“Người có ý nói đền thờ là thân thể Người”.

Bài Ðọc I: Ed 47, 1-2. 8-9. 12

“Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra, và nước ấy chảy đến ai, thì tất cả đều được cứu rỗi”.

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Trong những ngày ấy, thiên thần dẫn tôi đến cửa nhà Chúa, và đây nước chảy dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn nước thì chảy từ bên phải đền thờ, về phía nam bàn thờ. Thiên thần dẫn tôi qua cửa phía bắc, đưa đi phía ngoài, đến cửa ngoài nhìn về hướng đông, và đây nước chảy từ bên phải. Người ấy lại nói với tôi: “Nước này chảy về phía cồn cát, phía đông, chảy xuống đồng bằng hoang địa, rồi chảy ra biển, biến mất trong biển và trở nên nước trong sạch. Tất cả những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến. Gần suối nước, hai bên bờ ở mỗi phía, mọi thứ cây ăn trái sẽ mọc lên; lá của nó sẽ không khô héo, và trái của nó sẽ không bao giờ hết; mỗi tháng nó có trái mới, vì dòng nước này phát xuất từ đền thờ; trái của nó dùng làm thức ăn, và lá của nó dùng làm thuốc uống.

Ðáp Ca: Tv 45, 2-3. 5-6. 8-9

Ðáp: Nước dòng sông làm cho thành Chúa vui mừng, làm hân hoan cung thánh Ðấng Tối Cao.

Xướng: Chúa là nơi ẩn náu và là sức mạnh của chúng ta, Người hằng cứu giúp khi ta sầu khổ. Dầu đất có rung chuyển, ta không sợ chi, dầu núi đổ xuống đầy lòng biển cả.

Xướng: Nước dòng sông làm cho thành Chúa vui mừng, làm hân hoan cung thánh Ðấng Tối Cao hiển ngự. Chúa ở giữa thành, nên nó không chuyển rung, lúc tinh sương, thành được Chúa cứu giúp.

Xướng: Chúa thiên binh hằng ở cùng ta, ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ. Các ngươi hãy đến mà xem mọi kỳ công Chúa làm, Người thực hiện muôn kỳ quan trên vũ trụ.

Bài đọc II: 1 Cr 3, 9b-11. 16-17

“Anh em là đền thờ của Thiên Chúa”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, anh em là toà nhà của Thiên Chúa. Theo ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi như một kiến trúc sư lành nghề, đã đặt nền móng, còn kẻ khác thì xây lên. Nhưng mỗi người hãy xem coi mình xây lên thế nào? Vì chưng không ai có thể xây dựng một nền tảng khác, ngoài nền tảng đã được xây dựng là Ðức Kitô.

Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Nếu ai xúc phạm tới đền thờ của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt người ấy. Vì đền thờ của Thiên Chúa là thánh mà chính anh em là đền thờ ấy.

Alleluia: 2 Sb 7, 16

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta đã chọn lựa và thánh hoá nơi này, để danh Ta được hiện diện khắp nơi cho đến muôn đời. – Alleluia.

Tin Mừng: Ga 2, 13-22

“Người có ý nói đền thờ là thân thể Người”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêrusalem; Người thấy ở trong đền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc. Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ, và bảo những người bán chim câu rằng: “Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”.

Môn đệ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: “Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi”.

Bấy giờ người Do-thái bảo Người rằng: “Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy”. Chúa Giêsu trả lời: “Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại”. Người Do-thái đáp lại: “Phải bốn muơi sáu năm mới xây được đền thờ này mà ông, ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư?” Nhưng Người, Người có ý nói đền thờ là thân thể Người. Vì thế, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lời đó, nên đã tin Kinh Thánh và tin lời Người đã nói.

SUY NIỆM

A/ 5 Phút Lời Chúa

CANH THỨC SẴN SÀNG

Các cô dại nói với các cô khôn rằng: ‘Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em sắp tắt rồi.’ Các cô khôn đáp: ‘Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn’. (Mt 25,9-10)

Suy niệm: Thoạt mới nghe, có lẽ chúng ta cũng thắc mắc: sao các cô khôn lại không thể chia sẻ cho những cô dại chút ít dầu nhỉ? Còn đâu là tinh thần bác ái nữa! Nếu chỉ là chuyện dầu đèn thì thắc mắc như vậy cũng không sai. Nhưng dụ ngôn muốn nói đến những điều đi xa hơn chuyện dầu đèn. Quả thực, có những điều chúng ta có muốn chia sẻ cũng không thể được. Có cảm thông nỗi  đau của người bệnh, tôi cũng không thể chia sẻ sức khoẻ của tôi cho họ được; người thân của tôi đang hấp hối, muốn ‘chuyển khoản’ cho họ chút ít thời gian để họ sống thêm với mình cũng đành bất lực… Vâng, cuộc đời là một cuộc hành trình mà mỗi người phải tự đi, không ai thay thế được. Vậy hãy chuẩn bị đầy đủ dầu đèn cho cuộc hành trình ấy: hãy là một ngọn đèn chứa đầy chất dầu của tình yêu thương, và luôn cháy sáng bằng những hành vi ngay chính.

Mời Bạn: Phải chăng cứ ở lì trong nhà thờ đọc kinh là cách tốt nhất để chuẩn bị cho hành trình về đời sau? Chắc chắn là không. Mà là sống kết hiệp thường xuyên với Đức Kitô và chu toàn tốt đẹp mọi bổn phận hằng ngày của mình. Phần bạn, có bao giờ bạn nghĩ đến giờ ra đi của mình chưa? Bạn đã chuẩn bị thế nào cho cuộc hành trình đó?

Sống Lời Chúa: Không ai biết mình ra đi lúc nào, hãy năng kết hiệp với Chúa.

Cầu nguyện: Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để cho tôi tớ Chúa được an bình ra đi, vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân. (Nunc Dimittis)

C/ Lm. Phaolô Phạm Công Phương

Do Thái giáo có đền thờ Giêrusalem, Kitô giáo có đền tờ đầu tiên là đền thờ Latêranô do hoàng đế Constantinô theo đạo và nhường lại cho Giáo Hội sau 300 năm bị bách hại, phải chui rúc dưới các hầm mộ để sống sót. Còn Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay lại sẵn sàng đập phá đền thờ để thanh tẩy đền thờ.

Vậy phải đập phá những đền thờ nào ?

Có những đền thờ chỉ có gỗ đá mà không có Chúa. Có nhiều gia đình cũng lập bàn thờ, có tượng Chúa tượng Mẹ nhưng lại chẳng tụ họp cầu nguyện bao giờ. Đó cũng chỉ là gỗ đá, đâu nhất thiết phải có bàn thờ vì nơi đâu có hai ba người tụ họp lại cầu nguyện thì ở đó Chúa hiện diện.

Có những đền thờ giống như cái chợ. Không có hàng hoá đồ vật trong nhà thờ nhưng lại có những cuộc trao đổi hàng hoá ngay trong nhà thờ bằng lời lẽ bông đùa. Nhà thờ cũng không phải là nơi để triển lãm hay khoe khoang, song tất cả mọi vẻ đẹp bên ngoài của nhà thờ cũng như của thân xác đều phải dẫn tới vẻ đẹp thánh thiêng là chính Thiên Chúa, chứ không thể bắt mọi con mắt phải đổ dồn về mình.

Vì thế chúng ta cần thanh tẩy cách sống đức tin:

Chúng ta vui mừng và tạ ơn Chúa vì giáo dân Việt Nam vẫn chăm chỉ đi lễ, tham dự các nghi thức phụng vụ. Tuy vậy, nếu để ý chi tiết đến tâm tình của các tín hữu trong đời sống đức tin, chúng ta sẽ thấy khá nhiều người chưa có đời sống nội tâm, tức là đức tin và giáo huấn của Chúa chưa thấm nhập cuộc đời của họ. Nói cách khác, nhiều người tín hữu vẫn mang hai khuôn mặt, một khuôn mặt ở trong nhà thờ sốt sắng hiền lành, một khuôn mặt ngoài xã hội lại lắm mưu mô. Nhiều người khác lại có một đức tin pha tạp, vừa cầu nguyện với Chúa, vừa có những thực hành mê tín dị đoan, nhất là nơi những người kinh doanh buôn bán. Họ viện cớ có thờ có thiêng, có kiêng có lành, nên dù là người Công giáo mà vẫn thờ thần  tài, vẫn xem bói, xem hướng, xem ngày giờ, đào bới  hài cốt… Đây là thái độ bắt cá hai tay, Đi với bụt mặc áo  càsa, đi với ma mặc áo giấy không phù hợp với đức tin Công Giáo.

Nơi nào tiền bạc ngự trị thì nơi đó thường không còn chỗ cho Thiên Chúa. Chúa Giêsu biết trước rằng, người ta sẽ xua đuổi Ngài ra khỏi đền thờ và treo Ngài trên thập giá. Ngài liền thách thức họ: “Hãy phá hủy ngôi đền thờ này và trong 3 ngày Ta sẽ xây lại“. Lúc ấy không ai hiểu được ngôn ngữ của Chúa Giêsu. Sau khi Chúa sống lại thánh Gioan đã nhớ lại câu nói của Chúa Giêsu và hiểu rằng: Ngài muốn nói đến ngôi đền thờ là thân xác của Ngài.

Vậy thân xác là đền thờ của Chúa Thánh Thần:

Ngày nay, người ta nói nhiều về việc suy thoái đạo đức, nhưng điểm suy thoái nguy hiểm nhất vẫn là suy thoái về nhân phẩm con người. Thân xác con người là đền thờ của Chúa đã bị tục hoá vì thói đời hưởng thụ hôm nay. Người ta xem thân xác chỉ là một món hàng để có thể trao đổi, mua bán, lạm dụng … mà không cần bàn tới luân thường đạo lý. Đang khi đó thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Thân xác anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần… vậy anh em hãy tôn vinh Chúa nơi thân xác anh em”.

Tóm lại, mỗi người, mỗi gia đình chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa ngự trị. Nhưng có thể Thiên Chúa đã mất chỗ, nghĩa là tội lỗi, những cái xấu, những cái tiêu cực… đã chiếm chỗ của Chúa. Vì thế, chúng ta phải loại bỏ tất cả những cái đó đi để trả lại chỗ đứng cho Thiên Chúa bằng sự ăn năn sám hối và cải thiện đời sống.

C/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

HÃY TỈNH THỨC VÀ CHỜ ĐỢI

A. DẪN NHẬP

Con người ai cũng phải nghĩ tới tương lai, một tương lai đầy hy vọng và tốt đẹp. Người khôn ngoan thật là người phải biết chuẩn bị cho tương lai tươi sáng đang đón chờ, tức là phải nhắm đến cái cùng đích của mình. Cùng đích của Kitô hữu là phải chiếm hữu được Nước trời. Cuộc sống ở trần gian này là một thời ước mong và chờ đợi.

Những bài đọc trong Thánh lễ hôm nay nói về sự chờ đợi đó và sống trong sự chờ đợi này ngõ hầu không phải vỡ mộng vô phương cứu chữa sau khi chờ đợi. Nhưng nhiều người đã vỡ mộng thật! Nếu vào ngày chúng ta chết, vì thiếu khôn ngoan và lo xa, chúng ta lại nghe Chúa phán: “Ta không biết các ngươi”.

Cuộc sống trần gian chỉ là cuộc hành trình về Quê Trời. Đã nói đến hành trình thì phải nói đến hành trang, mà hành trang của Kitô hữu là chiếc đèn đầy dầu, tức là một cuộc sống lành thánh và đầy công phúc. Cuộc sống ở đời này rất bấp bênh, kết thúc lúc nào không ai biết vì “sinh hữu hạn, tử bất kỳ”!

Vì thế, bổn phận của chúng ta là phải tỉnh thức sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Một khi đã chuẩn bị sẵn sàng thì chúng ta sẽ được bình yên, không còn lo sợ trước cái chết vì “Cẩn tắc vô ưu” mà: cẩn thận đề phòng thì khỏi phải lo phiền.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Kn 6,13-17

Trong bài đọc 1 này Thánh kinh thôi thúc chúng ta tìm sự khôn ngoan, vì khôn ngoan là món quà cao quý mà Thiên Chúa ban cho con người. Hãy tìm kiếm khôn ngoan và khôn ngoan sẽ đáp ứng, Khôn ngoan sẽ đến gặp chúng ta như một người bạn. Nhờ có khôn ngoan mà con người biết sống thế nào cho phải, tìm ra cái gì phải tìm. Nhờ có đức tính này mà con người có thể định hướng được cuộc đời của mình mà không sợ lạc hướng.

Đối với người Kitô hữu, sự khôn ngoan ấy được thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng đã nói: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống”. Ai theo Ngài sẽ tiến tới con đường cứu độ.

Bài đọc 2: 1Tx 4,13-18

Thánh Phaolô vui mừng vì thấy tín hữu Thessalonica đón nhận Tin mừng do Ngài rao giảng và sống đức tin vững vàng. Nhưng họ có một tâm trạng lo âu: họ đang mong chờ đến ngày tận thế để được gặp Chúa Giêsu, nếu họ chết trước thì họ sẽ không được gặp Ngài.

Nhưng thánh Phaolô làm cho người Thessalonica yên tâm bằng cách cho họ tin chắc rằng: khi Chúa đến, tất cả mọi người dù còn sống hay đã chết đều được gặp Ngài, và sau đó được sống hạnh phúc bên Ngài mãi mãi. Vì thế, họ hãy tỉnh thức sẵn sàng chờ đợi ngày Chúa đến trong tinh thần tin tưởng.

+ Bài Tin mừng: Mt 25,1-13

Dụ ngôn 10 cô trinh nữ nói lên sự khôn ngoan của con cái Thiên Chúa là biết tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi Chúa quang lâm. Chúa sẽ đến nhưng chúng ta không biết ngày nào giờ nào. Việc chúng ta phải làm là hãy dự trữ đầy đủ dầu đèn tức là phải tỉnh thức. “Tỉnh thức” ở đây, qua hình ảnh chiếc đèn đầy dầu, có nghĩa là lúc nào cũng ở trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng.

Chắc chúng ta thắc mắc về một chi tiết: 5 cô khôn ngoan không cho 5 cô khờ dại vay mượn dầu. Phải chăng chi tiết này nói lên tính ích kỷ của các cô khôn ngoan ? Chắc không phải thế! Chúa Giêsu muốn dùng chi tiết này để nói rằng trước số phận đời đời không ai có thể giúp ai được, mỗi người phải tự lo lấy. Vậy mỗi người phải tự lo bằng cuộc sống lúc nào cũng sẵn sàng trả lẽ trước mặt Chúa.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: 

TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG

I.BỐI CẢNH CỦA DỤ NGÔN

1.Phong tục cưới hỏi người Do thái

Khi đọc dụ ngôn này, chúng ta thắc mắc nhiều điều vì phong tục cưới hỏi của người Palestine thời Chúa Giêsu khác hẳn với phong tục của chúng ta ngày hôm nay. Muốn hiểu dụ ngôn 10 cô trinh nữ đón chàng rể, ta nên xem qua phong tục của người Do thái.

Tiến sĩ Alexander Findlay để lại những điều ông đã thấy ở xứ Palestine. Ông viết: “Khi chúng tôi đến gần cổng một thị xã Galilê, tôi thấy 10 cô gái vẫy tay và đánh đàn vui vẻ, nhảy múa dọc theo con đường phía trước xe chúng tôi. Tôi hỏi họ đang làm gì vậy ? Người hướng dẫn trả lời là họ ra nhập bọn với cô dâu chờ chàng rể đến. Tôi hỏi anh ta xem có dịp thấy đám cưới này không, anh lắc đầu đáp: “Có thể tối nay, tối mai hay có khi cả hai tuần lễ nữa, không ai biết chắc lúc nào đám cưới cử hành”.

Đoạn anh tiếp tục giải thích rằng: một trong những niềm vui lớn nhất trong một đám cưới trung lưu ở Palestine là làm sao bắt gặp nhà gái đang ngủ, vì vậy, chàng rể thường đến bất ngờ, đôi khi vào lúc nửa đêm. Theo ý của công chúng thì chàng rể phải cho một người đi trước để la lên rằng: “Kìa, chàng rể đang đến”. Việc đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nên nhà gái phải luôn luôn sẵn sàng đi ra đường để đón chàng rể khi chàng đến. Những điểm quan trọng khác là không ai được phép ở ngoài đường sau khi trời tối nếu không có đèn. Khi chàng rể đến và cửa đóng lại thì những người đến trễ không được phép vào. Đó là toàn thể quang cảnh dụ ngôn mà Chúa Giêsu nêu ra. Dụ ngôn có nhiều chi tiết, nhưng Chúa Giêsu chỉ muốn dựa vào phong tục rước dâu để nói lên sự tỉnh thức và sẵn sàng.

2.Ý nghĩa dụ ngôn

Dụ ngôn này nhằm cảnh cáo những thính giả gần là người Do thái và những thỉnh giả xa là chúng ta ngày hôm nay là phải tỉnh thức và sẵn sàng.

* Dụ ngôn nhằm trực tiếp vào người Do thái. Họ là dân được Thiên Chúa tuyển chọn, cả lịch sử của họ đúng ra là một cuộc sửa soạn cho cuộc giáng sinh của Con Thiên Chúa, lẽ ra họ phải chuẩn bị cho Ngài tới. Nhưng họ đã không chuẩn bị đón tiếp Ngài, vì thế họ đã bị loại ra như 5 cô trinh nữ khờ dại.

* Dụ ngôn còn gián tiếp cảnh cáo chúng ta khi chúng ta không chuẩn bị đón tiếp Chúa đến trong ngày tận thế và nhất là trong ngày sau hết của đời mình. Chúng ta quá mải mê với đời sống ở trần gian, chỉ biết tìm hạnh phúc chóng qua ở đời này mà quên đi hạnh phúc thật đời sau. Chúng ta rất dễ lần lữa trễ nải đến nỗi không còn thời giờ chuẩn bị mình đến gặp Chúa vì Chúa đến rất bất ngờ.

* Dụ ngôn này nhấn mạnh đến tính cách bất ngờ. Cl Tassin viết: “Dụ ngôn về lụt đại hồng thuỷ trình bày cho thấy sự phán xét của Thiên Chúa ập xuống nghiệt ngã giữa dòng đời thường của con người. Dụ ngôn kẻ trộm đêm kêu gọi phải tỉnh táo trước mọi thứ bất ngờ không hẹn trước. Và dụ ngôn về người đầy tớ trung tín nêu rõ tinh thần vâng phục, Chúa phải là linh hồn của thời gian chờ đợi. Hội thánh sống với lòng mong đợi ngày cánh chung ở cuối chân trời, nhưng cuộc phán xét đã bắt đầu hôm nay, trong những lựa chọn của đời sống hằng ngày” (Tassin, l’Évangile de Matthieu, Centurion, tr 260).

II.BÀI HỌC ĐƯỢC RÚT RA

Ngày xưa, Chúa Giêsu cảnh cáo những người Do thái không chịu chuẩn bị cho Ngài đến trong việc cứu chuộc loài người, nên họ đã bị loại ra ngoài và dành cho các dân tộc khác. Ngày nay, với dụ ngôn này, Chúa cũng cảnh cáo chúng ta đừng quá mê man sự thế gian mà quên đi giờ chết của mình. Chúa sẽ đến gọi chúng ta ra khỏi đời này một cách bất ngờ và ngày giờ nào chúng ta không biết. Chỉ có một điều chúng ta phải làm là tỉnh thức và sẵn sàng.

1.Mọi người đều phải chết

Kinh nghiệm người đời cho hay: không ai có thể sống mãi. Từ xưa đến nay, người ta đã nỗ lực đi kiếm tìm thuốc trường sinh, nhưng đã thất bại. Bao nhiêu anh hùng cái thế, bao nhiêu vĩ nhân lừng danh thế giới đã qua đi, chỉ còn lưu lại trên sử sách. Vì thế người ta mới đặt một dấu hỏi và tự trả lời: “Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử”: người ta xưa nay ai mà không chết ? Theo Kinh thánh, ông Adong sống thọ 930 tuổi, ông Noe 950 tuổi, ông Mathusalem 969 tuổi, tất cả đều đã chết. Vì thế người ta mới nói:

Người đời hữu tử hữu sinh
Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.

Biết là mọi người sẽ phải chết đấy, nhưng mấy ai nghĩ đến sự chết để dọn mình sẵn sàng.

Nhà nhiếp ảnh Mạnh Đan có chụp một bức hình thần tình. Bức hình trình bày hai nhân vật: một cụ già đang quay lưng đi, một thiếu niên đang quay mặt lại. Và tác giả đã đặt cho bức hình ấy một tên không thể khéo đẹp hơn: QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI.

Thật vậy, quá khứ và tương lai, hay là lớp người già và lớp người trẻ, là hai hạng người ngồi châu lưng lại cho nhau. Lớp người trẻ nhìn về phía trước mặt. Lớp người già nhìn về phía sau lưng. Vì thế Thánh kinh nói: “Trẻ thì mộng tới tương lai, già thì chiêm bao về quá khứ” (Joel 3,1). 

Tâm lý trẻ già khác nhau đấy: người thì nhìn về quá khứ, người thì nhìn về tương lai. Nhưng cả hai ít khi nghĩ đến sự chết kể cả người già, vì chết là một cái gì bi quan làm mất đi niềm vui của cuộc sống. Do đó, người ta tạm quên đi để hưởng trọn cuộc đời đầy bấp bênh này.

Tuy nhiên, cũng có những người khôn ngoan biết lo xa để chuẩn bị cho ngày ra đi vĩnh viễn của mình. Vua Ferdinand II của Pháp, ở trong phòng giấy và nơi ngủ, ngài dạy phải viết câu này: “Annos aeternos in mente habui”: Tôi hằng nhớ những năm vô tận.

2.Giờ chết đến bất ngờ

Chúa Giêsu kết thúc dụ ngôn bằng lời khuyên: “Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào giờ nào” (Mt 25,13). Lời khuyên dụ tỉnh thức ở đây giống như câu đầu của dụ ngôn chủ nhà (Mt 24,42) vì không biết ngày nào giờ nào ông chủ về, nên người đầy tớ phải tỉnh thức luôn. Thái độ tỉnh thức và sẵn sàng này giữ con người ở tình trạng thường xuyên sống trong ơn nghĩa Chúa và gia tăng việc lành phúc đức mỗi ngày một hơn.

Truyện: Núi lửa Vésuve

Cách đây hơn 1900 năm, núi lửa Vésuve đã phun lên ở Italia. Khi núi lửa ngưng phun lửa, thành phố Pompei đã bị chôn dưới lớp phún thạch tới 18 bộ (gần 6 mét). Thành phố vẫn giữ nguyên dạng như thế mãi đến thời gian gần đây, khi các nhà khảo cổ khai quật nó lên.

Mọi người cũng phải ngạc nhiên về những điều khám phá được… Phún thạch đã làm đông cứng mọi người ngay trong tư thế họ đang có khi cơn đại họa đổ xuống. Các thân xác người ta đều bị hư hoại. Trong khi hư hoại, chúng để lại những lỗ trống trong lớp tro cứng. Bằng cách đổ dung dịch thạch cao vào những lỗ trống, các nhà khảo cổ học có thể khôi phục lại hình các nạn nhân.

Một số nạn nhân này đã gây xúc động. Chẳng hạn có một thiếu phụ đang cuốn chặt đứa con trong tay mình, hoặc một lính gác Rôma đang đứng thẳng người tại trạm gác, trên người trang bị vũ khí đầy đủ. Anh ta vẫn trầm lặng trung tín với phận sự tới lúc cuối cùng… Nhưng cũng có người chết đang lúc nhậu nhẹt, có người đang đánh nhau để tranh giành một số tiền (Cf M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 322-323).

3.Phải chuẩn bị sẵn sàng

Hai bài đọc hôm nay nhắc cho chúng ta phải sẵn sàng đón ngày cuối đời mình. Khi giờ chết đến, chúng ta có sẵn sàng như 5 trinh nữ khôn ngoan kia không hay lại chẳng chuẩn bị gì như 5 trinh nữ khờ dại ?

a) Phải sống khôn ngoan

Người ta thường nói: “Khôn ba năm dại một giờ” (Tục ngữ). Sự khôn ngoan đòi hỏi chúng ta phải kiên trì, phải cố gắng suốt cả đời vì “chỉ có ai bền đỗ đến cùng mới được cứu rỗi”, chỉ thiếu khôn ngoan một chút là trở thành dại, đem đến sự tai hại khôn lường. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa muốn dạy chúng ta đâu là sự khôn ngoan đích thực và phải hành động ra sao để có sự khôn ngoan đó.

Như chúng ta đã biết có nhiều loại khôn ngoan: khôn ngoan chủ quan hay khách quan, khôn ngoan do kinh nghiệm hay do học hỏi, khôn ngoan xưa hay ngày nay. Và mọi sự khôn ngoan không luôn có tầm quan trọng như nhau vì có những thứ khôn ngoan chỉ hữu dụng tạm thời hay tuỳ cơ ứng biến, lại có những thứ khôn ngoan có giá trị bất biến mà ai cũng phải công nhận.

Một trong những thứ khôn ngoan quan trọng đó mà dụ ngôn đề cập tới: “Mọi người sống ở trần gian sẽ qua đi, chỉ cần một việc quan trọng là chiếm hữu cho được Nước trời”. Đây là sự khôn ngoan mà Chúa muốn truyền dạy chúng ta như một chân lý căn bản hướng dẫn một cuộc đời và chi phối tận gốc rễ mọi sinh hoạt của con người mong đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa đã hứa ban.

Truyện: Diogène bán sự khôn ngoan

Triết gia ngoại đạo Diogène dọn một chỗ ở giữa thành Athènes. Ở đó, ông treo một tấm bảng có đề chữ: “Đây có bán sự khôn ngoan”. Một người kia thấy câu đó, liền sai đầy tớ đem tiền đến mua. Diogène bỏ tiền vào túi rồi trả lời:

– Hãy về thưa lại với chủ câu này: “Trong mọi sự phải nghĩ đến cùng đích”.

Người chủ cho đó là một câu đầy giá trị. Ông truyền khắc câu đó bằng chữ vàng và treo trước cửa nhà. Như vậy, ông muốn nhắc nhở kẻ khác năng nhớ đến mục đích của con người sống trên mặt đất này, vì đó là điều quan trọng nhất.

b) Sẵn sàng đón Chúa đến

Việc chờ đợi sẵn sàng có tính cách bản thân liên quan đến mỗi người, không ai làm thay ai được. Sự tỉnh thức và sẵn sàng này phải có luôn, kéo dài mãi, chứ không phải trong một thời gian nào thôi vì Chúa đến bất ưng, Chúa có thể gọi ta ra khỏi đời này bất cứ lúc nào. Cho nên, như 10 trinh nữ, sửa soạn có đèn mà thôi, đèn cháy mà thôi cũng chưa đủ, còn phải dự trữ dầu. Cũng vậy, có đạo, có đức tin mà thôi chưa đủ mà còn phải có sự nghiệp đức tin và nhân đức nữa. Đúng như người ta nói: “Đèn không dầu như cầu không nhịp”.

Đèn không dầu thì đốt không cháy, cũng như cầu không nhịp thì người đi bộ cũng như người đi xe có ngày sẽ bị té xuống sông. Con người khôn ngoan phải biết lo cho tương lai. Khôn ngoan của con người phải là cùng đích của mình, mà muốn tới cái cùng đích ấy thì phải chuẩn bị cách tỉnh thức và sẵn sàng vì “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”.

c) Phận ai người ấy lo

Có một điều làm cho chúng ta suy nghĩ: việc 5 cô trinh nữ khôn ngoan từ chối không cho 5 cô trinh nữ khờ dại vay mượn dầu. Chi tiết này xem ra có vẻ nói về cái tính ích kỷ của 5 cô khôn ngoan, nhưng dầu sao nó cũng có ý nghĩa. Có thể đây là một chi tiết nói lên sự cô độc của con người khi chết. Mỗi người phải tự lo lấy cho mình, không ai giúp ai được. Con người sẽ một mình ra trước mặt Thiên Chúa, cùng với tất cả những gì mình có.

Đây là tư tưởng làm cho triết gia và nhà thần học Đan Mạch Kierkegaard (1813-1855) ông tổ của trào lưu tư tưởng triết học hiện sinh, suy nghĩ và gợi hứng cho ông viết cuốn “Le concept d’angoisse” và suy tư một hệ thống triết học bi quan về thân phận con người.

Tuy nhiên đối với những người công giáo, chúng ta nhận định chân lý trên mà không sợ hãi lo lắng, bi quan. Trái lại, từ chân lý đó ta sẽ cố gắng để sống, định liệu lấy chính đời sống đời đời của ta bằng đời sống hiện tại, vì biết rằng một mình ta sẽ ra trước toà Chúa.

Lúc đó, mỗi người sẽ lãnh nhận lấy hậu quả của mọi hành vi mình trong cuộc sống, hoặc được thưởng hoặc bị phạt. Việc thưởng phạt này do chính lương tâm của ta tự quyết định, vì gieo thứ nào thì gặt thứ ấy như thánh Phaolô đã dạy: “Ai gieo giống nào thì gặt giống ấy” (Gl 6,7):

Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu.
Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu (Ngạn ngữ).

Qua tư tưởng các bài đọc của Thánh lễ hôm nay, chúng ta có thể rút ra được bài học thực hành: một ngày nào đó cuộc đời chúng ta sẽ chấm dứt. Giờ chết, giờ gặp Chúa của mỗi người chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng có một điều không chắc là không biết nó sẽ xảy ra khi nào. Chúa không muốn ta biết giờ chết vì muốn để ta tập luyện tinh thần phó thác: tin vào Chúa quan phòng và tình thương của Chúa.

Đồng thời chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng, phải lo cho linh hồn mình, phải luôn sẵn sàng tối đa bằng cách sống tốt lành, sống trong tình trạng ơn nghĩa với Chúa. Chỉ có những ai biết sống như thế mới bảo đảm được hạnh phúc đời đời như người ta nói: “Sống khôn, chết thiêng”.