DẪN NHẬP

1. Sự trưởng thành tình cảm và tình phụ tử thiêng liêng.

2. Sự Đồng tính luyến ái và thừa tác viên vụ chức thánh

3. Việc biện phân của Giáo hội về tính thích hợp của những ứng viên. 

Tiếp tục giáo huấn của Công đồng Vatican II và, đặc biệt, của Sắc lệnh “Optatam totius” về việc đào tạo linh mục, Bộ Giáo dục Công giáo đã xuất bản nhiều tài liệu nhằm mục đích phát huy một chương trình đào tạo thích hợp và toàn diện cho những linh mục tương lai, qua việc đưa ra những định hướng và quy tắc rõ ràng về nhiều phương diện khác nhau.

 Vào thời điểm này, Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1990 cũng đã suy nghĩ về việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện này, với ý định giúp áp dụng giáo lý của Công Đồng về việc đào tạo linh mục và làm cho giáo lý của Công Đồng được minh bạch và hiệu quả hơn trong thế giới hôm nay. Tiếp theo Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1990, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã ban hành Tông Huấn Hậu THĐGM “Pastores dabo vobis.”.

Dưới ánh sáng của giáo huấn phong phú này, Huấn Thị này không có ý định đề cập đến tất cả các vấn đề liên quan đến lãnh vực tình cảm và giới tính. Những vấn đề này đòi hỏi một sự biện phân kỹ càng trong suốt thời gian đào tạo.

Hơn thế nữa, huấn thị đưa ra những quy tắc liên quan đến một vấn đề đặc biệt, đang trở thành càng lúc càng cấp bách do tình huống hiện tại gây ra. Vấn đề đặc biệt đó là : Có được chấp nhận vào Chủng Viện và lên Chức Thánh những ứng sinh có khuynh hướng sâu nặng về đồng tính luyến ái.

1. Sự trưởng thành tình cảm và tình phụ tử thiêng liêng.

Theo truyền thống kiên định của Giáo Hội, chỉ có người đàn ông đã được rửa tội mới có thể lãnh nhận thành sự Bí Tích Truyền Chức. Qua Bí Tích Truyền Chức, Chúa Thánh Thần làm cho ứng sinh nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô trong một tư cách mới và đặc biệt: thực vậy, linh mục đại diện, một cách bí tích, Chúa Kitô là đầu, là mục tử và là hôn phu của Giáo hội. Vì được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, toàn bộ đời sống của thừa tác viên chức thánh phải được điều khiển bởi việc hiến dâng toàn thân cho Giáo Hội và bởi đức ái mục tử đích thực.

Vì vậy, ứng sinh tới thừa tác vụ chức thánh, phải đạt tới một sự trưởng thành tình cảm. Sự trưởng thành này cho phép anh có được những tương quan thích đáng với cả người nam và người nữ, đồng thời phát triển nơi anh một ý thức đích thực về tình phụ tử thiêng liêng đối với cộng đoàn Giáo Hội sẽ được trao phó cho anh.

2. Sự Đồng tính luyến ái và thừa tác viên vụ chức thánh.

Từ Công đồng Vatican II cho đến nay, nhiều tài liệu của Huấn Quyền, và đặc biệt Giáo lý Chung của Giáo Hội Công giáo, đã xác nhận giáo huấn của Giáo Hội về sự đồng tính luyến ái. Giáo lý Công giáo phân biệt giữa những hành động đồng tính luyến ái và những khuynh hướng đồng tính luyến ái.

Về những hành động đồng tính luyến ái, Giáo Lý Công Giáo dạy rằng Thánh Kinh đã trình bày những hành động này là những tội trọng. Truyền Thống Giáo Hội vẫn luôn xem những hành động này là những hành động vô luân tự bản chất và ngược lại với luật tự nhiên. Vì thế, không có trường hợp nào trong những hành động này được chấp thuận. 

Về những khuynh hướng đồng tính luyến ái đã bám rễ sâu mà người ta thấy nơi một số người nam cũng như nữ, một cách khách quan, những khuynh hướng này được xem là vô trật tự và thường khi là một thử thách đối với những người này. Những người này phải được tiếp đón cách kính trọng và tế nhị, đối với họ cần phải tránh mọi phân biệt đối xử bất công. Những người này được mời gọi thực hiện thánh ý Chúa trong đời sống của họ và kết hiệp những khó khăn mà họ có thể gặp phải với hy tế thập giá Chúa Giêsu.

Trong ánh sáng của giáo huấn này, Bộ Giáo dục Công giáo, đồng thuận với Bộ Phụng tự và kỷ luật bí tích, thấy cần thiết xác định rõ ràng là Giáo hội,  dù vẫn kính trọng sâu xa những người này,  không thể chấp nhận vào chủng viện và vào các chức thánh những người thực hành đồng tính luyến ái, có những khuynh hướng đồng tính luyến ái đã bám rễ và ủng hộ cái được gọi là văn hóa đồng tính nam.

Thực vậy, những người này ở trong một tình trạng cản trở cách trầm trọng những tương quan chính đáng với những người nam nữ khác. Hơn nữa, cùng đừng quên những hậu quả tiêu cực phát xuất từ việc Truyền chức cho những người có những khuynh hướng đồng tính đã ăn rễ sâu. 

Trái lại, trường hợp những khuynh hướng đồng tính chỉ là biểu hiện của một vấn đề tạm thời, chẳng hạn như vấn đề của tuổi thanh niên chưa được hoàn tất, dầu vậy, những khuynh hướng này phải được vượt qua ít là ba năm trước lúc truyền chức phó tế. 

3. Việc biện phân của Giáo hội về tính thích hợp của những ứng viên. 

Hai khía cạnh không thể tách rời trong mọi ơn gọi linh mục: hồng ân tặng không của Thiên Chúa và tdo có trách nhiệm của con người. Ơn gọi là hồng ân của Ân sủng Thiên Chúa, được đón nhận qua trung gian của Giáo hội, trong Giáo hội, và để phục vụ Giáo hội. Khi đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, con người tự trao hiến chính mình cách tự do cho Thiên Chúa trong tình yêu. Chỉ có ước muốn làm linh mục vẫn là chưa đủ, và không có quyền để đón nhận việc Truyền chức Thánh. Chính Giáo hội có trách nhiệm xác định những đòi hỏi cần thiết bó buộc để đón nhận những bí tích Chúa Kitô thiết lập, biện phân tính thích hợp của những người ao ước vào Chủng viện, đồng hành với những người này và mời họ tới chức thánh nếu xét thấy họ có những đức tính đòi buộc.

Việc đào tạo người linh mục tương lai phải nối kết bốn chiều kích sau đây của việc đào tạo, thiết yếu bổ túc cho nhau: nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ. Trong bối cảnh này, phải ghi nhận tầm quan trọng đặc biệt của việc huấn luyện nhân bản, nền tảng thiết yếu của mọi việc huấn luyện. Để đón nhận một ứng sinh vào việc Truyền chức Phó tế, Giáo hội phải xác minh, ngoài những đức tính khác, sự kiện người ứng sinh chức linh mục đã đạt tới trưởng thành tình cảm

Việc kêu gọi vào Chức Thánh thì thuộc trách nhiệm cá nhân của giám mục, hoặc của vị Bề trên thượng cấp. Giám mục hoặc vị Bề trên thượng cấp, trước khi đón nhận ứng sinh vào việc Truyền chức, cứu xét ý kiến của những người đã được trao phó trách nhiệm đào tạo, phải đạt đến một phán đoán chắc chắn trong tinh thần mình về những phẩm chất của người ứng sinh. Trong trường hợp có nghi ngờ trầm trọng về điểm này, các ngài không được nhận họ vào việc Truyền chức.

Việc biện phân về ơn gọi và về sự trưởng thành của ứng sinh cũng là trách nhiệm nặng nề của vị Giám đốc và những nhà đào tạo khác của Chủng viện. Trước mỗi lần Truyền chức, vị giám đốc phải bày tỏ phán đoán của mình về những đức tính của ứng sinh mà Giáo hội đòi buộc.

Trong việc biện phân tính thích hợp vào việc Truyền chức, vai trò quan trọng được dành cho vị linh hướng. Luôn luôn giữ bí mật, vị linh hướng đại diện Giáo hội ở toà trong. Trong những trao đổi với ứng sinh, vị linh hướng phải đặc biệt nhắc lại những đòi hỏi của Giáo hội trong những gì liên hệ tới đức khiết tịnh linh mục và sự trưởng thành tình cảm chuyên biệt của người linh mục, và cũng giúp đỡ người ứng sinh biện phân xem mình có những đức tính cần thiết không. Vị linh hướng bị bó buộc phải đánh giá những phẩm chất của con người ứng sinh và phải bảo đảm rằng ứng sinh không có rối loạn giới tính không thích hợp với chức linh mục. Nếu một ứng sinh thực hành đồng tính luyến ái hoặc có những biểu hiện của khuynh hướng đồng tính luyến ái đã ăn rễ sâu xa, vị linh hướng, cũng như cha giải tội của ứng sinh, có bổn phận  ngăn cản anh, theo lương tâm, không tiến tới việc Truyền chức.

Sau hết cần biết là chính người ứng sinh là người chịu trách nhiệm trước tiên trong việc huấn luyện chính mình. Anh phải tin tưởng đón nhận sự biện phân của Giáo hội, của giám mục là người gọi anh vào các chức Thánh, của vị giám đốc chủng viện, của vị linh hướng và những nhà đào tạo khác của chủng viện mà giám mục hay vị bề trên thượng cấp đã trao phó sứ mạng đào tạo những linh mục tương lai. Thật là không ngay thẳng trầm trọng khi một ứng sinh nào che dấu việc đồng tính luyến ái của mình để đạt tới các chức thánh cho bằng được. Một thái độ không trung thực như thế là không phù hợp với tinh thần chân lý, tinh thần ngay thẳng và sẵn sàng: là những  đặc trưng của người tự xét thấy mình được kêu gọi đến phục vụ Chúa Kitô và Giáo hội trong thừa tác vụ linh mục. 

KẾT LUẬN

Bộ Giáo Dục Công Giáo xác nhận rằng, đối với các Giám Mục, các Bề Trên thượng cấp và tất cả những người có trách nhiệm liên quan, thật là cần thiết phải thực hiện một sự biện phân kỹ lưỡng về việc các ứng sinh có thích hợp để tiến lên chức thánh hay không, kể từ lúc được chấp nhận vào Chủng Viện cho tới lúc chịu chức. Sự biện phân này phải được thực hiên trong ánh sáng của một quan niệm về chức linh mục thừa tác phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội.

Các Giám Mục, các Hội Đồng Giám Mục và những Bề Trên thượng cấp sẽ phải kiểm soát để những luật lệ của Huấn Thị này được tuân giữ một cách trung thành vì lợi ích của chính các ứng sinh và để bảo đảm rằng Giáo Hội luôn luôn có những linh mục xứng đáng, những mục tử đích thực theo lòng mong muốn của Chúa Kitô.

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã phê chuẩn Huấn Thị này ngày 31/08/2005 và ra lệnh ban hành.

Roma ngày 04-11-2005, Kính nhớ thánh Charles Bôrrômêô, Bổn Mạng các Chủng Viện

Đức Hồng Y ZENON GROCHOLEWSKI

Bộ Trưởng

Đức Cha J. MICHAEL MILLER, C.S.B.

Tổng Giám Mục Hiệu Tòa Vertara

Thư Ký

1 Công đồng Vatican 2, Sắc lệnh đào tạo Linh mục Optatam totius (28/10/1965) AAS 58 (1966), 713-727.

2 Thánh bộ giáo dục công giáo, Ratio fundamentalis Institutionis sacerdotalis (6/1/1970), ấn bản mới (19/3/1985); việc giảng dạy triết học trong các chủng viện (20/1/1972); những định hướng về đào tạo đời độc thân linh mục (11/4/1974); việc giảng dạy giáo luật cho các ứng sinh linh mục (2/4/1975); việc đào tạo thần học các linh mục tương lai (22/2/1976); thư luân lưu về đào tạo ơn gọi những người trưởng thành (14/7/1976); Huấn thị về đàt tạo phụng vụ trong các chủng viện (3/6/1979); thư luân lưu về những khía cạnh khẩn cấp hơn của việc chuẩn bị thiêng liêng trong các chủng viện (6/1/1980); những định hướng giáo dục tình yêu con người – những nét về đào tạo tính dục (1/11/1983);  Mục vụ về tính linh động trong đào tạo các linh mục tương lai (25/1/1986); những định hướng đào tạo các linh mục tương lai về những phương tiện truyền thông xã hội (19/3/1986); thư luân lưu về việc nghiên cứu các giáo hội Đông phương (6/1/1987); Đức Trinh nữ Maria trong việc đào tạo trí thức và thiêng liêng (25/3/1988); những định hướng về giảng dạy giáo thuyết xã hội trong đào tạo linh mục (30/12/1988); những định hướng Huan thị về việc học Giáo phụ trong việc đào tạo linh mục (1011/1989); Những hướng dẫn để chuẩn bị những nhà đào tạo các chủng viện (4/11/1993); những hướng dẫn cho việc đào tạo các chủng sinh về những vấn đề liên hệ đến hôn nhân và gia đình (19/3/1995); Huấn thị cho các Hội đồng giám mục về việc thu nhận vào các chủng viện các ứng sinh đến từ những chủng viện và những dòng tu (9/10/1986 và 8/3/1996); giai đoạn dự bị (1/5/1998)

3 Gioan Phaolo II, Tông huấn hậu Thượng hội đồng Pastores dabo vobis, (25/3/1992): AAS 84 (1992), 657-864.

4 x.CL.C, can. 1024 và c.cE.O, can. 754; Gioan Phaolo II, tông huấn Ordinatio sacerdotalis về việc Truyền chức linh mục chỉ dành cho nam giới (22/5/1994); AAS 86 (1994), 545-548.

5 x.Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống linh mục Prestyrorum ordinis (7/12/1965), s.2: AAS 58 (1966), 991-993; Pastores dabo vobis, s.16: AAS 84 (1992), 681-682. Về việc nên đồng hình dạng với Chúa Kitô hon phu của Giáo hội (…) linh mục được mời gọi, trong đời sống thiêng liêng, sống tình yêu của Chúa Kitô hôn phu đối với Giáo hoi là hôn thê. Đời sống của linh mục phải được soi sáng và hướng dẫn đặc tính hôn phu đòi hỏi người linh mục phải là chứng nhân cho tình yêu hôn phu của Chúa Kitô (s.22) AAS 84 (1992), 691.

6 Prestyrorum ordinis s.14 AAS 58 (1966), 1013-1014; Pastores dabo vobis, s.23 AAS 84 (1992), 691-694.

7 Thánh bộ Giáo sỉ, Hướng dẫn Dives Ecclesiae đối với thừa tác vụ và đời sống linh mục (31/3/1994) s.58.

8 Sách Giáo lý Giáo hội công giáo (1997) s. 2357-2358. cx. Những tài liệu khác của Thánh bộ giáo thuyết đức tin. Tuyên ngôn Personna humana về vài vấn đề liên quan tới tính dục (29/ 12/1975); Thư Homosexualitatis problema gửi các giám mục Giáo hội công giáo về mục vụ đối với những người đồng tính luyến ái (1/10/1986); vài nhận định về câu trả lời cho những dề nghị luật về việc không phân biệt đối xử đối với những người đồng tính luyến ái (23/7/1972); vài nhận định về những dự án nhìn nhận pháp lý về những sự phối hợp giữa những người đồng tính luyến ái (3/6/2003). Về tính hướng chiều đồng tính luyến ái, thư Homosexualitatis problema khẳng định: “mặc du  tự nó, hướng chiều đồng tính không phải là tội, tuy nhiên hướng chiều đồng tính riêng biệt của người đồng tính tạo nên khuynh hướng, ít nhiều mạnh mẽ, hướng về một thái độ sống tự bản chất là xấu theo quan điểm luân lý… Chính vì lý do này mà chính sự hướng chiều phải được xét như là xáo trộn cách khách quan (s.3).

9 Sách Giáo lý Giáo hội công giáo (1997), s. 2358; cx. C.I.C, can. 208 và C.C.E.O, can 11.

10 Thánh bộ Giáo dục Công giáo, Memorandum gửi các giám mục xin ý kiến về những vấn đề liên hệ tới tính dục đồng tính và những ứng sinh được nhận vào chủng viện (9/7/1985); Thánh bộ Phượng tự và kỷ luật bí tích, Thư (16/5/2002); notitiae 38 (2002), 586.

11 Pastores dabo vobis, cs. 35-36 AAS 84 (1992), 714-718.

12 C.I.C, can. 241, 1: “Giám mục giáo phận sẽ chỉ  nhận vào chủng viện những người mà do bởi những đặc tính nhân bản và luân lý, thiêng liêng và trí thức, bởi sức khoẻ thể lý và tâm lý, cũng như bởi ý chí ngay thẳng, được xét là có thể tự hiến mãi mãi cho những thừa tác vụ thánh”. và C.C.E.O, can. 342, 1. 

13 Optatam totius s.6 AAS 58 (1966), 717, cx. C.I.C, can 1029: “Chỉ cho tiến chức những người có đức tin tinh tuyền, chí hướng ngay thẳng, kiến thức đầy đủ, danh thơm tiếng tốt, tác phong đoan chính, nhân đức đã được thử luyện và những đức tính khác về thể lý và tâm lý tương ứng với chức thánh sẽ lãnh nhận”. và x. C.C.E.O can. 758. Không gọi tiến chức những người không có những khả năng đòi buộc không phải là đối xử bất công: x. Thánh bộ Giáo thuyết đức tin, vài nhận xét về câu trả lời cho những dề nghị luật về việc không phân biệt đối xử đối với những người đồng tính luyến ái.

14 Pastores dabo vobis, s.43-59, AAS 84 (1992), 731-762.

15 Pastores dabo vobis, số 43: “Linh mục, được mời gọi là “hình ảnh sống động” của Chúa Giêsu Kitô, đầu và mục tử của Giáo hội, phải tìm cách phản ảnh nơi chính mình, trong chừng mực có thể , sự hoàn hảo nhân bản vốn được tỏa chiếu trong Con Thiên Chúa làm người và trong suốt với hiệu quả đặc thù trong những thái độ sống với những người khác” AAS 84 (1992), 732.

16 Pastores dabo vobis, s.44 và 50. AAS 84 (1992) 733-736 và 746-748.

17 Thánh bộ Giám mục , Hướng dẫn về tác vụ Mục tử của các giám mục Apostolorum successores, (22/2/2004), s.88.

18 x.C.I.C, can. 1052, 3: “Nếu giám mục còn có những lý do chắc chắn để hoài nghi về khả năng chịu chức của ứng viên, ngài không được truyền chức”. cx.C.C.E.O, can. 770.

19 C.I.C. can 1051: “ Việc điều tra về những tư cách cần thiết của người được tiến chức phải theo những quy luật sau đây: “Phải có chứng thư của giám đốc chủng viện hay giám đốc cơ sở huấn luyện về những tư cách luật buộc để chịu chức, nghĩa là về giáo thuyết ngay thẳng, lòng đạo đức chân thành, hạnh kiểm tốt, khả năng thi hành thừa tác vụ của ứng viên, chứng thư về tình trạng sức khỏe thể lý và tâm lý sau khi đã đưọc khám nghiệm kỹ lưỡng”. 

20 Pastores dabo vobis, s.50 và 66, AAS 84 (1992), 746-748 và 772-774. cx. Ratio fundamentalis institutionis sacerdolatis, s. 48.

21 x. Pastores dabo vobis, s.69, AAS 84 (1992), 778.