Bộ Giáo Dục Công Giáo
Rome, 29-06-2008

HƯỚNG DẪN VIỆC SỬ DỤNG NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TÂM LÝ TRONG VIỆC THU NHẬN

VÀ ĐÀO TẠO NHỮNG ỨNG SINH CHỨC LINH MỤC

I. Hội Thánh và việc Phân định Ơn gọi (1-2)
II. Sửa soạn các người đào luyện (3-4)
III. Đóng góp của khoa tâm lý học cho việc phân định và
việc đào luyện (5-10)
a. Sự phân định khởi đầu (8)
b. Sự phân định kế tiếp (9-10)
IV. Yêu cầu có những điều tra đặc biệt và sự kính trọng
sự riêng tư của ứng sinh (11-12)
V. Tương quan của những người trách nhiệm đào luyện
với chuyên viên (13-15)
a. Các người trách nhiệm toà ngoài (13)
b. Tính cách chuyên biệt của việc hướng dẫn
thiêng liêng (14)
c. Sự trợ giúp của chuyên viên cho ứng sinh và
cho các người đào luyện (15)

VI. Những người đã bị thải hồi hay những người tự ý rời
bỏ chủng viện hay nhà đào luyện (16)
Kết luận (17)

I. Hội Thánh và việc Phân định Ơn gọi
1. “Mọi ơn gọi Kitô hữu đều đến từ Thiên Chúa, đó là ơn huệ của Thiên Chúa. Tuy nhiên ơn gọi ấy
không bao giờ được ban bên ngoài và tách biệt khỏi Hội thánh, nhưng luôn luôn ở trong Hội thánh và qua
Hội thánh (…) phản ánh rạng ngời và sống động của Mầu nhiệu Ba Ngôi cực thánh 1 .
Hội thánh, “người sinh ra và giáo dục các ơn gọi” 2 , có nhiệm vụ phân định ơn gọi và sự phù hợp
của các ứng sinh vào tác vụ linh mục. Thật vậy, “tiếng gọi bên trong của Thánh Thần cần được Giám mục
nhìn nhận xem có phải là tiếng gọi chân thực không” 3 . Trong việc cổ võ sự phân định này và trong tổng thể
việc đào luyện cho tác vụ thánh, Hội thánh được thúc đẩy bởi hai quan tâm: bảo đảm thiện ích cho sứ mệnh
Hội thánh, và đồng thời thiện ích của các ứng sinh. Thật thế, cũng như mọi ơn gọi Kitô hữu, ơn gọi tới chức
linh mục, do tính chất Kitô học, cũng có một chiều kích thiết yếu Hội thánh: “không chỉ vì xuất phát từ” Hội
thánh và qua trung gian của Hội thánh, không chỉ được nhìn nhận và được hoàn thành trong Hội thánh,
nhưng còn định hình – cách căn để nhằm phụng sự Thiên Chúa – tất yếu để phục vụ Hội thánh. Ơn gọi Kitô
hữu, trong mọi hình thức của nó, là một ân ban nhằm để xây dựng Hội thánh, để tăng triển Nước Thiên Chúa
giữa thế gian” 4 .
Bởi thế, thiện ích của Hội thánh và thiện ích của ứng sinh không đối kháng nhau, nhưng hội tụ lại
với nhau. Những người trách nhiệm về đào luyện có nhiệm vụ phải hài hòa hai thiện ích này, luôn xét chúng
đồng thời hỗ tương năng động với nhau: đây là một khía cạnh thiết yếu của trách nhiệm lớn lao nhằm phục
vụ Hội thánh và phục vụ con người 5 .
2. Tác vụ linh mục, được hiểu và sống như là sự đồng hình với Đức Kitô Lang Quân, Mục Tử Nhân
Lành, đòi hỏi những năng lực cũng như các đức tính luân lý và đối thần, được nâng đỡ bởi sự quân bình
nhân bản và tâm lý, đặc biệt là tình cảm, như thế chủ thể mới có thể ở trong dự thế tương hợp để dâng hiến
bản thân cách thật sự tự do trong mối tương quan với các tín hữu trong nếp sống độc thân 6 .
Bàn về những chiều kích khác nhau của việc đào luyện linh mục – nhân bản, thiêng liêng, tri thức,
mục vụ – Tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores dabo vobis, trước khi dừng lại trên chiều kích thiêng
liêng, “yếu tố quan trọng nhất trong việc giáo dục linh mục” 7 , cho thấy chiều kích nhân bản là nền tảng của
việc đào luyện trọn vẹn. Tông huấn liệt kê ra một chuỗi những đức tính nhân bản và khả năng tương quan,
vốn được đòi hỏi đối với người linh mục sao cho nhân cách của họ là “nhịp cầu chứ không là vật cản những
người khác gặp Chúa Kitô Đấng cứu chuộc con người” 8 . Những đức tính và khả năng ấy đi từ sự quân bình
tổng thể của nhân cách cho tới khả năng mang lấy gánh nặng của trách nhiệm mục vụ, từ sự hiểu biết sâu xa
về tâm hồn con người tới cảm thức về công bằng và sự trung tín 9 .
Một số trong những phẩm chất này đáng phải lưu tâm đặc biệt: cảm thức tích cực và ổn định về căn
tính là người nam của mình và có khả năng tương quan cách trưởng thành với những người khác hay những
nhóm người khác; một cảm thức vững chắc về sự thuộc về, vốn là nền tảng của sự hiệp thông trong tương lai
với linh mục đoàn và cộng tác trách nhiệm với tác vụ của giám mục 10 ; sự tự do để mình phấn khởi vì
những lý tưởng cao cả và sự nhất quán trong việc thực hiện chúng trong hoạt động hằng ngày; sự can đảm
lấy quyết định và trung thành với những quyết định ấy; sự hiểu biết về bản thân, về những năng lực và giới
hạn của mình đang khi hội nhập chúng thành một nhãn quan tích cực về bản thân đứng trước Thiên Chúa;

1 Giovanni Paolo II, Esortazione apostolica post-sinodale Pastores dabo vobis (25 marzo 1992), n. 35b-c: Acta Apostolicae Sedis,
84 (1992), 714.
2 Ibidem, n. 35d: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 715.
3 Ibidem, n. 65d: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 771.
4 Ibidem, n. 35e: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 715.
5 Cfr. ibidem, nn. 66-67: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 772-775
6 Di tali condizioni viene data una descrizione molto ampia in Pastores dabo vobis, nn. 43-44: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992),
731-736; cfr. Codex Iuris Canonici, canoni 1029 e 1041, 1.
7 In quanto essa, “per ogni presbitero (…) costituisce il cuore che unifica e vivifica il suo essere prete e il suo fare il prete”:
Pastores dabo vobis, n. 45c: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 737.
8 Pastores dabo vobis, n. 43: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 731-733.
9 Cfr. ibidem; cfr. anche concilio Ecumenico Vaticano II, Decreto sulla formazione sacerdotale Optatam totius (28 ottobre 1965),
n. 11: Acta Apostolicae Sedis, 58 (1966), 720-721; Decreto sul ministero e la vita dei presbiteri Presbyterorum ordinis (7
dicembre 1965), n. 3: Acta Apostolicae Sedis, 58 (1966), 993-995; Congregazione per l’Educazione Cattolica, Ratio
fundamentalis institutionis sacerdotalis (19 marzo 1985), n. 51.
10 Cfr. Pastores dabo vobis, n. 17: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 682-684.

khả năng để sửa chữa bản thân; sự thưởng thức vẻ đẹp được hiểu như là “rạng ngời chân lý” và nghệ thuật
nhìn nhận chân lý; sự tín nhiệm phát sinh từ sự kính trọng người khác và dẫn tới sự tiếp nhận; khả năng của
ứng sinh hội nhập, theo nhãn quan Kitô giáo, phái tính của mình, cũng như hiểu về nghĩa vụ của bậc độc
thân 11 .
Những dự thế nội tâm đó phải được khuôn đúc trong hành trình đào luyện của người linh mục
tương lai, người, vì thuộc về Thiên Chúa và thuộc về Hội Thánh, được kêu gọi để xây dựng cộng đoàn Hội
Thánh. Người linh mục, vì say mê Đấng Vĩnh Hằng, nên hướng tới sự trân trọng chân chính và tròn đầy đối
với con người và luôn sống ngày càng hơn sự phong phú tình cảm trong sự dâng hiến bản thân cho Thiên
Chúa Độc nhất và Ba ngôi và cho anh em, đặc biệt những ai đau khổ.
Hẳn nhiên điều này liên quan đến những mục tiêu mà chỉ có thể đạt được qua sự tương hợp ngày
đêm của ứng sinh đối với sự hoạt động của ân sủng nơi mình và đạt được nhờ vào một hành trình đào luyện
tiệm tiến, lâu dài và không luôn mang tính cơ cấu 12 .
Ý thức được sự đan dệt kỳ diệu và đòi hỏi của sức năng động nhân bản và thiêng liêng trong ơn gọi,
ứng sinh không thể nào bỏ qua ích lợi của một sự phân định ơn gọi kỹ lưỡng và có trách nhiệm, hướng tới
vạch định những hành trình đào luyện được cá vị hoá và khắc phục dần những thiếu sót nếu có trên bình
diện thiêng liêng và nhân bản. Bổn phận của Hội thánh là cung cấp cho các ứng sinh một sự hội nhập hữu
hiệu các chiều kích nhân bản và luân lý, nhờ vào ánh sáng của chiều kích thiêng liêng, mở ra cho chiều kích
thiêng liêng và hoàn thành trong chiều kích thiêng liêng 13 .

II. Sửa soạn các người đào luyện
3. Mọi người đào luyện đều phải là người hiểu rõ về con người, về các nhịp độ tăng trưởng của họ,
về các tiềm năng và sự yếu đuối của họ cũng như cách thức người ấy sống mối tương quan với Thiên Chúa.
Vì thế, ước mong rằng các giám mục, đang khi tận dụng những kinh nghiệm, những chương trình và những
định chế đáng khen, cũng hãy dự liệu một sự chuẩn bị thích đáng cho những người đào luyện về sư phạm ơn
gọi, theo như những chỉ dẫn mà Bộ Giáo Dục Công Giáo đã ban hành 14 .
Các người đào luyện cần được chuẩn bị thích đáng để thực hiện việc phân định, trong sự kính trọng
đầy đủ đối với giáo thuyết của Hội Thánh về ơn gọi linh mục, sao cho có thể quyết định cách an tâm hữu lý
về việc tiếp nhận vào chủng viện hay vào nhà đào luyện đối với giáo sĩ tu dòng, hoặc về việc thải hồi vì
những lý do không phù hợp, cũng như biết đồng hành với ứng sinh để thủ đắc những đức tính luân lý và đối
thần cần thiết để sống trong sự nhất quán và tự do nội tâm việc dâng hiến trọn vẹn đời sống mình để làm
“người phục vụ Hội thánh hiệp thông” 15 .
4. Tài liệu Những định hướng giáo dục cho việc đào luyện đời sống độc thân linh mục, của Bộ Giáo
Dục Công giáo này, nhìn nhận rằng “những sai lầm trong sự phân định các ơn gọi không phải là ít, và qúa
thường do thiếu năng lực tâm lý, hơn kém mang tính bệnh lý, chỉ tỏ hiện sau khi chịu chức linh mục. Việc
phân định đúng lúc sẽ giúp tránh được biết bao thảm kịch” 16 .

11 Paolo VI, nella Lettera enciclica Sacerdotalis cælibatus (24 giugno 1967), tratta esplicitamente di questa necessaria capacità del
candidato al sacerdozio ai nn. 63-64: Acta Apostolicae Sedis, 59 (1967), 682-683. Egli conclude al n. 64: “Una vita così
totalmente e delicatamente impegnata nell’intimo e all’esterno, come quella del sacerdote celibe, esclude, infatti, soggetti di
insufficiente equilibrio psicofisico e morale, né si deve pretendere che la grazia supplisca in ciò la natura”. Cfr. anche Pastores
dabo vobis, n. 44: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 733-736.
12 Nel percorso evolutivo assume un’importanza speciale la maturità affettiva, un ambito dello sviluppo che richiede, oggi più di
ieri, una particolare attenzione. “Si cresce nella maturità affettiva quando il cuore aderisce a Dio. Cristo ha bisogno di sacerdoti
che siano maturi, virili, capaci di coltivare un’autentica paternità spirituale. Perché ciò accada, serve l’onestà con se stessi,
l’apertura verso il direttore spirituale e la fiducia nella divina misericordia”, Benedetto XVI, “Discorso ai sacerdoti e ai religiosi
nella Cattedrale di Varsavia” (25 maggio 2006), in: “L’Osservatore Romano” (26-27 maggio 2006), p. 7. Cfr. Pontificia Opera per
le Vocazioni Ecclesiastiche, Nuove vocazioni per una nuova Europa, Documento finale del Congresso sulle Vocazioni al
sacerdozio e alla Vita consacrata in Europa (Roma, 5-10 maggio 1997), a cura delle Congregazioni per l’Educazione Cattolica, per
le Chiese Orientali, per gli Istituti di Vita Consacrata e le Società di Vita Apostolica (6 gennaio 1998), n. 37, pp. 111-120.
13 Cfr. Pastores dabo vobis, n. 45a: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 736.
14 Cfr. Congregazione per l’Educazione Cattolica, Direttive sulla preparazione degli educatori nei Seminari (4 novembre 1993),
nn. 36 e 57-59; cfr. soprattutto Optatam totius, n. 5: Acta Apostolicae Sedis, 58 (1966), 716-717.
15 Pastores dabo vobis, n. 16e: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 682.

Điều này đòi hòi mỗi người đào luyện có sự nhậy cảm và sự sửa soạn về tâm lý học cân xứng 17 để
có thể, trong mức có thể, nhận ra những động lực thực của ứng sinh, phân định được những cản trở trong sự
hội nhập giữa trưởng thành nhân bản và trưởng thành Kitô hữu và bệnh lý nếu có. Người đào luyện phải cân
nhắc cách chính xác và khôn ngoan chuyện cuộc đời của ứng sinh. Tuy nhiên, tự nó, việc này không tạo nên
tiêu chuẩn quyết định, không đủ để phán quyết việc tiếp nhận hay thải hồi. Người đào luyện phải lượng định
về con người trong toàn thể và trong sự tiệm tiến tăng trưởng – với những điểm mạnh và điểm yếu của nó –,
về ý thức mà người đó có về các vấn đề của mình, cũng như về khả năng của người ấy kiểm soát cách có
trách nhiệm và tự do cách hành xử của mình.
Vì lý do này, mỗi người đào luyện cần được chuẩn bị, kể cả với những khoá học chuyên, để hiểu
sâu hơn về con người và về những đòi hỏi của việc đào luyện cho tác vụ linh mục. Vì mục đích ấy, những
cuộc trao đổi với các chuyên viên trong các khoa tâm lý học để làm sáng tỏ một số đề tài chuyên biệt, là rất
hữu ích.

III. Đóng góp của khoa tâm lý học cho việc phân định và việc đào luyện
5. Xét là một tặng ân đặc biệt của Thiên Chúa, ơn gọi tới đời sống linh mục và việc phân định của
nó nằm ngoài thẩm quyền của khoa tâm lý học. Tuy nhiên, để có sự lượng định chắc chắn về tình trạng tâm
lý của ứng sinh, về khả năng nhân bản để đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa, và để hỗ trợ thêm nữa trong sự
tăng trưởng nhân bản của người ấy, trong một số trường hợp, việc nại tới các chuyên viên về các khoa học
tâm lý thì hữu ích. Những chuyên viên này có thể cống hiến cho các người đào luyện không chỉ một ý kiến
về triệu chứng và sự chữa trị cho những rối loạn tâm lý, nhưng cũng đóng góp để nâng đỡ sự phát triển
những phẩm chất nhân bản và tương quan được đòi hỏi do việc thực thi tác vụ 18 , bằng cách gợi ra những
hành trình hữu ích phải theo để giúp cho sự đáp trả ơn gọi được tự do hơn.
Việc đào luyện linh mục cũng phải lưu tâm đến nhiều biểu hiện của sự mất quân bình đã ăn rễ bên
trong con người 19 – mà một biểu hiện đặc biệt nằm trong những đối kháng giữa lý tưởng dâng hiến, điều
mà ứng sinh ý thức khao khát, và đời sống thực tiễn của người ấy – và những khó khăn riêng của một sự
tăng trưởng tiệm tiến về các đức tính nhân bản và tương quan. Sự trợ giúp của cha linh hướng và của cha
giải tội là điều nền tảng và không thể thiếu để có thể khắc phục những khó khăn ấy với ơn của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tự tăng trưởng của các phẩm chất nhân bản và tương quan này có thể bị
ngãng trở bởi những vết thương cá biệt trong qúa khứ vốn chưa được giải quyết.
Thực vậy, ngày nay những người xin vào chủng viện bộc lộ ra, trong cách thức ít nhiều, sự bất lợi
do một thứ tâm thức ghi dấu bởi chủ nghĩa tiêu thụ, bởi một sự bất ổn định trong các tương giao gia đình và
xã hội, bởi chủ thuyết tương đối về luân lý, bởi những nhãn quan sai lầm về phái tính, bởi sự vắng bóng
những chọn lựa, bởi sự phủ định có hệ thống các giá trị, nhất là do các phương tiện truyền thông gây nên.
Giữa các ứng sinh, người ta có thể thấy một số mà do một số kinh nghiệm cá biệt – con người, gia
đình, nghề nghiệp, trí thức, tình cảm – bằng nhiều cách khác nhau, đã để lại những vết thương chưa được
chữa lành và gây nên những rối loạn, ảnh hưởng tới chính ứng sinh mà không nhận ra và thường chính
đương sự lại gán cho những nguyên nhân bên ngoài, và do đó, không có khả năng đối diện với những rối
loạn đó cách tương xứng 20 .

16 Congregazione per l’Educazione Cattolica, Orientamenti educativi per la formazione al celibato sacerdotale (11 aprile 1974), n.
38.
17 Cfr. Pastores dabo vobis, n. 66c: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 773; Direttive sulla preparazione degli educatori nei
Seminari, n. 57-59.
18 Cfr. Optatam totius, n. 11: Acta Apostolicae Sedis, 58 (1966), 720-721.
19 Cfr. concilio Ecumenico Vaticano II, Costituzione pastorale sulla Chiesa nel mondo contemporaneo Gaudium et spes (7
dicembre 1965), n. 10: Acta Apostolicae Sedis, 58 (1966), 1032-1033.
20 Per meglio comprendere queste affermazioni, è opportuno fare riferimento alle seguenti affermazioni di Giovanni Paolo II:
“L’uomo, dunque, porta in sé il germe della vita eterna e la vocazione a far propri i valori trascendentali; egli, però, resta
interiormente vulnerabile e drammaticamente esposto al rischio di fallire la propria vocazione, a causa di resistenze e difficoltà
che egli incontra nel suo cammino esistenziale sia a livello conscio, ove è chiamata in causa la responsabilità morale, sia a livello
subconscio, e ciò sia nella sua vita psichica ordinaria, che in quella segnata da lievi o moderate psicopatologie, che non

Hiển nhiên tất cả những điều đó ảnh hưởng trên khả năng có thể tiến bộ trong hành trình đào luyện
tới chức linh mục. Si casus ferat 21 – nghĩa là trong những trường hợp ngoại lệ cho thấy những khó khăn cá
biệt – việc nại tới những chuyên viên trong các khoa tâm lý học, cả trước khi nhận vào chủng viện lẫn trong
tiến trình đào luyện, có thể giúp cho ứng sinh trong việc vượt qua những vết thương ấy, để hướng tới một sự
nội tâm hóa ngày càng vững vàng và sâu xa hơn lối sống của Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành, là Đầu và Lang
Quân của Hội thánh 22 .
Để có được sự lượng định chính xác về nhân cách của ứng sinh, chuyên viên có thể nại tới sự phỏng
vấn, làm test, dĩ nhiên luôn phải có sự đồng ý trước, rõ ràng, hiểu biết và tự do của ứng sinh 23 .
Với sự tế nhị đặc biệt, phải tránh sử dụng kỹ thuật chuyên tâm lý và tâm lý bệnh học từ phía các
người đào luyện.
6. Việc giám đốc và các người đào luyện nhờ đến sự cộng tác của những chuyên viên trong các
khoa tâm lý có thể ích lợi, miễn là những người ấy không thuộc về equipe đào luyện. Các vị này phải có
năng lực chuyên trong lãnh vực ơn gọi và, cùng với tính cách nghề nghiệp, phải có sự khôn ngoan do Thánh
Thần.
Trong việc chọn lựa các chuyên viên để tham vấn về tâm lý, để bảo đảm tốt hơn việc hôi nhập với
việc đào luyện luân lý và thiêng liêng, tránh gây ra những rối loạn có hại hay đối kháng, phải lưu ý sao để,
ngoài việc phân biệt sự trưởng thành vững chắc về nhân bản và thiêng liêng, còn phải đến từ một nền nhân
học rõ ràng đồng cảm với quan niệm Kitô giáo về ngôi vị nhân linh, về phái tính, về ơn gọi linh mục và độc
thân, như thế nhằm để những can thiệp của họ phải chú ý đến mầu nhiệm con người trong sự đối thoại cá
nhân với Chúa, theo như cái nhìn của Hội thánh.
Nơi đâu không có sẵn các chuyên viên, hãy liệu sao để có được 24 . Sự hỗ trợ của các khoa tâm lý
phải hội nhập vào trong khung cảnh của việc đào luyện toàn diện của ứng sinh, như thế nó không cản trở,
nhưng là để bảo đảm cách riêng giá trị không thể thiếu được của việc đồng hành thiêng liêng, vốn có nhiệm
vụ giữ cho ứng sinh luôn hướng tới chân lý về tác vụ chức thánh, theo cái nhìn của Hội thánh. Bầu khí đức
tin, kinh nguyện, suy niệm Lời Chúa, việc học hỏi thần học và đời sống cộng đoàn – nền tảng để lời đáp trả
quảng đại đối với ơn gọi lãnh nhận từ Thiên Chúa được trưởng thành – sẽ cho phép ứng sinh có được hiểu
biết chính xác về ý nghĩa và việc sử dụng những hiểu biết tâm lý vào trong hành trình ơn gọi của mình.
7. Việc dùng tới các chuyên viên trong các khoa tâm lý tại các Nước phải được chi phối theo như
Rationes institutionis sacerdotalis liên hệ và trong các chủng viện bởi các vị thường quyền hay bề trên cao
cấp thẩm quyền, với sự trung thành và nhất quán với các nguyên tắc và hướng dẫn của tài liệu này.
a. Sự phân định khởi đầu
8. Ngay từ lúc ứng sinh xin được tiếp nhận vào chủng viện người đào luyện cần phải biết chính xác
về nhân cách người đó, các năng lực, các khuynh hướng, khả năng, tiềm năng, và những vết thương nếu có,
lượng định bản chất và mức độ của chúng.
Đừng quên khuynh hướng có thể có nơi một số ứng sinh thường giảm nhẹ hay phủ nhận những yếu
đuối riêng của mình: họ không nói cho các người đào luyện về một số những khó khăn nặng nề của họ, sợ
rằng không được hiểu và không được chấp nhận. Như thế họ vun đắp nên những kỳ vọng ít có thực về tương
lai của họ. Trái lại, có những ứng sinh có khuynh hướng thổi phồng những khó khăn, coi chúng như ngăn trở
không thể vượt qua cho hành trình ơn gọi.

influiscono sostanzialmente sulla libertà della persona di tendere agli ideali trascendenti, responsabilmente scelti” (Allocuzione
alla Rota Romana (25 gennaio 1988): Acta Apostolicae Sedis, 80 (1988), 1181).
21 Cfr. Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis, n. 39; Congregazione per i vescovi, Direttorio per il ministero pastorale dei
vescovi Apostolorum Successores (22 febbraio 2004), n. 88.
22 Cfr. Pastores dabo vobis, n. 29d: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 704.
23 Cfr. Congregazione per i Religiosi e gli Istituti Secolari, Istruzione sull’aggiornamento della formazione alla vita religiosa (6
gennaio 1969), n. 11 iii: Acta Apostolicae Sedis, 61 (1969), 113.
24 Cfr. Giovanni Paolo II: “Sarà opportuno curare la preparazione di esperti psicologi i quali, al buon livello scientifico, uniscano
una comprensione profonda della concezione cristiana circa la vita e la vocazione al sacerdozio, così da essere in grado di fornire
supporti efficaci alla necessaria integrazione tra la dimensione umana e quella soprannaturale”. (”Discorso ai partecipanti alla
Sessione Plenaria della Congregazione per l’Educazione Cattolica” 4 febbraio 2002, n. 2: Acta Apostolicae Sedis, 94, 2002, 465).

Sự phân định đúng về những vấn đề có thể cản trở hành trình ơn gọi – chẳng hạn như sự lệ thuộc
tình cảm quá độ, sự gây hấn qúa mức, sự không đủ khả năng trung thành với những nhiệm vụ đảm nhận và
thiết lập những tương quan thanh thản, cởi mở, tín nhiệm và cộng tác huynh đệ với quyền bính, mang một
căn tính phái tính rối loạn và chưa định hình – không thể không giúp ích nhiều cho chính ứng sinh, cho các
nơi chăm sóc ơn gọi và cho Hội thánh.
Trong giai đoạn khởi đầu, sự hỗ trợ của các chuyên viên trong các khoa tâm lý có thể cần thiết trước
hết thuộc lãnh vực bệnh lý, nếu nghi ngờ rằng có những rối loạn tâm lý. Nếu thấy cần thiết chữa trị, thì phải
làm điều này trước khi nhận vào chủng viện hay vào nhà đào luyện.
Sự hỗ trợ của các chuyên viên cũng có thể hữu ích cho các người đào luyện để vạch ra hành trình
đào luyện hợp cho cá nhân theo như nhu cầu riêng của ứng sinh.
Trong việc lượng định về khả năng sống, với niềm vui sống trung thành, đặc ân đời độc thân, như là
sự dâng hiến trọn vẹn cuộc sống mình theo hình ảnh Đức Kitô Đầu và Mục tử của Hội thánh, phải lưu tâm
rằng không đủ nếu chỉ xét đến khả năng kiêng cữ việc hoạt động của cơ năng sinh sản, nhưng cũng cần phải
xét tới sự định hướng phái tính, theo như những chỉ dẫn của Bộ Giáo Dục Công giáo 25 . Thật vậy, đức
Khiết tịnh vì Nước Trời còn hơn là chỉ đơn giản không có những liên hệ tính dục.
Trong ánh sáng của những mục đích đề ra ở trên, trong một số trường hợp, sự tham vấn tâm lý có
thể là điều hữu ích.
b. Sự phân định kế tiếp
9. Trong thời kỳ đào luyện, việc nhờ tới các chuyên viên trong các khoa tâm lý, ngoài việc đáp ứng
cho những đòi hỏi phát sinh do những khủng hoảng có thể xảy ra, cũng có thể ích lợi để giúp cho ứng sinh
trong hành trình để có được những đức tính nhân bản và luân lý; có thể cung ứng cho ứng sinh một sự hiểu
biết sâu xa hơn về chính nhân cách của mình và góp phần giúp khắc phục, hay giúp cho những kháng cự tâm
lý trứơc những đòi hỏi đào luyện được trở nên bớt mạnh hơn.
Một sự làm chủ bản thân, không chỉ những yếu đuối của mình, mà còn cả những sức lực nhân bản
và thiêng liêng của mình 26 , giúp cho có thể dâng hiến bản thân cho Thiên Chúa với sự ý thức và tự do,
trong sự trách nhiệm đối với chính mình và đối với Hội thánh.
Tuy nhiên, đừng coi nhẹ, sự kiện rằng sự trưởng thành Kitô hữu và ơn gọi có thể đạt tới, cũng nhờ
vào những hiểu biết tâm lý, dẫu rằng được soi dẫn bởi các dữ kiện của khoa nhân học Kitô giáo, và bởi đó
của ân sủng, thì cũng vẫn không bao giờ miễn khỏi những khó khăn và căng thẳng, đòi hỏi có kỷ luật nội
tâm, tinh thần hy sinh, chấp nhận vất và và thập giá 27 , và tín thác vào sự trợ giúp không thể thiếu của ân
sủng 28 .
10. Hành trình đào luyện phải bị ngưng lại trong trường hợp ứng sinh, dù có cố gắng, dù có sự hỗ
trợ của tâm lý gia và tâm lý bệnh gia, vẫn tiếp tục biểu lộ sự không có năng lực đối diện một cách thực tế, cả
về sự tăng trưởng nhân bản, những sự thiếu trưởng thành nghiêm trọng (sự lệ thuộc tình cảm mạnh, sự thiếu
tự do trong các tương quan, sự nghiêm khắc quá độ về tính tình, sự thiếu trung tín, căn tính phái tính không
rõ ràng, khuynh hướng đồng tính đã ăn rễ mạnh,…).
 Cũng phải lượng định tương tự khi thấy sự khó khăn hiển nhiên để sống sự khiết tịnh trong đời độc
thân, được sống như một nghĩa vụ nặng vốn đòi có sự quân bình về tình cảm và tương quan.

IV. Yêu cầu có những điều tra đặc biệt và sự kính trọng sự riêng tư của ứng sinh

25 Cfr. Congregazione per l’Educazione Cattolica, Istruzione circa i criteri di discernimento vocazionale riguardo alle persone con
tendenze omosessuali in vista della loro ammissione al seminario e agli Ordini Sacri (4 novembre 2005): Acta Apostolicae Sedis,
97 (2005), 1007-1013.
26 Cfr. Orientamenti educativi per la formazione al celibato sacerdotale, n. 38.
27 Cfr. Pastores dabo vobis, n. 48d: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 744.
28 Cfr. 2 Corinzi, 12, 7-10.

11. Thuộc về Hội thánh việc chọn những người mà Hội thánh coi là phù hợp với tác vụ mục tử và
đồng thời là quyền và bổn phận phải xác minh nơi những người mà Hội thánh nhận vào tác vụ thánh xem có
những phẩm chất được đòi hỏi không 29 .
Giáo luật khoản 1051,10 dự liệu sự duyệt xét về những phẩm chất được đòi hỏi để được lãnh chức
thánh, giữa những điều khác, việc điều tra về tình trạng sức khoẻ thể lý và tâm lý của ứng sinh 30 .
Khoản 1052 ấn định rằng giám mục, để có thể tiến hành phong chức, phải có sự chắc chắn luân lý
về sự thích hợp của ứng sinh, “được chứng minh bằng những luận chứng tích cực” (§1) và, trong trường hợp
nghi ngờ có căn cớ, không được tiến hành phong chức (coi §3).
Từ đây phát sinh quyền của Hội thánh để minh xác, kể cả với việc nại tới việc khám bệnh và tâm lý
học, về sự thích hợp của các linh mục tương lai. Thực vậy, không chỉ việc điều tra về sự thích hợp của ứng
sinh, mả kể cả biết về sự thích hợp ấy, là việc của chính giám mục hay bề trên thẩm quyền. Ứng sinh vào
chức linh mục không thể áp đặt những điều kiện cá nhân của mình, nhưng phải chấp nhận với sự khiêm tốn
và biết ơn những qui tắc và điều kiện của Hội thánh, mà do trách nhiệm của mình, đã đặt ra 31 . Bởi thế,
trong trường hợp nghi ngờ về sự thích hợp, việc nhận vào chủng viện hay nhà đào luyện, chỉ có thể sau khi
đã có sự lượng giá tâm lý về nhân cách.
12. Quyền và bổn phận của định chế đào luyện có những hiểu biết cần thiết để có một phán quyết
chắc chắn cách thận trọng về sự thích hợp của ứng sinh không được vi phạm quyền về danh thơm tiếng tốt
mà con người được hưởng, quyền bảo vệ sự riêng tư, như quy định của khoản 220 của bộ Giáo luật. Điều
này có nghĩa là có thể tiến hành việc tham vấn tâm lý chỉ với sự đồng ý trước, rõ ràng, có hiểu biết và tự do
của ứng sinh.
Các người đào luyện phải bảo đảm bầu khí tín nhiệm, sao cho ứng sinh có thể mở lòng và dự phần
cách xác tín vào việc phân định và đồng hành, bằng sự “cộng tác cá nhân cách tin tưởng và thân tình” 32 .
Ứng sinh được yêu cầu có sự cởi mở chân thành và tín nhiệm với các người đào luyện của mình. Chỉ khi
làm cho bản thân mình được các người đào luyện hiểu, ứng sinh mới có thể được trợ giúp trong hành trình
thiêng liêng mà chính mình đang tìm kiếm khi vào trong chủng viện.
Thật quan trọng và thường mang tính quyết định để thắng vượt những hiểu lầm, đó là bầu khí giáo
dục giữa học viên và người đào luyện – tức là sự cởi mở và trong sáng – cũng như các động lực và cách thức
mà các người đào luyện sẽ trình bày cho ứng sinh khi gợi ý họ làm sự tham vấn tâm lý.
Phải tránh ấn tượng rằng sự gợi ý tham vấn này có nghĩa là mở đầu cho sự thải hồi không thể tránh
được khỏi chủng viện hay nhà đào luyện.
Ứng sinh có thể tự do nhờ tới hoặc một chuyên viên, chọn trong số những chuyên viên mà các
người đào luyện đề nghị, hay nhờ tới một chuyên viên mà chính họ chọn và được các người đào luyện chấp
nhận.
Tùy theo khả thể, luôn phải bảo đảm cho các ứng sinh một sự chọn lựa tự do giữa các chuyên viên
đáp ứng được các đòi hỏi đã nêu ra 33 .
Khi nào ứng sinh, đứng trước yêu cầu có lý do từ phía các người đào luyện, từ chối thực hiện cuộc
tham vấn tâm lý, các người đào luyện sẽ không áp chế ý muốn người đó bằng bất cứ cách nào và khi phân
định sẽ thận trọng tiến hành dựa vào những gì họ biết, lưu tâm đến khoản Giáo luật 1052§1 đã trích dẫn.

V. Tương quan của những người trách nhiệm đào luyện với chuyên viên

29 Cfr. Codex Iuris Canonici, canoni 1025, 1051 e 1052; Congregazione per il Culto Divino e la Disciplina dei Sacramenti, Carta
circular Entre las más delicadas a los excelentísimos y reverendísimos señores obispos diocesanos y demás ordinarios
canónicamente facultados para llamar a las sagradas ordenes, sobre los escrutinios acerca de la idoneidad de los candidatos (10
novembre 1997): Notitiae 33 (1997), pp. 495-506.
30 Cfr. Codex Iuris Canonici, canoni 1029, 1031 1 e 1041, 1; Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis, n. 39.
31 Cfr. Pastores dabo vobis, n. 35g: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 715.
32 Ibidem, n. 69b: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 778.
33 Cfr. n. 6 di questo documento.

a. Các người trách nhiệm toà ngoài
13. Trong tinh thần tín nhiệm hỗ tương và cộng tác với việc đào luyện của mình, ứng sinh có thể
được mời tự do đưa ra sự đồng ý của mình bằng văn bản để cho chuyên viên trong các khoa tâm lý, vẫn giữ
bí mật nghề nghiệp của mình, có thể thông đạt những kết qủa việc tham vấn cho các người đào luyện mà
ứng sinh đã chỉ. Những người này sử dụng các thông tin, như đã được thu thập, để nghiên cứu một toàn cảnh
về nhân cách của ứng sinh và rút ra những chỉ dẫn phù hợp nhắm vào hành trình đào luyện sau đó hay để
tiếp nhận chịu chức.
Bởi đó để bảo vệ sự riêng tư và tiếng tốt của ứng sinh trong hiện tại cũng như tương lai, phải quan
tâm đặc biệt để sự trình bày của chuyên viên chỉ dành độc nhất cho người trách nhiệm đào luyện mà thôi,
với sự cấm rõ ràng và buộc không được sử dụng ngoài mục đích phân định ơn gọi và đào luyện ứng sinh.
b. Tính cách chuyên biệt của việc hướng dẫn thiêng liêng
14. Cha linh hướng có một nhiệm vụ không nhỏ trong việc phân định ơn gọi, kể cả trong lãnh vực
lương tâm.
Đang khi lưu tâm rằng việc hướng dẫn thiêng liêng không thể được thay thế hay đổi lại bằng những
hình thức phân tích hay hỗ trợ tâm lý và rằng đời sống thiêng liêng tự nó giúp cho sự tăng trưởng của các
đức tính nhân bản, nếu không có những cản trở (blocchi) mang tính tâm lý 34 , cha linh hướng có thể thấy
nhu cầu gợi ý tham vấn tâm lý, để làm sáng tỏ những nghi vấn không thể giải quyết được, nhưng không bao
giờ áp đặt, để từ đó có thể tiến hành với sự chắc chắn hơn trong việc phân định và đồng hành thiêng liêng 35

Trong trường hợp được yêu cầu tham vấn tâm lý từ phía cha linh hướng, ước mong rằng ứng sinh,
ngoài việc thông tri cho chính cha linh hướng các kết qủa của việc tham vấn, cũng thông đạt cho người đào
luyện ở toà ngoài, nhất là khi chính cha linh hướng mời người ấy tới vị này.
Khi cha linh hướng cho rằng tốt hơn chính mình có các thông tin trực tiếp từ người tham vấn, thì
hãy tiến hành theo điều đã vạch ra ở số 13 dành cho các người đào luyện ở toà ngoài.
Từ các kết qủa của việc tham vấn tâm lý, cha linh hướng sẽ rút ra những chỉ dẫn thích đáng cho việc
phân định trong thẩm quyền của mình và đưa ra những lời khuyên cho ứng sinh, kể cả việc nên tiếp tục hay
không trong hành trình đào luyện.
c. Sự trợ giúp của chuyên viên cho ứng sinh và cho các người đào luyện
15. Chuyên viên – trong mức độ được yêu cầu – sẽ trợ giúp ứng sinh đạt tới một hiểu biết về mình,
về những tiềm năng và sự thương tích của mình. Họ sẽ giúp ứng sinh cả trong việc đối diện với những lý
tưởng ơn gọi với nhân cách riêng của mình, từ đó kích động cho một sự gắn bó cá nhân, tự do và ý thức về
việc đào luyện chính mình. Nhiệm vụ của chuyên viên là cung ứng cho ứng sinh những chỉ dẫn thích đáng
về những khó khăn mà người ấy đang cảm nghiệm và những hệ lụy của chúng đối với cuộc sống và của tác
vụ linh mục tương lai.
Khi đã thực hiện cuộc điều tra, lưu tâm đến những chỉ dẫn mà các người đào luyện cho biết, chỉ với
sự đồng ý bằng văn bản của ứng sinh, chuyên viên sẽ cho các người đào luyện đóng góp của họ để giúp hiểu
loại nhân cách và những vấn đề mà ứng sinh đang đối diện hay phải đối diện.
Chuyên viên cũng sẽ chỉ ra, theo như sự lương định và trong thẩm quyền của mình, những khả thể
lường trước giúp cho sự tăng trưởng nhân cách của ứng sinh. Hơn nữa, nếu cần, chuyên viên còn gợi ý
những hình thức và những cách thức hỗ trợ tâm lý.

34 Cfr. nota n. 20.
35 Cfr. Pastores dabo vobis, n. 40c: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 725.

VI. Những người đã bị thải hồi hay những người tự ý rời bỏ chủng viện hay nhà đào luyện
16. Là ngược với qui định của Hội thánh khi nhận vào chủng viện hay vào nhà đào luyện những
người đã rời bỏ hay, với lý do mạnh hơn, đã bị thải hồi từ một chủng viện khác hay từ nhà đào luyện khác,
mà trước đó không có những thông tin cần thiết từ giám mục liên hệ hay từ bề trên cao cấp, nhất là liên quan
đến những lý do thải hồi hay xuất 36 .
Bổn phận của những người đào luyện trước là phải cung cấp thông tin chính xác cho những người
đào luyện mới.
Cần chú ý đặc biệt tới sự kiện rằng thường các ứng sinh rời bỏ nơi giáo dục cách tự ý để phòng
tránh một sự thải hồi áp đặt.
Trong trường hợp chuyển sang một chủng viện khác hay một nhà đào luyện khác, ứng sinh phải
thông tri cho các người đào luyện mới về sự tham vấn tâm lý đã thực hiện trước đó. Chỉ khi nào có sự tự do
đồng ý bằng văn bản của ứng sinh, các người đào luyện mới mới có thể lấy thông tin từ chuyên viên đã thực
hiện cuộc tham vấn.
Trong trường hợp cho rằng có thể tiếp nhận vào chủng viện một ứng sinh mà trước đó đã bị thải hồi,
người này sau đó đã có sự chữa trị tâm lý, thì bao có thể, phải xác minh trước cho chính xác về tình trạng
tâm lý của người ấy, với sự tự do đồng ý bằng văn bản của người ấy, tìm hiểu những thông tin từ chuyên
viên đã đồng hành người ấy.
Trong trường hợp một ứng sinh xin chuyển sang một chủng viện khác hay nhà đào luyện khác sau
khi đã nhờ tới một chuyên viên tâm lý, mà không muốn chấp nhận có sự điều tra của những người đào
luyện mới, thì phải lưu ý rằng sự phù hợp của ứng sinh phải được chứng nghiệm bởi những luận chứng tích
cực, theo qui định của khoản Giáo luật 1052, và do đó phải loại trừ mọi nghi ngờ hữu lý.

Kết luận
17. Tất cả mọi người, dù do chức vụ nào, có liên quan đến việc đào luyện, hãy cống hiến sự cộng
tác xác tín của mình, trong sự kính trọng thẩm quyền chuyên của từng người, sao cho việc phân định và
đồng hành ơn gọi của các ứng sinh được thích hợp để “đưa tới chức linh mục chỉ những người được kêu gọi
và đưa họ tới khi đã đào luyện thích đáng, nghĩa là với sự đáp trả ý thức và tự do gắn bó và dấn thân trọn
vẹn con người cho Đức Giêsu Kitô Đấng kêu gọi sống thân mật với Ngài và chia sẻ sứ mệnh cứu rỗi của
Ngài 37 .
Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, trong cuộc tiếp kiến ngày 13/6/2008 với Đức hồng y
tổng trưởng, đã phê chuẩn tài liệu này và đã ban phép phát hành.

36 Cfr. Codex Iuris Canonici, canone 241, 3; Congregazione per l’Educazione Cattolica, Istruzione alle Conferenze Episcopali
circa l’ammissione in Seminario di candidati provenienti da altri Seminari o Famiglie religiose (8 marzo 1996).
37 Pastores dabo vobis, n. 42c: Acta Apostolicae Sedis, 84 (1992), 730

Roma, 29/6/2008, lễ trọng kính thánh Phêrô và Phaolô, Tông Đồ.
Hồng y Zenon Grocholewski
Tổng trưởng Bộ Giáo Dục Công Giáo
Jean-Louis Bruguès
Tổng giám mục thư ký của Bộ
Chuyển ngữ: Giuse Đức Dũng SDB