MỤC LỤC

Lời Ngỏ

Chương I: Hội Thánh Là Một Mầu Nhiệm

  1. Mầu Nhiệm Hội Thánh
  2. Hội Thánh Đã Được Loan Báo Trong Cựu Ước
  3. Đức Giêsu Chuẩn Bị Lập Hội Thánh
  4. Đức Giêsu Hiến Thân Để Sinh Ra Hội Thánh
  5. Đức Giêsu Củng Cố Hội Thánh Sau Khi Sống Lại

Chương II: Hội Thánh Là Dân Thiên Chúa

  1. Dân Của Giao Ước Mới
  2. Dân Tư Tế
  3. Dân Duy Nhất Và Phổ Quát
  4. Dân Được Sai Đi

Chương III: Hội Thánh Là Thân Thể Đức Kitô

  1. Hội Thánh Là Thân Thể Đức Kitô
  2. Hội Thánh Nối Dài Mầu Nhiệm Đức Kitô
  3. Phần Vụ Trong Hội Thánh
  4. Hội Thánh Là Hôn Thê Của Đức Kitô
  5. Hiệp Thông Trong Hội Thánh
  6. Hiệp Nhất Các Hội Thánh

 Chương IV: Các Đặc Tính Của Hội Thánh

  1. Hội Thánh Duy Nhất
  2. Hội Thánh Thánh Thiện
  3. Hội Thánh Công Giáo
  4. Hội Thánh Tông Truyền

Chương V: Hội Thánh,  Bí Tích Phổ Quát Của Ơn Cứu Độ

  1. Nguồn Gốc Của Định Thức: Ngoài Hội Thánh Không Có Ơn Cứu Độ
  2.  Ý Nghĩa Và Tầm Vóc Của Định Thức
  3. Những Dạng Thức Của Định Thức
  4. Thuộc Về Hội Thánh

Chương VI: Hội Thánh Giáo Huấn

  1. Huấn Quyền Của Hội Thánh
  2. Nền Tảng Giáo Huấn Của Hội Thánh
  3. Chương Vii: Hội Thánh Thờ Phượng Và Thánh Hóa
  4. Hội Thánh Là Một Cộng Đoàn Phụng Tự
  5. Hội Thánh Thánh Hóa Nhờ Các Nhiệm Tích

Chương VII: Hội Thánh Thờ Phượng Và Thánh Hóa

  1. Hội Thánh Là Một Cộng Đoàn Phụng Tự
  2. Hội Thánh Thánh Hóa Nhờ Các Nhiệm Tích

Chương VIII: Hội Thánh Chăn Dắt Đoàn Chiên

  1. Nhiệm Vụ Chăn Chiên Của Hội Thánh
  2. Đức Giêsu Đặt Những Chủ Chăn
  3. Bổn Phận Vâng Phục Của Người Tín Hữu
  4. Hội Thánh Với Những Miền Ít Đạo

Chương IX: Hội Thánh Trong Trần Thế

A. Đối Thoại Với Trần Thế

  1. Vị Trí Của Hội Thánh Với Trần Thế
  2. Những Thái Độ Lệch Lạc
  3. Nối Lại Cuộc Đối Thoạ

B. Tương Quan Giữa Hội Thánh Và Trần Thế

  1. Nguyên Tắc Căn Bản
  2. Hội Thánh Có Thể Đóng Góp Gì Cho Trần Thế
  3. Hội Thánh Có Thể Nhận Được Những Gì Từ Trần Thế

C. Tôn Giáo Và Sinh Hoạt Công Dân

  1. Không Thể Tách Biệt Tôn Giáo Và Chính Trị
  2. Không Thể Tách Biệt Nhưng Cần Phân Biệt
  3. Sự Đóng Góp Của Tôn Giáo
  4. Hội Thánh Giữa Lòng Thế Giới

Sách Tham Khảo

  1. Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội. (Bản Dịch Của Ghhv Piô X. Đàlạt 1972)
  2. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (Tòa Tổng Giám Mục Tp. Hồ Chí Minh 1997)
  3. Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin Của HĐGMVN 2007)
  4. Giáo Hội Học (Gm Giuse Vũ Duy Thống,  Đ. C. V Thánh Giuse 1992.)
  5. Mầu Nhiệm Giáo Hội (Lm Trần Văn Hiến Minh,  1976.)

LỜI NGỎ

Anh chị em Giáo lý viên thân mến,
Hội Thánh do Chúa Giêsu Kitô thiết lập là người mẹ cưu mang, sinh thành và nuôi dưỡng chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Cũng chính trong Hội Thánh này, chúng ta vừa đón nhận được ơn Chúa, vừa góp phần xây dựng.

Một trong các hoạt động xây dựng Hội Thánh mà chúng ta đang tham gia là việc dạy Giáo lý. Nhưng việc dạy giáo lý lại là một hoạt động mang tính Hội Thánh: “Chủ thể thực sự của việc dạy giáo lý là Hội Thánh, tiếp tục sứ vụ của Đấng sáng lập là Chúa Giêsu, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, đã được kêu gọi trở thành người giáo dục đức tin”(Hướng dẫn tổng quát về việc dạy giáo lý của Thánh Bộ Giáo Sĩ, 1997, số 78). Hơn nữa, nội dung của việc dạy giáo lý cũng chính là nội dung đức tin mà chính Hội Thánh đã lãnh nhận, đã tin, đã thấu hiểu, đã cử hành, đã sống (x. Sđd số 78 và 105). Việc dạy giáo lý cũng như tất cả các hoạt động của Hội Thánh là nhằm giúp đưa mọi người đến cùng Thiên Chúa để được cứu độ: “Hội Thánh hiện diện không phải vì chính mình, nhưng là để giúp con người nhận diện ra Chúa”(Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI- Muối cho đời, 2005).

Nhờ ơn sủng của các bí tích trong Hội Thánh, hiện nay, chúng ta là những người đang được ở, được sống, được đùm bọc và được hoạt động trong Hội Thánh. Khi được hỏi: “Cái gì trong đạo Công Giáo làm cá nhân Ngài mê say nhất?”, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI của chúng ta trả lời : “Tuyệt vời là được gia nhập Hội Thánh sống động và lớn lao này… Sống trong cộng đoàn lớn lao này, tôi có thể hiệp thông với những người còn sống và cả những kẻ đã qua đời. Và cũng qua Hội Thánh tôi nhận ra được điều quan yếu của đời mình – là nhận ra được một Thiên Chúa vẫn hằng quan tâm tới tôi – đời tôi đặt nền trên nhận thức đó, có thể sống và chết với nó” (Sđd). Với ước mong tất cả chúng ta và các học sinh giáo lý có được cảm thấy hạnh phúc như Đức Giáo Hoàng Bênêđictô của chúng ta đã cảm nhận khi được sống và được hoạt động trong Hội Thánh, chúng tôi gởi tới anh chị em tập sách “Mầu Nhiệm Hội Thánh” này.

Đặc biệt hơn nữa, Hội Thánh cũng chính là đối tượng của đức tin như trong Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng. Tin Thiên Chúa sẽ dẫn tới tin Hội Thánh, tin Hội Thánh để rồi tin Thiên Chúa. Hy vọng tập sách này góp phần giúp chúng ta thêm tin tưởng và yêu mến Hội Thánh cho dù giữa lòng thế giới, có lúc tính khả tín của Hội Thánh dường như khuất chìm dưới những thăng trầm lịch sử của con người.

BAN GIÁO LÝ GIÁO PHẬN


CHƯƠNG I: HỘI THÁNH LÀ MỘT MẦU NHIỆM

      “Hội Thánh sống trong lịch sử, nhưng vượt trên lịch sử. Chỉ với con mắt đức tin, chúng ta mới có thể thấy được thực tại thiêng liêng mang sức sống thần linh nơi thực tại hữu hình của Hội Thánh” (SGLHTCG số 770).

I. MẦU NHIỆM HỘI THÁNH:

1.  Hội Thánh là một Mầu Nhiệm

Hội Thánh có một tổ chức hữu hình,  nhưng trước hết là một thực tại thấm nhuần sự hiện diện và sự sống thần linh.  Chúa Giêsu Kitô kết hiệp với Hội Thánh, Người sống và hoạt động trong Hội Thánh. Thánh Phaolô gọi sự kết hiệp này là “mầu nhiệm cao cả”(Ep 5, 32). Vì được kết hiệp với Đức Kitô như Phu Quân của mình, Hội Thánh đến lượt mình cũng trở thành Mầu Nhiệm (x. Ep 3, 9-14, GLHTCG số 772).

Hiến chế tín lý Hội Thánh của Công Đồng Vatican II gọi Hội Thánh là dấu chỉ và là phương thế hiệp nhất giữa loài người và Thiên Chúa (x. số1).  Điều này có nghĩa: Hội Thánh diễn tả một cách hữu hình sự hiệp nhất vô hình giữa loài người với nhau và sự hiệp nhất giữa loài người với Thiên Chúa.  Hơn nữa,  Hội Thánh không chỉ diễn tả ra bên ngoài sự hiệp nhất bên trong,  nhưng còn góp phần tạo nên sự hiệp nhất đó.  Thiên Chúa dùng Hội Thánh như một phương thế để đưa tất cả loài người đi sâu vào tình thân với Ngài và được hiệp thông vào đời sống Ba Ngôi.

Hội Thánh là một hồng ân được mạc khải và được ban cho loài người.

2.  Mầu Nhiệm Hội Thánh khởi xuất từ Mầu Nhiệm Ba Ngôi

Không thể hiểu được bản chất và sứ mạng của Hội Thánh nếu tách rời Hội Thánh khỏi Ba Ngôi.  Hội Thánh bắt nguồn từ Ba Ngôi và có liên quan riêng biệt với từng Ngôi.

a. Hội Thánh phát xuất từ tình yêu của Chúa Cha

    Chúa Cha đã tạo dựng thế giới và con người,  đồng thời mời gọi con người hiệp thông sự sống với Ngài.

Sau khi loài người sa ngã,  để phục hồi tình trạng siêu nhiên đã mất, Chúa Cha đã ban người Con Một của mình cho thế gian làm Đấng Cứu Thế.  Hết thảy những ai tin và đón nhận Con Ngài, Ngài qui tụ thành một Dân Thánh.  Hội Thánh chính là Dân Thánh đó được khai sinh do ý định cứu chuộc của Chúa Cha.

b. Hội Thánh được Đức Kitô thiết lập

    Chúa Con vâng lời Chúa Cha xuống trần thực hiện ý định cứu chuộc loài người.  Người rao giảng và thiết lập Nước Thiên Chúa dưới trần gian.  Ai gia nhập Nước Thiên Chúa là được cứu rỗi.  Hội Thánh chính là hình thức phôi thai,  chớm nở của Nước Thiên Chúa.  Qua Hội Thánh, Nước Thiên Chúa hiện diện trong lịch sử,  tác động trong các tâm hồn,  càng ngày càng lớn lên như men,  như hạt cải cho tới tình trạng hoàn hảo ngày Đức Kitô quang lâm.

c.  Hội Thánh được Chúa Thánh Thân giới thiệu

    Sau khi đã thực hiện sứ mạng trần thế của mình và về bên Chúa Cha,  Đức Giêsu gửi Thánh Thần của Người xuống trần thế để tiếp tục và hoàn tất công cuộc cứu thế.  Thánh Thần thánh hóa mỗi tín hữu và toàn thể Hội Thánh,  ngự trong lòng tín hữu và toàn thể Hội Thánh,  cầu khẩn trong mỗi người và làm chứng họ là con Thiên Chúa.  Chúa Thánh Thần sẽ đưa Hội Thánh tới chân lý vẹn toàn,  tạo nên hiệp nhất giữa các tín hữu,  đổ đầy ân sủng và đoàn sủng trên cộng đoàn tín hữu.  Chúa Thánh Thần đổi mới Hội Thánh làm cho Hội Thánh ngày càng thêm tươi trẻ trên đường tìm tới sự hiệp nhất trọn vẹn với Chúa Giêsu trên thiên quốc.

Hội Thánh phát sinh từ Ba Ngôi,  do ý định của Ba Ngôi,  nhận được sứ mạng từ Ba Ngôi,  sống và tồn tại nhờ Ba Ngôi.

3.  Tin vào Hội Thánh

Chẳng những phải tin vào Thiên Chúa nhờ Hội Thánh,  nhưng còn phải tin vào chính Hội Thánh.  Tin vào Hội Thánh nhiều khi còn khó hơn tin vào Thiên Chúa hoặc tin vào Chúa Giêsu vì Hội Thánh có một tổ chức hữu hình,  một khuôn mặt trần thế và nhiều khi Hội Thánh có những lời sửa dạy trái ý chúng ta.  Gương xấu do những người thuộc Hội Thánh gây nên cũng không thiếu.  Tuy nhiên, lý do chính có thể làm mất niềm tin vẫn là không nhận ra mầu nhiệm ẩn chứa trong Hội Thánh.  Hội Thánh ở trong Chúa Giêsu và ở trong Ba Ngôi.  Nếu ta ở trong Hội Thánh thì cũng ở trong Chúa Giêsu và ở trong Ba Ngôi.

II.  HỘI THÁNH ĐÃ ĐƯỢC LOAN BÁO TRONG CỰU ƯỚC

1.  Lời hứa với Abraham

Thiên Chúa hứa cho Abraham trở thành ông tổ của một dân đông đảo(x.  Kn 12,  1-3; 17,  1-11).  Ngài chọn ông để tuyển lựa cho mình một dân,  từ đó ơn cứu độ sẽ được ban cho hết mọi dân.  Thiên Chúa muốn kết hợp với dân này.  Qua giao ước,  Ngài hứa ban cho dân muôn ơn phúc.  Thiên Chúa hứa ngay trước khi giao ước được thi hành.  Điều này chứng tỏ ơn cứu độ Ngài hứa ban là một hồng ân nhưng không.

2.  Giao Ước hứa với Môisen

Thiên Chúa giải thoát dân khỏi Ai Cập và đưa dân về đất hứa.  Trên núi Sinai,  Ngài đã lập lại giao ước long trọng với Môsê: trong tất cả các dân,  các ngươi sẽ là dân riêng của ta,  các ngươi sẽ trở nên cho ta một vương quốc tư tế và một dân thánh hiến (x. Xh 9,  6).  Ơn gọi của dân này là sống thánh thiện (x. Tl 26,  19),  được hiến dâng cho Thiên Chúa để làm chứng cho Ngài giữa muôn dân.  Vì được Thiên Chúa yêu thương như vậy,  nên Ngài đòi hỏi dân phải trung tín và sống thật hoàn hảo (x. Tl 7,  7; Lv 20,  26).

3.  Lời rao giảng của các ngôn sứ

Vào đất hứa đựơc ít lâu,  Israel trở thành một vương quốc.  Đavid là một ông vua lớn.  Thiên Chúa đã hứa với ông rằng Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra từ chi tộc của ông (x. 2Sam 7,  12-16).  Nhưng những người kế vị Đavid,  phần đông là những ông vua bất tài thất đức.  Chính lúc đó, Thiên Chúa sai các ngôn sứ đến thi hành nhiệm vụ: kêu gọi dân trung tín với Giao Ước và nhắc lại lời Thiên Chúa hứa ban Ơn Cứu Độ.

Các ngôn sứ phác họa Nước Thiên Chúa sau này sẽ hình thành trong Hội Thánh.

a. Thiên Chúa hứa sẽ thiết lập một Giao Ước mới và ghi luật Ngài trong chính tâm hồn dân (x. Ger 31,  31-33).

Giao Ước này sẽ là Giao Ước chung cuộc,  muôn thuở sẽ không bao giờ bị thay thế nữa (x. Ger 32,  40). Thiên Chúa sẽ tập họp dân quanh Ngài,  Ngài thiết lập đền thánh của Ngài ở giữa dân,  Ngài sẽ thánh hóa dân và chăn dắt dân đến muôn đời (x. Ed37,  21-28).

b. Nước Thiên Chúa sẽ là nước vĩnh cửu,  bình an,  yêu thương và công bình nghĩa là tràn đầy ân phúc và sự sống của Thiên Chúa (x. Is 9, 5-6; Đan 2, 44; 7, 14).

c. Nước Thiên Chúa sẽ được mở rộng đến muôn dân vì ơn cứu rỗi được ban cho mọi người.  Tất cả mọi dân tộc sẽ tìm thấy ánh sáng của Thiên Chúa và sẽ tìm đến tập họp quanh Ngài (x. Đan 7,  14; Is 60,  1-5; 66, 18-19).

d. Dân Thiên Chúa sẽ làm chứng cho Thiên Chúa và Nước Ngài.  Trách nhiệm của dân là làm tỏa sáng vinh quang của Thiên Chúa (x. Is 54,  4; Mk 4, 2).

Tất cả những lời hứa và những nét phác họa của Cựu Ước sau này sẽ được thực hiện trong Hội Thánh.  Hội Thánh là dân đích thực của lời hứa.

III.  CHÚA GIÊSU CHUẨN BỊ THIẾT LẬP HỘI THÁNH

1.  Chúa Giêsu rao giảng Nước Thiên Chúa

Nội dung Tin Mừng của Chúa Giêsu là Nước Thiên Chúa đã đến gần,  hãy tin và sám hối để được vào nước đó (x. Mc 1, 14-15).  Người dùng dụ ngôn để giải thích mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.  Người còn xác định hiến chương của nước này được đúc kết trong tám mối phúc thật (x. Mt 5, 3-12).

Hội Thánh sẽ là hình thức sơ khởi và hiện tại của Nước Thiên Chúa dưới trần gian.

2.  Chúa Giêsu chọn các Tông Đồ

Các tông đồ là những ngư phủ ở miền hồ Tibêria xứ Galilêa (x. Lc 5,  1-9).  Có một người làm nghề thu thuế (x. Lc 5, 27 -32).  Chúa Giêsu đặt tên cho họ là Tông Đồ (x. Lc 6,  13).  Những môn đệ này họp thành “ Nhóm mười hai” sống bên Chúa Giêsu,  được Người huấn luyện để sau này hướng dẫn Hội Thánh và tiếp tục sứ mạng cứu thế của Người.

3.  Chúa Giêsu huấn luyện các Tông Đồ

Ngoài những gì giảng dạy cho dân chúng,  Chúa Giêsu còn dạy dỗ riêng nhóm mười hai (x. Mt 13,  11) ,  tập cho họ cầu nguyện (x. Lc 11,  1-2),  sửa dạy họ khi sai lỗi (x. Lc 22,  24-27),  sai họ đi rao giảng và ấn định lối sống họ phải theo (x. Mc 6,  7-13).  Người cũng ban cho họ được quyền trừ quỷ (x. Mc 3,  5).  Nhất là Người đã cho họ được chung sống với Người.

4.  Chúa Giêsu đặt Phêrô làm Thủ Lãnh

Được Chúa Cha soi sáng,  Simon đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô,  Con Thiên Chúa hằng sống.  Chúa Giêsu đã đổi tên cho Simon thành Phêrô và đặt ông làm thủ lãnh của Hội Thánh mà Ngài sẽ thiết lập: “Con là Đá,  trên Đá này,  Thầy sẽ thiết lập Hội Thánh của Thầy”( Mt 16, 18).

Sau ngày Phục Sinh,  Chúa Giêsu sẽ tái xác nhận quyền thủ lãnh đã được trao cho Phêrô(x. Ga 21, 15-17).

IV.  CHÚA GIÊSU HIẾN THÂN HY SINH ĐỂ SINH RA HỘI THÁNH

1.  Chúa Giêsu hiến thân vì mọi người

Chúa Giêsu chết để cứu sống mọi người và làm cho mọi người nên thánh.  Người cứu dân Israel,  cứu các Tông Đồ và các môn đệ,  cứu muôn dân.  Người muốn quy tụ tất cả thành một dân thánh.

2.  Qua sự chết,  Người thiết lập Giao Ước Mới

Người đã đổ máu hiến thân trên Thập Giá để hòa giải loài người với Thiên Chúa.  Trước đó,  trong bữa Tiệc Ly,  Người đã hiến dâng thân mình dưới hình bánh và hình rượu.  Máu Người đổ ra tạo nên Giao Ước mới,  thay thế cho Giao Ước cũ trên núi Sinai (x. Lc 22,  20).  Chính Giao Ước tạo nên Dân Thánh.  Từ Giao Ước mới sinh ra Dân Mới của Thiên Chúa là Hội Thánh.  Hội Thánh sẽ thừa hưởng mọi lời hứa của Thiên Chúa thay cho Israel.

3.  Chúa Giêsu chết để Hội Thánh được sinh ra

Thánh Augustinô nói rằng cũng như nước và máu sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu thế nào,  thì Hội Thánh cũng sinh ra từ sự chết của Người như vậy.

Chúa Giêsu thông truyền sự sống của Người cho Hội Thánh.  Sự sống trong Hội Thánh là sự sống của chính Chúa Giêsu.  Hội Thánh không thể tồn tại nếu tách rời khỏi nguồn mạch của mình.

Người đã yêu thương Hội Thánh,  đã hiến thân cho Hội Thánh để thánh hóa Hội Thánh (x. Ep 15,  25-26).  Người đã hiến thân vì chúng ta,  để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi tội và thanh tẩy chúng ta, làm chúng ta trở nên một dân riêng của Người,  nhiệt thành làm việc thiện (x. Tt 2, 14).

Sách Khải huyền viết :

Vì Ngài đã bị giết
và đã lấy máu đào
chuộc về cho Thiên Chúa
muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ,
thuộc mọi nước, mọi dân.
Ngài cũng làm cho họ
thành một vương quốc, thành những tư tế,
để phụng thờ Thiên Chúa chúng ta,
và họ sẽ làm chủ mặt đất này”(Kh 5, 9-10).

V.  CHÚA GIÊSU CỦNG CỐ HỘI THÁNH SAU KHI SỐNG LẠI

1.  Chúa Giêsu trao quyền và sai các Tông Đồ đi rao giảng

Sứ mạng Chúa Giêsu trao cho các Tông Đồ là chính sứ mạng Người nhận từ Chúa Cha: “Như Chúa Cha đã sai Thầy,  thì Thầy cũng sai anh em “ (Ga 20, 21).

Người trao quyền tha tội:” Anh em tha tội cho ai,  thì người ấy được tha;anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 23).

Mọi quyền cần thiết để mở rộng Nước Thiên Chúa đều được ban:”Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,  18-20).

2.  Chúa Giêsu tái xác nhận nhiệm vụ của Phêrô

Trước cuộc Thương Khó,  Chúa Giêsu đã trao chìa khóa Nước Trời,  tức là quyền thủ lãnh cho Phêrô (x. Mt 16,  16-19).  Trong bữa Tiệc Ly,  Người vừa cầu cho Phêrô đừng sa ngã,  vừa báo trước đêm ấy Phêrô sẽ chối Người ba lần.  Nhưng đồng thời Người cũng căn dặn,  sau khi hối cải,  Phêrô phải củng cố tinh thần anh em mình (x. Lc 22,  31-34).

Quả thật,  Phêrô đã sa ngã (x. Lc 22,  54-62).  Sau Phục Sinh,  chẳng những Chúa Giêsu đã tha thứ cho Phêrô,  nhưng còn tái xác nhận quyền thủ lãnh của ông bằng cách trao cả đoàn chiên cho ông (x. Ga 21,  15-17).

3.  Chúa Giêsu gửi Thánh Thần đến với Hội Thánh

Trong bữa Tiệc Ly,  Chúa Giêsu đã nói nhiều đến Thánh Thần và hứa gửi Thánh Thần của Người xuống trên các Tông Đồ (x. Ga 15, 16).

Ngày Thăng Thiên,  Người nhắc lại lời hứa đó:”Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđêa, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv1, 8).

Lời hứa của Chúa Giêsu đã được thực hiện.  Thánh Thần chẳng những được ban cho các Tông Đồ chiều ngày Phục Sinh (x. Ga 20, 22), mà còn xuống long trọng trên các ông ngày lễ Ngũ Tuần (x. Cv 2, 1-18),  mở đầu cho thời hoạt động công khai của Hội Thánh.

Nhờ Thánh Thần tác động,  các Tông Đồ và cả Hội Thánh được tràn đầy sức mạnh,  ân sủng và sự sống của Thiên Chúa để lớn lên và trưởng thành.

4.  Qua Thánh Thần,  Chúa Giêsu tiếp tục hướng dẫn Hội Thánh

Chúa Giêsu về bên Chúa Cha chia sẻ vương quyền với Cha trong nước hằng sống,  nhưng Người còn hiện diện trong Hội Thánh một cách vô hình.  Mỗi ngày,  Người tiếp tục gửi Thánh Thần đến với Hội Thánh để qua Thánh Thần của Người,  Người hướng dẫn và làm cho Hội Thánh sống.

TÓM LƯỢC

(Trích bản toát yếu Sách Giáo Lý của Hội ThánhCông Giáo)

1. H.  Hội Thánh là mầu nhiệm theo nghĩa nào?

    T.  Hội Thánh là mầu nhiệm bởi vì, trong thực tại hữu hình của mình, Hội Thánh diễn tả và thực hiện một thực tại thiêng liêng, thần linh, chỉ có thể nhận ra bằng con mắt đức tin.

2. H.  Đâu là khởi đầu và hoàn thành của Hội Thánh?

        Cả khởi đầu và hoàn thành của Hội Thánh đều nằm trong kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa. Hội Thánh đã được chuẩn bị trong Giao ước cũ qua việc tuyển chọn dân Israel, dấu chỉ cuộc tập họp trong tương lai gồm tất cả các dân tộc. Hội Thánh được đặt nền tảng trên lời nói và việc làm của Chúa Giêsu Kitô, và đặc biệt được hiện thực nhờ cái chết và cuộc phục sinh cứu độ của Người. Rồi Hội Thánh được tỏ hiện như mầu nhiệm cứu độ bằng việc tuôn đổ Thánh Thần trong ngày Lễ Hiện Xuống. Hội Thánh sẽ hoàn thành vào ngày tận thế như cuộc họp thiên quốc của tất cả những người được cứu chuộc.


CHƯƠNG II HỘI THÁNH LÀ DÂN THIÊN CHÚA

   “Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu đ con người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn quy tụ họ thành một dân tộc, để họ nhận biết Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện” ( GLHTCG số 781).

   “Chúng ta gia nhập Dân Thiên Chúa bằng Đức Tin và Phép Rửa. Tất cả mọi ngưi được gia nhập Dân Thiên Chúa, hầu trong Đc Kitô, loài người họp thành một gia đình duy nhất và một dân duy nhất của Thiên Chúa”(GLHTCG số 804).

I.  DÂN CỦA GIAO ƯỚC MỚI

1.  Israel là hình bóng của Hội Thánh

Thiên Chúa đã hứa với Abraham là ông sẽ trở thành cha một dân tộc vĩ đại và Ngài thực hiện từng bước lời hứa đó. Dân Israel dần dà ý thức được mình là dân riêng đưc Thiên Chúa yêu thương,  vì thế trổi vưt hơn mọi dân.

Khi còn ở Ai Cập,  Thiên Chúa lại hứa với Môisen: “Ta sẽ cứu các ngươi khỏi làm việc khổ sai cho người Ai Cập, sẽ giải thoát các ngươi khỏi làm nô lệ chúng … Ta sẽ nhận các ngươi làm dân riêng ca Ta, và đối với các ngươi, Ta sẽ là Thiên Chúa”(Xh 6, 6-7).  Lời hứa đó tr thành Giao Ước trên núi Sinai.  Nhờ Giao Ước này,  Israel chính thức trở thành Dân Thiên Chúa (x. Lv 26, 9-12).

Giao Ước buộc hai bên cùng giữ. Dân Israel đã cam kết,  nhưng dần dần đã bội ước,  tách khỏi Thiên Chúa.  Thiên Chúa vẫn thành tín.  Một mặt Ngài kêu gọi Israel hãy hối cải,  mặt khác Ngài hứa sẽ chọn một dân mới thay thế cho Israel cứng lòng.

2.  Hội Thánh là dân đích thực của Thiên Chúa

Tất cả mọi danh hiệu của Israel từ nay thuộc về Hội Thánh: chủng tộc được tuyển lựa,  dân thánh hàng tư tế vương gi,  dân được Thiên Chúa nhận làm sở hữu (x. 1P 2, 9-10; 2Cor 6, 16; Dt 8, 10).

Tất cả mọi lời hứa của Thiên Chúa dành cho Israel từ nay Hội Thánh được thừa hưng.  Ngày xưa Thiên Chúa giải thoát khỏi Ai Cập,  ngày nay Ngài giải thoát khỏi chính tội lỗi.  Ngày xưa Thiên Chúa nuôi dân cũ bằng Manna,  ngày nay Ngài nuôi dân mới bằng chính mình Ngài.

Dân mới vượt xa dân cũ.  Tất cả mọi chủng tộc đu được mời gọi gia nhập dân mới( không còn căn cứ vào dòng máu như xưa).  Họ nhập dân mới nhờ Phép Thánh Tẩy do hiệu lực của mầu nhiệm Phục Sinh ( không còn bởi nghi thức cắt bì ).

Thiên Chúa chọn dân mới vì lòng yêu thương.  Ơn gi này hoàn toàn nhưng không,  do lòng ưu ái của Ngài:”Trong Đc Kitô, Ngài đã chọn ta trước khi tạo thành vũ trụ, đ trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài” (Ep 1, 4).

3.  Đặc tính của Dân Mới

Thủ lãnh: là Đức Kitô chết để chuộc tội và sống lại để ban cho mọi ngưi ơn nghĩa tử.

Vị thế: có phẩm giá và được tự do vì là con Thiên Chúa và được Thánh Thần hướng dẫn.

Giới luật: yêu thương .  Yêu mến Chúa Cha và yêu thương mi ngưi như chính Chúa Giêsu đã yêu mến.  Tình yêu này khởi xuất từ Ba Ngôi (x. Ga 17, 21) và do Thánh Thần thông ban (x.  Rm 5, 5).

Vận mệnh: vào Nước Thiên Chúa hiện đã khai mở trong trần thế và sẽ hoàn tất trong vinh quang Thiên Quốc.

Tóm lại,  Hội Thánh là cuộc tập họp của tất cả những ai hướng về Chúa Giêsu trong niềm tin,  Đng đã chết và sống lại để trở nên nguồn ơn cu độ cho thế giới.

4.  Dân Mới trên đường lữ hành

Mặc dù là dân mới,  Hội Thánh chưa thực sự đạt tới mức hoàn hảo ( mới là hình thức phôi thai của Nước Thiên Chúa ).  Hội Thánh còn đang ở trong tình trạng lữ hành,  tha hương.  Còn phải chiến đấu chống Satan và thế gian (x. 1Ga 2, 15-17; Ep 6, 10-17).  Con cái còn sa ngã nên Hội Thánh luôn luôn phải sám hối cho con cái mình đ đạt tới sự thánh thiện Thiên Chúa muốn (x.  GH 8).

Hiện nay trong Hội Thánh không thể tránh được cỏ lùng (x. Mt 13, 41-43),  có thể có ngôn sứ giả (x. Mt 7,  22),  có nhiều ngưi đến dự tiệc mà không mặc áo cưới(x. Mt 22,  11-13).  Tới ngày phán xét,  có những người sẽ bị loại bỏ (x. Mt 25,  31-46).

Dù vậy,  với tư cách là dân mới của Thiên Chúa,  Hội Thánh không làm Thiên Chúa thất vọng,  Hội Thánh sẽ không bị thay thế vì là dân chung cục.  Trên đường lữ hành,  Hội Thánh còn gặp nhiều gian truân,  thử thách,  nhưng lịch sử càng tiến xa thì hiền thê càng đến gần và càng trở nên giống phu quân của mình hơn.

II.  DÂN TƯ TẾ ,  NGÔN SỨ VÀ VƯƠNG GI

Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và tấn phong Chúa Giêsu Kitô làm “Tư tế, Ngôn sứ và Vua”. Toàn thể Dân Thiên Chúa tham dự ba chức năng đó ca Đức Kitô và lãnh trách nhiệm  thực hiện sứ mạng phục vụ, xuất phát từ ba chức năng đó (x. GLHTCG số 783).

1.  Dân tư tế

Khi gia nhập Dân Thiên Chúa, bằng đức tin và Phép Rửa, chúng ta dự phần vào ơn gọi vô song của Dân ấy:Ơn gi tư tế (GLHTCG số 784).

a.  Chúa Giêsu là Tư Tế Hoàn Hảo

Tư tế đóng vai trò trung gian giữa Thiên Chúa và loài người.  Một mặt,  tư tế thay mặt Thiên Chúa chuyển đt ơn thiêng của Thiên Chúa xuống cho loài người.  Mặt khác,  tư tế thay mặt loài người cầu khẩn Thiên Chúa,  dâng lên Ngài lời chúc tụng ngợi khen.

Chức vụ tư tế nhằm hai chủ đích: tôn vinh Thiên Chúa và cứu rỗi loài người.

Chúa Giêsu là tư tế nhờ mầu nhiệm nhập thể.  Người là Ngôi Lời Thiên Chúa đã làm người,  khi trở nên ngưi,  Người vẫn là Thiên Chúa.  Người vừa là Thiên Chúa thật,  vừa là người thật.  Người thuộc về cả hai bên nên tự bản thân Ngưi,  Người là trung gian giữa Thiên Chúa và loài ngưi.  Người là trung gian duy nhất theo đúng nghĩa của nó.  Vì chẳng có ai đồng thời là Thiên Chúa và là ngưi như Người.

Chúa Giêsu là tư tế ngay từ khi nhập thể và là tư tế suốt đi Người,  trong bản thân Người và trong mọi hành vi của Người.  Tuy nhiên,  chính trong Tiệc Ly và trên Thập Giá Ngưi đã thi hành chức vụ tư tế một cách hữu hình và viên mãn nhất.  Lúc đó Người tự dâng mạng sống mình để tôn vinh Chúa Cha và cứu chuộc loài người.

Hiện nay,  trong tình trạng tôn vinh bên Chúa Cha,  Chúa Giêsu vẫn tiếp tục thi hành chức vụ tư tế .  Chức vụ đó s trường tồn không bao giờ hết.

b.  Nhờ Phép Rửa Tội,  mọi tín hữu tham dự vào Chức Tư Tế của Chúa Giêsu

Có hai cách tham dự chức tư tế của Chúa Giêsu.

Nhờ Phép Rửa: đó là chc tư tế chung.

Nhờ Bí Tích Truyền Chức Thánh: đó là chc tư tế thừa tác.  đây nói về chức tư tế chung.

Phép Rửa làm ta tái sinh và do đó làm ta trở nên con Thiên Chúa giống như Chúa Giêsu.  Nếu ta được tham dự vào ơn làm con Thiên Chúa của Chúa Giêsu thì ta cũng được tham dự vào sứ mạng tư tế của Người.

Hơn nữa,  khi chịu Phép Rửa,  Thánh Thần ghi dấu ấn của Người trên hồn ta.  Dấu ấn thiêng liêng đó vừa làm ta nên giống Chúa Giêsu,  vừa thánh hiến ta,  làm ta thuộcvề Ngưi.  Do đó,  tất cả đi ta được hiến dâng để chúc tụng và tôn vinh Thiên Chúa cùng với Chúa Giêsu.  Sau hết,  nhờ Phép Rửa ta cùng chết và sống lại với Chúa Giêsu (x. Rm 6, 3).  Ta cùng dâng đời ta và chính mình cho Thiên Chúa với Ngưi để ca tụng vinh quang của Thiên Chúa.

       Người tín hữu thi hành chức tư tế chung như thế nào? Bằng cách thờ phưng Thiên Chúa và thánh hóa đời sống.  Dâng lên Thiên Chúa mọi hoạt động,  mọi cố gắng và khó khăn ca đời sống,  mọi lời cầu khẩn và hoạt đng tông đồ của mình hợp với sự hiến dâng của Chúa Giêsu.  Dâng chính bản thân mình như lễ vật tinh sạch vì vinh quang Thiên Chúa và vì phần rỗi của thế gian (x. Rm12, 11).  Tham dự vào hy tế Thánh Thể, cùng chết và cùng sống lại với Chúa Giêsu, Đng đã dâng mình làm lễ vật tạ ơn Chúa Cha và giải thoát mọi người.  Trong việc tham dự này,  người tín hữu trở thành chi thể của Chúa Giêsu một cách thâm sâu nhất.  Lãnh nhận Thánh Thể để nhận được sự sống và ân phúc cho chính mình và cho toàn thể Hội Thánh,  đồng thời ca tụng,  ngợi khen tạ ơn Thiên Chúa cho mình và cho cả Hội  Thánh(x.  GH 10 & 11).

c.  Chức Tư Tế Chung Và Chức Tư Tế Thừa Tác

Hết mọi tín hữu,  do Phép Rửa được tham dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu.  Đây là chc tư tế chung.  Nhờ Bí tích Truyền Chức,  sự tham dự này chở nên sâu đm hơn và trở thành chức tư tế thừa tác.

– Chức tư tế thừa tác do một Bí tích khác tạo nên nơi một số tín hữu và ban cho quyền thi hành chức tư tế của Chúa Giêsu một cách khác.  Đây là thần quyền nhờ đó linh mc hướng dẫn đoàn chiên ,  nhân danh Chúa Giêsu cử hành Bí tích Thánh Thể và các bí tích khác để chuyển thông ơn thánh cho dân Thiên Chúa .

Thánh thể là đỉnh cao của đời sống Kitô hữu và cũng là chóp đỉnh của chức tư tế thừa tác.

– Chức tư tế thừa tác không do cộng đoàn tín hữu ủy quyền tạo nên nhưng đón nhn được từ Chúa Giêsu,  vị tư tế hoàn hảo.  Tuy nhiên,  chức tư tế này nhằm phục vụ chức tư tế chung của toàn Dân Thiên Chúa.  Chính nhờ và trong Thánh Thể do linh mục cử hành mà toàn thể tín hữu có thể thờ phụng,  ca ngợi dâng mình lên Thiên Chúa nghĩa là thi hành chức vụ tư tế chung của mình.

2.  Dân ngôn sứ

Ngoài chức tư tế chung,  Phép Rửa còn cho tham dự vào sứ vụ ngôn sứ của Chúa Giêsu.

Thiên Chúa đã chọn dân Ngài để loan truyền những kỳ công của Ngài (x. 1P 2, 9).  Làm cho thế giới nhận biết Thiên Chúa là một đòi hỏi của Phép Rửa.  Đó là sứ vụ ngôn sứ của người tín hữu.  Công đồng Vatican II nhắc nhở nhiều lần đến chứng tá của Kitô hữu giữa thế giới, bày tỏ cho mọi người thấy Đc Kitô trước hết bởi một đời sống đầy lòng tin,  lòng cậy và lòng mến.  Soi sáng và hướng dẫn hết mọi thực tại trần thế  thế nào để chúng phát triển theo đường lối của Đc Kitô và làm vinh danh Đấng Tạo Hóa(x. GH số 31).

Người tín hữu làm chứng cho Thiên Chúa bằng hai cách dùng lời nói đ soi sáng và đem đời sống để minh chứng những gì không thể diễn tả bằng lời nói (x.  GH số 35).

       Sách Giáo Lý HộiThánh Công Giáo viết:”Người Kitô hữu tham dự vào chức năng ngôn sứ của Đức Kitô nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin của toàn thể Dân Chúa, khi gắn bó hoàn toàn với đc tin đã được truyền lại cho Dân Thánh, khi tìm hiểu, đào sâu ni dung đức tin ấy, và khi trở nên chứng nhân của Đức Kitô giữa đời” (số 785).

3.  Dân vương gi

Phép Rửa chẳng những làm cho tín hữu tham dự vào sứ vụ ngôn sứ của Chúa Giêsu,  mà còn cho dự phần vào Vương quyền của Người nữa.

Đc Kitô thi hành Vương quyền bằng cách nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh mà thu hút mọi ngưi đến với mình (x. Ga 12, 32). Dù là Vua, là Chúa muôn loài, Đức Kitô tự hạ làm tôi tớ mọi ngưi. Đối với người Kitô hữu, ”muốn làm vua với Đức Kitô phải phục vụ Người”(GH số 36), cách riêng “trong những ngưi nghèo khó và đau khổ, vì nơi họ, Hội Thánh nhận ra hình ảnh của Đấng Sáng Lập nghèo khó và đau khổ của mình”(GH số 8). Dân Thiên Chúa thực hiện phẩm giá vương giả của mình bằng cách sống phù hợp ơn gọi phục vụ với Đức Kitô”(GLHTCG số 786).

Điều kiện tiên quyết để thi hành chức năng vương đế của mình hầu mở mang Nước Thiên Chúa là giữ được lòng siêu thoát đối với của cải trần thế và sử dụng chúng vì vinh quang Thiên Chúa,  có lợi cho Nước Ngài.  Muốn xây dựng Nước Thiên Chúa cách hữu hiệu cần có khả năng và uy tín trong các hot động tác nghiệp và chuyên môn của mình,  biết nhận định các giá trị thật,  quy hướng chúng về Thiên Chúa và vềớc Ngài .

Như thế là làm cho ánh sáng và tinh thần của Chúa Giêsu thấm nhập vào thế giới.

III.  DÂN ĐƯC SAI ĐI

Hội Thánh nối tiếp sứ mạng cứu thế của Chúa Giêsu.  Hội Thánh đưc sai đi vì vinh quang Thiên Chúa để làm cho toàn thể loài người biết,  yêu mến và ca tụng Ngài.

Cũng như Chúa Giêsu đưc Chúa Cha sai đi,  Hi Thánh đưc Chúa Giêsu sai đi để thực hiện ý định cứu chuộc của Chúa Cha.  Cùng một sứ mạng cứu thế được từ trên trao xuống: “Như Chúa Cha đã sai Thầy , thì Thầy cũng sai anh em”( Ga 20,  21).

Cũng có thể nói Hội Thánh đưc sai đi để thực hiện bản chất phổ quát của mình.

Đối với Hội Thánh,  truyền giáo không phải là một việc phụ thuộc,  tùy ý,  đáng khuyến khích.  Công việc này thuộc bản chất của Hội Thánh.  Mởc Thiên Chúa,  làm cho nước ấy tăng trưởng là lẽ sống và lý do hiện hữu của Hội Thánh.

Hội Thánh truyền giáo bằng cách: Loan báo Tin Mừng,  thức tỉnh lòng tin và đưa tới Thánh Tẩy,  hòa mình vào xã hội loài ngưi như men trong bt,  đưa sự hiện diện của mình tới những miền xa xôi,  tới tận cùng trái đất; gạn lọc các giá trị văn hóa và tiếp nhận để hoàn tất những tinh hoa của mỗi nền văn hóa thế giới.

Sứ mạng truyền giáo được trao cho mọi Kitô hữu.  Đó là mt đòi hỏi của Phép Rửa.  Như trên đã nói,  nhờ Phép Rửa,  người Kitô hữu được tham gia sứ vụ ngôn sứ của Chúa Giêsu.  Toàn thể dân Thiên Chúa đưc sai đi,  mặc dầu mỗi người thi hành sứ mạng tông đồ của mình một cách khác nhau,  ở một mức độ trách nhiệm khác nhau.

TÓM LƯỢC

(Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo)

1. H.  Tại sao Hội Thánh là Dân Thiên Chúa?

    T.  Hội Thánh là Dân Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa muốn thánh hóa và cứu độ mọi người không phải cách riêng rẽ, nhưng thiết lập họ thành một Dân duy nhất, được quy tụ trong sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

2. H.  Đâu là nhng đặc tính của Dân Thiên Chúa?

    T.  Dân Thiên Chúa mà chúng ta là thành phần nhờ đc tin vào Đức Kitô và nhờ Bí tích Rửa Tội, có cội nguồn là Thiên Chúa Cha, có thủ lãnh là Chúa Giêsu Kitô, có địa vị là phẩm giá và sự tự do của con cái Thiên Chúa, có lề luật là giới răn mới của tình yêu, có sứ vụ là trở thành muối và ánh sáng của thế giới, có cùng đích là Nưc Thiên Chúa, đã được khởi đầu trên trần thế.

3. H.  Dân Thiên Chúa thông dự thế nào vào ba chức năng ca Đc Kitô là Tư tế, là Tiên tri (Ngôn sứ) và là Vương đế?

    T. Dân Thiên Chúa dự phần vào chức năng Tư tế của Đức Kitô, vì các người Kitô hữu được Chúa Thánh Thần thánh hiến để dâng các hy lễ thiêng liêng. Họ được tham dự vào chức năng Tiên tri, vì nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, họ gắn bó dứt khoát với đc tin, đào sâu để hiểu biết đức tin và trở thành chứng nhân cho đức tin. Họ được tham dự vào chức năng Vương đế qua việc phục vụ, noi gương Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ tr, Đấng tự trở thành tôi tớ cho mọi người, nhất là cho những ngưi nghèo túng và đau khổ.


CHƯƠNG III HỘI THÁNH LÀ THÂN THỂ ĐỨC KITÔ

“Đức Kitô chết và phục sinh làm cho cộng đoàn tín hữu thành Thân Thể của mình, nhờ Chúa Thánh Thần và tác động của Người trong các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể”(GLHTCG số 805).

I.  HỘI THÁNH LÀ THÂN THỂ ĐỨC KITÔ

Thánh Phaolô dùng hình ảnh thân thể Đc Kitô để diễn tả mầu nhiệm Hội Thánh,  vì hình ảnh này làm nổi bật những mối tương quan nhiều mặt giữa các tín hữu với nhau và giữa các tín hữu với Chúa Giêsu (x. GH số 7).

1.  Các tín hữu hợp thành Một Thân Thể

Trong một thân thể,  các phần hợp nhất với nhau nên một toàn thể duy nhất và lệ thuộc vào nhau.  Trong Hội Thánh cũng vậy,  các tín hữu hợp nhất nên một và liên kết với nhau.  Chúng ta “tuy nhiều,  nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô” (Rm 12,  5).

Trong Hội Thánh có nhiều phần vụ và ân sủng khác nhau.  Nhưng sự khác biệt này chẳng những làm cho phong phú mà còn cần thiết cho sự sống của cộng đoàn.  Hội Thánh có nhiều nhu cầu khác nhau,  nhờ sự khác biệt,  người này bổ túc cho ngưi kia và như vy đáp ứng hết mọi nhu cầu đó.  Thánh Phaolô viết:” Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn. Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận,  thì làm sao mà thành thân thể đưc?Như thế, bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một … Vậy anh em ,  anh em là thân thể Đức Kitô và mỗi người là một bộ phận” (1Cor 12,  18-27).

Vì thế, trong Hội Thánh có rất nhiều đặc ân của Thánh Thần và rất nhiều đoàn sng.  Các ơn này được ban cho một ngưi để phục vụ cộng đoàn.  Ơn được ban riêng cho một chi thể nhưng vì lợi ích chung của toàn thân (x. Ep 7, 11-13,  1Cor 12, 4-11).

Vì là chi thể trong một thân thể nên phải tránh mọi vị kỷ,  bất hòa.  Trái lại,  phải liên kết chặt chẽ và hiệp thông mật thiết với nhau.

2.  Thân Thể do các Kitô hữu hợp thành được coi là Thân Thể của chính Đức Kitô

Chẳng những các tín hữu hiệp nhất với nhau nhưng còn liên kết mật thiết với Chúa Giêsu Kitô.  Chính vì được liên kết với Đức Kitô mà các tín hữu có thể hiệp nhất với nhau.  Đó là hai mặt của cùng một mầu nhiệm.  Đức Kitô là giây liên kết mọi người nên một và chính Người tạo nên Hội Thánh. Thánh Phaolô viết:“Anh em là thân thể của Đức Kitô” (1Cor 12, 27). ”Hội Thánh là thân thể của Đức Kitô”( Ep 1,  23).  Chúng ta “tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô” (Rm 12,  5).  Không thể tách rời Hội Thánh khỏi Đức Kitô và Hội Thánh cũng không thể thay thế đưc Đức Kitô.  Thực ra,  Đức Kitô ở trong Hội Thánh và Hội Thánh ở trong Đức Kitô.

3.  Đc Kitô là Đầu nuôi sống và hướng dẫn Toàn Thân

Trong hai thư Ephêsô và Côlôsê,  Thánh Phaolô dùng một hình ảnh khác để bổ túc cho hình ảnh thân thể: Đc Kitô là đầu và Hội Thánh là thân mình.

Chẳng những Đức Kitô liên kết và tạo nên sự hiệp nhất của Hội Thánh (nguyên lý cấu tạo và hiệp nhất) như vừa nói ở trên,  nhưng còn là đầu Hội Thánh,  nghĩa là truyền thông sự sống,  điều khiển và hướng dẫn cả Hội Thánh.  Cùng một sự sống phát sinh từ đu lưu thông trong toàn thân.  Mỗi tín hữu và toàn thể Hội Thánh nhận được sự sống của Đức Kitô,  nhờ đó ln lên trong đời sống ân sủng (x. Ep 1,  22-23; 4, 11-16; Col 2, 9).

Đc Kitô là đầu của Hội Thánh vì Ngưi là Chúa và là Đấng Cứu Thế,  là trưởng tử của nhân loại mới,  nghĩa là Ngưi đã chết và sống lại để trở nên nguồn sống mới cho những ai hiệp nhất với Người (x. Col 1,  15-18).

Đức Kitô còn là khuôn mẫu mà mỗi chi thể phải noi theo.

Hội Thánh đưc tràn đầy mọi kho tàng phong phú của Đức Kitô,  nên Hội Thánh chính là sự viên mãn của Người.

Thánh Thần của Đc Kitô cũng đưc thông ban tràn đầy cho toàn thân.  Thánh Thần làm cho Hội Thánh sống bằng chính sự sống của Đức Kitô.

II.   HỘI THÁNH NỐI DÀI MẦU NHIỆM ĐỨC KITÔ

1.  Đức Kitô hiện diện trong trần gian qua và nhờ Hội Thánh

Vì Hội Thánh là thân thể của Đức Kitô nên Hội Thánh nối dài mầu nhiệm nhập thể trong lịch sử.  Có thể nói Hội Thánh là thân thể trần thế của Đức Kitô.

Cũng như xưa khi nhập thể,  Ngôi Hai hiện diện trong thế giới loài người nhờ thân xác của Người thế nào,  ngày nay Đức Kitô,  mặc dù đã được tôn vinh bên Chúa Cha,  còn hiện diện giữa trần gian nhờ Hội Thánh như vậy.

2.  Đc Kitô tác động qua và nhờ Hội Thánh

Chẳng những Đức Kitô hiện diện trong Hội Thánh và qua Hội Thánh trong trần gian,  nhưng Người còn tác động trong và nhờ Hội Thánh.  Qua Hội Thánh,  Đức Kitô vẫn còn tiếp tục phân phát ân sủng,  truyền thông sự sống của Người cho chúng ta.  Vì thế,  muốn gặp gỡ Đc Kitô và đón nhận sự sống của Người,  phải đến với Hội Thánh.

3.  Hội Thánh Thánh Thiện

Hội Thánh thánh thiện mặc dù con cái của mình tội lỗi và chính Hội Thánh phải sám hối cho con cái mình.  Sự thánh thiện của Hội Thánh không phải là tổng số sự thánh thiện cá nhân của các tín hữu.

Hội Thánh thánh thiện theo hai nghĩa.  Một mặt, Hội Thánh tham dự vào sự thánh thiện của Đức Kitô vì là thân thể của Người.  Mặt khác, Đức Kitô dùng Hội Thánh làm phương thế thánh hóa các tín hữu.  Hội Thánh có đ phương thế,  Lời Chúa,  các bí tích để làm việc này.

III.  PHẦN VỤ TRONG HỘI THÁNH

Trong Hội Thánh có phân biệt một bên là Giáo Dân và một bên là Giáo Phẩm.  Nhưng cả hai cùng là Hội Thánh và hợp thành Hội Thánh.

1. Giáo Dân

a.  Phẩm giá: Do Bí tích Thánh Tẩy,  người giáo dân có chức tư tế chung.  Nhờ đó được lãnh nhận các nhiệm tích .  Đặc biệt là được tham dự vào hy tế của Đức KiTô trong Thánh Thể(x. GH 34).  Cũng được tham dự vào sứ vụ ngôn sứ của Ngưi để làm chứng cho Thiên Chúa bằng lời nói và bằng chính đời sống gương mẫu của mình (x. GH 35).

b.  Nhiệm vụ: Thánh hóa bản thân và sống đức tin giữa đời,  làm chứng nhân trong mọi môi trường,  nhất là trong gia đình và trong các hoạt động chức nghiệp (x. GH 31).

2.  Tu Sĩ

a.  Vị thế( chỗ đứng)

Xét theo thể chế của Hội Thánh do Đức Kitô thiết lập và có phẩm trật,  thì bậc sống tu trì không ở giữa bậc giáo sĩ và giáo dân.  Thực vậy,  Thiên Chúa kêu gọi một số Kitô hữu ở cả hai bậc giáo sĩ và giáo dân đến hưởng lấy ân huệ đặc biệt trong đời sống Hội Thánh và mỗi người một cách góp phần vào sứ mạng cứu độ của Hội Thánh (x.  GH 43).

Tu sĩ không nằm trong cơ chế phẩm trật nhưng trong cơ cu đoàn sủng(Giáo Luật,  khoản 207,  số 1 và 2).

b.  Ý nghĩa

Tất cả ý nghĩa của đời sống tu trì đều dựa trên căn bản khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm : khó nghèo,  khiết tịnh,  vâng phục.  Nhờ đó ,  đi tu là đời dâng hiến cho Thiên Chúa để hoàn bị việc thánh hiến đã khởi đầu trong Bí Tích Rửa Tội để tôn thờ Thiên Chúa hoàn hảo hơn,  phụng sự Thiên Chúa thân tình hơn và kết hợp với Chúa vững bền hơn.

Ngoài ra,  đời tu còn là đời phục vụ Hội Thánh.  Bởi kết hợp cách đặc biệt với mầu nhiệm Hội Thánh nên “mỗi người tùy sức và ơn gọi của mình,  bằng kinh nguyện hay bằng hoạt động tích cực làm cho Nưc Chúa Kitô ăn rễ sâu và vững mạnh trong các tâm hồn và bành trướng trên khắp vũ trụ” (GH số 44).

Và vì thế,  đời tu trở nên dấu chỉ bộc lộ của cải trên trời,  làm chứng về đời sống vĩnh cửu và tiên báo về một Nước Trời vinh quang.

c.  Vai trò

Đời sống tu sĩ tuy không liên quan đến cơ cấu phẩm trật Hội Thánh,  nhưng dĩ nhiên cũng gắn chặt với đời sống và sự thánh thiện của Hội Thánh (x.  GH 45).  Vì thế,  họ biểu dương Đức Kitô ngày một hoàn hảo hơn cho các tín hu cũng như cho lương dân (x. GH 46).

Không vong thân,  nhưng phát triển nhân cách họ góp phần không ít vào việc thanh luyện tâm hồn,  phát huy tự do thiêng liêng và sống bác ái nhiệt thành hơn.  Không xa lạ với mọi người và vô dụng với trần thế,  vì dù không trực tiếp phụ giúp ngưi đồng thời với mình,  nhưng tu sĩ lại hiện diện với họ một cách sâu xa hơn trong lòng Đức Kitô và cộng tác một cách thiêng liêng với họ để việc xây dựng xã hội trần thế đưc đặt nền móng nơi Đc Kitô và luôn hướng về Người ((x. GH số 46).

3.  Giáo Phẩm

a.  Cơ cấu thiết yếu của Hội Thánh

Cần phân biệt hai loại cơ cấu trong Hội Thánh.  Những cơ cấu do chính Chúa Giêsu thiết lập,  ví dụ như nhiệm tích,  phẩm trật của Hội Thánh.  Loại cơ cấu này thiết yếu không thể thay đổi.  Còn những cơ cấu do Hội Thánh thiết lập,  ví dụ như chức Hồng Y,  cách tổ chức các giáo phận và các đoàn thể – những cơ cấu này không thiết yếu,  có thể thích nghi,  thay đổi tùy theo nhu cầu của mỗi thời.

Giáo Phẩm là cơ cấu thiết yếu của Hội Thánh.  Chính Chúa Giêsu đã trao quyền cho các Tông Đ và các Tông Đồ lại trao quyền cho các giám mục một cách liên tục.

Bí Tích Truyền Chức Thánh tạo nên những tư tế thừa tác và dẫn vào hàng Giáo Phẩm.

Trong Hội Thánh,  quyền bính được trao cho hàng Giáo Phẩm chỉ là phương thế phục vụ đoàn chiên.  Vì thế phục vụ chính là chủ đích của Giáo Phẩm.

b.  Thành phần của hàng Giáo Phẩm

– Giám Mục đoàn

Cũng như Phêrô và các Tông Đồ họp thành đoàn mười hai,  Giáo Hoàng và các Giám Mục hợp thành một cộng đoàn duy nhất gọi là Giám Mục Đoàn.

Mỗi Giám Mục là một thủ lãnh của Hội Thánh tại đa phương có quyền mục vụ trong giáo phận của mình.  Nhưng vì là thành viên của Giám Mục đoàn nên cũng chia sẻ trách nhiệm với Hội Thánh toàn cầu.

Giám Mục đoàn thi hành nhiệm vụ đối với Hội Thánh toàn cầu nhiều cách,  long trọng nhất là qua các đi Công Đng như Công Đng Vatican II (là đi Công Đồng thứ 21 trong lịch sử Hội Thánh ).  Từ sau Vatican II,  đại diện Giám Mục đoàn c ba năm họp một lần tại Rôma trong khuôn khổ của Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới.

– Đức Giáo Hoàng

Đng đầu Giám Mục đoàn là Đức Giáo Hoàng.  Giám Mục đoàn có quyền tối cao và trọn vẹn,  nhưng phải hiệp nhất với Giáo Hoàng.  Các quyết định của Đi Công Đồng cũng cần được Giáo Hoàng chuẩn y và công bố.  Giáo Hoàng là Giám Mục giáo phận Rôma,  là thủ lãnh hữu hình của Hội Thánh,  là nền tảng hữu hình của sự hiệp thông đức tin trong Hội Thánh.

– Linh mục và phó tế

Linh mục và phó tế thuộc hàng giáo sĩ.  Đúng ra linh mục và phó tế không thuộc hàng giáo phẩm.  Nhưng vì là cộng tác viên trực tiếp của Giám Mục,  nên trong thực tế linh mục và phó tế cũng tham gia phần nào vào quyền bính và sinh hoạt của Hàng Giáo Phẩm.

IV. HỘI THÁNH LÀ HÔN THÊ CỦA ĐỨC KITÔ

      Tương quan gia Đức Kitô và Hội Thánh, tức đầu và các chi thể, luôn được diễn tả bằng hình ảnh Phu Quân và Hiền Thê. Các ngôn sứ đã chuẩn bị và Thánh Gioan Tiền Hô đã loan báo chủ đ Đức Kitô là Phu Quân (x. Ga 3, 29). Chính Chúa Giêsu cũng tự xưng là Hôn Phu (Mc 2, 19). Thánh Phaolô giới thiệu Hội Thánh và mỗi tín hữu như Hin Thê “đưc đính hôn” vi Đc Kitô để nên cùng một Tinh Thần với Người. Hội Thánh là một hiền thê không tì vết mà Đức Kitô yêu mến và hiến mạng sống để thánh hóa (x. Ep 5, 26). Nời liên kết với Hội Thánh bằng một giao ước vĩnh cửu, và không ngừng chăm sóc Hi Thánh như chính thân thể mình(x. Ep 5, 29).

V.  HIỆP THÔNG TRONG HỘI THÁNH

1.  Các Thánh Thông Công

Vì thuộc về thân thể Đức Kitô và là chi thể của nhau nên được hiệp thông sâu xa với nhau trong Đức Kitô.

Sự hiệp thông giữa các tín hữu trong Hội Thánh đưa tới việc chia sẻ các kho tàng thiêng liêng của Hội Thánh.

Tất cả mọi tín hữu được dự phần vào những của thánh,  dự phần vào các nhiệm tích,  ân sủng và các nhân đc đặc biệt là Tin,  Cậy,  Mến.  Các công phúc cũng được góp lại thành một dự trữ chung,  hợp với công phúc của Đức Giêsu.  Hội Thánh sẽ dùng kho tàng thiêng liêng đó để phân phát cho các tín hữu tùy nhu cầu và sự xứng đáng của mỗi ngưi,  không để ai phải thiếu thốn hoặc thiệt thòi.  Nhờ sự liên đới siêu nhiên này,  không ai bị cô đơn hoặc bị bỏ rơi trong Hội Thánh vì tất cả đều có thể nâng đỡ nhau một cách hữu hiệu trong bất cứ hoàn cảnh nào.

2.  Hiệp thông trên trời và dưi đất

Các tín hữu dưi đất chẳng những hiệp thông với nhau,  nhưng còn hiệp thông với các thánh trên trời bằng cách noi gương và cầu khẩn các ngài.  Họ cũng hiệp thông với các tín hữu đã qua đời bằng cách giúp lời cầu nguyện và làm các việc lành khác.

Các tín hữu dưi đt đang chiến đấu chống tội lỗi đ theo đui ơn cứu rỗi,  vì thế hợp thành Hội Thánh chiến đấu.  Các thánh trên trời đã vượt qua mọi trở ngại và đạt tới vinh quang chung cục nên hợp thành Hội Thánh chiến thắng.  Các linh hồn đã qua đời còn đang trải qua thời kỳ thanh tẩy để xứng đáng hiệp nhất với Thiên Chúa nên hợp thành Hội Thánh đau khổ.

Cả ba Hội Thánh hợp thành một cộng đoàn duy nhất do Thánh Thần liên kết nên một và cùng chung hưởng mọi kho tàng thiêng liêng( các thánh thông công).

Đến  ngày sau hết,  Đức Kitô sẽ thu hợp cả ba Hội Thánh  ( sự phân biệt chỉ tạm   thời ) và đưa về với Chúa Cha.  Lúc đó sự hiệp thông trong Thiên Chúa trở nên trọn vẹn.

TÓM LƯỢC

(Trích Bản Toát yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo)

1. H.  Hội Thánh là Thân thể của Đức Kitô theo cách nào?

   T.  Nhờ Chúa Thánh Thần, Đc Kitô, đã chết và đã phục sinh, kết hợp các tín hữu với chính Người một cách mật thiết. Như thế, những ai tin vào Đức Kitô, vì được kết hợp chặt chẽ với Người, nhất là trong Bí tích Thánh Thể, thì cũng kết hợp với nhau nhờ đức ái, tạo thành một thân thể duy nhất là Hội Thánh, hợp nhất với nhau trong sự đa dạng của các chi thể và các phận vụ.

2. H.  Ai là đầu của thân thể này?

   T.  Đc Kitô là “Đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh”(Cl 1, 18). Hội Thánh sống nhờ Ngưi, trong Ngưi và cho Ngưi. Đức Kitô và Hội Thánh tạo thành “Đức Kitô toàn thể”(Thánh Augustinô). ”Có thể nói đưc là, Đầu và các chi thể làm nên cùng một con người huyền nhiệm”(Thánh Tôma Aquinô).

3. H. Tại sao Đức Kitô lại thiết lập phẩm trật trong Hội Thánh?

    T. Đc Kitô đã thiết lập phẩm trật trong Hội Thánh đ chăn dt dân Thiên Chúa nhân danh Người;và vì thế , Ngưi đã trao ban quyền hành cho họ. Phẩm  trật bao gồm các thừa tác viên đã được thánh hiến:các giám mục. linh mục, phó tế. Nhờ Bí tích Truyền chức thánh, các giám mục. linh mục, khi thực thi tác vụ của mình, hoạt đng nhân danh và trong cương vị của Đc Kitô-là-Đầu. Các phó tế phục vụ dân Chúa trong việc phục vụ Lời Chúa, phụng vụ và việc bác ái.

4. H.  Tại sao Hội Thánh được gọi là Hôn thê của Đức Kitô?

   T.  Bởi vì chính Chúa đã tự xưng là “Hôn phu”(Mc 2, 19), Đng yêu thương Hi Thánh, đã kết ước với Hội Thánh bằng một Giao ước vĩnh cửu. Ngưi đã phó nộp mình vì Hội Thánh , để thanh tẩy Hội Thánh bằng Máu của Ngưi. để làm cho Hội Thánh “trở nên thánh thiện”(Ep 5, 26), và làm cho HộiThánh thành mẹ của tất cả các con cái của Thiên Chúa. Nếu hai chữ “Thân thể”cho thấy sự hợp nhất giữa đầu và các chi thể, thì hai chữ “Hôn thê” làm nổi bật sự phân biệt giữa đôi bên trong một quan hệ liên vị.


CHƯƠNG IV HỘI THÁNH DUY NHẤT, THÁNH THIỆN, CÔNG GIÁO VÀ TÔNG TRUYỀN

Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng Hội Thánh là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Đây là bn đặc tính của Hội Thánh được nêu lên bởi các công đồng Nicée – Constantinople (D. 86), Ephêsô, Chalcédoine và Vatican I (D. 1793-1794).

Bốn đặc tính này liên kết với nhau một cách chặt chẽ, không thể tách rời. Chính Chúa Giêsu Kitô, qua Chúa Thánh Thần, đã ban cho Hội Thánh Người sáng lập bốn đặc tính này. Chúng ta chỉ có thể hiểu biết trọn vẹn các đặc tính này nhờ đức tin.

I. HỘI THÁNH DUY NHẤT

  “Hội Thánh duy nhất :Hội Thánh chỉ có một Chúa, tuyên xưng mt đức tin, sinh bởi một Phép Rửa, họp thành một Thân Thể được một Thánh Thần duy nhất làm sinh động, nhắm đến một niềm hy vọng duy nhất sẽ kết thúc trong sự chấm dứt mọi chia rẽ”(GLHTCG số 866).

1. Mầu nhiệm thánh thiêng về tính duy nhất của Hội Thánh

    a. Hội Thánh duy nhất do nguồn gốc

       Nguồn gốc sâu xa của Hội Thánh là Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Thiên Chúa muốn quy tụ hết mọi người thành một dân và dân đó thuộc về Ngài.  Chỉ có một Thiên Chúa là Cha,  bởi Ngài mà có mọi sự và vì Ngài mà có ta.  Cũng chỉ có một Chúa,  Chúa Giêsu Kitô, nhờ Người mà có mọi sự và cũng nhờ Người mà có ta (x. 1Cor 8,  6). Hiến chế Tín lý về Giáo Hội viết:”Hội Thánh xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần(số 4).

    b. Hội Thánh duy nhất do Đấng Sáng Lập

Chính Chúa Giêsu đã thiết lập Hội Thánh. Ngưi đã chết để quy tụ nên một tất cả các con cái tản mác của Thiên Chúa (x. Ga11, 52).  Trước khi chết,  Ngưi đã cầu cho hết thảy những ai đã tin vào Người giữ được sự  hiệp nhất (x. Ga17,  20-26). Hiến chế Mục vụ viết:”Vì chính Chúa Con nhập thể đã dùng Thập Giá để hòa giải mọi người với Thiên Chúa, đã tái lập sự hiệp nhất mọi người thành một dân tộc và một thân thể”(Số 78).

    c. Hội Thánh duy nhất là do Chúa Thánh Thần tác động

       Sắc lệnh về Hiệp nhất viết:”Chúa Thánh Thần ngự trong lòng các tín hữu hiện diện và chi phối trong toàn Hội Thánh, thực hiện sự thông hiệp kỳ diệu giữa các tín hữu, và liên kết tất cả trong Đức Kitô cách mật thiết đến nỗi Ngài chính là nguyên lý hiệp nhất của Hội Thánh”(Số 2).

2.  Hai mặt hữu hình và vô hình của Hội Thánh

     a.  Hai yếu tố trong Hội Thánh

    Có thể phân biệt hai yếu tố trong Hội Thánh:hữu hình và vô hình.

       – Yếu tố hữu hình hoặc trần thế:

         Hội Thánh là một tập thể xã hội,  một tổ chức có cơ cu,  được thiết lập trong trần thế,  trong lịch sử.

       – Yếu tố vô hình hoặc thần linh:

         Đồng thời Hội Thánh cũng là một cộng đoàn thiêng liêng,  có Đức Kitô và Thánh Thần của Ngài ngự bên trong,  có kho tàng thiêng liêng như ân sủng,  lòng tin,  cậy mến để phân phát và nuôi sống các linh hồn.

      b.  Chỉ có Một Hội Thánh Duy Nhất

     Tuy nhiên,  hai yếu tố này không phải là hai thực thể biệt lập tạo nên hai Hội Thánh mà chỉ có một Hội Thánh duy nhất với hai mặt gắn chặt vào nhau và bổ túc cho nhau.

     Thực ra,  yếu tố hữu hình chỉ là phương thế Đc Kitô dùng để hoạt động một cách cụ thể và hữu hiệu trong toàn thể là phân phát kho tàng siêu nhiên cho người trần.

     Mầu nhiệm Hội Thánh cũng tương t như mầu nhiệm Đc Kitô.  Nơi Ngưi có nhân tính( người ) và thiên tính( Ngôi Lời ).  Đó là hai yếu tố hữu hình và vô hình.  Hai yếu tố đó không đứng biệt lập nhưng hiệp nhất mật thiết với nhau.  Và nhân tính của Đức Kitô chỉ là phương thế Ngôi Lời dùng đ hành động và cứu thế.

3. Trách nhiệm xây dựng sự hiệp nhất

    a. Duy nhất nhưng đa dạng:

       Ngay từ khởi đầu, Hội Thánh duy nhất này cũng rất đa dng. Tính đa dạng này phát xuất từ hai nguyên nhân:

          – Từ những ân huệ khác nhau của Thiên Chúa.

          – Từ số đông người lãnh nhận những ân huệ đó. Nhng người này thuộc nhiều dân tộc và nhiều nền văn hóa khác nhau.

        Sự đa  dạng này làm cho Hội Thánh thêm phong phú và không nghịch lại sự hiệp nhất (x. GLHTCG số 814).

    b. Sự hiệp nhất bị tổn thương:

       Đức Kitô chỉ thiết lập một Hội Thánh duy nhất. Nhưng trong dòng lịch sử, Hội Thánh duy nhất này đã xảy ra sự chia rẽ, làm tổn thương sự hiệp nhất của Nhiệm thể Đức Kitô. Những chia rẽ này gồm có:

           – Lạc giáo:cố chấp phủ nhận hay nghi ngờ về chân lý phải tin.

           – Bội giáo:chối bỏ hoàn toàn đức tin Kitô giáo.

           – Ly giáo:từ chối sự tùng phục Đức Giáo Hoàng hay từ chối sự hiệp thông với các phần tử của Hội Thánh đang thụ quyền Ngài.

    c. Xây dựng sự hiệp nhất:

Các tín hữu hợp nhất với nhau do ý muốn của Thiên Chúa chứ không phải vì quyền lợi và ý muốn riêng của các thành viên như trong các xã hội khác.  Vì thế,  sự hiệp nhất của Hội Thánh đưc đặt trên một nền tảng kiên cố không gì lay chuyển được là Thiên Chúa.

Chẳng những Thiên Chúa là nền tảng nhưng còn là khuôn mẫu của sự hiệp nhất giữa các tín hữu.  Cũng như Ba Ngôi hiệp nhất với nhau nên một thế nào,  thì hết mọi ngưi được Thiên Chúa tập họp cũng phải hiệp nhất với nhau như vậy.  Cộng đoàn Hội Thánh phải là hình ảnh của cộng đoàn Ba Ngôi.

Sự hiệp nhất của Dân Thiên Chúa được thực hiện nhờ những giây liên kết hữu hình và vô hình.

* Hiệp nhất trong đc tin: cùng tuyên xưng mt đc tin,  là đức tin thừa hưởng từ các thánh Tông Đồ.

* Hiệp nhất nhờ các Bí Tích: cùng chung một Phép Rửa là Bí tích liên kết mọi người với Chúa Giêsu và với nhau (x. 1Cor12,  13).  Cùng chung một Thánh Thể là Bí tích hoàn tất sự hiệp nhất đã khởi sự trong Phép Rửa.  Chỉ có một Bánh,  chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ hợp thành một thân thể (x. 1Cor 10, 16-17).

* Hiệp nhất nhờ cơ cấu thiết yếu của Hội Thánh: Hội Thánh đưc hướng dẫn cách hữu hình bởi những vị thừa kế các Tông Đồ,  phẩm trật của Hội Thánh không thể là một quyền bính thống trị giai cấp,  nhưng là phương thế hiệp thông nhờ đó sự hiệp thông với Thiên Chúa và giữa các tín hữu được bảo đảm và củng cố.

Do đó,  cần phải diệt trừ những nguyên nhân chia rẽ và bảo tồn,  củng cố sự hiệp nhất trong Hội Thánh,  sống tinh thần hiệp thông phu thê.  Cũng phải cầu nguyện và làm tất cả những gì có thể đưc để phục hồi sự hiệp nhất giữa các Giáo Hội Kitô giáo.

4.  Vấn đ Đại Kết

Theo ý muốn của Đức Kitô và trong thực tế ngay từ đầu chỉ có một Hội Thánh duy nhất.  Nhưng dần dà vì nhiều lý do phức tạp,  nhiều giáo đoàn đã tách khỏi Hội Thánh Mẹ thành những Hội Thánh biệt lập.  Không kể các giáo đoàn nhỏ,  hiện nay có bốn ngành chính: Hội Thánh Công Giáo,  Hội Thánh Chính Thống hoặc Hội Thánh Đông Phương (1054),  các Hội Thánh cải cách hoặc Tin Lành ly khai năm 1520 và Anh giáo thành lập 1535.

Nhiều nguyên nhân đưa đến tình trạng chia rẽ hiện nay.  Nguyên nhân chính là những khác biệt về đc tin.  Nhưng cũng có nhiều yếu tố làm cho tình trạng thêm trầm trọng như phong tc,  văn hóa,  hoàn cảnh chính trị và xã hội,  quyền lợi cá nhân và cách đối xử thiếu tế nhị giữa các cá nhân.

Hiện nay có nhiều khác biệt về chân lý đức tin,  về tổ chức và về kỷ luật gây trở ngại lớn cho việc hiệp nhất các Hội Thánh.

Trong các Hội Thánh Kitô giáo khác cũng có Lời Thiên Chúa,  ân sủng,  nhiệm tích,  nhân đức… nhiều ít tùy từng Hội Thánh ( ví dụ trong Hội Thánh Chính Thống chắc chắn có chức thánh và các nhiệm tích khác ).  Do đó ngay trong tình trạng chia rẽ hiện nay vẫn có một sự hiệp thông không toàn vẹn nào đó giữa các Hội Thánh.

Anh em thuộc các Hội Thánh ly khai hiện nay không có trách nhiệm về tình trạng chia ly mà họ thừa hưởng.  Hội Thánh công giáo tôn trọng và quý mến những anh em đó.

Phong trào đại kết được hình thành mấy chục năm nay và đã đưc Công Đông Vatican II chính thc đảm nhận nhằm chuẩn bị tái hiệp nhất các Hội Thánh Kitô giáo.

Nhiều tiến bộ đã được thực hiện gây bầu khí hòa giải và huynh đệ,  cầu nguyện,  dịch thuật Kinh Thánh chung,  đối thoại giữa các chuyên viên về các vấn đề tín lý.  Tuy nhiên,  con đường hiệp nhất sẽ rất dài và chỉ Thiên Chúa mới thực hiện nổi một công việc vượt quá sức loài người.

     Hội Thánh công giáo thúc giục con cái mình:

– Phải cởi mở,  góp phần tích cực cho việc hiệp nhất.  Nhưng phi hành động khôn ngoan và trung tín với chân lý.  Chỉ có thể hiệp nhất trong chân lý.

– Hội Thánh công giáo có chân lý,  nhưng không phi lúc nào người công giáo cũng sống theo chân lý.  Bởi thế,  người công giáo phải sám hối và canh tân chính mình.     

– Cũng phải nhìn nhận những giá trị đích thc nơi Hi Thánh khác và đón nhận những gương sáng mà Thánh Thn khơi đng nơi các Hi Thánh đó.

II. HỘI THÁNH THÁNH THIỆN

“Thiên Chúa chí thánh là Đấng sáng lập Hội Thánh;Đức Kitô, Phu Quân của Hội Thánh đã hiến mình để thánh hóa Hội Thánh;Thánh Thần ban cho Hội Thánh sự sống thánh thiện. Dù bao gồm những người tội lỗi, Hội Thánh vẫn là “cộng đoàn không tội lỗi của những người tội lỗi”. Nơi chư thánh, Hội Thánh chiếu tỏa sự thánh thiện của mình. Nơi Đức Maria, Hội Thánh đt đươc sự toàn thiện”(GLHTCG số 867).

1. Nền tảng sự thánh thiện của Hội Thánh

Nền tảng sự thánh thiện của Hội Thánh:

   – Đấng sáng lập Hội Thánh là “Thiên Chúa chí thánh” (GLHTCG số 867).

   – Phu Quân của Hội Thánh là Đc Kitô, được ca tụng là “Đấng Thánh duy nhất”(GLHTCG số 823), : Người “đã yêu Hội Thánh như hiền thê của mình và đã hiến thân để thánh hóa Hội Thánh. Người kết hợp với Hội Thánh như thân th Ngưi và ban cho dư đy ơn Thánh Thần”(GH số 39). Nhờ kết hợp với Người, Hội Thánh đưc Người thánh hóa.

   – Sự sống thánh thiện của Hội Thánh là do Chúa Thánh Thần ban cho:Ngài ban cho Hội Thánh dồi dào phương tiện cứu rỗi và sự thánh thiện, đó là việc rao giảng Tin Mừng, các bí tích, các nhân đức luân lý, lòng hy sinh phục vụ tha nhân và các đặc sủng (x. GH số 48 và GLHTCG số 824).

2.  Hội Thánh hướng tới sự thánh thiện

  – Thực trạng:Hội Thánh luôn là thánh thiện vì nền tảng của Hội Thánh là Thiên Chúa Ba Ngôi và Hội Thánh không có sự sống nào khác ngoài sự sống ân sủng. Nhưng trong Hội Thánh cũng bao gồm những phần tử tội lỗi. Sự thánh thiện của Hội Thánh là một hành trình tăng trưởng, một cuộc lữ hành vượt qua, chứ không phải là tình trạng tĩnh tọa, hoàn hảo.

  – Hội Thánh hướng tới sự thánh thiện : “Vì ôm ấp trong lòng những kẻ tội lỗi”, nên “Hội Thánh vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh luyện mình. Do đó, Hội Thánh luôn nỗ lực sám hối và canh tân. Tất cả các chi thể của Hội Thánh, kể cả các thừa tác viên, phải tự nhận là người tội lỗi”(GLHTCG số 827). Thánh Công đồng Vatican viết:”ới thế, Hội Thánh đưc trang điểm bằng một sự thánh thiện đích tht, tuy chưa hoàn hảo”(GH số 48). Vì thế, ”các chi thể của Hội Thánh còn phải phấn đu đ đạt tới sự thánh thiện hoàn hảo:Được ban cho những phương tiện cứu rỗi dồi dào và cao cả như thế, mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đu được Chúa kêu gọi đạt tới sự thánh thiện trọn hảo như sự trọn hảo của Chúa Cha, mỗi ngưi trong con đường của mình”(GH số 11).

  – Phương thế đạt tới sự thánh thiện:Đức Ái là linh hồn của sự thánh thiện mà Thiên Chúa mời gọi tất cả chúng ta đt đến:”Đức Ái là mối dây liên kết của sự trọn lành, là sự viên mãn của lề luật, nên Đức Ái chi phối mọi phương thế nên thánh, làm cho chúng hình thành và đt đến cùng đích”(GH số 42).

  – Những gương mẫu thánh thiện trong Hội Thánh:các thánh và Mẹ Maria. Nơi các thánh, Hội Thánh chiếu tỏa sự thánh thiện của mình. Nơi Đức Maria, Hội Thánh đt được sự toàn thiện (x. GLHTCG số 828-829).

III.  HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

“Hội Thánh rao giảng đức tin trọn vẹn, tiếp nhận và quản lý đy đ các phương tiện cứu độ;Hội Thánh đưc sai đến với mọi dân tộc;Hội Thánh ngỏ lời với hết mọi người;Hội Thánh bền vững trong mọi thời đại;tự bản chất, Hội Thánh phải truyền giáo”(GLHTCG số 868”.

1. Ý nghĩa

Công giáo là gì?“Công giáo” là phổ quát theo nghĩa toàn diện hay toàn vẹn,  và được áp dụng cho Hội Thánh theo hai hướng:

    -Hội Thánh là công giáo vì Đức Kitô hiện diện trong Hội Thánh,  và vì có Đức Kitô hiện diện, nên Hội Thánh có đy đ các phương tiện cứu độ (x. TG số 26), tuyên xưng đức tin chân thật và đy đ, đời sống bí tích toàn vẹn và thừa tác viên được thụ phong để liên tục kế nhiệm các tông đồ (x. GLHTCG số 830).

    -Hội Thánh là công giáo vì đưc Đc Kitô sai đến với toàn thể nhân loại (GLHTCG số 831;x. Mt 28, 19).

2. Các Giáo Hội đa phương có đặc tính công giáo không?

      Giáo Hội đa phương (giáo phn hay giáo khu) đu mang đặc tính công giáo, vì”HộiThánh Đức Kitô thực sự hiện diện trong mọi đoàn thể tín hữu đa phương hợp pháp. Những tập thể này, vì hiệp nhất với các mục tử nên trong Tân Ước cũng gọi là Hội Thánh. Nơi các tập thể đó, tín hu được tụ họp nhờ sự rao giảng Tin Mừng Đức Kitô và mầu nhiệm Tiệc Thánh Chúa được cử hành.  Đức Kitô vẫn hiện diện trong các cộng đoàn ấy, dù nhỏ bé nghèo hèn hay tản mác khắp nơi. Và nhờ thần lực của Người, Hội Thánh hiệp thành duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”(GH số 26). Đc tính công giáo này được thể hiện cách hữu hình và hoàn hảo qua việc các Giáo Hội đa phương hiệp thông với Hội Thánh Rôma (x. GLHTCG số 834).

3. Truyền giáo, một đòi hỏi của tính công giáo

-Lệnh truyền giáo:Do những đòi hỏi của tính công giáo và vì mệnh lệnh của Đấng Sáng Lập:”Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân tr thành môn đệ, làm phép aaarửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em, Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28, 19-20), nên Hội Thánh nhất quyết loan báo Tin Mừng cho mọi người.

-Nguồn gốc và mục đích của truyền giáo:Mệnh lệnh truyền giáo bắt nguồn từ chính tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại và nhắm mục đích làm cho loài người hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con trong Thánh Thần tình yêu (x. TG số 2;GLHTCG số 850).

-Lý do của truyền giáo:Hội Thánh luôn nhận lấy bổn phận và nhiệt tình truyền giáo từ chính tình yêu Thiên Chúa đối với mọi người:”Thiên Chúa muốn cho mọi ngưi được cứu đ và đạt tới sự nhận biết chân lý”(1Tm 2, 4). Vì tin vào ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, nên Hội Thánh phải truyền giáo (x. GLHTCG số 851).

-Những con đường truyền giáo:Chúa Thánh Thần là người chủớng mọi công cuộc truyền giáo của Hội Thánh, chính Ngài dìu dắt Hội Thánh trên các nẻo đường truyền giáo. Vì thế, để việc truyền giáo đt được kết quả, Hội Thánh phải được và phải để cho Chúa Thánh Thần đưa dn vào con đưng Chúa Kitô đã đi là nghèo khó, vâng lời, phục vụ và tự hiến cho đến chết, để rồi toàn thắng nhờ sự sống lại của Ngưi, như”hạt giống gieo vào lòng đất nếu chết đi mi sinh được nhiều hạt khác”(Ga 12, 24). Thánh Tertulianô viết:”Máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh Kitô hữu”(x. GLHTCG số 852).

IV.  HỘI THÁNH TÔNG TRUYỀN

       “Hội Thánh được xây trên nền móng vững chắc là mưi hai tông đồ của Con Chiên;Hội Thánh bất diệt;Hội Thánh được gìn giữ không sai lầm trong chân lý:Đc Kitô điều khiển Hội Thánh nhờ Thánh Phêrô và các tông đồ khác mà những người kế nhiệm các ngài là Đức Giáo Hoàng và giám mục đoàn” (GLHTCG số 869).

1.  Ý nghĩa

       Hội Thánh tông truyền vì được xây trên nền tảng các tông đồ theo ba nghĩa (x. GLHTCG số 857):

  •  Hội Thánh đã và đang được xây dựng trên nền móng các tông đồ, là những chứng nhân đã đưc chính Đức Kitô tuyển chọn và sai đi.
  • Hội Thánh , với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, gìn giữ và lưu truyền giáo huấn, kho tàng quý báu, những lời lành mạnh do các tông đồ giảng dạy.
  • Hội Thánh tiếp tục đưc các tông đồ giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn cho đến khi Đức Kitô trở lại nhờ những vị kế nhiệm các ngài là giám mục đoàn, với sự trợ giúp của các linh mục, hiệp nhất với Đc Giáo Hoàng, người kế vị Thánh Phêrô.

    2. Sứ mạng của các tông đ

       Ngay từ lúc khởi đầu sứ vụ, Chúa Giêsu đã kêu gọi và tuyển chọn các môn đệ, thành lập nhóm Mưi Hai để ở với Người và sai họ đi rao giảng Tin Mừng. Sau Phục Sinh, Người truyền cho các ông đi rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc.

       Sứ mạng của các tông đồ là nối tiếp sứ mạng của Chúa Giêsu Kitô:”Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”(Ga 20, 21). Chính Chúa Giêsu đã liên kết sứ mạng của các tông đồ với sứ mạng của Ngưi :cũng như “Người Con không thể tự mình làm  bất cứ điều gì”(Ga 5), nhưng đón nhận tất cả từ Chúa Cha, Đng đã sai Người, thì những ngưi Ngưi sai đi cũng không thể làm gì được nếu không có Ngưi(x. Ga 15, 5) và Ngưi đã hứa:”Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28, 20).

     3. Các Giám mục kế nhiệm các tông đ

       Sứ mạng của Thiên Chúa đưc Đc Kitô trao phó cho các tông đồ sẽ tồn tại cho đến tận thế, bởi vì Tin Mừng các ngài có nhiệm vụ rao truyền phải là lẽ sống của Hội Thánh cho đến trọn đi, cho đến tận cùng thời gian. Vì thế, các tông đ đã lo lắng đặt những người kế nhiệm mình … Chính Chúa đã lập các giám mục  kế nhiệm các tông đồ làm mục tử Hội Thánh”(GH số 20).

      Như thế, bốn đc tính căn bản của Hội Thánh:duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính được thể hiện trong Hội Thánh Công Giáo, do vị kế nhiệm Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển (x. GH số 8).

       Là thành viên của Hội Thánh duy nhất, chúng ta được mời gọi hoán cải tâm hồn để thắng vượt những chia rẽ, bất hòa, cạnh tranh.

       Là thành viên của Hội Thánh thánh thiện, chúng ta hãy sám hối và thanh tẩy, tinh luyện mình,  sống theo chân lý trong tình bác ái và lớn lên về mọi phương din, vươn ti Đng là Đầu, tức là Chúa Kitô.

       Là thành viên của Hội Thánh công giáo, chúng ta hãy góp phần vào công việc rao giảng Tin Mừng.

       Là thành viên của Hội Thánh tông truyền, chúng ta hãy tiếp tục sống sứ mạng mà Đc Kitô đã trao phó cho các tông đ và đón nhận giáo huấn của các tông đồ.

TÓM LƯỢC

(Trích Bản Toát Yếu Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo)

1. H. Tại sao Hội Thánh có đặc tính duy nhất?

    T. Hội Thánh có đặc tính duy nhất vì Hội Thánh có nguồn gốc và khuôn mẫu là sự duy nhất của một Thiên Chúa trong Ba Ngôi;có Đấng sáng lập và làm Đu là Đc Giêsu Kitô, Đấng quy tụ mọi dân tộc trong sự duy nhất của một thân thể;có Chúa Thánh Thần như linh hn, Đấng hợp nhất tất cả các tín hữu vào sự hiệp thông trong Đức Kitô. Hội Thánh có cùng một đức tin, một đời sống bí tích, một chuỗi kế nhiệm tông truyền duy nhất, cùng một niềm hy vọng chung và cùng một đức mến.

2. H. Hội Thánh có đặc tính thánh thiện theo nghĩa nào?

    T. Hội Thánh có đặc tính thánh thiện, vì Thiên Chúa chí thánh là tác giả của Hội Thánh. Đc Kitô đã tự nộp mình vì Hội Thánh, để thánh hóa Hội Thánh và làm cho Hội Thánh có khả năng thánh hóa. Chúa Thánh Thần ban sự sống cho Hội thánh bằng tình yêu. Trong Hội Thánh có tất cả các phương tiện cứu độ. Sự thánh thiện là ơn gọi của từng người trong Hội Thánh và là mục đích của mọi hoạt động của Hội Thánh.

3. H. Tại sao Hội Thánh được gọi là Công giáo?

    T. Hội Thánh được gọi là Công giáo, nghĩa là phổ quát, vì Đức Kitô hiện diện trong Hội Thánh. ”Ở đâu có Đức Kitô Giêsu, ở đó có Hội Thánh Công giáo”(Thánh Inhaxiô Antiôkia). Hội Thánh loan báo sự toàn diện và toàn vẹn của đức tin. Hội Thánh gìn giữ và quản lý tất cả các phương tiện cứu độ. Hội Thánh đưc sai đến với mọi dân tộc ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa của họ.

4. H. Tại sao Hội Thánh có đặc tính tông truyền?

    T. Hội Thánh có đặc tính tông truyền căn cứ vào nguồn gốc của mình, vì Hội Thánh được “xây dựng trên nền tảng các tông đ”(Ep 2, 20). ;căn cứ vào giáo lý là giáo huấn của các tông đ;và căn c vào cơ cấu của mình, vì Hội Thánh được xây dựng, thánh hóa và hướng dẫn cho đến ngày Chúa lại đến, bởi các thánh Tông đồ, nhờ những vị kế nhiệm các ngài là các giám mục hiệp thông với vị kế nhiệm thánh Phêrô.


CHƯƠNG V HỘI THÁNH: BÍ TÍCH DUY NHẤT VÀ PHỔ QUÁT CỦA ƠN CU Đ

“Để quy tụ lại tất cả con cái đã bị tội lỗi làm tản mác và lạc lối, Chúa Cha muốn tập họp toàn thể loài người trong Hội Thánh của Chúa Con. Hội Thánh là nơi loài người tìm lại sự hiệp nhất và ơn cu độ. Hội Thánh là thế giới đã được hòa giải. Hội Thánh là con tàu vượt biển trần gian, theo chiều gió của Chúa Thánh Thần, dưới cánh buồm lộng gió là Thánh Giá của Đức Chúa”(GLHTCG số 845).

Như Đức Kitô là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.  Hội Thánh cũng là phương tiện duy nhất và phổ quát của ơn cu đ.  Là phương tiện duy nhất bởi Đức Kitô là trung gian duy nhất,  là phương tiện phổ quát bởi ơn cu đ Ngưi đem đến là phổ quát cho hết mọi người.

Nhưng trong sứ mạng của mình,  trên bình diện đời sống,  làm sao Hội Thánh có thể dung hòa vừa là phương thế cứu rỗi phổ quát nghĩa là đem ơn cu đ đến cho hết mọi người,  vừa là phương tiện cứu độ duy nhất nghĩa là muốn được cứu độ lại phải thuộc về Hội Thánh?

Trả lời cho những vấn nạn xem ra nghịch lý này tức là cùng lúc phải xét đến: Hội Thánh,  Bí Tích duy nhất của ơn cu độ qua châm ngôn: ngoài Hội Thánh không có ơn cu độ.

Tìm hiểu định thức “Ngoài Hội Thánh không có ơn cu độ” :

– Không ai được cứu độ mà không thuộc về Hội Thánh hoàn toàn hoặc ít nhất bằng ước vọng thầm kín trong lòng.

– Xác quyết này thuộc phạm vi đc tin,  đưc xác định bởi giáo huấn thông thường và phổ quát của Hội Thánh như công đồng Latran: Chỉ có một Hội Thánh duy nhất,  Hội Thánh phổ quát của mọi tín hữu,  ngoài Hội Thánh tuyệt đi không ai được cứu rỗi (D. 430; Công đng Florence D. 714; như các Đức Giáo Hoàng Innôcentê III D. 423,  Bonifaciô D. 468; Lêô XIII D. 1955,  và gần đây Công đồng Vatican II: Hội Thánh lữ hành này là cần thiết cho ơn cu độ.  GH số14).

I.  NGUỒN GỐC CỦA ĐỊNH THỨC

1.  Từ một xác quyết của Kitô Học

Đức Kitô là nguồn ơn cu độ duy nhất,  là nơi gặp gỡ duy nhất giữa Thiên Chúa và loài ngưi.  Kinh Thánh đã nhiều lần minh đnh điu này.  Thánh Phêrô trước công nghị đã phát biểu: “Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đá tng góc tưng . Ngoài Ngưi ra không ai đem li ơn cu độ; vì dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại,  để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu đ” (Cv 4, 11-12).

2.  Đến một xác quyết của Giáo Hội học

Hiệp thông trong ơn cu độ,  Hội Thánh đã nên một với Đc Kitô, nên khước từ Hội Thánh cũng khước từ  Đc Kitô và khước từ Đc Kitô cũng là khước từ Chúa Cha: Ai nghe anh em là nghe Thầy và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đng đã sai Thầy”( Lc 10, 16).

Qua lời nói trên và những lời khác tương t:Ga 3, 5,  Mt 18, 17,  Mc 16, 16,  chính Đc Kitô đã minh nhiên công bố sự cần thiết của đức tin và Phép Rửa,  đồng thời Người cũng xác nhận sự cần thiết của Hội Thánh(x.  GH số14).  Nói cách khác,  trong Đc Kitô có ơn cu độ,  trong Hội Thánh,  hiệp thông trong Chúa Kitô cũng có ơn cu độ.

3.  Để hình thành một Định Thức

Tới thế kỷ thứ 3,  đời sống Hội Thánh phải đối diện với những cuộc ly khai,  các Giáo Phụ trong nội bộ Hội Thánh đã phải lên tiếng răn đe những kẻ ly giáo.  Khoảng năm 240,  Origène đã viết: Ngoài Hội Thánh chẳng ai được cứu độ.  Nếu ai bỏ Hội Thánh,  kẻ ấy phải chịu trách nhiệm về sự hư mất của mình.  Đến năm 250,  Cyprianô cũng đã viết: Nếu ai bỏ Hội Thánh Đức Kitô kẻ ấy sẽ không có được phần thưởng của Đức Kitô.  Không thể có Thiên Chúa là Cha,  nếu không có Hội Thánh là mẹ.

Những bản văn trên dẫu trực tiếp nhắm đến các Kitô hữu rời bỏ Hội Thánh để lập một giáo phái riêng,  gây nên tình trạng đổ vỡ trong tương quan với cộng đoàn Hi Thánh và do đó tự cắt mình ra khỏi dấu hiệu đích thực,  hữu hình và hiệu quả của ơn cu đ.  Nhưng một cách gián tiếp do vận dụng rộng rãi,  đã trở thành một định thức quen thuộc với những ai đã bước vào Hội Thánh,  và ngược lại không ngớt gây hiểu lầm cho những Kitô hữu ngoài công giáo,  cũng như cho những ai còn xa lạ với Hội Thánh.

II.  Ý NGHĨA VÀ TẦM VÓC CỦA ĐỊNH THỨC

Đặt trong bối cảnh hình thành,  định thức ngoài Hội Thánh không có ơn cu độ,  chỉ được áp dụng cho một tình trạng cá biệt của nội bộ đời sống Hội Thánh,  chứ không có tham vọng bao trùm vấn đề phần rỗi cho mọi người.

Vì thế,  việc phân tích định thức sẽ giúp ta thấy lại ý nghĩa:

– Một có tính khách quan thuộc về định chế Hội Thánh là tổ chức duy nhất thích hợp để hiệp thông con người với ơn cu độ của Đức Kitô (x. Mc 9, 38-40).

– Một có tính chủ quan thuộc về con người: Ai do lỗi của mình mà không thuộc về Hội Thánh thì không đưc ơn cu độ (x. Ga 3, 19).

Nhưng đ có đưc định nghĩa rõ ràng như hôm nay ,  Hi Thánh đã phải trải qua một thời gian dài tìm kiếm.

1.  Thời các Giáo Phụ

Hai ý nghĩa trên ít được quan tâm phân biệt.  Có người lẫn lộn cả định thức với con ngưi như trường hợp Fulsence de Ruspe vào đầu thế kỷ IV: Chắc chắn rằng không chỉ những kẻ ngoại mà cả những người Do Thái,  những kẻ lạc giáo và ly giáo khi chết ở ngoài Hội Thánh công giáo sẽ phải vào lửa đi đi.  Có ngưi đã phân biệt ít nhiều như Thánh Augustinô: Ai bảo vệ ý kiến của mình… nhất là khi ý kiến đó… là tha hưởng từ cha mẹ bị lôi kéo vào lầm lạc,  nếu người ấy tìm kiếm chân lý cách đn đo sẵn sàng theo chân lý khi nhận biết thì không bị xếp vào loại lạc giáo (Epist.  43, 1).

2.  Thời Trung Cổ

Khởi đi từ Thánh Tôma,  sự phân chia giữa hai ý nghĩa trên đã được rõ ràng,  đến độ tỉ mỉ cho từng cá nhân ( vô tri hữu ý và vô tình; vô tri khả thắng và bất khả thắng ).  Chính Thánh Tôma còn đi xa hơn để nêu lên vấn đề phần rỗi: Khi một ngưi đến tuổi khôn,  điu đu tiên người ấy nghĩ đến là một việc tự quyết đoán.  Nếu người ấy theo đuổi một mục đích là mc đích thật,  thì nhờ lãnh ơn thánh hóa,  người ấy được giải thoát khỏi tội nguyên tổ.  Tuy nhiên phải thêm rằng sự phân biệt hai ý nghĩa ấy mới chỉ trên lý thuyết,  còn trong vấn đề thực hành phần rỗi chưa tách khỏi nhãn giới Giáo Hội học.

3.  Thời Cải Cách

Đây là khúc quanh quyết định.  Từ thế kỷ thứ 16,  người ta nhận ra rằng: Định thức trên là một nguyên tắc Giáo Hôi học,  ít nhắm đến phần rỗi ngưi này người khác riêng biệt cho bằng nhắm đến tính hợp pháp và tính cần thiết của quy chế Giáo Hội.  Và sang thế kỷ 17,  sự phân biệt hai ý nghĩa đã được khẳng định trong nghiên cứu Thần học cũng như trong giáo hun thông thưng và đời sống mục vụ.

4.  Thời Hiện Đại

Cuối thế kỷ 18,  do ảnh hưởng của trào lưu dng dưng với tôn giáo cộng với chủ nghĩa tự do,  đó đây đã xuất hiện thái đ bài xích định thức.  Như JJ Rousseau: Ai dám nói ngoài giáo hi không có ơn cu độ thì bị trục xuất ra khỏi chính phủ (Contrasocial IV,  8).  Trưc thái độ này,  Hội Thánh một mặt bác bỏ hoàn toàn chủ nghĩa dửng dưng vi ơn cu độ; mặt khác dù lên án những tổ chức,  Hội Thánh vẫn không lên án những cá nhân.

Công đồng Vatican I,  trong dự thảo về Hội Thánh cũng có một chương bàn v định thức “ngoài Hội Thánh không có ơn cu đ”,  đã khẳng đnh: Người ta không phải chịu lỗi trong trường hợp vô tri bất khả thắng.

Và tới Công đồng Vatican II,  vấn đề tế nhị và phức tạp này đã được giải thích thấu đáo trong chương 2 Hiến Chế Giáo Hội,  với những thích ứng cho từng trường hợp: Kitô hữu không công giáo,  Do Thái giáo,  Hồi giáo và cả những kẻ trong bóng tối và qua ngẫu tưng,  thành tâm đi tìm một vị Thiên Chúa mà họ không biết,  cả những kẻ ấy,  Ngài cũng không xa họ… họ có thể được cứu rỗi”(GH số16).

III.  NHỮNG DẠNG THỨC CỦA ĐỊNH THỨC

Từ những phân tích trên đây châm ngôn có th được diễn tả qua những dạng thức khác nhau.

1.  Trong Hội Thánh có Ơn Cu Đ

Dựa trên Kinh Thánh và Thánh Truyền; Thánh công đồng Vaticanô II dạy rằng: Hội Thánh lữ hành là cần thiết cho phần rỗi.

Thực vậy,  chỉ mình Đc Kitô là trung gian và là đường cứu đ.  Người hiện diện giữa chúng ta trong thân thể Người là Hội Thánh.  Chính Ngưi đã minh nhiên công bố sự cần thiết của đức tin và Phép Rửa (x. Mc 16, 16; Ga 3, 5); đồng thời Ngưi đã xác nhận sự cần thiết của Hội Thánh mà mọi người phải bước vào qua Phép Rửa (x. GH số14).

2.  Ngoài Hội Thánh không có Ơn Cu Đ

Khước từ Hội Thánh cũng chính là khước từ ơn cu độ: những ai biết rằng Hội Thánh Công giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Đc Kitô như mt phương tiện cứu rỗi cần thiết mà vẫn không muốn gia nhập hoặc không muốn kiên trì sống trong Hội Thánh  này thì không thể được cứu rỗi (x.  GH số14).

3.  Trong Hội Thánh cũng có thể không có Ơn Cu Đ

Đó là trường hợp mà ở trong Hội Thánh không kiên trì sống đc ái: dù được tháp nhập vào Hội Thánh nhưng nếu không kiên trì  sống trong đức ái thì vẫn không được cứu rỗi.  Vì tuy thể xác họ thuộc về Hội Thánh nhưng tâm hồn họ không ở trong Hội Thánh(x. GH số14).

Đó là trường hợp ở trong Hội Thánh mà không tích cực chăm lo cho phần rỗi của mình: những con cái của Hội Thánh phải nhớ rằng địa vị cao trọng của họ không phải do công đức riêng mình,  nhưng do đặc ân của Đức Kitô. Nếu họ không đáp lại hồng ân ấy bằng tư tưởng,  lời nói và việc làm,  thì không những họ không được cứu rỗi mà còn bị xét xử nghiêm khắc hơn.

4.  Ngoài Hội Thánh vẫn có thể có Ơn Cu Đ

Đó là trường hợp vô tri bất khả thắng hoặc không do lỗi của mình.

– Những kẻ vô tình không nhận biết Tin Mừng và Hội Thánh Đc Kitô ,  nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Chúa và dưới sự tác động của ơn thánh,  họ cố gắng chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong công việc mình theo sựớng dẫn của lương tâm thì họ có thể được cứu rỗi (x. GH số16).

– Cả những kẻ vô tình chưa nhận biết Thiên Chúa cách rõ ràng,  nhưng nh ơn Chúa,  cố gắng sống đời chính trực thì Chúa quan phòng không từ chối ban ơn trợ lực cần thiết để họ được cứu rỗi(x.  GH số16).

Nên ghi nhận rằng cả hai trường hợp vô tình mà được cứu rỗi nêu trên,  không căn cứ vào một thứ thiện tâm vu vơ nào đó,  mà nhất thiết phải dựa trên sự ngay lành,  thể hiện qua suốt chiều dài cuộc sống,  và nhất là do ơn thánh Chúa tác động.

IV.  THUỘC VỀ HỘI THÁNH

Nêu lên những dạng thức khác nhau của định thức tất nhiên không muốn làm thành bảng liệt kê những trường hợp.  Một thứ liệt kê như thế không thể làm được,  vả chăng cũng không cần và nhiều khi lại còn nguy hiểm nữa,  bởi ý định của Thiên Chúa thì tuyệt đối tự do và Hội Thánh cũng tôn trọng tự do của con người nữa.  Để nhận đnh được dung hòa hơn,  một số nhà thần học đã dựa trên ý niệm thuộc về Hội Thánh và kể ra 3 phạm trù:

1. Thuộc về Hội Thánh đy đủ hoặc theo nghĩa mạnh,  giả thiết phải có ba yếu tố tương ứng với ba quyền trong Hội Thánh: giảng dạy,  thánh hóa,  cai trị. Ba yếu tố đó là : tuyên xưng đức tin,  sống Bí Tích và hiệp thông với phẩm trật Hội Thánh .

2. Thuộc về Hội Thánh không đy đủ hoặc theo nghĩa rộng khi thiếu một hoặc hai trong ba yếu tố nêu trên.

3. Chỉ có mối liên hệ nào đó với Hội Thánh nếu không có ba yếu tố nêu trên (K.  Ralner).  Và từ đó định thức lại có thêm một dạng thức không thể có ơn cu độ mà không thuộc về Hội Thánh một cách nào đó.

Tuy nhiên,  đừng xem thuộc về Hội Thánh như một chân lý luận lý rạch ròi theo kiểu đưc ăn cả ngã về không mà phải xem đó như một chân lý của một sự sống chỉ có thể diễn tả theo kiểu: ít nhiều hơn kém.  Và cũng đừng có tham vọng giản lưc ơn cu độ của Thiên Chúa vào trong ranh giới của Hội Thánh ,  một thứ ranh giới chẳng ai có thể xác đnh đưc như kiểu nói của Evdokimov: Ta biết Hội Thánh ở đâu ch ta không được quyền xét định Hội Thánh không ở đâu. 

Tóm lại: Chỉ có một Thiên Chúa,  chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con ngưi là Đức Kitô (x. 1Tm 2,  4-6).  Còn Hội Thánh trong sứ mạng là Bí Tích duy nhất của ơn cu độ không bao giờ có ý nghĩ độc chiếm ơn cu độ ấy mà chỉ muốn mỗi một điều là phụng sự bất vụ lợi và có hiệu quả cho phần rỗi của hết mọi người.

Con người có thể nhân danh tự do của mình mà xa lìa Thiên Chúa,  nhưng Thiên Chúa chẳng muốn xa ai (x. Cv 17, 25-28).  Cũng thế,  con người có thể nhân danh tự do của mình để muốn hay không muốn Hội Thánh,  nhưng Hội Thánh vẫn cứ muốn hết mọi người.  Nếu được cứu độ một cách nào đó thì đã thuộc về Hội Thánh.

TÓM LƯỢC

(Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo)

1. H. Câu khẳng định “Ngoài Hội Thánh không có ơn cu độ” có nghĩa gì?

    T. Câu này muốn nói rằng ơn cu độ xuất phát từ Đc Kitô-là-Đầu thông qua trung gian là Hội Thánh, thân thể Người.  Những ai biết rằng Hội Thánh đưc Đức Kitô thiết lập và cần thiết cho ơn cu độ mà không muốn bước vào hay không bền đỗ gắn bó với Hội Thánh,  thì sẽ không được cứu độ. Ngoài ra,  nhờ Đức Kitô và Hội Thánh Người,  những người,  không vì lỗi mình mà không biết Tin Mừng của Đức Kitô và Hội Thánh Ngưi,  nhưng chân thành đi tìm Thiên Chúa và dưới ảnh hưởng của ân sủng, cố gắng thực hiện ý Thiên Chúa qua sựớng dẫn của lương tâm, vẫn có thể đt đưc ơn cu đ muôn đời.

2. H. Ai thuộc về Hội Thánh Công Giáo?

    T. Tất cả mọi ngưi dưới nhiều hình thức khác nhau, đều thuộc về hay hướng tới sự hợp nhất công giáo của dân Thiên Chúa.  Người hoàn toàn thuộc về Hội Thánh Công giáo là người,  nhận được Thánh Thần của Đức Kitô, kết hợp với Hội Thánh bằng các dây liên kết là việc tuyên xưng đức tin, các bí tích, sựớng dẫn của giáo phẩm và sự hiệp thông. Những ngưi đã được Rửa tội nhưng không thực hiện đy đủ sự hiệp nhất công giáo thì cũng hiệp thông một cách nào đó, tuy là hiệp thông không trọn vẹn, với Hội Thánh Công giáo.


CHƯƠNG VI HỘI THÁNH GIÁO HUẤN

“Để giữ gìn đức tin tinh tuyền do các tông đồ truyền lại, Chúa Kitô muốn cho Hội Thánh Người tham dự vào sự bất khả ngộ của chính Người, vì Người là chân lý. Nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin, Dân Thiên Chúa gắn bó không sờn với đc tin dưới sựớng dẫn của Huấn Quyền sống động của Hội Thánh” (GLHTCG số 888).

“Trách nhiệm mục vụ của Huấn Quyền là giữ gìn Dân Chúa luôn trung thành với chân lý giải phóng. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Chúa Kitô đã ban cho các mục tử đặc sủng không sai lầm về đức tin và phong hóa” (GLHTCG số 890).

Chúa Giêsu là đường,  là sự thật và là sự sống. Như vy, Ngưi mang ba tước vị: Tiên tri  ( sự thật), Tư tế ( sự sống ) và Vương đế ( đưng ).  Ba tước vị đó tương ứng với ba chức vụ: giáo huấn,  thánh hóa và chăn chiên ca Người.

Ngưi cũng đã truyền ba chức vụ đó cho Hội Thánh.  Hội Thánh, vì là thân thể của Chúa Giêsu,  nên cũng là tiên tri,  tư tế và vương đế.

I.  HUẤN QUYỀN CỦA HỘI THÁNH

1.  Đức Giêsu trao quyền giảng dạy cho Hội Thánh

a.  Đc Giêsu sai các Tông Đ đi rao giảng

Anh em hãy đi và làm cho muôn dân tr thành môn đệ, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây Thầy ở cùng anh em moi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,  19-20).

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15).

Việc rao giảng này cần thiết đ khơi đng đức tin.  Thánh Phaolô nói:“Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe?Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng?Làm sao mà rao giảng, nếu không đưc sai đi?nếu không được nghe Tin Mừng,  làm sao có thể nghe Tin Mừng,  nếu không có ngưi đi rao giảng…Vậy, có đức tin là nhờ nghe rao giảng”( Rm 10, 14-17).

b.  Qua Hội Thánh,  Đức Giêsu tiếp tục dạy dỗ ta

Chính Chúa Giêsu xác nhận điều này:” Ai nghe anh em là nghe Thầy;và ai khước từ anh em là khước từ Thầy;mà ai khước từ Thầy là khước từ Đng đã sai Thầy” (Lc 10,  16).

Hội Thánh rao giảng Tin Mừng bằng nhiều đường lối.  Loan báo Tin Mừng là trình bày vắn tắt,  súc tích những điểm chính yếu của Tin Mừng cho mọi ngưi chưa tin.  Huấn giáo ( còn gọi là giáo lý ) là giúp tín hữu đào sâu đức tin của mình.  Giảng thuyết là quảng diễn chân lý đức tin trong khuôn khổ của phụng vụ để giúp tín hữu cử hành phụng vụ cách có ý thức hơn.

Ngoài ra,  Hội Thánh còn dùng nhiều hình thức khác để dạy dỗ tín hữu của mình: Thư chung,  huấn thị,  thông đip,  văn kin,  công đng,  xác đnh tín điều.

c.  Rao giảng và nhiệm tích

Rao giảng đi đôi với nhiệm tích.  Trong lệnh truyền lên đường của Chúa Giêsu,  Người kết hợp rao giảng với nhiệm tích:”Anh em hãy đi và làm cho muôn dân tr thành môn đệ, làm Phép Rửa cho họ”( Mt 28, 19).  Cả hai cùng cần thiết .

Tuy nhiên xét về phương diện thực hiện,  thì rao giảng khẩn thiết hơn nhiệm tích vì rao giảng là điều kiện tiên quyết mở đường cho nhiệm tích.  Muốn lãnh nhận nhiệm tích phải có đức tin,  muốn khơi dy đức tin,  phải được nghe truyền giảng Tin Mừng.

Vì thế,  nếu cần lựa chọn,  giữa rao giảng và ban nhiệm tích,  các Tông Đồ không ngần ngại dành ưu tiên cho rao giảng.  Thánh Phaolô làm chứng: “Đc Kitô đã chẳng sai tôi đi làm Phép Ra,  nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng” (1 Cor 1, 17).

Cũng chính vì phải đặt rao giảng lên hàng đu,  nên các Tông Đ đã trao các công việc vật chất cho các phụ tá để có thể chuyên lo phục vụ Lời Thiên Chúa (x.  Cv 6, 1-7).

2.  Hội Thánh không thể sai lầm khi rao giảng

a.  Tại sao không sai lầm

Chúa Giêsu đã ban Thánh Thần là Thần Chân Lý cho Hội Thánh (x. Ga 14, 16. 17. 28).  Chính Người ở lại với Hội Thánh (x. Mt 28, 20) và qua Hội Thánh,  Người dạy dỗ ta.

Hơn nữa,  Chúa Giêsu muốn đưa ta ti ơn cu đ.  Để thực hiện điều này,  chắc chắn Người phải đặt ra những phương thế cần thiết và hiệu nghiệm.  Nếu Hội Thánh lầm lạc thì không thể dẫn dắt ta theo ý Người.

b.  Khi nào không thể sai lầm

Đặc ân không sai lầm được giới hạn trong hai lãnh vực chân lý đức tin và giáo huấn luân lý,  vì chỉ có hai lãnh vực này liên quan trực tiếp đến ơn cứu rỗi,  nghĩa là thuộc sứ mạng của Hội Thánh.

c.  Những ai không thể sai lầm

-Hội Thánh như một toàn thể duy nhất : không bao giờ toàn thể Hội Thánh lại chấp nhận điều gì nghịch với đức tin; vì Hội Thánh là cột trụ và nền móng của chân lý (x. 1 Tm 3, 15).

-Các đi công đồng khi các quyết đnh đưc Đức Giáo Hoàng chuẩn y.

Công đng không đứng biệt lập,  cũng không hợp thành một quyền lực ngang hàng hoặc ở trên Giáo Hoàng.  Công đồng cần hiệp thông với Đức Giáo Hoàng,  vì thế các quyết định của công đồng chỉ có giá trị sau khi đưc Đức Giáo Hoàng chuẩn y và công bố.

ức Giáo Hoàng khi chính thức công bố một tín điều với tư cách ch chăn.  Tín điu được công bố long trọng với chủ ý buộc toàn thể tín hữu phải tin.  Ví dụ Đức Piô IX công bố tín điu Đức Maria vô nhiễm nguyên tội năm 1854.  Đc Piô XII xác đnh tín điu Đức Maria hồn xác lên trời năm 1950.

Đc Giêsu đã hứa với Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất niềm tin.  Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh”( Lc 22, 32).

Thực ra Hội Thánh ít dùng những hình thức long trọng để dạy dỗ,  nhưng thường dùng những đường lối thông thưng hơn như thông điệp,  huấn thị,  diễn văn,  thư chung.

II.  NỀN TẢNG GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH

Hội Thánh phải dạy những gì chính mình đã nhận được từ nơi Thiên Chúa.  Ai nghe các con là nghe Thầy” (Lc10, 16).  Mọi điều Thầy đã nghe nơi Cha Thầy,  Thầy đã tỏ cho các con biết”(Ga 15, 15).  Nói cách khác,  nền tảng giáo huấn của Hội Thánh chính là lời Thiên Chúa.

1.  Lời Thiên Chúa

a.  Thiên Chúa nói cùng ta

Thiên Chúa đã tự tỏ mình cho ta và tỏ cho ta biết chân lý của Ngài bằng nhiều cách:

– Qua các kỳ công Ngài đã thực hiện trong lịch sử loài người.  Mỗi việc Ngài làm,  mỗi sự cac thiệp vào lịch sử đều nói lên ý định của Ngài.  Những kỳ công này được thuật trong Kinh Thánh.  Toàn thể những việc đó hợp thành lịch sử cứu độ.

– Qua lời Ngài nói với các tổ phụ và các tiên tri.  Những vị này là những người phát ngôn của Thiên Chúa,  công bố cho mọi người biết ý muốn và giáo huấn của Thiên Chúa.

– Chúa Giêsu để tỏ cho chúng ta biết mầu nhiệm; ý định và chân lý của Thiên Chúa một cách trọn vẹn.  Qua con người và giáo huấn của Người,  ta biết Thiên Chúa một cách chắc chắn và gặp chính Thiên Chúa.  Nếu anh em biết Thầy,  thì cũng biết Cha của Thầy.  Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 7. 9). ”Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Ngưi mà đến và chính Ngưi đã sai tôi”(Ga 7, 29).

– Những lời Chúa Giêsu giảng dạy lại đưc các Tông Đồ diễn giảng và truyền lại trong ánh sáng của Thánh Thần.

b.  Thánh Kinh

Một phần các lời Thiên Chúa nói và các việc Thiên Chúa làm đưc ghi thành văn.

Bộ sách này được gọi là Thánh Kinh.  Thánh Kinh do nhiều tác giả khác nhau thuộc nhiều thời khác nhau,  sưu tầm tài liệu có trưc để viết nên.  Các tác giả này được linh hứng,  nghĩa là được Thánh Thần soi sáng,  ớng dẫn để chỉ ghi chép những gì là chân lý của Thiên Chúa,  như Thiên Chúa mun.  Do đó, Thánh Kinh là lời Thiên Chúa không thể sai lầm được.

Như vậy,  Thiên Chúa là tác giả chính của Thánh Kinh.  Người ghi chép chỉ là phương thế( có ý thức và tự do).  Ngài dùng họ để diễn tả điều Ngài muốn dạy.

Thánh Kinh không phải là bộ sách thuần nhất,  vì do nhiều người viết,  vào những thời đại khác nhau,  dùng những thứ văn khác nhau,  viết trong những bối cảnh  tâm lý và lịch sử khác nhau.  Vì thế,  muốn hiểu nội dung của Thánh Kinh,  độc giả cần có một số kiến thức chuyên môn tối thiểu để phân biệt đưc điều diễn tả( nội dung,  chân lý tôn giáo),  và cách diễn tả( thể văn,  hình ảnh,  kiểu nói).  Điều này quan trọng,  nhất là đối với Cựu Ước.

c.  Thánh truyền

Trưc khi đưc ghi thành văn,  li Thiên Chúa đã đưc lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác dưới hình thức truyền khẩu.  Ví dụ cuốn Tin Mừng đầu tiên (Marcô) chỉ được soạn thảo hơn 30 năm sau Phục Sinh,  cuốn Tin Mừng cuối cùng (Gioan) chừng 70 năm sau.

n nữa,  chỉ một phần lời nói và việc làm của Chúa Giêsu được ghi lại trong sách Thánh.  Chính Tông Đồ Gioan làm chứng: “Còn nhiều điu khác Chúa Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (Ga 21, 25).

Phần còn lại tiếp tục đưc lưu truyền trong Hội Thánh bằng truyền khẩu.

Về sau rất nhiều điều truyền khẩu này được ghi lại trong các tác phẩm của các Giáo Phụ( tác giả Kitô giáo 7,  8 thế kỷ đầu).  Vì thế,  lời các giáo phụ được Hội Thánh đón nhn như một chứng từ có giá trị đặc biệt.

Phần truyền khẩu đưc lưu li đó gọi là Thánh Truyền.  Thánh Truyền cũng là một trong những nguồn mạch chân lý đc tin và,  do đó,  cũng là nền tảng Giáo huấn của Hội Thánh.  Nó soi sáng và bổ túc cho Thánh Kinh.

2.  Nhiệm Vụ của Hội Thánh đối với Lời Chúa

a.  Ba nhiệm vụ chính

Lời Thiên Chúa là kho tàng chân lý được trao cho Hội Thánh.  Hội thánh có nhiệm vụ giữ cho kho tàng đó được nguyên vẹn không mất đi.

Lời Thiên Chúa là men,  là ánh sáng,  là chân lý giải thoát và đưa ti ơn cu độ.  Hội thánh có nhiệm vụ mang lời đó tới cho mọi thụ tạo,  đến tận cùng trái đt để mọi dân tộc được nghe Tin Mừng cứu rỗi.

Lời Thiên Chúa có nhiều chỗ khó hiểu,  đặt ra nhiều vấn đề phức tạp,  có thể  hiểu theo nhiều nghĩa.  Cần có một cách giải thích chính thức,  giúp cho mọi người thấy được ý nghĩa thật đớng dẫn đức tin của mình.  Có hiểu theo cùng một nghĩa và là nghĩa thật thì mới giữ được sự hợp nhất đức tin giữa các tín hữu.  Hội Thánh được Chúa Thánh Thần soi sáng để thi hành nhiệm vụ giải thích chính thức.

b.  Hội Thánh chủ huấn và Hội thánh thụ huấn

Hội Thánh chủ huấn gồm Đức Giáo Hoàng và Giám Mục đoàn cùng hiệp nhất với Giáo Hoàng.  Hội thánh chủ huấn là tiếng nói  chính thức của Chúa Giêsu trong lãnh vực chân lý đức tin và luân lý.

Hội Thánh thụ huấn gồm mọi tín hữu,  kể cả các học giả,  thần học gia không thuộc giám mục đoàn.  Nhng người thuộc Hội thánh thụ huấn có thể thông thái Kinh Thánh và Thần Học hơn các vị thuộc Hội Thánh chủ huấn nhưng vẫn không phải là tiếng nói chính thức của Hội Thánh.  Tuy nhiên,  nói như vậy không có nghĩa là Hội Thánh chủ huấn không cần đến tài năng chuyên môn và các công trình khảo cứu của các chuyên gia trong Hội Thánh.

TÓM LƯỢC

(Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý HộiThánh Công Giáo)

1. H. Tại sao Hội Thánh phải loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới?

    T. Bởi vì Đc Kitô đã truyền cho Hội Thánh:”Anh em hãy đi và làm cho muôn dân tr thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”(Mt 28, 19). Mệnh lệnh này của Chúa có cội nguồn là tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đng đã sai phái Con và Thánh Thần Ngài, vì Ngài “muốn cho mọi ngưi được cứu độ và nhận biết chân lý”(Tm 2, 4).

2. H. Các giám mục thực thi sứ vụ giảng dạy của mình như thế nào?

    T. Trong sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, các giám mục có bổn phận loan báo Tin Mừng cho mọi người cách trung thành và có thẩm quyền. Với thẩm quyền của Đức Kitô, các ngài là chứng nhân đích thực của đức tin tông truyền. Nhờ cảm thức siêu nhiên của đc tin, Dân Thiên Chúa, được huấn quyền sống động của Hội Thánh hướng dẫn, gắn bó cách kiên vững với đức tin.

3. H. Sự bất khả ngộ của Huấn Quyền thể hiện lúc nào?

    T. Sự bất khả ngộ thể hiện khi Đc Giáo Hoàng, căn cứ vào thẩm quyền là Mục tử tối cao của Hội Thánh, hay giám mục đoàn trong sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, nhất là khi các ngài họp công đồng chung, công bố một giáo lý có liên quan đến đức tin hay luân lý bằng một hành động dứt khoát, hoặc khi Đức Giáo Hoàng và các giám mục, trong Huấn Quyền thông thường của các ngài, đồng thanh tuyên bố một tín điều dứt khoát. Tất cả các tín hữu đều phải gắn bó với giáo huấn này trong sự vâng phục đức tin.


CHƯƠNG VII HỘI THÁNH THỜ PHƯỢNG VÀ THÁNH HÓA

“Vị giám mục vì là thượng tế có “trách nhiệm ban phát ân sủng của Đức Kitô, vị tư tế tối cao”(x. GH số 26), đặc biệt trong thánh lễ do chính ngài dâng hoặc lo liệu cho các cộng sự viên là các linh mục dâng vì Thánh lễ là tâm điểm của đời sống Hội Thánh đa phương. Giám mục và các linh mục thánh hóa Hội Thánh đa phương bằng kinh nguyện và công việc của các ngài, bằng thừa tác vụ Lời Chúa và các bí tích, bằng gương mẫu”(GLHTCG số 893).

Dân Thiên Chúa là dân tư tế được tham dự vào chức vụ tư tế của Chúa Giêsu. Với phẩm chức này,  Hội Thánh cùng hợp tác với Chúa Giêsu để thờ phượng Thiên Chúa nhờ phụng vụ mà thánh hóa dân Chúa bằng các bí tích.  Anh em là hàng tư tế vương gi” (1. P 2, 9).

I.  HỘI THÁNH LÀ MỘT CỘNG ĐOÀN PHNG TƯ

1.  Phụng tự

Bên cạnh những kinh nguyện và các việc đo đc được Hội Thánh khuyến khích,  còn có những kinh nguyện và nghi thức được Hội Thánh lập ra hoặc nhận làm phương thế thờ phượng chính thức,  gọi là phụng vụ.

Phụng vụ có ba đặc tính:chính thức, cộng đồng và hữu hình.

– Chính thức: chẳng những do Hội Thánh khuyến khích hoặc lập ra,  nhưng còn là lời nguyện tiêu biểu của Hội Thánh,  nhân danh Hội Thánh.

– Cộng đồng: phụng vụ được cử hành nhân danh toàn thể Dân Thiên Chúa vì lợi ích của toàn thể Dân Thiên Chúa.  Hết mọi tín hữu được mời gọi tham dự phụng vụ bằng tâm hồn và bằng hiện diện của mình.

– Hữu hình: tâm tình thờ phượng Thiên Chúa trong phụng vụ còn được diễn tả ra bên ngoài bằng củ chỉ,  lời nói,  tiếng hát.  Tâm tình bên trong chưa đ để tạo nên phụng vụ,  còn cần có sự tham dự hữu hình của thân xác.

Qua nghi thức phụng vụ,  Hội Thánh và mỗi người tham dự:

– Tôn vinh và chúc tụng Thiên Chúa.

– Cảm tạ Ngài vì muôn hồng ân ban cho loài người.

– Đền tạ tội lỗi.

– Xin ơn cho toàn thể thế giới.

2.  Chúa Giêsu trong cộng đoàn Phụng Vụ

Mỗi cộng đoàn phụng vụ là một cuộc tập họp nhân danh Chúa Giêsu.  Chính Người triệu tập dân chúng quanh mình và trong mỗi cuộc cử hành chính Người hiện diện giữa dân.

Chẳng những Chúa Giêsu hiện diện trong cộng đoàn phụng vụ nhưng Người còn là chủ tế cử hành phụng vụ.  Chính Người cử hành qua vị Linh Mục.  Cũng vì thế mà mọi lời nguyện trong thánh lễ đều kết thúc bằng câu: Nhờ Đức Kitô,  con Chúa,  Chúa chúng con.

Những gì được cử hành trong phụng vụ? Mặc dù có nhiều thánh lễ khác nhau,  ( kính các thánh,  kính Đức Maria,  kinh Chúa,  Giáng sinh,  Phục sinh …) nhưng xét cho cùng hết mọi thánh lễ đều nhằm mừng kính Chúa Giêsu trong toàn thể mầu nhiệm của Người.  Mỗi thánh lễ có thể đề cao một mầu nhiệm đặc thù của Ngưi,  nhưng qua mầu nhiệm đc thù đó,  mừng kính toàn thể mầu nhiệm Nhập thể– Thương khó-Chết và Sống lại- Lên trời- Gửi Thánh Thần.

Nói cách khác,  mỗi lần cử hành phụng vụ, Chúa Giêsu đến với ta trong toàn thể mầu nhiệm của Ngưi.  Ngưi đổ trên các cộng đoàn phụng vụ,   trên Hội Thánh và trên toàn thế giới sự sống và nguồn ân sủng Ngưi đã khơi lên nhờ sự chết và sống lại của Người.

3.  Tham dự Phụng Vụ

Hội thánh là một cộng đoàn,  mọi sinh hoạt phụng vụ cũng có tính chất cộng đng.  Do đó,  các tín hữu phải tham gia chủ động vào phụng vụ.  Tham gia bên trong bằng tâm tình,  tham gia bên ngoài bằng cử chỉ,  đi đáp,  hát ca.  Mỗi buổi cử hành phụng vụ phải là một hình ảnh sống động của Dân Thiên Chúa.

II.  HỘI THÁNH THÁNH HÓA NHỜ CÁC BÍ TÍCH

Hội Thánh thánh hóa các tín hữu bằng nhiều cách,  nhưng phương thế thánh hóa chủ yếu của Hội Thánh là các bí tích.

1.  Bí tích là dấu chỉ tôn giáo

a.  Khi cử hành bí tích,  linh mục dùng một số chất liệu thông dụng như nước,  dầu,  bánh,  ợu.  Ngài làm một số cử chỉ với chất liệu đó như đớc,  xức dầu……. cử chỉ đó được kèm theo một lời đọc.

b.  Chất liệu và cử chỉng trưng cho ý nghĩa của bí tích.  Lời đọc diễn giải ý nghĩa này.  Cả ba yếu tố chất liệu,  cử chỉ và lời đọc hợp thành dấu chỉ.  Dấu chỉ này sinh ơn sủng trong tâm hồn người lãnh nhận bí tích,  vì thế gọi là dấu chỉ tôn giáo.

Tóm lại,  bí tích là một dấu chỉ tôn giáo,  nghĩa là một hành vi có ý nghĩa tôn giáo và sinh ơn sng nơi người lãnh nhận bí tích.

2.  Bí tích là hành vi của Chúa Giêsu

Mặc dù linh mục làm cử chỉ  và đọc lời nhưng bí tích không đơn thuần là hành vi của linh mục.  Mặc dù Hội thánh cử hành bí tích,  nhưng bí tích cũng không đơn thuần là hành vi của Hội thánh.  Bí tích là hành vi của chính Chúa Giêsu.  Chính Người hiện diện và tác động.

a.  Ngày xưa

Khi còn ở trần thế,  Chúa Giêsu đã dùng cử chỉ và lời nói để phân phát hồng ân của Người: trừ tà,  chữa bệnh,  tha tội….  Người dùng những cử chỉ hữu hình,  tuy dù nếu Người chỉ muốn trong lòng  mà thôi thì đã đủ.

Người chữa ngưi câm điếc (x. Mc7, 32-37),  lấy bùn chữa người mù (x. Ga 9, 6-7)trục xuất ác thần (x. Lc 8, 23-29) thở hơi để ban Thánh Thần (x. Ga 20, 22).  Chúa Giêsu hành đng như vậy vì Người biết rằng con người có thân xác và giác quan,  nhửng cử chỉ và lời nói có tác dụng làm cho người ta chú ý,  suy nghĩ và hiểu sâu xa hơn.  Chúng cụ thể hóa ân sủng vô hình đưc ban bên trong.  Hơn na,  con ngưi thường muốn có bằng chứng hữu hình đ đưc an tâm.  Bí tích cũng đáp ng đòi hỏi tâm lý đó.

Thực ra,  Thiên Chúa vẫn hành động cùng một đường lối khi lập bí tích.  Ngài đã hữu hình hóa ơn cu độ qua Mầu nhiệm nhập thể thế nào thì Ngài cũng hữu hình hóa ân sủng ban cho người trần bằng các dấu  chỉ hữu hình như vậy.

b.  Ngày nay

Chúa Giêsu tiếp tục ban ân sủng qua các cử chỉ và lời nói mà chính Ngưi đã thiết lập.  Chính Ngưi tác động qua những cử chỉ và lời nói đó.

Các hành vi mà xưa kia Chúa Giêsu đã làm dưới thế để thông ban ân sủng của Người cho những ai đến với Ngưi,  ngày nay được nối dài trong các bí tích.  Nói cách khác,  bí tích hiện tại hóa những hành vi cứu rỗi mà Chúa Giêsu đã thực hiện xưa.  Ví d: xưa Người tha tội cho thiếu phụ ngoại tình (x. Ga7, 53-8, 11),  nay Người tha tội qua Bí tích Giao hòa,  cách thức có khác,  nhưng cũng là mt ơn tha thứ.

Mặt khác,  hiện nay ở bên Chúa Cha , Chúa Giêsu vẫn còn tiếp tục công cuộc cứu thế của Ngưi.  Ngưi luôn thương ban ân sủng xuống trần thế.  Nhưng Người hoạt động cách vô hình. Vậy làm thế nào để ta nhận ra hoạt động của Ngưi và để hoạt động vô hình đó tác dụng trên chúng ta là những con người hữu hình? Nhờ các bí tích,  Chúa Giêsu hữu hình hóa hoạt động cứu thế hiện tại của Người .

Nói tóm lại,  bí tích là hành vi của Chúa Giêsu vì nhiều lý do:

– Chính Người thiết lập chúng.

– Mọi ân sủng trong đó có các ân sng đưc thánh hóa qua các bí tích,  đều bắt nguồn từ sự chết và sống lại của Người.  Hiệu lực của các bí tích hoàn toàn lệ thuộc vào Người.

– Không những Chúa Giêsu thiết lập bí tích,  nhưng Người còn hiện diện trong mỗi bí tích và chính Ngưi tác động mỗi lần cử hành bí tích.  Chính Người cử hành bí tích qua sự hiện diện hữu hình của linh mục.

Bởi thế,  xét về hiệu lực của bí tích,  bản thân và đời sống của linh mục không quan trọng lắm.  Chúa Giêsu có thể dùng những người bất xứng làm phương thế tác động và thông ban ân sủng.

3.  Bí tích là nguồn ân sủng

Vì là hành vi của chính Chúa Giêsu nên bí tích chẳng những là dấu chỉ tôn giáo,  nhưng còn sinh ân sủng.  Mỗi bí tích sinh một loại ân sủng riêng tùy theo chủ đích ca bí tích đó.  Tuy nhiên,  hết mọi bí tích đều giống nhau ở điểm chúng thông ban cho ta sự sống và sự thánh thiện của Thiên Chúa (gọi là thánh sủng),  liên kết ta với Chúa Giêsu và làm ta nên giống Người. ”Thầy là cây nho,  anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái”( Ga15, 5).

4.  Bí tích và Hội Thánh

a.  Hội Thánh phân phát bí tích.

    Hội Thánh dùng các thừa tác viên nhân danh Chúa Giêsu để làm việc này:

– Giám mục có thể cử hành mọi bí tích,  trừ Bí tích Hôn nhân.

– Linh mục có thể cử hành mọi bí tích,  trừ Bí tích Thêm sức, Hôn nhân và Truyền chức thánh.  Các bí tích Thêm sức và Truyền chức thánh dành cho giám mục.  Tuy nhiên,  khi linh mục rửa tội cho người lớn,  thì đồng thời cũng có thể ban Bí tích Thêm sức cho người ấy.

– Trong Bí tích Hôn nhân,  chính đôi bạn cử hánh Bí tích cho nhau.  Linh mục chỉ là người chứng kiến thay mặt Hội Thánh.

– Còn Bí tích Thánh tẩy,  khi cần ai cử hành cũng được,  kể cả những người không phải là kitô hữu,  miễn là có ý làm như Hội Thánh muốn.

b. Chính các bí tích làm nên Hội Thánh.

    Hội Thánh nhân danh Chúa Giêsu cử hành và phân phát bí tích,  nhưng ngược lại các bí tích cũng góp phần xây dựng Hội Thánh.

    Ví dụ: Bí tích Thánh  tẩy tăng số con cái Hội Thánh.  Thánh Thể nuôi sống,  làm Hội Thánh lớn lên và tạo nên hiệp nhất trong Hội Thánh.  Truyền chức thánh cống hiến chủ chăn cho Hội Thánh.

Do đó,  lãnh nhận bí tích là gia nhập Hội Thánh hoặc thuộc về Hội thánh cách đy đủ trọn vẹn hơn.

TÓM LƯỢC

(Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo)

1. H. Phụng vụ có vị trí nào trong đời sống Hội Thánh?

    T. Là hành động tuyệt đối thánh thiêng, Phụng vụ là chóp đỉnh mà mọi hoạt động của Hội Thánh đu hướng tới, đồng thời là nguồn mạch phát sinh mọi năng lực của đời sống Hội Thánh. Qua Phụng vụ, Đức Kitô tiếp tục công trình cứu chuộc chúng ta trong Hội Thánh, với Hội Thánh và nhờ Hội Thánh của Người.

2. H. Các giám mục thực thi sứ vụ thánh hóa như thế nào?

    T. Các giám mục thánh hóa Hội Thánh khi trao ban ân sủng của Đức Kitô bằng việc rao giảng và cử hành các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể. Các ngài cũng thánh hóa Hội Thánh bằng lời cầu nguyện, gương mẫu và việc làm của mình.


CHƯƠNG VIII HỘI THÁNH CHĂN DT ĐOÀN CHIÊN

“Vị mục tử nhân lành phải là khuôn mẫu cho các giám mục trong nhiệm vụ mục vụ. Ý thức những yếu đuối của mình, giám mục có thể cảm thông với những ai dốt nát và lầm lạc. Ngài nên lắng nghe những kẻ thuộc quyền, và ân cần săn sóc h như nhng ngưi con đích thực. Còn các tín hữu, họ phải liên kết với giám mục của mình như Hội Thánh gắn bó với Chúa Giêsu Kitô và như Chúa Giêsu Kitô với Chúa Cha”(GLHTCG số 896).

I.  NHIỆM VỤ CHĂN CHIÊN CỦA HỘI THÁNH

1. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy và thánh hóa,  Hội Thánh còn có bổn phận phải tìm mọi phương thế và biện pháp hữu hiệu để giúp tín hữu đạt tới ơn cu độ cách chắc chắn.  Đó là quyền mục vụ của Hội Thánh.  Quyền này rất rộng,  bất cứ những gì trực tiếp liên quan đến phần rỗi của tín hữu cũng đều nằm trong trách nhiệm của Hội Thánh.

2. Hội Thánh là một mầu nhiệm,  nhưng đồng thời cũng có một tổ chức  và những cơ cấu hữu hình cần phải quản trị,  điều khiển.  Đây cũng là một phần thuộc về quyền mục vụ.

3. Đớng dẫn tín hữu và điều khiển tổ chức của mình,  Hội Thánh cần lập luật.  Những điều khoản căn bản nhất đưc đúc kết trong bộ giáo luật năm 1917.   một bộ luật mới đưc ban hành năm 1983 thay cho bộ luật này.  Mặt khác,  trong Hội Thánh cũng như trong bất cứ đoàn thể nào,  những người lầm lỗi cần được sửa phạt để giúp họ hồi tâm cải thiện và đ ngăn nga người khác vấp phạm theo.

Hình phạt nhằm hai chủ đích:

– Sửa lỗi người sai trái và giới hạn ảnh hưởng xã hội của việc làm sai trái.  Nhưng dù sao trong Hội Thánh sửa phạt là điều bất đắc dĩ.  Nó có tính chất ngăn ngừa và giáo dục hơn là trừng phạt.

– Hình phạt nặng nhất là tuyệt thông.  Người có tội rất nặng và cố chấp không thuộc vế Hội Thánh nữa.  Hội Thánh là Dân thánh của Thiên Chúa cần bảo toàn ơn gọi thánh thiện của mình.

4. Nhiệm vụ chăn chiên còn buộc Hội Thánh phải đặc biệt tìm cách nâng đỡ những tín hữu thiếu thốn,   gặp hoạn nạn hoặc đang trải qua gian lao thử thách về tinh thần cũng như vật chất.

II.  ĐC GIÊSU ĐẶT NHỮNG CHỦ CHĂN

1. Các Tông Đồ và hiện nay là các giám mục là những chủ chăn Chúa Giêsu đã lập: “i đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm guộc như vy;dưi đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy” (Mt18, 18).

2. Chủ chăn ti cao là Đc Giáo Hoàng,  người kế vị Thánh Phêrô trong chức Giám mục Roma:”Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21, 17).

3. Đức Giáo Hoàng không thể chăn chiên mà không có sự chia sẻ của Giám mục.  Ngược lại,  Giám mục cũng không thể chăn chiên mà không hiệp thông với thủ lãnh Giám mục đoàn.

Bởi thế,  khi có lý do chính đáng,  Giáo hoàng có thể rút quyền của một giám mục và cũng có thể can thiệp vào công việc của mỗi giáo phận nếu ích chung đòi hỏi.

4. Tại mỗi giáo xứ,  linh mục quản xứ được giám mục ủy thác nhiệm vụ chăn chiên cùng với các quyền cần thiết cho việc chu toàn nhiệm vụ đó.

III.  BỔN PHẬN VÂNG PHỤC CỦA TÍN HỮU

1. Không phải mọi quyết định của các chủ chăn trong lãnh vực mục vụ lúc nào cũng đúng nhất,  hợp lý nhất.  Có nhiều yếu tố phức tạp chi phối sự lựa chọn của các ngài.  Cũng có khi hoàn cảnh buộc phải làm như vậy vì không thể làm khác được.

Dầu sao một khi các ngài không vượt quá quyền hạn của mình quyết đnh nhân danh Chúa Giêsu,  người tín hữu phải chấp nhận và coi như ý Thiên Chúa.

2. Trong ba lĩnh vực rao giảng,  thánh hóa và mục vụ.  Vâng phục giáo quyền về mặt mục vụ có lẽ là điều khó nhất.  Trong lĩnh vực này,  con người,  tính tình và khả năng của vị chủ chăn chi phối nhiều hơn và chúng ta khó nhận ra ý muốn của Chúa Giêsu hơn.

IV.  HỘI THÁNH VỚI NHỮNG MIỀN ÍT ĐẠO

1. Có những miền cần được Hội Thánh săn sóc đặc biệt hơn về mặt mục vụ,  ví dụ những miền ít đo,  đạo mới hoặc đo cũ nhưng đang sa sút.

    Những miền này gặp nhiều khó khăn hơn về mặt tôn giáo: ít tín hữu,  tín hữu ở tản mác,  ít gặp nhau,  thiếu nơi th phượng hoặc thiếu điều kiện giảng dạy giáo lý cho trẻ nhỏ.

2. Hội Thánh phải giúp đỡ những miền này về mọi mặt: nơi th phượng,  vật dụng,  sách vở,  tiền của,  gửi linh mục, tu sĩ,  giáo lý viên tới,  cầu nguyện thăm viếng.  Các tín hữu ở những miền đưc ưu đãi hơn cũng phải tích cực trợ giúp anh em mình. Khi một chi thể thiếu thốn thì  toàn thân phải lo (x. 1Cor 12, 26).

3. Ngoài ra mỗi tín hữu phải chuẩn bị mình về mọi mặt để khi cần đến có thể sống đạo ở những miền xa xôi hẻo lánh,  ít đạo,  xa nhà thờ,  xa linh mục.  Mỗi người phải có khảng hiểu đo,  có đức tin vững chắc để có thể sống đạo tự lập nếu thiếu linh mục.  Các tín hữu phải tập suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện đ nuôi dưỡng linh hồn.

Khi thiếu thánh lễ và các bí tích,  phải thông thạo giáo lý để chỉ bảo cho nhau và dạy dỗ con cái,  làm như vậy thì có thể giữ đạo cho chính mình,  làm chứng cho Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và truyền đạt lại cho con cháu mình. Phần còn lại Thiên Chúa sẽ quan phòng.

TÓM LƯỢC

(Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo)

1. H. Sứ vụ của Đức Giáo Hoàng là gì?

    T. Đức Giáo Hoàng vừa là Giám mục Rôma vừa là vị kế nhiệm Thánh Phêrô. là nguyên lý và nền tảng trường tồn và hữu hình cho sự hiệp nhất của Hội Thánh. Ngài là vị đại diện Đc Kitô, đng đầu giám mục đoàn và là mục tử của toàn thể Hội Thánh. Vì do Chúa thiết lập, ngài có quyền trọn vẹn, tối cao, trực tiếp và phổ quát trên Hội Thánh.

2. H. Các Giám mục thực thi chức năng cai qun như thế nào?

    T. Mỗi giám mục, với tư cách là thành viên của giám mục đoàn, phải quan tâm cách tập thể đối với mọi Giáo Hội đa phương và Hội Thánh toàn cầu, trong sự hiệp nhất với các giám mục khác kết hơp vi Đức Giáo Hoàng. Giám mục, được ủy thác một Giáo hội đa phương, s điều khiển Giáo hội ấy với thẩm quyền do chức thánh, riêng biệt, thông thường và trực tiếp, nhân danh Đức Kitô, vị Mục Tử Nhân lành, trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh và dưới sự dẫn dắt của Đấng kế nhiệm thánh Phêrô.


CHƯƠNG IX HỘI THÁNH TRONG TRẦN THẾ

“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”(MV số 1).

A.  ĐỐI THOẠI VỚI TRẦN THẾ

Trần thế ở đây được hiểu là xã hội loài người với mọi sinh hoạt chính trị,  văn hóa,  kinh tế của mình.

I.  VỊ TRÍ CỦA HỘI THÁNH ĐỐI VỚI TRẦN THẾ

1. Chính Chúa Giêsu đã xác định vị trí này: các con ở trong trần gian,  nhưng không thuộc về trần gian,  Người dạy các môn đệ phải chu toàn các nhiệm vụ của mình đối với xã hội loài người (ở trong trần gian) nhưng đồng thời phải có tinh thàn siêu thoát trên đường thực hiện vận mệnh vĩnh cửu của mình (không thuộc về trần gian).  Tin Mừng tôn trọng trần thế.  Chỉ kết án sự ác trong trần thế.

2. Các thế hệ Kitô hữu cũng đã hiểu điều này: mình có trách nhiệm với trần thế,  nhưng đồng thời cũng khác biệt với trần thế.

II.  NHỮNG THÁI ĐỘ LỆCH LẠC

Trong thực tế có nhiều hoàn cảnh phức tạp của lịch sử có thể làm cho người tín hữu đã không theo đúng nguyên tắc trên.

Có nhiều thái độ lệch lạc cần tránh:

– Khinh chê các thực tại trần thế và coi chúng là sự ác.

– Không tôn trọng tính tự lập của các thực tại trần thế.  Thần quyền kiêm nhiệm hoặc lấn át thế quyền.

– Người Kitô hữu tự tách mình khỏi trần thế và tự cô lập trong thái độ tiêu cực.

– Không tôn trọng tính đc đáo của tôn giáo.

III.  NỐI LẠI CUỘC ĐỐI THOẠI

1. Trong cuộc đối thoại với trần thế,  Đc Gioan XXIII đã mở đu cho giai đoạn mới theo đưng hướng cởi mở.  Ngài dựa vào những nguyên tắc:

– Đón nhận những yếu tố tích cực của thời đại với thiện cảm.

– Nhìn thế giới trong ánh sáng của Chúa Giêsu.  Mặc dù có tội lỗi và sự ác,  Thiên Chúa vẫn tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Ngài trong thế giới.

– Chỉ bảo tồn chân lý mạc khải thì chưa đủ,  cần phải rao giảng Tin Mừng bằng một ngôn ngữ hợp thời.

2. Công Đng Vatican II theo đuổi sáng kiến của Đức Gioan XXIII :

– Công đồng nói nhiều về thế giới.  Trong Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng,  Hội Thánh đề cập và góp ý về nhiều vấn đề trọng đại của thế giới như khoa học,  kinh tế,  hòa bình thế giới,  gia đình.

– Điếu mới mẻ là chẳng những Công đồng nói về thế giới nhưng còn nói với thế giới.  Đây là tinh thn đối thoại đích thực.  Hội Thánh sẵn sàng thảo luận và làm việc chung với mọi ngưi đ mưu tìm lợi ích cho thế giới trong tinh thần phục vụ,  hoàn toàn vị tha.

– Hội Thánh thực sự cảm thấy mình liên đới với cả loài người trong hy vọng cũng như trong lo âu.  Hội Thánh rất quan tâm đến vận mệnh của thế giới.

B.  TƯƠNG QUAN GIỮA HỘI THÁNH VÀ TRẦN THẾ

I.  NGUYÊN TẮC CĂN BẢN

1.  Khác biệt giữa Hội Thánh và trần thế

– Khác biệt về bản chất

Hội Thánh không phải là một tổ chức đơn thuần trần thế do ý muốn của các thành viên tạo nên,  nhưng là một cộng đồng vừa thần linh vừa trần thế do ý muốn của Thiên Chúa.

– Khác biệt về chủ đích

Hội Thánh theo đuổi một chủ đích siêu nhiên, siêu trần thế.  Chủ đích cuối cùng mà Hội Thánh nhắm là mang ơn cu độ của Chúa Giêsu đến cho trần thế.  Chủ đích này là tính cht tôn giáo và đem li cho con người một cuộc giải thoát toàn diện.

2.  Trách nhiệm  của Hội Thánh với  trần thế

Hội Thánh nhận thấy mình có trách nhiệm góp phần phục vụ mọi ngưi.  Theo cương vị và hợp với bản chất tôn giáo của mình.  Tại sao Hội Thánh lại có trách nhiệm? Theo công đồng Vatican II :

– Vì Hội Thánh là bạn đồng hành của xã hội trần thế.

– Vì con cái của Hội Thánh cũng là thành viên của xã hội trần thế.

– Vì Hội Thánh có sứ mạng mang ơn cu độ của Chúa Giêsu đến cho toàn thế giới.

– Vì Hội Thánh là phương thế liên kết giữa loài người với Thiên Chúa và loài người với nhau.

II.  HỘI THÁNH CÓ THỂ ĐÓNG GÓP GÌ CHO TRẦN THẾ

Ngoài việc đem ơn cu đ đến cho thế giới là nhiệm vụ tôn giáo thiết yếu của mình.  Hội Thánh còn phục vụ xã hội loài người bằng nhiều cách khác.

1.  Giúp cho mỗi người suy nghĩ và hiểu được ý nghĩa cuộc sống của mình (bộc lộc ý nghĩa nhân sinh).

2.  Bảo vệ,  bênh vực phẩm giá con người.

3.  Góp phần củng cố cộng đồng nhân loại bằng cách cổ võ tinh thần tương trợ và hiệp nhất.

III. HỘI THÁNH CÓ THỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG GÌ TỪ TRẦN THẾ

Xã hội trần thế có thể giúp cho Hội Thánh chu toàn nhiệm vụ tôn giáo của mình cách hữu hiệu hơn.

1. Những tiến bộ về văn hóa,  khoa hc giúp cho con người hiểu rõ mình hơn và như vậy tạo điều kiện cho con người dễ khám phá ra chân lý hơn.

2. Nhờ những tiến bộ về văn hóa,  tâm lý, kỹ thuật ngày nay,  Hội Thánh có thể tìm ra những cách thức và những phương thế diễn đạt và phổ biến Tin Mừng thích hợp với thời đi hơn.

3. Hội Thánh cũng là một tổ chức hữu hình có một cơ cu nào đó(mặc dù yếu tố hữu hình là phụ thuộc).  Hội Thánh có thể dựa vào những kinh nghiệm về tổ chức xã hội đ canh tân cơ cấu và sinh hoạt của mình.

C.  TÔN GIÁO VÀ SINH HOẠT CÔNG DÂN

I.  KHÔNG THỂ TÁCH BIỆT TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ

Chính trị được hiểu theo nghĩa nguyên thủy của nó,  nghĩa là tất cả những gì liên quan đến sinh hoạt của người công dân trong xã hội.

1.  Trong thực tế khó xác định ranh giới dứt khoát giữa tôn giáo và chính trị

Các hành vi của con ngưi đu liên đới với nhau,  chi phối lẫn nhau.  Một hành vi tôn giáo có thể có một ý nghĩa chính trị nào đó,  cũng như mt thái độ chính trị có thể có một ảnh hưng tôn giáo nào đó.

2. Trong sinh hoạt cụ thể của mình người tín hữu vừa phải sống đức tin vừa phải chu toàn bổn phận công dân.  Chính trong sinh hoạt cụ thể này mà lĩnh vực tôn giáo và chính trị gặp nhau.

3. Sinh hoạt công dân có thể đặt nhiều vấn đề cụ thể phải giải quyết cho đức tin.

4. Trong sinh hoạt công dân của mình,  người tín hữu cần đưc đc tin hướng dẫn.

II.  KHÔNG THỂ TÁCH BIỆT NHƯNG CẦN PHÂN BIỆT

1.  Chính trị tự lập

– Tin Mừng của Chúa Giêsu đặt ra nhiều nguyên tắc cơ bản có thểớng dẫn sinh hoạt công dân của tín hữu.  Tuy nhiên, Tin Mừng không đưa ra những quyết định chính trị cụ thể vì đó là trách nhiệm riêng của mỗi tín hữu.

– Muốn đi đến những quyết đnh đúng đắn,  chẳng những phải nắm những nguyên tắc của Tin Mừng nhưng còn phải phân tích và đánh giá cho đúng các sự kiện xã hội cụ thể.

Có nhiều khi cùng một nguyên tắc,  lúc đem áp dụng vào thực tế lại đưa tới nhiều thái độ khác nhau. Sự khác biệt này là do cách phân tích và đánh giá chủ quan của mỗi ngưi đói với cùng một sự kiện xã hội.

2.  Tôn giáo tự lập

-Tôn giáo theo đuổi một chủ đích rng và xa hơn chính trị.  Chính trị nhằm tổ chức cuộc đời hiện tại,  mưu tìm hạnh phúc trần thế.  Còn tôn giáo tìm ơn cứu dộ cho cả xác lẫn hồn,  cả trong cuộc đời hiện tại lẫn ở thế giới bên kia.

-Tôn giáo không thay thế chính trị,  nhưng có thể bổ túc cho chính trị.  Chính trị rất quan trọng nhưng cũng chỉ là một phần hoạt động của con người toàn diện.  Con người còn có nhiều nguyện vọng khác.  Tôn giáo tìm cách đáp ứng những nguyện vọng đó.

-Con người phải nỗ lực mưu tìm hạnh phúc tối đa ngay ở trần thế.  Điu này chính đáng và cần thiết.  Người tín hữu không thể sao nhãng trách nhiệm này.  Nhưng đức tin còn dạy thêm rằng hạnh phúc chung cục chỉ có thể đạt tới trong Nước Trời.

III.  SỰ ĐÓNG GÓP CỦA TÔN GIÁO

1. Đức tin chân chính thúc giục người tín hữu tận tâm phục vụ công ích,  góp phần xây dựng công trình xã hội và hạnh phúc chung cho đồng lọai.

2. Đc tin soi sáng ý nghĩa đời sống,  do đó có thể giúp cho tín hữu đạt tới những lựa chọn chính trị hợp với công lý và yêu thương là hai giá trị chủ yếu của Tin Mừng.

3. Tôn giáo đề cao giá trị siêu việt của con người ( hình ảnh của Thiên Chúa).  Đó cũng là mc tiêu đích thực mà chính trị theo đuổi bằng những đường lối và phương pháp riêng.

4. Đức tin thắp sáng lòng cậy trông nơi người tín hữu và đem lại cho sinh hoạt công dân của họ một động lực mới.  Không chán nản trước những khó khăn mình có thể gặp phải,  người tín hữu kiên tâm xây dựng cuộc sống trần thế và hiểu rằng việc xây dựng cuộc sống trần thế là một giai đoạn,  một phương thế xây dựng Nước Trời mai sau.

5. Chính trị ao ước xây dựng một thé giới đi đng,  huynh đệ,  công bình.  Bằng quyết tâm chống lại tội ác và bằng sức mạnh hòa giải,  tha thứ,  tôn giáo tiếp tay với hết mọi ngưi thiên chí để thực hiện từng bưc ước vọng cao cả đó.

IV.  HỘI THÁNH GIỮA LÒNG THẾ GIỚI

Hội Thánh hôm nay muốn đt tương quan với thế giới một cách khác hơn.  Công Đồng Vatican II là cả một nỗ lực suy tư về Hội Thánh: bên kia những cố gắng hòa giải,  thu thập những dữ kiện đích thực từ Thánh truyền cho đến những suy tư về vị trí cụ thể của Hội Thánh trong thế giới,  Hội Thánh tái lượng giá mối tương quan này và cập nhật hóa để mở cửa ra cho thế giới,  hòa hợp với thế giới là nơi Thiên Chúa hot đng để cứu rỗi loài người.  Hội Thánh không thuộc về thế giới,  dù rằng Hội Thánh ở trong thế giới. Tuy nhiên,  Hội Thánh không những không xa lạ với thế giới mà còn có sứ mạng cho thế giới.

Như vậy,  Hội Thánh ở trong thê giới và lịch sử,  nhưng thế giới và lịch sử hội nhập vào trong trật tự mới:Đức Kitô là nguyên lý và Hội Thánh là dụng cụ thực thi.  Hội Thánh và thé giới không phải là hai khu vực địa lý,  nhưng chỉ là một trong viễn tượng cánh chung.

     Như men trong bt,  như hồn trong xác,  Hội Thánh ở trong thế giới như một sự sống chan hòa tất cả và có sứ mạng qui tụ tất cả về một đầu mối là sự sống Thiên Chúa trong Đức Kitô.  Chính vì thế có thể nói như cha Yves Congar: Giáo xứ của tôi là cả một thế giới bao la hoặc như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II : con ngưi là con đường của Hội Thánh (Redemptor hominis số 14).

Tóm lại,  sau khi đã tìm hiểu về Mầu nhiệm Hội Thánh,  vấn đ đưc đặt ra là: có thể định nghĩa Hội Thánh được không? Phần đông lp trường cho rằng: Hội Thánh quá phong phú nên không thể đnh nghĩa được.  Trong mỗi hoàn cảnh lịch sử đều có những điểm nhấn.

– Hội Thánh như một xã hội.
– Hội Thánh như một hiệp thông.
– Hội Thánh là Nhiệm thể của Đức Kitô.
– Hội Thánh như một Bí Tích.
– Hội Thánh là Dân Thiên Chúa.
– Hội Thánh như ngôi vị mầu nhiệm.
– Hội Thánh là cộng đoàn.

Nhưng định nghĩa nào cũng có giới hạn nên hiện nay người ta trở lại với những hình ảnh Kinh thánh có tính diễn tả mầu nhiệm Hội Thánh.  Hội Thánh là mầu nhiệm,  nên chỉ biết được Hội Thánh nhờ Mạc khải và dù đã được mạc khải cũng chẳng thể hiểu hết về Hội Thánh.  Ý nghĩa của Hội Thánh chỉ thực sự trọn vẹn trong viên mãn.  Trong tình trạng lữ hành,  Hội Thánh vẫn tiếp tục thể hiện chính mình,  vẫn còn tiến triển.  Chúa Thánh Thần đã, đang và sớng dẫn Hội Thánh.