Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất;
còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. (Mt 16,25)

Bài Ðọc I: Gr 20, 7-9

Lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã”.

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Lạy Chúa, Chúa đã khuyến dụ tôi, và Chúa đã khuyến dụ được tôi. Chúa đã hùng mạnh hơn tôi và thắng được tôi: suốt ngày tôi đã trở nên trò cười, và mọi người đều chế nhạo tôi. Mỗi lần tôi nói, tôi phải la lớn và loan báo sự hung bạo và điêu tàn, cho nên lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã và bị chế nhạo suốt ngày. Tôi đã nói rằng: “Tôi sẽ không nhớ đến Người nữa, sẽ không nhân danh Người mà nói nữa, thì lúc đó trong lòng tôi như lửa đốt nóng, âm ỉ trong xương cốt tôi, tôi kiệt sức, không chịu nổi nữa”.

Ðáp Ca: Tv 62, 2. 3-4. 5-6. 8-9

Ðáp: Lạy Chúa là Thiên Chúa con, linh hồn con khát khao Chúa. 

Xướng: Ôi lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa con, như đất héo khô, khát mong mà không gặp nước! 

Xướng: Con cũng mong được chiêm ngưỡng thiên nhan ở thánh đài, để nhìn thấy quyền năng và vinh quang của Chúa. Vì ân tình của Ngài đáng chuộng hơn mạng sống, miệng con sẽ xướng ca ngợi khen Ngài.

Xướng: Con sẽ chúc tụng Ngài như thế trọn đời con; con sẽ giơ tay kêu cầu danh Chúa. Hồn con được no thỏa dường như bởi mỹ vị cao lương, và miệng con ca ngợi Chúa với cặp môi hoan hỉ. 

Xướng: Vì Chúa đã ra tay trợ phù con, để con được hoan hỉ núp trong bóng cánh của Ngài. Linh hồn con bám thân vào Chúa, và tay hữu Chúa nâng đỡ người con.

Bài Ðọc II: Rm 12, 1-2

Anh em hãy hiến thân làm của lễ sống động”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tôi nài xin anh em vì lượng từ bi Thiên Chúa, hãy hiến thân anh em làm của lễ sống động và thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Ðó là việc phụng thờ hợp lý anh em phải làm. Anh em đừng theo thói đời này, nhưng hãy canh tân lòng trí anh em, để anh em biết đâu là thánh ý Chúa, biết điều gì tốt lành đẹp lòng Chúa và hoàn hảo.

Alleluia: Ga 6, 64b và 69b

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, lời của Chúa là thần trí và là sự sống; Chúa có những lời ban sự sống đời đời. – Alleluia.

Tin Mừng: Mt 16, 21-27

“Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ thấy: Người sẽ phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão, luật sĩ và thượng tế, sẽ bị giết và ngày thứ ba thì sống lại. Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng: “Lạy Thầy, không thể thế được! Thầy sẽ chẳng phải như vậy đâu”. Nhưng Người quay lại bảo Phêrô rằng: “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, con làm cớ cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người”.

Bấy giờ Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình? Bởi vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm”.

SUY NIỆM

A/ 5 Phút Lời Chúa

TỪ BỎ CHÍNH MÌNH

Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16,24)

Suy niệm: Chúa không “mị dân”, không chơi trò ú tim, nhưng đòi hỏi cách quyết liệt: “Ai muốn theo Thầy thì phải từ bỏ chính mình, vác thập giá hàng ngày mà theo”. Chúa không chỉ nói mà nêu gương:
1/ “Phận là một vì Thiên Chúa, nhưng không đòi hỏi được ngang hàng với Thiên Chúa, mà tự hạ, mang thân phận tôi đòi, vâng phục đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,6-8).
2/ Khi được dân ngưỡng mộ muốn suy tôn, Chúa đã lánh đi nơi khác.
3/ Trong cầu nguyện trong vườn Cây Dầu, Chúa vẫn quyết liệt từ bỏ tới cùng: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).

Mời Bạn: Để có thể từ bỏ hoàn toàn, bạn phải tập từ bỏ dần dần, mỗi ngày một chút, từ những việc nho nhỏ. Điều khó nhất là từ bỏ bản thân, ý riêng mình: “Chiến thắng chính mình là chiến thắng vẻ vang nhất”.

Chia sẻ: Một nghịch lý: càng “mất” thì lại càng “được”. Dám mất sự sống thì lại được nó cách toàn vẹn. Các thánh là những người thành công trong việc từ bỏ: Càng bỏ mình, các ngài càng giống Chúa. Tưởng rằng thánh giá đè bẹp con người, không dè nó lại nâng con người lên. Chia sẻ cảm nhận của bạn về những tư tưởng trên đây.

Sống Lời Chúa: Tập từ bỏ bằng cách nén lại một tiếng than vãn, nhịn một câu nói trả đũa, kiềm chế một phản ứng nóng giận.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã dạy và nêu gương từ bỏ cho chúng con. Trên con đường đi theo Chúa, xin giúp con quyết liệt và mau mắn đáp lại những khi Chúa muốn con từ bỏ một điều gì khiến con không hoàn thiện. Amen.

B/ TGM Giuse Nguyễn Năng

Suy niệm: Sau khi Ðức Giêsu tỏ cho các Tông Ðồ con đường Thập Giá Ngài sắp bước vào. Phêrô, con người đầy nhiệt huyết và rất thương Thầy, ông không thể chấp nhận được: Thầy là Ðấng Kitô mà lại phải chịu khổ nạn. Theo các ông, Thầy phải được ca tụng, tôn vinh, được mọi người suy phục mới hợp lý. Vì thế ông vội vàng can ngăn, không muốn Thầy phải đối đầu với sự dữ.

Con đường Thập Giá là con đường duy nhất để Ðức Giêsu thực hiện sứ mệnh Cứu Thế theo như ý Thiên Chúa Cha. Phêrô vì thương Thầy nhưng vô tình, trở thành đồng lõa vớ Satan làm cản trở sứ mệnh của Ngài. Ðức Giêsu đã thẳng thắn quở trách Phêrô. Chỉ có con đường duy nhất Ngài bước đi là thi hành ý của Chúa Cha cách trọn vẹn.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, sự thẳng thắn của Chúa dạy chúng con phải quyết liệt dứt khoát với những cám dỗ xúi dục chúng con chống lại ý Cha. Cha phải là tuyệt đối. Ý Cha phải trên tất cả. Dù là ai, dù là tình nghĩa đến đâu cũng không vì thế mà vị nể. Xin Chúa giúp sức cho chúng con để chúng con được trung thành đi theo đường lối của Cha. Amen.

Ghi nhớ: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy”.

C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên

THẬP GIÁ VÀ NGƯỜI MÔN ĐỆ

Thập giá là một dụng cụ hành hình dành cho những người bị lên án tử trong xã hội thời cổ xưa. Trong sách Đệ nhị luật, ông Môisen đã nói rằng những ai bị lên án tử và bị treo trên cây gỗ là đồ bị chúc dữ (x. Dnl 21,22-23). Các tác giả Tin Mừng kể với chúng ta về án tử của Chúa Giêsu và cái chết của Người trên thập giá. Khi Chúa bị đóng đinh trên cây gỗ, một số kỳ mục Do Thái và dân thành Giêrusalem không ngớt lời nhục mạ và thách thức Người. Chúa hiền lành và im lặng như con chiên bị đem đi giết. Kể từ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, cây thập giá đã mang một ý nghĩa mới. Từ một dụng cụ hành hình, nó đã trở thành biểu tượng của tình yêu và hy vọng. Từ một hình ảnh gợi lên sự chết chóc ghê rợn, nó đã trở thành một hình ảnh mang lại nghị lực và niềm tin.

Trong ngôn ngữ đời thường, mỗi khi gặp gian nan đau khổ, chúng ta thường nói: “Chúa gửi thập giá đến cho tôi”. Quan niệm này xem ra không phù hợp, vì bản tính của Chúa là Đấng tốt lành và là Cha giàu lòng thương xót. Bởi lẽ chẳng có người cha nào lại tạo ra đau khổ để bắt con cái mình phải chịu. Hơn nữa, trong Phúc Âm, các tác giả nói với chúng ta, chính con người đóng cây thập giá bằng gỗ rồi đặt trên vai Chúa và bắt Chúa vác đi. Cây thập giá gỗ ấy quá nặng, nên Chúa Giêsu bị ngã ba lần. Người cũng không thể vác cây gỗ này tới nơi chịu khổ hình, và quân lính đã bắt ông Simon người thành Cyrênê vác đỡ Chúa. Như vậy, hình khổ thập giá là do con người gây nên cho Chúa, và Chúa Giêsu sẵn lòng chấp nhận vì yêu mến con người. Và thế là, trong suốt cuộc sống con người, ở đâu cũng vậy, người ta đang tiếp tục tạo ra những cây thập giá đủ loại và bắt người khác phải vác đi. Cũng có những trường hợp người ta tự tạo thánh giá cho mình, rồi lại hằn học kêu trách Chúa, lại “đổ thừa” cho Chúa và trút hết trách nhiệm cho Ngài. Một người đi xe ngoài đường thiếu cẩn trọng hoặc uống bia rượu rồi gây tai nạn làm chết người, không thể đổ cho Chúa định hoặc bảo rằng đó là Chúa “gửi thập giá”; một người cha suốt ngày cờ bạc rượu chè không quan tâm đến gia đình, làm cho vợ con lâm cảnh đói khổ, không thể chép miệng nói rằng “do Chúa định”.

Chúa Giêsu đã vác thập giá lên đồi Canvê và chịu đóng đinh trên cây thập giá đó. Con đường thập giá Chúa đã đi qua là con đường của sự nhẫn nhục, hy sinh vì tình yêu nhân loại. Con Thiên Chúa không dùng một phương tiện khác nhẹ nhàng hơn để cứu độ con người, mà lại dùng thập giá với những nhục hình đau khổ, và như thế, những ai muốn đi theo và làm môn đệ của Chúa Giêsu cũng phải đi trên con đường ấy, nhờ đó mà bản thân họ được tinh luyện, đồng thời họ góp phần nâng đỡ anh chị em. Chúa có thập giá của Chúa và mỗi người chúng ta có thập giá của mình. Con người không chào đời bằng nụ cười, nhưng bằng tiếng khóc, và rồi suốt cuộc đời họ là những trăn trở triền miên, những lo toan cuộc sống. Họ luôn phải đối diện với bao khó khăn trong đời. Hành trình của người môn đệ là hành trình thập giá: “Ai muốn theo Thày, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Chúa nhấn mạnh đến “thập giá mình”, có nghĩa là gánh nặng và trách nhiệm cá nhân của mỗi chúng ta, là điều không ai tránh khỏi trong kiếp người.

Thập giá là “định mệnh” chung cho những ai muốn dấn thân phục vụ cho vinh quang của Chúa và hạnh phúc của tha nhân. Ngôn sứ Giêrêmia vì trung thành truyền đạt giáo huấn của Chúa mà bị những người đương thời ghen ghét và hành hạ vu khống. Ông đã trở nên trò cười cho thiên hạ. Có những lúc ông chán nản định bỏ công việc Chúa trao, nhưng mỗi khi ông định từ bỏ sứ vụ, thì ông lại thấy đau khổ vô cùng. Nhiệm vụ ngôn sứ như một duyên nợ với ông, rất khó khăn nhưng không dễ chối từ. Gặp nhiều đau khổ và chống đối, ông vẫn say mê Chúa. Dầu có những lúc chán nản, ông vẫn trung thành với Ngài. Ngôn sứ Giêrêmia là hình ảnh Đức Giêsu chịu đau khổ (Bài đọc I).

Tuy nhiên, trong quan niệm chung của con người, thật không dễ dàng chấp nhận thập giá. Thánh Phêrô không thể hiểu và chấp nhận thập giá. Ông đã phản ứng trước lời tiên báo của Chúa về cuộc khổ nạn Người sắp phải chịu. Trước đó, ông vừa tuyên xưng Đức tin vào sứ mạng thiên sai của Chúa và lời tuyên xưng này được Chúa khen ngợi. Ấy vậy mà khi nghe Chúa nói về khổ hình, ông vội can: “Xin Thiên Chúa đừng để Thầy gặp chuyện ấy!”. Suy nghĩ của thánh Phêrô cũng là lối suy nghĩ của khá nhiều người tín hữu chúng ta. Họ chỉ thích tin và theo Chúa để được những điều may mắn. Họ chọn lựa những điều luật mà họ cho là phù hợp và không liên lụy đến quyền lợi cá nhân mình. Khi gặp phải những gian nan, họ “rửa tay” để không dính dáng đến mình. Thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Bài đọc II). Quả vậy, không có sự thờ phượng nào tốt đẹp cho bằng một cuộc sống thánh thiện, thể hiện qua đức mến Chúa yêu người.

Có nhiều người thời nay đề nghị không trưng bày Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá trong gia đình cũng như trong nhà thờ. Họ cho rằng hình ảnh này gợi lại sự hận thù và bạo lực. Tuy vậy, Giáo Hội trưng bày hình ảnh Đức Giêsu chịu khổ hình để giúp các tín hữu hiểu về tình thương bao là của Thiên Chúa thể hiện qua cái chết của Đức Giêsu. Qua thập giá, chúng ta học được bài học của lịch sử. Hơn nữa, hình ảnh Đức Giêsu trên thập giá là lời mời gọi hãy loại trừ bạo lực và hãy tôn trọng phẩm giá của con người. Bởi lẽ thập giá và Chúa Giêsu đau khổ vẫn đang hiện diện nơi những người nghèo đói, nơi những trẻ em bất hạnh, những nạn nhân của kỳ thị và áp bức chiến tranh. Cùng chung tay xóa bớt sự nghèo đói, thất học, cùng bênh đỡ những người bị xúc phạm nhân phẩm, là vác thập giá cuộc đời để đi theo Đức Giêsu. Khi nhìn lên thập giá, mỗi chúng ta được mời gọi hãy cố gắng để đừng tạo ra thập giá cho những người đang sống xung quanh mình. Ý thức và thực hiện được những điều này, cuộc sống sẽ tốt đẹp biết bao!

Sau cùng, đừng quên rằng thập giá chỉ mang tính nhất thời, vì sau thập giá là sự phục sinh. Chúa Giêsu đã chịu chết trên thập giá, nhưng Người đã sống lại vinh quang. Thập giá không tồn tại mãi mãi. Nếu biết đón nhận thập giá với tâm tình yêu mến và hy sinh của Chúa Giêsu, thì chắc chắn chúng ta sẽ được tôi luyện và nên thánh.

D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay có chung một bài học: đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người; vì thế, những người Ki-tô hữu phải có thái độ dứt khoát không chạy theo thời, không rập khuôn theo thói đời.
Gr 20: 7-9
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a trung thành loan báo sứ điệp Thiên Chúa, dù phải đi ngược lại với bản tính của ông và những ước muốn của những người đương thời với ông.
Rm 12: 1-2
Thánh Phao-lô cảnh giác cộng đoàn tín hữu Rô-ma, sống giữa môi trường dân ngoại, “đừng có rập theo đời nầy”.
Mt 16: 21-27
Trong Tin Mừng, thánh Phê-rô phản ứng như một phàm nhân, phẩn nộ trước ý định Thiên Chúa dẫn Đấng Mê-si-a bước đi trên con đường đau khổ.
BÀI ĐỌC I (Gr 20: 7-9)
Trong lịch sử trào lưu Ngôn Sứ Kinh Thánh, chắc chắn ngôn sứ Giê-rê-mi-a là một trong những nhân vật hấp dẫn nhất. Vốn hiền hòa, đa cảm và không muốn làm mất lòng một ai, ấy vậy, ông phải trung thành loan báo những sứ điệp của Thiên Chúa, ngược lại với bản tính của mình và những kỳ vọng của những người đương thời với ông, vì thế, ông rất khổ tâm và không ngừng bị chống đối.
1.Bối cảnh lịch sử:
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a thi hành sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem, giữa những năm 626 và 587 tCn; nghĩa là ông đã sống vào thời kỳ bi thảm nhất của vương quốc Giu-đa: hai lần thành thánh Giê-ru-sa-lem bị đế quốc Ba-by-lon vây hãm (598-587), và cuối cùng thành thánh bị tàn phá và Đền Thánh bị phá hủy. Ông đã loan báo tai họa sắp giáng xuống mà không được ai chú ý đến, kêu gọi hoán cải để được thứ tha mà không được ai lắng nghe: trở nên trò đùa, bị nhạo báng, bị xem như kẻ phản quốc, bị tống giam, thật sự là một bi kịch diễn ra trong tận đáy lòng của vị ngôn sứ.
2.Bi kịch nội tâm:
Đoạn văn được trích dẫn hôm nay là một trong những đoạn văn thống thiết nhất mà vị Ngôn Sứ đã viết. Qua lối nói phóng dụ và những hình ảnh mạnh mẽ, đoạn trích nầy nói lên tất cả bi kịch của trào lưu Ngôn Sứ: đón nhận ơn đặc sủng mà không thể nào cưỡng kháng lại được, ý muốn của Thiên Chúa ngược lại với tất cả những ước muốn của phàm nhân, đấu tranh không hề mỏi mệt với sự dữ và dối trá mà không nhận được bất cứ điều gì ngoài những lời nhục mạ và cam chịu vì không được ai hiểu.
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a thân thưa với Thiên Chúa về sức mạnh của Ngài trên sứ mạng ngôn sứ của ông:
“Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con,
và con đã để cho Ngài quyến rũ.
Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng”.
Ông phàn nàn với Chúa về những thử thách nặng nề mà ông phải chịu khi trung thành thi hành sứ vụ Thiên Chúa đã giao phó. Người đương thời chẳng những không đón nhận, mà còn lăng nhục ông, vì sứ điệp của Thiên Chúa trái với những kỳ vọng của con người.
“Suốt ngày con đã trở nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.
Mỗi lần nói năng là con phải la lớn,
phải kêu lên: ‘Bạo tàn! Phá hủy!’.
Vì lời Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt này” (20: 7c-8).
Vì thế, ông mong muốn được thoái thác sứ vụ của mình:
“Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người,
cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa’” (20: 9a).
Dù đã ra sức cố dồn nén lại trong lòng, không công bố lời Chúa nữa, nhưng ông không thể:
“Nhưng lời Ngài như một ngọn lửa cháy bừng trong tim,
ầm ỉ trong xương cốt.
Con nín chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (20: 9b)
Không bản văn nào hơn bản văn nầy giúp chúng ta thấu hiểu bản chất ơn gọi ngôn sứ, nguồn gốc siêu nhiên của nó, và đồng thời, quyền năng của nó ở tận cõi thâm sâu nhất của con người. Ngôn sứ Giê-rê-mi, bị người đời ruồng bỏ, quay về Thiên Chúa trong một lời khẩn nguyện khôn nguôi, dưới hình thức đối thoại hay độc thoại rất cô động. Ông thật xứng danh là “cha của lời khẩn nguyện”. Cũng chính ông loan báo “giao ước mới được ghi khắc trong lòng” và cũng là người đầu tiên sống giao ước mới mà ông loan báo.
BÀI ĐỌC II (Rm 12: 1-2)
Với chương 12, khởi sự phần luân l‎ý của thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô ngỏ lời với toàn thể cộng đoàn tín hữu Rô-ma (dù họ xuất thân từ đâu: Do thái hay dân ngoại). Thánh nhân vừa mới ca ngợi lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa, vì thế ngài khai triển chủ đề nầy. Trong phần trích hôm nay, chúng ta đọc thấy hai lời khuyên của thánh nhân: phụng thờ đích thật và đổi mới con người.
1.Phụng thờ đích thật (12: 1):
“Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”“Của lễ sống động” là trọn một cuộc đời dâng hiến cho Thiên Chúa, đối nghịch với tế vật của những súc vật chết được hiến dâng trên bàn thờ. Tất cả cuộc đời Ki-tô hữu phải là một cuộc đời phụng tự. Đó mới thật là “của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”. Thánh Phao-lô đã áp dụng từ ngữ tế tự vào chính mình. Thánh nhân xem sứ vụ của mình như một hành vi tế tự như trong lời kết thư gởi tín hữu Rô-ma nầy: “Ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi là làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hóa mà trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 15: 16). Trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, khi ám chỉ đến việc mình bị kết án tử, có lẽ sắp đến gần, thánh nhân thấy “máu của mình phải đổ ra hợp làm một với hy lễ” (Pl 2: 17).
Hiến dâng chính bản thân mình lên Thiên Chúa, đó là “cách thế xứng hợp để anh em thờ phượng Thiên Chúa”. Ở đây, thánh nhân phân biệt sự khác biệt giữa tế tự hình thức và tế tự đòi hỏi dấn thân trọn vẹn bản thân mình. Tế tự đòi hỏi dấn thân trọn vẹn bản thân mình là cách thức phụng sự Thiên Chúa xứng hợp nhất.
2.Đổi mới con người (12: 2):
Lời khuyên thứ hai nhắm đến việc đổi mới con người. Việc đổi mới nầy đòi hỏi hai chuyển động đồng lúc: “Đừng rập theo đời nầy”, nhưng “hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần”.
Do thái giáo phân biệt thế giới hiện tại và thế giới sắp đến, tức vương quốc Thiên Chúa. Đối với thánh Phao-lô, thế giới hiện tại là thế giới tội lỗi, thế giới ngoại giáo. Đối với thế giới nầy, người tín hữu phải có thái độ không theo thời, không tìm cách rập khuôn theo thói đời. Đó thật sự là một thử thách khủng khiếp thường ngày đối với các Ki-tô hữu hiện sống trong thủ đô của Đế Quốc Rô-ma.
Thánh Phao-lô sẽ không ngừng lập đi lập lại: Hãy trở nên một con người mới “hầu có thể nhận ra đâu là ‎ý muốn của Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo”.
TIN MỪNG (Mt 16: 21-27)
Đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật nầy nối tiếp với đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước.
1.Loan báo lần thứ nhất về cuộc Thương Khó và Phục Sinh:
Sau khi đã nghe thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Đức Giê-su nghĩ rằng đây là giây phút thuận tiện để dẫn đưa các môn đệ của mình vào trong mặc khải mầu nhiệm của Ngài: đây là lần đầu tiên (sẽ còn hai lần khác nữa) Ngài loan báo cho họ cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài: “Người phải chịu nhiều đau khổ, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Mỗi lần loan báo về cái chết của mình, Ngài liên kết những viễn cảnh của cuộc Tử Nạn của Ngài với biến cố Phục Sinh.
“Người phải…”: Điều tất yếu mà Đức Giê-su nêu lên ở đây không là tất yếu của một định mệnh; nhưng là tất yếu thuộc trật tự thần học, cái tất yếu của kế hoạch Thiên Chúa. Tử Nạn không là một tai nạn mà biến cố Phục Sinh đến để đền bù, nhưng dự phần vào mầu nhiệm cứu độ con người. Đức Giê-su không cho các môn đệ bất cứ giải thích nào khác ngoài cái tất yếu “phải” nầy (tất cả các từ “phải” quan trọng của Tân Ước đều quy về ơn cứu độ).
2.Phản ứng của thánh Phê-rô:
Chúng ta hiểu được phản ứng của thánh Phê-rô. Ông quan niệm Đấng Mê-si-a vinh quang và chiến thắng. Trong tư tưởng của ông, những viễn tượng về Đấng Mê-si-a trần thế chắc chắn vẫn còn hiện diện.
Rất tế nhị, thánh Phao-lô kéo riêng Ngài ra khỏi tầm nhìn của các môn đệ và trách cứ Ngài: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”: Chắc chắn thánh nhân lầm khi lôi kéo Thiên Chúa vào việc gìn giữ Thầy mình cho “tai qua nạn khỏi”. Tuy nhiên, tiếng kêu của ông không chỉ bày tỏ những kỳ vọng mà ông đặt vào Đức Giê-su, nhưng cũng trọn tấm lòng yêu mến của ông đối với Thầy mình. Chúng ta không thể nào chấp nhận người mình yêu mến phải chịu đau khổ.
Đức Giê-su phản ứng dữ dội. Vào lúc nầy, những cám dỗ mà Ngài đã kinh qua trong hoang địa hiện ra trong tâm trí Ngài giữa “Đấng Mê-si-a quyền năng” mà dân Ít-ra-en mong đợi và “Người Tôi Tớ đau khổ” mà Kinh Thánh loan báo. Trước đây, Đức Giê-su đã xua đuổi chước cám dỗ của Xa-tan bởi lời quyền năng: “Xa-tan kia, xéo đi!” (4: 10), nay Ngài phản kháng thánh Phê-rô cũng một cách tương tự như thế: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy!”“Xa-tan” có nghĩa “kẻ cản lối” làm người ta vấp ngã.
Khi truyền lệnh cho Phê-rô: “Lui lại đằng sau Thầy”, Đức Giê-su không xua đuổi ông, nhưng mời gọi ông “hãy đi theo sau Ngài” để khỏi cản lối đi của Ngài. Ngài muốn Phê-rô hiểu rằng đức tin mà ông đã tuyên xưng, việc tấn phong mà ông đã lãnh nhận, đòi hỏi ông phải dứt khoát dấn thân vào trong cùng một vận mệnh của Ngài vì đó là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa: “Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”.
3.Những điều kiện để trở nên môn đệ của Đức Giê-su:
Ngay lúc đó, quay về các môn đệ, Đức Giê-su cũng nói với các ông một cách như thế khi liên kết các môn đệ vào với vận mệnh của Ngài, yêu cầu họ bước đi trên cùng một con đường của Ngài.
“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”: Hình ảnh “thập giá” vào thời đó không xa lạ gì với những người đương thời của Đức Giê-su. Chính quyền Rô-ma đã áp dụng hình phạt thập giá cho những ai dám chống lại quyền cai trị của họ. Đã có những cuộc hành hình tập thể như thế xảy ra rồi ở Giê-ru-sa-lem. Ở nơi hình ảnh “thập giá” Đức Giê-su chất chứa những gian khổ mà những ai muốn trở nên môn đệ của Ngài phải trải qua. Trước đây, trong Tin Mừng Mát-thêu, Đức Giê-su đã gợi lên hình phạt thập giá nầy rồi: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10: 38). Thánh Lu-ca, trong một đoạn văn song song (Lc 9: 23), đã thêm chữ “hằng ngày” làm cho “vác thập giá” mang nghĩa biểu tượng: “vác thập giá hằng ngày” nghĩa là chấp nhận mọi khốn khó của cuộc đời.
“Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy”: Lời nầy của Đức Giê-su được cả bốn tác giả Tin Mừng ghi lại, thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca đến hai lần (Mt 10: 38; 16: 25; Mc 8: 35; Lc 9: 24; 17: 33; Ga 12: 25). Một âm vang như thế hàm chứa rằng họ đã hiểu tất cả ‎ý nghĩa của chúng và ghi khắc chúng vào lòng như một bài học lớn lao về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô. Trong viễn cảnh của những lần tiên báo về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, cái chết của Ngài không là dấu chấm hết, nhưng mở ra sự sống: “Mạng sống của tôi không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ‎ ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10: 18). Thánh Mát-thêu viết những lời nầy trong bối cảnh của những năm 80, bối cảnh của những ngày bách hại khắc nghiệt nhất, người tín hữu nào liều mất mạng sống mình vì Đức Giê-su và Tin Mừng, chính là bảo đảm cho mình một cuộc sống trong Vương Quốc Thiên Chúa.
“Vì nếu người ta được cả thế giới, mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?”: Ở đây, Đức Giê-su đối lập giữa sở hữu của cải vật chất được gói trọn ở nơi “người ta được cả thế gian” và “thiệt mất mạng sống” được hiểu theo nghĩa mạnh: “tổn hại sự sống đời đời”“đánh mất ơn cứu độ”.
Để kết thúc tư tưởng của mình, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ biết chọn lựa cách khôn ngoan giữa cuộc sống đời này với cuộc sống vĩnh cửu mai sau khi đặt cho các ông một câu hỏi: “Người ta sẽ lấy gì mà đổi lấy mạng sống mình?”. Cuối cùng, Đức Giê-su kết hợp viễn cảnh chung cuộc nầy với ngày quang lâm của Ngài: “Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”.
Vì thế, để được sở hữu “sự sống đích thật”, một con đường duy nhất được ban cho các môn đệ và sau họ, cho tất cả các Ki-tô hữu: noi gương Đức Giê-su, từ bỏ chính mình, như Ngài, cho đến chết. Lời nghiêm trang, không hoa mỹ, nhưng trào dâng một niềm hy vọng vinh quang. Chúng ta ghi nhận rằng Đức Giê-su không đòi buộc nhưng đề nghị: “Ai muốn …”.

E/ Những bài suy niệm khác