
“Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng:
“Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần ?” (Mt 18,21)
Bài Ðọc I: Hc 27, 33 – 28, 9
“Hãy tha thứ cho kẻ làm hại ngươi, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha”.
Trích sách Huấn Ca.
Thịnh nộ và giận dữ, cả hai đều đáng ghê tởm, người có tội đều mắc cả hai. Ai muốn báo thù, sẽ bị Chúa báo thù, và Chúa nghiêm trị tội lỗi nó. Ngươi hãy tha thứ cho kẻ làm hại ngươi, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha. Người này tích lòng giận ghét người kia, mà dám xin Chúa cứu chữa sao? Nó chẳng thương xót người đồng loại với nó, mà còn cầu xin tha thứ tội lỗi nó làm sao? Nó là xác thịt mà tích lòng thịnh nộ, thì dám xin Chúa tha thứ làm sao? Ai sẽ khẩn cầu cho tội ác nó?
Ngươi hãy nhớ đến điều sau hết, và chấm dứt hận thù: hãy nhớ đến sự hư nát và sự chết, hãy trung thành với các giới răn. Hãy nhớ kính sợ Thiên Chúa, và đừng giận ghét kẻ khác. Hãy nhớ đến giao ước của Ðấng Tối Cao, và hãy bỏ qua sự lầm lỗi của kẻ khác.
Ðáp Ca: Tv 102, 1-2. 3-4. 9-10. 11-12
Ðáp: Chúa là Ðấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân.
Xướng: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người.
Xướng: Người đã thứ tha cho mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân; Người đội đầu ngươi bằng mão từ bi, ân sủng.
Xướng: Người không chấp tranh triệt để, cũng không đời đời giữ thế căm hờn. Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa theo điều oan trái chúng tôi.
Xướng: Nhưng cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, lòng nhân hậu Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi.
Bài Ðọc II: Rm 14, 7-9
“Dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, không ai trong anh em được sống cho mình, và cũng không ai chết cho mình. Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa; nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy, dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa. Vì lẽ ấy, nếu Ðức Kitô đã chết và sống lại, là để cai trị kẻ sống và kẻ chết.
Alleluia: Ga 6, 64b và 69b
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, lời của Chúa là thần trí và là sự sống, Chúa có lời ban sự sống đời đời. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 18, 21-35
“Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không?” Chúa Giêsu đáp: “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.
“Về vấn đề này, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết, người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: “Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả”. Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y.
“Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc: Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: “Hãy trả nợ cho ta”. Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: “Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh”. Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong.
“Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến vào bảo rằng: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?” Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ.
“Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THỨ THA
“Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” (Mt 18,35)
Suy niệm: Ma-hat-ma Gan-đi nói: “Kẻ yếu không bao giờ có thể tha thứ. Tha thứ là phẩm chất của người mạnh”. Đúng nhất phải nói rằng: “Tha thứ là phẩm tính của Thiên Chúa.” Dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay minh hoạ cho điều đó. Ông chủ tha cho tên đầy tớ món nợ khổng lồ ngay tức khắc và vô điều kiện chỉ vì ông chạnh lòng thương trước lời van nài của y.
Tội lỗi chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa là món nợ vô cùng lớn mà chúng ta hoàn toàn không có khả năng chi trả. Dù vậy, Chúa vẫn tha thứ cho chúng ta chỉ với một điều kiện là chúng ta cũng tha thứ cho anh em mình.
Mời Bạn: Thiên Chúa tha thứ vì Ngài là Cha giàu lòng thương xót. Chúng ta phải tha thứ cho nhau bởi vì chính chúng ta đã được Thiên Chúa thương xót và tha thứ. Càng cảm nhận mình được Chúa xót thương và tha thứ nhiều, chúng ta càng thấy mình có nghĩa vụ cũng phải tha thứ cho anh em nhiều, “không chỉ bảy lần mà là bảy mươi lần bảy”. Khi cư xử như thế chúng ta không sợ phải thiệt thòi vì Chúa dạy: “Anh em đong bằng đấu nào, thì Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy, đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo anh em” (Lc 6,38).
Sống Lời Chúa: Bạn có còn giận ghét ai vì bị họ xúc phạm? Hãy tha thứ bằng cách bỏ đi thái độ hờn giận, và thay vào đó là những cử chỉ, lời nói vui tươi và thân ái.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban cho chúng con niềm tin vào lòng thương xót Chúa, để chúng con dám trở về hoà giải với Chúa mỗi khi yếu đuối lỗi lầm. Và cho chúng con một trái tim yêu thương quảng đại, để chúng con luôn tha thứ cho nhau như Chúa tha thứ cho chúng con.
B/ TGM Giuse Nguyễn Năng
Suy niệm: Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm của chúng ta. Ngài giống như ông chủ đầy lòng bao dung. Còn chúng ta là anh em bạn hữu với nhau. Lỗi của anh em đối với ta không là gì so sánh tội lỗi của chúng ta đối với Thiên Chúa. Thế mà nhiều khi chúng ta đối xử với anh em như tên đầy tớ bất lương kia. Chúng ta thật vô phúc và đáng nguyền rủa biết bao.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một niềm tin vững mạnh vào lòng khoan dung của Thiên Chúa, để chúng con dám đến với Chúa mỗi khi yếu đuối lỗi lầm. Xin cho chúng con một trái tim yêu thương quảng đại, để chúng con sẵn sàng tha thứ cho anh chị em chúng con như chính Chúa yêu thương tha thứ cho chúng con. Amen.
Ghi nhớ: “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy”.
C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên
CUỘC SỐNG VÔ THƯỜNG
“Cuộc sống vô thường”, đó là điều người ta hay nói. Đây cũng là một triết lý nhân sinh. “Vô thường” là khái niệm thường được dùng trong một số tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, có nghĩa không có gì tồn tại mãi mãi, mọi thứ đều ở trong trạng thái thay đổi liên tục, kể cả sự chết cũng là một thay đổi. Lăng kính Ki-tô giáo cũng nhìn nhận sự bất toàn mong manh của kiếp người, đồng thời tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Thường Hằng Bất Biến, tức là Đấng không thay đổi, Đấng vĩnh cửu quyền năng, ngàn đời vẫn thế. Tác giả Thánh vịnh diễn tả: “Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103, 16-17). Đó cũng là diễn giải khái niệm “vô thường” theo một cách khác.
Nếu cuộc sống trần gian là vô thường, thì hạnh phúc thiên đàng lại là vĩnh cửu. Để đạt được Nước Trời, con người sống trên trần gian phải biết tận dụng những gì Chúa ban để nên hoàn thiện. Nhiều người dành cả đời mình để tranh đấu hơn thua, để trả thù và rửa hận. Tuy vậy, trước khi báo thù được người khác, thì tâm hồn họ đã bị dày vò và mất bình an. Tác giả sách Huấn Ca (Bài đọc I) lên án oán hờn và giận dữ, đồng thời gọi chúng là “những điều ghê tởm”. Những ai tìm cách báo thù, sẽ chuốc lấy sự báo thù của Đức Chúa. Tác giả cũng khuyên chúng ta: “hãy nhớ đến ngày tận số mà chấm dứt hận thù, nhớ mình phải hao mòn và phải chết mà trung thành giữ các điều răn”.
Khi luôn tâm niệm “cuộc sống vô thường” chúng ta sẽ dễ dàng sống bao dung với tha nhân. Nghĩ đến có ngày mình phải chết, sẽ giúp chúng ta quảng đại khiêm nhường. Cuộc sống này ngắn lắm. Người ta chỉ sống một lần, không như con rắn khi già thì lột xác để rồi tiếp tục sống. Nếu mọi người đều suy nghĩ và ý thức về sự chóng qua của kiếp người, thì cuộc sống sẽ bớt tranh giành, bớt tham lam và bớt thù hận.
Một câu hỏi được đặt ra: lòng bao dung và tha thứ dựa trên tiêu chuẩn nào? Người Do Thái xưa kia có luật “mắt đền mắt, răng đền răng”. Người Việt chúng ta thường nói: “Ăn miếng trả miếng”. Giáo huấn của Chúa Giê-su lại mang một nội dung hoàn toàn khác: không phải chỉ tha bảy lần như câu hỏi của Phê-rô, mà là tha bảy mươi lần bảy. Khi đặt câu hỏi này, có lẽ Phê-rô đã liên tưởng đến lời Chúa nói với Ca-in sau khi ông này tỏ ra hối lỗi vì đã phạm tội giết em mình: “Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy” (St 4,15). Sau đó là lời ông La-méc nói: “Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy” (St 4,24). Chắc hẳn Chúa Giê-su không có ý nói với chúng ta bảy mươi nhân với bảy là 490 lần, mà là qua cách nói này, Chúa muốn dạy chúng ta tha thứ không giới hạn.
Như thế, theo giáo huấn của Chúa Giê-su, sự tha thứ không được đong đo bằng số lần, mà là tha thứ tất cả, tha thứ mãi mãi, tha thứ không phân biệt đối tượng. Tình yêu thương mà Chúa đề nghị, đó là yêu thương cả kẻ thù và cầu nguyện cho họ. Dụ ngôn người đầy tớ vừa là con nợ, rồi được ông chủ tha, và khi trở thành chủ nợ của một người bạn với một chút tiền bạc nho nhỏ, anh ta đã quên ơn huệ mình vừa lãnh nhận, mà nỡ tâm bỏ tù người bạn của mình. Vị tôn chủ đã kết án anh này là “tên độc ác”. Và, những ân huệ anh ta đã nhận được khi trước thì nay bị rút lại. Nếu anh ta đã cố tình tống người bạn vào tù, thì nay chính anh ta phải ngồi tù cho đến khi trả hết nợ. Điều này cũng có nghĩa anh ta phải ở tù suốt đời, vì món nợ mười ngàn yến vàng là quá lớn. Qua câu chuyện dụ ngôn này, Chúa Giê-su dạy chúng ta phải tha thứ cho nhau. Tha thứ là điều kiện để được thứ tha, như chúng ta vẫn hát trong Kinh Hoà Bình: Chính lúc thứ tha là khi được tha thứ.
Người tin vào Chúa Giê-su thì sống hay chết đều thuộc về Người. Những lo lắng trần ai không làm họ nao núng, vì họ luôn nhận Chúa hiện diện trong đời. Thánh Phao-lô khuyên giáo dân Rô-ma như thế. Ki-tô hữu không còn sống cho bản thân, mà là sống cho Chúa, làm mọi việc để tôn vinh Chúa và để đẹp lòng Người. Đó là bí quyết của hạnh phúc và bình an. Đó cũng là phương pháp để xua đi những phiền não giận hờn và hơn thua tranh chấp.
Cuộc sống mong manh vô thường, như đoá hoa phù dung, sớm nở chiều tàn. Chỉ có Chúa là Đấng vĩnh cửu. Xin cho chúng ta luôn phó thác cậy dựa nơi Chúa, là “núi đá” và là ơn Cứu độ của chúng ta. Amen.
“Người đầu tiên biết nói lời xin lỗi là người dũng cảm nhất. Người đầu tiên biết cách tha thứ là người mạnh mẽ nhất. Và người đầu tiên biết cách quên đi quá khứ đau buồn là người hạnh phúc nhất” (Sưu tầm).
“Sự tha thứ không thể làm thay đổi quá khứ, nhưng nó có thể mở rộng tương lai” (Sưu tầm).
D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Chủ đề của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIV Thường Niên Năm A này là “sự tha thứ”.
Hc 27: 30-28: 7
Trong bài đọc thứ nhất, hiền nhân Do thái, trung thành với lề luật Mô-sê, mời gọi “oán cừu nên tháo không nên buộc”.
Rm 14: 7-9
Trong đoạn trích thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô nhắc người Ki-tô hữu nhớ rằng không ai sống cho chính mình.
Mt 18: 21-35
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su đòi hỏi các môn đệ của Ngài phải tha thứ vô điều kiện và không giới hạn.
BÀI ĐỌC I (Hc 27: 30-28: 1-7)
Trào lưu Khôn Ngoan nở rộ trong toàn thể miền Cận Đông xưa: Ai-cập, Su-me, Ba-by-lon… Sách Huấn Ca là một trong năm tác phẩm thuộc trào lưu Khôn Ngoan Cựu Ước: Châm Ngôn, Gióp, Giảng Viên, Khôn Ngoan và Huấn Ca.
Tác giả của sách Huấn Ca là ông Si-rác sống vào cuối thể kỷ thứ ba đầu thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên. Là bậc vị vọng ở Giê-ru-sa-lem và bậc hiền nhân, ông đã viết lại những lời khuyên “đối nhân xử thế” của mình vào khoảng năm 180 trước Công Nguyên. Khoảng năm mươi năm sau, cháu nội của ông đã dịch tác phẩm của ông sang tiếng Hy-lạp và xuất bản.
Sự khôn ngoan, thành quả của trầm tư và kinh nghiệm, là gia sản chung của toàn thể nhân loại. Nhưng sống vào thời kỳ Do thái giáo bị đe dọa bởi văn hóa Hy lạp, nhà hiền triết Do thái ôm ấp một hoài bảo: chấn hưng những giá trị luân lý Do thái giáo. Theo ông, sự khôn ngoan Do thái vượt lên trên sự khôn ngoan Hy lạp, vì sự khôn ngoan Do thái có Thiên Chúa làm khuôn mẫu và Luật của Ngài làm chuẩn mực sống.
Sách Huấn Ca là loại sách kim chỉ nam chứa đựng nhiều lời khuyên cho cuộc sống thường ngày. Sách đề cập đến mọi đề tài. Đoạn trích dẫn hôm nay đề cập đến việc báo thù và tha thứ.
1.Cách hành xử của kẻ gian ác:
Nhà hiền triết nhắm trước tiên đến thái độ của kẻ gian ác:
“Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm,
về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài”.
Nếu ai cố chấp trong sự oán hờn và giận dữ, người ấy rồi sẽ chuốc lấy sự báo thù của Đức Chúa:
“Kẻ báo thù sẽ chuốc lấy sự báo thù của Đức Chúa,
tội lỗi nó, Người xem xét từng ly”.
Đây là điều mà chúng ta thường nói: “Ác giả ác báo, gieo gió gặp bão”.
Theo Cựu Ước, quan niệm “thưởng phạt ở đời sau” chỉ xuất hiện sau nầy, vì thế kẻ gian ác sẽ chuốc lấy hậu quả của điều ác mà nó gây ra ngay tại đời nầy.
2.Đức hạnh của người công chính:
Ngược lại với thái độ của kẻ gian ác, nhà hiền triết phác họa đức hạnh của người công chính:
“Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác,
thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha”.
Sự tha thứ được sách Lê-vi diễn tả rõ ràng: “Ngươi không được để lòng ghét người anh em… Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình ngươi” (Lv 19: 17-18).
Nhà hiền triết nêu lên lý do tại sao phải tha thứ:
“Người với người cứ nuôi lòng hờn giận,
thế mà dám xin Đức Chúa chữa lành!
Nó chẳng biết thương người đồng loại,
mà lại dám xin tha tội cho mình”.
Đó chính xác cũng là lời nguyện trong kinh Lạy Cha: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6: 12)
“Hãy nghĩ đến ngày tận số
mà chấm dứt hận thù”.
Đây là đề tài chủ đạo của nhà hiền triết. Người công chính phải thoát khỏi mọi ưu tư hằng ngày để nghĩ đến số phận của mình là một ngày kia sẽ từ giả cõi thế, đây không cốt là nghĩ đến phần thưởng của cuộc sống mai sau. Vào thời Si-rác, Ít-ra-en chưa biết đến phần thưởng mai hậu nầy (chỉ xuất hiện muộn thời). Cho dù người công chính không thể biết được khi nào những án phạt sẽ giáng xuống trên bọn ác nhân – vì Đức Chúa sẽ báo thù – thì phải trung thành với những huấn lệnh và nghĩ đến Giao-ước:
“Hãy nhớ đến các điều răn
mà đừng oán hờn kẻ khác,
nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao
mà không chấp nhất điều lầm lỗi”.
Thái độ nầy thật sự cao thượng dù chân trời bị giới hạn chỉ vào việc thưởng phạt trần thế và kinh nghiệm cho thấy những phần thưởng nầy khó đáp trả sự mong chờ của người công chính. Nhưng người có niềm tin phải hành động xuất phát từ lòng yêu mến Thiên Chúa và Luật của Ngài. Không phải chính lòng trung thành với Giao Ước đảm bảo sự quan phòng của Thiên Chúa trên dân Ít-ra-en và mỗi thành viên đó sao? Nền luân lý nầy thật cao thượng chuẩn bị trực tiếp cho lời dạy của Đức Giê-su trong Tin Mừng.
BÀI ĐỌC II (Rm 14: 7-9)
Đoạn trích thư gởi tín hữu Rô-ma nầy, nếu tách ra khỏi mạch văn của nó, chúng ta khó nắm bắt được ý nghĩa những lời khuyên nhủ của thánh Phao-lô.
Trong chương 14 thư gởi tín hữu Rô-ma nầy, thánh Phao-lô bàn đến những mối liên hệ giữa những người Ki-tô hữu trong lòng cộng đoàn. Thánh nhân gợi lên nhiều quan điểm khác nhau trong thái độ thường ngày, giữa những người mà thánh nhân gọi là “những người yếu” và những người thánh nhân gọi là “những kẻ mạnh”.
Thánh nhân đề cập cách chi tiết: những người không ăn kiêng và những người ăn kiêng, những người sống khổ hạnh và những người bài bác khổ hạnh, vân vân. Từ đó thánh nhân kết luận cuộc sống hòa hợp của cộng đoàn phải căn cứ trên sự tự do của mỗi người trong sự kính trọng kẻ khác.
Ở nơi lời dạy của thánh nhân, tự do chứ không cá nhân chủ nghĩa, vì “không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Đức Ki-tô, mà có chết cũng là chết cho Người”, bởi vì “Đức Kitô đã không sống cũng không chết cho chính mình, nhưng cho chúng ta”. Mọi dị biệt phải bị xóa nhòa trước mối liên hệ căn bản: hiệp nhất mọi thành phần của cộng đoàn: Tất cả chúng ta đều thuộc về Đức Ki-tô.
Khởi đi từ những chi tiết nhỏ nhặt cụ thể đến một quan điểm thần học, đó là nét đặc trưng của thánh Phao-lô thường hằng trong các thư của thánh nhân.
TIN MỪNG (Mt 18: 21-35)
Sau khi đã căn dặn đức ái huynh đệ trong việc sửa lỗi cho nhau và đã cảnh báo mỗi thành viên trong cộng đoàn phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với nhau (Chúa Nhật XXIII), Đức Giê-su mời gọi các môn đệ Ngài còn đi xa hơn nữa: cho đến việc tha thứ vô điều kiện và luôn mãi đối với những kẻ xúc phạm mình.
1.Cuộc chuyện trò thân mật giữa Thầy và trò (18: 21-22):
Trong Tin Mừng của mình, thánh Mát-thêu làm nổi bật nhân vật Phê-rô, thậm chí ngay cả trước khi thánh nhân được tấn phong làm thủ lãnh của nhóm Mười Hai và của Giáo Hội trong tương lai như thánh Phê-rô trong bão tố, thánh Phê-rô ở Xê-sa-rê, thánh Phê-rô trong biến cố Biến Hình.
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay cũng vậy, chính thánh Phê-rô lên tiếng hỏi thầy mình: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mầy lần?”. Thánh nhân vừa hỏi, nhưng đồng thời cũng nhanh miệng đưa ra một đề nghị: “Có phải bảy lần không?”. Khi đề nghị bảy lần, thánh Phê-rô nghĩ là mình quá rộng lượng từ tâm lắm rồi, bởi vì theo truyền thống Do thái việc tha thứ cho anh em mình chỉ dừng lại ở con số ba lần. Kinh sư Hanina dạy rằng: “Ai xin người lân cận mình tha thứ, không được xin quá ba lần”, còn kinh sư Jehuna thì dạy: “Nếu một người phạm tội một lần, hãy tha thứ; hai lần hãy tha thứ; ba lần cũng hãy tha thứ cho người ấy; nhưng lần thứ tư thì không tha thứ nữa!”. Đối với văn hóa Việt Nam, “Sự bất quá tam”. Hơn nữa, “con số bảy” được dùng trong Kinh Thánh để diễn tả mức độ trả thù tận mức : “Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy.” (St 4: 15). Ngoài ra ông La-méc, hậu duệ của Ca-in, đã huênh hoang tự đắc với các bà vợ của mình:
“Ca-in sẽ được trả thù gấp bảy,
nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy.” (St 4: 25).
Khi trả lời cho thánh Phê-rô: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy”, Đức Giê-su thay thế sự trả thù vô cùng tận của La-méc bằng sự tha thứ vô giới hạn.
2.Dụ ngôn (18: 23-24)
Để minh họa tư tưởng của mình, Đức Giê-su kể một dụ ngôn mà chỉ mình thánh Mát-thêu thuật lại. Khi so sánh với bài đọc thứ nhất trong đó hiền triết Si-rác dạy rằng phần thưởng cho việc tha thứ chỉ vuông tròn trong hạnh phúc trần thế, Đức Giê-su nhắm đến việc tha thứ đem lại phần thưởng trong Vương Quốc Nước Trời. Lời khai mào nầy loan báo rằng Đức Giê-su sắp ban chìa khóa mở cửa Vương Quốc nầy.
Dụ ngôn là một bi kịch gồm ba hoạt cảnh.
2.1-Hoạt cảnh thứ nhất:
Đức Vua (ám chỉ đến Thiên Chúa), được giới thiệu ngay từ đầu, đòi hỏi bầy tôi thanh toán sổ sách. Phần cuối của dụ ngôn sẽ cho thấy việc thanh toán sổ sách không là điều cốt yếu mà dụ ngôn nhắm tới.
Đức Vua đích thân triệu tập người đầy tớ mắc nợ Vua mười ngàn nén vàng. Đây là một món nợ quá lớn đến mức tự sức mình chúng ta không thể nào có thể trả nổi. Với một món nợ quá lớn mà một người nô lệ không thể nào mắc nợ được, vì thế các nhà chú giải hiểu rằng người đầy tớ trong dụ ngôn nầy là một vị quan, bởi vì trong nền văn hóa Đông Phương, các quan được gọi là tôi bộc của Vua.
Vì không thể trả nổi, người đầy tớ bị Đức Vua ra lệnh thi hành án phạt: “Bán y, cùng tất cả vợ con, tài sản, mà trả nợ”. Quả thật, sự liên đới của mọi thành viên trong gia đình trải rộng cho đến món nợ mà người chủ gia đình mắc phải. Bấy giờ tên đầy tớ sấp mình xuống van xin: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ trả hết”. Đức vua liền chạnh lòng thương (đây cũng là động từ mà các Tin Mừng dùng để diễn tả tấm lòng xót thương của Đức Giê-su trước những đau khổ của con người), tha hết món nợ cho y: hình ảnh của ơn cứu độ nhưng không.
2.2-Hoạt cảnh thứ hai:
Hoạt cảnh thứ hai được xây dựng trên một sự tương phản với hoạt cảnh thứ nhất. Tên đầy tớ được Vua tha bổng lại hành xử đối với một trong những bạn đồng liêu của mình, người nầy mắc nợ y một trăm bạc, một món tiền không đáng là bao so với món nợ của y đối với Đức Vua. Y chẳng thèm để ý đến lời van xin của bạn mình: “Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh”, chính xác là những lời mà trước đây y đã van xin Đức Vua. Cách hành xử của y đối với bạn của y: liền túm lấy, bóp cổ và tống anh bạn mình vào tù mà không một chút động lòng xót thương, khác xa với cách hành xử của Đức Vua đối với y.
Người đầy tớ nầy không ngờ rằng có một mối quan hệ hỗ thương giữa thái độ của y đối với bạn đồng môn của mình và thái độ của Đức Vua đối với y. Khi từ chối lòng xót thương của y đối với bạn mình, y huỷ bỏ lòng xót thương mà y được hưởng từ Đức Vua.
2.3-Hoạt cảnh thứ ba:
Đức Vua thay đổi thái độ hoàn toàn đối với y: Ngài nổi cơn thịnh nộ giao người đầy tớ không có lòng xót thương cho lý hình hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ. Chính ở đây để lộ cách thức tính sổ của Đức Vua. Ngài phán xử mỗi người không căn cứ trên việc tính toán chi ly của món nợ, nhưng trên khả năng yêu thương và tha thứ của mỗi người đối với anh em đồng loại của mình.
3.Bài học (18: 25):
Từ dụ ngôn, Đức Giê-su rút ra một bài học quan trọng trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa với chúng ta: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình”. Bài học nầy làm chúng ta nhớ đến điều kiện tất yếu để được Thiên Chúa tha thứ trong kinh Lạy Cha: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6: 14-15).
Phía sau dụ ngôn nầy, chính cuộc sống của Đức Giê-su bằng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài đem đến những phương thế đổi mới tấm lòng của con người, ngõ hầu họ có khả năng yêu thương và tha thứ cho nhau.
E/ Những bài suy niệm khác
