TÔNG HUẤN
“PORTA FIDEI”
CÁNH CỬA ĐỨC TIN
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐÍC TÔ XVI

 

BẢN DỊCH CỦA LINH MỤC AUG. NGUYỄN VĂN TRINH

 

  1. “CÁNH CỬA ĐỨC TIN” (x. Cv 14,27) dẫn chúng ta vào đời sống hiệp thông với Thiên Chúa và cho phép chúng ta bước vào Giáo hội ; cánh cửa này luôn rộng mở cho chúng ta. Chúng ta có thể bước qua ngưỡng cửa này, khi LỜI Chúa được loan báo và chúng ta mở rộng tâm hồn để ân sủng uốn nắn.  Việc bước qua ngưỡng cửa này nói lên một sự dấn thân vào con đường dài suốt cuộc đời. Con đường này bắt đầu bằng Bí tích Rửa tội (x. Rm 6,4) nhờ đó mà chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là CHA và kết thúc con đường vượt qua cái chết để đi vào đời sống vĩnh cửu, đó là hoa trái cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu, Đấng, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, đã muốn đưa tất cả những kẻ tin vào trong vinh quang của Người (x. Ga 17,22). Tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – cũng đồng nghĩa với việc tin Thiên Chúa là TÌNH YÊU (x. 1 Ga 4,8) : Chúa Cha, Đấng đã sai Con của Người đến để cứu chúng ta khi thời gian đến hồi viên mãn ;  Đức Giêsu Kitô, Đấng trong mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh, đã cứu chuộc chúng ta  ; Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn Giáo hội qua bao thế kỷ  trong việc mong chờ Chúa sẽ trở lại trong vinh quang.
  2.  Từ lúc khởi đầu tác vụ vai trò kế nhiệm thánh Phêrô, tôi đã nhắc đến nhu cầu khẩn thiết về việc tái khám phá con đường đức tin để làm nổi bật niềm vui và lòng nhiệt thành được canh tân trong việc gặp gỡ với Đức Kitô. Trong bài giảng Thánh Lễ khai mạc giáo triều, tôi đã nói : “Giáo hội trong tổng thể và các mục tử trong Giáo hội phải như Đức Kitô, lên đường để dẫn con người ra khỏi hoang mạc, tiến đến nơi đầy sự sống, đến tình bạn với Con Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng ta sự sống, một sự sống tràn đầy” [1]. Từ ngày đó, các Kitô hữu phải dấn thân nhiều hơn vào hệ luận xã hội, văn hóavà chính trị, nhưng vẫn tiếp tục xem đức tin như tiền đề cho đời sống chung. Trong thực tế, tiền đề này không còn giữ hình thức như xưa, nhưng thường đã bị phủ nhận [2]. Trong quá khứ, người ta có thể nhận ra một nét văn hóa thống nhất, mà mọi người có thể hướng đến các nội dung của niềm tin và các giá trị mạc khải của chúng, nhưng ngày nay không còn như thế nữa, trong nhiều lãnh vực xã hội, nhiều người đã bị rơi vào cuộc khủng hoảng đức tin.
  3. Chúng ta không thể chấp nhận để muối hóa nhạt và ánh sáng bị che giấu đi (x. Mt5, 13-16). Con người hôm nay có cảm nghiệm như người đàn bà Samaritana chạy đến giếng nước để nghe Đức Giêsu mời gọi chúng ta tin vào Người và múc lấy nguồn mạch dâng trào nước hằng sống (x.Ga 4,14). Chúng ta phải tìm lại cảm nghiệm được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, được Giáo hội truyền đạt cách trung thành và Bánh Hằng Sống, Lương Thực được các môn đệ của Người dâng tặng (x Ga 6,51). Lời rao giảng của Đức Giêsu vẫn vang lên trong ngày hôm nay với cùng sức lực như ngày xưa : “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh” (Ga 6,27). Vấn đề những người nghe ngày xưa đã nêu lên, thì ngay nay cũng vang lên như thế : “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn” (Ga 6,28). Chúng ta biết câu trả lời của Đức Giêsu : “Việc Thiên Chúa muốn các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,29). Tin vào Đức Giêsu là con đường có thể đạt được ơn cứu độ cách dứt khoát.
  4. Trước thực tế này, tôi quyết định công bố NĂM ĐỨC TIN, sẽ bắt đầu vào ngày 11 tháng 10 năm 2012 để kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng Vat II và kết thúc long trọng vào ngày 24 tháng 11 năm 2013, Lễ Kitô Vua, để kỷ niệm 20 năm công bố sách GIÁO LÝ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO do Đấng Tiền Nhiệm của tôi là Chân Phước Giáo hoàng GIOAN-PHAOLÔ II với mục đích trình bày sức mạnh và vẽ đẹp của đức tin cho mọi tín hữu. Tài liệu này là kết quả chính thức của Công đồng Vat II, được Công Nghị đặc biệt các Giám mục vào năm 1985 ao ước công bố như công cụ cho việc dạy giáo lý [4] và được sự cộng tác của toàn thể Giám mục thực hiện. Tôi sẽ triệu tập Công Nghị khoáng đại các Giám mục vào tháng 10 năm nay 2012 với đề tài “TÂN PHÚC ÂM HÓA ĐỂ TRUYỀN ĐẠT ĐỨC TIN KITÔ GIÁO”. Đây sẽ là cơ hội thuận tiện để hướng dẫn cả cơ cấu giáo hội vào một thời điểm suy tư đặc biệt để tái khám phá đức tin. Đây không phải là lần đầu tiên Giáo hội được mời gọi để cử hành Năm Đức Tin. Vị Tiền nhiệm đáng kính của tôi, Tôi Tớ Chúa là Đức giáo hoàng Phaolô VI, đã quyết định một điều tương tự như thế vào năm 1967, để kỷ niệm cuộc tử đạo của thánh Phêrô và thánh Phaolô vào dịp 1900 năm hành động tuyên xưng đức tin tuyệt vời. Ngài đã cho đấy là một thời điểm long trọng để các Giáo hội trưng ra “một việc tuyên xưng chính thức và trung thành của cùng một đức tin” ; thêm nữa,  Ngài muốn điều này “mang tính chất cá nhân và tập thể, tự do và ý thức, nội tâm cũng như bên ngoài, khiêm tốn và trung thực” [5]. Ngài nghĩ rằng với cách thức như thế, toàn thể Hội Thánh có thể “ý thức lại rõ ràng hơn niềm tin của mình, làm sống dậy, thanh luyện, xác nhận và công bố” [6]. Những xáo trộn lớn tạo nên Năm này cho thấy rõ ràng sự cần thiết phải cử hành như thế. Năm đó được kết thúc bằng việc tuyên xưng đức tin của Dân Chúa [7] để xác nhận những nội dung chính yếu từ bao thế kỷ tạo thành gia sản của tất cả tín hữu cần được xác nhận lại, được thấu hiểu và đào sâu một cách mới mẽ để đưa ra một chứng cứ thích ứng với những điều kiện lịch sử khác với qúa khứ.
  5. Với những nhận định này, Đấng Tiền Nhiệm đáng kính của tôi đã nhìn Năm này như “hệ luận và một sự đòi buộc hậu Công Đồng” [8], vì Ngài ý thức các vấn đề khó khăn của thời đại, đặc biệt về vấn đề tuyên xưng đức tin chân chính và chú giải đúng đắn. Tôi tin rằng việc đặt NĂM ĐỨC TIN trùng hợp với kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc Công đồng Vat II có thể là một cơ hội thích hợp để học hỏi lại các bản văn được các Giáo phụ Công đồng để lại cho chúng ta như gia sản, theo như lời Chân Phước Gioan-Phaolô II, “không được phép đánh mất giá trị cũng như sự sánh chói các bản văn này. Cần phải đọc các bản văn này cách chính xác, để có thể đón nhận và làm việc trên chúng như các bản văn đầy phẩm chất và qui phạm của Huấn quyền giữa Thánh truyền của Giáo hội … Hơn lúc nào hết, tôi cảm thấy có trách nhiệm phải nhấn mạnh Công Đồng như một Hồng ân lớn mà Giáo hội được lãnh nhận trong thế kỷ thứ XX này”[9]. Cả tôi nữa, tôi cũng muốn nói lại cách mạnh mẽ về Công Đồng sau khi tôi được chọn như người kế nhiệm thánh Phêrô : “Nếu chúng ta đọc và đón nhận Công Đồng với sự trợ lực của sự bình giảng chính chắn, Công đồng có thể và luôn trở thành một sức lực mạnh mẽ để canh tân Giáo hội, đó là điều luôn cần thiết cho Giáo hội” [10].
  6.  Việc canh tân Giáo hội phải được diễn ra qua chứng cứ của đời sống các tín hữu : qua sự hiện diện của họ trong thế giới Kitô giáo, họ được mời gọi làm sáng tỏ LỜI Chân lý mà Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta. Chính Công đồng trong Hiến Chế tín lý LUMEN GENTIUM xác nhận : “Trong khi Đức Kitô “thánh thiện, vô tội, không tì vết’ (Dt 7,26) không biết tội là gì (x 2 Cr 5,21) chỉ đến để đền tội nho muôn dân (x. Dt 2,17), Giáo hội vẫn còn ôm các tội nhân trong lòng mình, vì thế Giáo hội vừa thánh thiện vừa được mời gọi thanh tẩy và phải kiên trì trong sám hối và canh tân. Giáo hội tiến bước trong cuộc lữ hành ngang qua sự bách hại của thế giới và sự an ủi của Thiên Chúa, trong khi công bố thập giá và cái chết của Chúa cho đến khi Người lại đến (x. 1 Cr 11,26). Giáo hội được sức lực của Đấng Phục sinh củng cố để chiến thắng trong kiên nhẫn và bác ái các buồn khổ và khó khăn đến với mình từ bên trong cũng như bên ngoài, và để làm tỏ hiện cách trung tín giữa trần thế mầu nhiệm của Chúa, dù còn nằm trong bóng tối, cho đến ngày bùng vỡ trong ánh sáng chói lòa” [11].

Trong viễn cảnh này, NĂM ĐỨC TIN là một lời mời gọi canh tân đích thực để quay về với Chúa, Đấng Cứu độ duy nhất của thế giới. Trong mầu nhiệm Khổ nạn và Phục sinh của Người, Thiên Chúa đã mạc khải trọn vẹn TÌNH YÊU tràn đầy của Người, TÌNH YÊU  cứu độ và mời gọi con người cải hóa cuộc đời qua việc tha thứ tội lỗi (x. Cv 5,31). Đối với thánh Phaolô, TÌNH YÊU này đưa con người vào một cuộc sống mới : “Vì được dìm vào cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người, để rồi như Đức Kitô sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,4). Nhờ đức tin, đời sống mới này tạo dáng cho cả cuộc hiện sinh con người theo cái mới triệt để của Phục sinh. Trong mức độ sẵn sàng rất tự do, tư tưởng và tình cảm, tâm tính và thái độ con người dần dần được thanh luyện và chuyển đổi, trên con đường không bao giờ hoàn tất trong cuộc sống tại thế. “Đức tin hữu hiệu trong đức ái”(Gl 5,6), sẽ trở thành tiêu chuẩn mới mẽ cho lý trí và hoạt động, giúp thay đổi cả đời sống con người (x. Rm 12,2 ; Cl 3,9-10 ; Ep 4, 20-29 ; 2 Cr 5,17).

  1. “Caritas Christi urget nos – Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5,14).  Tình yêu Đức Kitô tràn đầy tâm hồn chúng ta, thúc đẩy chúng ta loan báo Tin Mừng. Ngay hôm nay cũng thế, Người sai chúng ta đi trên khắp nẻo đường thế giới để công bố Tin Mừng của Người cho mọi dân tộc trên thế giới (x. Mt 28,19). Với tình yêu của Người, Đức Giêsu Kitô lôi kéo mọi thế hệ đến với Người : trong mọi thời gian, Người qui tụ Giáo hội khi gởi gấm việc loan báo Tin Mừng với mệnh lệnh luôn luôn mới. Vì thế ngày hôm nay  cần có một sự dấn thân cho việc Tân Phúc Âm hóa giúp tái khám phá niềm vui để tin và tìm lại lòng nhiệt thành chia sẻ đức tin. Việc dấn thân truyền giáo của các tín hữu, điều không bao giờ thiếu vắng, múc lấy sức mạnh và nghị lực trong việc tái khám phá hằng ngày tình yêu của Người. Thật vậy, niềm tin lớn dậy khi được sống như kinh nghiệm một tình yêu được lãnh nhận và khi chia sẻ như kinh nghiệm về hồng ân và niềm vui. Niềm tin sẽ mang lại hiệu năng, khi mở rộng tâm hồn trong hy vọng và có khả năng đem đến một chứng cứ có khả năng tác động, khai mở tâm hồn và trí năng của tất cả những kẻ lắng nghe và đón nhận lời mời của Chúa và gắn bó với Lời của Người để trở thành người môn đệ. Theo lời xác nhận của thánh Augustinô, các tín hữu “sẽ được mạnh mẽ khi họ tin” [12]. Vị Giám mục Hippon có đủ lý do để diễn tả như thế. Như chúng ta đã biết, cuộc đời của ngài là cuộc tìm tòi liên lỹ vẻ đẹp của đức tin cho đến khi tâm hồn của ngài yên nghỉ trong Thiên Chúa [13]. Nhiều tác phẩm của ngài, trong đó trình bày sự quan trọng để tin và chân lý đức tin, vẫn tồn tại như gia sản phong phú không thể so sánh được và vẫn giúp nhiều người đi tìm Thiên Chúa gặp được con đường đúng đắn để đạt được “Cánh cửa đức tin”.

Như thế, đức tin lớn dậy và được củng cố khi tin ; không còn một khả thể nào để có thể nhận được một sự chắc chắn cho đời sống của mình trong một nhịp tiến liên lĩ trong những bàn tay của một tình yêu luôn gia tăng chỉ vì tình yêu này có nguồn gốc nơi Thiên Chúa.    

  1. Nhân dịp diễm phúc này, tôi muốn mời tất cả các vị Giám mục trên toàn thế giới hiệp nhất với vị kế nhiệm thánh Phêrô, trong thời gian của ân sủng tinh thần mà Chúa ban tặng cho chúng ta, để nhớ lại món quà quí giá của đức tin. Chúng ta muốn cử hành Năm này cách xứng đáng và đầy hiệu quả. Phải suy nghĩ thật chính chắn về đức tin để giúp những người tin vào Đức Kitô xác tín và mạnh mẽ hơn trong việc gắn bó với Tin Mừng, nhất là trong thời gian có nhiều thay đổi sâu xa như nhân loại ngày nay đang sống. Chúng ta có cơ hội để tuyên xứng đức tin vào Chúa phục sinh trong các nhà thờ chính tòa và trong các nhà thờ trên thế giới, trong nhà cũng như trong gia đình chúng ta, để mỗi người  cảm nghiệm nhu cầu hiểu biết nhiều hơn và truyền đạt cho các thế hệ tương lai niềm tin kiên vững của chúng ta. Các cộng đoàn tôn giáo cũng như các giáo xứ, các thực thể giáo hội cũ và mới trong Năm nay, tìm cách tuyên xưng công khai bản kinh Tin Kính.      
  2. Chúng tôi ao ước rằng Năm nay sẽ đánh thức mỗi tín hữu tuyên xưng đức tin cách trọn vẹn với một xác tín được canh tân trong tin tưởng và hy vọng. Đây là cơ hội thuận lợi để củng cố việc cử hành đức tin trong phụng vụ, và đặc biệt trong Bí tích Thánh Thể, là “đỉnh cao mà mọi hoạt động của Giáo hội đều hướng đến, đồng thời là nguồn suối tuôn trào sức mạnh của Giáo hội” [14]. Đồng thời, chúng tôi ao ước chứng cứ của đời sống tín hữu đạt được sự đáng tin. Việc tái khám phá các nội dung được tuyên xưng, được cử hành và được cầu nguyện [15] và suy tư về chính hành động đức tin, đó là sự dấn thân mà mỗi tín hữu phải đón nhận, nhất là trong Năm nay.

Không phải tình cờ mà trong những thế kỷ đầu tiên, các Kitô hữu học thuộc lòng kinh Tin Kính. Kinh này được sử dụng như kinh nguyện hằng ngày để đừng quên việc dấn thân mà họ đã chấp nhận khi lãnh Bí tích Rửa tội. Thánh Augustinô, với những lời cô đọng, nhắc nhớ trong một bài giảng về redditio symboli,  truyền đạt kinh Tin Kính, ngài nói : “Kinh Tin Kính của mầu nhiệm thánh đã được trao cho tất cả anh chị em và anh chị em đọc hằng ngày, đó là những lời diễn tả đức tin của Giáo hội, Mẹ chúng ta … Giáo hội trao ban cho anh chị em để học hỏi và đọc những gì mà anh chị em luôn có trong tâm hồn, lập lại trên giường ngủ, suy gẫm nơi công cộng, cũng đừng quên khi dùng com ; đọc thầm ở nội tâm trong giấc ngủ” [16].

  1. Về điểm này, tôi muốn vạch một con đường để có thể giúp đào sâu không những các nội dung đức tin, và cùng với việc suy gẩm này, còn có hành động mà chúng ta hoàn toàn gắn bó với Thiên Chúa thật tự do. Thật vậy, có một sự hiệp nhất giữa hành động tin và các nội dung mà chúng ta xác tín. Thánh tông đồ Phaolô cho phép chúng ta đi sâu vào thực tế này, khi Ngài viết : “ Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính ; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ” (Rm 10,10). Trái tim cho thấy, hành động đầu tiên qua đó con người đi đến đức tin, đó là hồng ân của Thiên Chúa và một hành động ân sủng hoạt động và chuyển biến con người cho đến thâm sâu nhất của họ. 

Trong liên hệ này, mẫu gương của bà Lydia rất có ý nghĩa. Thánh Luca thuật lại rằng thánh Phaolô đang ở thành Philippes, vào ngày Sabbat, rao giảng Tin Mừng cho một số phụ nữ ; giữa các bà này có Lydia và “Chúa mở lòng cho bà để bà chú ý đến các lời thánh Phaolô rao giảng” (Cv 16, 14). Ý nghĩa chất chứa trong các lời này thật quan trọng. Thánh Luca dạy rằng việc nhận biết các nội dung đức tin chưa đủ nếu như trái tim, đền thờ đích thực của con người, chưa được ân sủng Thiên Chúa mở ra, cho phép con mắt nhìn sâu và hiểu những gì được loan báo, đó chính là Lời Chúa. 

Một mặt, miệng tuyên xưng đức tin có nghĩa rằng niềm tin đòi buộc một chứng cứ và một sự dấn thân công khai. Người Kitô hữu không bao giờ được phép nghĩ rằng tin là chuyện riêng tư. Đức tin, đó là sự quyết định hiện hữu với Chúa để sống với Người. Và “việc hiện hữu với Người” dẫn vào việc hiểu biết các lý lẽ tại sao người ta tin. Đức tin, vì đó là một hành động tự do, đòi buộc trách nhiệm xã hội của người tin. Vào ngày lễ Hiện Xuống, Giáo hội cho thấy rõ ràng chiều kích công khai này của đức tin và hành động loan báo không sợ sệt niềm tin riêng của mình cho mọi người. Đó là hồng ân của Chúa Thánh Thần, Đấng tác động cho việc truyền giáo và củng cố chứng cứ của chúng ta, giúp việc rao giảng trung thực và can đảm.      

Việc tuyên xưng đức tin là một hành động cá nhân nhưng đồng thể cũng mang tính tập thể. Thật vậy, Giáo hội là chủ thể đầu tiên của đức tin. Trong đức tin của công đoàn Kitô giáo, mỗi người lãnh nhận Bí tích Rửa tội, dấu chỉ hữu hiệu cho việc gia nhập cộng đoàn các kẻ tin đã đạt được ơn cứu độ. Như sách GIÁO LÝ Hội Thánh công giáo xác nhận : “Tôi tin” đó là đức tin của Hội Thánh, được mỗi tín hữu tuyên xưng, đặc biệt lúc chịu phép Thánh Tẩy”. “Chúng tôi tin” : Đây là đức tin của Hội Thánh, được các giám mục họp thành Công Đồng hoặc, thông thường hơn, được cộng đoàn tín hữu cử hành phụng vụ cùng tuyên xưng”. “Tôi tin” : đây cũng là Hội Thánh, Mẹ chúng ta, đang lấy đức tin mà đáp lời Thiên Chúa, và dạy chúng ta nói : “tôi tin”, “chúng tôi tin” [17].

Như người ta có thể quan sát, việc hiểu biết các nội dung đức tin theo bản chất để nói lên xác tín riêng tư của mình, có nghĩa là hoàn toàn gắn bó với cả lý trí và ý chí tất cả những gì Giáo hội đề nghị. Việc xác tín đức tin dẫn chúng ta vào trọn vẹn mầu nhiệm cứu độ được Thiên Chúa mạc khải. Việc xác tín được tuyên bố nói lên rõ ràng khi tin, người ta hoàn toàn tự do chấp nhận trọn cả mầu nhiệm đức tin, chỉ vì chính Thiên Chúa tự mạc khải và cho phép chúng ta nhận ra mầu nhiệm tình yêu của Người, đó là sự bảo đảm chân lý của Người [18]. 

Mặt khác chúng ta không được quên rằng trong môi trường văn hóa của nhiều người, cho dù tự mình không biết được hồng ân đức tin, dù vậy, trong việc tìm tòi thành thực ý nghĩa tối thượng và chân lý dứt khoát về hiện hữu và về thế giới. Việc tìm hiểu này là một “tiền đề” đích thực cho đức tin vì nó đặt con người trên đường dẫn đến mầu nhiệm của Thiên Chúa. Thật vậy, lý trí con người  đã có sự khao khát về “điều có giá trị tồn tại” [19]. Sự khao khát này tạo thành một lời mời thường trực, ghi trong tâm khảm con người không bao giờ dập tắc được, luôn đi tìm Đấng mà chúng ta sẽ không tìm nếu như Người đã không đến trước để gặp chúng ta [20]. Đức tin mời gọi chúng ta đi vào cuộc gặp gỡ này và khai mở trọn vẹn để chúng ta bước vào trong.

  1. Để đạt được một sự hiểu biết có hệ thống các nội dung đức tin, mọi người có được một trợ lực quí báu và tất yếu trong quyển Giáo lý Hội Thánh Công giáo. Quyển sách là một trong những kết quả quan trọng nhất của Công Đồng Vat II. Trong Tông Hiến Fidei depositum  được ký, và không phải tình cờ, vào kỷ niệm 30 năm khai mở Công Đồng Vat II, Chân phướng Gioan-Phaolô II đã viết : “Quyển Giáo lý này mang đến một sự đóng góp rất quan trọng cho công việc canh tân tất cả đời sống Giáo hội … Tôi đón nhận quyển sách này như công cụ có giá trị và thẩm quyền cho việc phục vụ Giáo hội và như tiêu chuẩn chắc chắn cho việc giảng dạy đức tin” [21].   

Chính trong viễn cảnh này mà NĂM ĐỨC TIN phải nói lên một sự dấn thân chung để tái khám phá và học hỏi những nội dung căn bản của đức tin, phải tìm trong quyển GIÁO LÝ Hội Thánh CÔNG GIÁO những tổng hợp theo hệ thống và cấu trúc. Thật vậy, chúng ta sẽ gặp trong quyển sách này giáo lý phong phú mà Giáo hội đã thu tập, gìn giữ và phổ biến trong suốt hai ngàn năm lịch sử. Từ Thánh Kinh đến các Giáo phụ, những Thầy dạy thần học đến các vị Thánh qua các thế kỷ, quyển giáo lý cung cấp một ký ức thường hằng của nhiều cách thức qua đó Giáo hội nghiền ngẫm đức tin và sản sinh trong giáo thuyết để đem đến sự xác tín cho các tín hữu trong đời sống của họ.

Theo cấu trúc, quyển GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO trình bày việc triển khai đức tin đến những đề tài lớn cho đời sống hằng ngày. Từng trang một, người ta sẽ khám phá điều trình bày, không phải là lý thuyết, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một Đấng đang hiện diện trong GIÁO HỘI. Tiếp sau việc tuyên xưng đức tin là việc giảng dạy đời sống bí tích, qua đó Đức Kitô hiện diện, hoạt động và tiếp tục xây dựng GIÁO HỘI của Người. Nếu không có phụng vụ và các Bí tích, việc tuyên xưng đức tin sẽ không có hiệu quả, chỉ vì thiếu vắng ân sủng nâng đỡ chứng cứ của các Kitô hữu. Cũng theo một cách thức đó, lời giảng dạy của quyển Giáo lý về đời sống luân lý đạt được trọn ý nghĩa, nếu như đời sống này được liên kết với đức tin, phụng vụ và cầu nguyện.     

  1. Vì thế, trong Năm nay, quyển GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO phải là công cụ đích thực để nâng đỡ đức tin, nhất là cho những ai muốn đào tạo Kitô hữu, rất thích ứng với môi trường văn hóa chúng ta.  Với mục đích này, tôi đã mời Uy Ban Giáo lý đức tin, cùng đồng thuận với các cơ quan Giáo triều, đưa ra một Ghi chú, qua đó đưa ra những hướng dẫn cho cả Giáo hội và các tín hữu để sống NĂM ĐỨC TIN một cách có hiệu quả và thích hợp, phục vụ cho đức tin và việc Phúc Âm hóa.

Thật vậy, đức tin bị đặt một chuỗi câu hỏi hơn ngày xưa, xuất phát từ một tâm trí đã bị thay đổi, đặc biệt trong ngày hôm nay, đúc kết lãnh vực những điều chắc chắn do kết quả chinh phục về mặt khoa họa và kỷ thuật. Dù vậy, Giáo hội không bao giờ sợ hãi để chỉ cho thấy giữa đức tin và khoa học không có xung khắc nào, chỉ vì cả hai, dù trên những con đường khác biệt, nhưng cùng hướng về chân lý [22].

  1. Điều quyết định trong Năm này là nhìn lại cách mới mẽ lịch sử niềm tin của chúng ta, để thấy mầu nhiệm khôn dò khôn thấu của cuộc chiến giữa sự thánh thiện và tội lỗi. Điều đầu tiên cho thấy thật nhiều người, nam cũng như nữ, đóng góp vào việc lớn dậy và phát triển cộng đoàn qua việc làm chứng trong đời sống ; điều thứ hai phải gợi lên nơi mỗi người công việc sám hối thường xuyên và thành thực để có thể cảm nghiệm lòng nhân từ của Thiên Chúa CHA, Đấng đến gặp mọi người chúng ta.

Trong thời gian này, chúng ta hướng nhìn lên Đức Giêsu Kitô “Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (x. Dt 12,2) : mọi ưu tư và khao khát nơi tâm hồn con người chỉ có thể được thỏa mãn nơi Người. Niềm vui của tình yêu, lời giải đáp cho bi kịch khổ đau, sức mạnh tha thứ trước những xúc phạm và sự chiến thắng của sự sống đối mặt với sự hư không của cái chết, tất cả sẽ tìm được câu trả lời tốt đẹp trong mầu nhiệm Nhập Thể, từ sự kiện Thiên Chúa tự hóa thành con người, từ việc Người đã chia sẻ sự yếu đuối nhân bản để  chuyển đổi nó bằng sức mạnh của cuộc Phục sinh. Nơi Người, cái chết và sự phục sinh  tạo ơn cứu độ cho chúng ta, sẽ tràn đầy ánh sáng nơi những mẫu gương đức tin đánh dấu trong suốt hai nghìn năm của lịch sử cứu độ.

  Nhờ tin, Đức Maria đã đón nhận lời của thiên thần ; Mẹ đã tin vào lời loan báo và đã trở thành Mẹ Thiên Chúa trong sự vâng phục và tận hiến (x. Lc 1,38). Khi thăm viếng bà Elisabeth, Mẹ đã cất lời ca tụng lên Đấng Tối Cao về những kỳ công, Người đã thực hiện nơi tất cả những ai phó thác vào Người (x. Lc 1,46-55). Với niềm vui và âu lo, Mẹ đã sinh Con duy nhất của mình mà không suy xiển đức đồng trinh của mình (x. Lc 2,6-7). Tin tưởng vào vị hôn phu Giuse, Mẹ đã mang Đức Giêsu sang Ai Cập để thoát khỏi cuộc bách hại của Hérođê (x. Mt 2,13-15). Cũng với đức tin như thế, Mẹ đã dõi theo Chúa trong các bài giảng thuyết và ở cạnh Người cho đến Golgotha (x.Ga 19,25-27). Với đức tin, Đức Maria đã cảm nghiệm hoa trái cuộc Phục sinh của Đức Giêsu và, khi gìn giữ từng kỷ niệm trong tâm hồn (x. Lc 2, 19.51), Mẹ đã truyền đạt lại cho nhóm Mười Hai đang qui tụ quanh Mẹ nơi nhà Tiệc ly để lãnh nhận Thánh Thần (x. Cv 1,14 ; 2,1-4).

Nhờ tin, các Tông đồ đã bỏ tất cả để theo Thầy (x. Mc 10,28). Họ tin vào Lời của Người rao giảng về Nước Thiên Chúa đang hiện diện và hiện thực nơi bản thân Người (x. Lc 11,20). Họ sống chung cùng với Đức Giêsu, Đấng hướng dẫn họ bằng lời rao giảng, ban cho họ một qui luật sống mới, nhờ đó mà họ được công nhận là môn đệ của Người sau khi Người chết (x. Ga 13,34-35). Nhờ tin, họ đã đi vào thế giới, theo lệnh của Người, để đem Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (x. Mc 16,15) và không sợ sệt gì, với tất cả niềm vui họ loan báo cuộc Phục sinh mà họ là chứng nhân.

Nhờ tin, các môn đệ tạo thành cộng đoàn tiên khởi, nhờ lời rao giảng của các Tông đồ,  họ kết hợp lại trong cầu nguyện, cử hành Bí tích Thánh Thể, đặt tất cả của cải chung với nhau để mọi người tùy theo nhu cầu có thể sử dụng (x. Cv 2,42-47).

Nhờ tin, các vị tử đạo dâng hiến cuộc sống của mình để làm chứng cho chân lý Tin Mừng, chân lý này đã biến đổi họ và làm cho họ có khả năng đạt đến món quà cao cả nhất của tình yêu, cùng với việc tha thứ các kẻ bách hại mình.

Nhờ tin, nhiều người, cả nam lẫn nữ, dâng hiến cuộc sống mình cho Đức Kitô, bỏ tất cả theo sự đơn sơ của Phúc Âm để sống  sự vâng phục, khó nghèo và khiết tịnh, những dấu chứng cụ thể việc mong chờ Chúa đến. Nhờ tin, nhiều Kitô hữu tham gia vào các hoạt động để đòi công lý, thực hiện lời của Chúa để công bố sự giải phóng khỏi áp bức và một năm hồng ân cho tất cả mọi người (x.Lc 4,18-19).

Nhờ tin, trong suốt bao thế kỷ, nhiều người nam nữ trong mọi lứa tuổi mà tên của họ được ghi vào sách Hằng Sống (x. Kh 7,9 ; 13,8), đã tuyên xưng vẻ đẹp lúc bước theo Chúa khi họ được gọi để làm chứng là Kitô hữu : trong gia đình, trong nghề nghiệp, trong đời sống xã hội, trong việc thực thi đặc sủng và tác vụ mà họ được kêu gọi.

Chúng ta cũng sống theo niềm tin : nhờ việc nhận biết Chúa Giêsu cách sống động : Người đang hiện diện trong cuộc hiện sinh của chúng ta cũng như trong lịch sử.

  1. NĂM ĐỨC TIN sẽ là một cơ hội thuận lợi để củng cố chứng cứ bác ái. Thánh Phaolô nhắc chúng ta : “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13). Với những lời còn mạnh mẽ hơn nữa – giúp các Kitô hữu dấn thân – Thánh tông đồ Giacôbê xác nhận : “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì ? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng ? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ : “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đangcần, thì nào có ích lợi gì ? Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết. Đàng khác, có người sẽ bảo : “ Bạn, bạn có đức tin ; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2,14-18).

Đức tin không có bác ái sẽ không đem lại hoa trái nào và bác ái không có đức tin chỉ là một tình cảm với đầy lo lắng. Đức tin và bác ái đòi hỏi phải có nhau, đến độ nhân đức này giúp nhân đức kia có thể thực hiện con đường của mình. Thật vậy, nhiều Kitô hữu dâng hiến cuộc đời mình cho những kẻ cô đơn, khổ đau hay những kẻ bị đời bỏ rơi như những người đầu tiên, quan trọng nhất để nâng đỡ, chỉ vì nơi họ phản ánh gương mặt của Đức Kitô. Nhờ đức tin, chúng ta có thể nhận ra trong tất cả mọi người van xin tình yêu của chúng ta, gương mặt của Chúa Phục sinh. “ Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”(Mt 25,40) : Những lời này của Chúa là một lời thông báo đừng quên và một lời mời thường xuyên để tái ban tình yêu này, qua đó Người chăm sóc chúng ta. Chính đức tin giúp chúng ta nhận ra Đức Kitô và chính tình yêu của Người thúc đẩy chúng ta mau mắn giúp đỡ mỗi khi Người tự trở thành kẻ lân cận chúng ta gặp trên đường đời. Nhờ đức tin nâng đỡ, chúng ta hãy nhìn với hyvọng việc dấn thân của chúng ta trong thế giới, trong khi mong chờ “ một trời mới và một đất mới nơi công lý ngự trị” ( 2 Pr 3,13 ; x. Kh 21,1).

  1. Khi đến cuối đời của mình, thánh Phaolô xin người môn đệ Timôthê kiên trì học hỏi niềm tin (x. 2 Tm 2,22) như khi còn trẻ (x. 2 Tm 3,15). Chúng ta hãy lắng nghe lời mời từng người chúng ta, để không ai lười biếng trong đức tin. Đức tin là bạn đồng hành trong cuộc đời, giúp chúng ta có cái nhìn luôn luôn mới về những kỳ công Thiên Chúa thực hiện cho chúng ta. Dấn thân cho việc nắm bắt các dấu chỉ thời đại ngày hôm nay, đức tin đòi buộc mỗi người phải trở thành dấu chỉ sống động cho sự hiện diện của Đấng Phục sinh  trong thế giới. Điều thế giới hôn nay cần đến là chứng cứ đáng tin của tất cả những ai, nhờ Lời Chúa soi sáng trong tâm trí và trong tâm hồn, có khả năng mở rộng trái tim và tinh thần để khao khát Thiên Chúa và đời sống đích thực, thật vĩnh cửu.  

“Xin anh em cầu nguyện cho chúng tôi, để lời Chúa được phổ biến mau chóng và được tôn vinh” ( 2 Tx 3,1) : ước gì NĂM ĐỨC TIN này giúp cho sự liên lạc với Đức Kitô được củng cố bền chặt, chỉ vì trong Người chúng ta mới có sự chắc chắn để nhìn vào tương lai và bảo đảm một tình yêu đích thực và vững bền. Những lời của thánh Phêrô đem lại ánh sáng cuối cùng cho đức tin : “Anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi  Đức Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự. Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người” (1 Pr 6-9). Đời sống Kitô hữu nhận được cảm nghiệm niềm vui và cả khổ đau. Biết bao vị thánh đã sống sự cô đơn ! Bao nhiêu tín hữu , ngay cả trong ngày nay, bị sự thinh lặng của Thiên Chúa thử thách khi họ muốn nghe tiếng nói an ủi ! Những thử thách của cuộc đời, sẽ giúp hiểu được mầu nhiệm thập giá và chia sẻ vào đau khổ của Đức Kitô (x. Cl 1,24) là tiền cảm cho niềm vui và hy vọng mà đức tin dẫn đến : “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” ( 2 Cr 12,10). Chúng ta vững tin  Chúa Giêsu đã chiến thắng sự xấu và cái chết. Với niềm xác tín này, chúng ta phó thác vào Người : Đấng luôn hiện diện giữa chúng ta, Người chiến thắng quyền lực của cái xấu (x. Lc 11,20) và Giáo hội, cộng đoàn hữu hình lòng thương xót  của Người, tồn tại trong Người như dấu chỉ giao hòa dứt khoát với Thiên Chúa Cha.

Chúng ta phó thác thời gian ân sủng này vào tay Mẹ Thiên Chúa, Mẹ được tôn vinh vì “đã tin” (Lc 1,45).

Ban hành cạnh đền thờ thánh Phêrô, ngày 11 tháng 10 năm 2011, vào năm thứ 7 giáo triều của tôi

 

BENEDICTUS PP. XVI   

 

  1. Bài giảng khai mạc sứ vụ Kế nhiệm thánh Phêrô tại Rôma (24. 4.2005) : AAS 97 (2005), 710 ; DC 102 (2005) trang 547.
  2. Đức giáo hoàng Bênêđíctô XVI, bài giảng tại Terreiro do Paco, Lisbonne ( 11.5.2010) : Insegnamenti VI,1 (2010), 673 ; DC 107 (2010) tr 515.
  3. Gioan-Phaolô II, Tông Hiến FIDEI DEPOSITUM (11.10.1992) :AAS 86 (1994), 113-118 ; DC 90 (1993) tr 1-3.
  4. Tường trình kết thúc Công nghị đặc biệt các Giám mục (7.12.1985), II,Bài đọc :,a,4 trong Enchiridion Vaticanum, vol 9, n.1797 ; DC 83 (1986) tr 39
  5. Đức giáo hoàng Phaolô VI, Erxhort. Apost Petrum et Paulum Apotolos, nhân dịp 19 ngàn năm hai thánh tông đồ (22.2.1967) : AAS 59 (1967) 196 ; DC 64 (1967 col. 484-485.
  6. Người ta 198
  7. Đức giáo hoàng PhaolôVI, tuyên xưn đức tin, kết thúc NĂM ĐỨC TIN (30.6.1968) : AAS 60 (1968), 433-445 ; DC 65 (1968) col 1249-1258
  8. Huấn từ (14.6. 1967) : Insegnamenti V (1967), 801 ; DC (1967) col 1162
  9. Đức giáo hoàng Goan_Phaolô II, Novo millennio ineute ( 6.1.2001), số 57 : AAS 93 (2001), 308 ; DC 98 (2002) tr 88.
  10. Huấn từ cho Curie romaine (22,12.2005) : AAS 98 (2006), 52 ; DC 103 (2006) tr 63.
  11. Lumen Gentium số 8
  12. De utilitate credendi, 1,2.
  13. Augustin, Tự thú I,1
  14. Sacrosanctum Concilium số 10
  15. J-P II Fidei depositum (11.10.1992) : AAS 86 (1994), 116 ; DC 90 (1993) tr 1-3.
  16. bài giảng 215,1
  17. GLTC số 167
  18. Dei Filius chương III : DS 3008-3009 : Dei Verbum số 5
  19. Đức giáo hoàng Bênêđíctô XVI , Huấn từ (12.9.2008) : AAS 100 (2008) 722 ; DC 105 (2008)tr 827
  20. Augustin, Tự thú XIII,1
  21. J-P II, Fidei depositum (11.10.1992) : AAS 86 (1994) 115 Vat II 117 ; DC 90 (1993) tr 1-3
  22. Fides et ratio(14.9.1998) số 34và 106 : AAS 91 (1999) 31-32, 86-87 ; DC 5 (1998) tr 913 và 938.