến ngày thứ ba, ông cho dẫn họ ra khỏi tù và bảo rằng: “Các ngươi hãy làm điều ta dạy bảo, thì sẽ được sống: vì ta kính sợ Thiên Chúa. Nếu các ngươi là người lương thiện thì một người trong các ngươi sẽ ở lại trong tù, còn những người khác hãy đem lúa về nhà. Rồi các ngươi hãy dẫn đứa em út các ngươi tới đây cho ta, để ta có thể tin lời các ngươi, và các ngươi sẽ khỏi chết. Họ đã làm như Giuse dạy bảo.
Bấy giờ họ mới nói với nhau rằng: “Chúng ta phải chịu thế này thật xứng đáng, vì chúng ta đã phạm đến em chúng ta. Chúng ta đã thấy tâm hồn em chúng ta khổ sở, khi nó năn nỉ chúng ta tha cho nó, nhưng chúng ta không chịu nghe. Vì thế nên chúng ta phải chịu nỗi khốn khổ này”. Bấy giờ, một người trong anh em là Ruben nói rằng: “Chớ thì tôi đã chẳng bảo anh em đừng có phạm đến đứa trẻ sao”. Nhưng không ngờ rằng Giuse hiểu tiếng họ, vì ông dùng thông ngôn mà nói với họ. Ông Giuse lánh mặt đi một chút mà khóc.
Ðáp Ca: Tv 32, 2-3. 10-11. 18-19
Ðáp: Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài.
Xướng:Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm; với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. Hãy ca mừng Người bài ca mới, hát mừng Người với tiếng râm ran.
Xướng: Chúa phá tan ý định của các nước, làm cho vô hiệu tư tưởng của chư dân. Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Ngài còn mãi đời nọ sang đời kia.
Xướng: Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
Bài Ðọc I (Năm II): Hs 10, 1-3. 7-8. 12
“Ðây là lúc phải tìm kiếm Chúa”.
Trích sách Tiên tri Hôsê.
Israel là cây nho xanh tốt, hoa trái xứng hợp với nó. Ðất càng màu mỡ, thì càng thêm các tượng thần. Lòng dạ chúng phân đôi, giờ đây chúng sẽ đền tội. Chúa sẽ đánh vỡ các tượng thần và phá tan các bàn thờ của chúng. Bấy giờ chúng sẽ nói: “Chúng ta không có vua, vì chúng ta không kính sợ Chúa: và nhà vua sẽ làm gì cho chúng ta?”
Samaria đã làm cho vua mình qua đi như bọt nước. Những nơi cao dựng tượng thần sẽ bị phá huỷ: Ðó là tội lỗi của Israel! Cây ké và gai góc sẽ mọc trên bàn thờ chúng. Chúng sẽ nói với núi non rằng: Hãy che lấp chúng ta đi. Chúng sẽ nói với đồi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta cho rồi! Các ngươi hãy gieo rắc sự công chính và sẽ gặt mùa nhân từ. Các ngươi hãy khai khẩn những khu đất mới: Ðây là lúc phải tìm kiếm Chúa, khi Người đến, Người sẽ dạy dỗ sự công chính cho các ngươi.
Ðáp Ca: Tv 104, 2-3. 4-5. 6-7
Ðáp: Hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn (c. 4b).
Xướng: Hãy xướng ca, đàn hát mừng Người, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa. Hãy tự hào vì danh thánh của Người; tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui.
Xướng: Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa; hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. Hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm, những phép lạ, và những điều miệng Ngài phán quyết.
Xướng: Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Người; hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Người kén chọn. Chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Người bao trùm khắp cả địa cầu.
Alleluia: Ga 14, 5
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. – Alleluia.
(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Chúa nói: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. -Alleluia.)
Tin Mừng: Mt 10, 1-7
“Các con hãy đến cùng chiên lạc nhà Israel”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ Người lại, và ban cho các ông quyền hành trên các thần ô uế để các ông xua đuổi chúng và chữa lành mọi bệnh hoạn, tật nguyền.
Ðây là tên của mười hai Tông đồ: Trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em của ông, Giacôbê con ông Giêbêđê và Gioan em của ông, Philipphê và Bartôlômêô, Tôma và Matthêu người thu thế, Giacôbê con ông Alphê và Tađêô, Simon nhiệt tâm và Giuđa Iscariô là kẻ nộp Người.
Chúa Giêsu đã sai mười hai vị này đi và truyền rằng: “Các con đừng đi về phía các dân ngoại và đừng vào thành của người Samaria. Tốt hơn, các con hãy đến cùng các chiên lạc nhà Israel. Các con hãy đi rao giảng rằng: ‘Nước Trời đã gần đến’”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
TẤT CẢ ĐỂ LOAN BÁO TIN MỪNG
“Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần.” (Mt 10,7)
Suy niệm: Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di một hôm gọi một thầy cùng với mình đi giảng đạo. Hai người rảo qua các đường phố rồi trở về nhà. Thầy đó hỏi thánh nhân vì sao ngài nói đi giảng đạo mà không giảng dạy gì. Thánh Phan-xi-cô trả lời: ngay trong lúc đi đường ngài đã giảng đạo rồi. Chúa Giê-su dạy các môn đệ đến với “các chiên lạc nhà Ít-ra-en” thế mà chưa đến “nhiệm sở,” các ông đã phải rao giảng ngay khi đi dọc đường. Và Chúa còn truyền lệnh cho dù người nghe có đón nhận Lời hay không thì cũng phải nói với họ: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10,11). Các ông phải sẵn sàng bỏ lại mọi thứ hành trang cồng kềnh, giã từ những mối quan hệ vô bổ để có thể tập trung tất cả cho việc loan báo Tin Mừng.
Mời Bạn: Tất cả cho việc loan báo Tin Mừng nghĩa là từ việc bạn mua sắm, ăn mặc, hay làm công việc nghiệp vụ chuyên môn của bạn cho đến việc bắt tay chào hỏi một người quen, thậm chí việc bạn nhai một miếng cơm, uống một ngụm nước, v.v… tất cả đều có thể biến thành một hành động loan báo Tin Mừng nếu như những việc đó chuyển tải sứ điệp “Nước Thiên Chúa đã đến gần.” Nếu chỉ khi nào bạn lên tiếng rao giảng mới là loan báo Tin Mừng thì cả đời bạn, bạn có loan báo được bao nhiêu?
Chia sẻ: Kiểm điểm xem những sinh hoạt trong nhóm của bạn đã nói lên được sứ điệp nào của Tin Mừng chưa.
Sống Lời Chúa: Chú ý làm tốt một công việc thường ngày với ý chỉ cầu nguyện cho việc loan báo Tin Mừng.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con biết thao thức trước cảnh “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít,” xin hãy sai con đi làm thợ gặt trong cánh đồng của Chúa.
B/ Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng
“Rồi Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế …”
Chúa Giêsu đã chọn 12 Tông Đồ và đã sai họ đi. 12 người này quả thực là những con người đã làm thay đổi thế giới. Họ để lại một thế giới khác hẳn với thế giới trước khi họ đến. 12 người này, mặc dù họ cũng chỉ là những con người tầm thường, kém cỏi, đôi khi bộc lộ nhiều tính xấu nữa. Và nếu nhìn kỹ vào khuôn mặt từng người một, thì thấy không thiếu những đam mê tật xấu: Nóng nảy, ích kỷ, tham lam, cuồng bạo. Chắc chắn Chúa Giêsu đã thấy rõ điều này, nhưng Ngài vẫn chọn các ông, vì đường lối Thiên Chúa khác với đường lối con người. Điều Ngài cần ở họ không phải là cái họ đang là, nhưng là cái họ sẽ là. Ngài muốn ở họ không phải là cái họ đang có, mà là những gì sẽ có. Nhưng điều đáng nói là Đức Giêsu đã chọn những con người đó. Người đã hoán cải họ, hướng dẫn họ, trao Thần Khí của Người cho họ và dùng họ để tiếp tục sứ mạng của Người.
Những ‘con người thay đổi thế giới’ này vốn cũng là những người như chúng ta. Và cũng như họ, chúng ta hôm nay cũng được Đức Giêsu mời gọi tham gia vào một công cuộc duy nhất: đó là công cuộc thay đổi thế giới bằng cách làm cho thế giới dậy men Tin Mừng. Như một cuộc chạy tiếp sức, ngọn đuốc từ tay Đức Giêsu chuyển qua các Tông Đồ, các Tông Đồ trao lại cho những người kế tiếp, và ngày nay được trao vào tay chúng ta. Chúng ta sẽ làm gì đây trước một thế giới vẫn cần được thay đổi?
Thay đổi thế giới không phải chỉ hệ tại ở những việc to lớn, nếu vậy thì chúng ta không làm được. Nhưng mỗi ngày chúng ta có thể làm những công việc bổn phận bình thường dưới ánh sáng của Tin Mừng thì cũng đủ để góp phần làm thay đổi thế giới này.
Mỗi sáng thức dậy, hãy nhớ rằng mình là một nhà thừa sai được chính Chúa Giêsu sai đi, không phải sai vào những nơi xa lạ, mà sai vào chính gia đình của mình, vào sở làm của mình, vào khu xóm, vào giáo xứ… để chúng ta cũng là một tông đồ được Chúa chọn và sai đi để làm thay đổi môi trường chúng ta đang sống.
C/ Lm. Phaolô Phạm Công Phương
Trong sứ điệp truyền giáo năm 2019, ĐGH Phanxicô nhắn nhủ mỗi người chúng ta rằng: Sự sống thần linh mà chúng ta lãnh nhận qua phép Rửa không phải là sản phẩm để bán – chúng ta không làm chuyện chiêu dụ người ta vào đạo – nhưng là một kho báu để trao tặng, truyền đạt và công bố; đó là ý nghĩa của truyền giáo. Chúng ta đã được tặng không món quà này và chúng ta cũng đem tặng không cho người khác, không loại trừ một ai. Đó là ý nghĩa của việc Chúa sai 12 tông đồ đi rao giảng TM, và cũng là mời gọi mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay.
Sứ mệnh truyền giáo phát xuất từ Chúa Kitô:
Hôm nay, Đức Giêsu mời gọi các môn đệ chung chia sứ mạng mà Ngài đã lãnh nhận từ Chúa Cha. “Đức Giêsu sai mười hai ông ấy đi”. Con số 12 là đại diện của cả Giáo Hội. Chúa Giêsu mời gọi toàn thể Giáo Hội lên đường, tất cả các tín hữu không chừa một ai đều được sai đi, đều cùng nhận lãnh một sứ vụ. Dù có là kẻ sẽ chối Chúa, dù có là kẻ sẽ nộp Chúa thì ngay lúc này cũng được Người tín nhiệm trao cho sứ vụ rao giảng: Nước Trời đã đến gần”. Vì thế sứ mạng truyền giáo là sứ vụ của toàn thể các Kitô hữu, như lời ĐGH Gioan Phaolô II: “Giáo Hội vẫn sẽ tiếp tục là một Giáo Hội truyền giáo trong tương lai, bởi vì đặc tính truyền giáo thuộc về bản chất của Giáo Hội”. Bởi vì Giáo Hội coi: “Truyền giáo là một ân sủng, ơn gọi xứng hợp, và là căn tính sâu xa nhất của Giáo Hội”.
Truyền giáo trước tiên là ra khỏi chính mình:
Khi nói đến truyền giáo người ta thường nghĩ phải đi đến nơi này nơi kia, đến tận cùng trái đất để rao giảng Tin Mừng như các tông đồ ngày xưa, như các thánh Phanxicô Xaviê, hay như các giáo sĩ tây phương đến rao giảng ở nước chúng ta cách đây hơn 400 năm. Nhưng truyền giáo, trước tiên LÀ“RA ĐI” KHỎI CHÍNH CON NGƯỜI CỦA MÌNH, là thoát ra khỏi vỏ bọc ích kỷ để hòa đồng với anh chị em mình, tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận những hy sinh vì ích chung.
Hôm nay khi Chúa sai các Tông đồ đi truyền giáo, Chúa cho các ông một chỉ thị rất rõ ràng: “Tốt hơn là anh em hãy đến với các con chiên lạc nhà Itraen”. Vậy là có những người mà các tông đồ phải ưu tiên đến với họ. Họ không phải là dân ngoại, cũng không phải là những người xa xăm chưa biết Chúa. Những người đầu tiên mà các môn đệ phải đi tới, đó là những đồng bào của các ông đang sống bất trung và tội lỗi. Các ông phải ra đi tiếp xúc gặp gỡ để loan báo cho họ biết rằng Nước Trời đã đến gần.
Chỉ thị trên đây của Chúa, ta hãy đem ra áp dụng đúng vào hoàn cảnh hôm nay của ta. Những người mà ta phải nói cho họ biết về Chúa, lại đang ở rất gần ta. Họ là những người đồng hương với ta. Họ là những người bà con lối xóm của ta. Họ là những người cùng nghề cùng sở làm với ta. Nhưng ta phải đến với họ nhân danh Chúa Giêsu, có nghĩa là vì hạnh phúc đời đời của họ mà ta phải đi bước trước để giới thiệu cho họ biết có một đấng luôn yêu thương họ, và quan tâm đến vận mệnh đời đời của họ.
Vì thế, loan báo Tin Mừng vẫn mãi là lẽ sống cấp thiết của Hội Thánh và cũng là của từng Kitô hữu chúng ta trong thế giới hôm nay. Đối với tình yêu của Thiên Chúa, không ai là vô dụng hay vô nghĩa. Mỗi người chúng ta là một sứ mạng cho thế giới, vì mỗi chúng ta là kết quả tình yêu của Thiên Chúa.
D/ Phó tế Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist
LOAN BÁO TIN MỪNG
Trang Tin mừng thuật lại việc Chúa Giêsu sai mười hai vị Tông đồ đi loan báo Tin Mừng. Thánh Matthêu đã lần lượt nêu đích danh mười hai vị Tông đồ. Ngài kể rất chi tiết, không chút dấu diếm về biệt danh của một số vị, mà ngôn ngữ ngày nay người ta gọi là có nickname đáng gờm, chẳng hạn:
– Matthêu người thu thuế. Người thu thuế thường nâng cao mức thuế để kiếm lợi.
– Simon thuộc nhóm Quá Khích. Đặc điểm của nhóm này là dắt dao bên hông, sẵn sàng đâm những ai không giữ Luật Môsê.
– Giuđa Iscariốt chính là kẻ nộp Người.
Chúng ta tự hỏi. Thánh Matthêu có ngụ ý gì khi kể ra những điểm không hay nơi bản thân mình và của các vị tông đồ?
Như chúng ta biết, thánh Mathêu viết đoạn Tin mừng này trong chương 10, tức là khi các ngài vừa mới được Chúa Giêsu kêu gọi và sai đi loan báo Tin Mừng. Nghĩa là còn cả một hành trình dài nữa mới đến cuộc Thương khó và Phục sinh của Chúa Giêsu. Vậy, làm sao mà thánh Matthêu biết được Giuđa chính là kẻ phản bội?
Đa số các học giả cho rằng: thánh Matthêu viết Tin mừng sau khi Chúa Giêsu hoàn tất công trình cứu độ nhânloại; vào khoảng năm 80-90, tại Syria Palettin. Dẫu vậy, thánh nhân đã nhìn với nhãn quan của Chúa Giêsu khi Ngài kêu gọi và sai các ông đi loan báo Tin Mừng.
Vấn đề khó hiểu ở đây là: tại sao Chúa Giêsu biết trước Giuđa sẽ phản bội mà Ngài vẫn chọn ông làm Tông đồ. Nếu xét theo cái nhìn của con người, chúng ta không thể hiểu được hành động của Chúa Giêsu. Giả sử ai đó tính chuyện lập gia đình mà lại biết rằng người vợ/ người chồng tương lai của mình sẽ phản bội thì chắc chắn sẽ chẳng bao giờ chọn người đó. Cũng vậy, các Dòng tu hay Chủng viện sẽ không tuyển chọn những ứng sinh không có ý hướng ngay lành, lấp lửng chân trong chân ngoài. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã không hành động theo lẽ thường tình của con người. Bởi lẽ, bản tính của Ngài là “yêu”. Cho nên, bất kể Giuđa có phản bội hay không thì Chúa Giêsu vẫn yêu thương “đến cùng” và tuyển chọn ông làm Tông đồ. Mặt khác, để đánh giá công tâm, vẫn phải công nhận rằng: lúc ban đầu khi được Chúa kêu gọi ông Giuđa đã rất hăng hái nhiệt thành bỏ mọi sự để bước theo Đức Giêsu với tất cả lòng chân thành, tín thác, không tính toán thiệt hơn. Có lẽ vì thế mà Chúa Giêsu rất tín nhiệm trao cho ông trách nhiệm quản lý tài chính – giữ túi tiền. Có chăng mãi về sau này, vì một lý do “khó nói” ông mới trở thành kẻ phản bội mà thôi.
Thực ra, tìm hiểu hành trình ơn gọi của các Tông đồ giúp chúng ta nhìn lại hành trình ơn gọi của chính mình. Chúng ta là những Kitô hữu nghĩa là những người thuộc về Chúa Kitô, có Chúa Kitô, được Chúa Kitô tuyển chọn và sai đi Loan Báo Tin Mừng cứu độ của Ngài khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy. Mặc dù, Chúa vẫn biết chúng ta là người bất xứng, luôn mang trong mình tiềm năng phản bội. Nhưng Chúa vẫn đón nhận chúng ta làm con cái, hơn nữa còn chọn gọi chúng ta làm linh mục, là tu sĩ, làm đan sĩ…. Bởi, không khi nào Chúa ngừng yêu thương săn sóc chúng ta. Đứng trước tình yêu vô cùng của Chúa, chúng ta chợt nhận ra:
Có lúc chúng ta giống như Matthêu; lạm quyền, tham lam, bóc lột, đối xử bất công với anh chị em mình.
Có khi chúng ta giống như Simon quá khích bắt người khác tuân giữ từng câu chữ của luật mà quên luật tối thượng là yêu người như Chúa yêu.
Thậm chí nhiều lần chúng ta như Giuđa, phản bội Chúa qua cuộc sống bê tha, tội lỗi của mình.
Vậy, suy niệm Tin mừng Chúa sai các Tông đồ đi loan báo Tin Mừng là cơ hội tốt để mỗi người nhớ lại hồng ân được Chúa chọn gọi. Dù chúng ta có như thế nào Chúa vẫn yêu thương tuyển chọn và sai đi loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa giữa thế giới hôm nay.
Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra ân huệ cao quý này để luôn sống tâm tình cảm tạ. Đồng thời, biết nhận ra thân phận yếu đuối dễ sa ngã, của mình để luôn cậy trông ơn Chúa trợ giúp, hầu có thể chu toàn sứ mệnh cao quý loan báo Tin Mừng khắp cùng thế giới, qua đời sống âm thầm cầu nguyện và hoan hỷ hy sinh mỗi ngày.
E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
CHÚA SAI 12 TÔNG ĐỒ ĐI RAO GIẢNG
Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Mátthêu ghi lại việc Chúa Giêsu tuyển chọn 12 Tông đồ và sai các ông đi loan báo Nước trời đã gần đến. Sứ mệnh này không phải chỉ dành riêng cho các Tông đồ hoặc những người có trách nhiệm mà cả chúng ta nữa, những người Kitô hữu, mỗi người một cách, phải loan báo về Chúa Giêsu và kêu mời mọi người vào trong Giáo hội, vào trong tình yêu của Chúa.
Theo truyền thống, bất cứ một bậc thầy nào cũng cần có các môn sinh, môn đệ để tiếp tục lý tưởng và sự nghiệp của mình. Các bậc hiền nhân trong lịch sử và các tiên tri trong Cựu ước có các môn đệ, thánh Gioan Tiền hô cũng có nhiều môn đệ. Chúa Giêsu cũng vậy, trong ba năm giảng dạy, Chúa đã kêu gọi nhiều môn đệ, trong số đó Chúa chọn 12 người làm Tông đồ, để tiếp tục sự nghiệp cứu rỗi nhân loại mà Ngài đã khởi đầu.
Chúa gọi và chọn chứ họ không tự mình được chọn hoặc tự ứng cử, nghĩa là Chúa ở một vị trí cao hơn, Chúa là trung tâm chứ không phải họ được quyền lấy mình làm chuẩn; như thế, điều kiện đầu tiên để trở thành Tông đồ là được Chúa chọn. Các môn đệ ở lại với Người, nghĩa là họ phải được tách ra khỏi đám đông và đến; như thế, điều kiện thứ hai là khi được gọi họ phải được tách riêng ra, nghĩa là phải có sự thay đổi đời sống nên tốt hơn.
Có lẽ chẳng ai trong chúng ta xa lạ với xuất xứ của các Tông đồ: đa số họ là những ngư phủ nghèo nàn, thất học. Họ được chọn từ đám đông giai cấp lao động, trong số họ cũng có hai khuôn mặt tiêu biểu cho sự tranh chấp của xã hội Do thái lúc đó: Mátthêu người thu thuế và Simon nhiệt thành. Nhóm Nhiệt thành cương quyết chống ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ lề luật, còn đám thu thuế thì lại chạy theo ngoại bang, hợp tác với những kẻ đang thống trị xứ sở để trục lợi.
Có thể nói, những người mà Chúa Giêsu chọn lựa tiêu biểu cho sự thấp kém trong xã hội Do thái. Chúa Giêsu biết rõ điều đó, nhưng Ngài vẫn tuyển chọn, vì đường lối Thiên Chúa khác với đường lối con người. Điều Ngài cần nơi họ không phải là cái đang là, mà là cái sẽ là. Họ tầm thường khiếm khuyết, nhưng với ơn Chúa, họ sẽ làm nên được những việc phi thường (Mỗi ngày một tin vui).
Chúng ta thấy: mười hai Tông đồ yếu kém về mọi mặt, thế mà đã thay đổi được cả một đế quốc Rôma và cả thế giới sau này nữa. Quả thật, khi Chúa còn sống bên cạnh, các ông còn quê mùa, hay sợ sệt, tham vọng tầm thường, và khi Chúa chết, các ông bỏ trốn vì sợ liên luỵ. Thế mà sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các ông can đảm, khôn ngoan, đấu lý với hết mọi bậc người, ra tù vào khám vì danh Chúa, và các ông đã xây dựng nước Chúa ngay tại nơi đế quốc đã từng tiêu diệt Thầy mình và cả các ông nữa.
Tại sao họ yếu kém như thế mà dám đương đầu với những thế lực kình địch và biến đổi được cả thế giới như vậy? Thưa, họ đã trở thành những dụng cụ hữu hiệu trong bàn tay Thiên Chúa toàn năng, Ngài làm được mọi sự Ngài muốn. Còn các Tông đồ thì có một đức tin vững mạnh, nếu các ông không tin vào quyền năng Thiên Chúa đã lựa chọn các ông, ở với các ông, hỗ trợ các ông, chắc chắn các ông không bao giờ dám nhận một công việc to lớn và nặng nề như thế.
Chúa cũng sai chúng ta đi vào đời đem Tin mừng của Chúa đến cho mọi người như Chúa đã sai các Tông đồ ngày xưa, đấy là vinh dự và bổn phận của các Kitô hữu.
Nếu công đồng Vatican II khẳng định: “Bản chất của Hội thánh là truyền giáo” thì mọi Kitô hữu cũng chính là những sứ giả Tin mừng, cũng có trách nhiệm như Hội thánh. Những lời Chúa Giêsu nói với các Tông đồ ngày xưa vẫn còn vang vọng nơi chúng ta, vẫn còn có tính cách thời sự của nó. Chúa muốn chúng ta đi vào cánh đồng truyền giáo rộng rãi bao la bát ngát để đem nhiều người về với Chúa. Cảm xúc của Chúa Giêsu đứng trước cánh đồng lúa chín vàng ối “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít” cũng phải là cảm xúc của chúng ta đứng trước tình hình thế giới hiện nay: chúng ta hãy xin Chúa sai nhiều sứ giả Tin mừng đến cánh đồng truyền giáo, đồng thời chúng ta cũng có thể góp phần vào công việc loan báo Tin mừng bằng chính “cuộc sống chứng tá” của chúng ta.
Truyện: Chúa chọn họ làm Tông đồ
Có một tác giả đã tưởng tượng ra việc Chúa chọn các Tông đồ như sau: Sau những đêm dài cầu nguyện, Ngài rảo bước khắp nơi nhưng không chọn được người nào. Ngài đành đăng quảng cáo, nhưng trong số những người đến trình diện, Ngài không chọn được một ai.
Ngài đành tổ chức thế vận hội. Môn đầu tiên là cầu nguyện: Nhiều người biểu diễn cầu nguyện rất hay nhưng Chúa không chọn được ai cả. Môn thứ hai là thờ phượng, cũng thế. Môn thứ ba là giảng thuyết, cũng thế.
Chán nản vì mất thời gian vô ích, Chúa Giêsu rời vận động trường để ra bờ biển hóng gió và ở đây Ngài thấy đám dân chài. Ngài đứng quan sát và nhận ra có một số người để hết tâm hết lực vào công việc họ đang làm. Ngài nghĩ thầm trong lòng, họ là những người có quả tim. Và thế là Ngài chọn họ làm Tông đồ của Ngài (Chờ đợi Chúa).
