(Tertio Millennio Adveniente – The Coming Third Millennium)
Tông thư của Đức Thánh Cha Gioan-Phaol6 II
ban hành ngày 10-11-1994
về việc Giáo Hội Công Giảo sửa soạn mừng Đại Năm Thánh 2000
4 Việc Sửa Soạn Mừng Gần
29 Nằm trên bối cảnh của một bức phông bao rộng (sweeping panorama) như thế, hiện lên một vấn nạn như thế này: đó là làm sao chúng ta có thể phác họa được một chương trình chi tiết để khởi xướng cho cuộc sửa soạn thẳng vào cuộc Đại Hỷ hay chăng? Thật vậy, những gì được nói đến trên đây đã bao gồm cả những yếu tố cho một chương trình như vậy. Một dự án càng chi tiết về những diễn tiến đặc biệt lại càng cần phải được tham khảo rộng rãi, để nó không mất đi tính chất nguyên thủy và không kho áp dụng tại các Giáo Hội riêng biệt ở trong những hoàn cảnh khác nhau. Vì lý do này, Tôi muốn tham khảo ý kiến những vị chủ tịch của các hội đồng giám mục, nhất là các vị hồng y.
Tôi biết ơn các vị trong Hồng Y Đoàn, đến họp trong một hội nghị bất thường vào ngày 13-14/6/1994, đã đưa ra một số những dự án và đã đề nghị về các chỉ dẫn hữu ích. Tôi cũng cám ơn qúi huynh trong hàng giáo phẩm, bằng những cách thức khác nhau, đã chuyển đạt những ý tưởng đáng qúi mà Tôi đã cẩn thận lưu tâm đến trong khi viết bức tông thư đây.
30 Cuộc tham khảo này làm sáng tỏ điều đề nghị thứ nhất về thời kỳ sửa soạn. Giờ đây chỉ còn vài năm nữa thôi là tới năm 2000: Cần phải chia thời kỳ này ra làm hai giai đoạn, để ý đến giai đoạn sửa soạn của 3 năm cuối cho kỹ lưỡng hơn. Thiết tưởng chồng chất nhiều sinh hoạt cho một thời gian sửa soạn dài sẽ làm phân tán việc chuyên chú về tinh thần. Bởi thế để tiến đến ngày lịch sử này, thích hợp nhất là ở giai đoạn đầu, làm sao cho tín hữu nhận thức được những đề tài tổng quát, rồi chú ý đến việc sửa soạn trực tiếp và nhấm thẳng vào thời kỳ thứ hai, bao gồm một giai đoạn 3 năm, hướng đến việc cử hành mầu nhiệm Chủa Kitô cứu thế.
A Thời Kỳ Thứ Nhất:
31 Thời kỳ thứ nhất vì thế có đặc tính của việc tiền chuẩn bị; nó có một mục đích là làm sống lại nơi người Kitô hữu nhận thức về giá trị và ý nghĩa của cuộc mừng năm 2000 theo lịch sử loài người. Là một cuộc tưởng niệm việc Chúa Giêsu giáng sinh, cuộc kỷ niệm mừng này phải được đi sâu vào chiều kích Kitô học.
Trong việc tiếp tục tỏ ra đức tin Kitô giáo bằng lời nói cũng như bí tích, nhất là trong cuộc kỷ niệm đặc biệt này, cũng cần phải liên kết giữa việc tổ chức tưởng niệm và việc tổ chức cử hành, để không phải chỉ tường niệm biến cố theo tư tưởng, mà còn làm cho tầm quan trọng cứu độ được hiện diện qua việc cử hành các bí tích nữa. Cuộc cử hành kỷ niệm mừng này phải làm cho những Kito hữu hom nay đây vững mạnh trong đức tin của họ nơi Thiên Chua, Đấng đã mạc khải chính mình ra qua Đức Kitô, nâng đỡ đức cậy của ho, cho nó vươn lên theo lòng mong ước muốn được hưong sự sống đời đời, và thấp lại đức mến của họ trong việc tích cực phục vụ anh chị cm của mình.
Trong giai đoạn thứ nhất (1994-1996), nhờ một tiểu ban được thiết lập cho mục tiêu này, Toà Thánh sẽ gợi ý những vấn đề suy tư và hành động trên lãnh vực hoàn vũ. Những ủy ban tương đương ở các Giáo Hội địa phương cũng phải có một nỗ lực tương tự trong việc đề cao nhận thức một cách thực tỉ mỉ hơn nữa. Vấn đề là làm sao, bằng một đường lối nào đó, có một sự liên tục giữa điều được thực hiện trong giai đoạn sửa soạn xa thì đồng thời cũng kéo dài cả trong giai đoạn tiếp tới, để mang lại một cảm nhận sâu xa hơn về những phương diện quan hệ nhất đến cuộc cử hành kỷ niệm mừng này.
32 Một cuộc mừng bao giờ cũng là một dịp của ơn ban đặc biệt, một ngày được Chúa chúc phúc. Thế nên, như đã nhận định, nó là một thời điểm vui mừng. Cuộc mừng năm 2000 có ý nghĩa phải là một cuộc nguyện cầu long trọng của chúc tụng và tạ ơn, cách riêng vì tặng ân nhập thể của Con Thiên Chủa và của ơn cứu chuộc mà Người đã hoàn thành. Trong năm mừng kỷ niệm này, các Kitô hữu, với một đức tin cao vời mới mẻ, sẽ đứng trước tình yêu của Chúa Cha, Đấng đã ban Con Mình “để ai tin vào Con sẽ không chết song sẽ được sự sống đời đời” (Jn.3:16). Và với một cảm thức dấn thân sâu xa, họ cũng sẽ thể hiện lòng biết ơn của mình đối với tặng ân được ban cho có Giáo Hội mà
Chúa Kitô thiết lập như “một thứ bí tích hay dấu hiệu hiệp thông thân tình với Thiên Chua va hiệp nhất tất cả loai người” (hien chế Lumen Gentium, đoạn 1). Lòng biết ơn của họ sẽ bao gồm những hoa trái thánh thiện đã chín mùi nơi cuộc sống của tất cả những người nam nữ, mà qua mọi thế hệ và mọi giai đoạn lịch sử, đã tiếp nhận tặng ân cứu rỗi cách trọn vẹn.
Tuy nhiên, niềm vui của mọi cuộc mừng, trước hết, là niềm vui được đặt trên việc thứ tha tội lỗi, trên nỗi hân hoan cải thiện. Vì thế, cũng cần nhấn mạnh một lần nữa đến chủ để của Thượng Hội Đồng Giam Mục năm 1984 về thống hối và hòa giải (tông huấn Reconciliatio et Paenitentia, 2/12/1984). Thượng hội đồng này là một biến cố trọng đại ngoại thường trong sinh hoạt của Giáo Hội hậu công đồng. Thượng hội đồng này đào sâu vào vấn đề từng liên quan đến việc cải hối
(metanoia), một việc cải hối, về phía cá nhân cũng như cộng đồng, cần phải có trước khi đi đến việc hòa giải với Thiên Chúa.
33 Bởi thế, trong khi thiên niên thứ hai gần hết, Giáo Hội càng cần phải hoàn toàn nhận thức được tội lỗi của con cái mình, nhớ lại tất cả những lúc, trải qua theo giòng lịch sử, họ đã xa rời tỉnh thần của Chủa Kitô và Phúc Âm của Người, thay vì hiến cho thế giới một chứng từ của một đời sống được thúc đẩy bởi những giá trị đức tin, thì lại tìm thỏa mãn bằng những cách suy tư cũng như bằng tác hành dưới những hình thức thực sự phản chứng tá và gây gương mù.
Được tháp nhập vào Chúa Kitô, mặc dù là thánh, Giáo Hội không hề mệt mỏi trong việc thực hiện việc thống hối: Trước nhan Thiên Chúa và trước mặt con người, Giáo Hội luôn luôn công nhận những người con nam nữ tội loi như là của rieng mình. Như hiến chế Lumen Gentium đã xác nhận: “Ôm ấp những tội nhân trong lòng của mình, Giáo Hội vừa thánh thiện mà cũng luôn luôn cần phải được thanh tẩy, và không thôi theo đuổi đường lối thống hối và canh tân” (đoạn 8).
Cánh cửa thánh của cuộc mừng năm 2000 phải là một biệu hiệu rộng hơn cánh cửa của các cuộc mừng trước đây, bởi vì, nhân loại trong khi tiến đến đích điểm này phải bỏ lại sau lưng không phải chỉ một thế kỷ mà là một ngàn năm. Thế nên, Giao Hội phải thực hiện cuộc vượt qua này với một ý thức rõ ràng về những gì đã xẩy ra cho Giao Hội trong 10 thế kỷ qua. Giáo Hội không thể nào bước qua ngưỡng cửa của một thiên niên mới mà không thôi thúc con cái của mình, bằng việc thống hối, thanh tẩy những lỗi lầm quá khứ cũng như những lúc bất trung, bất nhất và hành động chậm chạp. Công nhận những yếu đuối qủa khứ là một hành động tự trọng và can đảm, giúp chúng ta tăng cường đức tỉn, làm cho chúng ta tỉnh táo để đối diện với những cám dỗ và thử thách hiện tại, cũng như để có thể đương đầu với chúng.
34 Trong số những tội lỗi cần phải dứt khoát thống hối và cải thiện, chắc chắn phải kể tới những tội lỗi đã làm thiệt hại đến niềm hiệp nhất theo ý Thiên Chua muốn nơi dân của Người. Trong giòng lịch sử 1000 năm mà giờ đây đang đến hồi kết thúc, việc hiệp thông hội thánh, còn hơn cả trong ngàn năm đầu, đã bị tổn thương một cách xót đau, một sự kiện “mà có những lúc cả hai bên đều phải trách mình” (sắc lệnh Unitatis Redintegratio, đoạn 3). Những vết thương như thế hiển nhiên là phản lại với ý muốn của Chúa Kitô và gây gương mù cho thế giới (cùng đoạn sắc lệnh trên). Những tội lỗi quá khứ này, bất hạnh thay. vẫn còn đè nặng trên chúng ta và vẫn từng là những thử thách hiện nay. Cần phải thực hiện những bổ khuyết cho chúng, và tha thiết xin Chúa Kitô thứ tha.
Vào những năm cuối cùng của thiên niên này, Giáo Hội phải khẩn xin Chúa Thánh Thần, tha thiết hơn nữa, cầu cùng Người ban cho chúng ta ơn hiệp nhất Kito giao. Đây là một vấn đề quan thiết không thể thiếu trong việc chung ta làm chứng cho Phúc Am trước mặt thế gian. Đặc biệt từ Công Đồng Chung Vaticanô II, nhiều cuộc xướng xuất có tính cách đại kết đã được đảm trách một cách tận tnh và tận lực: Có thể nói, vào những năm gần đây, toàn thể sinh hoạt của các Giáo Hội địa phương cũng như của Hội Thánh đã dính dáng đến chiều kích đại kết. Hội Đồng Phát Động Hiệp Nhất Kitô Giáo đã trở nên một chất kích tố quan trọng (catalyst) trong phong trào hướng đến cuộc hiệp nhất trọn ven.
Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều biết rằng để đạt được mục tiêu này không phải chỉ là do nỗ lực của con người mà thôi, cho dù không thể thiếu nó đi nữa. Xét cho cùng thì hiệp nhất là tặng ân của Chúa Thánh Thần. Chúng ta cần phải mau chóng đáp lại tặng ân này, mà không mập mờ trong việc làm chứng cho chân lý, sẵn sàng áp dụng những chỉ dẫn được Công Đồng phác họa, cùng với những văn kiện theo sau của Tòa Thánh, cũng là những văn kiện đáng giá đối với nhiều Kitô hữu chưa hoàn toàn hiệp thông với Giao Hội Công Giáo.
Thế thì đây là một trong những công việc của các Kitô hữu trong thời gian chúng ta tiến đến năm 2000. Tận điểm của đệ nhị thiên niên đang tiến tới đòi mọi người phải khảo sát lương tâm và phải coi trọng những xướng suất có tính cách đại kết thích hợp, để chúng ta có thể cử hành cuộc Đại Hỷ, nếu chưa hoàn toàn hiệp nhất với nhau thì ít ra cũng xích lại gần nhau hơn là những chia rẽ của thời đệ nhị thiên niên. Như mọi người nhận thấy, về vấn đề này, còn cần phải nỗ lực rất là nhiều. Nỗ lực rất là nhiều này là một điều thiết yếu, không những để tiếp tục theo con đường đối thoại về những vấn đề tín lý, mà trên hết là để quyết tâm hơn nữa trong việc cầu nguyện cho cuộc hiệp nhất Kitô giao. Việc cầu nguyện như vậy sau Công Đong cang tro nen khẩn trương, nhưng nó còn cần phải tăng thêm nữa, bao gồm số Kitô hữu nhiều hơn bao giờ hết, để hiệp nhất với lời khẩn nguyện của Chúa Kitô trước cuộc vượt qua của Người: “Lạy Cha … để họ tất cả cũng được nên một trong chúng ta” (Jn.17:21).
35 Một chương lịch sử đau thương khác mà các đứa con nam nữ của Giáo Hội phải quay về với một tỉnh thần thống hối, đó là chương lịch sử, nhất là trong một số thế kỷ, về việc chiều theo tính bất nhẫn, và ngay cả việc dùng bạo lực, để phụng sự cho chân lý.
Đúng thế, một phần đoán chính xác có tính cách lịch sử không thể nào lại cố tình bỏ qua việc tìm hiểu cẩn thận bối cảnh văn hóa của thời đại, một phần đoán mà căn cứ vào đó nhiều người lòng ngay lại chủ trượng rằng, việc làm chứng thực sự cho chân lý có thể bao gồm cả việc đàn áp những ý kiến của kẻ khác, hay ít là không để ý gì đến những ý kiến đó. Nhiều yếu tố thường trùng hợp để tạo nên những giả thuyết biện minh cho việc bất nhẫn, đồng thời nung nấu một bầu khí sôi động, mà chỉ có tỉnh thần cao cả, thật sự tự do và đầy Thiên Chúa, mới có thể giải tỏa bằng một cách nào đó. Mặc dù có xét đến những căn cớ để làm cho sự việc nhẹ hơn đi nữa, thì Giáo Hội cũng không thể nào được miễn trừ khỏi việc cần phải tỏ ra một niềm tiếc xót sâu xa, đối với những yếu đuối của rất nhiều con cái nam nữ của mình, đã làm ẩm muội đi dung nhan Giáo Hội, khiến Giáo Hội không hoàn toàn phản chiếu hình ảnh của một vị Chua tử giá là mẫu chứng siêu việt cho một tình yêu nhẫn nhịn và một đức hiền lành khiêm hạ. Từ những giây phút quá khứ đau thương này, có thể rút ra một bài học cho tương lai, dẫn tất cả mọi Kitô hữu đến việc hoàn toàn gắn chặt lấy nguyên tắc mà Công Đồng đã phát biểu: “Chân lý không thể nào tự mình áp đặt, ngoại trừ vì chính sự xác thực của nó, nếu nó muốn dùng cả sự dịu dàng lẫn mãnh lực để chiếm lấy tâm trí con người” (tuyên ngôn Dignitatis Humanae, về tự do
tôn giáo, đoạn 1).
36 Nhiều vị hồng y và giám mục đã tỏ ý muốn, trước hết, phải có một cuộc khảo sát lương tâm cẩn thận về phiá Giáo Hội hôm nay. Trước ngưỡng cửa của một tân thiên niên, Kitô hữu cần phải khiêm tốn đặt mình trước nhan Chúa, xét mình về trách nhiệm mà họ cũng phải gánh chịu đối với những sự dữ của thời điểm chúng ta. Thật vậy, tuy có nhiều sáng sủa, thời hiện đại này cũng không phải là không có ít nhiều bóng tối.
Chẳng hạn, chúng ta làm sao có thể giữ im lặng về tình trạng lạnh nhạt đạo đức làm cho nhiều người hiện nay sống như không có Thiên Chúa, hay sống theo một lòng đạo mơ hồ, không có khả năng nắm vững vấn đề chân lý, cần phải trước sau như một. Thêm vào đó, còn phải kể đến tình trạng mất đi một cách sâu rộng cái ý nghĩa siêu việt về sự sống con
người, cũng như phải kể đến tình trạng lẫn lộn trong lãnh vực đạo lý, ngay cả về những giá trị căn bản trong việc tôn trọng sự sống và gia đình. Về mặt này, ngay những người con nam nữ của Giao Hội nữa cũng cần phải xét mình lại, Họ đã bị nhuốm phải bầu khí của phong trào tục hóa (secularism) và khuynh hướng đạo lý tương đối (ethical relativism) đến đâu? Và họ phải gánh chịu trách nhiệm nào trong việc làm cho tình trạng thiếu lòng đạo tăng lên, vì họ không chứng tỏ được dung nhan chân thật của Thiên Chua, bởi đã “không sống theo cuộc sống tôn giáo, luân lý hay xã hội của mình” (hiến chế Gaudium et Spes, đoạn 19)?
Không thể nào phủ nhận được rằng, đối với nhiều Kitô hữu, cuộc sống tâm linh của họ đang trải qua một thời gian chao đảo, gây ảnh hưởng cho chẳng những đời sống luân lý của họ mà cả đến đời sống cầu nguyện cũng như tư tường đúng đần về thần học theo đức tỉn của ho nữa. Đức tin, bị thử thách bởi những thách đố của thời đại chúng ta đã vậy, đôi khi còn bị hướng dẫn lệch lạc bởi những quan điểm thần học sai lầm, gây ra bời tệ nạn đang sôi động lan truyền trong việc ngang nhiên bất phục tùng quyền giáo huấn của Giáo Hội .
Về vấn đề liên quan đến Giáo Hội trong thời đại của chúng ta đây, làm sao chúng ta không ngậm ngùi trước tình trạng thiếu ý thức, thậm chỉ có những lúc nhiều Kito hữu con ung theo việc phạm đến những quyền làm người căn bản, gây ra bởi những chế độ độc tài chuyên chế? Và chúng ta cũng không tiếc xót sao được, trong số những bóng tối nơi thời điểm của chúng ta, trách nhiệm mà rất nhiều Kitô hữu phải gánh chịu đối với những hình thức bất công và tẩy chay? Vấn để được đặt ra là có bao nhiêu Kitô hữu thực sự hiểu biết và thực hành những nguyên tắc giáo huấn của Giáo Hội về xã hội.
Cuộc khảo sát lương tâm cũng phải xét đến thái độ tỏ ra đón nhận thế nào đối với Công Đồng Vaticano II, một tặng ân cao cả mà Thần Linh đã ban cho Giáo Hội vào cuối đệ nhị thiên niên. Lời của Thiên Chúa đã trở nên hốn sống của thần học và là nguồn hứng cho cả cuộc sống Kitô hữu, trọn đầy hơn nữa đến mức nào, theo như Dei Verbum (hiến chế về Mạc Khải)? Phụng vụ có được sống như là nguồn mạch và là thượng đỉnh của sinh hoạt thuộc về hội thánh không, theo giáo huấn của Sacrosanctum Concilium (hiến chế về Phụng Vụ)? Giáo hội học về việc hiệp thông được dien giai trong Lumen Gentium (hiến che về Giao Hội) có được làm cho vững mạnh nơi Giáo Hội hoàn vũ cũng như nơi các Giáo Hội riêng biệt không? Những đặc sủng, những sứ vụ và những hình thức tham dự khác nhau của dân Thiên Chúa có được thể hiện chăng, một thể hiện không bị ảnh hưởng bởi ý hệ dân chủ và tính cách xã hội tương phản với quan niệm của Giao Hội cũng như với tinh thần chân thực của Công Đồng Chung Vaticanô II? Một vấn để quan trọng khác được nêu lên là bản chất của việc liên hệ giữa Giao Hội và thế giới. Những chỉ dẫn của Công Đồng – được phac họa trong Gaudium ct Spes (hiến chế Mục Vụ) và các văn kiện khác – về việc đoi thoại một cách coi mở, tôn trọng và thân tình, vẫn còn hiệu lực và mời gọi chúng ta phải dấn thân hơn nữa, tuy nhiên, nó phải được đi kèm với một nhận thức rõ ràng cùng với việc can đảm làm chứng cho chân lý.
37 Giáo Hội trong ngàn năm thứ nhất được sinh ra nhờ máu của các vị tử đạo: “Sanguis martyrum – semen christianorum” (câu nói của giáo phụ Tertullian: máu các vị tử đạo là hạt giống kitô giáo). Những biến cố lịch sử gan liền với nhân vật Constantine Cả cũng không thể nào làm cho Giáo Hội phát triển được, như nó thực sự đã xẩy ra trong đệ
nhất thiên niên, nếu nó không có những hạt giống của các vị tử đạo, cũng như của một di sản thánh thiện, là những dấu vết của những thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Vào cuối đệ nhị thiên niên, một lần nữa, Giáo Hội lại trở nên một Giáo Hội của các vị từ đạo. Những cuộc bắt bở các tín hữu – linh mục, Tu Sĩ và giáo dân – đã gây ra một cuộc gico vãi rộng lớn máu tử đạo ở các phần đất khác nhau trên thế giới. Việc làm chứng cho Chua Kitô cho đến đo mau mình ra đã trở nen một di sản chung của những người Công Giao, Chính Thống Giao va The Phản, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói lên trong bài giảng của ngài, khi phong thánh cho các vị tử đạo ở Ugandan (x. Acta Apostolicae 56 -1964- 906).
Chứng từ này không thể nào được phep quên đi. Giao Hội của cac thế kỷ đầu tiên, mặc dầu phải đối diện với những khó khăn đáng kể có tính ách tổ chức hóa, cũng đã viết xuống những sổ bộ chứng tích (martyrologies), đặc biệt về những chứng tá của các vị tử đạo. Những số bộ chứng tích này, qua các thế kỷ được liên tục thêm vào, và việc ghi danh tích các thánh cũng như các chân phước không phải chỉ kể đến những vị đổ máu ra vì Chúa Kitô, mà còn cả các vị thày dậy đức tin, các nhà truyền giáo, các vị giải tội, các đức giám mục, các linh mục,các trinh nữ, các cặp vợ chồng, các bà góa và các trẻ em nữa.
Trong thế kỷ của chúng ta đây, các vị tử đạo đã trở lại, nhiều vị trong các ngài không có tên tuổi, như những người lính vô danh cho ý muốn cao cả của Thiên Chúa. Giáo Hội phải cố gắng hết sức để chứng tích của họ không bị mất đi. Như nghị hội (Hồng Y Đoàn, được nhắc đến ở đoạn 29) đề nghị, các Giáo Hội địa phương phải tận lực để bảo đảm toàn vẹn việc tưởng nhớ đến những vị đã chịu tử đạo, bằng cách thu tích những tài liệu cần thiết. Cử chỉ này cũng không thể nào bỏ qua tính cách và biểu hiện liên quan đến việc đại kết. Có lẽ hình thức nổi bật nhất trong phong trào đại kết là phong trào đại kết các vị thánh và các vị tử đạo. Việc các thánh thông công (communio sanctorum) còn lớn tiếng hơn cả những gì làm chia rẽ chúng ta. Sổ bộ chứng tích của cắc thế kỷ đầu là nền gốc cho việc tôn kính các vị thánh. Bằng việc công bố và tôn kính nhân đức thánh thiện nơi các người con nam nữ của mình, Giáo Hội hiến dâng lên chính Thiên Chúa một sự tôn vinh cao cả; nơi các vị tử đạo, Giáo Hội tôn kính Chúa Kitô, Đấng là căn nguyên tử đạo của các ngài cũng là căn nguyên nhân đức thánh thiện của các ngài. Vào những thời sau (các thế kỷ đầu) việc phong thánh đã hình thành, một thực hành vẫn con tiếp tục nơi Giao Hội Công Giao cũng như nơi các Giao Hội Chính Thống Giao. Trong những năm gần đây, con số được phong thánh và chân phước đã tăng triển. Những vị này chứng tỏ cho thấy sức sống nơi các Giáo Hội địa phương, ngày nay còn nhiều hơn cả ở những thế kỷ đầu cũng như ở thiên niên thứ nhất. Việc tôn phụng cao cả nhất mà tất cả Giáo Hội có thể dâng lên cho Chúa Kitô trước ngưỡng cửa của thiên niên thứ ba này, đó là việc biểu dương sự hiện diện toàn năng của Đấng Cứu Thế, qua các hoa trái tin, cậy, mến nơi các người nam nữ thuộc nhiều ngôn ngữ và chủng tộc khác nhau, những người đã theo Chúa Kitô bằng nhiều hình thức khác nhau của ơn gọi Kitô giáo.
Công việc của Hội Thánh, trong cuộc sửa soạn cho năm 2000, sẽ là việc cập nhật hóa các sổ bộ chứng tích cho Giáo Hội hoàn vũ, chú trọng cẩn thận đến nhân đức thánh thiện của những vị sống trọn vẹn theo chân lý của Chúa Kitô thuộc thời đại chúng ta. Phải chủ ý cách riêng đến việc nhận biết những nhân đức anh hùng của những người nam nữ sống ơn gọi Kitô hữu của mình trong đời sống hộn nhân. Chính vì chúng ta khâm phục những hoa trái thánh thiện đồi dào trong bậc sống hôn nhân, mà chúng ta cần tm ra những phương thức thích hợp nhất để nhận ra họ và trình bày họ cho toàn thể Giáo Hội biết, như làmột mẫu gương và là một niềm khích lệ cho các cặp vợ chống khác.
38 Các vị hồng y và giám mục cũng nhấn mạnh đến một nhu cầu khác nữa, đó là nhu cầu các cuộc nhóm họp (Hội Đồng Giám Mục) từng lục địa, theo gương các cuộc nhóm họp của (Hội Đồng Giam Mục) Âu Châu và Phi Châu. Hội nghị chung vừa qua của hàng giáo phẩm Mỹ Châu Latinh đã đồng ý, với sự chấp thuận của các vị giám mục Bắc Mỹ, dự án tổ chức một cuộc nhồm họp cho Mỹ Châu, về những vấn nạn truyền bá phúc âm nơi cả hai miền cùng một lục địa mà nguồn gốc và lịch sư lại rất khác nhau, cũng như về những vấn đề công lý, cùng với những liên hệ kinh tế liên quốc trước khoảng cách khổng lồ giữa miền Bắc và miền Nam.
Một dự án khác cho cuộc nhóm họp lục địa sẽ liên quan đến Á Châu, nơi mà vấn đề gặp gỡ giữa Kitô giáo và những văn hóa cũng như tôn giáo cổ truyền địa phương, sẽ là một dự án khá nặng. Đây là một thách đố lớn lao cho việc truyền bá phúc âm, vì những nền móng tôn giáo như Phật giáo hay Ấn giáo đã rõ ràng mặc một tính chất liên quan đến việc cứu rỗi (soteriological character). Nhân dịp Đại Hỷ, cũng rất cần có một cuộc nhóm họp để dẫn giải và cắt nghĩa đầy đủ hơn, về sự thật chỉ có Đức Kitô là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, Người là Đấng Cứu Chuộc duy nhất của thế giới, hoàn toàn nổi bật hơn những vị giáo tổ của các tôn giáo lớn khác. Bắng một nhận định thành thực, Giáo Hội coi những yếu tố về sự thật được thấy nơi các tôn giáo ấy như là một phản ảnh của chân lý mà ánh sáng của nó soi cho tất cả mọi con người nam nữ (tuyên ngôn Nostra Aetate, về Liên Hệ giữa Giáo Hội với các Tôn Giáo ngoài Kitô Giáo, đoạn 2). Ecce natus est nobis Salvator mundi (xin tạm dịch: Này đây Đấng Cứu Chuộc thế giới của chúng ta đã sinh ra): Vào năm 2000 việc loan báo chân lý này (theo người dịch hiểu theo mạch văn ở đây: “chân lý này” là chân lý được diễn tả qua câu Latinh trên đây) phải vang vọng bằng một mãnh lực mới mẻ.
Đối với Đại Dương Châu cung vậy, nen có một cuộc nhom họp miền. Ở miền đất này, trong số các vấn đề khác, còn có vấn đề về loại người nguyên chủng (aboriginal poeple), loại người làm khơi dậy, một cách đặc biệt, một lãnh vực liên quan đến tiền sử của loài người. Trong cuộc nhóm họp này, cùng với những vấn nạn khác trong miền của mình, có một vấn đề không thể bỏ qua, đó là vấn đề Kitô giáo giao tiếp với những hình thức tôn giáo cổ kính nhất, những hình thức tôn giáo tỏ ra có khuynh hướng đơn thần.
B Thời Kỳ Thứ Hai:
39 Từ một chương trình sâu rộng để làm cho Kitô hữu ý thức như thế, chúng ta mới có thể bất đầu sang đến thời kỳ thứ hai, thời kỳ sửa soạn một cách triệt để. Thời kỳ này sẽ diễn tiến trong vòng 3 năm, từ năm 1997 đến 1999. Cấu trúc của chủ đề cho giai đoạn 3 năm này nhắm vào Chủa Kitô, Con Thiên Chủa làm người, cần phải có tính cách thần học, và vì thế cũng có tính cách Ba Ngôi.
Năm Một: Chúa Giêsu Kitô
40 Như thế, năm thứ nhất, năm 1997, sẽ được dành cho việc suy niệm về Chúa Kitô, Lời của Thiên Chúa, làm người bởi quyền phép Chúa Thánh Thần. Tính chất đặc thù về Kitô học liên quan đến cuộc mừng này cần phải được nhấn mạnh, vì cuộc mừng này sẽ cử hành việc Con Thiên Chua Nhập Thể và đến trong the gian, một mầu nhiệm cứu chuộc đối với cả loài người. Chủ đề tổng quát được nhiều hồng y và giám mục đề nghị cho năm nay là: “Chúa Giêsu Kitô, vị cứu tinh duy nhất của thế giới, hôm qua, hôm nay và cho đến muôn đời” (x.Heb.13:8).
Trong số những đề tài về Kitô học, theo đề nghị của nghị hội (hồng y đoàn ngày 13-14/6/1994, như ĐTC đã nhắc đến ở đoạn 29), thì cần phải chú trọng: đến việc tái cảm nhận về Chua Kitô, Đấng cứu thế cũng là Đang loan truyền Phúc Am, căn cứ vao chương 4 cua Phuc Am theo thánh Luca, đoạn Phúc Âm liên kết đề tài sứ mệnh rao giảng tin mừng của Chúa Kitô và để tài của cuộc mừng này lại với nhau; rồi đến việc hiểu biết sâu xa hơn mầu nhiệm nhập thể cũng như mầu nhiệm Chúa Giêsu được hạ sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria; và đến việc cần phải tin vào Chúa Kitô để được cứu rỗi. Để nhận biết Chủa Kitô thực sự là ai, Kitô hữu, đặc biệt trong năm nay, phải trở về với Thánh Kinh bằng một cảm hứng mới, “hoặc là qua phụng vụ, phong phu những lời thần linh, hay là qua việc sốt sắng đọc (Thánh Kinh), hoặc là qua những buổi hướng dẫn (Thánh Kinh) thích hợp với mục đích của nó, cũng như qua những phương tiện khác” (hiến chế Verbum Dei, đoạn 25). Nơi những bản văn mạc khải, chính Cha trên trời đến với chúng ta bằng tình yêu và là Đấng ở trong chúng ta, tỏ ra cho chúng ta bản tính của Con Một Ngài cũng như chương trình cứu rỗi loai người cua Ngài (x. hiến chế Verbum Dei, đoạn 2).
41 Việc dấn thân, như được nhắc đến trên đây, trong việc làm cho mầu nhiệm cứu chuộc hiện diện một cách nhiệm tích, có thể đưa đến, trong năm nay, một cảm nhận mới về bí tích rửa tội như là một bí tích nền tảng cho đời sống Kitô hữu, dựa theo lời của thánh tông đồ: “Vì tất cả anh cm được rửa trong Chúa Kitô thì đã mặc lấy Người” (Gal.3:27). Cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giao đã làm nhiệm vụ của mình trong việc nhắc nhớ là bí tích rửa tội cấu tạo nên “nền tảng của cuộc hiệp thông giữa tất cả mọi Kitô hữu, bao gồm cả những người chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo” (số 1271). Từ một quan điểm đại kết như thế, năm này sẽ là một năm rất quan trọng đối với các Kitô hữu để họ cùng nhau nương dựa vào Đức Kitô là Chua duy nhất, khi đi sâu vào cuộc dấn thân của mình hầu được nên một trong Người, hợp với lời Người nguyện cầu cùng Chúa Cha. Việc nhấn mạnh đến trung tâm điểm (trong năm một) là Đức Kitô, là lời của Thiên Chúa và là đức tin này phải gây hứng khởi cho Kitô hữu của các giáo phái khác, và phải được họ ân cần đáp ứng.
42 Mọi sự phải nhấm vào mục tiêu chính yếu của cuộc mừng, đó là việc tăng cường đức tin và làm chứng tá của người Kitô hữu. Bởi thế, cần phải khêu gợi lên nơi tất cả mọi tín hữu một lòng khao khát nên thánh thực sự, một ước vọng cải thiện sâu xa và canh tân bản thân, trong một tinh thần cầu nguyện thiết tha như chưa bao giờ có, và trong một tình đoàn kết với tha nhân, đặc biệt với người thiếu thốn nhất.
Thế nên, năm thứ nhất này sẽ là một thời điểm thuận tiện cho việc cảm nhận lại vấn đề dạy giáo lý theo ý nghĩa nguyên thủy của nó như là “giáo huấn’ của các tông đồ” (Acts 2:42) về con người của Chúa Giêsu Kitô cũng như về mầu nhiệm cứu roi của Người. Theo chiều hướng này thì việc học hỏi kỹ lưỡng cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo sẽ
mang lại nhiều lợi ích, vì giáo lý trình bày “một cách trung thành và có hệ thống … giáo huấn của Sách Thanh, truyền thống của Giáo Hội và giáo huấn chính tông của Giao Hội, cùng voi di sản thieng lieng của các giáo phụ, tiến sĩ và thánh nhân trong Giáo Hội, mang lại một tầm hiểu biết khá hơn về mầu nhiệm Kitô giáo và làm dậy men đức tỉn của dân Chúa” (tông hiến Fidei Depositum, 11-10-1992). Thực tế là chúng ta cần phải soi sáng cho lương tâm của tín hữu về những sai lầm liên quan đến con người của Chúa Kitô, bằng cách làm sáng tỏ những phản đề đối với Người cũng như đối với Giáo Hội.
43 Phải chiêm ngắm Đức Trinh Nữ là Đấng se thực sự hiện diện một cách gián tiếp trong cả thời kỳ sửa soạn, đặc biệt ở năm thứ nhất này, nơi mầu nhiệm Người là Mẹ Thiên Chua. Chính ở trong lòng da của Người mà Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể! Bởi thế, việc xác nhận vị trí then chốt của Chúa Kitô không thể nào tách lìa khỏi việc nhận biết vai trò mà người mẹ rất thánh của Người đã nắm giữ. Việc tôn kính Mẹ, nếu hiểu một cách đúng đấn, không hề làm mất đi “phẩm vị và công hiệu của Chúa Kitô trung gian” (hiến chế Lumen Gentium, đoạn 52). Thật ra, Mẹ Maria luôn luôn chỉ cho tín hữu đến với Con Thần Linh của Người, và đối với tất cả mọi tín hữu Mẹ được coi như mẫu gương sống đức tin. “Sốt sắng suy niệm về Mẹ và chiêm ngưỡng Mẹ trong ánh sáng của Lời làm người, Giáo Hội cung kinh tiến vào sâu hơn mầu nhiệm tối cao của việc nhập thể, và càng giống như Người trong việc trở nên một hiền thê” (hiến chế Lumen Gentium, đoạn 65).
Năm Hai: Chua Thánh Thần.
44 Năm 1998, năm thứ hai của thời kỳ sửa soạn này, sẽ được dâng kính một cách đặc biệt cho Chua Thanh Thần và cho việc Ngài hiện diện linh thánh trong cộng đồng của các môn đệ Chúa Kitô. Tôi đã viết trong thông điệp Dominum et Vivificantem (về Chúa Thánh Linh trong sinh hoạt của Giáo Hội và thế giới, ban hành ngày 18-5-1986). “Cuộc đại hỷ ở vào thời điểm kết thúc đệ nhị thiên niên này liên quan đến phương diện Thánh Linh (pneumatological aspect), vì mầu nhiệm nhập thể đã được hoàn thành bởi quyền phép Thánh Thần’. Mầu nhiệm nhập thể này được thực hiện’ bởi Thần Linh – đồng ban thể với Cha và Con – là Đấng, trong mầu nhiệm tối cao về Thiên Chúa Ba Ngôi, là ngôi-tnh yêu (the person-love), là tặng ân nhưng không (the uncreated gift). mạch nguồn vô cùng của mọi tặng ân Thiên Chúa ban trong trật tự tạo dựng, là nguyên lý trực tiếp (the direct principle) cũng như, trong một ý nghĩa nào đó, là chủ thể trong việc thông ban mình của Thiên Chúa (the subject of God’s self-communication) theo trật tự an sung. Mầu nhiệm nhập thể là mức tuyệt đỉnh của việc ban phát này, một thông ban mình của thần linh” (đoạn 50).
Giáo Hội không thể nào sửa soạn cho tân thiên niên “theo một đường lối nào khác hơn là theo Chúa Thánh Linh. Việc đã được hoàn thành bởi quyền phép Chúa Thánh Linh ‘khi thời gian viên trọn’ thì giờ đây cũng chỉ nhờ quyền phép Chúa Thánh Linh mới có thể tỏ hiện qua cuộc tưởng niệm của Giáo Hội” (cùng thông điệp, đoạn 51). Thật ra, Thần Linh, ở trong Giáo Hội, qua mọi thời và mọi nơi, làm cho mạc khải đặc thù, được Chúa Kitô mang đến cho nhân loại, hiện thực, làm cho nó sống động và hoạt động nơi tâm hồn của mỗi cá nhân: “Đấng dẫn đàng chỉ lối là Chúa Thánh Thần, đấng mà Cha sẽ nhân danh Thày sai đến, Ngài sẽ dạy các con tất cả mọi sự, và làm cho các con nhớ lại tất cả những gì Thầy đã nói với các con” (Jn.14:26).
45 Thế nên, những công việc chính để sửa soạn cho cuộc mừng này cũng bao gồm cả một cảm nhận mới về sự hiện diện và hoạt động của Thần Linh, Đấng tác hành trong Giáo Hội, cả qua các bí tích, nhất là qua bí tích thêm sức, cũng như qua tính cách khác biệt về các đặc sung, các vai trò và cắc thừa tắc vụ mà Ngài làm khơi dậy lên cho lợi ích của Giáo Hội: “Chỉ có một Thần Linh là Đang, tuy theo sự phong phú của mình, cũng như tùy theo nhu cầu của các sứ vụ, phân phối những tặng ân khác nhau của mình cho an sinh của Giao Hội (x. 1Cor.12:1-11). Trong số các tặng ân này là ân sủng ban cho các thánh tông đồ. Chính Thần Linh cũng tùy thuộc vào quyền bính của các ngài, vào cả những ai được hưởng những đặc sủng (x. 1Cor.14). Cũng cùng một Thần Linh này đã làm phát sinh và thôi thúc tình yêu thương trong các tín hữu, làm cho thân thể (Chúa Kitô) được hiệp nhất nhờ chính Ngài, nhờ quyền lực của Ngài, cũng như nhờ việc gắn bo nội tại nơi cac chi thể của thân thể này” (Lumen Gentium, đoạn 7).
Cả ở trong thời điểm của chúng ta, Thần Linh là tác nhân chính yếu (the principal agent) cho việc tái phúc âm hóa. Bởi thế, cần phải tạo được một cảm nhận mới về Thần Linh như là một Đấng xây dựng vương quốc của Thiên Chua theo giòng lịch sử, và sửa soạn cho vương quốc này được hoàn toàn tỏ hiện trong Chủa Giêsu Kitô, bằng cách khợi động tâm hồn con người và khơi lên trong thế giới của chúng ta những hạt giống của một ơn cứu rỗi sẽ nên trọn vào lúc tận cùng thời gian.
46 Theo quan điểm kết chung (eschatological perspective) này, tín hữu phải được kêu gọi để cảm nhận lại thần đức trông cậy, một thần đức mà họ đã nghe công bố “bằng lời chân lý, đó là Phúc Âm” (Col.1:5). Thái độ căn bản của đức cậy là, một mặt, nó khiến Kitô hữu thêm can đảm giữ mình khỏi bị lạc mất đích đến là cái mang lại ý nghĩa và giá trị
cho đời sống, mặt khac, no hiến cho họ những lý do vững chắc và sâu xa nơi cuộc dấn thân hằng ngày của họ, để họ biến đổi hoàn cảnh sống cho tương hợp với chương trình của Thiên Chúa.
Như thánh tông đồ Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Chúng ta biết rằng toàn thể tạo vật vẫn cùng nhau rên xiết quần quại cho đến nay; chẳng những tạo vật mà cả chính chúng ta nữa, những người nhận được những hoa trái đầu mùa của Thần Linh, cũng rên xiết trong thâm tâm, khi chúng ta đợi chờ cho được thừa nhận làm con cái, việc cứu chuộc thân xác của chúng ta. Vì nhờ niềm cậy trông này mà chúng ta đã được cứu” (Rm.8:22-24). Kitô hữu được kêu gọi để sửa soạn cho cuộc Đại Hỳ ở vào đầu đệ tam nguyên niên này, bằng việc làm mới lại đức cậy trông của mình đối với việc vương quốc Thiên Chúa phải trị đến, ở chỗ, hằng ngày sửa soạn cho vương quốc này nơi tâm hồn họ, nơi cộng đồng Kitô hữu mà họ thuộc về, nơi mối giao tiếp đặc biệt trong xã hội, và nơi chính lịch sử thế giới.
Cũng cần phải có một cảm nhận và hiểu biết rõ ràng hơn về những dấu hiệu hy vọng xuất hiện ở vào phần cuối thế kỷ này, mặc dầu chúng thường ẩn khuất trước con mất của chúng ta. Ngoài xã hội, nói chung, những dấu hiệu hy vọng như thế gồm có: tầm mức phát triển của khoa học, kỹ thuật và nhất là ngành y khoa trong việc phục vụ sự sống con người, việc nhận thức nhiều hơn về trách nhiệm của chúng ta đối với môi sinh, những nỗ lực để phục hồi hòa bình và công lý cho những nơi bị vi phạm, nguyện ước hòa giải và kết đoàn giữa các dân tộc khác nhau, nhất là trong mối liên hệ phức tạp giữa hai miền Bắc Nam trên thế giới. Trong Giáo Hội, những dấu hiệu hy vọng như thế gồm có: việc chú trọng hơn đối với tiếng của Thần Linh, qua hành động chấp nhận những đặc sủng và đề cao giáo dân, việc dấn thân mạnh mẽ hơn cho công cuộc hiệp nhất Kitô giáo, và việc tăng triển về chiều hướng đối thoại với các tôn giáo khác cũng như với nền văn hóa đương thời.
47 Việc phản tỉnh của tín hữu trong năm sửa soạn thứ hai này phải đặc biệt chú ý đến giá trị của mối hiệp nhất trong lòng Giáo Hội, mối hiệp nhất mà các tặng ân và đặc sủng khác nhau do Thần Linh ban cho Giáo Hội phải qui về. Theo chiều hướng này, cũng cần phải nâng cao tầm mức hiểu biết sâu xa hơn về giáo huấn liên quan đến hội thánh của Công Đồng Chung Vaticano II, được gồm tom căn bản trong hiến chế tín lý (the dogmatic constitution) Lumen Gentium. Văn kiện quan trọng này đã rõ rang nhấn mạnh rằng, niềm hiệp nhất của thân thể Chua Kitô được xây trên hoạt động của Thần Linh, được bảo đảm bởi sứ vụ tông đồ và được nâng đỡ bởi tình yêu hỗ tương (x.1Cor.13:1-8). Mức độ trưởng thành về giáo lý của đức tỉn này không thể nào lại không mang lại cho các phần tử trong dân của Thiên Chủa một nhận thức chín chấn hơn về trách nhiệm riêng của họ, cũng như một cảm quan sống động hơn về tầm mức quan trọng của việc tuân phục hội thanh (Lumen Gentium, đoạn 7).
48 Trong năm nay, trước hết phải chiêm ngắm và bắt chước Mẹ Maria, Đấng đã thụ thai Lời nhập thể bởi quyền phép Chúa Thánh Thần, để rồi, trong cả cuộc sống, Mẹ đã hiến thân tùy Ngài hướng dẫn theo những tác động của Ngài trong tâm hồn Mẹ, như một người nữ dễ dậy với tiếng của Thần Linh, một người nữ thầm lặng và chuyên chú, một người nữ của lòng cậy trông, người mà, như Abraham, “hy vọng không còn hy vọng” (x.Rm.4:18), đã chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa. Mẹ Maria đã diễn tả trọn vẹn lòng trông đợi của một kẻ khó hèn nơi Giavê, và là một mẫu gương sáng chói cho những ai hết lòng tin vào những lời hứa của Thiên Chúa.
Năm Ba: Thiên Chua là Cha
49 Năm 1999, năm thứ ba và là năm cuối cùng của việc sửa soạn, sẽ nhắm đến việc mở rộng những chân trời cho tín hữu, để họ thấy được những sự vật theo quan điểm của Chúa Kitô: theo quan điểm của “Cha là Đấng ở trên trời (x.Mt.5:45), từ Ngài mà Chúa Kitô được sai đến và đã trở về với Ngài (x.Jn.16:28).
“Đây là sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha là Thiên Chua chân thật duy nhất, và Giêsu Kitô Cha sai” (Jn.17:3). Tất cả đời sống của người Kitô hữu giống như một cuộc lữ hành dài tiến về nhà Cha, Đấng mà chúng ta hằng ngày lại cảm nhận được tình yêu nhưng không đối với mọi người, nhất là đối với đứa con hoang đàng (x.Lk.15:11-32). Cuộc lữ hành này diễn ra trong lòng của mỗi người, trải ra cộng đồng tín hữu, để rồi tiến đến toàn thể nhân loại.
Như thế, cuộc mừng, được đặt trọng tâm vào con người của Chúa Kitô, trở nên một tác động cao trọng trong việc chúc tụng Chúa Cha: “Chúc tụng Thiên Chua va Cha cua Chua Giesu Kito, Đang da chuc lanh cho chúng ta trong Đức Kitô bằng mọi phúc lành thiêng liêng ở trên trời, kể cả việc trước khi có thế gian Ngài đã chọn chúng ta trong Người, để chúng ta được thánh hảo và vô trách cứ trước nhan Ngài” (Eph.1:3-4).
50 Trong năm thứ ba này, ý nghĩa về cuộc đang lữ hành về cùng Cha phải làm cho mọi người phấn khởi chấp nhận, bằng cách gắn bó với Chúa Kitô cứu tinh của con người, một cuộc hành trình cải thiện đích thực. Cuộc cải thiện đích thực này bao gồm cả hai phương diện, phương diện tiêu cực là giải thoát khỏi tội lỗi, và phương diện tích cực là chọn
lựa sự thiện, chấp nhận những giá trị đạo đức được tỏ hiện nơi luật tự nhiên, một thứ luật mà Phúc Âm đã xác nhận và đào sâu. Việc cải thiện đích thực này còn có một liên hệ thích đáng với niềm cảm nhận mới, cũng như với việc chú trọng lãnh nhận hơn bí tích thống hối theo ý nghĩa sâu xa nhất của nó. Tiếng gọi cải thiện, như một điều kiện không thể châm chước của tình yêu Kitô giáo, có một tầm quan trọng đặc biệt trong xã hội hiện thời, nơi mà những căn bản nhất của nhân sinh quan đúng đần về đạo lý dường như vẫn thường hay bị mất đi.
Chính vì thế mà, đặc biệt trong năm nay, cần phải nhấn mạnh đến thần đức yêu mến, nhớ lại những lời quan trọng và sâu đậm trong Thư Thứ Nhất của thánh Gioan: “Thiên Chúa là tình yêu” (4:8,16). Đức Ái, theo bản chất lưỡng đôi của mình, là tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, là tóm tất cuộc sống luân lý của tín hữu. Thần đức này bắt nguồn từ Thiên Chua va qui về Thiên Chúa.
51 Theo quan điểm này, nếu chung ta nhớ lại rằng Chúa Giêsu đến “để rao giảng tin mừng cho người nghèo khó” (Mt.11:5; Lk.7:22), thì làm sao chúng ta lại có thể bỏ qua không nhấn mạnh hơn về việc Giáo Hội quan tâm đặc biệt đến kẻ nghèo nàn và kẻ vô loài? Thật vậy, cần phải nói rằng, cuộc dấn thân cho công lý và hòa bình trong một thế giới như của chung ta đây, một thế giới bị ghi dấu bởi qua nhiều giằng co, với những tình trạng thiếu quân bình về xã hội cũng như về kinh tế không thể nào chấp nhận được, là một điều kiện cần thiết cho việc sửa soạn và cử hành cuộc mừng kỷ niệm này. Bởi thế, theo tinh thần của Sách Lêvi (25:8-12), Kitô hữu cần phải lên tiếng thay cho tất cả mọi người nghèo trên thế giới, lấy cuộc mừng kỷ niệm này như một thời điểm thích thuận, để đưa ra ý tưởng, cùng với các điều khác, về việc giảm bớt thật nhiều, nếu không hoàn toàn hủy bỏ, số nợ quốc tế (international debt) là cái hằng đc dọa tượng lai của nhiều quốc gia một cách trầm trọng. Cuộc kỷ niệm mừng này cũng có thể là một dịp để suy nghĩ về những thách đố khác trong thời điểm của chúng ta, như những khó khăn trong việc đối thoại giữa cac thứ văn hoa khác nhau, và những vấn nạn liên hệ đến việc tôn trọng các quyền của người phụ nữ. cũng như đến việc để cao gia đình và hôn nhân.
52 Khi nhớ lại rằng “Đức Kitô … bằng việc mạc khải mầu nhiệm về Cha và về tình yêu của Ngài, hoàn toàn tỏ cho con người biết chính con người và làm sáng tỏ ơn gọi siêu việt của họ” (hiến chế Gaudium et Spes, đoạn 22), chúng ta cần phải có hai việc quyết tâm làm nên tính cách đặc biệt cho năm sửa soạn thứ ba này: đó là việc đương đầu với thách đố của khuynh hướng tục hóa, và việc đối thoại với những tôn giáo lớn.
Về việc quyết tâm làm thứ nhất, cần phải bất đầu bàn đến vấn đề lớn liên quan đến cuộc khủng hoảng văn minh, một cuộc khủng hoảng văn minh đã trở nên hiển nhiên, đặc biệt ở Tây phương, nơi phát triển nhiều về phương diện kỹ thuật, nhưng nội tâm lại kiệt quệ, bởi khuynh hướng lãng quên Thiên Chúa hay xa lánh Ngài. Cuộc khủng hoảng văn minh này phải được đương đầu bằng một nền văn minh yêu thương, một nền văn minh được xây dựng trên những giá trị phổ quát về hòa bình, đoàn kết, công lý và tự do, là những gì hoàn toàn được đạt thành nơi Chúa Kitô.
53 Ngoài ra, đối với việc nhận thức về đạo giáo, thì theo chiều hướng diễn tiến của những thập niên vừa qua, thời gian sát cận năm 2000 sẽ là một dịp rất thuận tiện cho việc đối thoại liên tôn (interreligious dialoguc), theo những chỉ dẫn được Công Đồng Chung Vaticanô II phác họa trong tuyên ngôn Nostra Aetate về việc liên hệ giữa Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo.
Trong cuộc đối thoại (liên tôn giáo) ở đây, Những người Do Thái và Hồi Giáo phải chiếm được một chỗ ngoại hạng. Nếu Thiên Chúa muốn, để đẩy mạnh những ý hướng này, cũng có thể tổ chức các cuộc họp chung nhau (joint mectings), ở những địa điểm quan trọng đối với những tôn giáo đơn thần lớn ở đây.
Về vấn đề này, phải để ý tm cách sắp xếp những buổi gặp gỡ ở những nơi có tính cách tiêu biểu đặc biệt, chẳng hạn ở Belem, ở Gia-Liêm và ở Núi Sinai, như một cách thức để đối thoại hơn nữa với những người Do Thái và những môn đồ của Hồi Giáo, và cũng sắp xếp những buổi gặp gỡ giống như thế ở một nơi nào đó với các vị lãnh đạo của những tôn giáo lớn trên hoàn vũ. Tuy nhiên, phải luôn để ý đừng gây ra những hiểu lầm tai hại, tránh mắc phải chủ trương hòa hợp niềm tin (syncretism) cũng như chủ trương cầu an (irenicism) dễ dãi và giả tạo.
54 Theo quan điểm sâu rộng của những quyết tâm làm này, Mẹ Maria chí thánh, nữ tử rất ưu ái của Chúa Cha, sẽ hiện lên trước con mắt của tín hữu như là một mẫu gương yêu thương đối với cả Thiên Chua lẫn tha nhân. Như chính Mẹ noi trong ca vịnh “Ngợi Khen”, Đang Toàn Năng đã làm cho Mẹ những điều trọng đại, danh Ngài là thánh (x.Lk.1:49). Chúa Cha đã chọn Mẹ cho một sứ mệnh đặc thù trong lịch sử cứu độ: đó là sứ mệnh làm mẹ của đấng cứu thế bao đời đợi trông. Trinh Nữ Maria đã đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa bằng một cõi lòng hoàn toàn cởi mở: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa” (Lk.1:38). Vai trò làm mẹ của Người, bat đầu ở Nazaret và được thể hiện mạnh me nhất ở Gia-Liêm dưới chân thập giá, trong năm nay phải được cảm nhận như là một lời mời gọi yêu thương và khẩn thiết mà Người ngỏ với tất cả con cái của Thiên Chua, nhờ đó họ mới có thể về nhà Cha, khi họ nghe tiếng hiền mẫu: “Các con hãy làm những gì Chua Kitô bảo các con” (x.Jn.2:5).
C Tiến Đến Việc Cử Hành:
55 Một chương trình riêng biệt sẽ được thực hiện đó là việc cử hành thực sự cuộc Đại Hỷ, se diễn tiến cùng một lúc ở Thánh Địa, ở Rôma và ở các Giáo Hội địa phương trên khắp thế giới. Đặc biệt trong giai đoạn này, giai đoạn cử hành, mục đích là để tôn vinh Ba Ngôi, nguồn mạch mà mọi sự trong thế gian và trong lịch sử được phát sinh và là cùng đích mà chúng phải qui về. Mầu nhiệm Ba Ngôi này là tiêu điểm của ba năm sửa soạn gần: bởi Chúa Kitô và nhờ Chủa Kitô, trong Chúa Thanh Thần, va cho Chua Cha. Theo ý nghĩa nay, voi chiều hướng ngưỡng vọng về đó, việc cử hành cuộc mừng này sẽ làm hiện thực mục đích và tầm mức viên trọn của cuộc sống nơi mỗi người Kitô hữu, cũng như nơi toàn thể Giáo Hội trong Thiên Chúa Ba Ngôi.
Thế nhưng, Chúa Kitô là đường lối duy nhất đến cùng Cha, để đề cao sự hiện diện sống động và cứu độ của Người trong Giáo Hội cũng như trong thế giới, một Đại Hội Thanh Thế Quốc Tế (the International Eucharistic Congress) sẽ được diễn ra tại Rôma vào dịp tổ chức cuộc Đại Hỷ. Năm 2000 sẽ thực sự là một năm thánh thể: trong Bí Tích Thánh Thể, Đấng cứu thế, Đấng đã mặc lấy xác thịt trong lòng Mẹ Maria 20 thế kỷ trước, tiếp tục hiến mình cho nhân loại như nguồn mạch của sự sống thần linh.
Đặc tính đại kết và phổ quát của cuộc mừng kỷ niệm thần linh này có thể phản ảnh một cách xứng hợp bằng một cuộc gặp gỡ của tất cả mọi Kitô hữu. Cuộc gặp gỡ này sẽ là một biến co rất quan trọng, và vì thế, để tránh những hiểu lầm, nó cần phải được trình bày một cách thuận hợp và sửa soạn một cách thận trọng, bằng một thái độ cộng tác huynh đệ với các Kitô hữu của các giáo phái khác và các truyền thống khác, cũng như bằng tinh thần ưu ái cởi mở đối với những tôn giáo có những vị đại diện muốn thông công niềm vui mà tất cả mọi người môn đệ của Chúa Kitô được hưởng.
Một điều chắc chẵn là: Mọi người cần phải làm hết sức có thể để bảo đảm rằng họ không coi thường cuộc thách đố cam go lớn lao đối với năm 2000, vì cuộc thách đố cam go này nhất định sẽ mang lại ân sủng đặc biệt của Chua cho Giáo Hội cũng như cho thế giới.







