ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE
2008
1. SẮC LỆNH VỀ CHỨC VỤ VÀ ĐỜI SỐNG CÁC LINH MỤC Presbyterorum Ordinis – Công Đồng Vaticanô II- 1965
2. SẮC LỆNH VỀ ĐÀO TẠO LINH MỤC Optatam Totius – Công Đồng Vaticanô II – 1965
3. TÔNG HUẤN VỀ VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC TRONG HOÀN CẢNH HIỆN NAY Pastores Dabo Vobis – Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II – 1992
4. CHỈ NAM LINH MỤC – Bộ Rao Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc – 1989
5. CHỈ NAM CHO THỪA TÁC VỤ VÀ ĐỜI SỐNG LINH MỤC – Bộ Giáo Sĩ – 1994
6. LINH MỤC VÀ THIÊN NIÊN KỶ KITÔ GIÁO THỨ BA – Thầy Dạy Lời Chúa – Thừa Tác Viên Các Bí Tích – Và Người Lãnh Đạo Cộng Đoàn – Bộ Giáo Sĩ – 1999
7. HUẤN THỊ ECCLESIAE DE MYSTERIO Về một số vấn đề liên quan đến sự hợp tác của người giáo dân với thừa tác vụ của các linh mục – HUẤN THỊ LIÊN BỘ : 8 Bộ – 1997
8. HUẤN THỊ : LINH MỤC, MỤC TỬ VÀ LÃNH ĐẠO
CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ – Bộ Giáo Sĩ – 2002
DẪN NHẬP
NHỮNG VĂN KIỆN VỀ LINH MỤC TỪ CÔNG ĐỒNG VATICAN II
- Với Công Đồng Vatican II, một luồng gió mới của Chúa Thánh Thần đã thổi vào Giáo Hội. Công
Đồng đã xác định rằng việc canh tân Giáo Hội “phần lớn tùy thuộc việc thi hành chức vụ Linh Mục”, từ đó
Công Đồng tuyên bố “việc đào tạo Linh Mục là việc vô cùng quan trọng” :
“Mọi người mong ước canh tân toàn thể Giáo Hội, Thánh Công Đồng ý thức rõ ràng như thế, và công
cuộc canh tân này phần lớn tùy thuộc việc thi hành chức vụ Linh Mục đã được Thần Linh Chúa Kytô thúc
đẩy, do đó Thánh Công Đồng tuyên bố việc đào tạo Linh Mục là việc vô cùng quan trọng” (OT 1). - Chính vì tầm quan trọng của linh mục trong đời sống, trong sự canh tân và phát triển của Giáo Hội,
mà các Nghị Phụ đã dành trọn 2 sắc lệnh trong số 16 văn kiện của Công Đồng để bàn về linh mục :
– Sắc Lệnh về Chức Vụ và Đời Sống Các Linh Mục – Presbyterorum Ordinis – được công bố ngày 7
tháng 12 năm 1965.
– Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục – Optatam Totius – được công bố ngày 28 tháng 10 năm 1965. - Vào ngày 8 tháng 12 năm 1965, Công Đồng Vatican II đã kết thúc trong một nghi thức long trọng.
Nhưng trước đó, vào ngày 15 tháng 9 năm 1965, Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô VI, qua tự sắc “Apostolica
Sollicitudo” đã thiết lập Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới nhằm mục đích áp dụng những hoa trái của
Công Đồng Vatican II vào cuộc sống cụ thể của Dân Chúa tại một thời điểm nào đó. Như trong đoạn khởi
đầu tự sắc « Apostolica Sollicitudo » lập THĐGMTG Đức Phaolô VI đã nói : “Công Đồng Chung đã chính
là nguyên nhân để chúng ta chọn một giải pháp ổn định : một ban cố vấn đặc biệt gồm các giám mục. Qua
đó Dân Chúa có thể tiếp tục hưởng được những thành quả tốt lành phong phú của Công Đồng” 1. - Từ 30 tháng 9 cho đến 28 tháng 10 năm 1990, Khóa Họp thông thường lần thứ 8 của Thượng Hội
Đồng Giám Mục Thế Giới đã được tổ chức với đề tài: “Việc Huấn Luyện Linh Mục trong những hoàn cảnh
ngày nay”. Và kết quả của Khóa Họp thông thường lần thứ 8 này được các nghị phụ đúc kết lại thành 41 đề
nghị (propositions) gởi lên Đức Thánh Cha. Ngày 27 tháng 10 năm 1990, Đức Cha Henryk Muszynski,
Giám Mục giáo phận Wloclawek (Ba Lan) là thư ký đặc biệt của Thượng Thượng Hội Đồng Giám Mục, đã
trình bày cho công chúng tóm tắt 41 đề nghị xoay quanh 3 trục chính 2 :
* Những nhận xét về hoàn cảnh hiện nay.
* Những khía cạnh thần học liên quan đến căn tính và linh đạo của linh mục.
* Những hướng dẫn cụ thể về “những môi trường” trong đó ơn gọi linh mục phát triển, cùng với
những hướng dẫn về việc đào tạo tại Chủng Viện và về việc đào tạo trường kỳ sau Chủng Viện.
Với 41 đề nghị này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã soạn thành Tông Huấn Pastores Dabo Vobis
về “Việc Đào Tạo Linh Mục Trong Hoàn Cảnh Hiện Nay”, ban hành ngày 25 tháng 3 năm 1992. - Tiếp theo Tông Huấn Pastores Dabo Vobis, từ năm 1992 cho đến năm 2002, có thêm 5 văn kiện nữa
là những Chỉ Nam và Huấn Thị khai triển chi tiết và cụ thể hóa đường hướng của Công Đồng và của
Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới Khóa 8 về chức vụ và đời sống của các linh mục.
Nói cách khác, 8 văn kiện mới nhất của Giáo Hội về Linh Mục mà chúng tôi góp lại tại đây được chia
làm hai nhóm :
A) 3 VĂN KIỆN NỀN TẢNG VỀ LINH MỤC :
1. Sắc lệnh về Chức Vụ và Đời Sống Các Linh Mục – Presbyterorum Ordinis – Công Đồng Vaticanô II –
1965
2. Sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục Optatam Totius – Công Đồng Vaticanô II – 1965
3. Tông huấn về Việc Đào Tạo Linh Mục Trong Hoàn Cảnh Hiện Nay – Pastores Dabo Vobis – Đức
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II – 1992
B) 5 VĂN KIỆN HƯỚNG DẪN CỤ THỂ DÀNH CHO CÁC LINH MỤC :
4. Chỉ Nam Linh Mục – Bộ Rao Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc – 1989
5. Chỉ Nam Cho Thừa Tác Vụ Và Đời Sống Linh Mục – Bộ Giáo Sĩ – 1994
6. Linh Mục Và Thiên Niên Kỷ Kitô Giáo Thứ Ba – Thầy Dạy Lời Chúa – Thừa Tác Viên Các Bí
Tích – Và Người Lãnh Đạo Cộng Đoàn – Bộ Giáo Sĩ – 1999
7. Huấn thị Ecclesiae De Mysterio về một số vấn đề liên quan đến sự hợp tác của người giáo
dân với thừa tác vụ của các linh mục – Huấn thị Liên Bộ : 8 Bộ – 1997
8. Huấn thị : Linh Mục, Mục Tử Và Lãnh Đạo Cộng Đoàn Giáo Xứ – Bộ Giáo Sĩ – 2002
VÀI HƯỚNG DẪN QUAN TRỌNG VỀ VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC HÔM NAY :
- Từ những Văn Kiện trên, một cách tổng quát, có thể khám phá ra 3 hướng dẫn và xác định quan
trọng của Giáo Hội về việc đào tạo linh mục:
- Từ những Văn Kiện trên, một cách tổng quát, có thể khám phá ra 3 hướng dẫn và xác định quan
* Mục đích đào tạo tại Chủng Viện
* Linh đạo linh mục triều : nên thánh trong mục vụ
* Đức Ái mục tử, “nguyên lý nội tại” của đời sống tâm linh và mục vụ của linh mục
1) Mục đích đào tạo tại Chủng Viện :
Theo Tông Huấn PDV, mục đích đào tạo tại Chủng Viện là đào tạo những “nhà rao giảng tin
mừng mới trong tư cách là mục tử” (nouvel évangélisateur en tant que pasteur).
“Thật vậy, vì tương lai của công cuộc phúc âm hóa nhân loại, việc chuyên chăm đào tạo các
linh mục tương lai …, được Giáo Hội nhìn nhận như là một trách vụ có tầm quan trọng đặc biệt”
(PDV 2&4).
“Giáo Hội cũng được khích lệ … bởi sự cần thiết tuyệt đối phải làm cho công cuộc “phúc
âm hóa mới” có được những “nhà phúc âm hóa mới”, đầu tiên là các linh mục. (PDV 2&6).
“Tất cả các linh mục đều được mời gọi truy nhận tính khẩn cấp đặc biệt nơi việc đào tạo của
họ trong thời buổi hiện tại : “công cuộc phúc âm hóa mới” cần có những nhà rao giảng mới,
những linh mục dấn thân sống chức linh mục như một con đường nên thánh.
Lời hứa của Thiên Chúa bảo đảm cho Giáo Hội của Ngài không phải có được bất cứ
những mục tử nào nhưng những mục tử “như lòng Ngài mong ước”. (PDV 82&7-8).
Cùng với xác định trên của Tông Huấn PDV, trong chương I của Văn Kiện “Linh mục và thiên
niên kỷ Kitô giáo thứ ba : Thầy dạy Lời Chúa, Thừa tác viên các Bí Tích và Người lãnh đạo cộng đoàn”,
ban hành vào tháng 3 năm 1999, Bộ Giáo Sĩ cũng đã khẳng định rằng 3 nhiệm vụ của Linh mục (Thầy dạy
lời chúa, Thừa tác viên các bí tích và người lãnh đạo cộng đoàn) đều hướng đến mục đích “Phúc âm hóa”:
“Phúc âm hóa bao gồm những việc : công bố, làm chứng, đối thoại và phục vụ.
Công cuộc đó đặt nền trên ba yếu tố không thể tách rời : rao giảng Lời Chúa, thừa tác vụ bí
tích và hướng dẫn tín hữu.
Rao giảng sẽ vô nghĩa nếu không bao hàm việc đào tạo trường kỳ cho người tín hữu và việc
tham dự các bí tích.
Tương tự như thế, tham dự các bí tích mà không có sự hoán cải chân thành của con tim,
không có sự chấp nhận đầy đủ đức tin và các nguyên tắc luân lý Kitô giáo thì cũng vô nghĩa.
a) Xét từ viễn tượng mục vụ, hành động Phúc âm hóa đầu tiên là rao giảng.
b) Tuy nhiên xét từ viễn tượng ý hướng thì yếu tố đầu tiên của Phúc âm hóa phải là cử
hành các bí tích, nhất là bí tích Sám hối và Thánh Thể. Tuy nhiên tính toàn diện của công việc mục
vụ của linh mục được tìm thấy trong sự hài hòa của hai nhiệm vụ trên”.
Như vậy, hai yếu tố căn bản trong việc đào tạo linh mục trong bối cảnh hiện nay là đào tạo “người
loan báo Tin Mừng mới” và “người mục tử” cho hôm nay.
– Ý niệm “loan báo Tin Mừng” đặt người linh mục trong sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo Hội;
– Ý niệm “mục tử” phân biệt người linh mục với người giáo dân : người giáo dân cũng có sứ vụ
phải loan báo tin mừng, nhưng trong tư cách là “thành viên”, là “chi thể” của nhiệm thể Chúa Kitô.
Thực vậy, bản chất và sứ vụ của linh mục chỉ có thể hiểu được trong sứ vụ của Giáo Hội, một Giáo
Hội được nhấn mạnh qua 3 đặc tính : “Mầu Nhiệm, Hiệp Thông và Truyền Giáo” (x. PDV 12)
- Tất cả các ơn gọi, đặc biệt ơn gọi linh mục, là một hồng ân Thiên Chúa ban cho Giáo Hội và trong
Giáo Hội (x.PDV 35). Nói cách khác, bản chất và sứ vụ của người linh mục chỉ được hiểu trong sứ vụ của
Giáo Hội. Giáo Hội được thiết lập để tiếp nối sứ vụ Loan Báo Tin Mừng của Chúa Kitô (x. Mt 28,18-20). - Sau THDGM ngoại thường 1985, ba đặc tính của Giáo Hội thường được nhấn mạnh : Giáo Hội là
Mầu Nhiệm (Mystère), Hiệp Thông (Communion) và Truyền Giáo (Mission).
- Tất cả các ơn gọi, đặc biệt ơn gọi linh mục, là một hồng ân Thiên Chúa ban cho Giáo Hội và trong
Ở đây, đặc biệt trong số 12 của Tông Huấn PDV, 3 đặc tính của Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Hiệp Thông
và Truyền Giáo được nhắc lại nhằm nhấn mạnh đến sứ vụ của Giáo Hội là phục vụ và loan báo Chúa Giêsu
Kitô cho Thế giới ngày hôm nay; một thế giới thường được đề cập đến với 3 đặc tính tiêu biểu : Tục hoá
(sécularisé), Phân rẽ (divisé) và Có nhiều người không biết đến Chúa Kitô (tant d’hommes ignorent le
Christ)3 .
| 3 đặc tính Giáo Hội | 3 đặc tính của Thế Giới hôm nay |
| 1. Mầu Nhiệm (Mystère) | 1. Tục hoá (Sécularisé) |
| 2. Hiệp Thông (Communion) | 2. Phân rẽ (Divisé) |
| 3. Truyền Giáo (Mission) | 3. Có nhiều người không biết đến Chúa Kitô (tant d’hommes ignorent le Christ) |
2) Linh đạo linh mục triều : nên thánh trong mục vụ
- Người linh mục giáo phận nên thánh trong công tác mục vụ :
“Thành tâm và kiên nhẫn thi hành chức vụ của mình trong tinh thần Chúa Kitô là phương pháp
riêng giúp các linh mục theo đuổi sự thánh thiện.” (PO 13). - “Chủ đích mục vụ” trong việc đào tạo linh mục :
Khi nói đến việc đào tạo linh mục trong bối cảnh hôm nay, Tông Huấn PDV luôn nhấn mạnh
đến việc đào tạo toàn vẹn được quay quanh 4 trục chính. Bốn chiều kích huấn luyện này liên kết
chặt chẽ với nhau (x. PDV 51§1) :
– Huấn luyện đời sống nhân bản : nền tảng (fondement) của việc đào tạo linh mục (x. PDV
43§1)
– Huấn luyện đời sống tâm linh : linh hồn của việc đào tạo linh mục, với “đức ái mục tử” là
nguyên lý nội tại (x. PDV 23§1).
– Huấn luyện đời sống tri thức : phương tiện của việc đào tạo linh mục, giúp linh mục hiểu
biết về Thiên Chúa và về con người nhằm chu toàn sứ vụ “loan báo Tin Mừng cho con người
hôm nay (x. PDV 51§2; 52§3)
– Huấn luyện đời sống mục vụ : chủ đích mục vụ (finalité pastorale) giúp thống nhất và đem
lại nét đặc trưng (unifier et spécifier) cho việc đào tạo linh mục (x. PDV 57§2)
Trong sắc lệnh Đào Tạo Linh Mục, công đồng cũng đã khẳng định thật rõ về “chủ đích mục vụ”
trong việc đào tạo linh mục :
“Các Đại Chủng Viện cần thiết để đào tạo các linh mục. Việc giáo dục toàn diện chủng sinh
phải nhằm huấn luyện cho họ thực sự trở thành những chăn dắt các linh hồn…
Vì thế, mọi phương thức huấn luyện tu đức, học vấn, kỷ luật phải cùng quy hướng về mục
đích mục vụ (la fin pastorale) này…” (OT 4)
3) Đức Ái mục tử, “nguyên lý nội tại” của đời sống tâm linh của linh mục (x. PDV 23§1)
a. Khi nói về căn tính linh mục, Tông huấn PDV đã đưa ra một xác quyết rõ ràng rằng, nhờ
Chúa Thánh Thần, người linh mục được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô và được tham dự vào chức linh
mục của Chúa Kitô, Mục Tử Nhân Lành. Và chính tình yêu của Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành dành cho
đoàn chiên (đức ái mục tử của Chúa Kitô) đã trở thành gương mẫu, sức mạnh và sự nâng đỡ cho đời sống và
sứ vụ của người linh mục :
“Nhờ việc xức dầu trong bí tích Truyền Chức Thánh, Chúa Thánh Thần làm cho họ nên đồng
hình dạng, bằng một tước hiệu mới và loại biệt, với Đức Giêsu Kitô là Đầu và Mục Tử , Chúa Thánh
thần làm cho họ nên thích ứng tự bên trong và thôi thúc họ bằng đức ái mục tử của Ngài” (x. PDV
15§5).
Chính đức ái mục tử là nguyên lý nội tại của đời sống tâm linh của người linh mục, vì thế điểm căn
bản trong việc huấn luyện đời sống tâm linh chính là làm sao có được những tâm tình, thái độ của Chúa Kitô
Mục Tử:
“Nguyên lý nội tại, nhân đức thôi thúc và hướng dẫn đời sống thiêng liêng của linh mục, xét
như đã nên đồng hình dạng với Đức Kitô là Đầu và Mục Tử, chính là đức ái mục tử, thông phần vào
đức ái mục tử của Đức Kitô Giêsu: đó là ơn nhưng không của Chúa Thánh Thần và, đồng thời về phía
linh mục, là sự dấn thân và lời mời gọi để đáp trả tự do và có trách nhiệm” (PDV 23§1).
b. Đào tạo “tâm hồn tông đồ”:
Nhìn vào Lịch sử truyền giáo, người ta khám phá thấy hai cuộc chuyển mình trong việc
đào tạo tông đồ, đặc biệt sau Công Đồng Vatican II:
– Từ “kỹ thuật tông đồ” sang chính “con người tông đồ” : kỹ thuật, phương tiện tông đồ
(như sách báo, nâng đỡ đời sống vật chất..) chưa phải là thiết yếu, cần có sự hiện diện cụ thể của những
người tông đồ để loan báo Tin Mừng.
– Từ chính “con người tông đồ” (với tài năng, đức tính…) sang “tâm hồn tông đồ” : huy
động và qui tụ nhiều người làm công tác tông đồ cũng chưa phải là điều chính yếu, điều chính yếu chính là
đào tạo “tâm hồn tông đồ” (qua sự gắn bó với Chúa Kitô, vị ‘Tông Đồ” mà Chúa Cha đã sai đến để loan báo
Tin Mừng) để có được những thao thức, những tâm tình của Chúa Kitô.
Hình ảnh một nhóm nhỏ các tông đồ với những khả năng rất giới hạn, hoặc hình ảnh những thừa sai
rất giới hạn về mọi mặt (ngôn ngữ, khả năng…), nhưng tràn đầy “lòng nhiệt thành tồng đồ” là những minh
chứng sống động về sự quan trọng và cần thiết phải có “tâm hồn tông đồ”.
Tóm lại, đào tạo đời sống tâm linh, đào tạo tâm hồn tông đồ, đào tạo để có được những tâm tình,
thái độ như Chúa Kitô, Mục Tử Nhân Lành (“yêu mến chiên, biết chiên, bảo vệ chiên, chăm sóc chiên, hy
sinh vì chiên) là điểm quan trọng nhất trong việc đào tạo người linh mục, đào tạo người tông đồ, đào tạo
người loan báo Tin Mừng.
Hình ảnh của người linh mục Á Châu hôm nay
- Ngoài những định hướng nền tảng cũng những những hướng dẫn cụ thể của Giáo Hội về chức vụ và
đời sống linh mục, riêng tại Á Châu, Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) cũng có những hướng dẫn
cụ thể cho việc đào tạo linh mục.
Từ những cuộc hội thảo nhóm của Đại Đại Hội Lần VII – Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu
(FABC) – họp tại Thái Lan 3-12/1/2000, các Giám Mục Á Châu đã đề nghị một hình ảnh sống động của
người Linh mục Á Châu hôm nay với 4 đặc tính 4 :
Linh mục, con người trưởng thành (a man of maturity)
Linh mục, con người của sự thiêng thánh
(a man of the sacred)
Linh mục, con người của đối thoại (a man of dialogue)
Linh mục, con người khiêm tốn phục vụ
(a man of humble service)
a. Chính đặc tính thứ hai (Linh mục, con người của sự thiêng thánh) là trọng tâm, là linh hồn
của những đặc tính khác. Linh mục được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, được nên giống Chúa
Kitô, có được những tâm tình, thái độ của Chúa Kitô… Chính đây là sự thánh thiện của người linh mục.
Người linh mục đang họa lại nơi cuộc đời của mình hình ảnh của vị Mục tử Nhân lành Giêsu Kitô. Càng gắn
bó với Chúa Kitô, đặc biệt qua đời sống cầu nguyện, càng giống Chúa Kitô qua việc sống Lời Chúa, người
chủng sinh linh mục càng thuộc về Chúa Kitô, càng tham dự vào sự thánh thiện của Chúa Kitô, càng trở nên
con người của sự thiêng thánh.
Thật vậy, người dân Á Châu rất nhạy cảm với sự thiêng thánh được bộc lộ trong cuộc sống của
người chủng sinh, linh mục. Họ mong muốn tìm thấy nơi người chủng sinh, linh mục cách sống, cách ăn
mặc, nói năng, tác phong… không đượm nét “trần tục”, nhưng tỏa ra một nét gì đó là “siêu thoát”, là “thiêng
thánh”, là “chân thành, nhân từ, yêu thương…”
b. Giờ đây, xin trở lại đặc tính thứ nhất “Linh mục, con người trưởng thành” : trưởng thành trong
lý trí (phán đoán theo tinh thần Phúc âm) và trưởng thành trong ý chí, tình cảm (độc thân linh mục).
Tinh thần phúc âm ngược hẳn với tinh thần thế tục. Tinh thần thế tục hôm nay thường dựa trên
hai tiêu chuẩn cơ bản : hiệu năng (efficacité) và hưởng thụ vật chất ích kỷ (jouissance matérielle et
égoiste). Con người hôm nay sẽ chọn lựa, sẽ phán đoán dựa trên 2 tiêu chuẩn này :
– Cái gì đạt được hiệu năng, kết quả cao là có thể làm dù đó lừa dối, gian lận….
– Hoặc tôi chỉ chọn cái gì qua đó tôi có thể đạt được một sự hưởng thụ; từ đó những gì phải “hy
sinh, từ bỏ…” sẽ không có trong những tiêu chuẩn chọn lựa của tôi.
Và tinh thần phúc âm chỉ có được nhờ đọc, suy gẫm và sống Lời Chúa. Như thế đọc, suy gẫm và
sống Lời Chúa sẽ là phương thế vô cùng quan trọng trong việc huấn luyện đời sống tâm linh của người linh
mục
c. Tiếp theo đó, Linh mục là con người của đối thoại. “Vào thời sau hết, Thiên Chúa đã nói với
chúng ta qua người con” (Dt 1,1). Linh mục được sai đến với những con người trong hoàn cảnh cụ thể hôm
nay. Họ phải có khả năng đối thoại với hết mọi người (trẻ em, thanh niên, cụ già, người không công giáo…),
có khả năng trao đổi với họ, có thể dùng ngôn ngữ của họ để loan báo Chúa Kitô cho họ.
Sự đối thoại chân thành và thực sự rất phức tạp, khó khăn này… sẽ được hướng dẫn và nâng đỡ
nhờ cuộc đối thoại hằng ngày giữa người linh mục và Thiên Chúa trong cầu nguyện.
d. Cuối cùng, Linh mục là con người khiêm tốn phục vụ. Như Đức Kitô đến để phục vụ, sự khiêm
tốn phục vụ của người linh mục sẽ trở thành một lời loan báo Tin Mừng yêu thương của Thiên Chúa một
cách sống động nhất, hiệu quả nhất, đặc biệt trong bối cảnh nghèo của Á Châu.
Tóm lại, có thể nói 4 đặc tính trên là những biểu lộ sống động của một đời sống tâm linh vững
chắc. Một đời sống tâm linh gắn bó với Chúa Kitô, nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, có được những
tâm tình, thái độ của Chúa Kitô, vị Mục Tử Nhân Lành được sai đến để săn sóc, loan báo cho đoàn chiên về
Nước Thiên Chúa và dẫn đoàn chiên vào đồng cỏ “Nước Thiên Chúa”.
- Trên đây là một đôi điều giới thiệu và gợi ý nhằm giúp các chủng sinh đọc và sử dụng những
Văn kiện của Giáo Hội về Linh mục, đặc biệt trong việc tìm hiểu, học tập và tập luyện để trở thành những
linh mục “như lòng Chúa mong ước” dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội. - Cuối cùng, trong những giới hạn hiện nay và với mục đích muốn giúp các chủng sinh tại Đại
Chủng Viện Thánh Giuse có tài liệu để tìm hiểu, học tập những Văn kiện của Giáo Hội về Linh mục, chúng
tôi xin phép được sử dụng, trong nội bộ, những bản dịch đang có và được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam :
bản dịch Các Văn Kiện Công Đồng Vatican II của Giáo Hoàng Học Viện Piô X, năm 1972; những bản dịch
được phổ biến rộng rãi trên Internet của Vietcatholic…
Đại Chủng Viện Thánh Giuse, ngày 20 tháng 5 năm 2003
Lm. Giuse Đỗ Mạnh Hùng
CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II
KHÓA IX
Ngày 07 tháng 12 năm 1965
SẮC LỆNH VỀ CHỨC VỤ
VÀ ĐỜI SỐNG CÁC LINH MỤC
PRESBYTERORUM ORDINIS
LỜI GIỚI THIỆU
VIỆC SOẠN THẢO:
Sắc lệnh về Chức Linh Mục và đời sống Linh Mục được công bố ngày 7-12-1965, áp ngày bế mạc
Công Động Vaticanô II, đã được hầu hết các nghị phụ đồng thanh chấp nhận, vì trong số 2394 phiếu chỉ có
4 phiếu trắng. Bản văn hiện tại là kết quả của công việc khó khăn lâu dài đã khởi sự trước khi Công Đồng
khai mạc. Ủy Ban soạn thảo được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII chỉ định đã soạn thảo tất cả 17 lược đồ về
các vấn đề khác nhau liên quan đến các Linh Mục. Một Ủy Ban mới gồm những nhà chuyên môn do Công
Đồng chỉ định đã cố gắng thu tóm những lược đồ đó thành lược đồ duy nhất bà về hàng giáo sĩ. Đến tháng
12 năm 1963, người ta còn đòi hỏi thay đổi lược đồ đó thành một só những đề nghị chính xác và rõ ràng về
các Linh Mục. Nhưng tới tháng 10-1964, những vấn đề này đã bị bác bỏ trong một buổi họp vì còn nhiều
thiếu sót. Các Nghị phụ đòi hỏi một bản văn sâu rộng hơn, thích hợp với chiều hướng mới được khai mở
trong hiến chế tín lý về Giáo Hội để đáp ứng đúng những khát vọng của đa số các Linh Mục đang quan tâm
đến việc rao truyền Phúc Âm trong xã hội tân thời.
Uỷ Ban soạn thảo lại tra tay vào và trình lên các Nghị Phụ một dự thảo mới vào cuối kỳ họp của
Công Đồng. Nhờ những nhận xét của các nghị phụ trong khi thảo luận, văn bản được thay đổi khá nhiều.
Rồi tới kỳ họp IV của Công Đồng, văn bản lại được đem ra thảo luận từng đoạn, từng câu và được sửa đổi
theo các đề nghị của các nghị phụ để đi đến hình thức dứt khoát. Như thế, bản văn đã được sửa lại lần thứ 3
và cũng là lần cuối cùng.
a) Vài hàng lược sử này giúp hiểu rõ tầm quan trọng của Sắc lệnh về Chức Vụ và đời sống Linh
Mục. Trong hiến chế tín lý về Giáo Hội cũng như trong các Sắc lệnh về Nhiệm vụ của các Giám Mục, về
việc đào tạo Linh Mục và cả trong Hiến Chế về Phụng Vụ thánh cũng đã bàn đến chức Linh Mục. Nhưng
bằng một Sắc lệnh đặc biệt, Công Đồng muốn phác họa rõ ràng chân dung của Linh Mục, người phải đem
áp dụng những quyết định của Công Đồng không những theo sát từng chữ mà còn phải theo đúng tinh thần
Công Đồng nữa. Trách nhiệm của Linh Mục thật rất khó khăn : các ngài đóng : “ vai trò chính yếu trong
việc canh tân Giáo Hội Chúa Kitô”. Nhưng vai trò này càng ngày càng trở nên khó khăn… “giữa những
hoàn cảnh mục vụ và tình trạng nhân loại luôn chịu những biến đổi sâu xa” (lời mở đầu).
LINH MỤC TRONG SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI
b) Trong chương mở đầu ngắn gọn nhưng rất xúc tích, các Nghị Phụ Công Đồng đã muốn trình
bày bản chất của hàng Linh Mục cũng như thân phận của các ngài trong thế giới. Chương giáo thuyết này
được đặt ngay đầu Sắc Lệnh có mục đích soi sáng những quảng diễn tiếp theo về Chức Vụ và Đời Sống Linh
Mục.
c) Danh từ “hàng Linh Mục” được chọn với mục đích để chỉ định toàn thể hàng ngũ Linh Mục;
Chúa Giêsu đã trao cho toàn thể Dân Chúa tham dự vào chức Linh Mục của Người, nhưng Người còn
muốn thiết lập những “thừa tác viên” của Người, những người này nhờ Bí tích Truyền Chức được quyền
dâng thánh lễ, quyền tha tội và thực hành chức Linh Mục nhân danh Chúa Kitô.
d) Danh từ “sứ mệnh” chỉ sứ mệnh mà các Tông Đồ và các vị thừa kế các ngài là các Giám
Mục đã lãnh nhận từ Chúa Kitô. Hàng linh mục dĩ nhiên lệ thuộc hàng Giám Mục. Nhưng qua bí tích
Truyền Chức, các Linh Mục trở thành cộng sự viên của các Giám Mục trong việc rao truyền Phúc Âm.
e) Trong khi Công Đồng thảo luận, các Nghị Phụ đã tự hỏi nhiệm vụ chính của Linh Mục giữa
hai nhiệm vụ phụng tự và rao truyền Phúc Âm là gì? Câu trả lời được đúc kết theo các ý kiến đã được đưa
vào bản văn của Công Đồng như ta thấy hiện nay là nhiệm vụ rao truyền Phúc Âm và nhiệm vụ phụng tự
liên hệ thiết yếu với nhau, vì tất cả năng lực của việc rao truyền Phúc Âm phát xuất từ lễ Hy Sinh của Chúa
Kitô và nhiệm vụ này, theo Thánh Augustinô, nhằm đạt tới mục đích là làm cho “xã hội và toàn thể cộng
đoàn các Thánh được tiến dâng lên Thiên Chúa lễ Hy tế phổ quát…”
f) Để chu toàn sứ mẹnh của Giáo Hội, các Linh Mục không thể sống tách biệt khỏi quần chúng
mà các ngài rao truyền Phúc Âm. Các ngài cũng không thể sống như người xa lạ với những điều kiện sống
của quản đại quần chúng. Như các ngài sống giữa nhân loại theo gương sống Chúa Giêsu. Và chính khi
theo gương sống của Chúa Giêsu. Các ngài không thể rập theo nếp sống thế tục. Được đặt trách rao truyền
Phúc Âm, các ngài phải làm cho mọi người nghe được tiếng nói của chính Chúa Kitô. Chương này kết thúc
bằng lời nhắn nhủ các Linh Mục phải thực hành những đức tính nhân loại cần thiết cho các ngài để việc
giao tế của các ngài với người khác trở nên dễ dàng và sinh ích.
THỪA TÁC VỤ LINH MỤC
Chương nói về thứa tác vụ của Linh Mục được chia là ba đoạn, lần lượt bàn về những chức vụ của
Linh Mục, về những tương quan giữa các Linh Mục và Giám Mục, giữa các Linh Mục với giáo dân, và sau
hết về việc phân phối các Linh Mục và về ơn thiên triệu Linh Mục.
g) a. Cũng như với các Giám Mục, đối với Linh Mục nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là nhiệm vụ trao
truyền lời Chúa. Thực vậy, chính lời Chúa qui tụ dân Chúa quanh bàn thờ. Cũng chinh là nhờ lời giảng dạy
mà các Linh Mục thực hiện nhiệm vụ truyền giáo chính yếu của các ngài. Đàng khác, cộng đồng trù liệu
phương thể để thực hiện việc giao truyền lời Chúa theo những hoàn cảnh cụ thề của những người mà các
Linh Mục phải đem lời Chúa đến cho họ. Khi việc rao truyền lời Chúa chưa thể thực hiện được, thì chính
đời sống gương mẫu và gương sáng các ngài giữa lương dân đã là một cách thế rao truyền lời Chúa.
Xét theo giá trị, dâng thánh lễ cũng là nhiệm vụ chính yếu của các Linh Mục (x.số 13) mà các bí tích
khác, các giáo vụ khác và các hoạt động tông đồ đều quy hướng về. Đó là nguồn sống và là tổn đỉnh của
việc giao truyền Phúc Am.
Xét theo hoạt động các Linh Mục được tham dự vào điều hành phụng vụ của Giám Mục, và theo phạm
vi quyền hạn của các ngài mà phục vụ Chúa Kitô, Đầu nhiệm thể và là Đấng chủ chăn chính vì sự tăng
trưởng thiêng liêng của Nhiệm Thể ma các Ngài hiến dâng toàn lực.
b. Đoạn 2 cũng có phần quan trọng đặc biệt: đoạn này chứng tỏ rằng sứ mệnh của Giáo Hội trong thế
giới ngày nay không thể thành tựu nếu thiếu sự đoàn kết chặt chẽ giữa các Linh Mục trong một giáo phận
với vị Giám Mục của các ngài, giữa hàng Linh Mục với nhau cũng như giữa các giáo dân với các Linh Mục
và Giám Mục. Công đồng dùng số nhiều khi nói về Linh Mục, diều đó chứng tỏ không một Linh Mục nào có
thể hoàn thành sứ mệnh của mình cách riêng rẽ, đơn độc.
c. Đoạn 3 nói về hai vấn đề thực tế: trước hết về vấn đề phân phối các Linh Mục. Các Linh Mục được
truyền chức để phục vụ Giáo Hội phổ quát, nên không thể bị ràng buộc quá chặt chẽ vào giáo phận của các
ngài đến nỗi không được thuyên chuyển đến địa phương khác. Việc tông đồ cần được thể hiện mọi nơi ngay
cả những miền thiếu Linh Mục : việc phân phối các Linh Mục vì thế phải tùy theo nhu cầu đòi hỏi. Sau đó
sắc lệnh nói về trách nhiệm của các Linh Mục trong việc cộng tác về đào tạo ơn thiên triệu nơi giới trẻ.
ĐỜI SỐNG CÁC LINH MỤC
Chương nói về đời sống Linh Mục cũng được chia làm 3 đoạn :
a. Đoạn đầu quan trọng hơn cả vì đoạn này nói về ơn gọi đến sự hoàn thiện của Linh Mục. Cũng được
tất cả các tín hữu, các Linh Mục được gọi đến bậc sống trọn lành thiêng liêng. Nhưng sự thánh của Linh
Mục còn là một đòi hỏi phát sinh từ bí tích truyền chức. Qua bí tích truyền chức, các ngài được liên kết chặt
chẽ với Đức Kitô đầu Nhiệm Thể để kiến tạo và xây dựng toàn thân. Để làm nổi bật đời sống tu đức riêng
của Linh Mục, sắc lệnh dạy riêng sự thánh thiện của các Linh Mục liên hệ thiết yếu với chức vụ của các
ngài. Để chức vụ đó thực sự là nguồn mạch đời sống thánh thiện, cần thỏa đáng các điều kiện: các ngài
phải tỏ ra “dễ dạy” với ơn thánh, biết lắng nghe theo tinh thần của Chúa Kitô, Đấng đã hiến mạng sống
mình cho các ngài và còn tiếp tục dìu dắt các ngài. Một khi nhiệt thành với tinh thần bác ái mục vụ, các
ngài sẽ ứng dụng trong chính đời sống của các ngài lời Chúa mà các ngài rao chuyền, các ngài cũng tự
hiến thân cho Chúa cùng với thánh lễ các ngài dâng rồi hiến thân cho những người các ngài coi sóc như
những đấng chăn chiên thật.
Đời sống Linh Mục vì thế trở nên duy nhất và hòa hợp vì chức vụ của các ngài giúp sống nội tâm lại
soi dẫn hoạt động tông đồ. Các ngài được mời gọi noi gương Chúa Giêsu, Đấng coi “của ăn của Người làm
theo thánh ý Đấng đã sai Người và hoàn thành công việc của Ngài”.
b. Đoạn 2 trình bày những nhân đức chính là không thể khiếm khuyết nơi các Linh Mục như đức
khiêm nhường, vâng lời, bác ái, giữ luận độc thân, khó nghèo trong tinh thần giữa những của cái vật chất và
nhất là tự chọn đời sống khó nghèo thật.
c. Đoạn 3 đề xướng những phương thế thánh hóa Linh Mục, cần thiết để củng cố và phát triển đời
sống nội tâm. Đoạn dạy cho các Linh Mục thấy sự cần thiết và duy trì và phát huy khóa thần học, đặc biệt
là khoa mục vụ. Sau hết nêu lên vài phương thế thực tiễn để nâng đỡ nhu cầu vật chất của các Linh Mục.
Đoạn kết của sắc lệnh
Đoạn kết của sắc lệnh là một cái nhìn hiện thực về những điều kiện hiện tại chi phối chức vụ các Linh
Mục và về những điều kiện sống của các ngài mà đôi khi rất khó khăn. Thế giới các ngài đang sống phô
diễn trước mắt các ngài “bao tội lỗi nặng nề, nhưng đồng thời cũng hứa hẹn nhiều khả năng phong phú”.
F. Lacretelle S.J.
PHAO LÔ GIÁM MỤC.
TÔI TỚ CÁC TÔI TỚ THIÊN CHÚA
HIỆP NHẤT VỚI CÁC NGHỊ PHỤ CỦA THÁNH CỘNG ĐỒNG
ĐỂ MUÔN ĐỜI GHI NHỚ.
SẮC LỆNH
VỀ CHỨC VỤ VÀ ĐỜI SỐNG
CÁC LINH MỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Chức Linh Mục trong Giáo Hội hết sức cao trọng, đó là điều Thánh Công Đồng này đã nhiều lần nhắc nhở
cho hết mọi người. Vả lại, trong công cuộc canh tân Giáo Hội, hàng Linh Mục giữ một vai trò tối quan
trọng và hơn nữa càng ngày càng khó khăn, nên thấy rằng đề cập rộng rãi và sâu sắc hơn về các Linh Mục
là việc rất hữu ích. Những điều nói đây áp dụng cho hết mọi Linh Mục, nhất là cho những vị hiện đang coi
sóc các linh hồn, và tùy nghi ứng hợp cho các Linh Mục dòng. Thực vậy, do Chức Thánh và sứ mệnh lãnh
nhận nơi các vị Giám Mục, các Linh Mục được đặc cử để phụng sự Chúa Kitô, là Thầy, là Linh Mục và là
Vua; các ngài tham dự vào chức vụ của Người: ngày ngày kiến tạo Giáo Hội ở trần gian thành Dân Chúa,
Thân Thể Chúa Kitô và đền thờ Chúa Thánh Thần.Vì vậy, để nâng đỡ các ngài một cách hữu hiệu hơn trong
chức vụ của mình và để chuẩn bị cho đời sống các ngài thêm tốt đẹp giữa các hoàn cảnh mục vụ và tình
trạng nhân loại luôn chịu những biến đổi sâu xa, Thánh Công Đồng này tuyên bố và quyết định những điều
sau đây.
CHƯƠNG I
LINH MỤC TRONG SỨ MỆNH CỦA GIÁO HỘI
2. Chúa Giêsu “Đấng đã được Chúa Cha thánh hóa và sai xuống trần gian”(Ga 10,36) và đã được Chúa
Thánh Thần xức dầu. Người đã làm cho tất cả nhiệm thể của Người được thông phần vào sự xức dầu đó:vì
trong người, mọi tín hữu hóa thành một chức tư tế thánh thiện và vương giả để nhờ Chúa Kitô họ hiến dâng
lên Thiên Chúa những lễ tế thiêng liêng, và tuyên xưng quyền năng của Đấng đã gọi họ từ chốn tối tăm đến
ánh sáng diệu kỳ. Do đó, không một chi thể nào mà không thông phần vào xứ mệnh của toàn thân, trái lại
mỗi một chi thể đều phải tôn vinh Chúa Giêsu trong tâm hồn và phải dựa vào tinh thần tiên tri mà làm
chứng về Người.
Tuy nhiên, để hợp thành một thân thể duy nhất, trong đó “mỗi chi thể có nhiệm riêng” (Rm 12,4),
chính Chúa đã cắt đặt giữa các tín hữu một số thừa tác viên, nhờ chức thánh họ được trao quyền tế lễ và tha
tội trong cộng đoàn tín hữu, nhân danh Chúa Kitô họ chính thức thi hành chức vụ Linh Mục cho loài
người. Bởi vậy, Chúa Kitô đãi sai các Tông Đồ như chính Người được Chúa Cha sai và rồi qua các Tông
Đồ, Người đã làm cho các Đấng kế vị là các Giám Mục cũng được tham dự việc thánh hiến và sứ mệnh
của Người, Người lại trao ban cho các Linh Mục chức vụ thực hành này ở một mức độ tùy thuộc, để một
khi đã gia nhập hàng Linh Mục, họ là những cộng tác viên của hàng Giám Mục, chu toàn một cách tốt đẹp
sứ vụ tông đồ của Chúa Kitô trao phó.
Chức vụ Linh Mục liên kết với Giám Mục, nên cũng được tham dự vào quyền bính mà chính Chúa
Kitô đã dùng để kiến tạo, thánh hóa và cai quản Thân Thể Người. Vì vậy chức Linh Mục của các ngài tuy
dựa trên những bí tích khai sinh đời sống Ki Tô giáo, nhưng lại được một bí tích riêng in dầu đặc biệt khi
các Ngài được Chúa Thánh Thần xức dầu : như thế các ngài giống Chúa Kitô Linh Mục, đến nỗi có quyền
thay mặt Chúa Kitô là Đầu mà hành động.
Vì được tham dự chức vụ của các tông đồ theo phận vụ mình, nên các Linh Mục được Thiên Chúa ban
ơn sủng để làm thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô giữa muôn dân, và thi hành chức vụ thánh rao giảng Phúc
Âm hầu việc dâng hiến muôn dân làm của lễ được chấp nhận và thánh hóa trong Chúa Thánh Thần. Thật
vậy, việc loan truyền Phúc Âm của các Tông Đồ đã triệu tập và đoàn tụ Dân Chúa, để tất cả những ai thuộc
về dân này một khi đã được Chúa Thánh Thần thánh hoá, sẽ tự hiến làm (lễ vật sống động, thánh thiện đẹp
lòng Thiên Chúa) (Rm 12, 1). Nhưng nhờ thừa tác vụ của các Linh Mục, lễ tế thiêng liêng của các tín hữu
được hoàn tất vì kết hợp với hy tế của Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất; hy tế này nhờ tay các Linh
Mục, nhân danh Giáo Hội, hiến dâng một cách bí tích và không đổ máu trong phép Thánh Thể, cho tới khi
Chúa lại đến. Chính việc tế lễ là điểm nhằm tới và hoàn tất của chức vụ Linh Mục. Thực vậy, việc thi hành
chúc vụ của các ngài bắt đầu bằng việc rao giảng Phúc Âm, múc lấy sức mạnh và năng lực từ Hy Tế Chúa
Kitô, và quy hướng về việc hiến dâng Thiên Chúa toàn thể đô thị được cứu rỗi, đó là cộng đoàn và xã hội
các thánh như một lễ vật của toàn dân, nhờ vị Linh MụcThượng Phẩm, cũng là Đấng tự hiến trong cuộc tử
nạn vì chúng ta, để chúng ta trở nên Thân Thể của Người là đầu vô cùng của cao cả.
Bởi vậy, mục đích mà các Linh Mục theo đuổi trong chức vụ và đời sống các ngài là phải tìm kiếm
vinh danh Thiên Chúa Cha trong Chúa Kitô. Vinh danh này hệ tại việc mọi người đón nhận công trình của
Thiên Chúa đã được hoàn tất trong Chúa Kitô một cách ý thúc tự do và biết ơn, lại biểu lộ công trình đó
trong suốt cuộc đời mình. Vì thế, khi cầu nguyện và tôn thờ cũng như khi giảng thuyết, khi dâng Hy Tế
Thánh Thể và làm các Bí Tích cũng như khi thi hành những thừa tác vụ khác giúp người ta, các Linh Mục
đều qui hướng về việc làm vinh danh Thiên Chúa, đồng thời giúp con người tiến tới trong đời sống thiêng
liêng. Tất cả những đều đó bắt nguồn từ mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô và sẽ được hoàn tất khi chính
Người lại đến trong vinh quang, và khi đó Người sẽ trao Vương Quyền cho Thiên Chúa là Cha.
3. Được tuyển chọn từ loài người và được đặt cho loài người để lo việcThiên Chúa hầu dâng những hiến vât
và hy tế đền tội, các Linh Mục sống với người khác như với anh em. Thực vậy, chính Chúa Giêsu, con
Thiên Chúa, là Người được Chúa Cha sai đến với loài người, đã ở giữa chúng ta và muốn nên giống chúng
ta là anh em Người trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Các Thánh Tông Đồ đã bắt chước Người, và Thánh
Phaolô vị Tiến Sĩ dân ngoại “Đấng được lựa chọn để rao giảng Phúc Am của Thiên Chúa” (Rm 1, 1), chứng
thực rằng Người đã trở nên mọi sự cho mọi người để cứu chuộc mọi người. Các Linh Mục Tân Ước, do ơn
gọi và chức thánh, một cách nào đó được tuyển chọn ngay giữa Dân Chúa, nhưng không phải để tách biệt
khỏi họ được bất cứ người nào, mà để tận hiến làm công việc Chúa đã chọn họ làm. Các ngài không thể
làm thừa tác viên của Chúa Kitô nếu không là chứng nhân và là người ban phát một đời sống khác đời sống
thế tục; tuy nhiên các ngài không thể phục vụ nhân loại nếu lại sống xa cuộc sống và những hoàn cảnh của
nhân loại. Chính thừa tác vụ của các Ngài, vì mang một danh nghĩa đặc biệt, nên đòi buộc các ngài không
được theo thói thế gian; nhưng đồng thời lại đòi hỏi các ngài sống trong thế gian giữa loài người. Hơn nữa,
như các mục tử nhân lành, các ngài phải biết các chiên của mình và còn tìm cách dẫn về những chiên không
thuộc đàn này, để chúng cũng nghe tiếng Chúa Kitô, hầu nên một đoàn chiên cùng một Người chăn. Để
được thế, cần phải có nhiều đức tính mà xã hội loài người kính chuộng cách chính đáng, như từ tâm, thành
thật dũng cảm, kiên nhẫn, say mê công chính, lịch thiệp và những đức tính khác mà Thánh Phaolô Tông Đồ
khuyên nhủ khi Ngài nói : “Tất cả những gì chân thật, là trong sạch, là công bằng thánh thiện, là khả ái, danh
thơm tiếng tốt, tất cả những gì là nhân đức, là hạnh kiểm đáng khen, thì anh em hãy tưởng nghĩ đến” (Ph 4,
8).
CHƯƠNG II
THỪA TÁC VỤ CỦA LINH MỤC
I. CHỨC VỤ CỦA LINH MỤC
4. Dân chúa được đoàn tụ trước hết là nhờ Thiên Chúa hằng sống: lời này phải được đặc biệt tìm thấy nơi
miệng lưỡi của Linh Mục. Thực Vậy không ai có thể được cứu rỗi nếu trước đó không có lòng tin do đó
các Linh Mục, vì là cộng sự viên của các Giám Mục, nên trước tiên các nhiệm vụ loan báo cho mọi người
Phúc Âm của Thiên Chúa, để khi thi hành mệnh lệnh của Chúa : “ Các con hãy đi khắp thế giới rao giảng
Phúc Âm cho mọi tạo vật” (Mc 16, 15), các ngài thiết lập Dân Chúa và làm cho Dân Chúa càng ngày càng
đông thêm. Thật thế, chính lời cứu rỗi khởi động đức tin trong tâm hồn những người chưa tin và nuôi dưỡng
đức tin trong tâm hồn các tín hữu; chính đức tin này đã khai sinh và phát triển cộng đoàn tín hữu, như lời
Thánh Tông Đồ : “đức tin do nghe nói, còn điều nghe nói thì bởi lời nói Chúa Kitô (Rm 10,17). Do đó, các
Linh Mục mắc nợ với mọi người về việc thông truyền cho họ chân lý Phúc Âm mà các ngài đã nhận được
nơi Chúa.Vì thế, dù khi các ngài sống một đời sống tốt lành giữa các dân ngoại để làm cho họ tôn vinh
Thiên Chúa, dù khi các ngài công khai giảng thuyết để loan truyền mầu nhiệm Chúa Kitô cho những người
chưa tin, dù khi dạy giáo lý Kitô giáo hay giải thích giáo thuyết của Giáo Hội, dù khi chăm lo nghiên cứu
hững vấn đề thời đại dưới ánh sáng Chúa Kitô: trong mọi trường hợp, phân sự của các ngài không phải là
giảng dạy sự thông biết của mình, nhưng là giảng dạy lời Chúa và phải khẩn thiết mời gọi mọi người cải
thiện và nên thánh. Nhưng trong tình trạng thế gian ngày nay, lời giải thích của Linh Mục thường gặp rất
nhiều khó khăn. Do đó để dễ lay chuyển tâm hồn thính giả, giảng thuyết không phải trình bày lời Chúa tổng
quát và trừu tượng, nhưng phải áp dụng chân lý ngàn đời của Phúc Âm vào các hoàn cảnh cụ thể của đời
sống.
Như thế, có nhiều cách thi hành chức vụ rao giảng tuỳ theo nhu cầu mỗi lúc mỗi khác của các thính
giả và tùy theo đặc sủng của các vị giảng thuyết. Nơi những miền hay những nhóm người chưa Kitô giáo,
chính nhờ nghe rao giảng Phúc Âm mà người ta đi tới đức tin và đón nhận những bí tích ban ơn cứu rỗi.
Còn trong chính cộng đoàn Ki-tô giáo, nhất là đối với những người ít hiểu và ít tin những điều họ quen thực
hành, cần phải rao giảng Lời Chúa để dẫn họ đến chịu các Bí Tích, vì đây là những Bí Tích đức tin, mà đức
tin lại được phát sinh và nuôi dưỡng bằng lời giảng dạy điều này đặc biệt thể hiện trong phần phụng vụ lời
Chúa khi cử hành Thánh Lễ, trong đó việc loan truyền Lời Chúa chịu chết và sống lại liên kết chặt chẽ với
câu đáp của dân chúng đang nghe và với chính việc hiến dâng mà Chúa Kitô đã dùng để củng cố Tân Ước
trong Máu Người, cũng như các tín hữu thông công vào việc hiến dâng đó bằng việc cầu nguyện và bằng
việc lãnh nhận bí tích Thánh Thể.
5. Thiên Chúa là Đấng thánh thiện và là Đấng Thánh Hóa duy nhất đã muốn nhân loài người làm cộng sự
viên và trợ tá để họ khiêm tốn giúp vào công việc thánh hóa. Vậy qua tay Đức Giám Mục, các Linh Mục
được Thiên Chúa hiến thánh, để khi tham dự đặc biệt vào chức Linh Mục của Chúa Kitô, thì trong lúc cử
hành các việc thánh, các ngài hành động như các thừa tác viên của Người, Đấng không ngừng thi hành chức
vụ Linh Mục trong phụng vụ nhờ Thánh Thần Người, để mưu ích cho chúng ta. Thực vậy, nhờ Phép Rửa,
các ngài dẫn đưa người ta vào Dân Chúa, nhờ Bí Tích Cáo Giải, các ngài hòa giải tội nhân với Thiên Chúa
và Giáo Hội; nhờ dầu bệnh nhân, các ngài xoa dịu người đau ốm; nhất là việc cử hành Thánh Lễ, các ngài
hiến dâng Hy Tế của Chúa Kitô cách Bí Tích. Như thánh Ignatiô tử đạo đã minh chứng ngay từ thời Giáo
Hội sơ khai, trong khi thi hành các Bí Tích, các Linh Mục liên kết trong phẩm trật thánh với vị Giám Mục
vì những lý do khác nhau; và như thế các ngài nói lên được phần nào sự có mặt của Giám Mục trong mỗi
cộng đoàn tín hữu.
Tuy nhiên, cả những Bí Tích cũng như các thừa tác vụ trong Giáo Hội và các hoạt động tông đồ đều
gắn liền với Bí Tích Thánh Thể và qui hướng về đó. Thật vậy, Phép Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng của
cải thiêng liêng của Giáo Hội, đó là chính Chúa Kitô; Người là mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta; Người
là Bánh Hằng Sống, ban sự sống cho nhân loại bằng chính thịt của Người, Thịt đã được sống động nhờ
Thánh Thần và làm cho người ta được sống. Như thế, Người mời gọi và dẫn đưa con người hiến dâng chính
mình, dâng những vất vả của mình và mọi tạo vật làm một với Người. Bởi vậy, phép Thánh Thể là nguồn
mạch và tuyệt đỉnh của toàn thể công việc rao giảng Phúc Âm; vì các người dự tòng được dẫn đưa dần dần
đến việc tham dự Phép Thánh Thể; còn các tín hữu, những người đã mang ấn tích Rửa Tội và Thêm Sức, sẽ
được kết hợp trọn vẹn với Thân Thể Chúa Kitô nhờ rước Thánh Thể.
Vì thế, Tiệc Thánh Thể là trung tâm tụ họp của tín hữu mà vị Linh Mục là người chủ sự. Như thế Hiến
Tế Thánh Lễ, các Linh Mục dạy tín hữu biết dâng lên Chúa Cha lễ vật chí thánh và hợp cùng của lễ đó hiến
dâng lễ vật cuộc sống mình. Với tinh thần của Chúa Kitô chủ chăn, các ngài dạy họ biết lòng thống hối xưng
thú tội lỗi mình với Giáo Hội qua Bí Tích Cáo Giải để càng ngày càng quay về gần Chúa hơn khi nhớ lại lời
Người : “Hãy hối cải vì Nước Trời đã đến gần”(Mt 4, 17). Cũng thế, các ngài còn dạy họ tham dự những
buổi cử hành Phụng Vụ Thánh, để trong các nghi lễ đó họ biết cầu nguyện chân thành; tùy theo ân sủng và
nhu cầu của mỗi người, các ngài hướng dẫn họ thực thi tinh thần cầu nguyện mỗi ngày thêm hoàn hảo trong
suốt đời sống; các ngài khuyến khích mọi người chu toàn nhiệm vụ đấng bậc mình; còn đối với những ai
hoàn thiện hơn, các ngài khích lệ họ thực thi những lời khuyên Phúc Âm hợp với mỗi người. Cũng thế các
ngài dạy các tín hữu biết dùng thánh thi và thánh ca mà chúc tụng Thiên Chúa trong lòng, biết nhân danh
Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta mà luôn cảm tạ Thiên Chúa là Cha vì mọi ơn lành.
Những lời ca tụng và tạ ơn mà các Linh Mục dâng lên trong khi cử hành Thánh Lễ, chính các ngài còn
kéo dài suốt ngày trong giờ Kinh Nhật Tụng, khi ấy các ngài nhân danh Giáo Hội cầu khẩn cùng Thiên Chúa
cho toàn dân đã được giao phó cho các ngài và cầu cho cả thế giới nữa.
Nhà cầu nguyện, nơi để cử hành và cất giữ Thánh Thể Chí thánh cũng như để tín hữu tụ họp và gặp
được sự nâng đỡ ủi an trong khi tôn sùng sự hiện diện của Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc chúng ta,
Đấng đã được hiến dâng vì chúng ta trên bàn tế lễ : nhà nầy cần phải sạch sẽ, xứng hợp với việc cầu nguyện
và những lễ nghi long trọng. Chính nơi đây, chủ chăn và các tín hữu được mời đến, để với lòng biết ơn, họ
đáp lại ân huệ của Đấng đã dùng Nhân Tính mà không ngừng đổ tràn sự sống siêu nhiên vào các chi thể của
Thân Thể Người. Các Linh Mục phải chăm lo trau dồi kiến thức và nghệ thuật Phụng vụ, để nhờ việc các
ngài biết ca ngợi Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần mỗi ngày một hoàn hảo hơn.
6. Tùy phận vụ đã lãnh nhận, các Linh Mục thi hành chức vụ của Chúa Kitô là Đầu và là Chủ Chăn, các ngài
nhân danh Giám Mục, tụ họp gia đình Thiên Chúa như một cộng đoàn huynh đệ duy nhất, và nhờ Chúa Kitô
trong Chúa Thánh Thần các ngài dẫn đưa họ đến cùng Chúa Cha. Để thi hành thừa tác vụ này cũng như
các chức vụ khác, các Linh Mục được trao ban quyền thiêng liêng để kiến thiết Giáo Hội. Trong việc kiến
thiết này, các Linh Mục phải theo gương Chúa mà đối xử rất nhân đạo với hết mọi người. Tuy nhiên, khi dạy
dỗ và khuyên bảo họ như những người con rất yêu qúy, các ngài phải đối xử với họ không phải theo sở
thích loài người, nhưng theo giáo thuyết và đời sống Ki-tô giáo đòi hỏi, như lời Thánh Tông Đồ : “ Hãy
nhấn mạnh khi thuận tiện cũng như khi bất tiện, hãy khiển trách đe dọa, khuyến khích, với tất cả lòng nhẫn
nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4, 2) 55 .
Vì thế, với tư cách là những người huấn luyện đức tin, các Linh Mục có nhiệm vụ, hoặc đích thân hoặc
nhờ người khác, lo cho mỗi tín hữu được hướng dẫn trong Chúa Thánh Thần để vun trồng ơn gọi riêng của
mình theo Phúc Âm, để có một đức ái chân thành và linh hoạt, để được sự tự do mà Chúa Kitô đã dùng để
giải thoát chúng ta 56 . Những nghi lễ dù đẹp mắt, những hội đoàn dù phát triển rầm rộ cũng không có ích bao
nhiêu, nếu chúng không hướng về việc giáo dục con người đạt tới sự trưởng thành Ki-tô giáo. Để đạt tới
sự trưởng thành đó, các Linh Mục phải giúp họ sáng suốt nhận ra những biến có lớn nhỏ, đâu là việc phải
làm, đâu là ý Chúa muốn. Các ngài cũng phải dạy các Ki-tô hữu để họ không chỉ sống riêng cho mmình,
nhưng theo những đòi hỏi của luật bác ái mới, mỗi người phải tùy ơn nhận được mà phục vụ lẫn nhau; và
như vậy mọi người chu toàn nhiệm vụ của mình theo tinh thần Ki-tô giáo trong cộng đoàn nhân loại.
Tuy mắc nợ hết mọi người, nhưng các Linh Mục phải đặc biệt chăm sóc những người nghèo khổ và
yếu đuối được trao phó cho mình : vì chính Chúa đã tỏ ra là bạn hữu với họ và coi việc rao giảng Phúc Âm
cho họ là dấu hiệu cho công cuộc cứu thế. Các Linh Mục cũng phải đặc biệt tận tâm theo dõi các thanh
thiếu niên, ngay cả những người đã có đôi bạn và những bậc phụ huynh, để ước gì họ họp thành nhóm bạn
hữu biết giúp đỡ nhau sống đời Ki-tô giáo một cách dễ dàng và đầy đủ hơn trong cuộc sống đầy khó khăn.
Các Linh Mục cũng đừng quên các tu sĩ nam nữ, vì họ là thành phần ưu tú trong nhà Chúa, họ đáng được coi
sóc đặc biệt để được tấn tới trong đàng thiêng liêng hầu giúp ích cho toàn thể Giáo Hội. Sau hết, các ngài
phải hết sức ân cần chăm sóc những người yếu đau và hấp hối bằng cách thăm viếng và an ủi họ trong Chúa.
Vì thế, nhiệm vụ của chủ chăn không phải chỉ thu hẹp trong việc coi sóc từng các nhân tín hữu, nhưng
còn lan rộng tới việc huấn luyện một cộng đoàn Kitô hữu đích thực. Muốn thế, tinh thần cộng đoàn đích
thực này phải bao gồm không những Giáo Hội địa phương mà cả Giáo Hội phổ quát nữa. Vì thế, cộng đoan
địa phương không những phải lưu tâm đến việc chăm sóc các tín hữu của mình, nhưng một khi đã thấm
nhuần nhiệt tâm truyền giáo còn phải dẫn đường cho mọi người đến với Chúa Kitô. Tuy nhiên, cộng đoàn
đặc biệt chú trọng đến các dự tòng và các tân tòng, họ phải được giáo dục dần dần để hiểu biết và sống đời
Ki-tô hữu.
Không một cộng đoàn Ki-tô hữu nào được thiết lập mà không đặt nền tảng và trọng tâm vào việc cử
hành phép Thánh Thể Chí Thánh : cho nên mọi nền giáo dục về tinh thần cộng đoàn phải bắt đầu từ đó.
Nhưng việc cử hành này muốn được chân thành đầy đủ, thì một đàng phải đưa đến những việc bác ái và
tương trợ lẫn nhau; đàng khác phải dẫn tới các hoạt dộng truyền giáo, và cả những hình thức minh chứng
Ki-tô giáo nữa.
Ngoài ra, nhờ bác ái, kinh nguyện, gương lành và những việc sám hối, cộng đoàn Giáo Hội thực thi
tình mẫu tử chân thực đối với những linh hồn phải được đưa về với Chúa Kitô. Thực tế, cộng đoàn hợp
thành một khí cụ hữu hiệu để chỉ dẫn hoặc mở đường cho những kẻ chưa tìm đến cùng Chúa Kitô và Giáo
Hội người, cũng như để kích lệ, dưỡng nuôi và củng cố các tín hữu trên đường chiến đấu thiêng liêng.
Trong việc kiến thiết cộng đoàn Ki-tô hữu, các Linh Mục không bao giờ phục vụ cho một chủ thuyết
hay một dang phái nhân loại nào, nhưng là những vị rao giảng Phúc Âm và là chủ chăn của Giáo Hội, các
ngài lo lắng theo đuổi việc phát triển thiêng liêng của Thân Thể Chúa Kitô.
II. LIÊN LẠC GIỮA LINH MỤC VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC
7. Tất cả các Linh Mục, hiệp nhất với các Giám Mục, đều tham dự cùng một chức Linh Mục và là thừa tác
duy nhất của Chúa Kitô; cho nên chính tính cách duy nhất của việc tấn phong và sứ mênh đòi phải có sự
hiệp thông phẩm trật giữa các ngài và hàng Giám Mục; đôi khi mối hiệp thông đó được biểu hiện một cách
rất cao đẹp trong việc cùng cử hành Phụng vụ, và một cách minh nhiên trong khi cử hành Tiệc Thánh Thể.
Do đó, vì ơn Chúa Thánh Thần ban cho các Linh Mục khi lãnh nhận Chức Thánh, các Giám Mục phải coi
các ngài như những trợ tá và cố vấn cần thiết trong thừa tác vụ dạy dỗ, thánh hoá và chăn dắt dân Chúa.
Ngay từ thời xa xưa của Giáo Hội, các văn kiện phụng vụ đã nhấn mạnh công bố điều đó khi long trọng cầu
xin Chúa ban cho Linh Mục sắp thụ phong “tinh thần ân sủng và khôn ngoan, để ngài giúp đỡ và điều khiển
dân chúng với một tâm hồn trong sạch”, cũng như xưa trong sa mạc, tinh thần của Môsen đã lan truyền
sang tâm trí của bảy mươi người khôn ngoan 68 “để dùng họ như những trợ tá, ông dễ dàng cai trị đám quần
chúng đông đúc trong dân”. Chính sự hiệp thông trong cùng một chức Linh Mục và thừa tác vụ, các Giám
Mục phải coi các Linh Mục như anh em và bạn hữu, và hết sức lo lắng đến phần ích vật chất và nhất là
thiêng liêng của các ngài. Thực vậy, trước hết các ngài gánh lấy trọng trách thánh hóa các Linh Mục của
mình: do đó các ngài phải hết sức chú tâm đến việc đào luyện liên tục các Linh Mục của mình. Các
Giám Mục phả sẵn sàng lắng nghe, hơn nữa phải hỏi han và đối thoại với các Linh Mục về những vấn đề
cần thiết cho công việc mục vụ ích lợi cho giáo phận. Nhưng để thực hiện điều đó, phải tùy theo phương
thức thích hợp với những hoàn cảnh và nhu cầu ngày nay, tùy hình thức và tiêu chuẩn do quy luật ấn định,
mà thành lập một hội đồng hay một nguyên lão viện các Linh Mục, đại diện cho Linh Mục đoàn, để có thể
góp ý kiến giúp đỡ Giám Mục một cách hữu hiệu hơn quản trị địa phận.
Phần các Linh Mục nên nhớ rằng : các Giám Mục lãnh nhận sung mãn Bí Tích Chức Thánh, nên phải
tôn trọng nơi các ngài quyền bính của Chúa Thánh Thần, chủ chăn tối cao. Vậy các Linh Mục phải kết hiệp
với Giám Mục bằng tình yêu chân thành và lòng vâng phục. Được thuấn nhuần tinh thần cộng tác, đức
vâng phục của Linh Mục, đặt nền tảng trong chính việc tham dự vào thừa tác vụ của Giám Mục, mà các
Linh Mục đã lãnh nhận khi chịu Bí Tích Truyền Chức Thánh và bài sai do Đức Giám Mục trao.
Ngày nay, sự hiệp nhất giữa các Linh Mục và các Giám Mục lại càng khẩn thiết hơn, vì trong thời đại
chúng ta, bởi nhiều lý do, các công cuộc Tông đồ không những cần phải mang rất nhiều hình thức khác
nhau, nhưng thật ra còn càng phải vượt khỏi giới hạn giáo xứ hay giáo phận. Vậy không một Linh Mục nào
có thể chu toàn đầy đủ sứ mệnh của mình một cách lẻ loi và hầu như riêng rẽ, nhưng phải hợp với các Linh
Mục khác, dưới sự điều khiển của các vị lãnh đạo trong Giáo Hội.
8. Khi gia nhập hàng Linh Mục nhờ Bí Tích Truyền Chức Thánh, tất cả các Linh Mục liên kết với nhau bằng
một tình huynh đệ do bí tích; nhưng đặc biệt trong một giáo phận, khi được chỉ định phục vụ dưới quyền
Giám Mục của mình, các ngài hợp thành một Linh Mục đoàn duy nhất. Thực vậy, tuy giữ những chức vụ
khác nhau, nhưng các Ngài vẫn thi hành một tác vụ Linh Mục duy nhất cho loài người. Thật thế, tất cả các
Linh Mục đều được sai đi để cùng cộng tác vào việc : hoặc thi hành thừa tác vụ ở giáo xứ hay liên xứ, hoặc
giúp vào công cuộc nghiên cứu khoa học hay dạy học, hoặc làm việc chân tay khi được Giáo Quyền hữu
trách chấp nhận và được coi là có lợi ích để chia sẻ số phận của chính các công nhân, hoặc sau hết, chu toàn
những công việc tông đồ khác, hay những việc chuẩn cho công cuộc tông đồ. Nhưng tất cả các Linh Mục
phải hướng về mục đích duy nhất này là xây dựng Thân Thể Chúa Kitô : việc này đòi hỏi phận vụ khác nhau
cũng như nhiều thích nghi mới mẻ, nhất là trong thời đại chúng ta. Bởi thế, điều quan trọng là tất cả các Linh
Mục, Triều cũng như Dòng, phải giúp đỡ nhau, để luôn luôn có những cộng tác viên của chân lý. Vì vậy,
mỗi vị liên kết với những thành phần khác của Linh Mục Đoàn bằng những mối dây đặc biệt của tình bác ái
tông đồ, của thừa tác vụ và tình huynh đệ : điều này đã được biểu hiện trong phụng vụ, ngay từ thời xa xưa,
khi các Linh Mục hiện diện được mời cùng với vị Giám Mục chủ phong đặt tay trên vị tiến chức, và khi các
ngài đồng tâm cùng cử hành Bí Tích Thánh Thể. Vậy, mỗi Linh Mục hiệp nhất với các anh em Linh Mục
khác bằng mối dây bác ái, cầu nguyện và cộng tác dưới mọi hình thức, và như thế, thể hiện được sự hiệp
nhất mà Chúa Kitô muốn cho các môn đệ Người kết hợp nên một, để thế gian nhận biết Chúa Con đã được
Chúa Cha sai.
Bởi vậy, những Linh Mục lớn tuổi hãy thực sự đón nhận các Linh Mục trẻ như những người em và
hãy giúp đỡ họ trong những công tác cũng như những gánh nặng đầu tiên của thừa tác vụ; hơn nữa, các ngài
nên cố gắng hiểu biết tâm trạng của họ, dù khác với tâm trạng mình, và theo dõi các công việc của họ với
lòng nhân hậu. Cũng thế, các Linh Mục trẻ phải kính trọng tuổi tác và kinh nghiệm của các vị lớn tuổi cũng
như phải bàn hỏi với các ngài về những vấn đề liên quan đến việc coi sóc các linh hồn và sẵn lòng cộng tác
với các ngài.
Trong tinh thần huynh đệ đó, các Linh Mục đừng quên lòng hiếu khách, hãy lo làm việc thiện và san
sẻ của cải, nhất là phải chú tâm đến những vị đau yếu, phiền muộn, lao lực, cô đơn, bị đày ải và ngay cả
những vị bị bách hại. Các ngài cũng hãy sẵn lòng và vui vẻ họp nhau để tĩnh dưỡng tâm hồn, vì nhớ lại
những lời mà Chúa đã mời gọi các Tông Đồ mệt mỏi : “ các con hãy đến những nơi thanh vắng mà nghỉ
ngơi một chút” (M 6, 31). Ngoài ra để giúp nhau vun trồng đời sống thiêng liêng và tri thức, để có thể cộng
tác với nhau đắc lực hơn trong Thừa tác vụ và để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra do sự cô đơn, các
Linh Mục phải cỗ võ đời sống chung, hoặc một lối sống cộng đoàn nào đó. Việc này có thể thực hiện theo
nhiều hình thức khác nhau tùy những nhu cầu khác biệt thuộc cá nhân hay mục vụ : như ở chung nơi nào có
thể hoặc ăn chung, hoặc ít là có những cuộc họp mặt thường xuyên và định kỳ. Cũng nên thành lập và nhiệt
liệt khuyến khích các hội Linh Mục mà nội quy đã được Giáo Quyền hữu trách chuẩn nhận, những hội này
cổ võ các Linh Mục nên thánh trong khi thi hành thừa tác vụ bằng cách tổ chức một đời sống thích hợp đã
cùng nhau chấp nhận và bằng sự tương trợ huynh đệ; như vậy những hội đó hướng về việc phục vụ toàn thể
hàng Linh Mục.
Sau hết, vì liên kết với nhau trong chức Linh Mục như thế nên các ngài phải biết rằng mình đặc biệt có
trách nhiệm đối với những vị đang gặp những hoàn cảnh khó khăn; các ngài phải kịp thời giúp đỡ, và nếu
cần phải khuyên bảo một cách tế nhị. Đối với những vị khiếm khuyết về một vài vấn đề nào đó, các ngài
phải luôn lấy tình bác ái huynh đệ và quảng đại mà đối xử, lại phải cầu nguyện rất nhiều với Chúa cho các vị
đó, và phải luôn tỏ ra mình là anh em và bạn hữu đích thực của họ.
9. Các Linh Mục Tân Ước, tuy bởi Bí Tích Truyền Chức Thánh, thi hành nhiệm vụ rất cao cả và cần thiết là
làm Cha và làm Thầy trong Dân Chúa, nhưng đồng thời cùng với mọi Ki-tô hữu, các ngài cũng là môn đệ
Chúa Kitô, được dự phần trong Nước Chúa nhờ ơn gọi của Người. Thật vậy cùng với tất cả những ai được
tái sinh trong suối Nước Rửa Tội, các Linh Mục là anh em giữa các anh em, như chi thể của cùng một
Thân Thể duy nhất của Chúa Kitô mà mọi người có nhiệm vụ xây dựng.
Như vậy, các Linh Mục phải lãnh đạo làm sao không tìm tư lợi, nhưng tìm lợi ích cho Chúa Giêsu
Kitô; các ngài hợp tác với giáo dân và sống giữa môi trường của họ theo gương Thầy, Đấng đến ở giữa
mọi người “không để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình thay cho nhiều người” (Mt
20, 28). Các Linh Mục phải thành thật nhìn nhận và khích lệ phẩm giá và vai trò riêng của giáo dân trong sứ
mệnh Giáo Hội. Các ngài cũng phải thành thật kính trọng sự tự do chân chính mà mọi người có quyền được
hưởng trong xã hội trần gian. Các ngài phải sẵn lòng lắng nghe giáo dân, cứu xét các nguyện vọng của họ
trong tinh thần huynh đệ, nhìn nhận kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của họ trong lãnh vực khác nhau
của hoạt động nhân sinh, để cùng với họ có thể nhận biết những dấu chỉ của thời đại. Trong kinh nghiệm
xem các tinh thần có phải từ Thiên Chúa đến hay không, các ngài phải lấy tinh thần đức tin mà khám phá,
vui mừng mà nhận biết, và chuyên cần phát triển những đặc sủng muôn hình của giáo dân, từ đặc sủng nhỏ
bé nhất đến đặc sủng cao cả nhất. Trong những đặc ân mà Thiên Chúa ban tràn đầy trên các tín hữu, phải
đặc biệt lưu tâm đến những ơn lôi kéo một số giáo dân tiến xa hơn trên đường thiêng liêng. Cũng thế các
ngài phải tin tưởng trao phó nhiệm vụ cho giáo dân trong việc phục vụ Giáo Hội, để cho họ được tự do và có
lãnh vực hoạt động, hơn nữa là lúc thuận tiện, phải khuyến khích họ tự ý đảm trách công việc
Sau cùng, các Linh Mục được đặt giữa giáo dân để dẫn đưa mọi người về hiệp nhất trong đức ái, hãy
“thương yêu nhau với tình bác ái huynh đệ, thi đua tôn trọng nhau” (Rm 12, 10). Vậy các ngài phải tìm cách
hòa hợp các tâm trạng khác nhau, để không ai cảm thấy xa lạ trong cộng đoàn tín hữu. Các ngài là những
người bênh vực ích chung mà các ngài coi sóc nhân danh Giám Mục, và đồng thời là những người can đảm
bảo vệ chân lý để các tín hữu không bị lôi cuốn bởi bất cứ luồng lý thuyết nào. Các ngài phải đặc biệt lo
lắng đến những kẻ đã xao lãng việc lãnh nhận các Bí Tích, và những kẻ có lẽ đã mất đức tin ; như những
người chăn chiên lành các ngài đừng quên lui tới thăm nom họ.
Các ngài phải lưu tâm đến những nguyên tắc về sự hiệp nhất để đừng quên những anh em không
được cùng chúng ta thông hiệp trọn ven với Giáo Hội.
Sau hết, các ngài phải đặc biệt coi sóc tất cả những người chưa nhận biết Chúa Kitô là Đấng Cứu
Chuộc mình.
Nhưng chính các Ki-tô hữu phải ý thức rằng mình có trách nhiệm đối với các Linh Mục của mình, và
phải lấy lòng hiếu thảo mà đối xử với ngài như những chủ chăn và như là cha mình vậy ; cũng thế, họ phải
chia sẻ những nỗi lo âu của các ngài, giúp đỡ các ngài bằng lời cầu nguyện và bằng việc làm càng nhiều
càng hay, để các ngài có thể thắng vượt những khó khăn một cách dễ dàng hơn, và chu toàn trách vụ của
mình một cách hữu hiệu hơn.
III. PHÂN PHỐI LINH MỤC VÀ ƠN KÊU GỌI LINH MỤC.
10. Ân huệ thiêng liêng mà các Linh Mục đã lãnh nhận trong khi chịu chức, chuẩn bị cho các ngài không
phải cho một sứ mệnh giới hạn và thu hẹp nào đó, như cho một sứ mệnh sứ rỗi rất rộng lớn và bao quát “
đến tận cùng trái đất” (CvTđ 1, 8), vì bất cứ thừa tác vụ Linh mục nào cũng tham gia vào sứ mệnh rộng lớn
mà bao quát mà Chúa Kitô đã trao phó cho các Tông Đồ. Thực vậy chức Linh Mục của Chúa Kitô mà các
Linh Mục được tham dự, cần phải hướng về mọi dân nước và mọi thời đại, không bị hạn chế bởi một ranh
giới, một dân tộc hay một thời đại nào, như đã được tiên biểu cách huyền nhiệm trong hình ảnh Melchisêdê
93 . Do đó, các Linh Mục phải để lâm lo lắng tất cả các giáo hội. Bởi thế, các Linh Mục thuộc các giáo phận
giàu ơn gọi hơn, khi được Đấng Bản Quyền cho phép hoặc khích lệ, hãy hăm hở tỏ ra sẵn sàng thi hành thừa
tác vụ của mình trong các địa hạt, trong các xứ truyền giáo, hay trong những hoạt động bị sa sút vì thiếu
Linh Mục.
Ngoài ra, những tiêu chuẩn về việc xuất nhập giáo phận phải được duyện lại thế nào để, dầu phải duy
trì cơ chế đã có từ lâu đời, nhưng vẫn đáp ứng được những nhu cầu mục vụ ngày nay một cách tốt đep hơn.
Vậy nơi nào hoàn cảnh tông đồ đòi hỏi, thì cần phải dễ dãi hơn trong việc phân phối các Linh Mục một cách
thích hợp, cũng như trong những công cuộc mục vụ chuyên biệt dành cho những môi trường xã hội khác
nhau để những công việc đó được hoàn thành trong một miền, một quốc gia hoặc bất cứ phần đất nào trên
thế giới. Vậy để đạt mục đích đó, điều hữu ích là có thể thiết lập những chủng viện quốc tế, những giáo phận
đặc biệt, hoặc những tổ chức tương tự khác, trong đó các Linh Mục có thể được bổ dụng hoặc gia nhập để
mưu cầu công ích cho toàn thể Giáo Hội, tùy theo những cách thức được ấn định cho từng tổ chức và bao
giờ cũng tôn trọng quyền lợi các Đấng Bản Quyền địa phương.
Nhưng khi gửi các Linh Mục đến một địa hạt mới, nhất là khi các ngài chưa biết rõ ngôn ngữ và phong
tục của địa hạt đó, thì hãy hết sức lo liệu làm sao để đừng sai họ đi từng người một, nhưng theo gương các
môn đệ của Chúa Kitô 94 , hãy cho đi ít là từng hai hay ba người, để nhờ đó họ có thể giúp đỡ lẫn nhau. Cũng
phải để tâm chăm sóc đời sống thiêng liêng, sức khỏe tinh thần thể xác của các ngài; và nếu có thể, chuẩn bị
cho các ngài nơi ở và những điều kiện để làm việc tùy hoàn cảnh cá biệt của mỗi người. Cũng phải tiên liệu
hết sức cho những vị đi đến một dân tộc mới, chẳng những học biết đầy đủ ngôn ngữ của miền này và hơn
nữa những đặc tính tâm lý và xã hội của dân tộc mà các ngài khiêm tốn phục vụ, để dễ dàng được thông cảm
với họ, theo gương Thánh Phaolô Tông Đồ, Đấng có thể nói về mình : “Thật vậy, mặc dầu tôi tự do đối với
mọi người, nhưng tôi phục vụ hết thảy hầu làm ích cho nhiều người. Và với người Do Thái, tôi trở nên như
Do Thái, cốt sinh lợi cho Do Thái…” (1 Cor 9, 19-20). 95 9*
11. Chúa Giêsu, vị Chủ Chăn và Giám Mục của linh hồn chúng ta 96 , khi thiết lập Giáo Hội Người, đã muốn
Dân mà Người đã chọn lựa và chuộc lại bằng máu mình 97 , phải luôn luôn có các Linh Mục cho đến tận thế,
để các Ki-tô hữu không bao giờ như những con chiên không có người chăn 98 . Hiểu biết ý muốn của Chúa
Kitô như thế và được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, các Tông Đồ nhận thấy mình có nhiệm vụ chọn những
thừa tác viên “có đủ khả năng và dạy lại cho người khác” ( 2Tm 2, 2). Chắc chắn nhiệm vụ đó thuộc về
chính sứ mệnh Linh Mục, cho nên Linh Mục phải chia sẻ nỗi lo lắng của toàn thể Giáo Hội, để Dân Chúa ở
trần gian không bao giờ thiếu người làm việc. Nhưng vì “thuyền trưởng và những khách đi tàu… cùng chung
một số phận” 99 , nên toàn dân Ki-tô giáo phải được dạy dỗ để biết mình có nhiệm vụ phải cộng tác bằng
nhiều cách khác nhau : bằng lời cầu nguyện tha thiết cũng như bằng những phương thế khác mà họ sẵn có 100
, ngõ hầu Giáo Hội lúc nào cũng có những Linh Mục cần thiết để chu toàn sứ mệnh Chúa trao phó. Vậy
trước hết các Linh Mục phải hết sức trình bày cho các tín hữu sự cao quí và cần thiết của chức Linh Mục ;
các ngài có thể làm cho họ hiểu điều ấy bằng lời giảng dạy và bằng chứng tá đời sống, một đời sống bộc lộ
rõ ràng tinh thần phục vụ và niềm vui phục sinh đích thực ; và sau khi thận trọng phán đoán những ai hoặc
còn trẻ hoặc đã trưởng thành, có đủ tư cách thi hành chức vụ cao cả này, các ngài đừng quản ngại lo lắng và
khó khăn mà giúp họ dọn mình xứng đáng, cho đến ngày kia, các Giám Mục có thể gọi họ mà họ vẫn hoàn
toàn tự do cả bên trong lẫn bên ngoài. Để đạt tới mục đích đó, phải chuyên cần và khôn ngoan hướng dẫn về
mặt thiêng liêng, vì đó là điều lợi ích hơn cả. Các phụ huynh, giáo chức và tất cả những ai tham gia một cách
nào đó vào việc giáo dục thiếu nhi và thanh thiếu niên, phải dạy chúng làm sao để một khi nhận biết mối bận
tâm của Chúa đối với đoàn chiên Người, cũng như khi nhìn đến những nhu cầu của Giáo Hội, họ sẵn sàng
quảng đại đáp lại lời Chúa gọi, như tiên tri xưa : “Này con đây, Xin hãy sai con” (Is 6, 8). Nhưng tiếng Chúa
gọi đây không tới tai các Linh Mục tương lai một cách lạ thường như người ta tưởng. Thật vậy, đúng hơn
tiếng gọi đó phải được hiểu và nhận định qua những dấu hiệu hằng ngày Chúa muốn dùng để tỏ ý Người cho
các Ki-tô hữu khôn ngoan : các Linh Mục phải cẩn thận cứu xét những dấu hiệu đó 101 .
Do đó, hết sức khuyến khích các ngài tham gia các hội cổ võ ơn kêu gọi trong giáo phận hay toàn quốc
102 . Những bài giảng, những giờ giáo lý, những sách báo phải nêu cho người ta biết rõ các nhu cầu của Giáo
Hội địa phương cũng như Giáo Hội toàn cầu; phải trình bày cách sống động ý nghĩa và sự cao quý của chức
Linh Mục; vì đây là một chức vụ mang những trọng trách nặng nề nhưng đồng thời cũng tràn đầy hoan lạc,
và nhất là vì có thể chứng tỏ một bằng chứng cao cả nhất về tình yêu đối với Chúa Kitô như các Giáo Phụ
dạy.
CHƯƠNG III
ĐỜI SỐNG LINH MỤC
I. CÁC LINH MỤC ĐƯỢC MỜI GỌI NÊN HOÀN THIỆN
12. Nhờ Bí Tích Truyền Chức Thánh, các Linh Mục nên giống Chúa Kitô Linh Mục, để như là thừa tác viên
của Đầu Nhiệm Thể và như những cộng tác viên của hàng Giám Mục, các ngài xây dựng và kiến thiết toàn
Thân Người là Giáo Hội. đành rằng ngay từ khi được thánh hiến nhờ phép Rửa Tội, như mọi Ki-tô hữu, các
ngài đã lãnh nhận dấu tích và ân huệ của ơn gọi và ân sủng cao trọng, dù bản tính nhân loại yếu hèn 105 , các
ngài vẫn có thể theo đuổi sự hoàn thiện, đúng như lời Chúa phán:"Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các
con ở trên trời là Đấng Hoàn Thiện” (Mt 5, 8). Nhưng các Linh Mục còn có lý do đặc biệt hãy đạt tới sự
hoàn thiện này, vì khi lãnh nhận Chức Thánh là các ngài được thánh hiến cho Thiên Chúa theo cách thức
mới : các ngài trở nên những khí cụ sống động của Chúa Kitô Linh Mục đời đời, để qua các thời đại, các
ngài có thể tiếp tục công việc kỳ diệu qua Đấng đã lấy quyền năng cao cả mà tái lập toàn thể xã hội con
người 106 . Do đó, khi đóng vai trò của chính Chúa Kitô theo cách của mình, mỗi Linh Mục cũng phải nhận
được những ơn riêng để trong khi phục vụ dân được trao phó cho ngài và phục vụ toàn thể Dân Chúa, ngài
có thể dễ dàng theo đuổi sự hoàn thiện của đời sống của Đấng mà mình đóng vai, và để sự yếu đuối của xác
thịt loài người được lành mạnh nhờ sự thánh thiện của Đấng vì chúng ta đã trở nên Linh Mục Thượng Phẩm
“thánh thiện, trong sạch, vô tội, tách biệt khỏi kẻ có tội” (Dt 7, 26).
Chúa Kitô, Đấng Chúa Cha đã thánh hóa, thánh hiến và sai xuống trần gian 107 “ đã hiến thân cho
chúng ta hầu cứu chúng ta khỏi mọi tội ác và thanh tẩy một dân đáng được Ngài chấp nhận và nhiệt thành
với mọi việc lành” (Tit 2, 14), và như thế qua cuộc khổ nạn mà vào vinh quang 108 , các Linh Mục cũng vậy
sau khi được Chúa Thánh Thần thánh hiến bởi xức dầu và được Chúa Kitô sai đi, các ngài hãm dẹp những
việc xác thịt nơi chính bản thân và hoàn toàn tận tâm phục vụ nhân loại ; nhờ thế các ngài có thể tiến tới trên
đường thánh thiện mà các ngài đã được tô điểm trong Chúa Kitô, để thành con người hoàn toàn 109 .
Bởi đó, khi thi hành thừa tác vụ của Chúa Thánh Thần và của sự công chính 110 , các ngài được vững
mạnh trong đời sống thiêng liêng, miễn là các ngài ngoan ngoãn theo Thánh Thần Chúa Kitô, Đấng ban sự
sống và dẫn dắt các ngài, cũng như nhờ thi hàn trọn vẹn thừa tác vụ khi các ngài thông hiệp với Giám Mục
và các Linh Mục khác. Vả lại, chính sự thánh thiện của Linh Mục giúp các ngài rất nhiều trong việc chu toàn
thừa tác vụ của mình một cách hữu hiệu : thật vậy, dù ơn Chúa có thể hoàn tất công trình cứu rỗi qua các
thừa tác viên bất xứng, nhưng thường tình Thiên Chúa muốn tỏ ra những việc lạ lùng của Ngài qua những vị
sẵn sàng nghe theo sự thúc dục và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần hơn, bằng thông hiệp mật thiết với
Chúa Kitô và bằng một đời sống thánh thiện, để có thể nói như thánh Tông Đồ rằng : “dù tôi sống nhưng
không phải tôi sống, mà thực ra Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal 2, 20).
Vì thế, để đạt tới những mục đích mục vụ trong việc canh tân bên trong Giáo Hội, để truyền bá Phúc
Âm cho tất cả thế giới cũng như đối thoại với thế giới ngày nay, Thánh Công Đồng này tha thiết khuyên tất
cả các Linh Mục hãy dùng mọi phương tiện thích hợp mà Giáo Hội ban cho 111 để luôn luôn nỗ lực tiến cao
hơn trên đường thánh thiện nhờ đó các ngài trở nên những khí cụ ngày càng thích hợp hơn cho việc phục vụ
toàn thể Dân Chúa. 11*
13. Thành tâm và kiên nhẫn thi hành chức vụ của mình trong tinh thần Chúa Kitô là phương pháp riêng giúp
các Linh Mục theo đuổi sự thánh thiện.
Vì là thừa tác viên lời Chúa nên hằng ngày các ngài đọc và nghe lời Chúa mà các ngài sẽ phải dạy lại
cho người khác; vì nếu một khi tâm hồn các ngài đã cố gắng lãnh nhận lời Chúa, thì càng ngày các ngài trở
nên môn đệ hoàn thiện hơn của Chúa Kitô, như lời thánh Phaolô Tông Đồ mới nói với Timôthêô : “con hãy
Tự giữ mình và hãy chăm lo lời mình dạy; hãy cương quyết như vậy, điều đó sẽ khiến con tự cứu rỗi con và
cả những ai nghe lời con nữa” (1 Tm 4, 15-16). Thật vậy, khi tìm cách thích hợp để có thể thông ban cho kẻ
khác những điều mình đã chiêm niệm 112 , các ngài mới nếm được một cách ý vị hơn “ những phong phú
không thể khám phá hết được của Chúa Kitô “ (Eph 3 8) và sự khôn ngoan muôn mặt của Thiên Chúa 113 .
Nhớ rằng chính Chúa đã mở lòng 114 và sự cao cả không được các ngài nhưng đến từ quyền năng Thiên Chúa
115 , các ngài liên kết mật thiết hơn với Chúa Kitô là Thầy và được hướng dẫn bởi Thánh Thần Người trong
chính hành động trao ban lời Chúa. Như vậy, thông hiệp với Chúa Kitô, các ngài thông phần vào tình yêu
của Thiên Chúa mà mầu nhiệm tình yêu đó đã giấu kín từ lâu đời 116 nay được mạc khải trong Chúa Kitô.
Như thừa tác viên của những việc thánh, nhất là trong Hiến Tế Thánh Lễ, các Linh Mục đặc biệt đóng
vai Chúa Kitô, Đấng đã tự hiến chính mình làm lễ vật thánh hóa nhân loại ; và như thế các ngài được mời
gọi bắt chước điều các ngài đang thi hành, vì khi cử hành mầu nhiệm Chúa chịu chết, các ngài phải khắc chế
chi thể mình khỏi tật xấu và dục vọng 117 . Công việc cứu chuộc chúng ta được liên tục 118 thực hiện trong
Hiến Chế Thánh Thể, trong đó các Linh Mục chu toàn chức vụ trọng yếu nhất của mình: do đó, hết sức
khuyến khích cử hành Thánh Lễ hàng ngày dù các tín hữu không thể tới dự, vì đó là hành động của Chúa
Kitô và của Giáo Hội 119 . Như vậy, trong khi liên kết hành động của Chúa Kitô Linh Mục, hằng ngày các
Linh Mục tự hiến toàn thân cho Chúa, và trong khi được Mình Chúa Kitô nuôi dưỡng, tự thâm tâm mình,
các ngài tham dự vào tình yêu của Đấng đã tự hiến làm lương thực nuôi các tín hữu. Trong khi thi hành các
Bí Tích các ngài cũng hiệp nhất với ý muốn và tình yêu của Chúa Kitô ; các ngài thể hiện sự hiệp nhất đó
một cách đặc biệt, khi tỏ ra hoàn toàn và luôn sẵn sàng ban Bí Tích Cáo Giải mỗi khi các tín hữu thỉnh cầu
một cách hợp lý. Trong khi các ngài đọc Kinh Nhật Tụng, Giáo Hội mượn tiếng của các ngài để không
ngừng cầu nguyện nhân danh toàn thể nhân loại, và để kết hợp với Chúa Kitô Đấng luôn luôn sống để cầu
bầu cho chúng ta” (Dt 7, 25).
Là những vị cai quản và chăn dắt Dân Chúa, các ngài được tình yêu của Chúa Chiên nhân lành thúc
đẩy hiến cuộc sống cho con chiên 120 , và sẵn sàng hy sinh đến tột bậc, theo gương của nhiều Linh Mục, ngay
cả trong thời hiện đại, không quản ngại hiến mạng sống mình. Là những nhà giáo dục trong đức tin và “
được lòng can đảm bước vào nơi chí thánh nhờ Máu Chúa Kitô” (Dt 10, 19), các ngài tới gần Thiên Chúa
“với một lòng chân thành tràn đầy đức tin (Dt 10, 22); các ngài gây niềm hy vọng vững vàng cho các tín hữu
của mình 121 , để nhờ chính sự khích lệ mà Thiên Chúa đã khích lệ các ngài, các ngài có thể an ủi họ trong
cơn thử thách 122 , là những vị hướng cộng đoàn, các ngài thực hành việc khổ chế riêng biệt của vị chăn dắt
các linh hồn : từ bỏ những tiện nghi riêng, không tìm kiếm tư lợi nhưng tìm tư lợi nhiều người, để họ được
cứu rỗi 123 , luôn tiến bộ hơn trong việc chu toàn hoạt động mục vụ cách hoàn hảo hơn và khi cần, các ngài
sẵn sàng đi vào những con đường mục vụ mới mẻ, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần tình yêu, Đấng thổi
nơi nào Ngài muốn 124 . 125 12*
14. Trong thế giới ngày nay, vì con người phải đối phó với biết bao công việc và khổ tâm vì biết bao vấn đề
khác nhau, lắm khi phải cần được giải quyết cấp tốc, nên hay có tình trạng con người bị chi phối bởi nhiều
vấn đề khác nhau. Còn các Linh Mục, vì bị vướng mắc và phân tán nhiều trách nhiệm của chức vụ, nên
không khỏi lo lắng tìm bên ngoài. Cách nào để thể phối hợp đời sống nội tâm của mình với những đòi hỏi
của hoạt động. Việc thống nhất đời sống này không thể thực hiện nguyên bằng cách tổ chức hoàn toàn bên
ngoài các công việc của chức vụ hoặc bằng cách thực thi những việc đạo đức, tuy nhiên những việc này phát
triển sự thống nhất đời sống Linh Mục. Nhưng các Linh Mục có thể kiến tạo sự thống nhất đời sống khi các
ngài theo gương Chúa Kitô trong việc chu toàn chức vụ : lương thực của Người là làm theo ý muốn của
Đấng đã sai Người, để Người hoàn thành công việc của mình 126
Thực ra, Chúa Kitô hành động qua các thừa tác viên của Người luôn luôn dùng Giáo Hội thi hành ý
muốn của Chúa Cha trên trần gian, và vì vậy Người vẫn là nguyên lý và nguồn mạch sự thống nhất đời sống
của các ngài. Vậy, các linh mục phải thực hiện việc thống nhất đời sống của mình bằng cách kết hợp với
Chúa Kitô trong sự nhận biết ý Chúa Cha và trong sự hiến thân của đoàn chiên đã trao phó cho các ngài 127 .
Như thế, nhờ thi hành những nhiệm vụ của Chúa Chiên nhân lành, và trong chính khi thực thi bác ái mục vụ,
các ngài tìm thấy mối dây hoàn thiện của Linh Mục ràng buộc đời sống và hoạt động của mình làm một.
Thật thế, bác ái mục vụ này 128 trước hết phát xuất từ Hiến Tế Thánh Thể, do đó Hiến Tế Thánh Thể là trung
tâm và cội rễ của toàn thể đời sống Linh Mục, cho nên Linh Mục phải cố gắng thực hiện trong tâm tư điều
mình đã làm trên bàn tế lễ. Nhưng điều đó chỉ có thể thực hiện được, khi chính các Linh Mục nhờ cầu
nguyện, luôn luôn đi sâu mãi vào mầu nhiệm Chúa Kitô.
Để có thể kiểm soát sự thống nhất đời sống cả trong những hoàn cảnh cụ thể, các ngài phải xét đoán
mọi hoạt động của mình cho biết rõ đâu là ý muốn của Thiên Chúa 129 , nghĩa là biết rõ những hoạt động đó
có thích hợp với những tiêu chuẩn của sứ mệnh Phúc Âm của Giáo Hội hay không. Thực vậy, ai trung thành
với Chúa Kitô thì không thể không trung thành với Giáo Hội. Do đó, đức ái mục vụ đòi hỏi các Linh Mục
không được chạy theo hư vô 130 , nhưng phải luôn luôn làm việc mối hiệp thông với các Giám Mục và những
anh em Linh Mục khác. Có làm như thế, các Linh Mục mới tìm được sự thống nhất đời sống của mình trong
chính sứ mệnh duy nhất của Giáo Hội, như vậy các ngài mới hiệp nhất với Chúa, và qua Người, với Chúa
Cha, trong Chúa Thánh Thần, để có thể tràn đầy an ủi và dư thừa hoan lạc 131 . 132 13*
II. NHỮNG ĐÒI HỎI THIÊNG LIÊNG ĐẶC BIỆT TRONG ĐỜI LINH MỤC.
15. Trong những đức tính cần thiết hơn cả cho chức vụ Linh Mục, phải kể đến tâm trạng này, là bao giờ
cũng sẵn sàng tìm ý muốn Đấng đã sai mình chứ không phải tìm ý riêng. Thực ra công việc của Thiên Chúa
mà Chúa Thánh Thần tuyển chọn 133 các ngài để hoàn thành, vượt quá mọi năng lực và tầm mức khôn ngoan
nhân loại; vì “Thiên Chúa đã lựa chọn những gì yếu hèn trong thế gian để bêu xấu những gì mạnh mẽ” (1
Cor 1, 27). Vậy ý thức những sự yếu hèn của mình, thừa tác viên đích thực của Chúa Kitô khiêm tốn làm
việc khi tìm xem điều gì đẹp lòng Thiên Chúa 134 , và như ràng buộc bởi Thánh Thần 135 , trong mọi sự Ngài
đều tuân theo ý của Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi. Ngài có thể khám phá và tuân theo ý muốn này
trong những sự kiện hằng ngày bằng cách khiêm tốn phục vụ mọi người được Thiên Chúa ủy thác cho mình
qua các nhiệm vụ riêng của mình cũng như qua những biến cố của đời sống.
Nhưng vì chức vụ Linh Mục là chức vụ của chính Giáo Hội, nên chức đó chỉ có thể được chu toàn
trong sự thông công phẩm trật của toàn thân thể. Vậy đức bác ái mục vụ thôi thúc các Linh Mục đang hoạt
động trong mối hiệp thông này biết hy sinh ý riêng mình, qua việc vâng lời phục vụ Chúa và anh em, bằng
cách lấy tinh thần đức tin mà lãnh nhận và tuân theo những gì được Đức Giáo Hoàng, Đức Giám Mục của
mình, cũng như các Bề Trên khác truyền dạy và khuyên bảo, bằng cách hoàn toàn sẵn lòng hết mức 136 trong
bất cứ chức vụ nào đã được trao phó cho mình dù là thấp kém và nghèo hèn. Thật vậy, nhờ cách đó các anh
ngài trong thừa tác vụ, và nhất với những vị được Thiên Chúa đặt làm nhà lãnh đạo hữu hình của Giáo Hội;
nhờ thế các ngài cộng tác vào việc xây dựng Thân Thể Chúa Kitô, Thân Thể được lớn lên “bằng một mối
khớp tương trợ” 137 . Sự vâng phục này đưa con cái Thiên Chúa tới sự tự do trưởng thành hơn : trong khi vì
bác ái thúc đẩy và để chu toàn chức vụ, các Linh Mục khôn ngoan tìm tòi những con đường mới mẻ mưu ích
hơn cho Giáo Hội, thì chính sự vâng phục đó tự bản tính cũng đòi buộc các ngài phải tin tưởng đưa ra những
sáng kiến, phải tha thiết trình bày những nhu cầu của đoàn chiên được trao phó và luôn luôn sẵn sàng tùng
phục phán đoán của những vị thi hành các phận vụ chính yếu trong việc điều khiển Giáo Hội Chúa.
Nhờ tự ý khiêm nhượng và vâng phục trong tinh thần trách nhiệm mà các Linh Mục nên giống Chúa
Kitô và có những cảm thức như Chúa Giêsu Kitô, Đấng “tự hủy mình khi nhận lấy thân phận tôi tớ… đã
vâng lời cho đến chết” (Ph 2, 7-). Nhờ sự vâng phục này Người đã chiến thắng và chuộc lại sự bất phục tùng
của Adam, như thánh Tông Đồ đã minh chứng : “vì một người không vâng phục mà muôn người hóa thành
tội nhân, thì cũng thế, vì một Đấng phục tùng mà nhiều người được trở nên công chính” (Rm 5, 19). 138 14*
16. Sự chế dục hoàn toàn và vĩnh viễn vì Nước Trời đã được Chúa Kitô khuyến khích 139 , mà qua các thời đại
mà ngay cả ngày nay vẫn được một số dòng Ki-tô hữu sẵn lòng chấp nhận và tuân giữ một cách đáng khâm
phục, thì hiện thời vẫn luôn được Giáo Hội hết sức quý trọng trong đời sống Linh Mục. Thực vậy, nó là dấu
chứng và đồng thời là niềm khích lệ đức ái mục vụ và là nguồn mạch đặc biệt làm phát sinh đời sống thiêng
liêng phong phú trên thế giới 140 . Thực ra tự bản tính của chức Linh Mục không đòi buộc điều đó như đã
thấy thực hành trong Giáo Hội sơ khai 141 và trong truyền thống của Giáo Hội Đông Phương. Trong các Giáo
Hội đó, ngoài những vùng với tất cả các Giám Mục, nhờ ơn thánh, đã giữ bậc độc thân, cũng còn có những
Linh Mục rất xứng đáng đã lập gia đình; thực vậy, khi khuyến khích bậc độc thân Linh Mục, Thánh Công
Đồng này không hề có ý định thay đổi tập quán khác biệt đang thịnh hành một cách chính đáng trong Giáo
Hội Đông Phương, và thân ái khuyên nhủ tất cả những ai đã nhận chức Linh Mục và hiện đang sống đời
đôi bạn, hãy bền chí trong ơn gọi thánh và hoàn toàn quảng đại tiếp tục hy sinh đời sống mình cho đoàn
chiên được trao phó 142
Những bậc độc thân có rất nhiều thuận tiện cho chức Linh Mục. Thật vậy, sứ mệnh toàn diện của Linh
Mục là tận hiến để phục vụ nhân loại mới, mà Chúa Kitô, Đấng chiến thắng sự chết đã phục hồi trong thế
gian nhờ Thánh Thần Người và là một nhân loại đã được sinh ra “không bởi khí huyết, không bởi ý muốn
xác thịt, không bởi ý muốn của nam nhân, nhưng bởi Thiên Chúa”. (Gio 1,13). Nhờ đức trinh khiết hay là
bậc độc thân vì Nước Trời, 143 các Linh Mục được thánh hiến cho Chúa KiTô với lý do mới mẻ và tuyệt hảo
được kết hợp cách dễ dàng hơn với Người bằng một trái tim không chia xẻ 144 , tận hiến cách tự do hơn trong
Người và nhờ Người để phục vụ Thiên Chúa và loài người, sẵn sàng hơn trong việc phục vụ Nước Chúa và
việc tái sinh siêu nhiên; như thế các ngài càng thích đáng lãnh nhận một cách bao quát hơn chức vụ làm cha
trong Chúa Ki Tô. Chính nhờ đó các ngài tuyên bố trước mặt mọi nngười rằng mình muốn tận hiến trọn
vẹn cho công việc đã được trao phó, nghĩa là muốn đính ước các tín hữu với một người bạn độc nhất và hiến
dâng họ cho Chúa KiTô như một trinh nữ thanh sạch 145 ; như thế các ngài nhắc lại cuộc hôn nhân mầu nhiệm
đã được Thiên Chúa thiết lập và sẽ được tỏ lộ đầy đủ ở đời sau. Cuộc hôn nhân trong đó Giáo Hội chỉ có
một vị hôn phu duy nhất là Chúa Kitô 146 .Ngoài ra, các ngài còn trở nên dấu chỉ sống động về thế giới mai
sau, mà ngày nay đã hiện diện qua đức tin và đức ái, trong đó các con cái sự sống lại không còn dựng vợ gả
chồng nữa 147 .
Vì những lý do đặt nền tảng trên mầu nhiệm Chúa Kitô và sứ mệnh của Người nên việc sống độc
thân trước tiên được khuyến khích cho các Linh Mục, rồi sau đã trở nên luật buộc trong Giáo Hội La Tinh
cho tất cả những ai đã chịu Chức Thánh. Thánh Công Đồng này phê chuẩn và xác định luật này một lần nữa
đối với những ai muốn chịu chức Linh Mục, vì Công đồng tin tưởng vào Chúa Thánh Thần là ơn độc thân,
ơn thích hợp với chức Linh Mục Tân Ước, sẽ được Chúa Cha rộng tay ban phát, miễn là những người tham
dự chức Linh mục của Chúa Kitô qua Bí Tích Trruyền Chức cũng như toàn thể Giáo Hội phải khiêm tốn và
khẩn khoản nài xin. Thánh Công Đồng này cũng khuyên mọi Linh Mục vì tin tưởng vào ơn Chúa đã tự do
và tự ý chấp nhận bậc độc thân thánh thiện theo gương Chúa Kitô, hãy sống gắn bó với bậc đó bằng tâm hồn
quảng đại và với tất cả con tim của mình. Xin họ hãy kiên nhẫn trung thành trong bậc này và hãy nhìn nhận
đó là ơn rất trọng đại mà Chúa Cha đã ban cho mình và Chúa Con đã công khai tán thưởng, cũng như hãy
nhớ đến 148 những mầu nhiệm cao cả được biểu lộ và thực hiện qua ơn độc thân. Chắc hẳn nếu càng có nhiều
người trong thế giới ngày nay nghĩ rằng sự chế dục hoàn toàn không thể có được, thì các Linh Mục càng
phải hiệp cùng Giáo Hội mà khiêm nhường và kiên nhẫn hơn nữa để cầu xin ơn trung thành, vì Chúa không
bao giờ từ chối những người kêu xin. Đồng thời các ngài lại phải luôn dùng mọi phương thế siêu nhiên và
tự nhiên mà mọi người sẵn có, nhất là các ngài phải tuân giữ những luật lệ khổ hạnh đã được kinh nghiệm
của Giáo Hội chuẩn nhận và không kém cần thiết trong thế giới ngày nay. Vì vậy Thánh Công Đồng này
không những yêu cầu các Linh Mục mà còn kêu gọi tất cả các tín hữu hãy quý trọng ơn độc thân Linh Mục
cao quý này và hãy cầu xin cùng Chúa để chính Ngài luôn rộng tay ban phát dồi dào ơn này cho Giáo Hội
Ngài.
17. Nhờ đời sống thân hữu và huynh đệ giữa các Linh Mục với nhau và với những người khác, các ngài có
thể biết cách thẩm định và vun trồng những giá trị nhân bản và quý mến các tạo vật tốt lành như những ơn
phúc của Thiên Chúa. Tuy sống giữa thế gian nhưng các ngài phải luôn biết rằng mình không thuộc về thế
gian, như Lời Chúa là Thầy chúng ta đã phán dạy 150 . Vậy sử dụng trần gian như không sử dụng 151 , các ngài
được tự do, sự tự do giải thoát các ngài khỏi mọi lo lắng hỗn loạn và làm cho các ngài ngoan ngoãn đó sẽ
nảy sinh khả năng phân biệt thiêng liêng để nhờ đó tìm ra thái độ đứng đắn đối với thế gian và của cải trần
thế. Thực vậy, thái độ đó rất quan trọng đối với các Linh Mục vì sứ mệnh Giáo Hội được hoàn tất giữa trần
gian và vì những của cải được tạo dựng lại rất cần thiết cho sự tiến bộ bản thân của con người. Vậy các ngài
phải cảm tạ Chúa Cha trên trời vì tất cả những gì Ngài rộng ban cho để được sống xứng đáng. Tuy vậy,
các Ngài gặp thấy để một đàng biết sử dụng một cách thích đáng những của cải theo ý muốn của Thiên
Chúa, đàng khác biết gạt bỏ những gì phương hại đến sứ mệnh của mình.
Thật vậy, vì Chúa là “ phần và là gia nghiệp” của mình (Ds 18,20), nên các Linh mục chỉ được sử
dụng những của cải trần gian vào những mục đích mà giáo lý Chúa Kitô và quy luật của Giáo Hội ấn định.
Về những của cải của Giáo Hội nói riêng, các Linh Mục phải quản trị chúng theo bản chất chúng đúng
như tiêu chuẩn của giáo luật, với sự giúp đỡ của những giáo dân thông thạo khi có thể, và các ngài phải luôn
nhằm sử dụng chúng vào những mục đích mà Giáo Hội phải theo đuổi khi Giáo Hội làm chủ những của cải
trần gian, nghĩa là nhắm vào việc thờ phượng Chúa, cung cấp một mức sống xứng đáng cho hàng Giáo sĩ,
cũng như thi hành những công cuộc tông đồ thánh thiện, hay những việc bác ái, nhất là đối với những người
nghèo túng 152 . Còn những của cải có được nhân dịp thi hành một vài nhiệm vụ nào đó của Giáo Hội, trừ khi
có luật ấn định cách khác 153 , các Linh Mục cũng như các Giám Mục trước hết dùng vào việc cấp dưỡng
xứng đáng cho mình và việc chu toàn những phận sự của đấng bậc mình, phần còn lại, các ngài hãy dùng
vào việc gây ích lợi cho Giáo Hội hoặc cho những công cuộc bác ái. Bởi thế, các ngài không được coi chức
vụ của Giáo Hội như một mối lợi, cũng không được dùng những lợi tức để làm giàu cho gia đình mình 154 .
Bởi vậy các Linh Mục không bao giờ được để tâm hôn dính bén của cải 155 nhưng phải luôn luôn tránh mọi
tham lam và xa lánh mọi hình thức thương mại.
Hơn nữa, các ngài được mời gọi tình nguyện sống nghèo khó để nên giống Chúa Kitô một cách rõ
ràng hơn và tận tụy hơn với chức vụ thánh. Thật vậy, dù giàu có, Chúa Kitô đã trở nên nghèo hèn vì chúng
ta để nhờ sự nghèo khó của Người mà chúng ta trở nên giàu có 156 . Cũng thế, chính các Tông Đồ đã làm
gương chứng minh rằng: đã lãnh nhận ơn cách nhưng không thì cũng phải ban phát cách nhưng không 157 , và
các ngài đã biết sống khi được sung túc cũng như khi phải túng thiếu 158 .Việc sử dụng tài sản như thế theo
gương đóng góp tài sản làm của chung đã được tán thưởng trong lịch sự Giáo Hội sơ khai 159 , có thể mở một
con đường dẫn tới bác ái mục vụ một cách tuyệt hảo và nhờ cách sống này các Linh Mục có thể thực hiện
một cách đáng khen ngợi tinh thần nghèo khó đã được Chúa Kitô khuyến khích.
Vì thế, các Linh Mục cũng như Giám Mục được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, Đấng đã xức dầu
cho Chúa Cứu Thế và sai đi giảng Phúc Âm cho người nghèo khó 160 , phải tránh tất cả những gì bằng cách
này hay cách khác có thể làm xa cách những người nghèo khó, và hơn các môn đệ khác của Chúa Kitô các
ngài phải loại bỏ mọi thứ khoe khoang trong các đồ dùng của mình các ngài phải sắp đặt chỗ ở thế nào để
không ai coi đó là nơi bất khả xâm phạm, và để không ai dù nghèo hèn đến đâu phải sợ hãi không bao giờ
dám lui tới 161 16*
III. NHỮNG PHƯƠNG TIỆN GIÚP ĐỜI SỐNG LINH MỤC
18. Để có thể kết hiệp mật thiết hơn với Chúa Kitô trong mọi cảnh ngộ cuộc đời, ngoài việc thực hành một
cách ý thức thừa tác vụ của mình, các Linh Mục còn hưởng nhờ những phương tiện chung và riêng, mới và
cũ mà Chúa Thánh Thần không bao giờ ngừng khơi dậy trong Dân Chúa và Giáo Hội hằng khuyến khích,
đôi khi còn buộc dùng, để thánh hóa các chi thể mình. Trong tất cả các phương thế thiêng liêng, quan trọng
hơn tất cả là những hoạt động giúp các Kitô hữu được nuôi dưỡng bằng Ngôi Lời nơi Bàn Thánh Kinh và
Bàn Thánh Thể 162 ; ai cũng biết rằng việc siêng năng lui tới bàn thánh quan trọng chừng nào cho việc thánh
hóa bản thân các Linh Mục.
Các thừa tác viên của ân sủng bí tích kết hợp mật thiết với Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế và là Chúa
Chiên nhờ chịu các phép bí tích cách hiệu quả, nhất là trong việc năng chịu bí tích cáo giải, được chuẩn bị
bằng sự xét mình hàng ngày, vì nó giúp nhiều cho việc thật lòng trở về với tình yêu của Cha từ bi. Dưới ánh
sáng đức tin được nuôi dưỡng bằng việc đọc Sách Thánh, các ngài có thể tận tâm tìm kiếm những dấu hiệu
của thánh ý Chúa và những thúc đẩy của ơn thánh Ngài trong những biến cố khác nhau của đời sống, và như
thế ngày càng trở nên dễ dàng vâng phục sứ mệnh đã nhận lãnh trong Chúa Thánh Thần hơn. Các ngài luôn
tìm thấy gương mẫu lạ lùng về sự dễ vâng phục đó nơi Đức Trinh Nữ Maria, người được Chúa Thánh Thần
dẫn dắt đã hiến toàn thân cho mầu nhiệm cứu chuộc loài người 163 ; các Linh Mục phải lấy lòng con thảo
thành kính tôn sùng và yêu mến Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Linh Mục thượng phẩm vĩnh viễn, là Nữ Vương
các Tông Đồ và là Đấng bảo trợ thừa tác vụ Linh Mục.
Để trung thành chu toàn thừa tác vụ của mình, các ngài phải chuyên tâm đàm đạo hằng ngày với Chúa
Kitô trong lúc viếng Mình Thánh Chúa và trong việc cá nhân tôn sùng phép Thánh Thể Chí Thánh; các ngài
hãy tự ý chăm lo việc tĩnh tâm thiêng liêng và mến chuộng việc linh hướng. Bằng nhiều cách, nhất là bằng
16* Đoạn này nói về thái độ đứng đắn của Linh Mục về các giá trị nhân bản và thực tại trần thế, về việc sử dụng tài sản
của Giáo Hội và về giá trị của đức nghèo khó theo gương Chúa Kitô và các Tông Đồ
tâm nguyện vẫn được thực hành trong Giáo Hội và bằng những hình thức kinh nguyện khác nhau tùy các
ngài tự ý lựa chọn, các Linh Mục tự luyện và cố tâm khẩn cầu Chúa ban cho mình một tinh thần thờ phượng
đích thực, nhờ đó các ngài cùng với dân được trao phó sẽ kết hợp mật thiết với Chúa Kitô là Đấng Trung
Gian của Giao Ước Mới, và như thế, họ có thể kêu lên như những nghĩa tử “Abba, Cha” (Rm 8,15). 164 17*
19. Trong lễ nghi truyền chức, Đức Giám Mục khuyên bảo các Linh Mục hãy “trưởng thành trong sự hiểu
biết ” và lời giáo huấn của các ngài phải là “Linh dược thiêng liêng cho Dân Chúa” 165 . Nhưng kiến thức của
thừa tác viên thánh cũng phải thánh vì nó phát xuất từ nguồn mạch thánh và quy hướng về cùng đích thánh.
Vì vậy, kiến thức đó trước hết rút ra từ việc suy gẫm Sách Thánh 166 , nhưng nó cũng được nuôi dưỡng hữu
hiệu bằng việc nghiên cứu những tài liệu của các giáo phụ, các Thánh Tiến Sĩ và các tài liệu khác của Thánh
Truyền. Ngoài ra, để trả lời thỏa đáng những vấn đề do con người thời nay nêu lên, các Linh Mục phải hiểu
biết cho thấu đáo tài liệu của quyền Giáo Huấn, nhất là của các Công Đồng và của các Đức Giáo Hoàng,
cũng như phải tham khảo những tác giả thần học thời danh nhất và đã được thừa nhận.
Thực ra, trong thời đại chúng ta, văn hóa nhân loại và ngay đến những khoa học thánh cũng tiến
thêm một bước mới, nên khuyên các Linh Mục hãy hoàn bị kiến thức của Thiên Chúa và về nhân loại một
cách thích hợp liên tục, và như thế, các ngài tự chuẩn bị để đối thoại với những người đương thời một cách
thích hợp hơn.
Để các Linh Mục nghiên cứu dễ dàng hơn cũng như để học hỏi những phương pháp rao giảng Phúc
Âm và làm việc Tông Đồ một cách hiệu quả hơn, phải hết sức lo cho các ngài có những phương tiện những
thích hợp, như tổ chức những khóa học tập hay những khóa hội thảo tùy hoàn cảnh chung của từng địa hạt,
thiết lập những trung tâm học hỏi mục vụ, thành lập những thư viện và cắt đặt thích ứng những người có khả
năng điều khiển công việc học tập. Ngoài ra mỗi Giám Mục riêng biệt hay nhiều Giám Mục hợp lại, phải
cân nhắc để tìm ra phương cách thích hợp nhất, hầu hết các Linh Mục của mình có thể lui tới khóa học, vào
thời gian ấn định, nhất là một vài năm sau khi chịu chức 167 ; nhờ vậy, các ngài có dịp vừa để thâu nhận thêm
những kiến thức đầy đủ hơn về phương pháp mục vụ và khoa thần học, vừa để củng cố đời sống thiêng liêng
và để cùng trao đổi với anh em những kinh nghiệm Tông Đồ 168 . Cũng nên dùng những phương tiện này và
những phương tiện thích nghi khác để đặc biệt giúp đỡ những cha sở mới và những vị đã được chỉ định cho
một công cuộc mục vụ mới, hoặc những vị được sai đến một giáo phận hay một quốc gia khác.
Sau hết, các Giám Mục nên lo liệu cho một số Linh Mục chuyên về các khoa học thánh để không bao
giờ thiếu các giáo sư đầy đủ khả năng đào tạo hàng Linh Mục, để giúp các Linh Mục khác và các tín hữu
lãnh nhận được nền giáo thuyết cần thiết, và để khuyến khích sự tiến triển lành mạnh trong các môn học
thánh, vì sự tiến triển đó rất cần thiết cho Giáo Hội. 169 18*
20. Nhờ hiến thân Phụng Vụ Thiên Chúa việc chu toàn nhiệm vụ được trao phó, các Linh Mục được nhận
lãnh một số các thù lao cân xứng vì “thợ đáng lương của mình” (Lc 10, 7) 170 và “Chúa đã định liệu những ai
ra giảng Phúc Âm” (1 Cor 9, 14). Bởi thế, nơi nào không có sẵn thù lao cân xứng cho các Linh Mục, thì
chính các tín hữu phải nhận lấy trách nhiệm lo cho các ngài được những điều cần thiết hầu có được một mức
sống thích hợp và xứng đáng, bởi chính vì lợi ích các tín hữu mà các ngài hy sinh hoạt động. Còn các Giám
Mục phải nhắc nhớ cho các tín hữu trách nhiệm này và phải lo liệu – hoặc vị nào cho giáo phận nấy, hoặc
tiện hơn là nhiều vị chung nhau một vùng – lập ra những qui luật giúp đảm bảo đúng mức một số trợ cấp
xứng đáng cho những vị đang thi hành hay đã thi hành một vài chức vụ trong việc phục vụ Dân Chúa. Phần
thù lao cấp phát cho mỗi vị phải được ấn định hoặc tùy theo bản chất của chức vụ hoặc tùy theo hoàn cảnh
địa phương và thời gian. Nhưng phần thù lao căn bản phải đồng đều cho tất cả các vị có chung một hoàn
cảnh của các ngài, và hơn nữa phải giúp các ngài chẳng những có thể cấp một phần thù lao cân xứng cho
17* Công Đồng đan cử những phương thế chung và riêng thích hợp với chức vụ mục vụ của các Linh Mục. Bằng những
phương thế khác nhau, các Linh Mục có thể thánh hóa bản thân. Chính khi thi hành chức vụ mình và có thể kết hợp
mất thiết với Chúa Kitô, Đấng Trung Gian của Tân Ước.
những vị hy sinh giúp việc các ngài, nhưng còn có thể tự mình giúp đỡ những kẻ thiếu thốn vì một lý do nào
đó; thực vậy, việc phục vụ kẻ nghèo khó ngay từ thuở ban đầu đã được Giáo Hội luôn luôn nhiệt liệt tán
thưởng. Ngoài ra, cũng phải lo liệu làm sao cho phần thù lao có thể giúp các Linh Mục hằng năm có một
thời gian nghỉ ngơi thích đáng và đầy đủ; các Giám Mục phải lo cho các Linh Mục có thể có thời gian nghỉ
ngơi đó.
Tuy nhiên phải dành tầm quan trọng bậc nhất cho chức vụ cho các thừa tác viên thi hành. Vì thế, hệ
thống mệnh danh là “ân bổng” phải được bãi bỏ, hoặc ít ra phải được cải tổ thế nào để phần ân bổng, nghĩa
là quyền thụ hưởng những lợi tức bởi chức vụ, được coi như chuyện phụ thuộc, và theo luật, phải nhường
địa vị chính yếu cho chính chức vụ của Giáo Hội, các chức vụ mà từ nay phải được hiểu là bất cứ nhiệm vụ
nào được trao phó cách lâu bền để thi hành chằm mục đích thiêng liêng.
21. Phải luôn luôn nhớ đến gương mẫu của các tín hữu thời Giáo Hội sơ khai ở Giêrusalem đã đặt “mọi sự
làm của chung” (CvTđ 4, 32) và “phân phát cho mỗi người tùy nhu cầu” (CvTđ 4, 35). Vì vậy, ít ra trong
những miền mà sự cấp dưỡng cho giáo sĩ tùy thuộc hoàn toàn phần lớn vào việc dâng cúng của các tín hữu,
thì rất nên có một tổ chức giáo phận nào đó thu góp những của dâng cúng nhằm mục đích này; tổ chức này
do Giám Mục điều khiển với sự trợ giúp của những Linh Mục được ủy nhiệm, cũng như của cả giáo dân
thông thạo trong lãnh vực kinh tế nếu thấy là hữu ích. Ngoài ra cũng ước mong rằng nếu có thể nên thành
lập một công quỹ trong mỗi giáo phận hay mỗi miền để nhờ đó các Giám Mục có thể thỏa mãn các bổn phận
khác đối với những người phục vụ Giáo Hội, và trợ giúp những nhu cầu khác trong giáo phận, và cũng nhờ
đó các giáo phận giàu hơn để sự dư dật của giáo phận này bù đắp cho sự thiếu thốn của giáo phận khác 171 .
Công quỹ này phải được thiết lập trước hết do những của cải các tín hữu dâng cúng còn do những nguồn lợi
khác như đã được qui chế ấn định.
Ngoài ra trong các quốc gia mà sự bảo hiểm xã hội cho hàng giáo sĩ, chưa được tổ chức cách thích
hợp, các Hội Đồng Giám Mục hãy lưu ý đến giáo luật và dân luật mà lo liệu cho có những tổ chức trong
giáo phận – và có thể liên kết các tổ chức khác với nhau, hoặc một hội được thành lập cho toàn vùng ; nhờ
những tổ chức này và dưới sự chăm sóc của hàng Giáo Phẩm, việc bảo hiểm xã hội được dự liệu đầy đủ cho
tổ chức mà người ta gọi là tổ chức y tế dự phòng và cứu trợ, và dự liệu việc trợ cấp cân xứng cho các Linh
Mục bệnh tật, tàn phế và già yếu. Các Linh Mục phải giúp đỡ các tổ chức được thành lập như thế với một
tinh thần liên đới với anh em mình và thông cảm những nỗi khổ tâm của họ 172 . Đồng thời chính vì không
phải bận tâm đến tương lai, các ngài có thể hoàn toàn tận hiến cho phần rỗi các linh hồn và thực hành đức
khó nghèo trong tinh thần Phúc Âm một cách hăng say hơn. Những vị có trách nhiệm phải cố gắng liên đới
các tổ chức như thế thuộc các quốc gia khác nhau để chúng thêm vững chắc và được phổ biến rộng rãi hơn.
KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NHỦ
22. Thánh Công Đồng này nhớ đến những hoan lạc của đời sống Linh Mục không thể quên được những khó
khăn mà các Linh Mục phải chịu trong những hoàn cảnh của đời sống hiện tại. Thánh Công Đồng cũng biết
rằng tình trạng kinh tế, xã hội và ngay cả những phong tục của con người đang thay đổi rất nhiều và bậc
thang giá trị cũng đang đảo lộn không ít trong trí phán đoán của con người ; do đó, các thừa tác viên của
Giáo Hội và đôi khi ngay cả các Ki-tô hữu đều cảm thấy mình như xa lạ trong thế giới này và áy náy tìm
kiếm không biết phải dùng phương pháp, lời nói nào thích hợp để có thể giao thiệp với đời. Thật vậy, những
chướng ngại mới cho đức tin, những việc làm bề ngoài xem ra vô ích, cũng như sự cô đơn cay đắng đã từng
trải, có thể dẫn các ngài tới chỗ nguy hiểm làm cho các ngài chán ngán.
Nhưng thế giới ngày nay được trao phó cho tình yêu và thừa tác vụ của các vị Chủ Chăn trong Giáo
Hội là thế giới mà Thiên Chúa hết sức yêu thương đến nỗi đã trao ban Con Một của Ngài 173 . Thực ra, tuy bị
nhiều tội lỗi chế ngự, thế giới này có những khả năng lớn lao để hiến cho Giáo Hội những viên đá sống động
174 hầu cùng nhau xây dựng đền thờ Thiên Chúa trong Chúa Thánh Thần 175 . Khi Chúa Thánh Thần thúc đẩy
18* Đối với các Linh Mục, việc học hỏi thêm, việc trao đổi liên tục về kiến thức và văn hóa phổ thông rất cần thiết trong
thời đại chúng ta. Thiếu tinh thần ấy, chức vụ của các ngài không thể đáp ứng đúng với thời đại trong việc rao truyền
Phúc Âm.
Giáo Hội mở những con đường mới dẫn đến thế giới ngày nay, thì chính Ngài cũng khởi xướng và khuyến
khích những cải tổ thích hợp cho chức vụ Linh Mục.
Các Linh Mục phải nhớ rằng không bao giờ các ngài lẻ loi trong khi thi hành bổn phận, nhưng dựa vào
sức mạnh của Thiên Chúa toàn năng và tin tưởng vào Chúa Kitô, Đấng đã mời gọi các ngài thông phần vào
chức Linh Mục của mình, các ngài phải hết lòng tin tưởng mà hiến thân cho chức vụ mình, vì biết rằng
Thiên Chúa toàn năng có thể ban cho các ngài thêm tình yêu 176 . Các ngài cũng phải nhớ rằng các anh em
trong chức Linh Mục và ngay cả các tín hữu trên toàn thế giới cũng là bạn hữu của mình. Thực vậy, mọi
Linh Mục đều cộng tác để chu toàn ý định cứu rỗi của Thiên Chúa – nghĩa là mầu nhiệm Chúa Kitô hay là bí
tích từ muôn đời đã được dấu kín trong Thiên Chúa 177 – ý định đó chỉ được thực hiện dần dần nhờ liên kết
nhiều chức vụ khác nhau trong việc xây dựng Thân Thể Chúa Kitô cho đến khi Thân Thể hoàn toàn triển nở
và tất cả những điều đó vì được ẩn dấu với Chúa Kitô trong Thiên Chúa 178 , nên nhờ đức tin mà có thể nhận
biết được rõ ràng. Thật vậy, các vị lãnh đạo Dân Chúa phải bước đi trong đức tin theo gương của Abraham
trung thành, là người đã lấy đức tin “vâng lời đi đến nơi mà mình sẽ nhận làm cơ nghiệp : ngài sẽ ra đi mà
chẳng hiểu mình sẽ đi đâu” (Dt 11, 8). Thực ra, người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa có thể sánh
với người gieo giống trong ruộng mà Chúa đã nói : và người ấy ngủ hay thức, đêm cũng ngày, hạt giống
nảy mầm và lớn lên, trong khi người ấy chẳng biết gì” (Mc. 4, 27). Hơn nữa, Chúa Kitô đã nói “các con hãy
vững tin, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16, 33); qua lời này, Người không hứa cho Giáo Hội Người một cuộc
toàn thắng ở trần gian này. Vậy Thánh Công Đồng vui mừng vì mặt đất đã được hạt giống Phúc Âm gieo
vãi, nay đang sinh hoa kết quả ở nhiều nơi dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Đấng lấp đầy cả trái
đất và khởi xướng trong tâm hồn nhiều Linh Mục và tín hữu tinh thần truyền giáo đích thực. Về tất cả điều
đó, Thánh Công Đồng rất thân ái cám ơn mọi Linh Mục trên toàn cầu “ chúc tụng Đấng Quyền Năng làm
được mọi sự các phong phú hơn điều ta cầu xin hay hiểu biết, tùy theo quyền phép mà Ngài thực hiện nơi
chúng ta : chúc tụng vinh quang Ngài trong Giáo Hội và trong Chúa Giêsu Kitô” (Eph 3, 20-21). 19*
Tất cả và từng điều đã được ban bố trong Sắc lệnh này đều được các nghị PhụThánh Công Đồng chấp
thuận. Và, dùng quyền Tông Đồ Chúa Kitô trao ban, hiệp cùng các Nghị Phụ khả kính, trong Chúa Thánh
Thần, Chúng Tôi phê chuẩn, chế định và quyết nghị, và những gì đã Thánh Công Đồng quyết nghị, Chúng
Tôi truyền công bố cho Danh Chúa cả sáng.
Roma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 7 tháng 12 năm 1965.
Tôi, Phaolô Giám Mục Giáo Hội Công Giáo
Tiếp theo là chữ ký của các nghị Phụ
CHÚ THÍCH
1. CĐ Vat II, Hiến chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium : AAS 56 (1964), trg 97 tt ; -Hiến
Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium : AAS 57 (1965), trg 5tt ; – Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của
các Giám Mục Christus Dominus ; – sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục Optatam Totius.
2. Xem Mt 3, 16 ; Lc 4, 18 ; Cv1, 27 ; 10, 38.
3. Xem 1 P 2, 5 và 9.
4. Xem 1 P 3, 15.
5. Xem Kh 19, 10. – CĐ Vat. II, Hiến Chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentitum, số 35 : AAS 57 (1965),
trg 40 – 41.
6. CĐ Trentô, khóa XXIII, Chúa, 1 và đ. th : Dz 957 và 961 (1764 – 1771)
7. Xem Gio 20,21 – CĐ Vat. II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 18 : AAS 57 (1965), trg
21-22.
8. Xem CĐ VAT. 11, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentiam, số 28 : AAS 57 (1965),trg 33-36.
9. Xem n.v.t
10. Xem Pont.Rom, kinh tiền tụng lễ phong chức Linh Mục. Những lời này đã có trong Sacramentarlum
Veronense x.b.L.G.Mohiberg, Roma 1956,trg 122; và trong missale Francorum : x,b. L.G.Mohlberg,
Roma 1960,trg 25;và trong Pontificale Romano Germanicum:x.b,vogel-elze, città del vaticano,
1963,c.I,trg 34
11. Xem CĐ Vat.II, Hiến chế tín lý về giáo hội Lumen Gentium,số 10:;AAS 57(1965) trg 14-15.
12. Xem Rm 15, 16 bản Hy Lạp.
13. Xem 1Cor 11, 26.
14. T. Augustino, De civitate Dei, 10,6: Pl. 41,284
15. Xem 1Cor 15, 24.
16. Xem Dt 5, 4.
17. Xem Dt 2, 17; 4, 15.
18. Xem 1 Cor 9, 19 – 23, bản Phổ Thông.
19. Xem CvTđ 13, 9.
20. “ Chính những hoàn cảnh ngoại tại mà Giáo Hội đang sống lại thúc đẩy lòng hăng say tiến tới trong
đời sống thiêng liêng và luân lý. Thực vậy, Giáo Hội không thể ngồi yên và lãnh đạm trước những đổi
thay của thế giới loài người đang vây bọc Giáo Hội và đang gây ảnh hưởng tới đời sống thực tế của
Giáo Hội bằng trăm phương nghìn cách, khiến cho Giáo Hội phải chiều theo một vài hoàn cảnh nào
đó. Mọi người đều biết rằng : Giáo Hội không tách biệt khỏi xã hội loài người, nhưng là sống giữa xã
hội loài người, cho nên con cái Giáo Hội không những chịu ảnh hưởng của xã hội loài người, lại còn
thấm nhiễm nền văn hóa, tuân theo luật lệ và mang lấy những phong tục của xã hội này nữa. Mối liên
hệ mật thiết với xã hội loài người tạo cho Giáo Hội một tình trạng luôn luôn có những vấn đề phải
giải quyết, mà ngày nay những vấn đền này lại càng thêm trầm trọng (…). Thánh Phaolô đã khuyên
nhủ các Ki-tô hữu thời Ngài : “Anh em đừng mang ách chung với những người vô tín ngưỡng. Thực
vậy sự công bằng đâu có hòa hợp với sự bất công ? Xã hội ánh sáng đâu có chung đụng với xã hội tối
tăm ? … Phần của các tín hữu làm sao chung phần với người vô tín ngưỡng ? (2Cor 6, 14-15). Vì thế
những ai lo việc giáo dục và huấn luyện trong Giáo Hội ngày nay, cần phải nhắc nhở thanh thiếu niên
Công giáo nhận biết địa vị cao đẹp của họ, cũng như do đó bổn phận phải sống giữa thế gian, hòa với
Lời Chúa Kitô đã cầu nguyện cho các Tông Đồ : “con không xin Cha đem họ ra khỏi thế gian, nhưng
xin gìn giữ họ khỏi sự dữ. Họ không thuộc về thế gian, như Con không thuộc về thế gian” (Ga 17, 15-
16). Giáo Hội đã nhận lời cầu nguyện đó làm của mình. Tuy nhiên, phân biệt khỏi thế gian, cũng
không phải là thờ ơ, sợ hãi hay miệt thị thế gian. Thực vậy, khi tự phân biệt với nhân loại không phải
là Giáo Hội chống đối thế gian, nhưng đúng hơn, Giáo Hội kết hợp với thế gian vậy.(Phaolô VI, Tđ.
Ecclesiam suam, 6-8 : AAS 56 ( 1964), trg 627 và 638).
21. Xem Rm 12,2
22. Xem Ga 10, 14-16.
23. Xem T. Polycarpô, Epist, ad Philippenses, VI, 1 : “Hơn nữa, các linh mục phải có lòng thương xót,
nhân ái với mọi người, phải dẫn đưa những người lầm lạc, thăm viếng những ai bệnh hoạn, không bỏ
quên quả phụ, cô nhi hay người túng cực, một phải luôn luôn lo làm điều thiện trước mặt Thiên Chúa
và người ta, phải kiềm chế khỏi mọi nóng giận, đón nhận mọi người, không phán đoán bất chính, phải
giữ mình xa lòng tham hố tiền tài, không quá vội tin chuyện xấu của người khác, cũng không nên cứng
rắn trong phán đoán, vì biêt rằng tất cả trong chúng ta điều là những người tội lỗi” (x.b F.X.funk,
patrer apostoliei,I,trg 273)
24. Xem 1 P 1, 23; CvTđ 6, 7; 12, 24. “Các Tông Đồ rao giảng lời chân lý và đã khai sinh các Giáo Hội “
:T. Augustinô, Enarr. In Ps. 44, 23 : Pl 36, 508.
25. Xem Gal 2, 7; 1Tm 4, 11-13; 2Tm 4, 5; Tt 1,9.
26. Xem Mc 16, 16.
27. Xem 2 Cor 11, 7. Những gì nói về các Giám Mục cũng có giá trị cho các Linh Mục với tư cách là
cộng tác viên của các Giám Mục. xem Statuta Ecclestae Antiqua, c. 3 (x. b. Giáo Hội. Munier, Paris
1960 trg 79) Decretum Gratlant, Chúa Thánh Thần 6, D.88 (x. b. Friedberg, 1, 307); CĐ Trentô sắc
lệnh De Reform, khoá V, Chúa. 2, số 9 (Conc, Oec, Decreta, x. b. Herder, Roma 1962, trg 645) khoá
XXIV, Chúa. 4, trg 739; CĐ Vat. II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 21-11-1964, số 25 :
Aas 57 (1965), trg 20-31.
28. Xem Constitutiones Apostolorum, 11, 26,7 : “ (Các Linh Mục ) hãy trở nên những vị tiến sĩ thông thạo
khoa học về Thiên Chúa, vì chính Chúa đã truyền cho chúng ta khi Ngài phán : “Các con hãy đi giảng
dạy v. v…” x. b. FX. Funk, Didascatia et Constitutions Apostorum, 1, Paderborn, 1965, trg 105. –
Sacramentarium Leonianum và những sách lễ nghi khác cho tới Pontificale Romanum, Kinh tiền tụng
lễ phong chức Linh Mục : “Lạy Chúa, với sự quan phòng ấy, Chúa đã cho các Tông Đồ của Con Chúa
có những người bạn tiến sĩ trong đức tin như những người trợ lực trong việc rao giảng, để các Tông
Đồ gieo vãi Phúc Âm trên toàn thế giới” – Liber Ordinum liturgiae Mozabicae, Kinh tiền tụng phong
chức Linh Mục : “là những tiến sĩ của dân và thủ lãnh của giáo hữu, ước gì các ngài duy trì đức tin
công giáo trong trật tự và rao giảng ơn cứu rỗi chân thực cho mọi người : : x. b M. Férotin, Le Liber
Ordinum en usage dans l’Église Wisigothiques et Mozarabe được’Espagne : Monumentta Ecclesiae
Liturgica, q. 5, Paris 1904, cột 55, hàng 4-6.
29. Xem Gal 2, 5.
30. Xem 1 P 2, 12
31. Xem lễ nghi phong chức Linh Mục trong Giáo Hội Giacobit ở Alexandria : “… hãy tập hợp dân chúng
ngươi đến nghe lời giáo lý, như người mẹ nâng niu con cái mình” : II. Denzinger, Ritus Orientaliu, bộ
II Wuzburg 1863, trg 14.
32. Xem Mt 28, 19; Mc 16, 19; – Tertullianô, De Baptismo, 11, 2(Corpus Christianorum, Series latina, 1
trg 289, 11-13); – T. Athanasiô, Adv. Arianos, 242; PG 26, 237 A-B; – T. Hieronymô, In Mt 28, 49:
Phao Lô 26, 226 D : “Trước hết các ngài dạy dỗ mọi dân nước, tiếp đến lấy nước rửa tội những kẻ đã
được giáo huấn. Thật vậy, không thể để cho thể xác nhận lãnh bí tích Rửa Tội khi linh hồn chưa lãnh
nhận chân lý đức tin “; – T. Tôma, Expositio primae Decretalis, $ 1 : “ Khi sai các môn đệ đi rao giảng,
Đấng cứu thế của chúng ta đã trao cho họ ba mệnh lệnh. Trước nhất là giảng đức tin thứ đến là ban các
Bí Tích cho những kẻ có lòng tin” : x. b. Marietti, Opusenla Theologica, Taurini Roma 1954, 1138.
33. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Scarosanctum Concilium, 4-12-1963, số 35, 2 : AAS
56 (1964), trg 109.
34. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Scarosanctum Concilium, 4-12-63, số 33, 35, 48, 52,
trg 108-109, 113, 114.
35. Xem n.t., số 7 (trg 100-101). – Piô XII, Tđ. Mystici Corporis, 2-6-1943 : AAS 35 (1943), trg 230.
36. T. Ignatiô Tử đạo, smyrn., 8, 1-2 : x. b. F.X. Funk 6 trg 240. – Constitutiones Apostolorum, VIII, 12, 3
: x. b. F.X. Funk. 196; VIII, 29, 2, n.t., trg 532.
37. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 21-11-1964, số 28 : AAS 57 (1965),
33-36.
38. Bí Tích Thánh Thể là sự đúc kết tất cả đời sống thiêng liêng và là cứu cánh của tất cả các Bí Tích
khác : T. Tôma, Summa Theol. III, q. 73, a. 3 c : xem Summa Theol. III, q. 65, a. 3.
39. xem Summa Theol. III, q. 65, a. 3, ad 1; q. 79, a. 1, Chúa Thánh Thần và ad 4.
40. Xem Eph 5, 19-20
41. Xem T. Hieronymô, Epist., 114, 2: “… chén thánh, khăn thánh và tất cả những gì liên quan đến việc
tôn sùng cuộc Tử Nạn của Chúa. .. vì được thông công với Mình và Máu Chúa nên phải được kính cẩn
như chính Mình và Máu Người vậy” : PL 22, 924. – Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh,
4-12-1963, số 122-127 : AAS 56 (1964), trg 130-132.
42. “ Hơn nữa, các tín hữu đừng xao lãng việc năng viếng Mình Thánh Chúa ; Mình Thánh Chúa phải
được cất trong nhà thờ, tại một nơi xứng đáng nhất và hết sức vinh dự, theo luật phụng vụ. Thực vậy
việc kính viếng Chúa Kitô hiện diện nơi đây là một dấu chỉ biết ơn đối với Chúa Kitô, là bảo chứng
tình yêu và là việc tôn thờ thích đáng” : Phaolô VI. Tđ. Mysterium Fidei, 3-9-1965 : AAS 57 (1965),
trg 771.
43. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 21-11-1964, số 28 : AAS 57 (1965),
trg 33-36.
44. Xem 2 Cor 10, 8; 13, 10
45. Xem 1 Cor 4, 14.
46. Xem Gal 1, 10.
47. Xem Didascalia, 11, 34, 3; 11, 46, 6; 11, 47, 1: – Constitutiones Apostolorum, 11, 47, 4 : x.b F.X.
Funk, Didascalia et Constitutiones, 1, trg 116,142 và 143
48. Xem Gal 4, 3; 5, 1 và 13
49. Xem T. Hieronymô, Epist., 58, 7 : “Thành quách chói sáng ngà nào có ích chi, nếu Chúa Kitô chết đói
trong thân phận một người nghèo khổ ?” : Pl 22, 584.
50. Xem 1P 4, 10 tt.
51. Xem Mt 25, 34-35.
52. Xem Lc 4, 18.
53. Có thể kể những hạng người khác, ví dụ những người di cư, những dân cư du mục v.v… Vấn đề này
được đề cập trong Sắc Lệnh về Nhiệm vụ Mục vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội Christus
Dominus, 28-10-1965.
54. Xem Didascalia, II, 59, 1-3: “ khi dạy dỗ, hãy truyền giáo và khuyến dụ dân chúng năng đến nhà thờ,
đừng bao giờ vắng mặt, trái lại tụ họp nhau luôn, và đừng xa lánh, vì như thế đã khiến cho Giáo Hội bị
giảm thiểu và bớt mất một chi thể nơi Thân Thể Chúa Kitô. .. Vậy anh em là Chi Thể Chúa Kitô,
chính anh em đừng phân tán xa Giáo Hội chỉ vì không chịu hội họp với nhau; anh em có Chúa Kitô là
Đầu, Người đang hiện diện và thông hiệp với anh em theo như lời Người hứa, vì thế chính anh em
đừng khinh khi và khiến Đấng Cứu Thế trở nên xa lạ với các chi thể Người, đừng chia rẽ phân tán
Thân Thể Người…” : x. b. F. X. Funk, I trg. 170. – Phaolô VI, diễn văn trước một số giáo sĩ Ý tham
dự Đại hội XIII Di attiorn amento pastorale, 6-9-1963 : AAS (1963), trg 750 tt.
55. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 21-11-1964, số 28 : AAS 57 (1965),
trg 35.
56. Xem Constitutionem Ecclesiasticam Apostolorum, XVIII : Các Linh Mục là những kẻ đồng tham dự
các mầu nhiệm (symmystai) và đồng chiến đấu (synepemachoi) của các Giám Mục : x.b. Tín hữu.
Schermann, Die allgemeine Kirchenordnung, I, Paderborn 1914, trg 26. – A. Harnack, Die Quellen der
sog. Apostolischen Kirchenordnung, T. u. U. II, 5, trg 13, số 18 và 19. – Hieronymô Giả, De Speptem
Ordinibus Esslessiae : “… trong việc chúc lành, họ là những người cùng với Giám Mục tham dự các
mầu nhiệm “ : x.b. A. W. Karlff, Wurzbrg 1937, trg 45. – T. Isidorô Hispal, De Esslesiasticis Officilis,
II, ch. VII : “ Họ đứng đầu Giáo Hội của Chúa Kitô và tham dự với các Giám Mục trong việc cử hành
Bí Tích Thánh Thể, cũng như trong việc dạy dỗ dân và trong phận vụ rao giảng” PL 83, 787.
57. Xem Didascalia, II, 28, 4 : x.b. F. X. Funk, trg 108. -Constitutiones Apostolorum, II, 28, 4; II, 34, 3 :
n. v.t. trg 100 và 117.
58. Const. Apost. VII, 16, 4 : x.b. F. X. Funk, I, trg 523. – Xem Epistome Const. Apost., VI : n.v.t., II, trg
80, 3-4. – Testamentum Domint : “…Xin Chúa ban cho người này tinh thần ơn thánh, ơn khuyến dụ,
ơn đai độ, và tinh thần Linh Mục… hầu người này giúp đỡ và cai trị dân Chúa trong việc làm với lòng
kính sợ và tâm hồn trong trắng” : bản dịch Latinh của I. E Rahmani, Moguntiae 1899, trg 69. Ý tưởng
này cũng gặp trong Trad. Apost. : x.b. B. Botte, La Tradition Apostolique de S. Hippolyle, Munster i.
W. 1963, trg 20.
59. Xem Ds 11, 16-25.
60. Pont. Rom. Kinh Tiền Tụng phong chức Linh Mục ; những lời ấy có trong Sacramentarium
Leonianum, Sacramentarium Gelasianum và Sacramentarium Gregorianum. Cũng gặp những ý tưởng
tương tự trong Phụng vụ Đông Phương : xem Trad. Apost. : “Xin Chúa nhìn đến tôi tớ Chúa đây và
khấng ban ơn thánh và ơn khuyến dụ, tinh thần Linh Mục, để tôi tớ Chúa giúp đỡ và cai trị Dân Chúa
với một tâm hồn trong trắng, như Chúa đã nhìn đến Dân Chúa chọn và ra lệnh cho Môsen tuyển lựa
những bô lão mà Chúa đã đổ tràn Thánh Thần Chúa, Thánh Thần mà Chúa đã ban cho tôi tớ Chúa” :
theo bản dịch Latinh Verona, x.b. B. Botte, La Tradition Apostolique de S. Hippolyle. Essai de
reconstruction, Munster i. W. 1963, trg 20. – Const. Apost. VI; x.b. F. X. Funk II trg 20, 5-7. –
Testamentum Domini : bản dịch Latinh của I. E. Rahmani, Moguntine 1899, trg 69. – Euchologium
Serapionis, XXVII : x.b. F. X. Funk, Didascalia et Constitutiones II, trg 190, hàng 1-7. – Ritus
Ordinationis in ritu Maronnitarum : bản dịch II. Denzinger, Ritus Orientalium, II, Wurzburg 1863,rg
161; – Trong số các Giáo Phụ, có thể kể : Theođorô Mopsuestenô, in 1Tim. 3, 8 : x.b. Swete, II, trg
119-121. – Theođorô, Questiones in numeros, XVIII : PG 8, 369C –372B.
61. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 21-11-1964, số 28 : AAS 57 (1965),
trg 35.
62. Xem Gioan XXIII, Td. Sacerdotit Nostri primordia, 1-8-1959 : AAS 51 (1959) trg 576. – T. Piô X,
Huấn dụ giáo sĩ Haerent Animo, 4-81908 : S. Pii X Acta, q. IV (1908), trg 237 tt.
63. Xem CĐ Vat. II, Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của Giám Mục trong Giáo Hội Christus Dominus, 2-
10-1965, số 15 và 16.
64. Theo Giáo luật hiện hành, kinh sĩ hội chính tòa như là “ nguyên lão viện và ban cố vấn” của Giám
Mục (C. I. C., kh. 391) hoặc nếu không có, thì Hội đồng cố vấn giáo phận thay thế (C. I. C., Ki-tô hữu.
423-428). Tuy nhiên, điều người mong ước là tổ chức ấy phải được chỉnh đốn lại cho thích hợp hơn
với những hoàn cảnh và nhu cầu hiện đại. Hội đồng Linh Mục dĩ nhiên khác Ủy ban cố vấn mục vụ :
về vấn đề này có nói trong Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của Giám Mục trong Giáo Hội Christus
Dominus, 28-10-1965, số 27, vì trong Ủy Ban mục vụ có cả giáo dân, và những gì có thẩm quyền
trong những gì liên quan đến hoạt động mục vụ. Về việc các Linh Mục như là cố vấn của Giám Mục
có thể xem Didascalia II, 28 4 : x.b. F. X. Funk, trg 108. – Const. Apost. II, 28, 4 : x.b. F. X. Funk,I,
trg 109. – T. Ignatiô Tử đạo, Mgn, 6, 1 : x.b. F. X. Funk, trg. 191; Trail., 3, 1 : x.b. F. X. Funk, trg 204.
– Origenê, Contra Celsum III, 30 : Các Linh Mục là những cố vấn hay là bouleytai : PG 11, 957D –
960A.
65. Ignatiô Tử đạo, Mag., 6,1 : “Cha van xin các con hãy chăm chú làm mọi sự trong bầu khí của Thiên
Chúa, dưới quyền Giám Mục, đại diện Thiên Chúa, dưới quyền các vị Linh Mục, đại diện Hội đồng
các Tông Đồ, và dưới quyền các phó tế rất thân ái của Cha, vì những người này được uỷ thác phục vụ
Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã ngự bên Thiên Chúa từ trước khi có các thời đại, và đã xuất hiện vào cuối
thời” : x.b. F. X. Funk, trg 195. – T. Ignatiô Tử đạo, Trall. 3, 4 : “Cũng vậy, mọi người hãy kính trọng
các vị phó tế như đối với Chúa Kitô, cũng như kính trọng Giám Mục là hình ảnh Chúa Cha, các Linh
Mục là nguyên lão viện của Thiên Chúa và là hội đồng các Tông Đồ : vì các Đấng ấy, không thể nói
đến Giáo Hội” : n.v.t, trg 204. – T. Hieronymô, in Isaiam, II, 3 : PL 24, 61 D : “ Trong Giáo Hội,
chúng ta cũng có nguyên lão viện của chúng ta là hội đồng Linh Mục”.
66. Xem Phaolô VI, diễn văn tại đền Sixtina cho các cha xứ và các Linh Mục giảng thuyết mùa chay ở
Roma, 1-3—1965 : AAS 57 (1965), trg 326.
67. Xem Const. Apost. VIII, 47, 30 : “ Các Linh Mục… không được gì mà không hỏi ý kiến Giám Mục, vì
chính Giám Mục là người mà dân Chúa dã được uỷ thác và Ngài phải trả lẽ về những linh hồn được
các Linh Mục coi sóc” : x.b. F. X. Funk, trg 577.
68. Xem 3 Gioan 8.
69. Xem Gioan 17, 23.
70. Xem Dt 13, 1-2
71. Xem Dt 13, 16.
72. Xem Mt 5, 10.
73. Xem 1Th 2, 12 ; Col 1, 13.
74. Xem Mt 23, 8. – “Muốn trở thành chủ chăn, thành người cha và thầy của mọi người, chúng ta phải là
anh em của họ” : Phaolô VI, Tđ. Ecclesiam sam, 6-8-1964 : AAS 58 (1964), trg 647.
75. Xem Eph 4, 7 và 16. – Const. Apost. VIII, 1, 20 : “Giám Mục không nên chống đối phó tế hoặc linh
mục, cũng như các Linh Mục không nên chống đối dân chúng, vì cả hai làm thành một cộng đoàn” :
x.b. F. X. Funk, I, trg 467.
76. Xem Ph 2, 21
77. Xem 1Ga 4, 1
78. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 21-11-1964, số 37 : AAS 57 (1965),
trg 42-43.
79. Xem Eph, 4-14
80. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Hiệp Nhất Unitalis Redintegratio, 21-11-1964, số 57 : AAS 57
(1965), trg 90 tt.
81. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 21-11-1964, số 28 : AAS 37 (1965),
trg 42-43
82. Xem Dt 7, 3.
83. Xem Lc 10, 1.
84. Xem 1 P 2, 25.
85. Xem Cvtđ 20, 28.
86. Xem Mt 9, 36.
87. Pont. Rom. Lễ phong chức Linh Mục.
88. Xem CĐ Vat. II. Sắc lệnh về đào tạo Linh Mục Optatam Totius, 28-10-1965, số 2.
89. Tiếng Chúa gọi được biểu hiện bằng hai cách khác nhau, nhưng đều tuyệt diệu và đồng quy : một là
tiếng nói bên trong, đó là tiếng nói của ơn thánh, của Chúa Thánh Thần, của một sức lôi cuốn nội tâm
khôn tả một tiếng nói âm thầm và quyền năng của Chúa phát tỏa trong thâm cung con người không thể
đo lường được ; tiếng nói khác từ bên ngoài, có tính cách nhân loại, khả giác, xã hội, luật pháp cụ thể,
đó là tiếng nói của các thừa tác viên lời Chúa có đủ phẩm cách, là tiếng nói của vị Tông Đồ, của Phẩm
Trật, một công cụ cần thiết đã được Chúa Kitô thiết lập và muốn có như trung gian điển ngữ sứ điệp
của Ngôi Lời và giới luật của Thiên Chúa. Về điều này, giáo lý công giáođã cùng với Thánh Phaolô
dạy rằng : “ Nếu không có người thì biết làm sao được ?. .. Đức tin do nghe nói (Rm10, 14 và 17)” :
Phaolô VI, huấn dụ ngày 5-5-1965 : l’Osservatore Romano, 6-5-1965, trg 1.
90. Xem CĐ Vat. II, Sắc lệnh về việc đào tạo Linh Mục Optatam Totitus, 28-10-1965, số 2.
91. Các Giáo Phụdạy như thế khi chú giải những lời Chúa Kitô nói với Phêrô : “Con có : yêu mến Ta
không?… Hãy chăn các chiên mẹ của Ta” (Ga 21, 17) : chẳng han T. Gioan Kim Khẩu, De Sacerdotio,
II, 2 : PG 48, 633; – T. Gregoriô Cả, Reg. Past. Liber : phần I, ch. 5 : PL 77, 19A.
92. Xem 2 Cor 12, 9.
93. Xem Piô XI, Tđ. Ad catholiei sacerdoti, 20-12-1935 Aas : 28 (1936), trg 10
94. Xem Ga 10, 36.
95. Xem Lc 24, 26.
96. Xem Eph 4, 13.
97. Xem 2 Cor 3, 8-9.
98. Xem các văn kiện : T. Piô X, Huấn dụ giáo sĩ haerent animo, 4-8-198 : S. Pii X Acta, q. IV (1908), trg
237 tt. – Piô XI, Tđ. Ad catholiei sacerdolii, 20-12-1935 : AAS 28 (1936), trg 5 tt. – Piô XII, Tông
huấn Menti Nostrae, 29-9-1950 : AAS 42 (1950), trg 657 tt. – Gioan XXII, Tđ Sacerdolii Nostrae
primordia, 18-1959, ASS 54 (1959), trg 545 tt.
99. Xem T. Tôma, Summa Theol., II-II, q. 188. a 7.
100. Xem Eph 3, 9-10.
101. Xem Cv 16, 4.
102. Xem 2 Cor 4, 7.
103. Xem Eph 3, 9
104. Xem Pont. Rom. Lễ phong chức Linh Mục.
105. Xem Missale Romanum, lời nguyện trên lễ vật Chúa Nhật IX sau Hiện Xuống.
106. “Bất cứ Thánh Lễ nào, dù Linh Mục cử hành một mình cũng không mang tính cách riêng tư, nhưng
đều là hành động của Chúa Kitô và của Giáo Hội ; thực vậy Giáo Hội đã học biết hiến dâng chính
mình trong hy lễ mà Giáo Hội dâng như của lễ phổ quát và ứng dụng sự cứu rỗi độc nhất và vô cùng
của hy lễ Thánh Giá cho phần rỗi của toàn thể thế giới (…)Vậy Ta lấy tình cha con tha thiết nhắn nhủ
các Linh Mục là niềm vui lớn nhất và triều thiên của Ta trong Chúa… các ngài hãy cử hành Thánh Lễ
hằng ngày một cách xứng đáng và thành kính” : Phaolô VI, Tông Đồ. Mystergiùm Fidei 3-9-1965 :
AAS 57 (1965), trg 761-762. – Xem CĐ Vat. II, Hiến chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum
concilum, 4-12-1963, số 26 và 27 : AAS 5 (1964), trg 107.
107. Xem Ga 10, 11.
108. Xem 2 Cor 1, 7
109. Xem 2 Cor 1, 4.
110. Xem 1 Cor 10, 33.
111. Xem Ga 3, 8.
112. Xem Ga 4, 34.
113. Xem 1 Ga 3, 16.
114. “Chăn đắt đoàn chiên của Chúa là chứng minh tình yêu của mình” : T. Augustinô, Trael, in jo., 123, 5
: PL 35, 1967.
115. Xem Rm 12, 2.
116. Xem Gal 2, 2.
117. Xem 2 Cor 7, 4.
118. Xem Cv 13, 2.
119. Xem Eph 5, 10.
120. Xem Cv 10, 22.
121. Xem 2 Cor 12, 15.
122. Xem Eph 4, 11-16
123. Xem Mt 19, 12.
124. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 21-11-1964, số 42 : AAS 57 (1965),
trg 47-49
125. Xem 1 Tm 3, 2-5 ; Tit 1, 6
126. Xem CĐ Piô XI,Tđ. Ad catholici Sacerdolii, 20-12-1935 :ASS 28 (1936), trg 28.
127. Xem Mt 19,12
128. Xem 1Cor 7, 32-34.
129. Xem 2Cor 11,2.
130. Xem CĐ Vat II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 42 và 44 : ASS 57 (1965) trg 47-49
và 50-51. –Sắc lệnh về việc canh tân thích nghi đời sống Dòng Tu Perfectae Caritatis, số 12.
131. Xem Lc 35-49 và 50-51.-Piô XI, Tđ. Ad Cathalici Sacerdotii, 20-12-1935: ASS 28 (1936), trg 24-28;
-Tđ. Sacra Vigintas, 25-3-1954 : ASS 46 (1954), trg 169-172.
132. Xem Mt 19,11
133. Xem Gio 17,14-16
134. Xem 1 Cor 7,31.
135. Xem CĐ Antioche, đ.thần học.,25 ; Mansi 2, 1327-1328.- Decretum Gratiani, Chúa,23, C12,q. 1 ; x.b.
Friedberg I-sai-a,trg 684-685.
136. Ở đây, trước tiên hiểu về những quyền lợi và tập quán hiện có nơi các Giáo Hội Đông Phương.
137. CĐ Paris, năm 829, đ. th. 15 : M. G. H, Legum Sect. III, Concilia, q. 2, trg 662. – CĐ Trentô, khóa 25
De Reform., 1 : Conc. Oce. Decreta, x.b Herder, x. b. Herder, Roma 192, trg 760-761.
138. Xem Tv 62, 11 (bản Phổ Thông 61).
139. Xem 2 Cor 8,9
140. Xem Cv 8,18-25.
141. Xem Ph 4,12
142. Xem Cv 2,42-47
143. Xem Lc 4,18
144. Xem CĐ Vat II. Sắc lệnh về canh tân thích nghi đời sống Dòng Tu Perfectae Caritatis, số 7;- Hiến chế
tín lý về Mạc Khải Dei Verbum, số 21.
145. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 65 : AAS 57 (1965), trg 64-65.
146. Pontificale Romanum, Lễ phong chức Linh Mục.
147. Xem CĐ Vat. II, Hiến Chế tín lý về Mạc Khải Dei Verbum, số 25.
148. Khóa học này khác với khóa hoc mục vụ phải tổ chức ngay khi thụ phong, đã nói trong Sắc lệnh về
việc Đào Tạo Linh Mục Optatam Totius, số 22.
149. Xem CĐ Vat. II, Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của các Giám Mục Trong Giáo Hội Christus Domnus,
số 17.
150. Xem Mt 10, 10 ; 1 Cor 9, 7 ; 1Tm 5, 18.
151. Xem 2 Cor 8, 14.
152. Xem Ph 4, 14.
153. Xem Ga 3, 16
154. Xem 1 P 2, 5
155. Xem Eph 2, 22.
156. Xem Pont. Rom., Lễ phong chức Linh Mục.
157. Xem Eph 3, 9
158. Xem Col 3, 3.
CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II
KHÓA VII
Ngày 28 tháng 10 năm 1965
SẮC LỆNH VỀ
ĐÀO TẠO LINH MỤC
OPTATAM TOTIUS
Ghi chú :
Sắc lệnh này có hai loại chú thích :
– Chú thích có dấu “*” : xin xem ở cuối trang, ví dụ : 1* , 2* ,3* …
– Chú thích không có dấu “*” : xin xem ở cuối sắc lệnh, ví dụ : 159, 160…
NHẬP ĐỀ
Để đo lường tất cả những gì mà Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục mang lại trước tiên, chúng ta hãy
nhìn qua chính việc đào tạo các Linh Mục qua các thời đại, từ thời Giáo Hội sơ khai đến thời Công Đồng
Trentô – lúc mà các chủng viện được thành lập – và từ thời đó đến thời Công Đồng Vaticanô II. Sau đó
chúng ta sẽ nêu lên nguồn gốc và sự tiến triển của chính bản Sắc Lệnh; và rồi chúng ta sẽ tóm lược nội
dung bản văn để rút tỉa những ích lợi của sắc lệnh. Sau cùng là một vài trang về tài liệu hướng dẫn tham
khảo giúp những ai muốn tìm hiểu vấn đề một cách sâu rộng hơn.
I. QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ VỀ VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC
A. Từ thời thượng cổ đến thời Công Đồng Trentô
Các vị chăn dắt Giáo Hội sơ khai thường được tuyển chọn trong số các giáo hữu trưởng thành sống
bên cạnh các Thánh Tông Đồ và những môn đệ trực tiếp của Chuá. Họ rao giảng Phúc Âm, chủ tọa các
buổi họp, “ban phát bánh” như chính Chúa Giêsu đã làm. Những em Kitô Giáo cũng như các trẻ em khác,
đều theo học nền giáo dục cổ điển La Hy do các giáo sư Kitô giáo hay lương dân chỉ dạy. Khi hoàng đế
Giulianô cấm việc giáo dục Kitô hữu với sắc lệnh ngày 17-6-362, người ta nhận thấy các nhà giáo dục Kitô
hữu đã tìm phương thế thiết lập những trường Kitô giáo nhưng lại dạy theo lối cổ điển:đó là hai giáo sư
Apollinarios Tiền vàHậu. Họ phóng tác năm cuốn đầu của Cựu Ứơc theo thể văn thơ, những sách sử kí của
Cựu Ước theo văn thể kịch, và những bản văn của Tân Ước dưới hình thức phỏng theo Plato. Khi sắc lệnh
ngăn cấm được bãi bỏ, năm 364 các giáo sư và học sinh Kitô hữu trở lại vớicác trường cổ điển. Nếu thời ấy
không có những trường học Kitô giáo đặc biệt dành riêng cho các lớp tiểu và trung học, thì lại có những
trường hợp các lớp cao hơn. Những giáo sư như Thánh Giustinô, Thánh Clementê thành Alexendria,
Origenê đã mở phân khoa triết học Kitô giáo với mục đích chống lại chủ trương muốn hạ vấn đề mạc khải
xuống bậc hiểu biết thuần túy tự nhiên.
Những vị giáo sư rất hùng biện này đã đào sâu và trình bày đạo lý Kitô giáo theo đòi hỏi của các nhu
cầu thời đại. Và dĩ nhiên những trường này hầu hết đều dựa vào việc học hỏi vững chắc về Thánh Kinh và
đào tạo cho Giáo Hội những vị Linh Mục và Giám Mục, nhất là ở Roma và Alexandria. Tuy nhiên hầu hết
những giáo sĩ được tuyển chọn đều nhờ sự tiếp xúc cá nhân với các Giám Mục hay Linh Mục đứng tuổi tại
địa phương. Thánh Augustinô đã thành lập chủng viện theo phương cách đó : Giám Mục đương kim và linh
mục cùng chung sống dưới một kỷ luật, và lời giảng dạy với gương sáng của các Đấng chăn dắt là yếu tố
chính yếu trong việc đào tạo Linh Mục. Hinh thức này đã lan rộng đến một vài nơi ở Ý, ở Pháp và ở Tây
Ban Nha nhưng không kéo dài được bao lâu.
Vào thời Trung Cổ, các nơi tu học được liên kết với các học viện lớn để rồi dần dần trở thành những
chủng viện của các dòng này, và đã bảo đảm việc đào tạo các Linh Mục tương lai của dòng. Vào khoảng
năm 826, Đức Giáo Hoàng Eugengiô II, trong Công Đồng họp ở Roma, đã yêu cầu thiết lập trường học bên
cạnh mỗi nhà thờ chánh tòa để giáo dục thanh thiếu niên và để chuẩn bị hàng giáo sĩ tương lai.
Chẳng bao lâu, với đà phát triển của các đại học, những trường trung học và nội trú được thành lập
bên cạnh các đại học để cho các tu sĩ lui tới tham dự. Nhưng số tu sĩ tham dự lại quá ít, và ngoài số các tu sĩ
có trình độ học vấn cao đó, phần lớn các tu sĩ tiếp tục thụ giáo tại nhà để đạt một sự hiểu biết khái quát mà
thôi.
Vào năm 1179, Công Đồng Lateranô III ca ngợi việc thành lập các trường giáo phận trong toàn thể
Giáo Hội. Công Đồng Laternô IV năm 1215 nhấn mạnh rằng tại mỗi trường như thế cần phải có một giáo
sư thần học đầy đủ tư cách để dạy Thánh Kinh và Mục Vụ cho các Linh Mục tương lai. Đức Giáo Hoàng
Honoriô III (năm 1183) trong sắc lệnh “Super Specula” và Đức Bonifaciô VIII (năm 1289) trong sắc lệnh
“Cum ex Eo” cũng đã đặc biệt chú trọng đến vấn đề đào tạo Linh Mục.
Vào thời Phục Hưng, người ta cho rằng một trong những khó khăn trầm trọng của Giáo Hội chính là
việc thiếu chuẩn bị chu đáo cho công trình đào tạo Linh Mục. Phong trào ly giáo phát khởi từ Luther lại
biến nhu cầu cấp bách đó thành mãnh liệt hơn. Và Công Đồng Trentô nhất quyết đương đầu với vấn đề
này.
B. Công trình của Công Đồng Trentô đối với việc đào tạo linh mục
Công trình này không đột khởi như một “ngẫu sinh”. Cũng nên biết rằng chính các Linh Mục dòng
Tên tiên khởi đã cảm thấy nhu cầu đó. Trong suốt thời giảng đạo ở Đức, từ năm 1542 – 1554, một đồ đệ của
Thánh Inhaxiô thành Loyola đã từng nhấn mạnh về việc cần phải thiết lập những học viện để giúp tu sinh.
Đã có người quan tâm tới ý kiến của Ngài: đó là Đức Hồng Y Giovanni Morone, người đã giúp Thánh
Inhaxiô thành lập ở Roma một Học Viện Đức vào năm 1552 cho những Linh Mục tương lai sắp được gởi
sang Đức. Họ cư ngụ ở HọcViện Đức nhưng theo học ở Học Viện Roma (Thánh Inhaxiô thành lập Học Viện
này trước đó hai năm để đào tạo các linh mục dòng Tên). Thêm vào số đó còn có rất nhiều tu sĩ ở các nơi
khác cũng đến học. Lúc đó Học Viện Roma có tới 300 sinh viên (trong số có 60 tu sinh) và con số đã lên đến
1000 vào năm 1567.
Các trường giáo phận được canh tân ở một vài nơi; Đức Giám Mục Gian Mteo Giberti de Verona với
“trường trợ sĩ” ở Verona ; giảng sư J. Kayerberg đã tích cực góp ý kiến cho Giám Mục Alberl de Barriere
để bổ khuyết cho trường giáo phận một học viện thần học. Ngay cả những anh em ly khai cũng đã chú ý đến
vấn đề này : Tổng Giám Mục Canterbury là Thomas Cranmer (1489 – 1556) đã canh tân những trường giáo
phận trong năm 1553.
Lược đồ đầu tiên trình bày trong Công Đồng Trentô được gợi hứng một cách trung thực do bản văn
của Đức Hồng Y Reginald pole : “De Seminariis Erigendis” trong giáo luật số 11 của cuộc họp Thượng
Hội Đồng ở nước Anh năm 1556. Người ta cũng đã thành lập một ủy ban nghiên cứu về sự lạm dụng trong
việc ban chức phẩm và tìm kiếm những phương thế để tu sửa lại bằng nỗ lực đào tạo giáo sĩ một cách tốt
đẹp. Năm 1563 ủy ban đã thâu góp nhiều tập kỷ yếu khác nhau ; kỷ yếu của Đức Tổng Giám Mục Ragusa
Louis Beccudelli gợi ý thành lập chủng viện ; kỷ yếu của Tổng Giám Mục Reims ca ngợi sự canh tân các
trường giáo phận. Sau cùng Hoàng Đế Ferdinand I, em ruột của Carlos Quinto, yêu cầu thiết lập những
trường dành riêng cho giáo sĩ bên cạnh các đại học.
Và năm 1563, Công Đồng Trentô dành trọn mục 18 của phiên họp thứ 23 cho vấn đề hệ trọng này.
Đây là những nét chính: mỗi giáo phận phải có một tiểu chủng viện bên cạnh nhà thờ chánh tòa ; nếu không
thể được, có thể lập một tiểu chủng viện chung cho những giáo phận lân cận ; không nhận những trẻ em
dưới 12 tuổi vào tiểu chủng viện vì chúng chưa ý thức đủ và rõ ràng về thiên chức Linh Mục. Nên nhận
những trẻ em nghèo ; những trẻ em giàu muốn được thu nhận phải đóng lệ phí. Phải có thánh lễ mỗi ngày
cho mọi người tham dự. Cho hồi tục tức khắc những kẻ bất tuân và những kẻ không có ơn kêu gọi. Phải lựa
chọn kỹ lưỡng những linh mục phụ trách công việc hệ trọng này. Lợi tức và tiền quyên trong giáo phận được
dùng để giúp đỡ chủng viện. Chính Đức Giám Mục đích thân điều hành chủng viện, bên cạnh Ngài có hai
hội đồng phụ tá : một hội đồng kỷ luật và linh hướng, một hội đồng tài chánh.
C. Áp dụng Sắc Lệnh của Công Đồng Trentô
Đức Giáo Hoàng Piô IV đã nêu gương bằng cách thiết lập tại Rôma một chủng viện vào năm 1565.
Rất nhiều Công Đồng Miền thêm một số quy luật về thành lập chủng viện khắp nơi.
Thánh Carolô Borromeô là một trong những nhà vô địch về vấn đề canh tân theo chiều hướng Công
Đồng : tuy ở Milan chẳng bao lâu, Ngài cũng đã mở một chủng viện cho 150 sinh viên học về Giáo Hội.
Ngài cũng thiết lập “La Canonisa” cho những người tuy không có năng khiếu về môn học này nhưng có dịp
thể hiện niềm hy vọng trở thành linh mục nhân đức và nhiệt thành : có 60 sinh viên được đào tạo với một
căn bản vững chắc về Thánh Kinh, thần học tín lý và mục vụ. Sau đó Ngài còn thiết lập 3 chủng viện “dự
bị”: một cho lớp người đứng tuổi, một cho thanh niên và một cho thiếu niên. Ngài mời các cha Dòng Tên
cộng tác trong chủng viện Ngài và chính Ngài cũng hô hào phong trào “góp công góp của” (theo gương
thánh Ambrosiô) để nuôi sống chủng viện. Ngài viết tập “Institutions ad universum seminarii regimen
pertinentes”.
Ở Pháp Đức Hồng Y Charles de Lorraine, Tổng Giám Mục Reims là người đầu tiên áp dụng Sắc lệnh
Công Đồng Trentô ; dầu chiến tranh tôn giáo đã làm chậm trễ nhiều nhưng Ngài cũng đã thành công trong
việc thực hiện. Ba vĩ nhân tên tuổi trong việc thực hiện sắc lệnh của Công Đồng ở Pháp là : Thánh Vincent
de Paul, Cha J.J. Olier và Thánh Jean Eudes.
Thánh Vincent de Paul bắt đầu bằng việc mở một cuộc họp suốt 10 ngày để huấn đức cho các linh
mục tương lai ; sau đó việc huấn đức biến thành một giai đoạn học tập trong vòng 2 hoặc 3 năm kể từ khi
mãn triết học cho đến lúc thụ phong linh mục. Năm 1635 Ngài mở một phân khoa thần học ở Học Viện “Des
Bons Enfants”, rồi ở St Lazare cho phân khoa nhân văn. Vào năm 1642, Ngài cũng thành lập một chủng
viện. Lúc cách mạng 1789 xảy ra, các linh mục của Hội Truyền Giáo (do Thánh Vincent de Paul sáng lập )
đã điều khiển đến một phần ba những chủng viện ở Pháp ; khoảng 53 đại chủng viện và 9 tiểu chủng viện.
Cha Olier thành lập chủng viện quốc gia tại họ đạo St Sulpice ở Paris, và hai năm sau, tức năm 1644,
Ngài nhận chủng sinh của 20 giáo phận khắp nước Pháp gởi đến. Vào năm 1651 ngài phát hành một bản
quy luật mô phỏng theo “các quy luật của chủng viện”. Các linh mục của chủng viện này cũng đã đích thân
giúp đỡ những chủng viện khác theo yêu cầu của các Giám Mục.
Thánh Jean Eudes, nhà giảng thuyết cũng là sáng lập viên dòng Thánh Tâm, lập một chủng viện ở
Caen năm 1663. Sau đó một thế kỷ, các linh mục của chủng viện này trở thành những nhà giáo dục của 40
chủng viện.
Cuộc Cách Mạng 1789 đã gây ra những hậu quả tai hại cho công trình thiết lập chủng viện ở Âu
Châu : hầu hết các chủng viện đều phải đóng cửa hay giải tán. Vào thế kỷ XIX dần dần các chủng viện lại
được tái lập khắp nơi. Vào thời đại này, Đức Giáo Hoàng Piô X phục hưng Giáo Triều Rôma và đặc biệt
nâng đỡ các đại học. Năm 1915, Đức Benedictô XV thêm vào Thánh Bộ về đại học một Thánh Bộ về chủng
viện. Những khoản luật (1357 – 1377) của Bộ giáo luật mới năm 1918 tiếp tục xác định điều đó.
Tóm lại các vị Giáo Hoàng đã bận tâm rất nhiều về vấn đề đào tạo hàng Giáo Sĩ. Trong thế kỷ XX
này, tất cả những bận tâm ấy đã trở thành một “tài liệu” quý giá cho vấn đề đào tạo các linh mục : Chính
Công Đồng Vaticanô II đã ghi rõ điều đó trong “lời mở đầu” của “Sắc Lệnh về Đào tào Linh Mục”.
II. NGUỒN GỐC VÀ SỰ TIẾN TRIỂN CỦA BẢN VĂN “SẮC LỆNH VỀ ĐÀO TẠO LINH MỤC”.
Được triệu tập trong chiều hướng mục vụ hơn là tín lý, Công Đồng Vaticanô II không thể không đưa
lên hàng đầu mối quan tâm về việc đào tạo các linh mục tương lai. Với truyền thống sống động luôn đổi mới
“ giống như tế bào của một đại thân thể” (theo lời Đ.G.M. Brunon), và với nền tảng kinh nghiệm của hàng
chục thế kỷ, Giáo Hội muốn nghiên cứu lại lãnh vực này và canh tân phương pháp để việc chuẩn bị các linh
mục được hữu hiệu hơn. Sắc Lệnh đáp ứng lại mối ưu tư của tất cả các Nghị Phụ Công Đồng. Được các
phiên họp đầu sửa soạn chu đáo, bản văn là một thành quả đã vun tưới và chín muồi do việc học hỏi và đào
sâu tất cả những vấn đề khác của Công Đồng. Bản văn được bỏ phiếu chấp thuận hầu như tuyệt đối ngày
29/10/1965 trong suốt phiên họp cuối cùng.
Chúng ta tuần tự ghi lại những giai đoạn cấu thành Sắc Lệnh quan trọng này.
– 5/ 6/ 60 : Tự sắc “Superno Dei Nutu” thành lập 10 Ủy ban chuẩn bị Công Đồng. Ủy Ban thứ 7 là Ủy
ban lo về vấn đề giáo dục và chủng viện. Chủ tịch Ủy Ban là Đức Hồng Y Pizzardo ; Ủy Ban có 90 hội viên
gồm 19 quốc gia, 32 cố vấn thuộc 8 quốc gia : tất cả đầu được chính Đức Giáo Hoàng triệu tập.
– 25/ 12/ 61: Tông hiến triệu tập Công Đồng Vaticanô II của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII.
-24/ 2/ 62: Đ.H.Y Pizzardo trình bày ở phiên họp thứ tư của Ủy Ban Trung Ương, hai văn bản đã
được soạn thảo từ năm 1960 và đã được thông tri cho các Giám Mục.
*Lược đồ A1: Sắc lệnh về việc “cổ võ ơn thiên triệu trong Giáo Hội”.
*Lược đồ A2: Hiến chế về việc “đào tạo các chủng sinh có chức thánh”.
-27/ 2/ 65: Kết thúc phiên họp thứ tư của Ủy Ban Trung Ương, Đ.G.H. Gioan XXIII đã nói: “Chúng
con hãy biết rằng những vấn đề đó (ơn kêu gọi, chủng viện) đã ăn rễ sâu trong tim Cha”.
-12/ 6/ 62: Kết quả cuộc bàn cãi : một lược đồ mới thành hình : lược đồ B, gồm tóm cả hai lược đồ A1
và A2.
-16/ 10/ 62 : Các Nghị Phụ Công Đồng chọn 16 nhân viên vào tân ủy ban; Đức Giáo Hoàng cho thêm
9 nhân viên nữa: Ủy Ban đại diện cho 16 quốc gia.
-Từ 21/ 2/ 63 đến 2/ 3/ 63: Duyệt kỹ lai lược đồ B; lược đồ C ra đời, sẵn sàng gởi đến các Nghị Phụ
Công Đồng vào tháng 5.
-4/ 64: Sau khi đúc kết ý kiến của các Nghị Phụ và các Hội Đồng Giám Mục, một bản văn mới lại
được đưa ra: lược đồ D.
-3 – 11/3/64 : Ủy Ban duyệt lại bản văn D và rút gọn lại, do đó có lược đồ E : “Sacra Synodus” được
gởi tới tận tay các Nghị Phụ ngày 27/ 4/ 1964.
-9 và 10/ 64 : Duyệt lại lược đồ E theo những đề nghị nhận được, lược đồ F ra đời và được gởi tới các
Nghị Phụ vào tháng 11.
-12/ 11/ 64 : Sau bài thuyết trình của Đức Cha Car aro, nguyên Viện Trưởng chủng viện Treviso, bản
văn được bàn cãi trong Công Đồng suốt bốn ngày. Có tới 32 lần phát biểu ý kiến (trong đó có 4 lần thuộc
các xứ truyền giáo) và 67 lần góp ý bằng thư.
-17/ 11/ 64 : Bản văn hầu như được chấp thuận hoàn toàn nhưng có tới 1358 đề nghị tu chỉnh.
-5/ 65 : Bản văn mới, lược đồ G, hoàn tất sau khi ủy ban đã cố gắng đưa vào nhiều đề nghị tu chỉnh.
-11/ 10/ 65 : Kỳ Họp IV Công Đồng : bỏ phiếu chung quyết. Trước tiên là bỏ phiếu các số của Sắc
Lệnh.
-13/ 10/ 65 : Sau đó bỏ phiếu chung cho lược đồ G : có 2196 phiếu thuận trong số 2212.
-28/ 10/ 65 : Bỏ phiếu công bố chính thức : trong tổng số 2321 phiếu có tới 2318 phiếu thuận, và chỉ
có 3 phiếu chống. Thế là lược đồ H thành bản văn chính thức của Sắc Lệnh.
Trong tất cả những văn kiện của Công Đồng, chỉ có 2 Sắc lệnh : tức Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân
(với 2 phiếu chống) và Sắc Lệnh về Nhiệm Vụ Mục Vụ của các Giám Mục (với 2 phiếu chống và một phiếu
bất hợp lệ) là đạt được đa số tuyệt đối cao hơn Sắc Lệnh này. Có thể nói rằng bản văn này là kết tinh của
bao nỗ lực của Công Đồng và đã mang lại cho Giáo Hội hôm nay những định hướng quan trọng. Vì vậy,
mặc dù những khủng hoảng hiện nay, nó vẫn cho ta thấy trước một cuộc canh tân và một thành quả có thể
làm cho tâm hồn các vị chủ chăn tràn đầy tin tưởng.
III. TỔNG QUÁT VỀ NỘI DUNG SẮC LỆNH
Lời mở đầu : Tầm quan trọng và giá trị phổ quát của vấn đề đối với việc canh tân.
Chương I : Số 1 : Phương thức đào tạo phải được áp dụng trong mỗi quốc gia : sự đồng nhất và thích
nghi.
Chương II : Số 2 : Ân cần cổ võ ơn thiên triệu linh mục là việc chung của mọi người : gia đình, giáo
xứ, nhà giáo dục, linh mục, giám mục, chỉnh đốn hành động, để đáp ứng với hành động của Chúa Quan
Phòng ; phương tiện cổ truyền và mới mẻ.
Số 3 : Đối tượng của số này : các Tiểu Chủng viện; cung ứng một nền giáo dục vững chắc và thích
hợp về nhân bản và thiêng liêng; về những thanh thiếu niên thuộc các ngành giáo dục khác, và những ơn
kêu gọi muộn.
Chương III : Tổ chức các Đại Chủng Viện.
Số 4 : Sự cần thiết và mục đích của mục vụ đòi phải đào tạo chủng sinh dưới mọi khía cạnh.
Số 5 : Vấn đề quan trọng : các nhà giáo dục phải được chọn lựa, chuẩn bị, thống nhất chặt chẽ, được
Giám Mục và tất cả linh mục trong giáo phận khuyến khích : tất cả mọi người phải giúp đỡ chủng viện.
Số 6 : Nghiên cứu về ơn thiên triệu : ý ngay lành, tự do, khả năng, sự kiên quyết.
Số 7 : Chủng viện từng vùng : để có một nhóm những nhà giáo dục hoàn hảo. Chú trọng đến phẩm
cách những kẻ thụ giáo : nếu nhóm quá đông, nên thành lập những nhóm nhỏ hơn, có người hướng dẫn
đàng hoàng.
Chương IV : Huấn luyện tu đức vững chắc.
Số 8 : Đào tạo đời sống mật thiết với Chúa Ba Ngôi, Chúa Kitô, Đức Mẹ; một đời sống cầu nguyện
theo tinh thần Phúc Âm và nhiệt thành.
50
Số 9 : Đào tạo tinh thần Giáo Hội : cộng tác viên tương lai của các Giám Mục, những cộng sự viên
của các Linh Mục khác, trong tinh thần phục vụ khiêm nhượng, vâng lời với trách nhiệm, nghèo khó, tin
tưởng vào ơn thiên triệu.
Số 10 : Đào tạo một đời sống độc thân linh mục : một động lực siêu nhiên, cánh chung và tông đồ,
một ân huệ do sự kiên tâm cầu nguyện đem lại. Ý thức rõ ràng về hôn nhân. Chấp nhận sự từ bỏ ấy trong tự
do và ý thức.
Số 11 : Đào tạo trưởng thành về nhân cách : tính tình, sự bền chí, những đức tính nhân bản, sống kỷ
luật với tinh thần siêu nhiên và trong cách sử dụng tự do.
Số 12 : Phương thế đặc biệt của sự đào tạo : thời gian đào tạo, thời kỳ tập sự giữa các năm học, tuổi
truyền chức được ấn định cao hơn, thực tập chức phó tế.
Chương V : Các môn học của Giáo Hội.
Số 13 : Trước hết phải có một nền giáo dục trung đẳng vững chắc về nhân bản và khoa học, phải biết
la ngữ và những cổ ngữ trong Thánh Kinh và Thánh Truyền.
Số 14 : Định hướng tiên quyết : học về mầu nhiệm Chúa Cứu Thế và việc Cứu Chuộc, biết dung hoà
môn triết học với thần học.
Số 15 : Triết học : Mục đích : tìm hiểu về con người, vũ trụ, Thiên Chúa; trọng trách bảo vệ gia sản có
giá trị ngàn đời, những tương quan triết học hiện đại, đào sâu lịch sử, khuyến khích việc học hỏi cá nhân,
chứng minh sự liên quan giữa học thuyết với những vấn đề nhân sinh và mầu nhiệm Cứu Chuộc.
Số 16 : Thần học : Mục đích : thấu triệt vấn đề Mạc khải; sống Mạc khải và biết trình bày Mạc khải.
Thánh kinh : linh hồn của môn thần học, học biết chú giải, biết những đề tài quan trọng của mạc khải.
Đọc Thánh Kinh món ăn thiêng liêng.
Tín lý : Bắt đầu từ những đề tài trong Thánh Kinh, minh chứng sự đóng góp của các Giáo Phụ, với sự
liên quan lịch sử. Suy luận theo chiều hướng của Thánh Tôma.
Luân lý : có tính cách Thánh Kinh hơn và theo chiều hướng bác ái.
Giáo luật và Giáo sử : liên quan với mầu nhiệm Giáo Hội.
Phụng vụ : Theo “Sacra Synodus”. Học về hiệp nhất và các tôn giáo khác.
Số 17: Phương pháp sư phạm : Học hỏi kỹ càng, khuyến khích làm việc riêng, làm việc tập thể, nhằm
sự hiệp nhất và tinh thần liên đới ; tránh những phiền phức gò bó của luật lệ, nên chọn lựa những vấn đề
thực tế hơn.
Số 18 : Giáo dục nơi đại học : Lựa chọc cẩn thận những người có khả năng thích hợp theo các phân
khoa đại học nhưng vẫn tiếp tục hướng dẫn họ về vấn đề tu luyện đạo đức.
Chương VI : Vấn đề đào tạo mục vụ nói riêng.
Số 19 : Việc đào tạo mục vụ phải chi phối tất cả các việc đào tạo khác; dạy biết linh hướng (đặc biệt
cho các tu sĩ) phát triển mọi khả năng đối thoại : biết nghe, biết bác ái.
Số 20 : Những môn học bổ túc : Sư phạm, tâm lý XH, tông đồ giáo dân, tinh thần tông đồ phổ quát và
truyền giáo.
Số 21 : Thực hành việc tông đồ : đó là vấn đề cần thiết trong kỳ nghỉ và suốt thời gian học tập : với
một phương pháp được người có thẩm quyền hướng dẫn chu đáo; phải xác tín tầm quan trọng ưu tiên của
những phương tiện siêu nhiên đối với việc tông đồ.
Chương VII : Việc huấn luyện bổ túc sau khi mãn trường.
Số 22 : Tiếp tục đào luyện thường xuyên cho các giáo sĩ : nhờ các học viện, qua các kỳ hội thảo, bằng
những hoạt động tiệm tiến.
Kết luận : Trong triều hướng của Công Đồng Tren tô, nhưng với một tinh thần mới mẻ, Giáo Hội và
Công Đồng Vaticannô II hy vọng nhiều nơi các linh mục tương lai, vì nhờ sự huấn luyện kỹ càng và thích
hợp, các linh mục đó sẽ đạt được những kết quả lâu bền.
IV. VIỄN TƯỢNG MỚI DO SẮC LỆNH MANG LẠI
Tuy được cưu mang trước Công Đồng, những Sắc Lệnh chỉ chào đời vào kỳ họp cuối cùng. Có thể nói
Sắc Lệnh đã hấp thụ bầu khí của Công Đồng để chín dần, đã được dinh dưỡng bằng nhựa sống dồi dào và
phong phú trong khoảng đất đầy mầu mỡ do nhũng dữ kiện học hỏi giáo lý và mục vụ ở những sắc lệnh
khác.
Nơi đây ta còn nhận thấy các quan tâm và định hướng rõ rệt của Công Đồng Vaticanô II : tính cách
ưu tiên của mục vụ trong việc đào tạo ; nhấn mạnh việc giáo dục nhân bản ; tinh thần hiệp nhất ; cởi mở với
những trào lưu hiện đại để đưa đến một cuộc đối thoại thực sự ; những hoạt động mục vụ trong toàn thể
Giáo Hội đối với việc dìu dắt mầm non ơn thiên triệu ; tinh thần mới mẻ trong việc học tập rộng rãi các
huấn lệnh của Giáo Hội ; trách nhiệm tiên phong của những Hội Đồng Giám Mục đối với những việc liên
quan đến phương thức đào tạo các linh mục ; nhấn mạnh về vấn đề đào tạo trường kỳ cho giáo sĩ giữa một
thế giới luôn luôn đổi mới của thời đại này.
Bởi vậy Sắc Lệnh này phù hợp với tất cả những văn kiện của Công Đồng Vaticanô II. Tập “ Giáo
Huấn” ngày 6/1/1970 của Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo đã trình bày những tiêu chuẩn đào tạo linh mục
tương lai. Với tài liệu này, các Hội Đồng Giám Mục có trách nhiệm đã được chỉ dẫn đầy đủ. Các linh mục
tương lai có thể vững tâm trông cậy hoàn toàn vào Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng đã linh ứng và hướng
dẫn Giáo Hội không ngừng, để dọn mình làm linh mục của Chúa Kitô, linh mục của ngày mai và của hết
thảy mọi thời đại.
Với Sắc Lệnh này, chúng ta thấy được biết bao tiến bộ về quan niệm đào tạo linh mục. Chỉ cần đọc lại
những mệnh lệnh của giáo luật về vấn đề chủng viện cũng đủ để đi đến kết luận rằng: dù mối bận tâm của
Giáo Hội đối với những linh mục tương lai trước sau vẫn là một, nhưng tinh thần những định hướng mới mẻ
và những chú trọng đặc biệt trong Sắc Lệnh cho chúng ta thấy có một cái gì rất đặc sắc.
Linh mục theo Công Đồng Vaticanô II là một linh mục kết hiệp với Thầy Chí Thánh, khao khát một
đời sống Phúc Âm thật sự, đi theo đường Chúa Giêsu đã đi, và đồng thời là người lo lắng đem thân mình
phục vụ anh em và mọi người, trong một cuộc gặp gỡ cởi mở, chân thành và thích nghi. Nhờ đó linh mục
đem đến cho mọi người sứ điệp của Chúa Kitô trong một ngôn ngữ dễ hiểu và linh động, và cống hiến cho
họ ơn cứu rỗi của Chúa Kitô. Đấng đã tự hiến qua một Giáo Hội có khuôn mặt trẻ trung, có vòng tay và
con tim rộng mở chờ đón hết mọi con người của thời đại chúng ta và tất cả mọi dân tộc. Đồng ý với một
quan sát viên Công Đồng, chúng ta tin rằng : “đó là một trong số những bản văn rất cởi mở và rất mới mẻ
của Công Đồng” (Études, tháng 1, 1968).
Deslierres S. J.
PHAO LÔ GIÁM MỤC
TÔI TỚ CÁC TÔI TỚ THIÊN CHÚA
HIỆP NHẤT VỚI NGHỊ PHỤ CỦA THÁNH CÔNG ĐỒNG
ĐỂ MUÔN ĐỜI GHI NHỚ
SẮC LỆNH 179 1*
VỀ ĐÀO TẠO LINH MỤC 180 2*
LỜI MỞ ĐẦU
Mọi người mong ước canh tân toàn thể Giáo Hội, Thánh Công Đồng ý thức rõ ràng như thế, và công
cuộc canh tân này phần lới tùy thuộc việc thi hành chức vụ Linh Mục 181 đã được Thần Linh Chúa Kitô thúc
đẩy 182 3* , do đó Thánh Công Đồng tuyên bố việc đào tạo Linh Mục là việc vô cùng quan trọng và nêu ra một
vài nguyên tắc cơ bản : các nguyên tắc này xác quyết những quy luật đã được kinh nghiệm ngàn năm 183 4*
chấp nhận và thêm vào đó những nguyên tắc mới cho hợp với các Hiến Chế và Sắc Lệnh của Thánh Công
Đồng này cũng như với những biến chuyển của thời đại. Vì tính cách duy nhất của chức Linh Mục Công
Giáo, nên việc đào tạo Linh Mục là cần thiết cho tất cả các Linh Mục dòng cũng như triều, thuộc bất cứ lễ
chế nào. Do đó những chỉ thị sau đây, tuy trực tiếp nhằm cho hàng Giáo sĩ triều, nhưng cũng phải tùy nghi
thích ứng cho tất cả.
I. PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO LINH MỤC ÁP DỤNG CHO TỪNG DÂN TỘC
1 Vì có quá nhiều dân tộc và địa phương khác nhau, nên chỉ có thể nêu ra những quy luật tổng quát.
Do đó mỗi dân tộc hay mỗi lễ chế phải áp dụng một “Phương thức đào tạo Linh Mục” riêng, được Hội Đồng
Giám Mục ấn định 184 2 , kiểm nghiệm sau một thời gian và được Tông Toà phê chuẩn 185 5* . Nhờ vậy những
quy luật phổ quát sẽ được thích nghi với hoàn cảnh riêng của địa phương và thời đại, để việc đào tạo Linh
Mục luôn được đáp ứng những nhu cầu mục vụ địa phương, nơi mà các Linh Mục phải thi hành chức vụ.
II. ÂN CẦN CỔ VÕ ƠN THIÊN TRIỆU LINH MỤC.
2 Toàn thể cộng đoàn Kitô hữu có bổn phận cổ võ ơn thiên triệu 186 , mà trước hết phải tiến hành nghĩa
vụ ấy bằng một đời sống Kitô hữu trọn vẹn ; các gia đình và các giáo xứ góp phần lớn : những gia đình sống
tinh thần đức tin, đức mến và đạo hạnh trở nên như chủng viện sơ khởi 187 6* , còn những giáo xứ là nơi các
thanh niên tham dự vào đời sống phong phú của mình. Các giáo chức và tất cả những ai, bằng bất cứ cách
nào, lo việc giáo dục thiếu nhi và thanh niên, nhất là những Hội Đoàn công giáo, phải chú tâm đào luyện các
thanh thiếu niên được trao phó, để họ có thể nhận ra ơn thiên triệu và sẵn lòng bước theo. Mọi Linh Mục
phải hết sức nêu cao lòng nhiệt thành tông đồ để khích lệ các ơn thiên triệu và lôi cuốn tâm hồn các thanh
thiếu niên đến chức linh mục, bằng chính đời sống cá nhân khiêm nhượng, cần mẫn, vui tươi, cũng như bằng
tình tương thân tương ái và cộng tác huynh đệ giữa các Linh Mục. 188 7*
19* Toàn thể nội dung Sắc lệnh về chức vụ và đời sống Linh Mục là một trợ giúp được cống hiến cho các Linh Mục trong những
hoàn cảnh cụ thể chi phối chức vụ của các ngài. Chúa Thánh Thần luôn thúc đẩy Giáo Hội khai mở những con đường mới và
hoạt động mục vụ, Ngài gợi lên những thích nghi cần thiết phải có.
(Trong chiều hướng này, tham khảo thêm Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay).
1* Được gọi là “Sắc Lệnh” khi bản văn đề cập đến việc tổ chức thực tế các chủng viện và những phương thế huấn luyện.
Có 47 Nghị Phụ đã yêu cầu gọi bản văn này là “Hiến Chế” vì nó nặng về giáo thuyết. Nhưng Công Đồng đã giữ lại
danh hiệu “Sắc Lệnh”.
2* “Đào Tạo”, La ngữ là “Institutio”, được sử dụng từ tháng 11/1963, bao gồm ý nghĩa đào tạo và dạy dỗ như trong bản
văn Sedes Sapientiae (31/05/1965) của Đức Piô về việc đào tào các tu sĩ. Công Đồng Trentô đã dùng hai động từ :
dạy dỗ (đào tạo trí thức) và giáo dục (đào tạo luân lý) trong sắc lệnh về các Chủng Viện (x. CĐ Trentô, khóa XXIII,
De Reformatione, ch. 18).
3* Những chữ này được thêm vào do lời yêu cầu của các Nghị Phụ khi thấy phần vào đề quá pháp lý và khô khan :
không phải việc gì cũng canh tân được Giáo Hội, nhưng chỉ có công việc bắt nguồn từ chức Linh Mục đích thực của
Chúa Kitô. Ghi chú 1 còn mang một lý do thần học giá trị nữa. Để tra cứu ta có thể thêm những tài liệu của Công
Đồng Vat. II trong : GH 28 và LM 27.
4* Giáo Hội qua mọi thời không thiếu lo lắng đối với các vấn đề sôi động này. Cũng vậy, vì muốn cởi mở với thế giới hiện
tại. Sắc lệnh đã tìm vào nguồn phong phú trong kho tàng giáo huấn quá khứ. Cho rằngviệc đào tạo linh mục ngày
nay như là một công việc hoàn toàn mới mẻ và theo những nguyên tắc thuần xã hội là tước bỏ sự khôn ngoan hai
ngàn năm qua của Giáo Hội. Ta còn cần ghi chú rằng phần lớn những tra cứu về Giáo Huấn trong sắc lệnh này đều
do những bản văn thuộc thế kỷ này : 106 trên 108 ghi chú thuộc thời gian từ 1893-1965 Đức Piô XII được trích dẫn
nhiều nhất (44 lần), chứng tỏ Công Đồng kính trọng rõ rệt sự sáng suốt và lòng nhiệt thành của Ngài đối với các
Linh Mục. Mười lăm trích dẫn ở các văn kiện khác của Công Đồng Vat. II bảo đảm sự hiệp nhất trong giáo thuyết của
tài liệu này đối với Công Đồng.
Các Giám Mục có nhiệm vụ thúc đẩy đoàn chiên mình cổ võ ơn thiên triệu 189 8* , và phải lo phối hợp
chặt chẽ các năng lực cũng như mọi cố gắng làm việc ; thực vậy, các Ngài phải lấy tình cha con, không
quản ngại hy sinh mà giúp đỡ những kẻ chính các ngài xét là được gọi làm sản nghiệp Chúa,
Như thế, việc toàn dân Thiên Chúa hăng say hiệp lực cổ võ các ơn thiên triệu đáp ứng hành động của
Chúa Quan Phòng 9* : chính Người ban những ơn thích hợp cho những ai được Người tuyển chọn để tham dự
chức Linh Mục phẩm trật của Chúa Kitô và Người giúp đỡ họ bằng ân sủng Người, đồng thời còn ủy nhiệm
cho thừa tác viên hợp pháp của Giáo Hội quyền được gọi những ứng sinh mà các Ngài nhận thấy có đủ khả
năng, đã được thử thách, có ý ngay lành và hoàn toàn tự do xin thi hành chức vị cao cả này; các Ngài còn
được quyền thánh hiến họ bằng ấn tích Chúa Thánh Thần để họ phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ Giáo
Hội 190 .
Thánh Công Đồng trước tiên đề nghị những phương thế hỗ trợ theo truyền thống, thí dụ : thiết tha cầu
nguyện, sám hối theo tinh thần Kitô giáo, kể cả việc cung ứng cho các Kitô hữu một kiến thức mỗi ngày mỗi
thêm sâu rộng hoặc bằng giảng thuyết và giáo lý, hoặc bằng những phương tiện truyền thông XH, để làm
sáng tỏ mức khẩn thiết, bản chất và sự cao quý của ơn thiên triệu Linh Mục 191 10* . Hơn nữa, Công Đồng yêu
cầu các Hội Cổ Võ ơn thiên triệu đã có hoặc sẽ phải thành lập trong mỗi giáo phận, mỗi miền hoặc mổi quốc
gia theo như các văn kiện của các Đức Giáo Hoàng, phải tổ chức có phương pháp và hệ thống, lại phải vừa
thận trọng vừa hăng say đẩy mạnh toàn thể hoạt động mục vụ nhằm cổ võ ơn thiên triệu, đồng thời đừng bỏ
qua những trợ lực hữu ích và thích hợp và do khoa tâm lý và xã hội học hiện đại cung cấp 192 .
Nhưng công cuộc cổ võ ơn thiên triệu phải rộng rãi vượt khỏi ranh giới của từng giáo phận, quốc gia,
dòng tu hoặc lễ chế, và xét theo nhu cầu của toàn thể Giáo hội 193 11* . Nhất là phải giúp đỡ những miền đang
khẩn cấp chiêu mộ thợ làm vườn nho cho Chúa.
3 Trong các Tiểu Chủng Viện 194 12* , được thiết lập để vun trồng những mầm non ơn thiên triệu 195 13* các
chủng sinh phải được chuẩn bị bước theo Chúa Kitô Cứu Thế 196 14* với tâm hồn quảng đại và tấm lòng trong
trắng nhờ một nền giáo dục, tôn giáo đặc biệt, nhất là sự linh hướng thích hợp 197 15* . Với sự dìu dắt đầy tình
phụ tử của các Bề Trên và với sự cộng tác thuận lợi của các phụ huynh, phụ huynh phải sống một đời sống
xứng hợp với lứa tuổi, với tinh thần và mức độ phát triển của con người thiếu niên và hoàn toàn phù hợp với
tiêu chuẩn tâm lý lành mạnh 198 16* , cũng đừng để họ thiếu kinh nghiệm trường đời và thiếu liên lạc với gia
đình họ 199 . 200 17*
Ngoài ra các tiêu chuẩn sau đây được quy định cho các Đại Chủng Viện cũng được thích nghi cho các
Tiểu Chủng Viện, miễn là phù hợp với mục đích và quy chế của Tiểu Chủng Viện, còn về học vấn chủng
sinh phải theo đuổi, nên tổ chức thế nào để họ có thể tiếp tục dễ dàng ở nơi khác nếu họ chọn một bậc sống
khác 201 18* . Cũng phải tùy hoàn cảnh địa phương ân cần cổ võ các mầm non ơn thiên triệu nơi thanh thiếu
niên trong các cơ sở giáo dục 202 19* , cùng theo đuổi một mục dích như các Tiểu Chủng Viện, và cả nơi những
kẻ đang thụ huấn trong các trường khác hoặc đang theo đuổi những phương thức giáo dục khác, ước gì mọi
người lưu tâm cổ võ những Cơ Sở giáo dục và các tổ chức tương tự khả dĩ giúp những người lớn tuổi 203 20*
bước theo ơn thiên triệu.
III. TỔ CHỨC CÁC ĐẠI CHỦNG VIỆN
4 Các Đại Chủng Viện cần thiết 204 21* để đào tạo các linh mục. Việc giáo dục toàn diện chủng sinh phải
nhằm huấn luyện cho chọ thực sự trở thành những chăn dắt các linh hồn 205 22* , theo gương Chúa Giêsu Kitô là
Thầy, là Linh Mục và là Chủ Chăn 206 . Vậy để chu toàn chức vụ rao giảng lời Chúa, họ phải được chuẩn bị
mỗi ngày mỗi hiểu lời Mạc Khải của Chúa hơn để nhờ suy gẫm, thấm nhuần và diễn tả trong lời nói cùng
cách sống, họ phải được chuẩn bị để chu toàn chức vụ phụng tự và thánh hóa : để thi hành công cuộc cứu rỗi
qua Hy Tế Thánh Thể và các Bí Tích, bằng lời cầu nguyện và nghiêm chỉnh cử hành các nghi lễ phụng vụ ;
họ phải được chuẩn bị để thi hành chức vụ chủ chăn 207 23* : để họ biết làm cho mọi người thấy Chúa Kitô hiển
hiện như Đấng “ không đến để cho người ta hầu hạ nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc
thiên hạ” (Mc 10,46 ; x. Gio 13, 12-17) và để họ trở nên tôi tớ mọi người hầu cứu được nhiều người hơn. (x.
1 Cor 9,19).
Vì thế, mọi phương thức huấn luyện tu đức, học vấn, kỷ luật phải cùng quy hướng về mục đích mục
vụ này, đồng thời các vị giám đốc và giáo sư phải nhiệt thành và nhất trí hành động trong khi trung thành
vâng phục quyền Giám Mục mà theo đuổi mục đích đó.
5 Việc đào tạo chủng sinh không những tùy thuộc quy luật sáng suốt mà nhất là còn tùy thuộc khả
năng của các nhà giáo dục. Do đó, các giám đốc 208 24* và giáo sư chủng viện phải được chọn lựa trong số
những vị ưu tú nhất 209 . 210 25*
Các vị đó phải được chuẩn bị chu đáo trước 211 26* với một nền học thuyết vững chắc, một kinh nghiệm
mục vụ chính đáng và được huấn luyện đặc biệt về tu đức và sư phạm. Vì thế, để đạt mục đích này, cần cổ
võ mở những học viện hay ít là những lớp tổ chức theo một quy chế thích hợp cũng như những cuộc hội
thảo định kỳ cho các vị Giảng Huấn Chủng Viện.
Các vị trong ban giảng huấn 212 27* phải xác tín rằng kết quả của việc đào tạo chủng sinh lệ thuộc phần
lớn ở cách tư tưởng và hành động 213 28* của chính mình, dưới quyền hướng dẫn của vị Giám Đốc, các Ngài
phải cộng tác thật chặt chẽ trong tinh thần và hành động, và giữa các ngài với nhau, cũng như giữa các ngài
với chủng sinh chỉ còn là một gia đình phù hợp với lời nguyện của Chúa “Xin cho chúng nên một”. (Ga 17,
11) và để nuôi dưỡng nơi chủng sinh niềm vui ơn thiên triệu của họ. Đức Giám Mục phải kiên tâm và ưu ái
nung đúc tinh thần những người làm việc trong chủng viện và phải cư xử với các chủng sinh như một người
cha đích thực trong Chúa Kitô. Sau hết tất cả các linh Mục phải coi chủng viện như con tim của giáo phận
và phải sẵn lòng góp công giúp đỡ 214 .
6 Phải tùy theo lứa tuổi và trình độ của mỗi ứng sinh 215 29* mà điều tra cẩn thận về ý ngay lành và ý chí
tự do 216 30* , về khả năng đạo đức, luân lý và học vấn, về sức khỏe thể lý và tâm lý xứng hợp, đồng thời cũng
cần để ý đến những khuynh hướng có thể là do gia truyền. Cũng phải cân nhắc khả năng đảm đương các
chức vụ Linh Mục và thi hành những phận sự mục vụ 217 31* của họ sau này 218 . Trong tất cả công việc tuyển
lựa chủng sinh và việc thử thách phải luôn luôn vững tâm 219 32* , dù phải buồn lòng chịu thiếu linh mục 220 ,
Thiên Chúa không để Giáo Hội Người thiếu thừa tác viên, nên nếu chỉ cho những kẻ xứng đáng tiến chức,
thì phải lấy tình cha con kịp thời hướng dẫn những người không đủ tư cách tìm kiếm những chức vụ khác,
và giúp họ ý thức về ơn gọi Kitô hữu của mình để hăng say dấn thân trong tông đồ giáo dân.
7 Khi nào mỗi giáo phận không thể tổ chức một Chủng Viện riêng cách chính đáng, thì phải thiết lập
và cổ võ các Chủng Viện chung 221 33* cho nhiều giáo phận, cho toàn miền hoặc cho toàn quốc để chú tâm vào
việc thận trọng đào tạo các chủng sinh cách hữu hiệu hơn vì việc đào tạo phải được coi là quy luật tối
thượng trong vấn đề này. Những Chủng Viện toàn miền hay toàn quốc ấy phải được quản trị theo quy chế do
các giám mục liên hệ ấn định 222 và được Toà Thánh phê chuẩn.
Trong các Chủng Viện đông chủng sinh, phải phân chia các chủng sinh thành từng nhóm nhỏ tương
xứng để cho việc huấn luyện cá nhân của từng người được tốt đẹp hơn 34* . Tuy nhiên vẫn phải duy trì sự
thống nhất về quy chế và chương trình học vấn.
IV. PHẢI CHÚ TRỌNG ĐẾN VIỆC HUẤN LUYỆN TU ĐỨC 223 35*
8 Việc huấn luyện tu đức phải liên kết chặt chẽ với việc trau dồi học vấn và huấn luyện mục vụ, nhất là
phải được thực hiện nhờ sự trợ giúp của Cha Linh Hướng 224 . 225 36*, sao cho các chủng sinh tập biết luôn sống
kết hợp mật thiết với Chúa Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô Con Người và trong Chúa Thánh Thần. Vì do phép
Truyền Chức Thánh mà họ phải là hiện thân của Chúa Kitô Linh Mục, lại nữa bởi cùng chia sẻ một cuộc
sống của Người, nên họ phải quen sống kết hợp với Người như bạn hữu 226 . Họ phải sống Mầu Nhiệm Phục
Sinh của Người thế nào để biết khai sáng Mầu Nhiệm ấy cho đoàn chiên sẽ được giao phó. Phải dạy họ biết
tìm gặp Chúa Kitô trong việc trung thành suy gẫm lời Chúa, trong việc thông hiệp tích cực các Mầu Nhiệm
chí thánh của Giáo Hội, nhất là Bí tích Thánh Thể và kinh nguyện thần vụ 227 . Cũng phải dạy cho họ biết tìm
gặp Chúa Kitô trong Đức Giám Mục, Đấng sai họ đi, và trong những người mà họ sai đến, nhất là trong các
kẻ nghèo khó, hèn mọn, đau yếu, tội lỗi và cả những kẻ vô tín ngưỡng. Họ phải lấy lòng tin cậy như con
thảo mà tôn kính và yêu mến Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria, Đấng mà Chúa Kitô khi hấp hối trên Thánh
giá đã chối ban làm mẹ người môn đệ.
Phải hết sức cố gắng cổ võ các việc đạo đức 228 37* đã được tập quán đáng kính của Giáo Hội khuyên
làm, nhưng phải lưu tâm đừng để việc huấn luyện tu đức chỉ hệ tại những việc đạo đức ấy hay chỉ là một nỗ
lực tạo ra thứ đạo đức tình cảm. Các chủng sinh phải học sống theo Phúc Âm, đứng vững trong đức Tin,
Cậy, Mến 229 38* , để trong việc trau dồi các nhân đức ấy, họ đắc thủ cho bản thân một tinh thần cầu nguyện 230 ,
họ củng cố bảo vệ ơn thiên triệu của họ, họ kiện cường các nhân đức khác và lớn lên trong nhiệt tâm chinh
phục mọi người về cho Chúa Kitô.
9 Các chủng sinh phải thấm nhuần Mầu Nhiệm Giáo Hội đã được Thánh Công Đồng này đặc biệt khai
sáng, để có thể làm chứng sự hiệp nhất đang thu hút mọi người về với Chúa Kitô 231 bằng cách thảo hiếu và
khiêm tốn hiệp nhất với vị Đại Diện Chúa Kitô, và một khi đã lãnh nhận chức Linh mục, họ luôn liên kết với
Giám mục của mình như những cộng tác viên tín cẩn, và tiếp tay cộng tác với các anh em Linh Mục khác 232
39* . Phải dạy cho họ biết mở rộng tâm hồn tham gia cuộc sống của toàn thể Giáo Hội 233 40* như lời Thánh
Augustinô: “Kẻ nào càng yêu mến Giáo Hội Chúa Kitô càng có Chúa Thánh Thần” 234 .
Chủng sinh phải thấu hiểu thật rõ ràng là cuộc đời họ không phải để thống trị hay được danh giá,
nhưng để hết mình phụng sự Thiên Chúa và chu toàn bổn phận mục vụ 235 41* . Phải đặc biệt lo lắng tập sống
đức vâng lời linh mục, 236 42* đời sống khó nghèo 237 43* và tinh thần xả kỷ 238 sao cho họ quen mau mắn từ bỏ
ngay những gì được phép nhưng không thích đáng và trở nên giống Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Phải cho các chủng sinh biết về gánh nặng họ phải đảm đương và không giấu diếm họ một khó khăn
nào của đời Linh Mục ; tuy nhiên đừng vì đó mà làm cho họ hầu như chỉ nhìn thấy khía cạnh nguy hiểm
trong gánh nặng mai ngày, trái lại tốt hơn phải vì đó huấn luyện cho họ biết dùng chính hoạt động mục vụ
của họ, để kiện cường đời sống tu đức cho thật vững mạnh.
10 Các chủng sinh theo truyền thống đáng kính mà sống bậc độc thân linh mục đúng với quy luật thánh
thiện bền bỉ của lễ chế mình, phải được cẩn thận hướng dẫn sống bậc sống ấy, 239 44* và một khi khước từ đời
hôn nhân vì Nước Trời (x. Mt 19, 12), họ kết hợp vơí Chúa bằng một tình yêu không san sẻ 240 phù hợp mật
35* Chương này đề cập tới yếu tố quan trọng nhất trong việc đào tạo linh mục. Đây là kết quả của một việc làm lâu dài
với nhiều thảo luận và biên soạn
36* Ai cũng biết sự quan trọng của việc hướng dẫn thiêng liêng để nhận thức và trưởng thành trong ơn thiên triệu, và Sắc
Lệnh cũng đã đề cập cách minh nhiên ngay từ đầu chương nói về việc đào tạo thiêng liêng. Nhưng một vấn nạn có
thể đặt ra : Công Đồng muốn chỉ có một vị linh hướng trong chủng viện, hay có thể được tự do chọn lựa trong tất cả
các linh mục ở chủng viện theo sở thích mỗi người ? LTCB số 27 viết : Giữa các vị hữu trách của chủng viện, người ta
đề cử một hay nhiều vị linh hướng. Số 45 lặp lại rằng việc đào tạo thiêng liêng là do ở các Ngài. Số 23 khi nói về
những nhóm nhỏ, có thêm rằng phải giữ được sự thống nhất thực sự về quyền bính, về sự hướng dẫn thiêng liêng và
về sự đào tạo kiến thức khoa học. Khi bàn về Bí tích Giải Tội và tinh thần xám hối, số 55 nói : Mỗi người phải có một
vị linh hướng riêng để cởi mở tâm hồn với Ngài, với lòng tin tưởng và khiêm tốn, để được hướng dẫn chắc chắn trên
con đường của Chúa. Chủng sinh sẽ tự do chọn vị linh hướng và vị giải tội cho mình trong số các linh mục mà Giám
Mục đã chỉ định như là những vị có thẩm quyền về trách vụ này. vậy còn vài mập mờ : một đàng thì đồng nhất trong
việc hướng dẫn, đàng khác thì tự do lựa chọn.
37* Sau khi đề ra các chiều hướng giáo thuyết, Công Đồng trở lại những yếu tố thực tế phát xuất tự đó. Đức Piô XII trong
“ Menti nostrae” lặp lại những điều mà giáo luật đã định (kh. 1367) : nguyện gẫm, lần hạt, cầu nguyện, viếng Thánh
Thể, xét mình xưng tội thường xuyên, hướng dẫn, tĩnh tâm.
38* Ta có thể đối chiếu cả chương này với những bản văn tương tự ở GH 28; PV, 5-7, 16-17, 47, 61, 90 ; LM 13,18 ; MV,
43 5,6 : tinh thần các bản văn rõ ràng dựa theo Thánh Kinh, tập trung vào Chúa Kitô và lệ thuộc Giáo Quyền.
39* Xem LTCB số 46 – 47
40* Đây là chủ đề thông thường của Vat. II, sự cởi mở với toàn thể Giáo Hội này phải được ghi khắc trong lòng các linh
mục tương lai : như Chúa Kitô, lòng họ phải biết chấp nhận mọi người, mọi ngôn ngữ, chủng tộc và mọi quốc gia.
41* Câu này nói về tinh thần phục vụ (đã được nhắc nhở trong các đoạn văn của Mc 10, 45 ; Ga 13, 12-27 ; 1 Cor 9, 10
và trong bản Liturta, số 16 và 17 : AAS 56 (1964), trg 104 tt. _ Thánh bộ nghi lễ, Instruetio ad exsecutionem Cons
titutionis de sacra liturgia recte ordinandam, 26/9/2964, số 14-17 : AAS 56 (1964), trg 880 tt. tóm kết chức vụ chủ
thiết với Giao Ước mới, họ làm chứng cho sự sống lại đời sau (x. Lc 20,36) 241 và thâu lượm được một trợ
lực thích hợp nhất để luôn mãi thi hành đức ái hoàn hảo, nhờ đó, họ có thể trở nên mọi sự cho mọi người
trong chức vụ linh mục 242 . Họ cần thâm tín rằng : bậc sống ấy đáng hân hoan đón nhận không phải chỉ như
một mệnh lệnh do giáo luật, nhưng như là một ân huệ quý giá của Thiên Chúa mà họ phải khiêm tốn cầu
xin, và phải mau mắn đáp ứng với tự do và quảng đại, nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy và giúp đỡ.
Các chủng sinh phải hiểu biết đúng mức về những bổn phận và phẩm giá của hôn nhân công giáo, biểu
tượng tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội ( x. Eph5, 22-23); đàng khác họ cũng phải thấu hiểu nét ưu việt
của đức trinh khiết dâng hiến cho Chúa Kitô 243 , để vì thế tận hiến trọn hồn xác cho Chúa bằng một quyết
định đã được cân nhắc chín chắc 244 45* và đại lượng.
Phải cho họ biết những hiểm nguy đang đe dọa đức khiết tịnh của họ, nhất là trong xã hội hiện thời 245 ,
với những trợ lực thích ứng của Thiên Chúa và loài người, họ phải biết dung nạp sự từ khước đời sống hôn
nhân, sao cho cuộc đời và công việc của họ không những không bị thiệt thòi gì do bậc độc thân gây ra,
nhưng hơn thế nữa, họ làm chủ được hồn xác, phát triển được sự trưởng thành 246 46* , và đạt được hạnh phúc
Phúc Âm cách toàn hảo hơn.
11 Các tiêu chuẩn giáo dục Kitô giáo, phải được nghiêm chỉnh tuân hành, đồng thời phải sử dụng các
phát minh mới mẻ của tâm lý lành mạnh và khoa sư phạm để bổ túc cách thích đáng. Vì thế, nhờ nền giáo
dục khéo tổ chức cũng phải nhằm huấn luyện cho các chủng sinh đạt được mức trưởng thành nhân bản cần
thiết 247 47* , nhất là mức trưởng thành đã được kiểm nghiệm trong một đức tính cương nghị, trong khả năng
quyết định chín chắn, và một óc phê phán xác đáng về con người và về các biến cố. Các chủng sinh phải tập
cho quen điều hòa thích hơp cá tính mình, họ phải được huấn luyện cho các tinh thần quả cảm, và nói chung,
phải biết quý chuộng những đức tính mà người đời thường quý chuộng và không thể thiếu nơi các thừa tác
viên của Chúa Giêsu Kitô 248 , thí dụ như lòng thành thực, chuyên lo giữ đức công bình, đức tín trung, cư xử
lịch thiệp, khiêm tốn và bác ái trong ngôn từ. 249 48*
Không những phải coi kỷ luật trong đời sống Chủng Viện như một trợ lực vững chãi của đời sống
cộng đoàn và bác ái, mà hơn nữa, còn như một thành phần thiết yếu trong tất cả công cuộc huấn luyện để
đạt được tinh thần tự chủ, phát triển được sự trưởng thành vững chãi về nhân cách, rèn luyện được những tư
cách khác giúp ích rất nhiều cho hoạt động của Giáo Hội được quy củ và kết quả. Nhưng phải áp dụng kỹ
thuật ấy sao cho các chủng sinh tự thâm tâm sẵn sàng chấp nhận quyền hành của Bề Trên và thâm tín, vì
lương tâm (x. Rm 13,5) và vì những lý do siêu nhiên. Phải áp dụng những tiêu chuẩn kỷ luật ấy tùy theo
chăn của Linh Mục, số 4 của Sắc Lệnh này ; nhằm chống lại tính khoa trương và đề cao giáo sĩ. Đó chính là ý lực đã
được Công đồng lặp đi lặp lại mỗi khi đề cập về Giáo Hội (xem GH 3 2) về Giám Mục (GH 27) hay về Linh Mục (LM
15)..
42* Chủ đề này sẽ được trở lại trong số 11. Không phải sự vâng lời giản dị của tín hữu, nhưng của linh mục. Sự vâng lời
của linh mục đã được long trọng tuyên hứa trong Bí tích Truyền Chức, không phải chỉ để trong việc hoạt động tông
đồ hữu hiệu, nhưng là để sát nhập với Chúa Kitô đã vâng lời cho đến chết để cứu chuộc thế gian. LTCB số 49 đã đề
cập tới vấn đề này
43* Việc đòi hỏi linh mục phải phục vụ lại được LTCB, số 50 nhắc lại : chớ gì họ tập luyện, không bằng lời nói mà bằng
việc làm, tinh thần nghèo khó, tinh thần mà Giáo Hội đang khẩn thiết đòi hỏi và rất cần thiết để chu toàn thánh vụ
tông đồ. Chớ gì họ biết dựa vào sự quan phòng của Thiên Chúa Cha và theo gương Thánh Phaolô giữ cho tâm hồn
bình thản trong lúc dư dật cũng như khi bị khốn cùng (Ph 4,12).
44* Cần đọc để bổ túc số này :GH 42 ;Lm 16 và DT 12,5. Cũng không thể bỏ qua thông điệp “Sacerdotalis Caelibatus”
của Đức Phaolô VI, ngày 24/6/1967. LTCB số 48 lập lại những phương thế bảo đảm : nhận biết đời sống độc thân là
một đặc ân Chúa ban và chấp nhận. Bằng một đời sống tràn đầy cầu nguyện và kết hợp với Chúa Kitô và bằng một
tình yêu huynh đệ chân thành, họ phải tạo được những điều kiện cho phép họ có thể bảo đảm đời sống đó trong niềm
hoan lạc tâm hồn và quyết tâm trung thành với lễ dâng đã một lần tự hiến.
45* Vậy họ phải biết sử dụng sự tự do tâm lý trong cũng như ngoài, đạt được mức độ trưởng thành tình cảm cần thiết để
có thể trưởng thành tình cảm cần thiết để có thể chứng minh và sống đời độc thân như một sự triển nở của nhân
cách” (LTCB số 48).
từng lứa tuổi, để trong khi tập sống tự lập dần dần, các chủng sinh biết sử dụng tự do một cách khôn ngoan,
hành động một cách tự phát, nhiệt thành 250 và quen hợp tác với anh em đồng nghiệp cũng như với giáo dân.
Một khi được thấm nhuần lòng ham mộ đạo đức, sự thinh lặng và mối bận tâm giúp đỡ lẫn nhau, tất cả
cuộc sống trong chủng viện phải được tổ chức thế nào để các chủng sinh như bắt đầu sự sống đời linh mục
mai ngày. 251 49*
12 Để cho việc huấn luyện tu đức có căn bản vững chắc hơn, và để các chủng sinh quyết chí theo đuổi
ơn thiên triệu với sự chấp nhận đã cân nhắc chín chắn, các Giám Mục có bổn phận ấn định một thời gian
thích hợp cho việc huấn luyện tu đức sâu rộng hơn. 252 50* Các ngài phải xét coi, nếu thuận tiện, thì gián đoạn
việc học trong một thời gian hoặc tổ chức kỳ thực tập mục vụ thích ứng để trắc nghiệm các ứng sinh Linh
Mục cách đầy đủ hơn. Các Giám Mục cũng tùy theo hoàn cảnh từng miền mà quy định nâng cao mức tuổi 253
51* chịu Chức Thánh do luật chung hiện thời ấn định, cũng nên quyết định có nên cho các chủng sinh, sau khi
mãn ban Thần học, thi hành chức vụ Phó Tế torng một thời gian thích hợp, trước khi được thụ phong Linh
Mục. 254 52*
V. DUYỆT LẠI CÁC MÔN HỌC CỦA GIÁO HỘI
13 Trước khi học các môn riêng của Giáo Hội, các đại chủng sinh phải có một nền giáo dục về nhân bản
và khoa học mà các thanh niên trong quốc gia họ phải đạt tới mới có thể theo học các bậc cao đẳng 255 53* ,
ngoài ra, họ phải thâu thập một vốn liếng La ngữ đủ để có thể thấu hiểu và sử dụng những nguồn khoa học
và tài liệu của Giáo Hội 256 . Việc học ngôn ngữ phụng vụ riêng của từng lễ chế phải được coi là cần thiết, lại
phải hết sức cổ động cho chủng sinh học hỏi đầy đủ về các ngôn ngữ dùng trong Thánh Kinh Và Thánh
Truyền. 257 54*
14 Việc duyệt lại các môn học của Giáo Hội trước hết phải nhằm làm cho các môn triết và thần học
được phối trí cách thích hợp hơn và cùng chung đường lối góp phần mỗi ngày mở rộng tâm trí chủng sinh
46* Theo bản văn này, sự trưởng thành “ toàn hảo hơn” dường như hệ tại “một tình yêu chân thành, nhân loại, bằng hữu,
cá nhân, và có thể hy sinh theo gương Chúa Giêsu Kitô, đối với tất cả mọi người và từng người. Trái lại phải tránh
những liên lạc “quá lố và kéo dài đối với mọi người khác phái”. Sau cùng cần phải dựa trên sự hộ giúp và thực tập
việc hãm mình, bảo vệ giác quan.
47* Sự trưởng thành tiệm tiến hướng tới một nhân cách hoàn toàn
48* Đối với những đức tính tự nhiên nhằm chuẩn bị vị tông đồ tương lai. LTCB còn thêm : luyện tập cách ý thức và cần
mẫn một cách công bình, một đức tin thiện hảo, và giữa những đổi thay biết thận trong hòa hợp với đức ái, tinh thần
phục vụ huynh đệ, nhiệt thành sống động, khả năng cộng tác với người khác … Để mang Phúc Âm cho hết mọi
người, họ phải tạo được khả năng giao tiếp với hết mọi người trong mọi hoàn cảnh (x. LTCB số 51).
49* Từ những đòi hỏi thiêng liêng của những hoạt động torng đời sống linh mục, LTCB số 54 phác họa một mẫu sống cá
nhân mà các linh mục tương lai phải sống ngay khi còn ở chủng viện. Đây những nét chính : sống thân mật và cần
mẫn với Chúa, tôn kính Lời Chúa, thích tiếp xúc với Chúa Kitô hiện diện trong bí tích Thánh Thể và tìm thấy nơi đó
nguồn vui ; cố sắng yêu mến Giáo Hội và Đồng Công Cứu Thế ; nhiệt thành tìm hiểu các Giáo Phụ và Các Thánh,
tập quen thành thực tự vấn lương tâm và nhận thức các lý do thúc đẩy.
50* Công Đồng đổi mới ở chỗ này khi đề ra bốn phương cách khác nhau giúp cho sự trưởng thành thiêng liêng và ơn
kêu gọi : thời kỳ chuẩn bị gắt gao, thực tập mục vụ, hạng tuổi cao hơn để lãnh chức và thực thi chức vụ phó tế. theo
lược đồ C (số 17), thời kỳ chuẩn bị gắt gao nhằm huấn luyện thiêng liêng có thể thực hiện hoặc trước khi vào thần
học, hoặc ngay trước khi lãnh chức. Nơi nào triết học và thần học cùng dạy chung tại một chủng viện, tốt nhất là nên
ấn định thời kỳ này vào lúc bắt đâu học triết. LTCB (số 42 a) đề nghị như vậy và nhận định rằng nó có thể trùng hợp
với những bài học dẫn vào mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm Cứu Chuộc, như số 14 của Sắc Lệnh này đòi hỏi.
Nhiều chủng viện đã thực hiện tháng thiêng liêng (thời gian có thay đổi đôi chút) và công nhận là rất hữu ích và thích
ứng với hai mục đích mà Sắc Lệnh ấn định : một thời gian dành riêng cho việc cầu nguyện cá nhân, tăng gấp việc
đào sâu thần học và Thánh Kinh về những nền tảng đời sống thiêng liêng, cũng như việc học tập và dấn thân ý thức
hơn, chọn lựa ơn kêu gọi cách hữu lý hơn
đón nhận Mầu Nhiệm Chúa Kitô, một mầu nhiệm liên hệ đến toàn thể lịch sử nhân loại không ngừng ảnh
hưởng trên Giáo Hội, và nhất là không ngừng hoạt động qua chức Linh Mục 258 .
Để các chủng sinh có được cái nhìn ấy, ngay từ bước đầu của cuộc tu luyện, trước khi học các môn
của Giáo Hội, họ phải qua một lớp dự bị kéo dài trong một thời gian thích hợp. Lớp nhập môn này 259 55* sẽ
trình bày Mầu Nhiệm Cứu Rỗi sao cho các chủng sinh nhận thức được ý nghĩa, chương trình và mục đích
mục vụ của những môn học của Giáo Hội, đồng thời giúp họ lấy đức tin đặt nền móng và thấm nhuần cả
cuộc đời mình, lại làm cho họ vững tâm theo đuổi ơn thiên triệu bằng một tâm hồn hân hoan tự nguyện hiến
dâng cuộc đời mình.
15 Phải dạy các bộ môn triết học thế nào, để trước hết cá thể dìu dắt các chủng sinh thâu thập được một
kiến thức chắc chắn và các hệ thống về con nhười, về thế giới và về Thiên Chúa ; hãy lấy di sản triết học giá
trị ngàn đời 260 56* làm điểm tựa, 261 đồng thời hãy sử dụng những công trình biên khảo triết học hiện đại, nhất là
những chiều hướng triết học đang ảnh hưởng mạnh nhất trong quốc gia mình 262 57* cũng như những tiến bộ
khoa học mới nhất. Được chuẩn bị đầy đủ như thế chủng sinh sẽ hiểu đúng được tâm thức của thời đại để
đối thoại với người đương thời. 263
Phải dạy môn triết sử sao cho các chủng sinh nắm được các nguyên lý tối hậu của các triết thuyết khác
nhau, biết giữ lại những gì được minh chứng là chân thật, có thể khám phá và luận bác các nguyên nhân sai
lầm. 264 58*
Trong cách thức giảng dạy, phải kích thích nơi chủng sinh lòng hâm mộ quyết liệt tìm kiếm, khảo sát
và minh chứng tâm lý, 265 59* đồng thời cũng nhận chân những giới hạn của trí óc con người. Phải cẩn thận
quan tâm đến mối liên lạc giữa triết học và mầu nhiệm cứu rỗi mà họ sẽ khảo sát trong ánh sáng đức tin khi
học thần học.
16 Phải dạy các môn thần học 266 60* trong ánh sáng đức tin 267 61* và dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội 268 để
các chủng sinh chăm chú múc lấy học thuyết Công Giáo từ nguồn Mạc Khải của Chúa, thấu triệt biến thành
51* Cho tới nay để lãnh các Chức Thánh, Giáo luật đòi phải có số tuổi 21, 22, và 24 chẵn (kh. 975). Các tâm lý gia đồng
ý nhận định rằng trong thế giới ngày nay, sự trưởng thành tâm lý rõ ràng chậm hơn sự trưởng thanh thể lý và lý trí ;
hầu như khắp nơi người ta thấy cần phải hoãn các chức lại vào lứa tuổi lớn hơn. Các Giám Mục hữu trách các chủng
viện sẽ theo các điều kiện địa phương mà xác định số tuổi tối thiểu. Người ta còn thấy rằng chính các thanh thiếu
niên cũng cảm thấy chưa đủ chín mùi để dấn thân hoàn toàn và thường xin hoãn việc chịu chức.
52* Việc thi hành chức vụ phó tế không bắt buộc nhưng chỉ là yêu cầu (M 84/5 và 4). Theo thuyết trình viên của ủy ban
việc thi hành có bốn lợi điểm sau : chuyển tiếp thích hợp tới chức vụ linh mục dưới sự hướng dẫn của một linh mục
được chọn lựa kỹ lưỡng ; ơn gọi được chín mùi và tăng triển ; khi trở về chủng viện biết lợi dụng các môn học cách
thích đáng hơn và biết bổ túc việc huấn luyện mục vụ ; khả năng của ứng viên được nhận biết rõ ràng hơn.
53* LTCB nói lớp nhập môn này “có mục đích rút ra ý nghĩa chiều hướng và mục đích của những môn học kinh
viện;ngoài ra nó còn phải giúp bảo đảm những nền tảng của đức tin, giúp hiểu sâu xa hơn rằng ơn thiên triệu linh mục
phải được gìn giữ bằngmột hành động có suy xét hơn” (LTCB số 62). Chỉ có một Nghị Phụ không đồng ý về sự cần
thiết của lớp nhập môn này.
54* Đây là một lời khẩn khoản dầu không bắt buộc mọi người. 66 Nghị Phụ đã yêu cầu bắt buộc biết tiếng Hy Lạp; nhưng Công
Đồng chỉ khuyên nhủ, vì hoàn cảnh khác nhau trong toàn GH (xem LTCB số 80).
Sau khi nói về các ngôn ngữ cần thiết, LTCB (số 67) đã thêm một đoạn về việc khai tâm đối với các phương tiện truyền
thông xã hội (xem TT 67 và 16).
55* LTCB nói lớp nhập môn này “có mục đích rút ra ý nghĩa chiều hướng và mục đích của những môn học kinh viện;
ngoài ra nó còn phải giúp bảo đảm những nền tảng của đức tin, giúp hiểu sâu xa hơn rằng ơn thiên triệu linh mục phải
được gìn giữ bằng một hành động có suy xét hơn” (LTCB số 62). Chỉ có một Nghị Phụ không đồng ý về sự cần thiết
của lớp nhập môn này.
56* Xem LTCB số 71. Khi giới thiệu “di sản triết học ngàn đời”, Ủy Ban đã muốn ta phải hiểu là các nguyên tắc của
Thánh Tôma( xem Laplante, sđd 153-156).
57* Công đồng không hề quên khía cạnh mục vụ đã là khởi hứng và là mục đích của tất cả việc đào tạo linh mục. Cũng
thế, bản văn thường nhắc đến nỗi lo lắng chuẩn bị cho họ đối thoại với những người đồng hương và đương thời : Xem
LTCB số 64 ; đối với các xứ truyền giáo : xem TG 16, 4.
lương thực nuôi đời tu đức của họ 269 . 270 62* lại có thể rao giảng, trình bày cũng như bảo toàn 271 63* học thuyết ấy
trong khi thi hành chức vụ Linh Mục.
Phải đặc biệt chuyên lo dạy Thánh Kinh cho các chủng sinh, vì Thánh Kinh 272 64* phải là như linh hồn
của toàn thể khoa thần học 273 ; sau phần nhập môn thích hợp, phải cẩn thận khai sáng cho họ phương pháp
chú giải, cho họ thấu triệt các đại đề của Mạc khải, cho họ có hứng thú đọc và suy gẫm Thánh Kinh hằng
ngày làm của nuôi dưỡng 274 .
Môn tín lý thần học phải được phân phối theo thứ tự này : trước hết, trình bày chính các chủ đề Thánh
Kinh; cho các chủng sinh thấy các Giáo Phụ Đông và Tây Phương, cũng như diễn tiến lịch sử tín lý đã đóng
góp gì trong việc trung thành lưu truyền và minh giải từng chân lý Mạc Khải – đồng thời cũng xét đến mối
liên lạc của nó với lịch sử Giáo Hội tổng quát 275 – thứ đến, để khai sáng các mầu nhiệm cứu rỗi cách thật
đầy đủ, các chủng sinh phải học đào sâu và nhận thức được mối liên hệ giữa các mầu nhiệm đó, nhờ phương
pháp suy luận theo đường lối của thánh Tôma 276 , 277 65* họ phải học hỏi cho thấy các mầu nhiệm ấy luôn.
Luôn hiện diện và tác động trong các nghi thức Phụng vụ 278 và trong toàn thể đời sống Giáo Hội, họ
phải học cho biết cách giải đáp các vấn đề nhân sinh theo ánh sáng Mạc Khải, biết áp dụng những chân lý
Mạc Khải vĩnh cửu vào toàn cảnh đổi thay của những thực tại nhân loại và biết thông truyền các chân lý ấy
cho thích hợp với con người thời đại 279 .
Những bộ môn thần học khác cũng phải được canh tân nhờ tiếp súc linh động hơn với Mầu nhiệm
Chúa Kitô và lịch sử cứu rỗi. Phải đặc biệt chú ý cải thiện môn luân lý thần học. 280 66* Với lối trình bày có
khoa học và thấm nhuần giáo lý Thánh Kinh nhiều hơn, sẽ minh giải vẻ cao đẹp của ơn thiên triệu tính hữu
trong Chúa Kitô, cũng như nhiệm vụ của họ phải mưu cầu lợi ích cho đời sống thế giới trong đức ái. Cũng
vậy, phải trình bày Giáo luật và dạy Giáo Sử 281 67* cho liên lạc với Mầu Nhiện Giáo Hội, theo Hiến Chế tín lý
“ về Giáo Hội” do Thánh Công Đồng này tuyên bố. Môn Phụng Vụ 282 68* phải được coi là nguồn mạch thiết
yếu số một của tinh thần Kitô giáo đích thực, nên phải được giảng dạy đúng theo tinh thần của khoản 15 và
16 của Hiến Chế về Phụng Vụ 283 .
58* Đoạn này được thêm vào lược đồ G, theo nhiều đề nghị tu chỉnh.
59* Những từ ngữ đã được lựa chọn “tìm kiếm, khảo sát, minh chứng” nói lên bổn phận phải trau dồi chính xác, từ bỏ cái
mơ hồ, nghiêm chỉnh với các lý chứng, trong công cuộc tìm kiếm và chuyển thông tư tưởng. Cần xem thêm LTCB,
ghi chú 150 cho số 71 về sự quan trọng của các môn triết học
60* Theo Giáo luật (kh. 1365, 2), LTCB lập lại rằng thần học phải kéo dài ít nhất 4 năm (Ltcb số 60 và 76).
Số này dài nhất trong Sắc Lệnh và đặc sắc nhất, đã được tất cả các Nghị Phụ đồng ý.
61* Ở đây đưa ra những hướng dẫn tổng quát về việc khảo cứu thần học : “theo áng sáng đức tin”. “ Tất cả cuộc khảo
cứu thần học, dầu theo ngữ học, triết học hay sử học, đều phải hành động từ áng sáng nội tâm của đức tin. ” ( đề nghị
tu chỉnh 96/1).- “ dưới sự hướng dẫn của Giáo Quyền”. Đức Piô XII trong Tđ. Humani generis : “ các nhà thần học
phải tùy thuộc Giáo Quyền trong vấn đề đức tin, phong hóa, luật trực tiếp hay phổ quát về chân lý, vì Chúa Kitô
Chúa chúng ta đã ủy thác cho Giáo Quyền toàn bộ kho tàng đức tin”. Ghi chú 31 của sắc lệnh lấy lại Hiến chế tín lý
về Giáo Hội số 25 nơi đòi hỏi phải có sự “ qui thuận tôn giáo trong cả ý chí lẫn lý trí đối với Quyền Giáo Huấn chính
đáng của Đức Thánh Cha, cả khi Ngài không tuyên bố long trọng “ ex eathedra”. Ta còn có thể kể thêm đoạn văn
của Hiến chế tín lý về Mạc Khải số 10 : “ nhiệm vụ chú giải chính thức Lời Chúa, thành văn hay truyền tụng, chỉ được
ủy thác cho Quyền Giáo huấn sống động của Giáo Hội mà uy quyền hành sử nhân danh Chúa Giêsu Kitô”.
62* Có thểm xem thêm Truhlar ( Việc dạy thần học trong đời sống thiêng liêng), trong Seminarium 1968, số 4.
63* Xem những khai triển về vai trò của các giáo sư thần học trong LTCB số 86 – 89.
64* Sắc lệnh đặt Thánh Kinh vào tâm điểm thần học và cách nói “ như hồn của toàn thể khoa thần học” đã được sử dụng
trong Hiến chế tín lý về Mạc Khải, số 24. Cách nói đó đã được Đức Lêô XIII dùng trong thông điệp Providentissimus
Deus, 1893, về những môn học Thánh Kinh.
65* Vấn đề này đã được tranh luận như sau : 161 Nghị Phụ muốn dùng từ ngữ “như mẫu mực” ; 31 Nghị Phụ đề nghị :
“và của các tôn sư khác “, hay “nhát là Thánh Tôma” ; 46 nghị Phụ muốn nói tổng quát : “các thánh tiến sĩ”. Nhưng
có 459 Nghị Phụ muốn bảo vệ bản văn của lược đồ nên ủy ban đã để nguyên như lược đồ F : “với thánh Tôma là một
tôn sư” ; 1500 nghị phụ khác mặc nhiên chấp thuận,(xem 1189, đề nghị tu chỉnh 11, 12, 13, 14).
Tùy theo hoàn cảnh từng miền, các chủng sinh phải được hướng dẫn để biết đầy đủ hơn về những
Giáo Hội và những Cộng Đoàn Giáo Hội ly khai khỏi Tông Tòa Rôma, để có thể góp phần xúc tiến việc tái
lập hiệp nhất 284 69* giữa toàn thể Kitô hữu theo các chỉ thị của Thánh Công Đồng này. 285
Hơn nữa, phải mở đường cho họ hiểu biết các tôn giáo khác hiện đang quảng bá trong mỗi miền 286 70* ,
để họ nhận thấy rõ hơn những gì tốt lành và chân thật do Thiên Chúa an bài, đang tiềm tàng nơi các tôn giáo
ấy, để họ biết luận bác các sai lầm và để có thể thông truyền ánh sáng chân lý đầy đủ cho những kẻ chưa
được đón nhận ánh sáng ấy.
17 Việc huấn luyện học thuyết không chỉ nhằm thông truyền một số khái niệm, nhưng phải nhằm huấn
luyện các chủng sinh cách đích thực và sâu xa, vì thế phải duyệt các phương pháp giáo dục 287 71* về cách
giảng dạy, thực tập, thảo luận, cũng như về việc khích lệ chủng sinh làm việc riêng rẽ hay từng nhóm. Phải
liệu sao cho toàn thể chương trình huấn luận duy nhất và vững chắc; tránh gia tăng quá đáng các môn và giờ
học, lại phải loại bỏ những vấn đề không còn quan trọng mấy, hoặc là những vấn đề phải dành cho các bậc
cao đẳng sâu rộng hơn.
18 Các Giám Mục có nhiệm vụ gửi các chủng sinh có tư cách 288 72* , nhân đức và trí thông minh tới học
tại những Học Viện chuyên biệt, tại các Phân Khoa hay Đại Học, để chuẩn bị cho những Linh Mục được học
hành cao hơn và uyên thâm hơn về các khoa học đạo cũng như các khoa học đời xem ra thích hợp, khả dĩ có
thể đáp ứng nhu cầu tông đồ khác nhau; nhưng không bao giờ được sao lãng việc huấn luyện tu đức và mục
vụ, nhất là khi họ chưa chịu chức Linh Mục.
VI. CỔ VÕ VIỆC HUẤN LUYỆN MỤC VỤ 289 73*
19 Mối quan tâm về mục vụ phải chi phối tất cả việc đào tạo chủng sinh 290 , nên cũng đòi hỏi chủng
sinh phải được cẩn thận giáo huấn về những gì đặc biệt liên quan đến chức vụ thánh, nhất là việc dạy giáo lý
và giảng thuyết 291 74* , việc phụng tự 292 75* và ban phát các bí tích, về các công cuộc bác ái 293 76* , nghĩa vụ tìm đến
66* Cả đoạn này hoàn toàn mới mẻ : các lược đồ từ A tới F không có xem vài ghi nhận trong LTCB số 79.
67* Giáo sử cần trình bày sự phát triển của giáo thuyết, những điều kiện xã hội về sự cộng tác kỳ diệu giữa hoạt động
thần linh và hoạt động con người để những người thụ huấn có được “một cảm giác chân thực của Giáo Hội và của
Truyền Thống” Ngoài ra còn phải chú ý tới lịch sử của mỗi miền (xem LTCB số 79)
68* Môn phụng vụ phải được coi như “một trong những môn học chính”(môn quan trong của Đại Chủng Viện và chính
yếu trong các phân khoa thần học). Phụng vụ phải được dạy dưới khía cạnh thần học, lịch sử, thiêng liêng và mục
vụ(xem LTCB số 79).
69* Niềm lo âu tìm về hiệp nhất này như một dấu chỉ thời đại, sẽ giúp tìm thấy nhiều lợi ích qua việc học hỏi những
nguyên tắc hướng dẫn việc hợp nhất Spiritus Dominus, do văn phòng thư ký về Hiệp Nhất xuất bản ngày 16-4-1970
: trích dẫn Doc. Cath, 18-6-67 và 7-6-70, ) nhất là phần thứ hai; xem thêm những Sắc Lệnh về Giáo Hội Công Giáo
Đông Phương và về Hiệp Nhất với các chú thích.
Tiếng “các Giáo Hội “ có ý chỉ Giáo Hội Chính Thống, Hy Lạp, Anh Giáo v v. .. và tiếng “các Cộng Đoàn Giáo Hội”(do
Đức Hồng Y Koening đề ra) chỉ các Giáo Hội nhỏ. Sắc lệnh về hoạt động Truyền Giáo nhấn mạnh đặc biệt tới tinh
thần cộng đoàn này trong các xứ truyền giáo : số 15 & 5)
70* Đoạn này đặc biệt quan trọng đối với linh mục tương lai trong những miền đa số không phải là Kitô hữu. Sắc Lệnh về
hoạt động Truyền Giáo cũng nhấn mạnh tới điểm đó : “ Họ phải được chuẩn bị để thích hợp cho cuộc đối thoại huynh
đệ với những người ngoài Kitô giáo” ( TG số 16 và NK).
71* LTCB số 90-93 thêm những lời khuyên thực tế : đừng vội tăng thêm những môn học mới, nhưng nên đưa vào những
vấn đề mới trong giaó huấn cổ truyền : đó không phải là nhiều khoa nhưng chỉ một khoa là khoa đức tin và Phúc Âm.
72* Đoạn này xuất hiện trong sơ đồ E, vào tháng 4 năm 1965 và đã được nhuận chính nhiều lần. Vấn đề liên hệ đến các
xứ truyền giáo. Lần can thiệp đầu tiên là do Đức Cha Sani người Nam Dương. Nhiều vấn đề tiềm ẩn trong số này : một
nhu cầu thực tế cho nhiều giáo phận là chuẩn bị các linh mục cho những trách vụ cao hơn, và các Giám Mục có
nhiệm vụ phải chọn lựa. Cũng phải đọc thêm số 16 $ 4 và $ 7 của sắc lệnh TG. Xem thêm những yêu cầu của LTCB
số 83-84
các con chiên lạc và những người vô tín ngưỡng, cùng những công tác mục vụ khác. Phải chăm lo dạy họ
nghệ thuật dìu dắt các linh hồn, 294 77* và như vậy có phải là một thế giới đóng kín chỉ biết cách trừu tượng và
điều kiện chân thực của con nguời và sự việc, nhưng cũng không phải là một thế giới cởi mở đến nỗi đón
nhận mọi kinh nghiệm, có thể đào tạo mọi con cái của Giáo Hội, trước hết biết hoàn toàn ý thức sống đời
Kitô hữu và có tinh thần tông đồ, thứ đến biết chu toàn bổn phận của bậc sống mình; Chủng sinh cũng phải
lưu tâm học cho biết cách giúp đỡ các tu sĩ nam nữ 295 78* bền đỗ trong ơn gọi riêng và tiến đức theo tinh thần
của Hội Dòng. 296
Cách chung phải làm phát triển nơi các Chủng sinh những khả năng thích hợp rất cần thiết để đối thoại
297 79* được với mọi người, thí dụ : biết lắng nghe người khác, biết lưu tâm đến những hoàn cảnh khác nhau
của thân phận con người trong tinh thần bác ái. 298
20 Cũng phải dạy họ biết sử dụng những phương thế mà các khoa sư phạm, tâm lý cũng như xã hội 299
có thể cung cấp cho 300 80* , theo những phương pháp đúng đắn và các tiêu chuẩn do Giáo Quyền ấn định. Phải
lo giáo huấn cho họ biết khích lệ và nâng đỡ hoạt động tông đồ giáo dân 301 302 81* cũng như biết khởi xướng
nhiều hình thức hoạt động tông đồ khác nhau cho hữu hiệu hơn, họ phải được thấm nhuần tinh thần Công
Giáo đích thực, để biết quen vượt khỏi những ranh giới địa phận, quốc gia hoặc lễ chế riêng hầu hỗ trợ các
nhu cầu của toàn thể Giáo Hội 303 82* và sẵn sàng đi rao giảng Phúc Âm ở bất cứ nơi nào 304
21 Vì các chủng sinh phải học nghệ thuật hoạt động tông đồ 83* không những trên lý thuyết nhưng trên
thực hành nữa, và còn có khả năng thi hành công tác với tinh thần trách nhiệm cá nhân hay tập đoàn, nên
trong kỳ họp cũng như trong kỳ nghỉ, phải cho họ tập sự mục vụ bằng những công tác thực tập thích đáng.
phải tùy theo tuổi của Chủng sinh, tùy theo hoàn cảnh địa phương và sự xét đoán khôn ngoan của các Giám
Mục mà thực hiện các hoạt động ấy cho có phương pháp với sự hướng dẫn của những vị giàu kinh nghiệm
mục vụ, đồng thời cũng đừng quên sức hiệu nghiệm của những phương thế hỗ trợ siêu nhiên 305 .
73* Lược đồ tiên khởi do Đức Cha Carraro dọn đã được nghiên cứu lâu dài và được sửa đổi. Sau khi đề cập đến việc
đào tạo về các nhiệm vụ khác nhau, lược đồ đã nhấn mạnh đến việc đào tạo tinh thần đối thoại, hợp với giáo dân
trong các hoạt động thực tế nhằm việc tông đồ. Một ghi chú dài của LTCB (196) nhấn mạnh đến việc đào tạo tinh
thần mục vụ này nơi các linh mục tương lai. Điều này trước hết giả thiết những tiếp xúc thích hợp giữa chủng viện và
xã hội : học viện không phải là một thế giới đóng kín chỉ biết cách trừu tượng về điều kiện chân thực của con người và
sự việc, nhưng cũng không phải là một thế giới cởi mởđến nỗi đón nhận mọi kinh nghiệm.
74* Vấn đề quan trọng này, hãy xem những nhắc nhở của Công Đồng: MK 24:PV 24. 35. 52. 109 : LM 4 : GH 25 : GM
12
75* Ở đây hiểu ngầm sự đào tạo về thánh nghệ và thánh nhạc (M 114/4) theo những chỉ dẫn của Hiến Chế về Phụng Vụ
Thánh (PV 115). Một đề nghị tu chỉnh có 10 nghị Phụ ký tên đòi hỏi rằng Phụng Vụ phải là “chủ yếu đời sống, làm
sống động cho mọi công cuộc huấn luyện ở chủng viện” (M 114/4c)
76* Điểm này được thêm vào lược đồ F, tháng 10 năm 1964, theo lời yêu cầu của nhiều Nghị Phụ.
77* Nghệ thuật phức tạp này đòi hỏi phải cò một căn bản thần học vững chắc, hiểu biết tường tận các khoa tâm lý và một
số nhận thức thiêng liêng đã được luyện tập. Sắc lệnh nói về sự huớng dẫn để đào tạo mọi con cái Giáo Hội, để nâng
đỡ mọi người đến một đời sống ý thức, tươi sáng, đủ quảng đại hiến mình vào việc tông đồ ( xem GH số 38), và giúp
mỗi tín hữu chu toàn những nhiệm vụ trong cuộc sống để mưu ích cho mọi người. Sự hướng dẫn này cần thiết để
giúp các thiếu niên định hướng tương lai của họ : LTCB thêm một lời về sự chuẩn bị của các linh mục “ về những liên
lạc đúng đắng và lành mặn đối với phụ nữ”.
78* * – Thường các tu si nam nữ than phiền là không tìm thấy một lin mục có thể giúp đỡ đúng mức đời sống thiêng liêng
của họ. Vì thế Công Đồng đòi hỏi các linh mục tương lai phải biết rõ về sự quan trọng và những đòi hỏi cuộc đời tu
dòng. ( Ghi chú 42).
79* Đây là lần thứ nhì Sắc Lệnh này công khai lập lại nhu cầu phải huấn luyện để đối thoại ( xem số 15). Đoạn này được
thêm vào vì nhiều can thiệp của các Nghị Phụ ( vd. Đức Hồng Y Doepfner và léger, ĐGM Sauvage v.v…) cũng cần
lập lại ở đây thái độ căn bản của đối thoại : biết nghe người khác; đó là điều kiện cần thiết để hiểu người khác. 61 Nghị
Phụ đã đòi hỏi như vậy cho số 6 (Mục vụ 63 –8), và 18 Nghị phụ đã đòi hỏi các giáo hữu phải như vậy ( Mục vụ 117-
2).
Chính trong viễn tượng này mà Công Đồng yêu cầu phải học các khoa tâm lý, sư phạm và xã hội để hiểu biết con người
và hoàn cảnh hơn : xem số 20.
VII. BỔ TÚC VIỆC HUẤN LUYỆN SAU KHI MÃN TRƯỜNG
22 Nhất là vì hoàn cảnh xã hội tân tiến, mà việc huấn luyện Linh mục phải được tiếp tục kiện toàn, cả
ngay sau khi kết thúc chu trình học vấn trong chủng viện 306 , 307 84* nên các Hội Đồng Giám Mục 308 85* phải liệu
tìm trong mỗi quốc gia những phương thế thích hợp, thí dụ như thiết lập Học Viện Mục Vụ hợp tác với
những họ đạo đã tùy nghi chọn lựa, tổ chức những cuộc hội thảo định kỳ, những khóa thực tập chuyên biệt 309
86* , nhờ đó lớp Giáo Sĩ còn non trẻ về phương diện tu đức, trí thức và mục vụ được dần dần đưa đẫn vào lối
sống Linh mục và hoạt động tông đồ, và họ có thể càng ngày càng cải tiến và phát triển 310 87* các hoạt động ấy
nữa.
KẾT LUẬN 311 88*
Tiếp tục công trình do Công Đồng Trentô khởi xướng, và trong khi tin tưởng trao phó cho các vị Giám
Đốc và Giáo sư Chủng Viện nhiệm vụ đào tạo các Linh Mục tương lai của Chúa Kitô trong tinh thần canh
tân do Thánh Công Đồng này khởi xướng.
Tất cả và từng điều đã được ban bố trong Sắc Lệnh này đều được các Nghị Phụ Thánh Công Đồng
chấp thuận. Và, dùng quyền tông đồ Chúa Kitô trao ban, hiệp cùng các Nghị Phụ khả kính, trong Chúa
thánh Thần, chúng tôi phê chuẩn, chế định và quyết định, và những gì đã được Thánh Công Đồng quyết
nghị, Chúng tôi truyền công bố cho Danh Chúa cả sáng.
Văn kiện này đã ảnh hưởng lớn lao đến việc canh tân Giáo Hội, chính vì tin tưởng vào các linh mục
hôm nay và ngày mai, mà Giáo Hội thực hiện việc canh tân cho toàn thể Giáo Hội. Xin Chúa cảm ứng cho
các bậc thầy và các môn sinh để họ ghi tâm những trách vụ nặng nề trước những gì vừa được ban hành “ cho
Danh Chúa cả sáng”.
Roma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 28 tháng 10 năm 1965.
Tôi, Phaolô Giám mục Giáo Hội công Giáo.
Tiếp theo là chữ ký của các Nghi Phụ.
CHÚ THÍCH
159. Chính Chúa Kitô đã muốn cho công việc phát triển toàn dân Chúa tùy thuộc rất nhiều vào việc thi
hành chức vụ Linh Mục. Điều này thấy rõ trong lời Chúa phán khi đặt các Tông Đồ như những kẻ kế vị
và cộng tá cả tài liệu này đối với Công Đồng. Với Ngài, họ làm người rao giảng Phúc Âm, làm thủ lãnh
dân tộc mới đã được tuyển chọn, và làm quản lý phân phát các mầu nhiệm Thiên Chúa ; hơn nữa những
ngôn từ của các Giáo Phụ, các Thánh, và những tài liệu được nhắc đi nhắc lại nhiều lần của các Đức
Giáo Hoàng đều xác quyết như thế. _ Xem, nhất là : T. Piô X, Huấn dụ cho các giáo sĩ Haerent animo,
4/8/1908 : S. Pii X Acta IV, trang 237 – 264; Piô XI, Tđ. Ad Catholici Sacerdotii, 20/12/1935 : AAS 28
(1936) nhất là trg 37 -52; Piô XII, Tông huấn Menti nostrae, 23/09/1950 : AAS 42 (1950) trg 657 – 702 ;
Gioan XXIII, Tđ. Sacerdotii Nostri primordia, 1/8/1959 : AAS 51 (1959), trg 545 – 579 ; Phaolô VI,
Tông thư Sammi Dei Verbum, 4/11/1963 : AAS 55 (1963), trg 979 – 995.
160. Tất cả việc đào tạo Linh Mục, nghĩa là việc tổ chức chủng viện, huấn luyện đời sống thiêng liêng,
phương thức học hành, đời sống chung và kỷ luật của chủng sinh, thực tập mục vụ đều phải thích nghi
với hoàn cảnh khác nhau của địa phương. Những điểm chính yếu trong việc thích nghi này phải được
làm theo những quy tắc chung : do Hội Đồng Giám Mục, để áp dụng cho Giáo sĩ triều, và tùy lý do
thích hợp, do các vị bề trên có thẩm quyền, để áp dụng cho giáo sĩ dòng (Xem Thánh Bộ Dòng Tu, Tông
hiến eddes Saplentiae và bản đính phụ Statuta GEneralia tiết mục 19, x.b. lần 2 Roma (1957), trg 38 tt.
161. Một trong những mối lo âu chính yếu của GH ngày nay là hầu như khắp nơi đều thấy số ơn Thiên
Triệu giảm sút quá nhiều. _ Xem Piô XII, Tông Huấn MEnti Nostrae : “… Ở các miền Công giáo cũng
như nơi các xứ truyền giáo ; con số Linh Mục hầu như không đủ để đáp ứng những nhu cầu càng ngày
càng tăng” : AAS 42(1950), trg 682. _Gioan XXIII : “Vấn đề ơn Thiên Triệu giáo sĩ và tu sĩ là mối lo âu
hàng ngày của Giáo Hoàng …, đó là tiếng khẩn cầu của Giáo Hoàng trong khi cầu nguyện, là ước vọng
mãnh liệt trong tâm hồn Giáo Hoàng.”(Trích Huấn từ cho Đại Hội Quốc Tế I về ơn gọi tiến tới Bậc Trọn
Lành, 16/12/1961 : AAS 54 (1962), trg 33).
162. Piô XII, Tông hiến Sedes Sapientiae, 31/5/1956 : AAS 48 (1956), trg 357. _ Phaolô VI Tông thư
Summi Dei Verbum, 4/11/1963 :AAS 55 (1963), trg 984 tt.
163. Xem nhất là, Piô XII, Tự sắc Cum Nobis “Về việc thành lập Giáo Hoàng Hiệp Hội Cổ động Ơn
Thiên Triệu Linh mục tại Thánh bộ chủng viện và đại học”, ngày 4/11/1941 : AAS 33 (1941), trg 479 ;
với các Điều Lệ và Nội Quy cũng do Thánh bộ này phổ biến ngày 8/9/1943. Tự sắc Cum Supremae “Về
Giáo Hoàng Tổng Hội cổ động ơn Thiên Triệu tu dòng”, ngày 11/2/1955 : AAS 47 (1955), trg 266; với
các Điều Lệ và Nội Quy do Thánh bộ tu dòng phổ biến (n.t., trg 298 – 301). _ CĐ Vat. II, Sắc Lệnh về
việc canh tân thích nghi đời sống Dòng Tu Perfectae Caritatis, số 24 ; Sắc Lệnh về nhiệm vụ mục vụ của
các Giám Mục trong Giáo Hội Christus Domminus, số 15.
164. Xem Piô XII, Tông huấn Menti Nostrae, 23/9/1950 : AAS 42 (1950), trg 685.
165. Xem CĐ Vat II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 28 : AAS 57 (1965), trg 34.
166. Xem PIô XI, Tđ. Ad Catholici Sacerdotii, 20/12/1935 : AAS 28 (1936), trg 37 : “Trước hết, mối ưu
tư lớn lao nhất là chọn lựa ban giám đốc và giáo sư … Hãy bổ nhiệm vào chủng viện những Linh Mục
ưu tú nhất, đừng tiếc mà dành họ lại cho bất cứ chức vụ nào khác, kể cả những chúc vụ có vẻ danh giá
mà thực sự lại không thể sánh được với sứ mệnh thiết yếu và không thể thay thế được kia”. Đức Piô XII
cũng đã đề cập đến nguyên tắc phải chọn những vị ưu tú nhất trong Tông thư gởi các Đấng bản quyền
Brasiliae, 23/4/1947, Discorsi e Radiomessagi IX, trg 579 – 580.
167. Về bổn phận giúp đỡ chủng viện, xem Phaolô VI, Tông thư Summi Dei Verbum, 4/11/1963 : AAS
55 (1963), trg 984.
168. Xem Piô XII, Tông huấn MEnti nostrae, 23/9/1950 : AAS 42 (1950), trg 684 và xem Thánh Bộ Bí
Tích, Thư luân lưu gởi các Đấng bản quyền Magna Equidem, 27/12/1935, số 10. _ Các Tu sĩ, xem
Statua Generatia đính phụ Tông hiến Sedes SApientiae, 31/5/1956, tiết mục 33. _ Phaolô VI, Tông thư
Summi Dei Verbum, 4/11/1963 : AAS 55 (1963), trg 978 tt.
169. Xem Piô XI, Tđ. Ad Cathoiel Sacerdotii, 20/12/1935 : AAS 28 (1936), trg 41.
170. Để các Giám Mục liên hệ có thể tham gia việc dự thảo quy chế cho các chủng viện miền hay quốc
gia khoản Giáo luật 1357, 4 bị hủy bỏ
171. Xem Piô XII, Tông huấn Mentii Nostrae, 23/9/1950 : AAS 42 (1950), trg 675._ Thánh bộ chủng viện
và đại học, La Formaztone spirituate cadidato al sacerdozio, Ciita dol Vaticano, 1965.
172. Xem Thánh Piô X, Huấn dụ hàng Giáo sĩ Haerent animo, 4/8/1908 : S. Pii X Acta, IV, trg 242 -244.
_ Piô XII Tông huấn Mentii Nostrae, 23/9/1950 : AAS 42 (1950), trg 659-651. _ Gioan XXIII, Tđ.
Sacerdotii Nostri Primodia, 1/8/1959 : AAS 54 (1959), trg 550 tt.
173. Xem Pio XII, Tđ. Meddiator Dei, 20/11/1947 : AAS 39 (1947), trg 547 tt và 572 tt. _ Gioan XXIII,
Th Saerae Laudis, 6/1/1962 : AAS 54 (1962), trg 69. _ CĐ Vat II, De sacra Liturgia, số 16 và 17: ÂS 56
(1964), trg 104 tt. – Thánh bộ nghi lễ, Instruetto ad exsecutionem Consititution de sacra liturgia recte
ordinandam, 26-9-1964, số 14-17: AAS 56 (1964), trg 880 tt
174. Xem Gioan XXIII, Tđ, Sacerdotii Nostri Primodia : AAS 51 (1959), trg 556 tt.
175. Xem CĐ Vat. II, Hiến chế tín lý về GH Lumen Gentium, số 28 : AAS 57 (1965), tr 35 tt.
176. Thánh Augustino, In Joanem tract, 32,8 : PL 35, 1646.
177. xem Pio XIII, Tông huấn Menti Nostrae : AAS 42 (1950), trg 662 tt, 685, 690. _ GIoan XXIII, Tđ
Sacerdotii Nostri Primodia : AAS 51 (1959),Trg 551, 553, 556 …. _ Phaolô VI, Tđ. Eclesiam Suam,
6/8/1964 : AAS 56 (1964), trg 634 tt. _ Cđ Vat. II Hiến chế tín lý về GH Lumen Gentium, nhất là số 8 :
AAS 57 (1965), trg 12
178. Xem Piô XII, TĐ. Sacra Virginitas, 25/3/2954 : AAS 46 (1954), trg 165 tt.
179. Xem T. Cyprianô De habitu virgium, 22 : PL 4, 475. _ T. Ambrosiô, De Virginibus 1, 8, 52 : Pl 16,
202 tt.
180. Xem Piô XII, Tông huấn Menti Nostrae : AAS 42 (1950), trg 663.
181. Xem Piô XII, Tđ. Saera virgintas, n. t. v., trg 170 – 174.
182. Xem Piô XII, Th MEnti Nostrae, n. t. v., trg 664 và690 tt.
183. Xem Phao lô VI, Tông thư Summi Dei Verbum, 4-11-1963 : As 55 (1963) trg 991
184. Xem Piô XII, Tông huấn Menti Nostrae, n. v. t., trg 686
185. Xem Phaolô VI, Tông Thư Summi dei Verbum, n. v. t., trg 993.
186. Xem CĐ Vat II, hiến chế tín lý về GH Lumen Gentium, số 7 và 28 : AAS 57 (1965) trg 9-11 ; 33.
187. Xem Piô XII, Tđ. Humani Generis, 12-8-1950 : AAS 42 (1950), trg 571-575.
188. Xem PhaolôVi, Tđ. Ecclesiam Suam, 6-8-1964 : A A S 56 (1964), trg 637 tt
189. Xem Piô XII, Td. Humani Generis, 12-3-1950 : AAS 42 ( 1950), trg 567- 569. Diễn Văn Si Diligis,
31-5-1954 : AAS 46 ( 1954), trg 314tt. – Phaolô VI, diễn văn đọc tại Đại Học Gregoriô, 12-3-1964 :
ASS 56 ( 1964), trg 364 … CĐ Vat. II Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lunmen Gentium, số 25 : AAS 57 (
1965), trg 29-31.
190. xem T Bonaventura, Itinerarium,mentis in Deum, Prol. số 4 : “ ước gì đừng ai tự phụ rằng mình chỉ
cần đọc qua mà không cần thấm nhiễm, chỉ cần lý thuyết mà không cần sùng kính, chỉ cần khảo cứu mà
không cần khâm phục, chỉ cần chú tâm mà không cần hoan lạc, chỉ cần khéo léo mà không cần đạo hạnh,
chỉ cần kiến thức mà không cần yêu đương, chỉ cần hiểu biết mà không cần khiêm tốn, chỉ cần chuyên
chăm mà không cần ơn Thánh, chỉ cần ánh sáng mà không cần đức khôn ngoan thần linh” ( S.
Bonaventura, Opera Omnia, V, Quaracchi 1891, trg 296).
191. Xem Leô XIII, Tđ. Providentissimus Deus, 18-11-1893 : ASS 25 ( 1893-1894), trg 283.
192. Xem Ủy ban giáo hoàng về Thánh Kinh, Instructio de Sacra Scriptura, 13-5-1950 : AAS 42 ( 1950),
trg 502.
193. Xem Piô XII, Tđ. Humani generis, 12-8-1950 : AAS 42 ( 1950), trg 568 tt : “ nhờ khảo cứu các
nguồn gốc mà khoa thần học luôn trẻ trung, trong khi đó, sự thuyết lý không chịu đào sâu vào Kho Tàng
Mạc Khải chỉ là sự thuyết lý khô cằn, như kinh nghiệm đã minh chứng”.
194. xem Piô XII, bài giảng cho các chủng sinh, 12-8-1950 :AAS 31 ( 1939), trg 247 : “ khuyến khích học
thuyết của thánh Tôma không có nghĩa là bóp nghẹt, nhưng là thúc đẩy và vững vàng hướng dẫn những
cuộc thi đua khảo cứu và quảng bá chân lý”. Phaolô VI, Diễn văn đọc tại Đại Học Gregoriô, 12-3-1964
:AAS 56 ( 1964), trg 365 : “ các Giáo sư sẽ kính cẩn lưu tâm đến học thuyết của các Đấng Tiến Sĩ trong
Giáo Hội, và đặc biệt là thánh Tôma Aquinô. Quả thật, nơi vị Tiến Sĩ Thiên thần này, có một trí năng sâu
sắc, một lòng yêu chân lý trung thực, một sự khôn ngoan phi thường khi đào sâu, tổng hợp và trình bày
những chân lý cao sâu nhất, đến nỗi học thuyết của Ngài đã thành khí cụ hiệu nghiệm nhất, không những
để xây nền vững chắc cho Đức tin mà còn để thu lượm một cách chắc chắn và hiệu nghiệm những kết
qủa của một bước tiến lành mạnh “xem diễn văn đọc trước Đại Hội Quốc tế kỳ VI của học thuyết Tôma,
10-9-1965 :AAs 57 ( 1965), trg 788-792.
195. Xem CĐ Vat II. Hiến chế về phụng vụ Thánh Sacrosametum Concilium số 7 và 16 : AAS 56
(1964).trg 100tt và 104tt
196. Xem Phaolô VI. Tđ Ecclesium. 6-8-1964 : ASS 56 (1964). Trg 640tt
197. CĐ Vat.II, Hiến chế về Phụng Vụ thánh Sacrosanclum concilium, số 10,14,15,16. Thánh bộ Nghi lễ,
Instructio ad exsecutionem Constitution de Sacra Liturgia recte ordinandam, 26-9-1964, số 11 và 12 :
AAS 56 ( 1964), trg 879 tt.
198. CĐ Vat.II, Sắc Lệnh về Hiệp nhất Unitatis Redintegratio, số 1,9,10 : AAS 57 ( 1965) trg 90 và 98 tt.
199. Có thể tách lấy để xây đắp hình ảnh một chủ chăn khuôn mẫu nhờ những tài liệu của các Đức Giáo
Hoàng mới đây. Đó là những tài liệu bàn về đời sống, các đức tính và công việc đào tạo các Linh Mục,
đặc biệt là các tài liệu của :
– T. Piô Tông huấn cho hàng giáo sĩ Hacrent Animo : S Piô x Acta IV, tr237 tt.
– Piô XI, TĐ. AD Catholici Sacerdolii : AAS 28 ( 1936), trg5 tt. – Piô XII Tông huấn Menti Nostrac : AAs
42 ( 1950), trg 657 tt. – Gioan XXIII, Tđ, Sacerolii Nostri Primordia : AAs 51( 1959), trg 545. – Phaolô
VI, Tông thư Summi Dei Verbum : AAs 55 ( 1963), trg 979 tt.
Những ý tưởng về đào tạo Linh Mục còn thấy rải rác trong các thông điệp : Mystici Corporis ( 1943),
Medialor Dei ( 1947) Evangelii Praecones ( 1951), Sacra Virginitas ( 1954), Musicae Sacrac Disciplina (
1955), Princeps pastorum ( 1959) và Tông hiến cho các tu sĩ Sedes Saplentie ( 1956).
Đức Piô XII, Gioan XXIII và Phaolô VI đã nhiều lần phác họa hình ảnh của vị chủ chăn lành trong các diễn
từ dành cho chủng sinh và linh mục.
200. Về giá trị của bậc sống khấn giữ những lời khuyên Phúc Âm, xem CĐ Vat. II, hiến chế tín lý về Giáo
Hội Lumen Gentium, Chúa. VI : AAs 57 (1965), trg 49-53; Sắc Lệnh về việc canh tân thích ghi đời sống
Dòng tu ferectae caritatis.
201. Xem Phaolô VI Tđ. Ecclesiam suam, 6-8-1964 : AAS 56 ( 1964), nhất là trg. 035 tt và 640 tt.
202. Nhất là xem Gioan XXIII, Tđ, Mater et Magistra, 15-3-1961: AAS 53 ( 1961), trg 401 tt.
203. Đặc biệt xem CĐ Vat. II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 33 : AAS 57 ( 1965), trg
39.
204. Xem n.v.t, số 17 : AAS 57 ( 1965), trg 20tt.
205. Nhiều văn kiện của các Đức Giáo Hoàng nêu rõ nguy cơ sao lãng mục đích siêu nhiên trong hoạt
động mục vụ hoặc thực tế coi rẻ việc trợ giúp siêu nhiên, đặc biệt xem những văn kiện ghi trong chú
thích 41.
206. Nhiều văn kiện mới đây của Tòa thánh thiết tha yêu cầu đặc biệt chăm sóc các linh mục mới chịu
chức. Có thể kể những văn kiện chính : Piô XII, Tự sắc Quandoquidem, 2-4-1949 : AAS 41 ( 1949) trg
165-167; Tông huấn Menti Nostrae, 23-9-1950 : AAS 42 ( 1950); Tông hiến cho tu sĩ Sedes Sapientiae,
31-5-1956 và quy chế tổng quát đính kèm; Diễn văn cho các Linh mục “ Convictus Barcinonensis”, 14-
6-1957 : Discorst e Radiomessaggi, XiX, trg 271-173. – Phaolô VI, Diễn văn đọc trước các Linh mục
học viện “ Gian matteo Giberti”, giáo phận Verona, 11-3-1964 : L’Osservatore Romano, 13-3-1964.
TÔNG HUẤN
ĐÀO TẠO LINH MỤC
TRONG HOÀN CẢNH HIỆN NAY
PASTORES DABO VOBIS
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
GỞI GIÁM MỤC ĐOÀN
HÀNG GIÁO SĨ
VÀ TOÀN THỂ GIÁO HỮU
SAU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
GIỚI THIỆU TÔNG HUẤN
PASTORES DABO VOBIS
(Trích tài liệu cấm phòng năm của một linh mục đoàn giáo phận, tháng 10 năm 1992 )
I. NHẬN ĐỊNH SƠ KHỞI.
Bản dịch Tông Huấn bằng Việt Ngữ, “Những mục tử như lòng mong ước”, mới ra mắt chưa tròn một
tháng, với số lượng trên một ngàn cuốn, đã cạn sạch. Nhiều nơi còn đặt mua thêm 30, 40, 60… Chắc chắn sẽ
có tái bản mặc dầu bản dịch chưa phải là hoàn chỉnh. Được biết có một số giám mục, linh mục và cả nữ tu
đang sử dụng tối đa văn bản (đọc đi đọc lại, gạch chân, ghi chú, rút tỉa đề tài, suy niệm…) để làm của ăn nuôi
sống bản thân, để làm chất liệu hướng dẫn công đoàn trong hoàn cảnh hiện tại.
Phải chăng tác phẩm của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến đúng lúc để cứu chữa cơn sốt linh
mục, để đáp ứng nỗi khát khao mong chờ rao rực từ nhiều phía, phía Thiên Chúa, phía Giáo Hội nói chung,
phía các linh mục nói riêng, và nhất là cả phía giáo dân nữa: làm sao để có được “những linh mục như lòng
mong ước”.
Chúng ta không có quyền nhìn và nghe ngóng sự kiện một cách chủ quan, giản lược hoặc quá lạc
quan. Có thể có những người chỉ vì “sính trí thức” mà chạy theo Tông Huấn để tự chứng tỏ chính mình.
Cũng có thể có những người chủ trương cơ hội chỉ trích dẫn và chỉ nhấn mạnh những gì trong Tông Huấn
đem lại cho lợi ích cấp thời. Không thiếu những người lần giở văn kiện với một thái độ hời hợt và thiển cận.
Một số đông sẽ vội vàng bỏ cuộc vì nản chí, vì ngại đương đầu với những khó khăn đòi phải tiến sâu vào
ngõ ngách của vấn đề.
II. NHỮNG KHÓ KHĂN.
Khó khăn dường như là điều đương nhiên. Thế nhưng không vì vậy mà người Kitô hữu và nhất là
người linh mục lại không cùng với Đức Giáo Hoàng tìm hiểu và cảm nghiệm sâu xa nhu cầu bức bách của
Giáo Hội hiện nay, một “Giáo Hội là mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ”, một Giáo Hội không lẩn tránh khó
khăn nhưng luôn luôn tìm cách đương đầu và vượt qua. Một chi tiết được Tông Huấn lập đi lập lại khá nhiều
lần là người linh mục vừa “ở trong” Giáo Hội vừa “đứng trước” Giáo Hội: đây lại càng là thôi thúc để chúng
ta nhận định những khó khăn của văn kiện để rồi cũng say mê văn kiện như người soạn thảo đã viết lên với
một tâm hồn dạt dào, tha thiết và say sưa.
1. Phải thú nhận rằng khó khăn thoạt đầu của chúng ta là khó khăn chủ quan của những con người
nghiêng chiều về khuynh hướng thực dụng. Chúng ta quen dùng “mì ăn liền”, những bài giảng soạn sẵn,
nhưng mẩu suy niệm vắn gọn, mau hấp dẫn và chóng lôi cuốn, những áng văn hoa mỹ dành để thưởng thức
hơn là đòi phải suy nghĩ bằng tất cả tâm hồn. Đây cũng là nhận xét của Đức Giáo Hoàng ngay trong phần
dẫn nhập Tông Huấn: “… Về phần những linh mục ít lâu nay đang thi hành chức vụ của mình, họ dường như
rơi vào một sự phân tán thái quá trong những hoạt động mục vụ ngày càng tăng. ..họ cảm thấy bó buộc phải
xét lại lối sống của mình, xét lại những chọn lựa ưu tiên của mình… và đồng thời cảm nghiệm mỗi lúc một
sâu sắc và cần thiết phải có một nền đào tạo trường kỳ.”. Trong chương I khi đặt mầu nhiệm linh mục trước
những thách đố của thiên niên kỷ đang kết thúc, Ngài đã nhắc nhở: “truy tầm một sự hiểu biết chính xác và
sâu rộng về bản chất và sứ vụ của chức linh mục thừa tác là đường lối phải tuân theo để có thể ra khỏi cuộc
khủng hoảng về căn tính linh mục”. Ý thức khó khăn thoạt đầu này, chúng ta mượn lời Thánh Augustinô
để cùng khuyến khích nhau đi vào Tông Huấn : Tolle et lege.
2. Khó khăn cơ bản không thể không nhận ra đó là phạm vi bao la và sâu rộng của vấn đề đào tạo
linh mục. Đề tựa của Tông Huấn là: “Việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiên nay”.Ngay cả khi chúng
ta giới hạn khái niệm. “Đào tạo” vào việc huấn luyện các ứng sinh linh mục cho thời đại hiện nay, vấn đề đã
là mênh mông rồi. Huống nữa, ở đây, Đức Giáo Hoàng lại mở rộng khái niệm”đào tạo”. Chẳng những đào
tạo là đào tạo các ứng sinh linh mục nhưng còn là đào tạo chính các linh mục, Ngài coi đó là hai giai đoạn
của cùng một tiến trình đào tạo: đào tạo khai đạo (formation initiale) và đào tạo trường kỳ (formation
permanente), được khai triển và trình bày trong hai chương cuối là chương V và chương VI.
a) Chương V lấy hình ảnh Nhóm Mười Hai chung quanh Chúa Giêsu trước khi được sai đi làm kim
chỉ nam và là chương dài nhất trong Tông Huấn. Phần I bàn về các chiều kích của việc đào tạo các ứng sinh
gồm có: nhân bản, tri thức, thiêng liêng và mục vụ. Phần II đề cập đến các môi trường đào tạo như Đại
Chủng Viện, tiểu chủng viện và những hình thức khác. Phần III nhắm tới những người đảm nhận trách
nhiệm đào tạo, trước hết là Giáo Hội và Giám Mục, sau đó là cộng đoàn hữu trách ở chủng viện, các giáo sư
thần học và chính bản thân ứng sinh.
b) Chương VI tuy có phần ngắn hơn nhưng có thể được coi như là chương cao điểm. Hình ảnh chỉ
đạo cho việc đào tạo trường kỳ trong chương VI là lời khuyên nhủ mà Thánh Phaolô nói về Timôthê: “Cha
kêu mời con khơi thắm lại ân huệ mà Thiên Chúa đã đổ xuống trên con”. Tương tự như chương V,
chương VI lần lượt bàn về những lý do thần học của việc đào tạo trường kỳ, khai triển các chiều kích đa
dạng của việc đào tạo ấy, cũng gồm có nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ, xét tới ý nghĩa sâu xa của
việc đào tạo trường kỳ, đề cập tới tuổi tác và điều kiện sống, xác định những thành phần chịu trách nhiệm về
việc đào tạo trường kỳ và sau cùng đề nghị thời giờ, hình thức và những phương thế để tổ chức việc đào tạo
trường kỳ.
Hai chương V và VI như chúng ta vừa phác họa dầu quan trọng nhưng cũng chỉ là phần ứng dụng của
những phân tích và suy niệm về nền móng. Những phân tích và suy niệm này lại liên hệ và đan kết với nhau
một cách chặt chẽ tuy vẫn được chia thành bốn chương.
c) Chương I có thể ví như một bức họa đặt người trẻ ứng sinh cũng như người linh mục vào khung
cảnh của thời đại, với những yếu tố tiêu cực cũng như tich cực. Nhưng bức họa gắn liền với Tin Mừng:
không lẩn tránh sự thật phũ phàng, nhưng cũng không kém lạc quan và nhất là đọc dấu chỉ thời đại không
phải để nhận xét suông rồi áp dụng vội vàng, nhưng để nhận ra lời mời gọi, trách nhiệm và bổn phận phải
cộng tác, phải không ngừng canh tân và thích nghi. Công cuộc “Phúc âm hóa mới” đòihỏi phải có “những
nhà Phúc âm hoá mới”. Vì linh mục “được cất nhắc từ giữa loài người”, nên linh mục và ứng sinh linh
mục vừa phải am tường môi trường nhân sinh, phải bén nhạy với dấu chỉ thời đại nhưng vừa phải cậy dựa
vào lời hứa của Thiên Chúa trung thành, cùng chia sẻ với Giáo Hội niềm tin tưởng vững chắc và sâu xa vào
hoạt động của Chúa Thánh Thần.
d) Chương II truy tầm cội nguồn của căn tính linh mục, bằng cách nhìn vào chính Chúa Giêsu linh
mục, trong tình yêu Chúa Cha và sự thánh hiến của Chúa Thánh Thần, nhìn vào Giáo Hội trong mầu nhiệm,
hiệp thông và sứ vụ, móc nối với Đức Kitô Đầu và Mục Tử, hướng đến công cuộc phục vụ Giáo Hội và Thế
giới. “Ngài đã xức dầu thánh hiến tôi”.
e) Chương III khai triển sâu rộng về đời sống thiêng liêng của linh mục một khi được lấp đầy Thánh
Thần: “Thần khí Chúa ngự trên tôi”. – cũng như người giáo dân và còn hơn người giáo dân, linh mục
được mời gọi nên thánh một cách đặc biệt – phương thức nên thánh của linh mục là nên đồng hình dạng với
Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử và là thực thi đức ái mục vụ – Đời sống thiêng liêng và thánh thiện ấy phải
được biểu lộ trong việc thi hành thừa tác vụ – Sự thánh hiến của linh mục gắn liền với những đòi hỏi triệt để
của Tin Mừng: vâng phục, nghèo khó và trinh khiết. Yếu tố định đoạt của một đời sống thiêng liêng Kitô
giáo và hơn nữa một đời sống thiêng liêng linh mục, đó là ý thức mình ở trong môt Giáo Hội địa phương và
xả thân phục vụ Giáo Hội ấy một cách tận tụy – Tin và ân sủng của Chúa Thánh Thần trong mọi hoàn cảnh.
f) Chương IV bàn về ơn gọi linh mục trong mục vụ của Giáo Hội. Mẫu mực của ơn gọi linh mục là
cuộc gặp gỡ ban đầu giữa Chúa Giêsu và hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả: “Hãy đến mà xem”. Mọi ơn gọi
Kitô hữu đều phát xuất từ Thiên Chúa và đều là ân huệ của Thiên Chúa dành cho Giáo Hội. Ơn gọi bao gồm
cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa đề xướng và con người đáp trả. làm sao để cổ võ và nuôi dưỡng các ơn gọi
(mẫu gương của André trong Tin Mừng Gioan). Mọi thành phần trong Giáo Hội đều có trách nhiệm đối với
các ơn gọi linh mục: giám mục, linh mục, gia đình, học đường, giáo dân.
Liệt kê sơ lược dàn bài cùng với những đề tài chính trên đây là để chúng ta nhận thức được tầm mức
sâu rộng của Tông Huấn. Tầm mức sâu rộng ấy không cho phép chúng ta dừng lại ở nhữn suy nghĩ phiếm
diện, hời hợt hoặc xé vụng nhưng ngươc lại mời gọi chúng ta đương đầu với khó khăn và nỗ lực đi vào
những suy niệm và phân tích của Đức Giáo Hoàng với thái độ chú tâm và với tinh thần Tin Mừng.
3. Hai khó khăn trên không phải là không thể khắc phục nếu chúng ta đánh giá cao và nếu chúng ta ưa
chuộng văn kiện quý hóa này. Thật ra, khó khăn đặc biệt của Tông Huấn Postores dabo vobis là ở chỗ nó
được viết ra bằng ngôn ngữ của con tim nên đòi phải được đọc và nghiền ngẫm cũng bằng những
rung cảm của con tim. không giống như thông thường, Tông Huấn về đào tạo linh mục của Đức Gioan
Phaolô II không chỉ là thành quả góp nhặt từ quá khứ để lại, từ những nghiên cứu và thảo luận của Thượng
Hội Đồng 1990, cũng không chỉ là dùng Quyền Giáo Huấn để đưa ra những chỉ dẫn, khuyên bảo có tính
cách giáo thuyết. Hơn thế nữa, ở đây là cả một sự san sẻ những ưu tư, nhận thức và cảm nghiệm sâu xa đã
thấm đượm những nhịp đập của con tim. Người đọc chăm chú có thể lấy làm lạ và ngỡ ngàng tự hỏi: tại sao
một Tông Huấn với những đề tài quan trọng và nặng tính chất giáo điều như thế mà lại được diễn đạt một
cách say mê và dạt dào kinh nghiệm sống như vậy? Phải chăng chúng ta có quyền coi đây là kiệt tác của Vị
Kế Nhiệm Thánh Phêrô thời đại, với biết bao nhiêu chuyến công du mục vụ ở nhiều nơi trên thế giới, với
những tiếp xúc gặp gỡ đậm đà và chân tình cùng các linh mục và giáo dân ở rải rác khắp nơi, với một cái
nhìn bao quát sâu rộng kèm theo mối ưu tư khắc khoải đối với sức sống của Giáo Hội, với những ơn thúc
đẩy và soi sáng của một vị Thủ Lãnh Giáo Hội có đời sống nội tâm sâu xa và bén nhạy.
Ngay trong phần dẫn nhập, sau khi đã say sưa kêu gọi người Kitô hữu mạnh mẽ tin tưởng vào lời hứa
của Chúa, mặc cho biết bao những khủng hoảng, mặc cho sự xuống cấp, mặc cho tình trạng thiếu hụt linh
mục trầm trọng, Đức Gioan Phaolô II đã bày tỏ nỗi lòng của mình: “Tôi muốn ngỏ lời tâm huyết (le coeur)
với mọi tín hữu và từng tín hữu, cách riêng với các linh mục và với tất cả những ai đã dấn thân vào trách
nhiệm tế nhị trong lãnh vực đào tạo linh mục. Qua tông huấn này, tôi mong mỏi được tiếp cận tất cả các linh
mục và mỗi một linh mục, triều hoặc dòng”. Trong phần kết luận, Ngài còn diễn tả rõ hơn: “Ngài (Đức Kitô
mục tử nhân lành) yêu cầu những con tim khác cũng phải chung nhịp đập – những con tim linh mục – "Các
ngươi hãy cho họ ăn”. “Như vậy, không phải lối suy nghĩ và diễn tả của “người Slave” làm cho bản văn ra
vòng vo và phức tạp cho bằng những lối nẻo của con tim, lắt léo, uốn khúc, có khi còn chi li, súc tích… Thừa
tác vụ linh mục được gọi là “amoris officium” theo kiểu nói của Thánh Augustinô: “Đời sống thiêng liêng của
linh mục không là gì khác hơn sự đón nhận “chân lý” của thừa tác vụ linh mục, được coi là amoris officium,
trong ý thức và trong tự do, và bởi đó trong trí óc và con tim, trong những quyết định và những hành động.”
(cuối số 24).
Con tim có những lý lẽ ít cần đếm xỉa đến lý trí. Chẳng hạn, để giải quyết vấn đề khủng hoảng về căn
tính linh mục, chương II nhắm mời gọi linh mục quay về với nguồn cội tột cùng của mình, để đắm mình trong
tình yêu của Chúa Cha, để yêu mến nguồn cội cao cả của chính mình: ” Đời sống và thừa tác vụ linh mục là sự
nối dài đời sống và hoạt động của chính Đức Kitô. Căn tính của chúng ta nằm ở đó, cũng như phẩm gía thực
sự của chúng ta, nguồn mạch vui mừng của chúng ta, và niềm tin vững chắc của chúng ta về sự sống” (cuối số
18).
Vấn đề độc thân linh mục cũng được giải quyết vừa mạnh mẽ, cương quyết nhưng cũng vừa nhẹ nhàng
và uyển chuyển. Ý thức sáng suốt những chỉ trích và chống đối, không phủ nhận những lỗi phạm, những khó
khăn, Tông huấn chuyển vấn đề sang mặt tích cực, chiêm ngắm một Đức Giêsu Kitô mong muốn được linh
mục yêu mến một cách hoàn toàn và độc chiếm giống như Đức Giêsu Kitô đầu và phu quân đã yêu mến Giáo
Hội." (số 29 phần giữa), kêu gọi linh mục “đón nhận bậc sống độc thân với một quyết định tự do và ngập tràn
yêu thương", xác quyết bậc sống độc thân linh mục là có thể thực hiện cách trung thành nhờ "cầu xin trong sự
kết hiệp với Giáo Hội" và gợi lên "lòng tin cậy và can đảm trong việc tiếp tục tiến bước" (cuối số 29).
Cụ thể, trong việc đào tạo ứng sinh linh mục, bằng ngôn ngữ của con tim, Tông Huấn đòi phải có "sự
quan tâm tới du khách, nghĩa là tới con người cụ thể đang dấn thân trong chuyến du hành đào tạo…", "lòng yêu
mến đích thực và sự tôn trọng chân thành đối với người ứng sinh đang bước tới chức linh mục trong những
chiều kích cá vị của mình." (số 61, phần cuối). Việc đào tạo trường kỳ cũng được đẩy xa tới những ngõ ngách
của con tim như khi đề cập đến tình huynh đệ linh mục ở số 74 phần giữa: "Tình huynh đệ linh mục không loại
trừ một ai, dầu vậy,…,, linh mục có thể và phải dành những ưu tiên cho người nào đang cần giúp đỡ và cần
khích lệ nhất. Tình huynh đệ ấy dành một sự quan tâm đặc biệt đối với các linh mục trẻ, duy trì một thái độ đối
thoại chân tình và huynh đệ đối với những linh mục thuộc lứa tuổi trung bình hoặc cao niên cũng như đối với
những linh mục nào vì lý do này hay lý do khác đang phải đương đầu với những khó khăn…" Cũng về việc đào
tạo trường kỳ, khi cổ võ những trao đổi và gặp gỡ giữa các linh mục với nhau, Tông huấn ghi nhận: "Họ sẽ
nhờ đó mà chứng tỏ tình yêu của mình đối với toàn thể Linh mục đoàn và chứng tỏ niềm hăng say của mình
trong việc đáp ứng nhu cầu của Giáo Hội địa phương là nhu cầu phải có những linh mục được đào tạo hẳn
hoi." (số 76, phần giữa).
Một vài dẫn chứng trong số muôn vàn dẫn chứng khác thiết tưởng tạm đủ để chúng ta cảm phục con tim
tràn đầy sức sống được bộc lộ ra trong Tông Huấn lớn lao của Giáo Hội và nhất là để chúng ta cũng đón nhận
và đi vào Tông Huấn bằng chính con tim của chúng ta cùng với niềm say mê và nỗi thao thức của những chi
thể trong nhiệm thể Giáo Hội có Chúa Kitô là đầu, Mục Tử và Tôi Tớ.
III. MỘT VÀI ĐIỂM NỔI BẬT VÀ LAN TỎA TRONG TÔNG HUẤN
1. Trước hết, trong mạch văn của cái gọi là ngôn ngữ con tim, chúng ta có thể ghi nhận một đức tính
mà Tông Huấn luôn kêu mời mặc dầu từ ngữ chỉ được lặp lại nhiều lần khi đề cập tới chiều kích nhân bản và
mục vụ của việc đào tạo, đó là tính bén nhạy (sensibilité). Trong số 72, chương V, Tông Huấn viết: “linh
mục phải làm sao để tính bén nhạy nhân bản của mình được nên phong phú nhờ vào một kinh nghiệm ngày
càng rộng lớn hơn và để cho Dân Thiên Chúa có thể nói về mình một cách tương tự như tác giả thư gởi tín
hữu Do Thái đã nói về Đức Giêsu: Không phải chúng ta có một vị Thượng Tế bất lực, không cảm thông
được những nỗi yếu hèn của chúng ta, trái lại, Ngài đã nếm chịu mọi thử thách, giống như chúng ta, ngoại
trừ tội lỗi (Dt 4,15)”.
a/ Trọn chương I là để khai triển tính bén nhạy đối với môi trường và hoàn cảnh chung quanh:
những thách đố của thiên niên kỷ thứ hai. Cần phải nhận thức và nhất là diễn giải tình huống phức tạp hiện
nay thì mới trả lời được câu hỏi: “làm sao để đào tạo các linh mục cho thực sự ngang tầm với hoàn cảnh hiện
nay, cho thực sự có khả năng Phúc âm hóa thế giới ngày nay?” (số 10). Một tính bén nhạy như thế cần phải
dựa theo Tin Mừng, cần phải được “soi sáng và củng cố nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng mọi nơi mọi lúc khơi
dậy sự vâng phục đức tin, lòng dũng cảm tươi vui để nối gót Chúa Giêsu, ơn khôn ngoan để xét đoán mọi sự
và không bị một ai xét đoán (x.1Cr 2,15)” (số 10, gần cuối).
b/ Bén nhạy đối với Lời Chúa, đối với truyền thống Giáo Hội, đối với Huấn Quyền (số 26, tr.61).
c/ Nhạy bén đối với người nghèo: “Không loại trừ một ai trong việc loan báo và ban phát ơn cứu độ,
linh mục biết chú tâm tới những người bé nhỏ, tới các tội nhân, tới hết mọi người sống ngoài lề xã hội…” (số
30, tr.73)”… giữ mình khỏi mọi thái độ trịch thượng hoặc khỏi việc thi hành một quyền bính nào đó mà
không luôn luôn hoặc không chỉ có thể biện minh bằng đức ái mục vụ” (số 60, tr.145). “Các chủng sinh phải
tìm kiếm Đức Kitô… nhất là nơi những người nghèo, những người bé nhỏ, những người yếu đau, những
người tội lỗi và những người không tin” (số 45, tr.116).
“Linh Mục cần phải có khả năng hiểu biết sâu xa lòng trí con người, trực giác được những khó khăn và
những vấn đề, tạo điều kiện dễ dàng cho sự gặp gỡ và đối thoại, đạt được lòng tin cậy và sự cộng tác, phát
biểu được những phán đoán lành mạnh và khách quan” (số 43, tr.109).
“Linh mục cần phải lớn lên trong việc tiếp xúc thường ngày với người khác và trong việc chia sẻ cuộc
sống với họ mỗi ngày,… hiểu được những nhu cầu và đón nhận những lời kêu cứu, có thể trực giác những
yêu cầu không được phát biểu thành lời…” (số 72, tr.176)
d/ Bén nhạy đối với Giáo Hội,”khuyến khích Giáo Hội địa phương sống đậm đà hơn chiều kích phổ
quát của Giáo Hội ấy” (số 31, tr.76), "nhằm giúp xây dựng toàn thể cộng đoàn, mọi đặc sủng riêng biệt đều
được sắp xếp cho sự phục vụ cộng đoàn ấy” (số 31, tr.77).
Tất cả sự bén nhạy nói trên nhờ” mặc lấy những tâm tình của Đức Kitô”, nhờ “nên đồng hình dạng
với Ngài”, nhờ thông phần vào đức ái mục vụ của Ngài, nhờ hoạt động “nhân danh ” và “thay mặt” Ngài.
2. Ba khái niệm luôn được móc nối với nhau là: hiệp thông, tính phổ quát và tư thế ứng trực
(communion, univesalité, disponibilité).
Ngay trong phần dẫn nhập, Tông Huấn đã nêu bật kinh nghiệm cụ thể của Thượng Hội Đồng Giám
Mục: “kinh nghiệm riêng biệt về sự hiệp thông giữa các giám mục trong tinh thần phổ quát nhờ đó mà cảm
thức về Giáo Hội phổ quát cũng như trách nhiệm của các giám mục đối với Giáo Hội phổ quát và đối với sứ
vụ của Giáo Hội, được củng cố, trong mối hiệp thông thân ái và thiết thực chung quanh Thánh Phêrô”. Từ
nhận định về hoàn cảnh Giáo Hội, trong đó có “sự kiện này là càng ngày người ta càng thuộc về Giáo Hội
một cách không trọn vẹn và có điều kiện, gây ảnh hưởng tiêu cực cho sự nở rộ các ơn gọi hướng đến chức
linh mục, cho ý thức mà linh mục có về căn tính và về thừa tác vụ của mình” (số, tr.18), Đức Gioan Phaolô
II đã đề cao tính “tương giao” và tính “hiệp thông” của thừa tác vụ linh mục trong Giáo Hội.
Tính chất thiết yếu “tương giao”; ấy là “do bởi chức linh mục phát sinh từ nơi sâu thẳm mầu nhiệm
khôn tả của Thiên Chúa, nghĩa là từ tình yêu của Chúa Cha, từ ân sủng của Chúa Giêsu Kitô và từ ơn hiệp
nhất của Chúa Thánh Thần, người linh mục qua bí tích được hội nhập vào sự hiệp thông với Giám mục và
với các linh mục khác, để phục vụ dân Thiên Chúa là Giáo Hội và để dẫn dắt mọi người đến với Chúa Kitô “
(số 12, tr.30)
Do đó, thừa tác vụ được điều phối mang “bản chất cộng đồng” và chỉ có thể được hoàn thành như là
“công trình tập thể”. Đời sống thiêng liêng cũng được suy niệm trong chiều hướng hiệp thông ấy: Từ việc
nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Đầu và Mục Tử, đức ái phục vụ cho đến cách sống các lời hứa vâng
phục, khó nghèo và trinh khiết. Tất cả đều mang chiều kích cộng đồng. Chính vì thế, trong Giáo Hội là mầu
nhiệm, hiệp thông với sứ vụ, linh mục phải sống với ý thức mình thuộc về Giáo Hội phổ quát qua Giáo Hội
địa phương, và phải xả thân phục vụ Giáo Hội một cách tận tụy. Toàn thể Giáo Hội phải chăm lo cho ơn gọi
linh mục, vì ơn gọi linh mục là từ trong Giáo Hội và để phục vụ Giáo Hội (chương IV). Hai chương V và VI
cũng luôn nêu dẫn chiều kích hiệp thông ấy đối với tiến trình đào tạo: một linh mục đoàn duy nhất, liên kết
chặt chẽ với Giám mục, gắn bó và kề cận với mọi người.
Điểm đặc biệt ở đây là tính hiệp thông luôn gắn liền với lời mời gọi hướng đến Giáo Hội phổ quát:
“bởi vì trong nội bộ Giáo Hội, linh mục là con người của sứ vụ và hiệp thông, cho nên đối với mọi người,
linh mục, phải là con người của sứ vụ và đối thoại. .. linh mục phải nối kết những quan hệ huynh đệ trước
hết với các anh em thuộc các Giáo Hội khác và thuộc các hệ phái Kitô giáo, nhưng vẫn phải nối kết những
quan hệ huynh đệ với các tín hữu thuộc các tôn giáo khác, với mọi người thiện chí và một cách đặc biệt với
những người nghèo và những người yếu đuối hơn hết cũng như với hết mọi người, hoặc không nhận thức,
hoặc không diễn đạt ra được, đang ngưỡng vọng về chân lý và ơn cứu độ mà Đức Kitô mang đến. ..” (số 18,
tr 42 và 43): “bất cứ thừa tác vụ linh mục nào cũng tham dự vào những chiều kích hoàn vũ của sứ vụ của
Đức Kitô giao phó cho các tông đồ” (số 32 tr 77); “một não trạng thừa sai, mở ngỏ hướng đến những nhu
cầu của Giáo Hội và của thế giới, chú trọng tới những người xa cách nhất và trên hết tới những tập thể ngoài
Kitô giáo trong môi trường của mình” (số 32, tr 77). Trong công việc huấn luyện và giáo dục, Tông Huấn
cũng khuyến khích sự đóng góp đa dạng do các giáo phận kề cận nhau, do những thành phần nam nữ dị
biệt…
Tính chất hiệp thông và phổ quát dẫn đến một thái độ quan trọng nơi người linh mục: đó là tư thế ứng
trực, sẵn sàng để được sai đi bất cứ nơi nào, sẵn sàng chấp nhận vượt ra ngoài biên giới giáo phận, nếu cần
luôn tạo thuận lợi cho việc đón tiếp mọi người có nhu cầu, mọi kêu cứu. “Ứng sinh linh mục sẽ giúp đỡ để
yêu mến và sống chiều kích thừa sai thiết yếu của Giáo Hội cùng những hoạt động mục vụ đa tạp; họ sẽ
được giúp đỡ để trở nên rộng mở và ứng trực sẵn sàng đối với mọi đường lối có thể thực hiện ngày nay
nhằm loan báo Tin Mừng… ứng trực, đáp lại Chúa Thánh Thần và đáp lại Giám mục, để rồi được sai đi rao
giảng Tin Mừng bên kia những biên giới của quốc gia mình.” (số 61, tr.147) “liên lỉ ứng trực và sẵn sàng
cho mình bị chộp giữ, hay có thể nói, để cho mình bị “ăn” do bởi những nhu cầu và những đòi hỏi dĩ nhiên
cần phải hợp lý của đoàn chiên” (số 28, tr 67).
3. Một yếu tố quan trọng cần được ghi nhưng nhận để khỏi lạc hướng khi bước vào Tông Huấn, đó là
vấn đề đào tạo nhắm đến phẩm chất linh mục hơn là con số linh mục. Nhiều từ ngữ được dùng để diễn tả
trọng tâm đó: “Những nhà phúc âm hóa mới”, “những linh mục ngang tầm với thời đại”, “những linh mục
được đào tạo hẳn hoi”(bien formés), “một trình độ đào tạo trí thức ưu tú”, “không phải […] bất cứ những
mục tử nào nhưng những mục tử như lòng Ngài mong ước.”
Chính vì thế Tông Huấn nhận định tình trạng thiếu hụt linh mục cũng như sự giảm sút ơn gọi linh mục
với một thái độ khách quan và bình tĩnh và luôn nêu cao trách nhiệm cộng tác vào sự thực hiện lời hứa của
Chúa với một niềm tin vững mạnh và can trường. Cũng chính vì thế mà, không như chúng ta có thể lầm
tưởng, Tông Huấn không tự giản lược vào những phân tích và nghiên cứu nhằm đưa ra những phương
hướng huấn luyện và giáo dục. Tông Huấn đi xa hơn nhiều, với dụng ý đưa linh mục vào trong mầu nhiệm
của cuộc sống : “Từ vấn đề can tinh của linh mục, sự chú trọng được hướng đến các vấn đề liên quan đến
tiến trình đào tạo linh mục và tới phẩm chất đời sống các linh mục” (phần dẫn nhập, tr 7).
Chương I nhấn mạnh “bản tính con người” của thừa tác viên, tới môi trường nhân sinh, tới những điều
kiện và hoàn cảnh của cuộc sống: “Ngay cả vào năm 2000, ơn gọi linh mục sẽ tiếp tục là lời mời gọi sống
chức linh mục độc nhất và trường tồn của Chúa Kitô. Cũng vậy, đời sống và chức vụ linh mục phải thích
nghi với mọi thời đại và với mọi môi trường sống” (số 5, tr 12). Trong dòng liên tục này, Tông Huấn không
ngừng lặp đi lặp lại “đời sống linh mục”, “đời sông thiêng liêng của linh mục”, “cuộc sống của người linh
mục và tính triệt để của Tin Mừng”, “sống nối gót Đức Kitô như các Tông Đồ”, Tông Huấn đạt tới đỉnh cao
của việc suy niệm về cuộc sống linh mục, đó là chương VI với việc đào tạo truờng kỳ: sống làm sao cho sâu
đậm hơn, khơi thắm lại cuộc đời linh mục đã khởi đầu: “Cha kêu mời con khơi thắm lại ân huệ mà Thiên
Chúa đã đổ xuống nơi con”.
Cuộc sống linh mục bắt nguồn từ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, múc lấy sức mạnh nơi Vị Mục Tử
Nhân Lành đã được Cha sai đến trong quyền lực của Chúa Thánh Thần. Đó là căn tính của linh mục, “là
nguồn mạch vui mừng của chúng ta, và niềm tin vững chắc của chúng ta về sự sống”. Toàn bộ Tông Huấn
nhằm mục đích nối dài và ứng dụng sự sống cội nguồn này. Khời từ việc mô phỏng Vị Mục Tử Nhân Lành
đã hiến ban mạng sống, “nhân danh Ngài, các linh mục tiến dâng nghi lễ cứu độ… các linh mục có trách
nhiệm xả thân phục vụ Dân Cha để nuôi dưõng họ bằng Lời của Cha và làm cho sống bằng các Bí Tích của
Cha; các linh mục sẽ là những chứng nhân thực sự cho đức tin và đức ái, sẵn sàng hiến mạng sống mình như
Đức Kitô đã hiến dâng mạng sống cho đàn em và cho Cha.” (số 15, tr 37).
Cuộc sống lòng mến chính là tham gia và thông phần vào sức sống của Đấng là Đầu của Thân Thể,
nên đồng hình dạng với Ngài. Biểu hiện rõ nét nhất của sự tham gia thông phần chính là “đưc ái mục vụ”,
sự trao hiến trọn vẹn chinh mình một cách tích cực và vui tươi, như Đức Kitô Phu Quân đã trao hiến chính
Ngài cho hiền thê là Giáo Hội. Có thể nói rằng toàn bộ Tông Huấn xoay quanh “đức ái mục vụ” bởi vì đó
chính là biểu hiện, là trợ lực, là cội rễ và nguồn mạch của đời sống lòng mến: “Việc chuẩn bị cho cuộc sống
linh mục nhất thiết bao hàm một nền đào tạo vững chắc về đức ái, nhất là về lòng yêu mến ưu tiên đối với
người nghèo…”
Có thể kể thêm “đời sống cầu nguyện” “đời sống bí tích” “sống thinh lặng”, “sống cô đơn” vv… Nói
tóm lại, cả Tông Huấn trình bày về sự sống, giới thiệu sự sống và dẫn vào sự sống. Sống chức vụ linh mục
chứ không phải có chức vụ linh mục. Tương lai và hy vọng của Giáo Hội là ở đó.
Một đôi điều giới thiệu và gợi ý trên đây chẳng qua là nỗ lực khiêm tốn nhằm giúp bạn đọc đỡ nản chí
khi mới bắt tay vào Tông Huấn. Chúng tôi chưa dám tự cho mình là nắm vững được nội dung phong phú và
trào tràn của văn kiện. Cũng như bạn đọc, chúng tôi còn phải đọc đi đọc lại, nghiềm ngẫm thật nhiều nữa. ..
TÔNG HUẤN
về VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC
TRONG HOÀN CẢNH HIỆN NAY
PASTORES DABO VOBIS
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
GỞI GIÁM MỤC ĐOÀN
HÀNG GIÁO SĨ
VÀ TOÀN THỂ GIÁO HỮU
SAU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
DẪN NHẬP
1. “Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử như lòng Ta mong ước” (Gr 3,15).
Qua lời của ngôn sứ Giêrêmia, Thiên Chúa hứa sẽ không bao giờ để cho dân Ngài thiếu mục tử chăm
lo qui tụ và hướng dẫn: “Ta sẽ thôi thúc cho [các chiên Ta] những mục tử để các mục tử chăn nuôi chúng,
chúng sẽ không còn sợ hãi và hoảng loạn” (Gr 23,4).
Là Dân Thiên Chúa, Giáo Hội luôn chứng nghiệm cho sự thực hiện lời tuyên sấm ấy và, trong niềm
vui, Giáo Hội tiếp tục tạ ơn Chúa, Giáo Hội biết rằng Đức Giêsu Kitô chính là lời hứa của Thiên Chúa được
ứng nghiệm, một cách sống động, tuyệt hảo và vĩnh viễn: “Ta là Mục tử nhân lành” (Ga10,11). Là “Mục tử
tối cao của đoàn chiên” (Dt 13,20), Đức Giêsu đã giao phó cho các Tông đồ và những người kế vị các ngài
sứ mênh chăn dắt đoàn chiên của Thiên Chúa (x. Ga 21,15-17; 1Pr 5,2).
Một cách đặc biệt, nếu không có linh mục, Giáo Hội sẽ không thể thực thi được sự vâng phục cơ bản
vốn nằm ngay giữa lòng cuộc sống và sứ mệnh của Giáo Hội trong lịch sử, sự vâng phục đối với lệnh truyền
của Chúa Giêsu: “Các con hãy ra đi, hãy chiêu tập các môn đệ từ khắp muôn dân” (Mt 28,19) và “Hãy làm
việc này mà nhớ đến Ta” (Lc 22,19; x 1Gr 11,24). Lệnh truyền ấy có nghĩa là lệnh truyền loan báo Tin
Mừng và hằng ngày cử hành hy lễ Mình và Máu Người đã trao hiến và đổ ra cho nhân loại được sống.
Đức Tin dạy cho chúng ta rằng Chúa không bao giờ bội ước quên thề. Lời Chúa đã hứa chính là động
lực làm cho Giáo Hội vui mừng và vững mạnh, trước sự nở rộ và tình trạng gia tăng con số những ơn goi
linh mục được ghi nhận ở một số miền trên thế giới. Lời hứa ấy còn là nền tảng và là yếu tố kích thich cho
một hành vi Đức Tin cao cả hơn, cho một niềm hy vọng mãnh liệt hơn trước sự thiếu hụt linh mục trầm
trọng nơi những miền khác trên thế giới.
Tất cả chúng ta được mời gọi chia sẻ niềm tin cậy hoàn toàn vào sự ứng nghiệm liên lỉ của lời Thiên
Chúa hứa, như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục đã làm chứng một cách rõ ràng và mạnh mẽ:
“với niềm tin cậy hoàn toàn vào lời hứa Chúa Kitô: “và Ta, Ta sẽ ở với các con mọi ngày cho đên tận thế”,
Thượng Hội Đồng Giám Mục có ý thức rằng Chúa Thánh Thần không ngừng hoạt động trong Giáo Hội;
Thượng Hội Đồng tin tưởng một cách sâu xa rằng Giáo Hội sẽ không bao giờ hoàn toàn khuyết vị những
thừa tác viên được Thánh hiến… Mặc dầu người ta ghi nhận sự thiếu vắng linh mục ở một số miền trên thế
giới, Chúa Cha, Đấng khơi dậy các ơn gọi, sẽ không bao giờ ngưng hoạt động trong Giáo Hội” 312
Đứng trước cuộc khủng hoảng về ơn gọi linh mục, như tôi đã tỏ bày khi kết thúc Thượng Hội Đồng
Giám Mục, “Giải pháp đầu tiên của Giáo Hội phải là hoàn toàn tin tưởng vào Chúa Thánh Thần. Chúng ta
thâm tín rằng sự phó thác với lòng tin cậy ấy sẽ không làm chúng ta thất vọng nếu chúng ta trung thành với
ơn đã lãnh nhận” 313 .
2. Trung thành với ơn đã lãnh nhận! Quả thực, ơn huệ của Thiên Chúa không hủy diệt tự do của con người
nhưng lại cổ võ, phát huy và đòi hỏi tự do ấy.
Bởi thế, trong Giáo Hội, lòng tin cậy hoàn toàn vào sự trung thành vô điều kiện của Thiên Chúa đối
với Lời hứa của Ngài phải kèm theo trọng trách hợp tác với hoạt động của Thiên Chúa là Đấng mời gọi,
trọng trách đóng góp vào việc tạo những điều kiện thuận lợi và bảo tồn những điểu kiện ấy để cho hạt giống
tốt được Thiên Chúa vãi gieo có thể bén rễ và trổ sinh dồi dào hoa trái. Giáo Hội sẽ không bao giờ ngưng
cầu xin Đấng làm chủ mùa gặt để Ngài sai thợ gặt đến (x. Mt 9,38); Giáo Hội sẽ đề nghị với các thế hệ trẻ
một phương án ơn gọi sáng tỏ và can trường, Giáo Hội sẽ giúp các thế hệ trẻ phân định tính chính hiệu của
lời mời gọi từ Thiên Chúa và đáp lại lời mời gọi ấy với lòng quảng đại; Giáo Hội sẽ chú tâm đặc biệt đến
việc đào tạo các ứng sinh cho hàng linh mục.
Thật vậy, vì tương lai của công cuộc phúc âm hóa nhân loại, việc chuyên chăm đào tạo các linh mục
tương lai triều và dòng, việc nối dài nền đào tạo ấy trong suốt đời sống các linh mục, nhằm giúp họ biết
thánh hóa bản thân khi thi hành chức vụ và biết thường xuyên cập nhật hóa đường hướng dấn thân mục vụ
của mình, được Giáo Hội nhìn nhận như là một trách vụ có tầm quan trọng đặc biệt và là một trách vụ hết
sức tế nhị.
Nhờ công trình đào tạo ấy, Giáo Hội nối tiếp trong thời gian công trình của Đức Kitô mà tác giả Tin
Mừng Maccô trình bày như sau:”Chúa Giêsu leo lên núi; Ngài gọi những kẻ Ngài muốn đến với Ngài. Họ đã
đến với Ngài. Và Ngài đã thiết lập Nhóm Mười Hai để họ ở với Ngài và để sai họ đi rao giảng, kèm theo
quyền xua trừ ma quỷ” (Mc 3,13-15).
Có thể quả quyết rằng trong suốt dòng lịch sử của mình, khi nhặt khi khoan, cách này hoặc cách
khác, Giáo Hội đã áp dụng trang Tin Mừng vào cuộc sống bằng công trình đào tạo các ứng sinh cho hàng
linh mục và cả đào tạo chính các linh mục. Dầu vậy, ngày nay Giáo Hội cảm thấy mình được mời gọi đi vào
một phương thức dẫn thân mới để ứng dụng vào cuộc sống điều mà Đấng là thầy đã làm với các Tông Đồ
của Ngài; trong lãnh vực này, Giáo Hội bị thúc bách bởi những biến đổi xã hội sâu rộng và nhanh chóng, bởi
sự đa tạp và dị biệt của những bối cảnh trong đó Giáo Hội loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Tin Mừng.
Giáo Hội cũng được khích lệ bởi sự tiến triển thuận lợi về con số ơn gọi linh mục trong nhiều giáo phận trên
thế giới, bởi sự khẩn cấp phải duyệt xét lại nội dung và phương pháp đào tạo linh mục, bởi nỗi băn khoăn
của các giám mục và cộng đoàn trước sự thiếu vắng linh mục ngày càng tăng, bởi sự cần thiết tuyệt đối phải
làm cho công cuộc “phúc âm hóa mới” có được những “nhà phúc âm hóa mới”, đầu tiên là các linh mục.
Chính trong bối cảnh lịch sử và văn hóa này mà vừa qua Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới năm
1990, đã tiến hành Đại Hội chung thường kỳ, dành trọn đại hội cho”việc đào tạo linh mục hoàn cảnh hiện
nay”, hai mươi lăm năm sau Công Đồng, với những ý tưởng bổ túc giáo thuyết công đồng về điểm này và
thích nghi giáo thuyết ấy một cách thoả đáng hơn vào hoàn cảnh hiện nay 314 .
3. Nối tiếp các văn kiện Công Đồng Vaticano II về vấn đề chức linh mục và đào tạo linh mục 315 , nhằm mục
đích đem giáo thuyét phong phú được ban hành trong các văn kiện ấy áp dụng một cách cụ thể vào trong
những hoàn cảnh khác nhau, Giáo Hội đã nhiều lần bàn luận về các vấn đề đời sống, chức vụ và đào tạo linh
mục.
Những cơ hội long trọng hơn cả là các Thượng Hội Đồng Giám mục. Ngay từ Đại Hội chung đầu
tiên tháng mười năm 1967, Thượng Hội Đồng đã dành năm ủy ban cho đề tài canh tân các chủng viện. Công
việc này đã mang lại một đóng góp dứt khoát cho việc soạn thảo tài liệu của Thánh Bộ Giáo Dục Công
Giáo:” Những tiêu chuẩn cơ bản dành cho việc đào tạo linh mục.” 316 .
Nhất là Đại Hội chung Thường Kỳ, lần thứ hai, vào năm 1971, đã dành phân nửa Đại Hội cho chức
linh mục thừa tác. Được lấy lại và cô đọng trong một vài”lời nhắn nhủ” do vị Tiền Nhiệm của Tôi là Đức
Giáo Hoàng Phaolô VI, được đọc lên vào lúc khai mạc Thượng Hội Đồng Giám mục vào năm1974, các
thành quả của công cuộc tư duy lâu dài ấy chủ yếu liên quan đến giáo thuyết về chức linh mục thừa tác và
về một vài khía cạnh tu đức cũng như thừa tác vụ của hàng linh mục.
Trong nhiều cơ hội khác, Huấn Quyền của Giáo Hội đã tiếp tục bày tỏ mối quan tâm của mình đối
với đời sống và chức vụ linh mục. Trong những năm hậu Công Đồng, có thể nói không có một bài tham luận
nào của Huấn Quyền mà, dưới hình thức này hay hình thức khác, lại không minh nhiên hoặc mặc nhiên lưu
ý tới ý nghĩa sự hiện diện của các linh mục trong cộng đoàn, vai trò và sự cần thiết của các linh mục đối với
Giáo Hội và đối với đời sống nhân loại.
Những năm gần đây, ở nhiều nơi, người ta đã cảm thấy cần phải quay về với đề tài chức linh mục và
đề cập vấn đề dưới một quan điểm tương đối mới hơn và thích nghi hơn cho hoàn cảnh Giáo Hội và văn hóa
hiện nay. Từ vấn đề căn tính của linh mục, sự chú trọng được hướng đến các vấn đề liên quan đến tiến trình
đào tạo linh mục và tới phẩm chất đời sống linh mục. Thực ra, các thế hệ trẻ được ơn gọi làm linh mục thừa
tác biểu lộ rõ rệt những đặc tính khác với những đặc tính của thế hệ kế cận trước đây, họ sống trong một
thế giới mới, một thế giới dưới nhiều phương diện không ngừng biến đổi một cách nhanh chóng. Cần phải
chú trọng đến tất cả những điều ấy khi soạn thảo chương trình và khi thực hiện những đường hướng đào tạo
linh mục thừa tác.
Về phần những linh mục ít lâu nay đang thi hành chức vụ của mình, họ dường như đang rơi vào một
sự phân tán thái quá trong những hoạt động mục vụ ngày càng tăng. Đứng trước những khó khăn xã hội và
nền văn hóa hiện đại, họ cảm thấy bó buộc phải xét lại lối sống của mình, xét lại những chọn lựa ưu tiên của
mình trong việc dấn thân phục vụ và đồng thời cảm nghiệm mỗi lúc một sâu sắc sự cần thiết phải có một nền
đào tạo trường kỳ.
Thượng Hội Đồng Giám mục năm 1990 đã hướng những mối ưu tiên và những suy nghĩ của mình
vào vấn đề gia tăng ơn gọi linh mục, và việc đào tạo – sao cho các ứng sinh hiểu biết và nối gót theo Chúa
Giêsu đồng thời học tập cử hành và sống bí tích Truyền Chức Thánh là bí tích làm cho họ nên đồng hình
đồng dạng với Chúa Kitô là Đầu và Mục Tử, là Tôi Tớ và Phu Quân của Giáo Hội – và vào việc xác định
những đường hướng đào tạo trường kỳ thích hợp để nâng đỡ cách thiết thực và hữu hiệu chức vụ và đời
sống thiêng liêng của các linh mục.
Thượng Hội Đồng Giám mục này cũng có ý giải quyết một yêu cầu của Thượng Hội Đồng trước về
vấn đề ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân trong Giáo Hội và trên thế giới. Chính người giáo dân mong
ước được các linh mục dẫn thân đào tạo họ để giúp họ một cách thoả đáng trong việc thực thi sứ vụ chung
của Giáo Hội. Thực ra, “hoạt động tông đồ giáo dân càng phát triển, người ta càng cảm nhận một cách mãnh
liệt nhu cầu phải có những linh mục được đào tạo hẳn hoi, những linh mục thánh thiện. Bởi đó, chính đời
sống của Dân Thiên Chúa trở thành lời diễn giải cho giáo huấn của Công Đồng Vaticano II về tương quan
giữa chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác và phẩm trật. Thực vậy, trong mầu nhiệm Giáo Hội, phẩm
trật mang tính chất thừa tác ( x. Lumen Gentium, GH, số 10). Ơn gọi đặc thù của giáo dân càng được đào
sâu ý nghĩa thì những gì là đặc thù của linh mục càng hiển hiện hơn” 317 .
4. Trong kinh nghiệm tiêu biểu về Giáo Hội của Thượng Hội Đồng, nghĩa là “kinh nghiệm riêng biệt về sự
hiệp thông giám mục trong tinh thần phổ quát nhờ đó mà cảm thức về Giáo Hội phổ quát cũng như trách
nhiệm của các Giám mục đối với Giáo Hội phổ quát và đối với sứ vụ của Giáo Hội được củng cố, trong mối
hiếp thông thân ái và thiết thực chung quanh Thánh Phêrô” 318 , người ta đã nghe được tiếng nói minh bạch và
thống thiết của nhiều Giáo Hội địa phương và lần đầu tiên, trong Thượng Hội Đồng vừa qua, của một số
Giáo Hội Đông Phương; các Giáo Hội ấy đã công bố niềm tin vào sự ứng nghiệm của Lời Thiên Chúa
hứa:”Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử như lòng Ta mong ước” (Gr 3,15). Các Giáo Hội đã canh tân
công cuộc dẫn thân mục vụ nhằm quan tâm đặc biệt đến ơn gọi và nhằm đào tạo linh mục, với ý thức rằng
tương lai của Giaó Hội, sự phát triển của sứ mệnh cứu độ phổ quát của Giáo Hội tùy thuộc vào những công
việc này.
Giờ đây, với tư cách là Giám mục Rôma và Đấng kế vị Thánh Phêrô, trong Tông Huấn sau Thượng
Hội Đồng Giám mục này, Tôi xin đóng góp tiếng nói của Tôi vào trong nền móng rất phong phú gồm những
suy tư, những phương hướng và những chỉ dẫn đã dọn đường cũng như đã hình thành các công trình của các
Nghị Phụ Thượng Hội Đồng. Tôi muốn ngỏ lời tâm huyết với mọi tín hữu và từng tín hữu, cách riêng với
các linh mục và tất cả những ai đã dấn thân vào trách nhiệm tế nhị trong lãnh vực đào tạo linh mục. Qua
Tông Huấn này, Tôi mong mỏi được tiếp cận tất cả các linh mục và mỗi một linh mục, triều hoặc dòng.
Tôi muốn vay mượn tâm tình và lời lẽ của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng trong “Sứ điệp chung kết
của Thượng Hội Đồng gởi Dân Thiên Chúa”: ”Với đầy lòng tri ân và cảm phục, chúng tôi hướng về các linh
mục là những cộng tác viện đầu tiên của chúng tôi trong sứ vụ tông đồ. Vai trò của anh em trong Giáo Hội
thật là cần thiết và bất khả thay thế. Chính anh em là những người đảm nhận gánh nặng của chức vụ và trực
tiếp gần gũi với giáo dân. Anh em là những thừa tác viên của bí tích Thánh Thể, những người phân phát
lượng từ bi của Thiên Chúa qua bí tích Thống Hối, những người an ủi các tâm hồn và những hướng dẫn viên
cho mọi tín hữu trong cơn lốc của cuộc sống dẫy đầy khó khăn ngày hôm nay”.
“Chúng tôi hết lòng chào đón anh em, chúng tôi bày tỏ với anh em tâm tình biết ơn của chúng tôi, và
chúng tôi khuyến khích anh em kiên tâm tiến bước trong niềm vui và lòng hăng say. Đừng lùi bước trước sự
chán nản. Công việc của chúng ta không phải là của chúng ta nhưng là của Thiên Chúa”.
“Đấng đã kêu gọi chúng ta và sai phái chúng ta vẫn luôn luôn ở với chúng ta, hết mọi ngày trong đời
chúng ta. Quả vậy, chúng ta hoạt động là do được Chúa Kitô ủy thác” 319 .
CHƯƠNG I
ĐƯỢC CẤT NHẮC TỪ GIỮA LOÀI NGƯỜI.
VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC
TRƯỚC NHỮNG THÁCH ĐỐ
VÀO CUỐI THIÊN NIÊN KỶ THỨ HAI
LINH MỤC VÀ THỜI ĐẠI.
5. “Mọi thượng tế được cất nhắc từ giữa loài người, được đặt lên để can thiệp cho loài người trong những
mối tương quan giữa loài người với Thiên Chúa” (Dt 5,1).
Thư gởi tín hữu Do Thái khẳng định rõ ràng “bản tính con người” nơi thừa tác viên của Thiên Chúa:
từ loài người mà đến và phục vụ loài người, noi gương Chúa Giêsu Kitô, “ Đấng đã chiụ thử thách về mọi
mặt, hoàn toàn giống như chúng ta, ngoại trừ tôi lỗi “ (Dt 4,15).
Thiên Chúa lúc nào cũng kêu gọi các linh mục của Ngài giữa những môi trường nhân sinh và môi
trường Giáo Hội nhất định, các linh mục không thể không mang dấu vết của những môi trường ấy và chính
trong những môi trường ấy mà họ được sai đến để phục vục Tin Mừng Chúa Kitô.
Chính vì vậy, Thượng Hội Đồng đã đem đặt lại vấn đề linh mục trong bối cảnh hiện đại của xã hội
và của Giáo Hội. Thượng Hội Đồng cũng đã mở ngỏ cho những viễn tượng của thiên niên kỷ thứ ba, như
cách phát biểu vấn đề cho thấy:”việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay”.
Chắc hẳn luôn luôn có “một diện mạo cốt yếu, không thay đổi, của người linh mục: thực vậy, không
kém gì linh mục hôm nay, linh mục ngày mai sẽ phải nên giống Chúa Kitô. Trong cuộc sống trần thế, Đức
Giêsu đã bày tỏ nơi chính người khuôn mặt xác định của linh mục, để thể hiện chức linh mục thừa tác mà
các Tông Đồ là những người đầu tiên được nhận lãnh; chức linh mục ấy tự yếu tính phải nối tiếp, phải trải
dài không ngừng trong mọi giai đoạn lịch sử. Trong chiều hướng ấy, người linh mục thiên niên kỷ thứ ba sẽ
là người nối tiếp các linh mục trong những thiên niên kỷ trước đã đóng góp vào sức sống của Giáo Hội.
Ngay cả vào năm 2000, ơn gọi linh mục sẽ tiếp tục là lời mời gọi sống chức linh mục độc nhất và trường tồn
của Chúa Kitô” 320 . Cũng vậy, đời sống và chức vụ linh mục phải thích nghi với mọi thời đại và với mọi môi
trường sống… Chính vì thế, trong mức độ cụ thể, chúng ta phải nỗ lực tiếp nhận ánh sáng tối thượng của
Chúa Thánh Thần, hầu khám phá ra những phương hướng của xã hội đương thời, nhận ra những nhu cầu sâu
xa nhất, xác định những bổn phận cụ thể quan trọng nhất, những phương pháp mục vụ phải chấp nhận, để có
thể đáp lại cách xứng hợp nhất những mong chờ của nhân loại” 321 .
Vì phải thích ứng ý nghĩa đích thực trường tồn của chức linh mục với những đòi hỏi và những đặc
điểm của thời buổi hiện tại, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tìm cách giải đáp một số vấn nạn trước mắt:
đâu là những vấn đề và đồng thời những động cơ tích cực mà bối cảnh văn hóa xã hội và Giáo Hội hiện nay
khơi dậy nơi những trẻ nhỏ, thiếu niên và thanh niên đang cần phải làm cho dự phóng sống đời linh mục
được chín muồi trong toàn bộ cuộc sống của mình? Thời đại chúng ta gây những khó khăn nào và cung cấp
những khả năng mới mẻ nào cho việc thi hành một thừa tác vụ linh mục phù hợp với ơn bí tích đã lãnh nhận
và với đòi buộc phải có một đời sống thiên liêng thích đáng?
Giờ đây, Tôi lặp lại một số yếu tố do việc phân tích tình huống mà các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã
khai triển. Vì có quá nhiều bối cảnh văn hóa xã hội và Giáo Hội hiện đại trong những quốc gia khác nhau,
Tôi chỉ nêu dẫn những hiện tượng sâu xa nhất và phổ cập nhất, đặc biệt những hiện tượng liên quan tới các
vấn đề giáo dục và tới việc đào tạo linh mục.
Tin Mừng hôm nay : những triển vọng
và những trở ngại.
6. Những yếu tố dường như cổ võ nơi con người hôm nay một ý thức sắc bén hơn về phẩm giá nhân vị và về
một sự mở ngỏ mới đối với những giá trị tôn giáo, đối với Tin Mừng và đối với thừa tác vụ linh mục.
Mặc dầu những mâu thuẫn chồng chất, chúng ta gặp thấy trong xã hội một niềm khao khát công bằng
và hoà bình lan rộng hơn và mãnh liệt hơn, một cảm thức sắc bén hơn về việc quản trị lành mạnh công trình
tạo dựng và về sự tôn trọng thiên nhiên, một sự nghiên cứu rộng mở hơn về chân lý và về sự bảo vệ nhân
phẩm; nơi nhiều tập thể dân cư thế giới, người ta ghi nhận một sự dẫn thân ngày càng tăng nhằm xây dựng
tình liên đới giữa các quốc gia sao cho cụ thể hơn và nhằm tạo một trật tự mới cho hành tinh chúng ta trong
sự tôn trọng tự do và công bằng.
Trong khi tiềm lực năng lượng mà khoa học và kỹ thuật cung cấp đang trên đà phát triển, trong khi
thông tin và văn hóa ngày càng lan rộng, người ta cũng nhận thấy trổi hiện lên một yêu cầu mới về luân lý,
nghĩa là một sự truy tầm ý nghĩa và bởi đó truy tầm nấc thang khách quan cho các giá trị để nhờ đó điều hòa
những triển vọng và những giới hạn của tiến bộ.
Trong lãnh vực thuần túy tôn giáo và thuần túy Kitô giáo, không còn phải đương đầu với những
thành kiến ý thức hệ và những từ khước có tính bạo động trước đề nghị về những giá trị tinh thần và tôn giáo
nữa, và nơi nhiều miền trên thế giới xuất hiện những triển vọng phúc âm hóa và những triển vọng vọng tái
lập đời sống Giáo Hội thật mới mẻ và thật bất ngờ. Người ta ghi nhận một sự phổ cập ngày càng tăng trong
việc hiểu biết Kinh Thánh, một sức sống và một mãnh lực lan rộng nơi nhiều Giáo Hội trẻ với sự dấn thân
càng lúc càng hệ trọng vào việc bảo vệ và nâng cao các giá trị con người và sự sống con người; người ta còn
nêu dẫn một chứng từ tử đạo tuyệt vời từ phía các Giáo Hội Trung và Đông Âu cũng như chứng từ trung tín
và dũng cảm của nhiều Giáo Hội khác hiện đang phải gánh chịu những bách hại và những thử luyện nhân
danh đức tin 322 .
Niềm khát vọng hướng về Thiên Chúa, niềm khát vọng về một mối quan hệ sống động và có ý nghĩa
với Thiên Chúa ngày nay biểu hiện rõ rệt đến mức tạo điều kiện thuận lợi cho sự quảng bá những hình thái
tôn giáo phi Thiên Chúa và nhiều giáo phái khác nữa ở những nơi mà không có được sự loan báo Tin Mừng
Đức Giêsu một cách chính hiệu và toàn vẹn. Đối với mọi con cái Giáo Hội, đặc biệt đối với các linh mục, sự
quảng bá ấy, thậm chí nơi một số môi trường có truyền thống Kitô giáo, là nguyên do thường hằng buộc
phải kiểm điểm lương tâm, phải xét lại tính khả tín nơi chúng ta từ Tin Mừng của mình; thế nhưng sự quảng
bá ấy cũng là một dấu hiệu cho thấy sự truy tầm Thiên Chúa vẫn còn sâu xa và rất phổ biến.
7. Người ta nhận thấy nhiều yếu tố khác có tính chất vấn nạn hoặc tiêu cực pha trộn vào các yếu tố nói trên
và vào những yếu tố tích cực khác.
Chủ nghĩa duy lý vẫn còn rất phổ biến, nhân danh một quan niệm giảm lược hóa của “khoa học”, chủ
nghĩa này khép chặt lý chí con người lại, không nhường chỗ cho sự gặp gỡ Mạc khải và không công nhận
tính siêu việt của Thiên Chúa.
Người ta cũng ghi nhận rằng chủ nghĩa duy chủ thể của ngôi vị vẫn được bảo vệ một cách khốc liệt,
chủ nghĩa này có khuynh hướng vây kín ngôi vị trong cá nhân chủ nghĩa, để rồi không thể có được mối
tương quan đích thực giữa người với người. Vì thế nhiều người, nhất là các thiếu niên và thanh niên, tìm
cách bù trừ tình trạng cô đơn ấy bằng những phương tiện khỏa lấp thuộc nhiều bản chất khác nhau, với
những hình thức tìm hưởng lạc hoặc tìm trốn tránh trách nhiệm trong mức độ cường điệu khác nhau; bị giam
hãm trong cái chóng qua, những người ấy tìm cách sống những kinh nghiệm cá nhân nào mạnh nhất và có
lợi nhất trong mức độ có thể, những kinh nghiệm trên bình diện giác quan và cảm súc nhất thời, bởi đó họ
đương nhiên trở thành vô tâm và như thể bại liệt trước lời mời gọi bước vào một kế hoạch sống, đòi phải có
chiều kích thiêng liêng và tôn giáo hoặt phải có sự dấn thân trong tình liên đới.
Ngoài ra, khắp nơi tên thế giới, ngay cả khi mà những ý thức hệ lấy chủ nghĩa duy vật làm giáo điều
và sự bài trừ tôn giáo làm chương trình hành động đã cáo chung, có một thứ chủ nghĩa vô thần thực hành và
hiện sinh vẫn được truyền lan, chủ nghĩa này ăn khớp với một nhãn giới trần tục hóa về đời sống và về vận
mệmh con người. Một con người “chỉ còn biết quan tâm đến chính mình, một con người chẳng những biến
mình thành tiêu điểm hâm mộ mà còn dám tự xưng mình là nguyên lý và là căn cơ của mọi thực tại” 323 ,
người ấy càng ngày càng bị tước đoạt mất phần “bổ khuyết của tâm hồn”, phần này lại càng rất cần thiết khi
mà khối lượng dự trữ lớn lao gồm những của cải vật chất và những tài nguyên càng tạo cho người ấy ảo
tưởng để tự thỏa mãn với chính mình. Họ không còn cần phải đấu tranh với Thiên Chúa, họ chỉ đơn giản coi
Ngài như không có.
Trong bối cảnh này, một cách đặc biệt, cần phải ghi nhận tình trạng thực tại gia đình đang bị thoái
hóa, ý nghĩa đích thực của tính dục con người bị lu mờ hoặc bóp méo: đây là những hiện tượng có tầm ảnh
hưởng rất tiêu cực trên việc giáo dục những người trẻ và trên việc giúp họ mở lòng đón nhận các thứ ơn gọi
tu trì. Người ta còn ghi nhận tình trạng trầm trọng do những bất công xã hội và do sự tập trung của cải trong
tay một thiểu số, là hoa qủa của một chủ nghĩa tư bản phi nhân bản 324 , càng ngày càng khơi thêm hố ngăn
cách giữa những dân tộc giàu và những dân tộc nghèo: bởi đó có sự phát sinh trong xã hội con người những
căng thẳng và những băn khoăn làm cho đời sống cá nhân và cộng đoàn bị xáo trộn một cách sâu đậm.
Trong môi trường Giáo Hội, người ta cũng ghi nhận những hiện tượng tiêu cực đáng lo ngại ảnh
hưởng đến đời sống và thừa tác vụ của các linh mục: chẳng hạn sự ngu dốt, sự thiếu hiểu biết về tôn giáo
vẫn đang dai dẳng nơi nhiều người tín hữu, ảnh hưởng thấp kém của huấn giáo bị lấn át bởi những sứ điệp
phổ biến sâu rộng hơn và có sức mạnh hơn về phía những cơ quan truyền thông xã hội; sự đa nguyên trong
lãnh vực thần học, văn hóa và mục vụ, mặc dầu đôi khi được khởi xướng với ý ngay lành đã bị hiểu lệch lạc
và rốt cuộc làm cho đối thoại đại kết trở nên khó khăn và tạo nguy cơ cho sự hiệp nhất đức tin cần có; sự tồn
tại lâu dài của một thái độ nghi kỵ và hầu như bất khoan nhượng đối với Huấn quyền của phẩm trật; sự đẩy
mạnh nguồn phong phú của sứ điệp Tin Mừng theo kiểu một chiều và giản lược để rồi biến việc loan báo
đức tin và làm chứng cho đức tin thành một đóng góp đơn thuần cho sự giải phóng con người và xã hội
hoặc thành một nơi ẩn trú làm cho con người tha hóa trong sự mê tín hoặc trong một trạng thái tôn giáo phi
Thiên Chúa 325 .
Sự hiện diện trên cùng một lãnh thổ những tập thể bền bỉ gồm những người thuộc sắc tộc và tôn giáo
khác nhau là một hiện tượng rất ư quan trọng, ngay cả khi đó là một hiện tượng tương đối mới mẻ nơi
nhiều quốc gia có truyền thống Kitô Giáo từ lâu đời. Cứ như thế mà ngày càng phát triển một xã hội đa sắc
tộc và đa tôn giáo. Nếu một đàng hiện tượng này có thể trở nên cơ hội cho một nỗ lực đối thoại thường
xuyên hơn và hiệu nghiệm hơn, cho một sự mở ngỏ hướng đến những tinh thần cũng như những kinh
nghiệm tiếp đón và khoan dung đúng mức, thì đàng khác nó lại có thể trở nên nguồn phát sinh sự xáo trộn và
chủ nghĩa tương đối, nhất là nơi những cá nhân và tập thể không mấy vững chắc về đức tin.
Ngoài những yếu tố trên, trong sự liên kết chặt chẽ với đà đi lên của chủ nghĩa cá nhân, còn có thể kể
thêm chủ nhgĩa duy chủ thể về đức tin. Nơi một con số Kitô hữu ngày càng gia tăng, người ta nghi nhận có
sự sút kém, trong việc gắn bó với nội dung khách qua của giáo thuyết đức tin: người ta gắn bó một cách chủ
quan vào những gì dễ ưa, vào những gì tương hợp với kinh nghiệm riêng rẽ của mình, vào những gì không
giây sáo trộn cho những thói quen riêng tư cửa mình. Cuối cùng việc nại tới tính bất khả xâm phạm của
lương tâm cá nhân, tự nó là chính đáng, trong một bối cảnh như thế, không khỏi mặc lấy những tính chất
nguy hiểm và hàm hồ.
Từ đó dẫn đến sự kiện này là càng ngày người ta càng thuộc về Giáo Hội một cách không trọn vẹn
và có điều kiện, gây ảnh hưởng tiệu cực cho sự nổ rộ các ơn gọi cho việc hướng tới chức linh mục, cho ý
thức mà linh mục có về căn tính và về thừa tác vụ của mình trong cộng đoàn.
Sau hết, cho đến ngày hôm nay, nơi nhiều vùng, Giáo Hội vẫn còn phải gánh chịu những vấn đề
nghiêm trọng do sự kiện các lực lượng linh mục không có mặt đầy đủ và bởi do ít đáp ứng hơn cho những
nhu cầu. Các tín hữu thường bị bỏ rơi trong những giai đoạn lâu dài, thiếu sự trợ giúp mục vụ thích đáng. Sự
tăng triển về đời sống Kitô hữu của họ nói chung phải thiệt thòi và hơn nữa, khả năng trở thành tác nhân rao
giảng Tin Mừng của chính họ bị giảm sút.
Những người trẻ trước ơn gọi và việc đào tạo linh mục.
8. Những mâu thuẫn và triển vọng đa tạp đánh dấu các xã hội, các nền văn hóa và đồng thời các cộng đoàn
Giáo Hội chúng ta được thế giới người trẻ cảm nhận và sống với một cường độ rất đặc biệt, với những âm
vang trực tiếp và rất mãnh liệt trên bước đường giáo dục của họ. Trong chiều hướng ấy, sự khởi động và sự
phát triển các ơn gọi linh mục nơi trẻ nhỏ, thiếu niên và thanh niên không ngừng phải đương đầu với những
cản trở và những khích lệ.
Cái mà người ta gọi là “ xã hội tiêu dùng” mê hoặc những người trẻ một cách dữ dôi, làm cho họ trở
thành nạn nhân và tù nhân của một lối giải thích cuộc hiện hữu con người mang tính chất duy cá nhân, duy
vật và duy khoái lạc! Quan niệm “sống thoải mái” hiểu theo nghĩa vật chất có khuynh hướng trở thành lý
tưởng độc nhất của cuộc đời, một lối sống thoải mái phải đạt được với bất cứ điều kiện nào và với bất cứ giá
nào. Hiệu qủa là từ chối mọi hy sinh, vứt bỏ mọi nỗ lực tìm kiếm và sống những giá trị tinh thần và tôn giáo.
Mối “quan tâm” độc chiếm về cái sở hữu dành chỗ cái ưu việt là hiện hữu; và, từ đó, các giá trị nhân vị và
liên vị không được cắt nghĩa và sống theo luận lý của ơn huệ, của tính nhưng không, nhưng theo luận lý của
sự chiếm hữu ích kỷ và sự bóc lột kẻ khác.
Tình trạng này được nhận ra một cách đặc biệt trong quan niệm về tính dục con người, xa đọa và mất
phẩm giá, từ chỗ nhằm phục vụ cho hiệp thông và trao hiến liên vị đến chỗ giản lược thành đơn thuần một
mặt hàng tiên dùng. Bởi đó, kinh nghiệp cảm tính của số đông những người trẻ thay vì dẫn đến sự tăng
trưởng hòa điệu và tươi đẹp về nhân cách, thay vì mở ngỏ cho họ hướng đến tha nhân trong sự trao hiến
chính mình lại dẫn đến một sự thoái nhượng nghiêm trọng về mặt tâm lý và đạo đức, mang theo những hậu
qủa nặng nề cho tương lai họ.
Đối với nhiều người trẻ, cội rễ của các khuynh hướng nói trên chính là kinh nghiệm lệch lạc về tự
do: tự do thay vì được đảm nhận để tuân theo chân lý khách quan và phổ quát thì lại được cảm mến như là
sự đồng tình mù quáng với những mãnh lực của bản năng và với ý muốn thống trị của mỗi người. Do vậy,
một cách nào đó, xét theo phương diện não trạng và cách xử sự, thật là tự nhiên khi có sự tiêu tan về thái độ
gắn bó nội tâm đối với những nguyên tăc luân lý; thật là tự nhiên, xét theo phương diện tôn giáo, nếu không
phải trong mọi trường hợp, khi có sự từ chối Thiên Chúa một cách minh nhiên, hay ít ra có thái độ bất cần
hoặc một cuộc sống mà ngay cả trong những giây phút có ý nghĩa nhất và trong những lựa chọn dứt khoát
nhất chỉ được sống như thể không hề có Thiên Chúa. Trong một bối cảnh như thế, thật là khó khăn cho ý
nghĩa của một ơn gọi linh mục có thể thực hiện, thậm chí có thể hiểu; bởi vì ơn gọi là một chứng từ loại biệt
về tính ưu việt của cái hiện hữu trên cái chiếm hữu; ơn gọi còn là nhìn nhận ý nghĩa của đời sống như là một
sự trao hiến chính mình tự do và có trách nhiệm cho người khác và như là một tư thế sẵn sàng để hoàn toàn
phục vụ Tin Mừng và Nước Chúa trong chức linh mục.
Ngay cả trong cộng đoàn Giáo hội, thế giới người trẻ vẫn đang thường là một “vấn nạn”. Thực vậy,
nếu còn hơn cả nơi người trưởng thành, nơi người trẻ, có một xu hướng khá mạnh tiến tới thái độ duy chủ
thể trong lãnh vực đức tin và tiến tới tình trạng thuộc về đời sống và sứ mệnh của giáo Hội chỉ phiếm diện
và có điều kiện, thì trong cộng đoàn Giáo Hội người ta phải vất vả, vì một loạt nguyên cớ, để tổ chức một
nền mục vụ cho giới trẻ sao cho thích nghi và kiến hiệu; người trẻ có nguy cơ bị bỏ rơi, làm mồi cho sự
mong manh về tâm lý, bất mãn và chỉ trích khi nhìn thấy những người lớn không sống đức tin cho hợp lẽ và
chín muồi và do đó không nêu được những mẫu gương đáng tin cậy.
Bởi vậy, khó có thể đề nghị cho những người trẻ và đào tạo cho họ một kinh nghiệm sống trọn vẹn
và năng động đời sống Kitô hữu trong Giáo Hội. Do sự kiện ấy, viễn tượng ơn gọi linh mục vẫn xa cách với
những tiêu điểm hâm mộ của người trẻ.
9. Dầu vậy, không thiếu những tình huống đầy khích lệ và tích cực có khả năng khơi dậy và cổ xuý trong
tâm hồn các thiếu niên và thanh niên một thái độ sẵn sàng đáp ứng mới cũng như một sự truy tầm đích thực
và chính hiệu đối với các giá trị đạo đức và tinh thần, vốn tự bản chất cống hiến một mảnh đất thuận lợi cho
sự nở rộ ơn gọi nhằm trao hiến trọn vẹn chính mình cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội trong chức linh mục.
Trước hết, một số hiện tượng mới đây đã gây khá nhiều vấn đề nay được ghi nhận là có phần giảm
thiểu, chẳng hạn sự phản kháng có tính triệt để, những làn sóng phóng túng, những yêu sách nặng tính
không tưởng, những hình thức xã hội hóa bất chấp phân biệt, sự bạo động.
Đàng khác, phải công nhận rằng những người trẻ ngày nay, với sức mạnh và sự tươi mát của lứa tuổi
mình, cưu mang nơi họ những lý tưởng đang dần dà hội nhập vào lịch sử : niềm khao khát tự do, sự nhận
thức giá trị vô song của nhân vị, nhu cầu phải chân chính và trong suốt, một quan niệm mới và một thể loại
mới về tính hỗ tương trong những quan niệm giữa nam và nữ, sự truy tầm xác tín và say mê nhằm tiến tới
một thế giới công bằng hơn, liên đới hơn và hiệp nhất hơn, sự mở ngỏ hướng đến đối thoại với mọi người,
sự dẫn thân cho hòa bình.
Nơi nhiều người trẻ thời đại, người ta ghi nhận một sự phát triển thật phong phú và thật sống động về
nhiều hình thức tự nguyện đáp ứng nhu cầu của những người phải sống trong cảnh bị bỏ rơi và vất vưởng
giữa lòng xã hội, thái độ sẵn sàng đáp ứng này được coi là một yếu tố tác động rất quan trọng cho việc giáo
dục, bởi vì khuyến khích và nâng đỡ những người trẻ trong một lối sống vô vị lợi hơn, cởi mở hơn và liên
đơí hơn với người nghèo. Nếp sống ấy có thể giúp khai thông sự hiểu biết niềm khát vọng và sự đón nhận
một ơn gọi hướng đến việc phục vụ tha nhân lâu bền và hoàn toàn, nhất là bằng đường lối dâng hiến trọn
vẹn cho Thiên Chúa trong đời sống linh mục.
Sự sụp đổ gần đây của các ý thức hệ, thái độ nặng tính chất phê phán khi đứng trước thế giới những
người lớn vốn không luôn luôn nêu dẫn một chứng từ sống được hun đúc bằng những giá trị luân lý và siêu
việt, cả đến kinh nghiệm của những người đồng trang lứa đi tìm đào thoát trong ma tuý và bạo lực, tất cả
góp phần rất lớn để phải đẩy mạnh hơn và phải nhất thiết không tránh né vấn đề cơ bản về những giá trị thực
sự có khả năng mang lại ý nghĩa viên mãn của chúng cho cuộc sống. Nơi rất nhiều người trẻ, khát vọng tôn
giáo và nhu cầu thiêng liêng ngày càng tỏ hiện cách minh nhiên: từ đó có khát vọng sống kinh nghiệm hoang
điạ và cầu nguyện, có sự quay trở về với việc đọc Lời Chúa thiết thân hơn, và thường đều hơn, với việc
nghiên cứu thần học.
Trong khuôn khổ của môi trường tự nguyện, cũng như trong khuôn khổ của cộng đoàn Giáo Hội,
những người trẻ trở thành những chiến hữu mỗi ngày một tích cực, nhất là trong việc tham gia các nhóm, từ
những nhóm lâu đời nhất nay đã được canh tân cho tới những nhóm mới được thành lập: đây là kinh nghiệm
của một Giáo Hội được mời gọi vào công cuộc “phúc âm hóa mới “bằng sự trung thành với Thần Khí, Đấng
tạo sức sống cho Giáo hội và thể theo những khát vọng của một thế giới xa cách Thiên Chúa nhưng lại cần
đến Ngài; đây cũng là kinh nghiệm của một Giáo Hội liên đới hơn với con người và các dân tộc, trong cuộc
sống bảo vệ và thăng tiến phẩm giá con người, nhân quyền của mọi người và của từng người. Tất cả những
điều ấy khai mở tâm hồn và đời sống những người trẻ hướng đến những lý tưởng có sức thu hút và đòi phải
dấn thân, những lý tưởng có thể thực hiện một cách cụ thể bằng việc nối gót Chúa Kitô trong chức linh mục.
Tình trạng của con người và của Giáo Hội được đánh đấu bằng một tính chất hàm hồ và lưỡng nghĩa
sâu đậm như thế chắc hẳn sẽ làm nền, chẳng những cho mục vụ ơn gọi và cho việc đào tạo linh mục tương
lai, mà còn cho khuôn khổ đời sống và thừa tác vụ của mọi linh mục, và cho việc đào tạo trường kỳ. Bởi đó,
nếu người ta hiểu được những hình thức “khủng hoảng” khác nhau và các linh mục ngày nay cảm nghiệm
trong việc thi hành thừa tác vụ, trong đời sống thiêng liêng, cả đến trong việc diễn giải bản chất và ý nghĩa
của chức linh mục thừa tác, người ta cũng phải vui mừng và hy vọng mà nhận ra được những triển vọng tích
cực mà khúc quanh lịch sử hiện nay cung ứng cho các linh mục trong việc hoàn thành sứ vụ của mình.
Sự phân định dựa theo Tin Mừng.
10. như đã được gợi lên qua một vài nhận định thoáng qua có tính cách ví dụ, tình huống phức tạp hiện nay
chẳng những cần phải được nhận thức nhưng còn phải và nhất là phải được diễn giải. Chỉ bằng cách đó
người ta mới có thể trả lời rành mạch câu hỏi cơ bản:” Làm sao để đào tạo linh mục cho thực sự ngang tầm
với hoàn cảnh hiện nay, cho thực sự có khả năng Phúc âm hoá thế giới ngày nay?” 326
Nhận thức tình huống là điều quan trọng, chỉ nêu dẫn một số dữ kiện thì chưa đủ; cần có một cuộc
tra cứu khoa học để có thể xác định cái toàn diện của một khuôn khổ cụ thể gồm những hoàn cảnh văn hóa,
xã hội và Giáo Hội.
Diễn giải tình huống còn là điều quan trọng hơn. Việc làm này là yêu cầu của tính lưỡng nghĩa và
đôi khi của tính chất mâu thuẫn từ nơi tình huống, những tính chất này cũng giống như thửa Đất trong Tin
Mừng, trên đó hạt giống tốt và cỏ lùng cùng được gieo và mọc chung với nhau (x. Mt 1,24-30), chứng tỏ cho
thấy sự trộn lẫn sâu đậm giữa những khó khăn và những tiềm năng, giữa những yếu tố tiêu cực và những lý
do hy vọng, giữa những cản trở và những lối mở.
Công việc diễn giải nhằm phân biệt điều thiện và điều dữ, phân biệt những dấu chỉ hy vọng và những
đe doạ, không phải luôn dễ dàng. Trong công cuộc đào tạo linh mục, vấn đề không phải chỉ đơn thuần là
thâu nhận những yếu tố tích cực và đem đối chọi chúng với yếu tố tiêu cực. Điều quan trọng là phải đưa
chính những yếu tố tích cực ấy ra để phân định một cách chăm chú, để đừng tách biệt yếu tố này ra khỏi yếu
tố kia và đừng đem đối lập chúng với nhau, như thế chúng là những yếu tố tuyệt đối có thể đem đối chọi với
nhau. Đối với các yếu tố tiêu cực cũng vậy; đừng đem vứt bỏ chúng trọn khối mà không phân biệt, bởi vì nơi
mỗi một yếu tố tiêu cực có thể tiềm ẩn một giá trị cần được cứu vãn và cần được trả về trong chân lý toàn
diện.
Đối với người tín hữu, diễn giải tình huống lịch sử có nghĩa là tôn trọng nguyên tắc vận dụng trí
thông minh và dựa vào tiêu chuẩn của những lựa chọn hành động phát xuất từ đó, nguyên tắc và tiêu chuẩn
này nằm trong một đòi hỏi mới và căn cơ, đó là sự phân định dựa theo Tin Mừng; việc diễn giải này hình
thành trong sức mạnh và ánh sáng của Tin Mừng, của Tin Mừng sống động và cá vị, của chính Chúa Giêsu
Kitô và nhờ vào ân huệ của Chúa Thánh Thần. Bởi thế, trong tình huống lịch sử với những gì là bấp bênh
của nó, công việc phân định dựa theo Tin Mừng không chỉ thâu nhận một dữ kiện đơn thuần để rồi phải đem
ra ứng dụng một cách chính xác và để rồi có thể dửng dưng và thụ động trước dữ kiện ấy, nhưng đúng hơn
thu nhận một “bổn phận” một thách đố đối với tự do có trách nhiệm hoặc của cá nhân mà thôi hoặc của cộng
đoàn. Đó là một thách đố gắn liền với ”lời mời gọi” mà Thiên Chúa làm vang vọng trong chính tình huống
lịch sử: vì vậy, trong tình huống, Thiên Chúa mời gọi trước hết Giáo Hội cùng với người tín hữu làm sao
cho Tin Mừng về ơn gọi và chức linh mục diễn đạt được tính trường tồn của chân lý trong những hoàn cảnh
đổi thay của cuộc sống. Cũng cần phải áp dụng cho việc đào tạo linh mục những lời của Công Đồng
VaticanôII: ” Giáo Hội có bổn phận, bất cứ lúc nào, tra cứu những dấu chỉ thời đại và cắt nghĩa những dấu
chỉ ấy dưới ánh sáng Tin Mừng, làm thế nào cho mình có thể giải đáp, với cách thức thích nghi cho từng thế
hệ, các vấn nạn muôn thuở của con người về ý nghĩa của cuộc sống hiện tại và mai ngày và về những quan
hệ hỗ tương giữa con người với nhau. Bởi đó, điều cần thiết là phải nhận biết và thấu hiểu thế giới trong đó
chúng ta đang sống, những mong chờ, những khát vọng và đặc tính thường là bi thảm của thế giới” 327 .
Sự phân định theo Tin Mừng ấy đặt nền tảng trên lòng tín thác vào tình yêu Chúa Giêsu Kitô là Đấng
luôn mãi và không ngơi chăm sóc Giáo Hội (x. Ep 5,29), Ngài là Chúa và là Thầy, là nền móng, là trung tâm
và là cùng đích của toàn thể lịch sử nhân loại 328 ; sự phân định ấy được soi sáng và củng cố nhờ Chúa Thánh
Thần Đấng mọi nơi mọi lúc khơi dậy sự vâng phục đức tin, lòng dũng cảm tươi vui để nối gót Chúa Giêsu,
ơn khôn ngoan để xét đoán mọi sự và không bị một ai xét đoán (x. 1Cr 2,15); sự phân định ấy cậy dựa vào
trung thành của Chúa Cha đối với những lời hứa của Ngài. Nhờ đó Giáo Hội cảm thấy đủ khả năng đương
đầu với những khó khăn và những thách đố của giai đoạn lịch sử mới. Giáo Hội cũng có thể đảm bảo cho
hiện tại cũng như tương lai cho một nền đào tạo linh mục nhằm cung cấp những thừa tác viên nhiệt thành và
xác tín đối với công việc “phúc âm hóa mới”. Những người đầy tớ trung thành và quảng đại phục vụ Chúa
Kitô và phục vụ loài người.
Chúng ta đừng che dấu những khó khăn. Những khó khăn không phải là hiếm và cũng không nhẹ
nhàng. Để thắng được khó khăn, chúng ta có một niềm hy vọng và niềm tin vào tình yêu bất khả khuyết của
Chúa Kitô, chúng ta có niềm tin vững chắc vào tính bất khả thay thế của thừa tác vụ linh mục đối với đời
sống Giáo Hội và thế giới.
CHƯƠNG II
NGÀI ĐÃ XỨC DẦU
THÁNH HIẾN TÔI VÀ ĐÃI SAI TÔI ĐI.
BẢN CHẤT VÀ SỨ VỤ
CỦA CHỨC LINH MỤC THỪA TÁC.
HƯỚNG NHÌN CHỨC LINH MỤC.
11. “ Mọi người trong hội đường đều đưa mắt hưóng nhìn Ngài” (Lc 4,20). Điều mà Thánh Luca tác giả Tin
Mừng nói về những người đã có mặt trong hội đường Nagiaret ngày Sabbat hôm ấy và đã nghe Đức Giêsu
giải thích đoạn sách ngôn sứ Isaia sau khi Ngài đọc lên hôm ấy có thể đem áp dụng cho tất cả mọi Kitô hữu
bởi vì tất cả đều dược mời gọi công nhận lời sấm đã được thực hiện trọn vẹn nơi Đức Giêsu Nagiaret: “ lúc
ấy, Ngài cất tiếng nói: ‘Hôm nay đoạn sách Thánh này được ứng nghiệm cho anh em là những kẻ đang
nghe’ ( Lc 4,24). Đoạn sách Thánh ấy nói rằng: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi vì Ngài đã sức dầu thánh
hiến tôi để tôi mang Tin Mừng đến cho người nghèo. Ngài đã sai tôi đi rao giảng sự giải thoát cho người bị
giam cầm, sự sáng mắt cho kẻ mù lòa, trả tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa”. ( Lc
4,18-19; x.Is 61,1-2). Đức Giêsu tự giới thiệu mình như là đầy tràn Chúa thánh Thần, “được sức dầu hiến
thánh “, “để mang Tin Mừng đến cho người nghèo”: Ngài là Đấng Mêsia, một Đấng Mêsia vừa là tư tế,
ngôn sứ và là vua.
Người Kitô hữu phải đưa mắt đức tin và mắt tình yêu hướng nhìn dung mạo nói trên của Đức Kitô.
Chính dưới ánh sáng của sự “chiêm ngắm” mà các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã suy tư về vấn đề đào tạo
linh mục trong hoàn cảnh hiện nay. Không thể nào giải quyết vấn nạn ấy nếu trước đó không suy nghĩ về
cứu cánh của tiến trình đào tạo: cứu cánh, đó chính là chức vụ linh mục thừa tác và, nói đúng hơn, là chức
linh mục thừa tác với tư cách tham gia vào chính chức linh mục của Chúa Giêsu Kitô, trong Giáo Hôi. Nhận
thức về bản chất và về sứ vụ của chức linh mục thừa tác là điều tất yếu phải đi trước, đồng thời là đường lối
vững chắc nhất và là động cơ mãnh liệt nhất để có thể phát triển hoạt động mục vụ trong Giáo Hội, nhằm
thăng tiến và phân định các ơn gọi linh mục cũng như đào tạo những người được mời gọi tiến đến thừa tác
vụ được phong ban.
Như thế, truy tầm một sự hiểu biết chính xác và sâu rộng về bản chất và sứ vụ của chức linh mục thừa
tác là đường lối phải tuân theo – đây qủa thực là đường lối của Thượng Hội Đồng – để có thể ra khỏi cuộc
khủng hoảng về căn tính linh mục, như Tôi đã phát biểu trong bài diễn văn bế mạc Thượng Hội Đồng: “cuộc
khủng hoảng này đã xuất hiện trong những năm kế tiếp ngay sau Công Đồng. Sở dĩ nó phát sinh là vì giáo
thuyết của Huấn quyền trong Công Đồng đã bị giải thích sai lầm, có khi đã bị cố tình giải thích lệch lạc.
Chắc chắn đây là một trong những nguyên nhân đã gây ra nhiều vụ hồi tục mà Giáo Hội lúc bấy giờ phải
gánh chịu; những vụ hồi tục đã ảnh hưởng trầm trọng đến công việc mục vụ, đến các ơn gọi linh mục và
cách riêng đến ơn gọi thừa sai. Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1990, bằng cách khám phá lại toàn vẹn
chiều sâu của chức linh mục nhờ vào biết bao bài tham luận đã được đón nghe trong phòng hội Aula này,
như thể đã đến đẻ mang lại niềm hy vọng sau nhiều vụ hồi tục xót xa ấy. Nh ững bài tham luận ấy chứng tỏ
chúng tôi ý thức như thế nào về mối dây hữu thể loại biệt nối kết người linh mục với Chúa Kitô là Linh Mục
Tối Cao và là Mục Tử Nhân Lành. Căn tính linh mục ấy phải làm nền để tạo bản chất cho nền đào tạo cần
được tiến hành nhắm đến chức linh mục và còn nhắm đến trọn vẹn cuộc đời linh mục. Mục đích chính xác
của Thượng Hội Đồng 1990 là như thế” 329 .
Nhằm mục đích ấy, Thượng hội Đồng xét rằng cần phải nhắc lại một cách tổng hợp tất cả những gì
liên quan đến các nền tảng của bản chất và sứ vụ linh mục thừa tác, bản chất và sứ vụ mà đức tin Giáo Hội
đã thừa nhận trong suốt dòng lịch sử qua nhiều thế hệ và Công đồng Vaticanô II đã trình bày cho con người
thời đại chúng ta 330 .
Trong Giáo Hội là mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ.
12. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã viết: “căn tính linh mục, cũng như bất cứ căn tính nào của người
Kitô hữu, bắt nguồn từ Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi” 331 là Mầu nhiệm được mạc khải, được chuyển đạt
cho loài người nơi Chúa Kitô, đồng thời trong Ngài và nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần, tạo thành Giáo
Hội với tư cách là “hạt mầm và khởi đầu” của Nước Trời 332 . Tông Huấn Christifideles Laici tổng hợp giáo
huấn của Công đồng bằng cách trình bày Giáo Hội như là mầu nhiệm bởi vì tình yêu và sự sống của Chúa
Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là ân huệ tuyệt đối nhưng không, được ban cho tất cả những ai sinh ra
bởi nước và Thần Khí (x.Ga.3,5), được kêu mời sống chính sự hiêp thông của Thiên Chúa, biểu lộ và lan
truyền sự hiệp thông ấy trong lịch sử (sứ vụ) ” 333 .
Chính trong lòng Giáo Hội xét như là mầu nhiệm hiệp thông giữa Thiên Chúa Ba Ngôi trong nỗi day
dứt thi hành sứ vụ mà mọi căn tính Kitô hữu được mạc khải và đồng thời căn tính loại biệt của linh mục và
của thừa tác vụ linh mục cũng được mạc khải. Quả vậy, linh mục, nhờ vào sự thánh hiến đã lãnh nhận quabí
tích Truyền Chức thánh, được sai đi bởi Chúa Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô, và một cách đặc biệt được nên
đồng hình dạng với Ngài, Đấng là Đầu và Mục Tử của dân Ngài, để sống và hoạt động, trong sức mạnh của
Chúa Thánh Thần, nhằm phục vụ Giáo Hội và cứu độ thế giới 334 .
Nhờ đó, người ta hiểu được tính chất thiết yếu “tương giao” của căn tính linh mục: do bởi chức linh
mục phát sinh từ nơi thẳm sâu mầu nhiệm khôn tả của Thiên Chúa, nghĩa là từ tình yêu của Chúa Cha, từ ân
sủng của Chúa Giêsu Kitô và từ ơn hiệp nhất của Chúa Thánh Thần, người linh mục qua bí tích được hội
nhập vào sự hiệp thông với Giám mục và với các linh mục khác 335 , để phục vụ Dân Thiên Chúa là Giáo Hội
và để dẫn dắt mọi người đến với Chúa Kitô, đúng như lời cầu nguyện của Ngài: “Lạy Cha rất thánh, xin Cha
gìn giữ chúng trong danh Cha mà Cha đã ban cho Con để chúng nên một như chúng ta… Lạy Cha, cũng như
Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin Cha cho chúng cũng ở trong chúng ta, để cho thế gian tin
rằng Cha đã sai Con” (Ga.17,11.21).
Bởi thế, không thể tìm xác định bản chất và sứ vụ của chức linh mục thừa tác ở bên ngoài nhiệm hệ
đa tạp và phong phú gồm những tương quan bắt nguồn từ Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và nối dài trong
sự hiệp thông với Giáo Hội xét như là dấu chỉ và khí cụ, trong Chúa Kitô, của sự nối kết giữa loài người với
Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại 336 . Từ đó, nghiên cứu Giáo Hội về phương diện hiệp thông
chính là việc làm có tính định đoạt để có thể nắm vững căn tính linh mục, phẩm giá riêng biệt của linh mục,
ơn gọi và sứ vụ trong Dân Thiên Chúa và trong thế giới. Chính vì vậy, qui chiếu về Giáo Hội là điều cần
thiết, ngay cả khi đó không phải là điều tiên quyết trong định nghĩa về căn tính linh mục. Xét như là mầu
nhiệm, Giáo Hội thiết yếu gắn liền với Chúa Giêsu Kitô; thực ra, Giáo Hội chính là sự viên mãn, là Thân
Thể và là Hiền Thê của Ngài. Giáo Hội là “dấu chỉ”, là “kỷ vật” sống động nói lên sự hiên diện liên lỉ của
Ngài và nói lên hoạt động của Ngài giữa chúng ta và cho chúng ta. Người linh mục tìm gặp trọn vẹn sự thật
về căn tính của mình trong sự kiện mình tham dự một cách loại biệt vào Đức Kitô và nối tiếp chính Đức
Kitô, vị tư tế Tối Cao và độc nhất của Giao Ước mới: linh mục là hình ảnh sống động và trong suốt của
Chúa Kitô linh mục. Là biêu hiện “tính chất mới mẻ” tuyệt đối của Ngài trong lịch sử cứu độ, chức tư tế của
Chúa Kitô chính là cội nguồn độc nhất và là bản mẫu bất khả thay thế của chức tư tế Kitô hữu và cách riêng
của chức tư tế linh mục. Bởi đó, qui chiếu về Chúa Kitô là chìa khóa tuyệt đối cần thiết để có thể thấu hiểu
thực tại linh mục..
Mối liên hệ cơ bản với Đức Kitô là Đầu và Mục Tử
13. Đức Giêsu Kitô đã biểu lộ nơi chính Ngài dung mạo trọn hảo và vĩnh viễn của chức tư tế thời Tân Ước 337
: Ngài đã mạc khải dung mạo ấy bằng toàn thể đời sống trần thế của Ngài, nhưng trên tất cả bằng chính biến
cố trung tâm là cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Ngài.
Như tác giả thư gởi tín hữu Do Thái đã viết, là con người như chúng ta và là người Con độc nhất của
Thiên Chúa, Đức Giêsu, ngay trong chính hữu thể của Ngài, là vị Trung Gian hoàn hảo giữa Chúa Cha và
nhân loại (x Dt 8-9), vị Trung Gian cho chúng ta được trực tiếp đến gần Thiên Chúa, nhờ ân huệ của Chúa
Thánh Thần: “Thiên Chúa đã sai đến tâm hồn chúng ta Thần Khí của Con Ngài, Thần Khí ấy kêu lên: Abba,
lạy Cha!” Gl 4,6; x Rm 8,15).
Đức Giêsu hoàn thành nhiệm vụ trung gian bằng việc hiến dâng chính mình trên Thập Giá, nhờ đó,
một lần thay cho muôn lần, Ngài mở lối vào thánh điện trên trời và vào nhà của Chúa Cha (x Dt 9,24-28).
Sánh với Đức Giêsu, Môisê và tất cả các vị “trung gian” thời Cựu Ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài — các
vua,các tư tế và ngôn sứ — chỉ xuất hiện như là “hình ảnh” và là “bóng mờ của những điều thiện hảo sẽ tới”,
chớ không như là “chính sự biểu hiện của các thực tại” (x. Dt 10,1).
Đức Giêsu là Vị Mục Tử Nhân Lành mà các ngôn sứ đã báo trứớc (x. Ed 34), Vị Mục Tử biết chiên
mình từng con một, thí mạng sống mình cho chiên và qui tụ hết mọi con chiên lại thành một đàn duy nhất
với một chủ chăn duy nhất (x. Ga 10, 11-16). Ngài là vị Mục Tử, không phải đến “để được phục vụ nhưng
để phục vụ” (Mt 20,28),, với cử chỉ rửa chân ngày vượt qua (x. Ga 13,11-20),đã để lại cho những người thân
thích của Ngài mẫu gương phục vụ mà họ có trách nhiệm thực thi lẫn cho nhau, và đã tự nguyện hiến dâng
chính mình làm con chiên vô tội chịu sát tế để cứu chuộc chúng ta (x. Ga 1,36; Kh 5,6-12).
Nhờ hy lễ Thập Giá tiến dâng một lần và mãi mãi, Đức Giêsu thông ban cho tất cả các môn đệ của
Ngài phẩm giá và sứ vụ làm linh mục của Giao Ước mới và vĩnh cửu. Như thế là ứng nghiệm lời Thiên
Chúa hứa với It-ra-en: “ Ta sẽ coi các ngươi như một vương quốc tư tế, một dân tộc thánh thiện” (Xh 19,6).
Thánh Phêrô viết: Chính toàn dân Giao Ước mới được làm thành một “tòa nhà thiêng liêng”, “một hàng tư
tế thánh thiện, nhằm dâng tiến những hy lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa”, nhờ Đức Giêsu Kitô (1Pr
2,5).Những người đã lãnh nhận phép Rửa là những viên đá sống động xây nên toà nhà thiêng liêng, nối kết
với Thân Thể Chúa Kitô, “là đá tảng sống động… được tuyển chọn và thật quí giá bên cạnh Thiên Chúa”
(1Pr 2,4) . Dân tư tế mới, là Giáo Hội, chẳng những có được nơi Chúa Kitô hình ảnh riêng biệt và chính
hiệu của mình mà còn lãnh nhận từ nơi Ngài sự tham dự thiết thực trên bình diện hữu thể vào chức tư tế vĩnh
cửu và độc nhất của Ngài, chức tư tế mà dân Chúa phải thích ứng trọn cả đời mình.
14. Nhằm phục vụ chức tư tế phổ quát của Giao Ước Mới, Đức Giêsu, trong sứ vụ trần thế, đã mời gọi
nhiều môn đệ đến với Ngài; với quyền bính dành cho một sứ vụ loại biệt, Ngài kêu gọi và thiết lập Nhóm
Mười Hai “để làm bạn đồng hành với Ngài và để sai họ đi rao giảng, kèm theo quyền xua trừ ma quỉ”. (Mc
3,14-15)
Như thế, ngay từ trong giai đoạn thi hành sứ vụ công khai (x. Mt 16,18) và sau đó, một cách viên
mãn, khi đã chết và đã sống lại (X. Mt 28,16-20 ; Ga 20-21), Đức Giêsu ban cho Phêrô và Nhóm Mười Hai
những quyền hành loại biệt đối với cộng đoàn tương lai và nhằm mục đích rao giảng tin mừng cho muôn
dân. Sau khi đã mời gọi họ theo Ngài, Ngài giữ họ bên cạnh Ngài và Ngài sống với họ, dùng gương sáng và
lời nói thông truyền cho họ sứ điệp cứu độ; sau cùng, Ngài sai họ đến với mọi người. Để cho sứ vụ ấy được
hoàn thành, Đức Giêsu ban cho các Tông Đồ, cùng với sức mạnh do sự tuôn đổ Thánh thần sau biến cố Phục
Sinh, cũng môt quyền bính Mêsia mà Ngài đã lãnh nhận từ nơi Chúa Cha, quyền bính đã được ban cho
Ngài, quyền bính đã được biểu lộ cách viên mãn qua sự Phục Sinh của Ngài: “Mọi quyền hành trên trời dưới
đất đã được ban cho ta. Vậy, các con hãy đi, hãy chiêu tập môn đệ từ khắp muôn dân, làm phép rửa cho họ
nhân danh Cha và Con và Thánh thần, dạy họ tuôn giữ mọi điều ta đã chỉ thị. Này đây ta sẽ ở với các con
mọi ngày cho đến tận thế”. (Mt 28,18-20)
Bằng cách ấy, Đức Giêsu thiết lập một mối liên lệ sít sao giữa thừa tác vụ được ban cho các Tông Đồ
với chính sứ vụ riêng của mình: “Ai đón nhận các con là đón nhận Ta và ai đón nhận ta là đón nhận Đấng đã
sai ta” (Mt 10,40); “Ai nghe các con là nghe Ta, ai loại bỏ các con là loại bỏ Ta và ai loại bỏ Ta là loại bỏ
Đấng đã sai Ta”(Lc10,16). Hơn thế nữa, trong Tin Mừng thứ tư, dưới ánh sáng của biến cố vượt qua gồm
cái chết và sự Phục Sinh, Đúc Giêsu quả quyết một cách hết sức mạnh mẽ và minh bạch: “Như Cha đã sai
Ta, cũng vậy Ta sai các con”( Ga 20,21; x.13,20; 17,18). Cũng như Đức Giêsu nắm giữ một sứ vụ đến trực
tiếp từ Thiên Chúa và làm cho chính quyền bính của Thiên Chúa trở nên hiện diện (x. Mt 7,29; 21,23; Mc
1,27; 11,28; Lc 20,2; 24,19), cũng vậy các Tông Đồ nắm giữ một sứ vụ đến từ Chúa Giêsu. Cũng như “con
không thể tự mình làm điều gì” (Ga 5,19) đến nỗi giáo thuyết của Ngài không phải là của riêng Ngài nhưng
là giáo thuyết của Đấng đã sai Ngài (x. Ga 7,16), cũng vậy, Đức Giêsu nói với các Tông Đồ: “Ngoài ta các
con không thể làm được gì” (Ga 15,5): sứ vụ của các tông Đồ không phải là sứ vụ riêng của các Ngài nhưng
là chính sứ vụ của Chúa Giêsu. Sở dĩ có thể hoàn thành sứ vụ ấy thì không phải do sức lực của con người
nhưng chỉ nhờ vào “ơn ban” của Chúa Kitô và của Thần Khí Ngài, nhờ vào ơn bí tích: “Các con hãy nhận
lấy Thánh thần. Các con tha tội cho ai, tội người ấy được tha, các con cầm buộc tội ai, tội người ấy bị cầm
buộc” (Ga 20,22-23). Vì thế, không phải vì cậy dựa vào một công nghiệp riêng tư nào nhưng chỉ thông phần
một cách nhưng không vào ân sủng của Chúa Kitô mà các Tông Đồ, trong lịch sử, cho đến thời cùng tận,
đeo đuổi sứ vụ cứu độ của chính Đức Kitô vì lợi ích cho loài người.
Dấu chỉ và điều kiện tiên quyết để cho sứ vụ ấy được chính hiệu và sai nở, đó là sự hiệp nhất giữa các
Tông Đồ với Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, giữa các tông Đồ với Chúa Cha, như đã được nêu dẫn trong
lời nguyện tư tế của Chúa, là tổng hợp của sứ vụ Ngài (x. Ga 17,20-23).
15. Đến lượt các Ngài, như đã được Chúa thiết lập, các Tông Đồ sẽ dần dà làm trọn sứ vụ của các Ngài bằng
cách kêu mời, dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tựu trung đồng qui với nhau, những người khác, làm
giám mục, làm linh mục và làm phó tế, để hoàn thành sứ vụ đã lãnh nhận từ nơi Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng
đã sai các Ngài đến với mọi người thuộc mọi thời đại.
Tân Ước nhất loạt ghi chú rằng Thần Khí của chính Đức Kitô đã dưa dẫn vào trong thừa tác vụ những
con người được chọn giữa các anh em. Với cử chỉ đặt tay (x. Cv 6,6; 1Tm 4,14; 5,22; 2Tm 1,6) Là cử chỉ
chuyển ban ơn Thần Khí, những con người ấy được mời gọi và được trang bị để tiếp nối cùng một thừa tác
vụ hòa giải, chăn dắt đoàn chiên của Thiên Chúa và giảng dạy (x. Cv 20,28; 1Pr 5,2).
Như vậy, các linh mục được mời gọi nối dài sự hiện diện của Đức Kitô, vị Mục tử duy nhất và tối cao,
bằng cách noi theo lối sống của Ngài và bằng cách làm sao cho mình như thể được Ngài xuyên thấu ngay
giữa đàn chiên được giao phó cho mình. Như thư thứ nhất của thánh Phêrô đã viết một cách rõ ràng và chính
xác: “Với các vị niên trưởng giữa anh em, tôi, cũng thuộc hàng niên trưởng như các vị ấy, là chứng nhân về
những nỗi thống khổ của Đức Kitô, là kẻ sẽ được thông phần vinh quang sắp được mạc khải, tôi có lời
khuyên nhủ các vị ấy. Hãy chăn dắt đàn chiên Thiên Chúa đã được giao phó cho anh em, hãy chăm lo cho
chúng, không phải vì miễn cưỡng nhưng một cách sẵn lòng, thể theo ý Thiên Chúa; không phải vì lợi nhuận
ô trọc nhưng vì lòng nhiệt thành; không phải bằng cách làm vua làm chúa trên những kẻ được ban cho anh
em làm phần cơ nghiệp nhưng bằng cách trở nên mẫu mực cho đàn chiên. Và khi Vị Thủ lãnh các mục tử
xuất hiện, anh em sẽ lãnh nhận triều thiên vinh quang không bao giờ tàn úa’ (1Pr 5,1-4)
Trong Giáo Hội và cho Giáo Hội, như những dấu chỉ bí tích, các linh mục đại diện cho Chúa Giêsu
Kitô là Đầu và Mục Tử, các linh mục công bố Lời Chúa một cách chính danh, các linh mục lặp lại những cử
chỉ tha thứ và ban ơn cứu độ, nhất là qua các bí tích Rửa Tội, Thống Hối và Thánh Thể, các linh mục đem
sự chăm sóc đầy tình thương của Ngài, sự chăm sóc đến nỗi trao hiến trọn vẹn chính mình của Ngài, ra thi
thố cho đoàn chiên mà các linh mục qui tụ lại làm một và dẫn đến Chúa Cha nhờ Chúa Kitô trong Chúa
Thánh Thần. Nói tóm lại, các linh mục hiện hữu và hoạt động để loan báo Tin Mừng cho thế giới và để xây
dựng Giáo Hội nhân danh đích thân Chúa Kitô là Đầu và Mục Tử 338 .
Chính bằng thể thức kiểu mẫu và loại biệt trên đây mà các thừa tác viên được cách đặt tham dự vào
chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô. Nhờ việc xức dầu trong bí tích Truyền Chức Thánh, Chúa Thánh Thần
làm cho họ nên đồng hình dạng, bằng một tước hiệu mới và loại biệt, với Đức Giêsu Kitô là Đầu và Mục Tử,
Chúa Thánh Thần làm cho họ nên thích ứng tự bên trong và thôi thúc họ bằng đức ái mục vụ của Ngài; và
trong Giáo Hội, Chúa Thánh thần làm cho họ trở thành những người tôi tớ có phẩm chất để họ loan báo tin
Mừng cho mọi taọ vật và để họ làm cho đời sống Kitô hữu của mọi người đã rửa tội được viên mãn.
Sự thật về linh mục phát xuất từ Lời Chúa, nghĩa là từ chính Đức Giêsu Kitô, và từ kế hoạch của Ngài
liên quan tới sự cấu thành Giáo Hội, sự thật ấy đã được hát lên bằng một bài ca tạ ơn vui mừng của phụng
vụ trong kinh Tiền Tụng ngày lễ Dầu: “Nhờ việc xức dầu của Chúa Thánh Thần, Cha đã đặt Con Một Cha
làm Tư Tế của Giao Ước Mới vĩnh cửu; Cha đã muốn cho chức tư tế duy nhất của Ngài luôn sống động
trong Giáo Hội. Chính Ngài là Đức Kitô, là Đấng ban cho toàn dân được cứu chuộc phẩm vị làm tư tế
vương giả; chính Ngài tuyển chọn trong tình yêu của Ngài đối với đàn em, những người sẽ được đặt tay và
thông phần vào thừa tác vụ của Ngài… Nhân danh Ngài, các linh mục tiến dâng hy lễ cứu độ duy nhất nơi
bàn tiệc vượt qua: các linh mục có trách nhiệm xả thân phục vụ Dân Cha để nuôi dưỡng họ bằng Lời của
Cha và làm cho họ sống bằng các bí tích của Cha; các linh mục sẽ là những chứng nhân thực sự cho đức tin
và đức ái, sẵn sàng hiến mạng sống mình như Đức Kitô đã hiến dâng mạng sống cho đàn em và cho Cha”.
Phục vụ Giáo Hội và Thế giới.
16. mối liên hệ cơ bản của linh mục là mối liên hệ nối kết linh mục với Đức Giêsu Kitô là đầu và mục tử:
Thực ra, bằng một thể thức loại biệt và chính hiệu, linh mục tham dự vào sự “thánh hiến” hoặc “xức dầu”
vào “sứ vụ” của Đức Kitô (X. Lc 4,18-20). Nhưng mối liên hệ ấy lại được mật thiết gắn liền với mối liên hệ
nối kết linh mục với Giáo Hội. Ở đây không phải là những mối liên hệ chỉ đơn thuần chồng chất lên nhau:
chính những mối liên hệ ấy được nối kết mật thiết với nhau bằng một thứ nội nhập hỗ tương. Sự quy chiếu
về Giáo Hội được hàm chứa trong cùng một quan hệ duy nhất giữa linh mục với Chúa Kitô, theo nghĩa là
chính việc linh mục đại diện cho Chúa Kitô bằng “sự đại diện hiểu theo nghĩa bí tích” đặt nền tảng và tạo
sức sống cho quan hệ giữa linh mục và Giáo Hội.
Trong chiều hướng ấy, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã viết: “Với tư cách đại diện cho Chúa Kitô
là Đầu, Mục Tử và Phu Quân của Giáo Hội, linh mục chẳng những được đặt vào trong Giáo Hội nhưng còn
là đối diện với Giáo Hội. Chức linh mục cũng như đồng thời Lời Chúa và các dấu chỉ bí tích mà linh mục là
người phục vụ đều thuộc về những yếu tố tác thành Giáo Hội. Thừa tác vụ của linh mục hoàn toàn là để
phục vụ Giáo Hội nhằm nâng cao việc thực thi chức tư tế cộng đồng của toàn thể Dân Thiên Chúa; thừa tác
vụ ấy chẳng những được sắp đặt cho Giáo Hội địa phương nhưng còn cho Giáo Hội hoàn vũ (x.
Presbytertorum ordinis, LM, số 10), trong sự hiệp thông với giám mục, với Thánh Phêrô và dưới quyền của
Thánh Phêrô. Nhờ chức linh mục của giám mục, chức linh mục bậc hai được tháp nhập vào cơ cấu tông
truyền của Giáo Hội. Bởi đó, cũng như các Tông Đồ, linh mục giữ nhiệm vụ làm sứ giả của Đức Kitô (x.
2Cr 5, 20). Đó chính là nền tảng cho tính chất thừa sai của chức linh mục”. 339 .
Như thế, thừa tác vụ được phong ban cùng khai sinh với Giáo Hội; dầu là của giám mục hay của các
linh mục trong sự quy chiếu và trong sự hiệp thông với các giám mục, thừa tác vụ ấy có mối liên hệ đặc biệt
với thừa tác vụ của các Tông Đồ buổi đầu, từ đó thừa tác vụ ấy thực sự đóng vai trò kế nhiệm, mặc dầu, so
với thừa tác vụ của các Tông Đồ, thừa tác vụ ấy mặc những hình thái hiện sinh khác biệt.
Bởi đó, không được coi chức linh mục được thụ phong như là đến trước Giáo Hội: chức linh mục ấy
hoàn toàn là để phục vụ chính Giáo Hội; cũng không được quan niệm chức linh mục ấy là đến sau cộng
đoàn Giáo Hội, như thể có thể hiểu Giáo Hội được thành lập mà không cần chức linh mục ấy.
Quan hệ giữa linh mục với Đức Giêsu Kitô và, trong Ngài, với Giáo Hội được hàm chứa trong chính
hữu thể của linh mục, do bởi đã được thánh hiến và đã được xức dầu trong bí tích, và được hàm chứa trong
hành động của linh mục, nghĩa là trong sứ vụ hay trong thừa tác vụ của linh mục. Một cách đặc biệt, “linh
mục thừa tác là tôi tớ của Đức Kitô hiện diện trong Giáo Hội xét như là mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ. Do
sự kiện linh mục thông phần vào việc “xức dầu” và vào “sứ vụ” của Đức Kitô, linh mục có khả năng nối dài
kinh nguyện, lời nói, hy lễ và hoạt động cứu độ của Ngài trong Giáo Hội. Linh mục bởi đó là tôi tớ của Giáo
Hội xét như là mầu nhiệm, bởi vì linh mục thực thi những dấu chỉ giáo hội và bí tích nói lên sự hiện diện của
Chúa Kitô Phục Sinh. Linh mục là tôi tớ của Giáo Hội xét như là hiệp thông, bởi vì – trong sự hiệp nhất với
giám mục và mối liên kết chặt chẽ với linh mục đoàn – linh mục xây dựng sự hiệp nhất của cộng đoàn Giáo
Hội trong sự hòa điệu của nhiều ơn gọi, nhiều đặc sủng và nhiều hình thức phục vụ khác nhau; cuối cùng,
linh mục là tôi tớ của Giáo Hội xét như là sứ vụ, bởi vì linh mục làm cho cộng đoàn trở thành cộng đoàn
loan báo và làm chứng về Tin Mừng” 340
Do đó, trong chính hữu thể và trong sứ vụ bí tích của mình, linh mục đến trong cơ cấu Giáo Hội để
làm dấu chỉ cho tính ưu việt tuyệt đối và cho tính nhưng không của ân sủng được ban cho Giáo Hội nhờ
Chúa Kitô Phục Sinh. Nhờ chức linh mục thừa tác, Giáo Hội ý thức trong đức tin rằng Giáo Hội không hiện
hữu nhờ mình nhưng là nhờ ân sủng của Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần. Các Tông Đồ và những người
kế nhiệm các Ngài, với tư cách là những người nắm giữ quyền bính đến từ Đức Kitô là Đầu và Mục Tử, do
bởi thừa tác vụ của mình, được sắp đặt đối diện với Giáo Hội, như là sự nối dài hữu hình và là dấu chỉ bí
tích của Đức Kiô, thay cho chính Ngài trước mặt Giáo Hội và thế giới, như là cội nguồn cứu độ trường tồn
và luôn mãi mới mẻ, “Ngài, Đấng cứu độ Thân thể” (Ep 5,23).
17. Thừa tác vụ được phong ban, do tự bản chất, chỉ có thể được hoàn thành trong mức độ mà linh mục hiệp
nhất với Chúa Kitô bằng sự hôi nhập hiểu theo nghĩa bí tích vào trong hàng ngũ linh mục và bởi đó trong
mức độ mà linh mục hiệp thông với giám mục về phương diện phẩm trật. Tự căn rễ, thừa tác vụ được phong
ban mang “bản chất cộng đồng” và chỉ có thể được hoàn thành như là “công trình tập thể” 341 . Công đồng đã
diễn tả rất nhiều về bản chất hiệp thông ấy của chức linh mục, đã lần lượt nghiên cứu các quan hệ giữa linh
mục với giám mục của mình, với các linh mục khác và với giáo dân 342 . Thừa tác vụ linh mục trước hết là sự
hiệp thông, sự hợp tác thiết yếu và có trách nhiệm vào thừa tác vụ của giám mục, trong việc chăm lo cho
Giáo Hội hoàn vũ và cho Giáo Hội đặc thù và, cùng với giám mục, làm thành một linh mục đoàn duy nhất
trong khi phục vụ Giáo Hội ấy.
Mỗi linh mục, là triều hoặc dòng, được liên kết nên một với các thành phần khác thuộc linh mục đoàn.,
tùy theo bí tích Truyền Chức Thánh, bằng những mối liên hệ về đức ái Tông Đồ, về thừa tác vụ và về tình
huynh đệ. Thât vậy, tất cả các linh mục triều hoặc dòng đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô
là Đầu và Mục Tử, “cùng nhằm một mục đích: Xây dựng thân thể Đức Kitô; nhất là vào thời đại chúng ta,
công việc ấy đòi hỏi những nhiệm vụ đa dạng và những thích nghi mới”, và thừa tác vụ được nên phong phú
trải qua các thời đại nhờ vào những đặc sủng luôn mới mẻ. 343
Sau hết, bởi dung mạo của mình cũng như sự dấn thân của mình không phải là để thay thế nhưng đúng
hơn để nâng cao chức tư tế lãnh nhận từ Bí tích Rửa tội của toàn thể Dân Thiên Chúa và để hướng dẫn chức
tư tế ấy đến chỗ thể hiện trọng vẹn trong Giáo Hội, các linh mục sống trong một tương quan tích cực và xây
dựng đối với người giáo dân. Các linh mục phục vụ cho đức tin, cho niềm trông cậy và cho đức ái của họ.
Các linh mục công nhận những điều ấy và, với tư cách là anh em và là bạn hữu, các linh mục bảo tồn phẩm
giá cho những người làm con Thiên Chúa và giúp họ thưc thi trọn vẹn vai trò loại biệt của họ trong khuôn
khổ sứ vụ của Giáo Hội 344 .
Chức tư tế thừa tác được phong ban nhờ bí tích Truyền Chức Thánh và chức tư tế cộng đồng hay
“vương giả” của các tín hữu, mặc dù khác biệt với nhau chẳng những về cấp trật nhưng còn về yếu tính 345 ,
vẫn liên qua đến nhau và lệ thuộc lẫn nhau; cả hai – dưới những hình thức khác nhau – đều bắt nguồn từ chức
tư tế duy nhất của Đức Kitô. Thực ra, chức tư tế thừa tác tự nó không là dấu chỉ cho một cấp độ thánh thiện
cao hơn so với chức tư tế cộng đồng của các tín hữu; nhưng, do bởi chức tư tế thừa tác, các linh mục đã lãnh
nhận Chúa Kitô, bởi Chúa Thánh Thần, một ân huệ loại biệt, hầu có thể giúp Dân Thiên Chúa thực thi một
cách trung thành và trọn vẹn chức tư tế cộng đồng được ban cho họ 346 .
18. Như Công Đồng đã ghi nhận, “ân huệ thiêng liêng mà các linh mục đã lãnh nhận ngày thụ phong chuẩn
bị cho các linh mục không phải đi vào một sứ vụ hạn hẹp và gò bó, nhưng đi vào sứ vụ cứu độ có có tầm cỡ
phổ quát, “cho đến tận cùng bờ cõi trái đất”; thật ra, bất cứ thừa tác vụ linh mục nào cũng thông phần vào
chiều kích phổ quát của sứ vụ được Đức Kitô trao phó cho các Tông Đồ” 347 . Do bởi chính bản chất của thừa
tác vụ, các linh mục phải được thấm nhuần và thôi thúc bởi một tinh thần thừa sai sâu xa và bởi “tinh thần
Công giáo thực sự sẽ giúp các linh mục quen vượt khỏi những ranh giới của riêng giáo phận mình, quốc gia
mình và lễ chế mình để rồi đáp ứng nhu cầu của Giáo Hội toàn cầu, sẵn sàng tận đáy lòng rao giảng tin
Mừng cho đến tận cùng bờ cõi trái đất” 348 .
Ngoài ra, một cách đặc biệt, bởi vì trong nội bộ Giáo Hội, linh mục là con người của hiệp thông, cho
nên đối với mọi người, linh mục phải là con người của sứ vụ và đối thoại. Bén rễ sâu xa trong sự thật và
trong đức ái của Chúa Kitô, được thôi thúc bởi ước vọng và sự cần thiết nội tại phải loan báo ơn cứu độ cho
mọi người, linh mục được mời gọi nối kết với mọi người những mối quan hệ huynh đệ và phục vụ, cùng
nhau truy tầm chân lý bằng cách làm việc để thăng tiến công bình và hoà bình. Linh mục phải nối kết những
quan hệ huynh đệ trước hết với các anh em thuộc các Giáo Hội khác và thuộc các hệ phái Kitô giáo, nhưng
cũng phải nốt kết các quan hệ huynh đệ với các tín hữu thuộc các tôn giáo khác, với mọi người thiện chí, và
một cách đặc biệt, với những người nghèo và những người yếu đuối hơn hết, cũng như với hết mọi người,
hoặc không nhận thức hoặc không diễn đạt ra được, đang ngưỡng vọng về chân lý và ơn cứu độ mà Đức Kitô
mang đến, theo lời và theo gương Đức Giêsu như Ngài đã nói : “Không phải những người khoẻ mạnh cần thầy
thuốc nhưng là những người đau yếu:…Ta không đến để kêu gọi người công chính nhưng kêu gọi người có tội”
(Mc 2,17).
Ngày nay, một cách đặc biệt, trách nhiệm mục vụ mà công việc ưu tiên là “công cuộc Phúc âm hóa mới” là
trách nhiệm của toàn thể Dân Chuá và đòi hỏi một nhiệt tình mới, những phương pháp mới và một ngôn ngữ mới
dành cho việc loan báo và làm chứng về Tin Mừng. Đòi buộc các linh mục phải triệt để và hoàn toàn đắm mình
trong mầu nhiệm Chúa Kitô và phải có khả năng thể hiện một lối sống mục vụ mới, đánh dấu bằng một sự hiệp
thông sâu xa với Đức Giáo Hoàng, với các giám mục và giữa các linh mục với nhau, và bằng một sự hợp tác sai
hoa sai trái với giáo dân, tôn trọng và thăng tiến các vai trò khác nhau, các đặc và các thừa tác vu giữa lòng cộng
đoàn Giáo Hội 349 .
“Hôm nay lời Sách Thánh này ứng nghiệm cho anh em là những kẻ đang nghe” (Lc 4,21). Chúng ta hãy
lắng nghe một lần nữa những lời ấy của Chúa Giêsu dưới ánh sáng của chức linh mục thừa tác mà chúng ta đã
trình bày về bản chất và sứ vụ, Cái “hôm nay” mà Đức Giêsu đề cập, bởi vì nằm trong “thời gian viên mãn” và
xác định ý nghĩa cho thời gian viên mãn – là thời gian cứu độ đã hoàn thành và dứt khoát – cái “hôm nay” ấy ám
chỉ thời gian của Giáo Hội. Sự thánh hiến và sứ vụ của Đức Kitô, như được diễn tả bằng những lời sau đây:
“Thần Khí Chúa đã xức dầu thánh hiến tôi, để tôi mang Tin Mừng đến cho người nghèo”, chính là nguồn cội
sống động từ đó nảy mầm sự hiến thánh hiến và sứ vụ của Giáo Hội, “sự viên mãn” của Đức Kitô (x. Ep 1,23) ;
được tái sinh nhờ bí tích Rửa Tội, hết mọi Kitô hữu đã lãnh nhận sự tuôn đổ Thần Khí Chúa, Đấng thánh hiến họ
để tạo thành một đền thờ thiêng liêng và một hàng tư tế thánh thiện. Thần Khí sai họ đi công bố những kỳ công
đã được thực hiện do Đấng đã kêu họi họ từ bóng đêm sang ánh sáng diệu vời của Ngài (x. 1Pr 2,4-10). Linh
mục thông phần vào sự thánh hiến và vào sứ vụ của Đức Kitô bằng một thể thức loại biệt và chính hiệu, nghĩa là
bằng bí tích Truyền Chức Thánh là bí tích đã biến đổi linh mục, ngay trong chính hữu thể của mình, nên đồng
hình dạng với Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục tử; linh mục tham dự vào sứ vụ “loan báo Tin Mừng cho người
nghèo” nhân danh Chúa Kitô và thay mặt Chúa Kitô .
Trong sứ điệp chung kết, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã cô đọng trong một công thức vắn gọn nhưng
giàu ý nghĩa tất cả những gì là “sự thật” hay đúng hơn “mầu nhiệm” và “ơn huệ”của chúc linh mục thừa tác
được phát biểu như sau: “Nguồn cội tột cùng của căn tính chúng ta ở trong tình yêu của Chúa Cha. Hiểu theo
nghĩa bí tích, chúng ta được kết hợp làm một với Chúa Con mà Cha đã sai đến, là Thượng Tế và là Mục Tử
Nhân Lành, bằng chức tư tế thừa tác trong quyền lực của Chúa Thánh Thần. Đời sống và thừa tác vụ linh mục là
sự nối dài đời sống và hoạt động của chính Đức Kitô. Căn tính của chúng ta nằm ở đó, Ngài như phẩm giá thực
sự của chúng ta, ngưồn mặt vui mừng của chúng ta, và niềm tin vững chắc của chúng ta về sự sống”.
CHƯƠNG III
THẦN KHÍ CHÚA NGỰ TRÊN TÔI
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG CỦA LINH MỤC
Một lời mời gọi loại biệt nên thánh.
19. “Thần Khí Chúa ngự trên tôi” (Lc 4,18). Thần Khí không chỉ ở trên Đấng Mêsia nhưng lấp đầy Ngài,
thấm nhập vào Ngài, nối kết với Ngài trong hữu khể và trong hành động của Ngài. Thật vậy, Thần khí chính
là nguyên lý cho sự “thánh hiến” và cho “sứ vụ’ của Đấng Mêsia; “vì Ngài đã xức dầu thánh hiến tôi và sai
tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo. ..” (Lc 4,18). Nhờ sức mạnh của Thần Khí, Đức Giêsu hoàn toàn
thuộc về Thiên Chúa và chỉ thuộc vê Thiên Chúa, Ngài thông phần vào sự thánh thiện vô biên của Thiên
Chúa là Đấng mời gọi Ngài, tuyển chọn Ngài, và sai phái Ngài. Bởi thế, Thần Khí Chúa tự tỏ lộ như là
nguồn mạch thánh thiện và lời mời gọi nên thánh.
Chính “Thần Khí Chúa” ấy cũng ở “trên” toàn thể Dân Chúa, Dân được thiết lập thành dân “thánh
thiện” cho Thiên Chúa và được Thiên Chúa “sai đi” loan báo Tin Mừng cứu độ. Các thành phần Dân Chúa
“say sưa” với Thần Khí, “mang dấu ấn” của Thần Khí (x. 1Gr 12,13; 2Gr 1,21-22; Ep 1,13; 4,30) và được
mời gọi nên thánh.
Một cách đặc biệt, Thần Khí mạc khải cho chúng ta và thông truyền cho chúng ta ơn gọi cơ bản mà
Chúa Cha từ muôn thuở ngỏ với mọi người : ơn gọi nên “ thánh và vô tì vết trước mặt Ngài trong tình yêu”,
do được tiền định “làm dưỡng tử của Ngài nhờ Đức Giêsu Kitô “ (Ep 1,4-5). Chẳng những mạc khải cho
chúng ta và thông truyền cho chúng ta ơn gọi ấy, Thần Khí còn trở nên trong chúng ta nguyên lý và nguồn
cội cho sự thực hiện ơn gọi ấy: là Thần Khí của Chúa Con (x. Gl 4,6), Ngài làm cho chúng ta mặc hình dạng
của Đức Kitô Giêsu và biến chúng ta thành những người thông phần vào đời sống nghĩa tử của Đức Giêsu,
nghĩa là vào đức ái của Ngài đối với Chúa Cha và đối với đàn em. “Bởi vì Thần Khí là sức sống của chúng
ta, ước gì Thần Khí cũng làm cho chúng ta hành động” (Gl 5,25). Với những lời vừa qua, Thánh Tông Đồ
Phaolô nhắc nhở cho chúng ta rằng đời sống của người Kitô hữu là đời sống thiêng liêng, nghĩa là đời sống
được thôi thúc và dẫn dắt bởi Thần Khí, hướng đến sự thánh thiện và hướng đến đức ái trọn hảo.
Khẳng định của Cồng Đồng : “ Lời mời gọi sống viên mãn đời sống Kitô hữu và thực thi đức ái trọn
hảo được ngỏ đến mọi người tin vào Chúa Kitô, bất kể bậc sống hoặc lối sống của họ” 351 , được áp dụng một
cách đặc biệt cho các linh mục: các linh mục được mời gọi, chẳng những với tư cách thụ nhân của bí tích
Rửa Tội nhưng còn, một cách loại biệt, với tư cách linh mục, hiểu như một tước hiệu mới và tuỳ theo những
thể thức riêng, bắt nguồn từ bí tích truyền Chức Thánh.
20. Về vấn đề “đời sống thiêng liêng”của linh mục, về ơn thánh thiện và ơn có trách nhiệm nên “thánh”, sắc
lệnh Công Đồng về Chúc vụ và đời sống linh mục cung cấp cho chúng ta một tổng hợp phong phú và khích
lệ: “các linh mục trở thành thừa tác viên của Chúa Kitô là Đầu để xây dựng và kiến thiết trọn vẹn Thân Thể
là Giáo Hội, với tư cách cộng sự viên của hàng Giám Mục: chính với tước hiệu ấy mà bí tích Truyền Chức
Thánh mặc cho các linh mục hình dạng của Chúa Kitô linh mục. Chắc hẳn, được bí tích Rửa Tội thánh hiến,
các linh mục đã lãnh nhận như mọi Kitô hữu khác dấu chỉ và ân huệ về một ơn gọi và một ân sủng nhờ đó,
dù bản tính nhân loại yếu hèn, các linh mục có khả năng và có đòi buộc theo đuổi sự trọn hảo, đứng như lời
Chúa Phán: “các con hãy nên trọn hảo như Cha các con trên trời là Đấng trọn hảo” (Mt 5,48). Sự trọn hảo
này, các linh mục có trách nhiệm đạt tới với một danh nghĩa riêng : các linh mục nhận Chức Thánh, có nghĩa
là đã được thánh hiến bằng một thể thức mới để làm khí cụ sống động cho Đức Kitô Linh Mục Đời Đơi,
được trang bị để qua các thời đại nối tiếp các hoạt động kỳ diệu của Chúa. Hoạt động nhằm phục hưng toàn
vẹn cộng đoàn nhân loại trong quyền năng tối cao của Ngài. Linh mục nào cũng vậy, một khi đóng vai trò
thay mặt Chúa Kitô bằng cách thế của mình thì do sự kiện ấy được phú ban thêm một ơn riêng nữa; ơn này
giúp cho linh mục, nhờ phục vụ những người được giao phó cho mình và phục vụ toàn thể Dân Chúa, lúc
nào cũng hướng đến sự trọn hảo của Đấng mình đại diện cho; cũng chính nhờ vào ơn này mà sự yếu đuối
của con người xác thịt nơi linh mục được cứu chữa nhờ sự thánh thiện của Đấng đã trở thành Linh Mục
Thượng Phẩm “thánh thiện, vô tội, không tỳ vết, tách biệt khỏi tội nhân” cho chúng ta (Dt 7,26) 352 .
Công Đồng trước hết khẳng định ơn gọi nên thánh phổ quát. Ơn gọi này bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội
là bí tích đóng ấn cho linh mục làm “tín hữu” (Christifidelis), làm “anh em giữa những người anh em”, được
hội nhập và liên kết làm một với Dân Chúa, trong niềm vui san sẻ ơn thiêng cứu độ (x. Ep 4,4-6) và với bổn
phận cùng nhau bước đi “trong đường lối Chúa Thánh Thần” theo chân đức Chúa và Thầy duy nhất. Chúng
ta đừng quên lời nói nổi danh của thánh Augustinô : “Đối với anh em, tôi là giám mục; cùng với anh em, tôi
là Kitô hữu. Tên gọi trước hết là để chúc vụ lãnh nhận, tên gọi sau là để chỉ ân sủng; tên gọi trước gắn liền
với hiểm nguy, tên gọi sau kết chặt với ơn cứu độ” 353 .
Cũng minh bạch như thế, Công Đồng còn bàn về một một ơn gọi nên thánh “loại biệt”, nói đúng hơn
về một ơn gọi đặt nền tảng trên bí tích Truyền Chức Thánh, xét như là bí tích dành riêng cho linh mục, nghĩa
là nhân danh sự thánh hiến mới cho Thiên Chúa nhờ việc thụ phong. Đối với ơn gọi loại niệt này, thánh
Augustinô cũng có ý ám chỉ khi tiếp tục lời khẳng định “đối với anh em, tôi là giám mục; cùng với anh em,
tôi là Kitô hữu” bằng những lời lẽ sau: “nếu như cùng chung sống với anh em trong tư cách người được cứu
chuộc làm cho tôi cảm thấy vui mừng hơn là được cắt đặt đứng đầu anh em thì, khi tuân giữ lệnh truyền của
Chúa, tôi sẽ cố công phục vụ anh em sao cho hết mực tận tâm để không phụ bạc đối với Đấng đã cứu chuộc
tôi và giá làm cho tôi nên người tôi tớ của anh em” 354 .
Trong phần tiếp theo, bản văn Công Đồng nêu dẫn một vài yếu tố cần thiết để xác định nội dung loại
biệt gồm chứa trong đời sống thiêng liêng của các linh mục. Các yếu tố ấy gắn liền với sự “thánh hiến” của
riêng các linh mục, làm cho các linh mục nên đồng hình dạng với Đức Giêsu Kitô là Đầu và Mục tử của
Giáo Hội. Các yếu tố ấy gắn liền với “sứ vụ’ hay thừa tác vụ riêng của chính các linh mục, trang bị cho các
linh mục để các linh mục dấn thân và trở nên “khí cụ sống động của Đức Kitô linh mục Đời Đòi” và để các
linh mục hành động “nhân danh và thay mặt cho chính Đức Kitô “; các yếu tố cũng gắn liền với toàn thể “
đời sống’ các linh mục qua đó các linh mục có trách nhiệm biểu lộ và làm chứng độc đáo “tính triệt để Tin
Mừng. 355
Nên đồng hình dạng với Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử. Đức ái mục vụ.
21. Nhờ được thánh hiến bởi bí tích, linh mục nên đồng hình dạng với Đức Giêsu xét như là Đầu và Mục
tử linh mục lãnh nhận ơn “có quyền thiêng liêng”, nghĩa là thông chia quyền bính qua đó Đức Giêsu Kitô
dẫn dắt Giáo Hội nhờ thần Khí Ngài 356 .
Nhờ vào sự thánh hiến ấy, sự thánh thiện được thực hiện do việc tuôn đổ Thần Khí trong bí tích
Truyền Chức Thánh, với đời sống thiêng liêng của linh mục được đóng ấn, được uốn ắn và được đánh dấu
bởi những cách ứng xủ của chính Đức Kitô là đầu và Mục tử Giáo Hội, những cách ứng xử được gồm tóm
trong đức ái mục vụ của linh mục.
Đức Giêsu Kitô là Đầu của Giáo Hội, Thân Thể Ngài. Ngài là “Đầu “ với ý nghĩa mới và độc đáo, là
“tôi tớ”, như chính Ngài đã nói: “cũng vậy, Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục và
hiến ban mạng sống làm giá chuộc muôn dân” (Mc 10,45). Công cuộc phục vụ của Đức Giêsu đạt mức viên
mãn bằng cái chết trên thập giá, nghĩa là bằng sự hiến ban trọn vẹn chính mình trong khiêm hạ và tình yêu: “
Ngài đã tự hoá mình thành hư vô bằng cách mang lấy thân phận nô lệ và trở nên giống người phàm. Chẳng
những xử sự như một con người, Ngài còn tự hạ hơn nữa, bằng cách vâng phục cho đến chết và chết trên
thập giá…” (Pl 2,7-8). Như thế, quyền bính của Đức Giêsu Kitô là Đầu ăn khớp với việc phục vụ của Ngài,
với sứ vụ trao hiến trọn vẹn chính mình Ngài, khiêm nhường và đầy tình thương yêu, cho Giáo Hội. Tất cả
đều nằm trong sự hoàn toàn vâng phục Chúa Cha: Ngài là người tôi tớ đau khổ duy nhất và đích tực của
Chúa, đồng thời là Tư Tế và là Của Lễ.
Đời sống thiêng liêng của mỗi linh mục phải được thôi thúc và trở nên sống đông bởi chính thể loại
quyền bính hay phục vụ ấy đối với Giáo Hội, và đó cũng là đòi hỏi do việc linh mục nên đồng hình dạng
với Đức Giêsu Kitô là Đầu và nên đầy tớ của Giáo Hội 357 . Chính trong chiều hứớng ấy mà thánh Augustinô
ngỏ lời với một giám mục trong ngày tấn phong như sau: “Người đứng trên dân trước hết phải biết rằng
mình là tôi tớ của nhiều người. Đừng khinh chê, tôi xin lặp lại, người đứng đầu trên dân đừng khinh chê
việc trở nên tôi tớ cho nhiều người bởi vì Chúa các Chúa đã không khinh chê việc trở nên tôi tớ cho chúng
ta” 358 .
Đời sống thiêng liêng của các thừa tác viên Tân Ước phải được đóng ấn bằng thái độ tiên khởi ấy, thái
độ phục vụ đối với dân Thiên Chúa (x. Mt 20,24-28; Mc 10,43-44), và phải được loại trừ khỏi mọi cao ngạo
và mọi tham vọng “làm vua làm chúa” trên đoàn chiên được giao phó (x. 1Pr 5,2-3). Hoàn thành công việc
phục vụ một cách tự nguyện và sẵn lòng: Bằng cách ấy, các thừa tác viên – Các “niên trưởng”trong cộng
đoàn, tức các linh mục – sẽ có thể là “mô hình” của đoàn chiên và đoàn chiên, đến lượt mình, được mời gọi
đảm nhận cùng một thái độ tư tế và phục vụ ấy đối với toàn thể thế giới để cho con người được triển nở đầy
đủ và được giải thoát toàn vẹn.
22. Hình ảnh Đức Giêsu Kitô Mục Tử của Giáo Hội, đoàn chiên Ngài, lấy lại và biểu trưng cùng những ý
nghĩa như hình ảnh Đức Kitô Đầu và Tôi Tớ, nhưng với những đường nét mới hơn và gợi cảm hơn. Thực
hiện lời sấm về Đấng Mêsia Cứu Độ mà ngôn sứ Êdêkien và tác giả Thánh vịnh trong kinh nguyện đã vui
mừng hát lên (x. Tv 23/22; Ed 34,11-16), chính Đức Giêsu tự giới thiệu mình là “Mục Tử Nhân Lành” ( Ga
10,11.14) chẳng những của dân Ít-ra-en mà của mọi người (x. Ga 10,16). Đời sống của Ngài là biểu hiện
liên lỉ và còn là sự thực hiện thường nhật “đức ái mục vụ’ của Ngài : Ngài động lòng thương xót đám đông
bởi vì họ mỏi mệt và kiệt sức như những con chiên không có người chăn (x. Mt 9,35-36); Ngài đi tìm những
con chiên thất lạc và tản mác (x. Mt 18,12-14), và Ngài reo vui một khi tìm được chúng; Ngài qui tụ chúng
lại và bảo vệ chúng; Ngài biết chúng và gọi chúng từng con một (x. Ga 10,3); Ngài dẫn dắt chúng trên
những đồng cỏ xanh tươi, tiến về những dòng suối nước êm đềm (x.Tv 23/22); Ngài dọn bàn ăn cho chúng,
lấy chính mạng sống mình mà nuôi chúng. Vị Mục Tử Nhân Lành hiến ban mạng sống mình, bằng cái chết
và sự phục sinh của Ngài, như phụng vụ La mã của Giáo Hội đã hát lên : “Ngài đã sống lại, Đức Giêsu, Vị
Mục tử chân chính, Đấng đã hiến mạng sống mình vì đoàn chiên, Đấng đã chọn lựa cái chết để cứu chúng
ta. Alleluia” 359 .
Thánh Phêrô gọi Đức Giêsu là “Thủ lãnh các mục tử” (1Pr 5,4) vì công trình của Ngài và sứ vụ của
Ngài được nối tiếp trong Giáo Hội bởi các Tông Đồ (x. Ga 21,15-17) và bởi những người kế nhiẹm các ngài
(x. 1Pr 5,1-4), các linh mục. Do tác dụng của việc thánh hiến, các linh mục được nên đồng hình dạng với
Đức Giêsu Vị Mục Tử Nhân Lành và được mời gọi sao chép bằng cuộc sống đức ái mục vụ của Ngài.
Sự trao hiến mà Đức Kitô tự mình dành cho Giáo Hội, hoa trái của tình yêu Ngài, mang ý nghĩa độc
đáo của sự trao hiến giữa vợ chồng, như hơn một lần các bản văn sách thánh đã gợi lên. Đức Giêsu là Phu
Quân đích thực trao tặng ruợu cứu độ cho Giáo Hội (x. Ga 2,11) Là “Đầu của Giáo Hội, là Đấng cứu độ của
Thân Thể’’ (Ep 5,23), Ngài đã yêu mến Giáo Hội và đã nôp mình vì Giáo Hội, ngõ hầu thánh hoá Giáo Hội
bằng cách thanh tẩy Giáo Hội bởi việc tắm nước kèm theo lời đọc; bởi vì Ngài muốn tự đem đến cho mình
một Giáo Hội thật rạng rỡ, không tỳ vết, không nhăn nheo hoặc tương tự, nhưng thánh thiện và không vương
nhiễm “ (Ep 5,25-27), Chắc hẳn Giáo Hội là Thân Thể trong đó với tư cách là Đầu Đức Kitô hiện diện và
hành động, nhưng Giáo Hội còn là Hiền thê như một Eva mới được dựng nên từ cạnh sườn bị đâm thủng của
Đấng Cứu chuộc trên Thập Giá. Chính vì thế, Đức Kitô đứng “trước” Giáo Hội, “dưỡng nuôi Giáo Hội và
chăm sóc Giáo Hội”(x.Ep 5,29) bằng việc trao hiến mạng sống mình cho Giáo Hội. Linh mục được mời gọi
trở nên hình ảnh sống động của Đức Giêsu Kitô, Phu Quân của Giáo Hội : 360 dĩ nhiên, linh mục vẫn luôn ở
trong cộng đoàn và thuộc về cộng đoàn, với tư cách là tín hữu, liên kết với mọi anh chị em được qui tụ với
nhau nhờ Thần Khí; nhưng, do tác dụng của việc nên đồng hình dạng với Đức Kitô Đầu và Mục Tử, linh
mục được đặt trong tình huống phu thê ấy, đối diện với cộng đoàn. “Với tư cách đại diện cho Chúa Kitô là
Đầu, Mục tử và Hiền thê của Giáo Hội, linh mục chẳng những chiếm vị trí trong Giáo Hội nhưng còn đối
diện với Giáo Hội 361 . Chính vì thế, trong đời sống thiêng liêng của mình, linh mục được mời gọi bằng cuộc
sống sao chép tình yêu của Đức Kitô Phu Quân đối với Giáo Hội Hiền thê. Như vậy, đời sống của linh mục
phải được chiếu toả và được định hướng bởi tính chất phu thê ấy và bởi đó phải làm chứng cho tình yêu phu
thê của Đức Kitô ; nhờ đó, linh mục sẽ có khả năng yêu mến người ta với một con tim mới, lớn rộng và
trong trắng, với sự siêu thoát chân chính đối với chính mình, trong một sự trao hiến chính mình hoàn toàn,
liên tục và chân thành. Và linh mục sẽ cảm nghiệm như thể một thứ “ganh tỵ “ thần thiêng (x. 2Cr 11,2),
với một niềm âu yếm thậm chí được điểm tô bằng những sắc thái của tình mẫu tử, nhờ đó có khả năng chịu
đựng những “đau đớn do việc sinh con”, cho tới khi “Đức Kitô được thành hình” trong các tín hữu (x. Gl
4,19).
23. Nguyên lý nội tại, nhân đức thôi thúc và hướng dẫn đời sống thiêng liêng của linh mục, xét như đã nên
đồng hình dạng với Đức Kitô là Đầu và Mục Tử, chính là đức ái mục vụ, thông phần vào đức ái mục vụ của
Đức Kitô Giêsu: đó là ơn nhưng không cũa Chúa Thánh Thần và, đồng thời về phía linh mục, là sự dấn thân
và lời mời gọi để đáp trả tự do và có trách nhiệm.
Cốt lõi của đức ái mục vụ là trao hiến chính mình, trao hiến hoàn toàn cho Giáo Hội, theo hình ảnh sự
trao hiến của Đức Kitô và thông phần với Ngài. “Đức ái mục vụ là nhân đức nhờ đó chúng ta noi gương
Chúa Kitô trong sự trao hiến của Ngài và trong việc phục vụ của Ngài. Không phải chỉ những việc chúng ta
làm, nhưng là việc chúng ta trao hiến chính mình mới biểu lộ tình yêu của Đức Kitô dành cho đoàn chiên
của Ngài. Đức ái mục vụ ấn định cho chúng ta cách thế suy nghĩ và hành động, phương thức quan hệ với
người đời. Điều ấy rất là đòi hỏi đối với chúng ta…” 362 .
Sự trao hiến chính mình, cội rễ và chóp đỉnh của đức ái mục vụ, nhắm đối tượng là Giáo Hội. Điều
này ứng dụng cho “Đức Kitô, Đấng đã yêu mến và đã nộp mình cho Giáo Hội” (Ep 5,25). Linh mục cũng
phải làm như vậy. Với đức ái mục vụ thấm nhuần vào việc thực thi thừa tác vụ linh mục, như một “tác vụ
tình yêu” 363 , “linh mục, một khi đã đón nhận ơn gọi thi hành tác vụ, có nhiệm vụ làm cho ơn gọi ấy trở thành
một lựa chọn do tình yêu, nhờ đó, Giáo Hội và các linh hồn trở thành mối lợi chính yếu của linh mục. Sống
đường thiêng liêng ấy một cách cụ thể, linh mục sẽ có khả năng yêu mến Giáo Hội phổ quát và thành phần
Giáo Hội được giao phó cho mình, với tất cả sự nồng nhiệt của một người chồng đối với vợ mình” 364 . Sự trao
hiến chính mình không có biên giới, được đánh dấu bởi chính nhiệt tâm Tông Đồ và truyền giáo của Đức
Kitô, vị Mục Tử Nhân lành, Đấng đã nói : “Ta còn nhiều chiên khác chưa thuộc về chuồng này; những
chiên ấy, Ta phải dẫn chúng về; chúng sẽ nghe tiếng Ta và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử mà thôi”
(Ga 10,16).
Bên trong cộng đoàn Giáo Hội, đức ái mục vụ của linh mục yêu cầu và đòi hỏi, một cách riêng rẽ và
loại biệt, linh mục phải giữ quan hệ ngôi vị với linh mục đoàn, trong sự lệ thuộc giám mục và cùng với
giám mục, như Công Đồng đã minh thị phát biểu : “Đức ái mục vụ đòi buộc các linh mục, nếu như không
muốn chạy đua cách vô ích, phải làm việc bằng cuộc sống trong sự hiệp thông trường kỳ với các giám mục
và với các anh em khác trong hàng linh mục” 365 .
Sự trao hiến chính mình cho Giáo Hội liên quan tới Giáo Hội với tư cách Giáo Hội là Thân Thể và là
Hiền thê của Đức Giêsu Kitô. Chính vì thế, đức ái của linh mục trước hết được nối kết với đức ái của Chúa
Giêsu Kitô. Chỉ khi nào yêu mến và phục vụ Chúa Kitô Đầu và Phu Quân thì đức ái mới trở nên nguồn
cuội, tiêu chuẩn, thước đo, động lực cho tình yêu và công việc phục vu của linh mục đối với Giáo Hội, Thân
Thể và Hiền thê của Chúa Kitô. Đó chính là điều mà thánh Tông Đồ Phaolô ý thức một cách tinh tường và
mạnh mẽ, Ngài viết cho các Kitô hữu thuộc Giáo Hội Côrintô như sau: “ Phần chúng tôi, chúng tôi chỉ là
những người làm đầy tớ cho anh em vì Đức Giêsu” (2Cr 4,5). Nhất là lời giảng dạy minh thị của Đức Giêsu,
Ngài chỉ giao cho Phêrô tác vụ chăn dắt đoàn chiên của Ngài sau ba lần làm chứng về tình yêu, thậm chí về
một tình yêu trổi vượt: Ngài nói với Phêrô lần thứ ba ‘Simon, con Gioan, con có yêu mến ta không?’
Phêrô… nói với Ngài: ‘Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi sự; Chúa biết rõ con yêu Chúa’. Đức Giêsu nói với ông
:‘ hãy chăn dắt các chiên của Ta’”(Ga 21,17).
Đặc biệt bắt nguồn từ bí tích Truyền Chức Thánh, đức ái mục vụ sẽ được biểu hiện tròn đầy và sẽ tìm
được lương thực chính yếu nơi bí tích Thánh Thể: “Đức ái mục vụ – theo như chúng ta đọc thấy trong Công
Đồng – cốt nhất nảy sinh từ hy lễ Thánh Thể; như vậy, hy lễ Thánh Thể là trung tâm và là cội rễ của toàn thể
đời sống linh mục, tinh thần của linh mục phải là cố gắng làm sao nội tâm hoá tất cả những gì được thực
hiện trên bàn thờ hiến tế” 366 . Thực vậy, chính trong bí tích Thánh Thể mà được tái diễn – nói cho chính xác
hơn, được hiện tại hoá lần nữa – hy lễ thập giá, sự trao hiến hoàn toàn của Đức Kitô cho Giáo Hội, sự trao
hiến bằng Mình bị nộp và bằng Máu đổ ra của Ngài, như là chứng từ tuyệt hảo cho phẩm vị làm Đầu và Mục
Tử của Ngài, làm Tôi Tớ và Hiền Thê cho Giáo Hội. Rõ ràng chính vì thế mà đứa ái mục vụ của linh mục
chẳng những nảy sinh từ bí tích Thánh Thể mà còn tìm được nơi việc cử hành bí tích Thánh thể sự thực
hiện cao độ nhất. Cũng vậy, chính từ bí tích Thánh Thể mà linh mục nhận được ơn và trách nhiệm mặc
cho toàn thể cuộc sống mình một ý nghĩa “hy tế”.
Cũng chính đức ái mục vụ ấy làm thành nguyên lý nội tại và năng động có khả năng thống nhất những
sinh hoạt khác biệt và đa tạp của linh mục. Nhờ đức ái mục vụ, có thể thực hiện được đòi hỏi cốt yếu và
trường kỳ phải thống nhất đời sống nội tâm với nhiều hoạt động và trách nhiệm thuộc chức vụ. Lại nữa, hơn
bao giờ hết, đòi hỏi ấy rất khẩn thiết trong bối cảnh văn hoá xã hội và Giáo Hội được đánh dấu mạnh mẽ bởi
sự đa phức, sự phân chia thành mảng và sự tản mác. Chỉ bằng cách ráp nối từng thời khắc và từng hành vi
sao cho trong lựa chọn cơ bản, lựa chọn “hiến ban mạng sống mình vì đoàn chiên”, người ta mới có thể chắc
chắn tạo được sự thống nhất sống còn ấy, sự thống nhất cần thiết để cho đời sống linh mục được hòa điệu
và quân bình: “Để có thể xây dựng sự thống nhất đời sống, các linh mục, trong khi thi hành chức vụ, phải
noi gương Chúa Kitô ; lương thực của Ngài là thực thi ý muốn của Đấng đãi sai Ngài và hoàn thành công
trình của Đấng ấy… Sống bằng chính đời sống của vị Mục tử Nhân Lành như thế, các linh mục, khi thực
hành đức ái mục vụ, sẽ tìm được mối dây trọn hảo linh mục, hầu làm cho đời sống và hoạt động của mình
được thống nhất” 367 .
Đời sống thiêng liêng trong việc thi hành thừa tác vụ.
24. Thần Khí Chúa đã thánh hiến Đức Kitô và đã sai Ngài đi loan báo tin Mừng (x. Lc 4,18). Sứ vụ không
phải là yếu tố bên ngoài song song với việc thánh hiến, nhưng là cùng đích nội thuộc và sống còn của việc
thánh hiến; thánh hiến là thánh hiến cho sứ vụ. Bằng cách ấy, không chỉ việc thánh hiến nhưng cả sứ vụ đều
ở dưới dấu hiệu và sức mạnh thánh hoá của Thần Khí.
Điều này đã nghiệm đúng đối với Đức Giêsu. Điều này cũng đã nghiệm đúng đối với các Tông Đồ và
những người kế nhiệm các Tông Đồ. Điều này nghiệm đúng đối với toàn thể Giáo Hội, và, trong Giáo Hội,
đối với các linh mục: tất cả đều lãnh nhận Thần Khí như là lời mời gọi và như là ơn thánh hóa trong và bởi
việc chu toàn sứ vụ của mình 368 .
Như vậy, giữa đời sống thiêng liêng của linh mục và việc thực hành chức vụ của linh mục, có một
mối tương quan mật thiết 369 mà Công Đồng diễn tả như sau: “Trong khi thi hành thừa tác vụ của Thần Khí
và của sự công chính (x. 2Cr 3,8-9), các linh mục bén rễ sâu trong đời sống thiêng liêng, miễn sao các Ngài
niềm nở đón nhận Thần Khí Chúa Kitô. Đấng ban sự sống cho các Ngài và hướng dẫn các Ngài,.Những yếu
tố được phối trí để cho đời sống các Ngài nên trọn hảo, đó là các hành vi phụng vụ mỗi ngày của các Ngài,
là trọn vẹn thừa tác vụ của các Ngài được thực thi trong mối hiệp thông với giám mục và với các linh mục.
Đàng khác, sự thánh thiện của các linh mục là một đóng góp cốt yếu làm cho thừa tác vụ mà các Ngài chu
toàn được hữu hiệu” 370 .
“ Anh em hãy sống điều mà anh em sẽ chu toàn và hãy uốn mình cho phù hợp với mầu nhiệm Thập
Giá của Chúa!” Đó là lời mời, là huấn dụ mà Giáo Hội ngỏ với các linh mục trong nghi thức phong chức
khi lễ vật của dân thánh dành cho hy lễ thánh thể được trao cho linh mục. “Mầu nhiệm” mà linh mục là
“người phân phát’ (x. 1Cr 4,1) cuối cùng chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng, trong Thần Khí, là nguồn mạch
thánh thiện và là lời mời gọi thánh hoá. “Mầu nhiệm” phải nằm giữa lòng đời sống thường nhật của linh
mục. Bởi đó, có đòi buộc phải cảnh tỉnh thật sự và phải ý thức bén nhạy. Cũng trong nghi thức phong chức,
trước những lời vừa nêu trên đây, có lời khuyên nhủ như sau: “Anh em hãy ý thức những việc anh em sẽ
làm”. Chính thánh Phao lô đã cảnh giác giám mục Timôthê: “Con chớ khinh thường ơn huệ thiêng liêng ở
trong con” (1Tm 4,13: x 2Tm 1,6).
Tương quan giữa đời sống thiêng liêng và việc thi hành thừa tác vụ linh mục cũng có thể được giải
thích khởi từ đức ái mục vụ mà bí tích Truyền Chức Thánh ban cho.Thừa tác vụ linh mục, chính bởi vì
thông phần vào thừa tác vụ cứu độ của Đức Giêsu Kitô đầu và Mục tử, không thể không hiện tại hoá đức ái
mục vụ của linh mục, đức ái mà linh mục vừa phải coi là nguồn mạch và vừa phải lấy làm tinh thần cho
công việc phục vụ cũng như cho sứ tự hiến của mình. Xét theo thực thể khách quan, thừa tác vụ linh mục là
“amoris officium’, như kiểu nói đã được trính dẫn của thánh Augustino; thực thể khách quan ấy được coi là
nền tảngvà là lời mời gọi hướng dẫn đến một ethos tương ứng, ethos ấy chỉ là ethos của tình yêu, như lòi
thánh Augustinô: “sit amoris officium pascere dominicu gregem” 371 . Ethos ấy, đời sống thiêng liêng của linh
mục, không là gì khác hơn sự đón nhận “chân lý” của thừa tác vụ linh mục, được coi là amoris officium,
trong ý thức và trong tự do, và bởi đó trong trí óc và con tim, trong những quyết định và những hành động.
25. Điều thiết yếu, đối với một đời sống thiêng được triển nở trong việc thi hành thừa tác vụ, là linh mục
phải không ngừng canh tân và luôn luôn đào sâu hơn nữa ý thức của mình về việc làm thừa tác viên của Đức
Giêsu Kitô, nhờ tác dụng của việc thánh hiến bằng bí tích và của việc nên đồng hình dạng với Đức Kitô Đầu
và Mục tử của Giáo Hội. Ý thức ấy không chỉ tương ứng với bản chất thực sự của sứ vụ mà linh mục chu
toàn nhằm lợi ích cho Giáo Hội và cho nhân loại, nhưng còn tạo thành đời sống thiêng liêng cho linh mục
chu toàn sứ vụ ấy. Quả vậy, linh mục được Đức Kitô chọn, không phải như một “đồ vật” nhưng như một
“nhân vị”; linh mục không phải là một công cụ ù lì và thụ động nhưng là một “khí cụ sống động” như lời
của Công Đồng khi nói về đòi buộc hướng đến sự trọn lành 372 . Cũng chính Công Đồng trình bày các linh
mục như là “những người liên kết và cộng tác viên” của một Thiên Chúa “thánh thiện và thánh hoá” 373 .
Trong chiều hưóng ấy, con người của linh mục với ý thức, tự do và trách nhiệm được lôi cuốn sâu
đậm vào trong việc thi hành thừa tác vụ. Được bảo đảm cho việc thánh hiến và việc nên đồng hình dạng phát
xuất từ bí tích Truyền Chức Thánh, mối dậy nối kết với Đức Giêsu Kitô xây dựng và đòi hỏi từ phía linh
mục một mối dây khác, đó là “ý hướng”, là ý muốn có ý thức và tự do làm điều mà Giáo Hội muốn làm,
bằng hành vi thừa tác. Mối dây ấy tự bản chất đòi phải trở nên bao quát nhất và sâu xa nhất trong mức độ có
thể, phải đem trí tuệ, tình cảm, đời sống, hay nói một cách vắn tắt, một chuỗi những trạng thái luân lý và
thiêng liêng tương ứng vào trong các hành vi thừa tác mà linh mục chu toàn.
Chắc chắn thừa tác vụ linh mục, cách riêng việc cử hành các bí tích, đón nhận hiệu năng cứu độ từ
chính hoạt động của Đức Giêsu Kitô là hoạt động được hiện tại hoá trong các bí tích. Nhưng, do bởi một kế
hoạch của Thiên Chúa nhằm tuyên dương tính nhưng không tuyệt đối của ơn cứu độ, và khi làm cho con
người vừa nên “người được cứu’ vừa nên “Vị Cứu Tinh” – luôn luôn và duy chỉ với Đức Giêsu Kitô -hiệu
năng của việc thi hành thừa tác vụ còn tùy thuộc vào mức độ tham gia của con người và mức độ đón nhận
nữa 374 . Cách riêng, nếu trong một mức độ nào đó, thừa tác viên thực sự thánh thiện, thì sự thánh thiện ấy có
ảnh hưởng đích thực trên cách mà thừa tác viên loan báo bằng lời, cử hành các bí tích và hướng dẫn cộng
đoàn trong đức ái. Và đó chính là điều mà Công Đồng quả quyết một cách rõ rệt: “Chính sự thánh thiện của
các linh mục là một đóng góp cốt yếu làm cho thừa tác vụ mà các Ngài chu toàn được hữu hiệu; chắc chắn
ơn thánh hoá của Thiên Chúa có thể hoàn thành công trình cứu độ ngay cả bởi thừa tác viên bất xứng nhưng,
thông thường, Thiên Chúa ưa thích biểu lộ những sự việc cao cả của Ngài qua những con người niềm nở và
ngoan ngùy đối với sự thúc đẩy và dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, qua những con người sống kết hiệp mật
thiết với Chúa Kitô và sống đời thánh thiện nhờ đó có thể nói như thánh Tông Đồ: “Nếu tôi sống thì không
còn phải là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”. (Gl 2,20) 375 .
Ngay trong ý thức về việc mình là thừa tác viên của Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục tử, còn có niềm vui
vì đã lãnh nhận từ Đức Giêsu một ân sủng riêng biệt: ân sủng do đã được Chúa chọn làm “khí cụ sống động”
cho công trình cứu độ. Sự lựa chọn ấy chứng tỏ tính yêu của Đức Giêsu Kitô dành cho linh mục. Lớn hơn
tất cả mọi tình yêu khác, tình yêu ấy đòi phải đáp trả. Sau khi sống lại, Đức Giêsu đặt ra cho Phêrô câu hỏi
cơ bản vê tình yêu : “Simon con ông Gioan, con có yêu mến Ta hơn những người này không?”. Sau khi
Phêrô trả lời, sứ vụ mới được trao phó: “ hãy chăn dắt các chiên mẹ của Ta” (Ga 21,15). Để có thể giao cho
Phêrô đoàn chiên của Ngài, trước đó Đức Giêsu hỏi xem Phêrô có yêu mến Ngài không. Nhưng thực ra, đó
là tình yêu tự do và đi trước của chính Đức Giêsu đã thúc đẩy Ngài đặt câu hỏi ấy cho Phêrô và rồi giao phó
cho vị Tông Đồ các chiên “của Ngài”. Bởi đó, bất cứ hành vi thừa tác nào, trong khi dẫn đến việc yêu mến
hay phục vụ Giáo Hội, cũng thúc đẩy để có sự chín mùi ngày càng lớn trong tình yêu và trong việc phục vụ
Đức Kitô là Đầu, Mục Tử và Phu Quân của Giáo Hội; tình yêu ấy luôn luôn được coi là sự đáp trả lại tình
yêu đi trước, tự do và hào phóng của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Đàng khác, sự tăng triển trong tình yêu
đối với Đức Giêsu Kitô lại định hình cho sự tăng triển trong tình yêu đối Giáo Hội: “Chúng tôi chăn dắt anh
em (pascimus vobis); cùng với anh em chúng tôi được chăn dắt (pascimur vobiscum). Nguyện xin Chúa ban
cho chúng tôi sức mạnh để yêu mến anh em đến độ có thể chết cho anh em, hoặc bằng hiệu quả bên ngoài
hoặc bằng tâm hồn bên trong (aut effectu aut affectu)” 376 .
26. Nhờ lời giáo huấn quí giá của Công Đồng Vaticanô II 377 , chúng ta có thể nắm vững được những điều
kiện, những đòi buộc, những thể loại và những thành quả của mối tương quan mật thiết phải có giữa đời
sống thiêng liêng của linh mục với việc thi hành ba thừa tác vụ của linh mục: Lời Chúa, các Bí tích và các
công việc phục vụ trong Đức Ai. Trước hết linh mục là thừa tác viên Lời Chúa. Linh mục được thánh hiến
và sai đi để loan báo Tin Mừng Nước trời cho mọi người, mời goi mọi người vâng phục đức tin và hướng
dẫn các tín hữu để mỗi ngày họ một hiểu biết và thông hiệp sâu xa hơn vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, đã
được Đức Kitô mạc khải và truyền đạt cho chúng ta. Vì thế, chính linh mục trước tiên phải tạo được mối
thâm tình sâu đậm giữa bản thân mình với Lời Chúa. Khía cạnh ngữ học hoặc chú giải mặc dầu cần thiết vẫn
chưa đủ để gọi là hiểu biết Lời Chúa. Linh mục phải đón nhận Lời Chúa với một tấm lòng mềm mại và
nguyện cầu để cho Lời Chúa thấm nhập đến tận đáy thẳm ý nghĩ và tình cảm của mình và làm nảy sinh nơi
mình một tinh thần mới, làm nảy sinh “tư tưởng của Chúa” (1Cr 2,16). Bởi đó những lòi nói và hơn nữa
những lựa chọn, những thái độ của linh mục phải làm sao để ngày càng nên trong suốt hơn đối với Tin
Mừng, để loan báo tin Mừng và làm chứng cho Tin Mừng. Chỉ bằng cách “ở” trong Lời Chúa mà linh mục
có thể trở nên môn đệ hoàn hảo của Chúa, có thể thấu triệt chân lý và có thể thực sự trỏ nên tự do, vượt qua
mọi trạng huống trái nghịch hoặc xa lạ với Tin Mừng (x.Ga 8,31-32). Linh mục phải là người đầu tiên tin
vào Lời Chúa với ý thức tròn đây rằng những lời lẽ trong thừa tác vụ của mình không phải là “của mình”
nhưng là của Đấng đã sai mình. Linh mục không phải làm chủ Lời Chúa; linh mục là người phục vụ Lời.
Không phải linh mục là người duy nhất chiếm hữu Lời Chúa; linh mục là người mắc nợ Lời Chúa đối với
dân Thiên Chúa. Chính bởi vì Ngài rao giảng Tin Mừng và để Ngài có thể rao giảng Tin Mừng mà linh
mục, cũng như Giáo Hội, càng ngày càng ý thức rằng chính mình cũng cần phải được liên lỉ Phúc âm hoá 378 .
Linh mục loan báo Lời Chúa, với tư cách là thừa tác viên, linh mục tham dự vào quyền làm ngôn sứ của
Đức Kitô và của Giáo Hội. Vì công việc ấy, để cho chính mình cũng như cho các tín hữu bảo đảm có được
sự chuyển đạt Tin Mừng trong tính toàn vẹn của nó, linh mục được mời gọi trau dồi nơi mình một sự nhạy
cảm, một trạng thái ứng sẵn và một sự gắn bó đặc biệt đối với Truyền Thống sống động của Giáo Hội và đối
với Huấn Quyền của Giáo Hội. Tất cả mọi điều ấy không xa lạ đối với Lời Chúa nhưng góp phần làm cho
việc cắt nghĩa Lời Chúa được chuẩn xác hơn và bảo vệ ý nghĩa chính hiệu cho Lời Chúa 379 .
Nhất là trong việc cử hành các bí tích, cũng như trong việc cử hành Phụng Vụ các Giờ Kinh, linh mục
được mời gọi sống và biểu lộ sự thống nhất sâu xa giữa việc thi hành thừa tác vụ và đời sống thiêng liêng
của mình. Là ân sủng được ban cho Giáo Hội, bí tích Thánh Thể là nguyên lý cho sự thánh thiện và là lời
mời gọi hướng đến sự thánh hoá. Đối với linh mục, bí tích Thánh Thể chiếm một vị trí thật sự trung tâm,
trong thừa tác vụ cũng như trong đời sống thiêng liêng của ngài. “Bởi vì bí tích Thánh Thể chúa đựng tất cả
kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội, nghĩa là chứa đựng chính Chúa Kitô, Chiên Vượt qua, Bánh Hằng Sống:
thân mình Ngài có sự sống nhờ Chúa Thánh Thần và tạo sự sống, thân mình ấy ban sự sống cho mọi người,
mời gọi họ và hướng dẫn họ cùng kết hiệp với Ngài hiến dâng chính cuộc đòi của riêng mình, hiến dâng
công việc của mình và hiến dâng toàn thể tạo vật’ 380 .
Từ những bí tích khác nhau và cách riêng từ ân sủng loại biệt thuộc về từng bí tích, đời sống thiêng
liêng của linh mục nhận được những dấu ấn riêng biệt: thực vậy, đời sống ấy được cơ chế hoá và được uốn
nắn nhờ vào những đặc tính và đòi buộc đa dạng của các bí tích được cử hành và được cảm nghiệm bằng
cuộc sống.
Tôi muốn có một lời nhắc nhở đặc biệt về bí tích Thống Hối mà các linh mục là thừa tác viên nhưng
đồng thời cũng phải là những thụ nhân, từ đó trở nên những người làm chứng cho lòng từ bi nhân ái của
Thiên Chúa đối với người có tội. Tôi đề nghị lần nữa điều mà tôi đã viết trong huấn Reconciliatio et
poenitentia: “cũng như đời sống của các anh em giáo dân và tu sĩ của mình, đời sống thiêng liêng và mục vụ
của linh mục chỉ giữ được phẩm chất và lòng nhiệt thành nếu như cá nhân linh mục biết thực hành bí tích
Thống Hối một cách chuyên cần và nghiêm chỉnh. Việc cử hành bí tích Thánh Thể và làm thừa tác viên của
các bí tích khác, nhiệt tâm tông đồ, những giao tiếp với các tín hữu, sự hiệp thông với các anh em linh mục,
sự cộng tác với giám mục, đời sống cầu nguyện, nói tóm lại, toàn bộ dời sống linh mục phải nhận chịu một
sự thoái hoá không thể tránh khỏi nếu, vì coi thường hay vì bất cứ một lý do nào khác, linh mục không
thường đều chạy đến với bí tích Thống Hối bằng một đức tin và bằng một lòng đạo đức chân chính. Linh
mục nào mà không xưng tội nữa hoặc xưng tội một cách chẳng ra gì thì con người linh mục cũng như hoạt
động linh mục sẽ mau chóng cảm thụ điều ấy và chính cộng đoàn mà linh mục là người mục tử cũng không
khỏi nhận ra” 381 .
Sau hết, các linh mục được mời gọi thi hành quyền bính và phục vụ Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử
của Giáo Hội bằng cách thôi thúc và dẫn dắt cộng đoàn Giáo Hội, nghĩa là bằng cách qui tụ “gia đình của
Thiên Chúa, một cộng đoàn huynh đệ chỉ có chung một linh hồn, và nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh
Thần, các Linh mục dần dắt cộng đoàn ấy đến với Thiên Chúa là Cha” 382 . Trách nhiệm cai quản ấy (“munus
regendi”) là một trách nhiệm rất tế nhị và phức tạp đòi hỏi, ngoài sự chú tâm đối với từng người và từng ơn
gọi khác biệt, phải có khả năng điều hợp mọi ân huệ và đặc sủng mà Chúa Thánh Thần khơi dậy trong cộng
đoàn bằng cách kiểm nghiệm chúng và mặc giá trị cho chúng hầu xây dựng cho Giáo Hội, luôn luôn trong
sự hiêp nhất với các giám mục. Đây là một thừa tác vụ đòi Linh mục phải có một đời sống thiêng liêng sâu
đậm, giầu những phẩm cách và nhân đức dành riêng cho người “chủ tọa” và “chỉ đạo” một cộng đoàn, cho
người “niên trưởng” hiểu theo nghĩa mạnh nhất và cao quí nhất của từ ngữ, đó là lòng trung thành, tính nhất
quán, sự khôn ngoan, khả năng tiếp nhận mọi người, thái độ hoà nhã, lập trường vững chắc về những điều
cốt yếu, sự từ bỏ đối với những quan điểm quá chủ quan, lòng vô vị lợi tự bản thân, tính kiên nhẫn, lòng
hăng say dấn thân mỗi ngày, niềm tin cậy vào sự hoạt động thầm kín của ân sủng được biểu lộ nơi những
người đơn sơ và nơi những người nghèo (x. Tt 1,7-8).
Cuộc sống của người Linh mục và tính triệt để của Tin Mừng.
27. Thần Khí Chúa ngự trên tôi (Lc 4,18). Chúa Thánh Thần được ban tặng nhờ bí tích Truyền Chức Thánh
là nguồn mạch thánh thiện và là lời mời gọi thánh hoá. Bởi vì, trước hết, Ngài làm cho Linh mục nên đồng
hình dạng với Đức Kitô Đầu và Mục Tử của Giáo Hội và Ngài giao phó cho Linh mục chu toàn sứ mệnh
làm ngôn sứ, làm tư tế và làm vua nhân danh thay mặt Đức Kitô. Tiếp đến, Ngài thôi thúc Linh mục và tạo
sinh khí cho cuộc sống thường nhật của Linh mục, vun đắp bằng những ân huệ và những đòi buộc, những
nhân đức và những khí thế, cụ thể hoá trong đức ái mục vụ. Đức ái này là tổng hợp những giá trị và những
nhân đức dựa theo Tin Mừng và là sức mạnh nâng đỡ sự phát triển các giá trị và các nhân đức ấy cho tới
mức trọn hảo Kitô Giáo. 383
Đối với hết mọi Kitô hữu không loại trừ một ai, tính triệt để Tin Mừng là một đòi buộc cơ bản và bất
khả thay thế, phát xuất từ lời Đức Kitô mời gọi nối gót Ngài và noi gương Ngài, bằng cách cậy dựa vào sự
hiệp thông đời sống chặt chẽ với Ngài, do tác động của Chúa Thánh Thần (x. Mt 8,18-20; 10,37-39; Mc
8,34-38; 10,17-21; Lc 9,57-62). Chính đòi buộc ấy cũng đồng thời liên can đến các Linh mục, chẳng những
bởi vì các Linh mục ở ‘trong” Giáo Hội nhưng còn bởi vì các linh mục đứng “trước” Giáo Hội, với tư cách
là đã nên đồng hình dạng với Đức Kitô Đầu và Mục Tử, đã được thánh hiến và đã dấn thân vào trong thừa
tác vụ được phối trí, đã được thôi thúc bởi đức ái mục vụ. Trong tinh thần triệt để của Tin Mừng và để biểu
lộ tinh thần ấý có rất nhiều nhân đức và đòi buộc luân lý mang tính định đoạt đối với đời sống mục vụ và
thiêng liêng của Linh mục đã được khai hoa kết nhụy. Chúng ta có thể nêu dẫn chẳng hạn đức tin, thái độ
khiêm nhượng trước mầu nhiệm Thiên Chúa, lòng từ ái, sự cẩn trọng. Những “lời khuyên Phúc Âm” mà
Đức Giêsu đề nghị trong bài giảng trên núi là môt hình thức diễn đạt ưu việt của tính triệt để Tin Mừng (x.
Mt 5,7). Trong số những lời khuyên được phối trí mật thiết với nhau ấy, có đức vâng phục, đức khiết tịnh và
đức nghèo khó 384 . Linh mục được mời gọi sống các lời khuyên ấy theo những thể thức và hơn nữa, theo
những cứu cánh và ý nghĩa nguyên thủy, như chúng đã phát xuất từ căn tính của linh mục và biểu lộ căn tính
ấy.
28. “Trong số những đức tính cần thiết nhất cho thừa tác vụ Linh mục, phải kể đến trạng thái ứng trực của
tâm hồn nhờ đó các linh mục không tìm ý riêng của mình nhưng tìm ý của Đấng đã sai phái mình (x. Ga
4,34; 5,30; 6,38)” 385 . Đó chính là đức vâng phục vốn mang một số đặc điểm riêng đối với trường hợp đời
sống thiêng liêng của linh mục.
Trước hết, đó là sự vâng phục “tông truyền”, hiểu theo nghĩa là công nhận, yêu mến và phục vụ Giáo
Hội trong cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội. Quả vậy, không thể có thừa tác vụ linh mục nếu không hiệp thông
với Đức Giáo Hoàng và với giám mục đoàn, cách riêng với giám mục giáo phận mà linh mục mắc nợ vì đã
hứa “tôn kính với tâm tình hiếu thảo và vâng phục” trong ngày thụ phong. Việc “tuân phục’ những vị nắm
giữ quyền bính trong Giáo Hội không hề gây nhục nhã, nhưng lại là hoa quả của tự do có trách nhiệm nơi
linh mục và chính linh mục đón nhận những đòi buộc của một đời sống Giáo Hội có cơ cấu và tổ chức.
Linh mục cũng đón nhận những ơn phân định và ơn ý thức trách nhiệm trong những quyết định mang chiều
kích Giáo Hội. Ân sủng ấy, Đức Giêsu đã tặng ban cho các Tông Đồ và những người kế nhiệm các Ngài để
cho mầu nhiệm Giáo Hội được bảo tồn một cách trung thành và để cho mối dây nối kết cộng đoàn Kitô hữu
được gìn giữ trên con đường duy nhất dẫn đưa Giáo Hội tới bến cứu độ.
Đức vâng phục Kitô giáo chính hiệu, với những động lực chuẩn xác và với sự tuân giữ không vì tinh
thần nô lệ, giúp cho linh mục thi hành quyền bính mà linh mục có sứ vụ thi hành đối với dân Thiên Chúa,
sao cho Tin Mừng như thể xuyên thấu chính mình: không theo chủ nghĩa độc tài và cũng không áp dụng
phương thế mị dân. Chỉ người nào biết vâng phục trong Đức Kitô mới biết làm sao để yêu cầu người khác
vâng phục trong tinh thần Tin Mừng.
Ngoài ra, đức vâng phục của linh mục còn biểu lộ một đòi buộc mang chiều kích “cộng đồng”: đó
không phải là sự vâng của một cá nhân biệt lập đối với quyền bính, nhưng ngược lại đó là sự vâng phục hội
nhập một cách sâu đậm vào trong sự hiệp nhất của linh mục đoàn, trong khi linh mục đoàn, với tư cách là
cộng đoàn, được mời gọi sống trong sự hợp tác chân tình với giám mục và, qua giám mục, với vị kế nhiệm
thánh Phêrô 386 .
Khía cạnh ấy trong đức vâng phục của linh mục đòi hỏi một sự khổ chế đáng kể: một đàng, linh mục
phải tập làm quen để đừng quá gắn bó với những sở thích riêng của mình và với những quan điểm riêng của
mình; đàng khác, linh mục phải nhượng cho các anh em đồng sự khoảng cách cần thiết để họ có thể biểu
dương tài nghệ và khả năng của họ, mà không hề ganh tị, phân bì hoặc kình chống. Đức vâng phục của linh
mục là một sự vâng phục liên đới, bởi vì được xây dựng trên sự kiện linh mục thuộc về linh mục đoàn duy
nhất và bởi vì, luôn luôn giữa giòng linh mục đoàn và cùng với linh mục đoàn, biểu lộ những đường hướng
và những lựa chọn đồng trách nhiệm.
Sau hết, đức vâng phục của linh mục mang một tính chất riêng biệt, tính chất “mục vụ”. Điều ấy có
nghĩa là linh mục sống trong một bầu khí liên lỉ ứng trực và sẵn sàng để cho mình bị chộp giữ hay, có thể
nói, để cho mình bị “ăn” do bởi những nhu cầu và những đòi dĩ nhiên cần phải hợp lý của đoàn chiên;
những nhu cầu và đòi hỏi ấy một đôi khi cần phải được đem ra phân định và kiểm chứng, thế nhưng không
thể chối cãi được rằng cuộc sống của người linh mục hoàn toàn được lấp đầy bởi sự đói khát Tin Mừng,
đói khát lòng tin đói khát hy vọng, đói khát tình yêu Thiên Chúa và đói khát mầu nhiệm Thiên Chúa, một sự
đói khát, có thể nhận thức nhiều hay ít, đang hiện hữu trong đoàn dân Thiên Chúa được giao phó cho linh
mục.
29. Công Đồng viết: trong số những lời khuyên Phúc âm, “trước tiên phải kể đến hồng ân quí giá là ân sủng
mà Chúa Cha đã ban cho một số người (x. Mt 19,11; 1Cr 7,7), đó là ơn tự hiến cho một mình Thiên Chúa để
dễ dàng hơn và với một con tim không chia sớt (x. 1Cr 7,32-34), trong bậc sống đồng trinh hoặc độc thân.
Sự tiết dục hoàn toàn vì Nước trời ấy đã luôn luôn là đối tượng, về phía Giáo Hội, của một niềm vinh dự đặc
biệt, như là dấu chỉ và trợ lực cho đức ái và như là nguồn mạch riêng biệt làm trổ sinh hoa trái thiêng liêng
trong thế giới” 387 . Trong bậc sống đồng trinh và độc thân, đức khiết tịnh duy trì ý nghĩa cơ bản của nó, nghĩa
là ý nghĩa của một đời sống tính dục con người được thể hiện như là một phương cách biểu lộ chính hiệu và
như là một lối nẻo phục vụ quí giá cho tình yêu hiệp thông và trao hiến liên vị. Ý nghĩa ấy tiềm ẩn và tồn tại
một cách tròn đầy trong bậc sồng đồng trinh là bậc sống, mặc dù khước từ đời sống hôn nhân, thể hiện “y
nghĩa phu thê” của thân xác, nhờ vào sự hiệp thông và sự trao hiến liên vị với Đức Giêsu Kitô và với Giáo
Hội của Ngài; sự hiệp thông ấy và sự trao hiến ấy là hình ảnh tiên báo và là cảm mến trước hương vị của sự
hiệp thông trao hiến toàn hảo và vĩnh viễn trên trời: “trong bậc sống đồng trinh, con người ấp ủ niềm mong
đợi, ngay cả trong thân xác mình, ngày dự tiệc cưới cánh chung của Đức Kitô với Giáo Hội, và con người tự
trao hiến hoàn toàn chính mình cho Giáo Hội với hy vọng Đức Kitô sẽ trao tặng chính Ngài cho Giáo Hội
trong chân lý trọn vẹn của đời sống vĩnh cửu” 388 .
Dưới ánh sáng ấy, người ta có thể dễ dàng hiểu được và đánh giá được những nguyên do đã dẫn tới sự
lựa chọn qua nhiều thế kỷ của Giáo Hội Tây Phương và đã làm cho Giáo Hội Tây Phương, mặc cho mọi khó
khăn và mọi bình phẩm được nêu lên qua nhiều giai đoạn, duy trì quyết định chỉ phong chức linh mục cho
những người quả quyết mình được Thiên Chúa mời gọi sống ơn trinh khiết trong bậc sống độc thân tuyệt đối
và vĩnh viễn.
Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã diễn đạt tư tưởng của các ngài cách rõ rệt và mạnh mẽ trong một
lời đề nghị quan trọng đáng cho chúng ta nhắc lại trọn vẹn và nguyên văn: “Mặc dù vẫn tôn trọng kỷ luật
của Giáo Hội Đông Phương, xác tín rằng đức trinh khiết toàn vẹn trong bậc độc thân linh mục là một đặc
sủng, Thượng Hội Đồng nhắc nhở các linh mục rằng đức trinh khiết ấy chính là hồng ân vô giá của Thiên
Chúa dành cho Giáo Hội và đức trinh khiết ấy bày tỏ cho thế giới hiện đại môt giá trị ngôn sứ. Thượng Hội
Đồng lần này, một lần nữa và một cách mạnh mẽ, khẳng định lại điều mà Giáo Hội La Mã và một số lễ chế
Đông Phương đòi hỏi, rằng chức linh mục chỉ được phong ban cho những người đã lãnh nhận từ Thiên
Chúa hồng ân có được ơn gọi sống tinh khiết trong bậc sống độc thân (không thành kiến đối với truyền
thống của một số Giáo Hội Đông Phương và đối với một số trường hợp đặc biệt trong đó có nhũng giáo sĩ
sống đời đôi bạn vốn xuất thân từ những giáo phái khác mới trở lại Công Giáo và vốn là trường hợp ngoại lệ
đối với thông điệp của Đức Phaolô VI về đời sống độc thân linh mục) [số 42}. Thượng Hội Đồng không
muốn để vương vấn nơi tâm trí bất cứ ai một chút hoài nghi nào liên quan tới ý định kiên quyết của Giáo
Hội là duy trì luật sống độc thân vĩnh viễn do tự do lựa chọn đối với các ứng sinh được thụ phong linh mục,
trong nghi lễ La Mã. Thượng Hội Đồng đề nghị bậc sống độc thân phải được trình bày và cắt nghĩa trong tất
cả sự phong phú từ nơi Thánh Kinh, thần học và tu đức học, như là hồng ân quí giá mà Thiên Chúa ban cho
Giáo Hội và như là dấu chỉ của Nước Chúa vốn không thưộc về thế gian, đồng thời là dấu chỉ cho tình yêu
của Thiên Chúa đối với thế gian này, cũng như cho tình yêu không chia sớt của linh mục đối với Thiên
Chúa và đối với dân Thiên Chúa, làm sao để cho bậc sống độc thân được nhìn nhận như là một yếu tố tích
cực làm cho chức linh mục được nên phong phú” 389 .
Điều rất quan trọng, đó là linh mục phải hiểu được động lực và nguyên do thần học dẫn tới luật của
Giáo Hội về bậc sống độc thân. Với tính cách là luật, nó diễn tả ý định của Giáo Hội, ngay cả trước khi chủ
thể bày tỏ ý muốn đáp ứng của mình. Nhưng ý định của Giáo Hội tìm động lục và nguyên do tối hậu nơi mối
liên kết giữa bậc sống độc thân với việc phong chức thánh, nhờ đó linh mục được nên đồng hình dạng với
Đức Giêsu Kitô Đầu và Phu Quân của Giáo Hội. Giáo Hội xét như Hiền Thê của Đức Giêsu Kitô mong
muốn được linh mục yêu mến một cách hoàn toàn và độc chiếm giống như Đức Giêsu Kitô Đầu và Phu
Quân đã yêu mến Giáo Hội. Đời sống độc thân linh mục lúc ấy sẽ là sự trao hiến chính mình trong và với
Đức Kitô cho Giáo Hội Ngài và sẽ biểu lộ công việc phục vụ mà linh mục thực thi cho Giáo Hội trong
Chúa Kitô và với Chúa Kitô.
Vì nhắm đến một đời sống thiêng liêng chính hiệu, linh mục cần phải quan niệm và sống bậc độc thân
không phải như một yếu tố riêng rẽ và thuần tuý tiêu cực, nhưng như một trong những sắc thái của một
đường hướng tích cực, loại biệt và đặc trưng của nhân cách linh mục. Từ bỏ cha mẹ mình, linh mục nối gót
Đức Giêsu Mục Tử Nhân Lành trong một sự hiệp thông Tông truyền, để phục vụ dân Chúa. Bậc sống độc
thân bởi đó cần phải được đón nhận với một quyết định tự do và ngập tràn yêu thương, cần phải được cải
tiến liên lỉ, như là một hồng ân vô giá của Thiên Chúa, như là một “trợ lực cho đức ái mục vụ” 390 , như là một
sự tham dự đặc biệt vào tình phụ tử của Thiên Chúa và vào sự sản sinh của Giáo Hội, như là một chứng từ
cho Vương Quốc cánh chung được ban cho thế giới. Để sống tất cả những đòi hỏi luân lý, mục vụ và thiêng
liêng của bậc độc thân linh mục, tuyệt đối phải cầu nguyện với lòng khiêm nhượng và cậy tin, như lời nhắc
nhở của Công Đồng : “chắc hẳn, trong thế giới hiện nay, có rất nhiều người tuyên bố rằng không thể nào
thực hiện được tiệt dục hoàn toàn: đó là một lý do hơn nữa để các linh mục phải khiêm tốn và kiên trì cầu
xin, trong sự kết hiệp với Giáo Hội, ơn trung thành, là ơn không bao giờ bị từ chối đối với những ai khẩn
nguyện. Các linh mục cũng hãy sử dụng những phương thế tự nhiên và siêu nhiên sẵn có đối với mọi
người” 391 . Ngoài ra, nhờ liên kết việc cầu nghuyện với bí tích của Giáo Hội và với nỗ lực khổ chế, linh mục
sẽ có được niềm hy vọng trong những khó khăn, ơn tha thứ trong những lỗi phạm, lòng tin cậy và sự can
đảm trong việc tiếp tục tiến bước.
30. Về đức nghèo khó theo tinh thần Tin Mừng, các Nghị phụ Thượng Hội Đồng đã đưa ra một lối mô tả cô
đọng và sâu sác hơn bao giờ hết, trình bày đức nghèo khó như là việc “đem mọi của cải (tous les biens) tùng
phục Của Cải tối thượng (Bien Supême) là Thiên Chúa và Vương quốc của Ngài” 392 .Trong thực tế, chỉ người
nào chiêm ngắm và sống mầu nhiệm Thiên Chúa như là Của Cải độc nhất và tối thượng, như là nguồn
phong phú thực thụ và vĩnh viễn, mới có thể hiểu và thực hành đức nghèo khó. Đức nghèo khó chắc chắn
không phải là khinh chê và từ chối những của cải vật chất, nhưng là tự do sử dụng những của cải ấy và đồng
thời vui vẻ từ khước chúng vói một trạng thái ứng trực nội tâm, đối với Thiên Chúa và đối với những kế
hoạch của Ngài.
Sự nghèo khó của linh mục, vì lý do linh mục nhờ bí tích nên đồng hình dạng với Đức Kitô Đầu và
Mục Tử, mặc lấy những đặc điểm mục vụ chính xác. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã dừng chân nơi
những đặc điểm ấy, bằng cách lặp lại và khai triển giáo huấn của Công Đồng 393 . Cùng với những đặc điểm
khác, các ngài viết: “theo gương Chúa Kitô, Đấng vốn giầu sang đã hoá nên nghèo khó vì yêu thương chúng
ta ( x. 2Cr 8,9), các linh mục phải coi người nghèo và những người yếu đuối nhất như là được giao phó cho
mình một cách đặc biệt, và phải có khả năng nêu chứng tá nghèo khó bằng một đời sống giản dị và khắc
khổ, vì đã quen từ một cách quảng đại những gì là dư thừa (Optatam Totius, DT số 9; GL khoản 282)” 394 .
Quả thật, “thợ xứng đáng hưởng thù lao của mình’ (Lc 10,7) và “Chúa đã chỉ thị cho những ai loan
báo Tin Mừng sống bằng Tin Mừng” (1Cr 9,14); thế nhưng, thật ra quyền ấy của người Tông Đồ không
được nhầm lẫn với bất cứ một kỳ vọng nào nhằm đem công việc phục vụ Tin Mừng và Giáo Hội làm cái phụ
thuộc cho những mối lợi và bổng lộc có thể phát sinh từ đó. Chỉ có sự nghèo khó mới chắc chắn tạo được
cho linh mục tư thế ứng trực cần có để được sai đi nơi nào mà hoạt động của mình hữu ích hơn và cấp thiết
hơn, ngay cả với giá của một hy sinh bản thân. Đó là điều kiện tiên quyết cho sự ngoan ngùy của người
Tông Đồ đối với Thần Khí, Đấng làm cho người Tông Đồ sẵn sàng ra đi mà không cần hành trang và không
bị ràng buộc, chỉ một mực tuân theo ý định của Đấng là Thầy (x. Lc 9,57-62; Mc 10,17-22).
Đích thân hội nhập vào trong cuộc sống cộng đoàn mà mình có trách nhiệm, linh mục cần phải nêu
chứng tá về một sự “trong suốt” hòan toàn trong việc quản trị tài sản của cộng đoàn. Linh mục sẽ không bao
giờ xử sự như thể các tài sản ấy là gia sản riêng tư của mình, nhưng như những gì mà mình phải thanh thỏa
trước mặt Thiên Chúa và trước mặt anh em mình, nhất là trước những người nghèo. Và, nhờ ý thức rằng
mình thuộc về một linh mục đoàn duy nhất, linh mục sẽ dấn thân để tạo điều kiện thuận lợi, hoặc cho một sự
phân phối của cải giữa anh em đồng sự sao cho công bằng hơn, hoặc cho việc cùng hưởng dùng chung với
nhau những của cải ấy (x. Cv 2,42-45).
Tự do nội tâm, được nuôi dưỡng và bảo toàn nhờ vào đức khó nghèo tinh thần Tin Mừng, làm cho linh
mục có khả năng đứng về phía những người yếu đuối nhất, liên kết chính mình với những nỗ lực của họ
nhằm tái tạo một xã hội công bằng hơn, trở nên nhạy bén hơn cũng như có khả năng hiểu biết và phân định
hơn đối với những hiện tượng liên can tới khía cạnh kinh tế và xã hội của đời sống, đồng thời thăng tiến
chọn lựa nào là ưu tiên của sự nghèo. Không loại trừ một ai trong việc loan báo và ban phát ơn cứu độ, linh
mục biết chú tâm tới những người bé nhỏ, tới các tội nhân, tới hết mọi người sống ngoài lề xã hôi, theo như
mẫu mực mà Đức Giêsu đã để lại trên bước đường thừa tác vụ ngôn sứ và tư tế của Ngài (x. Lc 4,18).
Chúng ta đừng quên ý nghĩa ngôn sứ của đức khó nghèo linh mục, đặc biệt khẩn thiết trong những xã
hội tiêu dùng: “Một linh mục thật sự nghèo chắc chắn sẽ là dấu chỉ cụ thể cho sự cách biệt, cho sự chối từ
chớ không phải cho sự luỵ phục đối với bạo quyền trong thế giới đương thời là thế giới đặt trọn niềm tin cậy
của mình nơi tiền bạc và nơi sự an toàn vật chất” 395 .
Trên thập giá, Đức Giêsu Kitô mang đức ái mục vụ của Ngài đến mức trọn hảo trong một sự trần trụi
tột cùng và bên ngoài và bên trong; Ngài là mẫu mực và là nguồn mạch các nhân đức vâng phục, khiết tịnh
và nghèo khó mà linh mục được mời gọi sống như là biểu tượng tình yêu mục vụ của mình đối với anh em.
Theo như những điều Phao lô viết cho tín hữu Philipphê, linh mục phải có “ cùng những tâm tình” như Chúa
Giêsu, phải tự tước bỏ các tội riêng rẽ của mình để, trong đức ái vâng phục, khiết tịnh và nghèo khó, tìm gặp
được con đường vương giả đưa tới sự nối kết với Thiên Chúa và tới sự hiệp nhất với các anh em (x. Pl 2,5).
Thuộc về Giáo Hội địa phương và tận tuỵ với Giáo Hội địa phương.
31. Cũng như bất cứ đời sống thiêng liêng Kitô giáo chính hiệu nào, đời sống thiêng liêng của linh mục cũng
sở đắc một chiều kích Giáo Hội cốt yếu và bất khả thay thế:đời sống ấy tham dự vào sự thánh thiện của
chính Giáo Hội, Giáo Hội mà trong kinh tin kính chúng ta tuyên xưng là “ các thánh cùng thông công”. Sự
thánh thiên của người Kitô hữu bắt nguồn từ sự thành thiện của Giáo Hội, biểu lộ sự thánh thiện ấy và đồng
thời làm giàu cho sự thánh thiện ấy. Chiều kích Giáo Hội này mang những thể thức, những cứu cánh và
những ý nghĩa đặc thù trong đời sống thiêng liêng của linh mục, vì tương quan loại biệt của linh mục đối với
Giáo Hội, luôn luôn được khởi đi từ việc linh mục nên đồng hình dạng với Đức Kitô Đầu và Mục Tử, từ
thừa tác vụ được phân bổ và từ đức ái mục vụ của linh mục.
Trong nhãn quan ấy, cần phải coi việc linh mục thuộc về Giáo Hội địa phương và tận tuỵ với Giáo Hội
địa phương như là giá trị thiêng liêng của ngài. Các thực tại ấy không những chỉ khởi phát vì những lý do tổ
chức và kỷ luật. Ngược lại quan hệ với giám mục trong sự hiệp nhất của của linh mục đoàn, sự san sẻ niềm
ân cần săn sóc của giám mục đối với Giáo Hội, lòng tận tuỵ mục vụ nhằm phục vụ dân Thiên Chúa trong
những điều kiện sịch sử và xã hội cụ thể của Giáo Hội địa phương là những yếu tố mà người ta không thể
coi thường khi muốn phác hoạ chân dung của linh mục và của đời sống thiêng liêng linh mục. Trong chiều
hướng ấy, “nhập vụ” không chỉ giản lược vào một liên hệ, nhưng còn giả thiết một chuỗi những thái độ,
những lựa chọn mục vụ và thiêng liêng góp phần kiến tạo một diện mạo riêng biệt cho ơn gọi của linh mục.
Điều cần thiết là linh mục phải ý thức rằng sự kiện ở trong một Giáo Hội địa phương tự nó là một yếu
tố địng đoạt để sống một đời sống thiêng liêng kitô giáo. Vói ý nghĩa ấy, linh mục tìm ngay trong việc mình
thuộc về Giáo Hội địa phương và tận tuỵ với Giáo Hội địa phương một nguồn mạch cho những ý nghĩa,
những tiêu chuẩn phân định và hành động tạo khuôn khổ cho sứ mệnh mục vụ và đời sống thiêng liêng của
mình.
Trên bước đưòng tiến tới trọn hảo, cũng có thể có sự trợ giúp đến từ những thần hứng hoặc những quy
chiếu nơi các truyền thống đời sống thiêng liêng khác, có khả năng làm giầu cho đời sống linh mục của
nhiều người và tạo sinh khí cho linh mục đoàn nhờ vào những ân huệ thiêng liêng quý giá. Đó là trường hợp
của nhiều hiệp hội cũ và mới trong Giáo Hôi vốn đón nhận cả những linh mục trong hàng ngũ của mình, từ
những hiệp đoàn tông đoồ cho đến những tu hội đời linh mục, từ những dạng thức hiệp thông và chia sẻ
thiêng liêng đa dạng cho đến các phong trào Giáo Hội. Các linh mục thuộc những đan viện và những hội
dòng chính là nguồn phong phú thiêng liêng cho toàn thể linh mục đoàn giáo phận, đóng góp cho linh mục
đoàn những đặc sủng loại biệt của họ cũng như những thừa vụ chuyên biệt của họ; do bởi sự hiện diện của
mình, họ khuyến khích Giáo Hội địa phương sống đậm đà hơn chiều kích hướng mở phổ quát của Giáo Hội
ấy 396 .
Việc linh mục thuộc về Giáo Hội địa phương và tận tuỵ với Giáo Hội địa phương đến độ trao hiến
mạng sống mình, ngõ hầu xậy dựng Giáo Hội “thay mặt” cho Đức Kitô Đầu và Mục Tử, nhằm phục vụ toàn
thể cộng đoàn Kitô hữu, trong sự liên kết chân thành và hiếu thảo với giám mục, cần phải được tô đậm bất
cứ đặc sủng nào khả dĩ khởi hứng trực tiếp hoặc gián tiếp cho đời sống của một linh mục 397 .
Để cho các ân huệ dư tràn của Thần Khí được đón nhận trong niềm vui và để cho chúng được sinh hoa
kết trái nhằm làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho toàn thể Giáo Hội, trước hết mọi người cần phải
nhận thức và phân định những đặc sủng riêng của mình và những đặc sủng của tha nhân. Tiếp đến việc thực
thi đặc sủng ấy phải luôn luôn đi kèm với lòng khiêm nhượng Kitô giáo, với sự can đảm dám tư phê phán
chính mình, với ý hướng trổi vượt trên mọi trên mọi bận tâm khác nhằm giúp xây dựng toàn thể cộng đoàn,
mọi đặc sủng riêng biệt đều được sắp xếp cho sự phục vụ cộng đoàn ấy. Ngoài ra, mọi người đều được yêu
cầu phải có một nỗ lực chân thành nhằm quí chuộng lẫn nhau, nhằm tôn trọng lẫn nhau và nhằm đánh giá
sao cho hòa hợp những dị biệt tích cực và chính đáng hiện có nơi linh mục đoàn. Tất cả những yếu tố ấy
cũng nằm trong đời sống thiêng liêng và trong sự khổ chế liên lỉ của linh mục.
32. Thuộc về Giáo Hội địa phương và tận tuỵ đối với Giáo Hội địa phương thì không phải là tất cả hoạt động
và đời sống linh mục đều đóng khung trong Giáo Hội ấy. Không thể đem giản lược các đặc tính ấy vào nơi
Giáo Hội địa phương bằng cách nại tới chính bản chất cũa Giáo Hội Điạ phương 398 và tới bản chất của thừa
tác vụ linh mục. Về vấn đề này, Công Đồng viết: “Ân huệ thiêng liêng mà các linh mục đã lãnh nhận ngày
thụ phong chuẩn bị cho các linh mục, không phải đi vào một sứ vụ hạn hẹp và gò bó, nhưng vào một sứ vụ
cứu độ có tầm mức phổ quát, cho đến mút cùng trái đất” (Cv 48); thực vậy, bất cứ thừa tác vụ linh mục nào
cũng thông phần vào những chiều kích hoàn vũ của sứ vụ được Đức Kitô trao phó cho các Tông Đồ 399 .
Bởi đó, đời sống thiêng liêng của các linh mục cần phải được đánh dấu sâu đậm bởi khí thế và năng
động thừa sai. Họ có trách nhiệm, trong việc thi hành thừa tác vụ và làm chứng bằng đời sống của mình,
biến cộng đoàn được giao phó cho mình thành một cộng đoàn thừa sai chính hiệu. Như tôi đã viết trong
thông điệp Redemtoris missio, “tất cả các linh mục đều phải có một tâm hồn và một não trạng thừa sai, mở
ngỏ hướng đến những nhu cầu của Giáo Hội và của thế giới, chú trọng tới những người xa cách nhất, và trên
hết tới những tập thể ngoài Kitô giáo trong môi trường của mình. Trong kinh nguyện và cách riêng trong hy
lễ tạ ơn, các linh mục phải cưu mang niềm ân cần của toàn thể Giáo Hội đối với toàn bộ nhân loại” 400 .
Nếu tinh thần thừa sai ấy tạo sinh khí dạt dào cho đời sồng các linh mục, việc đáp ứng tình huống hiện
đang ngày càng nghiêm trọng hơn trong Giáo Hội, tình huống phát xuất từ tình trạng phân phối hàng giáo sĩ
không đồng đều, sẽ trở nên dễ dàng hơn. Về điểm này, Công đồng đã phát biểu hết sức rõ ràng và mạnh mẽ :
“ Do đó, các linh mục phải nhớ rằng các ngài cần ủ ấp trong tim mối ưu tư của tất cả Giáo Hội. Vì thế,
những linh mục thuộc các giáo phận giàu ơn gọi phải sẵn sàng tự nguyện ra đi, dĩ nhiên với phép của Đấng
Bản Quyền hoặc với lời kêu gọi của ngài, để thi hành thừa tác vụ của mình trong những xứ sở, những hội
thừa sai hoặc những hoạt động đang lâm vào cảnh thiếu thốn linh mục” 401 .
“Xin hãy canh tân nơi chúng sự tuôn đổ Thần Khí thánh thiện của Ngài”
33. Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã sức dầu thánh hiến tôi. Ngài đã sai tôi đem Tin Mừng đến cho
người nghèo “(Lc 4,18). Ngày nay, Đức Giêsu vẫn còn làm vọng lên trong con tim linh mục chúng ta những
lời Ngài phát biểu trong hội đường Nagiarét. Thật vậy, đức tin chúng ta mạc khải cho chúng ta sự hiện diện
tích cực của Thần Khí Chúa Kitô nơi hữu thể chúng ta, nơi hành động và đời sống chúng ta, bằng cùng một
phương cách như đã được bí tích Truyền Chức Thánh định hình, trang bị và uốn nắn,
Đúng vậy, Thần Khí Chúa là vị hướng đạo vĩ đại của đời sống thiêng liêng chúng ta. Thần Khí Chúa
tạo dựng “quả tim mới “, ban sinh khí và dẫn dắt quả tim ấy với “lề luật mới” của đức ái, của đức ái mục vụ.
Ý thức rằng linh mục không bao giờ thiếu ân sủng của Chúa Thánh Thần, xét như là ơn hoàn toàn nhưng
không và như là sự dấn thân trong trách nhiệm, đó là yếu tố định đoạt cho sự phát triển đời sống thiêng liêng
linh mục. Sự ý thức về ân huệ ấy thấm nhập và đỡ nâng lòng tin cậy không thể chuyển lay của linh mục giữa
những khó khăn, những cám dỗ, những yếu đuối vẫn thường xảy đến trên hành trình thiêng liêng.
Một lần nữa, tôi đề nghị với mọi linh mục linh mục điều mà vào một dịp khác tôi đã nói với nhiều
người trong anh em: ơn gọi linh mục cốt yếu là một lời mời gọi nên thánh với mô hình bắt nguồn từ bí tích
Truyền Chức Thánh. Sự thánh thiện là tình thân mật đối với Thiên Chúa, là nỗ lực noi gương Đức Kitô
nghèo khó, khiết tịnh và khiêm nhường: là tình yêu không hạn chế đối với các linh hồn và là sự trao hiến
chính mình vì lợi ích đích thực của các linh hồn; là tình yêu đối với Giáo Hội, một Giáo Hội thánh thiện,
một Giáo Hội muốn chúng ta nên thánh bởi vì đó chính là sứ vụ mà Đức Kitô đã trao phó cho Giáo Hội. Mỗi
người trong anh em cũng phải nên thánh để có thể giúp anh em khác thực hiệnn ơn gọi nên thánh.
“ Làm sao lại không suy tư […] về vai trò thiết yếu mà Chúa Thánh Thần nắm giữ trong lời mời gọi
loại biệt nên thánh dành riêng cho thừa tác vụ linh mục? Chúng ta hãy nhắc lại những lời trong nghi thức
phong chức được coi như trọng tâm của công thức bí tích :”Lạy Chúa Cha toàn năng, chúng con khẩn
nguyện Cha, xin Cha ban cho các tôi tớ Cha đây được gia nhập hàng linh mục. Xin Cha hãy tuôn đổ một nữa
Thần Khí thánh thiện vào nơi đáy thẳm tâm hồn họ. Lạy Chúa, xin cho họ được lãnh nhận nơi Chúa trọng
trách phục tùng hàng giám mục. Xin cho họ biết dùng gương đời sống của mình mà thúc đẩy cho các phong
tục tập quán được nên tinh tuyền”.
“Hỡi những người bạn thân mến, nhờ việc Phong Chức, anh em đã lãnh nhận chính Thần Khí của Đức
Kitô, Đấng làm cho anh em nên giống với Đức Kitô, ngõ hầu anh em có thể hành động nhân danh Đức Kitô
và mặc lấy nơi anh em cùng những tâm tình như Ngài. Sự thông hiệp mật thiết với Thần Khí Đức Kitô bảo
đảm cho hiệu năng của hoạt động bí tích mà anh em thực hiện “thay mặt Đức Kitô”, sự thông hiệp ấy còn
đòi phải được biểu lộ trong việc sốt sắng cầu nguyện, trong tính nhất quán của đời sống, trong đức ái mục vụ
của một thừa tác vụ không ngơi quy hướng về ơn cứu độ của mọi người. Nói vắn tắt, sự thông hiệp ấy đòi
hỏi anh em phải thánh hoá bản thân mình” 402 .
CHƯƠNG IV
HÃY ĐẾN MÀ XEM
ƠN GỌI LINH MỤC TRONG MỤC VỤ CỦA GIÁO HỘI
Tìm, theo, ở lại.
34. “Hãy đến mà xem’ (Ga 1,39). Đức Giêsu đã trả lời cho hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả như thế, khi hai vị
hỏi Ngài ở đâu. Chúng ta tìm thấy nơi câu nói này ý nghĩa của ơn gọi.
Sau đây là cách mà thánh Gioan tác giả Tin Mừng thuật lại ơn gọi của Anrê và Phêrô: “Ngày hôm
sau, Gioan lại có mặt ở đó cùng với hai môn đệ của mình. Đức Giêsu đi ngang qua, Gioan đưa mắt hướng
nhìn về Ngài và nói: ‘Đây là Chiên Thiên Chúa’. Hai môn đệ nghe nói thế liền đi theo Đức Giêsu. Đức
Giêsu quay lại và thấy họ đi theo Ngài. Ngài nói với họ: “Các anh muốn gì?” Họ trả lời: “Rabbi (nghĩa là
Thưa Thầy), Thầy ở đâu?” Ngài nói :”Hãy đến mà xem”. Họ đã đến và đã xem thấy nơi Ngài ở và họ ở lại
với Ngài ngày hôm ấy. Lúc đó độ chừng giờ thứ mười.
“Anrê, em Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe lời Gioan và đã đi theo Đức Giêsu. Trước hết,
Anrê gặp Simon anh mình và nói với anh: ‘Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia’ – nghĩa là Đức Kitô. Anrê dẫn anh
đến với Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn Simon và nói: ‘Anh là Simon, con ông Gioan; anh sẽ được gọi là
Kêpha’ – nghĩa là Đá” (Ga 1,35-42).
Trang Tin Mừng này là một trong nhiều trang Sách Thánh mô tả “mầu nhiệm” ơn gọi; trong trường
hợp hiện tại, điều được đề cập là mầu nhiệm ơn gọi nơi các Tông Đồ của Đức Giêsu. Trang Tin Mừng của
Gioan cũng có ý ám chỉ ơn gọi Kitô hữu nói chung, nhưng lại có giá trị mẫu mực cho ơn gọi linh mục. Với
tư cách là cộng đoàn các môn đệ của Đức Giêsu, Giáo Hội được mời gọi gắn chặt cái nhìn của mình vào
hoạt cảnh này là hoạt cảnh, một cách nào đó, không ngừng tái diễn trong lịch sử. Giáo Hội được mời gọi đào
sâu ý nghĩa nguyên tuyền và ngã vị của lời mời gọi đi theo Đức Kitô trong thừa tác vụ linh mục, đào sâu mối
liên hệ bất khả phân giữa ân sủng của Thiên Chúa với trách nhiệm của con người, mối liên hệ gồm chứa và
được mạc khải trong lời mời mọc mà chúng ta gặp thấy nhiều lần trong Tin Mừng: hãy đến và theo Ta (x.
Mt 19,21). Giáo Hội được mời gọi cắt nghĩa và mô tả sự năng động đặc thù của ơn gọi, sự phát triển từng
cấp và cụ thể theo những giai đoạn sau: tìm Đức Giêsu, theo Ngài và ở lại với Ngài.
Giáo Hội tìm thấy trong “Tin Mừng về ơn gọi” này mẫu mực, sức mạnh và niềm hăng say cần thiết
cho mục vụ của Giáo Hội về ơn gọi, nghĩa là sứ vụ nhắm tới việc chăm lo cho sự nảy sinh, cho sự phân định
và cho sự sát cánh các ơn gọi, cách riêng ơn gọi hướng đến chức linh mục. Bởi vì “thiếu hụt linh mục chắc
chắn là nỗi buồn của toàn thể Giáo Hội” 403 , mục vụ các ơn gọi, nhất là ngày nay, cần phải được khởi xướng
với một niềm hăng say mới, mãnh liệt và xác định hơn, do mọi thành phần trong Giáo Hội. Cần phải xác tín
rằng nền mục vụ ấy không phải là một yếu tố đệ nhị hoặc phụ tuỳ, không phải là một thì biệt lập hoặc hạn
hữu như thể lả đơn thuần một “phần”, cho dẫu có quan trọng đến đâu, trong nền mục vụ bao quát của Giáo
Hội. Đúng hơn, theo như các Nghị Phụ Thượng Hôi Đồng đã lặp lại, đó là một sinh hoạt mật thiết lồng vào
trong nền mục vụ chung của toàn thể Giáo Hội 404 , một trọng trách cần phải được tháp nhập và phải được
đồng hoá trọn vẹn với cái mà người ta thường gọi là “trọng trách đối với các linh hồn” 405 , một chiều kích
đồng bản chất và thiết yếu với mục vụ Giáo Hội, cũng giống như với sự sống và sứ vụ của Giáo Hội. 406
Đúng vậy, chủ đề ơn gọi có cùng bản chất với mục vụ của Giáo Hội và thiết yếu đối với nền mục vụ
ấy. Sở dĩ như thế là bởi vì, hiểu theo một nghĩa nào đó, ơn gọi tạo thành hữu thể thâm sâu của Giáo Hội
ngay cả trước khi ơn gọi được tác động. Ecclesia, danh xưng của Giáo Hội, chỉ dẫn cho thấy bản chất của
Giáo Hội gắn liền một cách sâu rộng với ơn gọi, bởi vì Giáo Hội thật sự là “triệu tập”, là tập thể qui tụ
những ai được mời gọi: “Cái tập thể qui tụ những người trong niềm tin ngước nhìn Chúa Giêsu, tác giả ơn
cứu độ, nguyên lý hiệp nhất và bình an ấy, Thiên Chúa đã triệu tập và đã làm thành Giáo Hội, để cho tập thể
này, đối với con mắt mọi người và từng người, trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ” 407 .
Chỉ bằng cách khởi đi từ mầu nhiệm Giáo Hội, xét như là mysterium vocationis, người ta mới có thể
đọc được một cách thuần tuý thần học cái gọi là ơn linh mục và cái gọi là mục vụ liên quan tới ơn gọi ấy.
Giáo Hội và ơn gọi được ban tặng.
35. Ơn gọi Kitô hữu nào cũng đặt nền tảng trên sự tuyển chọn nhưng không và khởi xướng trước từ phía
Chúa Cha “Đấng đã chúc lành cho chúng ta bằng đủ loại phúc lành thiêng liêng, trên trời, trong Đức Kitô.
Chính bởi đó mà Thiên Chúa đã tuyển chọn chúng ta trong Ngài, ngay cả trước khi tạo dựng thế giới, để
chúng ta trở nên thánh thiện và vô tì vết dưới con mắt Ngài, trong tình yêu,và, ngay từ trước, đã xác định
cho chúng ta nên dưỡng tử của Ngài nhờ Đức Giêsu Kitô. Đó chính là sở nguyện trong ý định Ngài” (Ep
1,3-5).
Mọi ơn gọi Kitô hữu đều xuất phát từ Thiên Chúa, đều là ân huệ của Thiên Chúa; thế nhưng không
bao giờ ơn gọi Kitô hữu được ban ngoài Giáo Hội và không lệ thuộc vào Giáo Hội. Ơn gọi Kitô hữu luôn
ngang qua Giáo Hội và trong Giáo Hội bởi vì, như lòi nhắc nhở của Công Đồng Vaticanô II, “Thiên Chúa đã
không muốn cho con người lãnh nhận sự thánh hóa và ơn cứu độ một cách lẻ loi bên ngoài mọi liên hệ hỗ
tương; ngược lại Ngài muốn làm cho con người trở thành một dân tộc, một dân tộc nhận biết Ngài theo đúng
sư thật và phục vụ Ngài trong thánh thiện” 408 .
Chẳng những Giáo Hội đón nhận trong nhà mình tất cả mọi ơn gọi mà Thiên Chúa ban cho Giáo Hội
trên lối đường cứu độ của mình, nhưng chính Giáo Hội còn mặc lấy cho mình những đường nét của một
mầu nhiệm ơn gọi, phản ánh sống động và rạng rỡ của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong thực tế, là
“dân kết tụ thành một nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’ 409 , Giáo Hội cưu
mang nơi chính mình mầu nhiệm của Chúa Cha, Đấng không do ai kêu mời cũng không do ai sai phái (x.
Rm 11,33-35), Đấng mời gọi mọi người thánh hoá danh Ngài và chu toàn ý muốn của Ngài; Giáo Hội cưu
mang nơi chính mình mầu nhiệm của Chúa Con, Đấng được Chúa Cha mời gọi và sai đến để loan báo Nước
Thiên Chúa cho mọi người, Đấng mời gọi mọi người đi theo Ngài. Sau hết Giáo Hội nắm giữ mầu nhiệm
của Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hiến cho sứ vụ tất cả những người nam và người nữ mà Chúa Cha kêu
gọi nhờ Con Ngài là Đức Giêsu Kitô.
Tự bản chất là “ơn gọi”, Giáo Hội sinh thành các ơn gọi và đồng thời giáo dục các ơn gọi. Giáo Hội
làm công việc ấy trong chính thực thể “bí tích” của mình, với tư cách là “dấu chỉ” và là “khí cụ” trong đó ơn
gọi Kitô hữu vang vọng và được chu toàn; Giáo Hội làm công việc ấy trong hoạt động của mình, nghĩa là
trong việc thi hành thừa tác vụ loan báo Lòi Chúa, cử hành các bí tích, phục vụ và làm chứng cho đức ái.
Bởi đó, cần phải lưu ý rằng ơn gọi Kitô hữu thoạt tiên mang một chiều kích Giáo Hội. Ơn gọi không
chỉ phát xuất “từ” Giáo Hội và từ vai trò trung gian của Giáo Hội; ơn gọi không chỉ được nhận biết và thực
hiện “trong” Giáo Hội; nhưng- trong việc phục vụ cơ bản nhằm đáp đền cho Thiên Chúa – ơn gọi cũng tự
bày tỏ một cách thiết yếu như là làm công việc phục vụ “cho”Giáo Hội. Dưới mọi hình thức, ơn gọi Kitô
hữu là một hồng ân nhằm mục đích xây dựng Giáo Hội, làm tăng triển Nước Thiên Chúa trên thế giới 410 .
Những gì chúng ta nói về mọi ơn gọi Kitô hữu được thể hiện cách riêng trong ơn gọi linh mục. Ơn gọi
này, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh được lãnh nhận trong Giáo Hội, là một lời mời gọi đặt mình vào việc
phục vụ dân Thiên Chúa với tư cách đặc biệt thuộc về Đức Giêsu Kitô và nên đồng hình dạng với Ngài,
đồng thời bao gồm quyền hành động “nhân danh và thay mặt” Đấng Đầu và Mục Tử của Giáo Hội.
Trong nhãn quan ấy, chúng ta hiễu được điều mà các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng viết: Ơn gọi của
mỗi linh mục hiện hữu trong Giáo Hội và cho Giáo Hội: chính nhờ Giáo Hội mà ơn gọi ấy được thể hiện. Từ
đó, mọi linh mục lãnh nhận ơn gọi của Chúa, qua trung gian Giáo Hội, như một hồng ân diễm phúc, một ân
sủng grantis data (đặc sủng). Giám mục hoặc vị bề trên có thẩm quyền chẳng những có bổn phận duyệt xét,
nhưng còn có bổn phận công nhận khả năng thích ứng và ơn gọi của ứng sinh. Một sự can thiệp của Giáo
Hội như thế vốn nằm trong ơn gọi hướng đến thừa tác vụ linh mục hiểu theo đúng nghĩa. Ứng sinh của hàng
linh mục phải lãnh nhận ơn gọi mà không áp đặt những điều kiện riêng tư của bản thân mình, nhưng lại chấp
nhận những tiêu chuẩn và điều kiện do chính Giáo Hội đề ra, theo đúng trách nhiệm thuộc về Giáo Hội” 411 .
Cuộc đối thoại trong ơn gọi: Thiên Chúa đề xướng và con người đáp trả.
36. Lịch sử của mọi ơn gọi linh mục, cũng như đàng khác của mọi ơn gọi Kitô hữu, là lịch sử của một cuộc
đối thoại khôn tả giữa Thiên Chúa và con người, giữa tình yêu của Thiên Chúa là Đấng mời gọi với tự do
của con người là kẻ đáp lại Thiên Chúa trong tình yêu. Hai khía cạnh bất khả phân ly ấy của ơn gọi, ân huệ
nhưng không của Thiên Chúa và sự tự do hữu trách của con người, được mô tả một cách hết sức rõ ràng và
hết sức mạnh mẻ trong những lời vắn gọn nhưng vững chắc qua đó thánh Máccô tác giả Tin Mừng trình bày
ơn gọi của nhóm Mười Hai; Đức Giêsu “leo lên núi và Ngài gọi những kẻ Ngài muốn đến với Ngài. Họ đã
đến với Ngài” (3,13) Một đàng, có sự quyết định tuyệt đối tự do của Đức Giêsu, đàng khác có việc nhóm
Mười Hai “đến” hay nói cách khác, việc họ “đi theo Đức Giêsu”.
Đó chính là mẫu mực có giá trị trường tồn, là những dữ kiện bất khả phân ly của mọi ơn gọi : ơn gọi
của các ngôn sứ, của các Tông Đồ, của các linh mục, của các tu sĩ, của các tín hữu giáo dân, của mọi người.
Thế nhưng, yếu tố chiếm hoàn toàn ưu thế và còn là tiên quyết và có tính định đoạt, đó là sự can thiệp
tự do và nhưng không của Thiên Chúa, Đấng mời gọi. Thiên Chúa có sáng kiến mời gọi. Chẳng hạn, đây là
kinh nghiệm của ngôn sứ Giêrêmia: “Lời Chúa đã ngỏ với tôi như thế này ‘trước khi ngươi hình thành trong
lòng mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi được đưa vào vùng ánh sáng, Ta đã thánh hiến ngươi; Ta đã đặt
ngươi làm ngôn sứ cho muôn dân’” (Gr 1,4-5). Thánh Tông Đồ Phaolô đã trình bày cùng một chân lý ấy,
ngài gắn chặt mọi ơn gọi vào sự tuyển chọn từ muôn thuở của Đức Kitô, sự tuyển chọn đã được thực hiện
“trước khi tạo dựng vũ trụ” và “tuỳ theo sở nguyện của ý định Ngài” (Ep 1,5). Ưu thế tuyệt đối của ân sủng
trong ơn gọi được khẳng định một cách rõ rệt nhất trong lời của Đức Giêsu: Không phải anh em đã chọn
Thầy nhưng chính Thầy đã chọn anh em và cách đặt anh em để anh em ra đi và mang lại hoa trái và để hoa
trái của anh em tồn tại” (Ga 15,16).
Nếu tính ưu việt của ân sủng là điều được ơn gọi linh mục chứng tỏ một cách không thể bàn cãi, thì
quyết định tự do và tối thượng của Thiên Chúa trong việc mời gọi con người lại đòi hỏi được tôn trọng một
cách tuyệt đối: quyết định ấy không hề có thể bị ép buộc do bất cứ một tham vọng nào của con người, ơn gọi
cũng không thể thay thế bởi bất cứ một quyết định nào của con người. Ơn gọi là điều được ban tặng do ân
sủng của Thiên Chúa chứ không bao giờ là một quyền lợi của con người. Chính vì thế, “không bao giờ được
coi đời sống linh mục như là một sự thăng tiến thuần túy nhân bản, cũng như không bao giờ được coi sứ vụ
của thừa tác viên như là một phương án đơn thuần của con người” 412 . Từ đó, cần phải triệt để loại trừ mọi kỳ
vọng hoặc cao vọng từ phía những người được kêu gọi (x. Dt 5,4). Trọn vẹn khoảng thiêng liêng trong con
tim cần phải được phủ lấp bằng một niềm tri ân đầy thán phục và cảm mến, và bằng một niềm hy vọng
không hề chuyển lay, bởi vì các ứng sinh nhận thức rằng nguồn cậy dựa của họ không phải ở nơi sức lực
riêng của họ, nhưng chỉ ở nơi sự trung thành vô điều kiện của Thiên Chúa là Đấng mời gọi.
“Ngài gọi những kẻ Ngài muốn và họ đã đến với Ngài” (Mc 3,13). Việc họ “đến”, ở đây cũng là việc
đồng thời là việc họ nối gót “theo” Đức Giêsu, diễn tả sự đáp trả tự do của Nhóm Mười Hai trước lời mời
gọi của Đấng là Thầy. Trường hợp của Phêrô và Anrê cũng y như vậy: “Ngài nói với họ ‘hãy theo Ta, Ta sẽ
làm cho các anh trở nên những ngư phủ chài lưới người’. Và lập tức họ đã bỏ lưới mà đi theo Ngài” (Mt
4,19-20). Kinh nghiệm của Giacôbê và Gioan cũng tương tự như thế (Mt 19,21-22). Và cứ như thế, mãi mãi,
trong ơn gọi đó, có sự chiếu sáng cùng với nhau của tình yêu nhưng không từ phía Thiên Chúa và của sự
vươn lên cao nhất có thể từ phía tự do con người, tự do gắn bó với lời mời gọi của Thiên Chúa và tự do tin
cậy nơi Ngài.
Quả thật, ân sủng và tự do không đối chọi nhau. Ngược lại, ân sủng thôi thúc và nâng đỡ tự do nhân
linh, giải thoát tự do ấy khỏi ách nô lệ của tội (x. Ga 8,34-36), cứu chữa tự do ấy và nâng cao tự do ấy trong
những khả năng cơi mở và đón nhận hồng ân của Thiên Chúa. Nếu như sự khởi xướng hoàn toàn nhưng
không của Thiên Chúa Đấng mời gọi là điều không thể phản bác thì, cũng vậy và hơn nữa, không thể chối
bỏ tính nghiêm trọng tột bực trong tự do của con người khi phải đương đầu và đáp trả. Chính vì thế mà đáp
trả lời mời gọi “hãy đến và theo Ta” của Chúa Giêsu, người thanh niên giàu có đối chọi bằng sự từ chối, là
dấu chỉ – mặc dầu tiêu cực – cho thấy sự tự do của anh: “nhưng khi nghe những lời ấy, anh ta sầm nét mặt và
buồn bã bỏ đi, vì anh ta có lắm tiền nhiều của” (Mc 10,22).
Do đó, tự do là thiết yếu cho ơn gọi, một sự tự do, trong lời đáp trả tích cực, mặc lấy ý nghĩa của một
sự gắn bó bản ngã sâu đậm, với tính cách trao hiến tình yêu hay đúng hơn với tính cách trả nợ cho Đấng
Trao Ban là Thiên Chúa, tác giả của lời mời gọi, với tính cách tận hiến. Đức Phaolô VI đã nói: “Lời mời gọi
đối xứng với lời đáp trả. Chỉ có thể có những ơn gọi tự do, nghĩa là những ơn gọi chấp nhận dâng hiến chính
mình một cách hồn nhiên, ý thức, quảng đại, toàn diện… Chúng tôi gọi ơn gọi là những của lễ: và trong cụ
thể, đó là đích thực vấn đề. Ngày hôm nay cũng như hôm qua và còn hơn hôm qua, Đức Kitô vẫn nói bằng
một giọng nói nhỏ nhẹ và xuyên thấu: “Hãy đến”. Tự do được đặt trước thử thách cao cả nhất: đúng vậy, đó
là tự do trở thành của lễ, tự do dẫn tới quảng đại, lòng hy sinh” 413 .
Làm thành hạt nhân mật thiết nhất trong lời đáp trả của con người trước Thiên Chúa Đấng mời gọi,
của lễ tự do tìm được mẫu mực không thể sánh ví hay đúng hơn, cội rễ sắc bén của nó trong của lễ rất tự do
của Đức Giêsu Kitô, vị tiên phong của những ai được mời gọi, dâng theo ý muốn của Chúa Cha: “Chính vì
thế khi bước và thế giới, Đức Kitô nói ‘hy sinh và lễ vật Ngài đã chẳng ưng, nhưng Ngài đã tác thành thân
thể cho con… Vậy con xin thưa: Này đây, lạy Thiên Chúa, con xin đến để thực hành thánh ý Ngài’” (Dt
10,5-7).
Trong sự hiệp thông mật thiết với Đức Kitô, Đức Maria Mẹ Đồng Trinh đã là tạo vật hơn tất cả mọi
tạo vật sống trọn vẹn chân lý ơn gọi, bởi vì không một ai đã đáp trả như Đức Maria bằng một tình yêu cao cả
đến thế đối lại tình yêu bao la của Thiên Chúa 414 .
37. “Nhưng khi nghe những lời ấy, anh ta sầm nét mặt và buồn bã bỏ đi, bởi vì anh ta có lắm tiền nhiều của”
(Mc 10,22). Người thanh niên giàu có trong Tin Mừng đã không đáp trả lại lời mời gọi của Đức Giêsu, nhắc
nhở cho chúng ta những trở ngại lớn lao có thể làm bế tắc hoặc ngăn cản sự đáp trả tự do từ phía con người:
chẳng những của cải vật chất có thể khép chặt lòng người trước những giá trị của Thần Khí và trước những
đòi buộc triệt để của Nước Thiên Chúa, và ngay cả một số điều kiện xã hội và văn hóa thời đại cũng có thể
tạo ra nhiều mối đe dọa và có thể áp đặt những nhãn giới lệch lạc và sai lầm về bản chất thật sự của ơn gọi,
làm cho sự đón nhận và cả đến sự thấu hiểu trở nên khó khăn nếu không nói là bất khả thực hiện.
Nhiều người hình dung về Thiên Chúa bằng một ý niệm khái quát và mơ hồ đến độ gần giống với
những hình thức tôn giáo phi Thiên Chúa trong đó người ta quan niệm thánh ý Thiên Chúa như là một thứ
định mệnh cố định và bất khả tránh né mà con người chỉ việc thích nghi và cam chịu một cách hoàn toàn thụ
động. Nhưng đó không phải là dung nhan Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô đã muốn mạc khải cho ta. Thực
ra, Thiên Chúa là Cha và, bằng một tình yêu vĩnh cửu do Ngài khởi xướng trước, Ngài kêu gọi con người và
móc nối với con người một cuộc đối thoại kỳ diệu và lâu bền, mời gọi con người chia sẻ chính sự sống thần
linh của Ngài với tư cách làm con. Chắc chắn rằng với một cái nhìn sai lạc về Thiên Chúa, con người còn
không thể hiểu được chính mình là như thế nào và cho đúng với sự thật, bởi vì ơn gọi không thể nào được tri
thức và cảm nhận trong giá trị chính hiệu của nó: ơn gọi lúc ấy chỉ có thể được nhận chịu như là một gánh
nặng áp đặt và không chịu đựng nổi.
Cũng vậy, một số tư tưởng sai lạc về con người, thường được biện minh bởi những luận chứng mệnh
danh là triết lý hay khoa học, một đôi khi dẫn con người đến chỗ quan niệm cuộc hiện hữu của mình và tự
do của mình như là hoàn toàn được ấn định và chi phối nởi những yếu tối bên ngoài thuộc cấp trật giáo dục,
tâm lỳ, văn hoá hay xã hội. Trong một số trường hợp, tự do được hiểu bằng những từ ngữ như sự độc lập
tuyệt đối, tự coi mình là nguồn cội duy nhất và tối hậu của những lựa chọn cá nhân, tự định nghĩa như là sự
khẳng định chính mình với bất cứ giá nào. Nhưng, bằng cách đó, không thể nào hiểu và sống ơn gọi như một
cuộc đối thoại tư do bằng tình yêu là cuộc đối thoại nảy sinh từ mối thông hiệp giữa Thiên Chúa với con
người và hoàn tất, nơi con người, bằng sự trao hiến chính mình một cách chân thành.
Trong bối cảnh hiện đại, người ta cũng gặp thấy một xu hướng mối tư duy về mối quan hệ giữa Thiên
Chúa và con người theo cách thế của chủ nghĩa cá nhân và của chủ nghĩa thân tình, coi lời mời gọi của
Thiên Chúa như thể được ngỏ với từng cá nhân một cách trực tiếp, không hề qua trung gian của cộng đoàn,
và coi lời mời gọi ấy như thể nhắm đến mục tiêu là một lợi ích, hoăc là ơn cứu độ của từng ứng sinh chớ
không phải là sự trao hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa nhằm phục vụ cộng đoàn. Chúng ta cũng còn gặp một
mối đe doạ khác thâm sâu hơn, đồng thời tinh vi hơn: mối đe doạ ngăn cản nhận biết và đón mừng chiều
kích Giáo Hội được khắc ghi do tự bản chất trong mọi ơn gọi Kitô hữu, đặc biệt trong ơn gọi linh mục. Thật
vậy, như Công Đồng nhắc nhở, chức linh mục thừa tác đạt được ý nghỉa chính hiệu và thể hiện được chân lý
trọn vẹn trong việc phục vụ và trong sự tăng triển của cộng đoàn Kitô hữu và của chức tư tế thuộc về giáo
dân 415 .
Bối cảnh văn hoá chúng ta vừa gợi lên, mà ảnh hưởng chắc hẳn lan tới các Kitô hữu, đặc biệt tới
những người trẻ, giúp hiểu được tầm cở của cuộc khủng hoảng chính các ơn gọi linh mục vốn liên can, tự
nguồn gốc và trải qua tiến trình phát triển, tới rất nhiều khủng hoảng trầm trọng hơn về đức tin. Các Nghị
Phụ Thượng Hội Đồng đã minh bạch tuyên bố điều ấy, các ngài công nhận rằng cuộc khủng hoảng các ơn
gọi linh mục có những căn rể sâu xa trong môi trường văn hoá, trong não trạng và trong cách giữ đạo của
các Kitô hữu 416 .
Bởi đó, điều khẩn thiết là mục vụ về các ơn gọi của Giáo Hội phải dứt khoát và ưu tiên chăm lo tái lập
“não trạng Kitô giáo”, phát sinh từ đức tin và được đức tin nâng đỡ. Hơn bao giờ, hết, công cuộc Phúc âm
hoá hệ tại chỗ trình bày một cách không nhàm chán khuôn mặt thật của Thiên Chúa là Cha Đấng trong Đức
Giêsu Kitô, kêu gọi mỗi người chúng ta, đồng thời trình bày ý nghĩa chính hiệu của tự do nhân linh, xét như
là nguyên lý và là sức mạnh của sự trao hiến chính mình một cách có trách nhiệm. Chỉ bằng cách đó mới có
thể thiết lập được những nền tảng cần thiết để cho mọi ơn gọi, kể cả ơn gọi linh mục, có thể được cảm nhận
trong chân lý của nó, được quí mến trong vẻ đẹp của nó,và được sống với lòng tận tụy hoàn toàn và với
niềm vui sâu xa.
Nội dung của mục vụ các ơn gọi và những phương thế được ứng dụng.
38. Ơn gọi chắc chắn là một mầu nhiệm không thể dò thấu bao hàm mối tương quan mà Thiên Chúa thiết lập
với con người: độc nhất và không thể vãn hồi; là mầu nhiệm được truy nhận và cảm nghiệm như một lời mời
gọi đón chờ một sự đáp trả đến từ nơi thâm cung của lương tâm “ nơi thánh điện, ở đó con người hiện diện
một mình với Thiên Chúa và ở đó tiếng Chúa được đón nghe” 417 . Thế nhưng điều ấy không loại bỏ chiều
kích cộng đồng và đặc biệt chiều kích Giáo Hội của ơn gọi; Giáo Hội cũng thực sự hiện diện và hành động
trong ơn gọi của mọi linh mục.
Nhằm phục vụ ơn gọi của linh mục và cũng như hành trình của ơn gọi ấy, nghĩa là sự hình thành, sự
phân định và sự sát cánh ơn gọi, Giáo Hội có thể tìm được mẫu gương nơi Anrê, một trong hai môn đệ đầu
tiên đã đi theo Chúa Giêsu. Chính Anrê đã thuật lại cho người anh điều đã xảy đến cho mình: “Chúng tôi đã
gặp Đấng Mêsia (nghĩa là Đấng Kitô)” (Ga 1,44). Và lời tường thuật “cuộc khám phá” ấy mở lối cho cuộc
gặp gỡ: “Và Anrê dẫn anh mình đến với Đức Giêsu” (Ga 1,42). Không hề có thể hoài nghi về sự đề xướng
hoàn toàn tự do và về quyết định tối thượng của Đức Giêsu; chính Đức Giêsu gọi Simon và đặt cho Simon
một tên mới: “Đức Giêsu nhìn Simon và nói: ‘Ngươi là Simon con ông Gioan; ngươi sẽ được gọi là Kêpha’
(nghĩa là đá)” (Ga 1,42). Thế nhưng Anrê cũng đã góp phần trong sự đề xướng: Anrê đã khuyến khích anh
mình đi gặp Đức Giêsu.
“Và Anrê dẫn anh mình đến Đức Giêsu”. Chính ở đây, hiểu theo một nghĩa nào đó, chúng ta gặp thấy
tâm điểm của mọi nền mục vụ về ơn gọi qua đó Giáo Hội quan tâm đến sự hình thành và đến sự tăng triển
của các ơn gọi, bằng cách sử dụng những ân huệ và những trách nhiệm, những đặc sủng và thừa tác vụ đã
lãnh nhận từ nơi Đức Kitô và từ nơi Thần Khí của Ngài. Với tư cách là dân tư tế, ngôn sứ và vương giả,
Giáo Hội có trọng trách cổ võ và phục vụ sự hình thành cũng như sự chín muồi của các ơn gọi linh mục, nhờ
kinh nguyện và đời sống bí tích, nhờ loan báo Lời Chúa và việc giáo dục đức tin, dưới ảnh hưởng và với
chứng từ của đức ái.
Trong phẩm vị và trong trách nhiệm làm dân tư tế, Giáo Hội chỉ dẫn cho thấy kinh nguyện và việc cử
hành phụng vụ là những nhịp cốt yếu và tiên khởi của mục vụ các ơn gọi. Quả vậy, được Lời Chúa được
nuôi dưỡng, kinh nguyện Kitô giáo tạo nên khoảng không gian lý tưởng để cho mỗi người có thể khám phá
ra chân lý của hữu thể mình và căn tính của phương án đời sống, cá vị và duy nhất, mà Chúa Cha tác tạo cho
mình. Do đó, điều cần thiết là phải giáo dục các thiếu nhi và thanh niên sao cho họ trung thành với việc cầu
nguyện và suy niệm Lời Chúa; trong thinh lặng và đón nghe, họ sẽ có thể nhận ra được lời mời gọi của Chúa
tiến đến chức linh mục và mau mắn quảng đại đi theo Ngài.
Giáo Hội phải đón nhận mỗi ngày lời mời gọi bức bách và khẩn thiết của Đức Giêsu, Ngài yêu cầu
“cầu nguyện với Chủ mùa gặt để Chủ ấy sai thợ đến gặt hái” (Mt 9,38). Tuân theo giới lệnh của Đức Kitô,
trên hết mọi sự, Giáo Hội chu toàn việc khiêm tốn tuyên xưng đức tin: trong khi cầu nguyện cho các ơn gọi
vì cảm nhận được sự khẩn cấp của ơn gọi đối với đời sống và sứ vụ của mình, Giáo Hội nhận ra rằng các ơn
gọi là hồng ân của Thiên Chúa và, xét theo bản chất, các ơn gọi ấy phả được van xin bằng một sự cầu khẩn
liên lỉ và tín thác. Chẳng những từng người nhưng là toàn thể các cộng đoàn Giáo Hội cần phải thực hành
việc cầu nguyện vì đó là điểm tựa, là giá đỡ nâng của mọi nền mục vụ các ơn gọi. Không ai còn nghi ngờ về
tầm quan trọng của những sáng kiến đặc thù trong việc cầu nguyện, của những thời khắc đặc biệt dành riêng
cho yêu cầu ấy, trước hết phải kể đến Ngày thế giới hàng năm dành cho các ơn gọi, và của sự dấn thân một
cách minh thị nơi những người và những nhóm nhạy cảm cách riêng với vấn đề các ơn gọi linh mục. Thế
nhưng, ngày nay, sự mong chờ những ơn gọi mới trong việc cầu nguyện càng ngày càng trở thành một tập
quán trường kỳ với sự tham gia một cách rộng rãi của toàn thể cộng đoàn Kitô giáo và của trọn vẹn thực thể
Giáo Hội. Chính nhờ đó mà nguời ta có thể lặp lại bằng cuộc sống kinh nghiệm của các Tông Đồ: các ngài
đã hiệp nhất với Đức Maria, trong phòng tiệc ly, và đã cầu nguyện để mong chờ sự tuôn đổ Thần Khí (x. Cv
1,14), Đấng vẫn không ngừng khơi dậy từ trong đoàn dân Thiên Chúa “những linh mục mà thế giới đang cần
đến, để phục vụ cho việc cầu nguyện, cho bí tích Thánh Thể và để loan báo Tin Mừng là Đức Kitô 418 .
Là chóp đỉnh và là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội 419 , cách riêng, của mọi kinh nguyện Kitô giáo,
phụng vụ cũng chiếm giữ một vai trò cần thiết và một ảnh hưởng biệt đãi trong mục vụ các ơn gọi. Thực ra,
phụng vụ tạo thành một kinh nghiệm sống động về ân huệ của Thiên Chúa và một trường học đáng kể cho
việc lời mời gọi của Ngài. Xét theo bản chất, mọi việc cử hành phụng vụ, nhất là cử hành bí tích Thánh Thể,
mang lại rất nhiều hiệu quả. Phụng vụ mạc khải cho chúng ta dung nhan đích thực của Thiên Chúa; phụng
vụ làm cho chúng ta thông hiệp vào mầu nhiệm Vượt qua, nghĩa là vào giờ mà Đức Giêsu đã đến trong thế
gian và vào giờ mà Ngài đã tự do và tự nguyện bước tới, vì vâng theo tiếng gọi của Chúa Cha (x. Ga 13,1);
Sau hết, phụng vụ tỏ lộ cho chúng ta khuôn mặt của Giáo Hội, xét như là đoàn dân tư tế và như là cộng
đoàn gắn chặt với nhau một cách keo sơn, với sự dị biệt và bổ khuyết lẫn nhau của các đặc sủng và của các
ơn gọi. Hy lễ cứu chuộc của Đức Kitô mà Giáo Hội cử hành trong mầu nhiệm, mang lại một giá trị đặc biêt
cao quí cho sự khổ đau được cảm nhận bằng cuộc sống trong sự kết hiệp với Chúa Giêsu. Các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng đã mời gọi chúng ta đừng bao giờ quyên rằng “nhờ của lễ gồm những khổ đau rất thường
tình trong đời sống con người, bệnh nhân Kitô hữu tiến dâng chính mình làm của lễ toàn thiêu cho Thiên
Chúa, theo gương Đức Kitô Đấng đã tự hiến chính mình cho mọi người chúng ta (x. Ga 17,19)” và rằng
“của lễ gồm những khổ đau dâng theo ý hướng ấy mang lại ích lợi lớn lao cho sự thăng tiến các ơn gọi” 420 .
39. Trong việc thực hành sứ vụ ngôn sứ,, Giáo Hội cảm thấy rằng bổn phận không thể né tránh của mình là
loan báo và bày tỏ ý nghĩa Kitô Giáo của ơn gọi mà chúng ta có thể gôi là “Tin Mừng về ơn gọi”. Giáo Hội
cũng nhận thức trong lãnh vực này sự bức súc được diễn tả qua lời của Thánh Tông Đồ: “Vô phúc cho tôi
nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Trên tất cả, lời khuyến cáo ấy vang vọng cho chúng tôi là
những mục tử và, đồng thời với chúng tôi, liên can đến mọi nhà giáo dục trong Giáo Hội. Công việc giảng
thuyết và huấn giáo phải luôn làm nổi bật nhưng mối tương quan mật thiết với các ơn gọi: Lời Thiên Chúa
mang lại cho các tín hữu ánh sáng cần thiết để nhận thấy cuộc đời là một sự đáp trả lới mời gọi của Thiên
Chúa, Lời Thiên Chúa sát cánh với các tín hữu để họ đón nhận, trong đức tin, ân huệ ơn gọi bản thân.
Thế nhưng, mặc dầu quan trọng, tất cả những điều ấy vẫn chưa đủ: cần có một “khoa rao giảng trực
tiếp về mầu nhiệm ơn gọi trong Giáo Hội, về giá trị của chức linh mục thừa tác, về sự cần thiết bức bách của
chức linh mục thừa tác đối với dân Thiên Chúa” 421 . Một nền giáo huấn hữu cơ và mở rộng cho mọi thành
phần trong Giáo Hội giúp xua tan những nghi hoặc, đánh bại những ý niệm một chiều và sai lệch về thừa tác
vụ linh mục, đồng thời mở rộng tâm hồn các tín hữu cho việc mong chờ hồng ân và tạo những điều kiện
thuận lợi cho sự hình thành những ơn gọi mới. Đã đến lúc phải can đảm đề cập đến đời sốn linh mục như là
một giá trị vô song và như một hình thức sống đời Kitô hữu rạng rỡ và ưu việt. Các nhà giáo dục và đặc biệt
các linh mục đừng ngần ngại đề xuất một cách minh bạch và mạnh mẽ ơn gọi hướng đến chức linh mục như
là một sự khả thi thiết thực đối với những người trẻ có tài năng và có đức tính xứng hợp. Làm như vậy
không có nghĩa là chi phối và hạn chế tự do của những người trẻ, ngược lại, một sự đề xuất chính xác, được
thực hiện đúng lúc, có thể có giá trị định đoạt để rồi khơi dậy nơi những người trẻ một sự đáp trả tự do chính
hiệu. Ngoài ra, lịch sử của Giáo Hội và lịch sử của biết bao ơn gọi linh mục, được nở rộ ngay cả vào lúc tuổi
thơ, là một chứng cớ hùng hồn cho tính chất qua ngài phòng của việc sống kề cận với linh mục và của việc
nghe lời linh mục nói: không những lời nói nhưng còn là sự kề cận, nghĩa là một chứng từ cụ thể, vui tươi,
có khả năng làm trổi hiện những vấn nạn và dẫn đến những quyết định dứt khoát.
40. Với tư cách là dân vương giả, Giáo Hội nhận thức mình được bén rễ trong “lề luật của Thần Khí là Đấng
ban sự sống” (Rm 8,2), và được thôi thúc bởi lề luật ấy. Lề luật ấy vốn dĩ thiết yếu là lề luật vương giả của
đức ái (x. Gc 2,8) hay lề luật trọn hảo của tự do (Gc 1,25). Chính vì thế, Giáo Hội chu toàn sứ vụ của mình
khi Giáo Hội dẫn dắt mọi tín hữu khám phá và sống ơn gọi của riêng mình trong tự do và gánh vác ơn gọi ấy
cho tới hoàn thành trong đức ái.
Trong công việc giáo dục, với một sự chú tâm biệt đãi, Giáo Hội nhằm khơi dậy nơi các trẻ nhỏ, nơi
các thanh thiếu niên niềm khát vọng và ước muốn nối gót Đức Giêsu Kitô trong mọi sự và một cách kề cận.
Công trình giáo dục, mặc dù liên quan tới cộng đoàn Kitô hữu xét như là cộng đoàn, cần phải đáp ứng cho
từng người một: quả vậy, qua lời mời gọi của Ngài, Thiên Chúa đạt thấu lòng mỗi người, và Thần Khí, Đấng
cư ngụ trong lòng mỗi môn đệ ( x. 1Ga 3, 24 ), được trao ban cho từng Kitô hữu với những đặc sủng dị biệt
và với những biểu hiện riêng rẽ của mình. Như thế, mỗi người cần được giúp đỡ để lãnh nhận ân huệ được
giao phó cho mình một cách cá nhân, với tư cách một ngôi vị độc nhất và bất khả thay thế, và cần được giúp
đỡ để lắng nghe những lời mà Thần Khí Chúa tỏ với mình.
Trong nhãn quan ấy, mối ưu tư về các ơn gọi hướng đến chức Linh mục cũng có thể diễn đạt bằng một
sự đề xuất quyết liệt và thuyết phục trong việc linh hướng. Điều cần thiết là phải khám phá lại truyền thống
cao cả về việc sát cánh thiêng liêng với từng người, là công việc đã mang lại nhiều hoa trái quý giá trong đời
sống Giáo hội, tiến trình linh hướng này có thể được bổ khuyết, trong những trường hợp nhất định và với
những điều kiện chính xác, bằng những hình thức phân tích hay những trợ lực tâm lý, chớ không được thay
thế bởi chúng 422 . Các trẻ nhỏ, các thanh thiếu niên phải được mời gọi khám phá và đánh giá ơn được ban là
việc linh hướng, truy tầm ơn ấy, thực tập ơn ấy, yêu cầu ơn ấy, bằng một thái độ tha thiết và tin cậy, nơi các
vị giáo dục mình trong đức tin. Về phía mình, các Linh mục phải là những người tiên phong cống hiến thời
giờ và năng lực cho công trình giáo dục và trợ giúp thiêng liêng cho từng cá nhân: ước chi các linh mục
đừng bao giờ hối tiếc vì đã coi thường hoặc đã để vuột mất sang hàng thứ yếu nhiều điều khác, ngay cả
những điều đẹp đẽ và hữu ích, nếu như là việc không thể tránh khỏi để vẫn tiếp tục tin vào thừa tác vụ của
mình là cộng tác với Thần Khí hầu soi sáng và hướng dẫn những ai được mời gọi.
Cùng đích của việc giáo dục người Kitô hữu là đạt tới, dưới ảnh hưởng của Thần Khí, “ sự trưởng
thành viên mãn của Đức Kitô “ ( Ep 4, 13 ). Điều này được thể hiện khi, nhờ noi theo và chia sẻ đức ái của
Đức Kitô, người ta làm cho trọn cuộc sống mình trở nên việc phục vụ tình yêu ( x. Ga 13, 14- 15 ), bằng
cách tiến dâng lên Thiên Chúa sự thờ phượng thiêng liêng đẹp lòng Ngài ( x. Rm 12, 1 ) và bằng cách xả
thân cho anh em. Công việc phục vụ tình yêu là hướng đi cơ bản của mọi ơn gọi, và điều ấy nghiệm đúng
một cách hết sức đặc biệt cho ơn gọi Linh mục vì, qủa thực, linh mục được mời gọi lập lại bằng cuộc sống
phương cách triệt để nhất có thể thực thi đức ái mục vụ của Chúa Giêsu, nhĩa là tình yêu của vị Mục Tử
Nhân Lành “ hiến mạng sống mình vì đoàn chiên “ ( Ga 10,11 ).
Chính vì thế, một nền chính hiệu về ơn gọi sẽ không bao giờ nản chí trong việc giáo dục các trẻ nhỏ,
các thanh thiếu niên về khát vọng dấn thân, về ý nghĩa của việc phục vụ nhưng không, về giá trị của hy sinh,
về sự trao hiến chính mình một cách vô điều kiện. Phong trào tự nguyện, ngày càng thu hút đối với nhiều
người trẻ là mọt phong trào rất hữu ích, với điều kiện đó là tư nguyện do động lực Tin Mừng, giúp giáo dục
những người trẻ biết phân định các nhu cầu, giúp họ mỗi ngày một sống tận tụy và trung thành, giúp họ sẵn
sàng đón nhận khi cần kíp cuộc dấn thân dứt khoát trong đời tận hiến, lấy việc cầu nguyện làm lương thực.
Tự nguyện như thế sẽ đỡ nâng cách chắc chắn hơn một cuộc đời dấn thân vô vị lợi và nhưng không, và sẽ
làm cho người nào đeo đuổi cuộc đời ấy trở nên bén nhạy hơn đối với tiếng nói của Thiên Chúa là Đấng có
thể mời gọi người ấy tiến đến chức Linh mục. Ngược lại với thanh niên giàu có, kẻ nhẹ dạ vẫn có thể đón
nhận lời mời gọi tràn đầy tình yêu mà Đức Giêsu ngỏ với mình (x. Mc 10,21) ; người ấy sẽ có thể đón nhận
lời mời gọi bởi vì của cải (biens) của người ấy đã hệ tại chỗ trao hiến chính mình cho người khác và ở chỗ
“thiệt mất” chính mình.
Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đối với ơn gọi linh mục.
41. Ơn gọi Linh mục là một ân huệ của Thiên Chúa, ân huệ ấy chắc chắn tạo thành một thiện ích lớn đối với
người đầu tiên được trao gởi. Thế nhưng đó cũng là một ân huệ dành cho toàn thể Giáo Hội, một thiện ích
cho đời sống và sứ vụ của Giáo hội. Bởi đó, Giáo Hội được mời gọi bảo tồn ân huệ ấy, quý chuộng và yêu
mến ơn huệ ấy: Giáo hội có trách nhiệm đối với sự hình thành và đối với sự chín muồi của các ơn gọi Linh
mục. Do vậy, chủ thể chủ động, chiến hữu tiên phong của mục vụ ơn gọi chính là cộng đoàn Giáo Hội xét
như là cộng đoàn, trong mọi hình thái biểu hiện khác biệt của cộng đoàn ấy: từ Giáo Hội phổ quát đến Giáo
hội địa phương và, một cách loại suy, từ giáo hội địa phương đến giáo xứ và đến mọi thành phần dân Chúa.
Điều bức bách hơn bao giờ hết, nhất là ngày nay, là phải lan truyền và củng cố niềm xác tín rằng tất cả
mọi thành phần trong Giáo hội, không loại trừ một ai, đền nhận được ân sủng và đều mang lấy trách nhiệm
chăm lo cho các ơn gọi. Công đồng Vaticano II đã tỏ ra minh bạch hết mực khi qủa quyết rằng “bổn phận
tạo thuận lợi cho sự gia tăng các ơn gọi Linh mục là của toàn thể cộng đoàn Kitô hữu, cộng đoàn Kitô hữu
được giao phó phải thanh thoả bổn phận ấy trước tiên bằng đời sống trọn vẹn là Kitô hữu “ 423 . Chỉ trên nền
tảng xác tín ấy mà mục vụ các ơn gọi mới có thể biểu thị dung nhan thật sự Giáo Hôi của mình, và mới có
thể phát huy một hoạt động hòa điệu, bằng cách sử dụng những bộ phận đặc biệt và những phương thế thích
ứng với sự hiệp thông và với tinh thần đồng trách nhiệm.
Trách nhiệm đầu tiên của nền mục vụ hướng về các ơn gọi linh mục, đó là trách nhiệm của giám
mục 424 , giám mục được mời gọi đích thân đảm nhận trách nhiệm ấy, ngay cả khi Ngài có thể và phải cổ võ
những nguồn cộng tác đa dạng. Giám mục là một người cha và là một người bạn đối với linh mục đoàn của
mình, trách nhiệm của ngài là phải duy trì cho liên tục đặc sủng và thừa tác vụ linh mục bằng cách kết hiệp
thêm những lực lượng mới nhờ việc đặt tay. Giám mục phải chăm lo cho chiều kích các ơn gọi luôn luôn
hiện diện trong toàn bộ mục vụ bình thường, hơn nữa sao cho chiều kích ấy được hội nhập và được đồng
hóa với mục vụ. Chính giám mục có trách nhiệm cổ võ và điều hợp các sáng kiến dị biệt ấy để mưu ích cho
các ơn gọi 425 .
Giám mục biết rằng, trên tất cả, ngài có thể cậy dựa vào sự cộng tác của linh mục đoàn. Tất cả các linh
mục, cùng với ngài, đều liên đới với nhau, và đồng trách nhiệm với nhau trong việc mưu cầu và trong việc
thăng tiến các ơn gọi linh mục. Thật vậy, như lời quả quyết của Công đồng, “với tư cách là những nhà giáo
dục đức tin, các linh mục có trách nhiệm chăm lo sao cho mỗi Kitô hữu, trong Chúa Thánh Thần, đạt tới sự
triển nở ơn gọi của bản thân mình “ 426 . Và đó là “một bổn phận bắt nguồn từ chính sứ vụ linh mục, nhờ đó
linh mục thông chia mối ưu tư của toàn thể Giáo hội là làm sao, mãi mãi nơi trần thế này, tránh khỏi nạn
thiếu hụt những người thợ trong đoàn dân Thiên Chúa” 427 . Đời sống các linh mục, lòng tận tụy tuyệt đối của
các ngài dành cho dân Thiên Chúa, việc các ngài làm chứng bằng cách phục vụ Chúa và Giáo hội của Chúa
trong tình yêu – đây là một chứng từ in hằn dấu thánh giá, thánh giá được chấp nhận trong hy vọng và trong
niềm vui phục sinh -, sự hòa hợp huynh đệ của các ngài và nhiệt tâm của các ngài trong việc rao giảng Tin
Mừng cho thế giới, đó là những yếu tố đệ nhất và có tính thuyết phục nhất cho thấy các ơn gọi quả thật
phong nhiêu 428 .
Một trách nhiệm rất đặc thù được giao phó cho gia đình Kitô giáo bởi vì, nhờ vào bí tích hôn nhân, gia
đình thông phần một cách đặc biệt và độc đáo vào sứ vụ giáo dục của Giáo hội là Mẹ và là Thầy. Như các
Nghị phụ Thượng hội đồng đã viết, “quả thực như một ‘Giáo hội tại gia’ (Lumen gentium, Giáo Hội, số 11),
gia đình đã luôn cống hiến và còn tiếp tục cống hiến những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các ơn gọi.
Bởi vì, ngày nay, hình ảnh gia đình Kitô giáo đang gặp hiểm họa, cần phải dành một tầm quan trọng lớn lao
cho mục vụ gia đình. Bằng cách ấy, một khi quảng đại đón nhận ơn sự sống con người, chính các gia đình sẽ
trở thành “như thể chủng viện đầu tiên “ (Opta tam totius, Đt, số 2), trong đó các trẻ em sẽ có thể đạt được,
ngay từ buổi đầu, ý thức về đạo đức, về việc cầu nguyện và về tình yêu đối với Giáo hội 429 . Trong dòng liên
tục và hòa điệu với các hoạt động của các cha mẹ và của gia đình, phải kể đến học đường, là bộ phận được
mời gọi sống căn tính “cộng đoàn giáo dục “ của mình với một phương án văn hóa có khả năng chiếu tỏa
ánh sáng trên chiều kích của ơn gọi, xét như là giá trị tự nhiên và cơ bản của con người. Trong chiều hướng
ấy, bằng một đức tin nhất thiết được tô điểm bằng tinh thần Kitô giáo (hoặc nhờ tôn giáo đuợc hiện diện
cách minh nhiên nơi học đường Nhà nước, theo những sự sắp đặt của quốc gia, hoặc nhất là trong học đường
tôn giáo), học đường có thể ghi tạc “vào trong tâm trí các trẻ nhỏ và các thanh thiếu niên niềm khát vọng thi
hành ý Thiên chúa trong bật sống thích hợp nhất cho từng người, mà không bao giờ loại trừ ơn gọi tiến đến
thừa tác vụ linh mục “ 430 .
Các tín hữu giáo dân, cách riêng giáo lý viên, những nhà giảng dạy, những nhà giáo dục, những linh
động viên của mục vụ cho người trẻ, mỗi người tùy theo tài nguyên và khả năng triêng của mình, đóng một
vai trò rất quan trọng trong mục vụ ơn gọn linh mục. Thực vậy, càng đào sâu ý nghĩa của ơn gọi và của sứ
vụ mình trong Giáo hội, họ càng có thể nhận ra giá trị và tính chất bất khả thay thế của ơn gọi và của sứ vụ
linh mục.
Trong khuôn khổ các cộng đoàn giáo phận và giáo xứ, những nhóm suy tư về ơn gọi cần phải được
qúy chuộng và khích lệ. Các thành viên trong các nhóm ấy cống hiến phần đóng góp bằng cầu nguyện và
bằng những khổ đau của mình cho những ơn gọi linh mục và tu sĩ, đồng thời nâng đỡ các ơn gọi ấy về tinh
thần cũng như vật chất.
Ở đây cũng cần phải nhắc tới nhiều nhóm, nhiều phong trào và hiệp hội tín hữu giáo dân mà Chúa
Thánh Thần khởi động và làm tăng trưởng trong Giáo hội, trong tương quan với sự kiện người Kitô hữu hiện
diện một cách thừa sai hơn trong thế giới. Các tổ chức giáo dân ấy được nhìn nhận là một môi trường đặc
biệt giàu ơn gọi tận hiến, như là những địa điểm thực sự thích ứng với việc đề xuất và tăng triển ơn gọi. Thật
vậy, nhiều người trẻ, trong chính khuôn khổ ấy và nhờ vào những hiệp hội ấy, đã nghe được lời Chúa mời
gọi đi theo Ngài trên con đường linh mục thừa tác và đã đáp trả với một lòng quảng đại đáng khích lệ 431 . Bởi
vậy, cần đề cao những tổ chức ấy để, trong sự hiệp thông với toàn thể Giáo hội và nhờ các tổ chức ấy nên
lớn mạnh, các tổ chức ấy đóng góp phần riêng của mình vào sự phát triển mục vụ các ơn gọi.
Những tiếng kêu nài vang vọng từ nhiều phía, những thành phần khác nhau trong Giáo hội dấn thân
cho mục vụ ơn gọi, tất cả hoạt động cho ơn gọi ấy càng trở nên hữu hiệu nếu như càng làm cho cộng đoàn
Giáo hội, khởi từ giáo xứ, hiểu được rằng tuyệt đối không thể đem vấn đề ơn gọi linh mục ủy thác cho một
số “chuyên gia để rồi trút bỏ trách nhiệm trên họ “ (các linh mục nói chung và các linh mục phụ trách chủng
viện nói riêng), nhưng là “ một vấn đề sống còn nằm ngay giữa lòng Giáo hội “ 432 , và rằng cần phải đem đặt
vấn đề ấy vào trong tâm điểm tình yêu của mọi Kitô hữu đối với Giáo hội.
CHƯƠNG V
NGÀI THIẾT LẬP HỌ THÀNH NHÓM MƯỜI HAI ĐỂ HỌ NÊN BẠN ĐỒNG HÀNH VỚI NGÀI
VIỆC ĐÀO TẠO CÁC ỨNG SINH LINH MỤC
Sống nối gót Đức Kitô như các tông đồ
42. “Ngài leo lên núi và Ngài gọi những kẻ Ngài muốn đến với ngài. Họ đã đến với Ngài và Ngài thiết lập
họ thành Nhóm Mười Hai để họ nên bạn đồng hành với Ngài và để họ đi rao giảng, kèm theo quyền xua trừ
ma qủy “ ( Mc 3,13-15 ).
“Để họ nên bàn đồng hành với Ngài” : với những từ này, chúng ta có thể đọc thấy ” sự sát cánh các ơn
gọi " của các Tông đồ, từ phía Đức Giêsu. Sau khi đã kêu gọi họ và trước khi sai họ đi và cũng là để sai họ
đi rao giảng, Đức Giêsu xếp đặt cho họ một thời gian đào tạo nhằm mục đích phát triển mối tương quan hiệp
thông và bằng hữu sâu sa với Ngài. Ngài dành cho họ một nền giáo huấn đi vào chiều sâu (x. Mt 13,11 ) và
Ngài muốn họ nên những người làm chứng về đời cầu nguyện thầm lặng của Ngài với Chúa Cha (x.Ga17,1-
6 ; Lc 22,39-45 ).
Trong sự chăm sóc dành cho các ơn gọi Linh mục, Giáo Hội, thuộc mọi thời đại, tìm nguồn cảm hứng
nơi gương mẫu của Chúa Kitô. Mục vụ các ơn gọi trong Giáo hội đã có và hôm nay vẫn còn có những dạng
thức cụ thể khác biệt nhau, chẳng những nhằm mục đích phân định các ơn gọi Linh mục nhưng còn là sát
cánh với ơn gọi ấy. Tuy nhiều, nhưng tinh thần thôi thúc và nâng đỡ vẫn là một : chỉ sau khi đã đào tạo
những người có ơn gọi một cách đầy đủ mới có thể đưa họ tiến đến chức Linh mục. Mục vụ các ơn gọi cung
cấp cho họ khả năng đáp trả một cách ý thức và tự do và sự đáp trả ấy đưa dẫn toàn thể con người họ đến với
Chúa Giêsu Kitô, Đấng mời gọi họ sống thân tình với Ngài và chia sẻ sứ vụ cứu độ của Ngài. Trong chiều
hướng này, “chủng viện”, dưới nhiều hình thức khác nhau và, một cách tương tự, “cơ sở đào tạo”, các Linh
mục dòng, trước khi là một nơi chốn vật chất, đã là một nơi chốn thiêng liêng, một lộ trình cho cuộc sống,
một bầu khí trợ lực và bảo đảm cho tiến trình đào tạo, nhờ đó giúp người được Thiên Chúa mời gọi tiến đến
chức Linh mục trở thành hình ảnh sống động của Đức Kitô Đầu và mục tử của Giáo hội, qua bí tích truyền
chức Thánh. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã trình bày ý nghĩa nguyên thủy và loại biệt của việc đào tạo
các ứng sinh Linh mục : ” Sống trong chủng viện, trường dạy Tin mừng, có nghĩa là sống nối gót Đức Kitô
như các Tông đồ, có nghĩa là để cho đức Kitô đưa dẫn vào công cuộc phục vụ Chúa Cha và phục vụ nhân
loại, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, và để cho mình nên đồng hình dạng với Đức Kitô Mục Tử
Nhân Lành nhằm mục đích, trong cương vị Linh mục, phục vụ tốt đẹp hơn trong Giáo hội và trong thế giới.
Được đào tạo để làm Linh mục có nghĩa là luyện tập để có thể tự mình trả lời câu hỏi cơ bản của Đức Kitô:
"Con có yêu mến ta không? “Đối với người Linh mục tương lai, câu trả lời chỉ có thể là sự trao hiến trọn
vẹn đời sống mình” 433 .
Vấn đề ở đây là phải tùy vào những điều kiện xã hội, tâm lý chính trị và văn hóa của thế giới hiện nay
mà phiên dịch tinh thần không bao giờ được sao nhãng trong Giáo hội; những điều kiện ấy vốn dị biệt và
phức tạp theo như lời chứng của các Nghị Phụ Hội đồng, trong tương quan với giáo hội địa phương khác
nhau. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng để lộ những mối bận tâm đầy lo âu nhưng đồng thời cũng nêu cao
một nền hy vọng lớn lao, các Ngài đã dành nhiều thời giờ để suy tư về những nỗ lực nghiên cứu và những
nỗ lực thích nghi các phương pháp đào tạo ứng sinh Linh mục, hiện đang được thực hiện trong những Giáo
hội của các ngài.
Tông hiến hiện tại chỉ có ý thâu thập thành qủa các công việc trong Thượng Hội Đồng. Tông Huấn này
muốn xác định một vài điểm đã đạt được, chỉ rõ những mục tiêu không hề bỏ qua, cung ứng cho mọi người
những bước đường đào tạo phong phú đã được thử nghiệm một cách tích cực. Trong Tông huấn này, có sự
phân biệt giữa việc đào tạo “khai đạo” và đào tạo ” trường kỳ”, tuy vậy vẫn không bao giờ coi nhẹ mối liên
hệ sâu sa nối kết chúng nên một và làm cho cả hai thành một lộ trình duy nhất cho cuộc sống Kitô hữu và
linh mục. Tông huấn bàn về những chiều kích khác biệt trong nền đào tạo nhân bản, thiêng liêng, tri thức và
phục vụ, cũng như bàn về các môi trường và những chủ thể có trách nhiệm đào tạo các ứng sinh.
I. CÁC CHIỀU KÍCH CỦA VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC
Đào tạo nhân bản, nền tảng của mọi nền đào tạo linh mục
43. “Không có đào tạo nhân bản thỏa đáng, thì việc đào tạo Linh mục trong toàn bộ sẽ thiếu hụt mất nền
tảng cần thiết ” 434 . Lời khẳng định này của các Nghị Phụ thượng Hội Đồng không chỉ nói lên một dữ kiện mà
lý trí quen gợi lên và kinh nghiệm vẫn thường xác nhận : đó còn là một đòi buộc mà nguyên do sâu xa nhất
và loại biệt nhất nằm ngay trong chính bản chất của Linh mục và của thừa tác vụ Linh mục. Được mời gọi
trở nên ” hình ảnh sống động ” của Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử, Linh mục cần phản ánh nơi chính mình,
trong mức độ có thể, sự thành toàn nhân ban có thể được rạng chiếu nơi con Thiên Chúa làm người và như
được nhìn xuyên thấu qua các thái độ đầy hiệu năng của ngài đối với tha nhân, đúng như lời diễn tả của các
sách Tin mừng. Chắc hẳn thừa tác vụ linh mục bao gồm việc loan báo lời Chúa, cử hành các bí tích, điều
hành cộng đoàn Kitô hữu ” nhân danh và thay mặt Đức Kitô”, nhưng tất cả những công việc ấy luôn luôn là
để nhắm tới những con người cụ thể : “thật vậy, được cất nhắc từ giữa loài người, mọi vị Thượng tế đều
được đặt lên để can thiệp cho loài người trong những mối quan hệ giữa loài người với Thiên chúa “( Dt 5,1
). Chính vì thế, việc đào tạo nhân bản cho người linh mục mặc một tầm quan trọng riêng biệt vì lý do linh
mục phải quan hệ với những người đón nhận sứ vụ của mình. Thật vậy, để cho thừa tác vụ Linh mục được
dễ tin hơn và dễ đón nhận hơn xét theo phương diện nhân bản, Linh mục cần phải trau dồi nhân cách của
mình sao cho mình trở nên một ” nhịp cầu ” chớ không phải một chướng ngại vật cho tha nhân trong việc
gặp gỡ Đức Giêsu Kitô Đấng cứu chuộc loài người. Noi gương Đức Giêsu là Đấng ” biết được những điều
chất chứa trong lòng người” ( Ga 2,25; x. 8,3-11 ), linh mục cần có một hiểu biết sâu xa lòng trí con người,
trực giác được những khó khăn và những vấn đề, tạo điều kiện dễ dàng cho sự gặp gỡ và đối thoại, đạt được
lòng tin cậy và sự cộng tác, phát biểu được những phán đoán những phán đoán lành mạnh và khách quan.
Như thế, không phải chỉ vì đạt được một sự triển nở cần thiết và chính đáng và để tự thể hiện chính
mình, nhưng còn vì để thi hành thừa tác vụ linh mục mà các linh mục tương lai cần phải vun trồng một tập
hợp những đức tính nhân bản, cần thiết cho sự kiến tạo những nhân cách quân bình mạnh mẽ và tự do: chính
vì để có khả năng chịu đựng sức nặng của các trách nhiệm mục vụ. Bởi đó có nhu cầu được giáo dục về lòng
yêu mến chân lý, về sự chân thành, về sự tôn trọng nhân vị đối với mọi người, về ý thức công bằng, về chữ
tín trong lời nói, về lòng trắc ẩn thực thụ, về tính nhất quán, cách riêng về sự quân bình trong phán đoán và
trong cách cư sử 435 . Trong thư gởi tín hữu Philipphê, Thánh Tông Đồ Phaolô đề nghị một chương trình vừa
đơn giản vừa đòi hỏi cho việc đào tạo nhân bản : ” Tất cả những gì là chân thật, là cao thượng, là công minh,
là trong trắng, là dễ mến, là đáng kính phục, tất cả những gì được coi là tốt đẹp về mặt nhân đức nhân bản và
về những điều được người đời ca ngợi, anh em hãy chú trọng tất cả những điều ấy” (Ph 4,8). có điều thú vị
đáng nghi nhận, đó là thánh Phaolô, ngay trong đức tính thật sự nhân bản của Ngài, lại đưa chính mình ra
làm mẫu mực cho các tín hữu, ngài nói tiếp ngay sau đó: “những gì anh em đã học, đã lãnh nhận, đã nghe
về tôi và đã nhận thấy nơi tôi, anh em phải đem ra thực hành” ( Pl 4,9 ).
Tương quan với tha nhân mang một tầm quan trọng đặc thù. Đó là một yếu tố thật sự thiết yếu đối với
người được mời gọi lãnh nhận trách nhiệm trên một cộng đoàn và trở thành ” con người của hiệp thông”.
Điều này đòi hỏi linh mục không được tự cao, không được cau có nhưng phải nhã nhặn, niềm nở, chân thành
trong lời nói cũng như trong lòng 436 khôn ngoan và thận trọng, quảng đại và sẵn sàng phục vụ, có khả năng
thiết lập với tha nhân và khơi dậy nơi tha nhân mối quan hệ chân thành và huynh đệ, mau cảm thông và an
ủi ( x.1Tm 3,1-5; Tt 1,7-9 ). Thường bị xô đẩy vào tình trạng vừa ô hợp vừa cô độc, nhất là nơi những chỗ
tập trung đông đúc ở thành thị, nhân loại ngày nay càng ngày càng nhạy cảm đối với sự hiệp thông là một
trong những dấu chỉ hùng hồn nhất và là một trong những đường lối hữu hiệu nhất của sứ điệp Tin mừng.
Đào tạo cho ứng sinh linh mục có được sự trưởng thành về cảm tính, trong một bối cảnh như hiện nay,
là một yếu tố quan trọng và mang tính định đoạt, là tìm cách làm cho bước đường giáo dục thật sự đạt đến
một tình yêu chân thực và hữu trách.
44. Sự trưởng thành về mặt cảm tính giả thiết đã đạt được ý thức về vị trí trung tâm của tình yêu trong cuộc
sống con người. Thực ra, như tôi đã viết trong thông điệp Redemptor hominis, ” con người không thể sống
mà không có tình yêu. Con người sẽ mãi mãi không hiểu được chính mình, cuộc đời con người sẽ mất hết ý
nghĩa nếu con người không đón nhận mạc khải về tình yêu, nếu con người không gặp được tình yêu, nếu con
người không thủ nghiệm tình yêu, nếu con người không biến tình yêu thành của mình, nếu con người không
thông phần mạnh mẽ vào tình yêu” 437 .
Tình yêu được đề cập ở đây là một tình yêu bao gồm toàn thể con người, trong những chiều kích và
những cấu tố thể lý, tâm lý và thiêng liêng của con người, được diễn đạt trong “ý nghĩa hôn ước ” của thân
thể con người, nghĩa là nhờ thân thể, con người tự trao hiến mình cho người khác và đón nhận người khác.
Một nền giáo dục phái tính hiểu một cách đúng đắn sẽ hướng đến chính nỗ lực hiểu biết và thể hiện tình yêu
nhân linh ấy trong ” chân lý” của nó. Ngày nay, người ta ghi nhận một tình huống xã hội và văn hóa xô bồ
trong đó” đại đa số tầm thường hóa tính dục con người, cắt nghĩa tính dục con người một cách giản lược và
nghèo nàn, chỉ đem móc nối tính dục với thân xác và với lạc thú ích kỷ” 438 . Về phương diện này, ngay chính
những gia đình làm nơi phát xuất ơn gọi linh mục cũng rơi vào những tình huống trong đó có những hụt
hẫng đáng kể và đôi khi những bất bình nghiêm trọng.
Trong một bối cảnh như thế, điều khó hơn nhưng cũng bức bách hơn, đó là bảo đảm có được một nền
giáo dục về tính dục thật sự và trọn vẹn thiết thân cho từng cá nhân, một nền giáo dục dẫn đến sự qúy
chuộng cũng như lòng yêu mến đức khiết tịnh, “là nhân đức phát huy sự trưởng thành chính hiệu của ngôi
vị nhân linh, làm cho con người có khả năng tôn trọng và thăng tiến " ý nghĩa hôn ước ” của thân xác 439 .
Giáo dục cho con người có được tình yêu hữu trách và làm cho con người trưởng thành về cảm tính là
những gì tuyệt đối cần thiết cho người được mời gọi, như linh mục, sống bậc độc thân, nghĩa là được mời
gọi, với ân sủng của Chúa Thánh Thần và nhờ sự đáp trả tự do bằng ý muốn của riêng mình, hiến dâng toàn
thể tình yêu và lòng ân cần của mình cho Đức Giêsu Kitô và cho Giáo hội. Nhằm mục đích dấn bước sống
độc thân, sự trưởng thành về mặt cảm tính phải có thể hội nhập vào trong những mối quan hệ nhân sinh, như
tình bạn lành mạnh và tình huynh đệ sâu xa, một tình yêu nồng nhiệt, sắc bén và tự thân đối với Đức Giêsu
Kitô. Như các Nghị Phụ Thượng Hội đồng đã viết, "tình yêu của Đứu Kitô, được nối dài bằng hy tế hiến
dâng chính mình mang chiều kích hoàn vũ, phải chiếm giữ tầm quan trọng bậc nhất trong việc phát động sự
trưởng thành về mặt cảm tính. Chính nhờ đó mà ứng sinh được mời gọi sống độc thân sẽ tìm được nơi sự
trưỏng thành về mặt cảm tính một chỗ dựa vững chắc để sống khiết tịnh một cách trung tín và vui vẻ " 440 .
Dẫu có là chính hiệu và tôi luyện, đặc sủng độc thân vẫn giữ nghiêng chiều của cảm tính và những
thúc đẩy của bản năng: do đó, các ứng sinh linh mục rất cần đến một sự trưởng thành về cảm tính, nhờ đó
mới có khả năng sống thận trọng, từ khước tất cả những gì làm phương hại sự trưởng thành ấy, biết cảnh
tỉnh về thể xác cũng như tinh thần, có được thái độ quí chuộng và tôn trọng trong những tương quan liên vị
giữa nam và nữ. Có thể góp thêm vào đó một sự trợ giúp qúi giá từ một nền giáo dục thích nghi cho tình bạn
đích thực, theo gương những mối giây trìu mến huynh đệ mà chính Đức Kitô đã thể hiện trong cuộc sống
trần thế của Ngài ( x.Ga 11,5 ).
Sự trưởng thành nhân bản và cách riêng sự trưởng thành về mặt cảm tính đòi hỏi một nền đào tạo
trong suốt và cương nghị nhắm đến tự do, để cho tự do mặc lấy những sắc thái của một sự tuân phục vừa xác
tín vừa chân tình đối với " sự thật " của con người mình, đối với ý nghĩa của con người mình một cách chân
thành, lấy đó làm đường lộ và làm cốt lõi cơ bản cho sự thể hiện bản thân chính hiệu 441 . Hiểu như thế, tự do
đòi hỏi con người phải thực sự làm chủ chính mình, dứt khoát chiến đấu và thắng vượt mọi hình thái vị kỷ
và cá nhân chủ nghĩa vốn đe dọa đời sống mỗi người, mau mắn cởi mở đối với tha nhân, quảng đại trong sự
tận tụy và trong việc phục vụ đối với tha nhân. Tất cả những điều ấy đều quan trọng để có thể đáp trả ơn gọi,
đặc biệt ơn gọi linh mục, để có thể trung thành với ơn gọi và với những cam kết với ơn gọi, nhất là trong
những giai đoạn khó khăn. Đời sống cộng đoàn trong chủng viện có thể góp thêm phần trợ lực để cho việc
giáo dục tạo được bước tiến hướng đến một sự tự do chín muồi và co trách nhiệm 442 .
Giáo dục về lương tâm luân lý làm một công việc mật thiết gắn liền với việc đào tạo tự do hữu trách.
Từ nơi cái “tôi” sâu thẳm, lương tâm luân lý cổ võ sự vâng phục trước những điều buộc luân lý; đồng thời
lương tâm luân lý vén mở ý nghĩa thâm sâu của sự vâng phục ấy: một sự đáp trả có ý thức và tự do, bởi đó
có động lực là tình yêu, trước những lời yêu cầu của Thiên Chúa và của tình yêu Ngài. Các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng viết : ” sự trưởng thành nhân bản của linh mục phải đặc biệt bao hàm việc đào tạo luơng
tâm linh mục. Thật vậy, để cho ứng sinh có thể trung thành thỏa đáp những ràng buộc của mình đối với
Thiên Chúa, đối với Giáo hội và có thể hướng dẫn luơng tâm các tính hữu một cách khôn ngoan, ứng sinh
cần phải tạo thói quen lắng nghe tiếng Chúa ngỏ với mình trong lòng và cần phải gắn bó vào thánh ý Ngài
với tình yêu và lòng kiên quyết ” 443 .
Đào tạo thiêng liêng : hiệp thông với Thiên Chúa và tìm gặp Đức Kitô.
45. Việc đào tạo nhân bản ấy, nếu được phát triển trong bối cảnh của một nền nhân học thừa nhận sự thật
trọn vẹn về con người, sẽ khai mở và bổ khuyết cho việc đào tạo thiêng liêng. Được Thiên Chúa tạo dựng và
được máu Đức Kitô cứu chuộc, mọi người đều được mời gọi tái sinh ” bởi nước và Thần Khí” ( Ga.3,5 ) và
trở nên ” con trong Con “. Chính trong kế hoặch cứu độ ấy của Thiên Chúa mà chúng ta tìm gặp chiều kích
tôn giáo, là yếu tố cấu thành con người, chiều kích ấy vốn được khám phá và nhìn nhận bởi lý trí đơn thuần :
con người hướng mở về cái siêu việt, về cái tuyệt đối; tâm hồn con người khắc khoải mãi cho tới khi an nghỉ
trong chúa 444 .
Tiến trình giáo dục dành cho đời sống thiêng liêng, hiểu như là tương quan và hiệp thông với Thiên
Chúa, lấy nhu cầu cơ bản và bất khả hủy diệt ấy làm nguồn mạch và được phát triển trong nhu cầu đó. Dựa
theo Mạc Khải và kinh nghiệm Kitô giáo, việc đào tạo thiêng liêng tìm được tính chất độc đáo độc nhất vô
nhị trong sự mới mẻ của Tin mừng. thực ra, ” việc đào tạo ấy là công việc của chúa Thánh Thần, đòi hỏi con
người toàn diện phải dấn thân; việc đào tạo ấy dẫn vào sự hiệp thông sâu xa với Đức Giêsu Kitô Mục Tử
Nhân Lành; việc đào tạo ấy hướng dẫn cho toàn thể cuộc sống tuân phục Chúa Thánh Thần, bằng một thái
độ hiếu thảo đối với Đức Chúa Cha và bằng một sự gắn bó tính thác đới với Giáo hội. Việc đào tạo thiêng
liêng bén rễ trong kinh nghiệm Thập giá để rồi có thể đưa dẫn, bằng một sự hiệp thông sâu xa, vào trong
toàn thể mầu nhiệm Vượt qua ” 445 .
Như chúng ta nhận thấy, đào tạo thiêng liêng ở đây là đào tạo chung cho mọi tín hữu, việc đào tạo ấy
còn cần phải được cơ cấu hóa tùy theo ý nghĩa và đặc tính phát xuất từ căn tính của linh mục. Đối với mọi
tín hữu, đào tạo thiêng liêng phải là việc trung tâm và phải tạo sự thống nhất giữa con Hitô hữu với đời sống
Kitô hữu, nghĩa là sự thống nhất giữa mọi tạo vật mới trong Đức Kitô đang tấn tới trong Chúa Thánh Thần.
Cùng một cách thức ấy, đối với mọi linh mục, việc đào tạo thiêng liêng phải là ta “tâm điểm”, phải tạo sự
thống nhất cũng như sức sống cho “hữu thể”, và ” hành dộng “của linh mục. Trong chiều hướng ấy, các Nghị
Phụ Thượng Hội Đồng qủa quyết rằng “thiếu đào tạo thiêng liêng, việc đào tạo mục vụ sẽ không còn nền
tảng” 446 và rằng việc đào tạo thiêng liêng chính là “yếu tố quan trọng nhất trong việc đào tạo linh mục ” 447 .
Sắc lệnh công đồng Optatam totius đã trình bày khá rõ nét những gì là thiết yếu đuợc hàm chức trong
việc đào tạo thiêng liêng nhằm giúp có được lộ trình ấn định cho việc tiến tới chức linh mục: “phải cung ứng
một nền đào tạo thiêng liêng sao cho các chủng sinh được chuẩn bị sống trong sự hiệp thông liên lỉ và thân
tình với Chúa Cha, nhờ con Ngài là Đức Giêsu, trong Chúa Thánh Thần. Hướng đến việc mô phỏng Đức
Giêsu Linh mục nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, các chủng sinh phải tập làm quen để gắn bó với Ngài như
những người bạn bằng một đời sống tâm phúc với Ngài trọn vẹn. Các chủng sinh phải sống mầu nhiệm vượt
qua của Ngài làm sao có thể đưa dẫn toàn dân sẽ dược giao phó cho mình vào trong mầu nhiệm ấy. Phải dạy
cho các chủng sinh biết tìm kiếm Đức Kitô bằng cách trung thành suy niệm lời Chúa, bằng cách tích cực
hiệp thông với các mầu nhiệm rất Thánh của Giáo hội, trước hết qua Bí tích Thánh thể và Thần vụ. Các
chủng sinh phải tìm kiếm đức Kitô nơi Giám mục là người sai phái mình nơi những con người mà mình
được sai phái đến, nhất là nơi những người nghèo, những người bé nhỏ, những người yếu đau, những người
tội lỗi và những người không tin. Với niềm cậy tin hiếu thảo, các chủng sinh phải tôn kính và yêu mến Đức
Trinh Nữ Maria diễm phúc mà khi hấp hối trên Thập giá Đứ c Giêsu Kitô đã ban cho người môn đệ yêu dấu
để làm mẹ của mình” 448 .
46. Bản văn công đồng trên đây đáng cho chúng ta để tâm suy niệm. Chúng ta có thể dễ dàng phân định ở dó
một số giá trị và đòi buộc cơ bản liên quan đến hành trình thiêng liêng được đề nghị cho ứng sinh, linh mục.
Điều được nhận ra tiên vàn, đó là giá trị và đòi buộc của một “đời sống mật thiết kết hiệp” với Đức
Giêsu Kitô. Được xây dựng trên Bí tích Rửa tội và được nuôi dưỡng bằng Bí tích Thánh thể, sự hiệp nhất
với Chúa Giêsu phải tỏ lộ bằng một cuộc canh tân triệt để, trong đời sống mỗi ngày. Sự hiệp thông mật thiết
với Chúa Ba Ngôi, nghĩa là đời sống mới trong ân sủng với quyền làn con Thiên Chúa, nói lên “tính chất
mới mẻ” của người tính hữu, tính chất mới mẻ này lan tỏa đến hữu thể và hành động. Đời sống mới ấy chính
là huyền nhiệm của đời sống Kitô hữu được đặt dưới sinh khí của Chúa Thánh Thần ; bởi đó, đời sống mới
ấy phải làm thành cái gọi là “ego” của đời sống người Kitô hữu. Về những điều được hàm chứa cách kỳ diệu
trong đời sống Kitô hữu, được coi như là tâm điểm của đời sống thiêng liêng, theo như vừa trình bày, Đức
Giêsu đã giảng dạy cho chúng ta ám dụ cây nho và ngành nho: ” Thầy là cây nho đích thật và Cha Thầy là
người trồng nho…. Anh em hãy ở trong Thầy, như Thầy ở trong anh em. Cũng như ngành nho tự mình
không thể kết trái nếu không gắn liền với thân nho, anh em cũng vậy, nếu anh em không ở trong Thầy. Thầy
là cây nho, anh em là ngành. Người nào ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa
trái; bởi vì lìa khỏi Thầy anh em sẽ không làm được gì” (Ga 15.1.4-5).
Trong văn hóa hiện đại, các giá trị tinh thần và tôn giáo không thiếu và con người, mặc cho những
dáng vẻ bên ngoài, vẫn cứ triền miên đói khát Thiên Chúa. Nhưng thường Kitô giáo có nguy cơ bị coi như là
tôn giáo trong số các tôn giáo, hoặc bị giản luợc vào nền đạo đức xã hội thuần túy nhằm phục vụ con người.
Bởi đó, không phải lúc nào người ta cũng nhận ra được tính chất mới mẻ có sức làm đảo lộn cuộc sống của
Kitô giáo trong lịch sử: Kitô giáo là một mầu nhiệm, là biến cố con Thiên Chúa làm người và ban cho những
kẻ đón nhận Ngài “quyền” trở nên Con Thiên Chúa (Ga 1,12 ); là sự loan báo và con là sự ban tặng một giao
ước tình yêu và sự sống được ký kết giữa Thiên Chúa và con người, các linh mục tương lai chỉ có thể truyền
đạt tin diệu vời và nguồn hạnh phúc ấy cho người khác (x.1Ga 1,1-14) nếu họ đạt được cho chính họ một sự
hiểu biết sâu xa cùng với những tiến bộ kinh nghiệm về “mầu nhiệm”, nhờ vào một nền đào tạo thiêng liêng
thích ứng.
Trong khi nêu bật tính chất siêu việt của mầu nhiệm Kitô giáo, bản văn Công đồng còn trình bày sự
thông hiệp của các linh mục với Đức Giêsu, thậm chí còn điểm thêm sắc thái của tình bằng hữu. Vấn đề ở
đây không phải là một kỳ vọng phi lý của con người. Đây chỉ đơn thuần là quà tặng vô giá của Đức Kitô như
Ngài đã nói với các Tông Đồ:” Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ, bởi vì tôi tớ không biết việc chủ làm;
nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, bởi vì tất cả nhữg gì Thầy nghe biết nơi Cha Thầy thì Thầy đã truyền đạt
cho anh em” ( Ga 15,15).
Trong phần kế tiếp, bản văn Công Đồng trưng dẫn một giá trị thiêng liêng khác không kém quan
trọng: đó là việc tìm gặp Đức Giêsu.” Phải dạy cho các chủng sinh biết tìm gặp Đức Kitô”. Với điều gọi là
quaerere Deum, đây là một đề tài cổ điển của nền tu đức Kitô giáo lấy ơn gọi của các Tông đồ làm mẫu mực
để minh họa. Khi tường thuật về cách thức mà hai môn đệ đầu tiên đã đi theo Dức Giêsu, thanh Gioan đã
đưa ra ánh sáng vị thế mà cuộc” tìm gặp” ấy chiếm giữ. Chính Đức Giêsu là người đặt câu hỏi:” Các anh tìm
gì ?”và cả hai đã trả lời:”thưa Thầy, Thầy ở đâu?”tác giả Tin mừng viết tiếp:”Ngài nói với họ:”Hãy đến mà
xem.” Họ đã đến và xem thấy nơi Ngài ở và họ ở lại với Ngài ngày hôm đó” (Ga 1,37-39). Bởi đó, đời sống
thiêng liêng của người chuẩn bị bước vào chức linh mục được chi phối bởi cuộc tìm gặp ấy: tìm và “gặp”
Thầy, theo Ngài và ở lại với Ngài. Trong thừa tác vụ và đời sống linh mục, cần phải tiếp tục cuộc tìm gặp
ấy, bởi vì mầu nhiệm noi gương Đức Kitô và thông dự vào đời sống Ngài thì bất tận. Cũng vậy, cần phải
tiếp tục gặp Thầy để rồi giới thiệu Ngài cho người khác và hơn nữa, khơi dậy nơi người khác lòng khao khát
tìm kiếm Thầy. Thế nhưng chỉ có thể thực sự làm được việc này nếu đem đề nghị cho người khác một kinh
nghiệm sống, một kinh nghiệm đáng đem chia sẻ. Đó là đường lối mà Anrê đã chọn để dẫn anh mình là
Simon đến với Đức Giêsu theo lời thánh Gioan tác giả tin mừng, Anrê gặp anh mình là Simon lúc tảng sáng
và nói với anh:”chúng tôi đã gặp Đấng Mesia-nghĩa là Đức Kitô. Anrê dẫn anh mình đến với Đức Giêsu”.
Bằng cách đó, cả Simon cũng đã được mời gọi làm Tông đồ đi theo Đấng Mesia:”Đức Giêsu nhìn Simon và
nói:”anh là Simon, con ông Gioan; anh sẽ được gọi là Kêpha”-nghĩa là đá” (Ga 1,41-42)
Thế nhưng trong đời sống thiêng liêng, tìm kiếm Đức Kitô có nghĩa là gì? Gặp Ngài ở đâu?”Thưa
Thầy, Thầy ở đâu?” sắc lệnh công đồng Optatam Totius dường như chỉ dẫn ba con đường phải trải qua:
Trung thành suy niệm lời Chúa, tích cực tham dự các mầu nhiệm thánh trong Giáo hội, phục vụ trong đức ái
đối với những người” bé mọn”. Đó chính là ba giá trị và đòi buộc cao cả xác định nội dung hàm chứa trong
nền đào tạo thiêng liêng dành cho các ứng sinh linh mục.
47. Đọc lời Chúa trong suy niệm và cầu nguyện (Lectio divina), đồng thời khiêm nhượng và qúy trọng lắng
nghe người phát biểu, đó là một yếu tố thiết cốt trong việc đào tạo thiêng liêng. Quả thật, chính trong ánh
sáng và sức mạnh của Lời Chúa mà mỗi người có thể khám phá, hiểu, yêu mến và theo đuổi ơn gọi cũng như
chu toàn sứ vụ của mình. Chính khi trở thành đích điểm của Lời Thiên Chúa là Đấng mời gọi con người và
trở thành khởi điểm(nguyên lý) của lời con người là kẻ đáp lại Lời Thiên Chúa, mà cuộc sống con người đạt
được ý nghĩa tròn đầy và cơ bản. Nhờ thân mật với Lời Chúa mà tiến trình hoán cải trở nên dễ dàng, hiểu
theo hai nghĩa: chẳng những bỏ điều dữ để gắn bó với điều lành nhưng còn làm cho tư tưởng Thiên Chúa
được lớn lên trong tâm hồn. Với tính cách đáp lại Lời Chúa, đức tin lúc ấy trở thành tiêu chuẩn mới để giúp
phán đoán và đánh giá con người và sự việc, các biến cố và các vấn đề.
Tất cả những điều ấy, với điều kiện là Lời Chúa được nghe và đón nhận theo đúng bản chất đích thực,
bởi vì Lời Chúa giúp gặp gỡ chính Thiên Chúa, một Thiên Chúa ngỏ lời với con người;Lời Chúa giúp gặp
gỡ Đức Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, Sự Thật, cũng là Đường và là Sự Sống (x.Ga 14,6). Cần phải đọc “sách
thánh” bằng cách lắng nghe “những lời nói”, lắng nghe “Lời” của Thiên Chúa, như lời nhắc nhở của công
đồng :”Các sách thánh chứa đựng Lời Thiên Chúa và bởi vì các sách ấy đều được linh hứng nên đều thật sự
là Lời Thiên Chúa” 449 . Công đồng còn nói:”Bằng việc mạc khải ấy, Thiên Chúa vô hình
(x.Cl.1,15;1Tm.1,17), trong tình yêu bao la của Ngài, ngỏ lời với loài người như với những người bạn (x.Xh
33,11;Ga 15,14-15), Ngài đàm đạo với họ(x.Br 3,38) để mời gọi họ và chấp nhận cho họ được thông chia sự
sống thuộc về ngài” 450 .
Tiếp cận Lời Chúa một cách mật thiết và ngập tràn tình yêu, bằng việc cầu nguyện: đó là công việc hết
sức đặc biệt đối với thừa tác vự ngôn sứ của linh mục; đó là điều kiện tất yếu để linh mục có thể thi hành
thừa tác vụ ấy một cách xứng hợp,nhất là trong bối cảnh của công cuộc “Phúc âm hoá mới” trong giáo hội
ngày nay.theo lời mời gọi của công đồng,” Tất cả các giáo sĩ,nhất là các linh mục của Đức Kitô, và tất cả
những ai một cách bình thường tham gia thừa tác vụ Lời Chúa, các phó tế và các giáo lý viên, cần phải
chuyên chăm đọc Kinh Thánh như một loại sách thiêng liêng và đào sâu Kinh thánh, để đừng có ai trong họ
phải trở nên kẻ làm công việc giảng thuyết Lời Chúa bên ngoài cách hảo huyền, trong khi tự thâm tâm lại
chẳng lắng nghe (Thánh Augustinô, Serm.179,1:PL 38,966)” 451 .
Cầu nguyện là cách đáp trả cơ bản đối với Lời Chúa và cầu nguyện chắc chắn là một giá trị và một đòi
buộc tiên khởi trong việc đào tạo thiêng liêng. Việc đào tạo thiêng liêng phải đưa dẫn các ứng sinh Linh mục
để họ nhận biết và thực nghiệm ý nghĩa chính hiệu của kinh nghiệm Kitô giáo: là một cuộc gặp gỡ sống
động và cá vị với Chúa Cha, nhờ Con độc nhất của Ngài với tác động của Chúa Thánh Thần, là một cuộc đối
thoại được trở thành việc thông phần vào cuộc đối thoại phụ tử giữa Đức Giêsu với Cha Ngài. Đàng khác,
còn một khía cạch không kém quan trọng trong sứ vụ linh mục, đó là linh mục phải là “nhà giáo dục về cầu
nguyện”. Thế nhưng người linh mục chỉ có thể đào tạo người khác theo trường học của Đức Giêsu cầu
nguyện nếu chính linh mục đã được đào tạo và còn tiếp tục tự đào luyện trong trường học ấy. Đó chính là
điều mà người đời đòi hỏi nơi người linh mục: Linh mục là người của Thiên Chúa là người thuộc về Thiên
Chúa và làm cho người ta suy nghĩ về Thiên Chúa. Khi nói về Đức Kitô, thư gởi tín hữu Do thái trình bày
Đức Kitô như một “Vị Thượng Tế nhân ái và trung thành trong những sự việc liên can tới Thiên chúa” (Dt
2,17) …Các Kitô hữu hy vọng gặp được nơi linh mục chẳng những một con người đón tiếp họ, bằng lòng
lắng nghe họ, bày tỏ cho họ một mối thiện cảm nào đó, nhưng còn là và nhất là một con người giúp đỡ họ
ngắm nhìn Thiên Chúa, tiến lên về phía Thiên Chúa. Bởi đó, linh mục cần được đào tạo cho có một thâm
tình với Thiên Chúa. Những người chuẩn bị làm linh mục phải hiểu được rằng toàn thể giá trị đời sống linh
mục của họ lệ thuộc vào sự trao hiến chính mình mà họ sẽ có thể thực hiện cho Đức Kitô và, nhờ Đức Kitô,
cho Đức Chúa Cha” 452 .
Trong một bối cảnh náo động và ồn ào như bối cảnh xã hội chúng ta, nền sư phạm cần thiết cho việc
cầu nguyện phải bao gồm việc giáo dục nhằm đạt được một cảm nhận sâu sắc về con người, nhằm nhận thức
được giá trị tôn giáo của sự thinh lặng, là bầu khí thiêng liêng cần có để có thể nhận ra sự hiện diện của
Thiên Chúa và để cho sự hiện diện của Thiên Chúa có thể xâm chiếm mình (x.1V 19,11-12).
48. Chóp đỉnh của kinh nguyện Kitô giáo chính là bí tích Thánh Thể, bí tích này, đến lượt mình, lại là “chóp
đỉnh và nguồn mạch” của mọi bí tích và của Phụng vụ các giờ kinh. Giáo dục phụng vụ hiểu theo nghĩa tròn
đầy là một sự hội nhập đời sống vào mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, đã chết và sống lại, đang hiện diện và hành
động trong các bí tích của Giáo hội: Việc giáo dục này là tuyệt đối cần thiết đối với nền đào tạo thiêng liêng
của mọi Kitô hữu và cách riêng của mọi linh mục. Các bí tích mang lại ân huệ và hoa quả là sự hiệp thông
với Thiên Chúa, trung tâm của toàn thể đời sống thiêng liêng. Sự hiệp thông với Thiên Chúa đồng thời là
một bổn phận và một trách nhiệm mà các bí tích chuyển thông cho tự do của người tín hữu, để rồi sự thông
hiệp ấy gợi hứng cho những quyết định, những lựa chọn, những thái độ và những hoạt động trong cuộc sống
thường ngày. Trong chiều hướng ấy, “ân sủng” làm cho đời sống Kitô hữu nên “mới” chính là Đức Giêsu
Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại, hiện tiếp tục tuôn đổ Thần Khí của Ngài qua các bí tích, Thần Khí thánh
thiện và thánh hóa. Cũng vậy, “luật mới” có trách nhiệm hướng dẫn và chỉnh đốn cuộc sống người Kitô hữu,
luật ấy được các bí tích khắc ghi trong “trái tim mới”. Đó là luật bác ái đối với Thiên Chúa và đối với anh
em, là sự đáp trả và nối dài đức ái của Thiên Chúa đối với con người, một đức ái được ám chỉ và được thông
ban qua các bí tích. Nhờ đó, chúng ta hiểu được giá trị của một sự tham dự “trọn vẹn, ý thức và tích cực” 453
vào việc cử hành các bí tích, nhằm mục đích đón nhận và đem ra thực hành ơn “đức ái mục vụ” vốn là linh
hồn của thừa tác vụ linh mục.
Đáng kể hơn cả là việc tham dự vào bí tích Thánh Thể, tưởng niệm hy lễ, cái chết và sự Phục sinh vinh
hiển của Đức Giêsu Kitô, “bí tích sùng mộ, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bái ái” 454 , bữa tiệc vượt qua trong đó
Đức Kitô được đón nhận làm của ăn, linh hồn được ngập tràn ân sủng và vinh quang mai ngày như đã được
tặng ban cho chúng ta 455 . Trong khi đó, với tư cách là thừa tác viên của những sự việc linh thánh, các linh
mục trên hết là thừa tác viên của Hiến Tế Thánh Lễ: 456 vai trò của các ngài là tuyệt đối cần thiết bởi vì,
không có linh mục, không thể có hiến tế tạ ơn.
Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng thiết yếu của bí tích Thánh Thể đối với đời sống và thừa tác vụ linh
mục và bởi đó đối với nền đào tạo các ứng sinh linh mục một cách hết sức đơn sơ và để cho thật cụ thể, tôi
xin lặp lại: “Điều cần thiết phù hợp cho các chủng sinh, đó là họ tham dự hằng ngày việc cử hành bí tích
Thánh Thể, làm thế nào để sau này họ coi việc cử hành thường nhật ấy như là quy luật trong cuộc đời linh
mục của họ. Ngoài ra, cần phải dạy cho các chủng sinh biết quan niệm cử hành Thánh Thể như nhịp sống
thiết yếu của một ngày. Họ phải tham dự việc cử hành ấy một cách tích cực, không bao giờ bằng lòng với
việc có mặt vì thói quen thuần tuý. Sau cùng các ứng sinh linh mục phải được đào tạo để có những tâm tình
sâu kín nhờ bí tích Thánh Thể làm nảy sinh: đó là tâm tình tri ân đối với những ân phúc lãnh nhận từ Trời
bởi vì bí tích Thánh Thể là một cuộc tạ ơn; thái độ hiến dâng nhờ đó được thúc đẩy kết hợp của lễ chính
mình với của lễ tạ ơn của Đức Kitô; đức ái, được nuôi dưỡng bằng một bí tích vốn là dấu chỉ hiệp nhất và
chia sẻ; khát vọng chiêm ngắm và thờ lạy đối diện với Đức Kitô thực sự hiện diện trong các hình bánh và
rượu” 457 .
Điều khẩn cấp hơn bao giờ hết là phải giúp khám phá lại, giữa lòng nền đào tạo thiêng liêng, vẻ đẹp và
niềm vui của bí tích thống hối. Quả vậy, nền văn hóa của chúng ta, với cuộc canh tân những hình thái tự
biện hộ chính mình cách tinh vi nhất, có nguy cơ đánh mất “ý thức về tội”và, do đó, đánh mất niềm vui có
sức an ủi do việc cầu xin ơn tha thứ (x. Tv 51/50,14 và việc gặp gỡ Thiên Chúa “giàu lòng thương xót”(Ep
2,4). Do vậy, thật là cần thiết phải giáo dục các linh mục tương lai sao có được nhân đức thống hối mà Giáo
Hội khéo léo gọi mời trong các cuộc cử hành và trong những dịp quan trọng của năm phụng vụ, nhân đức ấy
đạt được trong tầm mức trọn vẹn trong bí tích Hòa giải. Từ đó phát sinh ý thức về sự khổ chế và về kỷ luật
nội tâm, phát sinh tinh thần hy sinh và từ bỏ, thái độ chấp nhận gian khổ và thập giá. Các yếu tố ấy trong đời
sống thiêng liêng thường gây nhiều khó khăn đáng kể cho các ứng sinh linh mục, nhất là các ứng sinh đã lớn
lên trong những điều kiện sống tương đối dễ dãi: họ ít hướng đến các yếu tố ấy và ít nhạy cảm với các yếu tố
ấy do những mẫu gương và những ý tưởng lưu hành bởi những phương tiện truyền thông xã hội, ngay cả nơi
những quốc gia mà điều kiện sống thấp kém hơn và tình trạng của những người trẻ nghiệt ngã hơn. Vì
những lý do ấy và nhất là để noi gương Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành mà thực hiện “ sự trao hiến chính
mình” theo như đời buộc của linh mục, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã viết:”Điều cần thiết là phải cấy
trồng ý thức về Thập giá, trung tâm của mầu nhiệm phục sinh. Nhờ sự đồng hóa với Đức Kitô chịu đóng
đinh, với Đức Kitô tôi tớ, thế giới có thể tìm lại được giá trị của sự khắc nghiệt, sự khổ đau và thậm chí của
sự đổ máu vì đạo, ngay giữa lòng nền văn hóa hiện đại là văn hóa tiêm nhiễm chủ nghĩa thế tục, tinh thần
thèm khát và chủ trương hưởng lạc” 458 .
49. Việc đào tạo thiêng liêng cũng dạy cho biết tìm kiếm Đức Kitô nơi những con người. Đời sống thiêng
liêng chắc hẳn là đời sống nội tâm, đời sống thân mật với Thiên Chúa, đời sống cầu nguyện và chiêm ngắm.
Nhưng cũng chính trong đời sống thiêng liêng mà việc gặp gỡ Thiên Chúa và việc gặp gỡ tình yêu của một
người Cha đối với mọi người lại nhất thiết dẫn đến việc gặp gỡ tha nhân, dẫn đến sự trao hiến chính mình
cho ngưòi khác, qua việc phục vụ khiêm tốn và vô vị lợi mà Đức Giêsu đã đề nghị cho mọi người dùng làm
chương trình sống khi Ngài rửa chân cho các tông đồ:”thầy đã nêu gương cho anh em, đến lượt anh em, anh
em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”(Ga 13,15).
Việc đào tạo nhắm đến sự trao hiến chính mình cách mình cách quảng đại và nhưng không gặp được
trợ lực từ nơi đời sống cộng đoàn là đời sống bình thường được đòi hỏi cho việc chuẩn bị tiến tới chức linh
mục. Việc đào tạo ấy chính là điều kiện cần thiết phải có đối với người nào được mời gọi để chính mình trở
nên sự xuyên thấu, sự hiển dung cho Vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng ban tặng mạng sống (X.Ga 10,11.15).
Dưới khía cạch ấy, nền đào tạo thiêng liêng phải phát huy chiều kích nội tại mục vụ hoặc bác ái của mình.
Một lòng sùng kính đúng đắn, mãnh liệt và dịu dàng đối với trái tim Chúa Kitô có thể góp thêm vào nền đạo
tạo ấy như các Nghị Phụ thượng Hội Đồng đã ghi nhận:” Đào tạo các linh mục tương lai trong nền tu đức
hướng về Trái Tim Chúa, đó là dẫn đưa họ đến một cuộc sống tương ứng với tình yêu của Ngài đối với Chúa
Cha trong Chúa Thánh Thần, với tình yêu của Ngài đối với nhân loại đến độ ban mạng sống bằng cách tự
hiến tế” 459 .
Như thế, linh mục là con người của đức ái: linh mục được mời gọi dạy cho người khác biết noi gương
Đức Kitô và biết sống giới răn mới là giới răn yêu thương huynh đệ (x. Ga 15,12). Tư cách này đòi hỏi linh
mục không ngừng để cho Chúa Thánh Thần giáo dục về đức ái của Chúa Kitô. Từ đó, việc chuẩn bị cho
cuộc sống linh mục nhất thiết bao hàm một nền đào tạo vững chắc về Đức ái, nhất là về lòng yêu mến ưu
tiên đối với” người nghèo”, vì đức tin khám phá ra nơi họ sự hiện diện của Đức Giêsu (x. Mt 25,40), và về
lòng nhân ái yêu mến các tội nhân.
Chính trong viễn tượng đức ái, được hiểu là trao hiến chính mình vì tình yêu, mà sự giáo dục về đức
vâng phục, về bậc sống độc thân và về đức nghèo khó tìm được vị trí của của mình trong việc đào tạo đời
sống thiêng liêng dành cho người linh mục tương lai 460 . Lời kêu mời của Công Đồng cũng đi theo cùng một
chiều hướng: “Các chủng sinh cần phải hiểu rõ ràng rằng họ không được đào luyện để thống trị hay để thừa
hưởng vinh dự, nhưng để trọn vẹn phó mình cho việc phục vụ Thiên Chúa và cho thừa tác vụ chủ chăn. Cần
phải vun trồng nơi họ, với một sự chăm sóc đặc biệt, đức vâng phục của một linh mục, ước muốn sống
nghèo khó, tinh thần từ bỏ, sao cho họ có thói quen mau mắn từ khước ngay cả những sự việc được phép mà
không cấp thiết và có thói quen mô phỏng Đức Kitô chịu đónh đinh” 461 .
50. Trong việc đào tạo thiêng liêng dành cho người được mời gọi sống bậc độc thân, cần phải đặc biệt lưu ý
để luyện tập cho người linh mục tương lai hiểu biết, quý chuộng yêu mến và sống bậc độc thân theo đúng
bản chất và theo đúng những cùng đích của bậc sống ấy, nghĩa là với những động lực Tin Mừng, thiêng
liêng và mục vụ. Trong công việc luyện tập này, điều được giả thiết và điều được hàm chứa chính là nhân
đức khiết tịnh, là nhân đức điểm tô mọi tương quan nhân linh và dẫn đến việc thực nghiệm và biểu lộ…một
tình yêu chân thành, nhân bản, huynh đệ, cá vị và có khả năng hy sinh theo gương Đức Kitô đối với mọi
người và đối với từng người” 462 .
Bậc sống độc thân linh mục thông chuyển cho đức khiết tịnh một số đặc tính nhờ đó,”khước từ bậc
sống lứa đôi vì Nước Trời (x. Mt 19,12), các linh mục có thể gắn bó với Chúa bằng một tình yêu không chia
sớt, phù hợp trọn vẹn với Giao Ước Mới; các linh mục làm chứng về sự sống lại thuộc thế giới mai sau (x.Lc
20,36) và tìm được một sự trợ lực rất thích hợp cho việc thực hành liên lỉ đức ái trọn hảo để có thể nên mọi
sự cho mọi người trong thừa tác vụ linh mục “ 463 . Theo chiều hướng ấy, không được coi bậc độc thân linh
mục như một quy tắc đơn thuần mang tính pháp lý hoặc như một điều kiện hoàn toàn bên ngoài để được
chấp nhận cho việc thụ phong. Ngược lại, bậc độc thân là một giá trị mật thiết gắn liền với việc thụ phong.
Bậc độc thân linh mục làm cho linh mục nên giống Đức Giêsu Kitô, Mục Tử Nhân Lành và Phu Quân của
Giáo Hội. Bậc độc thân linh mục tạo cho linh mục chọn lựa một tình yêu cao cả hơn, một tình yên không
chia sớt dành cho Đức Kitô và Giáo Hội Ngài, với một tư thế trọn vẹn và vui tươi, ứng sẵn cho thừa tác vụ
mục tử. Phải coi bậc độc thân như một ân sủng đặc biệt, như một hồng ân mà bất cứ ai cũng hiểu được,
nhưng chỉ những người đã được ban cho ơn ấy (x.Mt 19,11). Ân sủng này đòi hỏi một sự đáp trả có ý thức
và tự do từ phía người lãnh nhận, với một sức mạnh phi thường. Đặc sủng ấy của Chúa Thánh Thần cũng
chuyển ban ơn trung thành cho đến trọn đời, ơn chu toàn một cách quảng đại và vui tươi những bó buộc gắn
liền. Trong việc đào tạo sống bậc độc thân linh mục, cần phải kiến tạo vững chắc ý thức về” hồng ân vô giá
của Thiên Chúa “ 464 ; bởi đó, cần phải luyện tập cầu nguyện và cảnh giác để cho hồng ân ấy được thoát khỏi
mọi điều có thể gây nguy hại.
Nếu được sống một cách chính hiệu, bậc độc thân linh mục sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho việc chu
toàn thừa tác vụ linh mục giữa đoàn dân Thiên Chúa. Ngoài ra, bằng cách làm chứng về giá trị Tin Mừng
của sự trinh khiết, linh mục nhờ đó mà có thể giúp các đôi bạn Kitô hữu biết sống trọn vẹn “bí tích cao cả”
là tình yêu của Đức Kitô Phu Quân với Hiền Thê Giáo Hội và, nhờ sự trung thành của mình trong bậc độc
thân, linh mục sẽ trở nên nguồn khích lệ cho sự trung thành trong đời sống vợ chồng 465 .
Việc tập luyện quan trọng và tế nhị nhằm sống bậc độc thân linh mục, đặc biệt trong những tình huống
xã hội và văn hóa ngày nay, đã dẫn các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đến một loạt những chỉ thị mà giá trị
trường tồn được xác quyết do sự khôn ngoan của Mẹ Giáo hội. Tôi dùng quyền mà đề nghị một lần nữa
những chỉ thị ấy như là những tiêu chuẩn phải tuân theo trong việc đào tạo sống đức khiết tịnh bậc độc
thân:” Các giám mục cũng như các viện trưởng và các vị linh hướng chủng viện, phải thiết lập những
nguyên tắc, phải cung cấp những tiêu chuẩn và phải cống hiến những trợ lực để giúp phân định trong lãnh
vực này. Sự ân cần của Giám mục và đời sống huynh đệ giữa các linh mục mang một tầm quan trọng đặc
biệt đối với công việc đào tạo sống đức khiết tịnh trong bậc độc thân. Tại chủng viện, nghĩa là trong giai
đoạn đào tạo, bậc sống độc thân-phải được trình bày một cách minh bạch, không một chút hàm hồ nhưng
theo hướng tích cực. Chủng sinh cần phải có một trình độ trưởng thành tâm lý và phái tính đầy đủ cũng như
một đời sống chuyên chăm cầu nguyện và phải đặt mình dưới sự hướng dẫn của một cha thiêng liêng. Vị
linh hướng phải giúp cho chủng sinh đạt tới một quyết định chín muồi và tự do được xây trên lòng qúy
chuộng đối với tình bạn của linh mục và đối với kỷ luật của bản thân, cũng như trên thái độ chấp nhận sự cô
đơn và trên một tình trạng bản thân hoàn chỉnh về thể lý và tâm lý. Để đạt được thành quả này, các chủng
sinh phải học hiểu kỹ lưỡng giáo thuyết của Công Đồng Vaticano II, thông điệp Saserdotalis coelibatus và
Huấn thị về việc đào tạo sống bậc độc thân linh mục do Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo phổ biến năm 1974.
Để cho chủng sinh có thể đảm nhận đời sống độc thân vì nước Trời với một quyết định tự do, điều cần thiết
là chủng sinh phải hiểu biết bản chất Kitô giáo và bản chất thật sự nhân bản của đời sống tính dục trong hôn
nhân và trong bậc độc thân cũng như cùng đích của nó. Đồng thời cũng cần thiết phải dạy dỗ và giáo dục các
tín hữu giáo dân về những nguyên do Tin Mừng, thiêng liêng và mục vụ giúp minh giải bậc sống độc thân
linh mục, sao cho họ biết trợ giúp các linh mục bằng tình bạn, sự cảm thông và sự hợp tác của họ” 466 .
Đào tạo trí thức : tăng cường hiểu biết cho đức tin.
51. Mặc dầu bao gồm những đòi hỏi loại biệt, đào tạo trí thức mật thiết gắn liền với đào tạo nhân bản và
thiêng liêng, đến độ tạo thành một chiều kích cần thiết cho nền đào tạo ấy: thật ra đào tạo trí thức là một đòi
hỏi của lý trí nhờ đó con người “dự phần vào ánh sáng thông hiểu của Thiên Chúa “ và tìm cách đạt tới sự
khôn ngoan để rồi sự khôn ngoan, đến lượt nó, lại giúp hiểu biết Thiên Chúa và gắn bó với Ngài 467 .
Việc đào tạo trí thức cho ứng sinh linh mục được biệt minh một cách đặc loại nhờ vào chính bản chất
của thừa tác vụ được điều phối, và ngày nay, công cuộc” Phúc âm hóa mới” mà Chúa gọi mời Giáo hội thực
hiện khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba này lại chính là một thách đố làm cho việc đào tạo trí thức trở nên
khẩn thiết hơn. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng viết:” Nếu bất cứ Kitô hữu nào cũng phải sẵn sàng để bảo
vệ đức tin và để nêu cao niềm hy vọng đang sống động trong chúng ta (x.1P 3,15), thì hơn thế nữa, các ứng
sinh linh mục và các linh mục lại càng phải qúy trọng việc đào tạo thiêng liêng trong giáo dục và trong hoạt
động mục vụ; thực vậy, để cứu rỗi các anh chị em mình, các ứng sinh và các linh mục phải đạt được một sự
hiểu biết sâu xa hơn nữa về các mầu nhiệm của Thiên Chúa “ 468 . Hoàn cảnh hiện đại sâu đậm bởi một thái độ
tôn giáo dửng dưng : đồng thời bởi một sự ngờ vực không mấy minh bạch về khả năng thực thụ của lý trí
trong việc đạt thấu chân lý khách quan và phổ quát, hơn nữa bởi những vấn nạn mới do các phát minh khoa
học và kỹ thuật khơi dậy. Tất cả những điều ấy biện minh cho sự đòi hỏi mãnh liệt phải có một trình độ trí
thức ưu tú nhằm giúp cho các linh mục, trong một bối cảnh như thế, có thể loan báo Tin Mừng bất biến của
Đức Kitô và làm cho Tin Mừng ấy trở nên đáng tin cậy trước những đòi hỏi chính đáng của lý trí con người.
Ngoài ra, hiện tượng đa nguyên ngày nay đang lây lan một cách đáng kể, chẳng những trong xã hội mà còn
cả trong cộng đồng Giáo Hội. Bởi đó cần phải có một khả năng thích ứng để phân định và phê phán. Tình
huống hiện nay càng làm hiện rõ sự cần thiết phải có một nền đào tạo trí thức nghiêm minh hơn bao giờ hết.
Tìm nguyên do “mục vụ” cho nền đào tạo trí thức như vừa rồi giúp chúng ta xác quyết điều đã được đề
cập trước nữa về vấn đề thống nhất tiến trình giáo dục trong các chiều kích khác biệt. Việc học chiếm một
phần lớn cuộc đời của ứng sinh linh mục, việc học bắt buộc ấy không phải là một yếu tố bên ngoài hoặc phụ
thuộc đối với sự phát triển ơn gọi của ứng sinh về phương diện nhân bản, Kitô giáo và thiêng liêng. Trong
thực tế, nhờ việc học, nhất là thần học, người linh mục tương lai bám víu vào Lời Chúa, lớn lên trong đời
sống thiêng liêng và có được tư thế sẵn sàng để chu toàn thừa tác vụ mục tử. Đó chính là mục đích vừa đơn
thuần vừa đa tạp của bộ môn thần học như đã được Công Đồng nêu dẫn 469 và còn được Thượng Hội Đồng
lặp lại trong Instrumentum laboris: “Để có thể gia tăng hiệu năng mục vụ của việc đào tạo trí thức, cần phải
đem lồng việc đào tạo ấy vào trong một lộ trình thiêng liêng được đánh dấu bởi kinh nghiệm tự thân về
Thiên Chúa, và bởi đó phải vượt qua bộ môn khoa học thuần túy khái niệm và phải đạt tới sự hiểu biết của
con tim để trước hết có thể “xem thấy” và sau đó có thể chuyển đạt mầu nhiệm Thiên Chúa cho anh em” 470 .
52. Việc học triết học giúp hiểu và cắt nghĩa sâu xa hơn về con người, về tự do của con người, về những
tương quan giữa con người với thế giới và với Thiên Chúa, triết học là một thành phần thiết yếu cho nền đào
tạo trí thức. Việc học triết học được coi là tối cấp thiết, trước hết vì lý do có mối liên hệ giữa những vấn đề
triết học với các mầu nhiệm cứu độ được nghiên cứu trong thần học dưới ánh sáng đức tin 471 , sau nữa vì lý
do tình trạng văn hóa hiện nay quá hỗn độn, với sự kiện chủ nghĩa duy chủ thể được đề cao và được coi như
thước đo và tiêu chuẩn của chân lý. Trong những điều kiện như thế, chỉ có một nền triết học lành mạnh mới
có thể giúp cho các ứng sinh linh mục phát triển ý thức và tư duy về mối quan hệ thiết định giữa trí óc của
con người với chân lý, một chân lý được mạc khải trọn vẹn cho chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô. Không được
làm giảm thiểu tầm quan trọng của triết học, bằng cách nại cớ phải bảo toàn niềm “xác tín về chân lý” mặc
dầu chỉ có niềm xác tín này mới có thể làm nền tảng cho việc trao hiến trọn vẹn con người cho Đức Giêsu và
cho Giáo Hội. Một vài vấn đề rất cụ thể, như căn tính của linh mục, sự dấn thân tông đồ và thừa sai của linh
mục, lại mật thiết gắn liền với vấn đề không kém cụ thể là vấn đề chân lý: Đây là điều không mấy khó hiểu.
Nếu người ta không nắm chắc chân lý, làm sao người ta có thể đặt cuộc cả đời mình và làm sao người ta có
thể đủ sức cất tiếng gọi mời cuộc đời của tha nhân một cách nghiêm chỉnh?
Triết học đóng góp rất nhiều để giúp ứng sinh làm giàu việc đào tạo trí thức nhằm đạt tới sự “suy tôn
chân lý”, nghĩa là một sự bái phục chân lý với tâm tình trìu mến dẫn đến chỗ nhìn nhận rằng chân lý tự nó
không hề được tạo nên hoặc được khuôn đúc do con người nhưng được ban cho con người do bởi Chân lý
tối thượng, bởi Thiên Chúa; rằng lý trí con người, mặc dầu bị hạn chế và đôi khi rất khó khăn, có thể đạt tới
chân lý khách quan và phổ quát, là chân lý liên quan tới Thiên Chúa và tới ý nghĩa căn cơ của hiện hữu; sau
hết, rằng đức tin tự nó không thể loại bỏ lý trí hoặc miễn trừ nỗ lực “suy tư” về những gì đức tin chất chứa,
như lời dẫn giải của một đầu óc xuất chúng là thánh Augustinô: Tôi khao khát dùng trí thông minh để dò tìm
điều mà tôi đã đặt niềm tin tôi vào, tôi đã bàn cãi nhiều và tôi đã cực nhọc không ít” 472 .
Để có được sự hiểu biết sâu rộng hơn về con người và những hiện tượng xã hội, nhằm mục đích thi
hành thừa tác vụ mục tử sao cho được “nhập thể” tối đa, các khoa học về con người, theo như người ta vẫn
thường gọi, chắc chắn không thể không hữu ích; đó là xã hội học, tâm lý học, sư phạm, các khoa học kinh tế
và chính trị, các khoa học truyền thông xã hội. Trong khuôn khổ nhất định của những khoa học thực nghiệm
và mô tả, các khoa học về con người giúp cho linh mục tương lai nối dài hoạt động của Đức Kitô như Ngài
đã hóa nên đương thời với những con người thuộc thời đại Ngài. Đức Phaolô VI đã nói: “Đức Kitô đã hóa
nên đương thời với một số người và đã dùng ngôn ngữ của họ để tự diễn đạt chính mình. Trung thành với
Ngài có nghĩa là làm sao để Ngài vẫn tiếp tục là người đương thời với chúng ta” 473
53. Việc đào tạo trí thức cho những linh mục tương lai phải đặt nền tảng và được phát triển nhất là trong
việc học thần học, sacra doctrina. Giá trị và tính chính danh của nền đào tạo thần học lệ thuộc vào sự tôn
trọng chu đáo bản chất riêng của thần học, như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tóm tắt: “Thần học chân
chính là thần học phát xuất từ đức tin và nhắm mục đích dẫn tới đức tin” 474 . Đó là điều mà Giáo Hội, và đặc
biệt Huấn Quyền của Giáo Hội, đã không ngừng đề nghị. Đây cũng chính là đường hướng mà các thần học
gia cỡ lớn đã tuân theo và đã làm cho tư tưởng của Giáo Hội trong dòng lịch sử được nên phong phú. Thánh
Tôma đã tỏ ra minh bạch hết mực khi quả quyết rằng đức tin chính là habitus (quán tính) của thần học 475 và
rằng “toàn bộ thần học đều được điều hợp để nuôi dưỡng đức tin” 476 .
Như thế, thần học gia trước hết là một tín hữu, một con người đức tin. Nhưng đó là một tín hữu thắc
mắc về chính đức tin của mình (Fides quaerens intellectum), thắc mắc để có thể đạt đến một sự hiểu biết
thấu đáo hơn về đức tin của mình. Cả hai khía cạnh, đức tin và tư duy có phương pháp, đều liên quan đến
nhau và thấm nhập lẫn nhau: Chính sự phối hợp mật thiết với nhau và sự thấm nhập hỗ tương này nói lên
bản chất đích thực của thần học, và bởi đó, của nội dung, của thể loại, của tinh thần mà theo đó giáo thuyết
Thánh Linh sẽ được soạn thảo và học hỏi.
Đàng khác, là khởi điểm và là đích điểm của thần học, đức tin tạo lên một mối tương quan cá vị giữa
người tín hữu với Đức Giêsu Kitô trong Giáo Hội. Chính vì thế, ngay trong thần học cũng chứa chất những
đặc tính nội thuộc có tầm mức Kitô học và Giáo Hội học mà ứng sinh cần phải thấm nhuần một cách có ý
thức, chẳng những vì mật thiết liên quan đến đời sống bản thân của mình, nhưng còn đến thừa tác vụ mục tử
của mình nữa. Nếu đức tin là sự đón nhận Lời Thiên Chúa thì đức tin được thành toàn trong tiếng “xin vâng”
triệt để của người tín hữu đáp lại Đức Giêsu Kitô, Lời viên mãn và vĩnh viễn của Thiên Chúa nói với thế
giới (x. Dt 1, 1-4). Bởi đó, lấy sử gắn bó với Đức Giêsu Kitô là Đấng Khôn Ngoan của Thiên Chúa làm
trung tâm, suy tư thần học cũng phải như vậy: Việc suy tư này phải tự coi mình như là sự thông dự vào “tư
tưởng” của Đức Kitô (x. 1 Cr 2, 16) dưới phương diện nhân loại của một khoa học (scientia fidei). Đồng
thời, đức tin dẫn người tín hữu vào trong Giáo Hội và làm cho người tín hữu được thông chia sự sống của
Giáo Hội xét như là cộng đoàn đức tin. Từ đó, thần học mang một chiều kích Giáo Hội bởi vì thần học chính
là tư duy về đức tin của Giáo Hội, và tư duy bởi một thần học gia vốn là thành phần của Giáo Hội 477 .
Những nhãn quan thuộc về Kitô luận và Giáo Hội này, vì có cùng bản chất với thần học, sẽ giúp phát
triển nơi các ứng sinh linh mục, đồng thời với tính chuẩn mực khoa học, một lòng yêu mến lớn lao và mãnh
liệt đối với Đức Giêsu Kitô và đối với Giáo Hội. Lòng yêu mến ấy vừa nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của
các ứng sinh vừa quy hướng họ đến sự quảng đại chu toàn thừa tác vụ của mình. Đó chính là điều Công
Đồng Vaticanô II mong muốn khi yêu cầu tổ chức lại các môn học của Giáo Hội bằng cách phối trí hoàn bị
hơn những bộ môn triết học và thần học khác nhau, “để làm cho các bộ môn ấy hòa nhịp với nhau đóng góp
vào việc ngày càng khai mở trí tuệ của các chủng sinh trước mầu nhiệm của Đức Kitô là Đấng, trong toàn
vẹn lịch sử nhân loại, không ngừng sinh hoạt trong Giáo Hội và nhất là các tác động nhờ vào thừa tác vụ
linh mục” 478 .
Việc đào tạo trí thức thần học và đời sống thiêng liêng, cách riêng đời sống cầu nguyện, liên kết nên
một với nhau và tăng cường lẫn nhau mà không hề loại trừ tính nghiêm chỉnh của việc nghiên cứu cũng như
không loại trừ hương vị thiêng liêng của việc cầu nguyện. Thánh Bonaventura dự phòng cho chúng ta:
“Đừng có ai tưởng rằng mình đã là đủ khi đọc sách mà không có sức dầu, khi tư duy bay bổng mà không
mến mộ, khi truy cứu mà không thán phục, khi nhận định mà không hân hoan, khi sinh hoạt mà không có
lòng đạo dức, khi uyên bác mà không có bác ái, khi thông thái mà không có lòng khiêm nhường, khi học hỏi
mà không có ân sủng của Thiên Chúa, khi hiểu biết chính mình mà không có sự khôn ngoan do Thiên Chúa
phú ban” 479 .
54. Đào tạo thần học là một công trình phức tạp và nhiêu khê. Việc đào tạo thần học phải giúp cho ứng sinh
linh mục đạt dược một quan niệm được coi là đầy đủ và thống nhất về những chân lý mà Thiên Chúa mạc
khải nơi Đức Giêsu Kitô và về kinh nghiêm đức tin của Giáo Hội. Từ đó xuất phát một đòi buộc gồm hai
yếu tố: hiểu biết “tất cả” mọi chân lý Kitô giáo mà không có những lựa chọn võ đoán, và hiểu biết các chân
lý ấy một cách có phương pháp. Công việc này đòi hỏi sinh viên phải được giúp đỡ để hoàn thành một tổng
luận, tổng luận này là một thành quả thâu lượm từ những bộ môn thần học khác nhau mà việc đi vào chuyên
môn chỉ thực sự có giá trị nếu không rời xa sự phối hợp sâu xa của chúng.
Trong việc tư duy về đức tin, thần học tiến theo hai hướng. Hướng thứ nhất là “việc học hỏi Lời
Chúa”: Lời được ghi chép trong Sách Thánh, được cử hành và được thể hiện bằng cuộc sống trong truyền
thống sống động của Giáo Hội, được giải thích một cách chính hiệu do Huấn Quyền của Giáo Hội. Hướng
này đòi phải học hỏi Thánh Kinh là “công việc phải được coi như linh hồn của toàn bộ thần học” 480 , học hỏi
các thánh Giáo Phụ thuộc về Giáo Hội, học hỏi phụng vụ, học hỏi lịch sử Giáo Hội và các tuyên ngôn của
Huấn Quyền. Hướng thứ hai là hướng của con người đàm đạo với Thiên Chúa: Con người được mời gọi
“tin”, “sống”, “chuyển thông” đức tin và cái “ethos” Kitô giáo của người khác. Bởi đó cần phải học tín lý,
thần học luân lý, thần học tu đức, giáo luật và thần học mục vụ.
Việc quy chiếu về con người có đức tin đưa thần học tới chỗ đặc biệt chú tâm một đàng đến sự khẩn
thiết cơ bản và thường hằng của mối quan hệ đức tin tôn giáo và đàng khác đến một số đòi hỏi có phần liên
hệ nhiều hơn với tình huống xã hội và văn hóa của thời đại chúng ta. Trong chiều hướng thứ nhất phải kể
đến thần học cơ bản có đối tượng là sự kiện Mạc khải Kitô giáo và chuyển đạt Mạc khải trong Giáo Hội.
Trong chiều hướng thứ hai, đó là những bộ môn đã và đang được phát triển một cách mạnh mẽ hơn, như để
đáp lại những vấn đề ngày nay đang được cảm nhận một cách mãnh liệt. Đó là trường hợp của môn lý thuyết
xã hội học của Giáo Hội, môn này “được gia nhập vào trong lãnh vực… của thần học và cách riêng vào
trong lãnh vực của thần học luân lý” 481 và phải được xếp vào số những “nhân tố thiết yếu” cho công cuộc
“Phúc âm hóa mới” mà môn này được dùng làm khí cụ 482 . Cũng phải kể đến các môn học về sứ vụ truyền
giáo, về đại kết; về Do-thái giáo, về Hồi giáo và về các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo.
55. Nền đào tạo thần học hiện đại phải đặc biệt chú tâm tới một số vấn đề vốn thường khơi dậy những khó
khăn, tạo những đôi co và làm cho tồn tại những xáo trộn trong đời sống Giáo Hội. Chúng ta cần phải suy
nghĩ về mối liên hệ giữa các tuyên ngôn của Huấn Quyền với những tranh luận thần học mặc dầu mối liên
hệ không phải luôn luôn đáng kích lệ, nghĩa là không luôn luôn phản ánh tinh thần cộng tác: “Mặc dầu nắm
giữ những đặc sủng và những trách nhiệm khác nhau, Huấn Quyền sống động và thần học tựu trung nhắm
cùng một mục đích: Đó là bảo vệ dân Thiên Chúa trong chân lý có sức giải thoát và nhờ đó làm cho dân
Thiên Chúa trở nên “ánh sáng muôn dân”. Công việc phục vụ cộng đoàn Giáo Hội như vừa xác định đặt nhà
thần học và Huấn Quyền vào trong những mối tương quan hỗ tương với nhau. Huấn Quyền giảng dạy một
cách chính danh giáo thuyết của các Tông Đồ và vận dụng thành quả của thần học để biện bác những phê
phán và những lệch lạc về đức tin, ngoài ra còn dùng quyền lãnh nhận từ Đức Giêsu Kitô để đề nghị những
công việc như đào sâu, phát biểu và áp dụng theo lối mới giáo thuyết đã được mạc khải. Ngược lại, nhờ việc
suy tư, thần học đạt được một sự hiểu biết ngày càng sâu rộng hơn về Lời Chúa, như được chứa đựng trong
Thánh Kinh và được chuyển đạt cách trung thành do Truyền Thống sống động của Giáo Hội, dưới sự dẫn
dắt của Huấn Quyền; thần học tìm cách làm sáng tỏ giáo huấn của Mạc Khải trước những đòi hỏi thúc bách
của lý trí, và sau hết mặc cho giáo huấn ấy một hình thái hữu cơ và có hệ thống” 483 . Dầu vậy, nếu vì cả một
chuỗi động cơ nào đó mà sự hợp tác ấy giảm sút thì nhất thiết không được để cho mình lầm đường lạc lối
bởi những gì là mơ hồ và hỗn độn; cần phải làm công việc phân biệt kỹ lưỡng một bên là “giáo thuyết phổ
cập của Giáo Hội và bên kia là những quan điểm của các nhà thần học cũng như những trào lưu mau qua
(những “mốt”)” 484 . Không hề có huấn quyền “song song” bởi vì Huấn Quyền duy nhất là của thánh Phêrô và
các Tông Đồ, của Đức Giáo Hoàng và các giám mục 485 .
Còn một vấn đề khác thường gặp thấy là ở những nơi mà việc đào tạo trí thức của các chủng sinh được
giao phó cho các học viện hàn lâm, đó là vấn đề liên quan tới mối liên hệ giữa tính chuẩn mực khoa học của
thần học với cùng đích mục vụ của thần học. Thực ra vấn đề ở đây bao gồm hai đặc tính của thần học và của
việc giảng dạy thần học, hai đặc tính này chẳng những không đối nghịch nhau nhưng còn đồng quy, mặc dầu
dưới những góc độ khác nhau, về việc tăng cường “hiểu biết cho đức tin” sao cho đầy đủ hơn. Thật vậy, tính
chất mục vụ của thần học không có nghĩa là thần học nhẹ tính giáo thuyết hơn hay bị tước đoạt mất tính chất
khoa học của nó; ngược lại điều đó có nghĩa là thần học trang bị cho các linh mục tương lai khả năng loan
báo sứ điệp Tin Mừng với sự chú tâm tới những yếu tố văn hóa thuộc thời đại mình, và khả năng hiểu được
hoạt động mục vụ theo một lối nhìn thần học chính hiệu. Bởi đó, một nền học vấn biết tôn trọng tính chất
khoa học sít sao của từng bộ môn thần học sẽ góp phần làm cho nền đào tạo vị mục tử chăn dắt các linh hồn,
là thầy dạy đức tin, được đầy đủ hơn và được sâu rộng hơn; đàng khác, nơi vị linh mục tương lai, một cảm
quang bén nhạy tương ứng với phương hướng mục vụ sẽ thật sự làm cho việc học thần học nghiêm minh và
có tính khoa học có được hiệu năng đào tạo.
Ngày nay, người ta cảm nhận một cách sâu xa nhu cầu phải phúc âm hóa các nền văn hóa và phải hội
nhập sứ điệp đức tin vào trong các nền văn hóa, nhu cầu ấy còn khơi dậy một vấn đề khác. Đó là một vấn đề
mục vụ có tầm mức rộng lớn cần phải được đề cập một cách rộng rãi và với nhiều chú tâm trong thời gian
đào tạo các ứng sinh linh mục: “Trong hoàn cảnh hiện nay, nơi nhiều miền khác nhau trên thế giới, Kitô giáo
được coi như là một điều gì xa lạ đối với các nền văn hóa cổ xưa hoặc tân thời; bởi đó, điều thật quan trọng
là, trong toàn bộ nền đào tạo trí thức và nhân bản, cần phải đưa việc hội nhập văn hóa lên hàng nhu cầu và
yếu tính” 486 . Điều này đòi buộc tiên vàn phải có một nền thần học chính hiệu, múc nguồn từ những nguyên
tắc công giáo liên quan tới việc hội nhập văn hóa. Những nguyên tắc này gắn liền với mầu nhiệm Nhập Thể
của Ngôi Lời Thiên Chúa và với nhân học Kitô giáo; các nguyên tắc ấy làm sáng tỏ ý nghĩa chính hiệu của
việc hội nhập văn hóa. Việc hội nhập văn hóa này phải đương đầu với nhiều nền văn hóa rất dị biệt và đôi
khi đối nghịch nhau như hiện có trong nhiều vùng khác nhau trên thế giới, để rồi trở thành một hành vi tuân
phục đối với lệnh truyền của Đức Kitô về việc rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc đến tận cùng bờ cõi trái
đất. Vâng lời ở đây không có nghĩa là chủ trương pha trộn, cũng không đơn thuần có nghĩa là thích nghi việc
loan báo Tin Mừng, nhưng nói lên sự kiện Tin Mừng thấm nhập một cách sống động vào trong các nền văn
hóa, vược qua những yếu tố văn hóa không dung hợp với đức tin và đời sống Kitô hữu, nâng cao các giá trị
của các nền văn hóa đến tận mầu nhiệm cứu độ phát xuất từ Đức Kitô 487 . Vấn đề hội nhập văn hóa có thể
mang lại một lợi ích đặc biệt khi chính các ứng sinh linh mục lại xuất thân từ những nền văn hóa bản thổ:
lúc ấy họ sẽ cần đến những hướng lối đào tạo thích ứng, hoặc để tránh những mối nguy ít đòi hỏi hơn và mối
nguy bằng lòng với một nền giáo dục thấp kém hơn về những giá trị nhân bản, Kitô giáo và linh mục, hoặc
để đề cao những yếu tố tốt đẹp và chính hiệu trong các nền văn hóa truyền thống của họ 488 .
56. Tuân theo giáo huấn và những phương hướng của Công Đồng Vaticanô II cùng những tiêu chuẩn thực
hành của Ratio Jundamentalis institutionis sacerdotalis, một công trình cập nhật hóa (aggiornamento) rộng
lớn về việc giảng dạy các bộ môn triết học và nhất là thần học đã được thực hiện trong các chủng viện. Nếu
trong một số trường hợp, công cuộc aggiornamento ấy còn đòi hỏi những rà soát và những khai triển, phải
nói rằng, trong toàn bộ, công cuộc ấy đã góp phần hoàn thiện hóa mỗi lúc một hơn nền giáo dục được ban
hành trong khuôn khổ của nền đào tạo trí thức. Vấn đề này, “Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, một lần nữa,
đã thường xuyên và minh bạch khẳng định sự cần thiết và hơn nữa sự khẩn cấp phải ứng dụng trong các
chủng viện và trong những trường đào tạo chương trình cơ bản cho việc học hỏi, hoặc chương trình phổ quát
hoặc chương trình dành cho một số quốc gia hay một số Hội Đồng Giám Mục” 489 .
Cần thiết phải cương quyết đánh tan xu hướng hạ thấp trình độ và hạ thấp tính nghiêm minh của công
việc học hỏi, xu hướng này được biểu lộ trong một số khu vực thuộc Giáo Hội và một phần là do kết quả của
tình trạng thiếu hụt và hổng chân trong nền đào tạo trí thức cơ bản mà các sinh viên đã lãnh nhận khi bắt đầu
chu kỳ triết học và thần học. Tình huống hiện đại tự nó cũng đòi hỏi các bậc thầy phải ngày càng ngang tầm
hơn với sự đa phức của thời đại và phải đủ sức biện luận một cách có uy thế, minh bạch và sâu sắc để đương
đầu với với những vấn nạn do con người ngày nay đặt ra, những vấn nạn mà chỉ có Tin Mừng của Đức
Giêsu Kitô mới mang lại được một lời giải đáp đầy đủ và dứt khoát.
Đào tạo mục vụ : hiệp thông với đức ái của Chúa Giêsu Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành.
57. Toàn bộ nền đào tạo dành cho các ứng sinh linh mục đều nhắm đến việc tạo điều kiện một cách đạc biệt
hơn cho các ứng sinh hiệp thông vào đức ái của Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành. Bởi đó, trong mọi phương
diện, nền đào tạo ấy phải mang một tính chất thiết yếu mục vụ. Sắc lệnh Công Đồng Optatam totius đã
khẳng định rõ ràng điều này khi đề cập đến các đại chủng viện: “Nền giáo dục trọn vẹn dành cho các học
sinh ở các đại chủng viện phải nhắm hướng làm cho họ trở nên thực sự là những mục tử chăn dắt các linh
hồn, noi gương Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, là Thầy, Linh Mục và Mục Tử. Như thế, họ phải được luyện
tập để thi hành thừa tác vụ Lời Chúa, sao cho ngày càng hiểu thấu đáo hơn lời Mạc khải của Thiên Chúa,
sao cho họ nắm giữ Lời ấy bằng việc suy niệm và diễn đạt Lời ấy bằng môi miệng và bằng đời sống của họ;
họ phải được luyện tập để thi hành thừa tác vụ phượng tự và thánh hóa, làm sao để, dấn thân vào việc cầu
nguyện và vào những cử hành phụng vụ, họ thực thi công cuộc cứu độ bằng hiến lễ tạ ơn và các bí tích; họ
phải được luyện tập để thi hành thừa tác vụ mục tử, sao cho họ biết làm cho Đức Kitô hiện diện với con
người, Đức Kitô, Đấng “đã không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu
chuộc muôn người” (Mc 10, 45; x. Ga 13, 12-17), làm sao để, một khi trở nên tôi tớ của mọi người, họ nhờ
đó mà lợi được nhiều người hơn (x. 1 Cr 9, 19)” 490 .
Bản văn Công Đồng nhấn mạnh đến sự phối hợp sâu đậm phải có giữa các phượng diện khác nhau của
nền đào tạo nhân bản, thiêng liêng và trí thức, đồng thời nhấn mạnh đến cứu cánh loại biệt mục vụ của
chúng. Trong chiều hướng ấy, cứu cánh mục vụ bảo đảm cho nền đào tạo nhân bản, thiêng liêng và trí thức
có được những nội dung nhất định và những đặc tính chính xác, để thống nhất và đánh dấu toàn bộ nền đào
tạo dành cho các linh mục tương lai.
Cũng như bất cứ nền đào tạo nào khác, nền đào tạo mục vụ phải được thể hiện bằng một tiến trình suy
tư chín chắn và bằng những việc thực tập; nền đào tạo ấy nhận chìm những cội rễ sống động của mình vào
trong một tinh thần vốn là trung tâm của mọi sự và vốn tạo nên mãnh lực thúc đẩy và phát triển.
Vì thế, đây là một bộ môn thần học thực thụ cần thiết phải học: thần học mục vụ hay thần học thực
hành, dùng phương pháp khoa học để suy tư về Giáo Hội như Giáo Hội đang được kiến tạo mỗi ngày, với
sức mạnh của Chúa Thánh Thần, theo dòng lịch sử, về Giáo Hội xét như là “bí tích phổ quát của ơn cứu
độ” 491 , như là dấu chỉ và khí cụ sống động để chuyển thông ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô qua Lời, các bí
tích và việc phục trong đức ái. Mục vụ không chỉ là một nghệ thuật, một tập hợp những lời khuyên bảo,
những kinh nghiệm, những chỉ dẫn; mục vụ chiếm giữ phẩm vị thần học trọn vẹn của nó bởi vì mục vụ lãnh
nhận từ nơi đức tin những nguyên tắc cho hoạt động mục vụ của Giáo Hội trong lịch sử, của một Giáo Hội
ngày nào cũng “sản sinh” ra chính Giáo Hội theo kiểu diễn tả hân hoan của thánh Bêđa khả kính: “Nam et
Ecclesia quotidie gignit Ecclesiam” 492 . Trong số những nguyên tác và tiêu chuẩn ấy, có một nguyên tác mang
tầm quan trọng đặc biệt, đó là nguyên tắc giúp dựa theo Tin Mừng để phân định tình huống văn hóa, xã hội
và Giáo Hội trong đó hoạt động mục vụ đang được phát triển.
Việc học thần học mục vụ phải soi sáng cho hoạt động cụ thể mà các ứng sinh linh mục phải tự
nguyện trải qua với những giai đoạn thực tập, gọi là thực tập mục vụ, bằng cách thức tiệm tiến và luôn luôn
ăn khớp với những đòi buộc khác của nền đào tạo. Những “kinh nghiệm” mục vụ này có khi phải kết thành
một “tập viện mục vụ” thật sự, phải kéo dài trong một quãng thời gian và phải được đánh giá một cách có
phương pháp.
Thế nhưng việc học hỏi và sinh hoạt mục vụ lại quy về một nguồn mạch bên trong mà nền đào tạo sẽ
phải quan tâm bảo toàn và đề cao: đó là sự hiệp thông ngày càng sâu đậm hơn vào đức ái mục vụ của Chúa
Giêsu. Cũng như mục vụ đã tạo thành nguồn cội và sức mạnh cho hoạt động cứu chuộc của Đức Giêsu, cũng
vậy, mục vụ còn phải, nhờ vào sự tuôn đổ Thần Khí trong bí tích Truyền Chức Thánh, tạo thành nguồn cội
và sức mạnh cho thừa tác vụ linh mục. Nền đào tạo được đề cập ở đây là một nền đào tạo chẳng những
nhắm đến việc bảo đảm cho có một uy thế mục vụ mang tính khoa học và một sự khôn khéo về mặt thực
hành, nhưng còn là và nhất là bảo đảm cho sự tăng triển của một phương cách hiện hữu trong sự hiệp thông
với chính những tâm tình và những thái độ cư xử của Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành: “Anh em hãy đối xử
với nhau bằng những tâm tình vốn ở trong Đức Giêsu Kitô” (Pl 2, 5).
58. Hiểu như thế, việc đào tạo mục vụ dĩ nhiên không thể bị giản lược vào một công việc thực tập đơn thuần
với mục đích làm quen với những kỹ thuật mục vụ. Phương án giáo dục của chủng viện phải đề nghị chi các
sinh viên đạt được một cảm thức bén nhạy về mục vụ, đảm nhận một cách ý thức và trưởng thành những
trách nhiệm thuộc về mình, tự tập luyện con người nội tâm để đánh giá các tình huống, thiết lập những lựa
chọn ưu tiên và tìm phương thế để thực hiện những lựa chọn ấy, tất cả mọi sự việc này dưới ánh sáng đức tin
và thể theo những đòi buộc thần học của chính công việc mục vụ.
Nhờ kinh nghiệm ấy là kinh nghiệm khởi đầu và tiệm tiến của thừa tác vụ, các linh mục tương lai sẽ có
thể được đưa vào trong truyền thống mục vụ sống động của Giáo Hội địa phương mình; các linh mục tương
lai sẽ học tập để mở rộng chân trời trí tuệ và con tim của mình cho phù hợp với chiều kích truyền giáo của
đời sống Giáo Hội; họ phải thực tập một số hình thức cộng tác với nhau và với các linh mục mà họ sẽ được
sai đến. Các vị này lãnh nhận một trách nhiệm giáo dục mục vụ không kém quan trọng, trong tương quan
với việc giảng dạy được cung ứng nơi chủng viện.
Trong việc lựa chọn những nơi và những công việc phục vụ để có được kinh nghiệm mục vụ, cần phải
dành một sự chú tâm đặc biệt cho giáo xứ 493 là tế bào sống động của các loại kinh nghiệm mục vụ khác
nhau, nơi mà các ứng sinh thực tập sẽ phải đương đầu với nhiều vấn đề đặc biệt thuộc về thừa tác vụ tương
lai của mình. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã cung cấp một loạt những thí dụ cụ thể, chẳng hạn đi thăm
bệnh nhân, chăm sóc những người di cư, những người bị đày ải và những người du mục, nhiệt thành trong
đức ái biểu hiện trong những hoạt động xã hội đa tạp. Các ngài viết: “Điều cần thiết là linh mục phải làm
chứng cho đức ái của chính Đức Kitô, Đấng “đi tới đâu cũng đều thi ân giáng phúc” (Cv 10, 38); linh mục
cũng cần phải trở nên dấu chỉ hữu hình cho lòng ưu ái của Giáo Hội là Mẹ và Thầy. Và, bởi vì con người
ngày nay phải lao đao với muôn vàn thử thách, nhất là bị đè bẹp bởi một sự nghèo đói bất nhân, bởi bạo lực
mù quáng và bởi quyền lực bất chính, điều cần thiết là người của Thiên Chúa, như đã được chuẩn bị đúng
mức cho mọi công trình tốt đẹp (x. 2 Tm 3, 17), phải đòi lại những quyền lợi và phẩm giá của con người.
Dầu vậy, người của Thiên Chúa phải giữ mình để không chạy theo những chủ thuyết sai lạc và, bởi vì muốn
vun đắp cho sự tiến bộ, không quên rằng thế giới chỉ có thể được cứu chuộc nhờ vào thập giá của Đức
Kitô” 494 .
Toàn bộ những hoạt động ấy và các hoạt động khác tương tự giáo dục cho linh mục tương lai biết sống
sứ vụ “quyền bính” của mình trong cộng đoàn như là một công việc “phục vụ”, bằng cách giữ mình khỏi
mọi thái độ trịch thượng hoặc khỏi việc thi hành một quyền bính nào đó mà không luôn luôn hoặc không chỉ
có thể biện minh bằng đức ái mục vụ.
Để có được một nền đào tạo thích ứng, điều cần thiết là các loại kinh nghiệm khác nhau của ứng sinh
linh mục phải mặc lấy tình chất “thừa tác vụ”, luôn mật thiết gắn liền với mọi đòi buộc khác thuộc vế tiến
trình đào luyện linh mục và (sao cho không gây thiệt hại đến việc học) trong sự quy chiếu về việc phục vụ
Lời Chúa, việc phụng tự và việc chủ tọa cộng đoàn. Những việc phục vụ này có thể trở thành những hình
thức cụ thể để thi hành các thừa tác vụ Đọc Sách, Giúp Lễ và Phó Tế.
59. Bởi vì hoạt động mục vụ tự bản chất nhắm đến việc tạo sức sống cho một Giáo Hội vốn thiết yếu là
“mầu nhiệm”, “hiệp thông” và “sứ vụ”, nền đào tạo mục vụ sẽ phải chú trọng đến các chiều kích ấy trong
việc thi hành thừa tác vụ.
Điều cơ bản là phải ý thức rằng Giáo Hội là “mầu nhiệm”, nghĩa là công trình của Thiên Chúa, hoa
quả của Thần Khí đức Kitô, dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng, sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa trong cộng
đoàn Kitô giáo. Thay vì làm giảm thiểu ý nghĩa của trách nhiệm mục tử, ý thức này sẽ giúp cho vị mục tử
xác tín rằng sự tăng trưởng của Giáo Hội là thành quả nhưng không, do Thần Khí, và việc phục vụ Giáo Hội
– nhờ ân sủng Thiên Chúa, được giao phó cho trách nhiệm và tự do của con người – là công việc của người
đầy tớ vô dụng trong Tin Mừng (x. Lc 17, 10).
Hơn nữa, nhờ ý thức Giáo Hội là “hiệp thông”, ứng sinh linh mục sẽ được chuẩn bị để thực hành một
công việc mục vụ cộng đồng trong sự hợp tác thân tình với các thành phần khác trong Giáo Hội: linh mục và
giám mục, linh mục triều và tu sĩ, linh mục và giáo dân. Nhưng, một sự hợp tác như thế trước hết giả thiết
phải có sự hiểu biết và quý chuộng những ân huệ và đặc sủng khác nhau, những ơn gọi và trách nhiệm dị
biệt mà Chúa Thánh Thần ban tặng và trao phó cho các thành phần thuộc về Thân Thể của Đức Kitô. Sự hợp
tác ấy cũng đòi hỏi một cảm thức bén nhạy và chính xác về căn tính của mình và về căn tính của những
người khác trong Giáo Hội. Ngoài ra, sự hợp tác ấy cũng đòi buộc phải có sự tin cậy lẫn nhau, lòng kiên
nhẫn, thái độ hiền dịu, khả năng hiểu, cảm thông và lắng nghe; sau hết và trên tất cả, sự hợp tác ấy bén rễ
trong một lòng yêu mến đối với Giáo Hội lớn mạnh hơn lòng yêu mến đối với chính mình và đối với những
nhóm mà mình trực thuộc. Điều đặc biệt quan trọng là phải luyện tập cho các linh mục tương lai biết hợp
tác với giáo dân, để, theo những lời của Công đồng, “có thể sẵn sàng lắng nghe ý kiến của giáo dân, đồng
thời, trong tình huynh đệ, chú trọng đến những khát vọng của giáo dân, giúp đỡ cũng như nhận sự giúp đỡ
của giáo dân về kinh nghiệm và về uy thế trong nhiều lãnh vực khác nhau của sinh hoạt nhân loại, hầu có thể
cùng với họ đọc ra những dấu chỉ của thời đại” 495 . Cũng vậy, Thượng Hội đồng vừa qua đã nhấn mạnh đến
mỗi quan tâm dành cho giáo dân về phương diện mục vụ: “Ứng sinh linh mục cần phải trở nên có khả năng
lôi cuốn và hướng dẫn các tín hữu giáo dân, nhất là những người trẻ, vào trong những ơn gọi khác nhau (hôn
nhân, những dịch vụ xã hội, việc tông đồ, các thừa tác vụ, những trách nhiệm thuộc bình diện mục vụ, đời
sống tận hiến, những trọng trách trong sinh hoạt chính trị và xã hội, việc nghiên cứu khoa học, việc giảng
dạy). Trên tất cả, cần phải soi dẫn và nâng đỡ giáo dân trong ơn gọi của họ để họ dấn thân vào thế giới và
biến đổi thế giới theo ánh sáng của Tin Mừng, đồng thời nhận thức giá trị của sự dấn thân ấy và quý trọng sự
dấn thân ấy” 496 .
Sau cùng, nhờ ý thức Giáo Hội là hiệp thông “trong sứ vụ”, ứng sinh linh mục sẽ được giúp đỡ để yêu
mến và sống chiều kích thừa sai thiết yếu của Giáo Hội cùng những hoạt động mục vụ đa tạp; họ sẽ được
giúp đỡ để trở nên rộng mở và ứng trực đối với mọi đường lối có thể thự hiện ngày nay nhằm loan báo Tin
Mừng, kể cả sự đóng góp quý giá mà các phương tiện truyền thông xã hội có thể và phải mang lại trong lãnh
vực này 497 ; họ sẽ được giúp đỡ để chuẩn bị bước vào một thừa tác vụ vốn, một cách cụ thể, có thể đòi buộc
họ phải ở trong tình trạng ứng trực, đáp lại Chúa Thánh Thần và đáp lại giám mục, để rồi được sai đi rao
giảng Tin Mừng bên kia những biên giới của quốc gia mình 498 .
II. CÁC MÔI TRƯỜNG ĐÀO TẠO LINH MỤC
Cộng đoàn đào tạo trong đại chủng viện
60. Sự cần thiết phải có đại chủng viện – và phải có cơ sở tôn giáo tương đồng – để đào tạo các ứng sinh linh
mục mà Công Đồng Vaticanô II 499 đã khẳng định bằng quyền bính nay lại được Thượng Hội Đồng tái khẳng
định như sau: “Cần phải khẳng định lại một lần nữa rằng cơ chế đại chủng viện, nơi đào tạo tối ưu, là môi
trường thông thường, thậm chí sơ đẳng, của một đời sống cộng đoàn có phẩm trật và cũng là cơ sở thích ứng
cho việc đào tạo các chủng sinh hướng đến chức linh mục, với những vị bề trên thật sự hiến thân cho thừa
tác vụ này. Cơ chế ấy đã mang lại những hoa trái dồi dào theo dòng thế kỷ và còn tiếp tục cống hiến những
hoa trái như thế trên khắp thế giới” 500 .
Chủng viện được coi như là một thời gian và là một nơi chốn; nhưng trên hết chủng viện được coi như
là một cộng đoàn giáo dục theo những bước tiến lần lượt: đó là cộng đoàn được giám mục thiết lập để tạo
cho người nào được Chúa kêu gọi phục vụ như các Tông Đồ có điều kiện lập lại bằng cuộc sống kinh
nghiệm giáo dục mà Chúa đã dành riêng cho Nhóm Mười Hai. Thực ra, trong Tin Mừng một cuộc sống sống
bằng tương quan lâu dài và mật thiết với Đức Giêsu được trình bày như là tiền thân cần thiết cho thừa thác
vụ Tông Đồ. Tình nghĩa mật thiết ấy đòi buộc Nhóm Mười Hai, một cách hết sức sáng tỏ và khác thường,
thể hiện thái độ siêu thoát, như được đề nghị trong một mức độ nào đó cho hết thảy các môn đệ, đối với môi
trường xuất thân, đối với công việc quen thuộc, đối với những tình nghĩa sâu đậm (x. Mc 1, 16-20; 10, 28;
Lc 9, 23. 57-62; 14, 25-27). Chúng tôi đã khá nhiều lần thuật lại truyền thống của thánh Máccô với chỗ nhấn
mạnh về mối liên hệ sâu xa nối kết các Tông Đồ với Đức Kitô và với nhau: trước khi được sai đi rao giảng
và thi hành việc cứu chữa, các Tông Đồ được mời gọi để “nên bạn đồng hành với Ngài” (Mc 3, 14).
Bản chất sâu xa của chủng viện là bằng cách thế của mình, thể hiện một sự tiếp nối, trong Giáo Hội,
cộng đoàn tông đồ quây quần chung quanh Đức Giêsu, với việc lắng nghe Lời Chúa, tiến bước hướng tới
kinh nghiệm Vượt Qua, trong khi chờ đợi Thần Khí được hứa ban cho sứ vụ. Đó chính là lý tưởng mà mọi
chủng viện đều phải hướng tới. Với tư cách là cơ chế của con người, chủng viện đã mặc lấy trong lịch sử
những hình thức rất khác biệt nhau và đã vấp phải muôn vàn khiếm khuyết. Căn tính của chủng viện luôn
khích lệ chủng viện tìm gặp một đường lối cụ thể, trung thành với các giá trị Tin Mừng mà chủng viện kín
múc, và đủ khả năng đáp ứng những tình huống và những nhu cầu của thời đại.
Tự nơi chính mình, chủng viện là một kinh nghiệm nguyên tuyền của đời sống Giáo Hội: trong chủng
viện, giám mục hiện diện qua thừa tác vụ mà viện trưởng thi hành cùng với các nhà giáo dục khác, trong
tinh thần đồng trách nhiệm và hiệp thân dưới sự hướng dẫn và vận dụng của viện trưởng, nhắm đến sự tăng
triển mục vụ và tông đồ của các ứng sinh. Các thành phần khác biệt trong cộng đoàn chủng viện, liên kết với
nhau nhờ Chúa Thánh Thần bằng một tình huynh đệ duy nhất, hợp tác với nhau, mỗi người tùy theo tài năng
riêng của mình, để làm cho mọi người được tăng trưởng trong đức tin và đức ái. Chính nhờ đó mà các ứng
sinh được chuẩn bị để trở thành linh mục và do vậy để nối dài, trong Giáo Hội cũng như trong lịch sử, sự
hiện diện cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành.
Trên bình diện con người, đại chủng viện đã phải nỗ lực trở thành “một cộng đoàn trong đó các thành
phần liên kết với nhau bằng một tình bạn và một đức ái sâu xa, để tạo thành một gia đình thực sự với bầu khí
vui tươi” 501 .
Trên bình diện Kitô giáo – các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nói tiếp – chủng viện phải tạo thành một
“cộng đoàn Giáo Hội”, một “cộng đoàn môn đệ của Chúa trong đó cùng một phụng vụ thấm nhập tinh thần
cầu nguyện vào toàn thể đời sống; cộng đoàn được quy tụ nhờ việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa mỗi
ngày và nhờ bí tích Thánh Thể; cộng đoàn hiệp nhất với nhau trong việc thực thi đức ái huynh đệ và tinh
thần công bằng; trong cộng đoàn ấy, Thần Khí của Đức Kitô và tình yêu của Giáo Hội tỏa chiếu, nhờ vào sự
tiến bộ của đời sống cộng đoàn và của đời sống thiêng liêng nơi mỗi một thành phần trong cộng đoàn” 502 .
Xác quyết và diễn giải một cách cụ thể chiều kích Giáo Hội thiết yếu của chủng viện, các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng nói tiếp: “Với tư cách là cộng đoàn Giáo Hội, thuộc giáo phận cũng như liên giáo phận hoặc cả
đến thuộc dòng tu, chủng viện phải nuôi dưỡng cảm thức về sự hiệp thông Giáo Hội của các ứng sinh đối
với giám mục của họ và đối với linh mục đoàn của họ, làm sao để họ thông chia những hy vọng cũng như lo
âu của các ngài và biết trải dài trạng thái rộng mở ấy đến những nhu cầu của Giáo Hội phổ quát” 503 .
Việc đào tạo các ứng sinh hướng đến chức linh mục và đến thừa tác vụ mục tử vốn tự bản chất mang
chiều kích Giáo Hội. Để làm công việc ấy, điều thiết yếu là chủng viện phải được nhìn nhận không phải một
cách bên ngoài và bề mặt, nghĩa là như một nơi chốn ăn ở và học hành mà thôi, nhưng một cách bên trong
và sâu rộng, như một cộng đoàn Giáo Hội loại biệt, một cộng đoàn lặp lại bằng cuộc sống kinh nghiệm của
Nhóm Mười Hai nối kết với Đức Giêsu 504 .
61. Như vậy, chủng viện là một cộng đoàn Giáo Hội giáo dục, hay nói đúng hơn, một cộng đoàn đặc thù
thực thi việc giáo dục. Điều ấn định diện mạo cho chủng viện, đó là cùng đích loại biệt của chủng viện,
nghĩa là việc sát cánh với các linh mục tương lai trong ơn gọi, và, bởi đó, việc phân định ơn gọi, sự trợ giúp
để đáp lại ơn gọi, và sự chuẩn bị để lãnh nhận bí tích Truyền Chức Thánh cùng với những ân sủng và trách
nhiệm gắn liền với bí tích nhờ đó linh mục nên đồng hình dạng với đức Giêsu Kitô, Đầu và Mục Tử, được
trang bị và được đưa vào nhập cuộc để thông chia sứ vụ cứu độ trong Giáo Hội và trên thế giới.
Vì chủng viện là một cộng đoàn giáo dục, toàn bộ đời sống diễn ra tại đó, trong những biểu hiện dị
biệt nhất, đều phải tập trung vào việc đào tạo nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ cho các linh mục
tương lai: đó là một nền đào tạo, mặc dầu có nhiều điểm chung với nền đào đạo nhân bản và Kitô giáo cho
mọi thành phần thuộc về Giáo Hội, bao gồm những nội dung, những thể loại và những đặc tính xuất phát
một cách riêng biệt từ mục đích mà chủng viện theo đuổi: chuẩn bị cho chức linh mục.
Đàng khác, các nội dung và hình thức của công trình giáo dục đòi buộc chủng viện phải lập chương
trình một cách chính xác, nghĩa là phải đưa ra một chương trình sống có sự thống nhất giữa các bộ phận và
đồng thời được phối trí trong sự hòa hợp với cùng đích duy nhất là cùng đích đem lại ý nghĩa cho sự tồn tại
của chủng viện: chuẩn bị cho các linh mục tương lai.
Trong chiều hướng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng viết: “Với tư cách là cộng đoàn giáo dục,
[chủng viện] phải theo một chương trình đã được xác định rõ ràng, có đặc điểm là sự thống nhất điều hành
qua vai trò đại diện của Viện Trưởng và các cộng sự viên, qua sự nhất quán trong cách sắp xếp đời sống và
hoạt động đào tạo, qua những đòi buộc cơ bản của đời sống cộng đoàn, chính đời sống cộng đoàn này cũng
bao gồm những khía cạnh thiết yếu thuộc về công cuộc đào tạo. Chương trình này phải, không do dự cũng
không bấp bênh, phục vụ cho cứu cánh loại biệt là cứu cánh duy nhất mang lại ý nghĩa cho sự tồn tại của
chủng viện: đào tạo các linh mục tương lai, những mục tử của Giáo Hội” 505 . Và để cho chương trình ấy được
thực sự thích nghi và hữu hiệu, cần phải diễn dịch trong đường hướng lớn của chương trình một cách cụ thể
hơn, trong chi tiết, bằng một vài tiêu chuẩn riêng dành cho việc sắp xếp đời sống cộng đoàn, đồng thời ấn
định những phương thế và những nhịp điệu thời gian chính xác.
Còn một khía cạnh khác cần phải ghi chú ở đây. Công trình giáo dục tự bản chất là sự sát cánh với
những con người cụ thể, những con người sống trong lịch sử, đang bước tới những lựa chọn và tới sự gắn bó
với một số lý tưởng sống. Đó chính là lý do đòi hỏi công trình giáo dục phải biết dung hòa hết mọi yếu tố
cho ăn nhịp với nhau, từ cái nhìn sáng suốt về mục đích phải đạt, đến sự đòi buộc phải nghiêm chỉnh tiến
bước hướng về mục đích ấy, sự quan tâm tới “du khách”, nghĩa là tới con người cụ thể đang dấn thân trong
chuyến du hành đào tạo, và bởi đó tới một chuỗi những tình huống, những vấn đề, những khó khăn, những
nhịp điệu tiến bước và tăng trưởng. Công việc ấy đòi hỏi một sự uyển chuyển khôn khéo, mà vẫn phải tránh
tất cả những gì có thể làm phương hại các giá trị cũng như sự dấn thân có ý thức và tự do, sự uyển chuyển ấy
còn phải nói lên lòng yêu mến đích thực và sự tôn trọng chân thành đối với người ứng sinh đang bước tới
chức linh mục trong những chiều kích cá vị của mình. Điều này chẳng những có giá trị đối với mỗi một con
người nhưng còn là đối với những bối cảnh xã hội và văn hóa khác nhau trong đó diễn ra cuộc sống của các
chủng viện và của những hình thái đa tạp trong lịch sử các chủng viện. Hiểu như thế, công trình giáo dục đòi
buộc một sự canh tân liên lỉ. Các Nghị Phụ đã kịch liệt nhấn mạnh điều đó, ngay cả về nỗ lực làm cho các
chủng viện nên đồng hình dạng: “Trong khi vẫn bảo toàn giá trị của các hình thức chủng viện cổ điển,
Thượng Hội Đồng mong muốn rằng công việc tham khảo ý kiến các Hội Đồng Giám Mục về những nhu cầu
hiện tại của nền đào tạo phải được tiếp tục theo đuổi, theo như sắc lệnh Optatam totius (số 1) và Thượng Hội
Đồng năm 1967 đã tiêu liệu. Các chỉ tiêu (Rationes) dành cho mỗi quốc gia hay mỗi lễ chế phải được kịp
thời duyệt xét lại, hoặc nhân cơ hội được các Hội Đồng Giám Mục yêu cầu, hoặc nhân dịp những chuyến
viếng thăm với tư cách Tông Đồ nơi các chủng viện thuộc những quốc gia khác nhau, để đưa vào trong
chủng viện những thể loại đào tạo dị biệt, nhằm đáp ứng nhu cầu của các dân tộc thuộc nền văn hóa gọi là
bản thổ, nhu cầu của ơn gọi nơi những người đã lớn tuổi, của ơn gọi thừa sai, v.v…” 506 .
62. Cứu cánh và cơ cấu giáo dục của đại chủng viện đòi hỏi các ứng sinh linh mục chỉ được gia nhập sau
một thời gian chuẩn bị. Việc chuẩn bị này không đặt thành vấn đề riêng biệt, ít ra cho đến những thập niên
vừa qua, khi mà cứ sự thường các ứng sinh linh mục xuất thân từ các tiểu chủng viện và khi mà đời sống
Kitô hữu trong các cộng đoàn Giáo Hội dễ dàng cống hiến cho mọi người, không phân biệt, một nền giáo
huấn và giáo dục Kitô giáo khả quan.
Tình huống đã biến chuyển nơi nhiều vùng. Có một sự tương phản đáng kể một đàng, giữa kiểu cách
sống và sự đào luyện tự nền tảng cho các trẻ nhỏ, các thiếu niên và thanh niên, ngay cả khi chúng là Kitô
hữu và đôi khi đã dấn thân trong đời sống Giáo Hội, đàng khác, giữa kiểu cách sống của chủng viện với
những đòi buộc cho nền đào tạo. Trong bối cảnh này, cùng hiệp thông với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng,
Tôi yêu cầu phải có một giai đoạn xứng hợp cho việc chuẩn bị đi trước nền đào tạo được ban hành ở chủng
viện: “Một giai đoạn chuẩn bị về mặt nhân bản, Kitô giáo, trí thức và thiêng liêng cho các ứng sinh đại
chủng viện là điều hữu ích. Các ứng sinh ấy cũng cần phải hội tụ những đức tính được ấn định: ý hướng
ngay lành, một trình độ trưởng thành nhân bản đầy đủ và một sự hiểu biết khá sâu rộng về giáo thuyết đức
tin, một sự khai đạo vào những phương pháp cầu nguyện và vào một kiểu cách sống phù hợp với truyền
thống Kitô giáo. Các ứng sinh cũng cần phải có những lối cư xử qua đó tùy theo những phong tục của địa
phương mình, chứng tỏ nỗ lực truy tầm Thiên Chúa và đức tin (x. Evangelii nuntiandi, số 48)” 507 .
Sự “hiểu biết khá sâu rộng về giáo thuyết đức tin” mà các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đề cập là điều
kiện phải có trước khi học thần học: không thể nào phát triển “sự thông hiểu của đức tin” nếu như không
nắm vững nội dung “đức tin”. Một lỗ hổng như thế sẽ được dễ dàng lấp đầy hơn nhờ vào bộ Giáo Lý phổ
quát sắp phát hành.Trong khi mọi người đều có chung một niềm xác tín về sự cần thiết phải có giai đoạn chuẩn bị trước
khi gia nhập chủng viện, các quan điểm lại khác biệt nhau về những nội dung và những đặc tính của chủng
viện, nghĩa là về mục đích đệ nhất của chủng viện: đào tạo thiêng liêng để giúp phân định ơn gọi hoặc đào
tạo trí thức và văn hóa. Đàng khác, không thể không kể ra nhiều dị biệt sâu xa vẫn tồn tại chẳng những nơi
các ứng sinh khác nhau, mà còn cả nơi các miền hoặc các quốc gia. Sự kiện ấy kêu mời phải kéo dài giai
đoạn học và thực tập hiện nay, để có thể xác định một cách thích đáng hơn và hợp nghĩa hơn các yếu tố
thuộc về giai đoạn chuẩn bị ấy hay còn gọi là “giai đoạn dự bị”: thời gian, nơi chốn, hình thức, đề tài cho
giai đoạn ấy, để rồi còn phải phối trí giai đoạn ấy với những năm đào tạo kế tiếp ở chủng viện.
Trong chiều hướng ấy, Tôi đích thân lặp lại và Tôi đề nghị một lần nữa với Thánh Bộ Giáo Dục Công
Giáo lời yêu cầu mà các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã phát biểu: “Thượng Hội Đồng yêu cầu Thánh Bộ
Giáo Dục Công Giáo thâu thập tất cả mọi thông tin liên quan tới những kinh nghiệm ban đầu của nền đào
tạo này đã được khởi xướng hoặc đang diễn tiến trong giai đoạn hiện nay. Vào thời gian thích hợp, Thánh
Bộ sẽ chuyển đạt cho các Hội đồng Giám Mục những thông tin về vấn đề này” 508 .
Tiểu chủng viện và những hình thức khác để sát cánh các ơn gọi
63. Như kinh nghiệm lâu dài tỏ rõ cho thấy, biểu hiện đầu tiên của ơn gọi linh mục thường trùng hợp với
những năm tháng đầu của lứa tuổi thanh niên. Và, ngay cả nơi những người quyết định vào chủng viện
muộn hơn, điều thường tình vẫn là nhận ra được sự hiện diện của lời mời gọi đến từ Thiên Chúa vào những
năm tháng xa xưa về trước. Lịch sử Giáo Hội không ngừng làm chứng về những tiếng gọi của Chúa trong
thời tuổi trẻ. Thánh Tôma, chẳng hạn, giải thích lòng ưu ái đặc biệt của Đức Giêsu dành cho Tông Đồ Gioan
“với lý do Gioan còn trẻ tuổi” và rút ra kết luận như sau: “Điều này giúp hiểu được rằng Thiên Chúa đặc biệt
yêu quý những ai hiến thân phục vụ Ngài ngay từ buổi đầu của tuổi trẻ” 509 .
Giáo Hội nỗ lực chăm sóc những hạt mầm ơn gọi được gieo vãi trong tâm hồn các trẻ em; nhờ các tiểu
chủng viện, Giáo Hội thực hiện việc phân định buổi đầu và để tâm sát cánh các hạt mầm ơn gọi ấy. Trong
nhiều vùng trên thế giới, các chủng viện như thế vẫn đang tiếp tục thực hiện một công trình giáo dục quý
giá, để bảo tồn và phát triển những hạt mầm ơn gọi linh mục, hầu các học sinh có thể nhận ra ơn gọi dễ dàng
hơn và được nên đủ khả năng hơn để đáp trả ơn gọi. Phương án giáo dục của các chủng viện này nhắm tạo
điều kiện thuận lợi, một cách xứng hợp và qua từng giai đoạn, cho việc đào tạo nhân bản, văn hóa và thiêng
liêng nhờ đó hướng dẫn người trẻ đi vào con đường đại chủng viện với một nền tảng thích hợp và vững
chắc.
“Luyện tập để nối gót Đức Kitô Cứu Thế với tinh thần quảng đại và với tâm hồn trong trắng”: đó là
mục đích của tiểu chủng viện như đã được nêu dẫn trong sắc lệnh Optatam totius, sắc lệnh này trình bày
kiểu cách giáo dục của tiểu chủng viện như sau: “Dưới sự hướng dẫn bằng tình cha con của các vị bề trên,
với sự hợp tác rất hữu ích của các bậc cha mẹ, các chủng sinh sẽ trải qua một cuộc sống phù hợp với lứa
tuổi, với não trạng và với diễn biến của thời niên thiếu, một cuộc sống đáp ứng trọn vẹn những tiêu chuẩn
của một đời sống tâm lý lành mạnh. Không được bỏ qua việc bảo đảm cho các chủng sinh có được kinh
nghiệm thích hợp về những thực tại nhân linh và về những mối quan hệ bình thường với gia đình” 510 .
Trong giáo phận, tiểu chủng viện sẽ có thể là tụ điểm cho mục vụ các ơn gọi bằng cách đề nghị những
hình thức tiếp đón xứng hợp và bằng cách tạo những cơ hội thông tin cho các thanh thiếu niên đang đi tìm
ơn gọi, hoặc, đã nhất định theo đuổi ơn gọi, nhưng còn buộc phải trì hoãn việc gia nhập chủng viện vì những
lý do như hoàn cảnh đủ loại, gia đình hoặc học vấn.
64. Ở những nơi nào mà tiểu chủng viện – thật sự cần thiết và rất hữu ích, nơi nhiều miền – không thể được
thành lập, cần phải thay thế bằng cách thiết lập những “cơ chế” khác 511 , như, chẳng hạn, những nhóm ơn gọi
dành cho thiếu niên hoặc thanh niên. Mặc dầu không có tính cách trường tồn, các nhóm này sẽ có thể, trong
một bối cảnh cộng đồng, cung cấp những điều kiện thuận lợi cho sự xác quyết và sự tăng trưởng ơn gọi. Vẫn
sống trong gia đình mình, đồng thời thường xuyên lui tới với cộng đoàn Kitô hữu để được giúp đỡ trong tiến
trình đào tạo, các thiếu niên và thanh niên này không thể bị bỏ mặc đơn độc. Họ cần đến một nhóm riêng rẽ
hoặc một cộng đoàn làm nơi quy tụ, để có thể cậy dựa vào đó mà hoàn thành hành trình ơn gọi mà ơn huệ
của Chúa Thánh Thần đã khởi xướng nơi họ.
Bởi vì đây là điều đã luôn xảy ra trong dòng lịch sử Giáo Hội, ngày nay người ta ghi nhận, với một sự
mới mẻ và một sự thường đều đáng kích lệ, hiện tượng những ơn gọi linh mục nảy sinh vào tuổi trưởng
thành, sau một kinh nghiệm lâu dài về cuộc sống giáo dân và về cuộc sống dấn thân trong nghề nghiệp.
Không phải lúc nào cũng là điều có thể và cứ sự thường là điều không xứng hợp, nếu muốn mời gọi những
người lớn tuổi theo đuổi hành trình giáo dục của đại chủng viện. Tốt hơn, sau khi đã phân định kỹ lưỡng tính
chính hiệu của các ơn gọi ấy, cần phải đề ra một hình thức đặc biệt nào đó để sát cánh và để đào tạo, làm thế
nào để vận dụng những thích nghi thỏa đáng mà bảo đảm cho có được một nền đào tạo tất yếu về mặt thiêng
liêng và trí thức 512 . Nếu được điều chế một cách tốt đẹp trong những mối quan hệ với các ứng sinh khác cùng
hướng đến chức linh mục và trong những thời gian có mặt với cộng đoàn đại chủng viện, các ơn gọi ấy sẽ
chắc chắn đạt được sự hội nhập trọn vẹn vào trong linh mục đoàn duy nhất và đạt được sự hiệp thông mật
thiết và thân tình với linh mục đoàn.
III. CÁC CHIẾN HỮU TIÊN PHONG CỦA NỀN ĐÀO TẠO LINH MỤC
Giáo Hội và Giám Mục
65. Bởi vì việc đào tạo các ứng sinh linh mục vốn nằm trong nền mục vụ các ơn gọi do Giáo Hội điều hành,
phải nói rằng Giáo Hội, xét theo đúng bản chất, chính là đại chủ thể (sujet communautaire) được ơn và có
trách nhiệm sát cánh những ai được Chúa kêu gọi trở nên thừa tác viên của Ngài trong chức linh mục.
Trong chiều hướng ấy, chính sự hiểu biết về mầu nhiệm Giáo Hội sẽ giúp chúng ta xác định rõ hơn vị
thế và bổn phận thuộc về các thành phần khác nhau trong Giáo Hội, hoặc như những cá nhân riêng rẽ, hoặc
như những thành phần của một nhóm, một tập thể, trong công việc đào tạo các ứng sinh linh mục.
Tự bản chất thâm sâu, Giáo Hội là “sự tưởng niệm”, là “bí tích” về sự hiện diện và về hoạt động của
Đức Giêsu Kitô ở giữa chúng ta và vì chúng ta. Chính nhờ sự hiện diện cứu độ của Ngài mà chúng ta mới có
được lời mời gọi hướng đến chức linh mục: không chỉ lời mời gọi, mà còn tự sát cánh để cho người được
gọi có thể nhận ra ân sủng của Chúa và đáp lại ân sủng ấy một cách tự do và bằng tình yêu. Chính Thần Khí
của Đức Giêsu tạo ánh sáng và ban sức mạnh cho sự phân định ơn gọi và cho hành trình ơn gọi. Bởi đó,
không thể có công trình đào tạo chính hiệu dành cho chức linh mục nếu không có ân huệ của Thần Khí Đức
Kitô. Bất cứ nhà đào tạo phàm nhân nào cũng phải ý thức đầy đủ điều ấy. Tại sao lại không nhìn thấy ở đó
một “tài nguyên” hoàn toàn miễn phí và triệt để hữu hiệu, một tài nguyên tỏ lộ trọng lượng dứt khoát khi có
sự dấn thân vào việc đào tạo hướng đến chức linh mục? Tại sao lại không mừng rỡ trước phẩm giá của mọi
nhà đào tạo vốn là con người nhưng nay, hiểu theo một nghĩa nào đó, trở thành một người đại diện hữu hình
của Chúa Kitô đối với ứng sinh linh mục? Nền đào tạo linh mục thiết yếu là để chuẩn bị cho vị “mục tử”
tương lai noi theo hình ảnh của Đức Giêsu Kitô Mục Tử Nhân Lành, hỏi còn ai hơn là chính Đức Giêsu
Kitô, nhờ sự tuôn đổ Thần Khí của Ngài, có thể chuyển thông đức ái mục vụ mà Ngài đã thể hiện bằng cuộc
sống đến nỗi hiến ban trọn vẹn chính mình (x. Ga 15, 13; 10, 11), có thể đưa dẫn đức ái mục vụ ấy tới chỗ
trưởng thành, đức ái mà Ngài muốn cho hết mọi linh mục phải lặp lại bằng cuộc sống?
Vị đại diện đầu tiên của Đức Kitô trong việc đào tạo linh mục chính là giám mục. Có thể dùng lời của
tác giả Tin Mừng Mác-cô trong bản văn chúng ta đã trưng dẫn nhiều lần, để nói về giám mục, về mọi giám
mục: “Ngài gọi những kẻ Ngài muốn đến với Ngài. Họ đã đến với Ngài và Ngài đã thiết lập họ thành Nhóm
Mười Hai để họ nên bạn đồng hành với Ngài và để sai họ đi rao giảng…” (Mc 3, 13-14). Thật ra, tiếng gọi
bên trong của Thần Khí cần phải được xác nhận bởi tiếng gọi chính hiệu của giám mục. Nên tất cả mọi
người đều có thể “đến với giám mục” vì giám mục là Cha và là Mục Tử của mọi người, thì các linh mục
chung chia với giám mục cùng một chức tư tế và cùng một thừa tác vụ: theo lời Công Đồng, giám mục phải
coi các linh mục và đối xử với các linh mục như “những người anh em và những người bạn” 513 . Có thể loại
suy để áp dụng điều đó cho những ai đang chuẩn bị tiến đến chức linh mục. Còn về điểm khác: “nên bạn
đồng hành với ngài”, bạn đồng hành với giám mục, thì trách nhiệm của giám mục, với tư cách là nhà đào tạo
của các ứng sinh linh mục, đòi ngài phải có bổn phận thăm viếng các linh mục thường đều và một cách nào
đó phải nên “bạn đồng hành với các linh mục”.
Sự hiện diện của giám mục mang một giá trị đặc biệt, chẳng những bởi vì sự hiện diện ấy giúp cộng
đoàn chủng viện sống hội nhập với giáo Hội địa phương và hiệp thông với Vị Mục Tử dẫn dắt Giáo Hội này,
nhưng còn bởi vì sự hiện diện ấy đem lại căn tính cho cộng đoàn và phục vụ cứu cánh mục vụ là đặc tính
của nền đào tạo các ứng sinh linh mục. Nhất là, với sự hiện diện ở giữa các ứng sinh linh mục, qua việc chia
sẽ cho họ tất cả những gì liên quan đến hành trình mục vụ của Giáo Hội địa phương, giám mục mang lại một
nhân tố cơ bản để cho các ứng sinh được đào tạo về “cảm thức Giáo Hội” vốn là một giá trị thiêng liêng và
mục vụ trung tâm trong việc thi hành thừa tác vụ linh mục.
Cộng đoàn giáo dục trong chủng viện
66. Cộng đoàn giáo dục trong chủng viện được xây dựng xung quanh những nhà đào tạo khác: viện trưởng,
cha linh hướng hoặc cha thiêng liêng, các bề trên và các giáo sư. Tất cả những nhà đào tạo này phải tự cảm
thấy liên kết mật thiết với giám mục mà họ đóng vai đại diện dưới những tước vị khác nhau và bằng những
cách thức khác nhau; giữa họ với nhau, họ cần phải có một sự hiệp thông và một sự cộng tác sâu đậm và
chân tình. Mối dây hiệp nhất giữa các nhà giáo dục làm cho phương án giáo dục có thể được thực hiện đúng
mức và nhất là mang lại cho các ứng sinh linh mục một gương mẫu giàu ý nghĩa và cụ thể về sự hiệp thông
Giáo Hội, giá trị cơ bản của đời sống Kitô hữu và của thừa tác vụ mục tử.
Điều hiển nhiên là hiệu năng của việc đào tạo phần lớn tùy thuộc vào nhân cách chín chắn và vững
vàng của các nhà đào tạo, về phương diện nhân bản và Tin Mừng. Vì thế, điều hết sức hệ trọng là phải chọn
lọc kỹ lưỡng các nhà đào tạo và phải tích cực khuyến khích họ tự tôi luyện cho ngày càng trở nên thích ứng
hơn với trọng trách được ủy thác cho họ. Vì biết chắc rằng việc chuẩn bị cho các ứng sinh linh mục tùy
thuộc vào sự lựa chọn các nhà đào tạo và vào nền đào tạo mà các vị ấy cung ứng, các Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng đã xác định khá dài dòng về những đức tính dành cho các nhà đào tạo. Chẳng hạn các ngài đã viết:
“Trọng trách đào tạo các ứng sinh linh mục đòi hỏi các nhà đào tạo phải được chuẩn bị một cách đặc biệt, về
những phương diện thật sự là kỹ thuật, sư phạm, thiêng liêng, nhân bản và thần học, nhưng cũng phải được
chuẩn bị về một tinh thần đoàn kết và cộng tác, để có thể thực hiện chương trình đào tạo trong một mối dây
hiệp nhất rất chặt chẽ, sao cho luôn luôn bảo toàn được sự thống nhất trong hoạt động mục vụ của chủng
viện dưới quyền viện trưởng. Tập thể các nhà đào tạo phải làm chứng về một đời sống thực sự phản ánh Tin
Mừng và về sự tận hiến hoàn toàn cho Chúa. Điều xứng hợp là nhà đào tạo cần được hưởng một sự ổn định
và cần có chỗ cư ngụ thường xuyên trong cộng đoàn chủng viện. Nhà đào tạo phải luôn liên kết mật thiết với
giám mục, vì giám mục là người đầu tiên chịu trách nhiệm về việc đào tạo các linh mục” 514 .
Các giám mục phải là những người đầu tiên cảm thấy trách nhiệm nghiêm trọng của mình trong việc
đào tạo những người sẽ đảm nhận việc giáo dục các linh mục tương lai. Đối với thừa tác vụ giáo dục này,
cần phải chọn những linh mục có đời sống gương mẫu và sở đắc một tập hợp những đức tính như: “Sự
trưởng thành nhân bản và thiêng liêng, kinh nghiệm mục vụ, uy thế nghiệp vụ, sự ổn định trong ơn gọi của
riêng mình, sự đào luyện về mặt lý thuyết trong những khoa học nhân văn (đặc biệt tâm lý học) tương ứng
với trách nhiệm được giao phó, sự thành thạo về những phương pháp làm việc tập thể” 515 .
Mặc dầu vẫn tôn trọng sự phân biệt giữa các bên trong với cái bên ngoài, mặc dầu vẫn tôn trọng tự do
hoàn toàn trong việc lựa chọn cha giải tội cũng như tôn trọng sự khôn ngoan và thận trọng phù hợp với thừa
tác vụ linh hướng, cộng đoàn linh mục gồm những nhà giáo dục phải cảm thấy liên đới lẫn nhau trong trách
nhiệm giáo dục các ứng sinh linh mục. Chính cộng đoàn này, luôn luôn quy chiếu về sự đánh giá có thẩm
quyền của giám mục và của viện trưởng, sẽ đóng vai thăng tiến và kiểm nghiệm khả năng thích ứng của các
ứng sinh về mặt tài năng thiêng liêng, nhân bản và trí thức, nhất là về những gì liên quan tới tinh thần cầu
nguyện, về sự hấp thụ sâu xa giáo lý đức tin, về khả năng sống tình huynh đệ chính hiệu, về đặc sủng sống
độc thân 516 .
Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhắc nhở, trong khi vẫn chú trọng đến những chỉ dẫn của
Tông Huấn Christifideles laici và của Tông Thư Mulieris dignitatem 517 , trong đó có sự nhấn mạnh về ích lợi
của một nguồn ảnh hưởng lành mạnh cho mọi đường lối giáo dục do tự đời sống tu đức của người giáo dân
và do tự đặc sủng của giới nữ, còn một điều quan trọng nữa, đó là phải tiêu liệu, dưới những hình thức khôn
khéo và thích ứng với từng bối cảnh văn hóa, cho có được sự cộng tác của các tín hữu giáo dân, nam cũng
như nữ, trong công trình đào tạo các linh mục tương lai. Họ phải được chọn lựa một cách kỹ lưỡng, trong
khuôn khổ những luật lệ của Giáo Hội, tùy theo đặc sủng riêng của họ và những sở đắc của họ như đã được
thử nghiệm. Với sự cộng tác của họ, được điều hợp và đan kết kỹ lưỡng vào những trách nhiệm giáo dục của
những vị đóng vai trò đào tạo các linh mục tương lai, chúng ta có quyền chờ đợi những thành quả rất hữu
ích cho các ứng sinh linh mục để họ có được một sự tăng triển quân bình về cảm thức Giáo Hội và một nhận
thức chính xác hơn về căn tính linh mục 518 .
Các giáo sư thần học
67. Những người hướng dẫn và sát cánh với các linh mục tương lai để đi vào học thuyết linh thánh (doctrina
Sacra), bằng việc giảng dạy thần học, có một trách nhiệm giáo dục đặc thù, trách nghiệm này, dựa theo kinh
nghiệm, thường được nhìn nhận là mang nhiều tầm mức định đoạt hơn là trách nhiệm của các nhà giáo dục
khác trong việc phát triển nhân cách của người linh mục tương lai.
Chưa kể đến những quan hệ sư phạm với các ứng sinh linh mục, trách nhiệm của các giáo sư thần học
bao gồm quan niệm mà chính họ phải có về bản chất thần học và về bản chất thừa tác vụ linh mục, cũng như
bao gồm tinh thần và cú pháp mà họ dùng để diễn giải giáo trình thần học của mình. Theo chiều hướng ấy,
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã quyết đúng nghĩa khi nói “nhà thần học phải ý thức rõ rệt rằng, trong
việc giảng dạy, mình không vận dụng uy thế tự nơi chính mình, nhưng phải khơi dậy và thông truyền nhận
thức đức tin nhân danh Chúa và Giáo Hội. Bằng cách ấy, trong khi vẫn sử dụng những tài nguyên mới của
khoa học, nhà thần học thi hành thừa tác vụ của minh theo sự ủy thác của Giáo Hội và cộng tác với giám
mục trong bổn phận dạy dỗ của ngài. Bởi vì các nhà thần học cũng như các giám mục đều phục vụ cùng một
Giáo Hội trong công việc thăng tiến đức tin, họ phải cùng nhau phát huy và vun trồng một lòng tin cậy lẫn
nhau, và, trong tinh thần ấy, họ cũng phải thắng vượt những đôi co và những xung khắc (x.phần khai triển
trong Huấn Thị của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin về “ơn gọi mang chiều kích Giáo Hội của nhà thần học”) 519 .
Cũng như mọi nhà giáo dục khác, vị giáo sư thần học phải duy trì sự hiệp thông và phải cộng tác chân
tình với tất cả những người khác cũng đã hiến thân cho việc đào tạo linh mục tương lai, họ phải nhờ vào sự
chuẩn mực khoa học, lòng quảng đại, thái độ khiêm nhượng và say mê, mà mang lại một sự đóng góp độc
đáo và ưu tú; sự đóng góp ở đây không phải chỉ là truyền đạt học thuyết – cho dầu đó là học thuyết thánh –
nhưng, trên hết là trình bày một lối nhìn, một nhãn quan hầu có thể liên kết thành một mối, trong kế hoạch
của Thiên Chúa, tất cả mọi kiến thức của con người và mọi biểu hiệnkhác nhau của đời sống.
Các giáo sư thần học có khả năng chuyên biệt và có hiệu năng đào tạo hay không là tùy thuộc nơi đức
tính của họ : trước hết phải là “ những con người đúc tin và đầy lòng yêu mến Giáo Hội, rồi phải xác tín rằng
chủ thể phân minh nắm giữ sự hiểu biết về mầu nhiệm Kitô giáo vẫn luôn luôn là Giáo Hội xét như là Giáo
Hội; phải tin chắc rằng bổn phận dạy dỗ của mình là một thừa tác vụ chính hiệu của Giáo Hội’ phải khá dồi
dào về cảm quan mục vụ để có thể phân định trong việc thi hành thừa tác vụ ấy chẳng những đâu là những
nội dung nhưng còn đâu là cách trình bày nnhững nội dung ấy cho thích ứng. Các giáo sư được yêu cầu phải
hoàn toàn vâng phục Huấn Quyền : là những chứng nhân của đức tin, các giáo sư giảng dạy nhân danh Giáo
Hội” 520 .
Các cộng đoàn xuất phát, các hiệp hội và phong trào người trẻ.
68. Mặc dầu sự lựa chọn ơn gọi đã nhất thiết dẫn đến thái độ dứt bỏ, những cộng đoàn mà từ đó các ứng sinh
linh mục đã xuất phát vẫn còn tiếp tục nắm giữ một tầm ảnh hưởng không thể coi thường đối với việc đào
tạo linh mục tương lai.. bởi đó, các cộng đoàn ấy phải ý thức phần trách nhiệm đặc biệt về mình.
Trước tiên phải kể đến gia đình : các bậc cha mẹ, các anh chị em và các thành phần khác trong vòng
vây gia đình không bao giờ được tìm cách đặt linh mục tương lai trở về với những giới hạn quá chật hẹp của
một kiểu lập luận quá nhân loại, nếu không nói quá trần tục, ngay cả khi vì tình nghĩa chân thành (x. Mc
3,20-21.31-35). Ngược lại, chính mình được thôi thúc bởi ước muốn “thi hành thánh ý Thiên Chúa”, họ sẽ
có thể sát cánh với bước đường đào tạo bằng việc cầu nguyện, lòng kính trọng, gương sáng về những nhân
đức gia đình, sự trợ giúp tinh thần và vật chất, nhất là trong những giai đoạn khó khăn. Kinh nghiệm dạy cho
chúng ta rằng, trong nhiều trường hợp, sự trợ giúp đa dạng ấy đã được coi là có tính định đoạt đối với ứng
sinh linh mục. Ngay cả trong trường hợp cha mẹ và gia đình dửng dưng hoặc chống đối việc lựa chọn ơn
gọi, cách phát biểu lập trường trong sáng và minh bạch của họ cùng với động cơ kích thích phát xuất từ đó,
đối với chủng sinh, sẽ là một trở lực lớn lao để cho ơn gọi linh mục được chín muồi một cách có ý thức hơn
và nhất định hơn.
Trong liên hệ sâu đậm với gia đình, có cộng đoàn giáo xứ ; cả hai kết hiệp với nhau trên phương diện
giáo dục đức tin. Hơn nữa, nhờ một nền mục vụ đặc biệt dành cho những người trẻ và ơn gọi, giáo xứ đóng
vai trò bổ khuyết trong tương quan với gia đình. Nhất là, với tư cách thể hiện mầu nhiệm Giáo Hội một cách
kề cận hơn, giáo xứ cống hiến một sự đóng góp nguồn cội hết mực quý giá cho nền đào tạo linh mục tương
lai. Cộng đoàn giáo xứ phải tiếp tục coi người trẻ đang trên đường tiến tới chức linh mục như một thành
phần sống động của mình. Cộng đoàn giáo xứ phải sát cánh với người trẻ bằng việc cầu nguyện, phải đón
tiếp người trẻ một cách chân tình trong những thời gian nghỉ hè, phải tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để
người trẻ được đào tạo về căn tính linh mục của mình, bằng cách tạo cho người trẻ những cơ hội thích đáng
và những kinh nghiệm phù hợp nhằm tôi luyện ơn gọi của người trẻ trước sứ vụ linh mục.
Cả các hiệp hội và các phong trào người trẻ, là dấu chỉ và là lời xác quyết về sức sống mà Thần Khí
bảo đảm ban cho Giáo Hội, cũng có thể và phải đóng góp vào việc đào tạo các ứng sinh linh mục, cách riêng
cho những người đã sống kinh nghiệm Kitô hữu, thiêng liêng và tông đồ trong các cộng đoàn ấy. Những
người trẻ đã lãnh nhận sự đào tạo nền tảng trong các hiệp hội như thế và đang qui chiếu về đó để múc lấy
kinh nghiệm về Giáo Hội không được để cho mình cảm thấy như bị mời gọi thoát ra khỏi quá khứ và cắt đứt
những mối tương quan với môi trường đã góp phần giúp mình đáp lại ơn gọi. Những người rẻ ấy không
được xóa bỏ những đường nét tiêu biểu của nền linh đạo mà mình đã lãnh nhận và sống ở đó, với tất cả
những gì tốt lành’ là xây dựng và là làm cho phong phú mà mình nắm giữ được 521 . Bởi đó, đối với họ, môi
trường xuất phát vẫn tiếp tục là nguồn trợ lực và nâng đỡ trên bước đường đào tạo linh mục.
Những cơ hội giáo dục đức tin, những cơ hội tăng triển Kitô giáo và Giáo Hội mà Chúa Thánh Thần
tạo cho biết bao người trẻ, qua muôn vàn hình thức tập thể, nhóm, phong trào và hiệp hội với nguồn hứng
khởi tin mừng đa dạng, cần phải được nhận định và sống như một ân huệ đến từ một nguồn mạch nuôi
dưỡng ở bên trong cơ chế và nhằm phục vụ cho cơ chế. Thật vậy, một phong trào riêng biệt hay một nền linh
đạo riêng biệt thì “không phải là một cấu trúc thay cho cơ chế. Ngược lại, đó là nguồn mạch không ngừng
tái tạo tính chính hiệu hiện sinh và lịch sử của cơ chế. Bởi đó, linh mục cần phải tìm thấy, trong một phong
trào, ánh sáng và sức nóng nhờ đó mình có đủ khả năng trung thành với giám mục nhờ đó mình được chuẩn
bị sẵn sàng để chu toàn những đòi buộc của cơ chế và để chú tâm tới kỷ luật của hàng giáo sĩ, nhằm mục
đích làm cho nhiệt tình đức tin và ước muốn trung tín của mình được nên đậm đà hơn” 522 .
Bởi vậy, trong cộng đoàn mới của chủng viện mà họ được giám mục qui tụ, những người trẻ xuất phát
từ các hiệp hội và các phong trào của Giáo Hội cần phải học tập “sự kính trọng đối với những con đường
thiêng liêng khác, tinh thần đối thoại và cộng tác”, họ cần phải tuân thủ một cách nhiệm nhặt và chân tình
những chỉ dẫn đào tạo mà giám mục và các nhà giáo dục của chủng viện ban hành, bằng cách rập theo
những hiệu lệnh và những phán quyết của các vị ấy với lòng tin cậy chân thành 523 . Thật ra, thái độ ấy sửa
soạn và, một cách nào đó, chuẩn bị trước cho sự lựa chọn chính hiệu của linh mục nhằm phục vụ toàn thể
Dân Chúa, trong sự hiệp thông huynh đệ với linh mục đoàn và trong sự vâng phục đối với giám mục.
Việc chủng sinh hoặc linh mục triều tham dự vào những nền linh đạo riêng biệt và vào những nhóm
hoặc tập thể thuộc về Giáo Hội chắc chắn tự nó là một yếu tố ích lợi cho sự tăng trưởng và cho tình huynh
đệ linh mục. Dầu vậy, sự tham dự ấy không được gây phiền lụy nhưng ngược lại, phải trợ giúp cho việc thi
hành thừa tác vụ và đời sống thiêng liêng đặc thù của linh mục triều, vì linh mục triều “vẫn luôn là mục tử
của toàn thể mọi người. Linh mục triều chẳng những là người “thường trực” sẵn sàng phục vụ mọi người mà
còn đóng vai trò chủ sự trong cuộc gặp gỡ mọi người – cách riêng ngài đứng đầu các giáo xứ -, ngõ hầu mọi
người gặp được sự tiếp đón mà họ có quyền chờ đợi trong cộng đoàn và trong Tiệc Thánh Thể là cơ hội qui
tụ của họ, không kể đến tính nhạy cảm tôn giáo cũng như con đường dấn thân mục vụ của họ” 524 .
Đích thân ứng sinh
69. Sau hết, không thể quên được rằng ứng sinh linh mục chính mình là chiến hữu tiên phong cần thiết và
bất khả thay thế cho nền đào tạo của mình : mọi nền đào tạo, kể cả đào tạo linh mục, cuối cùng là một công
cuộc tự đào tạo. Quả vậy, không ai có thể trám chỗ cho tự do hữu trách của mỗi người với tính cách là ngôi
vị độc nhất.
Chắc chắn linh mục tương lai phải là người đầu tiên nhân thức một cách mãnh liệt hơn rằng Vị Chiến
Hữu Tiên Phong tuyệt hảo của nền đào tạo dành cho mình, đó là Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho trái tim
mới, làm cho nên đồng hình dạng và nên một với Đức Giêsu Kitô Mục Tử Nhân Lành : hiểu như thế, ứng
sinh sẽ phải củng cố triệt để tự do của mình bằng cách đón nhận hoạt động giáo dục của Chúa Thánh Thần.
Thế nhưng, đón nhận hoạt động ấy thì, về phía ứng sinh linh mục, cũng có nghĩa là đón nhận những “vai trò
trung gian” nhân lọai mà Chúa Thánh Thần sử dụng, chính vì thế, hoạt động của các nhà giáo dục chỉ hữu
hiệu và thực sự trọn vẹn nếu linh mục tương lai cộng tác vào đó một cách tự thân, thâm tín và vui lòng.
CHƯƠNG VI
CHA KÊU MỜI CON KHƠI THẮM LẠI ÂN HUỆ MÀ THIÊN CHÚA ĐÃ ĐỔ XUỐNG NƠI CON
VIỆC ĐÀO TẠO TRƯỜNG KỲ
DÀNH CHO CÁC LINH MỤC
Những lý do thần học của việc đào tạo trường kỳ
70. “Cha kêu mời con khơi thắm lại ân huệ mà Thiên Chúa đã đổ xuống nơi con” (2Tm 1,6).
Lời thánh Tông Đồ Phaolô nói vơi Timôthê có thể áp dụng thích hợp cho việc đào tạo trường kỳ mà
tất cả các linh mục được kêu gọi thực hiện nhân danh “ân huệ của Thiên Chúa” đã lãnh nhận ngày thụ
phong. Lời ấy giúp chúng ta hiểu được tất cả sự thật và căn nguyên của việc đào tạo trường kỳ dành cho các
linh mục. Một văn bản khác của Phaolô, gởi cho cùng một Timôthê, cũng giúp chúng ta hiểu điều ấy : “Con
chớ khinh màng ân huệ thiêng liêng có ở nơi con, ân huệ mà cộng đoàn niên trưởng đã chuyển thông cho
con nhờ sự can thiệp với tư cách ngôn sứ kèm theo việc đặt tay. Con hãy để tâm vào đó. Hãy dồn trọn vẹn
con người con vào đó, để cho những thành tựu của con được mọi người thấu tỏ. Hãy thận trọng về chính
mình và về công việc giáo huấn : cứ kiên trì trong những việc ấy. Hành động như thế là con tự cứu thoát
chính mình, cả con và những người nghe con nữa” (1Tm 4,14-16).
Như người ta nhen nhúm lại ngọn lửa dưới đám tro, Thánh Tông Đồ van xin Timôthê “khơi thắm lại”
ân huệ thần thiêng, đón nhận ân huệ ấy mà không bao giờ đánh mất hoặc quên đi “sự mới mẻ trường tồn”
đặc biệt cho từng ân huệ của Thiên Chúa, Đấng làm mới lại mọi sự (x. Kitô hữu 21,5), và do đó, sống ân huệ
ấy trong tất cả sự tươi mát và vẻ đẹp ban đầu.
“Khơi thắm lại” ân huệ thần thiêng không chỉ là chu toàn một bổn phận được ủy thác cho trách nhiệm
cá nhân của Timôthê, cũng không chỉ là hiệu suất do nỗ lực của ký ức và của ý chí mang lại. Đó là thành quả
do sự năng động ân sủng chỉ thuộc về ân huệ của Thiên Chúa. Thật ra, chính Thiên Chúa khơi thắm lại chính
ân huệ của Ngài, hay nói đúng hơn, giải thoát nguồn phong phú phi thường của ân sủng và của trách nhiệm
mà ân huệ Ngài ẩn chứa. Nhờ tác động của bí tích là sự tuôn đổ Thánh Thần, Đấng thánh hiến và sai phái,
linh mục nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Đầu và Mục Tử của Giáo Hội, và linh mục được sai đi để
thi hành thừa tác vụ mục tử. Bởi đó, mãi mãi và không bao giờ phai, linh mục được ghi ấn tín trong hữu thể
của mình với tư cách là thừa tác viên của Đức Giêsu và của Giáo Hội. Linh mục hội nhập vào một tình trạng
sống trường kỳ không thể đổi thay và đảm nhận một thừa tác vụ mục tử, thừa tác vụ này, vì bén rễ trong hữu
thể của linh mục, và đưa vào cuộc trọn vẹn đời sống của linh mục, chính nó cũng trường kỳ. Bí Tích Truyền
Chức Thánh chuyển ban cho linh mục ân sủng bí tích, làm cho linh mục chẳng những tham dự vào “quyền
năng” và vào”thừa tác vụ” cứu độ của Đức Giêsu, mà còn vào “tình yêu” của Ngài. An sủng ấy đồng thời
bảo đảm cho linh mục có được mọi ơn hiện sủng sẽ được ban cho linh mục mỗi khi cần thiết và hữu ích, để
linh mục chu toàn tốt đẹp thừa tác vụ mình đã lãnh nhận.
Như thế, việc đào tạo trường kỳ tìm được nền tảng đặc thù và động cơ nguồn cội của mình trong sự
năng động của bí tích Truyền Chức Thánh.
Chắc chắn không hề thiếu lý do, ngay cả trên bình diện nhân linh, để kêu mời linh mục tham gia vào
việc đào tạo trường kỳ. Việc đào tạo trường kỳ là một đòi hỏi của sự tăng trưởng con người nơi linh mục :
mỗi cuộc đời là một cuộc hành trình lần bước liên lỉ tiến tới sự trưởng thành vốn đòi buộc phải không ngừng
đào tạo. Hơn nữa, đó còn là một đòi hỏi của thừa tác vụ linh mục, nếu xét thừa tác vụ ấy theo bản chất tổng
quát, phổ cập với mọi nghiệp vụ khác, như việc phục vụ tha nhân. Ngày nay, không có nghề nghiệp nào,
không có con đường dấn thân nào và không có việc làm nào mà lại không đòi hỏi phải cập nhật hóa liên tục
để đạt được hiệu năng. Sự đòi buộc phải “bám sát” bước đi của lịch sử lại là một lý do nhân linh nữa để biện
minh cho việc đào tạo trường kỳ.
Thế nhưng, tất cả những nguyên do ấy và các nguyên do khác đều được thâu tóm và phân loại bởi
những lý do thần học đã được nhắc tới trên đây và sắp được đào sâu trong phần kế tiếp.
Do bản chất là “dấu chỉ”, đặc tính của mọi bí tích, bí tích Truyền Chức Thánh có thể được coi như và
thật sự là Lời của Thiên Chúa : đó là Lời của Thiên Chúa, Đấng mời gọi và sai phái, đó là biểu hiện mãnh
liệt nhất của on gọi và của sứ vụ linh mục. Nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, Thiên Chúa mời gọi ứng sinh
“bước tới” chức linh mục trtước mặt Giáo Hội.
Lời mời gọi “hãy đến và theo Ta” của Chúa Giêsu được công bố trọn vẹn và dứt khoát trong nghi thức
cử hành bí tích của Giáo Hội Ngài ; lời mời ấy được biểu lộ và truyền đạt bằng tiếng nói của Giáo Hội, trên
môi niệng của giám mục, khi ngài cầu nguyện và đặt tay. Và trong đức tin, linh mục đáp lại lời nời của Chúa
Giêsu ; “Này đây, con xin đến và con xin theo Ngài”. Lúc đó, lời đáp trả, sự lựa chọn cơ bản mới chỉ khởi
đầu, lời ấy còn phải được tái bộc lộ và tái khẳng dịnh theo dòng năm tháng bằng muôn vàn lời đáp trả khác,
lời nào cũng được bén rễ và cũng được nên sinh động nhờ tiếng “xin vâng” của ngày thụ phong.
Trong chiều hướng ấy, hẳn nhiên có thể nói về một ơn gọi “trong” chức linh mục. Thực ra, Thiên
Chúa tiếp tục mời gọi và sai gởi khi Ngài tỏ lộ kế hoạch cứu độ của Ngài trong diễn tiến đời sống của linh
mục, trong những biến cố của đời sống Giáo Hội và xã hội. Chính trong lối nhìn này mà ý nghĩa của việc
đào tạo trường kỳ được nhận diện ; việc đào tạo trường kỳ là cần thiết để có thể phân định và bước theo ơn
gọi thường hằng hoặc thánh ý của Thiên Chúa. Chính bởi đó mà ngay cả sau khi Đấng Phục Sinh đã uỹ thác
đoàn chiên của Ngài cho Phêrô, Thánh Tông Đồ Phêrô vẫn được mời gọi để bước theo Đức Giêsu : “Đức
Giêsu nói với Phêrô : “Con hãy chăn dắt đoàn chiên của Thầy. Quả thật, quả thật, Thầy nói cho con hay, khi
con còn trẻ, con tự thắt dây lưng cho mình, con muốn đi đâu thì đi ; nhưng khi con về già, con sẽ giang tay
ra, người khác sẽ thắt dây lưng cho con và sẽ dẫn con đi nơi mà con không muốn”. Qua đó, Ngài muốn ám
chỉ cách mà Phêrô sẽ phải chết để làm vinh danh Thiên Chúa. Nói thế rồi, Ngài bảo Phêrô : “Hãy theo Thầy”
(Ga 21,17-19). Như vậy, có lời mời “ hãy theo Ta” đó xác quyết lời mời gọi và sự đòi buộc phải trung thành
cho đến chết (x. Ga1,22), lời mời gọi đó có thể ám chỉ một cuộc nối gót theo Đức Kitô bằng cách trao hiến
trọn vẹn chính mình qua việc tử đạo 525 .
Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã trình bày lý do chứng tỏ sự cần thiết của việc đào tạo trường kỳ
và biểu lộ bản chất sâu xa của việc đào tạo ấy, khi các ngài đánh giá việc đào tạo trường kỳ như là “sự trung
thành” đối với thừa tác vụ linh mục và như là “một tiến trình hoán cải liên tục” 526 . Chính Chúa Thánh Thần,
được ban trong bí tích, là Đấng nâng đỡ linh mục trong sự trung thành ấy, sự trung thành đi kèm với linh
mục và động viên linh mục trong tiến trình hoán cải liên tục. An huệ của Chúa Thánh Thần không thay thế,
nhưng cổ võ tự do của linh mục, để linh mục cộng tác một cách có trách nhiệm vào việc đào tạo trường kỳ,
xét như là trọng trách được giao phó cho linh mục, và để linh mục đảm nhận việc đào tạo ấy. Với cách thức
ấy, đào tạo trường kỳ vừa là biểu hiện vừa là điều kiện của việc linh mục trung thành với thừa tác vụ và hơn
nữa, với chính con người mình. Như thế, đào tạo trường kỳ là tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô và sự nhất
quán đối với chính mình. Nhưng đó cũng là một động tác tình yêu đối với Dân Thiên Chúa mà linh mục là
người tôi tớ phục vụ. Cũng có thể coi đó thực sự là một hành vi công bằng : linh mục phải thanh thỏa điều
ấy, linh mục được mời gọi công nhận và thăng tiến “quyền lợi” cơ bản của Dân Thiên Chúa, là quyền được
đón nhận Lời Chúa, các bí tích và việc phục vụ bác ái: ba yếu tố làm thành nội dung nguồn cội và không thể
giản lược của thừa tác vụ linh mục. Đào tạo trường kỳ là cần thiết để linh mục có thể đáp lại một cách thích
ứng quyền lợi ấy của Dân Thiên Chúa.
Linh hồn và hình dạng của việc đào tạo trường kỳ dành cho linh mục chính là đức ái mục vụ. Là Đấng
ban đức ái mục vụ cho linh mục, Chúa Thánh Thần hướng dẫn linh mục và sát cánh với linh mục trong việc
hiểu biết ngày càng sâu rộng hơn về mầu nhiệm Đức Kitô mà sự phong phú vốn không thể dò thấu (x. Ep
3,14-19), và, bằng cùng một động tác, trong việc hiểu biết về mầu nhiệm chức tư tế Kitô hữu. Cũng chính
đức ái mục vụ ấy thúc đẩy linh mục quan tâm ngày càng bén nhạy hơn đến những mong chờ, những nhu
cầu, những vấn đề và những tâm tình của những người hưởng nhờ thừa tác vụ của mình : tất cả những điều
ấy trong tình huống cụ thể, cá nhân, gia đình và xã hội của họ.
Như thế, mục tiêu của việc đào tạo trường kỳ chính là : một phương án tự do và có ý thức để đáp ứng
sự năng động của đức ái mục vụ và của Chúa Thánh Thần, Đấng là nguồn mạch chính yếu và là giá đỡ nâng
thường hằng của phương án ấy. Hiểu như thế, đào tạo trường kỳ là đòi buộc nội tại của ân huệ ngày thụ
phong và của thừa tác vụ bí tích như đã lãnh nhận. Đào tạo trường kỳ được nhìn nhận là cần thiết mãi mãi,
bất cứ lúc nào. Dầu vậy, ngày nay, đó là một công việc thật sự bức bách, chẳng những do bởi sự biến đổi
mau lẹ những điều kiện xã hội và văn hóa của những con người và những dân tộc mà linh mục được sai đến
để thi hành thừa tác vụ linh mục, nhưng còn do bởi “công cuộc phúc âm hóa mới” đang là trách vụ khẩn
thiết của Giáo Hội vào cuối thiên niên kỷ thứ hai này.
Các chiều kích đa dạng của việc đào tạo trường kỳ
71. Việc đào tạo trường kỳ dành cho các linh mục, triều hoặc dòng, là một sự nối dài hết sức tự nhiên và
hoàn toàn cần thiết đối với tiến trình cơ cấu hóa nhân cách linh mục đã khởi sự và khai triển ở chủng viện,
hoặc tại cơ sở tôn giáo, trong thời gian đào tạo để được phong chức.
Điều hết sức quan trọng là phải nhận thức và tôn trọng mối liên hệ nội tại giữa việc đào tạo trước ngày
thụ phong với việc đào tạo kế tiếp về sau. Bởi vì nếu có sự gián đoạn hoặc thậm chí sự đối nghịch giữa hai
giai đoạn đào tạo thì tức khắc sẽ xảy đến những hậu quả trầm trọng đối với hoạt động mục vụ và đối với sự
hiệp thông huynh đệ giữa các linh mục với nhau, nhất là giữa những linh mục thuộc lứa tuổi khác nhau. Đào
tạo trường kỳ không phải là lặp lại việc đào tạo đã thành tựu nơi chủng viện để rồi chỉ ôn lại và nới rộng
bằng những áp dụng mới mẻ hơn. Với một nội dung và nhất là với những phương thức tương đối mới mẻ,
việc đào tạo trường kỳ được khai triển như một thực thể sinh động và toàn diện. Việc đào tạo trường kỳ vừa
bén rễ trong nền đào tạo đã lãnh nhận ở chủng viện vừa đòi hỏi những thích nghi, những cập nhật hóa và
những tu chỉnh, nhưng không vì thế mà gây những rạn nứt hoặc chỉ đi tìm những giải pháp bảo tồn tính liên
tục.
Đàng khác, việc đào tạo trường kỳ được dự liệu ngay từ thời gian ở chủng viện. Cần phải vận động sự
quan tâm và lòng khao khát của các linh mục tương lai bằng cách chỉ dạy cho họ về sự cần thiết, về những
lợi ích và về tinh thần của việc đào tạo trường kỳ và bằng cách bảo đảm cho họ có được những điều kiện để
thực thi việc đào tạo ấy.
Bởi vì nối dài việc đào tạo ở chủng viện, đào tạo trường kỳ không chỉ nhắm đến một thái độ gọi là
hành nghề nhờ thực tập những kỷ thuật mục vụ mới mà thôi. Đúng hơn, việc đào tạo trường kỳ phải gìn giữ
sao cho cả một tiến trình liên tục nhằm tấn tới trong sự trưởng thành được sống động và toàn vẹn, bằng cách
trau dồi từng chiều kích của nền đào tạo (nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ) cũng như trau dồi mối
tương quan chặt chẽ và đặc loại giữa các chiều kích ấy với nhau trong đức ái mục vụ.
72. Một khía cạnh đầu tiên của công việc trau dồi nói trên liên quan đến chiều kích nhân bản của nền đào tạo
linh mục. Linh mục cần phải lớn lên trong việc tiếp xúc thường ngày với người khác và trong việc chia sẻ
cuộc sống với họ mỗi ngày ; linh mục cần phải trau dồi tính nhạy bén nhân bản để nhờ đó có thể hiểu được
những nhu cầu và đón nhận những lời kêu cứu, có thể trực giác những yêu cầu không được phát biểu thành
lời, có thể chia sẻ những mối hy vọng và những nỗi mong chờ, có đủ khả năng gặp gỡ từng người và đối
thoại với mọi người. Trên tất cả, trong khi am hiểu và chia sẻ, nghĩa là trong khi biến thành của mình kinh
nghiệm khổ đau của con người dưới mọi hình thức, từ cơ bần đến bệnh tật, từ lạc loài đến ngu dốt, từ cô đơn
đến đủ loại nghèo đói vật chất hoặc tinh thần, linh mục làm cho kinh nghiệm nhân bản của mình được nên
phong phú, biến nó thành chính hiệu hơn và xuyên thấu hơn trong một tình yêu ngày càng gia tăng và nồng
nhiệt đối với con người.
Để cho nền đào tạo nhân bản của mình được triển nở, linh mục đón nhận trợ lực từ nơi ân sủng của
Đức Giêsu Kitô : thực vậy, đức ái của Vị Mục Tử Nhân Lành chẳng những được biểu lộ nơi ơn cứu độ ban
cho con người nhưng còn nơi việc chia sẻ cuộc sống với con người ; Ngôi Lời khi hóa nên “xác phàm” (x.
Ga 1,14) đã muốn nếm cảm niềm vui và nỗi khổ, nghiệm biết sự mệt mỏi, chung chia những xúc động, đỡ
đần những phiền lụy. Bằng cách sống như một người giữa muôn người và với muôn người, Đức Giêsu Kitô
nêu lên một phương cách biểu lộ toàn vẹn nhất, chính hiệu nhất và hoàn hảo nhất về những gì là nhân bản :
chúng ta thấy Ngài chung chia niềm vui tại tiệc cưới Cana, thường xuyên lui tới một gia đình thân thiết, trả
lại cho cha mẹ những đứa con bị bệnh hoặc phải chết, khóc thương Lagiarô…
Linh mục phải làm sao để tính bén nhạy nhân bản của mình được nên phong phú nhờ vào một kinh
nghiệm ngày càng lớn rộng hơn và để cho Dân Thiên Chúa có thể nói về mình một cách tương tự như tác giả
thư gửi tính hữu Do thái đã nói về Đức Giêsu : “Không phải chúng ta có một vị Thượng Tế bất lực, không
cảm thông được những nỗi yếu hèn của chúng ta, trái lại, Ngài đã nếm chịu mọi thử thách, giống như chúng
ta, ngoại trừ tội lỗi” (Dt 4,15).
Chiều kích thiêng liêng trong việc đào tạo linh mục là một đòi buộc của đời sống mới theo tinh thần
Tin Mừng mà linh mục được mời gọi một cách đặc loại do Chúa Thánh Thần được ban cho linh mục trong
bí tích Truyền Chức Thánh. Bằng cách thánh hiến linh mục và làm cho linh mục nên đồng hình dạng với
Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử, Chúa Thánh Thần tạo một mối dây liên kết ngay trong chính hữu thể của
linh mục ; mối dây liên kết ấy cần phải được cảm nhận và sống một cách cá vị, nghĩa là với ý thức và tự do,
bằng một đời sống hiệp thông và yêu thương ngày càng phong phú hơn và bằng một sự thông phần vào
những tâm tình và thái độ của Đức Giêsu Kitô ngày càng lớn mạnh và triệt để hơn. Trong mối dây liên kết
giữa Chúa Giêsu với linh mục, về phương diện hữu thể và tâm lý, bí tích và đạo đức, có chất chứa nền tảng
và đồng thời sức mạnh cần thiết cho “đời sống trong Thần Khí” và cho “tính triệt để Tin Mừng” mà linh
mục được mời gọi hướng tới, mà việc đào tạo trường kỳ về phương diện thiêng liêng cổ võ. Việc đào tạo ấy
cũng cần thiết cho thừa tác vụ linh mục, nhằm làm cho thừa tác vụ ấy được chính hiệu và được sai nở về mặt
thiêng liêng. Thánh Charles Borromée tự hỏi : “Có phải ngươi tự hiến thân để chăm sóc các linh hồn không
?” Và ngài đã trả lời như sau trong một bài diễn văn ngỏ với các linh mục : “Cha đừng vì những điều ấy mà
khinh thường việc chăm sóc đến chính mình và đừng xả thân cho người khác đến độ không còn gì là của
mình và không còn gì cho mình. Chắc hẳn cha phải tưởng nhớ đến các linh hồn mà cha là mục tử, thế nhưng
cha đừng quên chính mình. Các cha thân mến, các cha hãy hiểu rằng không có gì cần thiết hơn cho chúng ta
bằng việc suy niệm là việc phải đi trước, phải đồng hành và phải đuổi theo tất cả mọi hoạt động của chúng
ta, như lời của ngôn sứ : tôi sẽ ca hát và tôi sẽ suy niệm (x. Tv 100,1). Hỡi cha, nếu cha ban phát các bí tích,
cha hãy suy niệm điều cha làm. Nếu cha cử hành thánh lễ, cha hãy suy niệm điều cha dâng tiến. Nếu cha
đồng thanh xướng hát ca vịnh, cha hãy suy nghĩ xem mình đang nói với ai và nói điều gì. Nếu cha hướng
dẫn các linh hồn, cha hãy suy niệm về máu đã thanh tẩy họ. Và ước chi mọi việc được thực hành giữa anh
em với nhau trong đức ái (1 Cr 16,14). Như thế chúng ta sẽ có thể thắng vượt những khó khăn mà chúng ta
gặp mỗi ngày, và những khó khăn thì không phải là ít. Hơn nữa, đó chính là điều mà trách vụ được ủy thác
cho chúng ta đòi buộc. Nếu chúng xử sự như vậy, chúng ta sẽ có đủ sức mạnh để sinh hạ Đức Kitô nơi
chúng ta và nơi người khác” 527 .
Cách riêng, đời sống cầu nguyện cần phải được “cải tổ” liên lỉ nơi linh mục. Kinh nghiệm dạy rằng,
trong lãnh vực nguyện ngắm, không thể chỉ cậy dựa vào những gì mình đã đắc thủ. Chẳng những hằng ngày
phải tái chiếm đoạt sự trung thành bề ngoài trong những giờ khắc cầu nguyện, nhất là những lúc đọc Phụng
Vụ Các Giờ Kinh và những giờ khắc được dành cho sự lựa chọn riêng tư mà không có nhịp điệu phụng vụ
nâng đỡ, nhưng còn phải đặc biệt tái huấn luyện sự truy tầm trong kiên nhẫn một cuộc gặp gỡ thật sự và cá
vị với Đức Giêsu, một cuộc đối thoại tín thác với Chúa Cha và một kinh nghiệm thẳm sâu về Chúa Thánh
Thần.
Có thể áp dụng một cách đặc loại cho các linh mục được mời gọi hướng đến đức ái trọn hảo và bởi đó
đến sự thánh thiện điều mà Thánh Tông Đồ Phaolô quả quyết khi nói về các tín hữu, rằng họ phải đạt tới chỗ
“trở nên Con Người hoàn toàn, trong sức mạnh của tuổi tác, hầu thể hiện sự viên mãn của Đức Kitô” (Ep
4,13) ; chính thừa tác vụ mục tử của các linh mục cũng đòi buộc các linh mục phải nên những mẫu gương
sống động cho mọi tín hữu.
Chiều kích trí thức của việc đào tạo cũng đòi phải được đeo đuổi và trau dồi suốt đời sống linh mục,
cách riêng bằng việc học hỏi và bằng nỗ lực cập nhật hóa (“aggiornamento”) nghiêm chỉnh và cần cù về văn
hóa. Thông phần vào sứ vụ ngôn sứ của Đức Giêsu và hội nhập vào trong mầu nhiệm Giáo Hội, thầy dạy
chân lý, linh mục được mời gọi tỏ lộ cho nhân loại dung mạo của Thiên Chúa và đồng thời dung mạo đích
thực của con người trong Đức Giêsu Kitô 528 . Tuy nhiên, để thể hiện điều đó, chính linh mục cũng phải kiếm
tìm dung mạo ấy và chiêm ngắm dung mạo ấy với tâm tình ngưỡng mộ và yêu mến (x. Tv 26,8 ; 41,2). Chỉ
bằng cách đó linh mục mới có thể giúp người khác cũng nhận ra. Cách riêng, theo đuổi việc học thần học là
điều tất yếu để linh mục có thể chu toàn một cách trung thành thừa tác vụ Lời Chúa, loan báo Lời Chúa mà
không lầm lẫn hoặc không mơ hồ, phân biệt Lời Chúa với những quan điểm chỉ thuần tuý là nhân loại, cho
dẫu có lừng danh hoặc lan rộng đến đâu. Linh mục nhờ đó sẽ có thể thực sự đặt mình vào trong công việc
phục vụ Dân Thiên Chúa và giúp cho Dân ấy, cho tất cả những ai yêu cầu, nhận ra niềm hy vọng Kitô giáo
của mình (1 Pr 3,15). Ngoài ra, “nhờ chuyên chăm học hỏi một cách ý thức và kiên trì, linh mục đạt tới mức
độ thuấm nhuần sự phong phú chính hiệu của Giáo Hội dưới một dạng thức vững chắc và cá vị. Từ đó linh
mục có thể chu toàn sứ vụ trong đó có bổn phận phải giải đáp những khúc mắc về tôn giáo chính hiệu, phải
thắng vượt khuynh hướng – của chính mình và của người khác – phản đối hoặc có thái độ tiêu cực đối với
Huấn Quyền và truyền thống” 529 .
Phương diện mục vụ trong việc đào tạo trường kỳ đã được Thánh Tông Đồ Phêrô diễn tả một cách
hoàn chỉnh : “Mỗi người trong anh em hãy tùy theo ơn mình đã lãnh nhận mà phục vụ lẫn nhau như những
người quản lý thành thạo về ân sủng muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1 Pr 4,10). Để mỗi ngày sống
theo ơn đã lãnh nhận, linh mục phải ngày càng rộng mở, sao cho đức ái mục vụ của Đức Giêsu Kitô, được
Chúa Thánh Thần ban cho khi lãnh nhận bí tích, biến thành của mình. Cũng như toàn thể hoạt động của
Chúa đều là hoa trái và là dấu chỉ của đức ái mục vụ của Ngài, sinh hoạt thừa tác vụ của linh mục cũng phải
như vậy. Đàng khác, đức ái mục vụ là một hồng ân nhưng đồng thời cũng là một bổn phận, một ân sủng và
một trách nhiệm đòi chúng ta phải trung thành ; vì thế cần phải đón nhận đức ái mục vụ và sống sự năng
động của đức ái mục vụ cho đến tận điểm đòi hỏi triệt để nhất. Cũng chính đức ái mục vụ ấy, như đã được
đề cập, khuyến khích và thúc đẩy linh mục ngày càng am hiểu hơn hoàn cảnh thiết thực của những người
nam và nữ mà mình được sai đến, phân định những tiếng kêu mời của Thần Khí trong những hoàn cảnh lịch
sử mình trải qua, cuối cùng tìm kiếm những phương pháp thích ứng nhất và những cách thế hữu ích nhất để
thi hành thừa tác vụ của mình ngày hôm nay. Như thế, đức ái mục vụ làm sinh động và nâng đỡ những nỗ
lực nhân linh của linh mục để cho hoạt động mục vụ của linh mục được thích nghi, khả tín và hiệu nghiệm.
Để được như vậy cần có một nền đào tạo mục vụ trường kỳ.
Hành trình lần bước tiến tới sự trưởng thành chẳng những đòi linh mục phải không ngừng trau dồi tất
cả mọi chiều kích ấy của nền đào tạo, và nhất là đòi linh mục phải biết làm cho chúng thấm nhập trọn vẹn
một cách hòa điệu, đến độ dần dà đạt tới sự thống nhất nội tâm mà đức ái mục vụ sẽ làm cho thêm kiên
vững. Quả vậy, đức ái mục vụ chẳng những phối hợp và thống nhất các phương diện khác biệt của nền đào
tạo với nhau nhưng còn chuyển ban cho các phương diện ấy phẩm chất đặc loại của nền đào tạo linh mục xét
như là linh mục, nghĩa là như hình ảnh xuyên thấu và sống động, như bí tích của Đức Giêsu Mục Tử Nhân
Lành.
Việc đào tạo trường kỳ giúp cho linh mục thắng vượt mối cám dỗ đưa thừa tác vụ của mình đến chỗ
lấy chủ trương duy hoạt động làm cùng đích, để cho thừa tác vụ bị xâm chiếm một cách vô ngã bởi đủ loại
sự việc, cho dẫu có thiêng liêng và linh thánh đến đâu, hoặc còn giản lược thừa tác vụ thành một thứ việc
làm của công chức phục vụ cho tổ chức giáo sĩ. Chỉ có việc đào tạo trường kỳ mới giúp cho linh mục bảo
toàn được mầu nhiệm mà linh mục cưu mang nơi chính mình bằng một tình yêu không chểnh mảng hầu mưu
ích cho Giáo Hội và cho nhân loại.
Ý nghĩa sâu xa của việc đào tạo trường kỳ
73. Tính dị biệt và tính bổ túc lẫn nhau của các chiều kích trong việc đào tạo trường kỳ giúp chúng ta hiểu rõ
hơn ý nghĩa sâu xa của việc đào tạo ấy: giúp đỡ linh mục để cho con người và hành động của linh mục luôn
rập theo tinh thần và đường lối của Đức Giêsu Mục Tử Nhân Lành.
Chân lý đòi phải hành động! Thánh Giacôbê khuyến cáo chúng ta về điều đó: “Anh em hãy đem Lời
Chúa ra thực hành. Đừng làm như thể anh em là những người chỉ biết nghe suông để rồi lừa dối chính mình”
(Gc 1,22). Các linh mục được mời gọi “thể hiện sự thật” của chính con người mình, hay nói cách khác sống
căn tính và thừa tác vụ của mình trong Giáo Hội và cho Giáo Hội, bằng một đời sống “trong đức ái” (x. Ep
4,15). Các linh mục được kêu mời mỗi ngày một nêu cao ý thức về ân huệ của Thiên Chúa và không ngừng
ghi nhớ ân huệ ấy. Đó chính là lời thánh Phaolô căn dặn Timôthê : “Con hãy bảo vệ lấy tồn kho quý giá nhờ
vào sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta" (2 Tm 1,14).
Trong một bối cảnh về học thuyết Giáo Hội như đã được gợi lên nhiều lần, có thể đánh giá ý nghĩ sâu
xa của việc đào tạo trường kỳ dành cho linh mục bằng cách dựa vào sự hiện diện và hoạt động của linh mục
trong Giáo Hội xét như mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ.
Trong Giáo Hội xét như là “mầu nhiệm”, linh mục được mời gọi dùng phương thế đào tạo trường kỳ
để bảo tồn và phát huy trong đức tin ý thức về sự thật toàn vẹn và đáng kinh ngạc của con người mình : linh
mục là tôi tớ của Đức Kitô và là người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa (x. 1Cr 4,1). Thánh Phaolô
yêu cầu một cách rõ rệt các Kitô hữu phải nhìn coi ngài theo căn tính ấy, và chính ngài là người trước tiên
sống với ý thức về ân huệ cao cả đã lãnh nhận từ nơi Chúa. Mỗi một linh mục cũng phải làm như vậy nếu
muốn ở mãi trong sự thật của con người mình. Thế nhưng chỉ có đức tin, chỉ có cái nhìn với đôi mắt của
Đức Kitô mới làm cho điều ấy trở thành khả thi.
Trong chiều hướng ấy, có thể nói rằng đào tạo trường kỳ nhằm làm cho linh mục thật sự nên một tín
hữu và ngày càng trở thành tín hữu hơn, làm cho linh mục luôn nhận ra mình đúng như trong sự thật với đôi
mắt của Đức Kitô. Linh mục phải canh phòng sự thật ấy bằng một tình yêu tri ân và vui tươi. Linh mục phải
canh tân đức tin của mình trong khi thi hành thừa tác vụ linh mục, phải nhận biết mình là tôi tớ của Đức
Giêsu Kitô và là bí tích của tình yêu Thiên Chúa đối với con người, mỗi khi linh mục làm trung gian và khí
cụ sống động để ban phát ân sủng của Thiên Chúa cho loài người. Linh mục cũng phải nhìn nhận cùng một
sự thật ấy nơi những người anh em đồng sự, bởi vì đó chính nguyên lý giúp cho linh mục biết quý trọng và
yêu thương các linh mục khác.
74. Trong Giáo Hội xét như là “hiệp thông”, việc đào tạo trường kỳ giúp cho linh mục phát huy ý thức để
nhận ra rằng thừa tác vụ của mình xét cho cùng được phối trí để qui tụ gia đình của Thiên Chúa trong tình
huynh đệ lấy đức ái làm sức sống, và để dẫn dắt gia đình ấy đến với Chúa Cha nhờ Chúa Kitô trong Chúa
Thánh Thần 530 .
Linh mục cần phải tấn tới trong ý thức về mối hiệp thông sâu xa nối kết linh mục với Dân Thiên Chúa
; linh mục không những đứng “trước” Giáo Hội, nhưng trước hết và trên hết, ở “trong” Giáo Hội. Linh mục
là anh em giữa những người anh em. Được mặc lấy phẩm giá và tự do của những người làm con Thiên Chúa
trong Con Duy Nhất nhờ bí tích Rửa Tội, linh mục là chi thể của cùng một thân thể duy nhất của Đức Kitô
(x. Ep 4,16). Ý thức về mối hiệp thông ấy thúc đẩy linh mục khơi dậy và phát huy tinh thần đồng trách
nhiệm trong cùng một sứ vụ cứu độ duy nhất, bằng cách mau mắn và vui lòng biểu dương những đặc sủng
và những nhiệm vụ mà Chúa Thánh Thần phân phối cho các tín hữu để xây dựng Giáo Hội. Trước hết và
trên hết, chính trong việc chu toàn thừa tác vụ mục tử, như đã được phối trí do tự bản chất để mưu ích cho
Dân Thiên Chúa, mà linh mục cần phải sống và chứng tỏ mối hiệp thông sâu xa của mình với mọi người.
Như Đức Phaolô VI đã viết: “chính vì muốn trở nên những mục tử, những người cha và những người làm
thầy mà chúng cần phải hòa mình trở nên anh em của mọi người. Bầu khí của đối thoại phải là tình bạn. Hơn
nữa, phải là sự phục vụ” 531 .
Một cách đặc loại hơn, linh mục được mời gọi phát huy ý thức để nhận ra mình là thành phần của Giáo
Hội địa phương, nơi mà mình đã nhập tịch, nghĩa là đã được tháp nhập bằng một mối dây vừa pháp lý, vừa
thiêng liêng và vừa mục vụ. Một ý thức như thế giả thiết linh mục phải có một lòng yêu mến đặc biệt đối với
Giáo Hội của mình và đồng thời làm cho lòng yêu mến ấy được phát triển. Thật ra, Giáo Hội địa phương
chính là đối tượng sống động và thường hằng của đức ái mục vụ mà linh mục phải để cho hướng dẫn đời
sống mình. Quả vậy, đức ái mục vụ hướng dẫn linh mục chia sẻ lịch sử và kinh nghiệm sống của Giáo Hội
địa phương mình, với những gì là phong phú và những gì là dòn mỏng, những khó khăn và những hy vọng,
và đồng thời làm việc cho Giáo Hội ấy để Giáo Hội ấy được tăng trưởng. Vì đã lãnh nhận rất nhiều từ nơi
Giáo Hội địa phương mình và trong khi tích cực tham gia vào việc xây dựng Giáo Hội ấy, mỗi một linh mục
liên kết với các anh em đồng sự của mình để nối dài hoạt động mục vụ của những vị tiền nhiệm. Chính vì
đòi buộc tự bản chất của đức ái mục vụ đối với Giáo Hội địa phương của mình cũng như đối với tương lai
thừa tác vụ của mình, linh mục phải dấn thân chăm lo làm sao để, một cách nào đó có được một người kế
nhiệm trong chức linh mục.
Linh mục cũng cần phải phát huy ý thức về sự hiệp thông vốn tồn tại giữa các Giáo Hội địa phương
khác nhau, một sự hiệp thông bén rễ trong chính hữu thể của các Giáo hội xét như là Giáo Hội đang sống tại
địa phương mình cùng một cuộc sống như Giáo Hội duy nhất và phổ quát của Đức Kitô. Một ý thức như thế
về sự hiệp thông liên – Giáo – Hội sẽ cổ võ “sự trao đổi các ân huệ”, khởi đầu bằng các ân huệ sống động và
cá vị là chính các linh mục. Do đó, phải có thái độ ứng sẵn, và hơn nữa phải có sự dấn thân quảng đại để có
thể thực hiện việc phân phối giáo sĩ cho công bằng 532 . Trong số các Giáo Hội địa phương ấy, cần phải nhắc
đến những Giáo Hội “vì thiếu tự do nên không có được những ơn kêu gọi riêng cho mình”, cũng như đến
“những Giáo Hội vừa mới thoát khỏi cảnh bách hại và những Giáo Hội nghèo, từ lâu và do sự chiếu cố của
nhiều người, đã lãnh nhận sự trợ giúp trong một tinh thần huynh đệ và hiện còn đang lãnh nhận sự trợ
giúp” 533 .
Giữa lòng mối dây hiệp thông Giáo Hội, linh mục được mời gọi ngày càng tăng trưởng, nhờ việc đào
tạo trường kỳ, trong tư cách thành viên của linh mục đoàn hiệp nhất với giám mục. Linh mục đoàn thực sự
là một mầu nhiệm ; linh mục đoàn quả là một thực thể siêu nhiên bởi vì bén rễ trong bí tích Truyền Chức
Thánh. Nguồn mạch và cội rễ của linh mục đoàn, “nơi” sinh ra và tăng trưởng của cộng đoàn, là ở đó. Quả
thực, “nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, các linh mục được gắn liền với Đức Kitô Linh Mục Duy Nhất bằng
một mối dây cá vị và bất khả phân. Việc phong chức được ban hành cho các linh mục như là những cá nhân,
nhưng các linh mục được hội nhập vào trong mối hiệp thông của toàn thể linh mục đoàn cùng với giám mục
(Lumen gentium, GH số 28 ; Presbyterorum ordinis, ĐT số 7-8)” 534 .
Nguồn cội bí tích ấy phản ánh và nối tiếp trong việc thi hành thừa tác vụ linh mục : từ mầu nhiệm đến
thừa tác vụ. “Sự hiệp nhất giữa các linh mục với giám mục và giữa các linh mục với nhau không phải được
thêm như thể từ bên ngoài vào trong bản chất tách biệt của công việc phục vụ, sự hiệp nhất ấy biểu lộ yếu
tính của công việc phục vụ, yếu tính ấy chính là sứ vụ của Đức Kitô Linh Mục đối với đoàn dân được quy tụ
trong sự hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi” 535 . Nhờ sống tình hiệp nhất linh mục trong tinh thần đức ái mục
vụ, các linh mục nên nhân chứng cho Đức Giêsu Kitô, vì chính Ngài cũng đã cầu nguyện với Chúa Cha “để
cho mọi người được nên một” (Gs 17,21).
Diện mạo của linh mục đoàn chính là diện mạo của một gia đình thật sự và của một mối tình huynh đệ
không phải với những ràng buộc máu thịt nhưng với những ràng buộc do ân sủng của Chức Thánh. Ân sủng
ấy xâm chiếm và nâng cao những mối tương quan nhân loại, tâm lý, cảm tính, bằng hữu và thiêng liêng giữa
các linh mục với nhau ; ân sủng ấy biểu lộ khắp mọi nơi và tỏ hiện cụ thể trong những hình thức tương trợ
tinh thần và vật chất đa dạng nhất. Tình huynh đệ linh mục không loại trừ một ai ; dầu vậy, trong chiều
hướng lựa chọn theo tinh thần Tin Mừng, linh mục có thể và phải dành những ưu tiên cho người nào đang
cần giúp đỡ và cần khích lệ nhất. Tình huynh đệ ấy “dành một sự quan tâm đặc biệt đối với các linh mục trẻ,
duy trì một thái độ đối thoại chân tình và huynh đệ với những linh mục thuộc lứa tuổi trung bình hoặc cao
niên cũng như đối với những linh mục nào vì lý do này hay lý do khác đang phải đương đầu với những khó
khăn. Còn về những linh mục đã rời bỏ thừa tác vụ hay không còn trung thành với thừa tác vụ, tình huynh đệ
ấy cũng không bỏ rơi họ nhưng ngược lại dõi theo họ với một sự chú tâm còn huynh đệ hơn” 536 .
Những linh mục dòng sống và làm việc trong một Giáo Hội địa phương, với một tước hiệu khác, cũng
thông phần vào cùng một linh mục đoàn duy nhất. Nguyên chỉ sự hiện diện của họ cũng đã làm giàu cho tất
cả các linh mục. Các đặc sủng riêng biệt và đa dạng của họ vừa mời gọi các linh mục tấn tới trong nỗ lực
thấu hiểu chức linh mục, vừa góp phần động viên các linh mục và sát cánh với các linh mục trong việc đào
tạo trường kỳ. Một khi được đi đôi với lòng quý chuộng chân thành, luôn tôn trọng tính chất đặc thù của
từng Hội Dòng và của từng truyền thống tu đức, ân huệ dòng tu trong cộng đoàn giáo phận nới rộng chân
trời làm chứng Kitô giáo và bằng nhiều cách, góp phần làm cho nền tu đức linh mục nên phong phú. Ân huệ
dòng tu đóng vai trò ấy, đặc biệt trong những gì liên can đến tương quan thỏa đáng và ảnh hưởng hổ tương
giữa những giá trị của Giáo Hội địa phương với những giá trị của toàn thể Dân Chúa. Về phía mình, các tu sĩ
phải chú tâm duy trì một tinh thần hiệp thông Giáo hội thật sự, một sự tham gia chân tình và vận hành của
giáo phận và vào những lựa chọn mục vụ của giám mục, bằng cách tự nguyện hiến dâng đặc sủng riêng của
mình hầu xây dựng mọi người trong đức ái 537 .
Cuối cùng, chính trong bối cảnh của Giáo Hội hiệp thông và của linh mục đoàn mà người ta có thể
vững vàng hơn cả để đương đầu với những vấn đề cô đơn của linh mục, là vấn đề đã lôi cuốn sự chú ý của
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng. Có một sự cô đơn vốn thuộc về kinh nghiệm của mọi linh mục và vốn là
hoàn toàn bình thường. Nhưng cũng có một nỗi cô đơn nảy sinh bởi đủ loại khó khăn và từ đó lại dẫn đến
vấn đề khác. Trong chiều hướng ấy, “sự tham gia tích cực vào linh mục đoàn giáo phận, những tiếp xúc
thường đều với giám mục và với các linh mục khác, sự cộng tác hỗ tương, đời sống chung hoặc huynh đệ
giữa các linh mục với nhau, cũng như tình bạn và những mối quan hệ chân tình với những người giáo dân
tích cực dấn thân trong các giáo xứ, đều là những phương thế rất hữu ích để thắng vượt những hiệu quả của
nỗi cô đơn mà đôi khi linh mục phải cảm nếm” 538 .
Cô đơn không chỉ tạo nên những khó khăn ; cô đơn còn mang lại những thuận lợi cho đời sống linh
mục. “Một khi được đón nhận với tinh thần tận hiến và tinh thần tra vấn trong tình thân mật với Chúa Giêsu
Kitô, cô đơn có thể hỗ trợ cho việc nguyện ngắm và việc học hỏi, cũng như còn có thể giúp cho sự thánh hóa
và sự tăng triển con người” 539 . Chúng ta đừng quên rằng cô đơn, dưới một hình thức nào đó, là điều cần thiết
cho việc đào tạo trường kỳ. Đức Giêsu đã thường tìm cách rút lui để cầu nguyện trong cô tịch (x. Mt 14,23).
Khả năng chịu đựng sự cô đơn hữu ích là điều kiện thiết yếu cho việc duy trì đời sống nội tâm. “Ở đây, phải
hiểu là một sự cô đơn làm nơi lưu trú cho Chúa Kitô hiện diện, để rồi Chúa Kitô, trong ánh sáng của Thần
Khí, đưa chúng ta đến tiếp xúc với Chúa Cha. Trong chiều hướng ấy, điều cần thiết là phải tạo thinh lặng
và phải tìm được những nơi chốn và những thời gian “hoang địa” dành cho việc đào tạo trường kỳ về mặt trí
thức, thiêng liêng và mục vụ. Cũng trong chiều hướng ấy, có thể quả quyết rằng hễ ai không biết sống nỗi cô
đơn của mình cho tốt đẹp thì cũng không có khả năng để sống mối hiệp thông đích thực và huynh đệ.
75. Điểm nhắm của việc đào tạo trường kỳ là phát huy nơi linh mục ý thức về sự tham gia của mình vào sứ
vụ cứu độ của Giáo Hội. Trong Giáo Hội “sứ vu”, việc đào tạo trường kỳ dành cho linh mục chẳng những là
một điều kiện cần thiết, nhưng còn là một phương thế tất yếu để thường xuyên khơi thắm lại cảm thức về sứ
vụ và để bảo đảm cho sứ vụ được thực hiện một cách trung thành và quảng đại. Việc đào tạo như thế giúp
linh mục nhận ra được tất cả tính nghiêm trọng của một sự đòi buộc cũng đồng thời là một ân sủng diệu vời
mà linh mục không thể dửng dưng. Cũng như thánh Phaolô, linh mục phải có thể nói được rằng : “Đối với
tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là một tước hiệu để tôi lấy làm vinh dự ; đó là một sự khẩn thiết được
ký thác cho tôi. Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng !” (1 Cr 9,16). Việc đào tạo ấy giúp cho
linh mục cũng nhận ra được nỗi bức xúc trong những thỉnh nguyện minh nhiên hay không minh nhiên của
những con người mà Thiên Chúa không ngơi mời gọi lãnh nhận ơn cứu độ.
Chỉ nhờ vào một việc đào tạo trường kỳ thỏa đáng, linh mục mới được nâng đỡ trong sự trung thành
thiết yếu và dứt khoát đối với thừa tác vụ của mình. Như Thánh Phaolô Tông Đồ đã viết : “Tất cả những gì
người ta đòi hỏi nơi những người quản lý [các mầu nhiệm của Thiên Chúa], đó là nhận ra được họ là người
trung thành”(1 Cr 4,2). Dẫu cho những khó khăn gặp phải có như thế nào, ngay cả trong những hoàn cảnh
nghiệt ngã nhất hoặc trong một trạng thái mỏi mệt dễ dàng hiểu được, linh mục vẫn phải trung thành với tất
cả nghị lực mà mình sẵn có và phải cứ như thế cho đến trọn đời. Chứng từ của Phaolô phải là một gương
mẫu và là một nguồn khích lệ cho mọi linh mục, ngài đã viết cho các Kitô hữu ở Côrintô : “Chúng tôi không
hề nên cớ vấp phạm cho một ai về một điều gì, để thừa tác vụ của chúng tôi khỏi bị đàm tiếu. Ngược lại,
trong mọi sự, chúng tôi chứng tỏ mình như những thừa tác viên của Thiên Chúa : nhờ một lòng kiên vững
lớn lao trong gian nan, trong khốn khó, trong hoảng hốt, trong roi vọt, trong tù ngục, trong biến loạn,
trong kiệt lực, trong canh thức, trong chay kiêng ; nhờ một lòng trong trắng, một trí thông hiểu, một đức
nhẫn nại, một sự dịu dàng, một thần khí thánh thiện, một đức ái không giả bộ, lời nói chân thật, quyền năng
của Thiên Chúa ; nhờ những khí giới công chính vừa công vừa thủ ; trong vinh dự và ô nhục, trong tiếng xấu
và tiếng tốt ; bị coi như đồ trí trá nhưng lại chân thật ; bị coi như đồ vô danh nhưng lại nổi tiếng ; như những
người giẫy chết, nhưng này chúng tôi vẫn sống ; như những kẻ bị trừng phạt, nhưng lại không bị xử tử ; như
những người phiền muộn, nhưng chúng tôi lại luôn vui sướng ; như những kẻ nghèo nàn, nhưng chúng tôi
lại làm cho biết bao người nên giàu có ; như những người bần cùng, nhưng chúng tôi lại sở hữu mọi sự”(2
Cr 6,3-10).
Cho mọi lứa tuổi và trong mọi điều kiện sinh sống
76. Việc đào tạo trường kỳ, chính bởi vì nó là trường kỳ, phải luôn luôn không thiếu vắng trong đời sống các
linh mục, vào mọi lứa tuổi và trong mọi điều kiện sinh sống, bất kể mức độ trách nhiệm trong Giáo Hội. Dĩ
nhiên, đồng thời, cần phải chú trọng đến những khả năng và những đặc tính tương ứng với sự khác biệt tuổi
tác, các điều kiện sinh sống và các chức vụ đảm nhiệm.
Đào tạo trường kỳ trước hết là một bổn phận đối với các linh mục trẻ. Với những cuộc gặp gỡ
theo hạn kỳ thường đều xứng hợp và theo một chương trình được sắp xếp có hệ thống nhằm nối dài
những gì là nghiêm minh và vững chắc trong nền đào tạo đã lãnh nhận ở chủng viện, việc đào tạo trường kỳ
dần dà hướng dẫn các linh mục trẻ hiểu và sống nguồn phong phú của “hồng ân” Thiên Chúa, của chức linh
mục. Việc đào tạo này cũng giúp họ bày tỏ những khả năng thích ứng với thừa tác vụ, cùng với các linh mục
khác, bằng một sự hòa nhập ngày càng thâm tín và có trách nhiệm hơn vào linh mục đoàn và bởi đó vào mối
hiệp thông tinh thần đồng trách nhiệm với tất cả các anh em đồng sự của mình.
Vừa mới ra trường khỏi chủng viện mà đã phải đương đầu với những giờ khắc học hỏi và gặp gỡ mới
nữa, người linh mục trẻ dễ cảm thấy “ngán”, và điều này có thể hiểu được. Thế nhưng, cần phải loại trừ
quan niệm hoàn toàn sai lạc và nguy hại cho rằng việc đào tạo linh mục đã chấm dứt khi rời bỏ chủng viện.
Khi cùng tham gia vào những buổi gặp gỡ để được đào tạo trường kỳ, các linh mục trẻ sẽ tạo cho
nhau một sự nương tựa hỗ tương bằng việc chia sẻ kinh nghiệm và suy tư về phương cách diễn đạt lý tưởng
linh mục một cách cụ thể, như họ đã luyện tập trong những năm tháng ở chủng viện. Đồng thời, việc họ tích
cực tham gia vào những buổi gặp gỡ của linh mục đoàn với mục đích đào tạo sẽ có thể là gương sáng và là
nguồn khích lệ cho những linh mục khác lớn tuổi hơn. Thật vậy, họ sẽ nhờ đó mà chứng tỏ tình yêu của
mình đối với toàn thể linh mục đoàn và chứng tỏ niềm hăng say của mình trong việc đáp ứng nhu cầu của
Giáo Hội địa phương là nhu cầu phải có những linh mục được đào tạo hẳn hoi.
Để sát cánh với các linh mục trẻ trong giai đoạn đầu tiên hết sức tế nhị của đời sống linh mục và của
thừa tác vụ, điều phù hợp hơn bao giờ hết, nếu không nói là tối ư cần thiết cho ngày hôm nay, đó là phải tạo
lập một cơ cấu nâng đỡ đặc biệt với những cố vấn và những giáo sư thích ứng. “Ở đó, các linh mục trẻ sẽ
tìm gặp, dưới một thể thức có cơ cấu và có chuyển tiếp, một nguồn nương tựa cần thiết để bắt đầu công việc
phục vụ của mình. Trong những buổi gặp gỡ đều đặn tương đối lâu giờ và thường xuyên, có khi với khuôn
khổ đời sống cộng đoàn và cùng ở với nhau, cần phải tạo cho các linh mục trẻ có được những thời khắc quí
giá dành cho việc nghỉ ngơi, cầu nguyện, suy tư, trao đổi huynh đệ. Họ sẽ nhờ đó mà bảo đảm cho mình,
ngay từ buổi đầu, có được sự quân bình theo tinh thần Tin Mừng trong đời sống linh mục. Nếu các Giáo Hội địa
phương không thể tự mình phục vụ cho các linh mục trẻ trong lĩnh vực này, điều xứng hợp là các Giáo Hội
lân cận phải hiệp nhất lại với nhau để cùng nhau rút ra những tài nguyên cần thiết và soạn thảo những
chương trình thích đáng.
77. Đối với những linh mục thuộc lứa tuổi trung bình, việc đào tạo trường kỳ cũng là một bổn phận. Thật ra,
họ có thể vì chính lý do tuổi tác mà rơi vào vô số những liều lĩnh, chẳng hạn một chủ trương hoạt động thái
quá hoặc một thái độ ù lì trong việc thi hành thừa tác vụ. Hoặc còn có thể đó là mối cám dỗ quá tin ở sức
mình đến nỗi cho rằng từ nay kinh nghiệm mà cá nhân mình đã cảm nhận không còn cần phải so đọ với bất
cứ điều gì hoặc bất cứ ai. Điều thường xảy ra đó là, trong những trường hợp như thế, linh mục phải chịu
đựng một nỗi chán chường nguy hại trong lòng, dấu hiệu của một tình trạng vỡ tan ảo mộng mà linh mục
phải cam chịu khi đương đầu với những khó khăn và thất bại. Việc đào tạo trường kỳ cung cấp giải pháp cho
tình trạng này : không ngừng duyệt xét thế quân bình bản thân cũng như hoạt động của mình, thường xuyên
điều nghiên những động lực thúc đẩy và những phương thế cho sứ vụ của mình. Nhờ đó, linh mục sẽ duy trì
được một tinh thần thức tỉnh và sẵn sằng đáp ứng đối với những thỉnh nguyện cứu độ mỗi ngày một mới mẽ
mà rất nhiều người giải bày cho linh mục, “người của Thiên Chúa”.
Việc đào tạo trường kỳ cũng phải đạt thấu các linh mục cao niên, thường được gọi là niên trưởng,
các vị này chiếm một khối lượng đông đảo nhất trong linh mục đoàn nơi một số Giáo Hội. Linh mục đoàn
phải chứng tỏ lòng biết ơn của mình đối với các ngài về công việc phục vụ trung thành mà các ngài đã chu
toàn cho Đức kitô và cho Giáo Hội, và phải sống tình liên đới với các ngài bằng cách chú trọng tới thân phận
của các ngài. Đối với các linh mục này, việc đào tạo trường kỳ sẽ không phải là vấn đề học hỏi, thảo luận và
cập nhật văn hóa cho bằng một sự củng cố thanh thản và an hòa về vai trò mà các ngài vẫn được mời gọi
đóng góp trong linh mục đoàn. Vai trò ấy sẽ được xác định chẳng những nhờ việc theo đuổi thừa tác vụ mục
tử, có khi dưới những hình thức khác, nhưng còn nhờ khả năng mà kinh nghiệm sống và kinh nghiệm làm
việc tông đồ mang lại cho các ngài, đó là chính các ngài trở thành những vị thầy và những nhà đào tạo của
các linh mục khác.
Cả những linh mục, vì mệt mỏi hay bệnh tật, đang phải sống trong một tình trạng yếu nhược về thể
lý hoặc rã rời về tinh thần, cũng có thể được việc đào tạo trường kỳ trợ giúp. Nhờ việc đào tạo này, họ được
khuyến khích tiếp tục phục vụ Giáo Hội một cách thanh thản và can trường, không tự cô lập mình khỏi công
đoàn hay khỏi linh mục đoàn, giản lược hoạt động bên ngoài để hiến mình cho những sinh hoạt thuộc tương
quan mục vụ và tu đức bản thân nhờ đó có thể bảo vệ lẽ sống và niềm vui trong chức linh mục. Cách riêng,
việc đào tạo trường kỳ sẽ giúp họ giữ cho niềm xác tín mà chính họ đã ghi tạc nơi các tín hữu được sống
động, rằng họ luôn mãi là những thành phần tích cực trong việc xây dựng Giáo Hội, đặc biệt nhờ vào sức
mạnh do họ kết hiệp với Đức Giêsu Kitô chịu đau khổ và do biết bao anh chị em khác trong Giáo Hội đang
thông phần vào cuộc khổ nạn của Chúa. Cùng với những người ấy, họ lặp lại bằng cuộc sống kinh nghiệm
của thánh Phaolô như ngài đã nói : “Tôi tìm gặp niềm vui trong những đau khổ mà tôi phải chịu vì anh em,
và tôi bổ khuyết nơi thân xác tôi những gì còn thiếu trong những thử thách Đức Kitô đã chịu vì Thân Thể
Ngài, tức là Giáo Hội” (Cl 1, 24) 540 .
Những người chịu trách nhiệm về việc đào tạo trường kỳ
78. Những điều kiện hiện đại của thừa tác vụ linh mục, thường thường và ở nhiều nơi, không tạo dễ dàng
cho một cuộc dấn thân nghiêm minh vào việc đào tạo trường kỳ. Sự gia tăng những trọng trách và những
công việc phục vụ phải đảm nhận, sự phức tạp của đời sống nhân linh nói chung và của các cộng đoàn Kitô
hữu nói riêng, chủ trương duy hoạt động và tình trạng kiệt quệ vốn đang đánh dấu nhiều môi trường
trong xã hội ngày nay, tất cả những yếu tố ấy thường chiếm mất thời giờ của linh mục cũng như năng lực
cần thiết để linh mục “chăm lo cho chính mình” (x. 1 Tm 4,16).
Vì thế, mọi người cần phải tăng thêm phần trách nhiệm để thắng vượt những khó khăn ấy và để nhận
ra nơi những khó khăn ấy sự thách đố phải soạn thảo và thực hiện một cuộc đào tạo trường kỳ hầu đáp ứng
thỏa đáng hồng ân cao cả ủa Thiên Chúa cùng những thỉnh nguyện và đòi buộc hệ trọng của thời đại chúng
ta.
Những người chịu trách nhiệm về việc đào tạo trường kỳ phải thuộc về Giáo Hội “hiệp thông”. Như
vậy, chính là toàn thể Giáo Hội địa phương, dưới sự dẫn dắt của giám mục, có trách nhiệm thôi thúc và thiết
lập những thể loại dị biệt cho việc đào tạo trường kỳ của các linh mục. Bởi vì các linh mục không phải làm
linh mục cho chính mình, nhưng là cho Dân Chúa. Bởi đó, trong khi bảo đảm cho các linh mục có được sự
trưởng thành về mặt nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ, việc đào tạo trường kỳ mang lại hiệu qủa là
một thiện ích mà người hưởng dùng chính là Dân Chúa. Ngoài ra, chính việc thực hành mục vụ cũng dẫn tới
một sự trao đổi hỗ tương, bền bỉ và sai nở, giữa đức tin của các linh mục với đức tin của các tín hữu. Được
điều hành vàvận dụng một cách khôn ngoan, sự chia sẻ đời sống giữa linh mục và cộng đoàn tạo thành một
đóng góp cơ bản cho việc đào tạo trường kỳ. Đàng khác, sự đóng góp ấy không chỉ giản lược vào một giai
đoạn hạn chế hoặc vào một sáng kiến riêng lẻ, nhưng trải dài suốt thừa tác vụ và đời sống linh mục.
Thật vậy, kinh nghiệm Kitô giáo của những người đơn sơ và khiêm nhượng, khí thế thiêng liêng của
những con người say mê Thiên Chúa, đức tin được thể hiện một cách can trường nơi những kitô hữu dấn
thân vào các loại trách nhiệm xã hội và dân sự, tất cả những điều ấy đều được linh mục đón nhận và, trong
khi đem chiếu dọi vào đó ánh sáng của công việc phục vụ linh mục, chính linh mục tìm được của ăn
thiêng liêng vô cùng quý giá. Cả những nghi hoặc, những khủng hoảng và những do dự khi phải đối đầu với
những hoàn cảnh cá nhân hay xã hội thuộc đủ loại, hoặc còn phải kể đến những cám dỗ từ khước hay tuyệt
vọng vào giờ phút khổ đau, bệnh tật, kề cận cái chết, nói tóm lại, tất cả những khó khăn mà con người gặp
phải trên con đường đức tin đều được linh mục cảm nhận bằng cuộc sống. Linh mục chia sẻ những khó
khăn ấy như một người anh em và chịu đựng một cách chân thành trong tâm hồn mình. Khi đi tìm những
giải đáp cho người khác, linh mục không ngừng được đưa dẫn để trước hết tìm được giải đáp cho chính
mình.
Như thế, toàn thể Dân Chúa, trong hết mọi thành phần, có thể và cần phải mang lại một sự trợ giúp quí
báu cho việc đào tạo trường kỳ của các linh mục. Trong chiều hướng ấy, họ phải để cho các linh mục có thời
giờ học hỏi và cầu nguyện, chỉ yêu cầu nơi các linh mục những gì liên quan đến mục đích của việc các ngài
được Đức Kitô ủy thác chớ không yêu cầu những điều gì khác, sau hết cộng tác với các ngài trong những
lãnh vực khác nhau của sứ vụ mục tử bằng một sự chú tâm đặc biệt đối với những gì qui hướng về sự thăng
tiến con người và về việc phục vụ trong đức ái. Họ phải duy trì với các linh mục những cuộc tiếp xúc nồng
nhiệt và huynh đệ và phải khơi dậy nơi các ngài niềm ý thức rằng trách nhiệm của các ngài không phải là
“cai quản đức tin” nhưng đúng hơn là “góp phần tạo niềm vui” cho tất cả các tín hữu (x. 2Cr 1,24).
Trách nhiệm của Giáo Hội địa phương như vừa được trình bày trong công việc đào tạo các linh mục
phải được vận dụng một cách cụ thể và đặc loại tùy theo những thành phần khác nhau làm thành Giáo Hội
ấy, khởi đầu bằng chính linh mục.
79. Hiểu theo một nghĩa nào đó, từng linh mục một phải là người đầu tiên chịu trách nhiệm về việc đào tạo
trường kỳ của mình trong Giáo Hội. Bổn phận trung thành với ân huệ của Thiên Chúa và với sự năng động
của việc hoán cải thường nhật phát xuất từ chính ân huệ, như được bén rễ trong bí tích Truyền Chức Thánh,
là bổn phận mà trong thực tế mỗi một linh mục phải tự mình gánh mang. Các qui tắc hoặc các tiêu chuẩn
của quyền bính Giáo Hội về vấn đề này, cũng như gương sáng của các linh mục khác không đủ để làm cho
việc đào tạo trường kỳ có sức lôi cuốn, nếu như mỗi một linh mục không tự mình xác tín về sự khẩn thiết
của việc đào tạo ấy và không tự quyết định để đề cao giá trị của những cơ hội, những thời giờ và những
phương thức dành cho việc đào tạo ấy. Đào tạo trường kỳ bảo tồn sự “tươi trẻ” cho tinh thần, điều mà không
một ai có thể áp đặt từ bên ngoài nhưng mỗi người phải không ngừng kín múc nơi chính mình. Chỉ người
nào luôn sống khát vọng học tập và lớn lên, người đó mới có được sự “tươi trẻ” ấy. Trách nhiệm của giám
mục và, cùng với ngài, của linh mục đoàn là cơ bản. Trách nhiệm của giám mục đặt nền tảng trên sự kiện
các linh mục lãnh nhận chức linh mục từ nơi ngài và cùng chia sẻ với ngài mối quan tâm mục vụ đối với
toàn thể Dân Chúa. Ngài chịu trách nhiệm về một nền đào tạo trường kỳ nhằm giúp các linh mục biết quảng
đại trong việc trung thành với ân huệ và thừa tác vụ mình đã lãnh nhận, như lòng mong ước và đồng thời
“quyền lợi” của Dân Thiên Chúa: có linh mục. Trách nhiệm ấy dẫn giám mục tới chỗ, cùng với linh mục
đoàn, thiết lập và tổ chức một chương trình đào tạo trường kỳ, không coi đó là một việc làm tùy tiện, chừng
mực nhưng là một dự án được soạn thảo kỹ lưỡng và được tiến hành qua từng giai đoạn theo những phương
thức nhất định. Giám mục phải thi hành trách nhiệm của mình, chẳng những bằng cách bảo đảm cho các linh
mục dưới quyền mình có được nơi chốn và thời gian dành riêng cho việc đào tạo trường kỳ, nhưng còn bằng
cách chính mình hiện diện ở đó và cùng tham gia một cách thâm tín và nồng nhiệt. Trong nhiều trường hợp,
điều thích đáng và thậm chí cần thiết là các giám mục thuộc những giáo phận kề cận nhau hay thuộc cùng
một miền tông đồ cần phải ăn ý với nhau và kết hiệp những nổ lực của mình lại với nhau để có thể đưa ra
những để nghị tốt đẹp hơn, thực sự bổ ích cho việc đào tạo trường kỳ, chẳng hạn những khóa tu nghiệp
Thánh Kinh, thần học và mục vụ, những tuần lễ sống cộng đoàn, những buổi thuyết trình theo chu kỳ, những
thời gian dành cho việc suy tư và đánh giá phương hướng mục vụ của linh mục đoàn và của cộng đoàn Giáo
Hội.
Giám mục phải thi hành trách nhiệm của mình bằng cách cũng yêu cầu sự đóng góp có thể có từ phía
các phân khoa và các học viện thần học và mục vụ, các chủng viện, các cơ quan và hiệp hội – gồm có linh
mục, tu sĩ, giáo dân – dấn thân cho việc đào tạo linh mục.
Trong Giáo Hội địa phương, một vị thế quan trọng được dành cho các gia đình. Với tư cách là “Giáo
Hội tại gia”, các gia đình thực ra là điểm quy chiếu cụ thể cho đời sống của các cộng đoàn Giáo Hội được
các linh mục thôi thúc và hướng dẫn. Cách riêng, cần phải ghi chú vai trò của chính gia đình linh mục. Cùng
hiệp thông ý hướng với linh mục, gia đình có thể mang lại cho sứ vụ của linh mục một sự đóng góp độc đáo
và quí giá. Gia đình là cái nôi của ơn gọi mà gia đình đã che chở và nâng đỡ bằng một nguồn cậy dựa thiết
yếu để cho ơn gọi ấy được lớn lên và được phát triển. Như đã sẵn sàng thực hiện kế hoạch của Chúa Quan
Phòng nhằm làm nảy mầm ơn gọi theo ý Ngài, gia đình của linh mục, nguồn trợ lực thiết yếu cho linh mục
được lớn lên và phát triển, vẫn phải luôn mãi là chứng nhân trung thành, vừa hết mực tôn trọng một người
con đã chấp nhận hiến thân cho Thiên Chúa và đồng loại, vừa khuyến khích linh mục trong sứ vụ, cùng chia
sẻ sứ vụ với linh mục và cùng gần gũi với linh mục một cách tận tụy và thận trọng.
Thời giờ, hình thức và phương thế dành cho việc đào tạo trường kỳ.
80. Nếu như mọi giờ khắc đều là “thời gian thuận tiện” (x. 2 Cr 6,2) để Chúa Thánh Thần hướng dẫn cho
linh mục lớn lên trong kinh nguyện, trong việc học hỏi và trong ý thức về những trách nhiệm mục vụ của
mình, thì dầu vậy vẫn có những giờ khắc “biệt đãi”, ngay cả đó là những giờ khắc thông thường và đã được
tiên liệu trước.
“Ở đây, trước hết cần phải nhắc tới những buổi gặp gỡ giữa giám mục với linh mục đoàn, hoặc có tính
cách phụng vụ (cách riêng cuộc đồng tế thánh lễ Thánh Lễ làm phép Dầu ngày thứ Năm Tuan Thánh) hoặc
có tính cách mục vụ và văn hóa, nhằm trao đổi nhận định về sinh hoạt mục vụ hoặc nhằm học hỏi một số
vấn đề thần học đã được ấn định.
Cũng có những buổi gặp gỡ thiêng liêng giữa các linh mục, như những cuộc cấm phòng, những ngày
tĩnh tâm và tu đức, v.v… Đó là những cơ hội để tăng trưởng về măt thiêng liêng và mục vụ, để cầu nguyện
lắng đọng hơn và lâu giờ hơn, để quay về với những cội rễ của con người linh mục, để hâm nóng lại những
động lực khơi nguồn cho sự trung thành và cho khí thế mục vụ.
Những buổi gặp gỡ để học hỏi và suy tư chung với nhau cũng mang tầm mức quan trọng. Chúng dự
liệu để tránh tình trạng nghèo nàn về văn hóa và tình trạng chai cứng về những lập trường dễ dãi trong lãnh
vực mục vụ, là hậu qủa của sự lười biếng trí thức. Chúng bảo đảm cho có được một tổng hợp dày công suy
nghĩ hơn về những yếu tố đa tạp trong đời sống thiêng liêng, văn hóa và tông đồ ; chúng mở rộng trí óc và
con tim hơn trước những thách đố mới của lịch sử và trước những tiếng gọi mới mà Chúa Thánh Thần gióng
lên cho Giáo Hội.
81. Rất nhiều kiểu cộng tác và phương thế có thể giúp ích để cho việc đào tạo trường kỳ trở nên một kinh
nghiệm sống tốt đẹp hơn cho các linh mục. Trong số những kiểu cộng tác và phương thế ấy, có thể nhắc tới
những hình thức sống chung giữa các linh mục với nhau, là những hình thức vẫn thường có trong lịch sử
Giáo Hội, với những thể loại và cường độ khác biệt nhau. “Ngày nay, không thể không yêu cầu cho có
những hình thức ấy, nhất là giữa những linh mục sống và dấn thân mục vụ trong cùng một nơi. Đời sống
chung của hàng giáo sĩ như thế, hữu ích cho đời sống và hoạt động mục vụ, tạo cho mọi người, cả linh mục
và giáo dân, một gương mẫu chói sáng về đức ái và hiệp nhất” 541 .
Một hình thức tương trợ khác có thể được cung ứng do các hiệp hội linh mục, nhất là các tu hội đời
linh mục với tính chất trực thuộc giáo phận nhờ đó các linh mục kết hiệp chặt chẽ hơn với giám mục. Các tu
hội ấy quy định “một bậc sống toàn hiến trong đó, nhờ những lời khấn và những mối dây ràng buộc linh
thánh khác, các linh mục cam kết thực hành những lời khuyên Phúc Âm trong đời sống mình” 542 . Tất cả mọi
hình thức “huynh đệ linh mục” được Giáo Hội công nhận đều hữu ích cho đời sống thiêng liêng cũng như
cho đời sống tông đồ và mục vụ.
Thực hành việc linh hướng cũng đóng góp rất nhiều cho việc đào tạo trường kỳ của các linh mục. Đây
là một phương thế cổ điển vẫn luôn giữ mãi được giá trị, chẳng những nhằm tạo nền tảng vững chắc cho
việc đào tạo thiêng liêng, nhưng còn giúp cổ võ và nâng đỡ cho sự trung thành và lòng quảng đại bền bỉ
trong việc thi hành thừa tác vụ linh mục. Như Đức Phaolô VI đã viết trước khi lên Giáo hoàng, “việc linh
hướng đóng một nhiệm vụ rất cao đẹp và có thể nói thiết yếu đối với nền giáo dục luân lý và thiêng liêng
dành cho giới trẻ, những con người mong ước tìm hiểu và theo đuổi ơn gọi của mình một cách hết mực chân
tình, không phân biệt ơn gọi loại nào.
Việc linh hướng giữ mãi tầm quan trọng ích lợi cho mọi lứa tuổi và mọi cuộc đời, mỗi lúc chúng ta
đến với những soi dẫn và lòng bác ái của một vị cố vấn đạo đức và khôn ngoan, để rồi cầu xin sự kiểm
nghiệm đường ngay lối thẳng của chúng ta, cũng như sự sưởi ấm chúng ta trong việc quảng đại chu toàn
những bổn phận. Đây là một phương thế sư phạm rất tế nhị nhưng mang một giá trị rất cao cả. Đây là một
nghệ thuật sư phạm và tâm lý đòi người hành xử phải có tinh thần trách nhiệm cao độ ; đây là một việc tập
luyện thiêng liêng đòi người lãnh nhận phải khiêm nhượng và tin cậy” 543 .
KẾT LUẬN
82. “Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử như lòng Ta mong ước” (Gr 3,15).
Cho đến hôm nay, lời hứa ấy của Thiên Chúa vẫn đang sống động và hình thành trong Giáo Hội, và
Giáo Hội ý thức rằng, từ muôn thuở, chính Giáo Hội được diễm phúc thụ hưởng những lời tuyên sấm ấy.
Ngày ngày, Giáo Hội nhìn thấy lời hứa ấy được thực hiện khắp nhiều nơi trên địa cầu ; hơn nữa, nơi nhiều
tâm hồn con người, nhất là nơi những người trẻ. Khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba, Giáo Hội ao ước rằng,
vì lý do những nhu cầu nghiêm trọng và bức bách của Giáo hội cũng như những nhu cầu của thế giới, lời
hứa ấy của Thiên Chúa được ứng nghiệm một cách mới mẻ hơn, rộng lớn hơn, sâu đậm hơn và hữu hiệu
hơn, với một sự tuôn đổ phi thường Thần Khí của Ngày Lễ Hiện Xuống.
Lời hứa của Chúa khơi dậy trong lòng Giáo Hội một kinh nguyện, một lời cầu xin khiêm tốn, nồng
nhiệt và tin cậy vào tình yêu của Chúa Cha ; cũng như Ngài đã sai Đức Giêsu Mục Tử Nhân Lành, sai các
Tông Đồ, những người kế vị các ngài và đông đảo các linh mục : cũng vậy, Ngài vẫn tiếp tục biểu lộ cho
con người ngày nay sự trung tín và lòng nhân hậu của Ngài.
Giáo hội luôn ở trong tư thế sẵn sàng đáp lại ân sủng ấy. Giáo hội biết rằng ân huệ của Thiên Chúa đòi
buộc một lời đáp trả quảng đại và đồng tâm nhất trí : toàn thể Dân Chúa phải không ngơi cầu nguyện và làm
việc cho các ơn gọi linh mục. Các ứng sinh linh mục phải chuẩn bị một cách có ý thức để lãnh nhận và sống
ân huệ của Thiên Chúa, tin chắc rằng Giáo Hội và thế giới rất cần đến mình. Họ phải say mê Đức Kitô Mục
Tử Nhân Lành, uốn nắn con tim mình theo con tim của Ngài và, noi gương Ngài, sẵn sàng rảo bước trên các
nẻo đường thế giới để công bố Đức Kitô là Đường, Sự Thật và Sự Sống cho mọi người.
Tôi xin gởi đến các gia đình một lời kêu gọi đặc biệt : xin các bậc cha mẹ, cách riêng những người làm
mẹ, hãy quảng đại để ban tặng cho Chúa những người con của mình được Chúa mời gọi tiến tới chức linh
mục ; xin hãy vui mừng cộng tác vào tiến trình ơn gọi của con cái, đoan chắc rằng, bằng cách ấy, sẽ làm cho
sự sai nở của Kitô giáo và của Giáo Hội, cũng là của mình, được nên lớn mạnh hơn và sâu rộng hơn và sẽ
nghiệm biết, một cách nào đó, hạnh phúc của Đức Trinh Nữ Maria : “Trong số các phụ nữ, người được diễm
phúc, hoa quả lòng người thật đáng chúc tụng” (Lc 1,42).
Với những người trẻ hôm nay, Tôi muốn nhắn nhủ điều này : các bạn hãy ngoan ngùy hơn nữa đối với
Thần Khí, hãy để cho vang vọng lên trong lòng các bạn những nỗi mong chờ lớn lao của Giáo Hội và của
nhân loại, đừng ngại mở rộng tâm trí các bạn trước lời mời gọi của Chúa Kitô, hãy khám phá ra ánh mắt yêu
thương của Đức Giêsu đang hướng thẳng về phía các bạn và hãy đáp lại một cách hăng say lời Ngài đề nghị
nối gót theo Ngài cho đến cùng.
Giáo Hội đáp lại ân sủng bằng việc các linh mục cam kết thực hiện việc đào tạo trường kỳ theo như
đòi hỏi của phẩm vị và trách nhiệm đã được trao ban cho họ trong bí tích Truyền Chức Thánh. Tất cả các
linh mục đều được mời gọi truy nhận tính khẩn cấp đặc biệt nơi việc đào tạo của họ trong thời buổi hiện tại :
“công cuộc phúc âm hóa mới” cần có những nhà rao giảng mới, những linh mục dấn thân sống chức linh
mục như một con đường nên thánh.
Lời hứa của Thiên Chúa bảo đảm cho Giáo Hội của Ngài không phải có được bất cứ những mục tử
nào nhưng những mục tử “như lòng Ngài mong ước”. “Lòng mong ước” của Thiên Chúa đã được mạc khải
một cách trọn vẹn cho chúng ta trong lòng mong ước của Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành. Ngài đã luôn chạnh
lòng xót thương đoàn ngũ dân chúng và đã ban cho họ bánh sự thật, bánh tình yêu và bánh sự sống (x. Mc
6,30-44). Ngài yêu cầu những con tim khác cũng phải chung nhịp đập – những con tim linh mục – : “Các
ngươi hãy cho họ ăn” (Mc 6,37). Nhiều người đang cần phải ra khỏi tình trạng vô danh và ra khỏi sự sợ hãi ;
họ cần được nhận biết và được gọi bằng tên của họ, được bước đi an toàn trên những nẻo đường cuộc sống,
được tìm gặp nếu như bị lạc lối, được đón nhận ơn cứu độ như là quà tặng tuyệt hảo của tình yêu Thiên
Chúa ; đó chính là điều Đức Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành, thực hiện ; đó chính là điều các linh mục thực
hiện cùng với Ngài.
Ở đoạn chót của Tông Huấn này, Tôi hướng ánh mắt Tôi về phía đông đảo các chủng sinh và linh
mục, tại khắp các miền trên thế giới, ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất và đôi khi bi thảm nhất,
để nhìn thấy họ vẫn luôn vui vẻ trong nổ lực trung thành với Chúa, vẫn không ngừng phục vụ đoàn chiên
của Chúa và hằng ngày hiến dâng cuộc đời mình để cho đức tin, niềm trông cậy và đức ái được tăng triển
trong tâm hồn và trong đời sống của những người nam và nữ thời đại chúng ta.
Anh em linh mục rất thân mến, sở dĩ anh em xả thân như vậy là bởi vì chính Chúa, với sức mạnh của
Thần Khí Ngài, đã mời gọi anh em làm cho kho tàng vô giá là tình yêu của Vị Mục Tử Nhân Lành được
hiện diện trong những chiếc bình sành là cuộc đời khiêm tốn của anh em.
Hiệp thông với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, nhân danh tất cả các giám mục trên thế giới và toàn
thể cộng đoàn Giáo Hội, Tôi muốn bày tỏ trọn niềm tri ân mà chắc hẳn là chính đáng đối với lòng trung
thành của anh em và công việc phục vụ của anh em 544 .
Tôi cầu chúc tất cả anh em được ơn canh tân mỗi ngày ân huệ của Thiên Chúa mà anh em đã lãnh
nhận do việc đặt tay, ơn hưởng nhờ nguồn khích lệ nơi tình bạn sâu xa là tình bạn nối liền anh em với Đức
Giêsu và hiệp nhất anh em lại với nhau, ơn cảm mến niềm vui vì sự tăng trưởng của đoàn chiên Thiên Chúa
hướng về một tình yêu ngày càng lớn rộng hơn đối với Ngài và đối với mọi người, ơn bảo tồn niềm xác tín
thanh thản rằng Đấng đã khởi sự nơi anh em công trình tốt đẹp chắc hẳn sẽ đưa công trình ấy đến chỗ hoàn
thành cho tới ngày của Đức Kitô Giêsu (x. Ph 1,6) ; hiệp nhất với mọi người và với từng người trong anh
em, Tôi trao gửi lời nguyện cầu của tôi cho Đức Maria, người mẹ và nhà giáo dục của các linh mục chúng
ta.
Tất cả mọi khía cạnh trong nền đào tạo linh mục đều có thể đem gán cho Đức Maria, như một người
phàm, hơn tất cả mọi người phàm khác, đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa ; Đức Maria đã hóa nên nữ tì
và môn đệ của Lời Chúa đến độ cưu mang trong lòng mình và trong dạ mình Ngôi Lời làm người để rồi ban
tặng Ngài cho nhân loại ; Đức Maria đã được mời gọi để trở thành nhà giáo dục của vị linh mục duy nhất và
vĩnh cửu, vị linh mục này đã tự nguyện sống ngoan ngùy và đã tùng phục quyền làm mẹ của Ngài. Nhờ
gương sáng và sự chuyển cầu của Ngài, Đức Trinh Nữ vẫn tiếp tục chăm lo cho các ơn gọi và đời sống linh
mục trong Giáo Hội được hưng thịnh.
Chính vì thế, là linh mục, chúng ta được mời gọi vun trồng nơi chúng ta một lòng sùng kính dịu hiền
và bền vững đối với Đức Trinh Nữ Maria, giải bày về Ngài bằng cách bắt chước các nhân đức của Ngài và
bằng cách thường xuyên cầu xin Ngài.
Lạy Đức Maria,
là mẹ của Đức Giêsu Kitô và là Mẹ của các linh mục,
xin hãy nhận lấy tước hiệu mà chúng con gán cho Mẹ
để ngợi ca chức quyền thánh mẫu của Mẹ
và để kề bên Mẹ chiêm ngắm chức linh mục
của Con Mẹ và của các con cái Mẹ,
lạy Thánh Mẫu của Thiên Chúa !
Lạy Mẹ Đức Kitô,
Mẹ đã tặng ban cho Đấng Mêsia Linh Mục một thân thể xác phàm
nhờ được Thánh Thần xức dầu
để cứu độ người nghèo và cứu độ những con người
có trái tim tan nát,
xin hãy gìn giữ các linh mục trong trái tim Mẹ và trong Giáo Hội,
Lạy Mẹ Đấng Cứu Độ !
Lạy Mẹ đức tin,
Mẹ đã sánh bước tới Đền Thờ
cùng với Con Người,
là sự ứng nghiệm của những lời hứa
như đã được ngỏ với cha ông chúng con,
xin hãy trao gởi các linh mục của Con Mẹ
cho Thiên Chúa Cha, để làm vinh danh Ngài,
lạy Hòm Bia Giao Ước !
Lạy Mẹ Giáo Hội,
tại Phòng Tiệc Ly, giữa các Môn Đệ,
Mẹ đã cầu nguyện với Thánh Thần
cho Dân mới và cho các vị Mục Tử của Dân mới,
xin hãy làm cho hàng linh mục
được dư tràn các ân huệ,
lạy Nữ Vương các Tông Đồ !
Lạy Mẹ Đức Giêsu Kitô,
Mẹ đã ở với Ngài vào lúc khởi đầu cuộc sống
và sứ vụ của Ngài,
Mẹ đã tìm kiếm Ngài, khi Ngài đang làm Thầy
giữa đám đông
Mẹ đã đứng kề bên Ngài, khi Ngài được nâng
lên khỏi mặt đất, hoàn tất mọi sự
để trở nên hy lễ duy nhất vĩnh cửu,
xin hãy đón nhận những kẻ được Chúa mời gọi,
khi họ cất những bước đầu tiên trên nẻo đường của họ,
xin hãy che chở cho sự tăng triển của họ,
xin hãy sát cánh với những người làm con mẹ
trong đời sống và trong thừa tác vụ,
lạy Mẹ là Mẹ các linh mục !
Amen.
Ban hành tại Roma, gần Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 25 tháng 3 năm 1992, vào ngày đại lễ Truyền
Tin, năm thứ mười bốn của Tôi trong chức vị Giáo Hoàng.
Gioan Phaolô II
BỘ RAO GIẢNG TIN MỪNG
CHO CÁC DÂN TỘC
CHỈ NAM LINH MỤC- 1989
Dành cho các Giáo Hội
thuộc Bộ Rao Giảng Tin Mừng
cho các dân tộc
(bản dịch đã được sửa chữa lại)
—1989 —
Chư huynh đáng kính trong chức giám mục,
Các linh mục thân mến,
Các Giáo Hội ở những xứ mới được rao giảng Tin Mừng, mà quý Chư huynh và các linh mục là
những mục tử nhiệt thành, đang sống trong một thời điểm lịch sử đặc biệt thuận lợi cho việc phát triển và
trưởng thành. Trong bối cảnh hỗ trợ cho sức sống đạo và truyền đạo đó, các linh mục, căn cứ vào chức vụ và
sứ mạng được trao ban, đóng một vai trò độc đáo và không thể thay thế được.
Do đó, Bộ rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc, với kinh nghiệm lâu đời, đã đề ra phương hướng hoạt
động ưu tiên cho những năm sắp tới là nâng cao phẩm chất hàng giáo sĩ địa phương. Để có thể đáp lại lời
mời gọi của Chúa, đồng thời đáp ứng những thách đố của lịch sử luôn luôn mới mà Giáo Hội gặp trên đường
thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng, điều cần yếu là chú tâm hơn đến căn tính mục tử. Chúng ta thâm tín
rằng: tương lại của các cộng đồng Giáo Hội chúng ta và khả năng ảnh hưởng của các cộng đồng Giáo Hội
đối với thế giới ngoài Kitô giáo gắn chặt với “phẩm chất” của hàng giáo sĩ.
Chính vì thế, trong buổi tiếp kiến dành cho các ủy viên của Bộ về dự Đại hội, Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II, sau khi nhấn mạnh đến việc các linh mục bản xứ phải “trổi vượt về đời sống tu đức”, đã khẳng
định rằng: trong các xứ truyền giáo, “sự thánh thiện của các linh mục là một chứng tích có giá trị nổi bật và,
hơn thế nữa, còn trở thành một đặc điểm gây tín nhiệm và một bảo chứng đem lại kết quả cho hoạt động
tông đồ”.
Về phần tôi, tôi hân hạnh gửi đến tất cả các linh mục giáo phận của các Giáo Hội truyền giáo một bản
“Chỉ nam đời sống mục vụ”; bản Chỉ nam này xác định những nguyên tắc nền tảng cho bản thân và đời sống
linh mục, theo sự khôn ngoan và kinh nghiệm của Giáo Hội thừa sai. Với trọn niềm hy vọng, tôi ký thác bản
Chỉ nam này cho Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm và là ngôi sao dẫn đường cho
công cuộc rao giảng Tin Mừng, để nhờ Mẹ giúp cho mỗi linh mục ghi tâm khắc cốt và phấn khởi, kiên trì,
trung thành theo bản Chỉ nam này.
Chúng ta cùng cầu khẩn Chúa Thánh Thần đến trợ giúp để chúng ta ngày càng nên giống Đức Kitô là
“Vị Thừa Sai của Chúa Cha”.
Rôma, ngày 1 tháng 10 năm 1989
Lễ Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu,
Bổn mạng các xứ Truyền giáo
Hồng Y JOSEPH TOMKO
Bộ Trưởng Bộ Rao Giảng Tin Mừng
BỘ RAO GIẢNG TIN MỪNG
CHO CÁC DÂN TỘC
CHỈ NAM LINH MỤC
HƯỚNG DẪN ĐỜI SỐNG MỤC VỤ
CHO CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN
TRONG CÁC GIÁO HỘI
THUỘC BỘ RAO GIẢNG TIN MỪNG
CHO CÁC DÂN TỘC
1989
Nhập đề
1a. Ý thức tầm quan trọng cơ bản của chức linh mục thừa tác trong việc sinh trưởng của cộng đồng
Kitô giáo, Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho các dân tộc hằng quan tâm đặc biệt đến các linh mục giáo phận
trong Giáo Hội mới được thành lập.
1b. Với tinh thần đó, Bộ đã góp phần cụ thể vào việc đào tạo các thừa tác viên thánh: trong Hội nghị từ
ngày 14 đến 17 tháng 10 năm 1986, đã hình thành “Một số chỉ dẫn liên quan đến việc huấn luyện trong các
Đại Chủng Viện”; những chỉ dẫn này được Đức Hồng Y Bộ Trưởng chuyển đạt tới các giám mục liên hệ
trong thư đề ngày 25 tháng 4 năm 1987.
1c. Để tiếp tục góp phần quan trọng có lợi cho các chủng sinh và để chứng tỏ mối quan tâm ân cần đối
với các linh mục, trong Hội nghị từ ngày 11 đến 14 tháng 4 năm 1989, sau khi tham khảo rộng rãi và nghiêm
cứu những tư liệu dồi dào từ các Giáo Hội địa phương gửi tới, đã soạn ra một bản CHỈ NAM LINH MỤC,
nhằm hướng dẫn đời sống mục vụ cho các linh mục giáo phận trong các Giáo Hội thuộc Bộ rao giảng Tin
Mừng cho các dân tộc.
1d. Chỉ nam này tuần tự trình bày những chủ đề chính yếu liên quan đến căn tính của linh mục, đến
đời sống tâm linh cũng như đời sống và hoạt động mục vụ của linh mục, ăn khớp với giáo thuyết và những
nguyên tắc tổng quát của Giáo Hội. Tuy nhiên, theo phương hướng đã được Công Đồng vạch rõ 545 , bản Chỉ
nam này muốn làm nổi bật những đặc điểm phù hợp riêng với tình hình của các Giáo Hội trẻ đang trên đà
phát triển. Những đặc điểm đó là:
1. Đức hạnh và lối sống của linh mục mang lại cho cuộc đời linh mục một giá trị làm nhân chứng Tin
Mừng cho những người ngoài Kitô giáo;
2. Linh mục được mời gọi sống hiệp thông đặc biệt với Giám mục, với linh mục đoàn và với cộng đồng
Kitô hữu;
3. Linh mục hoàn toàn sẵn sàng và tích cực dấn thân vào việc khởi giảng Phúc Âm cho những người ngoài
Kitô giáo;
4. Linh mục biết huấn luyện giáo dân để họ tích cực tham gia vào đời sống của Giáo Hội, vào việc xây
dựng Giáo Hội và dấn thân cho công cuộc Phúc âm hoá;
5. Linh mục quan tâm cách riêng đến giới trẻ;
6. Linh mục đặc biệt yêu thương những người nghèo khổ;
7. Linh mục tham gia phục vụ công cuộc thăng tiến con người và bênh vực công lý;
8. Linh mục quan tâm đến việc hội nhập văn hoá và phát huy khả năng cổ võ công việc hội nhập đó;
9. Linh mục phải theo đuổi công cuộc đối thoại đại kết và đối thoại với các tôn giáo bạn.
1e. Trên đây là những điểm lớn, cộng thêm một vài điểm nữa, làm nền cho toàn bộ việc triển khai bản
Chỉ nam. Như thế, bản Chỉ nam nhằm đáp ứng tối đa những điều cần thiết cho linh mục ở các xứ truyền
giáo. Do đó cần nắm vững những trọng điểm trên như chìa khoá để mở đọc toàn bộ bản Chỉ nam này.
1f. Bản Chỉ nam này chủ yếu gửi tới các linh mục giáo phận – linh mục triều – trong các Giáo Hội địa phương
thuộc Bộ Rao Giảng Tin Mừng; số linh mục càng ngày càng đông và càng ngày càng gánh vác những trọng trách
lớn; vả lại các vị này nói chung thuộc thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai của linh mục bản xứ, đối với họ, mô hình truyền
thống của linh mục là mô hình linh mục dòng thừa sai chứ không phải mô hình linh mục triều thuộc Giáo Hội địa
phương; cuối cùng các linh mục ở những xứ truyền giáo lại có những vấn đề đặc thù, những vấn đề này trong
những dữ kiện cụ thể gắn liền với những hoàn cảnh Giáo Hội và văn hoá xã hội của địa phương, thành thử cần phải
có những hướng dẫn và những cách giải quyết phù hợp với địa phương đó.
1g. Đối với các linh mục triều, bản Chỉ nam này sẽ là một điểm quy chiếu, một nhân tố thống nhất quan điểm
và đẩy mạnh cuộc sống. Còn đối với các linh mục dòng và các thừa sai đang làm việc trong các xứ truyền giáo, bản
Chỉ nam này soi sáng cách sống cho các vị đó.
1h. Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho các dân tộc tin tưởng gửi đến các Hội Đồng Giám Mục và từng vị giám
mục bản Chỉ nam này nhằm hướng dẫn đời sống mục vụ các linh mục trong giáo phận, đồng thời cũng nhằm làm
tài liệu căn bản và mô hình tham khảo để soạn thảo hoặc đề ra những chỉ dẫn của địa phương; được như thế thì toàn
thể đại gia đình linh mục trong Giáo Hội truyền giáo sẽ sống nhiệt tâm, sẽ làm việc trong sự thống nhất tinh thần và
ý hướng, ngõ hầu đáp lại niềm trông đợi của Giáo Hội đang tiến đến một “mùa vọng” mới về truyền giáo, trong
niềm hiệp thông với Đức Trinh Nữ Maria.
I. NGUỒN GỐC CHỨC LINH MỤC THỪA TÁC
2. Nền tảng Thiên Chúa Ba Ngôi của chức Linh mục
2a. Đức Kitô Giêsu, nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể (Cl 2,9), đã
được Chúa Cha sai đến để thực hiện kế hoạch cứu độ toàn thể vũ trụ (x. Ga 3,17; 5,30; 8,16; Gl 4,4, v.v…),
đã được Chúa Cha ban mọi quyền năng để hoàn thành sứ mạng(Ga 5,20-21; Mt 28,18); Người đã được xức
dầu thánh hiến bằng quyền năng của Thánh Thần (x. Lc 4,18 tt; Cv 10,38); sau khi đã làm trọn ý muốn của
Chúa Cha – muốn hết mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý (x. 1 Tm 2,4), làm trọn đến mức hiến
mạng sống làm giá chuộc thay cho nhiều người (x. Mc 10,45), Người đã sống lại để tiêu diệt sự chết và trở
về với Cha trên trời, đời đời hiển trị và bầu cử cho các anh em của Người (x. Ga 16,27-28; 3,1-3; Dt 4,14-
16). Linh mục là người được ủy thác tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô, cho nên sứ mạng linh mục trước tiên
bắt nguồn từ chính tình yêu cứu độ của Chúa Cha (x. Ga 17,6-9.24; 1 Cr 1,1; 2 Cr 1,1) và ơn gọi linh mục
trực tiếp bắt nguồn từ chính Đức Kitô là Đấng gọi đích danh các linh mục như đã gọi các Tông Đồ và ban
Thánh Thần cho họ (x. Ga 20,21) để họ được về với Chúa Cha cùng với các anh em của mình. Như thế, ơn
gọi và sứ mệnh linh mục bắt nguồn và tìm gặp sự minh giải đầy đủ từ chính Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn gốc
sứ mệnh của Giáo Hội 546 .
2b. Chính Đức Kitô đã đặt các Tông Đồ làm thừa tác viên để, ở giữa cộng đoàn tín hữu, họ là những
người được trao quyền thánh chức. Rồi nhờ các Tông Đồ, Chúa Kitô đã làm cho các Giám mục, những vị kế
nghiệp các Tông Đồ, được tham dự vào việc thánh hiến và vào sứ mệnh của Người. Các Giám mục lại trao
chức năng thừa tác của mình cho các linh mục ở cấp thừa hành, để các linh mục làm cộng sự viên trung
thành trong việc thi hành sứ mạng tông đồ 547 . Sứ mạng này thông dự vào sứ mệnh chung của cả Giáo Hội đối
với những người ngoài Kitô giáo, và sứ mạng đó thật sự dẫn các linh mục vào con đường trách vụ 548 .
2c. Các linh mục là những người được Chúa Kitô kêu gọi, qua Đức Giám Mục, bằng một lời gọi đặc
biệt (x. Mc 3,13; Lc 6,13); linh mục ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14-15); linh
mục được thánh hiến để có đủ tư cách chu toàn chính sứ mệnh của Chúa Kitô là loan báo cho mọi người biết
rằng thời buổi đã mãn và Nước Thiên Chúa đang ở giữa loài người (x. Mc 1,15); linh mục cũng được thánh
hiến để có đủ tư cách chủ trì, giảng dạy và thánh hoá Dân Chúa 549 .
2d. Nguyên lý cấu tạo chức linh mục thừa tác là chính Đức Kitô là Thượng Tế và Hy Lễ của Giao Ước
Mới, giao ước vĩnh cửu (x. Dt 9,11-15). Nguyên lý hiệu lực của chức vụ ấy là sự tuyển chọn và sự trao ban
sứ mệnh đặc biệt từ phía Thiên Chúa, làm cho linh mục trở thành công cụ của Đức Kitô (x. Mc 3,10-19; Lc
22,19; Mt 28,18-20). Nguyên lý gương mẫu của chức vụ ấy là việc phục vụ của Đức Kitô; việc phục vụ đa
dạng này làm sáng tỏ căn tính của linh mục: – Đức Kitô, Đấng được Chúa Cha sai đến để cứu độ thế gian (x.
Ga 3,17), điều này nói lên sứ mệnh phổ quát; – Đức-Kitô-Tôi-tớ, một tước hiệu cho thấy sự từ bỏ của Đức
Kitô là Đấng đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống (x. Mt 20,28; Pl 2,7-8);
– Đức Kitô Mục Tử và Thầy dạy, điều này nói lên tình yêu của Đấng biết những người thuộc về mình, Đấng
hướng dẫn đoàn chiên và quy tụ đoàn chiên vào một ràn duy nhất (x. Ga 10,1 tt), và Người là chính Lời
hằng sống của Chúa Cha kêu gọi dân chúng tiến vào Nước Trời (x. Ga 12,48-50).
2e. Nhấn mạnh đến chức năng thừa tác của linh mục là muốn nói lên mối tương quan cốt yếu giữa linh
mục với bản vị Đức Kitô. Thật vậy, chỉ một mình Đức Kitô là linh mục duy nhất và là trung gian duy nhất
trước mặt Chúa Cha, còn các linh mục là dấu chỉ và là công cụ của Đức Kitô, tiếp nối công việc của Đức
Kitô ở trần gian này: linh mục thực thi quyền rao giảng Lời Chúa, tái diễn hy tế Thánh Giá trong bí tích
Thánh Thể, tha tội và hướng dẫn Dân Chúa. Không thể tách rời cái “là” của linh mục ra khỏi cái “là” của
Đức Kitô, cũng không thể tách rời đời sống linh mục ra khỏi đời sống Đức Kitô.
2f. Do đó, hết mọi linh mục phải xác tín rằng: họ chỉ thể hiện được căn tính linh mục của mình khi họ
tương hợp hoàn toàn với căn tính của Đức Kitô bằng tinh thần đức tin, bằng cuộc sống gắn bó với Người và
bằng nhiệt tâm thi hành chức vụ. Các linh mục cũng phải nhớ rằng: Đức Kitô đã thi hành sứ mạng cứu độ
bằng con đường nhập thể, từ bỏ chính mình và nên giống người ta mọi đàng, trừ tội lội (x. Dt 2,17-18; 4,15).
Nhập thể phải là mô hình của hoạt động truyền giáo.
2g. Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội tính duy nhất thiết thân và thừa tác, trang bị cho Giáo Hội
bằng muôn ơn theo phẩm chất và đoàn sủng (x. Ep 4,11-13; 1 Cr 12,14) 550 . Như là linh hồn của Giáo Hội,
Chúa Thánh Thần làm cho cơ chế của Giáo Hội sống động 551 , tuôn đổ vào lòng các tín hữu cũng một thần
khí đã hun đúc chính Chúa Kitô, nhằm giúp họ hoàn thành sứ mệnh của mình 552 .
2h. Các linh mục, “được in dấu đặc biệt khi được Chúa Thánh Thần xức dầu, nên giống Đức Kitô Linh
Mục, để có thể hành động nhân danh Đức Kitô là Đầu” 553 . Chính Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hoá, luôn là
nguồn gốc việc tuyển chọn, hiến thánh và trao ban sứ mệnh (x. Cv 13,3; 19,6). Chính Chúa Thánh Thần ban
cho quyền năng thi hành tác vụ hữu hiệu “tại sự”. Chúa Thánh Thần “được sai đến” (x. Ga 14,26; 15,26) và
ở với linh mục là người được sai đi để cùng cộng tác vào công trình cứu độ 554 .
2i. Nhờ Chúa Thánh Thần là nguyên lý hiệp thông 555 , các linh mục được đặt làm người chỉ đạo và hun
đúc tinh thần cho cộng đoàn, đặc biệt bằng sức mạnh của Lời Chúa. Cũng nhờ Chúa Thánh Thần, các linh
mục được trở thành thừa tác viên cử hành các bí tích đem lại sức sống cho hết mọi người, từ bí tích Thánh
Tẩy trong Thánh Thần và nước (Ga 3,5; Cv 10,47) tới bí tích Thánh Thể là bí tích mà Chúa Kitô “nhờ tác
động của Thánh Thần, không ngừng thi hành chức năng linh mục vì lợi ích của chúng ta…” 556 .
2j. Việc thánh hiến qua bí tích Truyền Chức mở đầu một lễ Hiện Xuống liên tục cho cuộc đời linh
mục. Nhờ sức mạnh của ân sủng phi thường này, các linh mục biết nhận ra hoạt động của Chúa Thánh Thần
trong Giáo Hội và cộng tác với Người, ý thức rằng mình đã nhận lãnh một sứ mệnh siêu nhiên và phổ quát
vì ích lợi cho hết mọi người.
3. Nền tảng Giáo hội và Bí tích của chức Linh mục
3a. Là “bí tích phổ quát ban ơn cứu độ” 557 , Giáo Hội thực hiện công việc cứu chuộc nhờ Lời Chúa và
các bí tích, nhất là nhờ hy tế Thánh Thể. Tham dự vào thừa tác vụ của Giáo Hội, các linh mục được cử đi
rao giảng Tin Mừng, chủ toạ việc phụng tự và thi hành vai trò hướng đạo giữa lòng Dân Chúa.
3b. Giáo Hội là một cộng đoàn hiệp thông mà các tác vụ trong cộng đồng ăn khớp với nhau theo phẩm
trật. Đặc biệt nhờ có ba cấp bậc thánh chức (Giám mục, linh mục, phó tế) mà Giáo Hội được xây dựng như
một đền thờ sống động, cùng thông hiệp với nhau trong một đức tin và một tình yêu. Được trao ban do bí
tích Truyền Chức, ba tác vụ này được truyền lại do các Tông Đồ và các đấng kế vị, tự bản chất chúng mang
tính phẩm trật và chúng tạo thành phẩm trật của Giáo Hội.
3c. Trong cộng đồng Giáo Hội, Đức Giám Mục một khi hiệp thông với Đức Giáo Hoàng là đầu của
Giám mục đoàn và hiệp thông với các thành viên của Giám mục đoàn, thì ngài là vị “thượng tế” 558 và là dấu
chỉ sống động của Đức Kitô, Vị Mục Tử tối cao. Chức vụ Giám mục thể hiện lại đặc tính trung tâm của việc
phục vụ vừa khiêm tốn vừa uy quyền của Đức Kitô-Đầu 559 . Để thi hành chức vụ Giám mục một cách trọn
vẹn và hữu hiệu, Đức Giám Mục cần có sự cộng tác của các linh mục và phó tế. Các linh mục là trợ tá, là
công cụ của hàng Giám mục và là hiện thân của Đức Giám Mục trong mỗi cộng đoàn; dưới quyền Đức
Giám Mục, các linh mục rao giảng Tin Mừng 560 , “thánh hoá và dẫn dắt một phần đoàn chiên Chúa trao phó
cho mình” 561 .
3d. Hơn nữa, hiệp thông với Đức Giám Mục, linh mục còn làm cho Đức Kitô hiện diện 562 . Khi mang
sứ điệp Tin Mừng, linh mục thi hành chức năng của chính Đức Kitô – Ngôn Sứ trong việc phục vụ Lời Chúa
cho cả những người ở xa 563 ; – khi thi hành chức vụ đặc thù tư tế, linh mục thánh hiến nhân danh Đức Kitô –
Thượng Tế (“in Persona Christi Pontificis”) 564 ; – là mục tử, linh mục quy tụ và hướng dẫn cộng đoàn nhân
danh Đức Kitô – Mục Tử (x. Lc 10,16; 1 Pr 5,2).
3e. Sau cùng, trong Giáo Hội hiệp thông, còn phân biệt chức linh mục thừa tác của những người được
tấn phong với chức linh mục cộng đồng của các Kitô hữu, phân biệt nhưng bổ túc cho nhau, cùng cộng tác
với nhau để thi hành sứ mệnh mà Chúa Kitô đã ủy thác cho Giáo Hội. Thật vậy, chức linh mục cộng đồng
của các tín hữu và chức linh mục thừa tác tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà về bản chất, nhưng cả hai
đều tham dự vào chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình 565 . Các linh mục phải
ý thức về căn tính linh mục riêng của mình, căn tính đó đặt mình vào một thừa tác vụ chuyên biệt nhằm xây
dựng thân thể duy nhất của Đức Kitô, toàn thân thể đó tự bản chất là ngôn sứ, là tư tế và là vương giả. Như
thế, tuy khác nhau về chức năng nhưng lại hoàn toàn bình đẳng về phẩm vị căn bản của người Kitô hữu.
3f. Linh mục được gọi riêng là “linh mục giáo phận” bởi vì linh mục đó đã nhập tịch vào một giáo
phận 566 , là nơi linh mục đó sống hiệp nhất với Đức Giám Mục theo một danh nghĩa riêng và thuộc về Đức
Giám Mục một cách đặc biệt để phục vụ một cộng đoàn Giáo Hội địa phương gọi là giáo phận 567 . Với tư
cách là linh mục giáo phận, linh mục đó được mời gọi thúc đẩy tính duy nhất của hiệp thông giữa các phần
tử của cộng đồng Giáo Hội địa phương, và mở rộng hiệp thông tới những ai còn ở ngoài cộng đồng Giáo
Hội bằng hành động rao giảng Tin Mừng.
3g. Giữa lòng Giáo Hội hiệp thông này, không được quên vai trò của các phó tế vĩnh viễn là những
người thi thành tác vụ trong mối liên hệ mật thiết với các linh mục; các phó tế này cần được đào tạo sống
theo Tin Mừng để có thể chu toàn những bổn phận riêng của chức vụ. Các phó tế này tiêu biểu cho một dạng
tác vụ có ý nghĩa độc đáo trong những Giáo Hội trẻ, những Giáo Hội đang cần phát huy mọi năng lực để
phát triển. Cấp Hội Đồng Giám Mục sẽ nghiên cứu và tổ chức hàng phó tế vĩnh viễn này 568 .
3h. Đến đây cần nhấn mạnh tới chiều kích Giáo Hội và bí tích để xác định phẩm tính của linh mục.
Mọi linh mục đều là hiện thân của Giáo Hội, và chính ở trong Giáo Hội mà họ thực hiện kế hoạch cứu độ.
Điều này giả thiết có một hiểu biết về những gì liên can đến Giáo Hội, một sự gia nhập kế hoạch cụ thể của
Giáo Hội về ơn cứu độ, một sự thống nhất tinh thần và hành động với tất cả những ai đang dấn thân trong
công tác mục vụ, cách riêng với Đức Giáo Hoàng, với Đức Giám Mục, với các linh mục và phó tế.
3i. Hết mọi linh mục hãy chú ý nhìn kỹ Đức Maria, Mẹ Đức Kitô và Mẹ Giáo Hội: kể từ khi hoàn
thành mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa, Mẹ là mô hình mẫu mực cho con người và đời sống linh
mục.
II. CĂN TÍNH LINH MỤC LÀ NGƯỜI RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ LÀ MỤC TỬ
4. Ý thức Truyền giáo của Linh mục
4a. Mối hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương với Giáo Hội toàn cầu chỉ đạt tới tuyệt hảo khi các
Giáo Hội địa phương tham gia vào nỗ lực truyền giáo cho những người ngoài Kitô giáo nơi đất nước mình
cũng như nơi các dân tộc khác nữa 569 .
4b. Trong hoạt động tông đồ là hoạt động thuộc về bản chất truyền giáo của Giáo Hội 570 , các linh mục
tất nhiên đóng một vai trò hết sức quan trọng. Điều này đặc biệt hiển nhiên đối với những ai đang làm việc
trong các xứ truyền giáo là nơi họ phải thực hiện việc rao giảng Tin Mừng cho những người ngoài Kitô giáo.
4c. Thật vậy, khi chịu chức, các linh mục nhận một ân sủng đặc biệt, “chuẩn bị cho họ không chỉ đảm
nhiệm một sứ mệnh giới hạn và thu hẹp, nhưng một sứ mệnh rất rộng lớn và bao quát đến tận cùng trái đất
(Cv 1,8)” 571 .
4d. Do đó, mỗi linh mục phải có một ý thức truyền giáo thật rõ ràng để có đủ khả năng và sẵn sàng dấn
thân một cách cụ thể và quảng đại, trong việc thông truyền Tin Mừng đến với những ai còn chưa tuyên xưng
đức tin vào Chúa Kitô. Linh mục, quả thật là “nhà truyền giáo được sai đến với thế giới” 572 .
4e. Việc truyền bá Phúc Âm cho những người ngoài Kitô giáo đang sống trong lãnh thổ của một giáo
phận hoặc một giáo xứ, trước hết được trao phó cho vị mục tử của giáo phận hoặc của giáo xứ đó; các vị này
có trách nhiệm hàng đầu; với sự cộng tác của cộng đồng Kitô hữu. Đây là nhiệm vụ tông đồ đòi hỏi Đức
Giám Mục trước hết phải là sứ giả của đức tin và đòi hỏi các linh mục phải tận lực lo rao giảng Tin Mừng
cho những người còn ở ngoài cộng đồng Giáo Hội, đòi hỏi bản thân các linh mục phải dấn thân, cùng với
các tín hữu của mình cộng tác với các vị thừa sai.
4f. Trong việc phân phối công tác mục vụ, không nhất thiết là phải trao cho các linh mục thuộc hàng
giáo sĩ địa phương những cộng đoàn đã thành hình và đã tập trung; còn các vị thừa sai thì đảm nhiệm những
cộng đoàn đang thành hình hoặc lo rao giảng Tin Mừng cho những khu vực mới. Các linh mục bản xứ có
quyền và có bổn phận tự đảm nhiệm việc truyền bá Phúc Âm cho anh em đồng bào mình còn chưa là Kitô
hữu: như thế các ngài mới đích thực là những Tông Đồ tiền phong, những người không màng chi đến những
chức vị cao, những nhiệm sở tương đối an toàn hơn, trung tâm hơn, nhiều bổng lộc hơn.
4g. Các Giáo Hội trẻ được khuyến khích tham gia thiết thực “vào công cuộc truyền giáo phổ quát của
Giáo Hội càng sớm càng tốt bằng cách sai chính những nhà truyền giáo của mình đi rao giảng Tin Mừng
khắp nơi trên thế giới, dù khổ một nỗi mình còn thiếu linh mục” 573 . Như thế, hết mọi Giáo Hội địa phương
dù nghèo mà vẫn cứ cho đi 574 . Về điểm này, ngoài những linh mục thuộc về những Hội Thừa Sai, các giáo
phận hãy sẵn lòng sai đi trong số các linh mục giáo phận mình, những vị nghe theo tiếng gọi của Đức Kitô;
các vị này được sai đi như những nhà thừa sai tình nguyện, dấn thân vào hoạt động truyền giáo đúng nghĩa
575 . Các linh mục này khi đặt mình dưới quyền sử dụng của Đức Giám Mục giáo phận để được sai đi rao
giảng Tin Mừng cho các dân tộc khác, các ngài sẽ hân hoan được sống trọn vẹn mối thông hiệp với Đức
Kitô do Chúa Cha sai đi (x. Ga 17,18; 20,21) và thông hiệp với Giáo Hội phổ quát. Điều này đòi hỏi các
ngài không những phải ý thức về ơn gọi của mình thật chín chắn, mà còn phải có gan rời bỏ quê hương,
chủng tộc và gia đình mình, đồng thời cũng phải có năng khiếu đặc biệt để hội nhập vào một nền văn hoá
khác, hiểu biết và tôn trọng nền văn hoá đó (x. Kn 12,1-4; Dt 11,8).
4h. Không có một lãnh vực hoạt động tông đồ nào mà các linh mục có thể bày tỏ tình yêu sâu đậm của
mình đối với Chúa Kitô, với Giáo Hội và con người cho bằng truyền giáo, đến nỗi có thể quả quyết như
thánh Phaolô: Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người (1 Cr 9,22b) 576 .
5. Ý thức mục vụ của Linh mục
5a. Chức năng mục tử đòi hỏi các linh mục phải có một ý thức mục vụ sâu sắc, căn cứ trên chính căn
tính “người được thánh hiến để rao giảng Tin Mừng, để làm mục tử chăm sóc các tín hữu và để cử hành việc
thờ phượng Thiên Chúa” 577 , như thế là tham dự vào sứ mệnh của Đức Kitô Mục Tử tốt lành, Đấng nhận
biết, nuôi dưỡng và hướng dẫn các chiên của mình, lại còn đi tìm những con chiên lạc hoặc những con chiên
còn ở ngoài ràn (x. Ga 10,1 tt; Lc 15,3-6).
5b. Nói cho cùng, ý thức mục vụ bao hàm ý thức thuộc về Giáo Hội phổ quát, thông hiệp trong yêu
mến và vâng phục với Đức Giáo Hoàng là nguyên lý và là nền tảng vững bền và hữu hình của sự hiệp nhất
trong đức tin, sự thông hảo của đức mến (x. Mt 16,19; Ga 21,15-17); ý thức mục vụ còn bao hàm ý thức hiệp
thông và chia sẻ giữa các Giáo Hội địa phương mà trong các Giáo Hội đó và từ Giáo Hội đó xây dựng nên
Giáo Hội toàn cầu 578 . Một Giáo Hội địa phương sẽ trở nên cằn cỗi nếu không có gì để tặng cho các Giáo Hội
anh em. Điều đó tất nhiên đòi hỏi các linh mục phải sẵn sàng lên đường, khi được Đức Giám Mục của mình
sai đi, để cộng tác trong đức mến với những Giáo Hội nghèo hơn, cách riêng với những Giáo Hội đang sống
trong một bối cảnh chưa được rao giảng Tin Mừng rộng rãi 579 .
5c. Còn nói trước mắt thì ý thức mục vụ bao hàm ý thức thuộc về một Giáo Hội địa phương, linh mục
hiệp thông với vị mục tử của mình, với các linh mục khác và các phó tế, với toàn thể cộng đoàn tín hữu.
5d. Việc hiệp thông với Đức Giám Mục phải vừa là hiệp thông tinh thần vừa là hiệp thông theo phẩm
trật; sự hiệp thông này bao hàm một thái độ thường xuyên phải có:
1. Nhìn nhận nơi Đức Giám Mục quyền bính của Chúa Kitô, Vị Mục Tử tối cao;
2. Với lòng quý mến và yêu thương đón nhận vai trò của Đức Giám Mục như một người cha của cộng
đồng giáo phận;
3. Tích cực cộng tác với Đức Giám Mục bằng tinh thần vâng phục của một Tông Đồ.
5e. Về phần các Đức Giám Mục, các ngài hãy coi các linh mục như “những người anh em, những
người bạn”; biết rõ từng linh mục; thường xuyên thăm viếng họ và hết lòng lo cho họ cả về vật chất lẫn tinh
thần 580 . Tương quan giữa Giám mục và linh mục dựa trên tinh thần đức tin; cần phát huy và biểu lộ mối
tương quan đó trong một bầu khí tín nhiệm nhau, chân thành quý mến nhau và cộng tác với nhau một cách
cụ thể mà vẫn tôn trọng vai trò riêng của mỗi người.
5f. Việc hiệp thông giữa các linh mục dựa trên sự kiện này: các linh mục với nhau và quanh Đức Giám
Mục họp thành “một linh mục đoàn duy nhất” 581 .
5g. Vả lại, ý thức mình thuộc về linh mục đoàn làm cho mỗi linh mục cảm thấy mình liên kết với các
linh mục khác bằng “một sợi dây đặc biệt của tình bác ái tông đồ, của thừa tác vụ và tình huynh đệ” 582 , như
thế là thể hiện sự hiệp nhất mà Chúa Kitô muốn nơi các môn đệ Người, ngõ hầu họ “trở nên một” (x. Ga
17,23). Về mặt tổ chức, vai trò của linh mục đoàn được cụ thể hoá trong Hội Đồng Linh Mục, mà theo Giáo
Luật thì Hội Đồng này giúp Đức Giám Mục trong việc cai quản giáo phận. Trong những Giáo Hội ở các xứ
truyền giáo, thì chính Hội Đồng này thi hành chức năng mục vụ tích cực ở cấp bậc cao nhất; do đó phải thiết
lập và nâng cao giá trị của Hội Đồng Linh Mục, hết sức có thể, phù hợp với những quy định của Giáo Luật
và tuỳ theo tình hình cụ thể ở địa phương 583 .
5h. Việc hiệp thông với các tín hữu đòi hỏi các linh mục phải coi mình như những người cùng với các
tín hữu xây dựng Dân Chúa, những người được thánh hiến tận căn để lo việc phát triển cộng đoàn, những
người hoạt động bằng một đức ái mục tử đích thực: được chọn giữa loài người, nên được đặt lo việc Thiên
Chúa vì ích lợi của loài người (x. Dt 5,1) 584 . Do đó, các linh mục phải kiên trì cầu nguyện cho các tín hữu
của mình, hết lòng khuyên bảo họ yêu mến Thiên Chúa là Cha chung (x. 2 Tx 1,11); phải biết rõ thực trạng
của họ như Chúa Kitô Mục Tử biết các chiên của mình (x. Ga 10,14); phải biết sống giữa họ như “những
người anh em ở giữa các anh em mình” 585 ; phải đồng tiến với họ trên con đường đức tin, trổi vượt và nêu
gương sáng cho họ về đời sống Kitô hữu (x. Ga 13,15); phải lo tránh tất cả những gì có thể gây nên gương
xấu (x. 2 Cr 6,3); phải hiệp cùng cộng đoàn làm chứng xác thực về sự trung tín của người Kitô hữu để
những người “ở xa” và còn chưa tin Đức Kitô nhận ra được ý nghĩa của sự trung tín đó; phải cảnh giác đừng
làm cho mình xa lạ với dân chúng do một lối sống, dù mình không muốn, nhưng lại đặt mình vào một giai
cấp xã hội khác.
5i. Thật đáng khen ngợi những linh mục ý thức đón nhận và vui vẻ hoàn thành tất cả những công tác
phục vụ mà Đức Giám Mục đã trao phó, những linh mục làm tất cả những gì có thể làm để tiếp cận được với
những người ngoài Kitô giáo, những linh mục không để cho mình bị chi phối bởi những hoạt động bên
ngoài xa lạ với ý nghĩa tông đồ của ơn gọi linh mục.
6. Tình huynh đệ Linh mục
6a. Hiệp nhất chung quanh Đức Giám Mục của mình, các linh mục phải nỗ lực sống “tình huynh đệ
linh mục mang tính bí tích” 586 ; tình huynh đệ đó là nền tảng và là bảo đảm cho một sự tương trợ về mặt tinh
thần và cho việc hoàn thành nhiệm vụ với một sự đồng tâm nhất trí cao. Các linh mục nên nhớ rằng thái độ
huynh đệ có một giá trị rao giảng Tin Mừng, bởi vì như thế là các linh mục hình thành một thân thể năng
động và đáng tin, phù hợp với lời cầu nguyện của Đức Kitô đã xin cùng Chúa Cha trong bữa tiệc sau cùng
(x. Ga 17,20-21). Việc rao giảng Tin Mừng không bao giờ là một việc riêng lẻ và cá nhân, nhưng luôn là
một hành động hoàn toàn mang tính Giáo Hội, tiến hành trong tinh thần hiệp thông và theo phương pháp
phát xuất từ tinh thần đó. Điều đó đặc biệt cần áp dụng ở những miền mà ta còn phải ra sức rao giảng Tin
Mừng cho những người ngoài Kitô giáo 587 .
6b. Các linh mục hãy nỗ lực sống tình bạn chân thành với các đồng nghiệp; nhờ thế họ có thể dễ dàng
giúp nhau phát triển đời sống tâm linh và tri thức, trợ giúp nhau về những nhu cầu vật chất, sống một cuộc
sống kiện toàn và quân bình hơn. Ngoài ra, tình bạn giữa các linh mục còn giúp cho các linh mục kết hiệp
với Chúa Kitô, đồng thời là một trợ lực quý báu giúp các linh mục vượt qua gánh nặng và những khó khăn
của nỗi cô đơn 588 .
6c. Các linh mục coi sóc linh hồn, nhất là các cha sở, phải đặc biệt quan tâm đến các linh mục trẻ mà
Đức Giám Mục gửi đến làm phụ tá cho mình; phải giúp đỡ họ trong tình huynh đệ, để họ không cảm thấy
mình bị bỏ rơi, và để họ hội nhập hoàn toàn vào linh mục đoàn.
6d. Trong số những phương thế giúp các linh mục thông hiệp và giúp đỡ nhau, phải kể đến những Hội
Linh Mục. Nên quý trọng những Hội nào mà nội quy đã được giới thẩm quyền phê chuẩn, nhằm mục đích
phát huy đời sống thiêng liêng, đời sống chung, sinh hoạt bồi dưỡng tri thức và mục vụ, giúp các linh mục
hiệp nhất với nhau và với Đức Giám Mục 589 . Cần tránh những Hội tỏ ra có tinh thần khép kín, cục bộ, nhất
là những Hội có liên kết với những nhóm gây áp lực hoặc với những phong trào chính trị – kể cả những Hội
dù chỉ được các nhóm này ủng hộ – 590 . Dù sao, trong các Giáo Hội trẻ, cần nhấn mạnh đến sự hiệp nhất
của linh mục đoàn.
6e. Một điều đặc biệt quan trọng là phải có tình huynh đệ giữa các linh mục triều thuộc giáo phận với
các linh mục thừa sai, nhất là những linh mục có công sáng lập Giáo Hội. Dĩ nhiên tình huynh đệ linh mục
cũng bao gồm cả những linh mục thuộc các tu hội Tận hiến hoặc các tu hội Tông đồ. Tình huynh đệ linh
mục, theo một nghĩa nào đó, còn mở rộng tới những giáo dân theo sát Chúa Kitô hơn trong cuộc sống tận
hiến. Các linh mục cũng phải được chuẩn bị và sẵn sàng giúp đỡ về mặt tinh thần cho các giáo dân tu hội đời
và cho các nữ tu, phù hợp với những chỉ dẫn của Đức Giám Mục; dù sao đừng bao giờ các linh mục can
thiệp vào những vấn đề kỷ luật và những vấn đề tổ chức nội bộ của cộng đoàn tu sĩ.
7. Thừa tác viên Lời Chúa
7a.Với tư cách là nhà giáo dục đức tin cho Dân Chúa, tham dự vào sứ mạng ngôn sứ của Đức Kitô và
là cộng tác viên của Giám mục, linh mục có phận sự rao giảng Lời cứu độ, và với sức mạnh siêu nhiên của
Lời Chúa, tập họp cộng đoàn các tín hữu (x. Rm 10,17) 591 . Bổn phận của người rao giảng Tin Mừng là
truyền thông Lời Chúa một cách trung thực của một tôi tớ khiêm nhượng, chớ không phải thông truyền sự
khôn ngoan của loài người (x. 1 Cr 2,1) 592 . Thừa tác vụ Lời Chúa này được thực hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau như: khởi giảng Tin Mừng cho người ngoài Kitô giáo, giảng dạy cho người giáo dân, dạy giáo lý
cho người dự tòng và đã lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy, truyền bá Tin Mừng cho học sinh, sinh viên và giới trí
thức, đối thoại với từng cá nhân.
7b. Người rao giảng Tin Mừng không mệt mỏi: Linh mục có nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng ưu tiên
cho những người chưa rửa tội trong lãnh thổ được giao cho mình quản nhiệm. Sự khởi giảng này phát xuất
từ trách nhiệm căn bản mà Giáo Hội đã lãnh nhận từ Đức Kitô qua các Tông Đồ: Anh em hãy đi khắp tứ
phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (Mc 16,15; x. Mt 28,19)… Hết mọi linh mục với
chức năng ngôn sứ do tham dự vào trách nhiệm truyền giáo của Giám mục mình và cộng tác chặt chẽ với
ngài, đều có bổn phận rao giảng cho mọi người Thiên Chúa hằng sống, và người Con mà Thiên Chúa đã cho
chỗi dậy từ cõi chết, là Đức Giêsu (x. 1 Tx 1,9-10; x. 1 Cr 1,18-21). Đó là một bổn phận không thể bỏ sót
được. Chính nhờ đó mà những người ngoài Kitô giáo, do Thánh Thần khai mở tâm hồn (x. Cv 16,14) sẽ tự
nguyện trở lại và tin Chúa 593 . Cũng như Phêrô và Gioan, mỗi linh mục đều biểu lộ ý chí là một người truyền
đạt không mệt mỏi Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy,
chúng tôi không thể không nói ra (Cv 4,20). Linh mục hiểu là nói với chính mình điều mà Chúa đã nói với
thánh Phaolô: Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với con (Cv 18,9-10).
7c. Trong việc tổ chức những hoạt động tông đồ của giáo phận hoặc giáo xứ, cần phải dành một chỗ
đáng kể cho việc thuần tuý rao giảng Tin Mừng cho những người ngoài Kitô giáo; các linh mục và các thầy
phó tế, với sự cộng tác chặt chẽ của các giáo lý viên và tất cả cộng đồng Dân Chúa, phải đứng đầu và trực
tiếp dấn thân vào việc rao giảng này.
7d. Về chính việc rao giảng: đó là bổn phận của cha sở, cùng với các cộng sự viên, phải lên chương
trình giảng dạy cho mọi tín hữu và cả cho những nhóm người không có điều kiện tham dự thánh lễ mỗi
Chúa nhật, để họ có thể đến nghe một cách đều đặn và đông đủ.
7e. Ngoài ý thức cao về trách nhiệm mục vụ, nhiệm vụ rao giảng đòi hỏi các linh mục có những cố
gắng cụ thể: bài giảng không được ứng khẩu, nhưng phải soạn thảo kỹ lưỡng bằng suy nghĩ và cầu nguyện,
nội dung phải truyền thông được những kho báu vĩnh cửu của Thánh Kinh, Thánh Truyền, Phụng Vụ, của
Quyền Giáo Huấn và đời sống Giáo Hội 594 ; cần thiết phải có sự phù hợp giữa lời rao giảng với đức hạnh của
một linh mục, để lời nói và chứng ta đi đôi với nhau (x. Mt 5,16), bài giảng phải trình bày những tiêu chuẩn
luôn luôn có giá trị cho đời sống Kitô hữu, cá nhân cũng như cộng đoàn 595 .
7f. Trong việc giảng dạy, giảng giải Lời Chúa phải chiếm phần quan trọng; việc này là một phần cấu
tạo nên Phụng vụ, và nó phải được dành cho linh mục và phó tế. Việc giảng giải Lời Chúa phải là ưu tiên và
phải trình bày những mầu nhiệm đức tin cũng như những quy tắc của đời sống Kitô giáo rút ra từ Sách
Thánh và theo tiến trình của Năm Phụng Vụ 596 . Việc giảng giải Lời Chúa phải liên kết với việc dạy giáo lý,
nó áp dụng những mầu nhiệm rao giảng vào đời sống cụ thể trong bối cảnh văn hoá hiện tại.
7g. Trong những nơi thiếu giáo sĩ, người ta có thể giao phó việc rao giảng cho những giáo dân theo
như Giáo Luật đã quy định 597 . Các linh mục tuyển chọn trong số giáo dân của mình những người có khả
năng nhất và chuẩn bị cho họ thi hành tác vụ khó khăn này. Một khi những người này đã chính thức được
giám mục công nhận thì các linh mục sẽ sắp đặt họ vào chương trình giảng dạy trong giáo xứ và trợ lực cho
họ với tình huynh đệ.
7h. Đảm trách công việc huấn giáo. Huấn giáo được hiểu là việc trình bày có hệ thống giáo lý đức tin
và việc khai tâm từng bước vào đời sống Kitô hữu, đó là trách nhiệm quan trọng của cộng đồng Giáo Hội và
cách riêng của những người chăn dắt linh hồn 598 . Vì thế, các cha sở có bổn phận nặng nề là phải bảo đảm
cho việc dạy giáo lý được thực hiện một cách điều đặn và có hệ thống, cho mọi thứ hạng giáo dân trong mọi
lứa tuổi 599 . Trong các nơi truyền giáo, dạy giáo lý là việc cần thiết hàng đầu: nó có mục đích hướng dẫn đời
sống Kitô hữu của người giáo dân tiến tới trưởng thành; trong bối cảnh một Giáo Hội còn non trẻ, nó đòi
phải có một sự hội nhập văn hoá thích ứng; người ta cũng phải quan tâm đến những trở ngại và những áp lực
ngược chiều từ một môi trường chưa được rao giảng Tin Mừng, và đôi khi do ảnh hưởng của chủ nghĩa duy
vật hiện đại. Trong lãnh vực này, sự hợp tác của mọi Kitô hữu là cần thiết, đặc biệt là của các giáo dân thuộc
nhiều thành phần.
7i. Cha mẹ: Trước mọi người khác, cha mẹ có bổn phận phải giáo dục con cái mình theo tinh thần Kitô
giáo bằng lời nói và bằng đời sống gương mẫu 600 . Các linh mục chuẩn bị cho họ hoàn thành sứ mạng này
khi họ sắp nhận bí tích Hôn Phối; qua những hướng dẫn thích ứng và một sự nâng đỡ thiết thực, các ngài
giúp cho bậc cha mẹ tha thiết với trách nhiệm quan trọng này.
7j. Không ai không biết tầm quan trọng của vai trò các nhà giáo trong nhiệm vụ làm tăng triển đức tin
cho các thế hệ trẻ kế tiếp 601 . Việc dạy đạo trong các trường học đối với nhiều người trẻ là sự tiếp xúc đầu
tiên với Tin Mừng. Các linh mục phải quan tâm lo việc mục vụ trong các trường Công giáo và trường Nhà
nước, vì đó là những môi trường thuận lợi cho việc khởi giảng Tin Mừng và huấn luyện sống đạo cho giới
trẻ đã rửa tội; chỉ cần hoà nhập Sứ điệp Tin Mừng vào các giá trị văn hoá mà học đường truyền đạt. Những
cách tham gia dạy đạo trong môi trường học đường sẽ thay đổi tùy theo tính chất của tổ chức học đường, tuỳ
theo sự đào luyện Kitô giáo của giáo viên và tuỳ theo luật pháp của Nhà nước. Phải xác tín đảm nhận lãnh
vực học đường vào trong công việc mục vụ ở cấp giáo phận cũng như ở cấp giáo xứ 602 .
7k. Các giáo lý viên trong các Giáo Hội truyền giáo, có nhiệm vụ dạy giáo lý và cùng với linh mục, tổ
chức các sinh hoạt phụng vụ và công việc từ thiện bác ái 603 . Trong một vài trường hợp, người giáo dân được
giao phó làm những việc đạo tại một họ nhỏ mà linh mục không thể đến thường xuyên được. Với sự phát
triển của Giáo Hội, gương mặt của giáo lý viên đảm trách mọi việc sẽ nhường chỗ cho một chức năng nhất
định: họ chỉ phụ trách dạy giáo lý trong khuôn khổ một giáo xứ. Các linh mục cần thống nhất với giáo lý
viên trong vấn đề đó, đánh giá đúng mức công việc của họ và tưởng thưởng xứng đáng, quan tâm đào tạo và
bồi dưỡng họ về mặt đạo đức và trí thức đúng như quy định của giáo phận 604 .
7l. Giảng dạy và hướng dẫn anh chị em dự tòng là những công việc chính yếu của giáo lý viên. Kinh
nghiệm cho biết cần phải nhờ đến lòng quảng đại của giáo lý viên trong việc khởi giảng Tin Mừng, đặc biệt
ở những vùng có nhiều người không công giáo. Trong bối cảnh đó, phải làm nổi bật vai trò của giáo lý dự
tòng trong các xứ truyền giáo: nhờ sự giảng dạy và hướng dẫn sống đạo, giáo lý viên khai tâm cho các dự
tòng vào mầu nhiệm cứu độ và tập cho họ sống đức tin, đức ái, và làm việc tông đồ. Hội Đồng Giám Mục có
nhiệm vụ thiết lập quy chế về việc tổ chức giáo lý dự tòng căn cứ vào “Ordo Initiationis Christianae”, nhằm
xác định rõ những bổn phận và quyền lợi của người dự tòng và chương trình giáo lý họ phải học 605 . Các linh
mục có nhiệm vụ theo dõi sự cố gắng của người dự tòng để đánh giá đúng mức giáo lý dự tòng: nó góp phần
đáng kể vào việc lớn mạnh của cộng đồng qua việc cộng đồng tiếp nhận những phần tử mới, nó là phương
thế giúp cho cộng đồng tiến đến tầm vóc trưởng thành của Giáo Hội.
7m. Để tạo thuận lợi cho việc dạy giáo lý, và nói chung là việc loan báo Lời Chúa, các linh mục cần
phải được huấn luyện để sử dụng các phương tiện truyền thông trong nhóm và truyền thông xã hội. Không
phải chỉ là vấn đề cởi mở tinh thần, mà còn là khả năng khơi dậy và tổ chức sự hợp tác của giáo dân, dựa
trên những định chế riêng biệt và thích hợp 606 .
7n. Đối thoại giữa cá nhân với cá nhân: Tất cả những hình thức thông truyền đức tin đều dựa trên sự
truyền đạt giữa cá nhân với cá nhân. Chính Chúa cũng đã thực hành như vậy khi Người tiếp xúc với ông
Nicôđêmô (x. Ga 3,1 tt), với người phụ nữ Samari (x. Ga 4,1 tt), với Simon người Biệt phái (x. Lc 7,1) và
với nhiều người khác. Phải khuyến khích sự tiếp xúc cá nhân giữa người thông truyền đức tin với người tiếp
nhận. Riêng các linh mục, thì cần đánh giá đúng mức bí tích Hòa Giải và việc linh hướng như những phương
tiện để huấn luyện từng cá nhân. Qua những tiếp xúc và trao đổi đầy tình huynh đệ đó, các ngài có thể đưa ra
những giải đáp thích hợp nhất cho những vấn đề luôn khác nhau giữa người này với người khác 607 .
8. Chủ sự nghi lễ phụng vụ thừa tác viên Bí tích
8a. Vì tham dự đặc biệt vào chức tư tế của Chúa Kitô và hành động như thừa tác viên của Người dưới
quyền Giám mục, các linh mục thi hành chức năng tư tế trước hết trong việc cử hành nghi lễ phụng vụ và
các bí tích 608 . Các linh mục hãy cố gắng đạt tới ý nghĩa phụng vụ sâu xa, hãy là người linh hoạt xác tín cho
đời sống phụng vụ trong cộng đoàn của các ngài 609 .
8b. Mục vụ bí tích: Như thừa tác viên bí tích, bổn phận trước tiên của các linh mục là cung ứng một sự
hiểu biết đức tin về các bí tích, đặc biệt qua việc dạy giáo lý, cho biết các bí tích có một ý nghĩa Giáo Hội và
quy hướng về Thánh Thể, cho biết ý nghĩa của điều kiện căn bản cần có ở nơi người tín hữu để lãnh nhận bí
tích và để sống ơn riêng của mỗi bí tích nhờ vào chức tư tế chung của mọi tín hữu 610 . Như thế sẽ tránh cho
họ ý tưởng sai lầm coi bí tích như một ảo thuật tự nó phát sinh hiệu lực không liên hệ gì đến đời sống Kitô
hữu.
8c. Vì khi đã dọn mình cẩn thận, các tín hữu mới có quyền lãnh nhận bí tích 611 , các linh mục phải chăm
sóc cho họ được dọn mình xứng đáng 612 . Tưởng nên nói rõ ở đây rằng việc mục vụ bí tích không phải chỉ
giới hạn trong thời gian trước khi cử hành bí tích, nhưng còn kéo dài sau đó để giúp những người đã lãnh
nhận, nhất là các tân tòng, tiến tới trưởng thành trong đời sống Kitô hữu 613 . Cộng đoàn có bổn phận tạo bầu
khí huynh đệ để tiếp nhận những người lãnh nhận bí tích lần đầu.
8d. Muốn làm cho Giáo Hội tăng trưởng, cần phải làm sáng tỏ vai trò trung tâm của bí tích Thánh Thể:
chính nhờ tác động của bí tích Thánh Thể và chính chung quanh bí tích này mà cộng đoàn đã hình thành,
sống và tăng trưởng. Qua việc dâng lễ hiến tế, qua việc đồng hoá cách đặc thù và cách bí tích với Linh Mục
Thượng Phẩm và vĩnh cửu 614 , các linh mục xác lập vị trí mầu nhiệm Thánh Thể ở trung tâm đời sống của
mình và của cộng đoàn. Các ngài sẽ không quên rằng chính từ cái nhân sống động ấy là Thánh Thể, các ngài
mới có thể rao giảng Lời Chúa có hiệu quả và tập hợp cộng đoàn đã được giao phó cho các ngài. Các ngài cố
gắng dẫn đưa các tín hữu đến một sự tham dự thánh lễ cách tích cực bằng việc hiến dâng hy lễ thánh lên
Chúa Cha và bằng việc kết hợp chính đời sống của họ với hiến lễ 615 ; linh mục mời gọi họ lãnh nhận thường
xuyên Bánh hằng sống, cung kính và tôn thờ Chúa Kitô hiện diện trong Nhà Tạm 616 . Trong trường hợp thiếu
linh mục, do đó không có thánh lễ mỗi Chúa nhật trong mọi cộng đoàn, thì các vị mục tử lên một lịch trình
ấn định dâng lễ khi thì ở họ này khi thì ở họ khác, để các tín hữu có một bảo đảm tương đối là sẽ được lãnh
nhận ơn bí tích vào thời điểm ấn định: vì lẽ đây là một lãnh vực thiết yếu đối với đời sống Kitô hữu.
Trong hoàn cảnh hiện tại, tưởng cũng nên nhắc các linh mục nên cử hành bí tích Hoà Giải cách siêng
năng, đều đặn, kiên trì và sốt sắng 617 . Việc mục vụ này đòi hỏi một tấm lòng sẵn sàng cao độ và một tinh
thần hy sinh vô bờ, nhưng nó là một biểu hiệu cao nhất lòng nhân từ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô
qua thừa tác vụ của Giáo Hội. Các linh mục cố gắng trình bày bí tích này như một đóng góp vào việc giải
quyết những xung đột trong xã hội ngày nay, theo mức độ tội cá nhân ảnh hưởng đến đời sống xã hội, với
những hậu quả phương hai đối với phẩm giá toàn vẹn của con người 618 .
8e. Trong các Giáo Hội truyền giáo, nhờ việc huấn giáo trung thành với đức tin và với lòng quảng đại
của các mục tử, bí tích Hoà Giải được cử hành và lãnh nhận thường xuyên. Do đó, các ngài phải vượt qua
khó khăn trong công tác mục vụ này, đặc biệt là vì con số thừa tác viên thì ít, nhằm duy trì việc thi hành bí
tích với nhịp độ gia tăng. Một chương trình rõ rệt có thể kết hợp các lực lượng trợ lực chẳng hạn trong các
dịp lễ lớn, các linh mục lân cận có thể giúp đỡ lẫn nhau. Người ta phải nhớ rằng: việc giải tội cá nhân là hình
thức thông thường của bí tích để giao hoà những hối nhân ý thức mình mắc tội trọng với Thiên Chúa và
Giáo Hội. Còn vấn đề giải tội tập thể cho các hối nhân mà trước đó không xưng tội từng người một, thì chỉ
được thực hiện trong trường hợp nguy tử và có sự tối cần thiết; chỉ được phép giải tội tập thể khi có quá
nhiều hối nhân mà không đủ cha giải tội cho một thời gian nhất định, nên những hối nhân đó không do lỗi
của họ mà phải thiệt thòi trong một thời gian lâu dài không được lãnh nhận ơn bí tích Hoà Giải và không
được rước Mình Thánh Chúa. Đức Giám Mục giáo phận có quyền phán quyết những trường hợp cần thiết
nào thì đủ lý do theo Giáo Luật quy định; đồng thời cũng phải quan tâm tới những tiêu chuẩn mà các thành
viên khác của Hội Đồng Giám Mục đã cùng nhau nhất trí đề ra để xác định trường hợp nào thật sự là cần
thiết 619 . Cũng nên tổ chức những nghi thức sám hối cộng đồng, nhất là trong những giai đoạn quan trọng của
Năm Phụng Vụ; nhờ thế mà giáo dục cho các tín hữu hiểu biết sâu sắc ý nghĩa Giáo Hội của việc sám hối, cả
khi nó không mang hình thức bí tích.
8f. Cách riêng – nhưng không phải tuyệt đối – trong những nơi mới khởi giảng Tin Mừng cho anh chị
em ngoài Kitô giáo, thì các linh mục phải quan tâm đặc biệt đến hai bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức.
8g. Về bí tích Thánh Tẩy, cần phải làm nổi bật những hiệu quả sau đây: tha thứ tội lỗi, được làm con
Chúa, được nên giống Chúa Kitô và được sáp nhập vào Giáo Hội 620 . Trong giai đoạn chuẩn bị, mục vụ phải
nhắm vào cha mẹ và người đỡ đầu nếu là rửa tội cho trẻ em, và phải nhắm vào chính những người lãnh bí
tích nếu là rửa tội cho người lớn 621 . Người ta phải đánh giá đúng mức việc gắn liền tự nhiên giữa giáo lý dự
tòng với bí tích Thánh Tẩy 622 . Người ta cũng không được bỏ qua việc mục vụ của giai đoạn sau thanh tẩy,
bởi vì những người tân tòng cần được giúp đỡ cách riêng để chu toàn những bổn phận của đời sống Kitô hữu
và để hoà nhập vào cộng đoàn Giáo Hội đã tiếp nhận họ 623 .
8h. Về bí tích Thêm Sức, thì cũng cần phải nhấn mạnh đến những hiệu quả của nó. Bí tích này làm cho
người lãnh nhận được tiến bộ trên con đường khai tâm vào đời sống Kitô hữu, ban cho họ được dồi dào các
ơn của Chúa Thánh Thần, tạo cho họ một mối liên hệ mật thiết với Giáo Hội hơn, và đòi họ phải dấn thân
nhiều hơn cho việc tông đồ trong và ngoài cộng đồng giáo xứ 624 . Công việc mục vụ cho những người nhận
bí tích Thêm Sức phải giúp họ chuẩn bị và sau đó, phải hướng dẫn đi đến sự trưởng thành trong đời sống
Kitô hữu và dấn thân làm việc tông đồ ngày càng quảng đại ngay giữa những người ngoài Kitô giáo. Nghi lễ
thêm sức là một cơ hội thuận tiện để thiết lập mối dây liên lạc cá nhân cụ thể giữa mỗi người nhận bí tích
với Giám mục.
8i. Vài ưu tiên trong mục vụ phụng vụ: Trong các Giáo Hội đang tiến đến trưởng thành thì có một số
ưu tiên như sau: trước hết là chiều hướng cộng đồng của việc cửa hành, như là hoạt động của Chúa Kitô và
của Giáo Hội 625 trong đó mỗi Kitô hữu tham dự nhiều ít tuỳ theo cấp bậc và chức năng của mình 626 , nói tắt là
cần phải có sự tham dự tích cực, và muốn được như vậy cần phải chuẩn bị trước để thấu triệt ý nghĩa và giá
trị của nghi thức phụng vụ 627 . Hơn nữa, mục vụ phụng vụ đòi hỏi phải có sự hài hoà giữa nghi lễ phụng vụ
và đời sống thường nhật, làm thế nào để các tín hữu có thể diễn đạt được trong các sinh hoạt của họ những
kho báu dồi dào mà họ đã tiếp nhận do mầu nhiệm Chúa Kitô mà họ tin theo 628 . Phương thức mục vụ này
đòi hỏi một sự cố gắng đáng kể trong việc hội nhập văn hoá, để việc cử hành các nghi thức được dễ hiểu hơn
và dễ cảm nhận hơn tuỳ theo trình độ của những người tham dự mà không làm tổn thương đến ý nghĩa tuyệt
đối của mầu nhiệm 629 . Những nghiên cứu và sáng kiến trong lãnh vực hội nhập văn hoá phải do cấp Hội
Đồng Giám Mục địa phương đảm nhận, sao cho phù hợp và hài hoà với truyền thống và quy luật của Giáo
Hội toàn cầu. Còn các linh mục có nhiệm vụ chăm sóc các linh hồn cần phải tích cực nâng đỡ và can đảm
thực hiện phương hướng đã được thông qua theo chương trình chung mà giáo phận đã đề ra 630 . Sau hết, các
linh mục phải nghiêm túc quan tâm đến việc cử hành nghi thức phụng vụ ngày Chúa nhật trong trường hợp
không có linh mục. Ý thức rằng việc cử hành thánh lễ là trung tâm và là đỉnh cao của đời sống Kitô hữu, nên
ở những nơi xa xôi không có linh mục dâng thánh lễ, thì các tín hữu cần tụ họp lại để cầu nguyện mỗi ngày
Chúa nhật 631 . Hội Đồng Giám Mục và mỗi Giám mục có nhiệm vụ ấn định việc cử hành nghi thức phụng vụ
đó theo đúng quy tắc của Giáo Hội 632 , về nội dung, về mối liên hệ với Năm Phụng Vụ, về người chủ sự, về
diễn tiến nghi thức, về sự cần thiết phải tránh ngộ nhận đó là cử hành thánh lễ. Phần các linh mục thì phải
chuẩn bị cộng đoàn và những linh hoạt viên để việc cử hành đó – bao gồm việc công bố Lời Chúa, và nếu có
thể thì cho rước Mình Thánh Chúa – được tiến hành đúng như một nghi thức cầu nguyện của Giáo Hội, để
giúp các giáo hữu thánh hoá ngày Chúa nhật và càng mong ước được tham dự thánh lễ thật sự.
8j. Những thái độ của linh mục chủ sự phải phát xuất từ một sự hiểu biết chính xác về phụng vụ 633 , từ
một ý thức chân thật về sự trang trọng thích hợp. Sự trang trọng của phụng vụ hoà hợp với tính giản dị và
thanh bần của ngôi nhà thờ và của lễ phục, các nghi lễ được cử hành cách sốt sắng cả bề trong lẫn bề ngoài,
đồng thời tránh được sự vội vàng và cẩu thả. Bởi thế, người chủ toạ nghi thức phụng vụ phải làm cho việc
cử hành sống động bằng cách chính mình khuyến dụ đúng lúc theo như chữ đỏ chỉ dẫn, và bằng cách bảo
đảm cho những người khác thi hành phần vụ của mình đúng cách và đúng lúc, như đọc Sách Thánh, ca hát,
những cử chỉ, những lúc thinh lặng. Việc chủ toạ nghi lễ phụng vụ và việc làm cho nghi lễ đó sống động đòi
hỏi phải có một đời sống nội tâm dồi dào, phải thông hiểu giáo thuyết, phải có khả năng thúc đẩy người khác
tham gia việc chung, và phải dọn mình cẩn thận mỗi khi cử hành.
8k. Việc tuân giữ những quy tắc của phụng vụ về cử chỉ, ngôn từ và lễ phục, là cơ hội để linh mục nêu
cao ý nghĩa của việc thánh liên hệ đến việc thờ phượng, đồng thời để thể hiện ý nghĩa giáo dục thật sự. Giáo
Hội đã quy định một số điểm về vấn đề này và các linh mục cần phải tuân theo 634 . Sự trung thành với các
quy tắc của việc cử hành cùng với sự linh động mà vị chủ sự tạo ra, là một tấm gương sáng cho cộng đoàn.
Các tín hữu có thể ý thức được sự cao cả của các mầu nhiệm được cử hành khi khám phá ra sự sốt sắng bên
trong của các linh mục và khi quan sát thấy tính trang trọng của phong cách các ngài. Các linh mục phải
hiểu rằng các ngài sẽ thiếu sót trong việc dẫn dắt Dân Chúa và các ngài có thể làm cho họ lạc hướng khi các
ngài nhẹ dạ tự ý thay đổi diễn tiến của việc thánh bằng cách thêm vào hoặc bớt đi không đúng phép, hoặc cử
hành mà không mặc lễ phục, không dùng chén thánh hoặc ở ngoài những nơi quy định. Công nhận là có
những hoàn cảnh thiếu thốn và những trường hợp miễn trừ chính đáng, nhưng các linh mục vẫn được tha
thiết yêu cầu cống hiến cho những cộng đoàn non trẻ xứ truyền giáo các cuộc cử hành phụng vụ hết sức
trang trọng và nhịp nhàng. Sau hết các ngài phải nhớ rằng, các nghi lễ được cử hành một cách trang trọng
chính là một thông điệp, một lời kêu gọi có ý nghĩa đối với những ai quan tâm đến đức tin Kitô giáo và đang
tiến tới đó.
9. Giải phóng và thăng tiến con người, lựa chọn ưu tiên cho người nghèo
9a. Sự thăng tiến con người gắn liền với việc rao giảng Tin Mừng: quả thật đó là sứ mạng độc đáo của
Giáo Hội. Giáo Hội cảm thấy mình có trách nhiệm đó theo như ý muốn của Chúa Kitô (Mt 25,41-45; Lc
16,19-31), trách nhiệm phục vụ cho sự phát triển đích thực và toàn vẹn của con người xét về phương diện cá
nhân cũng như trong chiều kích xã hội; mặt khác, nếu ở đâu có tai hoạ hoặc bất công xã hội đè nén con
người, thì Giáo Hội có trách nhiệm cáo giác 635 . Ngừơi ta cũng nên nhớ rằng sứ mạng chuyên biệt của Giáo
Hội “không thuộc bình diện chính trị, kinh tế hoặc xã hội, nhưng thuộc bình diện tôn giáo 636 : vì thế Giáo Hội
đóng góp phần đầu tiên của mình để giải quyết những vấn đề cấp bách cho việc phát triển khi Giáo Hội công
bố chân lý về Chúa Giêsu, về chính Giáo Hội và về con người” 637 .
9b. Chính trong cùng một chiều hướng đó, người ta có thể đặt vấn đề giải phóng với những mức độ
cấp thiết khác nhau, với những hệ luỵ thực hành, trong những lãnh vực khác nhau của Giáo Hội. Trong ý
định tình thương vĩnh cửu của Chúa Cha, mọi người đều được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa, với loài
người và cả với vũ trụ, vì vũ trụ gắn liền với con người, và nhờ nó mà con người đạt tới cứu cánh của mình.
Sự hiệp thông đó bị cắt đứt bởi tội lỗi; nó đã được tái lập do Chúa Kitô theo như lời hứa cứu độ mà Thiên
Chúa đã báo trước từ nguyên thuỷ của con người (Kn 3,15; Rm 5,21-22). Nhờ sự chết và sống lại của mình,
Chúa Kitô đã giải phóng con người khỏi tội lỗi và những hậu quả của tội như bất công, áp bức, ích kỷ, trên
bình diện cá nhân và xã hội; Người đã tái lập sự hiệp thông và đem cho mọi người ơn cứu độ. Theo gương
Đức Kitô, Giáo Hội công bố sự giải phóng đó và cố gắng giúp con người đạt được nó trong mọi lãnh vực
của đời sống. Trong những xứ truyền giáo, các linh mục cần phải có một quan niệm rõ ràng và chính xác về
vấn đề này, và phải hiểu biết cách xác thực những yếu tố thiết yếu của một nền thần học giải phóng phù hợp
với lời dạy của Huấn quyền Giáo Hội 638 : như vậy, các ngài mới có thể đưa ra những đóng góp có giá trị về
tư tưởng cũng như hành động, mà không rơi vào một ý thức hệ phe phái. Đem những giá trị cuả Tin Mừng
và của Nước Trời vào lãnh vực kinh tế, xã hội và chính trị là nhiệm vụ chuyên biệt của các người giáo dân 639
. Bổn phận của các linh mục là chuẩn bị cho họ dấn thân vào nhiệm vụ đó, và trợ lực cho họ hoàn thành,
đồng thời khích lệ và động viên họ đảm nhận những trách nhiệm của riêng họ trong lãnh vực thực tại trần
thế 640 . Các linh mục phải tỏ ra can đảm và quân bình trong lãnh vực tông đồ này.
9c. Muốn cho việc mục vụ về giải phóng, về thăng tiến con người và về công bằng được hữu hiệu, các
linh mục phải cố gắng trang bị cho mình một sự hiểu biết đầy đủ về giáo thuyết xã hội, về những chỉ dẫn và
những lựa chọn mục vụ của Giáo Hội. Các ngài hãy biết gần gũi với dân chúng khi họ bị áp bức bởi những
người giàu sang và quyền thế; các ngài hãy có thái độ liên đới và đón nhận, tạo điều kiện cho họ ý thức vấn
đề, để tình trạng bất công xã hội không bị gánh chịu một cách tiêu cực. Các vị mục tử không thể có thái độ
thụ động trước những khó khăn đương nhiên gắn liền với công việc mục vụ này.
9d. Cũng phải quan tâm đến vấn đề trầm trọng của những người di cư vì chiến tranh hoặc vì thiên tai.
Những thử thách do sự đày ải, do gia đình bị phân tán, do sự cô lập, cũng như cảnh cùng khổ thường kéo
theo sự sụp đổ về tinh thần, mất tin tưởng và đi đến chỗ tuyệt vọng. Đức tin tôn giáo là một trợ lực quý báu
để xây dựng lại cuộc đời. Linh mục thường là người đầu tiên phải gánh chịu sự tác động của những hoàn
cảnh này với những khó khăn của nó, như sự tập trung dân chúng, sự ô hợp trong các trại tập trung, đang khi
giới trẻ thì sống buông thả. Trong những trường hợp này, các linh mục phải biết bén nhạy đặc biệt, do đó
các ngài phải được chuẩn bị thích đáng cho việc mục vụ phục vụ trên.
9e. Khi các linh mục phải có những sáng kiến nhằm vào công việc phát triển, đặc biệt khi các ngài
phải cáo giác công khai những bất công, thì các ngài phải hành động tập thể chứ không cá nhân riêng lẻ; các
ngài phải tuân theo chương trình của giáo phận đã được Đức Giám Mục chấp thuận. Các ngài hãy ý thức
rằng những can thiệp thiếu cân xứng và có tính cách cá nhân, nhất là trong phạm vi xã hội chính trị, có nguy
cơ đẩy linh mục ra khỏi lãnh vực của riêng mình, là lãnh vực đức ái mục tử, có nguy cơ làm mất tính đáng
tin của sứ mạng, làm cho tín hữu bị lạc hướng, và làm tổn hại cho việc tông đồ.
9f. Muốn xin các Giáo Hội khác hoặc các tổ chức nhân đạo các nước giúp đỡ về vật chất, thì luôn luôn
phải có sự ưng thuận của Đấng bản quyền và theo kế hoạch của giáo phận để bảo dảm cho một sự phân chia
ổn thoả trong các cộng đoàn giáo xứ.
9g. Trong các đòi hỏi của Tin Mừng, thì trước hết là thi hành bác ái với mọi người, đặc biệt ưu tiên
cho người nghèo. Giáo Hội xác định lại sự lựa chọn của mình, đồng thời cũng là tình yêu của mình, ưu tiên
dành cho người nghèo. Đây không phải là một sự lựa chọn loại trừ, nhưng chỉ là một nét riêng hàng đầu của
bác ái. Phải biết rằng hiện nay người nghèo không phải chỉ gồm những người không có gì, nhưng còn gồm
nhiều hạng người khác, trên thực tế khá đông, như những người sống ngoài lề xã hội, hoặc những người gặp
khó khăn trầm trọng, những người tàn tật, những người thất nghiệp, những người di cư, những người tị nạn,
những người nghiện ngập, v.v… 641 . Chớ gì các linh mục hãy gần gũi những người anh em đó, hãy chân
thành thông cảm với những khó khăn và thử thách của họ để nhìn thấy trong họ khuôn mặt đau khổ của
Chúa Kitô (Mt 25,40).
9h. Khi làm công tác phát triển xã hội, các linh mục hãy xác tín rằng việc rao giảng Tin Mừng được
thực hiện nhờ sự chiếu toả những giá trị của Tin Mừng chứ không phải do sức mạnh của các phương tiện
kinh tế. Để bảo toàn sứ mạng của Giáo Hội, các ngài phải tránh khơi dậy nơi giáo dân và nơi những người
đang hướng về Kitô giáo tính hám lợi quá ư trần tục.
10. Tác nhân của sự hợp tác
10a.Công tác mục vụ là một hoạt động của Giáo Hội có tính cách cộng đồng, được tổ chức có hệ thống
ở những cấp bậc có thẩm quyền khác nhau 642 .
10b. Các linh mục có bổn phận chu toàn công tác mục vụ trong tinh thần Giáo Hội, gắn chặt với cộng
đoàn, kết hợp với Giám mục và phục tùng ngài, đồng thời cộng tác chặt chẽ với các thành viên khác trong
mục vụ; các ngài cần tránh hành động đơn độc và mang tính cá nhân chủ nghĩa; các ngài phải hướng dẫn và
đồng hành với cộng đoàn trong việc thực hiện chương trình hoạt động, với tính kiên trì và uyển chuyển.
10c. Các linh mục cũng dấn thân vào kế hoạch chung của giáo phận bằng cách tham gia vào những cơ
chế tổ chức, tham gia một cách tích cực nhằm làm cho tất cả gia đình giáo phận được tăng trưởng. Trong
khuôn khổ giáo xứ, cha sở có bổn phận tổ chức sự hợp tác của các thành viên mục vụ: linh mục, phó tế, tu sĩ
và giáo dân 643 . Phải khuyến khích sự nỗ lực tạo đoàn kết giữa những người dấn thân toàn thời gian, qua
những cuộc gạp gỡ thường xuyên và thông tin đều đặn, qua việc cùng nhau phác hoạ chương trình, kiểm
điểm và tìm kiếm những phương thức tốt nhất để hoạt động.
10d. Trong bầu khí tin cậy nhau, cũng cần phải phát động trong giáo xứ những bộ phận tham gia mà
Giáo Luật đã dự kiến, như ban mục vụ 644 , ban kinh tế 645 , cùng những sáng kiến khác có tính cách cộng đồng
như các cộng đoàn nhỏ, các hội đoàn và các phong trào. Người ta thấy trong một số nền văn hoá, nhóm nhỏ
là cơ sở của cấu trúc xã hội có thể làm khuôn mẫu lý tưởng cho chính đời sống Kitô giáo. Các cộng đoàn cơ
bản đó thực sự mang tính Giáo Hội, nếu nó thực hiện được sự hiệp thông và cộng tác với Giáo Hội và các vị
mục tử về mặt giáo thuyết, mặt tổ chức và sáng kiến tông đồ 646 . Sự khôn ngoan của linh mục đưa linh mục
đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa các nhóm khác nhau trong tinh thần hiệp nhất, trong sự
tôn trọng đặc tính và sự tự lập chính đáng của mỗi nhóm.
10e. Ở cấp giáo phận cũng như cấp giáo xứ, cần quan tâm đặc biệt đến sự hợp tác giữa hàng giáo sĩ
bản xứ với các vị thừa sai từ nhiều nước đến mà đa số là thuộc các dòng. Các vị này làm việc do sự uỷ
nhiệm tổng quát của Giáo Hội qua Bề trên cả của dòng và do những quy ước với Bản Quyền địa phương. Sự
hiện diện của họ là một hồng ân đặc biệt cho Giáo Hội thừa sai và thực hiện sự trao đổi bác ái giữa các Giáo
Hội địa phương. Các vị thừa sai này hãy hoà nhập vào xã hội và Giáo Hội mà họ đến làm việc; họ đương
nhiên thuộc về Giáo Hội này và nếu là linh mục thì họ là thành phần của hàng linh mục. Họ hoàn toàn tùy
thuộc vào Giám mục Bản Quyền trong những hoạt động mục vụ trong khi vẫn sống và làm việc theo đặc
sủng riêng của dòng 647 . Các linh mục thuộc Giáo Hội địa phương vượt qua tinh thần quốc gia giả hiệu để
sống hiệp thông với họ và biết đề cao sự hợp tác tông đồ của họ, một sự hợp tác trong một số trường hợp
chẳng những là hữu ích và đáp ứng những nhu cầu trước mắt, mà còn là đặc biệt cần thiết. Phần các vị thừa
sai thì hãy góp phần vào sự phát triển các nguồn lực tông đồ địa phương. Giữa các Hội Dòng và hàng giáo sĩ
địa phương sẽ nảy nở một sự phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động mục vụ dưới sự chỉ đạo của Giám mục;
cả hai bên hãy bảo toàn sự đoàn kết cần thiết giữa các nhóm khác nhau trong sự tôn trọng những đặc tính cá
biệt và những mục đích riêng của mình 648 .
10f. Để cổ võ công việc mục vụ chung là điều quan trọng hàng đầu trong hoạt động truyền giáo, các
linh mục phải làm việc trên cơ sở một kế hoạch đúng đắn, ít là ở cấp giáo phận và giáo xứ. Điều này giả
thiết phải áp dụng một phương pháp đã được thử nghiệm: biết rõ thực tế mục vụ, xác định các đối tương
chung và đặc thù, đặt những tiêu chuẩn đánh giá, một chiến lược và những phương thức hành động. Để tránh
cho kế hoạch chỉ là lý thuyết, cần phải xác định rõ mục đích đạt tới, những sáng kiến phải có, những trách
nhiệm phải đảm nhận, những phương thế phải sử dụng, những nơi chốn và thời điểm để hoạt động, v.v…
Những chương trình đó cần phải được xét duyệt lại thường xuyên.
11. Vị mục tử lo việc Phúc âm hoá văn hoá
11a.Tin Mừng vượt trên tất cả các văn hoá và không đồng hoá với bất cứ nền văn hoá nào (x. Ga
18,36). Tuy nhiên, Nước Trời mà Tin Mừng loan báo được thể hiện nơi những người sống gắn bó với một
nền văn hoá và sự thể hiện Nước Trời không thể đạt được nếu bỏ qua những yếu tố văn hoá. Lãnh vực quan
trọng này có một ý nghĩa sâu xa trong việc rao giảng Tin Mừng của sứ mạng truyền giáo theo đường hướng
Nhập Thể của Ngôi Lời. Giáo Hội chẳng những có nhiệm vụ đem Tin Mừng vào các nền văn hoá, mà còn
phải biết bổ trợ và tiếp nhận hết mọi nguồn mạch, mọi sự phong phú nhân bản và tôn giáo, phong tục của
các dân tộc trong mức độ những cái đó tốt đẹp; Giáo Hội phải đem Tin Mừng đến tất cả mọi tầng lớp của
thực tại con người để biến đổi tất cả từ bên trong, thanh tẩy những yếu tố tiêu cực, cũ và mới, làm thế nào để
sứ điệp Tin Mừng có thể được diễn đạt qua những biểu hiệu khả tri và có giá trị.
11b. Việc hội nhập văn hoá, trước tiên là một sự kiện của nhiều Giáo Hội địa phương được hiểu như
những cộng đoàn thường ngày sống một kinh nghiệm đức tin và đức mến. Những nhà chuyên môn có thể
thúc đẩy và hướng dẫn công việc này, nhưng họ không phải là những tác nhân chính. Hơn nữa, việc hội
nhập văn hoá, một cộng đoàn đơn độc không thể thực hiện được, nó chỉ có thể thực hiện bởi toàn thể các
Giáo Hội sống trong cùng một khu vực văn hoá nhất định. Sau hết, sự hội nhập văn hoá không phải chỉ hoàn
thành một lần là xong: đó là việc hoà nhập thường xuyên kinh nghiệm Kitô giáo vào trong một nền văn hoá
vốn không bền vững và cũng không hoàn chỉnh.
11c. Cần phải nhớ rằng Tin Mừng, qua các thế kỷ, đã thấm nhập vào các nền văn hoá khác nhau, đón
nhận giá trị của chúng, mà nay đã trở thành những giá trị nhân bản toàn cầu, các yếu tố đó có thể đáp ứng
những đòi hỏi của mọi nền văn hoá. Sự thâm tín này thúc đẩy và hướng dẫn việc hội nhập sứ điệp Tin Mừng
vào mọi nền văn hoá địa phương. Cần lưu ý đến sự kiện đó trong khi phân định các yếu tố của một nền văn
hoá để tránh đi đến chỗ phá hủy và tước đoạt khỏi một nhóm người quyền thừa hưởng một gia tài văn hoá
thuộc di sản của cả Giáo Hội.
11d. Các linh mục cần vững tin dấn thân vào lãnh vực này là lãnh vực mà việc tông đồ đòi hỏi gắt gao;
các ngài cần học cách nhận định một cách công bình về nền văn hoá của mình, nghĩa là nhận biết đâu là giá
trị, đâu là thiếu sót hoặc sai lạc, và phân định đâu là những hậu quả của tội, để từ đó đừng coi bất cứ một
hình thái văn hoá nào của mình cũng có giá trị đích thực.
11e. Các ngài phải luôn luôn nhớ rằng việc hội nhập văn hoá không được làm tổn thương đến sự hiệp
nhất của Giáo Hội, nhưng việc hội nhập đó lúc nào cũng phải khởi đi từ Kinh Thánh là nền tảng, và phát
triển trong sự gắn bó với Thánh Truyền, thống nhất với những hướng dẫn và những chỉ thị của Giáo quyền
đương thời 649 . Để cho việc hội nhập văn hoá đạt tới mục đích của nó và các tín hữu khỏi lạc hướng, các linh
mục phải hành động cùng với Giám mục và các linh mục khác theo một chương trình chung do cấp Hội
Đồng Giám Mục đã hoạch định 650 .
11f. Trong bối cảnh đó, người ta không được quên lòng mộ đạo của giới bình dân công giáo hiện có
trong xứ sở. Lòng mộ đạo đó là một tổng hợp gồm những giá trị, những tín điều, những phong cách thuộc
đạo Công giáo, đó là một môi trường thuận lợi cho việc đối thoại giữa Tin Mừng và nền văn hoá. Nó diễn tả
sự khôn ngoan của một dân tộc. Chính vì thế, muốn đi vào chiều sâu của việc đem Tin Mừng vào một nền
văn hoá, cần quan tâm đến tầm quan trọng thật sự của lòng mộ đạo đó. Các linh mục phải chăm lo cẩn thận
cho lòng mộ đạo bình dân này được nuôi dưỡng bằng một sự hiểu biết chính xác sứ điệp Kitô giáo và không
để nó rơi vào ma thuật, dị đoan, cuồng tín hoặc một hình thức mộ đạo sai lạc 651 .
12. Người bạn và người hướng dẫn của tuổi trẻ
12a.Những người trẻ là một thành phần sinh động và tích cực trong Giáo Hội; họ là tâm điểm của
những mối bận tâm và của tình thương của Giáo Hội; họ là niềm hy vọng của Giáo Hội 652 . Thâm tín rằng
tuổi thanh xuân chính là một sự phong phú dồi dào 653 và giới trẻ ảnh hưởng cách quyết định đến việc xây
dựng xã hội 654 , nên Giáo Hội đặc biệt trao phó họ cho các linh mục quan tâm chăm sóc 655 , để huấn luyện họ
thành những người nam và người nữ có một phẩm cách nhân bản và Kitô giáo vững vàng 656 . Trong những
cộng đoàn Giáo Hội trẻ trung mà trong đó giới trẻ chiếm phần đa số, thì việc mục vụ trên đây phải đặt vào
hàng đầu và với bất cứ giá nào cũng không được coi thường trong hiện tại và trong tương lai của Giáo Hội 657
. Các linh mục chuẩn bị cho giới trẻ góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng. Người ta có lý để nói rằng đó là
việc tông đồ của hy vọng khi giới trẻ được rao giảng Tin Mừng và chính họ trở thành người tiên phong
trong việc rao giảng Tin Mừng những người ngoài Kitô giáo đương thời 658 .
12b. Thái độ của các linh mục đối với giới trẻ phải được thích nghi với đường lối mục vụ này, đó là
thái độ đượm một tình thương chân thành và một tâm tình sẵn sàng phục vụ: trước hết, mặc dầu việc này có
làm phiền mình, nhưng phải có thiện cảm với những ước vọng của họ và cùng chia sẻ lý tưởng, các quan
điểm có giá trị, các vấn đề và hoạt động của họ. Các linh mục cũng phải khích lệ và hướng dẫn giới trẻ để họ
có khả năng nhận định có phê phán, nhờ đó họ có thể đương đầu với những tình huống khó xử, chẳng hạn:
khi gặp phải một nền văn minh tục hoá và nhiều khi là vô thần có liên quan đến một ý thức hệ tha hoá, – sự
căng thẳng do bất công xã hội, – sự lan tràn ma tuý, – sự buông thả tính dục, – tình trạng thất nghiệp và
những tình huống tương tự. Mong các linh mục gần gũi giới trẻ để soi sáng và hướng dẫn họ giữa những
“cạm bẫy” đó; các ngài hãy giúp họ tự đào luyện trong một bầu khí tin cậy, để họ có thể vượt qua những
mâu thuẫn vốn có trong chính họ, để họ tạo được những dự án tích cực cho cuộc sống và dấn thân vào đó
một cách gắn bó. Các ngài phải sẵn sàng tự đặt mình trong tầm tay của giới trẻ, cống hiến cho họ nhiều thời
giờ, quan tâm nhiều tới họ và quan hệ với họ trong tình bạn. Hãy đề nghị họ nên có cha linh hướng, nhờ đó
họ sẽ có được ảnh hưởng sâu đậm trong tuổi thanh xuân. Các linh mục luôn nhớ rằng Giáo Hội có nhiều
điều muốn nói với giới trẻ và giới trẻ cũng có nhiều điều cần trình bày với Giáo Hội 659 .
12c. Cần phải tập họp giới trẻ thành từng nhóm nam riêng, nữ riêng hoặc chung cả hai giới theo
phương thức tổ chức học đường, những hội đoàn, những phong trào, hoặc gợi cho họ tụ tập nên những nhóm
tự phát. Mong các linh mục đừng quên rằng, để cùng nhau tăng triển, giới trẻ thấy có nhu cầu chia sẻ với
nhau, nâng đỡ nhau và chung sức với nhau thực hiện một cái gì đó có giá trị. Vì thế các ngài phải biết rành
rẽ về năng động tập thể; phải quan tâm đặc biệt đến việc đào luyện các thủ lãnh điều khiển các nhóm trẻ.
12d. Ở cấp địa phận, cần quan tâm thiết lập những bộ phận có khả năng cổ võ mục vụ cho giới trẻ, với
những linh mục được chuẩn bị kỹ lưỡng để đảm đương công tác này và sẵn sàng yểm trợ các giáo xứ hoặc
các nhóm một cách hữu hiệu.
12e. Các linh mục cần chú ý đến một hiện tượng đặc biệt hiện nay có ảnh hưởng đến việc truyền thông
sứ điệp: đó là một số lớn các bạn trẻ, một mặt thì đòi được coi như đã trưởng thành, mặt khác, lại thuộc loại
chỉ biết nhận định cuộc đời theo những tiêu chuẩn xa lạ với sự trưởng thành, những tiêu chuẩn mà họ đặt
vào hàng đầu như của riêng tuổi trẻ. Do đó, sẽ có vấn đề mất quân bình, và ở đâu xảy ra như vậy thì cần
quan tâm để tránh, những hậu quả không tốt và giúp giới trẻ vượt qua.
12f. Việc mục vụ giới trẻ không giới hạn nơi những người trẻ, nhưng liên quan đến toàn cộng đoàn
Kitô hữu. Cần phải huấn luyện cộng đoàn Kitô hữu, giúp họ hiểu ra những nguyện vọng của giới trẻ và lưu
tâm đến, để chính cộng đoàn trở nên chứng nhân cho giới trẻ về sự lương thiện trong lãnh vực nhân bản, về
sự trung thực trong đức tin, nhằm đưa giới trẻ hoà nhập vào đời sống cộng đoàn, tắt một lời, là nhằm cho
cộng đoàn Kitô hữu nhận ra rằng chính nhờ sự hiện diện sinh động và sự đóng góp năng động của giới trẻ,
mà cộng đoàn trở nên đích thực là một cộng đoàn mang tính người và tính Kitô giáo. Những người trưởng
thành và những người trẻ, một khi liên kết chặt chẽ với nhau và có khả năng trao đổi cho nhau những giá trị
khác nhau, sẽ làm thành một cộng đoàn Kitô hữu đích thật và trọn vẹn.
13. Cổ võ ơn gọi
13a.Trong chương trình mục vụ ơn gọi, linh mục có một vai trò độc đáo và không thể đùn cho kẻ khác
được. Xác tín rằng Chúa Thánh Thần tiếp tục ban phát một cách rộng rãi đặc sủng, các ơn gọi đặc biệt và
Đức Kitô tiếp tục kêu gọi những người trẻ vì Người yêu họ (x. Mc 10,2) 660 , các linh mục sẽ tự nguyện
hướng dẫn những người trẻ trong thời kỳ tế nhị và quyết định của việc tìm kiếm ơn gọi.
13b. Mục vụ ơn gọi bắt đầu trong cộng đồng Kitô hữu bằng lời mời gọi cầu nguyện và làm chứng tá
đời sống Kitô hữu. Với những công tác phục vụ, những phận vụ và những đặc sủng khác nhau trong tinh
thần đồng trách nhiệm, cộng đồng giữ một vai trò quan trọng trong việc làm nảy sinh ơn gọi. Các gia đình và
học đường cũng tham gia vào mục vụ ơn gọi này, bởi lẽ cha mẹ và thầy cô là những nhà giáo dục lớp trẻ
trong việc lựa chọn cuộc sống 661 . Nhưng trong cuộc đối thoại về ơn gọi, nhân vật chính vẫn là thiếu niên và
giới trẻ, linh mục phải ngỏ lời mời gọi chúng cách đặc biệt và giúp chúng tìm gặp ánh sáng trong tất cả các
loại ơn gọi.
13c. Như thế, khi một người trẻ biểu lộ một sự trưởng thành thật sự trong đời sống Kitô hữu và tỏ ra
nhạy cảm về ơn gọi linh mục, về đời sống tận hiến hay dấn thân truyền giáo, thì linh mục phải trao đổi với
đương sự một cách tế nhị và quan tâm hướng dẫn họ cách riêng. Theo gương Đức Giêsu, linh mục sẽ không
ngần ngại kêu gọi và động viên đương sự quyết tâm lựa chọn một đời sống hoàn toàn hiến dâng cho Thiên
Chúa để làm việc tông đồ (x. Mt 4,19-20; 19,21; Ga 1,39.42-43). Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng lời động viên
tốt nhất phát xuất từ chính đời sống trung thực và hạnh phúc của linh mục. Hơn nữa, trong những lý do đưa
đến ơn gọi, cần phải tránh đặt lên hàng đầu sự giúp đỡ người nghèo, mà quên nhấn mạnh điểm then chốt, có
tính cách quyết định cho mọi ơn gọi thánh: đó là chính con người Đức Giêsu mà ta phải yêu mến, bước theo
để cộng tác vào việc cứu độ loài người. Linh mục đừng quên rằng ơn gọi tận hiến cuộc đời chỉ nảy sinh và
phát triển trong bầu khí sống đạo vững mạnh.
13d. Điểm quan trọng trong mục vụ ơn gọi là giúp người trẻ biết đánh giá những động lực ơn gọi của
mình. Phải để ý đến phẩm chất của ứng sinh và tránh cảnh thu cho thật nhiều người vào chủng viện, tu viện,
mà ơn gọi của họ chưa được kiểm nghiệm đầy đủ. Mỗi Giám mục có trách nhiệm xác định những tiêu chuẩn
để phân định ơn gọi, cần xét đến sự trưởng thành nhân bản và tâm linh, khả năng trí tuệ, tinh thần phục vụ
và hội nhập xã hội. Trong những tiêu chuẩn phân định ơn gọi linh mục, cần phải coi như điều cơ bản là ý
thức truyền giáo và tư thế sẵn sàng để loan Tin Mừng cho người ngoài Kitô giáo. Đàng khác, nếu có chương
trình ơn gọi chung cho cả giáo phận, cả nước, thì nên nhờ đến sự giúp đỡ thích hợp và cùng tham gia vào
những sáng kiến chung.
13e. Một trong những công tác mục vụ ơn gọi là sự đón tiếp, nâng đỡ các chủng sinh trong khi nghỉ hè
ở gia đình và trong thời gian đi thử. Các linh mục, đặc biệt là các cha sở, cần gần gũi chủng sinh, hướng dẫn
họ trong đời sống cầu nguyện, trong kinh nghiệm tông đồ, phù hợp với đường hướng giáo dục của chủng
viện. Đối với các phó tế trong năm thực tập mục vụ là năm đào tạo và khai tâm vào tác vụ, các linh mục cần
sẵn sàng giúp đỡ họ một cách đặc biệt.
14. Quan tâm đến ơn gọi đặc biệt của giáo dân
14a. Chăm lo cho giáo dân là công tác trung tâm của Giáo Hội. Giáo Hội nhấn mạnh đến ơn gọi nên
thánh của giáo dân và ba chức năng ngôn sứ, tư tế, và vương giả của người đã được lãnh bí tích Thanh Tẩy
và thêm sức 662 .
14b. Linh mục nên có thái độ cởi mở và quan tâm đối với giáo dân và coi họ là môn đệ Đức Kitô như
chính mình. Trong khi thi hành tác vụ của mình, linh mục không nên quên rằng, tuy chức vụ khác nhau,
nhưng mình cùng giáo dân đều là chi thể của một thân thể độc nhất của Chúa Kitô, mà nhiệm vụ xây dựng
nhiệm thể là trách nhiệm của mọi người (x. Rm 12,4-10) 663 . Mục vụ đối với giáo dân trước tiên phải để ý
đến tính chất giữa đời của họ. Do ơn gọi, người giáo dân tìm kiếm Nước Thiên Chúa qua cách gánh vác
những việc trần thế, họ sống giữa đời, trong hoàn cảnh thông thường của đời sống gia đình và xã hội, nhưng
họ được Thiên Chúa gọi trở thành men trong lòng thế gian, thánh hoá thế gian nhờ được hướng dẫn bởi tinh
thần Tin Mừng 664 . Trong những Giáo Hội ở miền ít tín hữu, sự hiện diện của những người đã chịu lãnh bí
tích Thanh Tẩy mang một ý nghĩa đặc biệt: họ có thể đem lại một chứng tá dễ nhận ra về sức mạnh và tính
hiện thực của sứ điệp Tin Mừng 665 .
14c. Ngày nay, hoạt động của giáo dân thật quý báu và cần thiết để công cuộc truyền giáo của Giáo
Hội luôn phát triển rộng hơn, làm cho mọi tín hữu dấn thân và liên kết chặt chẽ với nhau. Trong viễn tượng
đó, việc huấn luyện giáo dân trưởng thành và dấn thân tốt là một yếu tố cơ bản, không gì thay thế được cho
việc gieo trồng và phát triển Giáo Hội 666 .
14d. Các linh mục hãy cố gắng giúp cho giáo dân gìn giữ sống động trong lòng ý thức trách nhiệm làm
sứ giả Tin Mừng, làm người linh hoạt trong lãnh vực trần thế, liên kết với đồng bào trong tinh thần bác ái và
với sức mạnh của Tin Mừng 667 .
14e. Trong phạm vi tông đồ giáo dân, các linh mục phải là người xác tín cổ võ giáo dân, huấn luyện
giáo dân bằng phương cách thích hợp, động viên họ nhiệt thành dấn thân theo sự thúc đẩy của tinh thần Kitô
giáo chân thật 668 . Các linh mục hãy đưa giáo dân vào cơ chế tổ chức và trao cho họ những chức vụ trong
cộng đoàn phù hợp với ơn gọi riêng và đặc sủng của họ 669 . Các linh mục không thay thế giáo dân, mà khích
lệ họ trong các hoạt động của họ, xác tín rằng sự lớn mạnh của Giáo Hội, đặc biệt ở các xứ truyền giáo, phải
xuyên qua sự hiện diện năng động của giáo dân có tinh thần trách nhiệm thật và luôn được chuẩn bị chu đáo
hơn.
14f. Sự hiện diện của nữ giới trong công việc mục vụ đáng để ta lưu ý cách đặc biệt. Do những giá trị
riêng biệt của nữ giới 670 , người phụ nữ can thiệp một cách chính xác hơn trong một số lãnh vực mà sự hiện
diện của họ cần làm nổi bật, như đời sống gia đình, giáo dục giới trẻ, việc bác ái từ thiện, v.v… hay trong
những lãnh vực mà người đàn ông, đặc biệt là linh mục, không tiện dây mình vào. Sự hợp tác mục vụ với nữ
giới đòi hỏi linh mục trưởng thành nhiều và biết dè dặt. Sự chỉ đạo trực tiếp những hoạt động của quý bà tốt
hơn nên trao cho một chị em trong nhóm của họ.
15. Tông đồ gia đình
15a. Gia đình Kitô hữu có may mắn là trở nên hình ảnh của Thiên Chúa Tình Thương. Tình yêu này
mở ra con đường giao ước cho con người với cả xác và hồn, kết hợp người nam và người nữ thành lứa đôi,
và nhờ vậy trở thành nguyên lý truyền sinh (x. Ep 5,25-32). Gia đình là “tế bào đầu tiên và sống động của xã
hội” và “cung thánh tại gia của Giáo Hội” 671 . Gia đình đã được Chúa Giêsu bênh độ cho những giá trị uyên
nguyên và bất khả di dịch của nó. Khắp nơi, gia đình đều ở trong một hoàn cảnh phức tạp, vừa có ánh sáng
vừa mang bóng tối. Trong các xứ truyền giáo, gia đình phải đối đầu với những vấn đề đặc biệt đặt ra do
những điều kiện xã hội, những ảnh hưởng của văn hoá và những xác tín về tôn giáo. Giáo Hội ý thức về
những thách đố lớn lao mà gia đình Kitô giáo ngày nay gặp phải 672 . Giáo Hội tái xác nhận sự ưu ái đối với
gia đình, trao phó gia đình cho các chủ chăn chăm sóc như một trong những nhiệm vụ hàng đầu 673 .
Sự săn sóc đối với các gia đình là một trong những bổn phận chính yếu của cha sở. Các cha khác, các
phó tế, các tu sĩ và những giáo dân có trình độ phải cộng tác với cha sở trong nhiệm vụ này 674 . Nơi ưu tiên
để thi hành mục vụ gia đình là cộng đoàn giáo xứ, vì nó có một mãnh lực hiệp thông, và đặc biệt hơn là gia
đình Kitô giáo vì họ đã lãnh nhận ơn bí tích Hôn Phối 675 .
15b. Mục vụ gia đình bắt đầu bằng mục vụ cho những người đính hôn, trong giai đoạn xa cũng như
gần lễ cưới. Sự chuẩn bị xa bắt đầu khi dạy giáo lý cho giới trẻ. Sự chuẩn bị gần thuộc về các chủ chăn, với
sự cộng tác của những người chuyên môn. Mục vụ gần lễ cưới rõ ràng là trách nhiệm của các linh mục, vì
liên quan đến bí tích. Các linh mục chuẩn bị lễ cưới cho các đôi đính hôn bằng những cuộc gặp gỡ, trao đổi,
nhắn nhủ từng người, từng đôi, từng nhóm 676 . Các ngài đặc biệt lưu ý các người sắp kết bạn về ý nghĩa bí
tích, về ơn gọi nên thánh của vợ chồng và về bổn phận của bậc gia đình. Trong một số nền văn hoá cần được
bảo vệ, chính gia đình truyền thụ cho giới trẻ những giá trị nhân bản và Kitô giáo của đời sống đôi bạn và
gia đình.
15c.Trong (cử hành) nghi lễ Hôn Phối, đôi bạn làm sáng tỏ mầu nhiệm hiệp nhất và yêu thương sinh
hoa kết trái giữa Chúa Kitô và Hội Thánh mà đôi bạn được tham dự (Ep 5,32) 677 . Trong phạm vi có thể, nên
tổ chức lễ long trọng, tốt hơn là vào một ngày lễ, hay theo lịch giáo phận, trước sự chứng giám và sự tham
gia tích cực và có trách nhiệm của cộng đoàn. Tính cách mục vụ còn được thể hiện qua việc làm nổi bật
phần phụng vụ Lời Chúa với chủ đích giáo dục đức tin cho những người tham dự 678 .
15d. Mục vụ sau lễ cưới là công cuộc của mọi thành phần trong cộng đoàn: nó giúp đỡ đôi vợ chồng
luôn sống tốt hơn ơn gọi và sứ mạng của họ. Các linh mục theo dõi sát những gia đình mới, giúp họ đón
nhận với một lương tâm được soi sáng, ơn riêng biệt và luôn hiện thực của bí tích hôn nhân, giúp họ sống
theo tinh thần Kitô giáo những lúc an vui và khắc phục những khó khăn không thể tránh được của đời sống,
đặc biệt đón nhận con cái qua việc đảm nhận với ý thức trách nhiệm và niềm vui bổn phận phục vụ cho sự
tăng trưởng của con cái về mặt nhân bản và mặt Kitô giáo 679 .
15e. Trong khi có những học thuyết trái lời dạy của Giáo Hội về sự truyền sinh được phổ biến khắp
nơi và thường được đem cả vào những bộ dân luật, các linh mục có nhiệm vụ khó khăn và đáng biểu dương
là giúp giáo dân ý thức về bổn phận làm “những cộng tác viên của tình yêu Thiên Chúa sáng tạo”, và giúp
họ chu toàn bổn phận ấy một cách trung thành 680 . Cần phải theo đuổi một cố gắng chung, liên tục, có tổ chức
ở cấp giáo phận 681 sao cho trong những cộng đoàn Kitô giáo trẻ phát triển được một nền giáo dục về sự
truyền sinh hợp với giáo lý truyền thống và lành mạnh của Giáo Hội. Thường trong những xứ truyền giáo
vẫn còn một số giá trị văn hoá thuận lợi cho nhiệm vụ của Giáo Hội trong việc giáo dục hôn nhân.
15f. Về phía các chủ chăn, cần phải đặc biệt quan tâm đến các lãnh vực sau đây:
Huấn luyện giáo dân, đặc biệt là những người đính hôn và những cặp vợ chồng trẻ, với sự giúp đỡ của
những người chuyên môn và đạo đức tốt, qua những lời giảng dạy, những tiếp xúc cá nhân, để giáo dục
họ sống trách nhiệm làm cha làm mẹ phù hợp với đức tin Kitô giáo, bằng cách sử dụng một phương
pháp tự nhiên 682 ;
Trình bày một cách chính xác ý nghĩa và giá trị của đức khiết tịnh vợ chồng 683 ;
Kiên quyết loại trừ nạn phá thai 684 ;
Cổ võ tính thận trọng cao độ và sự gắn bó kiên vững với lời giáo huấn của Giáo Hội về tất cả những
vấn đề thuộc lãnh vực y-sinh (biomédical), như những can thiệp vào sự truyền sinh, hay những vấn đề
liên quan đến thụ thai nhân tạo, v.v… 685 .
15g. Các chủ chăn hãy giúp đỡ các gia đình Công giáo sống phù hợp với những lời cam kết Ki-tô giáo,
ngay cả trong một bối cảnh thờ ơ hay trái nghịch, sống tương trợ bằng tình yêu thương, trong tinh thần hy
sinh và với sự trợ giúp của lời cầu nguyện chung, và giúp họ làm chứng nhân trung thực cho Phúc Âm trong
xã hội. Việc thăm viếng gia đình là một phần quan trọng trong công tác mục vụ. Linh mục cần được chuẩn
bị kỹ càng cho công tác tông đồ này và các ngài phải đối xử với các gia đình như “người cha, người anh,
người mục tử và người thầy” 686 , không có thiên vị gia đình nào, ngoại trừ dành ưu tiên cho những người
nghèo nhất và những người sống trong cảnh đặc biệt khó khăn.
15h. Những Giáo Hội trẻ đối đầu với những vấn đề đặc biệt liên hệ tới gia đình và hôn nhân do yếu tố
văn hoá hay hoàn cảnh tôn giáo địa phương. Đây muốn nói đến những sự chung sống thực tế, được xã hội
chấp nhận, nhưng không được hợp thức hoá trước Giáo hội, hoặc bởi vì người chồng không trả đầy đủ của
hồi môn, hoặc vì người ta chờ đợi xem sự kết hợp có đưa đến sinh con không, hoặc vì lý do nào khác có tính
chất luật pháp hay phát xuất từ tập tục. Ngoài ra, có nhiều trường hợp khá phổ thông: nam đa thê, hôn phối
khác đạo, và ở một số nơi, có nạn ly dị. Thái độ của chủ chăn đối với những loại kết hôn khác nhau ấy thật
là tế nhị và khó mà xác định. Các Giám mục, sau khi thỉnh ý các thành phần khác của Hội Đồng Giám Mục,
có thể xác định những tiêu chuẩn liên quan đến thái độ mục vụ, khi áp dụng vào những hoàn cảnh đặc biệt
những chỉ dẫn tổng quát do vị Giáo chủ Rôma ban hành 687 . Những chỉ dẫn này, ngay cả khi cấm các người
kết hôn bất hợp pháp chịu các bí tích, thì cũng biểu lộ và nói lên một tình yêu sâu xa và một sự kính trọng
lớn lao đối với mọi người. Đặc biệt là:
Một sự giáo dục vững chắc cho giới trẻ về sự hoà hợp cuộc sống với những bổn phận hôn nhân Công
giáo;
Một thái độ hiểu biết không khe khắt đối với những người kết hôn ngoài hôn phối đạo do sự yếu đuối
hoặc do sự ép uổng từ bên ngoài;
Sự giúp đỡ dành cho những cặp vợ chồng này để giúp họ đừng mất lòng trông cậy và ít ra sống đời
sống Kitô hữu trong khả năng có thể, để giúp họ giáo dục tôn giáo cho con cái, và nếu có thể, thì hợp
thức hoá hôn nhân của họ. Hãy trung thành tuân giữ những quy tắc Giáo Luật liên quan đến hôn nhân
khác đạo 688 và sự “sửa chữa tại căn” 689 .
16. Gần gũi những kẻ đau yếu và người già
16a. Những bệnh nhân và người già cần đến sự lưu ý đặc biệt của cộng đoàn, đặc biệt là của các chủ
chăn (x. Mt 25,36.43; Mc 16,18; Lc 9,11). Cả hai loại người trên đều có kinh nghiệm về đau khổ cả trong
chiều kích tinh thần lẫn thể xác.
16b. Các linh mục tiếp xúc với các bệnh nhân bằng cách biểu lộ sự thông cảm huynh đệ; các ngài coi
những bệnh nhân như một thành phần đặc biệt quý giá của đoàn chiên được trao phó cho mình; chuyên cần
thăm viếng ủi an họ, giúp họ hiểu được tình yêu vô tận của Thánh Tâm Chúa (x. Mt 11,28), sự liên đới Kitô
giáo và ý nghĩa mầu nhiệm thập giá được đón nhận trong niềm tin. Linh mục khích lệ họ tìm thấy sức mạnh
và niềm hy vọng trong lời cầu nguyện và trong sự hiến dâng đau khổ để cứu chuộc nhân loại, hiệp nhất với
cuộc thương khó của Đức Kitô: Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử
thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội
Thánh (Cl 1,24).
16c. Với sự nâng đỡ của đức tin, những bệnh nhân có thể giữ được trong họ niềm vui do Thánh Thần
ban khi đón nhận lời Chúa giữa bao nỗi gian truân (1 Tx 1,6) và trở nên chứng nhân đáng tin cậy của niềm
hy vọng Kitô giáo giữa những anh em tín hữu và cả những người chưa tin Chúa Kitô. Như thế người ta hiểu
được tầm quan trọng lớn lao của mục vụ bệnh nhân và của những ai đang sống trong thử thách, dĩ nhiên với
sự tham gia của chính những người ấy 690 .
16d. Việc năng rước Thánh Thể là ơn cao quý nhất và là sự nâng đỡ tuyệt hảo mà linh mục có thể
cống hiến cho bệnh nhân và những người già yếu. Với Mình Thánh Chúa, linh mục nhắc nhở cho những
người này rằng dưới ánh sáng Phục Sinh của Chúa Kitô, đau khổ và sự chết mang ý nghĩa chiến thắng. Đây
là câu trả lời của sự khôn ngoan Kitô giáo cho khát vọng lớn lao muốn chiến thắng đau khổ và sự chết, khát
vọng này thường hiện hữu và ngày nay đặc biệt được gợi lên do những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Cũng
thế, những người già yếu cũng cần được giúp đỡ để thắng vượt cảm nghiệm đau khổ vì cảm thấy ngày càng
bị giới hạn, và có những trường hợp vì cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi. Các linh mục sẽ chú tâm tới việc giúp
những người già yếu để họ biết đem lại giá trị cho giai đoạn này trong cuộc sống, vì lẽ nó mang một sứ
mệnh đặc biệt và độc đáo của chính tuổi già. Trong Giáo Hội và trong xã hội, người già cả được coi như
“chứng nhân của truyền thống đức tin (x. Tv 44,2; Xh 12,26-27), thầy của cuộc sống (x. Hc 6,34; 6,1-12),
người xây dựng bác ái” 691 . Hơn nữa, những người già cả được mời gọi kết thúc cuộc sống một cách tích cực
và phong phú. Cần phải cổ võ những nền văn hoá biểu lộ sự trọng kính đặc biệt đối với các vị “kỳ lão” và
giữ những người già ở trong gia đình như “những nhân chứng của quá khứ và là người khơi sáng sự khôn
ngoan cho giới trẻ hướng về tương lai” 692 .
16e. Việc ban bố bí tích cho bệnh nhân và đưa của ăn đàng tạo nên một nhịp mạnh của mục vụ bệnh
nhân và người già. Các linh mục hãy canh chừng thi hành sứ vụ quan trọng này 693 , đừng đợi đến giây phút
cuối cùng của họ; tuỳ hoàn cảnh cho phép và phù hợp với các quy định của Giám mục, hãy tự nguyện ban
phép xức dầu chung cho nhiều bệnh nhân hay người giá cả, với sự tham dự của nhiều gia đình, và nếu được
với sự tham dự của chính cộng đoàn giáo xứ.
16f.Để cổ võ mục vụ bệnh nhân và người già cả, nên đưa vào công tác phục vụ này những người giáo
dân được chuẩn bị thích hợp và chính thức được ủy nhiệm làm thừa tác viên ngoại lệ cho rước lễ, hoặc đảm
trách những công việc trong chương trình từ thiện 694 . Đồng thời chính linh mục luôn luôn phải tiếp xúc cá
nhân mà không ai có thể thay thế.
16g.Trong khuôn khổ đó, thật hữu ích nếu có được một hoạt động mục vụ cho những người qua đời vì
nó đòi hỏi một sự quan tâm tế nhị. Trong mọi nơi, nhất là trong những xã hội mà việc ma chay cách riêng
đối với tổ tiên được đặt nặng, các vị chủ chăn hãy tiếp xúc, phân ưu với gia đình những người đang đau
buồn vì có thân nhân qua đời, và các ngài quan tâm đến lễ nghi an táng, để nếu có thể thì mời cộng đoàn
Kitô giáo đến tham dự. Các ngài làm thế nào để ý nghĩa sự tham dự của Giáo Hội vào cảnh huống này và ý
nghĩa vượt qua của sự chết theo đức tin Kitô giáo được diễn tả rõ nét (Rm 6,3-9; 1 Cr 15,20-22; 2 Cr 4,14-
15; Kh 14,13); các ngài cũng phải quan tâm đến truyền thống văn hoá về những ý nghĩa tượng trưng, như
màu sắc, trang trí, các bài hát, nơi chốn và hình thức mồ mả 695 . Đây là một cơ hội thuận tiện để làm cho các
tín hữu có kinh nghiệm sâu sắc về các thánh thông công, để giới thiệu cho những người tân tòng về những
sự sau hết, và để cầu khẩn cho người đã qua đời. Và đây cũng là cơ hội để chứng tỏ cho những người ngoài
Kitô giáo đức tin của những người đã chịu phép Rửa tin vào Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết và tin vào sự
sống vĩnh cửu.
17. Tác nhân của phong trào đại kết
17a. Sự chia rẽ giữa những người Kitô hữu “chẳng những công khai trái nghịch với ý muốn của Chúa
Kitô, mà còn là một gương xấu cho người đời và làm hại cho việc rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật” 696 ;
nó làm đình trệ “việc thực hiện tính duy nhất Công giáo” 697 .
Các linh mục là những tác nhân xác tín của phong trào đại kết; các ngài vững tin lời cầu xin. Xin cho
chúng nên một của Chúa Giêsu sẽ được chấp nhận (Ga 17,21), các ngài không ngã lòng vì những trở ngại và
những sự ngộ nhận còn tồn tại ở một số nơi. Đồng thời, các ngài sẽ trình bày cho giáo dân biết chân lý Công
giáo một cách rõ ràng và nguyên tuyền 698 ; các ngài không rơi vào chủ nghĩa tương đối và đề phòng tránh sự
hàm hồ trong việc giảng dạy đức tin và việc xử trí dù với thiện ý.
17b. Còn về những sáng kiện của phong trào đại kết, các linh mục sẽ tuân theo những chỉ thị của Giáo
Hội, cách riêng của Hội Đồng Giám Mục và của Giám mục Bản quyền 699 .
17c. Trong quan hệ với những người không Công giáo với những vấn đề mục vụ được đặt ra, các ngài
cần tránh bài bác hoặc cạnh tranh về tôn giáo; các ngài phải biết duy trì sự thống nhất về giáo lý và sự trong
sáng của cái nhìn đức tin trong chính giáo xứ mình. Các ngài làm hết những gì có thể để thiết lập quan hệ
hữu nghị với những chức sắc tôn giáo bạn để tránh những hiểu lầm và óc phe pháo làm gương xấu cho
những người không Công giáo.
Còn đối với những giáo phái có căn bản bất biến, thường thấy khá nhiều ở các xứ truyền giáo và
thường tỏ ra đối chọi với Công giáo, thì linh mục cần phải giáo dục tín hữu những điểm sau đây:
1. Các giáo huấn chân thật Giáo Hội dạy mà các giáo phái đó phủ nhận, các nhược điểm và sai lầm chính
của họ;
2. Không thể tạo một cuộc đối thoại tối thiểu với họ;
3. Giáo dân có bổn phận vừa bảo vệ mình vừa Phúc âm hoá những tín đồ của họ là những người không
được coi là Kitô hữu.
17d. Với mục đích đó, các linh mục phải tìm hiểu ít nữa là các điểm chính yếu trong giáo thuyết và
trong các phương thức thu hút của các giáo phái đó, để có thể giúp đỡ một cách tương ưng chính các giáo
dân của mình.
18. Quan tâm đến việc đối thoại với người ngoài Kitô giáo
18a. Đối thoại với các tín đồ của các tôn giáo bạn là một công việc tế nhị và quan yếu trong việc tông
đồ hiện nay của Giáo Hội. Đó là một cuộc đối thoại về sự cứu độ luôn luôn phải được thực hiện bởi Chúa
Giêsu Kitô, không thể dẫn đến chủ nghĩa tương đối và càng không thể làm xây sát sự nguyên tuyền của đức
tin Công giáo. Sự đối thoại như thế là cần thiết để Tin Mừng được hiểu biết đúng mức và sứ điệp của nó
được hiểu sâu sát hơn. Các linh mục phải quan tâm và đón nhận thực tại rất nhân loại này và phải tìm hiểu
sâu sát các tôn giáo, chẳng những về phương diện lịch sử, tổ chức, giới hạn và sai lầm của nó, mà còn phải
nhận thực những giá trị của họ như những “hạt giống của Ngôi Lời”, để có thể dùng làm sự chuẩn bị đón
nhận Tin Mừng 700 .
18b. Sống trong một thế giới còn nhiều tôn giáo thì cần phải dấn thân và đeo đuổi sự đối thoại cũng
như cộng tác với các tôn giáo để đem lại những lợi ích to lớn cho nhân loại, chẳng hạn như hoà bình, công
bằng, nhân quyền… 701 . Trong chiều hướng đó, các linh mục có trách nhiệm mục vụ phải phát huy nơi giáo
dân của mình tinh thần đối thoại, khuyến khích họ tương thân tương ái và hợp tác với các tín đồ của các tôn
giáo khác.
18c. Đối với những sáng kiến cụ thể cho việc đối thoại giữa các tôn giáo, các linh mục không được
hoạt động riêng lẻ, nhưng phải hành động trong kế hoạch của giáo phận, thích ứng với những chỉ dẫn của
Giám mục Bản quyền, của Hội Đồng Giám Mục và của Giáo Hội toàn cầu.
18d. Trên hết, các ngài phải thâm tín rằng các tín đồ của những tôn giáo khác có quyền tiếp nhận trọn
vẹn chân lý Kitô giáo – là di sản của toàn thể nhân loại – từ những người đã lãnh nhận sứ mạng rao giảng của
Giáo Hội Công giáo.
III. LINH ĐẠO LINH MỤC ĐỊA PHẬN
19. Sự cần thiết và bản tính của linh đạo Linh mục
19a. Ơn gọi linh mục xuất phát từ sự gặp gỡ với Đức Kitô, Đấng muốn cho sự mời gọi của Người
được kéo dài suốt cuộc đời truyền giáo: “Người gọi đến với Người những kẻ Người muốn… để các ông ở
với Người và để Người sai các ông đi rao giảng (Mc 3,13-14). Kinh nghiệm cuộc gặp gỡ thân tình với Đức
Kitô (x. Ga 1,39-41; 15,9) dẫn đến việc đi theo Người để dấn thân cho Người (x. Mt 4,19 tt; 19,27). Đáp lại
lời mời gọi này, linh mục sẽ đạt đến niềm vui phục sinh, vì khi đó, linh mục có thể dâng hiến cho Đức Kitô
một “bằng chứng tình yêu cao cả nhất” 702 . Khi cộng tác chặt chẽ với Đức Giám Mục của mình để phục vụ
Giáo Hội, linh mục trở nên chứng nhân đáng tin cậy về một Đức Kitô đã chết và đã sống lại, như các Tông
Đồ đã làm: tất cả chúng tôi xin làm chứng (Cv 2,32); “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo
cho cả anh em nữa (1 Ga 1,3a).
19b. Những thừa tác viên thánh cần có những hiểu biết chính xác về những nét đặc thù tạo nên linh
đạo của linh mục giáo phận, để có thể không ngừng đổi mới đời sống tâm linh. Từ linh đạo (spiritualité) nói
lên đời sống trong Chúa Thánh Thần, Đấng trong thực tế đã biến linh mục nên dấu chỉ cá biệt và đặc thù
của Đức Kitô, để phục vụ cộng đồng Giáo Hội địa phương và Giáo Hội toàn cầu, trong sự liên kết với đặc
sủng của Đức Giám Mục.
19c. Linh đạo linh mục vốn bắt rễ trong ân sủng của Chúa Thánh Thần như một sự thông phần vào sự
hiến tế (ở bình diện hữu thể) và vào sứ mạng (ở bình diện hoạt động) của Đức Kitô Ngôn Sứ, Tư Tế, Vương
Đế. Trong nghi lễ phong chức, linh đạo này được tóm gọn trong lời Đức Giám Mục khuyên nhủ tân chức
nhằm vào toàn bộ cuộc sống của tân chức: “Con hãy bắt chước điều con thi hành.” Linh đạo linh mục này
không chỉ là một “yêu cầu” mà còn là một “khả năng” thật sự; ân sủng của bí tích Truyền Chức Thánh làm
cho đương sự có khả năng hiện thực hoá “một cách thích đáng” đặc tính bí tích, vốn là một “dấu chỉ” thường
xuyên của Chúa Thánh Thần; đặc tính này mang lại cho linh mục tư cách hành động nhân danh Đức Kitô, tư
cách tiếp nối một cách thích đáng hành vi tư tế của Chúa chúng ta. Linh mục có bổn phận phải luôn ý thức
sức năng động nội tâm này và biết đưa nó vào hoạt động tích cực trong cuộc sống mình (x. 1 Tm 14,16; 2
Tm 1,6).
19d. Quả vậy, linh đạo linh mục luôn hàm chứa, dưới một danh nghĩa mới, lời mời gọi nên thánh, như
dấu chỉ và công cụ riêng của Đức Kitô. Nếu đối với mọi thành phần Dân Chúa mà còn có một “lời mời gọi
phổ quát nên thánh”, nghĩa là mời họ đạt đến trình độ viên mãn của đời sống Kitô giáo 703 , thì đối với các
thừa tác viên thánh còn có lời kêu mời đặc biệt đi đến hoàn thiện, sự hoàn thiện này sẽ triển nở nơi các ngài,
nếu các ngài thực hiện nhiệm vụ riêng của mình trong Thần Khí của Đức Kitô, và hết mình dấn thân vào đó
với một dạ chân thành và miệt mài không quản nhọc nhằn (x. Lv 11,44-46; 19,2; Mt 5,48; 2 Tm 1,9; 1 Pr
2,5).
19e. Linh mục giáo phận sẽ thể hiện linh đạo đặc thù của mình: – khi sống tác vụ tông đồ trong đức ái
mục tử và hiệp thông với Đức Giám Mục của mình như đấng kế vị các Tông Đồ; – khi cùng với các linh mục
khác tạo nên một “Linh mục đoàn”, là biểu hiệu nói lên mối hiệp nhất gia đình tư tế; – khi cùng nhau phục
vụ Giáo Hội địa phương mà mình đã gắn bó khi nhập tịch; – và khi luôn sẵn sàng trước sứ mạng cứu độ phổ
quát 704 . Như thế, linh đạo linh mục giáo phận biểu lộ rõ tính chất Giáo Hội và truyền giáo.
19f. Các linh mục cần xác tín rằng nếu không có một đời sống tâm linh vững mạnh và một nếp sống
phục vụ tông đồ đầy quảng đại, luôn kết hợp mật thiết với Chúa Kitô Tư Tế và Mục Tử, dám đi đến tột đỉnh
của sự thánh thiện trong những đường nét của linh đạo riêng của mình, thì không tài nào các ngài có thể thể
hiện được căn tính linh mục và miệt mài cách quảng đại trong tác vụ của mình.
20. Những chiều kích của linh đạo Linh mục
20a. Linh đạo của hàng giáo sĩ giáo phận tự bản chất dựa trên những nền tảng sau đây:
1. Gắn bó một cách cá biệt với Đức Kitô, để đi theo và phụng sự Người, Đấng đã được Chúa Cha sai đi,
được Chúa Thánh Thần thánh hiến; đồng thời linh mục đón nhận vào đời mình mầu nhiệm trung tâm
là bí tích Tạ Ơn, và đón nhận sự hiện diện gương mẫu của Đức Maria;
2. Hiệp thông và vâng phục với lòng chân thành quảng đại Đức Giáo Hoàng và Đức Giám Mục giáo
phận;
3. Tình huynh đệ sâu sắc với các anh em linh mục trong linh mục đoàn địa phương;
4. Làm việc tông đồ nơi các tín hữu của Giáo Hội địa phương và sẵn sàng trọn vẹn trợ giúp các Giáo Hội
khác khi cần, sẵn sàng Phúc âm hoá mọi người ngoài Kitô giáo.
20b. Như thế, linh đạo linh mục giáo phận sẽ nằm trong viễn tượng về Ba Ngôi, Mẹ Maria, Giáo Hội
và truyền giáo. Quả vậy, lời mời gọi, sự thánh hiến và sứ mạng truyền giáo được coi như những tham gia
vào mầu nhiệm Chúa Kitô, Đấng được Chúa Thánh Thần thánh hiến và được Chúa Cha sai đi (x. Lc 4,18;
Ga 10,36), mầu nhiệm này đang được nối dài nơi Giáo Hội (x. Mt 28,20; Ep 1,23). Mẹ Maria, Đấng liên kết
với Đức Kitô Linh Mục và luôn trung tín với tác động của Chúa Thánh Thần, là kiểu mẫu và là Mẹ Giáo
Hội, Người luôn gần gũi với cuộc sống và với tác vụ của linh mục: “Công cuộc phục vụ trong đời linh mục
của chúng ta nối kết chúng ta với Mẹ; Mẹ là Mẹ Đấng Cứu Thế và là khuôn mẫu của Giáo Hội” 705 .
20c. Nét đặc sắc của linh đạo linh mục là đức ái mục tử, vốn được biểu lộ qua những chiều kích chủ
yếu này.
Linh đạo này bắt rễ trong sự thánh hiến: điểm xuất phát của linh đạo linh mục là sự tham dự qua tác vụ
vào sự thánh hiến của Đức Kitô Tư Tế, một sự thánh hiến được thực hiện khi Ngôi Lời nhập thể trong lòng
Đức Maria, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, và sẽ tỏ hiện trọn vẹn nơi mầu nhiệm Phục Sinh. Đối với
linh mục, ơn gọi đến sống với Chúa Kitô (x. Mc 3,14) trở nên sự tham dự vào chức linh mục của Người và
đòi buộc linh mục diễn tả chiều kích thánh hiến này trong chính đời mình (x. Ga 17,10) 706 .
20d. Linh đạo linh mục được diễn đạt qua sự hiệp thông trong Giáo Hội: hiệp thông với Đức Giáo
Hoàng, với Đức Giám Mục mình, với các linh mục khác, các phó tế, với những ai đã được thánh hiến và với
cộng đồng Giáo Hội 707 . Nhờ bí tích Truyền Chức, sự hiệp thông này đã tạo nên giữa các linh mục một tình
huynh đệ đích thực mang tính bí tích. Đặc sủng của Đức Giám Mục, kết hợp với sự gần gũi thân tình có tính
cách cha con và bạn hữu, không thể thiếu được nếu muốn thực hiện sự hiệp thông mà Chúa mong muốn
trong lời nguyện cầu cho các linh mục của Người (x. Ga 17,23). Từ đó xuất phát một yêu cầu sâu xa đối với
các linh mục, đó là yêu cầu về tinh thần cộng đoàn và nếp sống cộng đoàn. Linh mục giáo phận sống mối
hiệp thông trong sự tuỳ thuộc vào Dức Giám Mục và ở giữa lòng sự thuộc về Giáo Hội địa phương, như một
hình thái chủ yếu của đời sống linh mục đoàn.
20e. Linh đạo này dẫn đưa trọn vẹn vào sứ mạng truyền giáo: chính hữu thể linh mục là cội nguồn cho
hành vi đặc thù của thừa tác vụ thánh, tác vụ này hành động in persona Christi, như một sự vươn dài của
Người để phục vụ cộng đồng địa phương và phổ quát. Thực tại này khiến linh mục, qua thừa tác vụ của
mình, phải biểu lộ chính tình yêu cứu độ của Chúa, đúng như một người đại diện xứng đáng của Người (x.
Rm 5,15). Các linh mục giáo phận dưới quyền Đức Giám Mục, thánh hoá và quản nhiệm phần đoàn chiên
Chúa đã được uỷ thác cho các ngài, chính nơi phần đoàn chiên đó, các ngài làm cho Giáo Hội phổ quát được
tỏ hiện, và đồng thời các ngài gắng công xây dựng toàn Nhiệm Thể Chúa Kitô (x. Ep 4,12). Vì luôn nhắm
tới những gì đem lại lợi ích cho con cái Chúa, các ngài phải dồn nhiệt tâm để góp phần vào việc mục vụ của
toàn giáo phận, và hơn nữa, của toàn Giáo Hội 708 .
20f. Sau hết, linh đạo này đòi buộc các ngài phải bắt chước cuộc sống Phúc Âm của các Tông Đồ 709 ,
cuộc sống này chủ yếu cốt tại việc theo Đức Kitô, từ bỏ mọi sự vì Người (x. Mt 19,27), với một sự sẵn sàng
đầy quảng đại để phục vụ việc tông đồ đến tận cùng trái đất (x. Mc 16,20), với một tinh thần huynh đệ và
tương trợ giữa các linh mục như giữa những thành viên của cùng một gia đình linh mục (x. Ga 17,22 tt; Cv
1,13-14). Các linh mục giáo phận sống nếp sống theo chân Đức Kitô dựa theo những đòi hỏi của Phúc Âm,
vốn phù hợp với tinh thần của các Tông Đồ, dưới sự dẫn dắt của Đức Giám Mục.
21. Những đường nét Phúc âm của linh đạo Linh mục
21a. Giáo Hội, dựa theo Phúc Âm, vạch ra những đường nét chính xác về đời sống tâm linh làm nền
tảng tạo nên dung mạo của một vị linh mục đích thực.
21b. Thân tình với Chúa Kitô 710 : thật ra, linh mục chính là sự vươn dài của Đức Kitô, nên ngài được
gọi để sống một tình bạn chí thiết mang tính cách cá biệt với Đức Kitô (x. Ga 15,13-16); tuỳ theo mức độ
sống mối thân tình này, mà ngài đạt tới việc hoàn thành ơn gọi riêng của mình.
21c. Phục vụ Giáo Hội 711 : với tư cách là một thừa tác viên của Chúa và của Giáo Hội, linh mục phải
được hun đúc bằng một tinh thần phục vụ cao cả (x. Lc 22,26-27; Mc 10,42-45) được biểu lộ qua lòng nhiệt
thành tông đồ, qua khả năng chịu đựng nỗi nhọc nhằn của công việc, qua thái độ mau mắn đón nhận mọi
gánh nặng mục vụ, dù là những việc khiêm hạ nhất, mà không tìm danh vọng và lợi lộc cá nhân, và qua tư
thế sẵn sàng lo cho công việc truyền giáo hướng về những ai còn đứng ngoài đoàn chiên của Đức Kitô.
21d. Sự thánh thiện có được qua thừa tác vụ thường nhật, do thực hiện ba phận vụ của linh mục 712 :
1. Với tư cách thừa tác viên Lời Chúa, các linh mục sẽ kết hợp mật thiết hơn với Đức Kitô Thầy Dạy,
nhờ việc các ngài loan truyền chân lý cho những ai ở gần cũng như ở xa, và với niềm vui ngày càng
sâu đậm hơn, các ngài sẽ khám phá ra sự phong phú khôn lường của Đức Kitô (Ep 3,8);
2. Với tư cách thừa tác viên các bí tích, và trên hết, với tư cách chủ tế thánh lễ mà trong đó các ngài chu
toàn nhiệm vụ chủ yếu của mình, các ngài nên biết rằng, qua tay mình, công cuộc cứu độ được thực
hiện cách liên tục nhằm làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hoá con người (x. 1 Cr 11,26);
3. Khi dẫn dắt đoàn dân Chúa, các ngài cần được hun đúc bởi tình bác ái yêu thương của vị Mục Tử tốt
lành, để dấn thân vào việc quy tụ về một mối đoàn chiên đang tản lạc, dấn thân với một tấm lòng
quảng đại luôn tăng mãi đến mức có thể hiến mạng sống cho những ai đã được uỷ thác cho mình (x.
Ga 10,15-17).
21e. Đối với các linh mục, con đường gọi là vương đạo (voie royale) dẫn đến sự thánh thiện là ở ngay
tại việc thi hành thừa tác vụ. Các hoạt động của thừa tác vụ là những phương thế bình thường để thánh hoá
bản thân người mục tử, nhưng với điều kiện là các ngài sống kết hợp mật thiết với Đức Kitô, hành động và
xử thế trong đức tin và đức mến, và không xao nhãng những phương thế thông thường mà mọi Kitô hữu đều
tôn trọng. Sự thống nhất cuộc sống trong sự kết hợp với Đức Kitô này sẽ bảo đảm cho sự quân bình và hài
hoà giữa đời sống nội tâm và đời sống tông đồ.
21f. Những nhân đức đặc hữu của vị mục tử tốt lành là đức ái mục tử hành động và tỏ hiện qua:
lòng nhiệt thành làm việc tông đồ (x. Rm 12,11; 1 Pr 3,13; 1 Tm 4,14-16);
một nếp sống vâng phục, khiết tịnh và thanh bần 713 ;
một thái độ khiêm hạ và trung thành vác thập giá noi gương Đức Kitô (x. Mt 10,38; 16,24; Mc 8,34;
Lc 14,27). Mỗi nhân đức trên là một khía cạnh cần thiết của đức ái mục tử, chung quy được gọi là
một thái độ Phúc Âm: các linh mục cần cố gắng trung thành sống những nhân đức đó để hiển nhiên
trở thành một hình ảnh có sức thuyết phục về một Đức Kitô Mục Tử tốt lành; các ngài phải luôn ở
trong tư thế sẵn sàng, với một con tim không chia sẻ, để làm việc mục vụ nơi cánh đồng giáo phận và
Giáo Hội toàn cầu.
22. Những phương thế giúp tiến tới trên đường thiêng liêng
22a. Những phương thế giúp tiến tới trên đường thiêng liêng vốn là chung cho mọi Kitô hữu, thì cũng
cần thiết cho các linh mục. Ngoài ra còn có những phương thế chuyên biệt dành cho các linh mục; chúng cốt
tại những hoạt động gắn liền với thừa tác vụ của các ngài, được dự kiến theo tinh thần và những chỉ thị của
Giáo Hội.
22b. Linh đạo linh mục giáo phận và thừa sai không hiện hữu biệt lập, nhưng trong mối hiệp nhất với
linh mục đoàn giáo phận của đương sự, trong sự thông hiệp với Đức Giám Mục. Chính sự hiện diện có tính
cách trung tâm và đầy sức cổ võ của Đức Giám Mục, cùng với ý thức trách nhiệm đã được mọi linh mục thể
hiện qua cuộc sống sẽ dẫn đến chỗ là linh mục đoàn đóng vai trò kích thích lòng nhiệt thành của các thành
viên và cống hiến cho họ những phương thế cụ thể để tiến tới trên đường thiêng liêng: như thế quả là một
gia đình linh mục đích thực, đóng vai trò bảo vệ và giúp thành viên mình tiến tới. Linh mục đoàn phải đặc
biệt khích lệ việc huấn luyện thường xuyên cho các thành viên, nhất là về lãnh vực thiêng liêng, bằng cách
xác định cho họ các mục tiêu và cống hiến cho họ những phương tiện thực hiện ở bình diện cá nhân cũng
như cộng đoàn.
22c. Bí tích Tạ Ơn là tâm điểm và cội rễ của toàn bộ cuộc sống linh mục, và tinh thần tư tế của linh
mục là cố lo sao để nội tâm hoá những gì được thực hiện trên bàn thờ 714 . Linh mục phải có một đời sống
Thánh Thể tràn đầy và sốt sắng, để từ đó tìm được đà tiến và sức lực cho đời sống tâm linh của mình. Việc
cử hnh thánh lễ mà trước đó có chuẩn bị cần thận, và sau đó có cám ơn, cũng như việc hằng ngày viếng Đức
Kitô nơi bí tích Thánh Thể, không chỉ là những bổn phận mục vụ, nhưng đây chính là những thời khắc đầy ý
nghĩa và là một trợ lực không gì có thể thay thế được cho đời sống tâm linh.
22d. Truyền thống Giáo Hội và những huấn thị hiện hành của Huấn quyền còn đề cao nhiều phương
thế khác thể thiếu đối với đời sống thiêng liêng của linh mục. Mỗi phương thế trên cần được dự kiến trong
tương quan với căn tính của linh mục:
Lời Chúa: được công bố, nguyện cầu, suy niệm;
Phụng Vụ Giờ Kinh được cử hành nhân danh toàn thể cộng đoàn và hiệp với cộng đoàn;
Bí tích Hoà Giải thanh luyện và làm mới thần lực;
Lòng kính mến Đức Maria sẽ giúp ta quảng đại phụng sự Đức Kitô và Giáo Hội;
Kinh nguyện cá nhân và chiêm niệm, thường xuyên và đều đặn;
Các cuộc tĩnh tâm và linh thao, xét mình, linh hướng;
Học hỏi thần học, tích cực tham gia các hội đoàn dành cho linh mục nhằm mục tiêu thiêng liêng và
tông đồ.
22e. Cũng cần coi là những phương thế rất hữu ích cho việc phát triển đời sống thiêng liêng: những
cuộc gặp gỡ đều đặn giữa linh mục và Đức Giám Mục của mình, là đấng mà ngài tỏ lộ tâm tình như với một
người cha và một người bạn về lý tưởng sống của mình, các dự định, các vấn đề và các khó khăn của mình;
và cùng nhất trí tìm ra những giải pháp. Cũng kể là quan trọng các cuộc gặp gỡ giữa các linh mục với nhau
để trao đổi về đời sống tâm linh và tông đồ: các cuộc tĩnh tâm, cấm phòng, sống chung với nhau, cầu nguyện
chung, kiểm điểm cuộc sống, linh hướng… nhờ vậy các linh mục giáo phận sẽ hỗ trợ nhau thực hiện các
phương thế khác nhau để phục vụ đời sống tâm linh trên bình diện cá nhân và tập thể.
22f. Hiệp thông với Đức Giám Mục, với các linh mục khác và các phó tế, với cộng đồng Giáo Hội,
vừa là phương thế hữu hiệu để thánh hoá và Phúc âm hoá, vừa là dấu chỉ về sự tiến bộ trên đường thiêng
liêng và tông đồ. Việc giúp đỡ hỗ tương vừa biểu lộ vừa xây đắp cho “tình huynh đệ mang tính bí tích” 715 .
Đặc sủng của Đức Giám Mục, đã từng được thể hiện sâu sắc qua cuộc sống và được nhìn nhận 716 sẽ rất cần
thiết để tạo nên sự hiệp thông Chúa muốn như là một sự thông phần vào sứ mạng phổ quát của Người.
22g. Các linh mục cần đào sâu ý nghĩa của các phương thế cổ điển và bất khả thay thế giúp cho sự tiến
bộ về đường thiêng liêng này; các ngài cần trung thành áp dụng một cách thường xuyên và bền bỉ, liệu sao
để bảo đảm có được một đời sống thiêng liêng và truyền giáo phong phú, phù hợp với mẫu gương do Đức
Kitô và các tông đồ để lại và đã được biết bao vị linh mục thánh thiện trong suốt lịch sử Giáo Hội tiếp tục
noi theo.
IV. NHỮNG QUY LUẬT CỦA ĐỜI SỐNG LINH MỤC
23. Lời Chúa chất vấn Linh mục
23a. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Lời Chúa và cuộc sống của linh mục. Quả vậy, chính nhờ Lời
Chúa mà căn tính linh mục có được cội nguồn và ý nghĩa; việc loan báo Lời Chúa là một trong những bổn
phận nền tảng của linh mục; ngài tìm thấy nơi Lời Chúa sức mạnh của niềm tin và lương thực cho đời sống
tâm linh 717 . Vì thế, Giáo Hội ân cần nhắc nhở linh mục một cách đặc biệt hãy thường xuyên tiếp xúc với
Kinh Thánh qua việc học hỏi, lắng nghe và nguyện cầu 718 để đào sâu luôn mãi sự hiểu biết về Chúa và ý
nghĩa sứ điệp của Người (x. Pl 3,8; Ep 3,19; 4,13).
23b. Để đủ sức đón nhận, nội tâm hoá và loan báo Lời Chúa, các linh mục cần bảo đảm cho mình có
được những lúc thinh lặng và trầm tư. Thực tế mục vụ thường choán hết con người linh mục với những việc
khẩn trương và những đòi hỏi khác đủ loại. Vì lẽ đó cần biểu dương những linh mục nào biết tự hạn chế số
lượng công việc để bảo đảm cho mình có được sự tăng triển trong đời sống thiêng liêng cá nhân. Khi tổ chức
sắp xếp đời sống, linh mục cần biết dành ra những khoảng thời gian để suy niệm Kinh Thánh, để đọc các
giáo phụ và học hỏi các môn thần học. Chính sự phong phú nội tâm sẽ biến các ngài thành những Tông Đồ
đầy sức thuyết phục cả với những ai chưa tin Chúa.
24. Đời sống cầu nguyện
24a. Trong số những phương thế và những hình thức biểu lộ thích đáng của đời sống thiêng liêng của
linh mục, phải kể đến việc thực hành cầu nguyện của linh mục, trước hết là chính sự tham dự vào niềm tin
và vào sự cầu nguyện của cộng đoàn, và trong các cộng đoàn, sự cầu nguyện phải được dành một chỗ ưu
tiên (x. Cv 1,14) 719 . Đó cũng là một gương sáng cho các tín hữu; họ sẽ được khích lệ khi thấy vị chủ chăn
của mình sống thông hiệp với Thiên Chúa. Ngoài việc cầu nguyện trong cộng đoàn và cùng với cộng đoàn,
linh mục còn phải dưỡng nuôi đời sống thiêng liêng của riêng mình bằng sự cầu nguyện cá nhân phong phú.
Ngài phải tự cảm thấy có trách nhiệm trở nên con người cầu nguyện cho mọi người anh em, noi gương Đức
Kitô hằng sống để chuyển cầu cho họ (Dt 7,25). Trước khi dùng lời nói và hành động, linh mục nhờ cầu
nguyện mà thông ban cho con người sự phú túc của Thiên Chúa và thưa chuyện với Thiên Chúa nhân danh
họ. Từ con tim của linh mục phải dâng lên Chúa Cha sự thờ lạy, tán tụng, đội ơn và cầu xin nhân danh các
tín hữu và nhân danh cả những người ngoài Kitô giáo nữa. Cũng phải thực tế nhìn nhận rằng với nhịp độ
hoạt động mục vụ nơi các Giáo Hội đang đà phát triển hiện nay, quả thật không dễ gì có được sự cầu nguyện
đều hoà. Tuy nhiên, với tư cách là một con người của thánh thiêng, linh mục không được chấp nhận một
tình trạng mà chỉ vì đa đoan công việc, nên sự cầu nguyện thường xuyên bị lép vế hy sinh. Dĩ nhiên, những
bận rộn mục vụ đôi khi có thể làm thay đổi trật tự, giờ giấc và cả cách thức linh mục thực hành các việc đạo
đức, nhưng chúng không được gây tổn hại cho việc cầu nguyện. Giáo Hội ân cần đề nghị với các linh mục lý
tưởng cao vời nhất của đời cầu nguyện, đó là sự chiêm niệm, Giáo Hội mời gọi các ngài hãy chân thành
hướng tới đó, dầu gặp bao hạn chế của bản thân, bao khó khăn bên ngoài cản trở và bao bận rộn lo toan đè
nặng (x. Lc 18,1; Ep 6,18; 1 Tx 5,17).
24b. Việc cử hành bí tích Tạ Ơn mà các ngài thực hiện “in persona Christi”, là tột đỉnh của đời sống
thiêng liêng các linh mục. Vậy các ngài hãy trung thành cử hành thánh lễ Misa mỗi ngày cùng với sự chuẩn
bị xứng hợp và với sự tạ ơn sau đó 720 và cố gắng hết sức có thể để giáo dân cùng tham dự. Rất đáng khuyến
khích các linh mục đang chung sống với nhau hãy đồng tế, ít là vào những cơ hội nhiều ý nghĩa, để diễn tả
và tăng cường cho sự hiệp nhất huynh đệ.
24c. Bí tích Tạ Ơn cũng mời gọi các linh mục hãy duy trì nơi mình tâm thức về sự hiện diện của Chúa
Kitô hằng sống nơi Nhà Tạm, tâm thức này được biểu lộ qua việc viếng Chúa hằng ngày và những buổi chầu
Chúa lâu giờ.
24d. Việc cử hành Phụng Vụ Giờ Kinh, là kinh nguyện chính thức của Giáo Hội, được uỷ thác cho
lòng đạo đức của các linh mục, cần được thực hiện đừng bỏ mất, và hãy cố hết sức có thể để đọc rải rác suốt
ngày nhằm thánh hiến trọn tiến trình thời gian mà làm vinh danh Thiên Chúa trong sự hiệp thông với cộng
đoàn đang khẩn cầu. Các ngài đừng dễ dàng bỏ mất một phần nào của Thần Vụ, trừ khi gặp những lý do
quan trọng và thích đáng. Nơi nào có nhiều linh mục chung sống, nên cùng nhau đọc chung một phần Thần
Vụ. Thật đáng tuyên dương những vị chủ chăn biết đưa cộng đoàn cùng cử hành giờ Kinh Sáng và Kinh
Chiều với các ngài 721 .
24e. Tâm nguyện, trong tư thế lắng nghe, nguyện cầu và sẵn sàng, là hình thức cao nhất để đối chiếu
đời sống mình với Lời Chúa. Vì thế, các linh mục cần chu toàn thực hành việc nguyện gẫm hằng ngày, ưu
tiên là lúc ban sáng 722 . Nhờ đó các ngài sẽ tìm gặp nguồn sáng, trợ lực và phương thuốc cho mọi nhu cầu
của cuộc sống và của tác vụ. Như kinh nghiệm của Giáo Hội đã xác nhận, chính việc nguyện gẫm đều đặn
đã giúp ổn định trật tư trong cuộc sống, bảo đảm sự tăng trưởng đời sống tâm linh và ngăn ngừa rơi vào sự
nguội lạnh.
24f. Lòng tôn kính Đức Maria phải chiếm được một chỗ quan trọng và cần được diễn tả với lòng chân
thành hồn nhiên và với tình yêu thương đối với Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Giáo Hội. Các linh mục nhìn thấy nơi
Đức Maria một khuôn mẫu của đời sống tận hiến, lắng nghe, nguyện cầu và sẵn sàng. Các ngài hãy biểu lộ
lòng sùng kính của mình qua việc cử hành các lễ của Người với lòng sốt sắng, qua việc lần chuỗi Môi Khôi
mỗi ngày, và cũng qua việc đón nhận những hình thức đạo đức lành mạnh của giáo dân. Các ngài cần nhận
ra sự hiện diện của Mẹ trong đời mình và sẵn lòng phó thác cho sự trợ giúp chở che của Mẹ mọi tín hữu và
những người chưa nhận biết Chúa Giêsu, để chính họ cũng có thể nghe được tiếng nói từ mẫu của Mẹ:
Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo (Ga 2,5).
24g. Là thừa tác viên bí tích Hoà Giải, các linh mục cần chạy đến bí tích sám hối một cách thường
xuyên và đều đặn 723 , và nếu có thể, nên xưng tội với một cha giải tội cố hữu, nhờ đó ta có thể được ngài hiểu
biết tường tận hơn và giúp ích cho ta hơn. Qua bí tích này, không những các ngài được ơn tha tội, mà còn
được thêm sức mạnh để sống thích hợp với sự dấn thân và được tiến tới trong đường thiêng liêng. Cũng
trong chiều hướng này, hết sức ân cần nhắn nhủ các linh mục, trong suốt cuộc đời mình, nên cậy dựa vào
việc linh hướng; các ngài cần xác tín rằng, còn hơn cả giáo dân, các ngài cần một sự chỉ đạo để soi sáng và
khuyên nhủ. Sự linh hướng sẽ giúp các ngài giữ mãi được lòng nhiệt thành trong Chúa Thánh Thần.
24h. Như là thông phần vào lễ vật dâng hiến của Con Chiên Thiên Chúa, các linh mục cần biết đón
nhận thánh giá trong đời mình như một chiều kích cần thiết cho căn tính linh mục (x. 2 Cr 4,10; 6,4-5; Ga
6,17). Ngoài các hy sinh vốn gắn liền với các tình huống của cuộc sống và của tác vụ, các linh mục còn cần
biết quảng đại bước theo Đức Kitô cùng các đau khổ của Người bằng một sự thống hối chủ tâm được kính
dâng lên Chúa với niềm vui hiệp với tinh thần tông đồ của thánh Phaolô: Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì
anh em (Cl 1,24); Tâm hồn tôi chứa chan niềm an ủi và tràn ngập nỗi vui mừng trong mọi cơn gian nan khốn
khó (2 Cr 7,4).
24i. Đời sống thiêng liêng tuyệt đối cần được nâng đỡ đặc biệt do những thời gian ngưng nghỉ khá dài,
đó là thời gian để tích cực suy tư và cầu nguyện (x. Mc 6,31). Vì vậy các linh mục hãy trung thành thực hiện
những cuộc tĩnh tâm hàng tháng và việc linh thao hàng năm 724 . Các ngài hãy ưu tiên dự các kỳ cấm phòng
do giáo phận tổ chức dành cho hàng giáo sĩ giáo phận, nhất là lại có sự hiện diện của Đức Giám Mục. Nếu
được đều đặn thực hiện và tham gia tích cực, các thực hành trên đây sẽ giúp các ngài kiểm điểm chính xác
tình trạng thiêng liêng của mình và duy trì được sự thống nhất giữa đời sống nội tâm và việc tông đồ 725 .
25. Đời sống trí thức
25a. Sự tiến bộ không ngừng của các khoa thần học đang diễn ra trong Giáo Hội dưới tác động do
Chúa Thánh Thần soi sáng (Ga 14,26; 16,13), sự cấp bách phải truyền bá sứ điệp Tin Mừng và nhu cầu làm
cho Tin Mừng trở nên dễ hiểu cho con người thời nay vốn mang dấu vết về tất cả những gì thuộc về thời đại
và nền văn hoá của họ, nhu cầu hiểu thấu theo những tiêu chuẩn của đức tin một xã hội đang luôn thay đổi,
tất cả những điều đó đè nặng trên linh mục như một bổn phận không tả xiết, buộc các ngài phải quan tâm tới
đời sống trí thức của riêng mình 726 . Thiếu vắng khoa học, linh mục sẽ như ngọn đèn đã tắt (Mt 5,14-16). Vì
lẽ đó, Giáo Hội rõ ràng đòi buộc các linh mục phải “theo đuổi học hỏi các khoa học thánh sau khi đã thụ
phong linh mục, và phải nắm vững một giáo lý chắc chắn dựa trên nền tảng Kinh Thánh, được các vị tiền
bối truyền lại và được minh định trong các tài liệu của Công Đồng và của các Đức Giáo Hoàng” 727 .
25b. Vì vậy, chiếu theo căn tính ngôn sứ và mục tử của mình, các linh mục có được khả năng nội
tâm:
để theo được những phong trào canh tân do Chúa Thần Thần thổi lên trong Giáo Hội;
để ngày càng hiểu thấu sâu sắc hơn về mầu nhiệm Chúa Kitô;
nhưng cũng để tránh nhẹ dạ đón nhận những gì mới mẻ và thiếu vững chắc hoặc thuộc khoa học giả
hiệu.
Trong lãnh vực học hỏi, các linh mục trước hết phải nhắm đến các khoa học thánh, nhưng cũng nhắm
đến các bộ môn khác có liên hệ với khoa thánh và đến những khoa khả dĩ giúp thực hiện tác vụ dễ dàng hơn,
hoặc cả tới những khoa mà các ngài đã dấn thân vào một cách chuyên nghiệp. Các linh mục còn phải nhớ
làm sao để chuyển đổi sứ điệp Tin Mừng thành một thứ ngôn ngữ huấn giáo thích hợp và các ngài cũng phải
biết cởi mở và chăm chú bén nhạy trước các đòi hỏi của việc hội nhập văn hoá, ngay cả trong lãnh vực thần
học.
25c. Đời sống trí thức không những giả thiết phải có niềm xác tín và tư thế sẵn sàng, mà cũng cần tới
việc sử dụng thường xuyên những phương tiện thích hợp, chẳng hạn như cần có thời gian dành riêng để học
tập nghiên cứu, tích cực tham gia vào các sáng kiến thuộc lãnh vực này và vào các cuộc gặp gỡ do giáo phận
tổ chức, lựa chọn nên đọc những gì, và nếu có thể được, cũng nên tổ chức một thư viện cá nhân hoặc sử
dụng một thư viện của giáo phận mà ai nấy có thể chạy tới nhờ vả dễ dàng. Ngoài ra, mọi linh mục phải sắm
những tài liệu mới ra của Đức Giáo Hoàng và của Đức Giám Mục, để có thể đào sâu và dùng đó làm phương
tiện huấn luyện tín hữu. Các ngài cũng cần biết tự bảo vệ chống những gì được phổ biến để truyền bá những
tư tưởng lầm lạc và nguy hiểm cho đời sống cá nhân và cho hoạt động mục vụ.
25d. Việc chỉ định cho đi học đại học trong hoặc ngoài nước là thuộc trách nhiệm của Đức Giám Mục,
dựa trên sự thống nhất cần có trong việc tổ chức hoạt động tông đồ của giáo phận. Mọi linh mục phải ở
trong tâm thế sẵn sàng và thích nghi theo chương trình của giáo phận hoặc của Hội Đồng Giám Mục và phải
tránh mọi cái nhìn tham vọng. Sau khi hoàn tất chu kỳ học, các ngài phải mau mắn trở về giáo phận và dấn
thân trong công việc được trao phó, đem thực hiện những gì đã học được và đừng nại vào trình độ mà đòi
những ưu đãi 728 .
26. Đời sống chung
26a. Dựa trên cơ sở hiệp nhất của linh mục đoàn và sự biểu lộ tình huynh đệ linh mục, đời sống chung
là đời sống mà Giáo Hội mạnh mẽ cổ võ nơi các linh mục giáo phận 729 . Đời sống đó giúp cho công việc tông
đồ được thực hiện trong tinh thần tập thể và nhất là giúp ích cho việc truyền giáo sơ khởi, vì như kinh
nghiệm cho thấy, công việc này khó lòng là công việc của một người 730 . Tùy theo khả năng và dựa theo
những khuôn mẫu của văn hoá địa phương, các vị Giám mục cố tìm ra những phương thế cụ thể để thực hiện
lối sống này, dù phải khắc phục những khó khăn về mặt tổ chức, và có khi cả những phản kháng về mặt tâm
lý. Nên nhớ rằng nếp sống chung tự nó không thể có ngay được, mà giả thiết có một tính mẫn cảm và một sự
chuẩn bị ngay từ trong chủng viện.
26b. Khi có nhiều linh mục cùng dấn thân phục vụ trong một giáo xứ, hết sức khuyên các ngài nên
sống chung một nhà thành một cộng đoàn. Giữa các linh mục phụ trách những cộng đoàn khác nhau nhưng
kế cận nhau, cũng nên thiết lập một nếp sống chung. Phải làm hết sức để tránh cho các linh mục, nhất là các
linh mục trẻ, khỏi phải ở cô đơn biệt lập trong một thời gian dài. Nếu tại một số vùng, vì lý do mục vụ, nhiều
linh mục phải sống đơn độc trong họ đạo mình, thì ít ra Đức Giám Mục phải cố gắng giúp các ngài duy trì
và phát triển tinh thần cộng đoàn bằng cách tổ chức những buổi gặp gỡ đều đặn, cùng ăn bữa huynh đệ theo
từng nhóm nhỏ hoặc ở cấp giáo phận.
26c. Đời sống chung không chỉ giới hạn vào phạm vi vật chất gặp gỡ ăn uống, mà thiết tưởng còn là
việc hiệp thông chia sẻ về tâm linh, mục vụ và nhân bản nữa. Do đó, các linh mục khi sống cộng đoàn cần
cầu nguyện chung với nhau, trao đổi những thông tin hữu ích, cùng nhau tổ chức và kiểm điểm về các hoạt
động tông đồ. Các ngài giúp nhau trau dồi, đổi mới đời sống trí thức, giúp đỡ nhau về mặt vật chất, và tuỳ
theo mức độ có thể, các ngài thực hiện nếp sống cộng đồng tài sản theo như chỉ thị của Đức Giám Mục. Các
ngài cùng nhau hưởng những giờ phút giải trí vui chơi; nâng đỡ nhau, khích lệ nhau khi gặp những khó khăn
liên quan tới ơn gọi, những lúc mỏi mệt chán nản và những lúc bệnh hoạn; và khi cần, các ngài cũng đừng
quên anh em khuyên bảo nhau 731 .
26d. Đời sống chung cũng làm cho dễ hoà hợp giữa các linh mục có nguồn gốc và tuổi tác khác biệt.
Các linh mục trẻ sẽ tìm thấy sự nâng đỡ khi bắt tay vào tác vụ mới nhờ những kinh nghiệm của đàn anh; còn
các vị đàn anh cũng gặp được sự cộng tác tích cực, sự khích lệ do lòng hứng khởi và sức năng động của đám
trẻ 732 .
26e. Để đời sống chung có được những hiệu quả tích cực, ở đâu có cộng đoàn linh mục, thì tối thiểu ở
đó phải có những điều kiện hỗ trợ sau đây:
Một người phụ trách, mà không nhất thiết phải là cha sở;
Sự phân chia phận vụ rõ ràng;
Tổ chức tài chính quy cũ rõ ràng;
Và một chương trình thực tế quy định giờ khắc chung sống trong ngày.
27. Đức vâng lời của Linh mục
27a. Trong những đức tính cần thiết hơn cả cho chức vụ linh mục, phải kể đến tâm trạng này là bao
giờ cũng sẵn sàng tìm ý muốn Đấng đã sai mình chứ không phải tìm ý riêng (x. Ga 4,34; 5,30; 6,38) 733 . Lý
do sâu xa của sự vâng lời này cốt ở thân phận linh mục như là công cụ cá biệt của Chúa Kitô và do đó phải
hoàn toàn hợp nhất với Người. Thật vậy, Chúa Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết
duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở
nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu
chết, chết trên cây thập tự (Pl 2,6-8). Nhờ sự vâng phục của Người, Người đã chuộc lại sự bất tuân của
Ađam và đem lại ơn cứu độ cho loài người (x. Rm 5,19).
27b. Hơn nữa, việc Phúc âm hoá người ngoài Kitô giáo phải được khởi sự và tiếp diễn bởi những linh
mục biết sống tinh thần vâng phục. Chúa Giê-su, Vị Thừa Sai tiên khởi hoàn thành ý muốn cứu độ của Chúa
Cha: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài (Dt 10,7). Cũng vậy, linh mục dấn thân vào việc tông đồ trong
sự vâng phục Chúa Kitô và Giáo Hội đã sai mình đi tiếp tục quy tụ các con cái Chúa ở khắp nơi (x. Ga
11,52).
27c. Đức vâng lời của các linh mục mang chiều kích Giáo Hội: đức vâng lời đó gắn liền với chức
thánh của các ngài, và việc thi hành chức vụ của các ngài chỉ có thể được thực hiện trong sự hiệp thông với
hàng giáo phẩm. Vì vậy, đức ái mục tử thôi thúc các linh mục “biết hy sinh ý riêng mình để phục vụ Chúa
và anh em, bằng cách đón nhận và thi hành những điều mà Đức Giáo Hoàng, Đức Giám Mục của mình và
các Bề trên khác truyền dạy và khuyên bảo” 734 .
27d. Đối với các linh mục, đức vâng lời tiên vàn là một tâm thế luôn sẵn sàng muốn vâng theo ý Chúa
qua trung gian của Giáo quyền. Chính tâm thế sẵn sàng đó giúp các linh mục vượt lên trên quan niệm
thường tình về Giáo quyền và quyền tự lập cá nhân. Nhưng tâm thế sẵn sàng đó cũng có nghĩa là trung thành
thi hành những quy tắc hành động, phù hợp với tư cách thành viên của linh mục đoàn, với vị trí của mỗi
người trong việc phục vụ có tính phẩm trật.
27e. Ngày nay, đức vâng lời của các linh mục phải được biểu lộ rõ nét đặc biệt trong những lãnh vực
sau đây:
Trung thành với huấn quyền của Giáo Hội: dựa trên căn tính Kitô hữu và linh mục, lòng trung thành
này phải biểu hiện cách cụ thể trong thái độ vâng phục huấn quyền của Đức Giáo Hoàng và Giám mục của
mình, chứ không thể tự cách lìa để theo những quan điểm không được nhìn nhận hoặc theo những xác tín
riêng. Lòng trung thành như vậy là rất cần để chính các linh mục trở nên những chứng nhân đích thực và
giảng dạy những điều phù hợp với chân lý mặc khải: Vị chủ chăn phải dẫn dắt và nuôi dưỡng đoàn chiên
bằng một giáo thuyết lành mạnh chứ không gây xáo trộn bằng những ý kiến hàm hồ hoặc sai lạc (x. 2 Tm
2,14; Tt 2,1).
27f. Sẵn lòng nhận những nhiệm vụ được giao: lòng trung thành của các linh mục với nhiệm vụ Phúc
âm hoá và mục tử, biểu lộ rõ hơn cả trong tâm thế sẵn sàng lãnh nhận nhiệm vụ do Đức Giám Mục uỷ thác
và trong sự trung thành hoàn thành nhiệm vụ. Tinh thần đức tin và ý thức thực tiễn về đức vâng lời làm cho
linh mục tránh việc khẩn cầu để được bổ nhiệm vào một chức vụ nào, để được đến một họ đạo nào, hoặc
tránh việc từ chối một công việc mục vụ mà Giám mục yêu cầu. Trước việc bổ nhiệm, các linh mục có thể
bày tỏ cách cởi mở những ý nghĩ của mình với Giám mục bằng đối thoại chân thành và thẳng thắn. Nhưng
một khi đã có quyết định, thì các linh mục chấp nhận vui vẻ, không phản kháng và sẽ cố gắng hoàn thành
nhiệm vụ. Nếu có linh mục nhận thấy rằng mình không mấy thích hợp với nhiệm vụ được trao nhân danh
đức vâng lời, thì đừng quên rằng một tâm thế tiêu biểu của linh mục triều, như là cộng tác viên của Giám
mục, luôn hàm ý cam kết vô điều kiện phục vụ Giáo Hội, do đó họ có thể được bổ nhiệm vào bất cứ nhu cầu
nào của giáo phận. Khi mãn thời hạn theo luật định, các linh mục sẽ đệ đơn từ chức lên Giám mục và sẵn
sàng rời nhiệm vụ.
27g. Tuân thủ mọi yêu cầu và quy tắc liên quan đến chức vụ linh mục: việc mục vụ trong một cộng
đồng Kitô hữu, cách riêng khi hiểu về một họ đạo, đòi hỏi linh mục phải thật trung thành trong việc hoàn
thành việc bổn phận và trong cách xử sự. Điều quan trọng hơn cả là về ý lễ: Giáo Hội đã quy định những
luật lệ mới trong Tân Giáo Luật 735 . Các linh mục phải tránh đừng để gây cảm tưởng là làm lễ vì lợi ích kinh
tế. Các linh mục đừng quên dâng thánh lễ cho những người quá nghèo mà không nhận bổng lễ.
Đàng khác, các linh mục phải tuân thủ những quy tắc chung và riêng của giáo phận về bổng lễ của các
lễ “binê” và về lễ “pro populo”. Mỗi linh mục phải ghi sổ lễ: những lễ đã nhận, ngày làm lễ, ý người xin và
lễ đã làm, ngay cả khi chuyển ý lễ cho linh mục khác. Trong mỗi họ đạo luôn phải có sổ lễ.
27h. Những sổ sách của họ đạo: đó là sổ Rửa Tội, sổ Thêm Sức, sổ Hôn Phối, sổ Tử và các hồ sơ khác
theo quy định của Hội Đồng Giám Mục hay của Giám mục, vì những sổ sách đó cần thiết cho giáo dân trong
vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Nhiệm vụ của cha sở là lo ghi chép cẩn thận và bảo quản
sổ sách kỹ càng. Hơn nữa, trong mỗi họ đạo, phải có tủ lưu trữ: sổ sách, hồ sơ, thư từ của Giám mục và các
văn thư quan trọng khác, phải được sắp xếp thứ tự và được cập nhật hoá 736 .
27i. Các linh mục phải mặc y phục giáo sĩ theo quy định của Hội Đồng Giám Mục và xứng hợp với
tập tục chính đáng 737 . Các linh mục đừng vì khinh thường mà bỏ qua “dấu bề ngoài” này, vì đó là dấu chỉ về
bậc sống mình lựa chọn và có thể giúp mình sống trung thành, đồng thời còn là một chứng tích cho giáo dân.
27j. Đối với các chủ chăn, việc cư trú tại nhiệm sở là một đòi buộc gắn liền với nhiệm vụ của mình.
Tuy nhiên, tuỳ theo huấn lệnh của Giám mục, hàng năm các linh mục có quyền và có bổn phận nghỉ ngơi
một thời gian vào lúc thuận tiện để bồi bổ sức khoẻ thể xác và tinh thần. Các linh mục cũng phải biết sắp
xếp để đảm bảo có một thời gian rãnh rỗi hàng tuần để bồi dưỡng tinh thần bằng sách báo thích hợp. Khi
phải rời xa xứ đạo trong một thời gian dài, trong trường hợp khẩn thiết, phải xin phép Giám mục và tìm
người thay thế để phục vụ họ đạo 738 .
28. Đức thanh bần và việc sử dụng của cải
28a. Giáo Hội đáp lại lời mời gọi đi theo con đường chính Chúa Giêsu đã đi: “Ngài đã hoàn thành việc
cứu chuộc bằng cách trải qua sự thanh bần và bị bách hại” (x. Pl 2,6-7; 2 Cr 8,9) 739 . Sự hoà hợp trung thực
trong đời sống giữa thanh bần theo tinh thần Phúc Âm và sự chọn lựa ưu tiên cho người nghèo là điều không
thể thiếu để cộng đồng Giáo Hội và các chủ chăn trở nên đáng tin dưới mắt người đời (196).
28b. Nhờ ơn của bí tích Truyền Chức Thánh, “các linh mục được mời gọi tình nguyện sống thanh bần
để nên giống Chúa Kitô một cách rõ ràng hơn và để sẵn sàng tận tuỵ hơn với chức vụ thánh” (197).
28c. Đối với các linh mục, đức thanh bần trước hết là sự lựa chọn triệt để nhận Chúa làm “gia nghiệp”
mình. Các linh mục sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14-16) và không tận dụng
thế gian (x. 1 Cr 7,31). Vì vậy, các linh mục phải biết sống trong mối tương quan đúng đắn với những thực
tại trần thế để tỏ rõ tinh thần siêu thoát, sự tự do trong việc sử dụng nó.
28d. Yêu mến đức thanh bần và sống thanh bần thật sự đòi hỏi nơi linh mục một số tư cách nhất định
trong vấn đề liên quan đến của cải cá nhân và của cải của Giáo Hội, trong tinh thần tôn trọng đức công bình
(198):
28e. Một sự bảo đảm về kinh tế: linh mục cần một sự bảo đảm về mặt kinh tế đời sống như những
người phục vụ bàn thờ (x. 1 Cr 9,13) để có thể an tâm lo chu toàn nhiệm vụ mà không phải quá bận tâm về
vấn đề sinh sống. Nguyên tắc truyền thống vẫn còn giá trị là họ đạo nơi linh mục phục vụ phải bảo đảm đời
sống vật chất cho linh mục. Hội Đồng Giám Mục có thể quy định những cách thức thiết thực về việc cấp
dưỡng cho các linh mục bằng quy định khoản nào thuộc về linh mục, khoản nào thuộc về Giáo Hội. Tuy
vậy, việc sử dụng của cải cá nhân tự nó phải phát xuất từ ý thức về đức thanh bần, từ lòng yêu chuộng đức
bác ái. Như thế cá linh mục thật sự sống “tinh thần của người lữ khách” ở trần gian. Về của cải mà linh mục
thu góp được do công việc lao động của mình, ngoài phần cần thiết cho nhu cầu sinh sống và lương bổng
tương xứng cho những người giúp việc, linh mục phải sử dụng phần thặng dư vì lợi ích cho họ đạo, cho
công việc bác ái từ thiện chứ đừng tích trữ cho riêng mình: Hãy luôn xác tín rằng địa vị giáo sĩ của mình
không phải là cơ hội để làm giàu.
28f. Một mẫu sống đơn giản: với lòng tri ân Thiên Chúa quan phòng, các linh mục phải sử dụng đúng
đắn những của cải vật chất để sống cách xứng đáng, nhưng phải giản dị, để tỏ lòng không dính bén của cải,
linh mục phải tránh dùng những gì làm cho người ta có cảm tưởng là giàu có xa hoa. Nhờ cách sống như
vậy, các linh mục có thể giảng dạy cho giáo dân một cách xác tín ý nghĩa Kitô giáo về của cải trần thế và
cách sử dụng của cải như chính các linh mục đã nêu gương.
28g. Ở một số nơi, trở thành linh mục thực tế có nghĩa là bước lên một địa vị quan trọng trong xã hội.
Tình trạng này thực tế vẫn tồn tại mặc dù ngoài ý muốn, nhưng đừng để tạo nên khoảng cách giữa linh mục
và môi trường sống chung quanh. Chính vì thế mà cung cách sống của linh mục phải trở nên chứng tá Tin
Mừng cứu độ chứ đừng sống xa cách người nghèo: các linh mục phải sống thật giản dị trong việc sử dụng
tiền bạc, cũng đừng coi nhẹ những việc tay chân, chẳng hạn như sửa chữa lặt vặt các dụng cụ trong nhà hay
chăm sóc vườn tược, v.v… nhưng đừng để mất nhiều thời giờ làm phương hại đến việc thi hành tác vụ linh
mục. Các linh mục phải tự chế trong việc sắm sửa những gì không cần thiết, nhất là cái xem ra dư thừa. Phải
luôn duy trì tiêu chuẩn của một đời sống giản dị trong việc sắp xếp nhà cửa, mua sắm tủ giường, quần áo, xe
cộ, cả phương tiện “nghe nhìn”. Cũng phải tránh đi nghỉ ở những nơi đặc biệt và tốn kém. Phải biết sử dụng
thời giờ và trung thành với công việc. Tất cả những đòi hỏi đó đều do tinh thần thanh bần và để đến với
người nghèo mà không gây khó chịu cho họ.
28h. Trách nhiệm quản trị: ý thức rằng tài sản của họ đạo là của Giáo Hội, chứ không phải là của cải
riêng, linh mục phải liệu sao để quản trị của cải đó một cách công bằng và hợp lý, luôn phù hợp với mục
đích của nó: nghĩa là dùng vào việc tổ chức và cổ võ việc phụng vụ, hoạt động tông đồ, cấp dưỡng cho các
chủ chăn và giúp đỡ những người thiếu thốn. Cần phân biệt rõ ràng, theo tiêu chuẩn của địa phận, đâu là của
riêng đâu là của Giáo Hội. Phải luôn nhớ rằng những của cải thuộc về Giáo Hội không được dùng để làm lợi
cho đệ tam nhân, dù đó là cha mẹ hay bạn hữu. Trong việc quản trị tài sản của họ đạo và các hoạt động mục
vụ, các linh mục cần có người thông thạo giúp đỡ, có thể là giáo dân. Nên có hội đồng quản trị tài sản. Hội
đồng này sẽ báo cáo thường kỳ về tình hình kinh tế của họ đạo một cách công khai và khôn khéo, và tường
trình về việc quản lý một cách thứ tự và chính xác, theo chỉ thị của Giám mục.
28i. Tự túc về kinh tế – xin trợ giúp tài chính: về mặt kinh tế, mục tiêu của một cộng đoàn họ đạo là
tiến tới tự túc. Các linh mục phải giáo dục giáo dân về những nhu cầu của Giáo Hội, và về việc biết chia sẻ
giúp đỡ những người đang thiếu thốn. Khi cần cũng có thể xin trợ giúp bác ái giữa các cộng đoàn. Tuy
nhiên, các linh mục phải tế nhị trong việc xin của dâng cúng và phải dùng của cải đó đúng theo ý người
dâng. Khi của dâng cúng không xác định mục tiêu, phải hiểu của cải đó được dâng cúng cho nhu cầu của họ
đạo hay cho việc bác ái. Các linh mục phải rất thận trọng khi xin cũng như khi nhận của dâng cúng từ những
người giàu có, thế lực để tránh nguy cơ bị lệ thuộc trong việc thi hành chức vụ của mình.
28j. Những bảo đảm khi đau bệnh và tuổi già: các linh mục phải đóng bảo hiểm xã hội theo luật định,
cho trường hợp đau bệnh, tai nạn hay hưu dưỡng. Ở những nơi không có các tổ chức này, Giáo Hội địa
phương phải có sáng kiến thành lập những tổ chức tương tế cấp giáo phận hay cấp Hội Đồng Giám Mục.
Cũng cần lưu ý nên có nhà hưu dưỡng để các linh mục nghỉ hưu an tâm dưỡng già nhờ được phục vụ chu
đáo và sống trong bầu khí an lành thấm tình huynh đệ. Trong viễn tượng đó, các linh mục cần quan tâm đến
sức khoẻ của mình: biện pháp phòng ngừa là nên khám sức khoẻ định kỳ và phải thận trọng phòng ngừa
những chứng bệnh truyền nhiễm, đặc biệt ở những nơi thiếu điều kiện vệ sinh.
28k. Chúc thư: một trong những bổn phận liên quan đến đức công bình và đức thanh bần là linh mục
phải làm chúc thư cho biết rõ ý mình và lưu giữ tại Toà Giám Mục. Cần nhắc lại rằng chúc thư chỉ nói về
của cải riêng, chứ không được quyền định đoạt về của nhà thờ, của Giáo Hội. Các linh mục nên nghĩ đến lợi
ích của Giáo Hội và cho người nghèo sau khi mình qua đời, chứ đừng để của cải mình sang tay kẻ khác và
làm giàu cho họ.
29. Đức khiết tịnh vì Nước Trời trong bậc sống độc thân
29a. Sự tiết dục hoàn toàn và vĩnh viễn vì Nước Trời, mà Chúa Giêsu đã khẩn thiết kêu mời (x. Mt
19,22), “Giáo Hội luôn coi đó là điều thật thích đáng cho chức linh mục”. Trong hoàn cảnh xã hội buông thả
như hiện nay, các linh mục cần phải kiên định về ơn gọi sống khiết tịnh hoàn toàn trong bậc sống độc thân.
Các linh mục được thánh hiến cho Thiên Chúa với một danh hiệu mới mẻ và tuyệt hảo, nhờ đó được kết hợp
với Chúa dễ dàng hơn “với một trái tim không chia sẻ” (x. 1 Cr 7,32-34), tận hiến cách tự do hơn để phục vụ
anh em cách hữu hiệu hơn và như thế các ngài càng thích đáng lãnh nhận “một cách bao quát hơn chức vụ
làm cha trong Chúa Kitô” (199). Điều cần thiết là phải sống đức khiết tịnh một cách tích cực như một ân huệ
chứ không chỉ coi như một luật cấm cản.
29b. Đức khiết tịnh hoàn hảo trong bậc sống độc thân trước hết là một ân huệ Chúa Cha ban cho
những kẻ cầu xin Người một cách kiên trì, phó thác và khiêm tốn. Một khi xác tín rằng bí tích Truyền Chức
không thể che chở an toàn khỏi mọi cám dỗ và thử thách, và xác tín rằng đức khiết tịnh vì Nước Trời không
phải là đạt tới cái một là xong, nhưng đòi hỏi sự chiến đấu dằn dai mỗi ngày (200), các linh mục phải biết sử
dụng những phương thế để có thể giữ mình. Đừng khinh thường những thực hành truyền thống đã được nhìn
nhận là hữu hiệu trong lãnh vực này.
29c. Thành khẩn với Chúa và với chính mình: trước hết, phải có can đảm trở nên trong sáng trước
Thiên Chúa và trước lương tâm để nhận chân những xu hướng, đôi khi những khó khăn và sa ngã. Biết mình
cách chính xác sẽ giúp phân biệt rõ những ngõ ngách của đời mình để biết đâu là chỗ cần củng cố, đâu là
chỗ phải sửa đổi. Lòng thành khẩn với Chúa sẽ mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa, thêm vững lòng tin và
đầy hoan lạc vì được nên linh mục của Chúa.
29d. Sử dụng những phương thế thích đáng: kinh nghiệm dạy cho biết phải cậy dựa vào những
phương thế tự nhiên và siêu nhiên một cách đúng đắn để có thể sống trung thành trong bậc sống độc thân. Vì
vậy, các linh mục phải nhắc nhớ mỗi ngày rằng mình thuộc trọn về Chúa Kitô, đồng thời cũng phải luôn cầu
xin ơn trung thành và ơn bền vững đến cùng. Các linh mục hãy biết phó thác trái tim mình cho Mẹ Maria,
Nữ Vương các kẻ đồng trinh. Thêm nữa, phải sống hãm mình nhờ đó mà biết tự kiềm chế và có thể vượt
thắng những khó khăn.
29e. Đối với các linh mục, sự trưởng thành nhân bản là một điều kiện không thể thiếu để có thể sống
đời sống khiết tịnh. Vì vậy các linh mục phải luôn cảnh giác về mặt tình cảm của mình. Nếu cần, phải bàn
hỏi với ngừơi chuyên môn, tốt hơn là với các linh mục khác. Cần duy trì tình bạn với các anh em linh mục
và ham thích sống cộng đoàn cùng các anh em linh mục khác, nên tránh sống biệt lập quá lâu. Đừng bao giờ
liều mình trong những dịp nguy hiểm. Phải sống tiết độ trong việc ăn uống, cũng như việc dùng rượu và
thuốc lá. Phải thận trọng trong việc đọc sách báo, phim ảnh, các phương tiện nghe nhìn cùng các hình thức
giải trí có tính cách nhẹ dạ phóng túng. Cần phải lưu ý về sự tương phản thường có trong một vài trường hợp
giữa sống độc thân và cách tổ chức đời sống gia đình, bộ tộc. Linh mục phải trung thành với những cam kết
của mình và trong trường hợp như thế thì cần giải thích ý nghĩa đích thật của sự lựa chọn bậc sống.
29f. Giao tiếp với phụ nữ: trong việc giao tiếp với phụ nữ, một thái độ tế nhị là điều cần thiết vì tư
cách linh mục đòi hỏi, đồng thời cũng vì tính nhạy cảm nơi những người mình gặp gỡ (201): điều đó cũng
đúng trong quan hệ với các nữ tu, là những người gần cận với linh mục lại có nhiều tương đồng về đời tu và
lý tưởng tông đồ. Vì bổn phận đòi buộc phải có những quan hệ lành mạnh với mọi phụ nữ, phải gặp gỡ họ
trong các công tác tông đồ, các linh mục cần tránh để ý riêng cùng tất cả những gì có thể dẫn đến những tiếp
xúc không bình thường và có thể làm giảm tự do thực sự của con tim.
29g. Tùy theo tập tục và văn hoá địa phương, các linh mục cần tránh tất cả những gì có thể gây nghi
ngờ, làm xôn xao trong giáo dân và làm giảm uy tín của linh mục, như gặp gỡ riêng tư lâu giờ, cho vào
phòng riêng, tặng quà, cùng du hí du ngoạn với nhau, v.v… Về những cách cư xử loại này, không phải chỉ
căn cứ vào lương tâm là đủ, mà phải theo quy tắc chung của thánh Phaolô đã đề xướng: Phần chúng tôi,
chúng tôi chẳng làm gì gây cớ cho ai vấp phạm, để không người nào có thể đàm tiếu về công việc phục vụ
của chúng tôi (2 Cr 6,3; 8,21). Còn đối với các phụ nữ giúp trong nhà xứ, phải theo quy định của Giám mục
hay của Hội Đồng Giám Mục.
30. Về những quan hệ với gia đình và cha mẹ
30a. Những quan hệ tình nghĩa với gia đình mang một giá trị rất quan trọng đối với một linh mục:
thường đó là một trợ lực tự nhiên cho đời sống linh mục. Nhưng ở mọt số nơi, mối quan hệ giữa linh mục và
gia đình trở nên vấn đề gay gắt: nó bao hàm không những phương diện nhân bản và tình cảm, nhưng còn
phương diện kinh tế và những đòi hỏi công bằng. Linh mục phải sống tinh thần Phúc Âm trong quan hệ với
những người thân và phải giúp đỡ họ, nhưng đừng để mất sự tự do cần thiết cho chức vụ của mình.
30b. Phải giáo dục các gia đình Công giáo biết quý trọng ơn gọi linh mục nơi con cái họ như một ân
huệ của Chúa cho cộng đoàn, và biết chia sẻ lý tưởng tông đồ của các ngài nhưng không dây mình vào công
việc mục vụ của các ngài. Về phương diện kinh tế, các linh mục với tư cách là con, với lòng hiếu thảo phải
giúp đỡ mọi phần tử trong gia đình, đặc biệt là cha mẹ khi lâm cảnh thiếu thốn. Nhưng luôn luôn phải kín
đáo và đừng lấy của Giáo Hội về làm giàu cho họ. Cũng đừng sử dụng người thân trong việc quản trị tài sản
họ đạo. Phải dành sự tiếp đón ân cần đối với những người thân trong gia đình, nhưng đừng đem họ vào sống
chung trong nhà xứ, nhất là khi họ là số đông. Các linh mục cũng cần để ý đừng để những cuộc thăm viếng
của họ hàng diễn ra đều đều và ở lại lâu ngày có thể ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động tông đồ của mình.
31. Về nghĩa vụ công dân
31a. Là công dân của một nước, các linh mục có nghĩa vụ hiện diện tích cực và năng động, góp phần
kiến tạo và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp cho quê hương trần thế theo tinh thần Phúc Âm và theo học
thuyết xã hội của Giáo Hội.
31b. Với tư cách là chủ chăn, các linh mục phải ý thức nghĩa vụ của mình là làm hết sức có thể để cổ
võ việc duy trì một nền hoà bình và hoà hợp giữa mọi người trên nền tảng công bình (202). Các linh mục
phải nêu gương cho các tín hữu trong việc giữ gìn trật tự và tuân thủ luật pháp Nhà nước. Nhưng các linh
mục luôn phải dành cho mình quyền tự do chính đáng để thực hành chức năng linh mục phù hợp với quyền
căn bản và bất khả nhượng của Giáo Hội. Trong việc bảo vệ những quyền chính đáng này cũng như việc
khẳng định quyền tự chủ của Giáo Hội, các linh mục phải hành động trong sự thống nhất với Giám mục của
mình. Còn việc tham gia tích cực vào đời sống xã hội với tư cách công dân, Giáo Hội đòi hỏi các linh mục
phải biết xử sự cho phù hợp với cương vị mình và tránh những hoạt động làm phương hại đến uy tín của chủ
chăn.
31c. Đây là những lãnh vực, theo Giáo Luật quy định, cần phải chú ý đặc biệt và được Giáo Luật quy
định rõ ràng: cấm các giáo sĩ đảm nhận những chức vụ công quyền có kèm theo việc hành xử quyền bính
dân sự. Nếu không được phép của chính Bản quyền, giáo sĩ không được đảm nhận quản lý tài sản thuộc giáo
dân, hoặc những chức vụ trần thế kèm theo nghĩa vụ phải kế toán sổ sách. Cũng không được làm bảo chứng,
dù là dựa vào tài sản của riêng mình. Cũng phải tránh không nên cam jết những khế ước buôn bán qua đó
phải chi tiền mà không định rõ lý do. Cấm các giáo sĩ không được đích thân hoặc nhờ người khác thi hành mậu
dịch, doanh thương nhằm kiếm lợi cho chính mình hoặc cho người khác. Các giáo sĩ không được tham gia tích
cực vào các đảng phải chính trị hoặc vào các nghiệp đoàn (203).
31d. Khi lợi ích của Giáo Hội hay xã hội đòi hỏi phải có linh mục đảm nhận một trong những hoạt động
trên, Giám mục cho phép trong một thời gian hạn định hợp với nguyên tắc của Hội Đồng Giám Mục, sau khi
đã tham khảo ý kiến của Hội Đồng Linh Mục.
32. Bồi dưỡng (huấn luyện thường xuyên)
32a. Tâm tính con người biến đổi, đời sống Kitô hữu và linh mục tăng trưởng, khoa học đạo đời ngày
một tiến bộ, nhu cầu phải thích ứng để bắt kịp nhịp tiến của xã hội, tất cả những điều đó đòi hỏi các linh mục
phải luôn học hỏi thêm. Bổn phận học hỏi này liên quan tới mọi chiều kích của cuộc sống: nhân bản, thiêng
liêng, linh mục, giáo thuyết, tông đồ và nghề nghiệp.
32b. Việc bồi dưỡng về mặt nhân bản là điều thiết yếu đối với linh mục để có thể vững vàng khi phải
hoà nhập một cách thích đáng vào đời sống xã hội, để biết phân biệt những giá trị và những khuyết điểm, để
tạo quan hệ tích cực với người đương thời, để hiểu được đà tiến hoá và để có khả năng nhận định một cách
nghiêm túc về các thực tại.
32c. Việc bồi dưỡng phải đặt trọng tâm vào đời sống thiêng liêng, đời sống linh mục và hoạt động tông
đồ: như về ơn gọi linh mục, sống với Chúa, bước theo Chúa Kitô, cải hoá tâm hồn, đổi mới phương pháp mục
vụ, bao nhiêu khía cạnh của đời sống đòi hỏi linh mục phải quan tâm, phải có sức tăng tiến hoà nhịp với sự
canh tân mà Chúa Thánh Thần đang khơi dậy trong Giáo Hội. Các linh mục phải ý thức rằng bổn phận tu
luyện trước hết liên quan đến “tính thể linh mục”, nghĩa là chính đời sống thiêng liêng và tông đồ phải tăng
triển không ngừng nhắm tới sự thành đạt lý tưởng cao cả là sự trọn lành của đời sống linh mục (204).
32d. Các linh mục phải xác tín về bổn phận phải học hỏi liên tục suốt cuộc đời, như học hỏi để nuôi
dưỡng lòng đạo đức, để sống thâm giao với Chúa, để sinh lợi cho công việc tông đồ. Phương cách bồi dưỡng
bao hàm việc sử dụng những phương tiện thích đáng như dự lớp, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm… với sự
kiên tâm và xác tín rằng, không bao giờ mình hoàn tất việc cập nhật hoá.
32e. Việc bồi dưỡng phải tuỳ theo địa vị và tuổi tác. Trong những năm đầu sau ngày chịu chức, và đặc
biệt khi được bổ nhiệm lần đầu hay khi thay đổi nhiệm vụ, các linh mục phải được giúp đỡ và chính các ngài
phải tập làm quen với môi trường mới, công việc mới, nhờ một linh mục đã từng trải giúp đỡ. Không bao giờ
trao phó một nhiệm vụ mới cho một linh mục chưa được chuẩn bị thích đáng. Các địa phận cần phải có một tổ
chức thích hợp nhằm mục đích này, đặc biệt cần cho các linh mục trẻ và trong những năm đầu của đời linh
mục.
32f. Ở giai đoạn thuần thục, các linh mục cũng cần có một thời gian dài dành cho việc “tái huấn”, có thể
coi đó là “năm ngưng nghỉ” (année sabbatique), đồng thời để kiểm điểm cách nghiêm túc về cuộc sống cá
nhân và hoạt động tông đồ của mình. Những giai đoạn khác của cuộc đời cũng đòi hỏi linh mục một cố gắng
canh tân và thích nghi: chẳng hạn khi bệnh hoạn, lúc già yếu, khi phải thay đổi nhiệm vụ hay khi phải giới hạn
hoạt động. Các linh mục phải được hỗ trợ trong những hoàn cảnh đặc biệt ấy, nhờ Giám mục và các đồng bạn
linh mục quan tâm, săn sóc và giúp đỡ vật chất theo sự cần thiết.
32g. Sau hết, linh mục phải luôn sẵn sàng dọn mình chết như chuẩn bị cho cuộc gặp Chúa Kitô vinh hiển
mà mình mến yêu trên hết mọi sự và phụng thờ một cách quảng đại và trung thành: Nào những kẻ Cha Ta
chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi… (Mt 25,34).
33. Tính thống nhất, hài hoà và nhiệt thành trong đời sống Linh mục
33a. Những đòi hỏi đối với đời sống linh mục thì phức tạp và bức xúc. Đó là những bổn phận, những đòi
buộc, như là việc cầu nguyện, việc tông đồ, việc học hỏi, nghỉ ngơi, giao tiếp với mọi người… Phải khen ngợi
các linh mục biết sắp xếp chương trình sống qua những công việc bề bộn hàng ngày và luôn cố gắng trung
thành. Một chương trình sống như thế không được làm giảm thiểu tự do và sáng kiến, cũng không được gò bó
trong những khuôn khổ cứng ngắc gây trở ngại cho công việc mục vụ. Trái lại nó phải giúp làm việc có
phương pháp, tránh được những công việc do ngẫu hứng mà bỏ qua việc bổn phận quan trọng. Với mục đích
ấy, chương trình sống này cần nhắm đến cái chính yếu theo thứ tự và có chừng mực sau khi cân nhắc kỹ càng
những bổn phận các loại.
33b. Dù sao, để đạt được sự thống nhất và hài hoà trong đời sống linh mục, không phải chỉ có chương
trình cụ thể trong hoạt động mục vụ, trong đời sống cầu nguyện hay trong các hoạt động khác đã là đủ. Nhưng
cần phải đi vào chiều sâu, tìm tới cốt lõi của căn tính linh mục là chính con người của Chúa Kitô mà linh mục
là kẻ thừa hành. Để đạt tới sự thống nhất và hài hoà cho đời sống này, các linh mục phải “kết hợp với Chúa
Kitô trong sự nhận biết thánh ý Chúa Cha và trong sự hiến thân cho đoàn chiên đã trao phó cho các ngài” (x.
Ga 3,16) (205).
33c. Trước hết, chính bí tích Thánh Thể là nguồn mạch của đức ái mục tử. Vì chỉ có đức ái mục tử mới
có khả năng thực hiện sự thống nhất và hài hoà trong đời sống và hoạt động của các linh mục, thôi thúc từ bên
trong lòng nhiệt thành tông đồ mà không có gì ngăn cản nổi. Chỉ khi nào linh mục là “con người của thiêng
thánh” thì linh mục mới có thể là “người vì mọi người”.
33d. Do đó, lòng nhiệt thành tông đồ là kết quả tất nhiên của tính linh mục cũng như của sự đáp trả cách
quảng đại hồng ân đã lãnh nhận. Cũng như thánh Phaolô, mỗi linh mục phải có thể nói: Tôi sống, nhưng
không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi (Gl 2,20), Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người (1 Cr
9,22b), Trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em (1 Cr 4,15), Khốn thân tôi nếu tôi
không rao giảng Tin Mừng! (1 Cr 9,16). Lòng nhiệt thành tông đồ, một thôi thúc từ bên trong, một xác tín sâu
xa, được diễn đạt ra trong việc dấn thân cho công việc truyền giáo, trong hoạt động mục vụ không biết mệt
mỏi, trong tâm thế mở rộng và quan tâm đến mọi người, nhất là những người cùng khổ. Lòng nhiệt thành tông
đồ đối với linh mục là sự thúc bách nội tại từ chính “tính thể” của con người được hiến thánh. Tất cả mọi linh
mục phải đạt tới sự thống nhất và hài hoà tuyệt vời này giữa đời sống hiến thánh và đời sống truyền giáo.
Các linh mục phải chạy đến với Mẹ Maria, một mẫu gương đơn sơ và hấp dẫn: chính Mẹ đã biết hoà hợp
và sống trọn vẹn cho sứ mạng của Chúa Giêsu trong tình mẫu tử: “Đời sống của Đức Trinh Nữ là một gương
sáng của tình mẫu tử thắm thiết, tình mu tử ấy phải là động lực cho tất cả những ai cộng tác vào sứ mệnh tông
đồ của Giáo Hội để tái sinh nhân loại” (206).
Thật vậy, Mẹ Maria, đã đón nhận với đức tin và đức mến (x. Lc 1,38), đã suy niệm trong lòng (x. Lc
2,19.51) và đã ban cho nhân loại chính Con mình là Chúa Giêsu, Mẹ luôn là nguồn linh ứng bất tận và là sự trợ
giúp hữu hiệu cho các linh mục, để các ngài thực hiện trong thế gian ước vọng mãnh liệt của Đấng đã mời gọi
và đã sai các ngài: Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!
(Lc 12,49).
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong cuộc tiếp kiến dành cho Đức Hồng Y Chủ tịch ký tên dưới đây,
ngày 1 tháng 9 năm 1989, đã chấp thuận Bản Chỉ Nam Linh Mục hướng dẫn đời sống mục vụ này, và đã quyết
định cho ban hành.
Rôma, từ trụ sở Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm cho các dân tộc, ngày 1 tháng 10 năm 1989, lễ thánh
Têrêxa Hài Đồng Giêsu, bổn mạng các xứ truyền giáo.
JOSEF CARD. TOMKO
Chủ tịch
JOSÉ SANCHEZ
Tổng Giám Mục danh dự
giáo phận Nueva Segovia
Thư ký
Chữ tắt:
Vat II.: Công Đồng Vaticanô II
AG: Ad Gentes
LG: Lumen Gentium
PO: Presbyterium Ordinis
CD: Christus Dominus
UR: Unitatis Redintegratio
SC: Sacrosanctum Concilium
Pl. VI: Đức Phaolô VI
GP II: Đức Gioan – Phaolô II
AA: Apostolicam Actuositatem
DV: Dei Verbum
CIC: Giáo Luật
GS: Gaudium et Spes
BỘ GIÁO SĨ
CHỈ NAM
CHO THỪA TÁC VỤ
Và ĐỜI SỐNG LINH MỤC- 1994
DẪN NHẬP
Trách nhiệm đối với “việc Phúc âm hóa mới” trong thiên niên kỷ thứ ba, trước tiên thuộc về các Linh
Mục. Tuy nhiên, để có thể thực hiện trọng trách ấy, các ngài cần phải nuôi dưỡng nơi chính bản thân, Một
đời sống khả dĩ phản ảnh cách tinh tuyền căn tính Linh Mục, và cần sống hiệp nhất tình yêu với đức GiêSu
Kitô. Linh Mục Thượng Phẩm và đời đời. Đầu, Thầy dậy, Hôn Phu và Mục Tử của Giáo Hội, đồng thời phải
nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng vá thừa tác vụ của các ngài bằng một sự huấn luyện thường xuyên.
Kim chỉ nam này ra đời để đáp ứng những đòi hỏi đó, thể theo thỉnh cầu của một số đông Giám Mục
tham dự Thượng Hội Đồng năm 1990 và trong dịp tham khảo ý kiến hàng Giám Mục do Bản Bộ khởi
xướng.
Để soạn khảo tài liệu này, chúng tôi đã lưu tâm đến những gợi ý của hàng Giám Mục trên thế giới
cũng như nhữnf ý kiến được đưa ra trong cuộc họp toàn thể của Thánh Bộ Giáo Sĩ diễn ra tại Vatican vào
tháng 10 năm 1993, và cuối cùng là những suy tư của nhiều nhà thần học, giáo luật và chuyên gia về đề tài
này, xuất phát từ nhiều vùng địa phương khác nhau và đang làm việc trong những môi trường mục vụ hiện
nay.
Chúng tôi đã tìm cách đề xướng những yếu tố thực tiễn có thể dùng làm sáng kiến cho việc thống nhất
hành động. Tuy nhiên, chúng tôi cũng tránh đi sâu vào chi tiết, những chi tiết mà chỉ những thực hành hợp
pháp ở các địa phương và những điều kiện thực tế ở mỗi giáo phận, hay mỗi Hội Đồng Giám Mục mới có
thể đề xuất cho các mục tử biết dự vào sự khôn ngoan và nhiệt thành mà tuy nghi sử dụng. Vì bản chất của
tài liệu này là Kim Chỉ Nam, nên trong hoàn cảnh hiện nay, chỉ cần gợi lại nhưng căn bản Giáo Lý góp
phần vào việc xây dựng căn tính, Linh đạo và việc đào tạo thường xuyên của các Linh Mục.
Do vậy, tài liệu này không nhắm trình bày cặn kẽ về chức Linh Mục, cũng không đơn thuần lặp lại
những gì mà Huấn Quyền của Giáo Hội đã chính thức phán dạy. Nó nhằm trả lời những vấn nạn chính yếu
thuộc phạm vi Giáo Lý, kỷ luật và mục vụ đang được đặt ra cho các Linh Mục trước những thách thức của
công cuộc Phúc Âm hóa mới.
Vì thế, chẳng hạn chúng tôi đã muốn minh định rằng căn tính đích thực của Linh Mục, như Thầy Chí
Thánh mong ước và Giáo Hội luôn sống theo, là không thể dung hợp với những khuynh hướng nhằm hủy bỏ
hoặc làm trống rỗng nội dung của thực tại chức Linh Mục thừa tác. Chúng tôi muốn mặc một tầm quan trong
đặc biệt cho chủ đề đặc thù về sự hiệp thông, được coi như là một đòi hỏi bức thiết ở thời buổi hiện nay, xét
theo ảnh hưởng của nó trên đời sống Linh Mục. Chúng tôi cũng có thể nói tương tự như vậy về đời sống
thiêng liêng Linh Mục đang gánh chịu những hậu quả của sự phát triển phong trào tục hóa và của một nhân
loại học sai lạc ngày nay. Sau cùng, xem ra cần thiết phải trình bày một số lời khuyên cho việc huấn luyện
thường xuyên, nhằm giúp các Linh Mục sống ơn gọi của mình trong niềm vui và trách nhiệm.
Bản văn này dĩ nhiên, qua các Giám Mục, được dành cho các Linh Mục trong Giáo Hội theo nghi lễ
Latinh. Những chỉ dẫn trong sách đặc biệt liên quan tới các Linh Mục Triều, tuy nhiên các Linh Mục dòng
và các Hiệp Hội Truyền Giáo cũng cần lưu tâm áp dụng với một vài sự thích nghi cần thiết. Chúng tôi mong
Kim Chỉ Nam này sẽ giúp mỗi Linh Mục đào sâu căn tính của chính mình và phong phú hoá đời sống thiêng
liêng; khích lệ Linh Mục trong việc thi hành thừa tác vụ và trong việc huấn luyện thường xuyên.
Vì chính Linh Mục phải là tác nhân đầu tiên. Ngoài ra Kim Chỉ Nam còn có thể dùng để tham khảo
trong việc Tông Đồ bao la và đích thực. Hầu mưu ích cho Giáo Hội và toàn thế giới.
Làm tại Thánh Bộ Giáo Sĩ, thứ Năm tuần Thánh 1994.
Đức Hồng Y JOSE T. SANCHEZ
Chưởng Ấn
* CRESCENZIO SEPE
Tổng Giám Mục Hiệu Toà Grado
Thư Ky
CHƯƠNG I
CĂN TÍNH LINH MỤC
Chức Tư Tế Như Một Ân Huệ
1. Toàn thể Giáo Hội thông phần vào việc xức dầu tư tế của Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần. Thật vậy,
trong Giáo Hội “mọi tín hữu làm thành một giới tư tế thánh thiện và vương giả để nhờ Đức Giêsu Kitô họ
hiến dâng lên Thiên Chúa những lễ tế thiêng liêng và tuyên xưng quyền năng của Đấng đã gọi họ từ chốn tối
tăm đến ánh sáng diệu kỳ ”(x. 1 Pr 2.5.9) 740 . Trong Đức Kitô, tất cả Thân Thể Mầu Nhiệm được kết hiệp với
Chúa Cha nhờ Chúa Thánh Thần, nhằm cứu rỗi mọi người.
Tuy nhiên Giáo Hội không thể một mình hoàn thành sứ mạng này: mọi hoạt động của Giáo Hội tư bản
chất đều cần sự hiệp thông với Đức Kitô là đầu của Thân Thể, nhờ liên kết một cách bất khả phân với Chúa
của mình. Giáo Hội luôn nhân được An sủng và Chân lý, quản trị và nâng đỡ, để trở nên cho mọi người và
mỗi người “dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân
loại” 741 .
Chức tư tế thừa tác tìm được lý do hiên hữu trong viễn tượng kết hợp cốt tử giữa Giáo Hội với Chúa
Kitô. Thật vậy, nhờ thừa tác vụ này, Chúa tiếp tục thực hiện giữa dân Ngài những phận vụ chỉ thuộc về Ngài
với tư cách là Đầu của Thân Thể Ngài. Do đó, chức tư tế thừa tác làm cho họat động cá biệt của Đầu trở
nên có thể dụng chạm được và chứng tỏ rằng không hề bỏ Giáo Hội, mà trái lại, Ngài tiếp tục thông ban sự
sống nhờ chức tư tế muôn đời của Ngài. Vì lẽ đó, Giáo Hội xem chức tư tế thừa tác như một ân huệ được
trao ban cho mình trong thừa tác vụ của một số tín hữu.
Ân huệ này, do thiết lập để tiếp tục công trình cứu rỗi của Ngài, được trao cho các Tông Đồ trước
tiên, rồi tiếp tục hiện hữu trong Giáo Hội qua những Đấng kế vị các Ngài là các Giám Mục.
Căn nguyên Bí Tích
2. Do Bí Tích Truyền Chức, được thể hiện thông qua việc đặt tay và kinh thánh hiến của Giám Mục, phát
sinh nơi con người Linh Mục “ một mối dây hữu thể đặc thù nối kết Linh Mục với Đức Kitô là Linh Mục
Tối Cao và Đấng Chăn Chiên nhân lành” 742
Do đó, căn tính của Linh Mục bắt nguồn tư việc thông phần đặc thù vào chức Tư Tế của Đức Kitô,
làm cho Linh Mục trở nên cho Giáo Hội và trong Giáo Hội hình ảnh chân thực, sống động và trong suốt của
Linh Mục “một biểu tượng mang tính Bí Tích của Đầu và Chủ Chăn” 743 . Nhờ việc thánh hiến Linh Mục
“được trao ban một quyền thiêng liêng, thông phần vào quyền bính mà Đức Giêsu Kitô sử dụng để hướng
dẫn Giáo Hội, nhờ sự Thánh Thần của Ngài” 744 .
Sự đồng nhất có tính cách Bí Tích với Linh Mục Thượng Phẩm và đời đời, đưa Linh Mục vào trong
mầu nnhiệm Ba Ngôi một cách đặt thù, và qua mầu nhiệm, vào trong sự hiệp thông có tính cách thừa tác với
Giáo Hội để phục vụ Dân Thiên Chúa 745 .
CHIỀU KÍNH BA NGÔI.
Hiệp thông với Chúa Cha Chúa Con và Thánh Thần
3. Nếu thật sự mọi Kitô hữu, nhờ Bí Tích Rửa Tội, mà được thông với Thiên Chúa Duy Nhất và Tam Vị.
Thì thật sự cũng nhờ việc thánh hiến trong Bí Tích Truyền Chức mà Linh Mục thông hiệp cách riêng biệt và
đặc thù với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thật vậy, “căn tính của chúng ta có nguồn gốc tối
hậu trong đức ái của Chúa Cha. Chúng ta được kết hợp với Chúa Con, được Linh Mục tối cao và chủ Chăn
nhân lành sai đi. Nhờ chức tư tế thừa tác, bởi hành động của Chúa Thánh Thần, đời sống và thừa tác vụ của
Linh Mục là sự nối tiếp đời sống và hoạt động của Đức Kitô. Đó chính là căn tính, Phẩm giá đích thực,
nguồn mạch niềm vui và bảo đảm của đời sống chúng ta” 746 .
Như thế, căn tính, thừa tác vụ và sự hiên hữu của Linh Mục từ bản chất có tương quan với Ba Ngôi
Thiên Chúa, nhằm phục vụ Giáo Hội trong chức Linh Mục.
Trong tác động cứu chuộc của Ba Ngôi
4. “Như sự nối dài hữu hình và Bí Tích của Đức Kitô, và trong vị trí riêng của mình, đối diện với Giáo Hội
và thế giới, như nguồn gốc thường xuyên và luôn mới mẻ của ơn cứu chuộc” 747 , Linh Mục được sáp nhập
với trách nhiệm riêng vào trong sự năng động của Ba Ngôi Thiên Chúa. Căn tính của Linh Mục phát xuất từ
“thừa tác vụ Lời và Bí Tích” có liên quan thiết yếu với mầu nhiệm tình yêu cứu độ của Chúa Cha (x. Ga 17,
6-9.24; 1Cr 1; 2Cr 1,1) với bản thể tư tế của Đức Kitô, Đấng đã tuyển chọn và kêu gọi đích danh thừa tác
viên của Ngài để ở với Ngài(x. Mc 3,15) và với ân huệ Chúa Thánh Thần (Ga 20,21). Đấng hằng thông ban
cho Linh Mục sức mạnh cần thiết để ban sự sống cho đám đông con cái Thiên Chúa, là những kẻ được triệu
tập làm thành một dân duy nhất, trên đường tiến về Nước Cha.
Tương quan mật thiết với Ba Ngôi.
5. Người ta có thể suy diễn ra tính cách “tương quan” (x. Ga 17.11.21) 748 thiết yếu của căn tính Linh Mục.
Ân sủng và ấn tích không thể xóa nhòa, được trao ban do việc xức dầu bí tích của Chúa Thánh Thần 749
đặt Linh Mục “trong tương quan” cá vị với Ba Ngôi, Ba Ngôi là nguồn gốc của hữu thể và hành động tư tế.
Do đó, Linh Mục phải sống mối tương quan này một cách mật thiết và cá vị trong một cuộc đối thoại bao
hàm việc tôn thờ và yêu mến Ba Ngôi Thiên Chúa, vì ý thức rằng ân huệ đã nhận lãnh là để phuc vụ mọi
người.
CHIỀU KÍCH KITÔ
Căn tính đặc thù
6. Chiều kích Kitô. Cũng như chiều kích Ba Ngôi, phát xuất trực tiếp từ Bí Tích làm cho nên đồng dạng
cách hữu thể với Đức Kitô Tư Tế, Thầy Dạy, Đấng Thánh Hóa và Mục Tử của Dân Chúa 750 .
Những tín hữu, tuy vẫn được sát nhập vào trong chức tư tế cộng đồng, lại được chọn riêng và đặt vào
trong chức tư tế thừa tác, thì nhận lãnh một sự thông phần bất biến vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô để
Thánh hóa, giảng dạy và cai quản Dân Thiên Chúa. Như thế, một mặt chức tư tế cộng đồng của giáo dân và
chức Linh Mục thừa tác hay phẩm trật nhất thiết quy hướng vào nhau, bởi vì tùy theo cách thức của mình, cả
hai điều thông phần vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô, mặt khác hai chức tư tế đó khác nhau tự bản
Chất 751 .
Theo ý nghĩa này, căn tính của Linh Mục là “mới mẻ” so với căn tính của mọi Kitô hữu, là những
người nhờ Bí Tích Rửa Tội được cùng thông phần vào chức Tư tế duy nhất của Đức Kitô và được kêu gọi
làm chứng cho Ngài trên khắp trái đất 752 . Tính đặc thù của chức tư tế thừa tác nằm trong khuôn khổ của sự
cần thiết mà mọi giáo dân phải có là bám chặt vào sự trung gian và quyền chủ tế của Đức Kitô, hai yếu tố
này được làm cho trở nên hữu hình qua việc thi hành chức Linh Mục thừa tác.
Trong căn tính Kitô học đặc biệt này, Linh Mục phải ý thức rằng đời sống của mình là một mầu nhiệm
hoàn toàn đâm rễ nơi mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo Hội, theo một cách mơi mẻ và đặc thù, thúc đẩy Linh
Mục dấn thân trọn vẹn trong hoạt động mục vụ và nâng cao ngài lên 753 .
Giữa Lòng Dân Thiên Chúa.
7. Đức Kitô đã nối kết các Tông Đồ vào sứ mạng cửa chính Ngài“như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các
con” (Ga 20,21). Trong việc truyền chức thánh, chiều kích thừa sai hiện diện cách hữu thể. Linh Mục được
tuyển chọn, thánh hiến và được sai đi để hôm nay làm cho sứ mạng đời đời của Đức Kitô được nêu hữu
hiệu, sứ mạng trở thành vị đại diện đích thực và là sứ giả : “Ai nghe các con là nghe Thầy và ai chối bỏ các
con là chối bỏ Đấng đã sai Thầy” (Lc 10, 16). Như thế, có thể nói sự đồng hình với Đức Kiô, do được thánh
hiến trong Bí Tích, xác định Linh Mục giữa lòng Dân Thiên Chúa, bằng cách thông phần theo kiểu riêng của
Ngài vào quyền năng tác thánh, giảng giải và chăn dắt của chính Đức Giêsu Kitô là Đầu và là Mục Tử của
Giáo Hội 754 .
Khi hành động “nhân danh Đức Kitô Đầu” Linh Mục trở thành thừa tác viên làm các hành vi cứu độ
thiết yếu, ngài truyền đạt những Chân lý cần thiết cho sự cứu rỗi và lo chăn dắt Dân Thiên Chúa, dẫn đưa họ
tới sự thánh thiện 755 .
CHIỀU KÍCH THẦN KHÍ
Ấn tích
8. Trong việc truyền chức Linh Mục của mình, Linh Mục đã nhận lấy ấn tích của Chúa Thánh Thần, biến
ngài thành một người được ghi dấu Bí Tích để muôn đời là thừa tác viên của Đức Kitô và Giáo Hội. Được
củng cố bằng lời hứa theo đó Đấng An Ủi sẽ “ở mãi mãi với mình” (Ga 14, 16-17). Linh Mục biết rằng ngài
sẽ không bao giờ mất sự hiện diện và quyền năng hiệu nghiệm của Chúa Thánh Thần, giúp thi hành thừa tác
vụ và sống đức ái mục vụ như một sự hiến mình hoàn toàn cho phần rỗi anh em.
Hiệp thông cá vị với Chúa Thánh Thần
9. Cũng chính Chúa Thánh Thần, qua việc truyền chức, trao ban cho Linh Mục phận vụ ngôn sứ là loan báo
và giải thích Lời Chúa một cách có thẩm quyền. Được sát nhập vào trong sự hiệp thông của Giáo Hội với
hết thảy hàng tư tế, Linh Mục sẽ được hướng dẫn bởi Thần Chân Lý, Đấng Chúa Cha sai đến nhờ Đức Kitô;
Ngài dạy mọi sự, nhắc lại mọi điều Đức Giêsu đã nói với các Tông Đồ. Do đó với sự trợ giúp của Chúa
Thánh Thần và nhờ học hỏi Lời Chúa trong Thánh Kinh, dưới ánh sáng của Thánh Truyền và Huấn Quyền 756
, Linh Mục khám phá sự phong phú của Lời mà ngài loan báo cho cộng đoàn Giáo Hội đã được giao phó
cho ngài.
Khẩn cầu Chúa Thánh Thần.
10. Nhờ hiệu lực của Ấn Bí Tích và bằng cách đồng nhất ý hướng của mình với ý hướng của Giáo Hội Linh
Mục luôn hiệp thông với Chúa Thánh Thần khi cử hành Phụng Vụ, và nhất là khi cử hành Thánh Thể và các
Bí Tích khác.
Thật vậy, trong mỗi Bí Tích, chính Đức Kitô hành động cho Giáo Hội, nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng
mà khi cử hành nhân danh Đức Kitô, Linh Mục khẩn cầu Ngài thi thố quyền năng hiệu nghiệm của Ngài 757 .
Cho nên, hiệu năng của mọi cử hành Bí Tích là do lời Đức Kitô đã thiết lập Bí Tích ấy do quyền năng
Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội thường khẩn cầu bằng kinh khẩn nguyện.
Điều này đặc biệt rõ ràng trong Kinh Nguyện Thánh Thể, khi đó Linh Mục khẩn cầu quyền năng Chúa
Thánh Thần trên bánh rượu, đọc những lời của Đức Giêsu và hiện tại hóa mầu nhiệm Mình Máu Đức Kitô
đang thật sự hiện diện.
Sức mạnh hướng dẫn cộng đoàn.
11. Sau hết, chính trong sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần mà Linh Mục tìm được sức mạnh để hướng dẫn
cộng đoàn đã được trao phó cho mình và gìn giữ cộng đoàn ấy trong sự hiệp nhất như Chúa muốn 758 . Kinh
nguyện Linh Mục dâng lên Chúa Thánh Thần có thể mô phỏng kinh nguyện tư tế của Đức Giêsu Kitô (Ga
17). Do đó, ngài phải cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu, để họ nên “Một”, ngõ hầu thế gian tin rằng
Chúa Cha đã sai Chúa Con đến cứu độ mọi người.
CHIỀU KÍCH GIÁO HỘI
“Trong” và “đối diện” với Giáo Hội.
12. Đức Kitô, nguồn mạch thường hằng và luôn mới mẻ của ơn cứu rỗi là mầu nhiệm nguyên khởi phát sinh
mầu nhiệm Giáo Hội, là Thân Thể và Hiền Thê mà Đấng Phu Quân đã mời gọi làm dấu chỉ và khí cụ cứu
độ. Qua công trình được giao phó cho các Tông Đồ và các Đấng kế vị, Đức Kitô tiếp tục ban sự sống cho
Giáo Hội của Ngài.
Qua mầu nhiệm của Đức Kitô, khi thực thi thừa tác vụ của mình trong tất cả sự đa dạng của nó. Linh
Mục cũng đi vào trong mầu nhiệm Giáo Hội, một Giáo Hội luôn “nhận thức trong đức tin rằng mình không
thể tự hiện hữu là do ân sủng của Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần” 759 . Vì lẽ đó, tuy sáp nhập vào Giáo Hội
Linh Mục cũng đứng đối diện với Giáo Hội 760 .
Tham dự một cách nào đó vào Hôn Ước của Đức Giêsu.
13. Thật vậy, Bí Tích Truyền Chức Thánh làm cho Linh Mục được thông phần không những vào mầu nhiệm
Đức Kitô Linh Mục, Thầy dạy, Đầu, và Mục Tử, mà một cách nào đó, còn được thông phần vào mầu nhiệm
Đức Kitô, “Tôi tớ và Hôn Phu của Giáo Hội” 761 . Giáo Hội là “Thân Thể ” của Ngài, Ngài đã yêu và yêu đến
nỗi trao ban chính mình cho Giáo Hội(Eph 5.25): Ngài tái sinh và liên tục thanh luyện Giáo Hội bằng Lời và
các Bí Tích (Eph 2,26); Ngài tự hiến tế chính mình làm Giáo Hội được luôn xinh đẹp hơn ( Eph 2,27) và sau
cùng Ngài nuôi nấng và săn sóc Giáo Hội (Eph 2,29).
Các Linh Mục – cộng tác viên của hàng Giám Mục – cùng với Giám Mục của mình, làm thành Linh
Mục đoàn 762 , thông phần vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô ở cấp độ thấp, một cách nào đó, các Linh
Mục cũng thông phần- theo gương Giám Mục – vào chiều kích hôn ước đối với Giáo Hội, được biểu thị rõ
ràng qua nghi thức trao nhẫn trong lễ tấn phong Giám Mục. 763
Các Linh Mục, “trong mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương, nói được là làm cho Giám Mục hiện diện và
luôn gắn bó trong sự tín thác và đại lượng với ngài” 764 . phải trung thành với Hiền Thê và như những bức họa
sống động của Đức Kitô Hôn Phu, các ngài phải hiệu lực hóa ơn ban đa dạng của Đức Kitô cho Giáo Hội
của ngài.
Nhờ sự hiệp thông với Đức Kitô Hôn Phu, chức tư tế thừa tác cũng được cấu tạo trong mầu nhiệm tình
yêu cứu độ – như Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô mà hôn nhân các Kitô hữu là một sự thông
phần vào mầu nhiệm đó.
Vì được kêu gọi trong một hành vi tình yêu siêu nhiên và hoàn toàn nhưng không, Linh Mục phải yêu
Giáo Hội như Đức Kitô đã yêu Giáo Hội, bằng cách cống hiến mọi năng lực của mình và tự hiến mình trong
đức ái mục vụ cho tới độ hy sinh chính cuộc sống mình hằng ngày.
Tính phổ quát của chức Linh Mục.
14. Lệnh Chúa truyền rao giảng Phúc Âm cho mọi dân nước (Mt 28,18-20) cũng tạo nên một chiều kích
khác nữa của Linh Mục đối diện với Giáo Hội 765 . Được Chúa Cha qua Đức Kitô, sai đi(missus), Linh Mục
trực thuộc “ tức khắc ” vào Giáo Hội phổ quát 766 , có sứ mạng loan báo Tin Mừng cho đến tận cùng trái đất
(Cv 1,8) 767 .
“Ơn thiêng liêng các Linh Mục đã nhận lãnh khi chịu chức chuẩn bị các ngài lãnh một sứ mạng cứu độ
có tầm mức phổ quát” 768 .
Thật vậy, do Bí Tích Truyền Chức và thừa tác vụ lãnh nhận, mọi Linh Mục được liên kết với Giám
Mục đoàn và trong sự hiệp thông phẩm trật với Giám Mục đoàn, các ngài phục vụ toàn thể Giáo Hội theo ơn
gọi và ân sủng đặc thù của mình 769 . Bởi đó, sự trực thuộc một Giáo Hội địa phương 770 , do nhập tịch, không
nhốt kín Linh Mục trong một não trạng hẹp hòi và xé lẻ nhưng phải mở đường cho Linh Mục phục vụ các
Giáo Hội khác nữa. Thật vậy, mỗi Giáo Hội đều thể hiện cách đặc thù Giáo Hội duy nhất của Đức Giêsu
Kitô, đến mỗi Giáo Hội phổ quát sống và hoàn thành sứ mạng của mình trong và từ các Giáo Hội địa
phương đang thực sự hiệp thông với Giáo Hội phổ quát. Bởi đó, tất cả các Linh Mục phải có một con tim và
một não trạng thừa sai, luôn rộng mở cho mọi nhu cầu của Giáo Hội và thế giới 771 .
Chiều kích thừa sai của chức tư tế.
15. Điều quan trọng là Linh Mục phải ý thức đầy đủ chiều kích thừa sai này của chức tư tế, và phải sống
chiều kích đó một cách sâu xa, trong sự hòa hợp với Giáo Hội vì hôm nay cũng như hôm qua, Giáo Hội luôn
cảm thấy cần gửi các thừa tác viên của mình đến những nơi mà sứ mạng của họ cấp thiết hơn và cần buộc
mình thực hiện phân bố hàng Giáo Sĩ đồng đều hơn 772 .
Đòi hỏi này của đời sống Giáo Hội trong thế giới ngày nay, mỗi Linh Mục phải cảm nghiệm mãnh liệt,
ngài sẽ sống đòi hỏi này như trao ban linh hồn mình ở trong lòng Giáo Hội và để phục vụ Giáo Hội.
Do đó, chúng ta không thể công nhận những quan niệm, nhân danh lòng tôn trọng hiểu sai về các nền
văn hóa riêng biệt, có xu hướng làm biến chất hoạt động thừa sai của Giáo Hội, trong khi Giáo Hội được
mời gọi hoàn thành một thừa tác vụ phổ quát duy nhất phục vụ ơn cứu độ, thừa tác vụ này vượt lên trên và
làm sinh động mọi nền văn hóa 773 .
Cũng cần phải nói rằng, sự tăng trưởng phổ quát gắn liền với thừa tác vụ Linh Mục, mà không ai được
chối bỏ, gặp được sự tương hợp trong các đặc tính xã hội văn hóa của thế giới hôm nay, một thế giới cảm
thấy cần loại bỏ những hàng rào phân chia các dân tộc và quốc gia: nhất là qua sự giao lưu giữa văn hóa,
người ta muốn biến mọi dân tộc trở thành anh em bất kể những khoảng cách địa lý phân cách họ.
Vì thế, ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, hàng Giáo Sĩ phải nhận thấy mình dấn thân làm Tông Đồ
nhằm kết hợp mọi người nơi Đức Giêsu Kitô trong Giáo Hội của Ngài.
Quyền bính như “ dịch vụ tình yêu”.
16. Một biểu lộ khác của bản chất người Linh Mục “đối diện” với Giáo Hội, đó là bản thể người chỉ đường
nên thánh cho các tín hữu được giao phó cho thừa tác vụ của mình, một bản thể thiết yếu là mục vụ.
Thực tế trên, mà người phải sống cách khiêm tốn và liên tục, có thể mắc vào hai cám dỗ đối nghịch
nhau.
Cám dỗ thứ nhất là thi hành thừa tác vụ bằng cách chiếm đoạt đàn chiên (Lc 22, 24-27, 1Pr 5, 1-4):
cám dỗ thức hai là vô hiệu hóa sự đồng tình các vị với Đức Kitô Đầu và Mục Tử vì hiểu sai khái niệm “cộng
đoàn”.
Cám dỗ thứ nhất vốn mãnh liệt nơi các muôn đệ mình và Đức Giêsu đã luôn sửa sai lập tức : mọi
quyền bính phải được thực thi trong tinh thần phục vụ như “ dịch vụ tình yêu 774 ” và trong sự tận tụy vô vị lợi
nhằm lợi ích đoàn chiên (Ga 13, 14; 10, 11). Linh Mục phải luôn nhớ rằng Chúa và Thầy “ không đến để
được phục vụ nhưng để phục vụ” (Mc 10, 45); Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các môn đồ trước khi chết
trên thập giá (Ga 13, 5), và sai các ông đi khắp thế gian.
Các Linh Mục sẽ được bằng chứng đích thực về Chúa Phục Sinh, “Đấng đã lãnh nhận mọi quyền hành
trên trời dưới đất” (Mt 28,18) nếu các ngài sử dụng quyền bính của mình như một phục vụ vừa khiêm tốn và
có phẩm quyền nhằm lợi ích đoàn chiên 775 , trong khi tôn trọng những phận vụ mà Đức Kitô và Giáo Hội giao
phó cho giáo dân 776 và cho tín hữu được thánh hóa qua việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm 777 .
Cám dỗ của tinh thần dân chủ lệnh lạc.
17. Đôi khi để tránh sai lạc thứ nhất, người ta lại rơi vào cái thứ hai và người ta có khuynh hướng loại bỏ
mọi khác biệt trong vai trò giữa các chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô là Giáo Hội,
bằng cách chối bỏ trong thực hành giáo lý đích thực của Giáo Hội phân biệt chức tư tế cộng đồng với chức
tư tế thừa tác 778 .
Trong hàng ngũ những cản lực thấy có ngày hôm nay, người ta có thể liên kết đến cái người ta gọi là
“Tinh thần dân chủ lệch lạc”, “chủ nghĩa duy dân chủ”. Về phương diện này, cần nhấn mạnh là Giáo Hội
luôn nhìn nhận mọi thành quả và giá trị mà nền văn hóa dân chủ đã mang lại cho xã hội dân sự. Đàng khác,
Giáo Hội luôn đấu tranh, bằng mọi phương tiện có được, cho việc nhìn nhận phẩm giá bình đẳng của mọi
người. Dựa vào truyền thống này của Giáo Hội, Công đồng Vatican II đã công khai bày tỏ lập trường về
phẩm giá chung của những người đã được rửa tội 779 .
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng não trạng và những cách thực hành của một vài luồng văn hóa xã
hội và chính trị ở thời đại chúng ta không phải đương nhiên du nhập vào lòng Giáo Hội. Giáo Hội thật ra có
được sự hiện hữu và cấu trúc của mình là do ý định cứu độ của Thiên Chúa. Giáo Hội tự ngắm nhìn chính
mình như ân huệ do lòng nhân lành của Chúa Cha, Đấng đã giải cứu Giáo Hội bằng cách hạ nhục con mình
trên thập giá. Do đó- trong Chúa Thánh Thần – Giáo Hội muốn hoàn toàn phù hợp và trung thành với ý
muốn tự do và giải phóng của Chúa Giêsu Kitô, tự bản Chất, là một thực thể khác xa các xã hội thuần túy
loài người.
Như thế, “chủ nghĩa duy dân chủ” là một cám dỗ rất nghiêm trọng, vì nó xúi giục không nhìn nhận
quyền bính và ân sủng cội nguồn của Đức Kitô và làm biến tính Giáo Hội, như thể Giáo Hội chỉ là một xã
hội loài người Quan niệm này đụng Chạm đến cơ cấu phẩm trật mà Đấng sáng lập đã muốn, như Huấn
Quyền đã luôn dạy rõ ràng và chính Giáo Hội đã từng sống một cách liên tục như thế.
Sự thông phần trong Giáo Hội đặt nền trên mầu nhiệm hiệp thông, sự hiệp thông tự bản chất hàm chứa
sự hiện diện và hoạt động của phẩm trật Giáo Hội.
Do đó, người ta không thể chấp nhận não trạng này trong Giáo Hội, nó biểu lộ có lẽ hơn hết trong một
số tổ chức Giáo Hội, và nó có khuynh hướng lẫn lộn các bổn phận của Linh Mục với bổn phận của giáo dân,
hoặc không phân biệt quyền bính của Giám Mục với quyền bính của các Linh Mục là những cộng sự viên
của Giám Mục, hoặc chối bỏ tính cách đặt thù của thừa tác vụ Phêrô trong Giám Mục đoàn. Về phương diện
này cần phải nhắc rằng Linh Mục đoàn và Hội Đồng Linh Mục không phải là những biểu hiện của việc Giáo
Sĩ có quyền lập hội. Lại càng không được hiểu các hội đồng đó theo cái nhìn kiểu nghiệp đoàn, với đủ thứ
yêu sách và đặc lợi bè phái xa lạ với sự hiệp thông Giáo Hội 780 .
Phân biệt giữa chức tư tế cộng đồng và thừa tác.
18. Sự phân biệt giữa chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác thay vì tách biệt hoặc phân chia các thành
phần của cộng đoàn Kitô hữu, lại làm cho đời sống Giáo Hội thêm hài hòa và sống động. Thật vậy Giáo Hội,
với tư cách là Thân Thể Đức Kitô, là sự hiệp thông hữu cơ tất cả mọi chi thể: mỗi chi thể giúp cho sự sống
của toàn thể nếu nó sống trọn vẹn vai trò và ơn gọi cá biệt của mình(1Cr 12,12-33) 781 .
Vì vậy không ai được phép thay đổi điều mà Đức Kitô đã muốn cho Giáo Hội của Ngài. Giáo Hội
được liên kết một cách bất khả phân với Đấng Sáng Lập và là Đầu của mình, là Đấng duy nhất ban cho Giáo
Hội, qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, những thừa tác viên để phục vụ tín hữu. Chính Đức Kitô kêu
gọi, thánh hiến và sai đi qua các Mục Tử hợp pháp. Không một cộng đồng nào, dù trong hoàn cảnh đặc biệt
cấp thiết, được phép thay thế Ngài tìm cách tạo cho mình vị Linh Mục theo phương thức khác với qui định
của Giáo Hội 782 . Phương cách giải quyết những trường hợp cần thiết phải ở trong lời cầu xin của Đức Giêsu :
“Hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa” (Mt 9.38). Nếu kèm theo lời kinh đọc với niềm tin này còn có đời
sống bác ái sâu xa của cộng đoàn, người ta có thể cần chắc rằng Chúa sẽ không quên gửi đến những mục tử
theo lòng Ngài mong muốn(x. Gr 3, 15) 783 .
Chỉ Linh Mục mới là mục tử.
19. Một phương cách để khỏi rơi vào cám dỗ “chủ nghĩa duy dân chủ” là tránh một thứ “Giáo Sĩ hoá” bậc
giáo dân 784 , vì làm vậy là thu hẹp chức tư tế thừa tác của Linh Mục. Sau Giám Mục, chỉ mình Linh Mục, do
thừa tác vụ tư tế được phong ban, xứng đáng được gọi là “mục tử” một cách thích hợp và đúng nghĩa. Thật
thế, tính từ “mục vụ” quy chiếu hoặc về quyền giảng dạy và thánh hoá(potestas docendi et sancticandi) hoặc
về quyền cai quản (potestas docendi) 785 .
Đàng khác, người ta cũng cần nhớ rằng việc thăng tiến thật của Giáo dân không thể được cổ võ bởi
những khuynh hướng như thế; chúng thường đưa đến chỗ quên đi ơn gọi đích thực và sứ mạng Giáo Hội
giáo dân sống giữa đời.
HIỆP THÔNG LINH MỤC
Hiệp thông với Ba Ngôi và với Đức Kitô.
20. Dưới ánh sáng của những gì đã nói về căn tính Linh Mục, sự hiệp thông của Linh Mục được thể hiện
nhất thiết với Chúa Cha, nguồn gốc tối hậu của mọi quyền bính; với Chúa con, mà Linh Mục thông phần sứ
mạng cứu rỗi; với Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho Linh Mục sức mạnh để sống và thực thi đức ái mục vụ
và ban phẩm cách tư tế cho Linh Mục.
Thật vậy, người ta không thể định nghĩa bản chất và sứ vụ của chức tư tế thừa tác ở ngoài mạng lưới
phức tạp và phong phú của các mối tương quan bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi, và nối dài trong sự hiệp
thông với Giáo Hội như dấu chỉ và khí cụ, trong sự kết hợp con người với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất
toàn thể nhân loại 786 .
Hiệp thông với Giáo Hội.
21. Từ sự hiệp nhất – thông hiệp cơ bản với Đức Kitô và Ba Ngôi Thiên Chúa, nảy sinh cho Linh Mục mối
hiệp thông quan hệ với Giáo Hội trong các khía cạnh của mầu nhiệm và cộng đoàn 787 . Thật vậy, chính trong
mầu nhiệm Giáo Hội, như là mầu nhiệm hiệp thông với Ba Ngôi hướng tới việc truyền giáo, mà toàn bộ căn
tính của Kitô hữu và do đó, căn tính đặc thù và cá biệt của Linh Mục và của thừa tác vụ Linh Mục được
biểu lộ.
Một cách cụ thể, sự hiệp thông mang tính Giáo Hội của Linh Mục được thể hiện bằng nhiều cách. Với
việc Truyền Chức, ngài thiết lập những liên hệ đặc biệt với Đức Giáo Hoàng, với Giám Mục đoàn, với Giám
Mục của mình, với các Linh Mục khác, với giáo dân.
Hiệp thông phẩm trật
22. Sự hiệp thông như đặc điểm của chức Linh Mục, đặt nền tảng trên duy nhất tính của Đức Kitô, Đầu,
Mục Tử, Hôn Phu của Giáo Hội 788 . Chính trong khuôn khổ sự hiệp thông thừa tác này mà những mối liên hệ
nhất định khác được hình thành, trước hết với Đức Giáo Hoàng, với Giám Mục đoàn và với Giám Mục của
mỗi người : “Không có thừa tác vụ Linh Mục ở ngoài sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và Giám Mục
đoàn, đặc biệt với Giám Mục giáo phận, lòng tôn kính như con thảo và sự tuân phục đã hứa khi lãnh chức,
phải được trao trả cho các ngài” 789 . Đó chính là sự hiệp thông phẩm trật, nghĩa là sự hiệp thông trong phẩm
trật y như được cấu tạo nội tại.
Nhờ được thông phần vào chức tư tế thừa tác duy nhất ở, mức độ phụ thuộc vào Giám Mục, sự hiệp
thông này cũng bao hàm mối liên hệ thiêng liêng, hữu cơ và cơ cấu của các Linh Mục với cả hàng Giám
Mục, với Giám Mục riêng của mình 790 , với Đức Giáo Hoàng trong tư cách là Mục Tử của Giáo Hội toàn
cầu 791 và với mỗi Giáo Hội địa phương. Thực tại này, được củng cố do việc hàng Giám Mục nói chung và
mỗi Giám Mục nói riêng, phải ở trong sự thông hiệp phẩm trật với Đầu của đoàn 792 . Thật vậy, đoàn này bao
gồm chỉ những Giám Mục được thánh hiến trong sự hiệp thông phẩm trật với Đầu và với các thành phần
khác.
Hiệp thông trong cử hành Thánh Thể.
23. Sự hiệp thông phẩm trật được diễn tả một cách ý nghĩa trong Kinh Nguyện Thánh Thể. Khi Linh Mục
cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, các Giám Mục và Giám Mục của mình, ngài không những diễn tả lòng
cung kính mà còn làm chứng cho tính chân thực của việc ngài cử hành 793 .
Cũng vậy, việc cử hành Thánh Thể, trong những hoàn cảnh và điều kiện tiên liệu 794 , nhất là khi có
Giám Mục chủ tọa và giáo dân tham dự, biểu lộ rõ ràng duy nhất tính chức tư tế của Đức Kitô trong sự đa
dạng của các thừa tác viên, đồng thời biểu lộ duy nhất tính của hy lễ và của Dân Thiên Chúa 795 . Hơn nữa,
việc đồng tế góp phần củng cố tình huynh đệ thừa tác giữa các Linh Mục với nhau 796 .
Hiệp thông trong hoạt động thừa tác
24. Mỗi Linh Mục sẽ duy trì một mối liên hệ đức ái sâu xa, khiêm tốn và hiếu thảo đối với cá nhân Đức
Thánh Cha, và gắn bó với thừa tác vụ Đấng kế vị Thánh Phêrô của ngài trong lãnh vực Huấn quyền thánh
hoá và cai quản trong một tinh thần gắn bó gương mẫu 797 .
Ngài sẽ thực hiện sự hiệp thông đòi hỏi do việc thi hành thừa tác vụ Linh Mục, trong sự trung thành và
phục tùng quyền bính của các Giám Mục mình. Các mục tử giàu kinh nghiệm nhất dễ dàng nhận ra sự cần
thiết phải tránh mọi hình thức các nhân chủ nghĩa khi thi hành thừa tác vụ và tán thành các chương trình
mục vụ trong tinh thần đồng trách nhiệm. Việc tán thành này không những cho thấy sự trưởng thành, mà còn
góp phần xây dựng sự hiệp nhất trong sự hiệp thông cần thiết cho việc Phúc Âm hóa 798 .
Trong tinh thần hoàn toàn tôn trọng sự phụ thuộc phẩm trật, Linh Mục sẽ là người khởi xướng quan hệ
trực tiếp với Giám Mục mình, quan hệ gồm có lòng tín nhiệm chân thành, tình bạn mật thiết một cố gắng
thật sự nhằm hòa hợp và tập trung tư tưởng và chương trình, mà không làm mất đi khả năng thông minh của
đề xuất cá nhân và cá nhân và của hành động trong lãnh vực mục vụ 799 .
Hiệp thông trong Linh Mục đoàn
25. Nhờ Bí Tích truyền chức, “mỗi Linh Mục được liên kết với các thành viên khác của Linh Mục đoàn
bằng những mối dây riêng biệt của đức ái tông đồ, của thừa tác và của tình huynh đệ” 800 . Thật vậy, Linh Mục
được sát nhập vào hàng Linh Mục làm thành một đơn vị có thể định nghĩa như một gia đình thật sự, trong
gia đình này những mối liên hệ không do máu thịt nhưng do ân sủng của thánh chức mà có 801 . Việc thuộc về
một Linh Mục đoàn cụ thể 802 phải luôn diễn ra trong một Giáo Hội địa phương, một giáo phận hay một giáo
đoàn không lãnh thổ. Thật vậy, khác với Giám Mục đoàn, xem ra không có cơ sở thần học để khẳng định sự
hiện hữu của một “Linh Mục đoàn phổ quát”.
Tình huynh đệ Linh Mục và sự thuộc về Linh Mục đoàn vì thế là những yếu tố đặc trưng của Linh
Mục. Để nói lên điều đó, lễ Truyền Chức Linh Mục, nghi thức đặt tay về phía Giám Mục với sự tham gia
của Linh Mục hiện diện, là một nghi thức đặc biệt có ý nghĩa, nó cho thấy hoặc là tất cả đều tham dự vào
cùng một cấp độ tác vụ như nhau, hoặc là Linh Mục không thể hành động đơn độc nhưng luôn ở giữa Linh
Mục đoàn và trở thành anh em của tất cả những ai làm thành Linh Mục đoàn ấy 803 .
Gia nhập vào một Giáo Hội địa phương
26. Việc nhập tịch vào một Giáo Hội địa phương xác định nào đó 804 tạo nên một mối liên hệ pháp lý đích
thực 805 có giá trị thiêng liêng. Thật vậy, do việc nhập tịch này phát xuất “mối tương quan với Giám Mục
trong sự hiệp nhất của Linh Mục đoàn, sự chia sẻ ưu tư đối với Giáo Hội, sự nhiệt thành mục vụ để phục vụ
Dân Thiên Chúa trong những điều kiện lịch sử và xã hội cụ thể” 806 . Trong viễn cảnh này, mối liên hệ với
Giáo Hội địa phương cũng là nguồn gốc ý nghĩa cho hoạt động mục vụ.
Về vấn đề này người ta cũng không nên quên rằng các Linh Mục triều không nhập tịch vào giáo phận
và những Linh Mục thuộc một Tu Hội hay Hiệp Hội Tông Đồ đang sống trong giáo phận và đang thi hành
một phân vụ nào đó giúp giáo phận, mặc dù họ thuộc quyền Đấng Bản Quyền hợp pháp của mình, thì đương
nhiên hoặc dưới một danh hiệu nào khác, họ thuộc về Hội Đồng Linh Mục của giáo phận ấy 807 , ở đó họ được
quyền có tiếng nói chủ động hay thụ động để làm nên Hội Đồng Linh Mục 808 . Cách riêng các Linh Mục
Dòng trong sự hiệp nhất công sức, chia sẻ cùng một ưu tư mục vụ bằng cách đóng góp các đặc sủng của
Dòng mình và “bằng sự hiện diện của mình, thúc đẩy Giáo Hội địa phương sống mãnh liệt sự cởi mở đến
mức phổ quát của mình” 809 .
Các Linh Mục nhập tịch vào một giáo phận, nhưng để phục vụ một phong trào nào đó của Giáo Hội
được Giáo Quyền chuẩn y 810 , phải ý thức mình là thành viên của Linh Mục đoàn nơi đang thi hành thừa tác
vụ, phải chân thành hợp tác với Linh Mục đoàn đó. Giám Mục cho nhập tịch, đến phiên Ngài, sẽ tôn trọng
lối sống bắt buộc do phong trào đặt ra, và theo các khoản luật, nên ban phép cho Linh Mục được đi phục vụ
các Giáo Hội khác, nếu điều ấy nằm trong đặc sủng của phong trào 811 .
Linh mục đoàn, nơi thánh hóa
27. Linh Mục đoàn là một nơi đặc biệt để Linh Mục có thể tìm được những phương thế đặc thù nên thánh và
rao giảng Phúc Âm. Ở đó Linh Mục phải được giúp đỡ để lướt thắng những giới hạn và yếu đuối đi liền với
bản tính con người, điều đặc biệt được cảm nhận ngày nay.
Cho nên, Linh Mục sẽ cố gắng tránh sống chức Linh Mục của mình một cách lẻ loi và chủ quan. Ngài
phải tìm cách phát huy tình hiệp thông huynh đệ bằng cách cho và nhận từ Linh Mục đến Linh Mục, sự nồng
ấm tình cảm, sự giúp đỡ thân tình, sự tiếp đón, sự sửa lỗi huynh đệ về ý thức rằng ân sủng của Bí Tích
truyền chức đảm nhận và nâng cao các tương quan nhân bản, tâm lý, tình cảm, tình bạn và thiêng liêng, và
biểu lộ cụ thể trong những hình thức tương trợ tinh thần cũng như vật chất rất đa dạng 812 .
Tất cả những điều đó được diễn tả rõ nét trong Phụng Vụ Thánh Lễ Tiệc Ly của Chúa ngày Thứ Năm
Tuần Thánh, nó cho thấy làm thế nào mà từ việc hiệp thông Thánh Thể phát sinh trong bữa tiệc ly, các Linh
Mục nhận được khả năng yêu mến nhau, như Thầy yêu mến họ 813 .
Tình bằng hữu Linh Mục
28. Ýnghĩa sâu xa mang tính Giáo Hội của Linh Mục đoàn không những không gây cản trở, mà còn làm cho
các trách nhiệm cá nhân của mỗi Linh Mục trong việc thực thi thừa tác vụ đặc thù đã được Giám Mục giao
phó 814 được nên dễ dàng. Khả năng vun trồng và sống những tình bạn Linh Mục chín chắn và thâm sâu, được
coi như nguồn gốc phát sinh sự thanh thản và niềm vui lúc thi hành thừa tác vụ, như sự nâng đỡ có tính
quyết định khi gặp khó khăn và như sự giúp đỡ quý giá để tăng trưởng đức ái mục vụ, đức ái mà người Linh
Mục phải thực thi một cách đặc biệt đối với những anh em đồng sự đang gặp khó khăn cần được cảm thông
trợ giúp và nâng đỡ 815 .
Đời sống chung
29. Một biểu hiện khác của sự hiệp thông là đời sống chung, mà lâu nay được Giáo Hội tỏ rõ 816 , và mới đây
được các văn kiện Công Đồng Vatican II 817 , Huấn quyền 818 khuyến khích, và đã được tích cực áp dụng trong
nhiều giáo phận.
Trong số những thực hiện khác nhau của nó (nhà chung, bản án chung. v.v..) phải coi là cách quan
trọng nhất việc tham dự các giờ kinh Phụng Vụ chung 819 . Những hình thức khác nhau này phải được yểm trợ
tùy theo khả năng và thích hợp thực tế, mà không nhất thiết phải mô phỏng các hình thức đáng khen ngợi
riêng cho đời sống tu trì. Cần đặc biệt khen ngợi những Hội Dòng cổ võ cho tình huynh đệ Linh Mục, sự
thánh thiện trong việc thi hành thừa tác vụ, sự hiệp thông với Giám Mục và với toàn thể Giáo Hội 820 . Ước gì
các Cha quản xứ tạo thuận lợi cho đời sống chung trong nhà xứ với Cha Phó xứ mình 821 , thực sự coi các Cha
Phó xứ như những cộng tác viên và đang tham gia lo việc mục vụ; về phía mình, để xây dựng sự hiệp thông
Linh Mục, các Cha Phó xứ phải nhìn nhận và tôn trọng quyến bính của Cha xứ 822 .
Hiệp thông với giáo dân.
30. Là người của hiệp thông, Linh Mục không thể diễn tả tình yêu của mình đối với Chúa và Giáo Hội mà
không thể hiện nó trong một tình yêu thiết thực và vô điều kiện đối với mọi Kitô hữu là đối tượng của mối
quan tâm mục vụ của Ngài 823 .
Nối dài sự hiên diện của Đức Kitô, Linh Mục “một cách nào đó sẽ biến mình trong suốt cho Ngài ở
giữa đoàn chiên được giao phó” 824 , bằng cách đặt mình trong “tương quan tích cực và khích lệ” đối với giáo
dân. Bằng cách nhận ra nơi họ phẩm giá người con cái Thiên Chúa, Linh Mục ra sức thăng tiến vai trò đặc
thù của họ trong Giáo Hội và đem thừa tác vụ Linh Mục cùng đức ái mục vụ của mình phục vụ họ 825 . Một
khi nhận biết sự hiệp thông sâu xa nối kết mình với giáo dân và tu sĩ, Linh Mục sẽ nỗ lực tối đa để khơi dạy
và phát triển sự đồng trách nghiêm trọng cùng một sứ mạng cứu độ duy nhất, bằng việc đề cao giá trị một
cách mau mắn và vui lòng tất cả những đặc sủng và những phận vụ mà Giáo Hội phân phát cho các kẻ tin,
để xây dựng Giáo Hội 826 .
Một cách cụ thể hơn, trong khi luôn tìm kiếm thiện ích chung cho Giáo Hội, Cha xứ sẽ cổ võ những
hiệp hội giáo dân và những phong trào nhằm mục đích tôn giáo 827 , bằng cách nhận tất cả và giúp họ tìm ra
sự hợp nhất các mục tiêu giữa họ với nhau, về mục đích, trong kinh nguyện và trong hoạt động Tông Đồ.
Trong mức độ mà Linh Mục quy tụ gia đình của Thiên Chúa và thực hiện Giáo Hội hiệp thông, Linh
Mục trở thành “kẻ bắt cầu”, người nối kết con người với Thiên Chúa, làm “anh em của mọi người cùng một
lúc làm mục tử, làm Cha và làm Thầy của họ” 828 . Đối với con người hôm nay đang tìm ý nghĩa cuộc sống,
Linh Mục là hướng dẫn viên đưa họ đến gặp Đức Kitô cuộc gặp gỡ được thực hiện trong Giáo Hội như một
thông báo và như một thực tại đang hiện diện tuy không trọn vẹn. Như thế, được đặt để phục vụ Dân Thiên
Chúa. Linh Mục tỏ ra là chuyên viên về nhân bản, người của Chân lý và sự hiệp thông, làm chứng cho sự
quan tâm của Vị Mục tử duy nhất đối với tất cả và từng con chiên. Cộng đoàn có thể an tâm cậy dựa vào
lòng nhiệt thành, vào sự luôn sẵn sàng, vào việc rao giảng Tin Mừng không mệt mỏi, nhất là tình yêu trung
tín và vô điều kiện của Ngài.
Như thế Linh Mục sẽ thực thi sứ mạng thiêng liêng của mình với tính hòa nhã và cương quyết với
lòng khiêm tốn và tinh thần phục vụ 829 , biết cảm thông và chia sẻ những nỗi khỗ đau của những người đang
gánh chịu những hình thức khác nhau của sự nghèo đói về tình thần và vật chất, cũ cũng như mới. Ngài
cũng biết cúi xuống với lòng thương xót trên con đường gian khó và bất trắc của tội nhân trở về, ngài sẽ ban
cho họ món quà chân lý, sự chăm sóc nhẫn nại và đầy khích lệ của vị mục tử tốt lành. Đấng không quở trách
con chiên lạc nhưng đặt nó trên lên vai và ăn mừng ngày nó trở lại với đàn chiên (Lc 15, 5-7) 830 .
Hiệp thông với các thành viên những Tu Hội sống đời thánh hiến
31. Ngài phải lưu tâm đặc biệt đến mối tương quan với các anh chị em dấn thân sống đời tận hiến đặc biệt
cho Thiên Chúa, dù họ thuộc về hình thức nào. Bằng cách bày tỏ một sự quí mến chân thành và một tinh
thần cộng tác tông đồ đích thực trong sự tôn trọng và thăng tiến những đặc sủng riêng tư của họ. Ngài cũng
cộng tác làm cho đời sống tận hiến ngày càng sáng lạng hơn, vì thiện ích của toàn Giáo Hội, và càng trở
nên thuyết phục và hấp dẫn hơn đối với các thế hệ mới.
Trong tinh thần qúy chuộng đời sống tận hiến, Linh Mục sẽ chăn dắt đặc biệt các cộng đoàn. Vì nhiều
lý do, đang cần hơn nền giáo lý lành mạnh sự giúp đỡ và khích lệ sống trung thành.
Mục vụ ơn gọi
32. Linh Mục cần lưu tâm cách riêng đến mục vụ ơn gọi, không quên khuyến khích cầu nguyện theo ý chỉ
đó, bỏ công sức ra cho giáo lý ơn gọi, lo huấn luyện các em giúp bàn thờ, cổ võ những sáng kiến thích hợp
bằng tiếp xúc cá nhân, nhằm phát hiện những tài năng và biết nhận ra thánh ý Thiên Chúa để giúp can đảm
lựa chọn theo Đức Kitô 831 .
Chắc chắn, sự ý thức rõ ràng về căn tính của mình, sự mạch lạc trong đời sống, niềm vui trong sáng và
lòng nhiệt thành thừa sai tạo nên những nguyên tố cần thiết cho mục vụ ơn gọi; mục vụ này phải được sáp
nhập vào trong mục vụ chung thông thường. Với chủng viện, cái nôi của ơn gọi của mình và môi trường thử
nghiệm sống chung đầu tiên, Linh Mục cần luôn duy trì những quan hệ hợp tác chân tình và yêu thương
chân thành.
Đó là một “đòi hỏi không thể lẫn tránh của đức ái mục vụ” 832 là mỗi Linh Mục tiếp tay với ơn Chúa
Thánh Thần, quan tâm khơi dậy ít nhất một ơn gọi Linh Mục để có thể tiếp nối thừa tác vụ của mình.
Dấn thân vào chính trị và xã hội
33. Linh Mục, tôi tớ của một Giáo Hội có tính phổ quát và công giáo, không thể trói buộc mình vào một bất
trắc lịch sử nào, cần biết đặt mình lên trên mọi đảng phái chính trị. Ngài không thể giữ phần chủ động trong
các đảng phái chính trị hoặc trong việc điều hành các nghiệp đoàn, trừ khi, dựa theo phẩm định của giáo
quyền có thẩm quyền, phải bênh vực các quyền lợi của Giáo Hội và sự thăng tiến lợi ích chung 833 .
Thật vậy, những phận vụ này tuy tự nó là tốt, nhưng lại còn xa lạ với bậc Giáo Sĩ vì chúng có thể tạo
ra nguy cơ nghiêm trọng làm gãy đổ sự hiệp thông trong Giáo Hội 834 .
Theo gương Đức Giêsu (x. Ga 6, 15tt) Linh Mục “phải từ bỏ mọi hình thức tích cực tham gia chính trị,
nhất là chính trị đảng phái, như thường xảy ra không thể tránh được, để luôn là người của mọi người hướng
đến tình huynh đệ thiêng liêng” 835 . Cũng thế, mọi tín hữu phải có thể đến với Linh Mục bất cứ lúc nào không
cảm thấy bị loại trừ vì bất cứ lý do gì.
Linh Mục phải nhớ rằng : “việc trực tiếp can thiệp vào cơ cấu chính trị và vào cách tổ chức đời sống
xã hội không phải là việc của các mục tử Giáo Hội. Phận vụ này thuộc ơn gọi của giáo dân, họ hành động
theo sáng kiến riêng cùng với đồng bào mình” 836 . Tuy nhiên Linh Mục không bỏ qua việc “cố gắng đào tạo
cho họ một lương tâm ngay chính” 837 .
Thu hẹp sứ mạng Linh Mục vào những công việc trần thế, thuần túy xã hội hay chính trị, hoặc xa lạ
hoàn toàn căn tính Linh Mục, không phải là một chiến công mà là một mất mát nặng nề cho sự phong phú
Phúc Âm của toàn thể Giáo Hội.
CHƯƠNG II
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
CỦA LINH MỤC
BỐI CẢNH LỊCH SỬ HIỆN NAY
Giải thích những dấu chỉ thời đại
34. Đời sống và thừa tác vụ Linh Mục luôn phát triển trong bối cảnh lịch sử, mang dấu ấn của những vấn đề
và giải pháp mới, trong đó Giáo Hội sống cuộc đời lữ hành trên trần gian.
Chức tư tế không phát sinh từ lịch sử, nhưng bởi ý muốn bất di bất dịch của Chúa. Dẫu vậy chức tư tế
chạm trán với những hoàn cảnh lịch sử, tuy vẫn trung thành với chính mình. Nó cũng chịu ảnh hưởng của
những “dấu chỉ thời đại” trong những chọn lựa cụ thể, qua một liên hệ có phê phán và sự tìm kiếm hợp với
Tin Mừng. Cho nên, Linh Mục có bổn phận giải thích những “dấu chỉ” này theo ánh sáng đức tin và đem
chúng ra phân biệt cẩn thận. Trong bất cứ trường hợp nào các ngài cũng không được lãng quên chúng, nhất
là các ngài muốn định hướng đời mình một cách hiệu nghiệm và thích đáng, ngõ hầu việc phục vụ và chứng
từ của các ngài ngày càng phong phú hơn cho Nước Chúa.
Trong đời sống hiện nay của Giáo Hội và xã hội, các Linh Mục được mời gọi sống thừa tác vụ của
mình với chiều sâu, quan tâm đến những đòi hỏi không chỉ trong lãnh vực mục vụ, mà còn trong lãnh vực
văn hóa xã hội mà các ngài phải chạm trán : những đòi hỏi đó mỗi ngày mỗi sâu xa hơn, nhiều hơn và tế nhị
hơn 838 .
Như vậy ngày nay các Linh Mục phải dấn thân vào nhiều môi trường tông đồ khác nhau, chúng đòi
hỏi các ngài quản đại quên mình, chuẩn bị chắc chắn về tri thức và nhất là có một đời sống thiêng liêng chín
chắn và sâu xa, đâm rễ trong đức ái mục vụ. Cuộc sống ấy chính là con đường dẫn đến sự thánh thiện và là
sự vâng phục chân chính dành cho tín hữu trong thừa tác vụ mục vụ các Ngài.
Việc Phúc Âm hóa mới là đòi hỏi
35. Như thế, Linh Mục đặc biệt cam kết dấn thân vào cuộc tái Phúc Âm hóa mới của Giáo Hội, khởi sự từ
niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, Giáo Hội biết tìm nơi Ngài “kho báu khôn lường” (Ep 3,8) mà
không thời đại nào, nền văn hóa nào có thể làm cạn kiệt, nhờ vào kho tàng ấy mà mọi người có thể nên giàu
có 839 .
Đã đến lúc phải canh tân niềm tin của chúng ta vào Đức Giêsu Kitô, Đấng vẫn là một trong hôm qua,
hôm nay và mãi mãi” (Dt 13, 8). Do đó, “lời mời gọi tái Phúc Âm hóa trước hết là lời mời gọi hoán cải” 840 .
Đồng thời đó cũng là lời mời gọi hy vọng, dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, trên lòng trung tín với lời Ngài,
trên niềm xác tín không thể hủy diệt của việc Đức Kitô Phục Sinh, chiến thắng hoàn toàn tội lỗi và sự chết,
đó là thông báo đầu tiên và nguồn gốc của mọi việc Phúc Âm hóa, là nền tảng cho mọi sự thăng tiến của
người và là nguyên lý của mọi nền tảng Kitô giáo chân chính” 841 .
Trong bối cảnh này, Linh Mục trước hết phải làm sống dậy đức tin, đức cậy và đức mến Chân thành
của mình đối với Chúa, để có thể đem Ngài ra cho tín hữu và mọi người chiêm ngưỡng đúng Chân dung
Ngài là một Ngôi Vị sống động, lôi cuốn, yêu thương chúng ta hơn ai hết vì đã thí mạng sống cho chúng ta.
“Không có tình yêu nào lớn hơn là thí mạng sống vì kẻ mình yêu” (Ga 15, 13).
Cũng thế, khi ý thức rằng cả con người Ngài là một sự tìm kiếm theo nhiều cách khác nhau, một tình
yêu có thể giúp ngài vượt qua những giới hạn của sự yếu đuối tính ích kỷ và sự chết, Linh Mục sẽ loan báo
rằng Đức Giêsu Kitô là giải đáp cho các ước vọng ấy.
Trong cuộc tân Phúc âm hoá Linh Mục được mời gọi trở nên “phát ngôn riêng của niềm hy vọng” 842 .
Thách đố về phía các giáo phái và tôn giáo mới
36. Hiện tượng nhiều giáo phái và tôn giáo mới sinh sôi nảy nở và ngay cả lan tràn giữa những người công
giáo tạo nên một thách đố nghiêm trọng cho thừa tác vụ mục vụ.
Nhiều động cơ phức tạp gây nên hiện tượng này. Trong mọi trường hợp, thừa tác vụ các Linh Mục là
phải nhanh chóng và quyết liệt đáp ứng cho khát vọng tìm kiếm sự linh thánh và một nền đạo đức đích thực
như thấy ngày nay.
Trong những năm gần đây, rõ ràng là những lý do đòi buộc Linh Mục phải là người của Thiên Chúa và
là thầy dạy cầu nguyện, là những lý do mục vụ.
Đồng thời, một điều kiện khác là cộng đoàn giao phó cho Linh Mục Chăm sóc phải tỏ ra thật sự cởi
mở để không một người nào cảm thấy vô danh hoặc bị đối xử lạnh nhạt.
Chắc chắn đây là trách nhiệm của mọi tín hữu, nhưng trước hết là của Linh Mục vì ngài là người của
sự hiệp thông.
Nếu Linh Mục biết đón nhận với lòng kính trọng tất cả những ai đến với mình, nhìn nhận giá trị con
người họ, ngài sẽ tạo được một bầu khí bác ái đích thực rất dễ lây lan và dần dần tỏa lan ra cả cộng đoàn.
Để thắng được thách đố của những giáo phái và hình thức tôn giáo mới này, điều quan trọng là phải có
một nền giáo lý chín mùi và đầy đủ. Ngày nay, nó đòi hỏi Linh Mục phải đặc biệt cố gắng, để mọi tín hữu
nhận biết thật sự ý nghĩa của ơn gọi Kitô giáo và của Đức Tin Công Giáo. Một cách đặc biệt, tín hữu phải
được dạy cho biết nhận ra tương quan giữa ơn gọi đặc thù của họ trong Đức Giêsu Kitô và họ thuộc về Giáo
Hội của Chúa mà họ có bổn phận yêu mến với tình con thảo và lòng kiên trì.
Tất cả điều đó có thể thực hiện được nếu trong cuộc sống và trong thừa tác vụ, Linh Mục biết tránh
những gì gây ra sự lạnh nhạt hờ hững hay một sự gia nhập có chọn lựa đối với Giáo Hội.
Bóng tối và ánh sáng trong hoạt động tác vụ.
37. Thật đáng phấn khởi khi thấy rằng ngày nay một số đông Linh Mục thuộc mọi lứa tuổi, đang thi hành
thừa tác vụ của mình trong sự dấn thân tràn đầy niềm vui, với lòng dũng cảm thầm lặng, làm việc cho đến
mức tàn lực và đôi khi không được nhìn thấy thành quả của công việc mình làm.
Vì lẽ đó, các ngài chứng tỏ ơn thánh tuôn đổ vào dịp phong chức vẫn tiếp tục ban sức mạnh mới cho
thừa tác viên thánh.
Bên cạnh những điểm sáng tô điểm cuộc đời Linh Mục, không thiếu những bóng tối đang làm mờ nhạt
vẻ đẹp và làm cho việc thực hành thừa tác vụ kém phần hữu hiệu.
Thừa tác vụ mục vụ là một công cuộc hấp dẫn nhưng cam go, luôn bị hiểu lầm hoặc bị gạt bỏ và nhất
là ngày nay dễ gây mệt mỏi, vỡ mộng nơi người khác, xa lánh và đôi khi cô đơn.
Để chiến thắng những thách đố mà não trạng thế tục mang đến cho Linh Mục, ngài cần dành ưu tiên
cao nhất cho đời sống thiêng liêng, để luôn luôn lưu lại bên cạnh Đức Kitô và quảng đại sống đức ái mục vụ,
tăng cường sự hiệp thông với mọi người, nhất là với các Linh Mục khác.
LƯU LẠI VỚI ĐỨC KITÔ TRONG KINH NGUYỆN.
Ưu tiên của đời sống thiêng liêng.
38. Có thể nói người Linh Mục đã được cưu mang trong lời kinh dài Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha khi
Ngài cầu cho các Tông Đồ, và tất nhiên cho tất cả những kẻ tham gia sứ mạng của Ngài qua các thời
đại(xem Lc 6, 12; Ga 17, 15-20) chính lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong vườn Giêtsimani, hướng về hy tế
trên đồi Golgotha là một mẫu mực cho thấy “chức Linh Mục phải được liên kết với sự cầu nguyện như thế
nào: đó là bén rễ sâu trong sự cầu nguyện 843 .
Vì được sinh ra từ những kinh nghiệm đó và được kêu mời tái diễn hy tế bất khả phân ly với Kinh
nguyện ấy. Linh Mục phải luôn luôn nuôi dưỡng thừa tác vụ của mình trong một đời sống thiêng liêng được
dành ưu tiên tuyệt đối. Thay vì coi nhẹ do quá say mê hoạt động. Chính vì muốn thi hành thừa tác vụ mục
vụ cách hiệu quả mà Linh Mục cần phải kết hợp mật thiết với Đức Kitô, Vị Mục Tử Tốt Lành, vì chỉ mình
Ngài là kẻ chủ chốt mọi hoạt động mục vụ.
Các phương thế cho đời sống thiêng liêng.
39. Đời sống thiêng liêng phải nhập thể vào cuộc đời mỗi Linh Mục qua Phụng Vụ, kinh nguyện cá nhân,
kiểu sống và tập tành các nhân đức Kitô giáo, những điều đó góp phần làm cho hoạt động thừa tác vụ nên
phong phú.
Có thể nói được, sự đồng hóa với Đức Kitô bắt buộc phải hít thở bầu khí tình bạn và gặp gỡ đích thân
với Chúa Giêsu trong tinh thần phục vụ Giáo Hội. Thân Thể Ngài; Linh Mục chứng tỏ tình yêu đối với Giáo
Hội bằng cách chu toàn một cách trung tín và không mệt mỏi những bổn phận của thừa tác vụ mục vụ 844 .
Như vậy đời sống cầu nguyện của Linh Mục cần phải bao gồm: dâng lễ hằng ngày 845 , đi kèm với việc
dọn mình và cám ơn thích hợp xưng tội thường xuyên 846 , việc linh hướng đã thực hành thời ở chủng viện 847 ,
cử hành đầy đủ và sốt sắng Phụng Vụ các Giờ Kinh 848 , bắt buộc mỗi ngày 849 xét mình 850 , nguyên gẫm 851 thật
sự đọc sách thiêng liêng (lectio divina) 852 ; những giây phút kéo dài thinh lặng và đối thoại với Chúa, nhất là
trong những kỳ linh thao và tĩnh tâm định kỳ 853 ; những hình thức quí báu kính Đức Mẹ như lần chuỗi 854 , đi
đàng thánh giá và thực hành đạo đức khác 855 , việc đọc hạnh các thánh 856 .
Hằng năm, để biểu lộ mong muốn đời sống trung tín, trong Thánh Lễ làm phép Dầu, các Linh Mục
nhắc lại trước mặt Giám Mục và cùng với Ngài, những lời hứa khi chịu chức 857 .
Linh Mục phải coi việc sống đời thiêng liêng của mình như một bổn phận vui tươi và còn là một
quyền lợi của giáo dân khi. ý thức hoặc vô ý thức, giáo dân tìm kiếm nơi Linh Mục của người Thiên Chúa,
vị cố vấn, vị trung gian hòa giải, người bạn trung thành và khôn ngoan, người hướng dẫn đáng tin cậy để họ
có thể tín thác trong những lúc cam go nhất của cuộc sống hầu tìm được sự nâng đỡ và an toàn 858 .
Noi gương Đức Kitô cầu nguyện.
40. Vì phải gánh vác nhiều trách vụ, nhất là những trách vụ hoạt động mục vụ, nên ngày nay hơn bao giờ
hết, Linh Mục gặp phải một loạt những lôi cuốn có thể đưa ngài đến một thứ duy hoạt động bên ngoài càng
ngày càng tăng, buộc ngài theo một nhịp độ đôi khi quay cuồng và chóng mặt.
Để chống lại cám dỗ trên, không bao giờ được quên rằng ý định ban đầu của Đức Giêsu là quy tụ các
Tông Đồ quanh Ngài, trước hết để “họ ở lại với Ngài” (x. Mc 3,14).
Chính con Thiên Chúa cũng đã muốn để lại cho chúng ta gương cầu nguyện của Ngài.
Thật vậy, các Phúc Âm rất thường cho chúng ta thấy Đức Kitô cầu nguyện : khi Chúa Cha mạc khải
về sứ mạng của Ngài (Lc 3.21-22), trước lúc kêu gọi các Tông Đồ (x. Lc 6.12), trong lời tạ ơn Chúa Cha khi
hóa bánh ra nhiều (x. Mt 14,19;15, 36; Mc 6, 41; 8, 7; Lc 9, 16; Ga 6,11), trong khi biến hình trên núi (x. Lc
9,28-29), khi chữa lành người câm điếc (x. Mc 7, 34), và cho Lazarô sống lại (x. Ga 11, 14 tt), trước lúc
Phêrô tuyên tín (x. Lc 9,18 ), khi dạy các môn đệ cầu nguyện (x. Lc 11,1) và lúc họ toàn tất sứ mạng trở
về(x. Mt 11,25 tt ; Lc10, 21 tt), khi chúc lành cho trẻ em (x. Mt 19,13) và khi Ngài cầu nguyện cho Phêrô
(x. Lc 22, 32).
Toàn bộ sinh hoạt hằng ngày của Ngài đều bắt nguồn từ cầu nguyện. Chẳng hạn, Ngài rút lui vào xa
mạc hoặc lên núi cầu nguyện (x. Mc 1, 35; 6, 46; Lc 5.16; Mt 4,1; Mt 14, 23), Ngài dậy sớm cầu nguyện
cùng Thiên Chúa (x. Mt 14, 23-25; Mc 6, 46-48; Lc 6,12). Cho đến cuối đời, tại Tiệc Ly (x. Ga17,1-16),
trong cơn hấp hối (x. Mt 26, 36-44). Trên thập giá (x. Lc 23, 34-46; Mt 27, 46; Mc 15, 34). Thầy Chí Thánh
đã chứng tỏ rằng việc cầu nguyện tạo sinh khí cho thừa tác vụ cứu độ và cuộc Vượt Qua của Ngài. Khi phục
sinh từ cõi chết. Ngài sống mãi và cầu nguyện cho chúng ta(x. Hcb 7, 25) 859 .
Theo gương Đức Kitô, Linh Mục phải biết duy trì lòng nhiệt thành và con số những lúc thinh lặng và
cầu nguyện để vun xới và đào sâu mối tương quan hiện sinh với Ngôi Vị sống động của Chúa Giêsu.
Bắt trước Giáo Hội cầu nguện
41. Để trung thành với cam kết “ở lại với Đức Giêsu” Linh Mục cần phải biết bắt chước Giáo Hội cầu
nguyện.
Khi phân phát lời Chúa mà chính ngài đã lãnh nhận với niềm vui, Linh Mục sẽ nhớ lời nhắn nhủ mà
Đức Giám Mục đã nói với Ngài trong ngày thụ phong : các con đã vui mừng lãnh nhận Lời Chúa, các con
hãy đem ra phân phát cho mọi người. Khi suy gẫm Luật Chúa, các con hãy chú tâm tin điều các con đọc, dạy
điều các con tin và thi hành điều các con dạy. Vậy giáo lý các con phải nên lương thực nuôi Dân Thiên
Chúa. Hương thơm đời sống các con phải nên niềm vui thú cho các tín hữu Đức Kitô, để lời nói và gương
lành các con xây dựng nhà Thiên Chúa và Hội thánh. Cũng thế, khi cử hành các Bí Tích đặc biệt là Bí Tích
Thánh Thể: các con phải ý thức việc các con làm, phải noi theo điều các con thực hiện, nghĩa là khi cử hành
mầu nhiệm Chúa chịu chết và sống lại, các con cố gắng chế ngự thân xác khỏi nết xấu và tiến bước trong đời
sống mới. Và sau cùng, đề cập đến việc hướng dẫn mục vụ Thiên Chúa để Ngài dẫn dắt họ đến cùng Chúa
Cha. Nhờ Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần : “Các con hãy luôn luôn ngắm nhìn gương sáng của Mục Tử
Tốt Lành: Người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ, Người đến để tìm kiếm và cứu rỗi kẻ hư
mất” 860 .
Cầu nguyện là hiệp thông.
42. Được vững mạnh nhờ mối liên kết đặc biệt giữa ngài với Chúa, Linh Mục biết đương đầu với những lúc
cảm thấy cô đơn giữa những người khác ; ngài phải mạnh mẽ lặp lại sự kết hợp với Chúa Kitô trong Bí Tích
Thánh Thể, là nơi ẩn nấu và chốn an nghỉ tốt nhất của ngài. Như thế Đức Giêsu luôn ở với Chúa Cha ngay
khi Ngài chỉ có một mình (x. Lc 3, 21; Mc 1, 35) 861 . Linh Mục cũng phải là người tìm hiệp thông với Thiên
Chúa trong sự cô đơn. Vì thế có thể nói như Thánh Ambroise: “Tôi không bao giờ tôi cảm thấy ít cô đơn
hơn khi tôi một mình” 862 . Chính ở bên cạnh Chúa mà Linh Mục tìm được sức mạnh và phương thế đem ta
đến gần Thiên Chúa, khơi dậy đức tin và thúc đẩy hành động và chia sẻ.
ĐỨC ÁI MỤC VỤ
Thể hiện đức ái của Đức Kitô
43. Đức ái mục vụ là nguyên lý nội tại và năng động phối hợp mọi hoạt động mục vụ của Linh Mục. Trong
bối cảnh văn hóa xã hội và tôn giáo mà ngài đang sống, đức ái mục vụ là phương thế thiết yếu để đưa con
người vào đời sống ân sủng.
Được hướng dẫn bởi đức ái đó, hoạt động thừa tác vụ phải được biểu lộ đức ái của Chúa Kitô. Như thế
Linh Mục phải biết diễn tả các hành vi và phong cách của Chúa cho đến chỗ tận hiến chính mình để mưu ích
cho đoàn chiên được giao phó 863 .
Đồng hóa đức ái mục vụ của Đức Kitô để biến đời mình là mục tiêu cho những cố gắng và hy sinh liên
tục của Linh Mục. Đức ái này không nghỉ ngơi và không chỉ đạt được một lần là đủ. Luôn luôn và khắp nơi,
các thừa tác viên của Đức Kitô cảm thấy bị bắt buộc phải sống và làm chứng cho thực tại này, ngay cả khi vì
tuổi tác, ngài không còn lãnh trách nhiệm mục vụ cụ thể nào.
Chủ nghĩa công chức
44. Ngày nay, đức ái mục vụ có nguy cơ mất hết ý nghĩa do cái mà người ta có thể gọi là “chủ nghĩa công
chức” (Fonctionnalisme). Thật ra, cũng không hiếm thấy nơi một vài Linh Mục ảnh hưởng của một não
trạng có nguy cơ thu hẹp chức tư tế thừa tác vào những khía cạnh thuần túy công vụ. “Làm” Linh Mục, thi
hành một số dịch vụ đặc thù và bảo đảm vài ba công vụ là tất cả lẽ sống của đời Linh Mục. Quan niệm hẹp
hòi này về căn tính và thừa tác vụ Linh Mục có nguy cơ đưa cuộc sống Linh Mục vào một sự trống rỗng
thường được bù trừ bằng những lối sống không phù hợp với thừa tác vụ của mình.
Một khi biết mình là thừa tác viên của Đức Kitô và của Hôn Thê Ngài. Linh Mục sẽ tìm kiếm trong
cầu nguyện, học hỏi và đọc sách thiêng liêng, sức mạnh cần thiết để chiến thắng mối hiểm nguy này 864 .
RAO GIẢNG LỜI CHÚA
Trung thành với Lời
45. Đức Kitô đã trao phó cho các Tông Đồ và Giáo Hội sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho mọi người.
Thông truyền đức tin là vén mở, loan báo và đào sâu ơn gọi làm Kitô hữu, tức là lời mời gọi của Thiên
Chúa nói với mỗi người để biểu lộ mầu nhiệm cứu độ đồng thời cho thấy chỗ đứng trong tương quan với
mầu nhiệm này, là làm nghĩa tử trong Chúa Con 865 . Hai khía cạnh này được diễn tả cách tổng hợp trong Kinh
Tin Kính, đó là một trong những lối diễn tả đức tin có thẩm quyền nhất mà Giáo Hội đã dùng để luôn đáp lại
lời mời gọi của Thiên Chúa 866 .
Có hai đòi hỏi của thừa tác vụ Linh Mục, giống như hai mặt của một đồng tiền. Một đàng, là tính chất
thừa sai trong việc truyền bá đức tin. Thừa tác vụ Lời Chúa không thể tách hoặc rời xa cuộc sống con người,
trái lại, nó phải trực tiếp qui chiếu vào ý nghĩa đời sống con người, của mọi người và như vậy phải đi vào
các vấn nạn gay cấn nhất được đặt ra cho lương tâm con người.
Đàng khác, có một đòi hỏi phải chân thực và phù hợp với đức tin của Giáo Hội là kẻ nắm giữ Chân lý
về Thiên Chúa và về con người. Thực tại này phải được sống với một ý thức trách nhiệm cao và hiểu rõ đây
là vấn đề hết sức quan trọng, vì liên quan đến đời sống con người và ý nghĩa của sự hiện hữu con người.
Để thừa tác vụ Lời Chúa đạt kết quả, và trong khi vẫn lưu tâm đủ đến bối cảnh này, Linh Mục phải
dành ưu tiên cho chứng tá đời sống, nó biểu lộ sức mạnh tình yêu Thiên Chúa và làm cho lời Ngài rao giảng
có tính thuyết phục. Đàng khác, ngài phải dành chỗ cho việc rao giảng minh nhiên mầu nhiệm Đức Kitô cho
các kẻ tin, kẻ chưa tin và người ngoài Kitô giáo: ngài phải lưu tâm đến việc dạy Giáo Lý là việc trình bày
Giáo Lý của Giáo Hội theo thứ tự và có tổ chức, đến việc áp dụng chân lý Mạc Khải vào việc giải quyết các
trường hợp cụ thể 867 .
Sự nhận thức tuyệt đối phải gắn bó trung thành với Lời Chúa và Thánh Truyền, để thật sự là người
muôn đệ và để nhận biết chân lý(x. Ga 8,31-32) đã luôn theo sát lịch sử đời sống thiêng liêng của Linh Mục.
Ý tưởng này đã được Công Đồng chung Vatican II nhắc lại 868 .
Trong xã hội hiện nay, được ghi dấu bởi thuyết duy vật lý thuyết và thực hành, bởi thuyết chủ quan và
óc đối kháng, càng cần phải trình bày Phúc Âm như “quyền năng của Thiên Chúa để cứu các kẻ tin” (Rm 1,
16). Khi biết rằng “đức tin là do rao giảng, và rao giảng lại dựa vào Lời Đức Kitô ”(Sđd 10, 17) các Linh
Mục sẽ dành mọi năng lực của mình để đáp ứng với sứ mạng này là sứ mạng hàng đầu trong thừa tác vụ của
các ngài. Thật vậy các ngài không chỉ là chứng nhân, mà còn là sứ giả và kẻ truyền bá đức tin 869 .
Thừa tác vụ này trong sự hiệp thông phẩm trật ban quyền cho các ngài được loan báo đức tin Công
giáo một cách có uy quyền và làm chứng một cách chính thức đức tin của Giáo Hội. Thật vậy, Dân Thiên
Chúa “được tập họp trước hết do Lời Thiên Chúa hằng sống, mà thuận lợi đặc biệt nhất là từ miệng các Linh
Mục” 870 .
Để có tính Chất xác thực, Lời phải được loan truyền “không có sự xảo quyệt, và xuyên tạc nhưng giải
bày sự thật trước mặt Thiên Chúa” (2Cr 4, 2). Với sự chính chắn trách nhiệm, Linh Mục phải tránh làm sai
lệch, giản lược, bóp méo hay giảm nhẹ nội dung sứ điệp thần linh. Thật vậy nhiệm vụ của ngài “không phải
là dạy sự khôn ngoan của mình, nhưng là Lời Thiên Chúa và mời gọi mọi người hoán cải và nên Thánh” 871 .
Do đó việc rao giảng không thể thu hẹp vào sự trao đổi ý kiến cá nhân, làm chứng bằng kinh nghiệm
bản thân hay giải thích những khía cạnh tâm lý 872 , xã hội học hoặc nhân đạo. Đàng khác, nó cũng không thể
bị lệ thuộc thái quá vào khoa hùng biện, thường gặp nơi các phương tiện truyền thông đại chúng. Ở đây,
phải loan báo một Lời mà người ta không được sử dụng tùy tiện, vì Lời đó đã được giao cho Giáo Hội gìn
giữ, suy gẫm và truyền lại một cách trung thành 873 .
Lời và đời sống
46. Đối với Linh Mục, ý thức sứ mạng rao giảng Phúc Âm phải luôn được cụ thể hóa về phương diện mục
vụ. Vì thế ngài phải mang sức sống, dưới ánh sáng Lời Chúa, vào các tình huống và môi trường ngài thi
hành thừa tác vụ.
Muốn đạt hiệu quả và được người ta tin, điều quan trọng là Linh Mục trong viễn ảnh đức tin và thừa
tác vụ của mình – với tinh thần phê bình xây dựng, cần phải biết những ý thức hệ, ngôn ngữ, những tranh
luận văn hóa, những tư tưởng thịnh hành vẫn được quảng bá trên các phương tiện truyền thông và gây ảnh
hưởng đến phần lớn các não trạng.
Được thúc đẩy bởi lời Thánh Tông Đồ: “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9, 16)
Linh Mục phải biết sử dụng mọi phương tiện truyền thông mà khoa học và kỹ thuật hiện đại cung cấp.
Vẫn biết Chắc là không phải tất cả tùy thuộc vào những phương tiện hay khả năng nhân loại : ơn Chúa
có thể mang lại kết quả một cách độc lập với công việc của loài người. Nhưng theo chương trình của Thiên
Chúa, sự rao giảng lời Chúa là con đường đặc cách để thông truyền đức tin và thực thi sứ mạng Phúc Âm
hóa.
Vì nhiều người ngày nay chưa nghe biết Đức Kitô, nên Linh Mục phải luôn luôn đặt cho mình câu hỏi
đầy lo âu này: “làm sao họ có thể tin nếu không được nghe nói đến, và làm sao cho họ được nghe nếu không
có ai rao giảng?” (Rm 10, 14). Để trả lời cho những câu hỏi này, Linh Mục sẽ cảm thấy cần lắng nghe Kinh
Thánh một cách đặc biệt, nhờ học hỏi khoa chú giải lành mạnh nhất là của các giáo phụ, nhờ suy gẫm. Theo
những phương thức khác nhau mà truyền thống đạo đức của Giáo Hội thường áp dụng, để có thể thấu hiểu
với lòng yêu mến 874 .
Hướng tới mục tiêu đó, Linh Mục sẽ cảm thấy cần phải đặc biệt chuyên cần soạn xa hay soạn gần các
bài giảng Phụng Vụ, quan tâm tới nội dung, sự quân bình giữa lý thuyết và thực hành, sư phạm và kỹ thuật
trình bày, đồng thời cũng quan tâm đến sắp xếp ngôn từ cho xứng hợp với giá trị của bài giảng và của cử
tọa 875 .
Lời Chúa và việc dạy Giáo Lý:
47. Dạy giáo lý là một phần quan trong của sứ mạng rao giảng Phúc Âm, vì nó là khí cụ đặc biệt để giáo dục
và huấn luyện đức tin cho thuần thục 876 .
Với tư cách là cộng tác viên và người ủy quyền của Giám Mục, Linh Mục có trách nhiệm thúc đẩy,
phối hợp và điều hành sinh hoạt Giáo Lý trong cộng đoàn được trao phó. Điều quan trọng là ngài cần biết
sắp xếp sinh hoạt này vào một trương trình Phúc Âm hóa có tổ chức, bảo đảm một cách đặc biệt dạy giáo lý
của cộng đoàn mình hiệp thông với Đức Giám Mục, với Giáo Hội địa phương và với Giáo Hội toàn cầu 877 .
Cách riêng, ngài biết tạo nên một trách nhiệm đúng đắn và hợp thời, một sự cộng tác trong việc dạy
Giáo Lý, nơi các thành viên của những Hội Dòng sống đời tận hiến, và của những Hiệp Hội Tông Đồ cũng
như của những giáo dân 878 được chuẩn bị đầy đủ, và ngài phải tỏ lòng biết ơn và quý trọng cộng tác dạy
Giáo Lý của họ.
Ngài cần lưu tâm đặc biệt đến việc đào tạo đầu tiên và thường xuyên cho các giảng viên Giáo Lý, các
hội đoàn và phong trào. Trong mức độ có thể, Linh Mục phải là “Giáo Lý viên của các Giáo Lý viên”, cùng
với những người này tạo nên một cộng đoàn đích thực gồm những môn đệ của Chúa, mà học viên Giáo Lý
có thể xem đó như cộng đoàn mẫu mực.
Là thầy dạy 879 và là nhà giáo dục đức tin 880 , Linh Mục lo sao cho việc dạy Giáo Lý chiếm môt địa vị ưu
tiên trong nền giáo dục Kitô giáo tại gia đình, trong trường công giáo, trong việc huấn luyện các phong trào
Tông Đồ.v.v. ngài cũng lo cho tất cả mọi tầng lớp giáo dân được học giáo lý như trẻ em, thiếu nhi, thanh
niên, người lớn, người già. Mặt khác, ngài cũng biết truyền đạt nội dung Giáo Lý bằng cách sử dụng mọi
phương pháp sư phạm và các phương tiện truyền thông có thể giúp tín hữu, theo cách phù hợp với đặc điểm,
khả năng, tuổi tác và điều kiện sống của họ, có thể lĩnh hội một cách hoàn hảo Giáo Lý Công Giáo và đem
ra thực hành cách xứng hợp hơn 881 .
Để đạt mục đích đo, Linh Mục cần dựa vào cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo như sách tham
chiếu chính yếu. Thật vậy, thủ bản này tạo thành quy phạm và chính thức cho việc giáo huấn của Giáo Hội 882.
BÍ TÍCH THÁNH THỂ
Mầu Nhiệm Thánh Thể
48. Nếu dịch vụ Lời Chúa là yếu tố nền tảng của thừa tác vụ Linh Mục, thì trọng tâm của thừa tác vụ ấy là
Thánh Thể, đó là sự hiện diện thật sự trong thời gian của Hy tế duy nhất và vĩnh cửu của Đức Kitô 883 .
Tưởng nhớ sự chết và phục sinh của Chúa Kitô dưới hình thức Bí Tích, tái diễn thật sự và hữu hiệu Hy
Tế Cứu Độ duy nhất, cội nguồn và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo và của mọi cuộc Phúc Âm hóa 884 ,
Thánh Thể là nguyên lý phương tiện và cứu cánh của thừa tác vụ Linh Mục bởi vì tất cả mọi thừa tác vụ của
Giáo Hội và mọi công việc Tông Đồ đề liên kết chặt chẽ với Thánh Thể và được trao ban vì Thánh Thể 885 .
Được thánh hiến để lưu truyền Hy Lễ Thánh, Linh Mục biểu lộ căn tính của mình một cách rõ ràng nhất.
Thật vậy, có một sự nối kết mật thiết giữa Thánh Thể là trung tâm với đức ái mục vụ và duy nhất tính
của đời Linh Mục 886 . Trong điểm nối kết này, ngài tìm được những chỉ dẫn quyết định cho cuộc hành trình
nên Thánh mà ngài được kêu gọi cách đặc biệt.
Bởi vì, người thừa tác viên cho Đức Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm và đời đời, mượn trí khôn, ý chí,
tiếng nói và đôi tay, để qua thừa tác vụ đó, người có thể dâng cho Chúa Cha Hy Lễ Bí Tích của ơn cứu
chuộc, nên Linh Mục cũng phải có những phẩm giá của Thầy mình và như Thầy, sống như một quà tặng cho
anh em mình. Vì thế, ngài phải học biết kết hợp mật thiết với lễ vật, đặt trên bàn thờ hy lễ cả cuộc đời mình
như dấu chỉ của tình yêu nhưng không và ân cần của Thiên Chúa.
Cử hành Thánh Thể
49. Cần phải nhắc lại giá trị không gì thay thế được của Thánh Thể 887 mà Linh Mục cử hành, cả khi không
có giáo dân tham dự. Ngài phải sống Thánh Lễ như trung tâm điểm của một ngày sống và của thừa tác vụ
hằng ngày, là hoa quả của một mong ước chân thành, là dip gặp gỡ sâu xa và đem lại hiệu quả với Đức Kitô,
ngài phải hết sức chú tâm dâng lễ cho sốt sắng và đặt vào đó cả tâm trí và con tim mình.
Trong một nền văn hóa luôn nhạy bén với lối truyền tin bằng dấu chỉ và hình ảnh, Linh Mục phải chú
ý đến những gì có thể nâng cao giá trị và tính chất linh thánh của cử hành Thánh Thể. Điều quan trọng trong
cử hành là phải chú trọng tới sự xứng hợp và sạch sẽ nơi dâng lễ, tới kiến trúc bàn thờ và Nhà Tạm 888 , tới vẻ
thanh cao của chén lễ và áo lễ 889 , của bài hát 890 , âm nhạc 891 , những lúc yên lặng v.v… 892 Tất cả những yếu tố
này có thể giúp tham dự Hy Tế Thánh Thể tốt hơn. Thật vậy, việc thiếu lưu tâm đến những khía cạnh biểu
trưng của Phụng Vụ, hoặc hơn nữa, sự cẩu thả, vội vã, hời hợt và vô trật tự sẽ làm mất hết ý nghĩa đồng thời
làm suy giảm chức năng tăng trưởng đức tin của Phụng Vụ 893 . Ai cử hành cẩu thả chứng tỏ yếu kém đức tin
và không thể dạy kẻ khác đạt tới đức tin. Ngược lại, cử hành tốt tạo thành việc dạy Giáo Lý đầu tiên và
quan trọng nhất về Hy Lễ Thánh.
Như thế, khi vận dụng hết khả năng để làm sống động việc cử hành Thánh Thể cùng với sự tham gia
của mọi tín hữu, Linh Mục phải biết theo sát nghi thức đã được qui định trong các sách Phụng Vụ đã được
thẩm quyền chuẩn y, mà không thêm bớt hay thay đổi bất cứ điều gì 894 .
Các Đấng Bản Quyền, các Bề Trên Hội Dòng, các vị lãnh đạo các Hiệp Hội Tông Đồ có bổn phận,
ngoài việc làm gương, phải lo sao cho các quy luật Phụng Vụ liên quan đến việc cử hành Thánh Thể được
trung thành tuân giữ ở mọi nơi.
Các Linh Mục tế lễ hoặc đồng tế bắt buộc phải mặc phẩm phục theo chữ đỏ 895 .
Chầu Thánh Thể.
50. Tính cách trung tâm của Thánh Thể phải thể hiện không những trong việc cử hành Hy Lễ một cách sống
động và xứng đáng, mà còn trong việc Chầu Thánh Thể thường xuyên. Lúc đó Linh Mục còn xuất hiện như
gương mẫu cho cộng đoàn về lòng tôn sùng Bí Tích Thánh Thể và siêng năng suy gẫm, mỗi khi có thể,
trước Chúa đang hiện diện trong Nhà Tạm. Thật đáng ước mong các Linh Mục phụ trách cộng đoàn bỏ ra
nhiều thời giờ cho việc Chầu chung và dành cho Thánh Thể trong Thánh Lễ cũng như ngoài Thánh Lễ nhiều
chú tâm và vinh dự hơn bất cứ nghi thức hoặc cử điệu nào khác. “Đức tin và lòng mến đối với Thánh Thể
không cho phép để Đức Kitô cô đơn trong Nhà Tạm” 896 .
Một thời điểm đặc biệt để Chầu Thánh Thể có thể là Phụng Vụ các Giờ Kinh, vì nó nối dài suốt cả
ngày, hy lễ ngợi khen và tạ ơn mà trung tâm và nguồn gốc của hy lễ ấy là Thánh Lễ. Phụng Vụ Giờ Kinh,
trong đó Linh Mục kết hợp với Chúa Kitô, là tiếng nói của Giáo Hội cho toàn thế giới, nên được đọc chung
khi có thể và dưới những hình thức tiện lợi, để nó trở nên “ người thông ngôn và là chiếc xe chở tiếng nói
của cả vũ trụ hát mừng vinh quang Chúa và cầu xin sự cứu độ cho con người” 897 . Các Kinh Sĩ vốn dành cho
một sự long trọng kiểu mẫu cho cử hành này. Người ta luôn tránh biến việc cử hành này, chung hoặc cá
nhân, thành một “bổn phận” suông, được chu toàn một cách máy móc, chỉ là một bài đọc vội vàng mà không
lưu ý đến ý nghĩa bản văn.
BÍ TÍCH GIẢI TỘI
Thừa tác viên của sự hòa giải
51. Chúa Thánh Thần là ơn sự Phục Sinh cho các Tông Đồ để tha thứ : “các con hãy nhận lấy Thánh Thần
các con tha tội ai, thì tội cho ai, thì tội họ được tha, các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ” (Ga 20,
21-23). Đức Kitô đã giao nhiệm vụ hòa giải con người với Thiên Chúa chỉ riêng cho các Tông Đồ và cho
những kẻ kế vị các ngài trong sứ vụ này. Như thế, theo ý muốn của Đức Kitô chỉ các Linh Mục là những
thừa tác viên của Bí Tích Hòa Giải 898 . Cũng như Đức Kitô, các ngài được sai đi kêu gọi tội nhân hối cải và
đưa họ về với Chúa Cha nơi tòa án của lòng thương xót.
Sự giao hòa bí tích tái lập tình thân thiết với Chúa Cha và với mọi con cái trong gia đình của Ngài là
Giáo Hội được tươi trẻ trở lại và được xây dựng trong mọi chiều kích : toàn cầu, giáo phận, giáo xứ 899 .
Mặc dù có điều đáng buồn là người ta đánh mất ý thức về tội, điều này khá phổ biến trong văn hóa
ngày nay, Linh Mục phải thi hành một cách vui vẻ và quảng đại thừa tác vụ huấn luyện lương tâm, dạy bảo
vệ sự tha thứ và bình an.
Điều cần thiết là ngài biết đồng hóa theo một nghĩa nào đó, với Bí Tích này, và bắt chước thái độ của
Chúa Kitô, biết thương xót cúi mình xuống nhân loại bị tội lỗi làm tổn thương như người Samari tốt bụng.
Như thế ngài cho thấy sự mới mẻ trong chiều kích chữa trị của Bí Tích Sám Hối là chữa lành và tha tội 900 .
Tận tụy trong thừa tác vụ Hòa Giải
52. Do nhiệm vụ 901 cũng như do chức thánh, Linh Mục phải dành thời giờ và nghị lực để nghe giáo dân xưng
tội, theo kinh nghiệm, họ thường vui lòng lãnh nhận Bí Tích này khi nào họ gặp thấy những Linh Mục sẵn
sàng. Điều đó đúng ở mọi nơi nhưng nhất là các nhà thờ ở những vùng có đông người lui tới nhất, và tại các
đền thánh, nơi đó người ta có thể tổ chức một sự cộng tác huynh đệ và trách nhiệm giữa các Linh Mục Dòng
hoặc cao tuổi.
Mỗi Linh Mục phải tuân theo quy định của Giáo Hội, bênh vực và cổ võ giá trị của việc xưng tội cá
nhân và của việc thú tội mỗi người một cách chân thành trong sự đối thoại trực tiếp với cha giải tội 902 , luật
dành việc xưng tội và giải tội tập thể cho những trường hợp đặc biệt đã dự liệu trong những điều kiện cần
thiết 903 . Như thế cha giải tội sẽ phải hướng dẫn lương tâm của hối nhân bằng một vài lời khuyên cho dù vắn
tắt những phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, nhằm giúp cá nhân hướng đến sự hoán cải và ảnh hưởng sâu
xa đến con đường thiêng liêng của kẻ ấy, cũng như bằng cách ra việc đền tội xứng hợp 904 .
Trong mọi trường hợp Linh Mục phải biết duy trì việc cử hành Bí Tích Hòa Giải ở mức độ Bí Tích,
bằng cách vượt thắng nguy cơ giảm thiểu việc cử hành ấy vào một sinh hoạt thuần túy tâm lý hay chỉ có tính
cách hình thức.
Ngoài ra, điều đó còn thể hiện rõ trong cách trung thành tuân giữ luật lệ hiện hành về nơi giải tội và
tòa giải tội 905 .
Sự cần thiết phải xưng tội
53. Như bất kỳ giáo dân tốt lành nào, Linh Mục cũng cần xưng thú tội lỗi và những yếu đuối của mình. Ngài
là người đầu tiên biết rằng việc thực hành Bí Tích này củng cố đức tin và đức mến Chúa yêu người.
Để có được điều kiện tốt nhất mà trình bày vẻ đẹp của Bí Tích Sám Hối, thừa tác viên của Bí Tích này
cần làm chứng cá nhân bằng cách đi trước các tín hữu khác trong việc lãnh ơn tha thứ. Kinh nghiệm này
còn là điều kiện đầu tiên để tái đề cao giá trị mục vụ của Bí Tích Hòa Giải. Trong chiều hướng đó, thật là tốt
đẹp giáo dân biết và thấy chính Linh Mục của họ cũng xưng tội đều đặn 906 . “Cuộc đời Linh Mục sẽ không
tránh khỏi xuống dốc nếu chính ngài, vì lơ là hoặc vì lý do nào đó, không thường xuyên và với đức tin và
lòng đạo đức, chạy đến với Bí Tích thống hối. Nơi một Linh Mục không xưng tội nữa, hay xưng tội kém, thì
con người Linh Mục và sứ vụ Linh Mục bị ảnh hưởng mau chóng và chính cộng đoàn mà ngài là chủ chăn
sẽ nhận thấy ngay” 907 .
Linh hướng cho mình và cho kẻ khác.
54. Song song với Bí Tích Hòa Giải, Linh Mục không quên thực thi thừa tác vụ linh hướng. Việc tái khám
phá và truyền bá thực hành này, cũng có xảy ra ở bên ngoài việc ban hành Bí Tích Thống Hối, là một thiện
ích lớn lao cho Giáo Hội trong thời đại này 908 . Thái độ quảng đại và tích cực của Linh Mục khi thực hành
việc linh hướng là một cơ hội quan trọng để khám phá và nâng đỡ các ơn gọi Linh Mục và các hình thức
khác của đời sống tu trì.
Để cải thiện đời sống thiêng liêng của mình, chính các Linh Mục cũng cần phải nhận linh hướng. Bằng
cách đặt sự hướng dẫn tâm hồn mình vào tay của người anh em khôn ngoan ngài sẽ chín chắn hơn, ngay từ
đầu thừa tác vụ, trong nhận thức rằng không nên bước đi một mình trên những con đường sự sống thiêng
liêng và dấn thân mục vụ, khi sử dụng phương thế huấn luyện hữu hiệu này, đã được thử luyện kỹ càng
trong Giáo Hội, các Linh Mục được hoàn toàn tự do chọn người hướng dẫn.
NGƯỜI HƯỚNG DẪN CỘNG ĐOÀN
Linh Mục cho cộng đoàn
55. Linh Mục cũng được mời gọi đương đầu với những đòi hỏi tiêu biểu của một khía cạnh khác trong thừa
tác vụ, đó là chăm lo sức sống cho cộng đoàn được giao phó, điều ấy ngài thể hiện qua chứng tá đức ái.
Là mục tử của cộng đoàn, Linh Mục sống và hiện hữu vì nó ; vì nó mà cầu nguyện, học hỏi, làm việc
và hy sinh. Và chính vì cộng đoàn mà ngài sẵn sàng thí mạng, yêu mến nó như Đức Kitô, trao cho nó tất cả
tình yêu và sự qúy mến 909 , hao tốn sức lực và thời giờ lo cho nó nên hình ảnh của Giáo Hội Hiền Thê Đức
Kitô, càng ngày càng xinh đẹp hơn, xứng đáng được Chúa Cha quý chuộng và Chúa Thánh Thần yêu
thương.
Chiều kích hôn ước này của đời sống Linh Mục mục tử buộc Linh Mục hướng dẫn cộng đoàn bằng sự
phục vụ hết mình toàn thể cộng đoàn và từng thành viên, soi sáng lương tâm họ bằng chân lý Mạc Khải,
dùng quyền bính bảo vệ đời sống Kitô hữu theo đúng tinh thần Phúc Âm, sửa dạy các lỗi lầm, tha thứ, săn
sóc các vết thương, an ủi những ai sầu khổ và thăng tiến tình huynh đệ 910 .
Toàn bộ những ân cần tế nhị và phức tạp nói trên, cộng thêm chứng từ đức ái luôn luôn trong sáng và
hữu hiệu, cùng biểu lộ sự hiệp thông sâu xa phải được thực thi giữa Linh Mục với cộng đoàn của ngài, như
nối dài và hiện tại hóa hiệp thông với Thiên Chúa, Đức Kitô và Giáo Hội 911 .
Sentire cum Ecclesia- đồng cảm với Giáo Hội.
56. Để làm một người hướng dẫn tốt cho dân mình, Linh Mục cũng phải để ý nhận diện các dấu chỉ thời đại,
từ những dấu chỉ bao la liên quan đến Giáo Hội toàn cầu và đường đi của Giáo Hội trong lịch sử loài
người, cho đến những dấu chỉ gần gũi nhất với tình trạng cụ thể của cộng đoàn.
Sự phân định đó đòi hỏi phải cập nhật hóa liên tục và thích đáng việc nghiên cứu các vấn đề thần học
và mục vụ, biết suy xét khôn ngoan các dữ kiện xã hội, văn hóa và khoa học của thời đại.
Trong khi chu toàn thừa tác vụ, Linh Mục phải biết diễn dịch đòi hỏi này bằng một thái độ liên lỉ và
chân thành đồng cảm với Giáo Hội (sentire cum Ecclesia), để các ngài luôn làm việc trong sự hiệp thông với
Đức Giáo Hoàng, với các Giám Mục, với các anh em, cũng như với các tín hữu tận hiến do việc tuyên khấn
giữ các lời khuyên Phúc Âm và nơi các giáo dân khác.
Trong khi cử hành sứ vụ, Linh Mục sẽ không quên tìm kiếm, theo những hình thức hợp pháp và tùy
theo khả năng từng người, sự hợp tác của các tín hữu được hiến thánh và của giáo dân thường.
ĐỘC THÂN LINH MỤC
Ý muốn vững chắc của Giáo Hội
57. Xác tín vào những động cơ thần học và mục vụ sâu xa làm cơ sở cho mối tương quan giữa sự độc thân
và chức Linh Mục, được soi sáng bằng chứng tá còn giá trị ngày hôm nay của rất nhiều cuộc đời Linh Mục
vững mạnh về mặt thiêng liêng và Phúc Âm, mặc dầu xảy ra nhiều trường hợp đau thương, Giáo Hội đã tái
xác nhận, qua Công Đồng Vatican II và qua huấn giáo của Giáo Hoàng về sau, “ý muốn mãnh liệt duy trì
luật đòi buộc tình trạng độc thân vĩnh viễn tự do lựa chọn cho các ứng viên chức Linh Mục theo nghi lễ
Latinh” 912 .
Thật vậy, sự độc thân là một ơn huệ mà Giáo Hội đã nhận lãnh và luôn chăm lo giữ gìn vì xác tín rằng
đó là một thiện ích cho mình và cho thế giới.
Những lý do thần học và thiêng liêng.
58. Như mọi giá trị Phúc Âm khác, độc thân thánh hiến cũng phải được sống như một sự mới mẻ mang tính
giải phóng, như một bằng chứng đặc biệt của việc theo Đức Kitô một cách triệt để và như dấu chỉ thực tại
cánh chung.
“Không phải mọi người đều hiểu được lời này, nhưng chỉ những ai điều ấy đã được ban cho. Vì có
những người yêm hoạn bởi tự lòng Mẹ đã sinh ra như vậy; và có những người yêm hoạn bởi người ta làm
cho nên yêm hoạn, và có những người yêm hoạn bởi mình làm cho mình thành yêm hoạn vì Nước Trời. Ai
hiểu nổi thì hãy lo hiểu lấy”(Mt 19, 10 -12) 913 .
Muốn sống với tình yêu và quảng đại ơn huệ đã lãnh nhận, điều đặc biệt quan trọng là Linh Mục, ngay
khi còn thụ huấn tại chủng viện, phải hiểu những lý do thần học và thiêng liêng của kỷ luật Giáo Hội về sự
độc thân 914 . Sự độc thân, vì là ân huệ và đặc sủng của Thiên Chúa, đòi buộc sống tiết dục hoàn toàn và vĩnh
viễn vì Nước Trời, ngõ hầu các thừa tác viên thánh có thể sống khắng khít với Đức Kitô cách dễ dàng hơn,
với một con tim không chia sẻ và có thể hiến mình phục vụ Thiên Chúa và nhân loại cách tự do hơn 915 . Ngay
cả trước khi đương sự tỏ ý muốn sẵn sàng, thì kỷ luật Giáo Hội vẫn biểu lộ ý muốn của Giáo Hội và tìm ra
lý do tồn tại sâu thẳm trong mối liên hệ chặt chẽ giữa sự độc thân và chức thánh, đồng hình hóa Linh Mục
với Đức Giêsu Kitô, Đầu và Hiền Phu của Giáo Hội 916 .
Thư gởi tín hữu Ephêsô (x. 5, 25-27) thiết lập mối tương quan chặt chẽ giữa hiến tế tư tế của Đức Kitô
(x.5, 25) và sự thánh hóa Giáo Hội ( x. 5, 26) được yêu bằng tình yêu hôn nhân. Như thế một khi được cách
đặt một cách Bí Tích vào chức tư tế tình yêu độc hiến của Đức Kitô đối với Giáo Hội Hiền Thê trung thành
của Ngài, bằng cam kết sống bậc độc thân, Linh Mục diễn tả tình yêu ấy nay trở thành nguồn suối phát sinh
hiệu năng mục vụ.
Cho nên, sự độc thân không phải là một yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài đến thừa tác vụ Linh Mục, nó
càng không phải đơn thuần là một định chế do luật áp đặt là bơi vì (giữa nhiều lý do khác), người lãnh chức
thánh hoàn toàn hiểu biết và tự do cam kết 917 sau một thời kỳ chuẩn bị nhiều năm, và suy nghĩ kỹ càng cùng
cầu nguyện liên lỉ. Sau khi xác tín vững chắc rằng Đức Kitô ban cho ân huệ này vì lợi ích của Giáo Hội và
để phục vụ những người khác, Linh Mục chấp nhận sống độc thân suốt đời, củng cố ý muốn này trong lời
hứa đã tuyên đọc trong nghi thức Truyền Chức Phó tế 918 .
Vì tất cả những lý do trên, luật Giáo Hội một đàng xác quyết đặc sủng độc thân bằng cách cho thấy nó
được liên kết mật thiết như thế nào với thừa tác vụ thánh, trong hai chiều kích tương quan với Đức Kitô và
Giáo Hội, đàng khác bảo vệ tự do của người lãnh nhận ân huệ đó 919 . Cũng thế, vì được thánh hiến cho Đức
Kitô một cách mới mẻ và đặt biệt 920 , Linh Mục ý thức mình đã lãnh một ân huệ được củng cố bằng một mối
giây pháp lý nhất định buộc mình phải giữ một cách luân lý. Mối giây này, chấp nhận trong tự do, có đặc
tính thần học vì nó là một dấu chỉ của sợi giây hôn nhân được thực hiện trong Bí Tích Truyền Chức. Nhờ sợi
giây đó, Linh Mục nhận được tình phụ tử thiêng liêng nhưng có thực, với chiều kích phổ quát, nhưng được
đặc biệt cụ thể hóa trong cộng đoàn được giao phó cho ngài 921 .
Gương Chúa Giêsu
59. Sự độc thân quả là một sự tự biết mình “trong” Đức Giêsu Kitô và “với” Đức Giêsu Kitô cho Giáo Hội
của Ngài, nó diễn tả việc phục vụ Giáo Hội mà Linh Mục thi hành “trong” và “với” Chúa 922 .
Người ta sẽ còn mãi trong tình trạng ấu trĩ nếu sống độc thân như một “sắc thế phải trả cho Chúa” để
được tiến tới chức thánh, chứ không phải như “một ân huệ Chúa ban vì lòng nhân từ” 923 , và mình tự do lựa
chọn và vui vẻ chấp nhận một ơn gọi đặc biệt để mến Chúa và yêu người.
Chúa đã làm gương về vấn đề này, đi ngược lại cái được coi như là văn hóa chủ đạo thời đó, khi tự do
chọn sống độc thân. Nối gót Ngài, các môn đệ đã từ bỏ “tất cả mọi sự” để hoàn thành sứ mạng (Lc 18,28-
30).
Vì lý do đó, từ thời các Tông Đồ, Giáo Hội đã muốn bảo tồn ơn tiết dục vĩnh viễn của Giáo Sĩ, và
hướng về giải pháp chọn các ứng cử viên Chức Thánh nơi những người độc thân.(x. 2Tx 2,15;1Cr 7, 5; Tt
1,6-8) 924 .
Những khó khăn và vấn nạn
60. Trong bầu khí văn hóa hiên nay, người ta đánh mất ý nghĩa các giá trị và nhất là không hiểu đúng ý toàn
bộ, tích cực và mang tính giải phóng của dục tính nơi con người nên thường nêu ra vấn nạn về giá trị và ý
nghĩa độc thân Linh Mục hay ít ra, có nên khẳng định mối tương quan chặt chẽ và sự hòa hợp sâu đậm giữa
độc thân với chức tư tế thừa tác không?
Theo dòng các thế kỷ, nhiều khó khăn và vấn nạn đã luôn theo sát sự lựa chọn của Giáo Hội La tinh và
một số Giáo Hội đông phương, là chỉ Truyền Chức Linh Mục thừa tác cho những người đàn ông đã được
Chúa ban ơn sống khiết tịnh trong bậc độc thân. Kỷ luật của Giáo Hội đông phương khác, khi chấp nhận
chức Linh Mục của những người đàn ông đã có vợ là không chống lại kỷ luật của Giáo Hội la tinh, vì chính
Giáo Hội đó đòi các Giám Mục sống độc thân. Hơn nữa, các Giáo Hội chấp nhận hôn nhân của các Linh
Mục hay những phép cưới liên tiếp của các thừa tác viên góa vợ. Luôn luôn và chỉ phong chức cho người đã
có vợ.
Những khó khăn mà một số người nêu lên hôm nay 925 , thường dựa trên những lý do giả tạo, chẳng
hạn tố cáo đó là thuyết duy linh thoát xác(spiritualisme desincarné) hoặc quả quyết tiết dục là nghi ngờ hoặc
khinh miệt dục tính. Một số khác dựa vào những trường hợp khó khăn và đau buồn, hay tổng quát hóa một
vài trường hơp cá biệt, ngược lại người ta quên chứng từ của một đại đa số Linh Mục sống độc thân trong sự
tự do nội tâm, dự vào những động lực Phúc Âm sâu xa, trong sung mãn thiêng liêng, trong một chân trời của
lòng trung thành đầy xác tín và vui tươi đối vơi ơn gọi và sứ mạng của mình.
Rõ ràng là để bảo đảm và bảo tồn ơn huệ này trong quân bình thanh thoát và thăng tiến thiêng liêng thì
cần những biện pháp giúp Linh Mục có thể lánh xa những khó khăn có để xảy đến 926 .
Do đó, các Linh Mục cần phải cư xử khôn ngoan khi giao tiếp với những người mà tình thân mật có
nguy cơ dẫn đến thất trung với ơn độc thân hay gương xấu cho giáo dân 927 . Trong những trường hợp đặc
biệt, phải quy phục phán quyết của Đức Giám Mục, ngài có trách nhiệm ban bố những luật lệ rõ ràng trong
lãnh vực này 928 .
Hơn nữa, các Linh Mục không được coi nhẹ những quy luật khổ chế lâu nay được thừa nhận qua kinh
nghiệm trong Giáo Hội, vì chúng còn cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay. Vẫn còn rất cần thiết. Muốn vậy,
Linh Mục phải khôn ngoan lánh những nơi, những kịch tuồng và sách báo có phương hại đến việc thực thi
đức thiết tịnh trong việc độc thân 929 . Đối với các phương tiện truyền thông xã hội, Linh Mục dù với tư cách
là diễn viên hay người sử dụng, đều phải thận trọng và tránh những gì có thể tác hại đến ơn gọi của mình.
Trong một bầu khí cổ võ hưởng thụ dục tính quá lố, muốn bảo vệ với tình yêu ân huệ đã lãnh nhận, thì
chính nhờ sự kết hiệp với Đức Kitô và Giáo Hội, nhờ vào việc sùng kính Đức Trinh Nữ Maria và nhờ soi
gương các Linh Mục thánh thiện của mọi thời đại, mà Linh Mục tìm được sức mạnh cần thiết để lướt thắng
mọi khó khăn trên đường đi, và để hành động chín chắn cho thế giới tin mình 930 .
ĐỨC VÂNG LỜI
Nền tảng của đức vâng lời
61. Đức vâng lời là một giá trị quan trọng hàng đầu của đời Linh Mục. Chính Hy Tế trên thập giá của Đức
Giêsu có giá trị và ý nghĩa cứu chuộc là nhờ sự vâng phục và trung thành với ý muốn của Chúa Cha. Ngài đã
“vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,8). Thư giữ tín hữu Do Thái cũng nhấn mạnh rằng Chúa
Giêsu “đã học vâng phục trong đau khổ” (Dt 5,8). Như thế, có thể nói, sự vâng phục Chúa Cha nằm ở trung
tâm chức tư tế của Đức Kitô.
Cũng như Đức Kitô, nhờ vâng lời mà Linh Mục học biết ý Thiên Chúa biểu lộ ra nơi các bề trên hợp
pháp của mình. Sự sẵn sàng này phải được hiểu như công việc thật sự của sự tự do cá vị, thành quả của sự
lựa chọn chín mùi trước mặt Thiên Chúa trong cầu nguyện. Nhân đức vâng lời, về thực chất, gắn liền với Bí
Tích và cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, rõ ràng là đối tượng của lời thề hứa Giáo Sĩ tuyên đọc trước khi lãnh
chức phó tế, rồi sau đó lãnh chức Linh Mục. qua lời hứa này, Linh Mục nhấn mạnh ý muốn tùng phục, đi
vào vòng năng động của sự vâng lời nơi Đức Kitô, người tôi tớ vâng lời cho đến chết trên thánh giá (x. Pl
2,7-8) 931 .
Nền văn hóa hiện nay đề cao giá trị của tính chủ quan và sự độc lập của ngôi vị, hiểu như là thực chất
của phẩm giá con người. Giá trị này, tự nó là tích cực, nhưng mang chiều kích tiêu cực khi nó bị tuyệt đối
hóa và được đòi hỏi ở bên ngoài bối cảnh hợp pháp 932 . Điều này cũng có thể xảy ra ở giữa lòng Giáo Hội và
trong đời sống Linh Mục, nếu những hoạt động được thực hiện để phục vụ công đoàn, lại bị giản lược vào
một sự việc thuần chủ quan.
Trên thực tế, Linh Mục, do bản chất của chức tư tế, phục vụ Đức Kitô và Giáo Hội. Do đó, ngài phải
luôns ẵn sàng đón nhận mọi chỉ bảo đúng đắn của các Bề Trên và nhất là, nếu không bị ngăn trở chính
đáng, ngài phải chấp nhận và trung thành chu toàn nhiệm vụ Đấng Bản Quyền giao phó 933 .
Đức vâng lời phẩm trật
62. Linh Mục “bị buộc một cách đặc biệt phải kính trọng và vâng phục” Đức Giáo Hoàng và Đấng Bản
Quyền của mình 934 . Vì trực thuộc một Linh Mục đoàn nhất định, ngài phục vụ một Giáo Hội địa phương,
Giáo Hội này tìm ra nguyên lý và nền tảng cho sự hiệp nhất của mình với Giám Mục 935 , người thi hành trên
Giáo Hội này, toàn bộ quyền thông thường, riêng biệt và trực tiếp, cần cho nhiệm vụ mục tử của ngài 936 . Sự
tùng phục phẩm trật, mà Bí Tích Truyền Chức đòi buộc, được thể hiện, về mặt Giáo Hội và theo cơ cấu,
trong mối dây liên kết với Giám Mục và với Đức Giáo Hoàng, là Đấng cầm đầu quyền bính thông thường
trên mọi Giáo Hội địa phương 937 .
Sự bắt buộc tuân phục huấn quyền, trong phạm vi đức tin và luân lý, tự bản chất gắn liền với mọi phận
vụ mà Linh Mục phải chu toàn trong Giáo Hội. Không đồng tình trong lãnh vực này phải bị xét xử nặng vì
gây ra gương xấu và làm cho tín hữu đi lạc hướng.
Không ai hơn Linh Mục hiểu rõ sự cần thiết của những quy luật trong Giáo Hội. Thật vậy, bởi vì cơ
cấu phẩm trật và hữu cơ là hữu hình, nên việc thi hành các phận vụ mà Thiên Chúa giao phó, nhất là nhiệm
vụ hướng dẫn Dân và cử hành các Bí Tích, phải được tổ chức thích đáng 938 .
Với tư cách là thừa tác viên của Đức Kitô và Giáo Hội, Linh Mục phải quảng đại, cam kết trung thành
tuân giữa tất cả và từng quy luật một tránh mọi hình thức tuân giữ từng phần theo các tiêu chuẩn chủ quan
gây chia rẽ và ảnh hưởng đến giáo dân và dư luận công cộng, gây thiệt hại nặng nề về mục vụ. Thật vậy
“những quy định của giáo luật tự nó có tính cách bắt buộc”và đòi hỏi “các chi thể phải tuân giữ tất cả những
gì đầu sai khiến” 939 .
Khi vâng phục quyền bính đã được thiết lập, Linh Mục cổ võ đức ái hỗ tương giữa Linh Mục đoàn và
sự hiệp nhất đặt nền trên chân lý.
Quyền bính được thực thi với đức ái
63. Để việc giữ đức vâng lời được thực hiện trong Giáo Hội, tất cả những người có chức quyền (các Đấng
Bản Quyền, các Bề Trên Dòng, các Giám Đốc các Hiệp Hội Tông Đồ) cần phải nêu gương kiên trì cá nhân.
Hơn nữa, các ngài phải lấy đức ái thi hành đặc sủng thể chế của mình, khơi dậy hay yêu cầu mọi người vâng
phục tất cả quy định trong lãnh vực huấn quyền và kỷ luật, theo những cách thức và kỳ hạn cần thiết 940 .
Sự vâng phục này là nguồn gốc tự do bởi vì nó không ngăn cản mà còn kích thích tính tự phát chín
mùi nơi Linh Mục, nhờ đó, ngài có thể giữ một phong cách mục vụ thanh thản và quân bình, tạo nên sự hài
hòa, để mọi ân huệ cá nhân tiêu tan trong sự hiệp nhất cao hơn.
Tôn trọng các quy luật Phụng Vụ
64. Giữa các mặt khác nhau hiện nay của vấn đề vâng lời, lòng tôn trọng đầy xác tín các quy luật Phụng Vụ
cũng đáng được đề cao.
Phụng Vụ là thi hành chức tư tế của Đức Giêsu Kitô 941 , là “tột đỉnh qui hướng mọi hoạt động của Giáo
Hội, đồng thời là nguồn mạch tuôn tràn mọi năng lực của Giáo Hội 942 . Vậy Phụng Vụ là lãnh vực mà Linh
Mục phải ý thức cách riêng cho thừa tác viên để vâng phục Giáo Hội “việc điều hành Phụng Vụ chỉ thuộc
vào quyền bính của Giáo Hội, nó thuộc về Tòa Thánh và theo qui tắc luật định thuộc về Giám Mục” 943 . Cho
nên Linh Mục không được thêm, bớt hay thay đổi gì theo sáng kiến riêng, trong lĩnh vực này 944 .
Luật lệ này ứng dụng cách riêng cho việc cử hành các Bí Tích, vì đó là những hành vi tuyệt hảo của
Đức Kitô và Giáo Hội mà Linh Mục cử hành vì lợi ích của giáo dân, nhân danh Đức Kitô (in persona
Christi) và nhân danh Giáo Hội 945 . Giáo dân có thực tham dự các cử hành Phụng Vụ như Giáo Hội mong
muốn, chớ không phải theo sở thích cá nhân của mỗi thừa tác viên hoặc theo những nghi thức riêng biệt
không được phê chuẩn, vì đó là những cách thể hiện của các nhóm người muốn tự đóng kín với tính phổ
quát của Dân Thiên Chúa.
Hợp nhất trong các chương trình mục vụ
65. Trong thi hành thừa tác vụ, các Linh Mục phải tham gia một cách có trách nhiệm vào việc soạn thảo các
chương trình mục vụ mà Giám Mục hoạch định, với sự cộng tác của Hội Đồng Linh Mục 946 , và các ngài phải
hòa hợp những thực hiện cụ thể trong cộng đoàn của mình với các chương trình ấy.
Óc sáng tạo và tinh thần sáng kiến là những nét đặc thù của sự trưởng thành nơi các Linh Mục không
bị giảm thiểu, mà trái lại có thể phát triển thuận lợi làm cho việc mục vụ thêm phong phú. Theo những con
đường riêng rẽ trong lãnh vực này có nghĩa là làm suy yếu chính công cuộc Phúc Am hóa.
Buộc mặc áo Giáo Sĩ
66. Trong một xã hội tục hóa đang nghiêng về thuyết duy vật, trong đó những dấu chỉ bên ngoài của các
thực tại thánh và siêu nhiên thường biến mất, người ta đặc biệt cảm thấy cần thiết việc Linh Mục, người của
Chúa, kẻ phân phát các mầu nhiệm, phải được cộng đoàn nhận ra, cũng nhờ y phục các ngài mặc, một dấu
chỉ rõ ràng của lòng tận tụy và căn tính của kẻ nắm giữ một thừa tác vụ công khai 947 . Linh Mục trước hết
phải được nhận ra không chỉ nhờ phong cách của mình, nhưng còn nhờ cách ăn mặc để mọi tín hữu cũng
như mọi người 948 lập tức nhận ra căn tính và sự các ngài thuộc về Thiên Chúa và Giáo Hội.
Vì lý do đó, Linh Mục phải mặc “áo Giáo Sĩ xứng đáng theo các quy luật do Hội Đồng Giám Mục ấn
định và theo những phong tục địa phương” 949 . Điều ấy có nghĩa là khi áo đó không phải là áo thâm chùng
(soutane) nữa, nó phải khác với cách ăn mặc của giáo dân và xứng hợp với phẩm giá và sự thánh thiện của
thừa tác vụ. Cách may cắt và màu sắt phải được Hội Đồng Giám Mục ấn định, luôn luôn phù hợp với quy
định của luật chung.
Vì không phù hợp với tinh thần của kỷ luật này, nhưng thực hành ngược lại không được xem là những
tập tục hợp pháp và cần phải chấm dứt do lệnh của thẩm quyền 950 .
Trừ một số trường hợp rất đặc biệt, việc không mặc áo Giáo Sĩ có thể cho thấy nơi vị Giáo Sĩ đó một
ý thức yếu ớt về căn tính của mình, là mục tử hoàn toàn phục vụ Giáo Hội 951 .
TINH THẦN NGHÈO KHÓ LINH MỤC
Nghèo khó như một sự sẵn sàng
67. Sự khó nghèo của Đức Giêsu theo đuổi mục đích cứu độ. Đức Kitô vốn đã giàu có đã tự làm người
nghèo khó vì chúng ta, để chúng ta trở nên giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài (2Cr 8, 9).
Thư giử tín hữu Philíphê nêu lên mối tương quan giữa sự từ bỏ và tinh thần phục vụ gieo sinh khí vào
thừa tác vụ mục vụ. thật vậy, thánh Phao Lô nói rằng Đức Giêsu đã không”đòi cho được ngang hàng cùng
Thiên Chúa, nhưng trái lại, Ngài đã tự hủy mình ra không mà nhận lấy thân phận tôi đòi” (Pl 2, 6-7). Thật
thế, Linh Mục khó mà nên tôi tớ và thừa tác viên cho anh em mình nếu ngài quá lo lắng đến tiện nghi và
thoải mái cho riêng mình.
Nhờ thân phận khó nghèo mà Đức Kitô chứng tỏ Ngài đã lãnh nhận mọi sự bởi Chúa Cha từ đời đời
và Ngài hoàn lại tất cả cho Chúa Cha, đến nỗi dâng hiến trọn vẹn mạng sống.
Gương của Đức Kitô phải nâng Linh Mục lên đồng dạng với Ngài trong sự tự do nội tâm đối với của
cải và giàu sang đời này 952 . Chúa dạy ta chỉ Thiên Chúa là của cải đích thật duy nhất và chiếm hữu tự sống
đời đời là sự giàu sang chân thật và duy nhất : “nào ích gì cho người ta là được lời lãi cả thế gian mà lại thiệt
mất sự sống mình? Vì chưng người ta cho gì để chuộc lại sự sống mình?” (Mc 8, 36-37).
Linh Mục, có Chúa là phần gia nghiệp (x. Nb 18, 20), biết rằng sứ mạng của ngài cũng như của Giáo
Hội diễn ra giữa lòng trần gian và của cải cần thiết cho sự phát triển cá nhân của con người. Tuy nhiên ngài
phải sử dụng của cải này với ý thức trách nhiệm, có chừng mực, với ý ngay và siêu thoát, là những đặc điểm
của người canh giữ kho tàng mình trên trời và biết rằng mọi sự phải đem ra sử dụng để xây dựng Nước
Thiên Chúa (Lc 10, 7; Mt 10, 9-10; 1Cr 9,14; Ga 6, 6) 953 . Ngài cũng phải kiêng những dịch vụ sinh lợi không
phù hợp với thừa tác vụ của mình. 954
Nhớ rằng ân huệ mình lãnh nhận là nhưng không, Linh Mục sẽ sẵn sàng ban cho nhưng không(Mt 10,
8; Act 8, 18- 25) 955 , và sử dụng vào thiện ích của Giáo Hội và vào các việc bác ái tất cả những gì mình nhận
được khi thi hành phận vụ sau khi bảo đảm cuộc sống và chu toàn mọi bổn phận của đấng bậc mình 956 . Xét
cho cùng, mặc dù ngài không sống đức khó nghèo do lời khấn công khai, Linh Mục vẫn phải sống một cuộc
sống giản dị và xa lánh hết những gì là phù phiếm 957 , tự nguyện sống khó nghèo để theo sát Đức Kitô 958 .
Trong mọi lãnh vực (ở nhà, phương tiện đi lại, nghỉ ngơi v.v…) Linh Mục phải loại trừ mọi kiểu cách và xa
hoa 959 .
Là bạn của người nghèo, Linh Mục phải dành cho họ những chăm sóc tế nhị nhất của đức ái mục vụ,
và ưu tiên nhưng không độc quyền, chọn sống các hình thức nghèo khó cũng không bao giờ quên rằng sự
khốn cùng trước tiên mà con người phải giải phóng, đó là tội lỗi, nguồn gốc đầu của mọi sự dữ.
LÒNG SÙNG KÍNH ĐỨC MARIA
Những nhân đức của Mẹ
68. Có một “liên hệ cốt yếu giữa Mẹ Đức Giêsu và chức tư tế của các thừa tác viên của Chúa”. Mối liên hệ
này phát xuất từ mối liên hệ giữa mẫu tính thần linh của Đức Maria và chức tư tế của Đức Kitô 960 . Chính
trong mối liên hệ này bắt nguồn lòng sùng kính Đức Mẹ nơi các Linh Mục. Người ta nói đời sống thiêng
liêng của Linh Mục không hoàn hảo nếu không lưu ý tới lời trối của Đức Kitô trên thánh giá, khi Ngài muốn
giao phó Mẹ Ngài cho người môn đệ rất yêu dấu, và qua người môn đệ ấy, cho tất cả các Linh Mục được
mời gọi tiếp nối công trình cứu chuộc của ngài.
Như Đức Maria đã giao phó cho Gioan dưới chân thánh giá, cũng thế, Đức Maria được giao phó như
người Mẹ cho mọi Linh Mục một cách đặc biệt (x Ga 16, 26-27).
Các Linh Mục được kể vào số những môn đệ yêu dấu của Đức Giêsu bị đóng đinh và sống lại, phải
biết đón nhận Đức Maria như là Mẹ trong đời mình, đặt Ngài là đối tượng của lòng tưởng nhớ của kinh
nguyện liên lỉ. Như thế Đức Maria trọn đời đồng trinh trở thành người Mẹ dẫn dắt họ đến với Đức Kitô, làm
cho họ yêu mến Giáo Hội cách trung thực, cầu bầu cho họ và dẫn đưa họ về Nước Trời.
Mọi Linh Mục đều biết rằng Đức Maria vì là bà Mẹ nên củng là nhà giáo dục tài hoa của chức tư tế
mình, bởi vì chính Mẹ biết hình thành con tim Linh Mục, chở che mọi hiểm nguy, mệt nhọc, thất vọng, và
canh chừng với lòng ân cần từ mẫu để Linh Mục lớn lên về khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng trước mặt Thiên
Chúa và loài người(x. Lc 2, 40).
Nhưng chỉ những đứa con hiếu thảo mới biết bắt trước các nhân đức của Mẹ mình. Do đó, Linh Mục
phải chiêm ngắm Đức Maria, để trở nên một thừa tác viên khiêm tốn, vâng lời, khiết tịnh và để làm chứng
cho đức ái qua sự hiến thân hoàn toàn cho Chúa và Giáo Hội 961 . Là kiệt tác của hy lễ tư tế của Đức Kitô, Đức
Trinh Nữ biểu thị Giáo Hội trong tất cả vẻ tinh tuyền “không vết nhơ, không nếp nhăn” hoàn toàn “thánh
thiện và vô tỳ tích” (Ep 5, 27). Sự chiêm ngắm Đức Trinh Nữ đặt trước Linh Mục lý tưởng phải vươn tới
trong thừa tác vụ cộng đoàn của mình, để cộng đoàn này cũng trở thành “Giáo Hội hoàn toàn vĩnh hiển”
(Sđd) nhờ sự tự hiến cả cuộc đời Linh Mục của mình.
CHƯƠNG III
VIỆN HUẤN LUYỆN THƯỜNG XUYÊN
CÁC NGUYÊN TẮC
Sự cần thiết huấn luyện thường xuyên ngày nay
69. Việc huấn luyện thường xuyên là một đòi hỏi bắt nguồn và phát triển nhận Bí Tích Truyền Chức, qua đó
Linh Mục không những được “thánh hiến” bởi Chúa Cha, được “sai đi” bởi Chúa Con mà còn được “ban
sinh khí” bởi Chúa Thánh Thần. Việc huấn luyện này, dĩ nhiên phát xuất từ một ân sủng chứa đựng sức
mạnh siêu nhiên, nhằm đồng hóa tất cả cuộc sống và hoạt động của Linh Mục một cách tuần tự và luôn sâu
xa hơn, trong sự trung thành với ơn huệ đã lãnh nhận. Vì thế Thánh Phaolô viết cho Timôthe – Tôi muốn
nhắc lại cho anh : “hãy làm sống lại ơn huệ Thiên Chúa ban xuống trong anh”(2 Tm 1, 6).
Đó là một sự cần thiết nội tại nơi chính ân huệ Chúa ban 962 là pha1i luôn luôn “làm sống lại” để Linh
Mục có thể đáp ứng trung thành với ơn gọi của mình. Thật vậy, Linh Mục là một con người có chân trong
lịch sử : ngài cần hoàn thành mọi khía cạnh thuộc đời sống nhân bản và thiêng liêng của mình để có thể đạt
tới sự đồng hóa với Đức Kitô, nguyên lý thống nhất phổ quát.
Những thay đổi mau chóng, rộng khắp và một tổ chức xã hội thường bị tục hóa là những đặc điểm của
thế giới ngày nay: đó là những nhân tố bắt buộc Linh Mục phải được chuẩn bị đầy đủ để khỏi làm mờ nhạt
căn tính của mình và để có thể đáp ứng với những nhu cầu của việc Phúc Âm hóa mới. Quyền lợi của giáo
dân ứng với bổn phận quan trọng đó, vì giáo dân có quyền được hưởng những thành quả do việc các Linh
Mục được đào tạo tốt và có đời sống thánh thiện 963 .
Làm việc liên tục cho mình.
70. Đời sống thiêng liêng và thừa tác vụ mục vụ của Linh Mục phải được tiếp nối với việc trao dồi liên tục
bản thân ngài để đào sâu và tạo nên tổng hợp hài hòa trong việc huấn luyện thiêng liêng và nhân bản, trí thức
và mục vụ. Công việc này phải bắt đầu từ chủng viện, cần được các Giám Mục cổ võ ở mọi cấp độ: cấp
quốc gia, cấp vùng và nhất là cấp giáo phận.
Điều đáng kích lệ, là thấy con số khá đông những giáo phận và Hội Đồng Giám Mục đã có những sáng
kiến đầy hứa hẹn nhằm tổ chức huấn luyện thường xuyên đích thực cho các Linh Mục của mình. Mong sao
tất cả các giáo phận hưởng ứng sự cần thiết này, tuy nhiên ở những nơi tạm thời chưa tổ chức được, thì nên
khuyên có những thỏa thuận liên giáo phận hay là tiếp xúc với các học viện hoặc những nhân vật được
chuẩn bị đặc biệt để hoàn thành nhiệm vụ rất tế nhị này 964 .
Khí cụ thánh hóa
71. Huấn luyện thường xuyên là một phương thế cần thiết cho Linh Mục ngày nay đạt đến mục đích của ơn
gọi là phục vụ Thiên Chúa và Dân Ngài.
Trên thực tế, việc huấn luyện thường xuyên cốt lại giúp các Linh Mục đáp ứng quảng đại cam kết đòi
hỏi bơi phẩm giá và trách nhiệm mà Thiên Chúa giao phó cho các ngài qua Bí Tích Truyền Chức, là lo gìn
giữ, bảo vệ và phát triển căn tính cùng ơn gọi đặc thù của các ngài, lo thánh hóa bản thân và thánh hóa người
khác trong khi thi hành thừa tác vụ.
Điều này có nghĩa là Linh Mục phải tránh mọi nhị nguyên thuyết giữa đời sống thiêng liêng và thừa
tác vụ, một thứ nhị nguyên gây nên bao nhiêu cuộc khủng hoảng.
Rõ ràng là muốn đạt tới cùng đích siêu nhiên này phải tìm kiếm và phân tích các tiêu chuẩn làm cơ cấu
cho việc huấn luyện thường xuyên của các Linh Mục.
Những tiêu chuẩn hay nguyên tắc tổ chức này tự chúng phải được soạn thảo vì mục đích nhắm tới hay
nói đúng hơn phải được tìm kiếm trong mục đích ấy.
Được Giáo Hội ban cho
72. Việc huấn luyện thường xuyên là một quyền lợi- bổn phận của Linh Mục và thi hành việc đó – bổn phận
của Giáo Hội: luật phổ quát ấn định như thế 965 . Thật vậy, bởi vì người ta nhận lãnh trong Giáo Hội ơn gọi
thừa tác vụ thánh, thì chỉ có Giáo Hội mới phải lo huấn luyện cách đặc biệt cho người ta cáng đáng trách
nhiệm thừa tác vụ đó. Cho nên, việc huấn luyện thường xuyên vì là một hoạt động gắn liền với việc thi hành
chức tư tế thừa tác, thuộc trách nhiệm Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục. Như thế, Giáo Hội có quyền và
có bổn phận tiếp tục huấn luyện các thừa tác viên của mình, giúp họ tiến tới trong sự quảng đại đáp trả ân
huệ Thiên Chúa đã ban cho họ.
Về phía mình, thừa tác viên cũng nhận được, như một đòi buộc của ân huệ kèm theo việc Truyền
Chức, quyền được Giáo Hội giúp đỡ thiết thực để thực hiện việc phục vụ của mình cách thánh thiện và có
hiệu quả.
Việc huấn luyện thường xuyên
73. Hoạt động huấn luyện dựa trên một đòi hỏi năng động, nội tại của đoàn sủng thừa tác, đoàn sủng này tự
nó là thường xuyên và không thể đảo ngược. Nên việc huấn luyện không bao giờ được xem như chấm dứt,
cả về phía Giáo Hội trao ban, lẫn về phía thừa tác viên nhận lãnh. Như thế cũng cần suy tư và phát triển việc
huấn luyện này như thế nào để nơi Linh Mục đều có thể luôn luôn nhận được. Xét theo khả năng và đặc
điểm tuổi tác, hoàn cảnh sống và phận vụ mục vụ 966 .
Đầy đủ
74. Việc huấn luyện này phải bao gồm và hòa hợp mọi khía cạnh của việc đào tạo Linh Mục, nghĩa là nó
phải nhằm giúp Linh Mục phát triển nhân cách con người đã chín mùi trong tinh thần phục vụ kẻ khác, dầu
đang nắm chức vụ gì ; giúp Linh Mục được đào tạo về mặt trí thức, cả trong các khoa học lẫn trong các khoa
học nhân văn, trong mức độ liên quan đến thừa tác vụ của mình, ngõ hầu Linh Mục chu toàn phận vụ làm
chứng đức tin một cách hữu hiệu hơn: giúp Linh Mục có được một đời sống thiêng liêng sâu xa, được nuôi
dưỡng bằng tình thân mật với Đức Giêsu Kitô và bằng tình yêu Giáo Hội; giúp Linh Mục chu toàn thừa tác
vụ mục vụ với nhiệt tình và nhiệt tâm.
Trên thực tế, một sự huấn luyện như thế phải đầy đủ : nhân bản, thiêng liêng, trí thức, mục vụ, hệ
thống và cá vị.
Nhân bản
75. Cũng như trước đây, việc huấn luyện này cũng rất quan trọng trong thế giới ngày nay. Linh Mục không
được quên mình là người được chọn giữa loài người để phục vụ con người. Muốn nên thánh và thành công
trong sứ mạng Linh Mục, ngài phải trình diện với một hành trang đầy các đức tính nhân bản đáng được anh
em mến phục mình.
Ngài phải đặc biệt thực thi sự tốt bụng, lòng kiên nhẫn, tính khả ái, nghị lực tâm hồn, lòng yêu chuộng
công bình, óc quân bình, trung thành với lời đã nói, nhất quán với những cam kết tự ý đưa ra v.v… 967 .
Một điều cũng rất quan trọng là Linh Mục phải suy xét về cách sử xự của mình, về sự đúng đắn của
ngài trong các hình thức giao tế nhân bản, về giá trị tình bạn và về tao nhã trong cách sống của mình v.v…
Thiêng liêng
76. Lưu ý tới tất cả những gì đã trình bày về đời sống thiêng liêng, ở đây, chỉ giới hạn vào một vài phương
thế huấn luyện thực tiễn. Điều cần thiết trước tiên là cần đào sâu những khía cạnh chính của đời Linh Mục
bằng cách đặc biệt tham khảo giáo huấn của Kinh Thánh, các giáo phụ và các hạnh thánh, mà Linh Mục
phải luôn luôn cập nhật hóa các kiến thức của mình, không những nhờ đọc sách tốt, mà còn phải tham dự
vào các khóa học hỏi, các hội nghị v.v… 968 .
Nên tổ chức những khóa riêng nhằm chỉ bảo việc cử hành các Bí Tích cách nghiêm túc, cũng như
nhằm nhắc nhở phải chăm lo nghiên cứu một số vấn đề thuộc đời sống thiêng liêng ví dụ các nhân Đức Kitô
giáo và nhân bản, cách cầu nguyện, tương quan với đời sống thiêng liêng và thừa tác vụ phụng vụ và mục vụ
v.v…
Cụ thể hơn, mong sao cho Linh Mục, một lần nào đó trong khi cử hành linh thao định kỳ, hội ý với vị
linh hướng của mình, soạn thảo một chương trình sống cụ thể, có thể gồm có một số yếu tố sau đây.
1. Suy gẫm hằng ngày lời Chúa hoặc một mầu nhiệm đức tin.
2. Gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể, ngoài việc cử hành thánh lễ sốt sáng.
3. Sùng kinh Đức Mẹ ( lần chuỗi, tận hiến hoặc đặt mình dưới sự bảo trợ của Đức Maria mạn đàm thân
mật ).
4. Dành thời giờ cho việc học hỏi Giáo Lý và Hạnh các Thánh.
5. Nghỉ ngơi cần thiết.
6. Hâm nóng cố gắng thực hành những chỉ thị của Giám Mục và bảo đảm việc gắn bó cá vị và xác tín với
huấn quyền và kỷ luật Giáo Hội.
7. Lưu tâm sống hiệp thông và tình bằng hữu Linh Mục.
Trí thức
77. Vì ảnh hưởng to lớn của những trào lưu triết lý và khoa học nhân văn trên nền văn hóa hiện đại, vì một
số Linh Mục không được đào tạo thích hợp trong những môn học này nhất là do khác biệt trong đào tạo nhà
trường, nên cần có những cuộc gặp gỡ để thảo luận các đề tài quan trọng nhất về triết học và những khoa
học nhân văn hoặc những đề tài thường “liên hệ với khoa học Thánh, đặc biệt theo mức độ chúng giúp ích
cho việc thi hành thừa tác vụ mục vụ” 969 những đề tài này giúp nhiều cho việc bàn luận các vấn đề chính của
thần học cơ bản, tín lý và luân lý, Kinh Thánh, phụng vụ, giáo luật, đại kết… mà không quên rằng việc
giảng dạy các môn này không được mang tính cách tranh luận, cũng không là thuần túy lý thuyết hoặc thông
tin nhưng nó phải khuyến khích một sự huấn luyện đích thực, nghĩa là khuyến khích cầu nguyện, hiệp thông
và làm việc mục vụ.
Trong các cuộc gặp gỡ Linh Mục này, liệu sao cho các văn kiện của huấn quyền được đào sâu chung
với nhau dưới sự hướng dẫn của một nhân vật có thẩm quyền, để đưa tới sự thống nhất giải thích và thống
nhất hành động trong mục vụ giáo phận, tạo dễ dàng cho việc Phúc Âm hóa.
Trong việc huấn luyện trí thức, phải quan tâm đặc biệt đến các đề tài quan trọng hơn hết cho việc thảo
luận văn hóa và thực hành mục vụ, ví dụ như các đề tài liên quan đến đạo đức học xã hội và đào tạo đạo đức
đời sống v.v… Phải nghiên cứu cách riêng những vấn đề do tiến bộ khoa học đặt ra hiện đang ảnh hưởng sâu
đậm đến não trạng và cuộc sống người thời đại. Linh Mục không được tự miễn việc tìm hiểu để trả lời
những câu hỏi được tiến bộ khoa học nêu lên, không bỏ qua việc tham khảo các chuyên viên đáng tin cậy và
có khả năng.
Học hỏi, đào sâu và truyền bá học thuyết xã hội của Giáo Hội là điều mang lại lợi ích lớn. Theo những
khuyến khích của huấn quyền, tất cả các Linh Mục – và qua trung gian các ngài tất cả giáo dân – phải quan
tâm đến lợi ích người nghèo, sự quan tâm này không được chỉ là một ước muốn đạo đức mà trở thành một
cam kết sống động cụ thể. “Hơn bao giờ hết, Giáo Hội biết rằng thông điệp xã hội của mình sẽ được làm cho
đáng tin nhờ chứng từ của các việc từ thiện còn hơn là do sự cố kết và lô-gíc nội tại của nó” 970 .
Hiểu biết và sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong hoạt động thừa tác vụ là một đòi hỏi
thiết yếu cho việc huấn luyện trí thức của các Linh Mục. Các phương tiện này, khi được sử dụng đúng, trở
nên một khí cụ quan phòng cho việc Phúc Âm hóa, bởi vì không những chúng đến được với một số rất đông
tín hữu và những người còn xa cách với Giáo Hội, mà còn đụng chạm mạnh não trạng và cách sống của họ.
Về phương diện đó, điều thích hợp là Giám Mục hay Hội Đồng Giám Mục cần soạn ra những chương
trình và tìm kiếm những dụng cụ kỹ thuật dự liệu cho mục đích này.
Mục vụ
78. Để huấn luyện mục vụ một cách xứng hợp, cần tổ chức những cuộc gặp gỡ mà mục tiêu chính là suy
nghĩ về chương trình mục vụ của giáo phận. Cũng cần đề cập đến mọi vấn đề liên quan đời sống và việc
thực hành mục vụ của Linh Mục. Ví dụ : luân lý căn bản, đạo đức trong đời sống nghề nghệp và xã hội v.v…
Phải đặc biệt lưu tâm tìm hiểu đới sống và linh đạo của các phó tế vĩnh viễn – ở những nơi có họ – của
các nam nữ tu sĩ cũng như của các tín hữu giáo dân.
Ngoài ra còn có những đề tài khác cũng đặc biệt hữu ích như : việc dạy Giáo lý, gia đình, ơn gọi Linh
Mục và tu sĩ, giới trẻ, người già, bệnh nhân, phong trào đại kết, những người sống cách ly Giáo Hội v.v…
Trong hoàn cảnh hiện nay, trên bình diện mục vụ rất cần tổ chức những khóa đặc biệt giúp hấp thụ và
đào sâu “Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo”, nhất là đối với các Linh Mục, sách này là một dụng cụ qúi báu để
đào tạo việc giảng dạy cũng như việc Phúc Âm hóa nói chung.
Có hệ thống
79. Để việc huấn luyện thường xuyên được đầy đủ cần phải tổ chức thế nào để nó không phải “là một cái gì
cứng nhắc, nhưng như một dự án được soạn thảo kỹ càng diễn tiến từng giai đoạn theo những thể thức nhất
định” 971 . Điều này đòi hỏi phải lập ra một cơ chế quyết định cách thích hợp những dụng cụ, những kỳ hạn và
những nội dung phải thực hiện cụ thể và phù hợp cho việc huấn luyện. Tổ chức này phải kết hợp học tập cá
nhân, bởi lẽ những khóa học định kỳ sẽ không mấy lợi ích nếu không có sự chuyên cần học tập kèm theo 972 .
Nhắm đến cá nhân
80. Mặc dù được tổ chức cho tất cả mọi người việc huấn luyện thường xuyên nhắm đối tượng trực tiếp là
việc phục vụ của từng người nhận lãnh nó. Do đó, ngoài những phương tiện chung hoặc tập thể, mọi phương
tiện phải được sử dụng để huấn luyện từng người
Vì lẽ đó, nhất là những người có trách nhiệm, phải xác tín rằng họ tiếp xúc với từng cá nhân Linh
Mục, quan tâm đến mỗi người trong họ, không chỉ hài lòng với việc đề nghị cho tất cả mọi Linh Mục những
phương pháp huấn luyện khác nhau.
Về phía mình, mọi Linh Mục phải cảm thấy được khích lệ bằng lời nói và gương sáng của Giám Mục
mình và của anh em Linh Mục, để chu toàn trách nhiệm huấn luyện bản thân, biết rằng chính mình là nhà
huấn luyện đầu tiên cho chính mình 973 .
NHỮNG TỔ CHỨC VÀ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN
Những cuộc gặp gỡ Linh Mục.
81. Chương trình của các cuộc gặp gỡ Linh Mục phải có đặc điểm thống nhất và tiến triển từng giai đoạn.
Sự thống nhất này phải hướng tới sự đồng hình với Đức Kitô, ngõ hầu chân lý đức tin, đời sống thiêng
liêng và hoạt động thừa tác vụ góp phần hoàn thiện hoá dần dần toàn thể hiện Linh Mục đoàn.
Sự thống nhất trong huấn luyện được đánh dấu bằng những giai đoạn xác định sẵn. Điều này một mặt
đòi hỏi phải chú tâm đặc biệt đến mỗi hạng tuổi Linh Mục mà không bỏ qua một hạng nào, mặt khác kiểm
tra lại các giai đoạn đã qua, để cho việc huấn luyện cá nhân đi song song với việc huấn luyện tập thể. Vì nếu
không có huấn luyện cá nhân thì sự huấn luyện tập thể chẳng mang lại hiệu quả.
Người ta phải hiểu rằng những cuộc gặp gỡ Linh Mục là cần thiết cho sự tăng trưởng tình hiệp thông
bởi vì chúng cho phép nhận thức rõ hơn và khảo sát chăm chú hơn các vấn đề của mỗi hạng tuổi Linh Mục.
Còn về nội dung của các kỳ họp này, người ta có thể tham khảo những đề tài đã được Hội Đồng Giám
Mục quốc gia hay vùng đề xuất tùy dịp tiện. Trong mọi trường hợp, các nội dung cần sắp xếp trong khuôn
khổ một chương trình huấn luyện rõ rệt cấp giáo phận. Chương trình này nếu có thể thì được cập nhật hóa
từng năm một 974 .
Việc tổ chức và diễn biến của những cuộc gặp gỡ này phải được Giám Mục cẩn thận giao phó cho các
phân khoa hay học viện thần học và mục vụ, cho chủng viện, cho các tổ chức hay hiệp hội chuyên lo đào tạo
Linh Mục 975 , hoặc giao cho một trung tâm hay học viện chuyên môn cấp giáo phận, cấp vùng hay cấp quốc
gia tùy theo những điều kiện có thể có và thuận lợi. Cũng cần kiểm tra sự chính thống về Giáo Lý, lòng
trung thành với huấn quyền và kỷ luật Giáo Hội, cũng như trình độ khoa học và sự hiểu biết của các cơ quan
đó về những hoàn cảnh mục vụ cụ thể.
Năm mục vụ
82. Giám Mục có nhiệm vụ nhờ các cộng sự viên được tuyển chọn khôn ngoan giúp đỡ tổ chức năm “mục
vụ” đi liền sau năm chịu chức Linh Mục hay phó tế : để tạo dễ dàng cho việc chuyển đổi từng đời sống
chủng viện là cần thiết sang việc thực hành thừa tác vụ thánh, theo từng giai đoạn giúp Linh Mục trưởng
thành nhân bản và đặc biệt trưởng thành Linh Mục, sự trưởng thành đó phải tuần tự và hài hòa 976 .
Trong năm đó, phải tránh cho các tân chức khỏi phải ngụp lặn trong những hoàn cảnh quá khó khăn
hay quá tế nhị. Đàng khác, cũng phải tránh thuyên chuyển các vị tới những nhiệm sở mà các vị phải hành
động xa anh em đồng sự. Trong mức độ có thể, nên cổ võ những hình thức sống chung xứng hợp.
Giai đoạn huấn luyện này có thể diễn tiến tại một trụ sở dành riêng cho mục đích này (nhà Giáo Sĩ)
hoặc tại một địa điểm cụ thể và thanh tịnh mà các Linh Mục mới bắt đầu học tập kinh nghiệm làm mục vụ
có thể lui tới tham khảo. Sự kiện này sẽ tạo cơ hội cho những cuộc trao đổi và thảo luận với Giám Mục và
với anh em Linh Mục, cho việc cầu nguyện chung (Phụng Vụ Giờ Kinh, đồng tế và Chầu Thánh Thể, lần
chuỗi v.v…, cho việc trao đổi kinh nghiệm, khuyến khích lẫn nhau, và làm nảy sinh những tương quan bạn
hữu tốt đẹp.
Giám Mục nên giao phó các tân Linh Mục cho những anh em đồng sự có đời sống gương mẫu và lòng
nhiệt thành mục vụ chắc chắn. Việc bổ nhiệm đầu tiên, cho dù có những đòi hỏi mục vụ cấp bách và nặng
nề, cũng phải đáp ứng trước tiên nhu cầu hướng dẫn đúng đắn các Linh Mục trẻ. Hy sinh trong một năm sẽ
mang lại nhiều kết quả cho tương lai. Cũng không phải là vô ích nếu nhấn mạnh rằng năm rất quan trọng và
tế nhị sẽ tạo điều kiện cho sự hiểu biết giữa Linh Mục và Giám Mục của mình được chín mùi, sự hiểu biết
này đã bắt đầu từ chủng viện nay phải trở thành một tương quan thực sự giữa con với Cha.
Về phương diện tri thức, năm mục vụ này không phải là thời gian học những bộ môn mới cho bằng để
hấp thụ và thấm nhuần tất cả những gì đã học trong các buổi học ở trường, như vậy mới đào tạo nên một não
trạng có khả năng phán đoán các biến cố dưới ánh sáng của thánh ý Thiên Chúa 977 .
Trong bối cảnh đó, người ta có thể tổ chức những bài dạy và những cuộc hội thảo thực hành việc xưng
– giải tội, Phụng vụ và giáo lý, giảng thiết, giáo luật, linh đạo Linh Mục, giáo dân và tu sĩ, học thuyết xã hội,
truyền thông và các phương tiện truyền thông, tìm hiểu các giáo phái và các hình thức tôn giáo mới v.v…
Trong thực tế, năm mục vụ này phải là một năm đúc kết tổng hợp. Mọi yếu tố phải đáp ứng với dự án
cơ bản là làm trưởng thành đời sống thiêng liêng.
Sự thành công của năm mục vụ hoàn toàn tùy thuộc vào cam kết cá nhân của đương sự, hằng ngày
phải hướng tới sự thánh thiện, liên tục tìm kiếm các phương thế thánh hóa đã giúp mình khi còn ở chủng
viện.
Thời gian nghỉ ngơi.
83. Mối nguy của thói quen, sự mệt mỏi thể lý do làm việc quá sức mà ngày nay các Linh Mục thường mắc
phải vì các hoạt động mục vụ. Sự mệt mỏi tâm lý thường do phải liên tục đương đầu với sự hiểu lầm, hiểu
ngầm, thành kiến, sự đối kháng với các thế lực có tổ chức và mạnh mẽ muốn gây ấn tượng rằng Linh Mục
ngày nay thuộc thành phần thiểu số kém văn hóa: đó là một số nhân tố có thể gieo chán nản vào lòng vị mục
tử.
Cho dù công việc mục vụ có thúc bách, và cũng vì những thúc bách đó, muốn đương đầu thích đáng
với những sự việc nêu trên, các Linh Mục nên được hưởng những thời kỳ lâu hay mau tùy theo khả năng
đích thực – để nói chuyện lâu giờ hơn và tha thiết hơn với Chúa Giêsu , lấy lại sức mạnh can đảm hầu tiếp
tục con đường nên thánh của mình.
Để đáp ứng thời gian đặc biệt này, những điều sáng kiến đã được đưa ra tại nhiều giáo phận với những
kết quả đầy hứa hẹn. Những kinh nghiệm này rất lý thú và đáng được coi trọng, mặc dù những khó khăn của
một số cùng đang đặc biệt gánh chịu hậu quả đau thương của nạn thiếu Linh Mục.
Để đạt mục đích này, các nhà dòng, các thánh điện và những nơi lo đời sống thiêng liêng khác có thể
đóng một vai trò quan trọng, nếu xa các trung tâm thành phố lớn càng tốt cho phép Linh Mục rảnh rang mọi
trách nhiệm mục vụ trực tiếp.
Trong một vài trường hợp, sẽ thật hữu ích nếu những lần nghỉ chân này nhằm mục đích học hỏi hay
cập nhật hóa các khoa học thánh, nhưng không thể quên việc tái cung cấp năng lực cho đời sống thiêng liêng
và tông đồ.
Trong mọi trường hợp, phải tránh nguy cơ coi thời gian nghỉ ngơi này như một mùa nghỉ hè hoặc đòi
phải có nó như một quyền lợi.
Nhà Giáo Sĩ.
84. Nơi nào có thể, nên xây dựng một “ nhà Giáo Sĩ “ làm nơi tổ chức các cuộc gặp gỡ huấn luyện, và làm
nơi lui tới tham khảo trong nhều trường hợp khác. Ngôi nhà này phải có mọi cơ cấu làm cho nó trở nên tiện
lợi và niềm nở.
Nơi nào chưa có những cơ cấu đó mà thấy chúng là cần, thì khuyên xây dựng ở cấp quốc gia hoặc
vùng, những cơ cấu xứng hợp với việc phục hồi sức khỏe thể lý, tâm lý và thiêng liêng của các Linh Mục
cần đến chúng.
Tĩnh tâm và linh thao
85. Như kinh nghiệm thiêng liêng lâu dài của Giáo Hội đã minh chứng, các cuộc tĩnh tâm và linh thao là một
phương thế hữu hiệu và thích hợp cho việc huấn luyện thường xuyên của hàng Giáo Sĩ. Ngày nay cũng vậy,
chúng vẫn còn giữ được tính thời sự cần thiết. Đi ngược chiều với thái độ làm rỗng tuếch đời sống nội tâm
của con người, Linh Mục phải tìm gặp Thiên Chúa và gặp lại chính mình, bằng cách thực hành những cuộc
dừng chân thiêng liêng để đắm mình trong nguyện gẫm và cầu nguyện.
Chính vì kết quả này mà giáo luật qui định rằng các Giáo Sĩ “bắt buộc phải đi tĩnh tâm thiêng liêng
theo sự sắp xếp của Bản Quyền địa phương” 978 . Hai cách thức thông dụng nhất mà Giám Mục có thể qui định
cho giáo phận mình đã tĩnh tâm một ngày, nếu có thể là hàng tháng, và những cuộc linh thao hàng năm.
Thật là thuận lợi nếu Giám Mục tổ chức những kỳ tĩnh tâm và linh thao thế nào để mỗi Linh Mục có
thể lựa chọn để tham dự những kỳ được tổ chức ở trong hay ở ngoài giáo phận dưới sự hướng dẫn của các
Linh Mục gương mẫu hoặc do những học viện tu sĩ chuyên việc huấn luyện thiêng liêng do đặc sủng của họ,
hay trong các đan viện.
Cũng khuyên tổ chức một cuộc tĩnh tâm đặc biệt cho các Linh Mục chịu chức trong vòng mấy năm
sau, trong đó Giám Mục giữ phần chủ động 979 .
Trong những lần gặp gỡ này, điều quan trọng là đưa ra ánh sáng những đề tài thiêng liêng, dành nhiều
khoảng thời gian thịnh lặng và cầu nguyện, chăm sóc cách riêng các cử hành phục vụ, Bí Tích Sám Hối,
chầu Thánh Thể, linh hướng và những việc sùng kinh Đức Trinh Nữ Maria. Để mặc cho những phương thế
huấn luyện này một tầm mức quan trọng hơn và một sự hữu hiệu hơn. Giám Mục có thể bổ nhiệm cho một
Linh Mục, để thực hiện mục đích này. Với nhiệm vụ ấn định ngày giờ và phương thức.
Trong mọi trường hợp, những cuộc tĩnh tâm và cách riêng những cuộc linh thao hàng năm phải thực
sự là thời gian cầu nguyện, chớ không phải là những khóa cập nhật hóa thần học và mục vụ.
Cần sắp đặt chương trình
86. Việc huấn luyện thường xuyên thường gặp những khó khăn, chủ yếu do Linh Mục phải gánh vác nhiều
trách vụ nặng nề. Tuy nhiên phải nói rằng, những khó khăn này đều có thể vượt qua được hết, nếu các Linh
Mục được tào tạo biết ý thức trách nhiệm của mình.
Muốn đủ sức đương đầu với mọi hoàn cảnh và đối phó với đòi hỏi thúc bách của việc Phúc Âm hóa,
cần phải-ngoài các phương cách trên-đưa ra một hành động can đảm điều hành mục vụ nhằm lo cách riêng
cho các Linh Mục, các Giám Mục cần đòi hỏi, bằng sức mạnh của đức ái, các Linh Mục của mình áp dụng
một cách quảng đại, những qui định hợp pháp đã được thiết lập trong lãnh vực này.
“Chương trình huấn luyện thường xuyên” không những phải được cưu mang hay lên phương án, mà
còn phải được thực hiện. Muốn vậy, công việc này phải được cơ cấu hóa rõ rệt, nghĩ là gồm những mục
tiêu, nội dung và phương tiện.
NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM
Linh Mục
87. Chính Linh Mục là người đầu tiên và chính yếu có trách nhiệm về sự huấn luyện thường xuyên của
mình. Thật vậy, mỗi Linh Mục có bổn phận trung thành với ân huệ Thiên Chúa ban và với tính năng động
cải thiện hằng ngày, phát sinh từ đó 980 .
Không ai có thể thay thế Linh Mục trong nhiệm vụ lo cho mình (1Tm 4,16). Nhờ thông phần và chức
tư tế độc nhất của Đức Kitô, Linh Mục được mời gọi mạc khải và hiện thực, theo ơn gọi duy nhất của mình,
một số khía cạnh của sự giàu có lạ lùng nơi ân sủng mình đã được lãnh nhận.
Đàng khác, những điều kiện và hoàn cảnh sống của mọi Linh Mục, dù chỉ xét theo quan điểm thuần
nhân bản, cũng đòi buộc ngài phải đích thân dấn thân vào việc đào luyện mình để các khả năng và ân huệ
của mình sinh hoa trái.
Do đó, Linh Mục phải tích cực tham dự các buổi gặp gỡ huấn luyện, dựa trên những trình độ và khả
năng cụ thể của mình mà đóng góp vào. Linh Mục phải lo mua và đọc cuốn sách và tạp chí có nội dung Giáo
Lý chắc chắn và lợi ích thiết thực cho đời sống thiêng liêng và cho việc chu toàn thừa tác vụ một cách có
hiệu quả.
Trong các sách đọc, Kinh Thánh phải đứng hàng đầu rồi đến tác phẩm các giáo phụ và những nhà tu
đức xưa cũng như nay, những tài liệu của huấn quyền Giáo Hội, là nguồn mạch có thẩm quyền và hiện thực
nhất cho việc huấn luyện thường xuyên. Các Linh Mục sẽ trực tiếp và đích thân học tập và đào sâu các tài
liệu ấy để có thể trình bày lại cho giáo dân.
Sự giúp đỡ của anh em
88. Trong tất cả các mặt của đời sống Linh Mục, người ta thấy được “những mối giây riêng biệt của đức ái
Tông Đồ ; của thừa tác vụ và của tình huynh đệ” 981 . Đó là nền tảng cho sự tương trợ giữa các Linh Mục 982
biết tăng cường sự hợp tác của tất cả các Linh Mục với nhau trong việc chăm lo đời sống thiêng liêng và bản
thân, cũng như trong dịch vụ thừa tác của mình. Sự trợ giúp mà các Linh Mục cần trong lãnh vực này, có thể
tìm được điểm tựa vững chắc trong các Hiệp Hội Linh Mục khác nhau, có mục đích đào tạo một linh đạo
mang tính chất giáo phận đích thực. Trong đó những hiệp hội “mà nội qui được Giáo Quyền hữu trách chuẩn
nhận nhờ có chương trình sống thích hợp và được chuẩn y, cũng như nhờ có sự tương trợ huynh đệ, các hiệp
hội này thúc đẩy các Linh Mục nên thánh trong khi thi hành thừa tác vụ và góp phần đoàn kết các Giáo Sĩ
với nhau và với chính Giám Mục của họ” 983 .
Theo quan điểm này, bất cứ giá nào cũng phải tôn trọng quyền của mỗi Linh Mục giáo phận được tổ
chức đời sống thiêng liêng của mình như ngài nghĩ là thích hợp, dĩ nhiên phải phù hợp – việc đã rõ – với
những đặc tính ơn gọi của mình và của những mối liên hệ phát sinh từ đó.
Công việc mà các hiệp hội này cũng như các phong trào được phê chuẩn, hoàn thành vì lợi ích các
Linh Mục, được Giáo Hội đánh giá cao 984 , vì Giáo Hội ngày nay coi đó như dấu chỉ sức sống mà Chúa
Thánh Thần thông ban để liên tục đổi mới Giáo Hội.
Giám Mục
89. Cho dù phần dân Chúa đã được ủy thác cho ngài có rộng lớn và khó điều khiển, thì Giám Mục vẫn phải
đành một mối quan tâm thật đặc biệt cho việc huấn luyện thường xuyên các Linh Mục của ngài 985 .
Thật vậy, có một mối tương quan đặc biệt giữa Giám Mục và các Linh Mục của ngài, do “sự kiện các
Linh Mục lãnh từ Giám Mục chức linh mục của mình và chia sẻ với ngài mối quan tâm mục vụ cho toàn thể
Dân Chúa” 986 .
Tương quan này cũng xác định những trách nhiệm đặc biệt của Giám Mục trong lãnh vực huấn luyện
Linh Mục.
Những trách nhiệm này phải thể hiện đối với từng Linh Mục, vì việc huấn luyện cần phải được cá
nhân hóa chừng nào có thể, và cũng hướng về tất cả Linh Mục trong mức độ các ngài tạo thành Linh Mục
đoàn của giáo phận. Về phương diên này, Giám Mục nên cẩn trọng vun trồng sự thông công và thông hiệp
giữa các Linh Mục. Cách riêng, ngài lo liệu cho việc huấn luyện thường xuyên giữ được những đặc tính
riêng của nó, bằng cách giáo dục lương tâm các Linh Mục về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc huấn
luyện này, tổ chức bằng cách vạch ra một chương trình huấn luyện và tiên liệu những cơ cấu và nhân sự cần
thiết để thực hiện 987 .
Để huấn luyện các Linh Mục của mình, Giám Mục phải tham gia bằng cách huấn luyện thường xuyên
chính bản thân ngài, kinh nghiệm cho thấy Giám Mục càng lo huấn luyện bản thân mình bao nhiêu, thì càng
phải biết khuyến khích và nâng đỡ việc huấn luyện Linh Mục đoàn của mình bấy nhiêu.
Trong công tác tế nhị này, tuy giữ vai trò không thể thay thế và không thể ủy nhiệm cho ai được. Giám
Mục cũng phải biết dựa vào công tác của Hội Đồng Linh Mục. Hội Đồng này do bản tính và mục đích của
nó, xem ra là một cơ thể thích đáng để giúp đỡ Giám Mục trong mọi cái liên quan, chẳng hạn đến việc soạn
thảo một chương trình huấn luyện.
Hơn nữa Linh Mục sẽ cảm thấy được nâng đỡ và trợ giúp trong phận phụ mình bởi các anh em Giám
Mục khác, trong Hội Đồng Giám Mục 988 .
Đào tạo các nhà huấn luyện.
90. Không một cuộc huấn luyện nào khả dĩ có được nếu ngoài chủ thể cần được huấn luyện. Không có một
chủ thể nào khác làm công tác huấn luyện, đó là huấn luyện viên. Lợi ích và tính hữu hiệu của một chương
trình huấn luyện tùy thuộc vào một phần các cơ cấu tổ chức, nhưng phần chính tùy thuộc vào bản thân các
nhà huấn luyện.
Rõ ràng là đối với những người huấn luyện, trách nhiệm của Giám Mục trở nên tế nhị và quan trọng
cách đặc biệt.
Do đó, chính Giám Mục cần chỉ định một nhóm huấn luyện viên mà các thành viên được tuyển trọn
trong số các Linh Mục có tư cách cao và được nể trọng vì được trang bị tốt. Có sự trưởng thành nhân bản,
thiêng liêng, văn hóa và mục vụ. Thật vậy, các nhà huấn luyện trước hết phải là những người cầu nguyện,
những nhà giáo dục thông hiểu nhiều về siêu nhiên, có đời sống thiêng liêng sâu đậm, có cách sống gương
mẫu, có kinh nghiệm nhiều về thừa tác vụ Linh Mục, có khả năng phối hợp những đòi hỏi thiêng liêng với
các nhu cầu căn bản của Linh Mục, giống như các Giáo Phụ và các Thánh của một thời. Các nhà huấn luyện
cũng có thể được chọn trong Ban Giáo Sư các chủng viện, các trung tâm, các trường đại học được thẩm
quyền Giáo Hội thừa nhận hoặc trong số các thành viên những học viên mà đặc sủng của họ trực tiếp đụng
chạm đến đời sống và linh đạo Linh Mục. Trong mọi trường hợp, phải bảo đảm họ dạy Giáo Lý chính thống
và trung thành với kỷ luật Giáo Hội. Hơn nữa các nhà huấn luyện phải là những cộng sự viên tin cẩn của
Giám Mục, vì ngài là người lãnh trách nhiệm cuối cùng trong việc huấn luyện các cộng sự viên qúy báu
nhất của mình.
Cũng nên thành lập một nhóm “thảo chương trình và thực hiện” để giúp Giám Mục ấn định các dự
án hằng năm trong việc huấn luyện thường xuyên, cho từng mặt một chuẩn bị tư liệu cần thiết : tiên liệu các
khóa học, các phiên họp, các cuộc gặp gỡ và tĩnh tâm: tổ chức những lịch trình thích hợp, thấy trước những
sự vắng mặt và thay đổi Linh Mục v.v… Khi soạn thảo chương trình đầy đủ, cũng phải tiên liệu việc mời
một chuyên viên nào đó thuyết trình một đề tài được đưa ra.
Nếu chỉ cần thành lập một nhóm huấn luyện viên là đủ, thì trái lại có thể tổ chức nhiều nhóm lập
chương trình và thực hiện nếu thấy cần thiết.
Hợp tác giữa các Giáo Hội.
91. Đối với các phương thế tập thể của việc huấn luyện, thì việc lên chương trình các phương thế đó và các
nội dung cụ thể của chúng có thể ấn định do sự đồng ý giữa nhiều Giáo Hội địa phương. Ở cấp quốc gia
hoặc vùng – qua trung gian các Hội Đồng Giám Mục – hoặc giữa các giáo phận giáp ranh hay lân cận.
Như vậy người ta có thể sử dụng, nếu thấy hợp, những cơ cấu liên giáo phận như các phân khoa học
viện thần học và mục vụ, hay là các cơ quan và hiệp hội chuyên do đào tạo Linh Mục. Sự liên kết các cố
gắng, ngoài việc giúp thực hiện hiệp thông chính hiệu giữa các Giáo Hội địa phương, còn có thể cống hiến
cho mọi người những thuận lợi tốt hơn và khích lệ hơn về mặt kỹ thuật. Trong việc huấn luyện thường
xuyên 989 .
Hợp tác với trung tâm nghiên cứu và tu đức.
92. Hơn nữa, các học viện học hỏi và nghiên cứu, các trung tâm tu đức, cũng như các thánh điện và các đan
viện sống luật lệ gương mẫu là những bến đậu để cập nhập hóa môn thần học và mục vụ, để sống những ốc
đảo thinh lặng, để cầu nguyện để lãnh Bí Tích giải tội và linh hướng, để nghỉ ngơi cần thiết, cả về mặt thể lý,
để sống những giây phút của tình huynh đệ Linh Mục. Cũng vậy, các Dòng tu cũng có thể cộng tác vào việc
huấn luyện thường xuyên và góp phần canh tân hàng Giáo Sĩ, việc canh tân một đòi hỏi của công cuộc Phúc
Âm hóa mới trong thiên niên kỷ thứ ba.
Các lứa tuổi và hoàn cảnh đặc biệt những năm đầu đời Linh Mục.
93. những năm đầu sau khi thụ phong, các Linh Mục phải dễ dàng tìm được những điều kiện để sống và thi
hành thừa tác vụ, cho phép các ngài đem ra thực hành lý tưởng đã gầy dựng từ lúc còn ở chủng viện 990 .
Những năm này, là những năm thử thách việc huấn luyện ban đầu sau khi đụng chạm với thực tế, nên có
tính quyết định cho tương lai. Chúng đòi hỏi một sự trưởng thành hài hòa mới có thể đương đầu với những
lúc khó khăn, nhờ đức tin và lòng dũng cảm. Vì mục đích đó, các Linh Mục trẻ phải được hưởng được một
tương quan cá vị với Giám Mục và với một Cha Linh Hướng đầy khôn ngoan ; phải hưởng được những thời
gian nghỉ ngơi, suy gẫm và tĩnh tâm hàng tháng.
Dựa theo những điều đã nói về năm mục vụ, trong những năm đầu đời Linh Mục, cần tổ chức những
cuộc gặp gỡ hằng năm để huấn luyện. Trong những lần gặp gỡ này, phải đưa ra soạn thảo và nghiên cứu hợp
thời các đề tài thần học, luật pháp, thiêng liêng và văn hóa nhờ những khóa họp đặc biệt dành để thảo luận
các vấn đề luân lý, mục vụ, phụng vụ v.v… Những cuộc gặp gỡ này cũng là cơ hội để ban lại năng quyền
Giải Tội theo giáo luật và Giám Mục qui định 991 . Điều cũng rất ích lợi là cổ võ được sự sống chung thân mật
giữa các Linh Mục trẻ với các Linh Mục cao tuổi hơn, để có thể trao đổi kinh nghiệm, hiểu biết lẫn nhau, và
sửa lỗi nhau trong tình huynh đệ, một việc thực hành tế nhị theo tinh thần Phúc Âm.
Sau cùng, phải làm sao cho vị Giáo Sĩ trẻ lớn lên trong bầu khí thiêng liêng của tình huynh đệ thật sự
và tế nhị, được biểu lộ bằng sự quan tâm đến chính bản thân Linh Mục, nhất là trong vấn đề sức khỏe thể
xác và những khía cạnh khác nhau của đời sống vật chất.
Sau những năm
94. Sau một số năm thi hành thừa tác vụ, các Linh Mục đã thu thập được một kinh nghiệm thật sự và lập
công lớn, vì đã dâng hiến mình hoàn toàn trong công việc hằng ngày để mở mang Nước Chúa. Nhóm các
Linh Mục này làm nên một sự giàu có thiêng liêng mục vụ.
Các vị ấy cần được khuyến khích, cần được đề cao giá trị vai trò của họ, cần đào sâu hơn việc huấn
luyện mình trong mọi chiều kích để duyệt xét lại chính mình và công việc mình làm; để làm sống dậy
những động lực của thừa tác vụ thánh; để suy nghĩ về phương pháp học mục vụ. Các vị cần đến sự hiệp
thông Linh Mục, tình bạn của Giám Mục để lướt thắng những kinh nghiệm mệt mỏi, thất vọng, cô đơn ;
sau cùng tìm gặp lại những nguồn mạch sâu thẳm của linh đạo Linh Mục 992 .
Do đó, điều quan trọng là các Linh Mục này hưởng lợi do0 các khóa huấn luyện đặc biệt và chuyên
sâu; những khóa huấn luyện này, ngoài những vấn đề thần học và mục vụ, còn cứu xét tất cả những khó
khăn về tâm lý và tình cảm có thể phát sinh trong giai đoạn này. Như thế các kỳ gặp gỡ này cần có sự tham
dự không những của Giám Mục, mà còn của các chuyên viên có khả năng góp phần vững vàng và chắc chắn
cho việc giải quyết các vấn đề nêu ra.
Tuổi cao.
95. Các Linh Mục cao niên, đáng được kính trọng nhất, cũng thông phần vào việc huấn luyện thường xuyên,
không phải để học hỏi cho thâm sâu hay tranh luận văn hóa, nhưng để “xác nhận một cách thư thái và ôn
hòa vai trò mà các ngài còn được mời gọi nắm giữ trong Linh Mục đoàn” 993 .
Ngoài việc tham gia huấn luyện có tổ chức dành cho các Linh Mục tuổi trung bình, các ngài có thể
hưởng dùng những thời giờ riêng, những địa điểm và những cuộc gặp gỡ đặc biệt để đào sâu ý nghĩa chiêm
niệm của đời sống Linh Mục, để tái khám phá và quí trọng những kho tàng giáo lý đã học được, để tự thấy
mình còn hữu dụng- và thực sự là thế-vì tài năng các ngài tăng giá trị qua những hình thức xứng hợp của
thừa tác vụ đích thực và chuyên biệt mà các ngài thi hành, chủ yếu như làm Cha giải tội kinh nghiệm hay
làm Cha linh hướng. Cách riêng, các ngài có thể chia sẻ kinh nghiệm với các Linh Mục khác, khích lệ, đón
tiếp, lắng nghe và trấn tĩnh anh em đồng sự, sẵn sàng khi được yêu cầu “trở thành những thầy dạy và huấn
luyện viên chân chính đối với các Linh Mục khác” 994 .
Những Linh Mục trong hoàn cảnh đặc biệt
96. Không kể tuổi tác, các Linh Mục cũng có thể ở vào “một hoàn cảnh suy yếu thể lý hay mệt mỏi tinh
thần” 995 . Nếu biết dâng đau khổ của mình, các ngài đóng góp phần rất lớn vào công trình cứu độ và nêu lên
“một chứng từ ghi dấu bằng dấu thánh giá, cam chịu trong hy vọng và niềm vui Vượt Qua” 996 .
Việc huấn luyện thường xuyên của các Linh Mục này phải nhằm khuyến khích các ngài “tiếp tục phục
vụ Giáo Hội một cách bình thản và can trường” 997 . Việc huấn luyện đó còn là dấu chỉ hùng hồn về ưu thế của
hữu thể trên hành động, của nội dung trên kỹ thuật, của ân sủng trên hiệu quả bên ngoài. Như thế, các ngài
có thể sống kinh nghiệm của Thánh Phaolô: tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em, và trong
thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách điều Đức Kitô phải chịu vì Thân Mình
Ngài, tức là Hội Thánh (Cl 1, 24).
Giám Mục và các Linh Mục khác không bao giờ được bỏ qua những cuộc thăm viếng định kỳ đối với
các anh em đau bệnh này, các ngài cần được thông tin về đời sống của giáo phận hơn hết, cho các ngài cảm thấy
mình là những thành phần sống động của Linh Mục đoàn và của Giáo Hội toàn cầu mà các ngài đang xây đựng bằng
đau khổ của mình. Người ta phải tỏ tình yêu thương cách riêng với những Linh Mục gần ngày kết thúc đường đi của
mình ở thế gian, sau một cuộc đời dâng hiến để phục vụ Thiên Chúa và lo phần rỗi cho anh em mình.
Toàn thể Linh Mục đoàn không những lấy lời lẽ đức tin mà an ủi các ngài, ân cần ban Bí Tích mà còn cầu
nguyện cho các ngài.
Nỗi cô đơn của Linh Mục
97. Ở bất cứ lứa tuổi nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào, Linh Mục cũng có thể có cảm nghiệm về sự cô đơn 998 . Sự cô
đơn này không hiểu như sự cô lập tâm lý, có thể hậu quả rất bình thường của sự gắn bó chân thành với Phúc Âm, và
từ đó tạo nên một chiều kích không thể thay thế cho đời sống cá nhân. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, nó có thể
bắt nguồn từ những khó khăn đặc biệt, như sự bị đặt ra bên lề, sự hiểu lầm, những lệnh đường, sự bị bỏ rơi, những bất
ngôn, những giới hạn của bản tính cá nhân hoặc bản tính của người khác, những vu oan, những hạ nhục v.v… Từ đó
có thể phát sinh một cảm giác mạnh của thất vọng, rất độc hại.
Tuy nhiên những lúc khó khăn này cũng có thể nhờ ơn Chúa giúp, để trở nên những cơ hội đặc biệt mang lại
tiến bộ mới trên con đường nên thánh và làm Tông Đồ. Thật vậy Linh Mục có thể khám phá ra rằng đó chỉ “là một sự
đơn độc có Chúa hiện diện” 999 . Nhưng điều này không làm nhẹ trách nhiệm của Giám Mục và Linh Mục đoàn, là phải
tránh sự cô đơn nảy sinh do sự chểnh mảng đối với tình hiệp thông Linh Mục.
Cũng không được quên những anh em đồng sự đã từ bỏ thừa tác vụ. Phải giúp đỡ các vị những gì cần thiết và
nhất là giúp đỡ bằng lời cầu nguyện và đền tội. Đức bác ái mà người ta phải sống đối với các ngài không được dẫn
đến quyết định giao phó cho họ những phận vụ của Giáo Hội :làm vậy có thể tạo ra sự hỗn loạn và bất an, nhất là giữa
giáo dân vì hoàn cảnh của những anh em đó.
KẾT.
Chủ mùa gặt, Đấng kêu mời và sai thợ gặt vào làm việc trong đồng lúa mình (x. Mt 9, 38) đã hứa và sẽ muôn
đời trung thành : “Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử như lòng Ta mong muốn (Gr 3,15). Chính trên sự trung
thành của Chúa luôn sống động trong Giáo Hội” 1000 . Mà chúng ta hy vọng lãnh nhận nhiều ơn gọi Linh Mục phong
phú và thánh thiện, hy vọng này đã trở thành hiện thực trong nhiều nước. Cũng chính lòng trung thành của Chúa bảo
đảm chắc chắn rằng Chúa sẽ không quên ban cho Giáo Hội ánh sáng cần thiết để hăng hái ra khơi thả lưới đương đầu
với cuộc phiêu lưu đầy quyến rũ bủa lưới ngoài khơi. Đáp lại hồng ân của Thiên Chúa, Giáo Hội dâng lời cảm tạ,
sống trung thành sẵn sàng vâng theo Chúa Thánh Thần, cầu nguyện khiêm tốn và kiên trì.
Muốn thực hiện sứ mạng Tông Đồ của mình, Linh Mục phải ghi khắc trong tim những lời này của Chúa: “Lạy
Cha, Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm, là ban sự sống đời đời cho mọi
người” (Ga 17, 2-4). Vì thế Linh Mục phải hy sinh cho anh em bằng cách sống như một dấu chỉ đức ái siêu nhiên,
trong vâng phục, trong khiết tịnh độc thân, trong đơn sơ tôn trọng kỷ luật hiệp thông trong Giáo Hội.
Trong công cuộc Phúc Âm hóa, Linh Mục vượt lên trên trật tự, tự nhiên để sống trong mọi “liên hệ với Thiên
Chúa” (Dt 5,1). Thật vậy, ngài được kêu mời nâng cao con người, bằng cách sinh ra con người sống sự sống thần linh
và làm cho con người tăng trưởng trong cuộc sống đó cho tới độ viên mãn Chúa Kitô. Chính vì vậy mà một Linh Mục
chính hiệu, tìm sống trung tín với Đức Kitô và Giáo Hội, tạo nên một sức mạnh không thể sánh được mang tiến bộ
cho toàn thế giới.
“Cuộc tân Phúc Âm hóa cần những nhà truyền bá Phúc Âm mới, những Linh Mục dấn thân sống chức tư tế
của mình như một con đường nên thánh” 1001 . Chính những con người của Thiên Chúa hoàn toàn thành những công
việc của Thiên Chúa!
Như Đức Kitô, Linh Mục phải tỏ mình cho thế gian như một gương mẫu đời sống siêu nhiên. Ta đã nêu gương
cho các ngươi thế nào, các ngươi cũng làm như vậy (Ga 13,15).
Chứng tá đời sống tạo nên phẩm cách của Linh Mục và làm lời rao giảng trở nên thuyết phục hơn. Chính kỷ
luật của Giáo Hội, khi được sống vì những lý do nội tâm sâu xa, trở nên một trợ lực quan phòng để sống căn tính Linh
Mục, để khơi dậy đức ái và làm cho chứng tá thêm sáng ngời mà không có nó, mọi chuẩn bị văn hóa hay mọi chương
trình nghiêm túc, cũng chỉ là trò đùa. “Làm” cũng chẳng ích gì nếu thiếu “chung sống với Đức Kitô”.
Chính tại đây, đường chân trời của căn tính, của đời sống, của thừa tác vụ, của việc huấn luyện thường xuyên
của Linh Mục mở ra cho những đòi hỏi thúc bách của cuộc Phúc Âm hóa mới : một tránh nhiệm to lớn, năng động,
can đảm, được đức tin soi sáng được đức ái nâng đỡ và đâm rễ sâu trong đức ái.
Không ai đơn độc làm công việc vừa cần thiết vừa cấp bách này. Linh Mục phải cảm thấy được nâng đỡ bởi sự
điều hành mẫu mực, vững vàng và cương nghị của Giám Mục. trong niềm hiệp thông trong suốt với Tòa Thánh, cũng
như trong sự hợp tác với toàn thể Linh Mục đoàn và dân Chúa.
Ước gì mọi Linh Mục phó thác mình cho Đức Maria, Mẹ của lòng tín thác. Trong đời Mẹ, Mẹ đã “là mẫu
gương của tình yêu mẫu tử, tình yêu khích lệ tất cả những ai đã liên kết vào sứ mạng Tông Đồ trong Giáo Hội, cộng
tác vào việc tái sinh nhân loại” 1002 . Trong Mẹ, các Linh Mục sẽ gặp được ơn che chở liên lỉ và ơn trợ giúp để canh tân
đời sống mình và để làm cho chức tư tế của các ngài phát sinh một tiến triển Phúc Âm có cường độ mạnh hơn và mới
mẻ hơn, trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ cứu độ thứ ba.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, ngày 31 tháng 1 năm 1994 đã phê chuẩn Kim Chỉ Nam này và đã ban phép
phổ biến.
Đ.H.Y JOSÉ T. SANCHEZ
Chưởng ấn
CRESCENZIOSEPE
Tổng Giám Mục hiệu tòa Grado
Thư ký
KINH LẠY MẸ RẤT THÁNH ĐỒNG TRINH MARIA
Lạy Đức Maria,
Là Mẹ của Đức Giêsu Kitô và là Mẹ của các Linh Mục
xin hãy nhận lấy tước hiệu mà chúng con dâng cho Mẹ
để ngợi ca chức quyền Thánh mẫu của Mẹ
và để kề bên Mẹ chiêm ngắm chức Linh Mục của con Mẹ
và của các con cái Mẹ
lạy thánh mẫu của Thiên Chúa!
Lạy Mẹ Đức Kitô,
Mẹ đã tặng ban cho Đấng Mesia Linh Mục
một thân thể xác phàm
nhờ được Thánh Thần xức dầu
để cứu độ nngười nghèo
và cứu độ những con người có trái tim tan nát
xin hãy gìn gữ các Linh Mục trong trái tim Mẹ
và trong Giáo Hội
Lạy Mẹ Đấng Cứu Độ !
Lạy Mẹ Đức Tin
Mẹ đã sánh bước tới Đền Thờ cùng với Con Người
là sự ứng nghiệm của những lời hứa
như đã được ngỏ với cha ông chúng con
xin hãy trao gởi các linh mục của con Mẹ
cho Thiên Chúa Cha
để làm vinh danh ngài
Lạy Hòm Bia Giao Ước !
Lạy Mẹ Giáo Hội
tại phòng Tiệc Ly, giữa các Môn Đệ
Mẹ đã cầu nguyện với Thánh Thần
cho dân mới và cho các vị mục tử của dân mới
xin hãy làm cho hàng Linh Mục được dư tràn các ân huệ
lạy nữ vương các Tông Đồ !
Lạy Mẹ Đức Giêsu Kitô.
Mẹ đã ở với ngài vào lúc khởi đầu cuộc sống
và sứ vụ của Ngài.
Mẹ đã tìm kiếm Ngài
khi Ngài đang làm Thầy giữa đám đông.
Mẹ đã đứng kề bên Ngài.
khi Ngài được nâng lên khỏi mặt đất.
hoàn tất mọi sự để trở nên hy lễ duy nhất vĩnh cửu.
Xin hãy đón nhận những kẻ được Chúa mời gọi
Khi họ cất những bước đầu tiên trên nẻo đường của họ.
xin hãy che chở cho sự tăng triển của họ
xin hãy sát cánh với những người làm con Mẹ.
trong đời sống và trong thừa tác vụ.
lạy Mẹ là Mẹ các Linh Mục.
AMEN.
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
GH : Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, CĐ, Vaticanô II.
MK : Hiến chế tín lý Mạc Khải của TC Dei Verbum, CĐ Vaticanô
MV : Hiến chế mục vụ về GH trong thế giới ngày nay, Gaudum et Spes, CĐ Vaticanô II.
GM : Sắc lệnh Nhiệm vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội, Chistus Dominus, CĐ Vaticanô II.
LM : Sắc lệnh chức vụ và đời sống Linh Mục, Prebayterorum ordinis, CĐ Vaticanô II.
ĐT : Sắc lệnh đào tạo Linh Mục, optatam totius, CĐ Vaticanô II.
TĐ : Sắc lệnh Tông Đồ giáo dân, Apostolican Actuositatem, CĐ Vaticanô II.
TG : Sắc lệnh hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, Ad Gentes, CĐ Vaticanô II.
GL : Giáo luật, CIC.
GLCG : Giáo Lý Chung Giáo Hội Công Giáo.
Sđd : Ibid, Sách đã dẫn.
THÁNH BỘ GIÁO SĨ
LINH MỤC
VÀ THIÊN NIÊN KỶ
KITÔ GIÁO THỨ BA
THẦY DẠY LỜI CHÚA,
THỪA TÁC VIÊN CÁC BÍ TÍCH
VÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN.
Vatican, ngày 19.3.1999
Lễ trọng kính Thánh Cả Giuse
Bổn mạng của Hội thánh hoàn vũ
Kính thưa Đức Hồng Y,
Kính thưa Đức Cha,
Trong tinh thần sám hối, toàn thể Hội thánh đang chuẩn bị bước vào Thiên niên kỷ thứ ba gần kề, kể
từ cuộc Nhập thể của Ngôi Lời, và do sự ân cần tông đồ của Đấng kế vị Thánh Phêrô, toàn thể Hội thánh
được thúc đẩy hồi tưởng cách sống động hơn Thánh Ý của Đấng Sáng lập thần linh.
Trong sự hiệp thông mật thiết với mục tiêu đó, trong phiên họp khoáng đại từ ngày 13 đến 15 tháng 10
năm 1998, Thánh bộ Giáo sĩ đã quyết định gởi Lá thư luân lưu này đến tất cả các Đấng bản quyền, nhờ các
ngài chuyển cho các linh mục. Nhân dịp này, Đức Thánh Cha nói : “viễn tượng Phúc âm hóa mới đạt đến
đỉnh cao trong Năm thánh. Theo sự quan phòng của Chúa, chính ở đây, chúng ta đi lại những con đường đã
vạch ra trong Tông thư Tertio millennio adveniente, trong Bản Chỉ nam cho các linh mục và phó tế vĩnh
viễn, trong chỉ thị về sự hợp tác của các tín hữu vào thừa tác vụ mục vụ của các linh mục, cũng như trong
những hoa trái của các phiên họp. Nhờ áp dụng các xác tín và phổ quát những tài liệu này, điều mà ngày nay
chúng ta quen gọi là “Tân Phúc âm hóa” có thể được chuyển thành hành động cách dễ dàng hơn”.
Quan tâm đến những hoàn cảnh sống hiện nay, tài liệu này có mục đích giúp các linh mục cũng như
các hội đồng linh mục kiểm điểm lại, nhớ lại rằng nói một cách cụ thể, yêu thương có nghĩa là trung tín. Tài
liệu này lấy lại những giáo huấn của Công đồng, của các Đức Giáo Hoàng, và tham chiếu những tài liệu
khác đã được Đức Thánh Cha nhắc tới. Những tài liệu trên là nền tảng cho lời đáp trả đích thực trước những
đòi hỏi trong thời đại chúng ta, và cho sứ vụ Phúc âm hoá được hiệu quả.
Những câu hỏi ở cuối mỗi chương có mục đích giúp đỡ cho việc biệt phân thực tại sống hằng ngày
trong ánh sáng của giáo huấn hàm chứa trong những tài liệu đã nêu. Những câu hỏi đó không nhằm mục
đích trả lời cho Thánh Bộ. Các linh mục có thể sử dụng những câu hỏi đó cách nào ích lợi nhất.
Chúng tôi biết rằng không có hoạt động truyền giáo nào có thể chu toàn mà không có sự hỗ trợ nhiệt
tình của các linh mục, vốn là những cộng tác viên đầu tiên và quí giá nhất của hàng Giám mục. Lá thư này
cũng có mục đích giúp đỡ các linh mục trong những ngày học hỏi, tĩnh tâm, linh thao, cũng như trong những
cuộc hội họp của các linh mục theo từng miền, được tổ chức trong thời gian chuẩn bị Năm Thánh và nhất là
trong Năm thánh.
Nguyện xin Nữ Vương các thánh Tông Đồ, là Ngôi Sao mai bừng sáng, dẫn đưa các linh mục yêu dấu
của Mẹ những người con của Con Mẹ – bước vào nẻo đường hiệp thông thực sự, nẻo đường trung tín và thi
hành cách quảng đại và toàn diện thừa tác vụ cần thiết của họ.
Thân ái trong Chúa Kitô.
Hồng Y Dario Castrillon Hoyos
Tổng trưởng
X Csaba Ternyak
Tổng Giám Mục hiệu toà Eminentiana
Thư ký
BỘ GIÁO SĨ
LINH MỤC VÀ
THIÊN NIÊN KỶ KITÔ GIÁO THỨ BA
Thầy Dạy Lời Chúa
Thừa Tác Viên Các Bí Tích
Và Người Lãnh Đạo Cộng Đoàn
Truyền thống giáo thuyết Công Giáo mô tả linh mục như Thầy dạy Lời Chúa, Thừa tác viên các bí
tích và Người lãnh đạo cộng đoàn Kitô được trao phó cho Ngài. Đây là khởi điểm cho mọi suy tư về căn tính
và sứ vụ của linh mục trong Hội thánh. Trong ánh sáng của công cuộc Tân Phúc âm hóa, công cuộc mà qua
con người và giáo huấn của Đức Thánh Cha, Chúa thánh Thần mời gọi mọi tín hữu tham dự, giáo thuyết
không thay đổi nhưng lại luôn mới mẻ nói trên cần được suy nghĩ lại với niềm tin và hy vọng.
Toàn thể Hội Thánh được mời gọi sống sự dấn thân tông đồ mạnh mẽ hơn, sự dấn thân vừa mang tính
cá nhân vừa mang tính cộng đoàn, sự dấn thân quảng đại và mới mẻ. Được khuyến khích bởi gương sống cá
nhân giáo huấn rõ ràng của Đức Gioan Phaolô II, cả mục tử lẫn tín hữu phải cùng ý thức cách quyết liệt hơn
rằng với tinh thần tông đồ được canh tân, đã đến lúc phải chuẩn bị mau mắn hơn để bước qua ngưỡng cửa
thế kỷ 21 và mở rộng cánh cửa lịch sử cho Đức Giêsu Kitô, Đấng là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ duy
nhất của chúng ta. Trong năm 2000, cả mục tử cũng như tín hữu được mời gọi công bố bằng sức mạnh mới :
“Ecce natus est nobis Salvator mundi” 1003 .
“Trong những xứ sở với cội rễ Kitô giáo lâu đời, cũng như đôi khi trong những Giáo hội trẻ trung hơn,
nhều tín hữu đã đánh mất cảm thức sống động của đức tin, kể cả không còn coi mình là thành viên của Hội
thánh và sống cuộc sống xa cách Chúa Kitô và Tin Mừng của Người. Trong trường hợp này, cần phải thực
hiện tân Phúc âm hóa hay tái Phúc âm hóa” 1004. Vì thế, tân Phúc hóa trước hết là phản ứng đầy tình từ mẫu
của Hội thánh trước tình trạng suy yếu đức tin và những đòi hỏi của đời sống luân lý Kitô giáo bị xóa mờ
trong lương tâm của con cái Hội thánh. Nhiều tín hữu sống trong một thế giới dửng dưng với tôn giáo.
Trong khi vẫn duy trì một niềm tin nào đó, trong thực tế, họ sống thái độ dửng dưng về tôn giáo và luân lý,
xa cách Lời Chúa và các bí tích vốn là những điều thiết yếu cho đời sống Kitô hữu. Có những người khác,
dù được sinh ra do cha mẹ công giáo và đã được rửa tội, nhưng đã không bao giờ được đón nhận nền tảng
đức tin và họ sống thái độ vô thần thực tiễn. Với tình yêu, Hội thánh quan tâm đến những người này và đặc
biệt nhây bén trước nhiệm vụ cấp bách và phải lôi kéo họ đến sự hiệp thông trong Hội thánh, nơi mà với ân
sủng của Thánh Thần, họ khám phá lại Đức Giêsu Kitô và Chúa Cha.
Cùng với công cuộc tân Phúc Am hóa nhằm thắp lại ánh sáng đức tin trong lương tâm của nhiều tín
hữu, và để lời loan báo ơn cứu độ được vang lên trong (đời sống) xã hội, Hội thánh còn đặt biệt ý thức về
nhiệm vụ ngàn đời của mình, đó là nhiệm vụ đi đến với muôn dân (Ad Gentes) quyền lợi và bổn phận
chuyển tải Tin Mừng đến tất cả những ai chưa nhận biết Chúa Kitô và hồng ân cứu độ của Người. Đối với
Hội thánh hôm nay, là Mẹ và là Thầy, nhiệm vụ đến với muôn dân và Tân Phúc âm hóa là những khiá cạnh
không thể tách rời trong lệnh truyền đã nhận : giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn mọi người đến với Chúa
Cha. Các Kitô hữu nhiệt thành cũng cần sự nâng đỡ liên lỉ và đầy tình thương khi họ kiếm tìm sự thánh thiện
cá nhân mà Thiên Chúa và Hội thánh mời gọi. Đây là sức đẩy đích thực của công cuộc Tân Phúc âm hóa.
Mọi tín hữu Kitô, con cái của Hội thánh, phải được thúc đẩy bởi trách nhiệm chung và cấp bách này.
Cách riêng, các linh mục có bổn phận này, bởi vì họ đã được chọn, được thánh hiến và được sai đi cách đặc
biệt để làm bừng sáng sự hiện diện của Chúa Kitô, Đấng mà họ trở thành những đại diện và sứ giả đích thực
của Người 1005 . Chính vì thế cần phải hỗ trợ các linh mục triều cũng như dòng trong việc đảm nhận “trách
nhiệm mục vụ quan trọng của việc tân Phúc âm hóa” 1006 và trong ánh sáng của sự cam kết này, họ khám phá
lại tiếng gọi Thiên Chúa dành cho họ, ơn gọi phục vụ một cộng đoàn trong dân Chúa với tư cách là thầy dây
Lời Chúa, Thừa tác viên các bí tích và Mục tử của đoàn chiên.
Chương I
PHỤC VỤ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC ÂM HÓA
“Không phải anh em đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn anh em và sai anh em đi” (Ga 15, 16)
1. Tân Phúc âm hóa, trách nhiệm của toàn thể Hội thánh.
Được Chúa gọi và sai đi vẫn luôn là điều căn bản nhưng trong bối cảnh lịch sự hiện nay, ý nghĩa đó có
tầm quan trọng đặc biệt. Đứng từ viễn tượng tôn giáo, thời điểm cuối cùng của thế kỷ 20 được ghi dấu bằng
những hiện tượng đối nghịch. Một đàng, tình trạng tục hóa mạnh mẽ trong xã hội dẫn đến sự khước từ Thiên
Chúa và mọi quy chiếu về siêu việt; đàng khác lại trào dâng cảm nhận tôn giáo lớn lao hơn, kiếm tìm thỏa
mãn khát vọng bẩm sinh hướng về Thiên Chúa, Đấng vốn hiện diện trong tâm khảm mọi người, nhưng đôi
khi cảm nhận trên lại không có được sự diễn tả đúng mức.
“Sứ vụ của Chúa Kitô, Đấng Cứu độ được trao phó cho Hội thánh, còn rất xa mức hoàn thành. Khi
thiên niên kỷ thứ hai (kể từ khi Chúa Kitô đến) sắp kết thúc, một cái nhìn bao trùm trên nhân loại cho thấy
sứ vụ này vẫn chỉ ở bước khởi đầu và chúng ta phải hiến toàn tâm toàn ý cho công việc này” 1007 . Ngày nay,
nhiệm vụ truyền giáo được thực hiện cách rộng rãi trong bối cảnh tân Phúc âm hóa : những xứ sở đã có
truyền thống Kitô giáo lâu đời nhưng nơi đó, lối sống Kitô xem ra xuống dốc. Nhiệm vụ truyền giáo cũng
được thực hiện trong bối cảnh tổng quát của nhân loại, trong đó không phải tất cả mọi người đều được nghe
và hiểu lời công bố cứu độ mà Chúa Kitô mang đến.
Thật là một thực tại đáng buồn nhưng hiển nhiên, đó là nhiều người đã nghe nói về Chúa Kitô nhưng
xem ra chỉ biết và đón nhận giáo huấn của Người như một hệ thống lề luật luân lý tổng quát chứ không phải
là sự cam kết của đời sống cụ thể. Số rất đông những người chịu Phép Rửa nhưng đã bỏ không bước theo
Chúa Kitô và chỉ sống theo chủ nghĩa tương đối. Trong nhiều trường hợp, vai trò của đức tin Kitô giáo bị
giảm thiểu, chỉ còn là yếu tố văn hoá thường được giới hạn trong lãnh vực thuần túy riêng tư và không có
âm vang xã hội nào, trong đời sống cá nhân cũng như quốc gia” 1008 .
Sau 20 thế kỷ Kitô giáo, vẫn không thiếu những cánh đồng truyền giáo mênh mông. Mọi Kitô hữu
phải biết rằng : do chức tư tế cộng đồng trong bí tích Thánh tẩy (x. 1Pl 2, 4-5, 9; Kh 1, 5-6. 9-10; 20, 6), họ
được mời gọi cộng tác tùy theo hoàn cảnh cá nhân cho phép, vào công cuộc Phúc âm hóa mới vốn là công
việc chung của Hội thánh 1009 . Trách nhiệm đối với hoạt động truyền giáo “trước hết được trao cho Giám mục
đoàn, do Đấng kế vị Thánh Phêrô cầm đầu” 1010 . “Các linh mục là những cộng tác viên của Giám mục qua ơn
của bí tích Truyền chức thánh, được mời gọi chia sẻ trách nhiệm truyền giáo” 1011 . Vì thế có thể nói rằng theo
một nghĩa nào đó, các linh mục mang trách nhiệm đầu tiên “đối với công cuộc tân Phúc âm hóa ở thiên niên
kỷ thứ ba” 1012 .
Được nâng đỡ bởi những tiến bộ khoa học và kỹ thuật, xã hội đương đại đã phát triển một cảm thức
sâu xa về tính độc lập sắc bén giữa quyền bính và giáo huấn tôn giáo với quyền bính thế tục. Hoàn cảnh này
đòi hỏi phải trình bày và giải thích cách cẩn thận sứ điệp cứu độ vốn mãi mãi là một huyền nhiệm. Công
việc này phải được thực hiện với sự trân trọng cũng như với quyền năng và nhiệt tâm như thuở Phúc âm hóa
đầu tiên, đồng thời sử dụng cách cẩn thận trong mọi phương pháp thích hợp mà kỹ thuật hiện đại cung ứng.
Tuy nhiên đừng nên quên rằng kỹ thuật không thể thay thế chứng tá của đời sống thánh thiện. Hội thánh cần
những chứng nhân đích thực truyền thông Tin Mừng trong mọi lãnh vực đời sống. Từ đó phát xuất nhu cầu
đối với mọi Kitô hữu nói chung và các linh mục nói riêng : cần có sự huấn luyện sâu sắc và riêng biệt về
triết học và thần học 1013 , nhờ đó có thể làm chứng cho đức tin và niềm hy vọng của mình. Đồng thời công
việc trên cũng cho thấy tầm quan trọng của việc trình bày đức tin cách xây dựng bằng đối thoại và tìm hiểu
cá nhân. Tuy nhiên công bố Tin Mừng không thể chỉ giảm thiểu vào việc đối thoại. Thực vậy, sự can đảm
(nói lên tiếng nói) của chân lý là một thách đố khi phải đối đầu với cơn cám dỗ đồng hoá hoặc tìm kiếm sự
nổ tiếng dễ dãi và thuận lợi cho cá nhân.
Khi loan báo Tin Mừng, phải nhớ rằng một vài ý tưởng và từ ngữ truyền thống đã trở thành không thể
hiểu được đối với phần lớn con người trong nền văn hoá đương đại. Trong một số môi trường, người ta
không hiểu được ý nghĩa Kitô giáo tích cực của những từ ngữ như tội nguyên tổ và những hậu quả của nó,
ơn cứu độ, Thánh giá, nhu cầu cầu nguyện, hiến tế, đức thanh khiết, vâng phục, khiêm tốn, đền tội, khó
nghèo… Công cuộc tân phúc âm hóa – đang khi trung thành với giáo huấn đức tin được Hội thánh thường
xuyên dây bảo và với cảm thức mạnh mẽ về trách nhiệm đối với từ vựng của giáo thuyết Kitô – vẫn phải
khám phá những phương thế trình bày cho thế giới đương thời, để giúp họ khám phá lại ý nghĩa sâu xa của
những từ ngữ Kitô giáo. Trong nỗ lực đó, tân Phúc âm hóa không thể tách ra khỏi những công thức đức tin
đã đạt tới và được tóm tắc trong kinh Tin kính 1014 .
2. Vai trò thiết yếu của các linh mục
Đang khi các mục tử trong Hội thánh “nhận biết rằng họ được Chúa Kitô thiết lập không phải để một
mình đảm nhận toàn bộ sứ vụ cứu thế của Hội thánh đối với thế giới”1015 , họ vẫn đóng vai trò tuyệt đối cần
thiết trong việc Phúc âm hóa. Công cuộc tân phúc âm hóa đòi hỏi cách khẩn thiết phải tìm ra hình thái cho
việc thi hành tác vụ linh mục được thực sự có âm hưởng trong hoàn cảnh hiện tại cũng như để cho tác vụ đó
có hiệu quả và có khả năng đáp trả tương ứng với hoàn cảnh. Tuy nhiên, mục đích này chỉ có thể đạt được
nhờ sự quy chiếu không ngừng vào Chúa Kitô, mẫu mực duy nhất của chúng ta, Đấng làm cho ta có thể
bước vào những hoàn cảnh đương đại mà không đánh mất tầm nhìn về mục đích cuối cùng. Công việc canh
tân mục vụ đích thực không chỉ được thúc đẩy do những nhận định về văn hoá – xã hội, nhưng quan trọng
hơn, phải được thúc đẩy bởi tình yêu bừng cháy đối với Chúa Kitô và Hội thánh của Người. Điểm tới của
mọi nỗ lực của chúng ta là Vương quốc Chúa Kitô, khi mọi tạo vật được quy phục trong Người. Điều này sẽ
chỉ được hoàn thành vào tận điểm thời gian nhưng cũng đã có mặt từ trong hiện tại nhờ quyền năng của
Thánh Thần, Đấng ban sự sống, Đấng mà qua Ngài, Chúa Kitô đã thiết lập Hội thánh như Thân Mình Người
và như bí tích phổ quát của ơn cứu độ 1016 .
Chúa Kitô, Đầu Hội thánh và Chúa của mọi loài thụ tạo, vẫn tiếp tục công trình cứu độ giữa loài
Người. Chức linh mục thừa tác được định vị cách riêng trong sứ vụ này. Khi lôi kéo mọi sự đến với Người
(x. Ga 12, 32), Chúa Kitô mong ước các linh mục tham dự vào cách đặc biệt. Đây là chương trình của Thiên
Chúa : Ngài muốn Hội thánh và các thừa tác viên trong Hội thánh dấn thân vào công trình cứu độ. Chương
trình này mặc dù rõ ràng hiển nhiên từ viễn tượng thần học và giáo thuyết, nhưng lại có thể khó được chấp
nhận đối với con người thời hiện đại. Ngày nay, sự trung gian mang tính bí tích và cơ cấu phẩm trật trong
Hội thánh đang bị đặt thành vấn đề. Người ta cũng đặt vấn đề về sự cần thiết về vai trò trung gian đó cũng
như của cơ cấu phẩm trật và những lý lẽ biện minh cho nó.
Cũng như đời sống Chúa Kitô đã được hiến thánh cho việc công bố cách đích thực ý định yêu thương
của Chúa Cha (x. Ga 17, 4; Dt 10, 7-10), đời sống của linh mục cũng phải được hiến thánh trong Danh
Người, cho cùng lời công bố đó. Bằng lời nói và việc làm, Đấng Mêssia đã hiến tất cả cuộc sống công khai
của Người cho việc rao giảng cách uy quyền (x. Mt 7, 29). Uy quyền đó trước hết phát xuất từ địa vị thần
linh của Người, nhưng đồng thời trong mắt của người đời, uy quyền đó còn phát xuất từ mẫu mực đời sống
chân thành, thánh thiện và hoàn hảo. Tương tự như thế, linh mục bị đòi hỏi phải thêm vào uy quyền thiêng
liêng khách quan đã được ban cho qua bí tích Truyền chức thánh 1017 một uy quyền chủ quan phát sinh từ sự
chân thành và thánh thiện của đời sống 1018 , cũng như đức Ai mục tử biểu lộ tình yêu của Chúa Kitô 1019 . Lời
khuyến dụ của thánh Gregorio Cả dành cho các linh mục vẫn vang vọng bên tai : “Mục tử phải thanh khiết
trong tư tưởng, mẫu mực trong hành động, trầm tư trong thinh lặng và hữu dụng trong lời nói. Ngài phải gần
gũi mọi người trong đồng cảm và trên hết mọi sự, phải chú tâm đến việc chiêm niệm. Ngài phải là bạn đồng
hành khiêm tốn của tất cả những ai làm việc thiện. Cách công minh, Ngài phải cương quyết chống lại thói
xấu của người tội lỗi. Ngài không nên xao lãng đời sống nội tâm vì những bận tâm bên ngoài, cũng đừng bỏ
xót việc trợ giúp những nhu cầu bên ngoài vì chỉ chú trọng thiện hảo bên trong” 1020 .
Trong thời đại chúng ta cũng như thường xuyên trong Hội thánh, “các chiến sĩ Phúc âm phải là những
chuyên viên về con người, nhận biết cách sâu xa trái tim của con người đương đại, chia sẻ niềm vui và hy
vọng, sợ hãi và âu lo của họ, đồng thời là những nhà chiêm niệm trong tình yêu liên kết với Thiên Chúa”
Cách riêng đối với việc tái Phúc âm hóa châu Âu nhưng cũng có những giá trị cho mọi nơi, Đức Thánh Cha
xác quyết rằng ” các thánh là những người truyền giảng Tin Mừng vĩ đại nhất của châu Âu. Chúng ta phải
cầu xin Chúa làm tăng trưởng tinh thần thánh thiện trong Hội thánh và gửi các vị thánh đến loan báo Tin
mừng cho thế giới đương đại” 1021 . Đừng quên rằng nhiều người đương đại với chúng ta đã tiến đến gần Chúa
Kitô và Hội thánh trước hết là qua những thừa tác viên thánh thiện. Vì thế nhu cầu cần có những chứng nhân
đích thực cho Tin Mừng trở thành cấp bách hơn bởi vì đó là “hình ảnh sống động và trong suốt của Chúa
Kitô linh mục”1022 .
Trong hành động cứu độ của Chúa Kitô, có thể làm sáng tỏ hai mục tiêu gắn bó chặt chẽ với nhau :
một đàng là mục tiêu tri thức nhằm giảng dạy, giáo huấn do những đám đông không người chăn dắt (x. Mt 9,
36) và thúc đẩy trí khôn đi tới sự hoán cải (x. Mt 4, 17); đàng khác là ước vọng lay chuyển tâm hồn những ai
lắng nghe Ngài, để họ ăn năn tội lỗi, nhờ đó mở đường cho ơn tha thứ của Thiên Chúa. Tiến trình đó vẫn
đúng cho hôm nay : “Lời kêu gọi thực hiện tân phúc âm hóa trước hết là kêu gọi hoán cải” 1023 và khi Lời
Thiên Chúa đã dạy bảo trí khôn con người và thúc đẩy ý chí của họ khước từ tội lỗi, thì hoạt động Phúc âm
hóa đạt đến mục đích của nó trong việc tham dự cách phong phú vào các bí tích, nhất là bí tích Sám hối và
Thánh Thể. Đức Phaolô VI đã dạy rằng : “vai trò của Tân Phúc âm hóa rõ ràng là giáo dục con người trong
đức tin, dẫn mỗi Kitô hữu đến chỗ sống các bí tích đức tin, chứ không chỉ đón nhận cách thụ động và nửa
chừng” 1024 .
Phúc âm hóa bao gồm những việc : công bố, làm chứng, đối thoại và phục vụ. Công cuộc đó đặt nền
trên ba yếu tố không thể tách rời : rao giảng Lời Chúa, thừa tác vụ bí tích và hướng dẫn tín hữu 1025 . Rao
giảng sẽ vô nghĩa nếu không bao hàm việc đào tạo trường kỳ cho người tín hữu và việc tham dự các bí tích.
Tương tự như thế, tham dự các bí tích mà không có sự hoán cải chân thành của con tim, không có sự chấp
nhận đầy đủ đức tin và các nguyên tắc luân lý Kitô giáo thì cũng vô nghĩa. Xét từ viễn tượng mục vụ, hành
động phúc âm hóa đầu tiên là rao giảng 1026 . Tuy nhiên xét từ viễn tượng ý hướng thì yếu tố đầu tiên của
Phúc âm hóa phải là cử hành các bí tích, nhất là bí tích Sám hối và Thánh Thể 1027 . Tuy nhiên tính toàn diện
của công việc mục vụ của linh mục được tìm thấy trong sự hài hòa của hai nhiệm vụ trên.
Đào tạo tinh thần đại kết cho các tín hữu là một khía cạnh khác cùng lúc càng quan trọng trong việc
phúc âm hóa. Công đồng Vaticanô II đã khuyến khích mọi tín hữu “tham gia cách năng động và thông minh
vào công cuộc đại kết” và “đánh giá cao sự tìm kiếm những di sản chung giữa các anh em Kitô hữu thuộc
những Giáo hội khác nhau” 1028 . Tuy nhiên đồng thời phải ghi nhận rằng ” không có gì xa lạ với tinh thần đại
kết cho bằng chủ nghĩa nhân nhượng giả tạo (false irencism) làm phương hại đến sự tinh tuyền của giáo
thuyết Công Giáo cũng như che mờ ý nghĩa chắc chắn và đích thực của giáo thuyết” 1029 . Các linh mục phải
chắc chắn rằng công việc đại kết luôn được thực thi trong sự trung tín với những nguyên tắc đã được Huấn
quyền Hội thánh thiết lập, phải tránh những phân cách và cổ võ tính liên tục hài hoà.
CÂU HỎI CHO CHƯƠNG MỘT
1. Các cộng đoàn của chúng ta, cách riêng các linh mục của chúng ta có thực sự cảm nhận nhu cầu và
sự khẩn thiết của công cuộc tân Phúc âm hóa ?
2. Đề tài ” Tân Phúc âm hóa” có thường được rao giảng không ? Có phải là vấn đề nổi bật trong các
cuộc hội họp của giáo sĩ, trong các chương trình mục vụ cũng như trong việc thường huấn ?
3. Các linh mục có dấn thân cách đặc biệt vào sứ vụ phúc âm hóa mới – mới trong “nhiệt tình phương
pháp và cách diễn tả”1030 – cả bên trong (ad intra) cũng như bên ngoài (ad extra) không?
4. Người tín hữu có nhìn chức linh mục như quà tặng thần linh cho cả người lãnh nhận chức thánh
cũng như cho cộng đoàn, hay họ chỉ nhìn như một công việc quản trị ? Chúng ta đã khuyến khích việc cầu
nguyện đủ chưa : cầu nguyện cho ơn gọi linh mục, cũng như cầu nguyện cho sự quảng đại đáp trả ơn gọi ?
5. Khi rao giảng Lời Chúa và khi dạy giáo lý, có duy trì được sự cân đối cần thiết giữa việc giáo huấn
trong đức tin và việc thực hành các bí tích không ? Hoạt động Phúc âm hóa các linh mục có làm nổi bật sự
bổ túc giữa rao giảng và bí tích, giữa “munus docendi” và “munus sanctificandi” không?
6. Phải làm gì để giúp các linh mục trở thành những thừa tác viên xây dựng cách hài hòa cộng đoàn
ngôn sứ, phụng vụ và bác ái, tức là Hội thánh ?
7. Từ (chương trình) chuẩn bị cho Năm thánh 2000, các linh mục có thể rút ra được những cơ may và
những ý tưởng cho một chương trình thực tiễn để thi hành việc tân phúc âm hóa ?
CHƯƠNG II
THẦY DẠY LỜI CHÚA
“Hãy đi khắp thế giới, rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo”
(Mc 16, 15)
1. Các linh mục, những thừa tác viên Lời Chúa “nhân danh Chúa Kitô, nhân danh Hội Thánh”
Để hiểu cách đúng đắn về thừa tác vụ Lời Chúa, phải bắt đầu bằng sự quan tâm đến chính việc Mạc
khải của Thiên Chúa. “Trong việc Mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình
ngỏ lời với mọi người như với bạn hữu, Ngài đối thoại với họ để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với
Ngài” 1031 . Trong Kinh thánh, việc loan báo Nước Trời không chỉ nói về vinh quang Thiên Chúa, mà còn là
trải rộng vinh quang đó qua việc loan báo. Tin Mừng được Hội thánh rao giảng không chỉ là một sứ điệp
nhưng còn là kinh nghiệm thần linh, kinh nghiệm ban sự sống cho tất cả những ai tin, nghe đón nhận và
vâng phục sứ điệp.
Vì thế, Mạc khải không chỉ giới hạn vào việc giảng dạy về Thiên Chúa, Đấng ngự trong ánh sáng vô
phương đạt thấu, bởi vì Mạc khải còn liên hệ đến những điều kỳ diệu Thiên Chúa làm cho ta bằng ân sủng
của Người. Lời mặc khải được hiện tại hóa “trong” và “qua” Hội Thánh, là khí cụ qua đó Chúa Kitô hành
động trong chúng ta nhờ Thánh Thần của Người. Lời đó vừa là án xử vừa là ân sủng. Khi lắng nghe Lời
Chúa, sự tiếp xúc với chính Thiên Chúa mời gọi trái tim con người và đòi hỏi một quyết định không chỉ
ngưng lại ở hiểu biết trí thức nhưng còn đòi hỏi sự hoán cải của con tim.
“Như những cộng tác viên của Giám mục, nhiệm vụ đầu tiên của linh mục là rao giảng Tin Mừng
Thiên Chúa cho mọi người… cũng như thiết lập và làm gia tăng Dân Chúa” 1032 . Rõ ràng vì rao giảng Tin
Mừng không chỉ là thông truyền một sứ điệp về mặt tri thức nhưng là “quyền năng của Thiên Chúa nhằm
cứu độ mọi kẻ tin” (Rm 1, 16), ơn cứu độ đã được hoàn thành trong Chúa Kitô và cho mọi người, cho nên
việc loan báo Tin Mừng đòi hỏi người loan báo phải có nền tảng siêu nhiên bảo đảm cho tính chính thực và
hiệu quả của lời loan báo. Theo một nghĩa nào đó, việc loan báo Tin Mừng do thừa tác viên có chức thánh
trong Giáo Hội chính là sự tham dự vào đặc tính cứu độ của chính Lời Chúa, không chỉ vì họ nói về Chúa
Kitô nhưng vì họ loan báo Tin Mừng với quyền năng đến từ sự dự phần của họ vào sứ mạng và sự hiến
thánh của Lời Nhập Thể. Những lời sau đây của Chúa vẫn vang vọng bên tai các thừa tác viên của Người :
“Ai nghe các con là nghe Thầy, ai khinh bỉ các con là khinh bỉ Thầy” (Lc 10, 16). Cùng với thánh Phaolô,
họ chứng thực rằng : “Thần khí mà chúng ta đón nhận không phải là thần khí của thế gian nhưng là Thần
Khí của Thiên Chúa, ngõ hầu ta nhận biết những Hồng ân Thiên Chúa đã ban. Chúng tôi nói những điều ấy
không phải bằng lời lẽ khôn ngoan của loài người, nhưng bằng những lời Thần Khí dậy bảo, giải thích
những điều thiêng liêng bằng ngôn ngữ thiêng liêng” (1Cr. 12-13).
Loan báo Tin Mừng là thừa tác vụ phát xuất từ bí tích Truyền chức thánh và được thi hành bằng
quyền bính của Chúa Kitô. Quyền năng của Thánh Thần không bảo đảm cho mọi hành vi thừa tác viên có
chức thánh cùng một cách. Trong việc ban phát các bí tích, sự bảo đảm này chắc chắn đến độ kể cả tình
trạng tội lỗi của thừa tác viên cũng không ngăn cản hoa trái ân sủng. Có những hành vi khác trong đó phẩm
chất nhân bản của thừa tác viên đóng vai trò quan trọng đáng kể. Những phẩm chất có thể tăng tiến hoặc
ngăn cản hiệu quả tông đồ của Hội thánh 1033 . Trong khi toàn bộ công việc mục vụ (munus pastorale) phải
được thực hiện (đặc trưng hoá) bằng tinh thần phục vụ, thì cách đặc biệt, tinh thần này phải là nét đặc trưng
của thừa tác vụ rao giảng, bởi vì hiệu quả cứu độ của Lời Chúa sẽ tác động mạnh mẽ hơn khi thừa tác viên –
vốn không bao giờ là chủ của Lời – càng ngày càng là tôi tớ (của Lời) nhiều hơn).
Tinh thần phục vụ đòi hỏi sự tận hiến cá nhân của thừa tác viên đối với Lời Chúa, đỉnh cao là tận hiến
cho chính Thiên Chúa, “Đấng tôi thờ phượng hết lòng bằng việc rao giảng Tin Mừng của Con Ngài” (Rom
1, 9). Thừa tác viên không nên đặt những chướng ngại vật trên đường đi bằng cách theo đuổi những mục
tiêu bên ngoài sứ vụ của mình hoặc cậy dựa vào sự khôn ngoan loài người, hoặc nhấn mạnh kinh nghiệm
chủ quan của mình mà làm cho Lời Chúa ra tăm tối.
Lời Thiên Chúa không thể bị thao túng. Đúng hơn, người rao giảng “trước hết phải gần gũi với Lời
Chúa… và phải là người đầu tiên tin vào Lời, ý thức rằng những lời ta rao giảng không phải là của mình,
nhưng của Đấng sai mình” 1034 .
Có mối quan hệ thiết yếu giữa kinh nguyện cá nhân và việc rao giảng. Từ việc suy niệm Lời Chúa sẽ
xuất hiện cách hồn nhiên “sự ưu việt của chứng tá đời sống, nghĩa là khám phá ra quyền năng của tình yêu
Thiên Chúa và làm cho Lời Chúa trở nên thuyết phục 1035 . Việc rao giảng có hiệu quả là hoa trái khác của cầu
nguyện cá nhân việc rao 4giảng như thế có hiệu quả không phải vì sự chặt chẽ về mặt chuyên môn nhưng vì
lời rao giảng đó đến từ con tim chân thành, con tim cầu nguyện, nhận biết rằng các thừa tác viên không
thông truyền sự khôn ngoan của riêng mình nhưng là của Lời Chúa, và không ngừng mời gọi người hoán cải
và nên thánh” 1036 . Để mang lại hiệu quả, lời rao giảng của các thừa tác viên Chúa Kitô phải được xây nền
trên đời cầu nguyện thảo hiếu : “sit orator antequam dictor” 1037 .
Kinh nguyện cá nhân mang lại cho linh mục sự nâng đỡ và khích lệ trong cảm thức về sứ vụ, trong ơn
gọi đời sống, trong đức tin sống động và tông đồ. Trong cầu nguyện cá nhân, các ngài múc lấy nhiệt tình cho
công cuộc Phúc âm hóa. Đọc các giờ kinh phụng vụ không chỉ đơn thuần là việc đạo đức cá nhân hay kinh
nguyện cộng đồng của toàn thể Hội thánh. Công việc đó còn mang lại ích lợi mục vụ lớn lao 1038 , bởi vì đó là
cơ hội đặc biệt để nội tâm hóa và trở nên thân quen với giáo huấn Thánh kinh, giáo phụ, thần học và huấn
quyền, tiếp theo đó giáo huấn này được truyền lại cho dân Chúa qua việc rao giảng.
2. Hướng đến việc rao giảng Lời Chúa cách hiệu quả
Công cuộc tân Phúc âm hóa phải chú tâm đến tầm quan trọng của việc đưa ý nghĩa của ơn gọi Thánh
tẩy đến mức trưởng thành nơi người tín hữu, nhờ đó đưa tín hữu đến chỗ nhận biết rằng họ đã được Thiên
Chúa kêu gọi bước theo sát Chúa Kitô và bản thân phải cộng tác vào sứ vụ của Hội Thánh.
“Thông truyền đức tin có nghĩa là khơi dậy, loan báo và đào sâu ơn gọi Kitô hữu, nghĩa là ơn gọi Chúa
dành cho hết mọi người khi Ngài cho họ biết mầu nhiệm cứu độ. ..” 1039 . Vì thế, nhiệm vụ rao giảng và giới
thiệu Chúa Kitô cho mọi người bởi vì chỉ một mình Người là : “Adam mới, trong khi mặc khải về Chúa Cha
và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của
họ” 1040 .
Đối với người Kitô hữu, Phúc âm hóa mới là ý thức Kitô về cuộc sống là hai điều sánh đôi với nhau.
Đây là Tin Mừng phải rao giảng cho mọi tín hữu mà không được giảm thiểu bất cứ cái gì liên quan đến sự
thiện hảo cũng như những đòi hỏi phải có thể đạt đến. Phải luôn nhớ rằng “người Kitô hữu chắc chắn cần
thiết và có bổn phận chiến đấu chống sự dữ khi phải trải qua nhiều gian nan cũng như phải chấp nhận cái
chết. Nhưng vì được dự phần vào mầu nhiệm phục sinh, được đồng hóa với cái chết của Chúa Kitô, được
mạnh mẽ nhờ đức cậy, họ bước tới ơn phục sinh” 1041 .
Công cuộc tân Phúc âm hóa đòi hỏi một thừa tác vụ nhiệt thành phục vụ Lời, một thừa tác vụ toàn diện
và có nền tảng vững chắc. thừa tác vụ đó phải có nội dung trong ánh sáng về thần học, thiêng liêng, phụng
vụ và luân lý; đồng thời phải mang trong tâm trí những nhu cầu của mọi người mà thừa tác vụ đó vươn tới.
Không được rơi vào bất cứ cám dỗ nào của chủ nghĩa duy trí thức (intellectualism), vốn có thể làm tối tăm
hơn là khai sáng trí năng người Kitô hữu. Đúng hơn, công việc này đòi hỏi đức ái về mặt tri thức qua việc
kiên nhẫn và trường kỳ giáo huấn về những điều nền tảng của đức tin và luân lý công giáo, và về ảnh hưởng
của nó trong đời sống thiêng liêng. Việc giảng dạy Kitô giáo trước hết phải được coi như thuộc những công
việc của lòng thương xót : ơn cứu độ đến từ chỗ nhận biết Chúa Kitô, bởi lẽ “không có Danh nào khác trên
thế gian này được ban cho loài người nhờ đó chúng ta được cứu độ” (Cv 4, 12).
Việc giảng dạy giáo lý không thể được hoàn thành nếu không sử dụng một nền thần học vững chắc,
bởi vì việc đó không chỉ đòi hỏi việc trình bày giáo thuyết mặc khải mà còn là đào tạo trí năng và lương tâm
người tín hữu nhờ giáo thuyết mặc khải, để họ có thể sống cho đúng với ơn gọi Thánh tẩy. Công cuộc Phúc
âm hóa mới sẽ được hoàn thành không chỉ nhờ vào việc Hội thánh như một toàn thể và những cơ chế của
Hội thánh nhưng còn tùy vào việc mỗi người và mọi Kitô hữu sống đức tin cách đích thực, qua đó cống hiến
chứng tá đáng tin cho cùng một niềm tin.
Phúc âm hóa có nghĩa là loan báo và loan truyền những nội dung của chân lý mặc khải bằng mọi
phương tiện tốt lành thích hợp (những nội dung đó là đức tin mang chiều kích Kitô và Ba Ngôi, ý nghĩa của
tín lý về Tạo dựng, những chân lý về Cánh chung, những giáo thuyết liên quan đến Hội thánh, con người,
các Bí tích và những phương thế cứu độ khác). Cũng quan trọng việc dạy cho người ta phương thế chuyển
dịch cách cụ thể những chân lý này vào trong cuộc sống, bằng việc đào tạo về mặt luân lý và thiêng liêng để
họ trở thành những chứng nhân sự sống và dấn thân truyền giáo.
Công việc đào tạo thiêng liêng và thần học (cũng như việc thường huấn cho các linh mục,phó tế và
giáo dân ), cả hai đều là những viêc lớn và không thể lẫn tránh được. Do đó thừa tác vụ Lời Chúa và các
thừa tác viên phải có khả năng đáp trả những hoàn cảnh hiện nay. Trong khi hiệu quả của thừa tác vụ chủ
yếu tùy thuộc vào sự trợ giúp của Chúa,nó cũng đòi hỏi mức độ cao nhất có thể của sự hoàn hảo về mặt con
người. Việt loan báo (được đổi mới) sứ điệp Kitô giáo về mặt giáo thuyết, thần học và thiêng liêng, vốn
nhắm mục đích trước hết là đốt lên và thanh tẩy lương tâm người đã được chịu Phép Rửa, không thể được
hình thành qua những bài nói ứng khẩu cách lười biếng và vô trách nhiệm. Lại càng ít đạt hiệu quả hơn nếu
về phía các linh mục không sẳn lòng trực tiếp đảm nhận trách nhiệm công bố Lời Chúa – đặc biệt là những
gì liên quan đến việc giảng Lời Chúa trong Thánh lễ (homiletic ministry) vốn không thể nhường cho những
người không được phong chức 1042 , cũng không được dễ dàng phú thác cho những người ít được chuẩn bị cho
công việc này.
Như vẫn luôn luôn được nhấn mạnh, giảng thuyết đòi hỏi linh mục phải chú tâm đặc biệt đến việc
chuẩn bị từ xa. Điều này được cụ thể hóa qua những việc như học hỏi và tìm kiếm những gì có thể giúp các
thừa tác viên trong việc chuẩn bị. Với sự nhạy bén mục vụ, người giảng phải luôn nhận biết những vấn đề
đang làm con người (thế giới) hôm nay bận tâm và có thể đưa ra một giải quyết khả dĩ. Hơn thế nữa, nếu các
linh mục phải đưa ra những câu trả lời cho các vấn đề con người thời nay đang tranh cãi, các ngài nên thông
biết những tuyên bố cuả Huấn quyền, nhất là của các Công Đồng và các vị Giáo Hoàng. Các ngài cũng nên
tham khảo những tác giả được tán thưởng nhất về thần học 1043 , cũng như cuốn Giáo lý của Hội thánh Công
giáo. Cũng phải nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thường huấn cho hàng giáo sĩ, và cách riêng về nội
dung nên phù hợp với bản Chỉ nam về Tác vụ và Đời sống linh mục 1044 . Những nỗ lực trong lãnh vực này sẽ
luôn mang lại mùa gặt phong phú. Thêm vào những điều trên phải chú tâm đến việc chuẩn bị gần, rất cần để
rao giảng Lời Chúa. Ngoại rừ những hoàn cảnh đặc biệt khi không thể làm gì khác hơn, sự khiêm tốn và cần
mẫn đòi hỏi linh mục ít nhất phải có một dàn bài cẩn thận về những gì mình định nói.
Suối nguồn chính của giảng thuyết dĩ nhiên là Thánh Kinh, được suy niệm cách sâu xa trong cầu
nguyện cá nhân cũng như được hòa nhập qua việc nghiên cứu và tiếp cận tương xứng với những sách vỡ
thích hợp 1045 Kinh nghiệm mục vụ chứng minh rõ ràng quyền năng và sự hùng hồn của Sách thánh có thể
làm cho tâm hồn những người lắng nghe bừng cháy. Các Giáo phụ và các nhà tư tưởng lớn trong truyền
thống Công giáo dạy ta cách đào sâu ý nghĩa của lời mặc khải và thông truyền ý nghĩa đó cho người khác 1046
. Điều này khác xa với bất cứ hình thức “cực đoan Kinh Thánh”(biblical fundamentalism) nào cũng như
khác xa với việc cắt xén sứ điệp Thần linh. Khoa sư phạm mà Hội thánh vận dụng để đọc, giải thích và áp
dụng Lời Chúa qua suốt các mùa Phụng vụ phải là điểm qui chiếu cho việc giảng thuyết. Đời sống các
thánh, cuộc chiến đấu và sự anh hùng của các ngài vẫn luôn mang lại những hiệu quả tích cực trong tâm hồn
người tín hữu Kitô, vốn đang rất cần những mẫu gương anh dũng cuả các thánh trong việc tận hiến chính
mình cho Thiên Chúa, và qua Thiên Chúa, tận hiến cho tha nhân. Việc qui chiếu vào đời sống các thánh đã
làm mới lại ý nghĩa trong hoàn cảnh sống hiện nay, nơi mà người tín hữu thường xuyên bị tấn công bởi
những giá tri và giáo thuyết mơ hồ. Tất cả những điều đó đều ích lợi cho việc phúc âm hóa cũng như cho việc
thăng tiến cảm nhận về tình yêu Thiên Chúa nơi người tín hữu, thăng tiến tình liên đới với mọi người, cũng
như tinh thần phục vụ và sự tự hiến quảng đại cho tha nhân. Lương tâm Kitô giáo đạt tới trưởng thành qua việc
thường xuyên qui chiếu về Đức Ai.
Linh mục cũng nên vun trồng những khía cạnh hình thức của giảng thuyết. Chúng ta đang sống trong
thời đại thông tin, đặt biệt là thông tin nhanh. Trên truyền hình và qua radio, chúng ta thường nghe các chuyên
gia và chuyên viên nói chuyện. Theo một nghĩa nào đó, linh mục cũng là người làm công tác truyền thông xã
hội, linh mục phải cạnh tranh được với những người đó khi rao giảng cho các tín hữu. Do đó sứ điệp của linh
mục phải được trình bày cách lôi cuốn. Tinh thần tồng đồ phải thúc đẩy linh mục thủ đắc khả năng trong việc
sủ dụng “những tòa giảng mới” do các phương tiện truyền hiện đại mang lại, và phải chắc chắn rằng việc rao
giảng của mình luôn ở mức độ phù hợp với Lời được rao giảng. Các đại học ngày nay cho thấy một sự đột
khởi trong mối quan tâm đến khoa hùng biện. Các linh mục cũng nên có mối quan tâm như thế cũng như ước
muốn có được các trình bày và sự quân bình đáng quý, đáng trân trọng.
Như việc rao giảng của Chúa Kitô, việc rao giảng của linh mục phải tích cực, có khả năng khơi dậy và
lôi kéo con người đến với cái Chân, Thiện, Mỹ của Thiên Chúa. Các Kitô hữu phải cương quyết làm cho:
”vinh quang Thiên Chúa chiếu tỏa trên dung nhan Đức Kitô“ (2Cr.4,6) được nhận biết, và trình bày chân lý
mạc khải cách cuốn hút. Lại có thể phủ nhận bản chất lôi cuốn mạnh mẽ- cho dù thanh tịnh – của lối sống
Kitô giáo sao? Không có gì phải sợ hãi trong lãnh vực này cả. “ Trong mầu nhiệm Vượt qua, kể từ khi đón
nhận hồng ân là chân lý tối thượng về sự sống con người, thì dọc theo mọi nẻo đường của thế giới. Hội thánh
ra đi loan báo rằng Chúa Giêsu Kitô là “ Đường, Sự Thật và Sự Sống “ ( Ga 14,6). Bổn phận của Hội thánh là
phục vụ nhân loại bằng nhiều nẻo đường khác nhau, nhưng cách riêng có một nẻo đường đòi hỏi trách nhiệm
đặc biệt, đó là phục vụ Sự Thật 1047 .
Trong giảng thuyết, sử dụng ngôn ngữ chính xác và thanh lịch, dễ hiểu đối với mọi người thuộc mọi tầng
lớp xã hội, luôn là điều hữu ích. Nên tránh thứ ngôn ngữ quá tầm thường 1048 . Trong khi nhà giảng thuyết phải
nói từ một tầm nhìn đích thực của lòng tin, thì đồng thời ngài cũng phải sử dụng những từ vựng dễ hiểu với
mọi người, và phải tránh những ngôn ngữ chuyên môn cũng như những nhượng bộ cho tinh thần thế tục (của
chủ nghĩa duy vật). Từ góc độ nhân loại, “chìa khóa” của việc rao giảng Lời Chúa cách hiệu quả nằm ở chỗ
này: đó là sự lão luyện của nhà giảng thuyết, biết rằng mình muốn nói gì, và luôn luôn quan tâm đến việc
chuẩn bị xa cũng như gần cách nghiêm túc. Cung cách này hoàn toàn khác với lối ứng khẩu ngẫu hứng. Tìm
cách che mờ sức mạnh toàn bộ của chân lý là những hình thức đáng ghét của chủ nghĩa nhân nhượng giả tạo ( *
). Vì thế cần phải cẩn trọng về ý nghĩa của từ ngữ, phong thái và cách nói. Nên làm nổi bật những chủ đề quan
trọng – nhưng không khoe khoang hợm hĩnh – sau khi đã suy tư kỹ lưỡng. Nên tập một giọng nói dễ nghe.
Người giảng phải biết mục tiêu của mình, đồng thời hiểu rõ thực tế đời sống và văn hóa của cộng đoàn. Phải
luôn luôn tránh những lý thuyết và tổng quát hóa trừu tượng. Do đó người giảng phải biết rỏ đoàn chiên của
mình và vận dụng lối nói lôi cuốn, thay vì gây tổn thương cho người ta, thì đánh động lương tâmvà không sợ
gọi sự vật bằng đúng tên của nó.
Các linh mục dấn thân trong nhiều trách nhiệm mục vụ khác nhau nên giúp đỡ nhau bằng những lời
khuyên huynh đệ về những vấn đề trên cũng như những chuyện khác, chẳng hạn về nội dung giảng thuyết, về
chất lượng thần học và ngôn ngữ, về phong cách, về độ dài của bài giảng (sao cho hợp lý), về giọng nói:”Khi
nói từ tốn bình thường, khi thay đổi (cao độ, cường độ …), khi nhấn mạnh, khi dừng lại. Linh mục cần
khiêm tốn để đón nhận sự giúp đỡ của anh em linh mục, và cách gián tiếp, của chính nguời tín hữu cùng cộng
tác với ngài trong hoạt động mục vụ.
(* ) Tạm dịch từ “irenicism” là “chủ nghĩa nhân nhượng giả tạo“, vì trong thông điệp Humani Generis,
Đức Piô XII dùng từ này trong ý chỉ một thái độ dung thứ trước những sai lầm khô ng thể chấp nhận được, chỉ
nhằm mục đích tìm bình an và hòa hoãn, nhưng đó không phải là hòa bình đích thực.
CÂU HỎI CHO CHƯƠNG HAI
8/. Chúng ta có thực sự đánh giá cao hiệu quả đích thực của thừa tác vụ Lời Chúa trong đời sống của
cộng đoàn không ? Có lo lắng đến việc vận dụng phương thế thiết yếu này trong việc Phúc âm hóa bằng khả
năng chuyên môn tốt nhất có thể không ?.
9/.Trong các khóa thường huấn có quan tâm đủ đến việc kiện toàn những hình thức khác của việc loan
báo Lời Chúa không ?.
10/. Các linh mục có được khuyến khích nghiên cứu nền thần học trong sáng cũng như các văn bản
của các giáo phụ, các Tiến sĩ Hội thánh và các thánh không ? Đã nỗ lực đủ trong việc học hỏi và giảng dạy
về các bậc thầy của của linh đạo Kitô giáo chưa ?
11/. Có khuyến khích về việc thiết lập thư viện tốt dành cho các linh mục, nhằm phản ánh cái nhìn
giáo thuyết vững chắc không ?
12/. Tại điạ phương, có dễ dàng liên hệ với các thư viện qua mạng Internet không ? Các linh mục đã
biết đến thư viện điện toán do Thánh bộ Giáo sĩ thiết lập chưa ?
13/.Các linh mục có sử dụng những bài giáo lý và giáo huấn của Đức Thánh Cha, cũng như các tài liệu
khác của Tòa thánh không ?
14/. Có nhận thức được nhu cầu nhân sự (linh mục, phó tế vĩnh viễn, tu sĩ, giáo dân,) để họ có khả
năng sử dụng tốt những phương tiện truyền thông, vốn là những khía cạnh quan trọng trong cuộc Phúc âm
hoá nền văn hóa đương đại không ?
CHƯƠNG III
THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH
“Những người đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1Cr 4,1)
1. ‘Nhân danh Đức Kitô là Đầu’
“Sứ mạng của Hội Thánh không phải là bổ túc cho sứ mạng của Đức Kitô và của Thánh Thần, nhưng
là bí tích của sứ mạng này: toàn thể và từng chi thể của Hội Thánh được sai đi để rao giảng và làm chứng,
hiện đại hóa, và lan toả mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi chí thánh” 1049 . Toàn thể sứ mạng của Hội Thánh
trong chiều kích bí tích biểu lộ bản chất đích thực của Hội Thánh chân chính, một Hội Thánh có đặc tính
“vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt thành hoạt động
vừa chiêm niệm, vừa hiện diện nơi trần gian nhưng đồng thời cũng là lữ khách” 1050 . Theo nghĩa này Hội
Thánh là” bí tích phổ quát cứu rỗi” 1051 , “tỏ bày đồng thời thực hiện mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa đối với
con người“ 1052 , các bí tích, thời gian ân sủng của Thiên Chúa thông ban sự sống cho con người, là cốt lõi của
sứ vụ linh mục. Cách đặc biệt, các linh mục ý thức mình là những dụng cụ sống động của Đức Kitô Linh
Mục. Chức năng của họ, nhờ đặc tính bí tích, là người làm đúng theo hành động của Thiên Chúa qua tính
hiệu quả của dụng cụ.
Đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong bí tích truyền chức, linh mục được đặt vào giữa lòng dân
Thiên Chúa. Với chức thánh, các Ngài được tham gia cách đặc biệt, và phù hợp với toàn bộ cơ cấu của cộng
đoàn Hội Thánh, trong ba chức năng của Đức Kitô. Linh mục, hành động “ nhân danh Đức KiTô là Đầu”,
nuôi dưỡng đoàn chiên là dân Thiên Chúa, và dẫn họ đến sự thánh thiện 1053 . Do đó, đòi hỏi Linh mục là
chứng nhân đáng tin về niềm tin của mình trong mọi khía cạnh của đời sống linh mục cũng như trong sự tôn
kính và cử hành các bí tích 1054 . Công đồng Vatiacan II đã lập lại học thuyết truyền thống, phải luôn luôn
khắc ghi trong tâm trí : “ thật vậy, dù ơn Chúa có thể hoàn tất công trình cứu rỗi qua những thừa tác viên bất
xứng, nhưng thường tình Thiên Chúa muốn tỏ ra những việc lạ lùng của Ngài qua những vị sẵn sàng đi theo
sự thúc giục và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần hơn, bằng kết hiệp mật thiết với Chúa KiTô và bằng một
đời sống thánh thiện để có thể nói như thánh tông đồ rằng: “Dù tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà
thực ra Chúa Kitô sống trong tôi” (G12,20) 1055 .
Trong khi cử hành các bí tích, các linh mục hành động như những thừa tác viên của Chúa Kitô, qua
Chúa Thánh Thần, dự phần vào chức vụ tư tế của Chúa Kitô cách đặc biệt 1056 . Vì thế, các bí tích là những
thời điểm thờ phượng quan trọng đặc biệt đối với việc Phúc âm hóa mới. Cần phải nhắc lại rằng các bí tích
trở thành những thời điểm hiệu quả duy nhất để chuyển thông nội dung đức tin. Điều này rất đúng với tất cả
các Kitô hữu, đúng hơn nữa đối với những người đã đánh mất viêc thực hành đức tin, đôi khi mời tham dự
vào cử hành phụng vụ vì lý do gia đình hoặc vì lý do xã hội ( như phép Thánh Tẩy, Thêm sức, Hôn nhân, Lễ
phong chức, Lễ an táng…). Cách sống đáng tin về phía các linh mục phải được bổ túc “với việc cử hành
phụng vụ xứng hợp” 1057 . Phụng vụ không mang tính trình diễn nhưng thực sự khẳng định rằng “yếu tố nhân
loại quy hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần linh, những thực tại hữu hình phải quy hướng về những thực tại
vô hình, thế giới hiện tại này phải hướng về thành đô tương lai” 1058 .
2. Các thừa tác viên Bí Tích Thánh Thể : tâm điểm của tác vụ linh mục.
Chúa Giêsu gọi các tông đồ là “bạn hữu”. Ngài cũng gọi chúng ta là bạn hữu từ khi chúng ta chia sẻ
chức linh mục của Ngài qua đặc sủng bí tích Truyền chức.. . còn cách nào khác để Chúa Giêsu có thể diễn
tả tình bạn đối với chúng ta đầy đủ hơn khi cho phép chúng ta, những linh mục của Giao Ước Mới, được
hành động nhân danh Ngài, hành động với tư cách Đức Kitô là Đầu ? Đây là điều diễn ra trong tất cả công
việc của chức linh mục, khi chúng ta cử hành các bí tích, đặc biệt khi chúng ta cử hành bí tích Thánh thể.
Chúng ta lập lại lời Chúa Giêsu đã nói trên bánh và rượu, qua tác vụ, chúng ta thực hiện cùng một sự thánh
hiến như Chúa Giêsu đã thực hiện. Còn gì khác để diễn tả tình bạn hơn điều này nữa ? Đó là điều cốt lõi của
sứ vụ linh mục” 1059 .
Phúc âm hóa mới phải mang dấu hiệu rõ ràng hướng về tâm điểm là bí tích Thánh Thể, là suối nguồn
và đỉnh cao của toàn bộ đời sống Kitô, đối với các tín hữu 1060 . “Không một cộng đoàn Kitô hữu nào được
thiết lập mà không đặt nền tảng và trọng tâm vào việc cử hành phép Thánh thể chí thánh“ 1061 bởi vì “những
bí tích khác cũng như những thừa tác vụ trong Hội Thánh và các hoạt động tông đồ đều gắn liền với Bí tích
Thánh Thể và quy hướng về đó. Phép Thánh Thể chí thánh chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội
Thánh” 1062 .
Bí tích Thánh thể cũng là mục tiêu của công việc mục vụ. Tín hữu phải góp phần vào đó nếu họ muốn
đón nhận hoa trái từ bí tích. Thật cần thiết để nhớ rằng: người tín hữu khi chuẩn bị cử hành phụng vụ phải
chuẩn bị “ xứng hợp, cẩn thận và có hiệu quả”, đồng thời giúp họ nhận biết rằng họ “ được mời gọi và dẫn
đưa người ta hiến dâng chính mình, dâng những vất vả của mình và mọi tạo vật làm một với hiến tế của
Chúa Kitô. Bởi vậy, Thánh thể là nguồn mạch và tuyệt đỉnh của toàn thể công việc rao giảng Phúc âm” 1063 .
Từ chân lý này sẽ đem lại nhiều hiệu quả cho công việc mục vụ.
Việc huấn luyện tín hữu về Hiến tế thánh trên bàn thờ có tầm quan trọng đặc biệt, cũng như cần
khuyến khích họ dự phần cách hiệu quả vào Bí tích Thánh thể 1064 . Cần lưu ý những đòi buộc ngày Chúa
Nhật 1065 và tham dự thường xuyên, nếu không phải là mỗi ngày, việc tham dự vào cử hành Thánh lễ và hiệp
thông Thánh Thể. Cần nhấn mạnh phải hội đủ những điều kiện thể chất và thiêng liêng để đón nhận Mình
Thánh Chúa – Cách đặc biệt việc cá nhân lãnh nhận bí tích Sám hối đối với những ai ý thức rằng họ không ở
trong tình trạng ân sủng … Sức mạnh của các giáo hội địa phương và cộng đoàn giáo xứ tùy thuộc vào điều
này, trong một phạm vi rộng lớn, việc tái khám phá tặng phẩm cao quý của Bí Tích Thánh Thể trong đức tin
và tôn thờ. Khi mối liên hệ giữa Thánh Thể và đời sống hằng ngày không được biểu lộ rõ ràng trong lời dạy
của linh mục, giữa lời nói và cuộc sống. Sự tham dự của cộng đoàn sẽ không còn được quan tâm nữa.
Về phương diện này, gương mẫu của linh mục cử hành phụng vụ là điều quan trọng nền tảng : “cử
hành Thánh Thể cho tốt là hình thức quan trọng của giáo lý cơ bản về Hiến Tế” 1066 . Trong khi điều này
không hẳn là ý nghĩa của linh mục, nhưng thật quan trọng đối với giáo dân khi thấy linh mục chuẩn bị
nghiêm túc qua việc chính linh mục hồi tâm trước khi cử hành Thánh Thể. Giáo dân sẽ trở nên những chứng
nhân về tình yêu và lòng tôn sùng của linh mục đối với Thánh Thể và theo gương ngài, họ còn nhận biết
rằng phải tạ ơn giây lát sau khi rước lễ.
Trong khi phần thiết yếu trong việc Phúc âm hóa của Hội Thánh là dạy cho mọi người cầu nguyện với
Thiên Chúa Cha, qua Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, thì Phúc âm hóa mới đòi hỏi phục hồi và củng cố
những thực hành mục vụ, có thể biểu lộ niềm tin vào sự hiện diện thật sự của Chúa dưới hình Thánh Thể. “
Ngoài việc cử hành Thánh lễ, linh mục có nhiệm vụ thúc đẩy lòng tôn sùng sự hiện Thánh Thể, kể cả ngoài
Thánh lễ, do đó, làm cho nhà thờ trở thành “ nhà cầu nguyện” của tín hữu 1067 . Giáo dân phải được hướng dẫn
tốt hiểu rõ những điều kiện bắt buộc để có thể hiệp thông Thánh Thể. Cũng quan trọng khuyến khích lòng
tôn sùng giáo dân đối với Chúa Giêsu Thánh Thể, Đấng đang đợi họ nơi Nhà Tạm. Đơn giản nhưng hiệu
quả của các bài giáo lý về Thánh Thể đó là quan tâm tới chất liệu của mọi đồ dùng có liên quan tới nhà thờ,
cách đặc biệt là nhà thờ và nhà tạm: như sạch sẽ, thẩm mỹ, khăn trải bàn thờ, bình bông xứng hợp, quan tâm
tới những nghi thức phụng vụ như cúi chào… 1068 một bầu khí tĩnh lặng phải được lan tỏa trong nhà nguyện
nơi để Mình Thánh Chúa. Xuyên suốt truyền thống Hội Thánh qua bao thế kỷ nói với chúng ta rằng tĩnh
lặng là nơi thích hợp để đối thoại với Thiên Chúa. Tâm điểm của các nhà Thờ là nhà nguyện nơi có Mình
Thánh Chúa hoặc là nơi mà Chúa Giêsu Thánh Thể được dành riêng để mọi người tôn thờ. Việc lui tới cũng
phải thuận lợi và minh nhiên. Cố gắng dành nhiều thì giờ mở cửa trong ngày để mọi người có thể đến và nên
trang trí phù hợp.
Tất cả những điều trên không thủ đắc từ hình thức của “chủ thuyết duy linh” nhưng xuất phát từ truyền
thống đạo đức có nền tảng thần học đối với Mầu Nhiệm Thánh Thể. Người ta sẽ nhận ra điều đó nếu linh
mục là người cầu nguyện và yêu mến Thánh Thể. Chỉ có mục tử nào cầu nguyện mới biết làm thế nào dạy
cho người khác cầu nguyện và đưa ân sủng của Thiên Chúa đến cho họ qua nhiệm vụ mục tử của mình, nhờ
đó sẽ có nhiều cuộc trở lại hơn, nhiều quyết tâm nhiệt thành hơn, nhiều ơn gọi linh mục và đời thánh hiến
hơn. Chỉ linh mục nào có kinh nghiệm mỗi ngày về ‘conversatio in coelis’ và đời sống của ngài được thúc
đẩy bằng tình bạn với Chúa Giêsu Kitô mới có thể có những tiến bộ thực sự hướng đến tái phúc âm hóa đích
thực.
3. Những thừa tác viên của ơn Hòa giải với Thiên Chúa và Hội thánh.
Trong một thế giới mà ý thức về tội bị suy giảm 1069 , điều trước tiên phải nhấn mạnh là: sự thiếu vắng
tình yêu đối với Thiên Chúa đã làm lu mờ ý thức của chúng ta về thực tại tội và sự dữ. Khởi đầu của sự hoán
cải không chỉ là hành động nội tâm mang tính nhất thời nhưng như một trạng thái vững bền, bắt đầu với
nhận thức về tình yêu thương xót của Thiên Chúa. “Những ai đã đến và nhận biết Thiên Chúa theo cách này,
họ không còn cách sống nào khác hơn là liên tục hoán cải hướng về Ngài. Như vậy họ sống trong một tình
trạng hoán cải” 1070 . Bí tích hòa giải là phần quan trọng trong di sản đời sống Hội Thánh đối với người được
rửa tội. Bởi vì, đó là dấu hiệu niềm hy vọng được tha thứ : “xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót,
nay anh em đã được xót thương” (1Pr 2, 10).
Phúc âm hóa mới cần phải nỗ lực đưa người tín hữu đến với bí tích hòa giải 1071 . Công việc mục vụ này
là một đòi buộc tuyệt đối Bí tích hòa giải “mở con đường cho mọi người, đặc biệt đối với những người gục
ngã trong tội trọng, có được kinh nghiệm cá nhân về lòng thương xót, nhận ra rằng tình yêu thì mạnh hơn tội
lỗi” 1072 . Chúng ta không được quên động viên và khuyến khích đời sống bí tích trong khi cố gắng về mặt tri
thức để làm mới và tiếp sức sống những truyền thống Kitô giáo lâu đời. Như bước đầu tiên, với sự trợ giúp
của Thánh Thần, việc này dẫn đưa tín hữu đến sự sám hối, từ đó dẫn đến việc nhận biết chân thành và hối
hận về những thiếu sót luân lý trong đời sống hằng ngày. Cần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xưng
tội cá nhân và thường xuyên, đến mức độ có thể là có linh hướng thực sự cho cá nhân.
Không lầm lẫn thời điểm bí tích với việc linh hướng, các linh mục phải biết nhận ra những cơ hội để
bắt đầu đối thoại thiêng liêng bên ngoài việc cử hành bí tích. “Tái khám phá là một đẩy mạnh việc thực hành
này, kể cả trong những thời điểm khác, ngoài việc cử hành bí tích hòa giải, là lợi ích lớn cho Hội Thánh hôm
nay” 1073 . Như thế sẽ dẫn tới việc khơi dậy ý thức và hiệu quả bí tích và tạo nên những điều kiện cần thiết để
vượt qua sự khủng hoảng hiện nay. Việc linh hướng cá nhân là một hình thức tông đồ đích thực, có thể khơi
dậy công cuộc Phúc âm hóa mới trong xã hội. Bởi vì ngày càng có nhiều người xa rời Hội Thánh nên để
việc tái Phúc âm hóa có kết quả, đòi hỏi một sự huấn luyện vững chắc đối với những người vẫn còn gắn bó
với Hội Thánh.
Phúc âm hóa mới tùy thuộc vào số lượng tương ứng của các linh mục; kinh nghiệm dạy rằng nhiều
người đáp trả cách tích cực đối với ơn gọi là nhờ sự linh hướng và chứng tá của các linh mục sống trung tín
bên trong cũng như bên ngoài của căn tính linh mục. “Trong công việc mục vụ của mình, mỗi linh mục sẽ
quan tâm cách riêng đến mục vụ ơn gọi, khuyến khích cầu nguyện cho ơn gọi, làm tốt nhất có thể trong việc
dạy giáo lý và chăm lo việc đào tạo các thừa tác viên. Ngài sẽ đưa ra những sáng kiến thích hợp qua tương
quan cá nhân với những người Ngài chăm sóc, giúp họ khám phá tài năng của mình, nhận ra Thánh Ý Chúa
dành cho họ, nhờ đó can đảm chọn lựa bước theo Chúa Kitô. .. Ước mong là mọi linh mục quan tâm đến việc
gợi hứng ít nhất là một ơn gọi linh mục, để có thể tiếp nối sứ vụ của mình” 1074 .
Tạo điều kiện cho hối nhân đến với tòa giải tội mặc định rằng chúng ta phải hy sinh nhiều thời gian 1075 .
Rất nên khuyến khích việc ấn định thời gian và linh mục sẵn sàng ngồi tòa giải tội. Giáo dân được thông báo
và linh mục sẵn sàng phục vụ chứ không chỉ trên lý thuyết. Đôi khi, chỉ nguyên việc đi tìm kiếm cha giải tội
cũng đủ để cho họ trì hoãn và ngăn trở đến với toà giải tội. Một đàng khác, người tín hữu có ý định đến với bí
tích ở những nơi mà họ biết rõ cha giải tội đang sẵn sàng 1076 . Các nhà thờ và những nơi cử hành việc thờ
phượng chung nên có nhà nguyện cáo giải thích hợp, để thuận tiện cho việc xưng tội, các linh mục nên cung
cấp và thực hiện một thời khóa biểu ngồi tòa được sắp xếp thường xuyên. Để thuận tiện cho giáo dân khao
khát đến lãnh nhận bí tích, toà giải tội phải được thường xuyên quét dọn sạch sẽ, chắc chắn người ta sẽ dễ dàng
nhận ra và dùng màn che đối với những ai muốn được giữ bí mật.
Để duy trì những thực hành mục vụ này không luôn luôn dễ dàng, nhưng điều đó không cho phép chúng
ta lơ là việc quan tâm đến hiệu quả của mục vụ này đối với hối nhân hoặc không củng cố lại điều đã bị lơ
đãng. Khuyến khích sự cộng tác giữa các linh mục triều và dòng để bảo đảm cho sự ưu tiên mục vụ này. Về
khía cạnh trên, trao việc ngồi toà cáo giải hằng ngày cho các linh mục lớn tuổi là điều cần thiết, vì các Ngài là
những bậc thầy thực sự trong đời sống thiêng liêng trong nhiều cộng đoàn Kitô hữu khác nhau 1077 .
Dĩ nhiên, công việc phục vụ Hội Thánh này sẽ được chu toàn cách dễ dàng hơn khi chính linh mục là
người đầu tiên đến bí tích hòa giải thường xuyên 1078 . Chính linh mục như một hối nhân cậy dựa vào bí tích hòa
giải, là điều kiện cần thiết cho thừa tác vụ phong phú của bí tích hòa giải.
“Đời sống linh mục có thể bị suy thoái nếu như chính họ thờ ơ hoặc vì lý do nào khác, không đến với bí
tích giải tội một cách đều đặn với một đức tin và một lòng sốt sắng đích thực. Nếu một linh mục không còn đi
xưng tội nữa hoặc xưng tội không nên thì sứ vụ linh mục của Ngài sẽ sớm bị ảnh hưởng, và chính cộng đoàn
mà linh mục dẫn dắt sẽ nhận ra điều đó” 1079 .
“Thừa tác vụ linh mục trước hết là sự hiệp thông, sự hợp tác thiết yếu và có trách nhiệm vào thừa tác vụ
của giám mục, trong việc chăm lo cho Giáo Hội hoàn vũ và cho Giáo hội đặc thù và, cũng với Giám mục làm
thành linh mục đoàn duy nhất trong khi phục vụ Giáo Hội ấy” 1080 . Tình huynh đệ trong linh mục đoàn luôn là
đối tượng đặc biệt của đức ái mục tử nơi linh mục, qua việc giúp nhau về vật chất cũng như tinh thần, bằng
việc giúp nhau có cơ hội để xưng tội và hướng dẫn thiêng liêng, bằng việc động viên công việc của nhau, giúp
nhau khi cần thiết, giúp nhau khi gặp khó khăn, già yếu, tật nguyền. Điều này thực sự là lãnh vực để sử dụng
đặc ân linh mục.
Sự khôn ngoan mục vụ là đức tính căn bản cho việc thực thi cách hiệu quả sứ vụ bí tích hòa giải. Như
vậy khi thừa tác viên công bố lời tha tội, ngài góp phần như một dụng cụ hiệu quả trong hành vi bí tích. Công
việc của ngài trong nghi thức hòa giải là đặt hối nhân trước Chúa Giêsu, bằng cách ấy hối nhân có thể đón
nhận lòng thương xót của Thiên Chúa với sự tự do cao nhất. Nên tránh những tranh luận về những bất đồng
mà không lưu tâm đến thực tại của tội. Do vậy cha giải tội phải có sự hiểu biết thích hợp 1081 . Tuy nhiên, sự đối
thoại với hối nhân phải luôn thấm nhuần sự hiểu biết để dần dần dẫn đến sự hoán cải. Tuy nhiên, không nên
rơi vào sự lầm lẫn về điều được gọi là “tính phân cấp của những quy tắc luân lý”.
Khi việc đi xưng tội bị giảm sút, trong một số trường hợp dẫn tới sự tổn hại về đời sống luân lý và lương
tâm của người tín hữu, đôi khi mối nguy hiểm phát xuất từ chỗ suy thoái trong phẩm chất thần học và mục vụ
của việc ứng dụng sứ vụ hòa giải. Các cha giải tội phải thường xuyên cầu xin Đấng Bầu Chữa ban cho khả
năng lấp đầy thời điểm cứu độ này 1082 bằng ý nghĩa siêu nhiên, và biến đổi thời điểm đó thành cuộc gặp gỡ
đích thực giữa hối nhân và Chúa Giêsu, Đấng thương xót và tha thứ. Đồng thời ngài phải lợi dụng cơ hội để
huấn luyện cách đúng đắn lương tâm của hối nhân – nhiệm vụ cực kỳ quan trọng – bằng cách khéo léo đặt ra
những câu hỏi cần thiết để bảo vệ tính toàn vẹn và thành sự của bí tích. Ngài cũng giúp hối nhân tạ ơn Thiên
Chúa về lòng thương xót và xin Thiên Chúa trợ giúp để sửa đổi lại đời sống luân lý. Cha giải tội cũng không
quên động viên hối nhân cách xứng hợp, nâng đỡ và khuyến khích hối nhân làm việc đền tội, vừa đền bù các
tội đã phạm, vừa giúp hối nhân lớn lên trên đường nhân đức.
CÂU HỎI CHO CHƯƠNG BA
15. Bản chất và ý nghĩa cứu độ của các bí tích không thay đổi. Khởi đi từ xác tín mạnh mẽ vào lập
trường này, làm thế nào để việc chăm sóc mục vụ bí tích được canh tân và làm thế nào để công việc này
phục vụ cho công cuộc Phúc âm hóa mới ?
16. Cộng đoàn riêng của chúng ta có là “một Hội Thánh của Thánh Thể và Sám Hối” ? Lòng tôn sùng
Thánh Thể trong mọi hình thức có được nuôi dưỡng và khích lệ ? Việc xưng tội cá nhân có được giúp đỡ và
khuyến khích không ?
17. Có được nhắc nhở thường xuyên về sự hiện diện thực sự của Chúa trong nhà tạm, chẳng hạn, thực
hành việc viếng Thánh Thể có được khuyến khích ? Có những cử hành tôn thờ Thánh Thể không ? Trong
các nhà thờ của chúng ta, có được bầu khí thúc đẩy việc cầu nguyện trước Thánh Thể không ?
18. Trong tinh thần mục vụ đích thực, có dành sự chăm sóc đặc biệt cho việc tu bổ nhà thờ không ?
Các linh mục có tôn trọng giáo luật ? (x. khoản luật 284, 669); bản chỉ nam về sứ vụ và đời sống linh mục)
và những quy định phụng vụ về lễ phục thích hợp và tôn kính khi cử hành việc thờ phượng, và có mặc đầy
đủ như đã quy định ? (x. khoản luật 929).
19. Các linh mục có thường xuyên đến với Bí Tích hòa giải và chính họ sẵn sàng cho sứ vụ quan trọng
này ?
20. Trong việc thi hành sứ mạng mục vụ của linh mục, những nỗ lực mục vụ nào được thực hiện trong
lãnh vực sám hối và giao hòa ? Các họ đạo và những nơi tôn nghiêm có một thời gian ấn định cho việc
xưng tội ? Thời biểu đó có được tôn trọng và tuân theo ?
21. Đã có những sáng kiến nào cho việc thường huấn nhằm hoàn thiện và trợ giúp các linh mục trong
tác vụ làm cha giải tội ? Các linh mục có được khuyến khích cập nhật cho phù hợp với sứ vụ cần thiết này
không ?
22. Các linh mục giải tội có được nhắc nhớ về những nguyên tắc gắn liền với sự thận trọng trong tòa
giải tội, và sự cần thiết phải dè dặt khi trao đổi với mọi hối nhân ? Về phương diện này, trong số những điều
khác, kỷ luật truyền thống của tòa giải tội có được áp dụng ?
23. Như đã thấy : trong công cuộc Phúc âm hóa mới, sự canh tân việc xưng tội cá nhân có tầm quan
trọng đặc biệt, vậy những qui tắc giáo luật về việc xá tội chung có được tuân giữ không ? Trong nhiều nhà
thờ và nhà nguyện, nghi thức sám hối có được chuẩn bị cách cẩn trọng và với đức ái mục tử không ? Ý thức
sự khác biệt về tuổi tác và tình trạng đời sống, đã làm gì để giúp họ xét mình cho thích hợp ?
24. Đã có những sáng kiến cụ thể nào để động viên tín hữu tham dự thánh lễ Chúa nhật và các ngày lễ
buộc ?
CHƯƠNG IV
NHỮNG MỤC TỬ GIÀU TÌNH THƯƠNG
CỦA ĐOÀN CHIÊN.
‘Mục tử nhân lành hiến mạng sống cho đoàn chiên’
(Ga 10,11).
1. Cùng với Chúa Kitô, nhập thể và trải rộng lòng thương xót của Chúa Cha.
‘Hội thánh sống đời sống đích thực khi Hội thánh tuyên xưng và công bố lòng thương xót – thuộc tíng
kỳ diệu nhất của Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu độ – và khi Hội thánh mang con người đến gần suối nguồn
thương xót của Đấng Cứu độ’ 1083 . Thực tại này phân biệt Hội thánh cách thiết yếu với những tổ chức nhân
loại khác nhằm mục đích thăng tiến tình liên đới và lòng nhân ái. Ngay cả khi mang tinh thần tôn giáo, ở tự
nó, những tổ chức đó không thể phân phối cách hiệu quả lòng thương xót của Thiên Chúa. Tương phản với
những ý niệm thế tục về lòng thương xót vốn thất bại trong việc biến đổi con người từ phía bên trong, lòng
thương xót của Thiên Chúa như được Hội Thánh hiến tặng trước hết là ơn tha thứ và cứu độ. Hiệu quả của
lòng thương xót đó trên con người đòi hỏi họ chấp nhận toàn bộ chân lý liên quan đến hiện hữu, hành động
và tội lỗi của mình. Từ đó xuất phát nhu cầu phải biết hối hận và nối kết lời công bố lòng thương xót với
tính toàn diện của chân lý. Những xác quyết này có tầm quan trọng sinh tử đối với các linh mục. Là những
người được kêu gọi sống ơn gọi đặc biệt, qua Hội thánh và trong Hội thánh, để mặc khải và thực thi mầu
nhiệm tình yêu của Chúa Cha trong sứ vụ của mình, các ngài (phải) sống trong đức ái phù hợp với Chân Lý
(Eph. 4,15), và trong sự dễ dạy đối với sự thúc đẩy của Thánh Thần.
Lòng thương xót của Thiên Chúa, biểu lộ qua tình thương của Người, được tìm thấy nơi Chúa Kitô.
Chúa Kitô mặc khải vai trò cứu thế (mêsia) của Ngài (x. Lc 4,18) như là lòng Thiên Chúa thương xót dành
cho tất cả những ai cần đến, đặc biệt là các tội nhân đang cần đến ơn tha thứ và bình an nội tâm. ‘Đặc biệt
cho những người tội lỗi này mà Đấng Mêsia trở nên dấu chỉ rõ ràng về Thiên Chúa – Đấng vốn là tình yêu –
dấu chỉ của Chúa Cha. Nơi dấu chỉ hữu hình này, con người thời đại chúng ta cũng như ngày xưa thấy được
Chúa Cha’ 1084 . Thiên Chúa ‘Đấng là tình yêu’ (1Ga 4,16) chỉ có thể mặc khải mình như là lòng thương xót
1085 . Qua hiến tế của Người Con, Chúa Cha – với tình yêu của Ngài- dấn mình vào thảm kịch cứu độ con
người.
Trong khi qua lời rao giảng của Chúa Kitô, lòng thương xót mang những đặc tính lạ thường vượt quá
hiểu biết của con người- như xuất hiện trong dụ ngôn ‘Người con phung phá’ (x.Lc 15,11-32) – thì chính
trong hiến tế trên thập giá, ý nghĩa đó được mặc khải cách đặc biệt nhất. Chúa Kitô chịu đóng đinh là sự
biểu lộ triệt để của lòng Thiên Chúa thương xót, của ‘tình yêu chống lại chính cội nguồn sự ác trong lịch sử
nhân loại, tức là tội lỗi và sự chết” 1086 . Truyền thống linh đạo Kitô giáo nhìn Thánh Tâm Chúa Giêsu –
Thánh tâm lôi kéo trái tim các linh mục đến với mình – như tổng hợp sâu xa và huyền nhiệm của tình
thương vô biên nơi Thiên Chúa.
Chiều kích cứu độ của toàn bộ công việc mục vụ (munus pastorale) của linh mục được tập trung vào
Hiến tế Thánh Thể tưởng niệm sự hiến dâng mạng sống của Chúa Giêsu. ‘Thực sự là ở đó có mối tương
quan mật thiết giữa tính trung tâm của Thánh Thể, đức ái mục tử và tính thống nhất đời sống của linh mục.
Linh mục gặp được trong mối tương quan này những chỉ dẫn mang tính quyết định cho lối sống thánh thiện
mà ngài được mời gọi tới cách đặc biệt…. Nếu linh mục cho Chúa Kitô – Thượng tế vĩnh cửu tối cao –
mượn trí năng của mình, ý chí, tiếng nói và bàn tay của mình, để qua thừa tác vụ của mình, Chúa Kitô hiến
dâng lễ tế cứu độ lên Chúa Cha, thì linh mục phải lấy tâm tư của Thầy làm của mình, và như Ngài, linh mục
phải sống những ơn ban này vì anh em trong đức tin. Vì thế linh mục phải học hiệp nhất chính mình với của
lễ, đặt toàn bộ đời sống mình trên bàn thờ tế lễ như dấu chỉ mặc khải tình yêu nhưng không và tiền dự (dự
phần trước) của Thiên Chúa” 1087 . Trong ân huệ thường xuyên của Hiến tế Thánh Thể vốn là tưởng niệm sự
chết và sống lại của Chúa Giêsu, các linh mục đã đón nhận các bí tích khả năng duy nhất và đặc biệt trong
tác vụ của mình, đó là làm chứng cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho con người, tình yêu mà
trong lịch sử cứu độ, sẽ được xác nhận là mạnh hơn sự chết. Chúa Kitô trong mầu nhiệm Vượt qua là sự
nhập thể quyết định và dấu chỉ sống động của lòng thương xót, cả trong lịch sử cứu độ cũng như về mặt
cách chung 1088 . Theo cha sở họ Ars, chức linh mục là “trái tim của tình yêu Giêsu” 1089 . Cùng với Ngài, nhờ
sự thánh hiến và thừa tác vụ, linh mục cũng là dấu chỉ sống động và hiệu nghiệm của tình yêu vĩ đại mà
thánh Augustinô mô tả là “amoris officium” 1090 .
2. Sacerdos et Hostia.
Lòng thương xót đích thực mang bản chất thiết yếu là một Ơn Ban. Ta đón nhận lòng thương xót như
một ân huệ không do công lao của mình nhưng hoàn toàn được ban cách tự do và nhưng không. Tính tự do
đó nằm trong chương trình cứu độ của Chúa Cha. “tình yêu hệ tại ở điều này: không phải chúng ta yêu mến
Thiên Chúa, nhưng chính Ngài yêu thương chúng ta và sai Con của Ngài đến làm lễ tế hy sinh đền thay tội
lỗi cho ta” (1Ga 4,10). Chính trong bối cảnh đó, thừa tác viên có chức thánh tìm được lý do hiện hữu
(raison d’être) của mình. Không ai có thể tự ban ơn huệ cho mình. An huệ luôn luôn là được ban và được
đón nhận. Điều này giả thiết là có những thừa tác viên của ân sủng, được Chúa Kitô ban quyền bính và năng
lực. Trong truyền thống của Hội thánh, thừa tác vụ có chức thánh được gọi là “bí tích”, bởi vì qua thừa tác
vụ, những người được Chúa Kitô sai đi, nhờ hồng ân Thiên Chúa, thực hiện và ban tặng điều mà tự họ
không thể thực hiện hay ban tặng 1091 .
Vì thế các linh mục phải coi mình như những dấu chỉ sống động và mang lòng thương xót mà họ tặng
ban, không phải như của chính mình nhưng như ân huệ tự do của Thiên Chúa. Do đó họ là tôi tớ của lòng
Thiên Chúa thương xót. Ước muốn phục vụ là yếu tố thiết yếu trong thừa tác vụ linh mục, và đòi hỏi phải có
những thái độ tinh thần xứng hợp. Chúa Giêsu là vị Mục tử đến không phải để được phục vụ nhưng để phục
vụ (Mt 20, 28), và linh mục làm cho Ngài hiện diện với con người. Linh mục trước hết là phục vụ Chúa
Kitô, nhưng phục vụ đó nhất thiết phải qua Hội thánh và sứ vụ của Hội thánh.
“Ngài yêu thương chúng ta và đổ máu tẩy sạch tội lỗi chúng ta : Pontifex qui dilexisti nos et lavasti a
peccatis in sanguine tuo. Ngài hiến mình cho chúng ta : tradidisti temetipsum Deo oblationem et hostiam.
Chúa Kitô đưa hiến tế bản thân Ngài, giá chuộc cho ơn cứu độ chúng ta, vào trong Đền thánh vĩnh cửu. Lễ
dâng, tức là tế vật hy sinh, không thể tách ra khỏi (con người) linh mục” 1092 . Trong khi chỉ một mình Chúa
Kitô vừa là Sacerdos vừa là Hostia, thì thừa tác viên của Ngài, vốn được tham dự vào sứ vụ của Hội thánh,
cũng là tư tế cách bí tích và không ngừng được kêu gọi trở thành Hostia (của lễ), do đó mang lấy “những
tâm tư như đã có trong Chúa Giêsu” (Phil 2, 5). Hiệu quả mọi hoạt động Phúc âm hóa tùy thuộc vào tính
thống nhất không thể bẻ gãy của linh mục và tế vật hy sinh 1093 , hay là chức linh mục và Thánh Thể. Ngày
nay, công trình của lòng Thiên Chúa thương xót, được chứa đựng trong Lời Chúa và các bí tích, tùy thuộc
vào sự thống nhất – trong Thánh Thần – của Chúa Kitô và thừa tác viên. Thừa tác viên không thay thế Ngài
nhưng cậy dựa vào Ngài để cho Ngài hành động trong và qua bản thân mình. Nội dung của Tin Mừng Gioan
có thể được áp dụng cho mối liên kết này giữa thừa tác vụ của linh mục và Chúa Giêsu : “Thầy là cây nho
… Cũng như ngành nho không thể tự nó sinh hoa trái … anh em cũng thế, nếu anh em không ở lại trong
Thầy” (15, 14). Như Chúa Giêsu lời mời gọi thành Hostia là nền tảng cho tính vững chắc của lời cam kết
sống độc thân để thi hành tác vụ linh mục trong Hội thánh. Điều đó đòi hỏi sự nhập thân của linh mục và tế
lễ mà ở đó “Chúa Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình cho Hội thánh, để thánh hoá Hội thánh” (Eph 5,
25-26). Linh mục được mời gọi làm “hình ảnh sống động của Chúa Giêsu Kitô, Hiền thê của Hội Thánh” và
biến cả cuộc đời mình thành lễ dâng vì Hội thánh 1094 . Như vậy “Độc thân linh mục là sự hiến dâng chính
mình trong và với Chúa Kitô cho Hội thánh của Ngài, và diễn tả sự phục vụ của linh mục trong và với Chúa
Giêsu” 1095 .
3. Công việc mục vụ của linh mục : phục vụ qua việc hướng dẫn Dân Chúa trong tình yêu và sức mạnh
“Thi hành chức vụ của Chúa Kitô là Đầu và Chủ chăn theo phận vụ mình, các linh mục nhân danh
Giám mục, tụ họp gia đình Thiên Chúa như một cộng đoàn huynh đệ duy nhất, và nhờ Chúa Kitô trong
Chúa Thánh Thần, các ngài dẫn đưa họ đến cùng Chúa Cha”1096 . Không chỉ là ý niệm xã hội học hay khả
năng tổ chức, việc cần thiết thi hành công việc cai quản (munus regendi ) của linh mục phát xuất từ chức
linh mục bí tích : “Nhờ bí tích truyền chức thánh, linh mục được thánh hiến theo hình ảnh Chúa Kitô, Linh
mục thượng thẩm vĩnh viễn( Dt 5,1-10; 7,24; 9,11-28), để rao giảng Phúc âm, chăn dắt tín hữu và cử hành
việc thờ phượng Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân ước” 1097 .
Vì các linh mục dự phần vào quyền bính của Chúa Kitô nên họ khác với các tín hữu cách đáng kể.
Tuy nhiên điều này cho thấy “sự hiện diện của Chúa Kitô trong thừa tác vụ không được hiểu như là… họ
được miễn trừ khỏi mọi yếu đuối nhân loại, khỏi tính thích thống trị, sai lầm và kể cả tội lỗi” 1098 . Lời nói và
sự hướng dẫn của các thừa tác viên mang lại hiệu qủa hơn hay kém tùy thuộc vào những phẩm chất tự nhiên
hay thủ đắc của họ: trí thông minh, ý chí, tính tình, sự trưởng thành. Ý thức này cùng với nhận biết những
cội rễ bí tích của nhiệm vụ mục vụ dẫn các linh mục đến chỗ noi gương Chúa Giêsu, Mục tử nhân lành, và
lấy đức ái mục tử làm nhân đức cần thiết cho việc thi hành tác vụ cách hiệu qủa.
"Mục đích chính trong hoạt động của các ngài như là mục tử cũng như của quyền bính được trao cho
các ngài" là ” đưa cộng đoàn đã được trao cho các ngài đến chỗ phát triển trọn vẹn trong đời sống thiêng
liêng và giáo hội” 1099 . Tuy nhiên chiều kích cộng đoàn của việc chăm sóc mục vụ không thể xao nhãng việc
chăm sóc những nhu cầu của từng người tín hữu … Chính Chúa Giêsu, vị Mục tử nhân lành, đã gọi” từng
con chiên” bằng giọng nói mà chúng nhận biết ( Ga 10, 3-4 ). Bằng mẫu mực của mình, ngài đã thiết lập qui
luật đầu tiên cho việc chăm sóc cá nhân: đó là nhận biết con người và quan hệ thân thiện với họ 1100 . Trong
Hội thánh, tầm nhìn cộng đồng về thừa tác vụ mục vụ phải hài hòa với việc chăm sóc mục vụ cá nhân này.
Thực vậy, khi xây dựng Hội thánh, người mục tử luôn đi từ chiều kích cá nhân đến chiều kích cộng đoàn.
Trong mối tương quan với từng cá nhân hay với cộng đoàn, linh mục chăm sóc cho mọi người “eximia
humannitate” 1101 . Linh mục đừng bao giờ làm tôi tớ cho một ý thức hệ hay bè phái nào 1102 . Ngài bị bó buộc
phải cư xử với mọi người “không phải để làm vui lòng người ta nhưng phải theo những đòi hỏi của giáo
thuyết và đời sống Kitô giáo” 1103 .
Ngày nay hơn bao giờ hết, cung cách hoạt động mục vụ như thế cần thiết để có thể đáp trả nhu cầu
trong những cộng đoàn vốn có truyền thống Kitô giáo nhưng đã bị thế tục hóa cách rộng rãi. Trong bối cảnh
đó, việc xem xét đến công việc điều hành (munus regendi) có ý nghĩa lớn lao hơn, trong ý nghĩa thừa sai
đích thực của nó. Tuy nhiên không nên lẫn lộn munus regendi với nhiệm vụ bàn giấy hay tổ chức. Nó đòi
hỏi các linh mục phải thực thi sức mạnh bằng tình thương, và mẫu mực là hoạt động mục vụ của Chúa Giêsu
Kitô. Như các sách Tin Mừng cho thấy ro, không bao giờ Ngài từ khước đảm nhận trách nhiệm phát xuất từ
quyền bính cứu thế của Ngài, và Ngài thực thi (quyền bính) bằng tình yêu và sức mạnh. Quyền bính này
không phải là sự thống trị mang tính áp bức nhưng là tinh thần ước muốn phục vụ. Hai mặt này – quyền bính
và phục vụ – là điểm qui chiếu cho munus regendi của linh mục. Linh mục phải luôn làm nổi bật cách chặt
chẽ sự tham dự của mình vào chức năng của Chúa Kitô là Đầu và Mục tử của đoàn chiên 1104 .
Linh mục, cùng với và dưới sự hướng dẫn của Giám mục, cũng là mục tử của cộng đoàn được trao phó
cho ngài. Được đức ái mục tử thúc đẩy, ngài không nên sợ phải thi hành quyền bính riêng của mình trong
những lãnh vực bắt buộc phải thi hành, bởi lẽ linh mục được đặt lên với quyền bính là để phục vụ cho chính
mục đích này. Cần phải nhớ lại rằng khi quyền bính được thi hành cách đúng đắn là để “phục vụ chứ không
phải thống trị” (non tam praeesse quam prodesse) 1105 . Những người có quyền phải vượt qua cơn cám dỗ trốn
tránh trách nhiệm. Nếu họ không thi hành quyền bính, họ không còn phục vụ nữa. Trong mối hiệp thông
chặt chẽ với Giám mục và với tín hữu của mình, linh mục nên tránh đưa vào thừa tác vụ mục vụ của mình
mọi hình thức độc đoán cũng như những hình thức quản trị dân chủ xa lạ với thực tại sâu xa của tác vụ, bởi
vì những điều đó dẫn đến tình trạng thế tục hóa linh mục và giáo sĩ hóa hàng ngũ giáo dân 1106 . Đằng sau
những lối tiếp cận đo, hàm ẩn nỗi sợ hãi ẩn dấu không dám đảm nhận trách nhiệm hoặc sợ phạm lầm lỗi, sợ
người ta ghét, sợ dân chúng không ưa hoặc là sợ đón nhận thánh giá. Như thế, cuối cùng làm mờ tối cội rễ
đích thực của căn tính linh mục : tức là nên giống Chúa Kitô là Đầu và Mục tử của đoàn chiên.
Công cuộc tân Phúc âm hoá đòi hỏi linh mục phải cho thấy sự hiện diện đúng nghĩa của mình trong
cộng đoàn. Các ngài nên nhận biết rằng các thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô, phải có mặt và sẵn sàng
phục vụ mọi người 1107 . Vì thế, sự hội nhập thân tình và huynh đệ của linh mục trong cộng đoàn luôn luôn
quan trọng. Trong bối cảnh đó, ta dễ hiểu được ý nghĩa và vai trò mục vụ của kỷ luật liên quan đến phẩm
phục giáo sĩ mà linh mục nên mặc thường xuyên, bởi vì đó là sự loan báo công khai, nói lên sự tận hiến vô
hạn của mình cho anh chị em tín hữu trong sự phục vụ Chúa Kitô. Xã hội càng bị ghi dấu ấn thế tục, lại càng
cần những dấu chỉ.
Linh mục nên tránh rơi vào tình trạng mâu thuẫn : thoái thác thi hành quyền bính riêng của mình để
dấn mình vào những vấn đề trần thế, xã hội và cả chính trị 1108 , là những vấn đề Chúa đã để cho người đời lo
liệu.
Linh mục có được uy thế nào đó đối với giáo dân, và trong một vài nơi, với cả quyền bính dân sự. Tuy
nhiên các ngài nên biết rằng uy thế đó phải được sống trong khiêm tốn, và được sử dụng cách đúng đắn
nhằm phần rỗi các linh hồn (salus animarum), nhớ rằng Chúa Kitô mới thực sự là Đầu của Dân Chúa. Người
tín hữu phải quy hướng về Chúa Kitô chứ không phải là gắn bó với một cá nhân linh mục nào. Tín hữu
thuộc về một mình Chúa Kitô mà thôi, bởi vì chỉ một mình Ngài đã cứu chuộc họ bằng máu qúi giá của Ngài
để tôn vinh Thiên Chúa Cha. Vì thế Ngài là Chúa của mọi thiện hảo siêu nhiên và là Thầy giảng dạy với
quyền bính của Ngài. Trong Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần, linh mục chỉ là những người quản lý những
hồng ân đã được Hội thánh trao cho. Linh mục không có quyền bỏ rơi giáo dân, hoặc dẫn người ta đi lệch
hướng hoặc uốn nắn người ta theo sở thích mình 1109 . Ví dụ như linh mục đã không nhận được quyền bính để
chỉ giảng dạy cho tín hữu một số chân lý đức tin Kitô giáo, mà bỏ quên những chân lý khác chỉ vì khó được
chấp nhận hoặc vì “ít mang tính thời sự” 1110 .
Liên quan đến công cuộc tân Phúc âm hoá và việc điều hành mục vụ của các linh mục, cần phải giúp
các linh mục có được sự biện phân chân thành và kỹ lưỡng. Chẳng hạn như đằng sau thái độ “không muốn
áp đặt”, có thể che dấu khéo léo một quan niệm sai lầm về chính bản chất thần học của thừa tác vụ mục vụ
hoặc là thiếu cá tính, nên tìm cách trốn tránh trách nhiệm. Trong việc biện phân này, cũng không nên coi
thường sự gắn bó không đúng đắn với những con người hay những vị trí công việc (địa vị), những ước muốn
sai lệch mong được nổi tiếng hoặc là thiếu ý hướng ngay lành. Đức ái mục tử mà thiếu khiêm tốn, kể như
trống rỗng. Đôi khi, đằng sau sự nổi loạn có vẻ như chính đáng, đằng sau vẻ thụ động đối với sự thay đổi
hoạt động mục vụ được Giám mục đề nghị, hoặc đằng sau vẻ phô trương khi giảng dạy, khi cử hành phụng
vụ, không chịu mang lễ phục hoặc thay đổi lễ phục theo sở thích của mình… (đằng sau tất cả chuyện đó) có
thể che dấu tính tự ái hoặc là muốn được người chú ý, có khi một cách vô thức.
Công cuộc tân Phúc âm hoá đòi hỏi sự đổi mới tính dấn thân cho thừa tác vụ mục vụ, nhất là về phiá
các linh mục. Như Công đồng đã cho thấy “ân huệ thiêng liêng mà linh mục đã đón nhận khi được phong
chức không chỉ chuẩn bị cho họ một sứ vụ giới hạn và hạn hẹp, nhưng cho sứ vụ phong phú nhất, cụ thể là
sứ vụ phổ quát của ơn cứu độ cho đến tận cùng thế giới. Lý do là tất cả thừa tác vụ linh mục đều chia sẻ sự
phong phú của sứ vụ mà Chúa Kitô đã ủy thác cho các Tông đồ” 1111 .
Tình trạng thiếu linh mục như đã kinh nghiệm tại một vài quốc gia, cộng với tính năng động của thế
giới đương đại khiến cho ta cần phải kêu gọi các linh mục sẵn lòng thay đổi không những công việc mục vụ
của mình, mà còn thay đổi cả thành phố, miền đất xứ sở để đáp ứng nhu cầu và đảm nhận bất cứ sứ vụ nào
cần thiết, chấp nhận khước từ những kế hoạch và ước muốn riêng của mình chỉ vì tình yêu Thiên Chúa. “Tự
chính bản chất của thừa tác vụ, các linh mục phải được thấm nhuần và linh hoạt hóa bởi tinh thần thừa sai
sâu xa, và với tinh thần công giáo thực sự, tầm nhìn của linh mục phải vượt qua ranh giới của giáo phận, xứ
sở hay nghi lễ, để nhận ra những yêu cầu của toàn thể Hội thánh, được chuẩn bị trong tinh thần (ra đi) rao
giảng khắp nơi” 1112 . Cách riêng trong việc thường huấn, cảm thức về Giáo hội địa phương không bao giờ
nên làm lu mờ cảm thức về Giáo hội phổ quát, đúng hơn phải thường xuyên hài hoà với nhau.
CÂU HỎI CHƯƠNG BỐN
25. Làm thế nào để lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những người thiếu thốn được biểu lộ rõ
ràng hơn qua các cộng đoàn của chúng ta, cách riêng là qua các linh mục ? đã nhấn mạnh đủ đến việc thực
hành những công việc của lòng thương xót – về tinh thần cũng như vật chất – như phương thế để đạt đến sự
trưởng thành Kitô giáo, cũng như phương thế Phúc âm hóa chưa ?
26. Đức ái mục tử trong mọi chiều kích của nó có thực sự là “linh hồn và năng động tính của việc
thường huấn linh mục” không ?
27. Các linh mục có được khuyến khích chăm sóc cho những anh em linh mục của mình với tinh thần
huynh đệ chân thành, nhất là đối với những anh em đau yếu, già cả hoặc những anh em đang gặp khó khăn ?
Có những hình thức đời sống chung nào thuận lợi ?
28. Các linh mục có hiểu biết và thi hành cách đúng đắn nhiệm vụ những nhà lãnh đạo tinh thần của
cộng đoàn được giao phó cho các ngài không ?
29. Như đã biết về tình trạng khẩn thiết của sứ vụ tông đồ ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba, khi mà
mọi tín hữu, được mời gọi phải có can đảm tỏ ra mình là tín hữu là người bước theo Chúa Kitô; vậy làm
cách nào để nhấn mạnh đến việc các linh mục phải cho người ta thấy – cả về mặt bề ngoài – sự hiện diện đặc
biệt của các ngài giữa mọi người?
30. Đã nhấn mạnh đủ đến chiều kích truyền giáo của thừa tác vụ thánh chưa ? Cũng như đã nhấn mạnh
đủ đến chiều kích phổ quát của Hội thánh trong việc huấn luyện thiêng liêng cho các linh mục chưa ?
31. Trong thực tế, chúng ta có bỏ sót việc rao giảng một vài chân lý đức tin hoặc một vài nguyên tắc
luân lý, đơn giản chỉ vì người ta khó chấp nhận không ?
32. Tất cả các linh mục có được khuyến khích giảng dạy luân lý Kitô giáo trong tính toàn diện của nó
không ?
33. Một trong những đòi hỏi của thừa tác vụ mục vụ là phối hợp những sáng kiến nhằm thúc đẩy sứ vụ
truyền giáo. Vậy những ơn gọi đang có trong Hội thánh có được khuyến khích không ? có tôn trọng những
đặc sủng chuyên biệt của họ không ?
Dịch theo bản tiếng Anh.
Osservatoire Romano, 21 July 1999.
KẾT LUẬN
“Công cuộc Phúc âm hoá mới cần có những nhà rao giảng mới, những Linh Mục dấn thân sống chức
Linh Mục như một con đường nên thánh” 1113 . Muốn đạt tới điều đó, quan trọng cơ bản là mỗi Linh mục
khám phá việc nên thánh là một nhu cầu tuyệt đối. “Trước khi thanh luyện kẻ khác, các Linh mục phải thanh
luyện lấy mình, muốn dạy dỗ kẻ khác, các ngài phải được dạy dỗ; các ngài phải trở nên ánh sáng để soi
sáng, và trở nên gần gũi với Chúa để mang kẻ khác tới gần Chúa ; các ngài phải được thánh hoá để thánh
hoá kẻ khác” 1114 . Cam kết này được cụ thể hoá nhờ sự thống nhất đời sống cách sâu xa dẫn dắt Linh mục trở
thành và sống như một Kitô khác trong mọi hoàn cảnh đời sống.
Người tín hữu và những người cộng tác trong các sinh hoạt mục vụ khác nhau trong giáo xứ nhìn thấy,
quan sát, cảm nhận, và lắng nghe không những chỉ khi Lời Chúa được rao giảng nhưng cả khi cử hành
phụng vụ nhất là Thánh Lễ. Người tín hữu cũng nhận ra con người Linh mục khi họ được đón tiếp tại văn
phòng giáo xứ (việc tiếp đón cần phải thoải mái vui vẻ) 1115 ; khi họ được thấy mẫu gương điều độ và chừng
mực qua cách Linh mục dùng bữa và nghỉ ngơi; khi họ viếng thăm và họ vui mừng vì sự đơn sơ và khó
nghèo của Linh mục 1116 ; và khi họ nói chuyện cũng như bàn hỏi những quyền lợi chung, họ được an ủi do
cái nhìn tinh thần, sự lịch thiệp và cách cư xử đối đãi với dân chúng với vẻ cao thượng của Linh Mục, “Ân
sủng và đức ái Bàn Thờ được phổ biến qua toà giảng, trong toà giải tội, tại văn khố của giáo xứ, trong các
trường học và nhà nguyện, tại nhà tín hữu, trên đường đi và trong bệnh viện, trên các phương tiện chuyên
chở công cộng và qua những phương tiện truyền thông. Linh mục có cơ hội làm tròn phận sự mục tử ở khắp
nơi. Người ta phổ biến thánh lễ của linh mục trong mọi hoàn cảnh. Sự liên kết thiêng liêng của linh mục với
Đức Kitô, Linh Mục và chủ nhân, làm cho họ trở thành hạt lúa của Thiên Chúa để trở thành bánh đích thực
của Đức Kitô vì lợi ích các anh em – như thánh Inhaxiô thành Antiokia nói (Epist. Ad Romanos IV, 1)” 1117 .
Như vậy, Linh mục của Ngàn năm thứ ba sẽ có thể lặp lại phản ứng của các môn đệ đi thành Emmaus,
sau khi họ nghe Đức Giêsu, Vị Thầy Thần Linh, giải thích Kinh Thánh thì bảo nhau : “dọc đường, khi
Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc
24,32). Chúng ta, những mục tử hãy phó thác mình cho Đức Maria, Nữ Vương và là Mẹ Giáo Hội, để qua sự
kết hợp với Đấng đại diện Đức Kitô, chúng ta có thể khám phá ra những phương cách mới chứng tỏ một ý
muốn chân thành đổi mới nơi các Linh mục của Giáo Hội trong nhiệm vụ Thầy dạy Lời Chúa, thừa tác viên
các bí tích và lãnh đạo cộng đoàn. Chúng ta hãy cầu xin Nữ Vương của công cuộc Truyền giáo cho Giáo
Hội được tái khám phá ra con đường mới mà lòng thương xót của Thiên Chúa, trong Chúa Kitô và qua Chúa
Thánh Thần, đã sắm sẵn từ đời đời để lôi kéo mọi người kể cả thế hệ chúng ta vào trong sự hiệp thông với
Người.
Roma, từ Điện Các Thánh Bộ, ngày 19 tháng 3 năm 1999, Lễ Trọng Kính Thánh Giuse, Quan Thầy
Giáo Hội Toàn Cầu
Hồng y Dario Castrillón Hoyos
Chủ tịch
+ Csaba Ternyák,
Tổng Giám Mục Hiệu Toà Eminentiana, Bí thư
HUẤN THỊ LIÊN BỘ
15 – 08 – 1997
ECCLESIAE DE MYSTERIO
Về một số vấn đề liên quan
đến sự hợp tác của người giáo dân
với thừa tác vụ của các linh mục
HUẤN THỊ VỀ SỰ HỢP TÁC CỦA GIÁO DÂN
VỚI THỪA TÁC VỤ LINH MỤC
Giới thiệu của Zenit.org
VATICAN, Thứ Ba, ngày 20 tháng 3 năm 2001.
– Dưới đây chúng tôi phổ biến “Huấn Thị về một số vấn đề liên quan đến sự hợp tác của người giáo
dân với thừa tác vụ của các Linh Mục” (Nhà Phát Hành Vatican, Vatican 1997).
Lời tựa giải thích, “mục đích tài liệu này, là chỉ để đưa ra một câu trả lời sáng sủa và thẩm quyền, cho
những thỉnh cầu khẩn cấp và đa dạng đến với các cơ quan chúng tôi, từ các Giám Mục, các Linh Mục và
giáo dân, các vị gặp phải những hình thức mới thuộc sinh hoạt “mục vụ” về phía những giáo dân không
được phong chức, trong khung cảnh những giáo xứ và giáo phận, đã yêu cầu những chỉ dẫn sáng sủa”.
Đây là hoa quả của một sự cộng tác đặc biệt giữa 8 cơ quan Roma:
1. Bộ Giáo Sĩ,
2. Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Giáo Dân,
3. Bộ Đức Tin,
4. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích,
5. Bộ Giám Mục,
6. Bộ Truyền Giảng Phúc Âm Cho Các Dân Tộc,
7. Bộ Lo Về Đời Sống Tận Hiến và các Hiệp Hội Tông Đồ,
8. Hội Đồng Giáo Hoàng Giải Thích Văn Bản Luật Pháp.
NỘI DUNG
Phần Một : Những Nguyên Lý Thần Học
1. Chức Linh Mục cộng đồng và chức Linh Mục thừa tác.
2. Sự hợp nhất và thay đổi những nhiệm vụ thừa tác.
3. Đặc tính không thể thay thế của thừa tác vụ được
phong chức.
4. Sự hợp tác của các giáo dân không được truyền chức với thừa tác vụ mục vụ.
Phần Hai : Những Định Hướng “Thực Hành”:
1. Cần thiết có một danh từ thích hợp
2. Thừa tác vụ Lời
3. Bài giảng Phúc Âm
4. Linh Mục Quản Xứ và giáo xứ
5. Những tổ chức cộng tác trong Giáo Hội địa phương
6. Những cử hành phụng vụ
7. Những cử hành Chúa Nhật lúc vắng Linh Mục
8. Thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ
9. Việc tông đồ bên người bệnh
10. Chủ trì hôn nhân
11. Thừa tác viên Rửa Tội
12. Việc hướng dẫn cử hành nghi lễ an táng
13. Sự cần thiết tuyển chọn và đào tạo đúng mức.
Lời Tựa
Hệ quả sinh ra từ mầu nhiệm Giáo Hội là tất cả các thành phần Thân Thể Mầu Nhiệm được kêu gọi
tham gia tích cực vào sứ mệnh và việc xây dựng dân Chúa, trong một sự hiệp thông hữu cơ giữa các thừa tác
vụ và đặc sủng khác nhau. Những tài liệu Huấn Quyền, cách riêng từ Công đồng Vatican II, thường vọng lại
lời kêu gọi này 1118 . Ba kỳ họp khoáng đại bình thường mới đây của Thượng Hội Đồng Giám Mục, hơn hết,
phải củng cố lại căn tính riêng biệt của các giáo dân, của các thừa tác viên có chức thánh và của những
người thánh hiến, củng cố lại phẩm giá chung của họ trong sự khác biệt nhiệm vụ. Tất cả các tín hữu được
khuyến khích xây dựng Giáo Hội, bằng cách hợp tác chung nhau lo cho phần rỗi thế giới.
Phải lưu ý tới tình trạng khẩn cấp và quan trọng của việc làm tông đồ mà các tín hữu giáo dân phải
thực hiện cho thời hiện tại và tương lai của việc Phúc Âm hoá. Giáo Hội không thể lơ là kiểu hành động này,
bởi vì nó được viết trong bản tính Dân Chúa, và bởi vì Giáo Hội cần nó để thực hiện sứ mệnh truyền giáo
riêng mình.
Lời kêu mời tất cả người tín hữu tham gia tích cực vào sứ mệnh của Giáo Hội, không phải là không có
tiếng vang. Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1987 đã nhận xét “cách thức Thần Khí tiếp tục trẻ hoá Giáo
Hội, bằng cách tạo nên trong Giáo Hội nhiều nghị lực mới mẻ của sự thánh thiện, với sự tham gia của nhiều
người giáo dân. Chúng ta có một trong nhiều bằng chứng về điều đó, trong kiểu cách mới mẻ hợp tác giữa
các Linh Mục, tu sĩ và giáo dân; trong sự tham gia linh động vào Phụng Vụ, vào việc rao giảng Lời Chúa,
vào việc dạy giáo lý; trong nhiều việc phục vụ và nhiệm vụ giao phó cho giáo dân và do giáo dân đảm
trách; trong sự phát triển phong phú các nhóm, các Hiệp Hội và phong trào chuyên lo linh thao và kết nạp
các giáo dân; trong sự tham gia rộng rãi hơn và đặc sắc hơn của người nữ vào đời sống Giáo Hội và phát
triển xã hội”. 1119 Cũng vậy, khi chuẩn bị Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1994 về Đời Sống Thánh Hiến,
phát hiện “khắp nơi một ý muốn chân thành thiết lập những tương quan đích thực của sự hiệp thông và cộng
tác giữa các Giám Mục, các Tu Hội sống thánh hiến, hàng giáo sĩ triều và các giáo dân”. 1120 Trong Tông
Huấn Hậu Thượng Hội Đồng tiếp sau, Đức Giáo Hoàng khẳng định phần đóng góp đặc biệt của đời sống
thánh hiến cho sứ mệnh và việc xây dựng Giáo Hội. 1121
Thật vậy, tất cả giáo dân đã hợp tác trong cả hai lãnh vực thuộc sứ mệnh của Giáo Hội: trong phạm vi
thiêng liêng để mang đến cho con nguời sứ điệp của Chúa Kitô và ân sủng của Người, cũng như trong phạm
vi đời để thấm nhuần và hoàn thiện trật tự các thực tại trần gian bằng tinh thần Tin Mừng. 1122 Cách riêng
trong lãnh vực thứ nhất – việc rao giảng Tin Mừng và thánh hoá – “việc tông đồ giáo dân và thừa tác vụ mục
vụ bổ sung cho nhau” 1123 .Các giáo dân thuộc hai phái tính có ở đấy vô số cơ hội để hoạt động : nhờ chứng từ
liên kết của đời sống cá nhân, gia đình và xã hội; nhờ việc loan báo và chia sẻ Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô
trong mọi môi trường; nhờ sức cố gắng giải thích, bênh vực và áp dụng đúng các nguyên lý Kitô giáo cho
các vấn đề thời sự. 1124 Cách riêng, các vị mục tử được khích lệ “công nhận và cổ võ những thừa tác vụ,
những công việc và những nhiệm vụ của người giáo dân, những công việc và nhiệm vụ có nền tảng bí tích
trong bí tích Rửa Tội, bí tích Thêm Sức, và hơn nữa, đối với nhiều người giữa họ, trong bí tích Hôn Nhân 1125”.
Ngày nay cách riêng, nhiệm vụ ưu tiên của việc tái Phúc Âm hoá, động viên toàn thể Dân Chúa, đòi
hỏi các Linh Mục “vai trò đầu tiên riêng cho họ” ; đồng thời nó cũng đòi hỏi người ta phải ý thức đầy đủ về
đặc tính đời của sứ mệnh người giáo dân. 1126
Việc làm này mở rất rộng cho giáo dân những đường chân trời bao la, mà một số còn cần phải tìm tòi:
sự dấn thân vào giữa đời, trong thế giới văn hoá, nghệ thuật và sân khấu, nghiên cứu khoa học, lao động,
những phương tiện truyền thông, chính trị, kinh tế, vv…; người giáo dân có trách nhiệm tạo dựng cách sáng
trí những điều kiện cho phép các lãnh vực này, một cách luôn chắc chắc hơn, gặp được trong Chúa Giêsu
Kitô sự đầy đủ ý nghĩa của nó. 1127
Trong địa hạt bao la này, nơi mà công việc đặc biệt thiêng liêng hay tôn giáo, và sự thánh hiến thế giới
(consecratio mundi), đi đôi với nhau, có một lãnh vực hoạt động riêng, liên hệ với thừa tác vụ thánh của
hàng giáo sĩ, để thi hành lãnh vực hoạt động này, những người giáo dân – nam và nữ – có thể được kêu gọi
giúp đỡ, đương nhiên cũng như những thành phần không được phong chức thuộc các Tu Hội Sống Đời Sống
Thánh Hiến và những Hiệp Hội Đời Sống Tông Đồ. Công đồng Vatican II qui chiếu về địa hạt riêng biệt
này, khi dạy: “Để kết thúc, Hàng Giáo Phẩm trao phó cho giáo dân một số nhiệm vụ liên hệ chặt chẽ hơn
với bổn phận các vị mục tử, như trong việc đề xướng giáo lý Kitô giáo, trong một số hành vi phụng vụ hay là
trong việc chăm sóc các linh hồn”. 1128
Vì đây đúng là những nhiệm vụ liên hệ sâu xa hơn với những bổn phận các vị mục tử – những kẻ, muốn
thành mục tử, phải nhận lãnh bí tích Truyền Chức – nên tất cả những ai can dự vào đó bằng cách này hay
cách khác, phải có một lòng hăng say đặc biệt, ngõ hầu bảo tồn bản tính và sứ mệnh của thừa tác vụ thánh
cũng như ơn gọi và đặc tính đời của người giáo dân. Thật vậy hợp tác không có nghĩa là thay thế.
Chúng ta phải nhận xét với niềm thoả mãn nhiệt thành rằng trong nhiều Giáo Hội địa phương, sự hợp
tác của các giáo dân không được truyền chức với thừa tác vụ mục vụ của hàng giáo sĩ, được thực hiện một
cách rất tích cực: có nhiều hoa quả, trong sự tôn trọng những giới hạn ấn định do bản tính các bí tích và do
sự khác biệt các đặc sủng và những nhiệm vụ Giáo Hội; để đối phó với những hoàn cảnh vắng hay thiếu các
thừa tác viên thánh, người ta thi hành những giải pháp quảng đại và thông minh. 1129 Nhờ vậy, người ta biểu
thị phương diện hiệp thông mà qua đó một số phần tử Giáo Hội ân cần tự nguyện cứu vãn – trong mức độ có
thể làm vậy, vì không có đặc tính bí tích Truyền Chức – những hoàn cảnh khẩn cấp và những nhu cầu dai
dẳng, trong một số cộng đồng. 1130 Những giáo dân này được kêu gọi và uỷ nhiệm gánh vác những trọng trách
rõ rệt, quan trọng cũng như tế nhị, họ đuợc ân sủng Chúa nâng đỡ, được các thừa tác viên thánh chỉ dẫn và
được tiếp rước tử tế bởi những cộng đồng họ sẵn sàng phục vụ. Các vị mục tử thánh biết ơn sâu xa lòng
quảng đại nhiều người thánh hiến và giáo dân đã cống hiến cho việc phục vụ riêng biệt này, việc phục vụ
hoàn thành với một ý thức (sensus) trung thực về Giáo Hội và một sự tận tụy gương mẫu. Lòng biết ơn và sự
khuyến khích nhằm đặc biệt những người hoàn thành những nhiệm vụ này trong những hoàn cảnh bắt bớ
cộng đồng Kitô giáo, trong những bối cảnh truyền giáo, lãnh thổ hay văn hoá, nơi mà Giáo Hội chưa được
vững mạnh và nơi mà sự hiện diện Linh Mục chỉ còn thưa thớt lẻ tẻ. 1131
Đây không phải là nơi nghiên cứu sâu rộng sự phong phú thần học và mục vụ của vai trò giáo dân
trong Giáo Hội. Tông Huấn Christifideles laici đã làm sáng tỏ sự phong phú đó rồi.
Mục đích tài liệu này chỉ cung cấp một câu trả lời sáng sủa và có thẩm quyền cho những thỉnh cầu cấp thiết
và đa dạng gởi đến các Cơ Quan chúng tôi, từ phía các Giám Mục, các Linh Mục và giáo dân, các vị này gặp
phải những hình thức mới về sinh hoạt “mục vụ” của những giáo dân không được phong chức, trong bối
cảnh những giáo xứ và giáo phận, nên đã yêu cầu có được những chỉ dẫn.
Hẳn thật, thường là những thực hành, tuy nảy sinh trong những hoàn cảnh khẩn cấp và bấp bênh, và
thường được dựng nên với ý muốn cung cấp một trợ giúp quảng đại cho hoạt động mục vụ, nhưng có thể
sinh ra những hậu quả tai hại trầm trọng đối với vệc hiểu biết sự hiệp thông thật sự Giáo Hội. Những thực
hành này trên thực tế, hiện diện cách riêng trong một vài vùng, thỉnh thoảng với những khác biệt lớn trong
nội bộ một vùng.
Tuy nhiên, những thực hành đó nhắc các vị sau đây nhớ tới trách nhiệm nghiêm trọng của mình, đó là
những vị, và cách đặc biệt các Giám Mục, 1132 được giao phó việc cổ võ và tuân giữ kỷ luật chung của Giáo
Hội; kỷ luật này đặt nền tảng trên một số nguyên lý học thuyết đã được Công đồng Vatican II 1133 và Huấn
Quyền Giáo Hoàng tiếp theo sau, công bố. 1134
Nội bộ các cơ quan chúng tôi đã thực hiện một công tác suy tư. Những đại diện các hàng Giám Mục
có liên quan nhất với vấn đề, đã tham dự một hội nghị chuyên đề nghiên cứu đề tài này, và sau cùng, một sự
thăm dò rộng rãi được gởi tới nhiều vị Chủ Tịch các Hội Đồng Giám Mục, các giám chức khác và các vị
chuyên môn trong các môn Giáo Hội học khác nhau và đến từ các nơi khác nhau. Nhờ vậy mà phát sinh một
sự đồng qui sáng sủa trong ý nghĩa xác thực của qui chế này; nhưng qui chế này không có tham vọng nói
thấu đáo, bởi vì nó giới hạn trong việc xem xét những nố thường xảy ra nhất bây giờ, cũng như bởi vì những
nố này xuất hiện trong những hoàn cảnh riêng biệt rất khác nhau.
Việc áp dụng trung thực văn bản này, văn bản biên soạn trên nền tảng chắc chắn của huấn quyền bất
thường và thông thường trong Giáo Hội, được giao phó cho các Giám Mục, nhưng cũng được trình bày, để
được hiểu biết, cho các giám chức những hạt thuộc Giáo Hội, những hạt tuy chưa biết những thực hành lạm
dụng đó, nhưng sớm muộn gì rồi cũng biết, do sự truyền bá mau lẹ ngày nay của các sự kiện.
Trước khi trả lời cho những nố cụ thể gởi đến chúng tôi, xem ra cần nhắc đến một vài yếu tố thần học
vắn tắt và thiết yếu về ý nghĩa Chức Thánh trong cơ chế Giáo Hội. Những yếu tố đó khả dĩ giúp hiểu biết
hơn những mục đích của kỷ luật Giáo Hội, kỷ luật có ý thăng tiến, vẫn trong sự tôn trọng chân lý và sự hiệp
thông Giáo Hội, những quyền và những bổn phận của mọi người, vì “phần rỗi các linh hồn, Giáo Hội phải
luôn luôn coi là luật tối thượng”. 1135
QUI CHẾ VỀ SỰ HỢP TÁC CỦA GIÁO DÂN
VỚI THỪA TÁC VỤ LINH MỤC
PHẦN I. NHỮNG NGUYÊN LÝ THẦN HỌC
1. Chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác
Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm và đời đời, đã muốn rằng chức tư tế duy nhất và bất khả
phân chia của Người được Giáo Hội chia sẻ. Chính Giáo Hội là Dân Giao Ước Mới, trong dân này, “nhờ
việc tái sinh và sự xức dầu của Thánh Thần, những người đã lãnh bí tích Rửa Tội được thánh hiến để hình
thành một đền thờ thiêng liêng và một chức tư tế thánh, để dâng, qua tất cả các hoạt động của người Kitô
hữu, những lễ tế thiêng liêng và và loan truyền những việc làm cả thể của Đấng, từ những nơi tối tăm, đã
kêu gọi họ tới ánh sáng kỳ diệu của Người (x. 1 Pr 2, 4-10)”. 1136 “Chỉ có một dân được Chúa tuyển chọn: ’chỉ
có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa‘ (Ep 4, 5); giá trị của các phần tử là chung vì họ được tái sinh
trong Chúa Kitô, ân sủng của các con là chung, ơn gọi tiến tới sự trọn lành là chung” 1137 .Đang khi “tất cả các
phần tử đều bình đẳng về mặt phẩm giá và hành động chung cho tất cả mọi tín hữu liên hệ với sự xây dựng
Thân Thể Chúa Kitô”, thì có một số người, theo ý muốn Chúa Kitô, được đặt ra làm “Thầy dạy, làm người
phân phát các mầu nhiệm và làm mục tử kẻ khác” 1138 .Chức tư tế cộng đồng của mọi người tín hữu và chức tư
tế thừa tác hay phẩm trật, “mặc dầu khác nhau theo bản chất chớ không phải theo cấp bậc mà thôi, nhưng lại
được sắp xếp cho nhau; thật vậy, cả hai, tùy theo cách thức riêng mình, tham gia chức tư tế độc nhất của
Chúa Kitô 1139 ” Giữa hai chức tư tế có một sự hợp nhất hữu hiệu, bởi vì Thánh Thần hợp nhất Giáo Hội trong
sự hiệp thông và phục vụ, và bảo đảm cho Giáo Hội những ơn theo phẩm trật và những đặc sủng. 1140
Sự khác biệt thiết yếu giữa chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác, không ở trong chức tư tế của
Chúa Kitô, vì luôn luôn là duy nhất và bất khả phân chia, cũng không phải trong sự thánh thiện mà tất cả
mọi tín hữu phải đạt tới: “Thât vậy, chức tư tế thừa tác tự nó không có nghĩa là một cấp bậc thánh thiện cao
hơn sánh với chức tư tế cộng đồng của người tín hữu; nhưng, qua chức tư tế thừa tác, các Linh Mục đã được
Chúa Kitô, nhờ Thần Khí, ban cho một ơn đặc biệt, ngõ hầu có thể giúp dân Chúa thực hiện cách trung
thành và đầy đủ chức tư tế cộng đồng đã ban cho họ 1141 ” Trong sự xây dựng Giáo Hội, Thân Thể Chúa Kitô,
tuy có sự khác biệt các phần tử và các nhiệm vụ, nhưng chỉ có một Thần Khí, vì lợi ích Giáo Hội, Người
phân phát các ơn của Người một cách rộng rãi tương xứng với sự giàu sang của Người và với những nhu cầu
của các việc phục vụ (x. 1 Cr 12, 1-11). 1142
Sự khác biệt liên can tới kiểu tham gia vào chức tư tế của Chúa Kitô, và đó là sự khác biệt theo bản
chất với nghĩa này là “đang khi chức tư tế cộng đồng của giáo hữu được thực hiện trong sự biểu dương ân
sủng rửa tội, sự sống đức tin, đức cậy và đức mến, sự sống theo Thần Khí, thì chức tư tế thừa tác là để phục
vụ chức tư tế cộng đồng, nó có liên hệ với sự biểu dương ân sủng rửa tội của tất cả mọi người Kitô hữu 1143 ”
Do đó, “chức tư tế thừa tác trong bản chất khác với chức tư tế cộng đồng của giáo hữu, bởi vì nó ban quyền
năng thánh để phục vụ các giáo hữu” 1144 , Để đạt tới mục dích này, Linh Mục được khuyên bảo phải “lớn lên
trong ý thức sự hiệp thông sâu xa liên kết họ với dân Chúa” ngõ hầu “ gây nên và phát triển sự đồng trách
nhiệm trong cùng một sứ mệnh duy nhất cứu rỗi, bằng cách làm sáng giá, cách ân cần và vui lòng, tất cả
những đặc sủng và những nhiệm vụ mà Thần Khí chia cho các tín hữu để xây dựng Giáo Hội”. 1145
Ta có thể tổng hợp như vầy những đặc điểm làm khác biệt chức tư tế thừa tác của các Giám Mục và
các Linh Mục với chức tư tế chung của giáo hữu, và những đặc điểm đó cũng vạch ra những giới hạn hợp
tác của giáo hữu với thừa tác vụ thánh:
a) chức tư tế thừa tác có nguồn gốc trong sự nối tiếp tông đồ, và được phú cho một quyền năng
thánh, 1146 quyền năng đó bao gồm quyền hạn và trách nhiệm hành động nhân danh Chúa Kitô Đầu và Mục
tử. 1147
b) Chức tư tế thừa tác biến những thừa tác viên thánh thành những tôi tớ Chúa Kitô và Giáo Hội, bằng
phương tiện rao truyền với uy quyền Lời Chúa, cử hành các bí tích và hướng dẫn mục vụ các tín hũu. 1148
Đặt những nền tảng của thừa tác được truyền chức trong sự kế tiếp tông đồ, với tư cách là thừa tác vụ
này tiếp tục sứ mệnh nhận lãnh từ các tông đồ thay cho Chúa Giêsu, là một điểm thiết yếu của học thuyết
Giáo Hội Công Giáo. 1149
Do đó, thừa tác vụ được phong chức, đặt nền tảng trên các tông đồ để xây dựng Giáo Hội: 1150 “chức
thừa tác này hoàn toàn để phục vụ chính Giáo Hội” 1151 .Đặc tính phục vụ của nó liên kết nội tại với bản tính
bí tích của thừa tác Giáo Hội. Thật vậy, hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa Kitô Đấng ban sứ vụ và thẩm quyền,
các thừa tác viên thực sự là là những “tôi tớ Chúa Kitô”(Rm 1, 1), theo hình ảnh Chúa Kitô Đấng đã tự
nguyện mặc lấy “thân nô lệ vì chúng ta" (Pl 2, 7). Bởi vì lời và ân sủng mà họ là những thừa tác viên, không
phải là của họ, nhưng là của Chúa Kitô Đấng giao phó những thứ đó cho họ vì kẻ khác, nên họ tự nguyện
làm nô lệ mọi người. 1152
2. Tính duy nhất và khác biệt của những nhiệm vụ thừa tác
Những nhiệm vụ của thừa tác vụ được phong chúc, xét chung toàn bộ, làm thành một đơn vị không thể
phân chia, do nền tảng duy nhất của chúng. 1153 Như trong Chúa Kitô, 1154 chỉ có một gốc rễ duy nhất thuộc
hành động cứu rỗi, được phát biểu và thực hiện bởi thừa tác viên qua sự hoàn thành các nhiệm vụ dạy dỗ,
thánh hoá và quản trị các tín hữu khác. Sự hợp nhất đó cốt yếu chỉ tính cách việc thi hành những nhiệm vụ
của thừa tác vụ thánh, những nhiệm vụ đó, dưới những hình thức khác biệt, luôn luôn là một việc thi hành
vai trò của Chúa Kitô Đầu Giáo Hội
Vậy nếu việc thi hành nhiệm vụ giảng dạy, thánh hoá và quản trị, do thừa tác viên thánh, tạo nên bản
chất của thừa tác vụ mục vụ, thì những nhiệm vụ khác biệt của các thừa tác viên thánh, hình thành một sư
hiệp nhất bất khả phân và không thể được nhận thức riêng nhau; ngược lại, những nhiệm vụ đó phải được
xem như hỗ tương với nhau và bổ túc cho nhau. Chỉ trong vài nhiệm vụ, và trong mức nào đó thôi, những tín
hữu khác không được truyền chức có thể cộng tác với các vị chủ chăn, nếu họ dược kêu gọi hợp tác bởi
thẩm quyền hợp pháp và theo những cách thức phải có. Thật vậy Chúa Kitô “trong thân thể Người, tức là
trong Giáo Hội, luôn ban phát những ân huệ để phục vụ, nhờ những ân huệ đó, nhân danh Người, chúng ta
góp phần lo phần rỗi cho nhau” 1155 . “Sự thực hành một nhiệm vụ thể đó không làm người giáo dân trở thành
mục tử: trên thực tế, điều lập nên thừa tác viên, không phải là sự hoạt động tự nó, nhưng là sự truyền chức bí
tích. Duy chỉ bí tích Truyền Chức mới ban cho người thừa tác viên được tham dự vào nhiệm vụ của Chúa
Kitô là Đầu và Mục tử và được tham dự vào chức tư tế đời đời của Người. Nhiệm vụ thi hành với tư cách là
dự khuyết, có được quyền chính thống minh bạch và ngay liền là do sự uỷ nhiệm chính thức nhận lãnh từ tay
các vị mục tử và, trong việc thực hành cụ thể nhiệm vụ này, người dự khuyết đó phải phục tùng sự chỉ đạo
của thẩm quyền Giáo Hội”. 1156
Phải tái khẳng định giáo thuyết này bởi vì một số thực hành, mục đích là bổ sung những con số yếu
kém do các thừa tác viên được phong chức ở giữa cộng đồng, thì trong một số trường hợp đã có thể gây sức
ép trên quan niệm chức tư tế cộng đồng của các tín hữu, đến nỗi làm xáo trộn đặc tính và ý nghĩa riêng của
nó. Điều đó lại tán trợ việc suy giảm số dự tuyển vào chức Linh Mục, và làm lu mờ đặc tính chủng viện như
là nơi kiểu mẫu cho việc huấn luyện thừa tác viên thánh. Đây là những hiện tượng liên kết chặt chẽ với
nhau, và phải suy nghĩ đích đáng về sự tương quan của chúng, để rút ra những kết luận thực hành.
3. Đặc tính không thể thay thế của thừa tác vụ được tấn phong
Một cộng đồng tín hữu, để được có thể gọi là Giáo Hội và để được thực sự là Giáo Hội, không thể lấy
những tiêu chuẩn tổ chức có tính hiệp hội hay chính trị để hướng dẫn mình. Tất cả Giáo Hội địa phương
phải được Chúa Kitô hướng dẫn, bởi vì chính Người, tại nền tảng, đã ban cho Giáo Hội này thừa tác vụ tông
đồ. Do sự kiện này, không một cộng đồng nào có quyền tự cho mình sự hướng dẫn này, 1157 cũng không thiết
lập sự hướng dẫn này bằng một sự uỷ nhiệm. Việc thực hành trách nhiệm huấn giáo và quản trị đòi hỏi phải
có sự chỉ định theo Giáo luật hay là pháp luật về phía thẩm quyền phẩm trật 1158 .
Chức tư tế thừa tác, do đó, là cần thiết cho sự hiện hữu của cộng đồng với tư cách là Giáo Hội : “Như
vậy, người ta không nên coi chức tư tế được tấn phong dường như có (…) sau cộng đồng Giáo Hội, dường
như cộng đồng này có thể được hiểu như đã được thiết lập không cần chức tư tế này” 1159 . Thật vậy, nếu trong
cộng đồng mà thiếu Linh Mục, thì cộng đồng đó bị thiếu việc thực hành và nhiệm vụ bí tích của Chúa Kitô
Đầu và Mục tử, là điều cốt yếu cho chính sự sống của cộng đồng Giáo Hội.
Như vậy chức tư tế thừa tác là tuyệt đối không thể thay thế. Từ đó người ta phải suy ra sự cần đến một
việc mục vụ ơn gọi đầy nhiệt tình, được chỉnh đốn tốt và liên tục, ngõ hầu cung cấp cho Giáo Hội những
thừa tác viên mà Giáo Hội cần; người ta cũng do đó mà suy ra sự cần thiết dành riêng một sự đào tạo tươm
tất cho những ai trong các chủng viện dọn mình lãnh chức Linh Mục. Tất cả mọi giải pháp khác để đối phó
những vấn đề do thiếu các thừa tác viên thánh, chỉ là tạm bợ thôi.
“Bổn phận cổ võ các ơn gọi thuộc về cộng đồng Kitô hũu toàn diện, cộng đồng này phải hoàn thành
bổn phận đó bằng một đời sống Kitô hũu hoàn hảo 1160 ” Tất cả những người tín hũu có trách nhiệm cổ võ bổn
phận này, bằng cách góp phần khuyến khích sự chấp nhận ơn gọi làm Linh Mục, bằng cách theo Chúa Giêsu
Kitô luôn trung thành hơn, và bằng cách xa lánh tính thờ ơ nơi mình ở, nhất là trong những xã hội đậm nét
chủ nghĩa vật chất.
4. Sự cộng tác của những người tín hữu không được tấn phong với thừa tác vụ mục vụ
Trong các tài liệu công đồng, giữa những phương diện tham gia vào sứ mệnh Giáo Hội của những
người không có ấn tín phép Truyền Chức, người ta nghĩ đến sự hợp tác trực tiếp của họ vào những nhiệm vụ
riêng biệt của các mục tử. 1161 Thật vậy, “khi sự cần thiết hay lợi ích của Giáo Hội đòi buộc, các vị mục tử có
thể, theo những qui luật được thiết lập do luật chung, giao phó cho giáo dân một số nhiệm vụ liên quan tới
trách nhiệm riêng mục tử của mình, nhưng lại không đòi hỏi phải có ấn tín phép Truyền Chức” 1162 . Việc hợp
tác này sau đó được qui định do luật pháp hậu công đồng và, cách riêng, do Bộ Giáo Luật mới.
Bộ Giáo Luật trước hết nói tới những trách nhiệm và những quyền lợi của tất cả mọi tín hữu: 1163 rồi ở
điều tiếp sau, dùng để nói tới những trách nhiệm và quyền lợi những người giáo dân, Giáo Luật đề cập tới
không những những trách nhiệm và quyền lợi xứng với hoàn cảnh đời của họ, 1164 mà còn những chức vụ hay
phần việc khác không thuộc về họ cách tuyệt đối. Giữa những chức vụ và phận vụ đó, có những thứ thuộc về
bất cứ người tín hữu nào, được phong chức hay không; 1165 những thứ khác ngược lại nằm trong loại phục vụ
trực tiếp thuộc thừa tác vụ thánh của các tín hũu được phong chức. 1166 Những tín hữu không được tấn phong
không nắm một quyền nào để thực hành những chức vụ hay phần vụ sau, nhưng họ có “khả năng được các
vị mục tử thánh nhận cho làm những trách vụ Giáo Hội và những trách nhiệm mà họ có thể thực hiện theo
những dự định của luật” 1167 , hay là “vì thiếu các thừa tác viên (…) họ có thể làm thay thề một số trách vụ của
các ngài (…) tùy theo những dự định của luật”. 1168
Để một việc hợp tác như vậy có chỗ đứng hài hoà trong khoa mục vụ thừa tác, điều cần thiết là muốn
tránh những lệch lạc mục vụ và những lạm dụng kỷ luật, thì những nguyên tắc giáo lý phải cho rõ ràng và do
đó, với quyết tâm liên kết, người ta đề xướng trong toàn Giáo Hội một sự áp dụng chăm chỉ và trung thực
những dự định hiện hành, mà không lạm dụng nới rộng phạm vi chước chuẩn cho những trường hợp không
thể hưởng sự chước chuẩn.
Nếu có những lạm dụng và những vi phạm tại bất cứ nơi nào, thì các mục tử huy động những phương
tiện cần thiết và xứng hợp để ngăn chận hẳn không cho lan rộng, và tránh gây thiệt hại cho việc hiểu biết về
chính bản chất Giáo Hội. Cách riêng, họ nên áp dụng đúng đắn những qui luật kỷ luật đã sẵn, những qui luật
dạy cho biết và tôn trọng, trong các sự kiện, sự phân biệt và sự bổ sung của các phận vụ cốt yếu đối với cộng
đồng Giáo Hội. Tiếp theo, nơi nào đã lan tràn những vi phạm thể đó, thì tuyệt đối không thể trì hoãn sự can
thiệp có trách nhiệm của thẩm quyền có bổn phận can thiệp; qua sự can thiệp này, thẩm quyền đó thật sự là
kẻ xây dựng sự hiệp thông, mà chỉ có thể được thiết lập chung quanh chân lý.
Hiệp thông, chân lý, công lý, hoà bình và bác ái là những từ ngữ tùy thuộc nhau. 1169
Dưới ánh sáng những nguyên lý này, dưới đây kê khai những môn thuốc thích đáng để chữa trị những
lạm dụng được báo cáo lên các Cơ Quan chúng tôi. Những qui định sau đây được rút ra từ quy phạm của
Giáo Hội.
PHẦN II. NHỮNG DỰ ĐỊNH THỰC HÀNH
Điều 1: Cần thiết có một danh từ thích hợp
Đức Thánh Cha, trong bài diễn văn đọc trước những người tham dự hội thảo về “Sự hợp tác của người
giáo dân với thừa tác vụ Linh Mục”, đã nhấn mạnh tới sự cần thiết làm sáng tỏ và phân biệt những nghĩa chữ
lâu nay gán cho danh từ “thừa tác vụ” trong ngôn ngữ thần học và giáo luật. 1170
§ 1. “Đã qua một thời gian, có thói quen gọi là thừa tác vụ, không những các phần vụ (officia) và các
trách vụ (munera) do những mục tử thực hành bằng vào Bí Tích Truyền Chức, nhưng cũng gọi là thừa tác vụ
những phần vụ và trách vụ do những tín hữu không được tấn phong thực hành, bằng vào chức tư tế rửa tội.
Vấn đề ngôn ngữ còn trở nên phức tạp và tế nhị hơn khi công nhận tất cả mọi người tín hữu có khả năng
thực hành – với tư cách là người bổ sung, do việc uỷ nhiệm chính thức phía các mục tử – một số chức vụ
riêng biệt hơn dành cho giáo sĩ, nhưng lại không đòi hỏi phải có ấn tín Truyền Chức. Phải công nhận rằng
ngôn ngữ trở nên bất định, hỗn tạp, và như vậy là vô ích để diễn tả giáo lý đức tin, mỗi khi bằng bất cứ cách
nào, che giấu sự khác biệt” về bản chất chớ không phải cấp bậc mà thôi “hiện hữu giữa chức tư tế do bí tích
Rửa Tội và chức tư tế được tấn phong”. 1171
§ 2. “Điều này đã cho phép, trong vài trường hợp, nới rộng từ thừa tác vụ đến những trách vụ riêng của
giáo dân, vì những trách vụ đó, theo mức độ của chúng, cũng là một sự tham dự vào chức tư tế độc nhất của
Chúa Kitô. Những trách vụ tạm thời giao phó cho họ, ngược lại, chỉ là hậu quả của một uỷ nhiệm của Giáo
Hội. Chỉ có một sự qui chiếu vĩnh viễn với nguồn mạch duy nhất là sứ vụ của Chúa Kitô” (…) cho phép,
trong một mức độ nào đó. Áp dụng từ thừa tác viên cho các giáo dân, không mơ hồ: nghĩa là từ đó không
được hiểu và sống như một nguyện vọng trái với thừa tác vụ được tấn phong, hay là như một sự xói mòn từ
từ đặc tính riêng của nó.
Theo nghĩa gốc này, (danh) từ thừa tác vụ (servitium) chỉ mô tả công trình do đó các thành phần Giáo
Hội nối dài, cho chính mình và cho thế giới, “sứ mệnh và tác vụ của Chúa Kitô”. Ngược lại khi (danh) từ đó
được dùng theo nghĩa riêng trong tương quan và so sánh giữa các trách vụ và phần vụ, thì bấy giờ nên cảnh
báo rõ ràng rằng duy chỉ nhờ sự Truyền Chức Thánh, (danh) từ đó mới đạt sự đầy đủ và nguyên nghĩa mà
truyền thống đã dành cho nó. 1172
§ 3. Người tín hữu không được tấn phong có thể được gọi chung là “thừa tác viên ngoại thường”chỉ
khi họ được thẩm quyền kêu mời thực hành, trong các chức vụ bổ sung mà thôi, những trách vụ nói trong
can. 230, § 3, 1173 và các can. 943 và 1112. Dĩ nhiên ta có thể dùng (danh) từ cụ thể quyết định theo giáo luật
nhiệm vụ được giao phó, như ví dụ giáo lý viên, thầy cầm đèn, thầy đọc sách, v. v…
Sự uỷ nhiệm tạm thời trong các việc phụng vụ nói trong can. 230, § 2 không đặt một tên riêng nào cho
người tín hữu không được tấn phong. 1174
Như vậy điều bất hợp pháp nếu gọi những tín hữu không được tấn phong là “mục tử”, “uyên uý”,
“tuyên uý nhà nguyện”, “người tổ chức”, “người điều hành” hay là bằng những danh xưng nào khác mà, dù
thế nào, có thể lẫn lộn vai trò của họ với vai trò vị mục tử, danh từ chỉ dành riêng cho Giám Mục và Linh
Mục. 1175
Điều 2 : Thừa tác vụ Lời 1176
§ 1. Nội dung thừa tác vụ này bao gồm “việc giảng dạy mục vụ, dạy giáo lý và tất cả huấn giáo Kitô
giáo, mà trong đó bài giảng phụng vụ chiếm chỗ ưu tiên”. 1177
Việc thực hành nguyên gốc các chức vụ liên quan tới thừa tác vụ này là bổn phận riêng của Giám Mục
giáo phận, với tư cách là người điều hành trong Giáo Hội của mình, tất cả thừa tác vụ Lời; 1178 đó cũng là bổn
phận riêng của các Linh Mục những người cộng tác với Giám Mục. 1179 Thừa tác vụ này còn thuộc về các Phó
Tế, trong sự hiệp thông với Giám Mục và Linh Mục đoàn của mình. 1180
§ 2. Những tín hữu không được tấn phong tham dự, tuỳ theo bản tính mình, chức vụ ngôn sứ của Chúa
Kitô; họ được thiết lập như những chứng tá của Chúa, họ được trang bị bằng ý nghĩa đức tin và bằng ân
sủng Lời. Tất cả được kêu gọi trở nên, luôn mãi, “những tiền hô hữu hiệu của đức tin trong điều phải hy
vọng (x. Dt 11, 1)”. 1181 Ngày nay, cách riêng, đó là việc dạy giáo lý, tuỳ thuộc nhiều vào việc dấn thân và
lòng quảng đại của họ trong việc phục vụ Giáo Hội.
Do đó các tín hữu, và đặc biệt những thành viên các Tu Hội Đời Sống Thánh Hiến và các Hiệp Hội
Thuộc Đời Sống Tông Đồ, có thể được kêu mời cộng tác, theo những thể thức hợp pháp, thực hành thừa tác
vụ Lời. 1182
§ 3. Để sự giúp đỡ này có hiệu nghiệm, cần nhắc lại một số điều kiện liên quan tới những thể thức.
Giáo Luật, điều 766, nêu lên những điều kiện, trong đó thẩm quyền có thể cho những tín hữu không được
tấn phong, giảng trong nhà thờ hay nhà nguyện. Chính cách diễn tả, admitti possunt, nhấn mạnh rằng đây
không phải là một thứ quyền riêng như quyền của Giám Mục, 1183 cũng không phải là một năng quyền như
năng quyền Linh Mục hay Phó Tế. 1184
Những điều kiện đi theo sự công nhận này – “nếu sự cần thiết đòi hỏi trong một số hoàn cảnh”, “nếu
cảm thấy có ích lợi trong những trường hợp riêng biệt” – chứng tỏ sự kiện có tính bất thường dường nào.
Giáo Luật điều 766 hơn nữa xác quyết phải luôn hành động theo những mệnh lệnh của các Hội Đồng Giám
Mục. Với điều khoản cuối cùng này, khoản giáo luật trưng dẫn trên thiết lập cái gì là nguồn gốc đầu tiên để
phân biệt chính xác sự cần thiết hay hữu ích trong các trường hợp cụ thể, bởi vì những dự định của Hội
Đồng Giám Mục, vì cần sự thừa nhận của Toà Tông Đồ, phải báo cáo những tiêu chuẩn thích hợp có thể
giúp Giám Mục giáo phận ra những quyết định mục vụ xứng hợp: ngài có quyền ra những quyết định này
nhân danh chính chức vụ Giám Mục.
§ 4. Trong trường hợp hoạ hiếm mới có được những thừa tác viên thánh, trong những vùng hạn chế
phạm vi, có thể xảy ra những hoàn cảnh vĩnh viễn và khách quan của sự cần thiết và hữu ích, gợi ý công
nhận các người tín hữu không được phong chức, lo việc giảng dạy.
Việc giảng dạy trong các nhà thờ và nhà nguyện bởi những tín hữu không được tấn phong, có thể được
phép để bổ sung các thừa tác viên thánh, hay là vì những lý do riêng có lợi ích trong các trường hợp cụ thể
được luật pháp chung của Giáo Hội hay của Hội Đồng Giám Mục dự liệu, và việc giảng dạy đó không thể
trở nên một việc làm bình thường, cũng không thể hiểu như là một sự thăng tiến chính thức hàng giáo dân.
§ 5. Nhất là trong khi chuẩn bị lãnh nhận bí tích, chớ chi các giáo lý viên lưu ý khơi động sự quan tâm
của những người học giáo lý đối với vai trò và hình ảnh Linh Mục, cho họ biết chỉ mình người là kẻ phân
phát các mầu nhiệm thánh mà họ chuẩn bị nhận lãnh.
Điều 3: Bài Giảng Phúc Âm (Homélie)
§ 1. Bài giảng Phúc Âm, hình thức nổi bật nhất của việc giảng thuyết “mà trong suốt Năm Phụng Vụ
dựa trên Kinh Thánh mà trình bày các mầu nhiệm đức tin và các qui tắc đời sống Kitô giáo”, 1185 là thành
phần toàn bộ của Phụng Vụ.
Trong lúc cử hành Thánh Thể, bài giảng Phúc Âm phải dành cho thừa tác viên thánh, Linh Mục hay
Phó Tế. 1186 Tín hữu không được tấn phong, không được giảng, dầu họ giữ vai “kẻ phụ tá mục vụ” hay giáo lý
viên, trong bất cứ kiểu cộng đồng hay nhóm nào. Thật vậy không cần đến một sự dễ dàng hơn về sự trần
thuyết – một trường hợp ngẫu nhiên – cũng không cần phải được chuẩn bị thần học, nhưng đây là một chức
vụ dành cho người được hiến thánh qua bí tích Truyền Chức Thánh; điều này ngăn cản chính Giám Mục
giáo phận chuẩn khỏi luật pháp Giáo Luật, 1187 vì rằng đây không phải là một luật thuần tuý kỷ luật, nhưng là
một luật liên quan những chức vụ huấn giáo và thánh hoá kết hợp chặt chẽ với nhau.
Như vậy người ta không thể thừa nhận thói quen, thực hành trong một số hoàn cảnh, giao phó việc
giảng Phúc Âm cho các chủng sinh, các sinh viên thần học chưa được tấn phong. 1188 Thật vậy bài giảng Phúc
Âm không thể được coi như là một sự thực tập để làm thừa tác vụ mai sau.
Phải kể như điều luật 767, § 1 bãi bỏ tất cả qui định trước kia cho phép những tín hữu không được tấn
phong tuyên đọc bài giảng trong lúc cử hành Thánh lễ. 1189
§ 2. Được phép đề xướng một trình bày vắn tắt giúp hiểu rõ hơn phụng vu cử hành; cách đặc biệt,
người ta cũng có thể đề xướng một dẫn chứng tình cờ, luôn thích hạp với các qui luật phụng vụ, nhân dịp
các buổi Phụng Vụ Thánh Thể cử hành trong những ngày đặc biệt (Ngày Chủng Viện, Bệnh Nhân, v.v…),
nếu người ta xét thấy điều đó xứng hợp cách khách quan để làm nổi bài giảng Linh Mục chủ tế đọc theo
luật. Những trình bày và những dẫn chứng đó không nên khoác vào những đặc điểm có thể làm lẫn lộn
chúng với bài giảng.
§ 3. Việc có thể “đối thoại” trong bài giảng 1190 đôi khi có thể được thừa tác viên chủ sự sử dụng cách
khôn ngoan, như là một phương tiện trình bày mà không trao một sự uỷ nhiệm bổn phận giảng thuyết.
§ 4. Bài giảng Phúc Âm ngoài Thánh Lễ thì các tín hữu không được tấn phong có thể giảng, theo
quyền hạn và những qui luật phụng vụ, phải tôn trọng những khoản chứa đựng trong đó.
§ 5. Bài giảng không thể giao phó, trong bất cứ trường hợp nào, cho những Linh Mục hay Phó Tế mất
tình trạng giáo sĩ, hay là đã bỏ việc thi hành thừa tác vụ thánh. 1191
Điều 4: Linh Mục Quản Xứ
Những tín hữu không được tấn phong có thể hoàn thành những nhiệm vụ cộng tác hũu hiệu với thừa
tác vụ mục vụ của hàng giáo sĩ, như phải ca ngợi trong nhiều trường hợp, trong các giáo xứ, trong lãnh vực
những nhà chăm sóc, cứu tế, giáo dục, tù ngục, bên những nhà cầm quyền quân sự, v.v… Mọi hình thức
cộng tác bất thường, trong các điều kiện dự kiến, được qui định theo điều luật 517, § 2
§ 1. Sự hiểu và áp dụng đúng khoản luật này, mà do đó “nếu vì thiếu Linh Mục, Giám Mục giáo phận
xét là nên cho một Phó Tế hoặc một người không có ấn tích Linh Mục hoặc một nhóm người tham dự vào
việc thi hành mục vụ giáo xứ, thì ngài phải đặt một Linh Mục với các quyền hạn và năng quyền của một
Linh Mục Chính xứ để điều khiển việc mục vụ”, đòi hỏi biện pháp bất thường này phải dự vào trong sự tôn
trọng tỉ mỉ những điều khoản nó chứa đựng, đó là:
a) vì thiếu Linh Mục, và không phải vì những lý do được tiện lợi hay là để “thăng tiến mơ hồ hàng
giáo dân”, v.v…
b) đây nói về sự tham gia vào việc thi hành chăm sóc mục vụ, chớ không phải điều khiển, phối trí, điều
hoà, quản trị giáo xứ; một công việc mà theo chính những từ ngữ giáo luật, chỉ thuộc quyền một Linh Mục.
Chính vì ở đây nói đến những trường hợp bất thường nên trước hết phải xét khả năng nhờ những việc
phục vụ, ví dụ, của các Linh Mục già nhưng còn sức khỏe, hay là giao phó nhiều giáo xứ khác nhau cho một
Linh Mục hay một nhóm Linh Mục. 1192
Dầu vậy không nên coi thường quyền ưu tiên cũng một điều trong Giáo Luật dành cho thầy Phó Tế.
Hơn nữa qui định giáo luật cũng khẳng định rằng những hình thức tham gia này trong việc coi sóc các
giáo xứ, không thể thay thế được nhiệm vụ Linh Mục quản xứ. Thật vậy qui định quyết định rằng dầu trong
những trường hợp bất thường “Giám Mục Giáo phận (…) phải đặt một Linh Mục với quyền hạn và năng
quyền của một Linh Mục quản xứ để điều khiển việc mục vụ”. Nhiệm vụ của Linh Mục quản xứ, thật vậy,
chỉ được giáo phó thành sự cho một Linh Mục mà thôi (x. can., 521, § 1), cho dù trong lúc thiếu thật sự hàng
giáo sĩ. 1193
§ 2. Về phương diện này cũng phải để ý đến sự kiện Linh Mục quản xứ là vị mục tử đích thực của giáo
xứ được trao phó cho ngài, 1194 và ngài vẫn là mục tử bao lâu nhiệm vụ mục vụ chưa chấm dứt. 1195
Sự kiện một Linh Mục quản xứ nộp đơn từ chức vì quá tuổi 75, không đương nhiên kéo theo sự nghỉ
việc mục vụ của ngài. Sự nghỉ việc đó chỉ xảy ra khi Giám Mục giáo phận – sau khi đã cứu xét khôn ngoan
tất cả mọi hoàn cảnh – dứt khoát chấp thuận việc ngài từ chức, theo qui luật điều 538, § 3, và Giám Mục
thông đạt cho ngài bằng văn bản. 1196 Ngược lại, do những hoàn cảnh thiếu các Linh Mục, hiện tại trong một
số nơi, phải đặc biệt xử sự khôn khéo trong vấn đề.
Hơn nữa, xét theo quyền hạn của mỗi một Linh Mục để thi hành những trách vụ liên hệ với chức phận
đã lãnh nhận, trừ khi có những nguyên nhân trầm trọng về sức khoẻ hay kỷ luật, nên nhớ rằng tuổi 75 không
phải là một duyên cớ đủ để buộc Giám Mục chấp thuận một sự từ chức. Làm như vậy cũng để tránh một
quan điểm coi thừa tác vụ thánh như là một chế độ công chức. 1197
Điều 5 : Những tổ chức cộng tác trong Giáo Hội địa phương
Những tổ chức này, cần phải có và thấy sinh hiệu quả trong đường đổi mới Giáo Hội theo Công Đồng
Vatican II, và được thừa nhận qua luật pháp Giáo Luật, diễn tả một hình thức tham gia sinh động vào sự
sống và sứ mệnh của Giáo Hội như là sự hiệp thông.
§ 1. Quy phạm Giáo luật về Hội Đồng Linh Mục nêu rõ những Linh Mục nào có thể làm thành viên
của Hội Đồng. 1198 Thật vậy Hội Đồng này dành riêng cho các Linh Mục, bởi vì nó dựa trên sự tham gia
chung của Giám Mục và các Linh Mục vào cũng một chức Linh Mục và thừa tác vụ. 1199
Các thầy Phó Tế hay các tín hữu không được tấn phong không có thể hưởng được tiếng nói linh động
hay thụ động, cho dầu họ là những cộng sự viên của các thừa tác viên thánh, những Linh Mục đã mất địa vị
giáo sĩ hay đã thật sự bỏ thừa tác vụ thánh, cũng không được như vậy.
§ 2. Hội Đồng Mục Vụ, thuộc giáo phận và giáo xứ 1200 và Hội Đồng Giáo Xứ chuyên lo những việc
kinh tế, 1201 mà những tín hữu không được tấn phong cũng là thành phần, chỉ có quyền tư vấn và không cách
nào có thể trở nên những cơ quan quyết định. Chỉ được bầu vào những trách nhiệm này các tín hữu có
những đức tính mà Quy phạm Giáo luật đòi hỏi. 1202
§ 3. Linh Mục quản xứ mới có quyền chủ toạ các Hội Đồng Giáo Xứ. Cho nên những quyết định thực
hành do một Hội Đồng nhóm họp mà không có sự chủ toạ của Linh Mục quản xứ, cả đến việc họp chống ý
ngài, đều bất thành và vô giá trị. 1203
§ 4. Trong tất cả các Hội Đồng cấp giáo phận, sự đồng thuận với một hành vi của Giám Mục không
thể diễn tả thành sự trừ khi luật đòi hỏi phải như vậy.
§ 5. Khi có những thực tại địa phương, các Đấng Thường Quyền có thể nhờ những nhóm nghiên cứu
đặc biệt và những chuyên viên về các vấn đề riêng biệt. Nhưng những nhóm người này không thể trở thành
những tổ chức song đôi hay làm cho mất hết ý nghĩa những Hội Đồng Linh Mục và Mục Vụ cấp giáo phận
cũng như cấp giáo xứ: những Hội Đồng này được chi phối bởi luật chung của Giáo Hội trong các khoản 536,
§ 1 và 537 1204 . Nếu trong quá khứ đã nổi lên những tổ chức đó, dựa trên những tập tục địa phương hay nhưng
hoàn cảnh riêng, người ta phải vận dụng những biện pháp cần thiết bắt chúng phù hợp với luật pháp của
Giáo Hội hiện hành.
§ 6. Các Quản Hạt, cững gọi là Hạt Trưởng, Linh Mục trưởng, hoặc gọi bằng tên khác, và những vị
thay thế, “vị Đại Diện Giám Mục”, “Vị Đại Diện Hạt Trưởng”, v.v… luôn luôn phải là Linh Mục. 1205 Do đó
ai không phải là Linh Mục thì không thể được chỉ định cách thành sự vào những trách vụ này.
Điều 6: Những cử hành phụng vụ
§ 1. Những việc Phụng Vụ phải chứng tỏ rõ ràng sự hiệp nhất được chỉnh đốn của Dân Chúa trong
điều kiện hiệp thông hữu cơ của mình 1206 và như vậy (chứng tỏ rõ ràng) sự liên kết nội tại giữa việc Phụng
Vụ và bản tính được cấu tạo hữu cơ của Giáo Hội.
Điều này được thể hiện khi tất cả những kẻ tham gia thi hành vai trò riêng của mình với lòng tin và sốt
sắng.
§ 2. Cũng trong lãnh vực này, để bảo toàn căn tính Giáo Hội của mỗi người, phải loại bỏ những lạm
dụng thuộc nhiều loại nghịch lại qui tắc khoản luật 907: trong cử hành Thánh Thể những Phó Tế và những
tín hữu không được tấn phong không được phép đọc những Kinh Nguyện hay tất cả phần khác dành riêng
cho Linh Mục chủ tế – nhất là Kinh Nguyện Thánh Thể với vinh tụng ca kết thúc -, cũng không được phép
thực thi những hành động và những cử chỉ dành riêng cho vị chủ tế. Cũng là một lạm dụng trầm trọng nếu
cho phép một tín hữu không được phong chức gần như thật sự "chủ toạ” Thánh Thể, còn Linh Mục chỉ giữ
phần rất nhỏ cần thiết bảo đảm sự thành sự.
Cũng theo một đường lối này, ai không được tấn phong, thì rõ ràng không đuợc phép sử dụng trong
các lễ nghi Phụng Vụ, những lễ phục dành riêng cho các Linh Mục hay Phó Tế (dây các phép, áo lễ, áo
dalmatique).
Người ta phải ra sức ân cần xa lánh cho đến hình thức hỗn độn có thể phát xuất từ những thái độ ngoại
lệ về mặt phụng vụ. Cũng như người ta nên nhắc các thừa tác viên được tấn phong có bổn phận mặc tất cả
những lễ phục thánh bắt buộc theo luật, cũng vậy những tín hữu không được tấn phong không thể mặc cái gì
không thuộc riêng về họ.
Muốn tránh tất cả lầm lẫn giữa Phụng Vụ Thánh do một Linh Mục hay Phó Tế chủ toạ, và những hành
vi khác do các tín hữu không được tấn phong linh hoạt hay hường dẫn, thì cần dùng những công thức thật rõ
ràng cho những hành vi này.
Điều 7: Nhừng cử hành Chúa Nhật khi vắng Linh Mục
§ 1. Trong vài nơi, vì thiếu Linh Mục hay thầy Phó Tế, những cử hành Chúa Nhật 1207 được hướng dẫn,
bởi những tín hữu không được tấn phong. Việc phục vụ này, tuy có thể nhưng cũng rất tế nhị, phải được
thực hiện theo tinh thần và những qui luật riêng phát xuất do Thẩm Quyền Giáo Hội về vấn đề này. 1208 Để
được phép hướng dẫn những cử hành này, người tín hữu không được tấn phong phải được uỷ quyền riêng
của Giám Mục, người sẽ cẩn thận ban những chỉ dẫn thích hợp liên quan tới thời gian, nơi chốn, những điều
kiện của họ và vị Linh Mục trách nhiệm cho họ.
§ 2. Những cử hành thể đó, với những bản văn phải luôn luôn được Thẩm Quyền Giáo Hội phê chuẩn,
phải luôn luôn được coi là những giải pháp tạm thời. Cấm đưa vào trong những cấu trúc của chúng các yếu
tố riêng cho Phụng Vụ Hy Tế, nhất là “Kinh Nguyện Thánh Thể”, dù dưới hình thức thuật truyện, kẻo sinh
nên những lầm lẫn trong đầu óc người tín hữu. 1209 Trong mục đích này, phải luôn nói với những kẻ tham dự
các cử hành này, là những cử hành đó không thay thế Hy Tế Thánh Thể, và người ta làm trọn luật thánh hoá
các ngày lễ chỉ bằng cách dự Thánh Lễ. 1210 Trong những trường hợp mà những khoảng cách và những điều
kiện sức khoẻ cho phép, nên khuyến khích và giúp đỡ những tín hữu cố gắng giữ trọn luật.
Điều 8: Thừa tác viên bất thường cho rước lễ
Những tín hữu không được tấn phong từ đã lâu cộng tác với các thừa tác viên thánh trong nhiều lãnh
vực mục vụ, ngõ hầu “ân huệ khôn tả Thánh Thể được hiểu biết luôn sâu sắc hơn và người ta tham dự sốt
sắng hơn luôn vào hiệu năng cứu rỗi của Thánh Thể”. 1211
Đây nói về một phục vụ phụng vụ đáp ứng những nhu cầu khách quan của các tín hữu, và việc phục vụ
này nhằm trước tiên đến những bệnh nhân và những hội họp phụng vụ với số tín hữu đông đặc biệt và ao
ước rước lễ.
§ 1. Kỷ luật theo Giáo Luật về thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ phải được áp dụng cho đúng kẻo
sinh ra hỗn loạn. Kỷ luật đó dự liệu rằng thừa tác viên thông thường cho rước lễ là Giám Mục, Linh Mục và
Phó Tế. 1212 Đang khi những thừa tác viên ngoại thường là hoặc thầy giúp lễ có chức, hoặc người tín hữu được
uỷ nhiệm theo điều khoản giáo luật 230, § 3. 1213
Một tín hữu không được tấn phong, vì những lý do thật sự cần thiết cho phép, có thể được Giám Mục
giáo phận uỷ nhiệm làm thừa tác viên ngoại thường, khi uỷ nhiệm thì dùng công thức chúc lành xứng hợp
theo Phụng Vụ: 1214 để cho rước lễ kể cả bên ngoài việc cử hành Thánh Thể, ad actum vel ad tempus, (theo
việc và theo lúc), hay là cách cố định. Trong những trường hợp bất thường và không thể thấy trước, thì Linh
Mục chủ sự việc cử hành Thánh Thể có quyền ban phép ad actum (theo việc).
§ 2. Thừa tác viên ngoại thường muốn cho rước lễ trong lúc cử hành Thánh Thể, thì cần lý do là hoặc
không có những thừa tác viên thông thường nào khác đang hiện diện, hoặc là những vị này bị ngăn trở thật
sự. 1215 Người đó cũng có thể lãnh công tác này khi mà, vì có sự tham dự rất đông đảo của những tín hữu ao
ước được rước lễ, mà việc cử hành Thánh Thể có thể kéo dài thái quá do không đủ thừa tác viên thông
thường. 1216
Công tác như thế có tính bổ sung và bất thường, 1217 và phải được thực hành theo quy phạm của Giáo
Luật. Trong mục đích này, Giám Mục giáo phận nên ra những quy phạm riêng để điều chỉnh công tác này
cho ăn khớp với luật pháp chung của Giáo Hội. Trong những việc khác phải làm, phải tiên liệu để người
được uỷ nhiệm cho công tác đó, được học hỏi đầy đủ về giáo lý Thánh Thể, về đặc tính công tác mình, về
những luật Chữ Đỏ phải giữ để tôn kính một bí tích cao cả dường ấy, và về kỷ luật liên quan tới việc cho
rước lễ.
Để khỏi gây ra những hỗn độn, phải tránh và vứt bỏ nhiều thực hành phổ biến lâu nay trong nhiều
Giáo Hội địa phương, ví dụ như :
– Việc tự rước lễ y như mình là người đồng tế;
– Việc dự vào sự tuyên đọc lại những lời hứa của các Linh Mục, trong lễ Dầu ngày Thứ Năm Tuần
Thánh, của những hạng tín hữu khác lập lại lời khấn dòng, hay nhận lãnh uỷ nhiệm làm thừa tác viên ngoại
thường cho rước lễ.
– Việc thường xuyên dùng các thừa tác viên ngoại thường trong các thánh lễ, tự ý giải thích rộng rãi
quan điểm “tham dự đông đảo”.
Điều 9: Việc tông đồ bên người bệnh
§ 1. Trong lãnh vực này, các tín hữu không được tấn phong có thể góp phần hợp tác quí báu. 1218 Có vô
số chứng từ về các công trình và cử chỉ bác ái đối với bệnh nhân, thực hiện do những người không được tấn
phong, hoặc với danh nghĩa cá nhân hoặc dưới nhiều hình thức tông đồ tập thể. Điều này bảo đảm sự hiện
diện Kitô hữu hàng đầu trong thế giới đau khổ và bệnh tật. Nơi nào các tín hữu không được tấn phong theo
giúp bệnh nhân trong những lúc trầm trọng nhất, nhiệm vụ chính của họ là khơi lên lòng muốn lãnh các bí
tích Sám Hối và Xức Dầu. Khi phải sử dụng những á bí tích, những tín hữu không được tấn phong sẽ đề
phòng kẻo cử chỉ này bị hiểu lầm là bí tích, mà việc cử hành chỉ dành riêng và tuyệt đối cho Giám Mục và
Linh Mục. Những ai không phải là Linh Mục thì không khi nào được phép thực hiện những việc Xức Dầu,
cho dù với dầu được thánh hiến dùng cho Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân, hay với các thứ dầu nào khác.
§ 2. Để ban Bí Tích này, pháp luật Giáo Luật nhận lấy giáo lý vững chắc về mặt thần học và việc thực
hành ngàn năm của Giáo hội, 1219 theo đó thừa tác viên duy nhất ban thành sự là Linh Mục. 1220 Quy phạm này
liên quan chặt chẽ với mầu nhiệm thần học được biểu thị và thực hiện nhờ việc thực thi sự phục vụ Linh
Mục.
Phải khẳng định rằng sự kiện dành tuyệt đối cho Linh Mục thừa tác vụ của Bí tích này, là vì nó liên
quan với việc tha tội và việc lãnh Thánh Thể cho xứng đáng. Không ai khác có thể đảm nhận vai trò thừa tác
viên thông thường hay bất thường của bí tích này, và tất cả cử chỉ theo chiều hướng này tạo nên sự giả bộ
làm bí tích. 1221
Điều 10: Chủ trì hôn nhân
§ 1. Khả năng uỷ nhiệm những tín hữu không được tấn phong để chủ trì các đôi hôn nhân, có thể tỏ ra
cần thiết trong những hoàn cảnh rất đặc biệt vì thiếu trầm trọng các thừa tác viên thánh.
Nhưng phải có ba điều kiện. Thật vậy, Giám Mục giáo phận chỉ có thể ban việc uỷ nhiệm đó trong
những trường hợp thiếu Linh Mục và Phó Tế, và chỉ sau khi được ý kiến thuận của Hội Đồng Giám Mục đối
với giáo phận mình, cũng như được phép cần thiết của Toà Thánh. 1222
§ 2. Trong những trường hợp này cũng phải theo quy phạm Giáo Luật liên quan tới việc thành sự của
việc uỷ nhiệm, 1223 cũng như sự thích hợp, khả năng và năng lực của người tín hữu không được tấn phong. 1224
§ 3. Ngoại trừ trong trường hợp bất thường – tiên liệu do điều luật 1112 Bộ Giáo Luật – tuyệt đối thiếu
Linh Mục hay Phó Tế là người có thể chủ trì việc cử hành hôn nhân, thì không một thừa tác viên được tấn
phong nào có thể cho phép một tín hữu không được tấn phong để chủ trì hôn nhân đó, việc chủ trì này bao
gồm việc hỏi và nhận sự ưng thuận hôn nhân, theo quy phạm điều luật 1108 , § 2.
Điều 11: Thừa tác viên Rửa Tội
Phải khen ngợi cách riêng đức tin cửa nhiều người Kitô hữu, vì mặc dầu trong những hoàn cảnh khổ
cực bị bắt bớ, cũng như trong những vùng đất truyền giáo và trong trường hợp cần thiết cách riêng, họ đã
bảo đảm – và bảo đảm luôn – Bí Tích Rửa tội cho các thế hệ mới, vì thiếu vắng các thừa tác viên được tấn
phong.
Trừ trường hợp cần thiết, quy phạm Giáo Luật tiên liệu rằng khi vắng bóng thừa tác viên thông
thường, hay là khi ngài bị ngăn trở, 1225 người tín hữu không được tấn phong có thể được chỉ định như là thừa
tác viên ngoại thường của Bí Tích Rửa tội. 1226
Nhưng phải chú ý đến những giải thích quá xa vời và tránh ban phép này dưới hình thức thường
xuyên.
Như, ví dụ, khi vắng mặt hay khi ngăn trở cho phép uỷ nhiệm các tín hữu không được tấn phong ban
Bí Tích Rửa Tội, thì người ta không thể đồng hoá việc làm quá nhiều về phía thừa tác viên thông thường,
hay sự kiện ngài không ở tại địa hạt giáo xứ, hay nữa vì ngài không rảnh rang đúng ngày mà gia đình yêu
cầu. Không một lý do nào nói đó là nguyên nhân đủ.
Điều 12: Việc hướng dẫn cử hành các nghi lễ an táng trong Giáo Hội
Trong những hoàn cảnh hiện thời chứng kiến việc mất gốc Kitô giáo ngày càng nhiều và sự xa lánh
đối với việc thực hành tôn giáo, giờ chết và an táng thỉnh thoảng có thể trở nên một trong những dịp mục vụ
thích hợp nhất cho phép các thừa tác viên được tấn phong gặp gỡ trực tiếp những người tín hữu không giữ
đạo điều hoà.
Như vậy điều đáng mong ước là, dầu có phải hy sinh nhiều, các Linh Mục và các Phó Tế tự thân chủ
trì những nghi thức an táng theo những tập tục địa phương tốt nhất, để cầu nguyện cho kẻ qua đời, lại được
gần gũi các gia đình và lợi dụng những dịp này để làm việc tông đồ.
Các người tín hữu không được tấn phong chỉ có thể hướng dẫn những đám tang có tính Giáo Hội trong
trường hợp thật sự thiếu thừa tác viên được tấn phong, và phải giữ các quy luật phụng vụ trong vấn đề. 1227 Họ
cũng phải được chuẩn bị làm công tác này, về mặt giáo lý cũng như phụng vụ.
Điều 13: Sự cần thiết tuyển chọn và đào tạo đúng mức
Thẩm Quyền, đứng trước sự cần thiết khách quan phải “bổ sung”, trong những hoàn cảnh chỉ định
trong các điều trên, có nhiệm vụ chọn một tín hữu thông thuộc giáo lý và sống gương mẫu. Như vậy người
ta không thể nhận cho thi hành những công tác này, các người công giáo sống đời sống bất xứng, không có
tiếng tốt, hay đang gặp những tình trạng gia đình trái ngược với huấn giáo luân lý của Giáo Hội. Hơn nữa,
họ phải có được sự đào tạo cần thiết để chu toàn xứng hợp công tác giao phó cho họ.
Theo những quy phạm thuộc luật riêng, họ phải hoàn thiện những hiểu biết của mình bằng cách theo
học, trong mức độ có thể, những khoá huấn luyện mà thẩm quyền sẽ tổ chức tại cấp bậc Giáo Hội địa
phương 1228 – trong những nơi ngoài chủng viện, vì chủng viện chỉ dành riêng cho những ứng cử viên chức
Linh Mục 1229 -, nhưng phải chú trọng sao cho giáo lý được dạy phải tuyệt đối phù hợp với giáo huân Giáo
Hội và cho bầu không khí các khoá đó thật sự có tính thiêng liêng.
KẾT
Toà Thánh giao phó tài liệu này cho lòng sốt sắng mục vụ của các Giám Mục giáo phận trong các
Giáo Hội địa phương và cho những Đấng Bản Quyền khác, tin tưởng việc áp dụng nầy sẽ sinh nhiều hoa quả
dồi dào hầu phát sinh trong cộng đồng, những thừa tác viên thánh và những tín hữu không được tấn phong.
Thật vậy, như Đức Thánh Cha đã nhắc nhớ, “phải công nhận, bênh vực, động viên, tuyển chọn và sắp
xếp cách khôn ngoan và quyết định, ân ban riêng của mỗi phần tử Giáo Hội, mà không lẫn lộn các vai trò,
các nhiệm vụ hay các điều kiện thần học và giáo luật”. 1230
Nếu một bên, trong một số nơi thấy thưa thớt con số Linh Mục, thì trong nhiều nơi khác người ta nhận
thấy một mùa nở hoa đầy hứa hẹn các ơn gọi cho phép đoán trước những viễn ảnh tích cực về tương lai.
Những giải pháp được đề nghị để cứu vãn tình trạng hoạ hiếm các thừa tác viên được tấn phong, như vậy chỉ
là tạm bợ thôi và đi đôi với việc mục vụ đặc biệt ưu tiên là cổ võ các ơn gọi lãnh Bí Tích Truyền Chức. 1231
Về phương diện này Đức Thánh Cha nhắc lại rằng “trong một số hoàn cảnh địa phương, người ta đã
tìm kiếm những giải pháp quảng đại và sáng trí. Các quy phạm của Bộ Giáo Luật đã đề nghị những khả năng
mới, nhưng chúng phải được áp dụng đúng mức để khỏi rơi vào trong cảnh mập mờ, cho là bình thường và
đúng luật những hoàn cảnh bất thường vì vắng hay hiếm có các thừa tác viên thánh”. 1232
Tài liệu này có ý vạch ra những chỉ dẫn chính xác để bảo đảm một sự hợp tác hiệu nghiệm của những
tín hữu không được tấn phong, vì những tình huống đó, và trong sự tôn trọng tính nguyên vẹn của thừa tác
vụ mục vụ của các Linh Mục. “Phải làm cho người ta hiểu rằng những qui định chính xác và những sự tuyển
chọn này không phát sinh vì bận tâm bênh vực quyền ưu tiên hàng giáo sĩ, nhưng vì cần thiết phải vâng theo
ý muốn Chúa Kitô, bằng cách tôn trọng hình thức cấu tạo mà Người đã in một cách bất biến vào Giáo Hội
Người”. 1233
Việc áp dụng đúng các chỉ thị này, trong khuôn khổ của sự hiệp thông cốt yếu theo phẩm trật, sẽ sinh
lợi ích cho chính giáo dân, được kêu mời phát huy tất cả những tiềm lực phong phú thuộc căn tính của họ và
“sự sẵn sàng luôn nhiệt tình hơn sống căn tính của họ trong khi chu toàn sứ mệnh riêng của họ”. 1234
Lời khuyên bảo sôi nổi Thánh Tông Đồ Dân Ngoại nói với Timôthê, “Trước mặt Thiên Chúa và Đức
Kitô Giêsu tôi tha thiết khuyên anh, (…) hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc
không thuận tiện, hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ (…) hãy thận trọng trong mọi sự, (…) hãy chu toàn
chức vụ của anh” (*2 Tm 4, 1-5), (Lời khuyên bảo đó) nhắn nhủ rất riêng biệt các vị mục tử thánh, được mời
gọi chu toàn vai trò riêng mình là "bảo toàn kỷ luật chung cả Giáo Hội (…) thúc đẩy việc tuân giữ tất cả luật
Giáo Hội”. 1235
Nhiệm vụ to lớn này tạo nên khí cụ cần thiết để những nghị lực phong phú tích chứa trong mỗi trạng
thái sự sống Giáo Hội, được hướng dẫn đúng theo những ý định lạ lùng của Thần Khí, và để sự hiệp thông
nên một thực tại hữu hiệu trong con đường hằng ngày của toàn thể cộng đồng.
Xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo Hội, mà chúng ta phó thác tài liệu này cho Người phù hộ, giúp mỗi
người hiểu rõ những ý của tài liệu, và vận dụng tất cả để áp dụng trung thành tài liệu này, hầu có thể nhận
được một sự phong phú tông đồ lớn hơn.
Những luật riêng và những tập tục hiện hành trái nghịch với những quy phạm này, cũng như những
phép rộng lâm thời được Toà Thánh ban cho ad experimentum (thí nghiệm) hay là bởi tất cả Thẩm Quyền
khác tuỳ thuộc Toà Thánh, đều bị bãi bỏ.
Đức Giáo Hoàng, ngày 13 tháng 8 năm 1997, đã phê chuẩn dưới hình thức đặc biệt Qui Chế này và ra
lệnh phổ biến.
Vatican ngày 15 tháng 8 năm 1997, ngày lễ trọng kính Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh Hồn Xác Lên
Trời.
(Theo bản tiếng Anh, Báo Osservatore romano,
n. 47 – 19/11/1997)
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ
theo bản tiếng Pháp
BỘ GIÁO SĨ
HUẤN THỊ
LINH MỤC MỤC TỬ
VÀ
LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ
Dẫn nhập
Huấn thị này, nhờ sự chuyển trao của các Giám mục, được gởi đến tất cả các linh mục chính xứ và các
cộng tác viên đang dấn thân trong việc chăm sóc các linh hồn. Tài liệu phải được xem xét trong bối cảnh của
một suy tư và học hỏi có chiều sâu, đã được khởi sự từ một số năm qua.
Với sự xuất bản của Kim chỉ nam về sứ vụ và đời sống của các linh mục và của các phó tế vĩnh viễn,
cùng với sự xuất bản của Huấn thị Liên Bộ, Ecclesiae de mysterio, và Thư luân lưu, Linh mục và Thiên niên
kỷ thứ ba, Thầy dạy của Lời, Thừa tác viên của các bí tích và Lãnh đạo của cộng đoàn, chúng ta thấy âm
vang của các tài liệu của Công đồng Va-ti-ca-nô II, nhất là Lumen Gentium và Presbyterorum Ordinis, của
sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, Bộ Giáo Luật, và những giáo huấn liên tục của Huấn quyền.
Tài liệu đi theo cùng một hướng của lời hô hào truyền giáo “Duc in altum” với nhiệm vụ cấp thiết là
phúc âm hoá trong Ngàn năm thứ ba. Vì lý do ấy và đồng thời lưu ý đến nhiều khuyến cáo phát xuất từ một
tham khảo ý kiến rộng rãi về vấn đề này, quả là thích hợp khi nắm lấy thời cơ để trình bày một mảng giáo
thuyết gồm những yếu tố nhằm khơi dậy một suy tư trên những giá trị thần học nền tảng thúc đẩy hướng đến
hoạt động thừa sai, mà đôi khi chưa được rõ ràng.
Mối tương quan giữa chiều kích giáo hội – thần khí, đụng chạm trực tiếp đến bản chất của sứ vụ linh
mục, và chiều kích giáo hội học, giúp hiểu ý nghĩa của nhiệm vụ này một cách đặc biệt, đã được làm nổi bật.
Huấn thị này có mục đích cơ bản là biểu lộ lòng quý mến đặc biệt đến các linh mục đang chu toàn
nhiệm vụ quý báu trong tư cách linh mục chính xứ và những linh mục dù bị nhiều khó khăn thử thách, vẫn
luôn luôn hiện diện ở giữa đoàn chiên của mình. Nhiệm vụ tế nhị và quý giá mà họ theo đuổi, đem lại cơ hội
để làm sáng tỏ hơn sự khác biệt tự bản chất và ngay cả trong đời sống giữa chức tư tế phổ quát và chức tư tế
thừa tác, và để đem lại sự hiểu biết đúng đắn về căn tính linh mục và chiều kích bí tích căn bản của thừa tác
vụ của những người có chức thánh.
Vì muốn tuân theo những chỉ dẫn của Đức Thánh Cha trong Diễn văn mà ngài gởi đến Hội nghị
khoáng đại của Thánh Bộ, rất phong phú về phương diện thực hành, quả là ích lợi khi ghi lại đây.
DIỄN TỪ CỦA ĐỨC THÁNH CHA
Kính thưa các Hồng y, Giám mục, Đức ông và linh mục,
Anh em và chị em thân mến trong Chúa Ki-tô!
1. Trong niềm vui lớn lao, tôi chào thăm anh chị em, nhân dịp Hội nghị khoáng đại của Thánh bộ Giáo
sĩ. Tôi chân thành chào thăm Đức Hồng y Dario Castrillón Hoyos, Tổng Trưởng Thánh bộ, và cám ơn ngài
về những lời thân ái nhân danh toàn thể mọi người hiện diện gởi đến cho tôi. Tôi chào thăm các Hồng Y,
Giám mục và mọi người tham dự Hội nghị khoáng đại, với một chủ đề quan trọng đối với đời sống Hội
Thánh: Các linh mục, Chủ chăn và Lãnh đạo cộng đoàn giáo xứ. Khi nhấn mạnh đến nhiệm vụ của linh mục
trong cộng đoàn giáo xứ, ta làm sáng tỏ chỗ đứng trung tâm của Đức Ki-tô, Đấng phải luôn luôn nổi bật
trong sứ vụ của Hội Thánh.
Đức Ki-tô hiện diện trong Hội Thánh của Người cách tuyệt hảo nhất trong Bí tích của Bàn thờ. Trong
Hiến chế Lumen gentium, Công đồng Va-ti-ca-nô II dạy rằng linh mục đóng vai trò Chúa Ki-tô, cử hành Hi
tế Tạ ơn và ban các bí tích (x. số 10). Như vị tiền nhiệm của tôi, Đức Phao-lô VI đã nhận xét rất đúng trong
Thông điệp Mysterium fidei, tiếp nối Hiến chế Sacrosanctum Concilium, số 7, Đức Ki-tô cũng hiện diện qua
việc giảng dạy và hướng dẫn các tín hữu, những nhiệm vụ mà linh mục được đích thân mời gọi (x. AAS 57
[1965] 762).
2. Sự hiện diện của Đức Ki-tô, trong đời sống hằng ngày và thông thường như thế, biến giáo xứ thành
một cộng đoàn đích thực của các tín hữu. Vì thế điều quan trọng nền tảng là giáo xứ cần có một linh mục
làm chủ chăn và tước vị Chủ chăn được dành riêng cho linh mục. Thánh chức tư tế là điều kiện cần thiết và
không thể thay thế được để đặt một người làm chủ chăn cách hữu hiệu (x. Giáo luật, điều 521, 1). Tất nhiên,
các tín hữu khác có thể tích cực cộng tác với ngài, ngay cả đến trọn thời gian nữa, nhưng bởi vì họ không có
chức tư tế thừa tác, họ không thể thay thế ngài như chủ chăn.
Điều xác định chỗ đứng trung tâm đặc biệt và có tính giáo hội này của linh mục là mối tương quan nền
tảng của ngài với Đức Ki-tô, Thủ lãnh và Chủ chăn, như một sự đại diện có tính bí tích. Trong Tông huấn
Pastores dabo vobis, tôi lưu ý rằng mối tương quan giữa linh mục và Hội Thánh được ghi khắc trong mối
tương quan mà linh mục có đối với Đức Ki-tô, theo nghĩa sự đại diện có tính bí tích cho Đức Ki-tô đặt nền
tảng và soi sáng mối tương quan giữa linh mục và Hội Thánh (số 16). Chiều kích giáo hội thuộc về bản chất
của chức tư tế thừa tác. Chức ấy hoàn toàn là để phục vụ Hội Thánh, đến nỗi cộng đoàn giáo hội cần cách
tuyệt đối chức tư tế thừa tác để có Đức Ki-tô Thủ lãnh và Mục tử hiện diện trong cộng đoàn. Nếu chức tư tế
phổ quát là kết quả của sự kiện Dân Ki-tô giáo được Thiên Chúa tuyển chọn như một chiếc cầu nối với nhân
loại và mọi tín hữu thuộc về đoàn dân này, chức tư tế thừa tác là hoa quả của một tuyển chọn, của một ơn
gọi đặc biệt: Người kêu gọi các môn đệ, và tuyển chọn mười hai vị (Lc 6, 13-16). Nhờ chức tư tế thừa tác,
người tín hữu được gây ý thức về chức tư tế phổ quát của họ và thực thi chức tư tế ấy (x. Ep 4, 11-12); các
linh mục nhắc nhở họ rằng họ là đoàn dân của Thiên Chúa và làm cho họ có khả năng dâng những của lễ
thiêng liêng (x. 1 Pr 2,5), qua đó chính Đức Ki-tô làm chúng ta thành một quà tặng vĩnh cửu dâng lên Chúa
Cha (x. 1 Pr 3,18). Nếu không có sự hiện diện của Đức Ki-tô được linh mục đại diện, người lãnh đạo mang
ấn tín bí tích của cộng đoàn, thì cộng đoàn đó không phải là một cộng đoàn giáo hội viên mãn.
3. Như tôi đã nói trên, Đức Ki-tô hiện diện trong Hội Thánh một cách tuyệt hảo trong Bí tích Thánh
Thể, nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Hội Thánh. Người thực sự hiện diện trong khi cử hành Hi lễ
thánh, và khi bánh đã được truyền phép được cất giữ trong nhà tạm như trái tim thiêng liêng của cộng đoàn
tu sĩ và giáo xứ (Phao-lô VI, Thông điệp Mysterium fidei, AAS 57 [1965], 772).
Vì lý do ấy, Công đồng Va-ti-ca-nô II khuyên bảo các linh mục chính xứ phải lo lắng để việc cử hành
Hi tế Thánh Thể phải là trọng tâm và tuyệt đỉnh của toàn thể đời sống cộng đoàn Ki-tô hữu (Sắc lệnh
Christus Dominus, số 30). Không có thờ phượng Thánh Thể, như hình ảnh trái tim đang đập, giáo xứ nên
khô cằn. Quả là hữu ích khi nhắc lại đây điều tôi đã viết trong Tông thư Dies Domini: Trong số các hoạt
động của một giáo xứ, không có điều gì cần thiết cho sự sống hoặc đào tạo cộng đoàn cho bằng việc cử hành
Ngày Chúa nhật và Bí tích Thánh Thể (số 35). Không điều gì có thể thay thế được. Phụng vụ Lời Chúa mà
thôi, khi quả thực không thể có một linh mục hiện diện vào ngày Chúa Nhật được, là một việc làm đáng
khen để giữ gìn đức tin sống động, nhưng phải xem việc cử hành thường xuyên Bí tích Thánh Thể như một
mục tiêu cần phải đạt đến.
Khi thiếu linh mục, ta phải tin tưởng và tha thiết cầu xin Chúa ban nhiều thợ gặt thánh thiện cho Mùa
gặt của Người. Trong Pastores dabo vobis tôi đã nhắc lại rằng Ngày hôm nay, cầu nguyện cho có được
những ơn gọi mới phải càng ngày càng trở thành một tập quán trường kỳ và rộng khắp của toàn thể cộng
đoàn ki-tô hữu và nơi mọi người (số 38). Vẻ cao cả của căn tính linh mục, việc thực thi trọn vẹn thừa tác vụ
mục vụ được kết hợp với những nỗ lực cầu nguyện của toàn thể cộng đoàn và việc hi sinh đền tội cá nhân, là
những yếu tố không thể thiếu của một hoạt động mục vụ cấp bách để tìm thêm ơn gọi. Sẽ là một lỗi trầm
trọng khi cam chịu những khó khăn hiện tại, và hành động như thể chúng ta phải chuẩn bị cho một Hội
Thánh của ngày mai mà một vài người nghĩ rằng hầu như không có các linh mục. Như thế, các biện pháp
dùng để chữa trị sự hiếm hoi đó, dù đầy thiện chí, cũng sẽ gây hại trầm trọng cho cộng đoàn Giáo hội.
4. Hơn nữa, giáo xứ là một nơi chốn đặc trưng để loan báo Lời của Thiên Chúa. Việc đó bao gồm
nhiều hình thức khác nhau và mỗi tín hữu được mời gọi giữ một phần tích cực, đặc biệt qua chứng từ của
một đời sống ki-tô hữu và việc loan báo minh nhiên Tin mừng cho những người chưa tin để dẫn đưa họ đến
đức tin, hoặc cho các tín hữu để dạy dỗ họ, củng cố họ và khuyến khích họ sống nhiệt thành hơn. Đối với
linh mục, ngài loan báo lời trong tư cách là thừa tác viên, như những người chia sẻ thẩm quyền ngôn sứ của
Đức Ki-tô và của Hội Thánh (Pastores dabo vobis, số 26). Để chu toàn sứ vụ này cách trung thành, phù hợp
với ân sủng đã lãnh nhận, ngài phải phát triển trước hết một sự tiếp xúc cá nhân và sâu sắc với Lời của Thiên
Chúa (ibid.). Cho dẫu ngài thua kém các tín hữu không được thụ phong trong khả năng phát biểu, điều này
không giảm thiểu tư cách của ngài là đại diện của Đức Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử, và hiệu năng của lời giảng
dạy của ngài phát xuất từ căn tính của ngài. Cộng đoàn giáo xứ cần đến loại hiệu năng này, nhất là vào thời
điểm đặc biệt nhất khi các thừa tác viên chức thánh công bố Lời: vì lý do này, việc công bố Tin mừng trong
Phụng vụ và bài giảng, cả hai đều dành riêng cho linh mục.
5. Cũng vậy chức năng hướng dẫn cộng đoàn trong tư cách mục tử, chức năng riêng của linh mục
chính xứ, bắt nguồn từ mối tương quan duy nhất với Đức Ki-tô Thủ lãnh và Mục tử. Đó là một chức năng
phát xuất từ bí tích. Chức năng ấy không được giao phó cho linh mục bởi cộng đoàn, nhưng, đến từ Chúa,
qua tay Giám mục. Tái khẳng định cách rõ ràng điều này và thực thi chức năng này với một uy quyền khiêm
tốn là một phục vụ rất cần thiết cho sự thật và cho sự hiệp thông của Hội Thánh. Sự cộng tác của những
người khác, những người đã không lãnh nhận sự đồng hoá với Đức Ki-tô nhờ bí tích, thì đáng mong ước và
thường là cần thiết.
Tuy nhiên, sự cộng tác đó không thể bất cứ cách nào thay thế nhiệm vụ chủ chăn riêng của linh mục
chính xứ. Những trường hợp thiếu trầm trọng các linh mục, mà cần đến một sự cộng tác mật thiết và rộng rãi
hơn của các tín hữu không có quyền thừa tác linh mục, trong việc chăm sóc mục vụ của một giáo xứ, không
tạo thành một ngoại lệ cho tiêu chuẩn cốt yếu của việc chăm sóc các linh hồn, như đã được quy định cách
hiển nhiên bởi quy tắc giáo luật (x. Giáo luật, điều 517, 2). Trong lĩnh vực hay gây tranh cãi này, Huấn thị
liên Bộ Ecclesiae de mysterio, mà tôi đã phê chuẩn cách đặc biệt, là một chỉ dẫn chắc chắc cần tuân theo.
Khi chu toàn nhiệm vụ này trong tư cách lãnh đạo, là trách nhiệm của riêng mình, chủ chăn chắc chắn
sẽ có được sự trợ giúp của ban tư vấn mà Giáo luật tiên liệu (x. Giáo luật, điều 536-537); nhưng những
người này phải dừng lại và trung thành với mục đích cố vấn của ban. Vì thế cần phải giữ mình khỏi mọi hình
thức, trong thực tế, có khuynh hướng coi nhẹ tư cách lãnh đạo của linh mục chính xứ, bởi vì chính cơ cấu
của cộng đoàn có thể bị méo mó.
6. Giờ đây tôi hướng lòng quý mến và biết ơn đến các mục tử trên khắp thế giới, nhất là những vị đang
làm việc tại những tiền đồn của công cuộc phúc âm hoá. Tôi khuyến khích họ tiếp tục trong sứ vụ truyền
giáo, thật vất vả nhưng quý báu đối với toàn thể Hội Thánh. Tôi giao phó lần lượt mỗi người hằng ngày
đang thi hành việc chăm sóc mục vụ cho sự trợ giúp hiền mẫu của Đức Trinh nữ Ma-ri-a, khi họ đang tìm
cách sống hiệp thông sâu xa với Mẹ. Trong chức tư tế thừa tác, như tôi đã viết trong Lá Thư gởi các linh
mục, nhân ngày Thứ Năm Tuần Thánh 1979, có chiều kích kỳ diệu và sâu sắc là sự gần gũi với Mẹ của Đức
Ki-tô (số 11). Các anh em linh mục thân mến, khi chúng ta cử hành Thánh lễ, Mẹ của Đấng Cứu chuộc ở
bên cạnh chúng ta. Mẹ dẫn chúng ta vào mầu nhiệm hi lễ cứu chuộc của Người Con thần linh của Mẹ. Ad
Jesum per Mariam (đến với Đức Giê-su nhờ Mẹ Ma-ri-a): ước gì đó là chương trình hằng ngày của đời sống
thiêng liêng và mục vụ của chúng ta!
Với những tâm tình ấy và bảo đảm với anh em rằng tôi sẽ nhớ đến anh em trong lời cầu nguyện, tôi
ban cho mỗi một người trong anh em phép lành Toà thánh đặc biệt, và tôi cũng sẵn lòng gởi đến tất cả các
linh mục trên toàn thế giới.
(Diễn từ của Đức Gio-an Phao-lô II gởi cho Hội nghị khoáng đại của Thánh bộ Giáo sĩ
ngày Thứ Sáu 23 tháng 11 năm 2001)
HUẤN THỊ CỦA BỘ GIÁO SĨ
LINH MỤC MỤC TỬ
VÀ LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ
Phần I :
CHỨC TƯ TẾ PHỔ QUÁT CỦA TÍN HỮU
VÀ CHỨC TƯ TẾ THỪA TÁC
1. Ngước mắt lên mà xem (Ga 4,35)
1. Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! (Ga 4,35)
Những lời này của Chúa chúng ta minh hoạ rõ ràng chân trời bao la của sứ vụ tình yêu của Ngôi Lời Nhập
thể. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế
gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ (Ga 3,17). Suốt cuộc đời trần thế của Người, hoàn toàn đồng hoá
với thánh ý cứu độ của Chúa Cha, là một sự biểu lộ liên lỉ Thánh ý Thiên Chúa muốn cứu rỗi nhân loại và
muốn cho mọi người đạt đến ơn cứu độ như Chúa Cha mong muốn tự muôn đời. Người đã truyền giao sứ
mệnh lịch sử này lại cho Hội Thánh và uỷ thác cách đặc biệt cho các thừa tác viên chức thánh. Quả thực, cao
cả thay mầu nhiệm mà chúng ta được đặt làm thừa tác viên. Một mầu nhiệm về tình yêu không giới hạn, vì
Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1).
1236
Các thừa tác viên linh mục của Đức Giê-su Ki-tô, mang ấn tín và ân sủng của Bí tích truyền chức
thánh và được chỉ định làm chứng nhân và thừa tác viên về lòng thương xót của Thiên Chúa, tự nguyện đảm
nhận phục vụ mọi người trong Hội Thánh. Trong bất cứ hoàn cảnh xã hội, văn hoá hay lịch sử nào, cả trong
xã hội ngày nay, mang dấu ấn sâu đậm của tinh thần tục hoá và chủ nghĩa tiêu thụ đang xói mòn ý nghĩa Ki-
Tô giáo nơi nhiều tín hữu, các thừa tác viên của Chúa phải luôn luôn nhớ đến điều làm cho chúng ta thắng
được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta (1 Ga 5,4). Thật vậy, xã hội hiện nay tạo cho chúng ta cơ hội để
nhớ lại sức mạnh bất khuất của đức tin và đức ái đối với Chúa Ki-tô, và nhắc nhớ rằng, dù không thiếu
những khó khăn và ngay cả sự thiếu tin tưởng nào đó, các tín hữu ki-tô giáo – cũng như nhiều người chưa tin
– vẫn đánh giá cao và cần đến thái độ sẵn sàng phục vụ của các linh mục. Họ muốn tìm thấy nơi linh mục
một con người của Thiên Chúa, theo như lời Thánh Âu-tinh : Kiến thức của chúng ta là Đức Ki-tô, sự khôn
ngoan của chúng ta cũng là Đức Ki-tô. Người ban cho chúng ta đức tin để nhìn xem các thực tại trần thế và
chính Người mạc khải thực tại vĩnh cửu cho chúng ta. 1237 Chúng ta sống trong thời đại của một công cuộc
phúc âm hoá mới và do đó, chúng ta phải ra đi và tìm gặp những người đang chờ cơ hội được gặp gỡ Đức
Ki-tô.
2. Theo những mức độ khác nhau, Đức Ki-tô thông ban tư cách người Mục tử chăn dắt các linh hồn của
Người cho các Giám mục và Linh mục, thông qua bí tích Truyền chức thánh, để làm cho các ngài có khả
năng hành đông nhân danh Người và đại diện quyền thủ lãnh (potestas capitis) của Người trong Giáo hội. Sự
hiệp nhất sâu xa của Dân mới không có nghĩa là không có những trách nhiệm khác biệt và bổ túc cho nhau
trong đời sống của Dân mới. Những người có trách nhiệm hành động trong tư cách của Đức Ki-tô (in
persona Christi) và làm lại điều Đức Giê-su đã thực hiện trong Bữa tiệc ly, khi Người thiết lập Hy lễ Tạ ơn,
nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống ki-tô hữu (Lumen Gentium), được liên kết một cách đặc biệt
với các tông đồ đầu tiên. An tín làm cho các ngài trổi vượt nhờ việc lãnh nhận thánh chức, bảo đảm cho sự
hiện diện và tác vụ của các ngài là duy nhất, không thể thiếu và thay thế được. 1238 Sự hiện diện của một thừa
tác viên chức thánh là điều kiện tất yếu cho đời sống của Giáo hội, chứ không chỉ nhằm để tổ chức sao cho
hiệu quả.
3. Duc in altum! 1239 Mọi ki-tô hữu cảm nghiệm ánh sáng đức tin trong tâm hồn và muốn đi trên con đường
Đức Giáo hoàng đã vạch ra, đều phải chuyển lời mời gọi truyền giáo khẩn trương và dứt khoát này thành
việc làm. Các mục tử trong Giáo hội, nhờ cảm thức siêu nhiên mà có khả năng phân định những đường lối
1236 Gioan Phaolô II, Diễn văn tại cuộc Hội thảo về “Sự tham gia của người giáo dân vào thừa tác vụ Linh Mục”
Thiên Chúa muốn hướng dẫn Dân Người, nhất thiết phải thấu hiểu lời mời gọi này và thi hành với lòng nhiệt
thành và sẵn sàng. Duc in altum! Chúa mời gọi chúng ta chèo ra chỗ sâu, với một lòng tin tưởng vào Lời
Người. Chúng ta hãy học từ kinh nghiệm của Đại Năm thánh và kiên trì trong nhiệm vụ làm chứng cho Tin
mừng, với lòng nhiệt thành mà việc chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô làm nẩy sinh trong chúng ta. 1240
4. Quả là quan trọng khi nhắc lại Đức Thánh Cha đã hiểu như thế nào về các mục tiêu căn bản mà ngài đã đề
ra vào lúc bế mạc Đại Năm thánh 2000 và trao cho các Giáo hội địa phương thực hiện. Khi mời gọi các Giáo
hội địa phương đảm nhận trách nhiệm này, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến nhu cầu phải tận dụng ân huệ đã
lãnh nhận, bằng cách đem ra thực hành qua các quyết định và đường lối hành động. 1241
Ân huệ này liên quan đến sứ mạng phúc âm hoá của Giáo hội, sứ mạng đó đòi hỏi một đời sống thánh
thiện về phía người mục tử cũng như giáo dân, một sự nhiệt thành với việc tông đồ phù hợp với bậc sống
riêng của mình và thấm nhuần vào các trách nhiệm và bổn phận của họ, và nhận thức rằng ơn cứu rỗi vĩnh
cửu của nhiều người tùy thuộc vào việc biểu lộ Đức Ki-tô một cách trung thành qua lời nói cũng như việc
làm. Vì thế, từ đó nẩy sinh một nhu cầu cấp bách cần đưa ra một thúc đẩy mãnh mẽ hơn cho thừa tác vụ linh
mục trong các Giáo hội địa phương, nhất là trong các giáo xứ. Điều đó phải đặt nền tảng trên sự hiểu biết
đích thật về tác vụ và đời sống của các linh mục.
Là Linh mục, chúng ta được thánh hiến trong Giáo hội để thi hành tác vụ đặc thù đó. Chúng ta được
kêu gọi bằng nhiều cách khác nhau để góp phần đào tạo Dân Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào Thiên Chúa quan
phòng đặt để chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta,
không phải vì miễn cưỡng nhưng hoàn toàn tự nguyện, không lấy quyền mà thống trị những người Thiên
Chúa đã giao phó cho chúng ta, nhưng nêu gương sáng cho đoàn chiên (x. 1 Pr 5, 2-3). Đó là con đường nên
thánh của chúng ta, nhằm dẫn đưa chúng ta tiến vào cuộc gặp gỡ tối hậu với vị Mục tử tối cao là Đấng nắm
giữ triều thiên vinh hiển trong tay (1 Pr 5, 4). Đó là sứ mạng của chúng ta trong việc phục vụ Dân Ki-tô
giáo. 1242
2. Những yếu tố nòng cốt của thừa tác vụ và đời sống Linh mục 1243
a) Căn tính Linh mục
5. Căn tính Linh mục phải được xem xét trong bối cảnh Thánh ý cứu độ của Thiên Chúa, vì đó là hoa trái
của tác động có tính bí tích của Chúa Thánh Thần, một sự tham dự vào công trình cứu độ của Chúa Ki-tô, và
hoàn toàn nhằm mục đích phục vụ cho công trình đó trong Hội Thánh, khi nó diễn ra trong lịch sử. Căn tính
Linh mục có ba chiều kích: Thánh khí học, Ki-tô học và Giáo hội học. Cơ cấu thần học nền tảng này của
mầu nhiệm Linh mục, là thừa tác viên của ơn cứu độ, không hề bao giờ bị xem nhẹ, nếu linh mục am hiểu
đúng đắn ý nghĩa của công tác mục vụ trong những hoàn cảnh cụ thể của giáo xứ. 1244 Linh mục là đầy tớ của
Đức Ki-tô. Nhờ Người, với Người và trong Người, linh mục trở nên đầy tớ của loài người. Chính con người
của vị linh mục, được đồng hoá với Đức Ki-tô về phương diện hữu thể, làm nên nền tảng của việc được
truyền chức để phục vụ cộng đoàn. Sự dấn thân trọn vẹn cho Đức Ki-tô, được thực hiện cách thích đáng và
được làm chứng qua đời sống đôc thân, đặt người linh mục vào vai trò phục vụ mọi người. Ân huệ phi
thường của đời sống độc thân 1245 đã tìm được ánh sáng và động lực từ sự đồng hoá với ân huệ hôn ước mà
Con Thiên Chúa chịu đóng đinh và sống lại đã ban tặng cho một nhân loại được cứu chuộc và đổi mới.
Chính đời sống và công việc của người linh mục – con người được thánh hiến và tác vụ của ngài – là
những thực tại thần học không thể tách rời và có mục tiêu là thực thi sứ mạng của Giáo hội, 1246 tức là đem
ơn cứu độ vĩnh cửu cho nhân loại. Lý do hiện hữu của chức linh mục được tìm thấy và khám phá trong mầu
nhiệm Hội Thánh, là Nhiệm thể Chúa Ki-tô và là Dân Thiên Chúa đang lữ hành trong lịch sử, được thiết lập
như bí tích phổ quát của ơn cứu độ. 1247 Cộng đoàn Giáo hội nhất thiết cần đến chức tư tế thừa tác, để cho
Chúa Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử, hiện diện giữa cộng đoàn. 1248
6. Chức tư tế phổ quát hay chức tư tế do bí tích Thanh Tẩy của các ki-tô hữu, một sự tham dự đích thực vào
chức tư tế của Chúa Ki-tô, là yếu tính của Dân mới của Thiên Chúa: 1249 Anh em là giống nòi được tuyển
chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa… (1 Pr 2,9); (Người) làm cho chúng ta
trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người (Kh 1,6); (Người) cũng làm
cho họ thành một vương quốc, thành những tư tế, để phụng thờ Thiên Chúa chúng ta (Kh 5,10), họ sẽ là tư
tế của Thiên Chúa và của Đức Kitô, họ sẽ hiển trị với Đức Kitô (Kh 20,6). Những đoạn Kinh Thánh này gợi
lại Biến cố Xuất hành và ứng dụng điều đã được nói về dân Ít-ra-en cũ cho Dân Ít-ra-en mới: Các ngươi sẽ
là sở hữu riêng của Ta giữa hết mọi dân; vì toàn cõi đất đều là của Ta, và Ta sẽ coi các ngươi là một vương
quốc tư tế, một dân thánh (Xh 19, 5-6). Chúng cũng gợi lại sách Đệ nhị luật: Anh em là một dân thánh hiến
cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em; Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã chọn anh em từ giữa muôn
dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người (Dt 7,6).
Nếu chức tư tế phổ quát là kết quả của sự kiện Dân Ki-tô giáo được Thiên Chúa tuyển chọn như một
chiếc cầu nối với nhân loại và mọi tín hữu thuộc về đoàn dân này, chức tư tế thừa tác là hoa quả của một
tuyển chọn, của một ơn gọi đặc biệt: Người kêu gọi các môn đệ, và tuyển chọn mười hai vị (Lc 6, 13-16).
Nhờ chức tư tế thừa tác, người tín hữu được gây ý thức về chức tư tế phổ quát của họ và thực thi chức tư tế
ấy
(x. Ep 4, 11-12); các linh mục nhắc nhở họ rằng họ là đoàn dân của Thiên Chúa và làm cho họ có khả năng
dâng những của lễ thiêng liêng (x. 1 Pr 2,5), qua đó chính Đức Ki-tô làm chúng ta thành một quà tặng vĩnh
cửu dâng lên Chúa Cha (x. 1 Pr 3,18). Nếu không có sự hiện diện của Đức Ki-tô được linh mục đại diện,
người lãnh đạo mang ấn tín bí tích của cộng đoàn, thì cộng đoàn đó không phải là một cộng đoàn giáo hội
viên mãn. 1250
Trong dân tư tế này, Chúa đã thiết lập chức tư tế thừa tác mà một số người được kêu gọi để có thể
phục vụ các tín hữu qua đức ái mục tử nhờ potestas sacra (quyền năng thánh). Chức tư tế phổ quát và chức
tư tế thừa tác không chỉ khác nhau trong cấp độ, nhưng cả trong bản chất. 1251 Do vậy, sự khác biệt giữa hai
chức tư tế không chỉ là tham dự nhiều hay ít hơn vào chức Tư tế của Đức Ki-tô, nhưng là khác biệt về bản
chất của cách tham dự vào chức tư tế ấy. Chức tư tế của người tín hữu đặt nền tảng trên ấn tín của bí tích
Thánh Tẩy, tức là trên dấu ấn thiêng liêng xác nhận họ được dành riêng cho Đức Ki-tô. Chức tư tế đó cho
phép và giao cho các ki-tô hữu nhiệm vụ phụng sự Thiên Chúa, qua việc tham dự một cách sinh động vào
phụng vụ của Hội Thánh và thi hành chức tư tế phổ quát bằng chứng tá của đời sống thánh thiện và việc bác
ái thiết thực. 1252
Mặt khác, chức tư tế thừa tác đặt nền tảng trên ấn tín của Bí tích Truyền chức thánh, là bí tích làm cho
người linh mục nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, để có thể hành động trong tư cách của Đức Ki-tô,
Thủ lãnh, và thi hành potestas sacra qua việc dâng Hi Lễ và ban ơn tha tội. 1253 Một sứ mạng mới và đặc biệt
được thông ban qua bí tích cho những người chịu phép rửa đã lãnh nhận ân sủng của chức tư tế thừa tác : đó
là thi hành ba chức vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của Đức Ki-tô, trong tư cách là Thủ lãnh và Mục tử của
Hội Thánh 1254 giữa đoàn dân Thiên Chúa. Trong khi thi hành những chức vụ đặc biệt này, các linh mục hành
động in persona Christi Capitis (trong tư cách của Chúa Ki-tô là Đầu) và vì thế, cùng một cách thức ấy, họ
hành động nhân danh Hội Thánh. 1255
7. Vì thế, chức tư tế do bí tích vừa có tính chất phẩm trật vừa có tính chất thừa tác. Đó là một tác vụ đặc biệt,
một việc phục vụ đối với cộng đoàn tín hữu. Tuy nhiên, chức tư tế ấy không bắt nguồn từ cộng đoàn, cũng
không phát sinh do yêu cầu hay sự uỷ thác của cộng đoàn. Đúng hơn, thừa tác vụ ấy là một ân ban cho cộng
đoàn, phát xuất từ chính Đức Ki-tô và chức tư tế sung mãn của Người (…) Nhận thức điều đó, chúng ta hiểu
chức tư tế của chúng ta có tính chất phẩm trật như thế nào, nghĩa là nó nối kết với quyền đào tạo và quản trị
một dân tộc tư tế như thế nào (x. Lumen Gentium, số 10), và chính vì thế, mà chức tư tế cũng có tính chất
thừa tác như thế nào. Chúng ta thi hành một chức vụ, qua đó Đức Ki-tô không ngừng phụng sự Chúa Cha
qua công trình cứu độ chúng ta. Toàn thể cuộc đời linh mục của chúng ta là và phải là một cuộc đời được
thấm nhiễm bởi sự phục vụ ấy, nếu chúng ta muốn tiến dâng Lễ tế Tạ ơn một cách xứng hợp in persona
Christi. 1256
Trong thời gian qua, Hội Thánh đã gặp phải những vấn đề về căn tính Linh mục, đôi khi nảy sinh từ sự
hiểu biết không rõ ràng về hai cách tham dự vào chức tư tế của Đức Ki-tô trên bình diện thần học. Trong
một vài lãnh vực, những khó khăn này đã đi đến mức phá hủy sự cân bằng sâu xa của Giáo hội, vốn là tính
chất đặc thù của Huấn quyền ngàn đời và đích thực.
Tuy nhiên, ngày nay, các hoàn cảnh đã đổi thay, nên có thể vượt qua mối nguy giáo sĩ hoá giáo dân và
tục hoá hàng giáo sĩ.
Sự dấn thân quảng đại của hàng giáo dân trong lãnh vực phụng tự, truyền bá đức tin và cộng tác mục
vụ, trước tình trạng thiếu hụt linh mục, đã khiến một số thừa tác viên có chức thánh và giáo dân vượt quá
giới hạn cho phép bởi Giáo hội và bởi khả năng do hữu thể và bí tích của riêng mình. Điều này đưa đến việc
xem nhẹ về phương diện lý thuyết và thực hành sứ mạng riêng của người giáo dân là thánh hoá các cơ cấu
xã hội từ bên trong.
Chính khủng hoảng về căn tính này cũng đã gây ra sự tục hoá nơi một vài thừa tác viên chức thánh,
khi làm lu mờ vai trò riêng biệt và hoàn toàn không thể thiếu của họ trong sự hiệp thông giáo hội.
8. Trong Hội Thánh, người linh mục, alter Christus, là tác viên của những hành đông thiết yếu đem lại ơn
cứu độ. 1257 Hành động trong tư cách của Đức Ki-tô là Đầu, linh mục là nguồn mạch sự sống và sức sống
trong Giáo hội, và trong giáo xứ của mình, nhờ quyền tế lễ làm nên Mình và Máu thánh Đấng Cứu thế, nhờ
quyền công bố Tin mừng và chiến thắng sự dữ của tội lỗi qua bí tích Giải tội. Bản thân người linh mục
không phải là nguồn mạch sự sống thiêng liêng. Đúng hơn, sự sống ấy bắt nguồn từ Đấng ban phát sự sống
thiêng liêng cho toàn Dân Thiên Chúa. Người linh mục, được Thánh thần xức dầu, là người tôi tớ đi vào
cung thánh mang tính bí tích (santuario sacramentale) : đó là Đức Giê-su Ki-tô Chịu đóng đinh (x. Ga 19,
31-37) và sống lại, từ đó xuất phát ơn cứu độ.
Cùng với Đức Ma-ri-a, Mẹ của vị Thượng tế Vĩnh cửu, linh mục ý thức rằng, cùng với Mẹ, họ là một khí
cụ của sự hiệp nhất cứu độ giữa Thiên Chúa và con người, mặc dù theo những cách thức khác nhau : với Đức
Trinh nữ thì thông qua mầu nhiệm Nhập thể, còn với người linh mục thì thông qua Bí tích Truyền chức thánh.
1258 Mối tương quan giữa linh mục và Đức Trinh nữ Ma-ri-a không chỉ dựa trên nhu cầu bảo trợ và nâng đỡ,
nhưng còn hơn thế nữa dựa trên nhận thức về một sự kiện khách quan: sự hiện diện của Mẹ chúng ta, một sự
hiện diện có tác dụng làm cho Giáo hội sống mầu nhiệm Đức Ki-tô. 1259
9. Trong tư cách của một người tham gia vào hành động lãnh đạo của Đức Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử của
Nhiệm thể, 1260 người linh mục, trên bình diện mục vụ, đặc biệt có vai trò trở nên con người của sự hiệp
thông, 1261 quản trị và phục vụ mọi người. Người linh mục có trách nhiệm cổ võ và duy trì mối hiệp nhất giữa
các chi thể với Đầu, và giữa các chi thể với nhau. Do ơn gọi, người linh mục liên kết và phục vụ hai chiều
kích ấy của chức mục tử của Đức Ki-tô (x. Mt 20,28; Mc 10, 45; Lc 22, 27). Để phát triển, đời sống Giáo
hội cần phải có những sinh lực mà chỉ thừa tác vụ hiệp thông, quản trị và phục vụ mới có thể cung cấp. Điều
đó đòi buộc các linh mục, là những người đồng hoá hoàn toàn với Đức Ki-tô, Đấng ban phát ơn gọi, phải
hoàn toàn thuộc về Người. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người, trong và với Đức Ki-tô, sống
những nhân đức được thể hiện nơi Đức Ki-tô Mục tử, và tìm ánh sáng, đồng hoá với hiến lễ hôn ước mà Con
Thiên Chúa chịu đóng dinh và sống lại dành cho nhân loại được cứu chuộc và đổi mới. Điều đó đòi buộc các
linh mục phải là những người mong muốn trở nên nguồn mạch sự hiệp nhất và tự hiến cho mọi người trong
tình huynh đệ – nhất là cho những người thiếu thốn. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người, một
khi ý thức rằng căn tính linh mục của họ bắt nguồn từ Vị Mục tử Tốt lành, 1262 mang lấy hình ảnh đó trong nội
tâm và biểu lộ hình ảnh ấy ra bên ngoài bằng một cung cách mà mọi người dễ dàng nhìn thấy. 1263
Người linh mục làm cho Đức Ki-tô, Thủ lãnh của Hội Thánh, hiện diện qua thừa tác vụ của Lời, tức là
chia sẻ chức vụ ngôn sứ của Người. 1264 Trong tư cách và nhân danh Đức Ki-tô, người linh mục là thừa tác
viên của lời có tác dụng phúc âm hoá, tức là lời mời gọi mọi người hoán cải và nên thánh. Linh mục là tác
viên của lời tôn thờ, tức là lời chúc tụng sự cao cả của Thiên Chúa và cảm tạ lòng thương xót của Người.
Linh mục là tác viên của lời của các bí tích, vốn là nguồn mạch đầy hiệu năng của ân sủng. Bằng những
cách thức khác nhau ấy, linh mục, với quyền năng Thánh thần, kéo dài giáo huấn của Đức Ki-tô trong Giáo
hội của Người.
b) Thống nhất đời sống
10. Do bởi tác vụ được uỷ thác cho các linh mục, vốn tự bản chất là một sự đồng hoá thánh thiện và có tính
bí tích với Đức Giê-su Ki-tô, các linh mục có một lý do mạnh hơn để nỗ lực sống thánh thiện. Điều này
không có nghĩa là sự thánh thiện mà linh mục được kêu gọi thì cao cả hơn sự thánh thiện mà mọi tín hữu
khác được kêu gọi nhờ bí tích Thánh tẩy. Sự thánh thiện chỉ là một, 1265 tuy có nhiều cách diễn tả khác
nhau. 1266 Tuy vậy, người linh mục được thúc đẩy để nỗ lực sống thánh thiện vì một lý do khác: để xứng đáng
với ân sủng mới được ghi dấu ấn trên linh mục, để ngài có thể đại diện cho Đức Ki-tô Thủ lãnh và Mục tử,
và vì thế, ngài trở nên dụng cụ sinh động cho công trình cứu độ. 1267 Do vậy, trong khi thi thành thừa tác vụ,
người linh mục, sacerdos in aeternum (tư tế đời đời), phải nỗ lực dõi theo mẫu gương của Chúa trong mọi
sự, bằng cách kết hiệp với Người để nhận ra Thánh ý Chúa Cha, và tự hiến cho đoàn chiên. 1268 Thống nhất
đời sống, 1269 hay sự thống nhất nội tâm 1270 giữa đời sống thiêng liêng và hoạt động thừa tác, đặt nền móng
trên tình yêu đối với Thánh ý Thiên Chúa và bác ái mục tử. 1271 Sự thống nhất đời sống, đặt nền tảng trên bác
ái mục tử, sẽ tăng triển nhờ một đời sống cầu nguyện kiên trì, ngõ hầu người linh mục vừa trở nên chứng
nhân của đức ái, vừa trở nên thầy dạy đời sống thiêng liêng.
11. Lịch sử Giáo hội tỏa ngát hương thơm nhờ những gương mẫu tuyệt vời của việc tự hiến thật sự triệt để
trong mục vụ. Trong số đó có đông đảo những linh mục thánh đã đạt đến sự thánh thiện qua việc cống hiến
cách quảng đại và không mệt mỏi cho việc chăm sóc các linh hồn, sống cuộc đời khổ chế và có một đời sống
thiêng liêng thâm sâu, chẳng hạn Cha sở họ Ars, quan thầy các linh mục chính xứ. Các vị mục tử này, tiêu
hao vì tình yêu Chúa Ki-tô và nhiệt thành trong bác ái mục tử, là biểu hiện sống động của Tin mừng.
Một vài trào lưu trong nền văn hoá hiện đại xem nhân đức, khổ chế và đời sống thiêng liêng như
những hình thức nội quan, tha hoá và ích kỷ, không thể hiểu biết những vấn đề của thế giới và con người.
Đôi khi, điều này đã dẫn đến một hình ảnh có nhiều dạng khác nhau về người linh mục: từ nhà xã hội học
đến bác sĩ trị liệu, từ nhà chính trị đến nhà quản trị. Nó còn dẫn đến ý tưởng linh mục về hưu. Trong bối
cảnh này, cần nhắc lại rằng linh mục là người mang lấy trong cả cuộc đời sự thánh hiến tác động trên hữu
thể. Căn tính cơ bản của người linh mục cần phải tìm thấy nơi ấn tín được ghi khắc trên người ấy qua bí tích
Truyền chức thánh và từ đó phát xuất ân ban mục vụ. Vì thế, linh mục phải luôn luôn biết điều mình phải
làm, đúng như một linh mục. Như thánh Gio-an Bốt-cô nói: người linh mục là một linh mục trên bàn thờ, là
một linh mục trong toà giải tội, là một linh mục nơi học đường, là một linh mục ngoài đường phố; quả thực,
ngài là một linh mục khắp mọi nơi. Trong vài hoàn cảnh hiện nay, một số linh mục nghĩ rằng thừa tác vụ của
họ ở ngoài lề cuộc sống, trái lại, nó thật sự nằm ở trung tâm cuộc sống, vì nó có khả năng soi sáng, hoà giải
và đổi mới mọi sự.
Có thể xảy ra là một số linh mục, khởi sự tác vụ với tràn trề nhiệt huyết và lý tưởng, đã rơi vào bất
mãn, vỡ mộng và kinh nghiệm cả sự thất bại nữa. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này: thiếu sót
trong việc huấn luyện, thiếu tình huynh đệ trong hàng Linh mục giáo phận, sống cô lập, hay thiếu sự nâng
đỡ của Giám mục 1272 và cộng đoàn, những vấn đề cá nhân, sức khoẻ, đau khổ vì không thể tìm thấy câu trả
lời hay giải pháp cho các vấn đề, lơ là trong đời sống khổ chế, bỏ bê đời sống thiêng liêng hay ngay cả thiếu
đức tin.
Thật thế, một thừa tác vụ năng động không đặt nền tảng trên một linh đạo linh mục vững chắc sẽ
nhanh chóng trở thành một hoạt động rỗng tuếch, không có đặc tính ngôn sứ. Hiển nhiên, sự thống nhất đời
sống của người linh mục bị phân hoá trước tiên là do suy giảm lòng bác ái mục tử, có nghĩa là suy giảm tình
yêu tha thiết đối với mầu nhiệm mà người linh mục cưu mang trong lòng vì lợi ích của Hội Thánh và nhân
loại. 1273
Dành thời giờ để đàm thoại thân mật và thờ lạy Vị Mục tử nhân lành, hiện diện trong Bí tích cực thánh
trên bàn thờ, là một ưu tiên mục vụ trổi vượt hơn bất cứ việc mục vụ nào khác. Mỗi Linh mục, người lãnh
đạo cộng đoàn, phải chú trọng đến ưu tiên đó, để bảo đảm rằng mình không trở nên cằn cỗi về mặt thiêng
liêng, hay trở nên một máng nước khô cạn không còn có thể thông ban bất cứ điều gì cho ai nữa.
Đời sống thiêng liêng hẳn là mối bận tâm quan trọng nhất của mục vụ. Bất cứ sáng kiến mục vụ,
chương trình truyền giáo hay nỗ lực phúc âm hoá nào lẩn tránh chỗ đứng ưu tiên của đời sống thiêng liêng
và việc phụng thờ Thiên Chúa, rốt cuộc sẽ đi đến thất bại.
c) Hành trình nên thánh
12. Chức Linh mục thừa tác, trong mức độ đồng hình với đời sống và hoạt động tư tế của Đức Ki-tô, sẽ giới
thiệu một chiều kích mới của đời sống thiêng liêng cho những ai lãnh nhận ân ban quý báu nhất này. Đó là
một đời sống thiêng liêng dựa trên sự tham dự vào tư cách thủ lãnh của Đức Ki-tô trong Hội Thánh của
Người, đời sống đó trở nên hoàn thiện thông qua việc phục vụ có tính thừa tác cho Hội Thánh: đó là sự
thánh thiện trong thừa tác vụ và qua thừa tác vụ.
13. Vì thế, đào sâu ý thức mình là một thừa tác viên của Đức Giê-su Ki-tô 1274 có một tầm quan trọng sinh
tử đối với đời sống thiêng liêng của linh mục và hiệu năng của chính tác vụ. Mối tương quan có tính thừa tác
với Đức Giê-su làm phát sinh và đòi hỏi người linh mục, một sự ràng buộc chặt chẽ hơn, phát xuất từ chủ ý
của người linh mục, tức là ý thức và tự do chọn lựa làm điều Hội Thánh muốn làm trong các hoạt động thừa
tác của mình. 1275 Câu “làm điều Hội Thánh muốn làm trong các hoạt động thừa tác của mình” soi sáng cho
đời sống thiêng liêng của các tác viên có chức thánh và mời gọi họ nhận thức rõ ràng hơn mình là dụng cụ
để phục vụ Đức Ki-tô và Hội Thánh, và biểu lộ điều đó một cách cụ thể qua các hoạt động thừa tác của
mình. Chủ ý, theo nghĩa này, nhất thiết bao hàm một mối tương quan với các hành động của Đức Ki-tô trong
và qua Hội Thánh. Nó cũng bao hàm sự vâng phục Thánh ý Người, trung thành với huấn lệnh của Người và
ngoan ngùy với tác động của Người: tác vụ thánh là dụng cụ, qua đó Đức Ki-tô và Nhiệm thể Người là Hội
Thánh, hoạt động.
Đây là tư thế thường xuyên của cá nhân người linh mục: Mối giây ràng buộc này, tự chính bản chất,
nhằm tác động một cách sâu rộng bao nhiêu có thể, trên lối suy tư, cảm nghĩ và chính đời sống của một
người: nói cách khác, tạo ra một loạt những tư thế luân lý và thiêng liêng tương ứng với những hành động
thừa tác mà người linh mục thực hiện. 1276
Linh đạo của linh mục đòi hỏi một bầu khí là sự gần gũi thân mật với Đức Giê-su Ki-tô, tình bằng hữu
và gặp gỡ cá vị với Người, chia sẻ sứ mạng thừa tác, yêu thương và phục vụ dành cho Người hiện diện trong
Nhiệm thể và Hiền thê của Người là Hội Thánh. Sống mầu nhiệm Hội Thánh và hiến thân phục vụ Hội
Thánh trong tác vụ, bao hàm một tình yêu thâm sâu đối với Chúa Giê-su Ki-tô. Bởi thế, bác ái mục tử đặc
biệt tuôn trào từ hi tế Thánh thể. Vì thế hi tế này là trung tâm và gốc rễ của toàn thể đời sống của người linh
mục, để tâm hồn người linh mục biến điều diễn ra trên bàn thờ thành của riêng mình. Nhưng điều này không
thể thực hiện, trừ phi chính người linh mục tiến sâu vào mầu nhiệm Chúa Ki-tô qua đời sống cầu nguyện. 1277
Trong việc thấu hiểu mầu nhiệm ấy, Đức Nữ trinh Ma-ri-a, hiệp cùng Đấng Cứu chuộc, đến trợ giúp
chúng ta, vì khi chúng ta cử hành Thánh lễ, thì Mẹ của Con Thiên Chúa ở giữa chúng ta và dẫn chúng ta đi
vào mầu nhiệm hy tế cứu độ của Người. Như thế, Mẹ là trung gian mọi ân sủng tuôn trào từ hy tế này trên
Giáo hội và mọi tín hữu. 1278 Thật vậy, Đức Ma-ri-a kết hiệp với hy tế linh mục của Đức Ki-tô một cách độc
đáo, bằng cách chia sẻ ý muốn cứu chuộc thế giới của Người nhờ cây Thập giá. Mẹ là người đầu tiên tham
dự cách hoàn hảo trên bình diện thiêng liêng vào sự dâng hiến của Người trong tư cách là Tư tế và như là tế
phẩm. Như vậy, Mẹ có thể thâu nhận và trao ban cho những người chia sẻ thừa tác vụ linh mục của Con Mẹ,
ân sủng là hết mình đáp trả lại những đòi hỏi của hi tế thiêng liêng mà chức linh mục đòi buộc: đặc biệt Mẹ
có thể thâu nhận và trao ban ơn đức tin, đức cậy và kiên nhẫn khi đương đầu với những thử thách, những thử
thách này kích thích tham gia một cách quảng đại hơn vào hi tế cứu độ. 1279
Đối với người linh mục, Bí tích Thánh Thể phải chiếm giữ vị trí trung tâm, cả trong thừa tác vụ lẫn
trong đời sống thiêng liêng, 1280 bởi vì tất cả lợi ích thiêng liêng của Hội Thánh phát sinh từ Bí tích Thánh
Thể, cội nguồn và chóp đỉnh của mọi công cuộc phúc âm hoá. 1281 Vì thế quả là quan trọng việc chuẩn bị cách
thích đáng trước khi dâng hi tế Thánh lễ, cử hành thánh lễ mỗi ngày, 1282 cám ơn và viếng Thánh thể trong
ngày.
14. Ngoài việc cử hành Thánh lễ mỗi ngày, linh mục còn cử hành Phụng vụ các giờ kinh, một đòi buộc mà
người linh mục sẵn lòng hiểu là đòi buộc nhặt. Linh mục tăng cường tình yêu đối với Vị Mục tử Thần linh
và làm cho Người hiện diện cho người tín hữu, từ hy tế trên bàn thờ cho đến việc cử hành Thần vụ với toàn
thể Giáo hội. Linh mục nhận lãnh đặc ân đàm thoại với Thiên Chúa nhân danh hết thảy mọi người, bởi thế
dường như ngài trở nên môi miệng của Hội Thánh. 1283 Qua Thần vụ, ngài bổ khuyết những gì còn thiếu trong
việc ngợi khen của Đức Ki-tô, và với tư cách một đại diện chính thức, lời chuyển cầu của người linh mục
cho việc cứu độ thế giới được kể vào số những lời chuyển cầu có hiệu lực nhất. 1284
d) Sự trung thành của linh mục đối với kỷ luật Giáo hội
15. Ý thức mình là một thừa tác viên bao hàm ý thức về hệ thống tổ chức của Thân Mình Đức Ki-tô. Để phát
triển, đời sống và sứ mạng của Hội Thánh cần có trật tự, luật lệ, quy tắc đạo đức – tóm lại, đó là hệ thống kỷ
luật. Phải loại trừ thành kiến đối với kỷ luật của Giáo hội, ngay khi có dấu hiệu. Cũng phải vượt qua nỗi e
ngại khi trưng dẫn kỷ luật của Giáo hội hay yêu cầu thực hiện đòi hỏi của kỷ luật. Một khi những quy tắc kỷ
luật của Giáo hội được tôn trọng, sẽ tránh được những căng thẳng. Nếu không, những căng thẳng đó sẽ làm
tổn thương hiệu năng của sự hiệp nhất mục vụ mà Hội Thánh cần có để chu toàn sứ mạng phúc âm hoá.
Việc đón nhận cách trưởng thành những trách nhiệm của tác vụ đương nhiên chấp nhận rằng Giáo hội được
tổ chức như một cơ cấu xã hội hữu hình cũng phải có những quy tắc : để cơ cấu phẩm trật và cơ cấu tổ chức
được rõ ràng; để việc thi hành những chức năng Thiên Chúa uỷ thác cho Giáo hội, nhất là chức năng thuộc
thánh chức và cử hành các bí tích, có thể được tổ chức thích đáng. 1285
Ý thức mình là thừa tác viên của Đức Ki-tô và Nhiệm thể của Người, cũng ám chỉ sự trung thành với ý
muốn của Hội Thánh như được trình bày trong quy tắc giáo luật. 1286 Mục tiêu của Giáo luật là giúp đời sống
ki-tô hữu hoàn thiện hơn, để có thể hoàn thành tốt hơn sứ mạng cứu độ của Hội Thánh. Do đó, luật pháp
phải được tôn trọng với lòng chân thành và thiện ý.
Trong số những khía cạnh khác nhau của kỷ luật của Giáo hội, sự tuân phục đối với những luật lệ và
quy định Phụng vụ của Giáo hội, nghĩa là trung thành với các quy tắc tổ chức việc phụng thờ Thiên Chúa
đúng theo ý muốn của Linh mục Thượng phẩm Đời đời và Nhiệm thể của Người, có tầm quan trọng đặc
biệt. Phụng vụ thánh là việc thực thi chức tư tế của Đức Giê-su Ki-tô, 1287 một hành động linh thánh trổi vượt,
chóp đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Hội Thánh (và) là nguồn mạch từ đó mọi quyền bính của Hội
Thánh tuôn trào. 1288 Do đó, trong lãnh vực này, người linh mục còn phải ý thức hơn mình là một tác viên và
bị đòi buộc phải hành động cho phù hợp với những lời cam kết mà ngài đã tự nguyện và long trọng tuyên
hứa trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh. Việc ấn định các Quy tắc Phụng vụ chỉ thuộc thẩm quyền của
Giáo hội, tức là Toà thánh và trong những điều Giáo luật quy định, thuộc thẩm quyền giám mục Không ai
khác, ngay cả linh mục, được phép thêm bớt hay thay đổi bất cứ điều gì trong phụng vụ theo ý mình. 1289 Thái
độ tự tiện, những diễn tả chủ quan, những ngẫu hứng, thái độ không tuân phục trong việc cử hành Thánh lễ
rõ ràng trái nghịch với bản chất của Thánh lễ, tức là hy tế của Đức Ki-tô. Điều đó cũng áp dụng cho việc cử
hành các bí tích khác, nhất là bí tích Giải tội, qua đó những hối nhân muốn canh tân đời sống, được tha thứ
tội lỗi và giải hoà với Giáo hội. 1290
Cũng thế, người linh mục phải ân cần khuyến khích giáo dân tham dự Phụng vụ thánh cách tích cực và
ý thức, vì Hội Thánh cổ võ một sự tham dự như thế. 1291 Có những phận vụ trong Phụng vụ có thể được thi
hành do những người không có chức thánh. Tuy nhiên, những phận vụ khác hoàn toàn dành riêng cho các
tác viên có chức thánh. 1292 Tôn trọng các bậc sống khác nhau và tính chất bổ trợ trong sứ mạng của Hội
Thánh, đòi hỏi phải thận trọng tránh mọi lẫn lộn trong vấn đề này.
e) Linh mục trong cộng đoàn Giáo hội
16. Để phục vụ Hội Thánh, vốn được tổ chức thành một cộng đoàn hữu hình bao gồm các tín hữu có cùng
một phẩm giá do bí tích Thánh tẩy và khác biệt về đoàn sủng và chức năng, điều cần thiết là phải biết và yêu
mến Hội Thánh như Hội Thánh là theo ý muốn của Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Sáng lập Hội Thánh, chứ
không như các triết thuyết hay ý thức hệ chóng qua đã trình bày. Chức năng thừa tác nhằm phục vụ cộng
đoàn, đặt nền tảng trên sự đồng hình với Đức Ki-tô, đòi hỏi một sự hiểu biết và tôn trọng đối với vai trò
riêng của giáo dân và khuyến khích bằng mọi cách có thể, để mọi người đảm nhận những trách nhiệm riêng
của họ. Người linh mục phục vụ cộng đoàn. Ngài cũng được cộng đoàn nâng đỡ. Ngài cần giáo dân đóng
góp cách đặc biệt, không chỉ trong việc tổ chức và điều hành cộng đoàn, nhưng cả trong đức tin và bác ái: có
một ảnh hưởng hỗ tương nào đó giữa đức tin của linh mục và đức tin của giáo dân. Gia đình ki-tô giáo và
cộng đoàn nhiệt tâm thường đã nâng đỡ các linh mục trong những lúc các ngài gặp khủng hoảng. Cũng vậy,
điều hết sức quan trọng là người linh mục cần hiểu, quý mến và trân trọng bản chất của đời sống thánh hiến
là đi theo Đức Ki-tô, đó là một kho tàng quý giá của Hội Thánh và là bằng chứng Thánh thần hoạt động
trong Hội Thánh.
Trong mức độ các linh mục là dấu chỉ sống động và tôi tớ phục vụ sự hiệp thông trong Hội Thánh, các
ngài trở nên thành phần của sự hiệp nhất sống động của Hội Thánh trong thời gian, tức là Thánh truyền, mà
Huấn quyền là người trông coi và bảo đảm. Nhờ quy chiếu vào Thánh truyền, thừa tác vụ linh mục có được
một nền tảng vững chắc và một chứng từ khách quan về sự Thật, đã tỏ lộ trong Đức Ki-tô và được mạc khải
trong lịch sử. Điều đó giúp ngăn ngừa sự ham thích chạy theo cái mới lạ, vốn làm tổn thương sự hiệp thông
và làm tiêu tan sự sâu sắc và tính khả tín của tác vụ linh mục.
Linh mục chính xứ được mời gọi kiên trì xây dựng sự hiệp thông trong giáo xứ của mình và Giáo hội
địa phương, cũng như với Giáo hội hoàn vũ. Ngài phải là gương mẫu của sự gắn bó với Huấn quyền trường
cửu và kỷ luật của Giáo hội.
f) Ý thức đến chiều kích phổ quát trong cái đặc thù
17. Linh mục cần ý thức rằng việc ngài thuộc về một Giáo hội địa phương, do tự bản chất, là một yếu tố có ý
nghĩa trong việc sống linh đạo ki-tô giáo. Theo chiều hướng đó, người linh mục tìm thấy cách chính xác
trong việc ngài thuộc về và hiến mình cho một Giáo hội địa phương, một sự phong phú về ý nghĩa, về tiêu
chuẩn để biện phân và về hành động, định hướng cho cả sự biện phân mục vụ lẫn đời sống thiêng liêng của
mình. 1293 Đây là một điểm quan trọng cần phải hiểu biết rõ ràng thế nào để cho mối bận tâm thuộc về và hiến
mình cho Giáo hội địa phương không giới hạn hoạt động và đời sống người linh mục cho một mình Giáo hội
ấy: không thể có một sự hạn chế kiểu ấy, căn cứ trên chính bản chất của cả Giáo hội địa phương lẫn thừa tác
vụ linh mục. 1294
Khái niệm nhập tịch, như đã điều chỉnh bởi Công đồng Va-ti-ca-nô II và sau đó được đưa vào Giáo
luật, 1295 khắc phục mối nguy hiểm là giới hạn quá chặt chẽ thừa tác vụ linh mục không chỉ vào tiêu chuẩn địa
lý, nhưng nhất là vào tiêu chuẩn tâm lý và ngay cả thần học nữa. Việc thuộc về một Giáo hội địa phương và
phục vụ cho sự hiệp thông nội bộ của Giáo hội ấy, vốn là những yếu tố thuộc chiều kích giáo hôi, cũng kết
hợp cách cơ bản vào đời sống và hoạt động của các linh mục, đồng thời đem lại cho chúng một cấu trúc đặc
thù bao gồm các đối tượng và mục tiêu mục vụ xác định, những dấn thân cá nhân vào các nhiệm vụ riêng
biệt, những cuộc gặp gỡ mục vụ và chia sẻ các mối quan tâm. Để hiểu và yêu mến Giáo hội địa phương cách
hiệu quả hơn, gắn bó và hiến thân nhiệt tình hơn, phục vụ đến mức hy sinh chính bản thân để được thánh
hoá nhờ Hội Thánh, các tác viên có chức thánh phải luôn luôn ý thức rằng Giáo hội hoàn vũ là một thực thể
ưu việt hơn mọi Giáo hội địa phương, về phương diện hữu thể và trần thế. Quả thế, Giáo hội hoàn vũ không
phải là tổng số tất cả các Giáo hội địa phương. Các Giáo hội địa phương, trong và với Giáo hội hoàn vũ,
phải cởi mở đón nhận thực tại là sự hiệp thông đích thật về nhân sự, đoàn sủng và truyền thống thiêng liêng,
vốn vượt lên trên mọi biên giới địa dư, tâm lý và tri thức. Các linh mục phải ý thức hết sức rõ ràng rằng Hội
Thánh là duy nhất. Tính phổ quát và công giáo phải luôn luôn thâm nhập vào cái đặc thù. Một mối dây hiệp
thông sâu xa, chân thực và sinh động với Toà thánh Phê-rô, là bảo đảm và điều kiện thiết yếu. Đón nhận,
phổ biến và nhiệt tâm áp dụng các văn kiện của Đức giáo hoàng và các văn kiện khác do các Thánh bộ tại
Giáo triều Rô-ma ban hành, là những biểu lộ cụ thể.
Cho tới nay, chúng ta đã xem xét về đời sống và công việc của mọi Linh mục. Trong phần sau, chúng
ta tập trung suy tư về những người được chỉ định cách riêng vào chức vụ Linh mục chính xứ.
Phần II :
GIÁO XỨ VÀ NHIỆM VỤ LINH MỤC CHÍNH XỨ
Giáo xứ và Linh mục chính xứ
18. Những khía cạnh giáo hội học quan trọng nhất về khái niệm giáo xứ trên bình diện thần học-giáo luật, đã
được Công đồng Va-ti-ca-nô II xem xét dưới ánh sáng của Truyền thống, giáo thuyết công giáo và giáo hội
học về hiệp thông. Sau đó, chúng được quy định thành các điều khoản trong bộ Giáo luật. Giáo huấn của các
Đức Giáo hoàng sau Công đồng, mặc nhiên hay minh nhiên, đã triển khai những khía cạnh đó dưới những
góc cạnh khác nhau, nhưng luôn luôn quy chiếu về chức Linh mục thừa tác. Một bản tóm tắt những chủ đề
chính yếu về phương diện tín lý, thần học và giáo luật nẩy sinh từ chất liệu này sẽ hữu ích, nhất là để đưa ra
một giải đáp hữu hiệu hơn cho những thách đố mục vụ mà thừa tác vụ giáo xứ của các linh mục đang đương
đầu vào buổi bình minh của ngàn năm thứ ba.
Bằng phép loại suy, phần lớn những điều nói về vai trò lãnh đạo của các linh mục chính xứ, cũng áp
dụng cho các linh mục phụ tá trong các giáo xứ cũng như các linh mục được bổ nhiệm vào những nhiệm vụ
mục vụ đặc biệt như tuyên uý trại giam, bệnh viện và trường học và các linh mục được giao nhiệm vụ chăm
sóc cho những người di dân và du lịch v.v
Giáo xứ là một cộng đoàn ki-tô hữu nhất định, được thành lập cách cố định trong một Giáo hội địa
phương, mà việc chăm sóc mục vụ được uỷ thác cho một linh mục chính xứ như là chủ chăn riêng của giáo
xứ ấy, dưới quyền của Giám mục giáo phận 1296 . Do đó, toàn thể đời sống của giáo xứ, cũng như ý nghĩa của
những dấn thân hoạt động tông đồ cho xã hội, phải được hiểu và sống trong mối tương quan của sự hiệp
thông hữu cơ giữa chức linh mục phổ quát của tín hữu và chức linh mục thừa tác; của sự cộng tác huynh đệ
và năng động giữa chủ chăn và tín hữu, trong sự tôn trọng tuyệt đối các quyền hạn, bổn phận và chức năng
của mỗi bên, và sự nhìn nhận hỗ tương khả năng và trách nhiệm riêng của họ. Linh mục chính xứ, hiệp
thông chặt chẽ với Giám mục và với giáo dân của mình phải tránh đưa vào tác vụ mục vụ mọi hình thức độc
tài và những hình thức điều hành dân chủ xa lạ với thực tại thâm sâu của thừa tác vụ. 1297 Về điểm này, Huấn
thị liên Bộ Ecclesia de Mysterio, được Đức Thánh Cha phê chuẩn in forma specifica, vẫn còn đầy đủ hiệu
lực. Áp dụng toàn bộ Huấn thị này bảo đảm sự thực hành đúng đắn trong Giáo hội, đó là điều cơ bản cho
chính đời sống của Giáo hội.
Mối dây ràng buộc bên trong với cộng đoàn Giáo phận và Giám mục, và sự hiệp thông phẩm trật với
Đấng kế vị thánh Phê-rô, bảo đảm cho tư cách thành viên của Giáo xứ trong Giáo hội hoàn vũ. Do đó, cộng
đoàn giáo xứ là một phần của giáo phận (pars dioecesis) 1298 được linh hoạt bởi cùng một tinh thần hiệp thông,
một tinh thần đồng trách nhiệm có trật tự do bí tích Thánh tẩy, một đời sống phụng vụ chung mà trung tâm
là việc cử hành Thánh lễ 1299 và một tinh thần truyền giáo chung được cộng đoàn ấy chia sẻ. Thực vậy, mỗi
giáo xứ đặt nền móng trên một thực tại thần học, vì nó là một cộng đoàn Thánh thể. 1300 Điều này có nghĩa
giáo xứ là một cộng đoàn hoàn toàn xứng hợp để cử hành Thánh lễ, là nguồn mạch sống động để xây dựng
cộng đoàn và là mối ràng buộc có tính bí tích làm cho cộng đoàn hiệp thông đầy đủ với toàn thể Hội Thánh.
Sự thích đáng như thế bắt nguồn từ sự kiện giáo xứ là một cộng đoàn đức tin và là một cộng đoàn hữu cơ,
tức là được cấu thành bởi các tác viên có chức thánh và các ki-tô hữu khác, trong đó, người mục tử – thay
mặt Đức giám mục giáo phận – là mối liên kết có tính phẩm trật với toàn thể Giáo hội địa phương. 1301
Vì thế, giáo xứ, giống như một tế bào của giáo phận, phải nêu ra một gương mẫu nổi bật về hoạt động
tông đồ của cộng đoàn, vì giáo xứ đưa vào hiệp nhất tất cả sự đa dạng của con người tìm thấy trong đó và
tháp nhập vào trong sự phổ quát của Giáo hội. 1302 Cộng đoàn ki-tô hữu (communitas christifidelium) là yếu
tố cơ bản của giáo xứ. Theo một nghĩa nào đó, hạn từ này nhấn mạnh mối quan hệ năng động giữa những
người cấu thành nên cộng đoàn, dưới sự lãnh đạo không thể thiếu của một mục tử hợp pháp. Theo luật
chung, đó là tất cả các tín hữu cư trú trong một lãnh thổ quy định, hay một số tín hữu trong trường hợp thuộc
các giáo xứ tòng nhân, được thiết lập dựa trên nền tảng nghi lễ, ngôn ngữ, dân tộc hay vì một mục đích đặc
biệt nào khác. 1303
19. Một yếu tố cơ bản khác của khái niệm giáo xứ là khái niệm chăm sóc mục vụ (cura pastoralis) hay chăm
sóc các linh hồn (cura animarum), đó là nhiệm vụ riêng của linh mục chính xứ và được diễn tả chính yếu
qua việc rao giảng Lời Thiên Chúa, ban phát các bí tích và quản trị mục vụ cộng đoàn. 1304 Trong giáo xứ,
khung cảnh thông thường của việc chăm sóc mục vụ, linh mục chính xứ là chủ chăn riêng của giáo xứ được
giao phó cho ngài. Ngài thi hành việc chăm sóc mục vụ cho cộng đoàn dưới quyền của giám mục giáo phận,
mà ngài đã được kêu gọi chia sẻ với giám mục tác vụ của Đức Ki-tô, để qua việc phục vụ cộng đoàn, ngài có
thể hoàn thành nhiệm vụ rao giảng, thánh hoá và quản trị, với sự cộng tác của các linh mục hay phó tế khác
và với sự hỗ trợ của giáo dân, và trong sự phù hợp với các quy tắc giáo luật. 1305 Khái niệm linh mục chính xứ
thì dồi dào ý nghĩa thần học cao cả và không ngăn cản Giám mục thiết lập những hình thức khác của việc
chăm sóc các linh hồn (cura animarum) phù hợp với quy tắc giáo luật.
Trong thời gian qua, điều trở nên cấp thiết là thích nghi việc chăm sóc mục vụ trong các giáo xứ với
những hoàn cảnh khác nhau, ví như hoàn cảnh thiếu hụt linh mục trong một số vùng, các giáo xứ thành thị
quá đông giáo dân, các giáo xứ nông thôn suy yếu, hay các giáo xứ giảm sút số tín hữu. Những hoàn cảnh
như thế đòi hỏi đưa một số đổi mới nào đó vào trong luật chung của Giáo hội liên quan đến việc chăm sóc
mục vụ trong các giáo xứ. Không cần phải nói, những đổi mới này không liên quan đến bất cứ đổi mới nào
trên bình diện nguyên tắc. Trong số những sáng kiến như thế, có thể uỷ thác việc chăm sóc mục vụ các linh
hồn thuộc một hay nhiều giáo xứ, cho nhiều linh mục cách toàn đới (in solidum), với điều kiện chỉ có một
linh mục làm người điều phối, chỉ đạo công việc mục vụ của cả nhóm, và trực tiếp chịu trách nhiệm trước
Giám mục. 1306 Dựa trên nền tảng của một danh nghĩa đa dạng, một chức vụ quản xứ duy nhất và công việc
chăm sóc mục vụ duy nhất cho giáo xứ có thể được uỷ thác cho nhiều linh mục là những người tham gia vào
chức vụ được uỷ thác cho họ theo một cách thức như nhau, và việc chỉ đạo được một anh em linh mục đích
thân đảm trách như là người điều phối. Giao phó việc chăm sóc mục vụ giáo xứ cách toàn đới có thể tỏ ra
hữu ích trong việc giải quyết những khó khăn nảy sinh trong các giáo phận, nơi đó việc suy giảm số linh
mục bó buộc các ngài phải phân phối thời giờ cho nhiều hoạt động thừa tác. Nó cũng tỏ ra là một cách thế
hữu ích để cổ võ tinh thần đồng trách nhiệm giữa các linh mục và nhất là cổ võ các linh mục tập sống chung,
vốn luôn luôn được khuyến khích. 1307
Tuy nhiên, điều cần được xem xét cách thận trọng là việc chăm sóc mục vụ cách toàn đới, mà chỉ có
thể giao phó cho các linh mục mà thôi, có thể làm phát sinh một số khó khăn. Người giáo dân tự nhiên gắn
bó với linh mục chính xứ của mình. Việc luân phiên liên tục giữa các linh mục có thể gây bối rối và hiểu
lầm trong giáo xứ. Giá trị lớn lao của tư cách người cha thiêng liêng của linh mục chính xứ quả hiển nhiên.
Vai trò pater familias (người cha gia đình) do bí tích mà linh mục chính xứ đảm nhận và những ràng buộc tất
nhiên của nó, quả là hữu hiệu về phương diện mục vụ.
Trong những trường hợp nhu cầu mục vụ đòi hỏi như vậy, Giám mục giáo phận có thể tạm thời giao
phó việc chăm sóc mục vụ trong nhiều giáo xứ cho một Linh mục. 1308
Trong những nơi mà hoàn cảnh đòi buộc, và như là giải pháp tạm thời, 1309 một giáo xứ có thể được uỷ
thác cho một giám quản. 1310 Tuy nhiên, ta phải nhắc lại rằng chức vụ linh mục chính xứ, thiết yếu có tính
mục vụ, đòi hỏi tính chất toàn vẹn và ổn định. 1311 Linh mục chính xứ phải là hình tượng cho sự hiện diện của
Đức Ki-tô lịch sử. Những đòi hỏi của sự đồng dạng với Đức Ki-tô nhấn mạnh tầm quan trọng của việc uỷ
thác này.
20. Sứ mạng của người mục tử trong một giáo xứ, bao gồm toàn bộ việc chăm sóc các linh hồn, tất nhiên
cần đến việc thi hành thánh chức Linh mục. 1312 Vì thế, ngoài điều kiện hiệp thông với Giáo hội, 1313 giáo luật
minh nhiên quy định chỉ một người nam đã được được thụ phong chức thánh mới có thể được bổ nhiệm
cách hợp pháp vào chức vụ Linh mục chính xứ. 1314
Về bổn phận của linh mục chính xứ là công bố Lời Chúa và giảng dạy giáo thuyết công giáo đích thực,
Giáo luật số 528 minh nhiên đề cập đến giảng lễ và dạy giáo lý; các sáng kiến nhằm cổ võ sống tinh thần Tin
mừng trong mọi phạm vi của cuộc sống; giáo dục công giáo cho thiếu niên và người trẻ; cũng như những nỗ
lực liên hệ đến việc hợp tác đúng dắn của giáo dân, ngõ hầu sứ điệp Tin mừng đến được với những người lơ
là thực hành đức tin và những người không tuyên xưng đức tin chân thật nữa, 1315 để họ có thể hoán cải nhờ
ân sủng của Thiên Chúa. Cố nhiên, Linh mục chính xứ không buộc phải đích thân chu toàn tất cả những bổn
phận này. Đúng hơn, ngài có bổn phận lo liệu sao cho những bổn phận đó được hoàn thành trong giáo xứ
một cách thích đáng và phù hợp với giáo thuyết và kỷ luật của Giáo hội. Những điều đó được thực hiện, khi
hoàn cảnh cho phép và lệ thuộc trách nhiệm cá nhân của ngài. Một vài bổn phận riêng của linh mục chính xứ
phải luôn luôn được thi hành chỉ bởi một tác viên chức thánh, như trong trường hợp giảng trong Thánh lễ. 1316
Cho dù ngài có thể thua kém người giáo dân không có chức thánh về khả năng hùng biện, song điều đó
không loại trừ sự kiện là do bởi bí tích, ngài đại diện Đức Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử và hiệu năng của lời
giảng của ngài phát sinh từ thực tại ấy. 1317 Các chức năng khác của linh mục chính xứ, chẳng hạn như dạy
giáo lý, có thể được thường xuyên chu toàn bởi người giáo dân đã được đào tạo cách thích đáng về phương
diện giáo thuyết và sống trọn vẹn đời sống ki-tô hữu. Trong những trường hợp đó, linh mục chính xứ bị đòi
buộc phải duy trì những tiếp xúc cá nhân với những người ấy. Chân phước Gio-an XXIII đã viết: điều quan
trọng nhất là linh mục phải luôn luôn trung thành với nhiệm vụ giảng dạy. Về mặt này, quả là hữu ích khi
nói và nhấn mạnh rằng – theo lời thánh Pi-ô X – các linh mục bị ràng buộc cách chặt chẽ hơn bất cứ nhiệm
vụ nào khác, nghiêm khắc hơn bất cứ bổn phận nào khác. 1318
Như đã rõ, do bởi đức ái mục tử đích thật, linh mục chính xứ không chỉ buộc phải khuyến khích tất cả
các cộng tác viên, nhưng còn phải quan tâm đến họ. Trong một vài quốc gia nơi đó có những tín hữu thuộc
về những nhóm ngôn ngữ khác nhau, nơi đó chưa có thiết lập những giáo xứ đối nhân hay chưa có những
thu xếp thoả đáng cho họ, linh mục chính xứ quản trị địa hạt đó là linh mục chính xứ cho những thành viên
tín hữu đó. Ngài có bổn phận đáp ứng những nhu cầu riêng biệt của họ, nhất là trong những vấn đề liên quan
đến những nhạy cảm văn hoá đặc biệt của họ.
21. Liên quan đến những phương tiện thánh hoá thông thường, giáo luật số 528 quy định rằng linh mục
chính xứ phải đặc biệt quan tâm lo lắng để Bí tích Thánh Thể trở nên trung tâm của cộng đoàn giáo xứ và
các tín hữu đạt đến sự viên mãn của đời sống ki-tô hữu bằng cách tham dự cách ý thức và tích cực vào Phụng
vụ thánh, bằng cách cử hành các bí tích, bằng cách thực hành việc cầu nguyện và làm các việc lành phúc đức.
Đáng chú ý là Giáo luật đề cập đặc biệt đến việc thường xuyên rước lễ và lãnh nhận Bí tích hoà giải.
Điều này ngụ ý rằng linh mục chính xứ, khi xếp đặt giờ lễ và giải tội trong giáo xứ của mình, phải tính đến
những thời gian thích hợp cho phần đông các tín hữu, đồng thời phải lưu ý đến việc tạo điều kiện thuận lợi
cho những người gặp khó khăn trong việc tham dự các cử hành bí tích. Linh mục chính xứ phải đặc biệt
quan tâm đến việc xưng tội cá nhân, hiểu theo tinh thần và hình thức được Hội Thánh thiết lập. 1319 Ngài phải
nhớ rằng việc xưng tội phải đi trước việc rước Mình Thánh Chúa. 1320 Hơn nữa, vì những lý do mục vụ và để
tạo thuận lợi cho các tín hữu, các tín hữu cũng có thể xưng tội đang khi cử hành Thánh lễ. 1321
Cần phải quan tâm bảo đảm việc tôn trọng những nhạy cảm của hối nhân liên quan đến cách người ấy
muốn xưng tội, hoặc diện đối diện, hoặc sau một chấn song. 1322 Vì những lý do mục vụ, vị giải tội cũng phải
ưa thích dùng một toà giải tội có chấn song. 1323
Thói quen viếng Thánh Thể cũng phải được hết sức cổ võ. Nhằm mục đích ấy, nhà thờ phải mở rộng
cửa càng lâu càng tốt, và giờ mở cửa cố định phải được xác định. Nhiều linh mục chính xứ cổ võ việc thực
hành đáng ca ngợi là chầu Mình Thánh Chúa cách long trọng và có thể nghiệm thấy những hoa quả trên sức
sống của giáo xứ.
Mình Thánh Chúa được cất giữ với tâm tình yêu mến trong một nhà tạm vốn là trái tim thiêng liêng
của mọi cộng đoàn tu sĩ và cộng đoàn giáo xư. 1324 Không có việc thờ phượng Bí tích Thánh Thể, như thể với
một trái tim đang đập, giáo xứ trở nên khô cằn. 1325 Nếu anh em muốn các tín hữu cầu nguyện cách thiết tha
và sốt sắng – như Đức Pi-ô XII đã nhắc nhở hàng giáo sĩ Rô-ma – anh em hãy nêu gương cho họ bằng cách
cầu nguyện trước mặt họ trong nhà thờ của anh em. Một linh mục quỳ gối trước nhà tạm, trong một tư thế
riêng và chìm sâu trong suy niệm, là một gương sáng xây dựng dân chúng, một lời nhắc nhở và mời gọi thi
đua cầu nguyện. 1326
22. Giáo luật điều 529 thảo ra những nhiệm vụ chính mà chức vụ mục tử của linh mục chính xứ đòi hỏi phải
chu toàn và vạch ra những đặc tính thừa tác được chờ đợi nơi một linh mục chính xứ. Trong tư cách là linh
mục dành riêng cho giáo xứ, ngài phải làm mọi nỗ lực để tìm hiểu các tín hữu đã được giao cho ngài chăm
sóc và tránh mọi hình thức quan liêu. Một linh mục chính xứ không phải là một quan chức chu toàn một vai
trò hoặc cung cấp sự phục vụ cho những ai yêu cầu họ. Đúng hơn, ngài chu toàn trọn vẹn tác vụ như một
con người của Thiên Chúa, thăm hỏi các tín hữu, thăm viếng gia đình họ, đáp ứng nhu cầu và chia sẻ niềm
vui của họ. Ngài khôn ngoan sửa dạy, chăm sóc người già, kẻ yếu nhược, người bị bỏ rơi, người đau ốm và
người hấp hối. Ngài hiến thân chăm sóc cách đặc biệt người nghèo đói và đau khổ. Ngài nỗ lực hoán cải
người tội lỗi và kẻ lầm đường lạc lối. Ngài khuyến khích họ chu toàn nhiệm vụ của bậc sống mình và cổ võ
đời sống ki-tô hữu trong các gia đình. 1327
Cổ võ những việc bác ái tinh thần và vật chất vẫn luôn là một ưu tiên mục vụ và một dấu chỉ cho sức
sống của mọi cộng đoàn ki-tô hữu.
Một nhiệm vụ quan trọng khác được giao phó cho linh mục chính xứ là cổ võ vai trò riêng của giáo
dân trong sứ vụ Hội Thánh, đó là làm cho trật tự các thực tại trần thế thấm nhuần tinh thần Phúc âm và trở
nên hoàn hảo, và như thế họ làm chứng cho Đức Ki-tô cách đặc biệt trong việc thi hành các công việc trần
thế. 1328
Linh mục chính xứ có bổn phận cộng tác với Giám mục của mình và với các linh mục khác trong giáo
phận nhằm để các tín hữu đang tham gia trong cộng đoàn giáo xứ ý thức rằng họ cũng là thành viên của giáo
phận và của Hội Thánh phổ quát. 1329 Tính chuyển động ngày càng gia tăng của xã hội ngày nay càng đòi
buộc giáo xứ đừng trở nên khép kín. Đúng hơn, phải tiếp đón tín hữu của các giáo xứ khác và tránh ngăn cản
giáo dân của mình tham gia sinh hoạt của các giáo xứ, nhà xứ hoặc các nhà nguyện khác.
Linh mục chính xứ bị đòi buộc cách đặc biệt phải nhiệt tâm cổ võ, nâng đỡ và theo dõi các ơn gọi tiến
tới chức linh mục. 1330 Nêu gương sáng, qua việc tỏ lộ rõ ràng căn tính linh mục, 1331 kiên trì sống chức vụ linh
mục, cùng với việc sốt sắng xưng tội, hướng dẫn thiêng liêng cho các người trẻ, và dạy về tác vụ thánh là
những điều cần thiết cho việc cổ võ các ơn gọi linh mục. Gieo vãi các hạt giống của cuộc sống hoàn toàn
hiến thánh cho Thiên Chúa và cổ võ lòng yêu mến đức khiết tịnh luôn là một nhiệm vụ đặc biệt của tác vụ
linh mục. 1332
Giáo luật quy các nhiệm vụ sau đây cách đặc biệt cho các linh mục chính xứ 1333 : ban bí tích Thánh
Tẩy và Thêm sức cho những ai đang nguy tử chiếu theo điều 883, 3 1334 ; ban Của ăn đàng và bí tích Xức dầu
bệnh nhân, giữ nguyên quy định của điều 1003, §§ 2 và 3 1335 ; ban Phép lành Toà thánh; chủ trì và chúc hôn;
cử hành lễ nghi an táng; làm phép giếng rửa tội trong mùa Phục sinh; dẫn đầu các cuộc kiệu và ban phép
lành trọng thể bên ngoài nhà thờ; long trọng cử hành Thánh lễ vào ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc.
Còn hơn là những nhiệm vụ hoặc quyền lợi được trao riêng cho linh mục chính xứ, những chức năng
này được giao phó cho ngài cách đặc biệt do bởi trách nhiệm riêng là linh mục chính xứ. Vì thế các ngài
phải trực tiếp chu toàn, hay ít là quan tâm theo dõi suốt quá trình thực hiện.
23. Trong những miền thiếu hụt các linh mục, điều có thể xảy ra, như đã xảy ra ở một vài nơi, là Giám mục,
sau khi xem xét cẩn thận, có thể cho một người hoặc nhiều người chưa có ấn tín linh mục cộng tác ad
tempus (tạm thời) trong việc thi hành chăm sóc mục vụ của một giáo xứ, theo cách được giáo luật chấp
thuận. 1336 Tuy nhiên trong những trường hợp đó, những tính chất nguyên thủy của sự khác biệt và bổ túc của
các đặc sủng và các chức năng của các thừa tác viên được thụ phong và của tín hữu giáo dân phải được cẩn
thận tuân giữ và tôn trọng bởi vì chúng là đặc tính riêng của Hội Thánh và đó là ý muốn của Thiên Chúa về
việc tổ chức Hội Thánh. Những hoàn cảnh bất thường hiện hữu đủ biện minh cho sự cộng tác như thế. Tuy
nhiên, sự cộng tác như thế không thể vượt quá cách hợp pháp những giới hạn của tính cách riêng biệt thuộc
thừa tác vụ thánh và bậc sống giáo dân.
Nhằm làm sáng tỏ thuật ngữ có thể gây nhầm lẫn, Hội Thánh dành riêng một vài từ ngữ hàm ý
potestas capitis cho các linh mục – chủ chăn, tuyên úy, linh giám, điều phối viên và các từ tương đương
khác. 1337
Trong các danh xưng nói về quyền lợi và nhiệm vụ của tín hữu giáo dân, giáo luật phân biệt các thẩm
quyền hoặc các chức năng thuộc về mọi tín hữu giáo dân do quyền lợi hoặc nhiệm vụ, và những gì phát xuất
từ việc cộng tác với thừa tác vụ mục vụ. Những điểm sau là một capacitas hoặc habilitas mà việc thực thi tùy
thuộc vào việc được các chủ chăn hợp pháp của Hội Thánh giao phó. 1338 Vì thế, chúng không hề có nghĩa là
các quyền.
24. Những điều nói trên đã được Đức Gio-an Phao-lô II làm sáng tỏ trong Tông huấn hậu Thượng Hội đồng
Christifideles Laici: Sứ vụ cứu độ của Hội Thánh trong thế gian không chỉ được thực hiện bởi các thừa tác
viên chức thánh nhưng cũng còn bởi tất cả các tín hữu giáo dân; quả thế, nhờ đã được chịu phép thánh tẩy và
nhờ ơn gọi chuyên biệt của mình, các giáo dân, mỗi người theo mức độ của mình, tham dự vào chức vụ tư
tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Ki-tô.
Vì thế, các chủ chăn phải hiểu biết và cổ võ các tác vụ, chức vụ và nhiệm vụ của tín hữu giáo dân,
những chức vụ và nhiệm vụ này đặt nền tảng trên bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, hơn nữa, đối với phần
đông trong số họ, còn trên bí tích Hôn Phối. Khi nhu cầu trong Hội Thánh cần đến, các chủ chăn, tuân theo
các quy tắc được thiết lập trong bộ luật phổ quát, có thể giao phó cho tín hữu giáo dân, ad tempus, một vài
chức vụ và vai trò, có liên quan đến tác vụ mục vụ mà không đòi buộc ấn tín chức thánh. Cũng những tài
liệu này nhắc lại những nguyên tắc cơ bản quy định việc cộng tác này và đưa ra những giới hạn cho nó: việc
thực thi các công việc này không biến họ thành Chủ chăn của các tín hữu giáo dân: quả vậy, một người
không là một thừa tác viên chỉ vì chu toàn một công việc, nhưng phải qua Bí tích Truyền chức thánh. Chỉ Bí
tích Truyền chức thánh mới ban cho thừa tác viên được thụ phong tham dự cách đặc biệt vào chức vụ của
Đức Ki-tô, Mục tử và Thủ lãnh, và vào Chức tư tế vĩnh cửu của Người. Việc làm thay một vài công việc bởi
giáo dân có tính hợp pháp, cách chính thức và tức thì, do bởi sự ủy nhiệm chính thức của các chủ chăn cho
giáo dân, cũng như do bởi việc thi hành cụ thể dưới sự hướng dẫn của quyền bính Giáo hội 1339 1340 .
Trong những trường hợp mà việc cộng tác vào tác vụ thánh đã được giao phó cho tín hữu không được
thụ phong, một linh mục cần phải được chỉ định trong tư cách người điều phối và được ban cho các quyền
hạn và nhiệm vụ của một linh mục chính xứ, để chỉ đạo trực tiếp việc chăm sóc mục vụ. 1341
Đã rõ, chức vụ của linh mục chính xứ được thi hành bởi một linh mục đã được chỉ định để chỉ đạo
hoạt động mục vụ – chẳng hạn một người được trao cho các năng quyền của một linh mục chính xứ – và thi
hành các chức năng dành riêng cho linh mục, khác biệt hoàn toàn với sự cộng tác bổ trợ của người tín hữu
không được thụ phong trong các công việc khác của chức vụ. 1342 Một nam tu sĩ không có chức thánh, một nữ
tu, một người giáo dân có thể thi hành các công việc quản trị, cũng như cổ võ việc huấn luyện về mặt thiêng
liêng. Tuy nhiên, họ không thể thi hành các chức năng hoàn toàn thuộc về việc chăm sóc các linh hồn bởi vì
những việc này đòi hỏi ấn tín linh mục. Tuy vậy, họ có thể hỗ trợ các thừa tác viên chức thánh trong các việc
phụng vụ mà phù hợp với địa vị giáo luật của họ và được liệt kê trong giáo luật điều 230 § 3: thi hành thừa
tác vụ Lời Chúa, chủ toạ các buổi kinh phụng vụ, ban Bí tích Thánh tẩy và cho rước lễ, theo những quy định
của luật. 1343 Ngay cả các phó tế, dù không bị coi ngang hàng với các tín hữu khác, cũng không thể thi hành
việc chăm sóc các linh hồn trọn vẹn. 1344
Quả là luôn thích đáng việc các Giám mục giáo phận thẩm tra mọi trường hợp cần thiết với sự thận
trọng tối đa và tiên liệu mục vụ. Ngài phải thiết lập tiêu chuẩn để xác định tư cách thích đáng của những
người được mời gọi cộng tác trong hình thức này và xác định rõ ràng các chức năng được giao phó cho mỗi
người trong số họ trong sự phù hợp với các hoàn cảnh của mỗi giáo xứ liên hệ. Khi không có sự giao phó cụ
thể và rõ ràng các công việc, linh mục điều phối sẽ xác định trong vấn đề này. Tính chất bất thường và tạm
thời của những thu xếp như thế đòi hỏi đẩy mạnh một ý thức về sự cần thiết tuyệt đối các ơn gọi linh mục
trong các cộng đoàn giáo xứ này. Mầm mống của các ơn gọi ấy phải được động viên trong họ, lời cầu nguyện
cá nhân và của cộng đoàn cho các ơn gọi phải được cổ võ và cũng như lời cầu nguyện cho việc thánh hoá các
linh mục.
Nhằm bảo đảm cho các ơn gọi linh mục có thể trổ hoa cách dễ dàng trong cộng đoàn, điều quan trọng
là cộng đoàn ấy phải thấm nhuần một tình yêu đích thực đối với Hội Thánh. Một lòng kính trọng sâu xa và
nhiệt tình mạnh mẽ đối với Hiền Thê Đức Ki-tô, là người cộng tác với Chúa Thánh Thần trong công trình
cứu độ, phải luôn được cổ võ và khuyến khích.
Vì thế, cần phải làm mọi nỗ lực để giữ gìn trong tâm hồn của các tín hữu niềm vui và niềm tự hào
thánh thiện phát xuất từ tư cách là thành viên của Hội Thánh, điều khá hiển nhiên trong thư thứ nhất của
thánh Phê-rô và trong sách Khải Huyền (x. 1 Pr 3,14; Kh 2, 13.17; 7, 9; 14, 1ff; 19, 6; 22, 14). Không có
niềm vui và niềm tự hào này, ở một bình diện tâm lý, thì khó mà giữ gìn và phát triển đời sống đức tin.
Không phải là điều gì đáng ngạc nhiên, ít ra ở bình diện tâm lý, khi trong một vài bối cảnh nào đó các ơn gọi
linh mục không thể nảy mầm hoặc vươn tới mức trưởng thành.
Quả là một sai lầm tai hại khi tuyệt vọng trong lúc đối diện với những khó khăn hiện nay và chấp
thuận thái độ muốn chuẩn bị một Hội Thánh tương lai mà hầu như không có linh mục. Những biện pháp đưa
ra theo ánh sáng đó nhằm ngăn chặn sự thiếu hụt các linh mục hiện nay, tuy ta không chống lại những thiện
chí thúc đẩy họ, nhưng trong thực tế sẽ gây thiệt hại trầm trọng cho cộng đoàn Giáo hội. 1345
25. Nơi nào các phó tế vĩnh viễn tham gia vào việc chăm sóc mục vụ của các giáo xứ mà, bởi thiếu hụt các
linh mục, không có được phúc lợi trực tiếp từ một linh mục chính xứ, họ phải được ưu tiên hơn các tín hữu
không được thụ phong. 1346 Do bởi chức thánh, phó tế là thầy dạy bao lâu ngài giảng dạy và làm chứng cho lời
của Thiên Chúa; ngài thánh hoá khi ban bí tích Thánh tẩy, bí tích Thánh Thể và các á bí tích, ngài tham dự
Thánh lễ trong tư cách một thừa tác viên của Máu Thánh, cất giữ và ban phát Mình Thánh; ngài là người
hướng dẫn bao lâu ngài linh hoạt cộng đoàn hoặc một khu vực của đời sống Giáo hội. 1347
Các phó tế là ứng viên của chức linh mục phải được đặc biệt tiếp đón khi khi họ phục vụ trong một
giáo xứ. Trong sự thoả thuận với các vị lãnh đạo chủng viện, linh mục chính xứ phải là một người hướng
dẫn và một vị thầy, ý thức rằng một sự tự hiến chân thành và trọn vẹn cho Đức Ki-tô về phần của một ứng
viên chức linh mục, có thể tùy thuộc vào chứng tá gắn bó của mình vào căn tính linh mục, và vào lòng
quảng đại có tính thừa sai khi ngài phục vụ và yêu mến giáo xứ.
26. Giống như hội đồng mục vụ của giáo phận, 1348 những tiên liệu của luật về việc thiết lập một hội đồng
mục vụ ở bình diện giáo xứ, là phải được Giám mục xem xét là thuận lợi, sau khi hội ý với hội đồng linh
mục. 1349 Nhiệm vụ cơ bản của một hội đồng đó là để phục vụ, ở bình diện tổ chức, việc cộng tác có trật tự
của các tín hữu trong việc triển khai hoạt động mục vụ vốn dành riêng cho các linh mục. 1350 Vì thế hội đồng
mục vụ là một cơ quan tư vấn trong đó người tín hữu, khi diễn tả tinh thần trách nhiệm phát xuất từ bí tích
Thánh tẩy, có thể giúp đỡ linh mục chính xứ, là người đứng đầu hội đồng ấy, 1351 qua việc góp ý về những vấn
đề mục vụ. 1352 Tín hữu giáo dân phải càng ngày càng xác tín hơn về ý nghĩa đặc biệt của sự dấn thân của họ
trong việc tông đồ của giáo xứ; vì thế cần có một sự quý mến đầy xác tín, bao quát và dứt khoát hơn đối với
Hội đồng mục vụ giáo xứ. 1353 Đây là những lý do rõ ràng về điều đó: trong hoàn cảnh hiện nay, người tín hữu
giáo dân có khả năng làm nhiều chuyện và, vì thế, phải hết sức làm tăng trưởng một sự hiệp thông giáo hội
đích thực trong các giáo xứ của họ, nhằm thức tỉnh lại lòng nhiệt thành thừa sai hướng về những người
không tin và những tín hữu đã rời bỏ đức tin hoặc không gắn bó với đời sống ki-tô hữu. 1354
Tất cả các tín hữu có quyền, đôi khi có cả nhiệm vụ nữa, là góp ý kiến về những vấn đề liên quan đến
thiện hảo của Hội Thánh. Việc này có thể thực hiện qua những cơ chế đã được lập ra vì mục đích đó: […] hội
đồng mục vụ có thể là một phương tiện hữu hiệu nhất… để đề nghị và gợi ý về những sáng kiến liên quan
đến truyền giáo, huấn giáo và tông đồ [..] cũng như để cổ võ việc huấn luyện giáo thuyết và đời sống bí tích
của các tín hữu; để hỗ trợ công tác mục vụ của các linh mục trong các hoàn cảnh xã hội và miền đất khác
nhau; để tìm cách gây ý thức quần chúng tốt hơn v.v. 1355 Hội đồng mục vụ phải được nhìn trong mối liên hệ
với bối cảnh tương quan phục vụ lẫn nhau giữa một linh mục chính xứ và tín hữu của ngài. Vì thế quả là vô
nghĩa khi xem hội đồng mục vụ như một cơ quan thay thế linh mục chính xứ trong việc điều hành giáo xứ,
hoặc như một cơ quan mà, trên cơ sở của đa số phiếu, bó buộc rõ ràng linh mục chính xứ trong việc hướng
dẫn giáo xứ.
Theo các quy tắc của luật về sự quản trị đúng đắn và trung thực, các cơ quan được lập ra để phụ trách
những vấn đề kinh tế trong một giáo xứ, không thể áp lực trên vai trò mục vụ của linh mục chính xứ, vì ngài
là vị đại diện và quản trị hợp pháp của các thiện ích của giáo xứ. 1356
Các thách đố tích cực hiện nay đối với các thừa tác
vụ mục vụ trong giáo xứ
27. Bởi vì, vào lúc khởi đầu thiên niên kỷ mới, toàn thể Hội Thánh đã được mời gọi nỗ lực canh tân lại đời
sống ki-tô hữu, đặt nền tảng trên ý thức về sự hiện diện của Đức Ki-tô sống lại giữa chúng ta, 1357 chúng ta
phải nhìn thấy những hệ quả của lời mời gọi ấy trên việc chăm sóc mục vụ trong các giáo xứ.
Việc này không đòi hỏi sáng chế những chương trình mục vụ mới, bởi vì chương trình ki-tô giáo, xoay
quanh Đức Ki-tô, luôn là một chương trình hiểu biết, yêu mến và noi gương Người, sống đời sống của Thiên
Chúa Ba Ngôi trong Người, và với Người biến đổi lịch sử và đem đến chỗ thành toàn: Đó là một chương
trình không thay đổi theo những biến chuyển của thời gian và văn hoá, dù nó có quan tâm đến thời gian và
văn hoá nhằm đối thoại đúng đắn và hiệp thông cho có hiệu quả. 1358
Trong chân trời mục vụ lớn lao và đòi hỏi của ngày hôm nay: Chính trong các Giáo hội địa phương mà
các nét cụ thể của một chương trình mục vụ chi tiết có thể được xác định – mục tiêu và phương pháp, đào tạo
và sự phong phú của người dân có liên quan, tìm kiếm những tài nguyên cần thiết – cốt để giúp cho việc loan
báo về Đức Ki-tô tới với dân chúng, khuôn đúc cộng đoàn, và ảnh hưởng sâu xa và sắc bén trong việc đem
những giá trị Tin mừng thấm nhập vào trong xã hội và văn hoá. 1359 Đó là chân trời của một công việc hứng
thú là làm sinh động lại công tác mục vụ – một công việc liên quan đến tất cả chúng ta. 1360
Thách đố mục vụ quan trọng và cơ bản nhất mà các linh mục phải đối diện trong giáo xứ đó là đem lại
cho các tín hữu một đời sống thiêng liêng vững chắc đặt nền tảng trên các nguyên tắc của giáo thuyết ki-tô
giáo như đã được các thánh áp dụng vào đời sống và dạy dỗ. Chương trình mục vụ phải đặt ưu tiên cho khía
cạnh cốt yếu này của mọi hành động mục vụ. Ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, cầu nguyện, đời sống bí tích,
suy niệm, thinh lặng thờ lạy, đàm thoại thân mật với Chúa, thực thi hằng ngày các nhân đức làm chúng ta
nên giống Người hơn, phải được tái khám phá, bởi vì những điều đó đem lại kết quả hơn bất cứ thảo luận
nào, và cuối cùng là điều kiện cần thiết cho mọi thảo luận có hiệu năng.
Tông thư Novo Millennio inuente đặt ra bảy ưu tiên mục vụ: sống thánh thiện, cầu nguyện, cử hành
Thánh lễ ngày Chúa nhật, bí tích Hoà giải, chỗ đứng hàng đầu của ân sủng, và lắng nghe và loan báo Lời. 1361
Những ưu tiên này đã trở nên hết sức rõ ràng từ kinh nghiệm Đại Năm Thánh. Chúng trao ban không những
cho các linh mục chính xứ nhưng còn cho tất cả các linh mục dấn thân trong công việc cura animarum, nội
dung và chất liệu cho những vấn đề mục vụ mà các ngài phải suy niệm cách thấu đáo. Chúng cũng cung cấp
một tổng hợp về tinh thần mà việc canh tân công tác mục vụ phải tiếp cận.
Tông thư Novo millennio ineunte cũng nhấn mạnh đến một lãnh vực quan trọng khác mà Hội Thánh
phổ quát và các Giáo hội địa phương phải dấn thân và đặt ra kế hoạch: lãnh vực hiệp thông (koinonia), lãnh
vực này biểu thị và mạc khải chính bản chất của mầu nhiệm Hội Thánh và bao hàm việc cổ võ một linh đạo
hiệp thông. Làm cho Hội Thánh trở thành ngôi nhà và trường học của hiệp thông: đó là thách đố lớn nhất mà
chúng ta đối diện trong thiên niên kỷ mới khởi đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với kế hoạch của Thiên
Chúa và đáp trả những khao thát thâm sâu nhất của thế giới. Hơn nữa, nó cũng xác định rõ rằng trước khi
đưa ra những kế hoạch thực hành, chúng ta cần cổ võ một linh đạo hiệp thông, bằng cách biến nó thành
nguyên tắc hướng dẫn việc giáo dục nơi nào những cá nhân và ki-tô hữu được đào tạo, nơi nào các thừa tác
viên của bàn thờ, các người thánh hiến, và những người làm mục vụ được rèn luyện, nơi nào các gia đình và
các cộng đoàn đang được xây dựng.
Một công cuộc cổ võ mục vụ đích thực để các cộng đoàn giáo xứ chúng ta sống thánh thiện bao hàm
một khoa sư phạm xác thực về cầu nguyện, một huấn giáo được canh tân, có sức thuyết phục và hữu hiệu về
tầm quan trọng của ngày Chúa Nhật và việc cử hành hằng ngày Thánh lễ, chầu Mình Thánh Chúa cá nhân
và cộng đoàn, thực hành thường xuyên việc xưng tội riêng, hướng dẫn thiêng liêng, sùng kính Đức Mẹ, noi
gương các thánh, cũng như một sự dấn thân đổi mới và tông đồ để chu toàn hằng ngày các trách nhiệm của
cộng đoàn và của cá nhân, chăm sóc mục vụ các gia đình, và kiên trì dấn thân trong lãnh vực chính trị và xã
hội.
Việc canh tân mục vụ này sẽ không có được trừ phi được soi sáng, nâng đỡ và linh hoạt bởi những linh
mục đã thấm nhuần cùng một tinh thần. Người tín hữu nhận được sự động viên lớn lao từ gương sáng và
chứng tá của các linh mục. Họ có thể tái khám phá giáo xứ như là một trường học cầu nguyện trong đó việc
gặp gỡ với Đức Giêsu Ki-tô không chỉ được diễn tả qua việc cầu xin trợ giúp nhưng cũng qua những hành vi
tạ ơn, ca ngợi, thờ phượng, chiêm ngưỡng, lắng nghe trong tâm tình cầu nguyện, nhiệt thành yêu mến, cho
đến độ yêu mến Người cách đích thực. 1362 Thật là tai hại khi ta quên rằng không có Đức Ki-tô chúng ta
không thể làm được sự gì (x. Ga 15,5). Chính lời cầu nguyện làm chúng ta bám chặt vào sự thật này. Nó
thường xuyên nhắc nhở chúng ta đến địa vị ưu tiên của Đức Ki-tô và, trong sự kết hiệp với Người, địa vị ưu
tiên của đời sống nội tâm và sự thánh thiện. Khi nguyên tắc này không được tôn trọng, không có gì lạ khi
các chương trình mục vụ chẳng đi đến đâu, thoát khỏi tay chúng ta, và còn gây ra một tâm trạng nản chí vì
thất bại? Lúc ấy, chúng ta chia sẻ kinh nghiệm của các môn đệ trong tường thuật về mẻ cá kỳ diệu: Chúng
tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì (Lc 5,5). Đó là thời gian của đức tin, của lời cầu nguyện, của
cuộc đàm thoại với Thiên Chúa, nhằm mở lòng chúng ta cho giòng nước của ân sủng và để cho lời của Đức
Ki-tô đi qua chúng ta với tất cả sức mạnh của nó: Duc in altum! 1363
Hiếm mà có được một người giáo dân tốt nếu không có các linh mục thật sự thánh thiện. Không có các
ngài, mọi sự đều sững lại – cũng như không thể có một sự trổ hoa các ơn gọi nếu không có những gia đình
ki-tô hữu là Giáo hội tại gia. Chính vì thế quả là sai lầm khi nhấn mạnh đến giáo dân mà lại coi nhẹ thừa tác
vụ thánh. Sai lầm đó dẫn đến việc làm tổn hại người giáo dân và làm cho toàn thể sứ vụ của Hội Thánh
không còn sinh hoa kết trái.
28. Việc tái khám phá lại trong các cộng đoàn chúng ta lời mời gọi phổ quát sống thánh thiện phải là nền
tảng cho tất cả các chương trình mục vụ và định hướng cho việc lập kế hoạch. Linh hồn của mọi công việc
tông đồ tùy thuộc vào đời sống thân mật với Thiên Chúa, đặt tình yêu của Đức Ki-tô lên trên hết, tìm kiếm
vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa trong tất cả mọi sự, sống sự năng động quy ki-tô của lòng sùng kính
Đức Ma-ri-a totus tuus. Việc đào tạo đời sống thánh thiện đặt chương trình mục vụ dưới dấu chỉ của sự thánh
thiện 1364 và cấu thành thách đố mục vụ ưu tiên của thời đại ngày hôm nay. Trong Hội Thánh, tất cả mọi tín hữu
đều được mời gọi nên thánh.
Dạy cho mọi người, và không mệt mỏi nhắc nhở rằng, thánh thiện là mục tiêu của đời sống ki-tô hữu,
đó là điểm nòng cốt của khoa sư phạm nên thánh. Tất cả mọi người trong Hội Thánh, dù họ thuộc về cơ cấu
phẩm trật hoặc được phẩm trật chăm sóc, đều được mời gọi nên thánh, theo lời dạy của thánh Tông đồ: Vì
đó là ý muốn của Thiên Chúa, việc thánh hoá anh em (1 Tx 4,3; x. Ep 1,3). 1365 Đó là yếu tố đầu tiên cần được
khai triển theo phương pháp sư phạm trong huấn giáo của Giáo hội, để ý thức về sự cần thiết mỗi người phải
nên thánh trở thành một xác tín chung.
Loan báo tính phổ quát của lời mời gọi nên thánh đòi buộc rằng, đời sống ki-tô hữu phải được hiểu
như là đi theo Đức Ki-tô, hoặc đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô. Sự đồng dạng này với Đức Ki-tô là
chính bản chất của sự thánh hoá và là mục tiêu đặc biệt của toàn thể đời sống ki-tô hữu. Nhằm thực hiện
mục tiêu này, mọi ki-tô hữu cần đến sự trợ giúp của Hội Thánh, bởi vì Hội Thánh đồng thời vừa là Mẹ vừa
là Thầy dạy. Sư phạm về việc nên thánh là một mục tiêu vừa lôi cuốn, vừa có tính cách thách thức đối với
tất cả những ai đang lãnh trách nhiệm điều hành và huấn luyện trong Hội Thánh.
29. Một sự dấn thân nhiệt htành, có tính cách truyền giáo cho công cuộc phúc âm hoá là một ưu tiên có tầm
quan trọng đặc biệt cho Hội Thánh và, do đó, cho việc chăm sóc mục vụ của giáo xứ. 1366 Dù ở trong những
nước đã được phúc âm hoá nhiều thế kỷ trước đây, thực tại của một xã hội ki-tô giáo, dù mang những yếu
nhược luôn ấn dấu trên đời sống nhân loại, lượng giá chính mình cách minh nhiên dựa trên những giá trị Tin
mừng, thực tại ấy giờ đây đã biến mất. Ngày hôm nay chúng ta phải can đảm đối diện với một hoàn cảnh
càng ngày càng trở nên đa dạng và đòi hỏi, trong bối cảnh của toàn cầu hoá và của sự pha trộn mới và dễ
thay đổi của các dân tộc và các nền văn hoá. 1367
Trong xã hội hiện nay, được đánh dấu bởi chủ nghĩa đa nguyên văn hoá, tôn giáo và sắc tộc, chủ nghĩa
tương đối, lãnh đạm, thoả hiệp giả tạo (irenicism), và chủ nghĩa hỗn hợp (syncretism), có vẻ là một số ki-tô
hữu đã trở nên quen thuộc với một hình thức của Ki-tô giáo thiếu vắng bất kỳ quy chiếu nào về Đức Ki-tô và
Hội Thánh của Người. Trong những hoàn cảnh ấy, sứ mệnh mục vụ bị giảm thiểu vào những quan tâm xã
hội trong một viễn tượng thuần túy nhân học, thường đặt nền tảng trên một lời mời gọi mơ hồ là chủ trương
hoà bình, chủ nghĩa đại đồng (universalism) hoặc một sự quy chiếu mơ hồ về các giá trị.
Phúc âm hoá thế giới hiện đại chỉ có thể xảy ra với việc tái khám phá căn tính cá nhân, xã hội và văn
hoá của người ki-tô hữu. Điều đó bao hàm, vượt trên tất cả mọi sự, việc tái khám phá Đức Giêsu Ki-tô, Ngôi
Lời nhập thể, và Đấng Cứu độ duy nhất của nhân loại. 1368 Xác tín căn bản này cởi trói cho sự dấn thân truyền
giáo vốn phải là đặc tính riêng biệt của mọi linh mục, và qua ngài, của mọi giáo xứ hoặc cộng đoàn được
giao phó cho ngài chăm sóc mục vụ. Chúng ta tin rằng hoàn toàn không thể có được một phương pháp mục
vụ mà có thể được áp dụng, hoặc có thể thích ứng với mọi hoàn cảnh. Trước chúng ta, điều này đã là hiển
nhiên trong lời dạy của thánh Grê-gô-ri-ô thành Na-di-an. Một phương pháp mục vụ duy nhất thì bị loại bỏ.
Nhằm xây dựng mọi người trong đức ái, cần thay đổi các hình thái qua đó tâm hồn của người tín hữu có thể
được đánh động, nhưng không thay đổi giáo thuyết. Vì thế, việc chăm sóc mục vụ đòi hỏi một thích nghi các
hình thái nhưng loại trừ mọi thay đổi giáo thuyết. 1369
Linh mục chính xứ phải luôn bảo đảm rằng các hiệp hội, phong trào hoặc nhóm khác nhau có trong
giáo xứ sẽ góp phần riêng của mình vào nỗ lực truyền giáo của giáo xứ. Một khía cạnh quan trọng khác của
hiệp thông là cổ võ các hình thức của hiệp hội, hoặc những loại truyền thống hơn hoặc những phong trào
giáo hội mới hơn, tiếp tục trao ban cho Hội Thánh một sự sinh động vốn là quà tặng của Thiên Chúa và một
mùa xuân đích thực của Thần Khí. Các hiệp hội và phong trào trong Hội Thánh, cả ở bình diện hoàn vũ lẫn
địa phương phải luôn hành động trong sự hoà hợp hoàn toàn với Hội Thánh và tuân theo chỉ dẫn của các
Chủ chăn hợp pháp của họ. 1370 Mọi hình thức của xu hướng dành riêng hoặc co cụm vào những nhóm riêng
biệt phải ngăn ngừa trong cơ cấu giáo xứ bởi vì đặc tính thừa sai dựa trên xác tín, mà phải được mọi người
chia sẻ, rằng Đức Giêsu Ki-tô có một ý nghĩa và một giá trị cho nhân loại và cho lịch sử của nó, giá trị duy
nhất và độc nhất, riêng của một mình Người, độc quyền, phổ quát, và tuyệt đối. Đức Giêsu Ki-tô là Ngôi Lời
của Thiên Chúa làm người để cứu độ nhân loại. 1371
Hội Thánh tin cậy vào sự trung thành hằng ngày của các linh mục trong tác vụ mục vụ khi họ chu toàn
sứ vụ rất cần thiết trong các giáo xứ được giao phó cho các ngài chăm sóc.
Đối với các linh mục chính xứ và các linh mục khác đang phục vụ trong các cộng đoàn khác nhau,
chắc chắn là không thiếu những khó khăn về phương diện mục vụ, hoặc những kiệt quệ thiêng liêng và thể
lý do quá tải hoặc thiếu sự quân bình mà cần đến thời gian để canh tân đời sống thiêng liêng và nghỉ ngơi
phần xác. Cần phải nói rằng, thất vọng biết bao khi cơn gió trần tục hoá thường làm chết ngạt những hạt
giống đã được gieo vãi với biết bao nỗ lực cao quý hằng ngày.
Một nền văn hoá trần tục ở quy mô lớn tìm cách cô lập người linh mục trong những phạm trù quan
niệm riêng của nó và tước khỏi người linh mục chiều kích thần giao – bí tích, là nguyên nhân gây ra hiện
tượng này. Nhiều hình thức ngã lòng có thể xuất phát từ đó và dẫn đến sự cô lập, những hình thức suy nhược
(depressive fatalism), và duy hoạt động (scattered activism). Tuy nhiên, điều đó không ngăn cản con số đông
đảo các linh mục của Hội Thánh, nhờ được các giám mục quan tâm nâng đỡ, đối diện những khó khăn của
tình thế lịch sử hiện tại cách tích cực, và đã thành công trong việc dấn thân quảng đại trong công tác mục vụ
và sống trọn vẹn căn tính linh mục.
Cũng có những nguy hiểm bên trong đối với thừa tác vụ linh mục: thói quan liêu, chức quyền
(functionalism), dân chủ hoá, lập kế hoạch có tính cách quản trị hơn là mục vụ. Đáng tiếc thay, trong một vài
hoàn cảnh, các linh mục có thể bị các cơ cấu chôn vùi, chúng chế ngự các ngài và không phải luôn là cần thiết,
hoặc chúng gây ra những hậu quả tiêu cực về phương diện tâm sinh lý có hại cho đời sống thiêng liêng và
chính tác vụ.
Giám mục có bổn phận phải hết sức cảnh giác trước những hoàn cảnh đó, bởi vì ngài là, trên tất cả mọi
điều khác, một người cha đối với những cộng sự viên thân tín và quý báu nhất của ngài. Quả là cấp bách và
cần thiết việc liên kết tất cả các sức mạnh của Giáo hội để chống trả cách hữu hiệu những tấn công thường
nhắm đến các linh mục và tác vụ của các ngài.
30. Vì những hoàn cảnh hiện tại của đời sống Hội Thánh, các đòi hỏi của công cuộc phúc âm hoá mới, và
xét đến sự đáp trả mà các linh mục được lời mời gọi nêu lên, Thánh bộ Giáo sĩ trao tặng tài liệu này như một
phương tiện nhằm khuyến khích và thúc đẩy tác vụ của các linh mục được giao phó việc chăm sóc mục vụ
cho các linh hồn trong các giáo xứ. Quả thế, sự tiếp xúc cách trực tiếp nhất của Hội Thánh với dân chúng
thường xảy ra trong bối cảnh của giáo xứ. Vì thế, tư tưởng và quan tâm của chúng tôi hướng về linh mục
trong tư cách là linh mục chính xứ. Ngài tái diễn sự hiện diện của Đức Giêsu Ki-tô trong tư cách là Đầu của
Thân Thể mầu nhiệm, vị Mục tử nhân lành chăm nom từng thành viên một của đoàn chiên. Trong tài liệu
này, chúng ta đã tìm cách nhấn mạnh mầu nhiệm và tính bí tích của tác vụ này.
Trong ánh sáng giáo huấn của Công đồng Va-ti-ca-nô II và Tông huấn Pastores dabo vobis, tài liệu
này phải được xem như một tiếp nối của Kim chỉ nam về Thừa tác vụ và Đời sống của các linh mục, Huấn
thị Liên Bộ Ecclesiae de mysterio, và Thư luân lưu Linh mục và Thiên niên kỷ ki-tô giáo thứ ba, Thầy dạy
của Lời, Thừa tác viên của các Bí tích và Lãnh đạo của cộng đoàn.
Chỉ có thể sống hằng ngày tác vụ bằng phương thế nên thánh cá nhân; phương thế này phải luôn đặt
nền tảng trên sức mạnh siêu nhiên của các bí tích Thánh Thể và Hoà giải.
Bí tích Thánh Thể là tâm điểm mà mọi sự phát xuất và quay về. (…) Qua các thế kỷ, vô vàn các linh
mục đã tìm thấy trong bí tích Thánh Thể niềm an ủi mà Đức Giê-su đã hứa ban vào buổi chiều Tiệc ly, bí
quyết để vượt thắng nỗi cô đơn, sức mạnh để chịu đựng mọi đau khổ, lương thực để làm một khởi đầu mới
sau mọi nản lòng, năng lực nội tâm để nâng đỡ quyết tâm sống trung thành. 1372
Sự tiến triển trong đời sống thiêng liêng và trong việc huấn luyện thường xuyên 1373 có thể được nâng
đỡ rất nhiều nhờ tình huynh đệ giữa các linh mục, một tình huynh đệ không phải chỉ là có khả năng sống
chung dưới một mái nhà, nhưng đòi hỏi phải hiệp thông trong lời cầu nguyện, chia sẻ các mục tiêu, cộng tác
mục vụ, và sống tình bằng hữu hỗ tương giữa các linh mục và Giám mục của mình. Điều đó cũng giúp ích
trong việc thắng vượt các thử thách và khó khăn khi thi hành tác vụ thánh. Mọi linh mục không chỉ cần đến
sự trợ giúp trong tác vụ của người anh em của mình, nhưng cũng cần đến anh em vì họ là anh em của mình.
Trong số các phương thức khác, một ngôi nhà có thể lập nên trong giáo phận để tất cả các linh mục
thỉnh thoảng rút lui về mà tĩnh tâm và cầu nguyện, hầu tiếp xúc lại với các phương tiện không thể thiếu được
để nên thánh.
Trong tinh thần của phòng Tiệc ly, nơi mà các Tông đồ quy tụ và cầu nguyện với Đức Ma-ri-a, Mẹ
Chúa Giê-su
(Cv 1, 14), chúng tôi giao phó cho Mẹ những trang này được viết với lòng yêu thương và biết ơn đối với tất
cả các linh mục đang thi hành việc chăm sóc các linh hồn trên khắp thế giới. Ước gì tất cả mọi người đang
dấn thân trong việc chăm sóc mục vụ các linh hồn cảm nghiệm được sự đỡ nâng hiền mẫu của Nữ vương các
Tông đồ và sống trong sự hiệp thông sâu xa với Mẹ. Chức tư tế thừa tác có một chiều kích lạ lùng và sâu sắc
về sự gần gũi giữa Mẹ Đức Ki-tô [và các linh mục] 1374 Quả là một nguồn an ủi lớn lao khi biết rằng Mẹ của
Đấng Cứu chuộc, Đấng dẫn đưa chúng ta vào mầu nhiệm hi tế cứu chuộc của Chúa Con, luôn ở gần chúng ta.
Ad Iesum per Mariam: ước gì đó là mục tiêu hàng ngày của đời sống thiêng liêng và mục vụ của chúng ta 1375 .
Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã phê chuẩn Huấn thị này và truyền phổ biến.
Rô-ma, Văn phòng Thánh bộ Giáo sĩ, ngày 4 tháng 8 năm 2002, Lễ thánh Gio-an Ma-ri-a Vianney,
Cha Sở họ Ars, Quan thầy các linh mục chính xứ.
Hồng y DARIO CASTRILLON HOYOS
Tổng trưởng
+ CESBA TERNYAK
Tổng Giám mục hiệu toà Eminenziana
Thư ký
Lời kinh của linh mục chính xứ
dâng lên Rất Thánh Đức Bà Ma-ri-a
Lạy Mẹ Ma-ri-a, Mẹ của Chúa Giê-su Ki-tô,
Đấng chịu đóng đinh và sống lại,
Mẹ của Giáo hội, một dân tộc tư tế (1 Pr 2,9),
Mẹ của các linh mục, thừa tác viên của Con Mẹ :
Xin đón nhân sự dâng hiến khiêm hạ của chính con,
để trong công việc mục vụ
lòng thương xót vô bờ của vị Thượng tế vĩnh cửu được loan báo:
Lạy Mẹ của Lòng thương xót.
Mẹ đã chia sẻ sự vâng phục tư tế của Con Mẹ (Dt 10, 5-7; Lc 1, 38),
và đã chuẩn bị cho Người một chỗ ở xứng đáng
nhờ được Chúa Thánh Thần xức dầu,
xin gìn giữ đời sống linh mục của con
trong mầu nhiệm khôn tả của chức vụ làm Mẹ Thiên Chúa.
Xin ban cho con sức mạnh
trong những giây phút u tối của cuộc đời này,
xin nâng đỡ con trong khi thi hành thừa tác vụ,
xin giao phó con cho Đức Giê-su,
để trong sự hiệp thông với Mẹ,
con có thể chu toàn sứ vụ với lòng trung thành và yêu thương.
Lạy Mẹ của vị Linh mục đời đời,
Nữ Vương các Tông đồ và Đấng Phù hộ các linh mục,
xin giúp con luôn trung thành với đoàn chiên
mà Vị Mục tử Tốt lành đã giao phó cho con.
Mẹ đã thinh lặng đồng hành với Đức Giê-su
trong sứ vụ của Người
để loan báo Tin mừng cho người nghèo khó,
Ước gì con luôn kiên nhẫn, dịu hiền
kiên quyết và yêu thương,
khi chăm sóc người bệnh và kẻ yếu hèn,
người nghèo khó và người tội lỗi.
Lạy Mẹ, Đấng Phù hộ toàn dân ki-tô giáo,
con hiến thánh và phó dâng mình con cho Mẹ. Lạy Mẹ Maria,
Mẹ đã thông phần trong công trình cứu chuộc
khi đứng kề bên thập giá của Con Mẹ,
Mẹ liên kết chặt chẽ với công trình cứu độ.
Trong khi thi hành thừa tác vụ,
Xin cho con luôn ý thức đến
chiều kích lạ lùng và sâu xa của sự hiện diện từ mẫu của Mẹ
trong mọi thời điểm của cuộc đời,
trong cầu nguyện và hoạt động,
trong lúc vui cũng như lúc buồn,
khi mệt mỏi cũng như lúc nghỉ ngơi,
lạy Mẹ của lòng trông cậy.
Lạy Mẹ thánh thiện,
xin ban cho con khi cử hành Thánh lễ,
nguồn mạch và trung tâm của chức vụ linh mục,
biết sống thân tình với Chúa Giê-su
trong sự thân tình của Mẹ với Người,
để khi chúng con cử hành Thánh lễ,
Mẹ sẽ hiện diện với chúng con
và dẫn chúng con vào mầu nhiệm cứu chuộc
của hy tế Con Mẹ.
Ôi Đấng trung gian của mọi ơn phúc
tuôn trào từ hi lễ này cho Giáo hội và cho mọi tín hữu,
Lạy Mẹ của Đấng Cứu độ chúng con.
Lạy Mẹ Ma-ri-a: con hết lòng ước ao
đặt để con người của con và ước muốn sống thánh thiện của con
dưới sự che chở hiền mẫu và soi sáng của Mẹ
để Mẹ giúp con nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô,
Thủ lãnh và Mục tử
điều cần thiết cho thừa tác vụ của mọi linh mục chính xứ.
Xin cho con luôn ý thức rằng
Mẹ luôn gần gũi với các linh mục
trong sứ vụ người nữ tì của Đấng Trung gian duy nhất,
Đức Giê-su Ki-tô:
Ôi Mẹ của các linh mục
vị ân nhân và Trung gian của mọi ơn huệ.
Amen.
kinh tuyên xưng tình yêu
của cha sở họ Ars,
Thánh Gioan Maria Vianney !
Con yêu mến Ngài, lạy Thiên Chúa của con, và ước vọng duy nhất của con là yêu mến Ngài cho đến hơi thở
cuối cùng của đời con.
Con yêu mến Ngài, lạy Thiên Chúa đáng yêu vô cùng và con muốn chết đang khi yêu Ngài hơn là sống một
giây phút nào mà không yêu Ngài.
Con yêu mến Ngài, lạy Thiên Chúa của con, và con không ao ước điều gì khác ngoài Nước Trời để có được
niềm vui khi yêu mến Ngài cách hoàn hảo.
Con yêu mến Ngài, lạy Thiên Chúa của con, và con sợ hoả ngục, bởi vì nơi đó sẽ không có niềm an ủi dịu
ngọt là yêu mến Ngài.
Lạy Thiên Chúa của con, nếu miệng lưỡi con không thể thốt lên trong mọi giây phút rằng Con yêu mến Ngài,
con muốn trái tim con nói lên điều đó vào mỗi nhịp đập. Xin ban cho con ơn được chịu khổ vì yêu mến Ngài,
yêu mến Ngài đang khổ đau và một ngày kia chết đi đang khi yêu mến Ngài và cảm nhận rằng Con yêu mến
Ngài. Và khi con tiến gần đến cuối đời, xin Ngài gia tăng và hoàn thiện tình yêu của con đối với Ngài.
(Thánh Bộ Giáo Sĩ)
Lm John Phan Du Sinh, OFM
MỤC LỤC
SẮC LỆNH VỀ CHỨC VỤ
VÀ ĐỜI SỐNG CÁC LINH MỤC 3
LỜI GIỚI THIỆU 5
Việc soạn thảo 5
Linh Mục trong sứ mạng của Giáo Hội 6
Thừa tác vụ Linh Mục 7
Đời sống các Linh Mục 9
Đoạn kết của sắc lệnh 10
LỜI MỞ ĐẦU 13
CHƯƠNG I:
LINH MỤC TRONG SỨ MỆNH CỦA GIÁO HỘI 14
CHƯƠNG II:
THỪA TÁC VỤ CỦA LINH MỤC 18
I. CHỨC VỤ CỦA LINH MỤC 18
II. LIÊN LẠC GIỮA LINH MỤC VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC 25
III. PHÂN PHỐI LINH MỤC VÀ ƠN KÊU GỌI LINH MỤC. 32
CHƯƠNG III:
ĐỜI SỐNG LINH MỤC 36
I. CÁC LINH MỤC ĐƯỢC MỜI GỌI NÊN HOÀN THIỆN 36
II. NHỮNG ĐÒI HỎI THIÊNG LIÊNG ĐẶC BIỆT TRONG ĐỜI LINH MỤC. 43
III NHỮNG PHƯƠNG TIỆN GIÚP ĐỜI SỐNG LINH MỤC 50
KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NHỦ 56
SẮC LỆNH VỀ ĐÀO TẠO LINH MỤC 75
NHẬP ĐỀ 77
I. QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ VỀ VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC 77
II. NGUỒN GỐC VÀ SỰ TIẾN TRIỂN
CỦA BẢN VĂN “SẮC LỆNH VỀ ĐÀO TẠO LINH MỤC”. 83
III. TỔNG QUÁT VỀ NỘI DUNG SẮC LỆNH 86
IV. VIỄN TƯỢNG MỚI DO SẮC LỆNH MANG LẠI 89
LỜI MỞ ĐẦU 93
I. PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO LINH MỤC ÁP DỤNG CHO TỪNG DÂN TỘC 94
II. ÂN CẦN CỔ VÕ ƠN THIÊN TRIỆU LINH MỤC. 94
III. TỔ CHỨC CÁC ĐẠI CHỦNG VIỆN 100
IV. PHẢI CHÚ TRỌNG ĐẾN VIỆC HUẤN LUYỆN TU ĐỨC 105
V. DUYỆT LẠI CÁC MÔN HỌC CỦA GIÁO HỘI 113
VI. CỔ VÕ VIỆC HUẤN LUYỆN MỤC VỤ 121
VII. BỔ TÚC VIỆC HUẤN LUYỆN SAU KHI MÃN TRƯỜNG 124
KẾT LUẬN 125
ĐÀO TẠO LINH MỤC
TRONG HOÀN CẢNH HIỆN NAY 135
GIỚI THIỆU TÔNG HUẤN 136
I. NHẬN ĐỊNH SƠ KHỞI. 136
II. NHỮNG KHÓ KHĂN. 137
III. MỘT VÀI ĐIỂM NỔI BẬT VÀ LAN TỎA TRONG TÔNG HUẤN 144
DẪN NHẬP 153
CHƯƠNG I: VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC TRƯỚC NHỮNG
THÁCH ĐỐ VÀO CUỐI THIÊN NIÊN KỶ THỨ HAI. 162
Linh mục và thời đại. 162
Tin Mừng hôm nay : những triển vọng và những trở ngại. 164
Những người trẻ trước ơn gọi và việc đào tạo linh mục. 170
Sự phân định dựa theo Tin Mừng. 175
CHƯƠNG II: BẢN CHẤT VÀ SỨ VỤ
CỦA CHỨC LINH MỤC THỪA TÁC. 178
Hướng nhìn chức linh mục. 178
Trong Giáo Hội là mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ. 181
Mối liên hệ cơ bản với Đức Kitô là Đầu và Mục Tử 184
Phục vụ Giáo Hội và Thế giới. 190
CHƯƠNG III:
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG CỦA LINH MỤC 198
Một lời mời gọi loại biệt nên thánh. 198
Nên đồng hình dạng với Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử. Đức ái mục vụ. 203
Đời sống thiêng liêng trong việc thi hành thừa tác vụ. 211
Cuộc sống của người Linh mục và tính triệt để của Tin Mừng. 221
Thuộc về Giáo Hội địa phương và tận tuỵ với Giáo Hội địa phương. 232
“Xin hãy canh tân nơi chúng sự tuôn đổ Thần Khí thánh thiện của Ngài” 236
CHƯƠNG IV
ƠN GỌI LINH MỤC TRONG MỤC VỤ CỦA GIÁO HỘI 239
Tìm, theo, ở lại. 239
Giáo Hội và ơn gọi được ban tặng. 242
Cuộc đối thoại trong ơn gọi: Thiên Chúa đề xướng và con người đáp trả. 245
Nội dung của mục vụ các ơn gọi
và những phương thế được ứng dụng. 252
Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đối với ơn gọi linh mục. 260
CHƯƠNG V
VIỆC ĐÀO TẠO CÁC ỨNG SINH LINH MỤC 265
Sống nối gót Đức Kitô như các tông đồ 265
I. CÁC CHIỀU KÍCH CỦA VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC 268
Đào tạo nhân bản, nền tảng của mọi nền đào tạo linh mục 268
Đào tạo thiêng liêng : hiệp thông với Thiên Chúa và tìm gặp Đức Kitô. 274
Đào tạo trí thức : tăng cường hiểu biết cho đức tin. 292
Đào tạo mục vụ : hiệp thông với đức ái
của Chúa Giêsu Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành. 305
II. CÁC MÔI TRƯỜNG ĐÀO TẠO LINH MỤC 313
Cộng đoàn đào tạo trong đại chủng viện 313
Tiểu chủng viện và những hình thức khác để sát cánh các ơn gọi 321
III. CÁC CHIẾN HỮU TIÊN PHONG CỦA NỀN ĐÀO TẠO LINH MỤC 324
Giáo Hội và Giám Mục 324
Cộng đoàn giáo dục trong chủng viện 327
Các giáo sư thần học 330
Các cộng đoàn xuất phát, các hiệp hội và phong trào người trẻ. 332
Đích thân ứng sinh 335
CHƯƠNG VI VIỆC ĐÀO TẠO TRƯỜNG KỲ
DÀNH CHO CÁC LINH MỤC 337
Những lý do thần học của việc đào tạo trường kỳ 337
Các chiều kích đa dạng của việc đào tạo trường kỳ 343
Ý nghĩa sâu xa của việc đào tạo trường kỳ 350
Cho mọi lứa tuổi và trong mọi điều kiện sinh sống 360
Những người chịu trách nhiệm về việc đào tạo trường kỳ 364
Thời giờ, hình thức và phương thế dành cho việc đào tạo trường kỳ. 369
KẾT LUẬN 372
CHỈ NAM LINH MỤC
1989
Nhập đề 383
2. Nền tảng Thiên Chúa Ba Ngôi của chức Linh mục 386
3. Nền tảng Giáo hội và Bí tích của chức Linh mục 390
4. Ý thức Truyền giáo của Linh mục 394
5. Ý thức mục vụ của Linh mục 396
6. Tình huynh đệ Linh mục 400
7. Thừa tác viên Lời Chúa 402
8. Chủ sự nghi lễ phụng vụ thừa tác viên Bí tích 408
9. Giải phóng và thăng tiến con người,
lựa chọn ưu tiên cho người nghèo 415
10. Tác nhân của sự hợp tác 419
11. Vị mục tử lo việc Phúc âm hoá văn hoá 422
12. Người bạn và người hướng dẫn của tuổi trẻ 424
13. Cổ võ ơn gọi 427
14. Quan tâm đến ơn gọi đặc biệt của giáo dân 429
15. Tông đồ gia đình 432
16. Gần gũi những kẻ đau yếu và người già 437
17. Tác nhân của phong trào đại kết 440
18. Quan tâm đến việc đối thoại với người ngoài Kitô giáo 442
19. Sự cần thiết và bản tính của linh đạo Linh mục 443
20. Những chiều kích của linh đạo Linh mục 446
21. Những đường nét Phúc âm của linh đạo Linh mục 449
22. Những phương thế giúp tiến tới trên đường thiêng liêng 451
23. Lời Chúa chất vấn Linh mục 455
24. Đời sống cầu nguyện 455
25. Đời sống trí thức 460
26. Đời sống chung 462
27. Đức vâng lời của Linh mục 464
28. Đức thanh bần và việc sử dụng của cải 468
29. Đức khiết tịnh vì Nước Trời trong bậc sống độc thân 472
30. Về những quan hệ với gia đình và cha mẹ 475
31. Về nghĩa vụ công dân 476
32. Bồi dưỡng (huấn luyện thường xuyên) 477
33. Tính thống nhất, hài hoà và nhiệt thành
trong đời sống Linh mục 479
CHỈ NAM CHO THỪA TÁC VỤ
Và ĐỜI SỐNG LINH MỤC
1994
DẪN NHẬP 485
CHƯƠNG I CĂN TÍNH LINH MỤC 488
Chức Tư Tế Như Một Ân Huệ 488
Căn nguyên Bí Tích 489
Hiệp thông với Chúa Cha Chúa Con và Thánh Thần 490
Trong tác động cứu chuộc của Ba Ngôi 491
Tương quan mật thiết với Ba Ngôi. 491
Căn tính đặc thù 492
Giữa Lòng Dân Thiên Chúa. 493
Ấn tích 494
Hiệp thông cá vị với Chúa Thánh Thần 494
Khẩn cầu Chúa Thánh Thần. 495
Sức mạnh hướng dẫn cộng đoàn. 495
“Trong” và “đối diện” với Giáo Hội. 496
Tham dự một cách nào đó vào Hôn Ước của Đức Giêsu. 496
Tính phổ quát của chức Linh Mục. 498
Chiều kích thừa sai của chức tư tế. 499
Quyền bính như “ dịch vụ tình yêu”. 500
Cám dỗ của tinh thần dân chủ lệnh lạc. 501
Phân biệt giữa chức tư tế cộng đồng và thừa tác. 503
Chỉ Linh Mục mới là mục tử. 504
Hiệp thông với Ba Ngôi và với Đức Kitô. 505
Hiệp thông với Giáo Hội. 506
Hiệp thông phẩm trật 506
Hiệp thông trong cử hành Thánh Thể. 507
Hiệp thông trong hoạt động thừa tác 508
Hiệp thông trong Linh Mục đoàn 509
Gia nhập vào một Giáo Hội địa phương 510
Linh mục đoàn, nơi thánh hóa 511
Tình bằng hữu Linh Mục 512
Đời sống chung 513
Hiệp thông với giáo dân. 514
Hiệp thông với các thành viên những Tu Hội sống đời thánh hiến 516
Mục vụ ơn gọi 516
Dấn thân vào chính trị và xã hội 517
CHƯƠNG II: ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
CỦA LINH MỤC 519
Giải thích những dấu chỉ thời đại 519
Việc Phúc Âm hóa mới là đòi hỏi 520
Thách đố về phía các giáo phái và tôn giáo mới 521
Bóng tối và ánh sáng trong hoạt động tác vụ. 523
Ưu tiên của đời sống thiêng liêng. 523
Các phương thế cho đời sống thiêng liêng. 524
Noi gương Đức Kitô cầu nguyện. 526
Bắt trước Giáo Hội cầu nguện 527
Cầu nguyện là hiệp thông. 528
Thể hiện đức ái của Đức Kitô 529
Chủ nghĩa công chức 530
Trung thành với Lời 530
Lời và đời sống 533
Lời Chúa và việc dạy Giáo Lý: 535
Mầu Nhiệm Thánh Thể 537
Cử hành Thánh Thể 538
Chầu Thánh Thể. 540
Thừa tác viên của sự hòa giải 541
Tận tụy trong thừa tác vụ Hòa Giải 542
Sự cần thiết phải xưng tội 543
Linh hướng cho mình và cho kẻ khác. 544
Linh Mục cho cộng đoàn 545
Sentire cum Ecclesia- đồng cảm với Giáo Hội. 546
Ý muốn vững chắc của Giáo Hội 547
Những lý do thần học và thiêng liêng. 548
Gương Chúa Giêsu 550
Những khó khăn và vấn nạn 551
Nền tảng của đức vâng lời 554
Đức vâng lời phẩm trật 555
Quyền bính được thực thi với đức ái 557
Tôn trọng các quy luật Phụng Vụ 557
Hợp nhất trong các chương trình mục vụ 558
Buộc mặc áo Giáo Sĩ 559
Nghèo khó như một sự sẵn sàng 560
Những nhân đức của Mẹ 563
CHƯƠNG III: VIỆN HUẤN LUYỆN THƯỜNG XUYÊN 565
Sự cần thiết huấn luyện thường xuyên ngày nay 565
Làm việc liên tục cho mình. 566
Khí cụ thánh hóa 567
Được Giáo Hội ban cho 567
Việc huấn luyện thường xuyên 568
Đầy đủ 568
Nhân bản 569
Thiêng liêng 570
Trí thức 571
Mục vụ 573
Có hệ thống 574
Nhắm đến cá nhân 574
Những cuộc gặp gỡ Linh Mục. 575
Năm mục vụ 576
Thời gian nghỉ ngơi. 578
Nhà Giáo Sĩ. 579
Tĩnh tâm và linh thao 580
Cần sắp đặt chương trình 581
Linh Mục 582
Sự giúp đỡ của anh em 583
Giám Mục 584
Đào tạo các nhà huấn luyện. 586
Hợp tác giữa các Giáo Hội. 587
Hợp tác với trung tâm nghiên cứu và tu đức. 588
Các lứa tuổi và hoàn cảnh đặc biệt những năm đầu đời Linh Mục. 588
Sau những năm 590
Tuổi cao. 591
Những Linh Mục trong hoàn cảnh đặc biệt 591
Nỗi cô đơn của Linh Mục 593
KẾT. 594
LINH MỤC VÀ THIÊN NIÊN KỶ
KITÔ GIÁO THỨ BA
CHƯƠNG I 608
PHỤC VỤ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC ÂM HÓA 608
1. Tân Phúc âm hóa, trách nhiệm của toàn thể Hội thánh. 608
2. Vai trò thiết yếu của các linh mục 612
CÂU HỎI CHO CHƯƠNG MỘT 618
CHƯƠNG II: THẦY DẠY LỜI CHÚA 620
1. Các linh mục, những thừa tác viên Lời Chúa
“nhân danh Chúa Kitô, nhân danh Hội Thánh” 620
2. Hướng đến việc rao giảng Lời Chúa cách hiệu quả 624
CÂU HỎI CHO CHƯƠNG HAI 632
CHƯƠNG III: THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH 633
1. ‘Nhân danh Đức Kitô là Đầu’ 633
2. Các thừa tác viên Bí Tích Thánh Thể : tâm điểm của tác vụ linh mục. 635
3. Những thừa tác viên của ơn Hòa giải với Thiên Chúa và Hội thánh. 639
CÂU HỎI CHO CHƯƠNG BA 646
CHƯƠNG IV: NHỮNG MỤC TỬ
GIÀU TÌNH THƯƠNG CỦA ĐOÀN CHIÊN. 648
1. Cùng với Chúa Kitô, nhập thể
và trải rộng lòng thương xót của Chúa Cha. 648
2. Sacerdos et Hostia. 651
3. Công việc mục vụ của linh mục : phục vụ qua việc
hướng dẫn Dân Chúa trong tình yêu và sức mạnh 654
CÂU HỎI CHƯƠNG BỐN 661
KẾT LUẬN 663
HUẤN THỊ VỀ SỰ HỢP TÁC CỦA GIÁO DÂN VỚI THỪA TÁC VỤ LINH MỤC
Lời Tựa 669
PHẦN I. NHỮNG NGUYÊN LÝ THẦN HỌC 676
1. Chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác 676
2. Tính duy nhất và khác biệt của những nhiệm vụ thừa tác 680
3. Đặc tính không thể thay thế của thừa tác vụ được tấn phong 682
4. Sự cộng tác của những người tín hữu không được tấn phong với thừa tác vụ mục vụ 684
PHẦN II. NHỮNG DỰ ĐỊNH THỰC HÀNH 687
Điều 1: Cần thiết có một danh từ thích hợp 687
Điều 2 : Thừa tác vụ Lời 690
Điều 3: Bài Giảng Phúc Âm (Homélie) 692
Điều 4: Linh Mục Quản Xứ 695
Điều 5 : Những tổ chức cộng tác trong Giáo Hội địa phương 697
Điều 6: Những cử hành phụng vụ 700
Điều 7: Nhừng cử hành Chúa Nhật khi vắng Linh Mục 701
Điều 8: Thừa tác viên bất thường cho rước lễ 702
Điều 9: Việc tông đồ bên người bệnh 705
Điều 10: Chủ trì hôn nhân 706
Điều 11: Thừa tác viên Rửa Tội 707
Điều 12: Việc hướng dẫn cử hành các nghi lễ an táng
trong Giáo Hội 708
Điều 13: Sự cần thiết tuyển chọn và đào tạo đúng mức 709
Kết 710
HUẤN THỊ LINH MỤC MỤC TỬ
VÀ LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ
Dẫn nhập 715
DIỄN TỪ CỦA ĐỨC THÁNH CHA 717
Phần I : CHỨC TƯ TẾ PHỔ QUÁT CỦA TÍN HỮU
VÀ CHỨC TƯ TẾ THỪA TÁC 724
1. Ngước mắt lên mà xem (Ga 4,35) 724
2. Những yếu tố nòng cốt của thừa tác vụ và đời sống Linh mục 729
Phần II : GIÁO XỨ VÀ NHIỆM VỤ LINH MỤC CHÍNH XỨ 753
Các thách đố tích cực hiện nay đối với các thừa tác vụ mục vụ trong giáo xứ 775
Lời kinh của linh mục chính xứ 789
Kinh tuyên xưng tình yêu của cha sở họ Ars 792







