Ý NGHĨA VÀ GIÁO HUẤN QUA CÁC BÀI ĐỌC CỰU ƯỚC TRONG ĐÊM CANH THỨC VƯỢT QUA

Phêrô Phm Duy Khánh

Dn nhp

Đêm sáng hơn chính ng;

Đêm, ban ngày kém thua;

Đêm trng hơn tuyết;

Đêm hơn đuc soi;

Đêm thiên đàng thua thit;

Đêm mit th bóng đen;

Đêm cơn mê dng chân chua chát;

Đêm bát ngát bên các thiên thn;

Đêm khiếp nhược bao thn vương qu lc;

Đêm trân quý ngóng đi sut muôn niên;

Đêm ngn đuc Tân Lang soi khp cõi;

Đêm nim tin tân tòng được p ôm;

Đêm kh tr muôn ti lu;

Đêm Trưởng T gom quyn tha kế;

Vào gia sn không bao gi mai mt.[1]

Việc tưởng niệm Chúa Kitô chịu chết và sống lại đạt tới điểm cao nhất trong Đêm Vượt Qua, là đêm thánh của người Kitô hữu. Lịch sử ghi nhận trong những thế kỷ đầu, các tín hữu đã cử hành đại lễ quan trọng nhất trong năm phụng vụ bằng những lễ nghi đặc biệt. Và như lời Thánh Âu-tinh nói, cuộc họp của đêm nay là “m ca hết mi bui canh thc phng v”[2]. Chúa Kitô đã dạy các môn đệ phải canh thức để đợi chờ Tân Lang đến, vì thế người Kitô hữu có dành một phần ban đêm để cầu nguyện thì cũng là chuyện chính đáng. Nhưng không có đêm nào thích hợp cho một cuộc họp mừng phụng vụ bằng Đêm Vượt Qua. Khi cử hành cái chết và cuộc phục sinh của Đức Kitô, Hội Thánh không chỉ nhắc nhớ một biến cố lịch sử đã diễn ra trong quá khứ. Hội Thánh cử hành “theo cách bí bích” mầu nhiệm cứu độ[3] và, khi gợi lại cái chết và cuộc phục sinh của Đức Kitô, Hội Thánh hiện tại hoá hiệu năng mầu nhiệm của cái chết và cuộc phục sinh ấy[4]. Đêm nay là đêm cực thánh: đây là đêm dân Israel ăn thịt chiên và được cứu thoát, là đêm họ đi bộ qua Biển Đỏ; đây là đêm Chúa Kitô đạp tan xiềng xích tử thần và từ âm phủ khải hoàn đi lên; đây còn là đêm Hội Thánh, ngay từ buổi đầu vẫn chờ mong Chúa trở lại. Trong đêm nay Giáo hội cử hành biến cố Chúa sống lại, đồng thời cũng nhắc nhớ mọi tín hữu rằng họ đã được sống lại với Chúa Kitô qua bí tích thanh tẩy.

Phụng vụ Đêm Canh Thức Vượt Qua gồm 4 phần:

Phn I: Cử hành mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô, bao gồm:

– Làm phép lửa

– Thắp nến Phục Sinh

– Rước nến Phục Sinh

– Công bố Tin Mừng Phục Sinh

Phn II: Phụng vụ Lời Chúa

Phn III: Phụng vụ Thánh Tẩy

Phn IV: Phụng vụ Thánh Thể

1. Khái quát v Phng v Li Chúa trong Đêm Vng Phc sinh

Phần Phụng vụ Lời Chúa được cử hành trong Đêm Canh Thức bao gồm nhiều bản văn. Điều đó cũng là hữu lý, vì đêm nay, người tín hữu dành nhiều thời gian để lắng nghe những lời Sách Thánh, đặc biệt là các sách Cựu Ước.[5] Qua những trình thuật này, người tín hữu được mời gọi nhìn lại hành trình lịch sử cứu độ, lịch sử của niềm tin. Đó là điều “Thiên Chúa mun qui t chúng ta đ mng mu nhim Vượt Qua bng cách cho chúng ta lng nghe Kinh Thánh”[6]. Để được như thế, phần Phụng vụ Lời sẽ chiếm nhiều thời gian. Đây chính là khoảnh khắc tuyệt hảo trong đó dân được qui tụ canh thức và cầu nguyện chung trong tâm tình đợi chờ Chúa của mình.

Việc chọn các bài đọc Sách Thánh dành cho Đêm Canh Thức cũng trải qua lịch sử lâu dài. Thoạt đầu, những tài liệu xưa ghi lại rằng người ta đọc 12 trích đoạn Cựu Ước cùng với những bài Thánh vịnh và các lời nguyện.[7] Sách Lễ Rôma (1570) vẫn còn dấu vết xưa với thứ tự 12 bài đọc Cựu Ước (St 1,1 – 2,2 ;  St 5,31 ;6,1-7.13-22; 7,6.11-14.18-24; 8,1-3.6-12.15-21 ; St 22,1-19 ; Xh 14,24 – 15,1 ; Is 54,17 – 55,11 ; Br 3,9-38 ; Ed 37,1-14 ; Is 4,1-6 ; Xh 12,1-11 ; Gn 3,1-10 ; Đnl 31,22-30 ; Đn 3,1-24).[8] Mọi sự chỉ được thay đổi với sự canh tân phụng vụ của Đức Thánh cha Phaolô VI vào năm 1970. Phần phụng vụ Lời Chúa hiện nay gồm 9 bài đọc sách thánh (St 1,1-2,1 ; St 22,1-18 ; Xh 14,15-15,11 [bài này không bao gi được b] ; Is 54,5-14 ; Is 55,1-11 ; Br 3,9-15.32 – 4,4 ; Ed 36,16-17a.18-28 ; Rm 6,3-11 và bài Tin mừng). Con số các bài đọc Cựu Ước được rút lại còn bảy. Thế nhưng ý nghĩa của chúng vẫn không thay đổi. Điều này được thể hiện qua Thư Luân Lưu nhân dịp đại lễ Phục Sinh 1988 của Thánh bộ Phụng tự. Trong lá thư này, Thánh bộ nhấn mạnh: “Nơi nào có th được, nên đc tt c các bài phng v Li Chúa đ thy được tính cht riêng bit ca đêm Canh Thc Vượt Qua, điu đó đòi hi nhiu thi gian nhưng s được đn bù xng đáng”.[9]

2. Các Bài đc – Hành trình giáo hun v các mu nhim

Trong những bài đọc Cựu Ước, bài trình thuật việc Israel ra khỏi Aicập, vượt qua Biển Đỏ chiếm một địa vị quan trọng (bài đọc 3), vì sự cứu thoát của Israel chính là biến cố tiên báo việc cứu độ nhân loại trong Đức Kitô. Tuy nhiên Phụng vụ Lời Chúa chỉ đạt tới cao điểm trong bài Tin Mừng tường thuật sự sống lại của Đức Kitô (bài đọc 9). Trước đó, Thánh Phaolô cho biết, như mỗi tín hữu đã chết và sống lại với Đức Kitô trong phép Rửa thì mỗi tội nhân cũng phải được chôn táng và tắm gội trong giếng của phép Rửa, ngõ hầu khi ra khỏi đó họ sẽ sống như một thụ tạo mới (bài đọc 8). Đi vào chi tiết người ta sẽ thấy mỗi bài đọc đều nói lên một biến cố cứu độ, thường là của Cựu Ước, nhưng lại tiên báo những sự việc sẽ được thực hiện trong Tân Ước.

Nhưng trước khi đi vào tìm hiểu ý nghĩa và giáo huấn có tự nơi mỗi bài đọc, ta cùng tìm hiểu xem lý do mà Hội Thánh chọn đọc những đoạn Kinh thánh Cựu Ước này mà không chọn đọc những đoạn khác. Qua đó ta sẽ thấy điểm nhấn mà Hội Thánh muốn con cái mình lãnh hội đang khi họ canh thức mừng mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa chúng ta.

Theo các nhà nghiên cứu phụng vụ, việc chọn lựa theo lối hiện hành không phải là được thực hiện tuỳ tiện, nhưng đã lấy nguồn gốc từ truyền thống Dothái.[10] Thật vậy, ở bốn bài đọc Cựu Ước đầu, truyền thống được ghi lại trong Palestinian Targum cho thấy, người Dothái trong đêm Vượt Qua đã tưởng niệm ký ức về “Bốn Đêm”, đó là đêm của cuộc sáng tạo thế giới, hiến tế của ông Ápraham, cuộc Xuất Hành và việc Đức Mêsia đến (St 1,1-2,1 ; St 22,1-18 ; Xh 14,15-15,11 ; Is 54,5-14).[11] Theo đó, hành trình “bốn đêm” được lưu giữ trong tâm khảm của mỗi người Israen:

Đêm th nht diễn ra khi Thiên Chúa sáng tạo vũ hoàn: Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm (St 1,2). Lời của Thiên Chúa đã phát ra và soi chiếu trên sự hỗn mang ấy. Đó được gọi là đêm thứ nhất.

Đêm th hai là thời điểm khi Thiên Chúa hiện ra với ông Ápraham và bà Sarai (St 17,17) để làm cho hiện thực hoá điều Sách Thánh được ghi: Ông Ápraham có con lúc 100 tuổi và bà Sara được 90 tuổi mới mang thai… và ông Isaác được 37 tuổi khi sắp bị sát tế trên bàn thờ…

Đêm th ba xảy ra khi Thiên Chúa giáng phạt dân Aicập (Xh 12,29; Kn 18): bàn tay của Đức Chúa tiêu diệt mọi con đầu lòng của người Aicập và bảo vệ những người con đầu lòng Israen, để ứng nghiệm lời Sách Thánh: “Israen là con đầu lòng của ta” (Xh 4,22). Đây được gọi là đêm thứ ba.

Đêm th tư sẽ diễn ra khi thế giới đến thời đã định. Lúc này, cái ách sẽ bị đập vỡ và mọi tội lỗi sẽ bị tiêu tan. Khi ấy, ông Môsê sẽ từ sa mạc đi ra…

Đây là đêm của cuộc Vượt Qua vì danh chúng mang danh Đức Chúa: đêm đã được trù định vì ơn cứu độ dành cho mọi con cháu nhà Israen.[12]

Ba bài đọc Cựu Ước còn lại (Is 55,1-11 ; Br 3,9-15.32 – 4,4 ; Ed 36,16-17a.18-28) có ý tưởng giáo huấn về phép rửa rõ ràng, đặc biệt trong Đêm Canh Thức Phục Sinh.

Với những ý nghĩa giáo huấn như vậy, qua các bài đọc Cựu Ước đêm nay, Hội Thánh mời gọi con cái mình hãy dành thời gian “ngm xem trong thi Cu Ước, Chúa đã cu chuc dân Người làm sao, và trong thi đi cui cùng này, Người li sai Con Mt đến cu chuc chúng ta thế nào”[13]. Vậy nên, sau mỗi bài đọc, cộng đoàn dân Chúa đáp lại hồng ân cao cả bằng lời ca Thánh vịnh. Lời cầu nguyện của vị tư tế giúp các tín hữu thâu tóm các ý chính của các bài đọc.

Với những ý niệm tổng quát như thế, giờ đây chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa và giáo huấn của các trích đoạn Cựu Ước được chọn đọc trong Đêm Canh Thức Vượt Qua.

3. Ý nghĩa và giáo hun ca các Bài đc Cu Ước trong Đêm Canh Thc Vượt Qua

3.1. Bài đc 1 (St 1,1 – 2,2): Lun gii v “lúc khi đu”

Những nghiên cứu gần đây cho thấy công việc soạn thảo và biên tập cuốn sách đầu tiên trong bộ Ngũ Thư diễn chung quanh cuộc lưu đày trở về từ Babilon (561 t.c.n.). Trọn bộ Ngũ Thư chỉ được hoàn tất vào đầu thế kỷ IV t.c.n.[14] Vì vậy, có thể xem trình thuật về cuộc sáng tạo là một trình thuật về một cảm nghiệm tra vấn niềm tin được ghi chép lại. Tác giả Sách Thánh đã nhìn sự hình thành vũ trụ dưới con mắt của người đã kinh nghiệm sự yêu thương và quan phòng của Đức Chúa. Trong sự yêu thương, quan phòng đó, “Thiên Chúa đã dng nên tri đt”, Người dựng nên người nam và người nữ “theo hình nh và ging như mình”. Người đã nói với họ “hãy sinh sôi cho đy mt đt và thng tr chúng”. Đây là mặc khải bằng hành động đầu tiên của Thiên Chúa, và người ta phải ghi khắc điều đó mỗi khi truy vấn về sự hình thành thế giới.

Có thể nói tác giả của những chương đầu sách Sáng Thế là một ngôn sứ khi loan báo những kỳ công của Thiên Chúa. Thế nhưng vai trò ngôn sứ của ông là loan báo những sự kiện diễn ra trong quá khứ. Nhờ đó, người ta có thể đọc và hiểu những gì đang diễn ra trong hiện tại để hướng đến tương lai. Vai trò của ông khác hẳn vai trò của các “ngôn sứ tương lai” khi những người này loan báo điều sẽ đến.[15] Chính nhờ những lời loan báo về quá khứ này, đứng trên lập trường của niềm tin, độc giả mọi thời sẽ nhận ra diện mạo của Thiên Chúa mà họ tôn thờ. Thiên Chúa đó là vị Thiên Chúa độc nhất, sáng tạo từ hư vô bằng Lời của mình. “Thiên Chúa phán… lin có như vy”. Lời của Thiên Chúa đóng vai trò chủ chốt trong cuộc tạo dựng này. “Lúc khi đu đã có Ngôi Li. Ngôi Li vn hướng v Thiên Chúa, và Ngôi Li là Thiên Chúa. Lúc khi đu, Người vn hướng v Thiên Chúa. Nh Ngôi Li, vn vt được to thành, và không có Người, thì chng có gì được to thành” (Ga 1,1-3). Lời đó có sức sáng tạo, làm cho hiện hữu. Và mọi sự hiện hữu trong lúc khởi đầu đều “tốt đẹp” hay “rất tốt đẹp”.

Giữa những thụ tạo được dựng nên tốt đẹp đó, vị thế con người được trổi vượt hơn cả. Dựa trên trình thuật, người ta như thấy công trình sáng tạo trong sáu ngày như để dọn chỗ cho việc sáng tạo con người. Mọi công trình tạo dựng trước như để tạo không gian cho con người sinh sống. Trong con mắt của Thiên Chúa, con người có vị thế đặc biệt, đến nỗi tác giả Thánh vịnh đã phải thốt lên:

Con người là chi, mà Chúa cn nh đến,

phàm nhân là gì, mà Chúa phi bn tâm ?

Chúa cho con người chng thua kém thn linh là my,

ban vinh quang danh d làm mũ triu thiên,

cho làm ch công trình tay Chúa sáng to,

đt muôn loài muôn s dưới chân” (Tv. 8,5-7)

Hay như trong một suy tư thần học, thánh Phêrô Kim Ngôn có viết những lời lẽ tuyệt vời:

Chng my giá tr, sao con người li trân quý trong mt Thiên Chúa? Sao ngươi li mi miết tìm kiếm và trang đim bng nhng th bên ngoài mà không lưu tâm đến chính s hin hu ca mình? Chng l ngươi không nhn ra thế gii k vĩ được dng nên cho ngươi sao? Vì ngươi, ánh sáng được phái đến đ làm thước đo phân đnh ngày đêm và đ xua tr bóng đêm đang bao bc ly ngươi. Vì ngươi, ánh sáng ca bóng thái dương, vng nguyt và muôn tinh tú chiếu to. Vì ngươi, trái đt tr sinh muôn hoa thơm trái ngt. Vì ngươi mà muôn loài muôn vt sng trên đt bng, bơi li trong dòng nước, bay nhy gia thinh không được to thành”.[16]

Địa vị trổi vượt của con người là thế trong cái nhìn của tác giả Sách Thánh. Chính nhờ yếu tố này, cùng với vai trò của Lời trong tạo dựng, Hội Thánh như muốn mời gọi con cái mình suy gẫm về ân huệ làm người, về Lời sáng tạo của Thiên Chúa. Nếu như xưa kia, Lời đó là ánh sáng bóc tách bóng tối đang bao phủ thế giới để hiển hiện trong thực tế, thì sau này, Lời là ánh sáng đó sẽ đến thế gian (x. Ga 1,9-13). Nếu như xưa kia, Lời đó phát ra giữa hỗn mang thinh không, thì sau này, Lời đó sẽ hoá thành nhục thể và cư ngụ giữa loài người (x. Ga 1, 14). Nếu như xưa kia, Lời đó đã tác tạo mọi sự, thì sau này, lời đó sẽ tái tạo mọi sự bằng cuộc khổ nạn và phục sinh của mình. Và nếu như xưa kia, cuộc sáng tạo đã cho con người địa vị vượt trên muôn loài, thì sau này, cuộc sáng tạo mới còn đưa con người trở thành con Thiên Chúa.

Ý nghĩa của cuộc sáng tạo và tái tạo trong Đức Kitô được tóm gọn trong lời nguyện mà vị tư tế, thay mặt cộng đoàn dâng lên Thiên Chúa: “Ly Thiên Chúa toàn năng hng hu, mi công trình ca Chúa tht k diu phi thường. xin làm cho chúng con là nhng k được Chúa cu chuc luôn luôn hiu biết rng: công trình to thành vũ tr tha ban đu tuy đã k diêu, nhưng công trình cu đ ca Đc Kitô, Đng hy sinh làm Chiên l Vượt Qua ca chúng con trong thi sau hết, còn k diu hơn na.”[17]

3.2. Bài đc II (St 22,1-18): Cuc th thách ca t ph Ápraham

Có lẽ nhiều người cảm thấy sốc trước cơn thử thách mà tổ phụ Ápraham đã trải qua. Cơn thử thách ấy đòi người cha già sát tế người con chính hôn duy nhất của mình. Dẫu chúng ta có cả ngàn lần đọc câu chuyện này, dẫu ta đã biết, cuối cùng cậu Isaác sẽ không chết, nhưng điều đó cũng không ngăn chặn được cảm xúc xót xa chứa đựng trong câu chuyện. Xét về mặt luân lý, người ta không bị đòi buộc phải thực thi một lệnh truyền như thế. Ấy vậy mà thực tế vẫn đã diễn ra. Các tác giả Tin mừng đã nhiều lần kể cho ta nghe chuyện một người cha đã hiến tế đứa con độc nhất của mình.[18] Người Cha ấy là Thiên Chúa. Vậy nên nghe bài đọc này trong bối cảnh Đêm Canh Thức, chúng ta cần hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa văn tự và nghĩa tiên trưng.

Xét về nghĩa văn tự (nghĩa cứ chữ), ta thấy trong trình thuật, ông Ápraham có quyền khước từ lời yêu cầu của Thiên Chúa. Thế nhưng ông đã không làm như thế. Niềm tin đơn thành nhưng kiên vững của ông mách bảo rằng điều Chúa hứa, Chúa sẽ thực hiện. Vậy nên ông đã không ngần ngại bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, khước từ chốn thân quen để lên đường theo lời mời gọi của Đức Chúa. “Hãy ri b x s, h hàng và nhà cha ngươi, mà đi ti đt Ta s ch cho ngươi. Ta s làm cho ngươi thành mt dân ln, s chúc phúc cho ngươi. Ta s cho tên tui ngươi được ly lng, và ngươi s là mt mi phúc lành. Ta s chúc phúc cho nhng ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhc m ngươi, Ta s nguyn ra. Nh ngươi, mi gia tc trên mt đt s được chúc phúc” (St 12,1-3). Quả thật, đặt mình trong hoàn cảnh của ông Ápraham, người đương thời sẽ rất khó để lên đường. Tương lai phía trước mờ mịt lắm, nơi sẽ đặt chân còn mông lung. Ấy vậy mà ông Ápraham vẫn ra đi. Ông đi vì tin tưởng vào lời Thiên Chúa phán.

Câu chuyện nào đâu có hết. Có lần Thiên Chúa đã bảo với Ápraham “‘Hãy ngước mt lên tri, và th đếm các vì sao, xem có đếm ni không’. Người li phán : ‘Dòng dõi ngươi s như thế đó !’” (St 15,5). Chúa hứa là vậy, thế mà đến tuổi gần trăm, ông Ápraham cũng chẳng có mụn con nối dõi. Lại một lần nữa, ông Ápraham vẫn vững tin vì Thiên Chúa đã phán thế. Tình cảnh bi đát đến nỗi bà Sarai, vợ ông, đã đề nghị chồng ăn nằm với Haga, nữ tì của bà, “đ may ra nh nó mà tôi s có con” (St 16,1-2). Thế nhưng điều Chúa hứa không phải được thực hiện qua Haga, mà qua bà Sarai, người đã 90 tuổi. Cuối cùng, bà Sarai đã mang thai và sinh con trong lúc tuổi già. Đứa con ấy mang tên là Isaác (xc. St 21,1-8). Những tưởng cậu Isaác sẽ lớn lên trong cảnh thanh bình mà nhờ lòng tin, tổ phụ Ápraham đáng được hưởng, nhưng cuộc thử thách lớn lao dành cho Ápraham khi cam lòng sát tế Isaác ra như đã phủ nhận hết những hình ảnh tốt đẹp trước đó về Thiên Chúa. Để rồi trong ánh sáng Tân Ước, người đọc ngày nay chợt nhận ra việc thử thách lòng quảng đại của Ápraham lại trở nên cuộc mặc khải về hình ảnh Thiên Chúa. Nếu như ông Ápraham đã không tiếc con một của mình trước yêu cầu của Thiên Chúa (chuyện sát tế đã không xảy ra), thì Thiên Chúa cũng chẳng tiếc trao Người Con Một vào tay con người. Điều Thiên Chúa cần đó là sự vững tin nơi con người, còn mọi chuyện, “Thiên Chúa sẽ liệu”.

Theo nghĩa tiên trưng, truyền thống Kitô giáo vẫn đọc thấy dấu chỉ của cuộc thử thách và hiến tế của tổ phụ Ápraham xưa rồi đây sẽ ứng nghiệm nơi Đức Giêsu. Tình cha con nơi loài người sẽ minh hoạ phần nào tình thương mà Thiên Chúa dành cho Đức Kitô, và qua đó, dành cho con người. Trình bày ý tưởng ngày, giáo phụ Ôrigen đã viết:

“Chàng Isaác vai vác bó ci lên núi hiến tế là hình nh ca Đc Kitô, Đng “chính mình vác cây thp giá” (Ga 19,17); ngoài ra đó còn là hình nh ca v tư tế mang ci đ dâng l toàn thiêu. Vy nên nơi Đc Kitô hi t c hai điu, va là tư tế, va là l phm. Ý nghĩa đó còn có nơi hình nh “c hai cùng sánh bước”. Ông Ápraham, người s c hành hiến tế, mang la và dao; còn cu Isaác đã không bước sau ông, nhưng song hành cùng ông. Điu đó cho thy cu y cũng đóng vai trò là tư tế… Trước câu hi ca con, ông Ápraham đã tr li: “Chiên làm l toàn thiêu, chính Thiên Chúa s liu, con ”.

Câu tr li ca ông Ápraham va đúng, va khôn ngoan, va đánh đng chúng ta. Tôi không biết t ph đã nghĩ gì, vì điu ông ám ch không nhng phù hp vi hoàn cnh hin ti nhưng còn đúng vi tương lai khi ông nói: “Thiên Chúa s liu”. Đa con hi hoàn cnh hin ti, ông li nói v tương lai. Bi chính Đc Chúa s liu mt con chiên nơi Đc Kitô.”[19]

Tóm lại, những lời Thiên Chúa hứa xưa với tổ phụ Ápraham đã nên ứng nghiệm nơi Đức Kitô, Đấng là “hậu duệ” của ông. Nếu như người con độc nhất là Isaác không phải chết để tránh cảnh tuyệt tự tuyệt tôn, thì sau, Người Con Duy Nhất sẽ chết, nhưng cái chết của Người lại khai mở một dân tộc mới, nương theo niềm tin của tổ phụ xưa. Nếu như sự thừa kế của cậu Isaác chỉ khiến cho ông Ápraham trở thành cha của một dân tộc, thì nơi Đức Giêsu, Người sẽ làm cho lời xưa ứng nghiệm, khi khiến cho ông Ápraham trở thành cha chung của mọi dân tộc.[20] Vậy nên thật chính đáng, sau khi nghe trình thuật thử thách này, cộng đoàn cùng xướng lên lời Thánh vịnh 15 để ca tụng sự quan phòng của Thiên Chúa và niềm tin của ông Ápraham:

Ly Chúa, Chúa là phn sn nghip con được hưởng,

là chén phúc lc dành cho con ;

s mng con, chính Ngài nm gi.

Con luôn nh có Ngài trước mt,

được Ngài bên, chng nao núng bao gi.” (Tv 16,5.8)

3.3. Bài đc 3 (Xh 14,15 – 15,1a): Khi dân Israen ra khi Aicp

Chẳng thể nào cử hành Đêm Vượt Qua cho đúng nghĩa mà bỏ quên, không đọc bài đọc sách Xuất Hành. Bài đọc này cho thấy Thiên Chúa đã giơ cánh tay uy hùng của Người để giải thoát dân riêng khỏi ách thống trị của địch thù. Đây là chiến công hiển hách, đặt nền tảng cho việc tái lập một dân riêng đúng nghĩa. Ta nên nhớ, kể từ thời ông Giuse đưa gia đình mình sang Aicập định cư, cảm thức gắn bó theo kiểu một dân tộc, liên đới với nhau trong cùng một gia đình, con cháu của tổ phụ Ápraham vẫn chưa được rõ nét. Điều này phải đợi khoảng 400 năm sau, nơi cuộc Vượt Qua ra khỏi đất Aicập, và nhất là cuộc ký kết Giao ước trên núi Sinai mới trở nên sáng rõ.[21] Vậy nên có một rápbi thời Trung cổ nói rằng, trình thuật xuất hành phải là trình thuật đặt ở đầu cuốn Kinh thánh, là trình thuật nền tảng cho mọi sự kiện khác trong lịch sử cứu độ.[22]

Thiết nghĩ đề nghị nọ của vị rápbi không phải không có căn cớ. Bởi nhờ biến cố xuất hành, dân Israen mới khám phá ra Thiên Chúa là ai, danh hiệu Người là gì. Dân Israen khám phá thấy Thiên Chúa là Đấng giải thoát, là Vị cứu tinh, trước khi nhận ra Thiên Chúa là Đấng sáng tạo.[23] Đối với người Israen, việc bỏ miền Aicập ra đi không phải chỉ là biến cố xảy ra trong quá khứ, nhưng là một thực tại sống động mà tiếng vang vẫn dội lại trong cuộc sống hàng ngày. Để rồi trong sách Mishna, khi chú thích Xh 13,8 đã viết: “ mi thế h, ai cũng phi coi như chính mình đã b Aicp ra đi.”[24] Ý tưởng này trước đó đã được vị ngôn sứ trong sách Isaia tuyên bố thẳng thừng, rằng đã đến lúc cử hành một cuộc xuất hành mới (Is 43,16-21). Đây sẽ là một cuộc giải phóng diệu kỳ khỏi nơi lưu đày, mà kết quả sẽ là giải phóng người ta khỏi tội lỗi (x. Is 40,2; 44,21-22).

Phải đợi đến Đức Kitô, người ta mới thấy hết được cuộc xuất hành mới mà vị ngôn sứ đã nói trước kia là gì. Cuộc vượt qua của Đức Kitô, chính là cuộc khổ nạn của Người, đã giải thoát con người khỏi ách thống trị của ma quỷ và tội lỗi. Hơn thế nữa, cuộc vượt qua này đã tái lập một dân mới bằng một giao ước đã được ký kết bằng máu của Người.

Chính đêm này ct la sáng rc c bu tri, đy lùi xa bóng đêm ti li.

Chính đêm nay, tín hu Đc Kitô trên khp mt đa cu,

được tách khi thói đi sa đo và thoát vòng ti li ba vây,

được tr v tình trng ân nghĩa và hip thông vi ngun thánh thin.” (Exultes)

Vậy nên trong bối cảnh phụng vụ đêm nay, nghĩ đến cuộc Xuất hành sẽ giúp người tín hữu cảm nghiệm thấy hạnh phúc vì đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi và ma quỷ nhờ bước qua dòng nước thanh tẩy. Nghĩ đến cuộc Xuất hành sẽ gia tăng niềm tin cho người tín hữu trong những cơn thử thách cuộc sống hàng ngày: nếu Thiên Chúa đã giải thoát ta ngày xưa, thì Người vẫn có thể giải thoát ta hôm nay. Chính trong khía cạnh này, sẽ thắp lên trong tâm hồn người tín hữu niềm hy vọng cánh chung. Nơi ấy, người tin của mọi thời cũng vẫn sẽ lên đường, theo chân Đấng giải thoát để tiến về thiên quốc.[25]

Khi cảm nghiệm những ý nghĩa này, hẳn người tín hữu sẽ cùng ông Môsê và đoàn con cái Israen hát lên bài ca:

Tôi xin hát mng CHÚA, Đng cao c uy hùng :

K binh cùng chiến mã, Người xô xung đi dương.

CHÚA là sc mnh tôi, là Đng tôi ca ngi,  chính Người cu đ tôi.

Người là Chúa tôi th, xin dâng li vinh chúc,

Người là Chúa t tiên, xin mng câu tán tng.

Người là trang chiến binh, danh Người là “ĐC CHÚA !”

Xa mã Pha-ra-ô, Người xô xung lòng bin,

tướng dũng vi binh hùng chết chìm trong Bin Sy.

Vc thm vùi lp chúng, chúng chìm xung nước sâu chng khác nào hòn đá.

Ly CHÚA, tay hu Ngài đã biu dương sc mnh.

Tay hu Ngài, ly CHÚA, đã nghin nát đch quân.

Ngài cho dân tiến vào, đnh cư h trên núi, núi gia nghip ca Ngài.

Ly CHÚA, chính nơi đây Ngài chn làm ch ,

đây cũng là đn thánh t tay Ngài lp nên.

CHÚA là vua hin tr đến muôn thu muôn đi.” (Xh 15,1b-2.3-4.5-6.17-18)

3.4.Bài đc IV (Is 54,5-14): Nim vui vô b

Chúng ta đã trải qua “ba đêm” với những biến cố trong quá khứ được phụng vụ liên hệ trong bối cảnh hiện tại. Ở “đêm thứ tư”, đang khi người Dothái đương thời vẫn xem đây là đêm của tương lai, khi Đấng Mêsia ngự đến cứu thoát dân người, thì người Kitô hữu lại xem đó là đêm mà Đức Giêsu đã từ cõi chết sống lại. Vậy nên, người Dothái đã đọc trích đoạn Is 54,5-14 trong niềm hy vọng vào tương lai, truyền thống gọi phần trích này thuộc về “Sách An Ủi” (chương 40-55).[26]

Trong trình thuật này, ta thấy đây là cuộc độc thoại của Đức Chúa. Người ngỏ lời với nhà Israen. Rằng sau một thời gian bị ruồng bỏ, “nhưng vì lòng thương xót vô b, Ta s đón ngươi v tái hp… vì tình nghĩa ngàn đi, Ta li chnh lòng thương xót” (cc. 7-8). Trong cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô, người ta cũng nhận ra đó là tình yêu đi bước trước của Thiên Chúa khi sai con một đến hiến mạng vì nhân loại. Đó là thời Thiên Chúa thi ân, là ngày Thiên Chúa cứu độ.

Cũng giống như biến cố Lụt Hồng Thuỷ, cuộc tái hợp mà sách Isaia tiên báo, sẽ được ghi dấu bằng một giao ước đến muôn đời. “Ta lp giao ước ca Ta vi các ngươi: mi xác phàm s không còn b nước hng thu hu dit, và cũng s không còn có hng thu đ tàn phá mt đt na” (St 9,11). Giao ước cầu vồng xưa, người tín hữu ngày nay thấy hiển hiện nơi bóng thập giá Chúa. Kể từ nay, bất cứ ai nhìn lên thập giá và tin nhận trong đời sống, rằng Đức Kitô chịu đóng đinh là Cứu Chúa của mình thì họ được kể là người hưởng hồng ân mà giao ước mới mang lại.

Giữa cộng đoàn những người tin, Thiên Chúa sẽ xây dựng một thành Giêrusalem mới, thành mà “đá ca ngươi, Ta ly phm màu tô đim, nn móng ngươi, Ta đt trên lam ngc, l châu mai tường thành, Ta xây bng hng ngc, các ca thành ngươi, bng pha lê, tường trong lu ngoài, toàn đá quý” (cc. 11-12). Thành Giêrusalem mới này chính là Hội Thánh, là dân mới, dân riêng của Thiên Chúa, được gắn bó bằng một giao ước vĩnh cửu.[27]

Vậy nên ta sẽ cảm thấy ý nghĩa khi cộng đoàn cùng hát lên bài Thánh vịnh 30 sau khi nghe trích đoạn sách thánh này:

Ly CHÚA, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cu vt,

không đ quân thù đc chí nho cười con.

Ly CHÚA, t âm ph Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xung m mà Ngài thương cu sng.

Hi nhng k tín trung, hãy đàn ca mng CHÚA, cm t thánh danh Người.

Người ni gin, gin trong giây lát, nhưng yêu thương, thương sut c đi.

L có rơi khi màn đêm buông xung, hng đông v đã vng tiếng hò reo.

Ly CHÚA, xin lng nghe và xót thương con, ly CHÚA, xin phù trì nâng đ.

Khúc ai ca, Chúa đi thành vũ điu, ci áo sô, mc cho con l phc huy hoàng.

Vì thế, tâm hn con ca ngi Chúa, và không h nín lng.

Ly CHÚA là Thiên Chúa con th,

xin t ơn Ngài mãi mãi ngàn thu.” (Tv 30,2.4.5-6.11-12a.13b)

3.5. Bài đc V (Is 55,1-11): Hãy đến, lng nghe và ngươi s được sng

Cứ mỗi biến cố, giai đoạn của lịch sử cứu độ được thực hiện trong Cựu Ước, người Kitô hữu lại quy hướng về Đức Kitô, Đấng là khởi đầu và cũng là cùng đích. Ở bốn bài đọc đầu tiên trong đêm Canh Thức Vượt Qua mà chúng ta vừa tìm hiểu đã cho thấy tính cách huyền nhiệm của niềm tin. Qua đó người tín hữu khám phá ra mình đã được dựng nên thế nào, cứu độ ra sao. Quan trọng hơn hết, cùng với người Dothái, ta sẽ khám phá thấy vị Thiên Chúa mà ta tôn thờ là ai? Còn trong ba bài đọc kế tiếp, trích từ sách các ngôn sứ sẽ giúp ta tiếp tục đào sâu niềm tin hơn nữa để có thể hình thành nên “cái khung” của lịch sử mà Thiên Chúa muốn thực hiện qua Đức Kitô.

Bài đọc thứ năm được trích trong phần kết luận của “Sách An Ủi” (Is 55,1-11). Trong đó, vị ngôn sứ đã loan báo, này đã đến thời những người đang khát hãy nhanh chân tìm đến, để được dã khát, vì “nước đã sn đây” và “hãy tìm Đc Chúa khi Người còn cho gp”. Lời mời gọi vui tươi và hỉ hoan này được mở ra cho tất cả mọi người. Không ai bị loại trừ, vì “chng ai phi tr đng nào”. Người ta sẽ nhận được tình thương và ơn cứu độ cách nhưng không.

Thế nhưng yếu tố đòi hỏi mọi người, ngoài chuyện đến với “dòng nước” là lòng thương xót của Thiên Chúa, là Bí tích Rửa tội, điều họ cần là lắng nghe điều Chúa phán.[28] Lắng nghe để thấy được rằng mình cần bỏ đường lối mình đang theo, bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về cùng Chúa (c.7). Lắng nghe để thấy được rằng mình sẽ được sống bởi đã được giáo huấn của Chúa dưỡng nuôi (c. 2-3). Và lắng nghe để thấy đường lối, cách cư xử của Chúa vượt quá trí tưởng của con người. Vì “tư tưởng ca Ta không phi là tư tưởng ca các ngươi, và đường li các ngươi không phi là đường li ca Ta” (c. 8)

Trong sự chú tâm như thế, người Kitô hữu sẽ nhận thấy những lời Chúa phán là chân thật và không sai chạy. “Cũng như mưa vi tuyết sa xung t tri không tr v tri nếu chưa thm xung đt, chưa làm cho đt phì nhiêu và đâm chi ny lc, cho k gieo có ht ging, cho người đói có bánh ăn, thì li Ta cũng vy, mt khi xut phát t ming Ta, s không tr v vi Ta nếu chưa đt kết qu, chưa thc hin ý mun ca Ta, chưa chu toàn s mng Ta giao phó” (c. 10-11). Lời hứa của Thiên Chúa xưa nơi các tổ phụ, qua các ngôn sứ đã thành hiện thực. Ân sủng, nguồn suối mát lành và Lời của Thiên Chúa được hội tụ lại trong Đức Kitô. Đấng đã có từ khởi đầu và đã mặc lấy xác phàm, cư ngụ giữa chúng ta (x. Ga 1,1.14). Qua cái chết và sự phục sinh, Đức Kitô đã hoàn trọn mọi lời Chúa phán xưa và trở về lại nơi Người đã phát xuất.

Vậy nên khi nghe bài đọc này, một mặt người tín hữu ca ngợi những kỳ công Chúa đã làm, mặt khác họ không quên dâng lên lời khẩn cầu để nhờ Lời Chúa khơi gợi và soi dẫn, người ta có thể trở về đường ngay nẻo chính. Để nhờ đó, họ mạnh dạn tiến bước đến mạch suối đích thực là Đức Kitô.[29] Cuối cùng, nơi bài đáp ca, nếu xưa kia, vị Ngôn sứ reo mừng và tiến lại suối nước hằng sống, thì chúng ta sẽ kết hợp với ngôn sứ và cùng reo vui khi tiến tới giếng nước Rửa tội, nước của ơn thánh.

Đây chính là Thiên Chúa cu đ tôi, tôi tin tưởng và không còn s hãi,

bi vì ĐC CHÚA là sc mnh tôi, là Đng tôi ca ngi, chính Người cu đ tôi.

Các bn s vui mng múc nước tn ngun ơn cu đ.

Các bn s nói lên trong ngày đó :

Hãy t ơn ĐC CHÚA, cu khn danh Người,

vĩ nghip ca Người, loan báo gia muôn dân,

và nhc nh : danh Người siêu vit.

Đàn ca lên mng ĐC CHÚA, vì Người đã thc hin bao k công ;

điu đó, phi cho toàn cõi đt được tường.

Dân Xi-on, hãy reo hò mng r,

vì gia ngươi, Đc Thánh ca Israen qu tht là vĩ đi!” (Is 12,2-3.4bcd.5-6)

3.6. Bài đc VI (Br 3,9-15.32 – 4,4): Hãy gn bó vi Ngun Mch Khôn Ngoan

Trong lời nguyện sau bài đọc trích từ sách Barúc, Hội Thánh khẩn khoản: “Ly Chúa, Chúa không ngng kêu gi muôn dân gia nhp Hi thánh Chúa, khiến Hi thánh ngày thêm phát trin. Xin hng thương gi gìn nhng người đã được ơn tái sinh nh Bí tích thánh ty.”[30] Nơi lời khấn cầu này, Hội Thánh xác tín dựa trên nền tảng, Thiên Chúa là ánh sáng dẫn đường, là suối nguồn của sự khôn ngoan. Người hướng dẫn ta bằng luật lệ của Người. Các tín hữu phải trung thành với lề luật của Người, theo gương Chúa Kitô.

Đọc trích đoạn của sách Barúc, người tín hữu đương thời như nhận thấy tính thời sự của sứ điệp mà ngôn sứ này loan báo. Giữa một thế giới khử thiêng, ra như người ta muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra một bên. Còn nhớ trong sứ điệp cho ngày giới trẻ thế giới lần 26 (2011), Đức Bênêđíctô XVI có viết: “Có mt xu hướng duy đi (laïciste) mnh m mun loi b Thiên Chúa ra khi cuc sng con người và xã hi, toan tính kiến to mt “thiên đường” không có Thiên Chúa. Nhưng kinh nghim dy rng mt thế gii không có Thiên Chúa là “mt ha ngc” trong đó, tri vượt nhng ích k, chia r trong các gia đình, oán thù gia cá nhân và các dân tc, thiếu tình thương, nim vui và hy vng”. Ý tưởng này, chúng ta còn có thể thấy rải rác nơi các giáo huấn của Đức Thánh Cha. Trong Thông điệp “Chúng ta được cứu rỗi nhờ niềm hy vọng”, Đức Thánh Cha cũng đã quả quyết: “Mt nn nhân bn vng bóng Thiên Chúa s là mt nên nhân bn phi nhân”.[31]

Rất nhiều tín hữu, đang khi sống niềm tin Kitô giáo, họ lại bị lôi kéo bởi chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do phóng khoáng, để rồi xem luật lệ là một thứ ràng buộc, gò bó tự do của họ. Họ đâu biết rằng, trong truyền thống Dothái – Kitô giáo, Luật chính là cánh cửa của sự khôn ngoan, dẫn họ tiến vào miền đất của sự sống. Ngay từ những chương đầu của sách Luật (Tora), bất kỳ ai cũng nhận ra rằng mọi hữu thể nhân linh được đặt trước một sự lựa chọn căn bản khi đứng trước cây biết lành biết dữ (St 2,16-17). Người ta được kể cho biết, ai nghe theo lòng ham muốn bởi nô lệ cho ước muốn của mình, thì người ấy chọn con đường lầm lạc, con đường bất hạnh, và sự chết sẽ dẫn người ấy đến chỗ xa lìa sự sống. Trong những trang cuối cùng của sách Tora, người ta cũng gặp thấy cùng một tình trạng ấy: Israen lại buộc phải lựa chọn: sự sống hoặc sự chết, hạnh phúc hoặc tai hoạ, tự do hay nô lệ (Đnl 30,15-20). Nếu họ chọn sự sống, một con đường được mở ra để dẫn dắt họ đi trên nẻo đường sự sống. Con đường ấy chính là Lề Luật được viết trong bộ sách này.[32] “Đc Khôn Ngoan là hun gii ca Thiên Chúa ghi trong sách Lut, Lut tn ti đến muôn đi. Ai gn bó vi L Lut thì s được sng; còn ai lìa b, t s phi chết” (Br 4,1).

Chính vì thế, khi họp mừng để cử hành buổi Canh Thức này, cộng đoàn tín hữu sẽ không ngừng ca hát để tán dương những kỳ công Chúa thực hiện nơi mỗi cá nhân. Qua đó, họ cũng không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì đã thương mặc khải đức công chính và nguồn mạch khôn ngoan để họ thấy đâu là nẻo chính đường ngay mà họ cần bước đi. Nẻo đường đó không là ai khác ngoài Đấng là “đường, là s tht và là s sng” (Ga 14,6).

Lut pháp CHÚA qu là hoàn thin, b sc cho tâm hn.

Thánh ý CHÚA tht là vng chc, cho người di nên khôn.

Hun lnh CHÚA hoàn toàn ngay thng, làm hoan h cõi lòng.

Mnh lnh CHÚA xiết bao minh bch, cho đôi mt rng ngi.

Lòng kính s CHÚA luôn trong trng, tn ti đến muôn đi.

Quyết đnh CHÚA phù hp chân lý, hết thy đu công minh,

tht quý báu hơn vàng, hơn vàng y muôn lượng,

ngt ngào hơn mt ong, hơn mt ong nguyên cht.” (Tv 19,8.9.10.11)

3.7. Bài đc VII (Ed 36,16-28): Ta s đt Thn Khí vào lòng các người

Người ta hẳn sẽ rất trăn trở với việc Hội Thánh chọn đọc trích đoạn của sách ngôn sứ Êdêkien ở bài đọc cuối cùng các sách Cựu Ước trong Đêm Canh Thức Vượt Qua này. Xét về nội dung của trích đoạn này, điều mà vị ngôn sứ gợi nên, về việc Thiên Chúa sẽ ban tặng một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí mới vào lòng dân của Người, không phải là chuyện mới mẻ. Trước đó, ngôn sứ Giêrêmia đã là người khởi xướng (xc. Gr 31,31-34).[33] Thế nhưng, nói như thế không có nghĩa là ta đồng hoá với việc chọn đọc trích đoạn sách thánh này là một hạn chế. Đúng hơn, người tín hữu khi nghe trích đoạn này, cần đặt trong bối cảnh rộng hơn mà sứ điệp của ngôn sứ Êdêkien mang lại. Người ta sẽ không thể quên nét tư tế và đền thờ là đặc điểm văn chương trong sách ngôn sứ Êdêkien. Ngoài ra những thị kiến vừa dài dòng vừa kỳ dị mà vị ngôn sứ này viết lại, ra như rất thích hợp cho bối cảnh phụng vụ hôm nay.[34]

Trở lại với bài đọc, thị kiến mà vị ngôn sứ lãnh nhận từ Thiên Chúa cho thấy, dân không ngừng phản nghịch cùng Thiên Chúa qua cách ăn nết ở của mình. Vậy nên dân ngoại nhìn thấy những việc họ làm mà kêu lên rằng: “Đó là dân ca Đc Chúa, chúng đã phi ra khi x ca Người” (c. 20). Lời nói đó ra như một lời xúc phạm đến Danh của Đức Chúa, đến quyền năng của Người.

Thiên Chúa không bưng tai, bịt mắt trước lỗi phạm của dân, cũng không giả điếc làm ngơ trước những lời xúc phạm. Thế nhưng tình thương của Người còn lớn hơn những tội phản nghịch đó. Tình yêu đó là tình yêu đi bước trước. Trước khi dân ý thức về lỗi phạm của mình và trở về của Chúa, thì Người đã giơ tay giáng phúc cho họ. Vì thế: “Ta s biu dương danh thánh thin vĩ đi ca Ta đã b xúc phm gia chư dân… By gi chư dân s nhn biết chính Ta là Đc Chúa” (c. 22-23). Sự biểu dương của Đức Chúa sẽ là việc quy tụ dân đang tản mác khắp nơi và dẫn đưa về miền đất đã hứa với bậc tổ tiên.

Việc quy tụ này khiến cho người tín hữu liên hệ đến kế hoạch mà Thiên Chúa thực hiện cho Hội thánh của Người như trong sách Khải Huyền mô tả: “Sau đó, tôi thy: kìa mt đoàn người tht đông không tài nào đếm ni, thuc mi dân, mi chi tc, mi nước và mi ngôn ng. H đng trước ngai và trước Con Chiên, mình mc áo trng, tay cm nhành lá thiên tuế. H ln tiếng tung hô: ‘Chính Thiên Chúa chúng ta, Đng ng trên ngai, và chính Con Chiên đã cu đ chúng ta’” (Kh 7,9-10).

Từ viễn tượng của sách Khải Huyền về cuộc chiêu tập vĩ đại của Thiên Chúa như thế, người ta nhận ra tính cách phổ quát trong ơn cứu độ mà Thiên Chúa mang lại. Để nhập đoàn cùng đoàn dân đông đảo này, người ta cần đón nhận “dòng nước thanh sạch” (c. 25) và “Thần Khí mới” (c. 26). Những yếu tố đó được hội tụ trong Phép rửa mà Đức Giêsu Kitô đã thiết lập trong máu của mình (xc. Ga 3,1-8).

Vậy nên những lời Thánh vịnh và cầu nguyện mà Hội Thánh dùng để đọc sau khi nghe đoạn sách ngôn sứ Êdêkien đều hướng đến Bí tích Rửa tội. Nơi các Thánh vịnh, chúng đều là những ca vãn Rửa tội. Thánh vịnh 41 diễn tả niềm mong ước của người dự tòng được gặp Chúa hằng sống; Thánh vịnh 50 diễn tả sự ước ao được đổi mới tận cội gốc thâm sâu nhất của hữu thể. Điều đó cho thấy Hội Thánh như muốn thiết lập một bước chuyển tiếp từ những bài đọc Cựu Ước sang những bài đọc Tân Ước mà đỉnh cao là những trình thuật Phục Sinh. Thế nhưng trước khi lắng nghe trình thuật Phục Sinh, Lời Chúa trong thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Rôma (6,3-11) sẽ giúp tín hữu ý thức rằng khi người dự tòng được dìm xuống nước, là lúc họ cùng chết với Chúa Kitô; khi họ ra khỏi nước, là lúc họ được cùng sống lại với Người. Là chi thể của Đấng đã thắng sự dữ và sự chết, các tín hữu phải sống như những người đã sống lại.

4. Kết lun

Hội Thánh đã trải qua 40 ngày chay tịnh và Tam Nhật Thánh. Trong quãng thời gian này, yếu tố cầu nguyện được đẩy mạnh. Cách riêng trong Đêm Vọng Phục Sinh, truyền thống Hội Thánh ghi nhận dân Chúa càng cầu nguyện khẩn thiết hơn trong đêm nay. Họ dành cả đêm để lắng nghe những bài Sách Thánh, dành cả đêm để cầu nguyện bằng những Thánh vịnh. Qua đó người tín hữu sẽ khám phá thấy ân huệ mặc khải tình thương của Thiên Chúa.

Đang khi sống trong mầu nhiệm của Đêm Canh Thức như thế, người tín hữu cũng được mời gọi khám phá hồng ân Thiên Chúa tự tỏ mình và mặc khải ơn cứu độ của Người trong dòng lịch sử cứu độ. Để đi đến “Mẹ của mọi đêm canh thức” này, lịch sử cứu độ đã ghi nhận “nhiều đêm” trước đó. Ở mỗi đêm ấy, Thiên Chúa đã giáo dục cách tiệm tiến để con người nhận biết Thiên Chúa là ai? Con người là gì? Con người có vai trò và cùng đích ra sao? Con người đã được cứu độ như thế nào?

Với những đòi buộc của thời đại, việc cử hành như xưa không còn tồn tại. Thế nhưng điều đó cũng không đồng nghĩa với việc lãng quên đi tất cả ý nghĩa mà truyền thống xa xưa để lại. Ở những bài đọc thu gọn theo Sách lễ hiện hành, Cách riêng nơi những bài đọc Cựu Ước được cử hành trong Đêm Canh Thức Vượt Qua, người ta sẽ nhìn thấy một bản tóm tắt của Sách Thánh về lịch sử cứu độ, về những kỳ công Chúa đã thực hiện, và về kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa.

Ước mong nỗ lực mà bài viết này thực hiện, sẽ giúp người tín hữu ý thức và hiểu rõ hơn những điều mà mình cử hành trong Đêm cực thánh này. Qua đó, người ta sẽ bớt đi cảm giác mệt mỏi, mất thời gian đang khi cử hành phần Phụng vụ Lời Chúa. Thay vào đó, nhiều người sẽ cảm nghiệm niềm vui vì được cứu độ, vì được thấy những kỳ công Chúa làm cho con người và cho riêng mình, và cũng vì được vỡ oà trong niềm vui phục sinh, niềm vui tiên báo tương lai sẽ đến của con người.

Đoàn áo trng mau chnh t hàng ngũ,

Đã vượt qua Hng Hi tht diu huyn,

Hãy tiến vào d yến tic Con Chiên,

Dâng lên Đc Kitô li ca ngi!

Cùng nếm th, nào anh em ta hi,

Thánh Th Ngài trên thp t hiến dâng,

Ung cho say ly bu huyết đ hng,

Đ ta sng cho Chúa Tri mãi mãi.

Ôi phúc c! Đêm dài Vượt Qua y

Lúc thiên thn chinh pht khp dân Ai,

Bng vùng lên đoàn dân thánh ca Ngài

Thoát xing xích Pharaô đc d.

Chiên Vượt Qua là Kitô Đc Chúa

Đ máu đào vô ti cu sinh linh,

Này bánh không men nuôi dưỡng lòng thành

Hn trinh trng khi sa vòng tc lu.[35]

[1] “Homily 19 on psalm 5”, The Paschal Mystery: Ancient Liturgies and Patristic Texts (Alba Patristic Library, Vol. 3), Andre Hamman, OFM, ed., 1969, pp. 109-110. Trích lại trong: Jame Monti, The Week of Salvation: History and Tradition of Holy Week (Our Sunday Visitor: Huntington, Indiana, 1993), p. 324.

[2] Thánh Âutinh, Sermo 219, (PL., 38:1088).

[3] Thánh Lêô Cả, Tractatus 47, 1, CCL 138 A, p. 274.

[4] Thánh Lêô Cả, Tractatus 72, 1, CCL 138 A, p. 441.

[5] Xc. Nhiều tác giả, Khi hp nhau c hành phng v, bản ronéo, tập I, tr. 224.

[6] Lời nguyện thứ hai sau bài đọc thứ bảy (Ed 36,16-17a.18-28).

[7] Xc. Josef Adreas Jungmann, “Introduction”, K. Becker, O Truly Blessed Night: A Study of the Theology of the Easter Vigil, (St. Louis, Missouri: Pie Decime Press, 1956), p. 9.

[8] Jame Monti, ibid., p.343.

[9] Circular Letter Concerning the Preparation and Celebration of the Easter Feast, Feb 20, 1988, #85, L’Osservatore Romano, Feb 29, 1988, p.18.

[10] Xc. Georges Martimort ed., The Church at Prayer, Vol. IV: The Liturgy and Time (The Liturgical press, Collegeville, Minesota, 1986), p. 42.

[11] R. Le Déaut, La Nuit pascale …, Roma, 1963 (Analecta biblica 22), pp. 73-129. Trích lại trong: Georges Martimort ed., ibid.

[12] R. Le Déaut, ibid., p. 64-65. Trích lại trong: Robert Gantoy and Romain Swaeles ed., Day of the Lord: The Liturgical Year, Vol. III: Easter Tridium / Easter Season (The Liturgical press, Collegeville, Minesota, 1993), p. 42-43.

[13] Lời huấn dụ của tư tế dành cho cộng đoàn trước khi cử hành phần Phụng vụ Lời Chúa trong đêm Canh Thức Vượt Qua. Trích trong: Nhóm PD. CGKPV, Nghi Thc Tun Thánh (Sài Gòn, 2011), tr. 156.

[14] Xc. Ngũ Thư – Bn dch đ hc hi, phần dẫn nhập tổng quát, Bản dịch của Nhóm PD. CGKPV (nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2010), tr. 36-39.

[15] Xc. Robert Gantoy and Romain Swaeles ed., ibid., p. 43-44.

[16] Peter Chrysologus (ca 380-450), Sermon 148, in I.P. Migne, Patrologie Latine, 52, col. 596.

[17] Lời nguyện thứ nhất sau bài đọc I.

[18] Xc. Mt 3,17; Mc 12,6; Lc 1,55-73; Ga 3,16; Cv 3,15; Gl 3,16.

[19] Origen (ca. 185-253), Homélies sur la Genèse, VIII,6, in Sources chrétiennes 7 (Paris: Cerf, 1943) 167-168. Trích lại trong: Robert Gantoy and Romain Swaeles ed., ibid., p. 48.

[20] Xin coi lời nguyện sau bài đọc II.

[21] Xc. Neal M. Fanagan, Salvation History (New York, 1964), bản Việt ngữ: Lch s cu đ, in Róneo, tr. 29-42.

[22] Xc. Robert Gantoy and Romain Swaeles ed., ibid., p. 49.

[23] Xc. Etienne Charpentier, Du lch Kinh thánh, không rõ dịch giả, nơi và năm xuất bản, tr. 30.

[24] Ngũ Thư – Bn dch đ hc hi, ibid., phần dẫn nhập sách Xuất Hành, tr. 182.

[25] Xc. Lời nguyện sau bài đọc III.

[26] Xc. Nguyễn Ngọc Rao, Các sách Ngôn S (Sài gòn: 2006), tr. 137.

[27] Xc. Li Chúa cho mi người, Bản dịch của Nhóm PD. CGKPV (nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2006), phần chú thích, tr. 1252-1253.

[28] Xc. James Monti, ibid., p. 348.

[29] Xin coi lời nguyện sau bài đọc V.

[30] Lời nguyện sau bài đọc VI.

[31] Thông điệp Spe Salvi, số 78.

[32] Xc. Ngũ Thư – Bn dch đ hc hi, ibid., phần dẫn nhập tổng quát, tr. 45-46.

[33] Xc. Nguyễn Ngọc Rao, ibid., tr. 216-218.

[34] Những thị kiến đó là: Bốn con vật mang xa giá của Đức Chúa (ch. 1-3); Đền thờ lúc nhúc những súc vật và những thần tượng ghê tởm (ch. 8-11); Cánh đồng mênh mông đầy xương cốt bỗng dưng chỗi dậy thành một rừng người sống động (ch. 37); Đặc biệt là thị kiến đền thờ tương lai được xây cất theo một hoạ đồ tưởng tượng (ch. 46-48).

[35] Thánh thi Kinh Chiều, Mùa Phục Sinh.

 

(daminhvn.net) Thứ hai, 26 Tháng 3 2012 15:19 Thần Học

Phung Vu