Những mốc điểm đáng nhớ:
– Ngày thành lập Giáo phận Đàng Trong – nguồn cội của Giáo phận Đà-lạt, do sắc chỉ ‘Super Cathedram’ của ĐGH Alexandre VII (1655-1667): 09/9/1659.
– Ngày ĐGH Ghê-gô-ri-ô XVI (1831-1846) chia Giáo phận Đàng Trong thành 2 giáo phận: Tây Đàng Trong và Đông Đàng Trong (bao gồm Giáo phận Đà-lạt ngày nay): 17/5/1844.
– Thời điểm Đà-lạt thuộc Giáo phận Tây Đàng Trong: 1907 (khi địa hạt Phan-thiết, tỉnh Bình-thuận, trong đó có vùng Đà-lạt về mặt tôn giáo, được sát nhập vào Nam-kỳ lục tỉnh).
– Thời điểm các giáo phận Việt-nam bắt đầu được gọi tên như ngày nay: 1924. Giáo phận Tây Đàng Trong được gọi là Giáo phận Sài-gòn.
– Ngày thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt-nam do sắc chỉ Venerabilium Nostrorum của ĐGH Gioan XXIII (1958-1963): 24/11/1960. Do sắc chỉ này, được bổ sung bằng sắc chỉ QuodVenerabiles Fratres (ngày 27/11/1960), Giáo phận Đà-lạt được thành lập, tách khỏi Giáo phận Sài-gòn, với các khu vực hành chính là các tỉnh Tuyên-đức, Lâm-đồng, Phước-long và Quảng-đức.
– Ngày Giáo phận Đà-lạt có giới hạn như hiện nay: 22/6/1967, ngày Giáo phận Ban-mê-thuột được ĐGH Phao-lô VI (1963-1978) quyết định thành lập (gồm tỉnh Đắc-lắc tách từ Giáo phận Kontum, 2 tỉnh Phước-long và Quảng-đức tách từ Giáo phận Đà-lạt); từ đó, Giáo phận Đà-lạt nằm gọn trong 2 tỉnh Tuyên-đức và Lâm-đồng (sau 1975, 2 tỉnh này nhập lại thành tỉnh Lâm-đồng ngày nay).
***
Nguồn cội thì như vậy, nhưng từ năm 1659 cho đến khi Đà-lạt chính thức trở thành một điểm truyền giáo, một họ đạo thuộc Giáo phận Tây Đàng Trong (ngày 10/5/1920), hơn hai thế kỷ rưỡi đã trôi qua, và còn phải chờ thêm hơn 40 năm nữa thì mới có Giáo phận Đà-lạt.
Về phần các chủ chăn, cũng theo bài viết đã dẫn trên đây, thì từ đầu cho đến khi họ đạo Đà-lạt được thành lập, có 14 vị Đại Diện Tông Toà, trong đó có Thánh Tử đạo Tê-pha-nô CuénotThể, vị chủ chăn thứ 10 của Giáo phận Đàng Trong (1840-1861). Vị chủ chăn đã quyết định sự hình thành của giáo điểm truyền giáo, sau đó trở thành họ đạo Đà-lạt, là Đức Cha Lucien Mossard (1898-1920), được thân thương gọi là Đức Thầy Mão. Ngài đã để lại bút tích trong Sổ Rửa tội (quyển I, số 1) và sổ Hôn phối (cũng quyển I, số 1) của giáo xứ. Ngài là vị chủ chăn thứ 15 của chúng ta, tính từ Đức Cha Phê-rô Ma-ri-a Lambert de la Motte, và là vị chủ chăn thứ 5 của Giáo phận Tây Đàng Trong, tính từ Đức Cha Đô-mi-ni-cô Lefèbvre (Ngãi – 1844-1864).
Ngày 10/5/1920, cha Frédéric Sidot (Kính) được Đức Cha Victor Quinton (Tôn – 1920-1924), người kế vị của Đức Thầy Mão, sai đến coi sóc giáo điểm truyền giáo Đà-lạt. Ngày ấy được coi là ngày thành lập họ đạo Đà-lạt, cái nôi của giáo phận Đà-lạt sau này. Họ đạo mới này của Giáo phận Tây Đàng Trong, tức là Giáo phận Sài-gòn kể từ năm 1924, được đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giám mục Nicolas (vị thánh mà trong Sắc chỉ thành lập Giáo phận Đà-lạt, ngày 24/11/1960, Toà Thánh đã chọn làm Tước hiệu Nhà thờ Chánh toà của giáo phận mới).
Cái họ đạo nhỏ bé đó, nhỏ bé vì lúc bấy giờ số giáo dân chỉ khoảng 200 người, bao gồm toàn bộ diện tích của giáo phận Đà-lạt hôm nay. Nhưng nó đã mau chóng phát triển, sinh con đẻ cái, để 47 năm sau, tức là vào năm 1967 (khi Giáo phận Ban-mê-thuột được thành lập và Giáo phận Đà-lạt trở lại với giới hạn của họ đạo Đà-lạt lúc ban đầu), mang tầm vóc của một giáo phận Chánh toà, với 25 giáo xứ, khoảng 47.000 giáo dân, được 43 linh mục coi sóc (1).
Vị Giám mục tiên khởi, Đức Cha Ximong-Hoà Nguyễn Văn Hiền, cai quản giáo phận trong 13 năm, từ 1960 đến 1973. Ngài là vị chủ chăn thứ 9 của Giáo phận Sài-gòn mà từ ngày 24/11/1960 đã được nâng lên thành Tổng Giáo phận; người kế nhiệm ngài trong chức vụ chủ chăn thứ 10 cũng là Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài-gòn là Đức Cha Phao-lô Nguyễn Văn Bình (1960-1995).
Ngày 05/9/1973, vị Giám mục tiên khởi của giáo phận qua đời, và ngày 17/3/1975, cha Ba-tô-lô-mê-ô Nguyễn Sơn Lâm, Bề trên Hội Linh mục Xuân-Bích, được tấn phong Giám mục để trở thành vị chủ chăn thứ hai của Giáo phận Đà-lạt. Ngài đến nhậm chức hai ngày sau đó. Theo thống kê của giáo phận năm 1975, thì số giáo dân Đà-lạt lúc bấy giờ là 80.000 người, gồm 15.000 người thuộc các dân tộc thiểu số, 65.000 người Kinh.
Ngày 24/6/1994, Đức Cha Ba-tô-lô-mê-ô rời Giáo phận Đà-lạt, sau khi được Toà Thánh đặt làm giám mục Giáo phận Thanh-hoá, thuộc Giáo tỉnh Hà-nội. Người kế vị ngài là Đức Cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, Giám mục phó của ngài từ ngày 03/12/1991. Ngày ngài ra đi, số giáo dân toàn giáo phận là 185.000 người, gồm 41.000 người thuộc các dân tộc thiểu số và 144.000 người Kinh.
Mối quan tâm hàng đầu của vị chủ chăn thứ ba của giáo phận là truyền giáo, cách riêng cho đồng bào thuộc các dân tộc thiểu số. Do đó, mà số giáo dân của giáo phận không ngừng tăng vọt: cuối năm 2002, con số đó là trên 285.000 (tăng hơn 100.000 trong vòng 8 năm kể từ khi Đức Cha Phê-rô chính thức trở thành Giám mục Chánh toà Giáo phận Đà-lạt); đến cuối năm 2003 thì con số đó là gần 300.000; và từ giữa năm nay, 2005, theo thống kê mới nhất của giáo phận, thì con số giáo dân trong tỉnh Lâm-đồng là trên 308.000 người, chiếm tỷ lệ trên dưới 30% dân số của tỉnh. Điểm nổi bật là số giáo dân thuộc các dân tộc ít người đã đạt con số không ai ngờ tới: 100.000 người.
Và điều đáng nói hơn nữa là, trong lễ truyền chức linh mục vào ngày 29/9/2005, có một tân chức là con cái của những người dân bản địa, những người chủ của núi rừng Lâm-viên: cha PHÊ-RÔ K’CHẺOH.
***
Ngày 07/12/1927, vào lúc 5 giờ chiều, cha Gioan Cassaigne (Sanh) đã rửa tội cho người dân bản địa đầu tiên, một người đàn bà Kô-hô mắc bệnh phong cùi đang hấp hối. Cha Cassaigne, sau này là Giám mục Sài-gòn (từ 1941 đến 1955), đã ghi lại rằng:
Khi tôi ra về, bà già đáng thương này tỏ vẻ biết ơn và nói với tôi rằng: “Cau dờng! Ăn rơp kăh dơ mê dỡ ăn gũh rê hơ trồ!”, nghĩa là: Ông lớn ơi! Tôi sẽ nhớ đến ông khi tôi ở trên trời! (Lm.Giu-se Phùng Thanh Quang, “Lạc quan trên miền Thượng”, 1973, trang 1122.)
Bà già đã giữ lời hứa! Vì chính bà, chứ không ai khác, đã chuyển cầu và phù hộ cho các nỗ lực truyền giáo của Đức Cha Gioan Cassaigne ngày trước, cũng như của các thế hệ thừa sai, linh mục, tu sĩ, và của Đức Cha Phê-rô cùng các cộng sự viên của ngài ngày nay, để đến thời điểm này – thời điểm giáo phận và giáo xứ Chánh toà Đà-lạt tròn 45 tuổi – một đoàn người đông đảo những đồng bào bản địa của bà đã trở thành con cái Hội Thánh, bên cạnh những người anh em từ nơi khác đến, nhưng cũng đã trở thành người dân của miền núi rừng Lâm-viên thân thương, không những góp phần xây dựng Giáo Hội của Chúa tại địa phương mà còn chung sức làm đẹp quê hương Lâm-đồng của mình!
YU-MA
(Trích bản Tin Vui Mừng và Hy Vọng
Giáo Xứ Chính Tòa Đàlạt
tháng 10/2005)









