Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất;
còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.
(Mt 16,25)

BÀI ĐỌC I: Gr 20, 7-9
“Lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã”.
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Lạy Chúa, Chúa đã khuyến dụ tôi, và Chúa đã khuyến dụ được tôi. Chúa đã hùng mạnh hơn tôi và thắng được tôi: suốt ngày tôi đã trở nên trò cười, và mọi người đều chế nhạo tôi. Mỗi lần tôi nói, tôi phải la lớn và loan báo sự hung bạo và điêu tàn, cho nên lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã và bị chế nhạo suốt ngày. Tôi đã nói rằng: “Tôi sẽ không nhớ đến Người nữa, sẽ không nhân danh Người mà nói nữa, thì lúc đó trong lòng tôi như lửa đốt nóng, âm ỉ trong xương cốt tôi, tôi kiệt sức, không chịu nổi nữa”.

ĐÁP CA: Tv 62, 2. 3-4. 5-6. 8-9
Đáp:
 Lạy Chúa là Thiên Chúa con, linh hồn con khát khao Chúa (c. 2b).

1) Ôi lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa con, như đất héo khô, khát mong mà không gặp nước! – Đáp.

2) Con cũng mong được chiêm ngưỡng thiên nhan ở thánh đài, để nhìn thấy quyền năng và vinh quang của Chúa. Vì ân tình của Ngài đáng chuộng hơn mạng sống, miệng con sẽ xướng ca ngợi khen Ngài. – Đáp.

3) Con sẽ chúc tụng Ngài như thế trọn đời con; con sẽ giơ tay kêu cầu danh Chúa. Hồn con được no thỏa dường như bởi mỹ vị cao lương, và miệng con ca ngợi Chúa với cặp môi hoan hỉ. – Đáp.

4) Vì Chúa đã ra tay trợ phù con, để con được hoan hỉ núp trong bóng cánh của Ngài. Linh hồn con bám thân vào Chúa, và tay hữu Chúa nâng đỡ người con. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 12, 1-2
“Anh em hãy tiến thân làm của lễ sống động”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tôi nài xin anh em vì lượng từ bi Thiên Chúa, hãy hiến thân anh em làm của lễ sống động và thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là việc phụng thờ hợp lý anh em phải làm. Anh em đừng theo thói đời này, nhưng hãy canh tân lòng trí anh em, để anh em biết đâu là thánh ý Chúa, biết điều gì tốt lành đẹp lòng Chúa và hoàn hảo.

TIN MỪNG: Mt 16, 21-27
21 Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại. 22 Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” 23 Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”
24 Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. 25 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. 26 Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?
27 “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.

SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa

TỪ BỎ CHÍNH MÌNH

Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16,24)

Suy niệm: Chúa không “mị dân”, không chơi trò ú tim, nhưng đòi hỏi cách quyết liệt: “Ai muốn theo Thầy thì phải từ bỏ chính mình, vác thập giá hàng ngày mà theo”. Chúa không chỉ nói mà nêu gương:
1/ “Phận là một vì Thiên Chúa, nhưng không đòi hỏi được ngang hàng với Thiên Chúa, mà tự hạ, mang thân phận tôi đòi, vâng phục đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,6-8).
2/ Khi được dân ngưỡng mộ muốn suy tôn, Chúa đã lánh đi nơi khác.
3/ Trong cầu nguyện trong vườn Cây Dầu, Chúa vẫn quyết liệt từ bỏ tới cùng: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).

Mời Bạn: Để có thể từ bỏ hoàn toàn, bạn phải tập từ bỏ dần dần, mỗi ngày một chút, từ những việc nho nhỏ. Điều khó nhất là từ bỏ bản thân, ý riêng mình: “Chiến thắng chính mình là chiến thắng vẻ vang nhất”.

Chia sẻ: Một nghịch lý: càng “mất” thì lại càng “được”. Dám mất sự sống thì lại được nó cách toàn vẹn. Các thánh là những người thành công trong việc từ bỏ: Càng bỏ mình, các ngài càng giống Chúa. Tưởng rằng thánh giá đè bẹp con người, không dè nó lại nâng con người lên. Chia sẻ cảm nhận của bạn về những tư tưởng trên đây.

Sống Lời Chúa: Tập từ bỏ bằng cách nén lại một tiếng than vãn, nhịn một câu nói trả đũa, kiềm chế một phản ứng nóng giận.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã dạy và nêu gương từ bỏ cho chúng con. Trên con đường đi theo Chúa, xin giúp con quyết liệt và mau mắn đáp lại những khi Chúa muốn con từ bỏ một điều gì khiến con không hoàn thiện. Amen.

B/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay có chung một bài học: đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người; vì thế, những người Ki-tô hữu phải có thái độ dứt khoát không chạy theo thời, không rập khuôn theo thói đời.
Gr 20: 7-9
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a trung thành loan báo sứ điệp Thiên Chúa, dù phải đi ngược lại với bản tính của ông và những ước muốn của những người đương thời với ông.
Rm 12: 1-2
Thánh Phao-lô cảnh giác cộng đoàn tín hữu Rô-ma, sống giữa môi trường dân ngoại, “đừng có rập theo đời nầy”.
Mt 16: 21-27
Trong Tin Mừng, thánh Phê-rô phản ứng như một phàm nhân, phẩn nộ trước ý định Thiên Chúa dẫn Đấng Mê-si-a bước đi trên con đường đau khổ.
BÀI ĐỌC I (Gr 20: 7-9)
Trong lịch sử trào lưu Ngôn Sứ Kinh Thánh, chắc chắn ngôn sứ Giê-rê-mi-a là một trong những nhân vật hấp dẫn nhất. Vốn hiền hòa, đa cảm và không muốn làm mất lòng một ai, ấy vậy, ông phải trung thành loan báo những sứ điệp của Thiên Chúa, ngược lại với bản tính của mình và những kỳ vọng của những người đương thời với ông, vì thế, ông rất khổ tâm và không ngừng bị chống đối.
1.Bối cảnh lịch sử:
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a thi hành sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem, giữa những năm 626 và 587 tCn; nghĩa là ông đã sống vào thời kỳ bi thảm nhất của vương quốc Giu-đa: hai lần thành thánh Giê-ru-sa-lem bị đế quốc Ba-by-lon vây hãm (598-587), và cuối cùng thành thánh bị tàn phá và Đền Thánh bị phá hủy. Ông đã loan báo tai họa sắp giáng xuống mà không được ai chú ý đến, kêu gọi hoán cải để được thứ tha mà không được ai lắng nghe: trở nên trò đùa, bị nhạo báng, bị xem như kẻ phản quốc, bị tống giam, thật sự là một bi kịch diễn ra trong tận đáy lòng của vị ngôn sứ.
2.Bi kịch nội tâm:
Đoạn văn được trích dẫn hôm nay là một trong những đoạn văn thống thiết nhất mà vị Ngôn Sứ đã viết. Qua lối nói phóng dụ và những hình ảnh mạnh mẽ, đoạn trích nầy nói lên tất cả bi kịch của trào lưu Ngôn Sứ: đón nhận ơn đặc sủng mà không thể nào cưỡng kháng lại được, ý muốn của Thiên Chúa ngược lại với tất cả những ước muốn của phàm nhân, đấu tranh không hề mỏi mệt với sự dữ và dối trá mà không nhận được bất cứ điều gì ngoài những lời nhục mạ và cam chịu vì không được ai hiểu.
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a thân thưa với Thiên Chúa về sức mạnh của Ngài trên sứ mạng ngôn sứ của ông:
“Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con,
và con đã để cho Ngài quyến rũ.
Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng”.
Ông phàn nàn với Chúa về những thử thách nặng nề mà ông phải chịu khi trung thành thi hành sứ vụ Thiên Chúa đã giao phó. Người đương thời chẳng những không đón nhận, mà còn lăng nhục ông, vì sứ điệp của Thiên Chúa trái với những kỳ vọng của con người.
“Suốt ngày con đã trở nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.
Mỗi lần nói năng là con phải la lớn,
phải kêu lên: ‘Bạo tàn! Phá hủy!’.
Vì lời Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt này” (20: 7c-8).
Vì thế, ông mong muốn được thoái thác sứ vụ của mình:
“Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người,
cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa’” (20: 9a).
Dù đã ra sức cố dồn nén lại trong lòng, không công bố lời Chúa nữa, nhưng ông không thể:
“Nhưng lời Ngài như một ngọn lửa cháy bừng trong tim,
ầm ỉ trong xương cốt.
Con nín chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (20: 9b)
Không bản văn nào hơn bản văn nầy giúp chúng ta thấu hiểu bản chất ơn gọi ngôn sứ, nguồn gốc siêu nhiên của nó, và đồng thời, quyền năng của nó ở tận cõi thâm sâu nhất của con người. Ngôn sứ Giê-rê-mi, bị người đời ruồng bỏ, quay về Thiên Chúa trong một lời khẩn nguyện khôn nguôi, dưới hình thức đối thoại hay độc thoại rất cô động. Ông thật xứng danh là “cha của lời khẩn nguyện”. Cũng chính ông loan báo “giao ước mới được ghi khắc trong lòng” và cũng là người đầu tiên sống giao ước mới mà ông loan báo.
BÀI ĐỌC II (Rm 12: 1-2)
Với chương 12, khởi sự phần luân l‎ý của thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô ngỏ lời với toàn thể cộng đoàn tín hữu Rô-ma (dù họ xuất thân từ đâu: Do thái hay dân ngoại). Thánh nhân vừa mới ca ngợi lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa, vì thế ngài khai triển chủ đề nầy. Trong phần trích hôm nay, chúng ta đọc thấy hai lời khuyên của thánh nhân: phụng thờ đích thật và đổi mới con người.
1.Phụng thờ đích thật (12: 1):
“Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”“Của lễ sống động” là trọn một cuộc đời dâng hiến cho Thiên Chúa, đối nghịch với tế vật của những súc vật chết được hiến dâng trên bàn thờ. Tất cả cuộc đời Ki-tô hữu phải là một cuộc đời phụng tự. Đó mới thật là “của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”. Thánh Phao-lô đã áp dụng từ ngữ tế tự vào chính mình. Thánh nhân xem sứ vụ của mình như một hành vi tế tự như trong lời kết thư gởi tín hữu Rô-ma nầy: “Ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi là làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hóa mà trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 15: 16). Trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, khi ám chỉ đến việc mình bị kết án tử, có lẽ sắp đến gần, thánh nhân thấy “máu của mình phải đổ ra hợp làm một với hy lễ” (Pl 2: 17).
Hiến dâng chính bản thân mình lên Thiên Chúa, đó là “cách thế xứng hợp để anh em thờ phượng Thiên Chúa”. Ở đây, thánh nhân phân biệt sự khác biệt giữa tế tự hình thức và tế tự đòi hỏi dấn thân trọn vẹn bản thân mình. Tế tự đòi hỏi dấn thân trọn vẹn bản thân mình là cách thức phụng sự Thiên Chúa xứng hợp nhất.
2.Đổi mới con người (12: 2):
Lời khuyên thứ hai nhắm đến việc đổi mới con người. Việc đổi mới nầy đòi hỏi hai chuyển động đồng lúc: “Đừng rập theo đời nầy”, nhưng “hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần”.
Do thái giáo phân biệt thế giới hiện tại và thế giới sắp đến, tức vương quốc Thiên Chúa. Đối với thánh Phao-lô, thế giới hiện tại là thế giới tội lỗi, thế giới ngoại giáo. Đối với thế giới nầy, người tín hữu phải có thái độ không theo thời, không tìm cách rập khuôn theo thói đời. Đó thật sự là một thử thách khủng khiếp thường ngày đối với các Ki-tô hữu hiện sống trong thủ đô của Đế Quốc Rô-ma.
Thánh Phao-lô sẽ không ngừng lập đi lập lại: Hãy trở nên một con người mới “hầu có thể nhận ra đâu là ‎ý muốn của Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo”.
TIN MỪNG (Mt 16: 21-27)
Đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật nầy nối tiếp với đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước.
1.Loan báo lần thứ nhất về cuộc Thương Khó và Phục Sinh:
Sau khi đã nghe thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Đức Giê-su nghĩ rằng đây là giây phút thuận tiện để dẫn đưa các môn đệ của mình vào trong mặc khải mầu nhiệm của Ngài: đây là lần đầu tiên (sẽ còn hai lần khác nữa) Ngài loan báo cho họ cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài: “Người phải chịu nhiều đau khổ, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Mỗi lần loan báo về cái chết của mình, Ngài liên kết những viễn cảnh của cuộc Tử Nạn của Ngài với biến cố Phục Sinh.
“Người phải…”: Điều tất yếu mà Đức Giê-su nêu lên ở đây không là tất yếu của một định mệnh; nhưng là tất yếu thuộc trật tự thần học, cái tất yếu của kế hoạch Thiên Chúa. Tử Nạn không là một tai nạn mà biến cố Phục Sinh đến để đền bù, nhưng dự phần vào mầu nhiệm cứu độ con người. Đức Giê-su không cho các môn đệ bất cứ giải thích nào khác ngoài cái tất yếu “phải” nầy (tất cả các từ “phải” quan trọng của Tân Ước đều quy về ơn cứu độ).
2.Phản ứng của thánh Phê-rô:
Chúng ta hiểu được phản ứng của thánh Phê-rô. Ông quan niệm Đấng Mê-si-a vinh quang và chiến thắng. Trong tư tưởng của ông, những viễn tượng về Đấng Mê-si-a trần thế chắc chắn vẫn còn hiện diện.
Rất tế nhị, thánh Phao-lô kéo riêng Ngài ra khỏi tầm nhìn của các môn đệ và trách cứ Ngài: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”: Chắc chắn thánh nhân lầm khi lôi kéo Thiên Chúa vào việc gìn giữ Thầy mình cho “tai qua nạn khỏi”. Tuy nhiên, tiếng kêu của ông không chỉ bày tỏ những kỳ vọng mà ông đặt vào Đức Giê-su, nhưng cũng trọn tấm lòng yêu mến của ông đối với Thầy mình. Chúng ta không thể nào chấp nhận người mình yêu mến phải chịu đau khổ.
Đức Giê-su phản ứng dữ dội. Vào lúc nầy, những cám dỗ mà Ngài đã kinh qua trong hoang địa hiện ra trong tâm trí Ngài giữa “Đấng Mê-si-a quyền năng” mà dân Ít-ra-en mong đợi và “Người Tôi Tớ đau khổ” mà Kinh Thánh loan báo. Trước đây, Đức Giê-su đã xua đuổi chước cám dỗ của Xa-tan bởi lời quyền năng: “Xa-tan kia, xéo đi!” (4: 10), nay Ngài phản kháng thánh Phê-rô cũng một cách tương tự như thế: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy!”“Xa-tan” có nghĩa “kẻ cản lối” làm người ta vấp ngã.
Khi truyền lệnh cho Phê-rô: “Lui lại đằng sau Thầy”, Đức Giê-su không xua đuổi ông, nhưng mời gọi ông “hãy đi theo sau Ngài” để khỏi cản lối đi của Ngài. Ngài muốn Phê-rô hiểu rằng đức tin mà ông đã tuyên xưng, việc tấn phong mà ông đã lãnh nhận, đòi hỏi ông phải dứt khoát dấn thân vào trong cùng một vận mệnh của Ngài vì đó là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa: “Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”.
3.Những điều kiện để trở nên môn đệ của Đức Giê-su:
Ngay lúc đó, quay về các môn đệ, Đức Giê-su cũng nói với các ông một cách như thế khi liên kết các môn đệ vào với vận mệnh của Ngài, yêu cầu họ bước đi trên cùng một con đường của Ngài.
“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”: Hình ảnh “thập giá” vào thời đó không xa lạ gì với những người đương thời của Đức Giê-su. Chính quyền Rô-ma đã áp dụng hình phạt thập giá cho những ai dám chống lại quyền cai trị của họ. Đã có những cuộc hành hình tập thể như thế xảy ra rồi ở Giê-ru-sa-lem. Ở nơi hình ảnh “thập giá” Đức Giê-su chất chứa những gian khổ mà những ai muốn trở nên môn đệ của Ngài phải trải qua. Trước đây, trong Tin Mừng Mát-thêu, Đức Giê-su đã gợi lên hình phạt thập giá nầy rồi: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10: 38). Thánh Lu-ca, trong một đoạn văn song song (Lc 9: 23), đã thêm chữ “hằng ngày” làm cho “vác thập giá” mang nghĩa biểu tượng: “vác thập giá hằng ngày” nghĩa là chấp nhận mọi khốn khó của cuộc đời.
“Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy”: Lời nầy của Đức Giê-su được cả bốn tác giả Tin Mừng ghi lại, thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca đến hai lần (Mt 10: 38; 16: 25; Mc 8: 35; Lc 9: 24; 17: 33; Ga 12: 25). Một âm vang như thế hàm chứa rằng họ đã hiểu tất cả ‎ý nghĩa của chúng và ghi khắc chúng vào lòng như một bài học lớn lao về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô. Trong viễn cảnh của những lần tiên báo về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, cái chết của Ngài không là dấu chấm hết, nhưng mở ra sự sống: “Mạng sống của tôi không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ‎ ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10: 18). Thánh Mát-thêu viết những lời nầy trong bối cảnh của những năm 80, bối cảnh của những ngày bách hại khắc nghiệt nhất, người tín hữu nào liều mất mạng sống mình vì Đức Giê-su và Tin Mừng, chính là bảo đảm cho mình một cuộc sống trong Vương Quốc Thiên Chúa.
“Vì nếu người ta được cả thế giới, mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?”: Ở đây, Đức Giê-su đối lập giữa sở hữu của cải vật chất được gói trọn ở nơi “người ta được cả thế gian” và “thiệt mất mạng sống” được hiểu theo nghĩa mạnh: “tổn hại sự sống đời đời”“đánh mất ơn cứu độ”.
Để kết thúc tư tưởng của mình, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ biết chọn lựa cách khôn ngoan giữa cuộc sống đời này với cuộc sống vĩnh cửu mai sau khi đặt cho các ông một câu hỏi: “Người ta sẽ lấy gì mà đổi lấy mạng sống mình?”. Cuối cùng, Đức Giê-su kết hợp viễn cảnh chung cuộc nầy với ngày quang lâm của Ngài: “Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”.
Vì thế, để được sở hữu “sự sống đích thật”, một con đường duy nhất được ban cho các môn đệ và sau họ, cho tất cả các Ki-tô hữu: noi gương Đức Giê-su, từ bỏ chính mình, như Ngài, cho đến chết. Lời nghiêm trang, không hoa mỹ, nhưng trào dâng một niềm hy vọng vinh quang. Chúng ta ghi nhận rằng Đức Giê-su không đòi buộc nhưng đề nghị: “Ai muốn …”.

C/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

MỌI SỰ TỐT LÀNH ĐỀU BỞI CHÚA

Qua Lời Tổng Nguyện của Tuần XXII Thường Niên, Năm A này, các nhà phụng vụ  muốn chúng ta ý thức rằng: Mọi sự tốt lành đều do Chúa mà ra. Chúng ta phải xin cho mình thêm lòng tin yêu Chúa, để những gì tốt đẹp nơi chúng ta sẽ được Chúa giữ gìn và phát triển.

Mọi sự tốt lành đều bởi Chúa, vì thế, cũng chỉ một mình Chúa mới có thể gìn giữ và làm phát triển những gì tốt đẹp nơi chúng ta, phần chúng ta là hãy tin yêu, phó thác và đặt niềm trông cậy vững vàng vào Chúa, cho dẫu, chúng ta phải đối mặt với một thực tế hết sức phũ phàng: người dữ thường ức hiếp người lành; điều ác thường lấn lướt điều thiện, khiến ngôn sứ Giêrêmia đã chất vấn Chúa trong bài đọc một của giờ Kinh Sách hôm nay: Tại sao người ác cứ thịnh đạt hoài, tại sao bọn bất lương cứ bình an vô sự? Trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ cũng đã giải bày tâm sự cùng Chúa: vì Lời Đức Chúa mà ông bị sỉ nhục, và ông tự nhủ: không nhân danh Đức Chúa mà nói nữa, nhưng, Lời Đức Chúa vẫn cứ âm ĩ trong lòng khiến ông không thể nén lại được. Đây cũng chính là tâm tình của Đức Giêsu khi đối mặt với giờ của quyền lực tối tăm, Người cảm thấy tâm hồn xao xuyến và xin với Chúa Cha: Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng, cũng vì giờ này mà con đến.

Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, chúng ta phát xuất từ Thiên Chúa, nên chúng ta luôn khao khát, vươn tới những gì thiện hảo, như vịnh gia, trong Thánh Vịnh 62 của bài Đáp Ca hôm nay đã thốt lên: Lạy Thiên Chúa con thờ, linh hồn con khao khát Chúa. Chúa chính là niềm khao khát, trông mong của chúng ta, nên cũng chính Người sẽ soi lòng, mở trí cho chúng ta biết đâu là niềm hy vọng đích thực chúng ta phải hướng tới.

Trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Autinh đã cho chúng ta biết: chúng ta chỉ làm những điều xấu xa, tự sức mình chúng ta không thể làm được điều gì thiện hảo cả, nhưng, ngài cũng trấn an chúng ta: Thiên Chúa giàu lòng thương xót, Người sẽ không bỏ rơi chúng ta. Trong bài đọc hai của Thánh Lễ, thánh Phaolô cho chúng ta biết: để tỏ lòng tin yêu, phó thác, trông cậy vào Chúa, chúng ta phải hiến dâng thân mình, để Chúa đổi mới tâm trí chúng ta, hầu chúng ta biết được thánh ý Chúa: cái gì là tốt, cái gì là thiện hảo, cái gì làm đẹp lòng Chúa.

Lòng tin yêu, phó thác và trông cậy vào Chúa được cụ thể hóa trong bài Tin Mừng hôm nay qua việc: Từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa. Chúng ta trở nên thánh thiện, tốt lành, không phải bởi những việc làm hay những cố gắng của riêng chúng ta, nhưng là do bởi ân sủng của Chúa, Đấng luôn luôn đi bước trước. Ngay cả khát vọng được thanh tẩy cũng đến với chúng ta nhờ sự tuôn đổ và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Chúng ta được nên thánh cách nhưng không, bởi vì, không có gì đi trước việc nên thánh, không phải đức tin cũng không phải việc làm, mà chính là do ân sủng. Ân sủng Chúa trao ban thì vượt quá năng lực của trí năng và ý chí của chúng ta.

Những gì tốt đẹp nơi chúng ta đều là do sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa. Điều này mời gọi chúng ta hân hoan sống tâm tình biết ơn về ân ban mà mình hoàn toàn bất xứng này. Ngày cuối đời, chúng ta sẽ ra trình diện trước mặt Chúa với hai bàn tay trắng, tất cả những việc làm, mà chúng ta tưởng là tốt lành, thánh thiện, thì đều bị nhiễm uế trước mắt Chúa, bởi Người là Đấng tinh tuyền, tuyệt hảo, không chút bợn nhơ.

Không chấp nhận từ bỏ chính mình, không để cho mình được thanh luyện bằng cách vác thập giá mình hằng ngày mà bước theo Chúa, chúng ta sẽ chẳng thể nào làm được điều chi tốt đẹp. Cái tôi tự mãn của chúng ta chạm đến bất cứ thứ gì, thì liền lập tức biến mọi sự trở nên cái tối, cái tội, cái tồi; không ý thức mình là con bệnh, chúng ta không thể được Chúa chữa lành; không thừa nhận mình là tội nhân, chúng ta sẽ không thể được Chúa cứu độ. Chỉ một mình Chúa mới có thể làm cho chúng ta trở nên tốt lành, thánh thiện. Chúa đã dùng con đường khiêm nhường, tự hủy để cứu độ chúng ta, vì thế, chúng ta sẽ không có con đường nào khác, ngoài con đường khiêm hạ của Chúa. Tóm lại, để những gì tốt đẹp nơi chúng ta được giữ gìn và phát triển, chúng ta phải hết lòng tin yêu, phó thác và trông cậy nơi Chúa, bởi vì, mọi sự tốt lành đều bởi do Chúa mà ra.

D/ Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD 

I. BỐI CẢNH

Trong bối cảnh trực tiếp Đoạn văn Mt 16,21-27 được đặt ngay sau lời tuyên xưng của ông Phêrô về căn tính của Đức Giêsu: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, đặc biệt là sau lệnh cấm không được nói cho ai về căn tính Kitô của Người. Lời tiên báo về cuộc khổ nạn – phục sinh là mặc khải rộng thêm về ý nghĩa căn tính Kitô, nhưng ngược lại với cách hiểu của ông Phêrô về căn tính ấy. Trong bối cảnh rộng hơn, lời tiền báo trong đoạn văn này nối kết chặt chẽ và được gia cố bằng hai lần tiền báo khác nữa (Mt 17,22; 20,17-19). Đặc biệt nó nối kết với toàn bộ trình thuật thương khó – phục sinh trong Mt 26 – 28. Lời mời gọi vác thập giá của mình chắc chắn có liên hệ với con đường thập giá mà Đức Giêsu đi trong cuộc khổ nạn. Những cuộc bách hại (Mt 10,27-32.37-39) mà Đức Giêsu cảnh báo cho các môn đệ cũng không nằm ngoài chủ đề thập giá. Chủ đề “vinh quang của Con Người” là một chủ đề cánh chung phổ biến trong Tin Mừng. Thập giá và vinh quang phục sinh là thông điệp quan trọng nhất trong các bài giảng của các Tông Đồ và Giáo Hội sơ khai, cũng là điểm mấu chốt trong thần học của thánh Phaolô.

II. CẤU TRÚC

Bản văn có thể được chia thành bốn phần nhỏ. Phần A là lời tiên báo về Thương Khó – phục sinh; phần B ghi nhận phản ứng của ông Phêrô và sửa dạy của Đức Giêsu; Trong Phần C, Đức Giêsu dạy về căn tính của người môn đệ đích thực; Cuối cùng, vinh quang của Con Người và thưởng – phạt trong thời cánh chung được nói đến trong phần D.

A.  Tiên báo cuộc thương khó (16,21):

Từ lúc ấy (c.21a)

Lời tiên báo về khổ nạn – chết – phục sinh (c.21b)

B.  Phản ứng của Phêrô – Đức Giêsu sửa dạy (16,22-23):

Phêrô không chấp nhận cuộc thương khó và ngăn cản Đức Giêsu (c.22)

Đức Giêsu khiển trách Phêrô (c.23)

C.  Căn tính người môn đệ (16,24-26):

Hành động chứng tỏ căn tính: Từ bỏ – vác thập giá – đi theo (c.24)

Nghịch lý: “cứu – phá huỷ”, “phá huỷ – cứu ” (c.25)

Cân nhắc: Được cả thế gian – mất linh hồn (c.26)

D.  Thưởng – phạt (c.27)

Con Người đến trong vinh quang của Cha của Người

Trả lại cho mỗi người theo việc họ làm (c.27)

III. MỘT VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

  1. “Từ lúc này, Ðức Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ” (Ἀπὸ τότε ἤρξατο ὁ Ἰησοῦς δεικνύειν τοῖς μαθηταῖς αὐτοῦ). Câu này cũng xuất hiện ở 4,17 khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ ở Galilê; vì vậy, công thức này đóng khung hai phần lớn của Tin Mừng Mátthêu, phần đầu tiên từ lúc Đức Giêsu bắt đầu rao giảng đến lời tuyên xưng ở Kaisarêa Philípphos (4,17 – 16,20) được dành để nói về Hiến Chương Nước Trời, Đấng Kitô quyền năng trong lời rao giảng và hành động. Phần thứ hai (16,21 – 28,20) được dành để mô tả Con Người – Đấng Kitô quyền năng phục sinh vinh quang qua cuộc khổ nạn và cái chết. Việc sử dụng động từ “δεικνύειν – tỏ” ở thì hiện tại cho thấy một sự tiến triển tự nhiên nhưng lại rất mạnh (ở Mc 8,31 có từ “διδάσκειν – dạy”) bao hàm một hình ảnh trực quan của thông điệp, và có nghĩa là Mátthêu muốn làm cho mọi thứ trở nên rõ ràng đối với các môn đệ.[1] Cụm trạng ngữ chỉ thời gian “từ lúc đó” (Ἀπὸ τότε) là mấu chốt cho thấy sự chuyển đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác: Từ giai đoạn mặc khải Đấng Kitô quyền năng làm phép lạ qua mặc khải Đấng Kitô khổ hình thập giá và phục sinh.
  2. “…nhất thiết phải đi Giêrusalem… chịu nhiều đau khổ”. Đức Giêsu chắc chắn nắm rõ sứ mạng của mình, Người chủ động trong chọn lựa thời gian mặc khải cho các môn đệ. Người biết cái chết sắp xảy ra cho mình ở 9,15 cũng như ở 10,38 và biết về âm mưu giết Người ở 12,14. Cho đến nay điều này chỉ được ngụ ý (1,21; 10,21.28.38; 12,14.40; 14,12-13; 16,4) thì bây giờ Người đã nói rõ ràng và giải thích rằng việc Người đi Giêrusalem là sự cần thiết thần linh. Động từ không ngôi (“phải” – δεῖ) thường được dùng diễn tả tính bắt buộc trong sứ mạng của Người, và phải hoàn tất lời Kinh Thánh (17,10; 24,6; 26,54; Lc 24,26-27), đây là ý muốn của Chúa Cha.[2]
  3. Phải” (δεῖ) được theo sau bởi bốn động từ nguyên mẫu (phải: lên đường, chịu đau khổ nhiều, chịu chết, được sống lại) tạo thành tiên báo về cuộc khổ nạn và nhấn mạnh sự thật của những sự kiện này. Đầu tiên, sứ mạng của Đức Giêsu ở Giêrusalem, nơi của lễ được hiến tế trong đền thờ và các thế lực chống đối đang chờ đợi Người. Kế đến, Người sẽ “chịu đau khổ nhiều” từ tất cả sự phẫn nộ và giày vò dưới bàn tay của nhà cầm quyền. Những điều này sẽ được giải thích chi tiết hơn trong lời tiên báo thứ ba (20,19) và bao gồm tất cả các sự kiện từ khi bị bắt cho đến khi bị đóng đinh. Ba nhóm người được đề cập ở đây bao hàm tất cả các nhà lãnh đạo Do Thái. Điều này ngụ ý sự tham gia, nếu có, của dân chúng chỉ là do tác động của nhóm lãnh đạo này. Các thành phần này cũng tượng trưng cho Hội Đồng Do Thái về mặt pháp lý. Các Kinh Sư và các Thượng Tế đã được nói đến ở 2,4. Các “Kỳ Lão” ban đầu là những người đứng đầu các gia đình và thị tộc, nhưng đến giữa các thời kỳ Giao Ước họ là những người đứng đầu các gia đình quý tộc và dần dần kết hợp với hai nhóm trên để thành lập tòa công nghị, tức hội đồng cai trị của người Do Thái (21,23; 26,3.47.57; 27,1.3.12.20.41; 28,12). Trong các cộng đồng Do Thái nói chung, một hội đồng gồm bảy niên trưởng giám sát cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, Đức Giêsu đang nói rằng các nhà lãnh đạo quốc gia sẽ âm mưu chống lại Người ở Giêrusalem.[3]
  4.  “… và bị giết, và ngày thứ ba sẽ được trỗi dậy”: Ý tưởng về Đấng Mêsia đau khổ và hấp hối trong Is 53 (chủ đề đau khổ cũng được nhắc đến trong Tv 16; 22; 31; 41; 69) không được Do Thái giáo hiểu đến, họ thường giải thích ’ebed yhwh (tôi tớ Chúa) là quốc gia hơn là Đấng Mêsia. Vì vậy, Đức Giêsu đang tỏ lộ một điều gì đó vượt quá khả năng hiểu của môn đệ. Tuy nhiên, sự chết sẽ bị nuốt chửng trong chiến thắng (1Cr 15,54, Is 25,8). Thể thụ động thần linh “được sống lại” (ἐγερθῆναι) nhấn mạnh sự chứng thực cái chết của Đức Giêsu là bởi Thiên Chúa. Chủ đề “ngày thứ ba” được kết nối với “ba ngày ba đêm” ở 12,40 và sẽ xuất hiện lại ở 17,23; 20,19; 27,63. Điều này đã trở thành một sự khẳng định tín điều quan trọng trong Giáo hội đầu tiên, và 1 Cr 15,4 (Ga 2,19) ghi lại rằng Đức Giêsu “đã sống lại vào ngày thứ ba đúng như lời Kinh Thánh”; điều này thường được liên kết với Hs 6,2 (“ngày thứ ba, sẽ cho chúng ta trỗi dậy, và chúng ta sẽ được sống trước nhan Người”; cf. 2 V 20,5; Gn 2,1) nhưng có lẽ còn rộng hơn, với toàn bộ truyền thống Cựu Ước về việc giải thoát trong ba ngày. Đức Giêsu được đặt trong mộ vào chiều Thứ Sáu và sống lại vào sáng Chúa Nhật và theo cách tính của người Do Thái, ngài đã ở trong mộ “ba ngày ba đêm”.[4]
  5. “Phêrô bắt đầu trách Người: Thiên Chúa thương Thầy! Tuyệt đối điều ấy sẽ không xảy ra cho Thầy!” (Πέτρος ἤρξατο ἐπιτιμᾶν αὐτῷ λέγων· ἵλεώς σοι, κύριε· οὐ μὴ ἔσται σοι τοῦτο). Như người ta mong đợi, Phêrô không thể nắm bắt được mặc khải mới này, quá trái ngược với mọi điều mà các môn đệ dự định khi họ khẳng định Đức Giêsu là Đấng Mêsia theo nghĩa chính trị (Mc 8,31-9,1; Lc 9,22-27) – là Đấng hiển trị và xét xử chứ không phải chịu đau khổ. Việc sử dụng từ “bắt đầu (ἤρξατο) quở trách” cho thấy Phêrô chỉ mới bắt đầu sự phản đối mạnh mẽ của mình. Mátthêu gọi đó là “lời quở trách” để nhấn mạnh sự thay đổi hoàn toàn của Phêrô từ việc tuyên xưng rõ ràng về căn tính Đấng Kitô và được trao đặc ân to lớn, nhưng cũng để so sánh ông với lời quở trách mạnh mẽ hơn của Đức Giêsu trong câu tiếp theo. Cụm từ “ἵλεώς σοι” có hai cách hiểu khác nhau: Bản LXX có thể hiểu là một lời cầu nguyện nhẹ nhàng mong Chúa không cho phép điều này xảy ra “Cầu Chúa thương xót/nhân từ với Thầy”, nhưng nhiều khả năng nó phản ánh bản tiếng Hípri “còn lâu mới đến với tôi” và là một hình thức đối đầu “Không bao giờ!”; điều này được xác nhận khi Phêrô thêm vào câu rất mạnh mẽ: tuyệt đối không xảy ra như thế đâu![5] Cụm từ phủ định kép “οὐ μὴ” nhấn mạnh tính hoàn toàn trong mức độ phủ định.
  6.  “Xéo đi sau Ta! Hỡi Xatan!” (ὕπαγε ὀπίσω μου, σατανᾶ). Cú “quay đầu” đầy kịch tính của Đức Giêsu nâng cao sức mạnh của cảnh tượng. Khi chống lại sứ mạng thiêng liêng đặt trước mặt Đức Giêsu, Phêrô đã trở thành công cụ của Xatan để cản trở kế hoạch của Thiên Chúa. Phêrô đang hành động theo Xatan một cách vô thức. Rõ ràng, Đức Giêsu không nói Phêrô bị quỷ ám hay là một phần của thế lực trần gian. Người thấy dấu hiệu của hành động cám dỗ của Xatan nơi Phêrô. “ὕπαγε … σατανᾶ” (đi đi… Xatan) phản ánh trình thuật cám dỗ ở 4,10 với cùng một động từ tương tự: “Xatan, xéo đi,” (ὕπαγε, σατανᾶ), điều này có nghĩa là thái độ của Phêrô do Xatan soi dẫn phải biến mất. [6]
  7. “Cớ vấp phạm của Thầy” (σκάνδαλον εἶ ἐμοῦ). Phêrô, “tảng đá” mà trên đó Thầy sẽ xây Hội Thánh (c.18), đã thực sự trở thành hòn đá gây vấp phạm hoặc “hòn đá làm cho vấp” (18,7; Is 8,14; Kn 14,11) đối với Đức Giêsu (cũng như chính Chúa Giêsu sẽ trở thành hòn đá làm cho vấp đối với những người khác (Rm 9,33; 1 Pr 2,6-8), một “chướng ngại vật” (như ở 11,6) trên con đường hoàn thành ý muốn của Thiên Chúa, có lẽ với hình ảnh về việc dọn dẹp chướng ngại vật/hòn đá khỏi con đường đó đã làm cho Phêrô trở thành người đang đứng cản đường ý muốn của Thiên Chúa.[7]
  8. “… vì con không suy nghĩ những điều của Thiên Chúa, mà là những điều của loài người” (ὅτι οὐ φρονεῖς τὰ τοῦ θεοῦ ἀλλὰ τὰ τῶν ἀνθρώπων). Liên từ “ὅτι” có thể trình bày lý do cho cụm từ “cớ vấp ngã ngay trước đó” hay là cho biết ly do cho việc ông Phêrô bị gọi là Xatan. Động từ “φρονεῖς” ở thì hiện tại nhấn mạnh trạng thái tinh thần đang diễn ra của Phêrô; điều này bao hàm ý định, thái độ, khuynh hướng của ông, hay nói cách khác là tư tưởng của một người. Đây là điều đối nghịch với điều Đức Giêsu đã nói với Phêrô “ngươi có phúc: vì không phải thịt, máu, đã mạc khải cho ngươi, mà là Cha Ta! Ðấng ngự trên trời!” (c.17), tương tự như trong Is 55,8 ( những suy nghĩ của Ta không phải là những suy nghĩ của ngươi và những đường lối của Ta không là đường lối của ngươi). Ở đây, tư tưởng của Phêrô bị đóng khung bởi những kỳ vọng thuần túy của con người về hy vọng thiên sai của Israel. Cả hai nguồn gốc của sự thất bại thiêng liêng (Xatan và bản ngã) đều được nhấn mạnh ở đây. Câu nói của Đức Giêsu ở đây từ lâu đã được công nhận là trọng tâm của tư cách người môn đệ chân chính theo nghĩa tập trung vào các bận tâm trên trời hơn là dưới đất và được liên kết chặt chẽ với 6,19-21 “tìm kiếm kho tàng trên trời hơn là tìm kiếm kho tàng dưới đất.[8]
  9. Nói với các môn đệ: “Nếu ai muốn đi sau Ta” (Τότε ὁ Ἰησοῦς εἶπεν τοῖς μαθηταῖς αὐτοῦ· εἴ τις θέλει ὀπίσω μου ἐλθεῖν). Trong hành động cảnh báo Đức Giêsu ông Phêrô dường như chủ động đi trước. Đức Giêsu lại muốn ông đi ra đằng sau, đúng với vị trí của người môn đệ – người đi theo. Xuất phát từ sự thất bại và thiếu hiểu biết về vai trò người môn đệ của Phêrô, Đức Giêsu giờ đây nói rõ tư cách mà người môn đệ phải có và mở rộng điều này để áp dụng cho “bất cứ ai muốn” thực sự trở thành người môn đệ. Rõ ràng, động lực là sự quyết định cá nhân. “Đi sau Ta” (ὀπίσω μου ἐλθεῖν) có nghĩa là để “trở thành môn đệ” đồng nghĩa với “đi sau Ta” trong quãng đường tiếp theo; do đó, đóng khung định nghĩa với mong muốn đi theo (4,19; 9,9) con đường của Chúa Kitô; tức là bắt chước phong thái của Thầy, lặp lại những chọn lựa của Thầy, tức là nối tiếp công trình mà Thầy đã bắt đầu với biết bao hy sinh đau khổ (10,38).[9]
  10. “…hãy từ bỏ chính mình … vác lấy thập giá của mình … đi theo Ta” (ἀπαρνησάσθω ἑαυτὸν καὶ ἀράτω τὸν σταυρὸν αὐτοῦ καὶ ἀκολουθείτω μοι). Chìa khóa của tư cách người môn đệ là sự từ bỏ bản thân, với khuôn mẫu là Đức Giêsu, Người đã từ bỏ chính minh cho đến chết; và Phêrô là một tương phản, ông đã yêu cầu Đức Giêsu thực hiện sứ mạng thiên sai theo quan điểm của con người; như thế, làm theo yêu cầu của Đức Giêsu là từ bỏ vị trí trung tâm của bản thân mình. “Vác lấy thập giá của mình” (ἀράτω τὸν σταυρὸν αὐτοῦ, như ở 10,38) là một phép ẩn dụ vô cùng mạnh mẽ trong một thế giới, nơi mà người ta thường thấy những kẻ nổi loạn và chống đối chết trên thập giá. Các môn đệ phải biết rằng, với tất cả sự chống đối của các nhà cầm quyền đối với Đức Giêsu, đây là một khả năng thực sự đối với họ. Trong thế giới La Mã, việc phạm nhân bị kết án vác thập giá của mình đến nơi hành quyết là chuyện bình thường, vì vậy đây là một phép loại suy thích hợp. Có khả năng là có hai động lực: vác thập giá như một biểu tượng của sự từ bỏ hoàn toàn bản thân và sẵn sàng chết cho Đấng Kitô, nếu cần. Một lần nữa Đức Giêsu là mẫu mực tối cao đã làm được cả hai điều đó. Cuối cùng, chỉ riêng thực tế này thôi cũng có thể thực hiện mệnh lệnh “hãy theo Ta” (ἀκολουθείτω, thì hiện tại này sau một loạt thể thụ động aorist được đặt ở thể mệnh lệnh ngôi thứ ba nhằm làm nổi bật và nhấn mạnh đến cuộc sống làm môn đệ cách liên tục). Chừng nào thực tế vương quốc trần gian còn quan trọng hơn mọi sự cân nhắc, thậm chí cả mạng sống của chính mình, thì lúc đó, người ta không phải là người môn đệ chân chính.[10]
  11.  “Muốn cứu sự sống mình … sẽ mất;  đánh mất sự sống mình vì Ta,… sẽ tìm lại được nó” (ὃς γὰρ ἐὰν θέλῃ τὴν ψυχὴν αὐτοῦ σῶσαι ἀπολέσει αὐτήν· ὃς δ’ ἂν ἀπολέσῃ τὴν ψυχὴν αὐτοῦ ἕνεκεν ἐμοῦ εὑρήσει αὐτήν). Việc sử dụng từ “vì” (γὰρ) hai lần trong câu c.25 và c.26 cho thấy rằng Đức Giêsu đang làm sáng tỏ ý nghĩa của sự từ bỏ chính mình. Đức Giêsu sử dụng ngôn ngữ của ước muốn hoặc ý chí cá nhân (“muốn” – θέλω) để đưa ra quan điểm của Người rằng có những lựa chọn phải được thực hiện. Sự tương phản rõ ràng: theo đuổi thế gian so với cuộc sống vĩnh cửu. Toàn bộ giọng điệu mang tính cánh chung, và cách chơi chữ giữa “cứu” và “mất” tạo ra sự tương phản giữa việc tìm cách “bảo tồn” di sản trần gian nhưng thực tế lại “hủy diệt” sự sống đó và đánh mất nó mãi mãi (c.25; 10,39). Sự đối lập được/mất đạt đến đỉnh điểm, vì các giá trị vương quốc mai sau càng giảm xuống để đạt được những thứ của cuộc sống này, thì càng có nhiều mất mát vì đây không phải là vương quốc sự sống! Có sự nhấn mạnh hơn nữa về “vì lợi ích của tôi” (ἕνεκεν ἐμοῦ) là làm con của Thiên Chúa và là môn đệ của Chúa Kitô, có nghĩa là sống không phải cho chính chúng ta mà là sẵn sàng từ bỏ tất cả những điều này “vì lợi ích của [Người]”.[11]
  12.  “có ích gì … khi đạt được cả thế giới mà lại thiệt mất sự sống mình?” (τί γὰρ ὠφεληθήσεται ἄνθρωπος ἐὰν τὸν κόσμον ὅλον κερδήσῃ τὴν δὲ ψυχὴν αὐτοῦ ζημιωθῇ). Tính cách ngôn của câu nói này đã được công nhận từ lâu. Đức Giêsu thay đổi cách tiếp cận của Người từ câu 25 bằng một cặp câu hỏi tu từ liên quan đến điều gì có giá trị hoặc đáng giá (“lợi ích, lời lãi” ở 15,5) về lâu dài. Người rời khỏi lĩnh vực lý thuyết và đưa ra một ví dụ cụ thể về lợi ích và tài sản trần thế. Vì tầm quan trọng lớn lao của cõi vĩnh hằng, việc biến những “lời lãi” tạm thời của cuộc sống thành mục tiêu của mình phải được coi là sự lựa chọn ngu ngốc nhất trong tất cả. Hình ảnh “được cả thế giới” là giấc mơ tối thượng của mọi thời đại (Xatan đã đề nghị điều này với Đức Giêsu ở 4,8), nhưng xét cho cùng thì đó là một hố sâu trống rỗng không có ý nghĩa hoặc niềm vui lâu dài. Lịch sử đầy rẫy những nhân vật như vậy, tàn sát hàng triệu người hoặc lừa gạt hàng nghìn người để kiếm kế sinh nhai, chỉ để chết đúng như cách họ đã sống. Xa hoa và giàu có là hồi chuông báo tử cho tinh thần người môn đệ (c.26; 4,8; 6,19-24; Lc 12,13-21; 1Tm 6,6-19; Kh 3,17-18). Sắc thái chính xác của “linh hồn/sự sống” (ψυχὴν) ở đây chỉ rõ được tính chất, nó có thể có nghĩa tương tự như trong câu 25, “sự sống” của một người; điều này nói lên bản thân trong mối tương quan với Chúa.[12]
  13. “…người ta sẽ cho gì để chuộc lại sự sống mình?” (ἢ τί δώσει ἄνθρωπος ἀντάλλαγμα τῆς ψυχῆς αὐτοῦ). “Trao đổi” (δώσει … ἀντάλλαγμα) là một phép ẩn dụ thương mại cho các giao dịch trao đổi, từ bỏ thứ này để đạt được thứ khác. Đánh đổi cái tạm thời để lấy cái vĩnh cửu là điên rồ. Một số người (Davies và Allison, Luz, Nolland) tin rằng Tv 49,8-9 ẩn chứa đằng sau điều này, “giá chuộc mạng sống rất đắt, không bao giờ là trả đủ để một người nào đó được sống mãi mãi và không thấy sự suy tàn”. Cả ở đó và ở đây, người ta không thể mua được sự cứu độ hay cuộc sống đích thực bằng những phương cách trần thế. Không có gì trên thế giới này có thể đủ, vì vậy việc “chuộc lại” chỉ có thể được thực hiện bởi Thiên Chúa.[13]
  14.  “Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người với các thiên thần của Người” (μέλλει γὰρ ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου ἔρχεσθαι ἐν τῇ δόξῃ τοῦ πατρὸς αὐτοῦ μετὰ τῶν ἀγγέλων αὐτοῦ). Từ “vì” (γὰρ) thứ ba liên tiếp nối kết điều này chặt chẽ với phần làm rõ trước đó của c.25-26. Vấn đề ở đây là ưu tiên lựa chọn trần thế hay vĩnh cửu trên trời, và bây giờ là sự chú ý hoàn toàn vào cái sau. Mátthêu có một cách tiếp cận khác với Mc 8,38 là bỏ qua câu nói “hổ thẹn” về Đức Giêsu và liên kết nó với chủ đề về phần thưởng cánh chung, nhấn mạnh việc sắp xảy ra được trình bày trong câu tiếp theo. Ý tưởng về “Con Người” (xem phần tiến triển sau 8,22) trở lại “trong vinh quang của Cha Người” phản ánh trong Đn 7,13-14 (Rm 6,4). “Vinh quang” (δόξα) của Thiên Chúa bao gồm cả vinh quang “cư ngụ” giữa dân Ngài; một vinh quang, uy nghi và huy hoàng khôn tả của Thiên Chúa tôn phong trong Is 6 và Ed 1. Đạo quân trên trời theo nghĩa nào đó là của Thiên Chúa, đạo quân được người Do Thái mong đợi vào ngày cánh chung, nhưng họ cũng là tác nhân của việc phán xét và sứ giả cánh chung. Hình ảnh này thường xuyên xuất hiện trong Mátthêu (13,41; 24,30-31; 25,31) và là một phần trong dòng chảy ngầm mang tính cánh chung mạnh mẽ của ngài.[14]
  15.  “… và bấy giờ Người sẽ trả cho mỗi người tùy theo hành vi của họ” (καὶ τότε ἀποδώσει ἑκάστῳ κατὰ τὴν πρᾶξιν αὐτοῦ). Một lần nữa cánh chung là nguyên nhân của đạo đức. Chủ đề “bị phán xét/thưởng phạt bởi việc làm” thường xuyên xuất hiện trong Cựu Ước (2 Sbn 6,23; G 34,11; Tv 28,4 và 62,12; Cn 24,12; Gr 17,10; Ed 18,20; Hs 12,2), trong Tân Ước (Mt 16, 27; Rm 2,6 và 14,12; 1Cr 3,12-15; 2Cr 5,10 và 11,15; 2Tm 4,14; 1Pr 1,17; Kh 2,23; 11,18; 14,13; 18,6; 20,12.13; 22,12). Ngôn ngữ đặc biệt thể hiện sự gần gũi có lẽ là ám chỉ đến trong Tv 62,12 và Cn 24,12. Điều thú vị là sự nhấn mạnh ở số ít “mỗi người” và đặc biệt là số ít “hành động” (πρᾶξις), rất có thể là một tập thể nhưng vẫn nhấn mạnh rằng mỗi người đều chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về mỗi việc và mọi việc đã làm. Giáo huấn tổng kết ở c.25-26 theo nghĩa là những người chọn thế gian sẽ bị phán xét, nhưng ở đây nhấn mạnh đến những người chọn đường lối của Thiên Chúa và nhận phần thưởng của Ngài cho những lựa chọn đó.[15]

IV. MỘT VÀI ĐIỂM NHẤN THẦN HỌC

  1. Kitô học: Đức Giêsu – Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, cũng đồng thời là Con Người, phải lên Jêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ, chịu chết, và ngày thứ ba sẽ được trỗi dậy. Ông Phêrô hiểu căn tính Kitô theo chiều kích vương đế, một Đấng có thể giải quyết cho dân mọi vấn đề hiện tại. Nói nôm na là Đấng Kitô là vị vua thiên sai sẽ giành lại chủ quyền cho dân và mang lại cho họ cơm no, áo ấm, xã hội công bằng, đất nước phồn vinh. Ông, cũng như các môn đệ khác chưa sẵn sàng đón nhận một Đấng Kitô chịu khổ nạn – chết – phục sinh. Tuy nhiên, các môn đệ dẫu không tham gia trực tiếp vào cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, vẫn mỗi người mỗi cách, trải nghiệm những đau khổ của Người. Họ bỏ chạy, hoảng sợ, đau khổ, thất vọng, khi nhìn Thầy bị giết chết, đặc biệt là Phêrô và người Môn Đệ Chúa Yêu. Đặc tính Kitô học mấu chốt trong lời tiên báo của Đức Giêsu là biến cố phục sinh, điều mà các môn đệ quên mất vì áp lực của đau khổ. Đấng Kitô phải được sống lại thì mới mang lại niềm hy vọng, sự sống vĩnh cửu cho các môn đệ và những người tin.
  2. Căn tính người môn đệ đích thực: Từ bỏ chính mình – vác thập giá của mình – đi theo Đức Giêsu. Trong lời mời gọi của Đức Giêsu căn tính Người Môn Đệ đích thực được lộ rõ. Họ không chỉ là những người đi theo, lắng nghe lời giảng, chứng kiến phép lạ, rồi chia sẻ vinh quang với Đức Giêsu. Họ phải “vác thập giá của mình mà đi theo Đức Giêsu”. Trong bối cảnh trực tiếp, mệnh lệnh này có nghĩa là họ bỏ đi khát vọng vinh quang mà họ đang suy nghĩ, cùng lên Jêrusalem, rồi cùng chịu khổ nạn với Đức Giêsu. Điều này các môn đệ chưa làm được. Trong bối cảnh rộng hơn, tất cả các môn đệ sẵn sàng chịu mọi đau khổ của phận người vì Đức Kitô, kể cả cái chết. Nó bao hàm một lối sống cộng đoàn yêu thương, hy sinh cho nhau, và các thành viên cộng đoàn sẵn sàng là chứng nhân cho Đức Kitô cho đến chết. Điều này tất cả các Tông Đồ đều làm được sau khi Đức Giêsu đã trao ban sứ vụ và lên trời. Cộng đoàn Kitô hữu đầy hiệp nhất và yêu thương đã được xây dựng và đời sống của các chứng nhân cũng được thể hiện. Các Tông Đồ cũng sẵn sàng chết vì sứ mạng chứng nhân của mình, khởi đầu là ông Giacôbê Tông Đồ.
  3. Cứu độ học: Chiều kích cứu độ học bộc lộ trong chọn lựa thể hiện căn tính của người môn đệ. Khi họ không từ bỏ chính mình, không muốn vác thập giá, là họ đang tìm sự thoải mái, êm ái của thân xác trên cõi đời này, họ có nguy cơ mất sự sống đời đời. Ngược lại khi họ dám hy sinh, từ bỏ chính mình, vác thập giá mỗi ngày, và đi theo Đức Giêsu, họ có thể chết, nhưng sẽ được sống lại và sống đời đời. Người ta phải cân nhắc nghiêm túc giữa lợi lộc cả thế giới và đánh mất linh hồn, và không một giá trị vật chất nào có thể chuộc lại được một khi linh hồn đã mất. Đức Giêsu đã đi con đường thập tự để mang lại ơn cứu độ cho con người, nhưng nếu con người không đi theo con đường của Người, thì họ cũng có nguy cơ đánh mất linh hồn mãi mãi.
  4. Chiều kích xã hội – chính trị: Con đường cứu độ của Đức Giêsu được lồng vào trong âm mưu thâm độc của giới lãnh đạo trí thức, quyền lực Do Thái, đại diện cho pháp quyền và giáo quyền Do Thái. Người ta sẵn sàng thủ tiêu người không cùng quan điểm và làm nguy hại đến lợi ích của các nhân và nhóm của mình.
  5. Luân lý học: Con người ta thường thích vinh quang, sung sướng mà không muốn trải nghiệm đau khổ và cái chết. Điều ấy được thể hiện rõ nét trong phản ứng của ông Phêrô trước mặc khải động trời của Đức Giêsu. Đó cũng là phản ứng chung của đa số các môn đệ và các Kitô hữu qua mọi thời đại. Khi phản ứng như vậy, họ đã vô tình đi chung con đường của ma quỷ, làm cớ vấp phạm cho chính Đức Giêsu và bản thân mình cũng đã vấp ngã. Các môn đệ, không được phép đi trước thầy Giêsu mà phải đi ra đằng sau để đi theo sau Người với thập giá trên vai.
  6. Cánh chung học: Thần học về cánh chung trong đoạn văn này gồm hai khía cạnh: (i) Căn tính của Con Người; (ii) Sự thưởng – phạt của Con Người. Cùng với vinh quang phục sinh sau cuộc khổ hình, Đức Giêsu công bố vinh quang cánh chung của Con Người. Hình ảnh này gợi nhớ đến lời khải huyền của ngôn sứ Đaniel (Đn 7,13-14, cf. 10,23). Điểm khác biệt ở đây là “vinh quang” được định nguồn là “của Cha của Người”, sự hiện diện của “các thiên sứ”, và sự phán xét. Con Người đến trong vinh quang của Cha của Người với tư cách một Đấng phán xét. Người sẽ trả lại cho mỗi người theo như những việc họ làm. Nghĩa là, ai đã thực thi hoàn hảo lời mời gọi “bỏ mình, vác thập giá của mình, đi theo Người” thì sẽ được hưởng vinh quang phục sinh và sự sống vĩnh cửu tròn đầy với Người. Có lẽ, hình phạt cũng có thể được ngụ ý, cho những ai không thể hiện căn tính người môn đệ như Người mời gọi. Chúng ta có thể mường tượng cảnh cánh chung mà Đức Giêsu báo trước như được tường thuật trong Mt 25,31-46 với câu kết luận rằng “họ (những người bị nguyền rủa), sẽ đi vào hình phạt vĩnh cửu còn người công chính đi vào sự sống đời đời” (Mt 25,46).

E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

 NHẬN LÃNH TRÁCH NHIỆM CHÚA TRAO

A.DẪN NHẬP

Khi chịu phép Rửa tội, chúng ta đã trở thành Kitô hữu. Từ ngữ “Kitô hữu” có nghĩa là người thuộc về Chúa Kitô hay người được mang danh Chúa Kitô. Đã là Kitô hữu thì phải theo Chúa Kitô. Theo ở đây không phải chỉ tuyên xưng Ngài là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” như thánh Phêrô đã tuyên xưng. Theo Chúa không phải là chỉ chấp nhận giáo lý của Ngài, cũng không phải chỉ thực hành một số tục lệ và nghi lễ do tôn giáo ấn định, như đi xe dự lễ và lãnh nhận các bí tích.

Theo Chúa là phải chấp nhận một số điều kiện khắt khe như Ngài đã đề ra và mời gọi: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Như vậy, ai muốn làm môn đệ Chúa Kitô thì phải từ bỏ chính mình và vác thập giá của mình trong cuộc sống hằng ngày. Đây là điều kiện khắt khe và quyết liệt đòi chúng ta phải nỗ lực không ngừng, nhưng nó sẽ dẫn ta tới sự sống đời đời.

Như chúng ta thường nghe và cũng đã nói cái quí giá nhất của con người là sự tự do, nhưng kèm theo nó như hình với bóng còn có một điều hết sức quan trọng và mang đầy tính chất mạo hiểm: đó là sự lựa chọn theo nhận thức của mỗi người. Chính vì sự lựa chọn này khiến con người phải chịu trách nhiệm về hậu quả của hành động mình. Do đó, khi dùng tự do có ý thức để lựa chọn, con người phải cân nhắc lựa chọn, theo đúng nguyên tắc luật lệ chính đáng, luân thường đạo lý và lương tâm ngay thẳng mới có thể tránh khỏi những sai lầm tai hại về tinh thần lẫn thể xác. May mắn thay cho chúng ta là những Kitô hữu, vì chúng ta đã có Chúa hướng dẫn, ơn Chúa soi sáng giúp chúng ta dễ dàng trong việc chọn lựa.

B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+Bài đọc 1: Gr 20,7-9

Tuy Giêrêmia là con người nhút nhát, nhưng Thiên Chúa cũng gọi ông làm tiên tri, để tuyên bố những lời chói tai mà người ta gọi ông là “nhà tiên tri loan tin dữ”. Sứ mạng của ông gặp nhiều khó khăn: người ta chống đối, chế nhạo ông, thậm chí còn lên án ông nữa, vì ông công kích cuộc sống tội lỗi của họ, lại còn loan báo án phạt của Thiên Chúa. Bị đau khổ tư bề, nhiều lần ông đã định bỏ cuộc, nhưng dù sao, ông cũng phải thú nhận là ông không thể nào từ bỏ sứ mạng đau khổ đó, vì “Chúa đã quyến rũ được con, Chúa đã hùng mạnh hơn con và đã thắng con”.

+Bài đọc 2: Rm 26,21-27

Lời khuyên nhủ của thánh Phaolô đối với tín hữu Roma cũng giống như lời Chúa Giêsu kêu gọi trong bài Tin mừng hôm nay: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Người theo Chúa là người từ bỏ cách sống theo thời của mình, và hơn nữa là từ bỏ chính mình, tự hiến toàn thân cho Chúa như một của lễ sống động dâng cho Chúa, giống như chủ tế dâng của lễ lên Thiên Chúa trong thánh lễ.

Thánh Phaolô cho biết: làm như thế là một việc rất đẹp lòng Chúa, và đó chính là việc phụng thờ hợp lý và đáng trân trọng nhất.

+Bài Tin mừng: Mt 26.21-27

Đây là lần đầu tiên, Chúa Giêsu báo cho các môn đệ biết là Ngài phải chịu bắt bớ, chịu chết và sau ba ngày sẽ sống lại. Lời tiên báo này làm cho các môn đệ bỡ ngỡ, không hiểu nổi vì các ông vẫn còn cái nhìn và sự hiểu biết của con người, đến nỗi thánh Phêrô phải phản đối. Nhưng Chúa gạt ý kiến này đi và cho các ông biết chính các ông cũng sẽ phải đi theo con đường của Ngài.

Những ai muốn làm môn đệ của Ngài thì phải chấp nhận đi theo con đường của Ngài, con đường đó đòi hai điều kiện căn bản: – Điều kiện thứ nhất là từ bỏ chính mình.

               – Điều kiện thứ hai là vác thập giá của mình.

Ai thi hành hai điều kiện đó sẽ được phần thưởng: “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên sứ của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”.

C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA: 

NẾU MUỐN THEO CHÚA

I.LỜI CHÚA MỜI GỌI

Sau khi các môn đệ đã tuyên xưng cách rõ ràng Ngài là Đấng Thiên Sai: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các ông biết: “Ngài sẽ phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và luật sĩ gây ra, bị giết chết, rồi ngày thứ ba sẽ sống lại”. Ở đây có nghĩa là Chúa Giêsu mở ra một giai đoạn mới, trong giai đoạn mới này Chúa muốn mạc khải về mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh của Ngài. Quả vậy, đây là lần thứ nhất trong ba lần (Mt 16,21; 17,22; 20,17) Ngài báo về mầu nhiệm đó. Mỗi lần loan báo như đánh dấu một chặng đường tiến về Giêrusalem. Việc loan báo như vậy cũng là để chuẩn bị đức tin cho các môn đệ có thể đương đầu với cuộc khủng hoảng sắp tới, khi Ngài bước vào cuộc tử nạn và phục sinh.

Vì thế, Chúa đã tuyên bố rõ ràng: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”.

Trông thấy trước con đường khó khăn đang trải ra trước mặt các môn đệ, Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải dứt khoát lập trường là có muốn theo Ngài nữa hay không? Câu hỏi và lời mời gọi này nêu lên tinh thần tự do đáp trả của con người hơn là sự đòi hỏi của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa luôn tôn trọng sự tự do mà Ngài đã trao ban cho con người như một món quà độc đáo và quí báu nhất.

THEO ở đây không có nghĩa là chỉ chấp nhận giáo lý của Ngài, không phải chỉ là mang tên môn đệ của Ngài, mà có nghĩa là bước theo chân Ngài, gắn kết với Ngài, lấy Ngài là làm lẽ sống “sự sống của tôi là Đức Kitô”, giống như cô gái theo một chàng trai. Cô nàng phó thác con người mình cho chàng, cùng chung số phận với chàng, sống chết với chàng, không khó khăn nào có thể làm cho họ lìa bỏ nhau:

Đi đâu cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
(Ca dao).

Trong lời mời gọi của Chúa Giêsu, chúng ta nên để ý đến hai từ “NẾU” và “THÌ”. Khi dùng chữ “nếu” thì luôn luôn giả thiết lời mời gọi ấy hoàn toàn có tính cách tự do, tự nguyện, muốn theo cũng được, không theo cũng được. Nếu không theo thì thôi, còn nếu đã theo là phải bắt buộc dùng chữ “thì”, vì đây là điều kiện bắt buộc, không có không được.

II.NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA

Phân tích lời kêu gọi của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài đưa ra hai điều kiện cho bất cứ ai, các môn đệ hay chúng ta, muốn làm môn đệ của Ngài phải thi hành:

– Từ bỏ chính mình.
– Vác thập giá mình.

1.Từ bỏ chính mình

Đây là phương diện tiêu cực của việc theo Chúa. Quả vậy, muốn theo Chúa thì phải khước từ tất cả những cản trở bên ngoài như tha nhân, xã hội, tạo vật… và do bên trong như chính bản thân mình là các khuyết điểm, thói hư tật xấu, tội lỗi…

Đức Thánh Cha Phaolô VI trong buổi triều yết chung cho giáo dân ngày 11.03.1970 đã nói: “Đối với chúng ta những người thời nay, một trong những khía cạnh ít được hiểu biết nhất và cũng có thể nói ít được thiện cảm nhất trong đời sống Công giáo: đó là sự từ bỏ”.

Từ bỏ mình tức là từ bỏ ý riêng mình mà chấp nhận thánh ý Chúa. Người ta nói: 3 với 4 là 7, có đúng không? Chưa đúng. Muốn thực hiện 3 với 4 là 7 thì phải làm sao cho tan rã hai con số 3 và 4, rồi đúc nó lại thành con số 7 mới được. Chớ cứ để 3 với 4 kề nhau mãi thì làm gì thành 7 được, mà vẫn là 3,4. Cũng thế, muốn từ bỏ chính mình là phải làm tan rã ý riêng của ta cho hoà vào ý Chúa, lúc đó chúng ta mới thực sự là từ bỏ chính mình.

Một hình ảnh nữa để chúng ta suy nghĩ: Quan sát các nhà điêu khắc tạc tượng, họ chọn một phiến đá cẩm thạch, rồi họ kiên nhẫn đục đẽo, khoét dần mài đi, cho tới khi thành một cỗ tượng mỹ thuật. Không bao giờ thấy nhà điêu khắc lại đắp thêm vào. Cũng thế, trong việc từ bỏ mình, chúng ta phải dẹp lòng ham muốn, để mình sống xã thân thuộc trọn về Chúa.

Chúng ta phải cố thi hành việc đục khoét bỏ bớt những gì bận rộn không cần thiết, gạt chúng ra một bên, nếu có bận tâm thì chỉ bận tâm vào việc nhà Chúa: “Sự sốt sắng việc nhà Chúa làm tôi hao tổn tinh thần” (Tv 68,10). (Lm. Nguyễn Duy Phượng, Thực yêu thanh bần, 1967, tr 124-125)

Truyện: Thánh Têrêsa chịu đựng

Trong cuốn “Một tâm hồn”, thánh nữ Têrêsa Hài đồng có kể: “Hai chúng con giùng giằng lèo xèo làm cho mẹ Bề trên (đang liệt bệnh) mở mắt thức dậy, thế là mọi lỗi đổ cả lên đầu con. Chị kia liến thoắng nói một thôi dài, mà đại ý chỉ có thế này: Chính là tại Têrêsa Hài đồng đã làm om sòm. Nóng mặt, con muốn cãi lại ngay… Nhưng con bảo mình: nếu mà cãi phải cho mình bây giờ, chắc sẽ mất sự bằng an trong lòng. Đàng khác, vì còn kém nhân đức lắm, nên con đã không thể đứng yên để nghe chị ấy đổ tội cho mà không thưa lại một vài lời cho ra nhẽ, con liền tính kế “Dĩ đào vi thượng sách” (Trích Một tâm hồn, tr 40-41). Nghĩ xong, con lủi đi như con cuốc… nhưng vì trái tim quá hồi hộp thổn thức không thể bước đi xa được, chân như rủn ra, con phải cưỡng bách ngồi xệp xuống chân thang, để được bình tĩnh tạo hưởng cái thú không chiến mà thắng.

2.Vác thập giá mình

Đây là khía cạnh tích cực của việc theo Chúa. Quả vậy, theo Chúa thì phải nỗ lực, cố gắng trong việc sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin mừng trong sự chịu đựng và kiên trì.

Thập giá thường là dấu chỉ của khổ hình ô nhục, xưa kia quân Roma dùng nó để đóng đinh những tội phạm nô lệ và tiện dân phạm trọng tội đối với đế quốc. Nhưng đối với người Hy lạp, thập giá trở thành hoa văn xinh đẹp trang hoàng trên các lâu đài sang trọng. Đối với người Ai cập, thập giá tượng trưng cho sự bất tử. Những người thám hiểm Tây Ban Nha đã khám phá thấy thập giá nơi thổ dân Trung Mỹ xưa là biểu tượng của thần mưa ân phúc. Các nước Tiểu Á và Đông Á vẽ thập giá hình chữ vạn hay chữ thập tượng trưng trời chiếu sáng khắp bốn phương.

Nhìn chung, nhân loại phân chia thập giá làm hai thứ: một thứ thập giá nhục hình tử tội đen tối, một thứ thập giá vinh quang sáng ngời. Cả hai đều mang dấu vết thương đau khác nhau: một đàng thương đau xấu xa tiêu diệt, nên gọi là KHỔ GIÁ, một đàng thương đau để được sống trường sinh nên được gọi là THÁNH GIÁ.

Trong đời sống Kitô hữu. ai cũng phải vác thập giá, vì không ai có thể trốn tránh được đau khổ. Đau khổ chính là thập giá chúng ta phải vác hằng ngày. Công việc chúng ta là phải vác như thế nào: tự nguyện hay miễn cưỡng? Theo kinh nghiệm của chúng ta và cũng là của thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu, nếu ai vác bổng thánh giá lên thì sẽ thấy nó nhẹ, còn ai vác uể oải hay kéo lê thì thánh giá sẽ trở nên nặng nề… Tuy nhiên, Thiên Chúa biết sức chịu đựng của từng người, có người Chúa trao cho thánh giá nặng, có người Chúa trao cho thánh giá nhẹ, nhưng thánh giá nào cũng vừa sức cho mỗi người.

Truyện: Thánh giá vừa sức mình

Thánh giá ta đang mang là thánh giá vừa sức ta. Câu chuyện ngụ ngôn dưới đây chứng minh điều đó: có một người luôn than van những nỗi khổ cực của mình. Một tối kia, thiên thần hiện đến phán bảo:

– Con hãy theo ta ra nghĩa địa, nơi đó người ta để lại thánh giá của mình. Con hãy mang thánh giá của con ra để đó và hãy lựa thánh giá vừa sức con.

Ông ta mang thánh giá của mình ra quăng nơi nghĩa địa, ông bắt đầu chọn cái khác nhẹ hơn, ông tìm kiếm mãi mà không được: có cây quá là dài, cây quá ngắn, có cây thì nhẹ nhưng sù sì, khó vác, có cây thì trơn tru nhưng nặng quá, và sau cùng ông nói với thiên thần:

– Thưa thiên thần, cây nào cũng khó vác quá, chỉ có cây con định vứt đi là vừa với con thôi.

– Phải, Chúa đã trao cho con một cây thánh giá vừa sức, con hãy vui lòng vác đi, đừng than van gì nữa.

III.THEO CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY

Qua bài Tin mừng hôm nay, Giáo hội muốn nhắc nhở chúng ta cần phải nhìn rõ vào gương tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, để can đảm và sẵn sàng từ bỏ mình và vác thập giá mình mà sống theo Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

Tại sao Chúa bảo chúng ta: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy”. Bởi vì thánh Mátthêu viết sách này vào khoảng năm 80-90 SC, nghĩa là ông viết vào những ngày cay nghiệt nhất. Những lời này có ý nói rằng: “Đã đến lúc người có thể cứu mạng sống mình bằng cách chối bỏ niềm tin, nhưng như thế thì chẳng những không cứu được mạng sống mình theo đúng nghĩa thật sự mà là đánh mất nó”. Người giữ lòng trung tín có thể chết, nhưng chết để mà sống. Còn người bỏ đức tin mình để được an thân, thì có thể sống nhưng sống để mà chết. Trong thời đại chúng ta, không có những cuộc cấm đạo khắt khe như thế, nhưng của cải vật chất, chức quyền, danh vọng… có thể làm cho chúng ta chết mà mất linh hồn.

Chúng ta thấy có mối tương quan biện chứng giữa “mất đi” và “được lại”. Người Kitô hữu chỉ thực sự hạnh phúc, khi dám mất đi cái tạm bợ, để được lại cái vĩnh hằng, dám mất đi cái mau qua, để được cái trường tồn. Người Kitô hữu chỉ thực sự khôn ngoan, khi sẵn lòng “mất đi” sự sống hay chết, để “được lại” sự sống đời đời. Và Chúa Giêsu đã kết luận bài giáo huấn của Ngài bằng những lời này: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì”.

Đứng trước thập giá, đứng trước đau khổ, chúng ta không thể hiểu, không thể cắt nghĩa được vì đó là mầu nhiệm. Cuối cùng, tất cả những gì chúng ta có thể làm khi gặp đau khổ là tín thác vào Chúa Giêsu, Đấng đã phán: “Bất cứ ai chấp nhận mất sự sống mình vì Ta thì sẽ tìm lại được sự sống ấy”. Trong cuộc sống, người ta luôn gặp thập giá, đau thương, gian nan thử thách… Tất cả những cái đó có thể làm nên những điều có lợi cho chúng ta.

Truyện: Biến bại thành thắng

Người ta kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: trong một khu rừng có một con hổ lớn và dữ tợn. Lũ khỉ ghét con hổ này lắm. Một ngày kia, chẳng may, con hổ bị sa xuống hố do người thợ săn đào sẵn. Không còn cách nào thoát thân, con hổ chỉ còn biết ngồi chờ thần chết đến.

Lũ khỉ đi qua thấy thế mừng lắm, chúng chế diễu và thay nhau lấy đá, lấy đất và bẻ các cành cây ném xuống đầu con hổ cho bõ ghét. Con hổ chỉ còn biết ngồi chịu trận, không còn biết làm cách nào khác. Thấy thế, lũ khỉ thích chí càng ném hăng, ném mãi không chán, nhưng không ngờ, chính những hòn đá, cành cây vứt xuống nhiều quá, làm cho hố cứ đầy dần lên, đến nỗi con hổ có thể nhờ đó mà nhảy ra ngoài hố được.

Đời là thế. Đau khổ cũng có ý nghĩa riêng của nó. Người ta nói: cái khó bó cái khôn. Nếu ta biết từ bỏ mình, vác thập giá mình thì chính những cái ấy có lợi cho ta. Chúa Giêsu đã có kinh nghiệm về vấn đề này: Thập giá đã nói lên chân lý ấy, và “hạt giống có mục nát ra thì mới sinh hoa kết quả được”. Có lẽ chúng ta không bao giờ hiểu được mầu nhiệm của đau khổ trong thế giới này, nhưng đây là điều chắc chắn: Một khi về trời chúng ta sẽ hiểu được điều ấy.

Có một bài thơ cổ của một tác giả vô danh. Bài thơ mang tựa đề “The Folded Page” (Trang sách bị gấp nếp). Sau đây là một đoạn trong đó:

“Trên căn gác một nhà xưa cổ,
Khi hạt mưa từ mái nhà đổ xuống,
Tôi ngồi đó lật từng trang tập cũ.

Bỗng nhận ra một trang bị gấp nếp,
Ghi dòng chữ của mình hồi nhỏ:
“Thầy giáo bảo: tạm bỏ qua điều này,
Vì hiện tại nó rất ư khó hiểu”.
Tôi liền mở nó ra và đọc,
Đoạn mỉm cười và gục gặc đầu nói:
“Thầy có lý, bây giờ tôi mới hiểu”.
Trong cuộc đời có nhiều trang khó hiểu
Ta chỉ việc gấp lại và viết lên:
“Thầy giáo bảo: tạm bỏ qua điều này
Vì hiện tại nó rất ư khó hiểu”.
Rồi một ngày nào đó trên Nước trời,
Mở trang cũ ra đọc lại ta sẽ nói:
“Thầy giáo có lý, bây giờ tôi mới hiểu”.
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.