Nhân dịp Giáo phận Đà Lạt kết thúc Năm thánh kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho người dân tộc, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Giám mục giáo phận Đà Lạt, đã dành cho báo Công Giáo Và Dân Tộc cuộc phỏng vấn về việc sống Năm thánh của giáo phận Đà Lạt. Cũng nhân dịp này, trong tư cách là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngài cũng chia sẻ những khắc khoải về tương lai Giáo hội Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam (1960-2010)

CG&DT: Thưa Đức cha, giáo phận Đà Lạt đã trải qua thời gian sống Năm Thánh kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho người dân tộc, xin Đức cha cho biết đôi điều về nhịp sống của giáo phận Đà Lạt trong thời gian qua?

Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Nhân dịp kỷ niệm biến cố người dân tộc bản địa đầu tiên được vị thừa sai Gioan Cassaigne ban Bí tích rửa tội vào ngày áp lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội 07/12/1927, Giáo phận đã cử hành Năm Thánh từ ngày 29/10/2006 đến 08/12/2007. Đây thực sự là thời gian hồng phúc cho Giáo phận. Chúng tôi đã hình thành thêm được những ngày truyền thống: cho anh chị em dân tộc vào chúa nhật cuối tháng 10, nghĩa là ngay sau ngày Thế giới Truyền giáo hằng năm. Vào ngày đầu tháng 12 vừa qua, chúng tôi cũng đã tổ chức được ngày hành hương cho các bạn trẻ với trên 3.500 bạn tham dự.

Chúng tôi tạ ơn Chúa, vì vào đúng ngày kỷ niệm 80 năm người phụ nữ bản địa đầu tiên được trở nên con cái Chúa, cũng là ngày áp lễ bế mạc Năm Thánh truyền giáo, Giáo Phận đã hân hoan cử hành lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng một ngôi thánh đường mới dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm, ở xã Đạ-Tông thuộc huyện Đam-Rông, để phục vụ 7.000 tín hữu sắc tộc Kơho và Mnông. Thánh lễ được đông đảo các thành phần dân Chúa trong Giáo Phận tham dự, với trên 100 linh mục đồng tế và 10.000 giáo dân sắc tộc tham dự. Mọi người đều nhận ra tình Chúa luôn yêu thương con cái Ngài. Chắc chắn đây là một biến cố ghi đậm nét trong lịch sử Giáo Phận.

Tôi cũng nói thêm là trong năm kỷ niệm này, Giáo phận đã tổ chức tuần thường huấn cho các linh mục triều và dòng với chủ đề “Yêu thương và phục vụ” nhằm tìm hiểu đôi nét về phong tục tập quán, xã hội và văn hóa của người Kơho và Churu, để nhờ việc hiểu biết con người và những gì làm nên cuộc sống của những anh em này, các linh mục sẽ dấn thân phục vụ những anh em này tốt hơn, bởi vì có một câu của Đức cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II nói làm chúng tôi phải ngẫm nghĩ: “Con người là con đường của Giáo Hội” (Thông điệp Đấng Cứu Chuộc Con Người, s. 14).

CG&DT: Một cách riêng, đặc biệt hướng tới anh chị em bản địa, giáo phận Đà Lạt đã đề ra quyết tâm: xây dựng ngôi thánh đường Đạ Tông để ghi nhớ dịp kỷ niệm 80 năm truyền giáo, hoàn thành bản dịch Sách lễ Rôma theo ngôn ngữ Kơho, bảo tồn gia sản văn hóa của anh chị em nơi thi ca và truyền thống… Công việc này đã đến đâu?

Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Những nỗ lực của Giáo Phận chuẩn bị và thực hiện nhân biến cố Năm Thánh mừng 80 năm truyền giáo cho anh chị em dân tộc bản địa thực là nhiều, và tạ ơn Chúa, đang từng bước đạt được kết quả. Thực vậy, cụ thể chúng tôi đã quyết tâm phục vụ anh chị em về các mặt khác nhau của đời sống: trước hết là bảo tồn gia sản văn hóa của anh chị em bản địa, đặc biệt trong sắc tộc Kơho và Churu, qua việc xây dựng phòng truyền thống và sưu tầm các bản văn ca dao, tục ngữ… ; thứ đến là giúp anh chị em làm phong phú ngôn ngữ của mình, đặc biệt là kiện toàn lời kinh tiếng hát và hoàn thành việc dịch thuật các sách phụng vụ; cuối cùng là giúp thăng tiến đời sống của anh chị em, qua việc chăm sóc sức khỏe, khuyến học…

Tôi đặc biệt đề cập đến việc phiên dịch sách phụng vụ. Ngay sau Công Đồng Vatican II, Hội Thánh cho phép sử dụng ngôn ngữ địa phương trong phụng vụ thì Giáo Phận Đàlạt đã được phép dùng một phần thường lễ trong ngôn ngữ Kơho vào năm 1966. Rồi khi Sách Lễ Rôma phát hành ấn bản mẫu thứ ba vào năm 2002, chúng tôi đã tiếp tục công việc dịch thuật theo các chỉ dẫn của Tòa Thánh, rồi từng bước thực hiện theo các trình tự: trình Hội Đồng Giám Mục chấp thuận, rồi đệ trình Tòa Thánh xin phê chuẩn. Vào đầu năm 2005, Bộ Phụng Tự và Kỷ luật bí tích đã ban Sắc lệnh phê chuẩn “Nghi thức thánh lê”, ngày 08/11/2005 Sắc lệnh phê chuẩn phần II gồm các lời nguyện cho các mùa Phụng vụ và lễ riêng các Thánh. Chúng tôi đang chờ Sắc lệnh phê chuẩn phần còn lại. Như vậy hy vọng vào cuối năm 2008, Giáo Phận Đàlạt sẽ có thể phát hành Sách Lễ Rôma cho ngôn ngữ Kơho cho khoảng 70.000 người Kơho. Chúng tôi cũng đã được Hội Đồng Giám Mục phê chuẩn bản dịch 4 sách Tin Mừng. Sắp tới chúng tôi còn phải hoàn thành Sách Bài Đọc và các Nghi thức bí tích.

CG&DT: Trong thư Mục vụ mùa Vọng 2007, Đức cha nói “khi Năm Thánh đã gần kết thúc, cả Gia Đình thân yêu chúng ta lại hướng tới dịp kỷ niệm Kim Khánh Giáo Phận” (vào năm 2010), hẳn giáo phận sẽ tiếp tục sống tinh thần của Năm Thánh 80 năm Truyền Giáo Cho Người Dân Tộc, hoặc là mang một sắc thái mới hòa cùng việc kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam?

Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Năm 2010 vừa là Kim Khánh thành lập Giáo Phận, vừa là Kim Khánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, vì thế Giáo Phận trong khi nghĩ đến mình thì vẫn hướng về Giáo Hội Việt Nam. Công cuộc truyền giáo là chính sự sống của Giáo Hội, vì thế khi Giáo Phận nỗ lực truyền giáo thì đã làm một phần truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam.

Giáo Phận cũng rất quan tâm đến những nỗ lực mà Giáo Hội Việt Nam đang thực hiện, vì biết rằng mình cũng là một bộ phận trong Thân Thể sống động là Giáo Hội Việt Nam. Khi đón nhận và thực hiện những sáng kiến mà rồi đây cả 26 Giáo Phận cùng góp phần xây dựng, Giáo Phận cương quyết đồng hành trong nỗ lực “nói về Chúa Giêsu Kitô cho người Việt Nam” như định hướng của Đại Hội Truyền Giáo Á Châu lần I tại Chiang-Mai 2006, làm sáng tỏ hình ảnh Hội Thánh là “Bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn thể nhân loại” như Công Đồng Vaticanô II đề ra (x. GH 1).

CG&DT: Nhân nói tới việc kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Đức cha có thể giải thích cho độc giả CG&DT hiểu rõ hơn về sự khác biệt giữa Công Nghị và Công Đồng. Và khi nào Giáo hội địa phương cần triệu tập Công Nghị và để đáp ứng điều gì?

Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Trong thời gian vừa qua, trên các trang thông tin công giáo, nhiều người được biết : trong Đại Hội lần thứ X vào tháng 10 vừa qua, “các giám mục còn lập Uỷ ban chuẩn bị mừng 50 thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam vào năm 2010 (24/11/1960). Trong 3 năm tới, Uỷ ban do Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn đứng đầu sẽ tổ chức các hội thảo và triển lãm về các hoạt động của Giáo Hội trong 50 năm qua kể từ khi Hàng Giáo Phẩm được thành lập năm 1960. Uỷ ban cũng sẽ tổ chức một Công Đồng để nhìn lại 50 năm qua và đề ra các định hướng mục vụ cho Giáo hội địa phương trong thời gian tới”.

Khi nói đến Công Đồng (Concilium) hay Công Nghị (Synodus) còn gọi là thượng hội đồng là nói đến cuộc hội nghị của các Giám mục để cùng nhau giải quyết các vấn đề chung. Có một khác biệt ở chỗ Công Đồng có quyền biểu quyết, còn Công Nghị hay Thượng hội đồng chỉ mang tính tư vấn. Đây là một sinh hoạt đã có từ rất lâu trong Giáo Hội.

Giáo Luật 1983 đề cập đến hai hình thức: Công Đồng Chung liên hệ đến toàn thể Giáo Hội, ví dụ gần đây nhất là Công Đồng Chung Vaticanô II (1962-1965) ; và Công Đồng miền hay Công Đồng giáo tỉnh liên hệ đến các Giáo Hội địa phương. Hình thức sau (Công Đồng miền) nay đã trở nên họa hiếm. Tuy nhiên, liên hệ đến lịch sử Giáo Hội Việt Nam, từ khi có hai Địa phận Đại diện Tông Tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài năm 1659, thấy có ghi lại các Công đồng địa phương theo thứ tự thời gian : 1665 Juthia (Thái Lan) chung cho các giáo đoàn Trung Hoa, Việt Nam, Thái Lan ; 1670 tại Dinh Hiến (Đàng Ngoài) ; 1672 tại Hội An (Đàng Trong) ; 1900 Kẻ Sặt (toàn Bắc Kỳ) ; 1912 Kẻ Sở (toàn Bắc Kỳ lần II) ; 1934 Hà Nội (toàn Đông Dương).

Giáo Luật cũng đề cập đến Thượng Hội Đồng, một cách đặc biệt rõ nét từ Tự sắc Apostolica Sollicitudo của Đức Phaolô VI thiết lập ngày 15/9/1965 mà hiện nay chúng ta đã thấy trở nên quen thuộc: hoặc là Thượng Hội Đồng khóa thông thường, hoặc là khóa ngoại thường khi có nhu cầu đặc biệt, hoặc là khóa Thượng Hội Đồng đặc biệt liên hệ trực tiếp đến một miền đất nhất định như châu lục hay quốc gia.

Trở lại với quyết định của Giáo Hội Việt Nam hướng tới năm 2010, các Giám mục đã ủy thác cho Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn đứng đầu Ủy ban tổ chức các hội thảo và triển lãm, đồng thời tổ chức một Công Đồng. Nay, vào ngày 30/11 vừa qua, Đức Hồng Y đã cho phổ biến “ĐỀ ÁN : CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA VIỆT NAM CỬ HÀNH NĂM THÁNH 2010”, để “1/ nhìn lại quãng đường lịch sử gần 500 năm truyền giáo qua ba thời kỳ…; 2/ nhìn lại đặc biệt thời kỳ 50 năm chính tòa và thẩm định đời sống yêu thương và phục vụ của Giáo Hội trong chức vụ ngôn sứ, tư tế, mục tử hôm nay ; 3/ đồng thời cũng nhìn tới tương lai trong bối cảnh văn hóa xã hội đang thay đổi của những thập niên đầu thiên niên kỷ III“. Với những mục tiêu như trên, có lẽ một tổ chức gọn nhẹ sẽ rất phù hợp hơn, dựa trên sáng kiến và kinh nghiệm của các Giáo Phận. Xem ra Đức Hồng y Gioan Baotixta cũng chọn lựa phương hướng này khi Ngài chia sẻ với chúng ta: “Sau ba lần hội ý với nhóm Tư Vấn tại Giáo Phận và nhóm Tư Vấn tại Roma, nay tôi thấy việc Cộng Đồng Dân Chúa Việt Nam cử hành Năm Thánh 2010, trong đó có Đại Hội Dân Chúa Việt Nam thì tiện lợi và đem lại nhiều ơn ích hơn là tổ chức Công Đồng như đã dự kiến”.

CG&DT: ĐHY G.B. Phạm Minh Mẫn đã được HĐGMVN giao phó nhiệm vụ tổ chức Công Nghị, nhưng về phần Đức cha, trong cương vị Chủ tịch HĐGMVN, Đức cha sẽ góp phần như thế nào?

Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Đại Hội X của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã tín nhiệm trao cho Đức Hồng Y Gioan Baotixita nhiệm vụ tổ chức Công Nghị. Tuy nhiên, tất cả các giám mục và từng giám mục đều phải nỗ lực góp phần để cộng tác. Và Đức Hồng Y Gioan Baotixita sẽ thi hành nhiệm vụ của mình trong việc lắng nghe các ý kiến của các giám mục để vạch ra đường lối, phương hướng và tổ chức cho phù hợp. Như thế tất cả chúng tôi sẽ cùng làm việc chung với nhau và cố gắng hoàn thành cách tốt nhất công việc đã được trao phó.

CG&DT: Hàng Giáo phẩm Việt Nam sẽ kỷ niệm 50 năm thành lập vào năm 2010, xin Đức cha chia sẻ những cảm nhận của mình về giai đoạn này?

Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Chúng tôi rất náo nức hướng về biến cố trọng đại đó. Trước hết đây là hồng ân lớn lao Chúa ban cho Giáo Hội Việt Nam, nên chúng tôi cần phải đón nhận cách xứng đáng. Và sau đó, chúng tôi cũng rất ý thức còn nhiều vấn đề phải được đem ra trao đổi để sửa chữa, canh tân, kiện toàn… Trong niềm tin vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, chúng tôi sẽ biết cầu nguyện, lắng nghe, chia sẻ… để có thể đón nhận được ý muốn của Chúa và đem ra thi hành.

CG&DT: Đức cha mường tượng như thế nào về nhu cầu mục vụ của GHCGVN trong giai đoạn tới?

Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Nhu cầu mục vụ của Giáo Hội Việt Nam, cũng như mọi nơi, luôn có nhiều và cụ thể trong từng thời kỳ. Nhưng với 50 năm hình thành và sinh hoạt, lẽ dĩ nhiên mọi người đều mong ước được trông thấy sự trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam. Nhưng thế nào là trưởng thành? – Theo thiển ý của tôi, đó phải là một Giáo Hội như lòng Chúa mong ước khi Ngài thiết lập từ thuở ban đầu. Tôi đặc biệt ưu tư ở những điểm sau đây :

-Trên hết mọi sự, phải là một Giáo Hội “thánh thiện” như chúng ta vẫn xưng mình là “Hội Thánh” (x. Ep 5,27) ;

-Để là thánh thiện thì phải “hiệp thông” như Chúa dạy : “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20) ;

-Để được hiệp thông thì phải sống “hiền lành và khiêm nhường” như Chúa Giêsu đã dạy bảo khi Ngài ở giữa các môn đệ : “Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29) vì chúng ta được gọi và sai đi như những sứ giả của hòa bình (x. Lc 10,5) để có thể “phục vụ” như Thầy của chúng ta:“Vì Con Người đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ” (Mt 20,28).

Giáo hội Công giáo Việt Nam trong giai đoạn sắp tới nỗ lực phát triển trên nền tảng đã được xây dựng gần 500 năm qua, kể từ khi Tổ tiên đón nhận Phúc âm của Chúa và đã dùng máu đào để làm chứng cho Đức Tin Công giáo và đặc biệt 50 năm qua với hàng Giáo phẩm Việt Nam, cách riêng kể từ ngày Hàng Giáo phẩm Việt Nam được gặp nhau trong Đại Hội các Giám Mục Việt Nam năm 1980 .

Để có được một Giáo Hội, một Giáo Phận, một giáo xứ, một cộng đoàn, một gia đình như thế, cần hết sức quan tâm đến việc “đào tạo” và tạo điều kiện để mỗi người “tham gia” theo chức năng của mình (một Giáo Hội – tham gia).

Chúng ta đang sống trong những ngày mùa Vọng, hãy chiêm ngưỡng Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người để yêu thương cứu chuộc nhân loại bằng con đường thập giá, cũng là ơn gọi của mỗi người chúng ta.

CGvDT: Xin chân thành cám ơn Đức cha về cuộc phỏng vấn này.

Phạm Ngọc – Quốc Trung