Anh em thân mến,

Chúng ta có thể áp dụng từng câu từng chữ, cả theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen trong bài Tin Mừng (Mt 10,17-22) hôm nay cho hai Thánh Bổn mạng của chúng ta: Người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu phải luôn ý thức và biết trước rằng thế gian sẽ không chấp nhận mình. Thế gian sẽ lùng bắt, bách hại, đánh đập, lôi họ ra trước tòa án quan quyền và cuối cùng là tìm cách giết chết họ. Điều đớn đau này nhiều khi lại bắt nguồn từ chính những người thân cận, gần gũi nhất với chúng ta, giống như trường hợp của Thánh Philipphê Phan Văn Minh – kẻ đứng ra tố cáo ngài với quan quân triều đình không ai xa lạ mà chính là người nấu bếp trong nhà…

Vế tiếp theo của lời Chúa sấm truyền cũng đã được hiện thực hóa một cách trọn vẹn nơi cuộc tử đạo của cả hai ngài: “Khi người ta nộp các con, thì các con đừng lo lắng phải nói thế nào hoặc nói gì, vì trong giờ đó sẽ cho các con biết phải nói gì; vì không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con”. Đối diện với bản án tử, cả hai vị thánh đều không một chút sợ hãi, nao núng mà tinh thần vô cùng vững vàng; chẳng những thế, các ngài còn quảng đại trao ban những cử chỉ, những lời nói đầy đức tin để khích lệ, an ủi những người đồng đạo xung quanh.

Bên cạnh đó, trong bài đọc I trích thư gửi tín hữu Rô-ma (Rm 8,31b-39), có một câu lời Chúa mà mỗi chủng sinh chúng ta phải luôn khắc cốt ghi xương hằng ngày: Không có bất cứ điều gì trên thế gian này có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Thiên Chúa.

Ở đây, chúng ta có thể suy niệm dựa trên cả hai khía cạnh tương quan: Tình thương của Thiên Chúa đối với con người và tình thương của con người đáp lại tiếng Chúa. Tình thương của Chúa dành cho chúng ta là một chân lý hiển nhiên và tuyệt đối. Không một thế lực nào, thậm chí ngay cả tội lỗi của chúng ta, có đủ sức mạnh tách chúng ta ra khỏi đại dương tình thương của Người. Chúng ta có quá nhiều chứng tá sống động xung quanh, và ngay chính trong lịch sử cuộc đời của mỗi người để xác tín điều này. Tình yêu của Chúa là tình yêu không có biên giới, không có ranh giới, lúc nào Ngài cũng yêu thương và luôn sẵn sàng tha thứ.

Thế nhưng, tình yêu của chúng ta đối với Chúa xem ra lại gặp phải rất nhiều vấn đề! Những thử thách của hoàn cảnh, những cám dỗ mật ngọt của thế trần, những nguy hiểm chực chờ… Điều gì xem ra cũng có thể dễ dàng tác động, làm chao đảo lòng mến của chúng ta. Nó khiến chúng ta dù miệng vẫn nói yêu mến Chúa, nhưng trong thực tế lại yêu mến những thụ tạo khác nhiều hơn Ngài. Tuy không ai trong chúng ta can đảm dám nói thành lời, nhưng trong sâu thẳm tư tưởng và qua các hành động cụ thể, có nhiều lúc chúng ta đã chọn lựa đi theo ý riêng, đi theo thế gian mà cố tình làm ngơ, quay lưng trước tình yêu mời gọi của Thiên Chúa.

Vì vậy, khi ý thức sâu sắc về thân phận yếu đuối, mỏng giòn của mình, chúng ta càng phải biết đặt trọn niềm trông cậy của mình trước nhan Chúa. Hãy tin rằng, dù chúng ta có thấp kém, yếu đuối cách nào đi chăng nữa thì Chúa vẫn hoàn toàn yêu thương chúng ta. Chính niềm tin son sắt mà chúng ta đặt trọn vào Chúa sẽ là nguyên nhân, là động cơ thiêng liêng gìn giữ và giúp mỗi người trung thành bước đi theo ngài đến cùng.

Vậy, chúng ta phải làm gì để đáp lại???

Nhìn vào hành trạng cuộc đời của Thánh Simon Phan Đắc Hòa, chúng ta sẽ nhận thấy bàn tay quan phòng của Thiên Chúa vô cùng mầu nhiệm. Ngài vốn là con trai của một vị Lại bộ Thượng thư – một chức vụ quyền cao chức trọng và thâu tóm rất nhiều quyền lực trong triều đình phong kiến bấy giờ. Thế nhưng, biến cố xảy đến khi thân phụ ngài qua đời, người mẹ của ngài vốn mang thân phận vợ thứ nên không còn ai trong gia tộc đếm xỉa, ngó ngàng đến nữa. Hai mẹ con lập tức rơi vào cảnh nghèo nàn, túng thiếu cùng cực.

Rất may mắn, nhờ được một gia đình Công giáo đạo đức mở lòng đón nhận và cưu mang, ngài đã được học Giáo lý và được nhận Bí tích Rửa Tội vào năm 12 tuổi. Ngài sớm có ý định dâng mình cho Chúa, nhưng đến khi chuẩn bị lãnh nhận thiên chức Linh mục thì hồ sơ của ngài lại bị từ chối, chỉ vì lý do ngài là con của vợ thứ (dù là vợ thứ bên lương). Tuy nhiên, chính những nghịch cảnh ấy đã tôi luyện đức tin của ngài một cách kiên cường ngay từ thuở mới khôn lớn. Ngài bền bỉ trong đời sống gia đình, tận tụy trong công việc của một người thầy thuốc nhân từ, kiên trì trong việc giáo dục con cái và lo lắng cho các học trò… Tất cả những chặng đường âm thầm đó chính là sự chuẩn bị tiệm tiến để ngài cự tuyệt mọi cám dỗ và can đảm đối diện với các cuộc bắt bớ sau này.

Trong khi đó, Thánh Philipphê Phan Văn Minh lại được Thiên Chúa chuẩn bị theo một phương cách khác. Ngài may mắn được làm đệ tử của Đức cha lừng danh Jean-Louis Taberd (Đức cha Từ), được bề trên gửi đi tu học bài bản tại Đại Chủng viện Penang (Malaysia). Sau khi về nước, ngài được tin tưởng giao phó những trọng trách mục vụ khó khăn của Hội Thánh và luôn tỏ ra tận tụy, trung thành trong từng công việc nhỏ bé nhất. Ngài luôn trong tâm thế sẵn sàng dâng hiến cả mạng sống mình để che chở, bảo vệ cho các cha thừa sai ngoại quốc. Tất cả những đức tính trung thành, quả cảm ấy đã chuẩn bị cho ngài một nội lực đức tin vững vàng để hiên ngang đối diện với cơn bách đạo tàn khốc dưới triều đại vua Minh Mạng.

Trong cuộc đời Linh mục của mình, không chỉ riêng tại địa phận Đà Lạt mà cả ở các giáo phận khác khi có dịp gặp gỡ, tôi luôn đem những thao thức mục vụ này để chia sẻ và lắng nghe linh mục đoàn. Để rồi, tất cả chúng tôi đều đi đến một đồng thuận cốt lõi: Muốn có những vị mục tử như Chúa mong ước, chúng ta phải bắt đầu từ một nền giáo dục, một tiến trình đào tạo thật vững chắc và bén rễ sâu.

Thời gian thụ huấn trong Chủng viện xét cho cùng không phải là quá dài, tuy nhiên một quy luật muôn đời của tự nhiên và ân sủng là: Hễ gieo hạt giống nào thì chắc chắn sẽ gặt lấy hoa trái của hạt giống đó. Như anh em đã biết, tiến trình đào tạo Chủng sinh ít nhất cũng phải mất tới 10 năm ròng rã: 2 năm học triết học tại Chủng viện, 2 năm dấn thân giúp xứ thực tế, và nếu đủ điều kiện tiến cử thì sẽ có thêm 6 năm chuyên tâm đại học thần học… Đó là chưa kể đến quãng thời gian chuẩn bị trước đó và tiến trình thường huấn sau này. Trong suốt giai đoạn nung đúc này, chúng ta được Giáo hội dạy dỗ, huấn luyện; chúng ta rèn luyện các nhân đức nhân bản, tập tành các thói quen đạo đức tốt và nỗ lực trau dồi kiến thức thần học… Tất cả những điều đó chính là nguồn vốn liếng thiêng liêng vô giá cho đời mục vụ tương lai!

Anh em thân mến,

Nếu ngay từ bây giờ, anh em là một chủng sinh đạo đức, luôn sống vui vẻ, nhìn nhận mọi sự việc bằng lăng kính lạc quan; nếu anh em là một con người cởi mở, luôn chủ động đến với anh em chung quanh, sẵn sàng dấn thân phục vụ và sở hữu một tấm lòng khiêm tốn thẳm sâu… Thì sau này khi tiến lên hàng Linh mục, khi ra đi nhận nhiệm sở, những đức tính được ví như những hạt giống âm thầm chôn vùi dưới lòng đất năm xưa sẽ lập tức nẩy mầm, vươn cao thành cây rợp bóng.

Tôi lấy một ví dụ thực tế: Nếu khi còn ở trong bốn bức tường Chủng viện, chúng ta đã say mê phục vụ, luôn sẵn sàng và không nề hà bất kỳ một công việc chung nào dù có vất vả, ti tiện hay khó khăn đến mấy… Thì sau này khi đã mang trên mình thiên chức Linh mục, chúng ta vẫn sẽ giữ vẹn nguyên bầu nhiệt huyết phục vụ ấy. Chúng ta sẽ biết cách dùng quyền bính và khả năng Giáo hội trao ban để mưu cầu hạnh phúc, niềm vui và sự thăng tiến cho đoàn chiên được trao phó.

Cách đây không lâu, tôi có đọc được một bài viết rất hay trên tuần báo Công giáo và Dân tộc và cảm thấy vô cùng bất ngờ, thú vị. Hôm nay, tôi muốn đem câu chuyện này để chia sẻ với anh em. Bài báo có nói rằng trong đời sống xã hội hiện đại ngày nay, đặc biệt là trong giới trẻ, đang hình thành một thứ văn hóa ứng xử được gọi vui là “văn minh pho-mát” (xuất phát từ việc khi chụp ảnh bằng tiếng Anh, người ta thường bảo nhau hô chữ “cheese” – đồng âm với cách phát âm chữ “three”). Mỗi lần bấm máy, người ta thường đếm: Một, hai, ba, “cheese”! Ngay lập tức, tất cả những người được chụp hình sẽ nở một nụ cười thật tươi và lộ ra khuôn mặt rạng rỡ nhất.

Vận dụng hình ảnh đó vào đời sống tu trì, một nền văn minh đích thực của Chủng viện phải là nơi các thành viên biết cống hiến cho nhau nụ cười chân thành, biết bao dung sống chung và đem lại cho tha nhân xung quanh niềm vui, sự nhẹ nhàng, thanh thoát. Đó chính là cốt lõi của nền “văn minh pho-mát” trong đời sống cộng đoàn.

Sống dấn thân, và nhất là khi chúng ta cùng sinh hoạt trong những cộng đoàn chủng viện quy mô nhỏ nhắn, một tập thể tuy nhỏ nhưng lại phải gắn bó, va chạm với nhau suốt cả 10 năm dài, thì chắc chắn sẽ phải đối diện với không ít vấn đề phức tạp, bất đồng. Thế nhưng, nếu mỗi chủng sinh đều trang bị cho mình nền văn minh nụ cười đó, thì mọi sự bỗng chốc sẽ trở nên vô cùng nhẹ nhàng. Anh em sẽ dễ dàng thông cảm cho nhau, và mọi điều phức tạp, căng thẳng của cuộc sống chung sẽ lập tức được hóa giải một cách êm đẹp.

Để kết thúc lời nhắn nhủ hôm nay, tôi xin tóm gọn lại trong 2 điều cốt lõi sau:

  1. Sống là phải biết đặt trọn niềm tin vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa: Tình yêu của Ngài là một tình yêu mạnh mẽ, trung thành và vượt lên trên mọi giới hạn trí hiểu phàm trần của con người.

  2. Phải nỗ lực và chấp nhận chết đi cho chính mình hằng ngày: Chấp nhận thân phận là hạt giống phải được chôn vùi sâu dưới lòng đất để được phục sinh mọc lên. Hãy nhớ rằng: Chôn hạt giống nào, chúng ta sẽ gặt lấy cây của giống ấy.

Thế hệ mục tử của chúng tôi rồi cũng sẽ già đi và lần lượt ra đi theo quy luật tự nhiên, hoặc nếu chưa ra đi thì năng suất làm việc mục vụ cũng không còn được dẻo dai như ý muốn. Anh em chính là thế hệ mầm xanh tương lai sẽ kế thừa và thay thế vị trí của chúng tôi, đó là một dòng chảy lịch sử vô cùng bình thường và liên tục của Giáo hội từ bao đời nay.

Chính vì thế, anh em phải ý thức sâu sắc về sứ mạng cao cả đó, biết tận dụng từng khoảnh khắc thời gian quý giá khi còn ngồi dưới mái trường Chủng viện để ra sức rèn luyện nhân cách và đức tin. Có ơn Chúa nâng đỡ, tôi tin chắc rằng anh em sẽ hiện thực hóa được hoài bão thiêng liêng của đời mình.

Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

Giám mục Giáo phận Đà Lạt

Tứ Linh lược ghi