NGÀY KHAI MẠC VÀ BẾ MẠC CÔNG ĐỒNG VATICAN II
NHỮNG CỘT MỐC LỊCH SỬ
Lời Tòa soạn :
Cách đây 50 năm, ngày 11-10-1962, Công đồng Vatican II đã khai mạc tại Rôma.
50 năm sau, Công đồng này vẫn còn là một niềm cảm hứng nhưng đồng thời cũng là một nỗi ám
ảnh cho cả những ai muốn hay sợ việc Giáo hội phải mở ra với thế giới hôm nay như Vatican II
chủ trương; cũng như nội dung của Công đồng vẫn còn là một kho tàng cần được tiếp tục đào
sâu, khai thác.
Kỷ niệm nửa thế kỷ ngày khai mạc cuộc “cách mạng” trong Giáo hội Công giáo này, một cuốn
sách dày 575 trang mang tựa đề : “Trận chiến Vatican – 1959-1965. Hậu trường của Công đồng
đã thay đổi Giáo hội” (La bataille du Vatican – 1959-1965. Les coulisses du Concile qui a
changé l’Église), của tác giả Christine Pedotti đã được Nhà xuất bản Plon (Pháp) xuất bản vào
tháng 1 năm 2012. Tác giả đã dành ra hai năm để nghiên cứu lại tất cả các tài liệu liên quan
đến Công đồng cũng như liên quan đến các Nghị phụ Công đồng từ 1959 là năm Đức Gioan
XXIII tuyên bố triệu tập Công đồng Vatican II, cho đến năm 1962 là năm Đức Phaolô VI bế mạc
Công đồng. Và “Để viết cuốn sách này, để nắm bắt được tính người của các vị giáo hoàng, các
vị hồng y, các giám mục, các nhà thần học này, để hiểu được các ngài, tôi đã lượm lặt trong
nguồn tư liệu có được tất cả những dấu vết về những cảm xúc, những trạng thái tâm hồn, những
nghi ngại, những phấn khởi của các ngài. Trong mức độ có thể, khi các nguồn tài liệu là gián
tiếp, tôi phải đối chiếu lại. Khi nguồn tài liệu là trực tiếp, như là các nhật ký riêng, các ghi chép
cá nhân…, thì tôi đơn giản dõi theo dòng tư tưởng, luồng lý luận, đôi khi là lời cầu nguyện của
các ngài. Tôi đã không “sáng tác” ra cái gì cả. Tôi chỉ tiến hành một cách chậm rãi việc tái hiện
lại các sự kiện bằng cách đắm mình vào trong các tài liệu và, từng chút một, mọi việc và mọi
người đã hiện lên một cách sống động.” (trích “Dẫn nhập” của tác giả, trang 13).
11-10-1962 : VATICAN II ĐÃ KHAI MẠC, MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ
Linh mục Henri de Lubac – Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma – Ngày 11-10-1962
Vào buổi sáng ngày 11-10 này, Kinh thành Ánh sáng Rôma thức dậy xám xịt dưới cơn mưa
phùn. Lúc 7 giờ 15, cha Lubac cùng với cha Daniélou đi qua Cánh cửa Đồng. Trên quãng đường
đi bộ này (hai người ở cách đó không xa), cha Daniélou nhắc cho cha Lubac nhớ là Công đồng
Vatican I đã kết thúc dưới một cơn bão lớn. Những ai đã nghĩ rằng việc tuyên bố quyền vô ngộ
của Đức Giáo hoàng không phải là một việc hợp thời có thể coi cơn bão đó như một dấu chỉ khá
ảm đạm cho tương lai của Giáo hội. Và nếu cứ tiếp tục căn cứ vào màu sắc của thời tiết mà xem
xét, thì Công đồng Vatican II đã báo trước cho thấy cũng sẽ tẻ nhạt và vô vị như là những văn
bản đã được chuẩn bị sẵn. Nhưng cha Lubac không phải là người đánh giá một sự kiện qua
những dấu chỉ thời tiết, đàng khác chẳng có gì phải nghi ngờ là thời tiết sẽ nhanh chóng tốt lên.
Đó là một tin vui cho hàng ngàn giám mục đang sắp đi thành đoàn rước tiến về Đền thờ Thánh
Phêrô, với phẩm phục phụng vụ đại trào và đầu đội mũ chóp.
Từ sáng sớm, cha Henri de Lubac có quyền vào trong Đền thờ nhờ chức vụ chính thức của ngài
là chuyên viên thần học (peritus : tiếng latinh; peritus, số ít, periti, số nhiều; dùng để chỉ các
chuyên viên thần học hoặc do Đức giáo hoàng chỉ định – periti conciliaires -, hoặc do các giám
mục đưa đi theo – periti privés – chú thích của tác giả). Sau khi đã là cố vấn trong ủy ban chuẩn
bị về thần học, tuy không mấy khi được tham khảo, lúc này ngài là một trong số 240 thần học gia
do Đức Giáo hoàng bổ nhiệm để phục vụ cho các Nghị phụ Công đồng. Ngài muốn tin rằng thực
tế của cuộc họp công đồng giúp cho các giám mục nắm trong tay các vấn đề và giải quyết các
vấn đề đó để làm cho Giáo hội thực sự loan báo mầu nhiệm đức tin. Kinh nghiệm mà ngài vừa
trải qua, trong đó nếu không phải là tham gia thì ít ra ngài cũng đã có dự phần vào tiến trình
chuẩn bị, đã làm ngài xác tín về tính chất hoàn toàn cứng nhắc của nền thần học như người ta
quan niệm về nó ở Rôma. Nền thần học này về thực chất chỉ là một thứ “bệnh nói suông”. Mối
quan tâm chính của các nhà thần học Rôma tập trung vào việc cai quản Giáo hội. Hệ thống của
họ là một sự tự biện minh của bậc làm thầy. Họ bảo vệ cơ cấu phẩm trật của Giáo hội để bảo vệ
cái quyền hành của họ có được nhân danh quyền tối thượng hoàn toàn và tuyệt đối của người kế
vị Thánh Phêrô, dựa trên câu “Tu es Petrus” được viết trang trí trên vòm Đền thờ (Tu es Petrus :
Con là Đá, là câu Chúa Giêsu nói với Tông đồ Phêrô : “Con là Đá và trên đá này Ta sẽ xây Giáo
hội của Ta” là cơ sở của quyền hành của Đức Giáo hoàng, người kế vị Thánh Phêrô – chú thích
của tác giả). Ngoài mối liên hệ này với Kinh Thánh – chỉ vỏn vẹn ba chữ -, thì nền thần học của
họ chỉ có tính chất tự biện.
Nền thần học của họ được treo lơ lửng trong không trung. Nếu có ai gợi ý với họ là phải đứng
trên mặt đất thì họ trả lời là những việc của thế gian thì thuộc về lãnh vực “mục vụ”. Vì thế nếu
muốn công đồng này phục vụ được cho chuyện gì, thì phải hy vọng là các giám mục đưa các
lược đồ làm việc về lại trên mặt đất. Và vì Đức Thánh Cha đã tin tưởng linh mục Henri de Lubac
khi chỉ định ngài làm chuyên viên công đồng, thì tùy vào khả năng có thể của mình, ngài sẽ hết
lòng phục vụ các giám mục. Hơn nữa, luật lệ cũng nói rõ : “Các chuyên viên thần học của công
đồng được hiện diện trong những trong những phiên họp khoáng đại và chỉ được phát biểu khi
được hỏi. Theo chỉ định của các Chủ tịch các Ban, và tùy theo nội dung được thảo luận, các
chuyên viên thần học của công đồng có nhiệm vụ phục vụ hết khả năng cho bất cứ Ban nào,
bằng cách làm việc với thành viên các Ban về các lược đồ đang được xem xét và về các báo cáo
đang được soạn thảo.”
Thực tế, có nhiều giám mục đến dự công đồng với một chuyên viên thần học “riêng”, nhưng quy
chế “chuyên viên thần học của công đồng” buộc các nhà thần học phải phục vụ toàn thể đại hội
đồng. Và với danh hiệu này, họ được tham dự toàn bộ các phiên họp khoáng đại của công đồng.
– Chỗ của cha ở đây. – Vị tu sĩ trẻ mặc áo choàng đỏ vừa mới dẫn các chuyên viên thần học đến
chân cầu thang các đài có những chỗ ngồi dành riêng, hướng dẫn.
Như thế đây là đài quan sát của các chuyên viên. Được xếp phía trên, chỗ của các chuyên viên
nhô cao trên các dãy ghế của các Nghị phụ công đồng. Lúc này các hàng ghế còn trống.
Đền thờ Thánh Phêrô của Rôma có một hình dạng vĩ đại, lại vừa có nét rất vua chúa và đậm kiểu
kiến trúc ba-rốc, tóm lại, rất là Rôma.
Lúc 8 giờ 30, những chiếc mũ gàu đầu tiên bắt đầu xuất hiện. Các giám mục mặc phẩm phục
toàn màu vàng và trắng, nổi bật trên nền đỏ của những tấm màn, tạo nên một cảm giác hoàn hảo
và… vô tận. Các ca đoàn của Điện Sixtine bắt đầu đồng loạt cất tiếng hát. Cùng lúc là Credo,
Benedictus, Adoro Te, Salve Regina…, trong một sự hỗn độn. Việc hát lúc này chỉ có tính chất
trang trí, như các tấm thảm nhung, các cờ phướn. Tất cả đó chẳng có vẻ gì là cổ vũ bầu khí cầu
nguyện, ít nhất là cầu nguyện chung. Người ta đang chờ đợi đoàn các hồng y và Đức Giáo
hoàng…
Hồng y Léon- Joseph Suenens – Phòng Áo lễ, Đền thờ Thánh Phêrô – Ngày 11-10-1962
Vào buổi sáng ngày 11-10 ấy, hồng y đoàn có mặt đầy đủ hoàn toàn, 80 vị mặc phẩm phục đỏ,
chen chúc nhau trong Phòng Áo lễ, một căn phòng mà bình thường thì chỉ chứa được tối đa vài
ba chục người. Bằng chứng là trong phòng chỉ có 30 cái ghế.
Các vị lịch sự nhường nhau. Đức Hồng y Siri, Giáo phận Gênes, nhường chỗ cho Đức Hồng y
Lercaro, Giáo phận Bologne, lớn hơn mình 15 tuổi. Nhân viên phụ trách căn phòng chạy quanh
tìm thêm ghế. Tất cả đó diễn ra trong tiếng xột xoạt của vải lụa lấp lánh vân của những bộ áo lễ
đỏ thắm. Các “hoàng tử của Giáo hội” này, như báo chí thường gọi, đang chuẩn bị bước vào Đền
thờ Thánh Phêrô và bao quanh Đức Giáo hoàng trong nghi lễ khai mạc trọng thể Công đồng
Vatican II.
Đức Léon-Joseph Suenens, Tổng giám mục Giáo phận Bruxelles-Malines, là một trong “mười
người sau rốt” trong số các hồng y, bởi vì ngài chỉ mới được phong chức này từ ba tháng nay.
Tuy vậy Rôma không phải là xa lạ đối với ngài. Hai năm gần đây, ngài đã làm việc tại Ủy ban
chuẩn bị trung ương, một vị trí đưa ngài đến Vatican nhiều lần. Mùa hè vừa qua, ngài còn quay
lại Castel Gandolfo, lâu đài nghỉ hè của giáo hoàng, theo lời mời của Đức Gioan XXIII. Từ hồi
mùa xuân, ngài đã chia sẻ với Đức Thánh Cha những lo âu của mình. Và vào mùa hè này, ngài
đã đề nghị một kế hoạch làm việc cho công đồng. Ý kiến của ngài, đó là chủ đề trung tâm của
công đồng phải là Giáo hội. Phải quay trở lại với lý do tồn tại của Giáo hội như là khi Đức Kitô
xây dựng lên Giáo hội, nghĩa là một Giáo hội được định hướng bởi tinh thần thừa sai. Và để có
thể chu toàn sứ vụ này, Giáo hội vừa phải tự định nghĩa lại chính mình (ad intra), phải xác định
ai là thành viên của mình, mình hoạt động như thế nào, phải tự thâm tín về nền tảng của chính
mình, về niềm tin mà Giáo hội tin theo và làm chứng. Đồng thời Giáo hội cũng phải tự xác định
mối tương quan với bên ngoài (ad extra), với thế giới, với con người thời nay, và Giáo hội phải
tìm những ngôn ngữ và những phương tiện để loan báo cho họ Tin Mừng trong thế giới hiện tại,
một thế giới đang mang dấu ấn của chủ nghĩa cộng sản, của chủ nghĩa duy vật vô thần, của cuộc
đối đầu Đông-Tây, của mối đe dọa hạt nhân, của sự xuất hiện ồ ạt các quốc gia non trẻ của thế
giới thứ ba trên sân khấu quốc tế, của vấn đề phát triển và những vấn đề về nạn đói, về tình trạng
nghèo khổ.
Dĩ nhiên, để trực diện với những thách đố mới này, Giáo hội phải có một tầm nhìn năng động,
khác xa với chủ nghĩa duy luật đã ăn sâu trong nếp nghĩ của Giáo hội từ hơn một thế kỷ qua và
còn được lập lại trong thập niên vừa qua. Trong những lần lưu lại Rôma gần đây, Đức Hồng y
Léon-Joseph Suenens đã đo lường được mức độ những con người của Giáo triều và những nhà
thần học Rôma đã tạo nên một thế giới thần học bé nhỏ chỉ dán mắt về quá khứ. Họ than thở về
điều mà họ gọi là “sự bội giáo của các quốc gia”, là tính thế tục chống lại nước Chúa, là các thứ
nhân quyền đi ngược lại quyền của Chúa…
Nhưng cuộc sống của thế giới, đó là những đám đông đàn ông, đàn bà sống khắp nơi trong các
thành phố công nghiệp lớn chẳng biết gì về Đức Kitô. Đó là hàng triệu con người sống dưới chủ
nghĩa cộng sản, đó là những niềm hy vọng nẩy sinh từ các dân tộc đang phát triển. Lời than thở
của Đức Kitô vang lên không ngừng : “Chúng như những đàn chiên không có người chăn.”
Những con người này cần những mục tử nhân lành, theo hình ảnh của Vị Mục tử Duy nhất, và
dẫn dắt họ đến những đồng cỏ xanh tươi bằng những đường chính nẻo ngay. Không có ai có
quyền khóa nhốt họ trong chuồng chiên. Đức Thánh Cha có một ý tưởng cao cả về vai trò mục tử
của mình, một mục tử nhân lành. Đó là sứ vụ mà Thánh Phêrô đã nhận từ Đức Giêsu : “Hãy chăn
các con chiên của Ta.” Đức Giáo hoàng Gioan muốn rằng các con chiên nghe tiếng mục tử, nhận
biết và đi theo mục tử. Ngài không muốn là một mục tử chăn chiên của mình bằng gậy gộc và
xua chó hành hạ những con chiên lạc.
Vậy thì công đồng của Giáo hội công giáo có sẽ là tiếng gọi của Vị Mục tử Nhân lành ? Và thế
giới, nhờ vào các phương tiện truyền thông hiện đại, đang hướng mắt về Rôma, hiểu về sự kiện
này như thế nào ? Có lẽ chẳng cần phải tổ chức các đoàn giám mục và hồng y diễu hành như
sáng nay. Các cuộc diễu hành đã có khá nhiều ở Matxcơva hay ở Bắc Kinh, cũng đã có đủ trong
những năm chiến tranh khủng khiếp mà châu Âu và thế giới vừa mới trải qua. Giáo hội phải
mang một tiếng nói hy vọng cho thời đại này, phải là một dấu chỉ của hòa bình, và là một đòi hỏi
cho công bằng, một lời kêu gọi tình huynh đệ hoàn vũ và sự hiệp nhất của nhân loại.
Mùa hè đó, tại lâu đài Castel Gandolfo, ngài nhận ra là Đức Giáo hoàng hoàn toàn đồng ý với
cách nhìn của ngài. Ngài còn nhận ra điều này qua những điểm nhấn trong bài diễn văn truyền
thanh ngày 11-9. Đức Thánh Cha nói : “Ánh sáng của Đức Kitô là ánh sáng của Giáo hội và ánh
sáng của các dân tộc. Chính trong những gì Giáo hội phục vụ con người là Giáo hội phục vụ
Thiên Chúa.”
Liệu đại hội đồng các giám mục có tận dụng được cơ hội mà Đức Giáo hoàng tạo nên cho các
ngài ? Nếu tin vào các tiếng dội khác nhau về vấn đề này, thì đang có một tình cảm bất bình ít
nhiều được biểu lộ đối với những văn bản chuẩn bị cho Công đồng. Các giám mục Đức xem ra
cương quyết từ chối các văn bản này một cách dứt khoát. Người ta còn nói là nhà thần học lớn
Karl Rahner đã chấp nhận, theo yêu cầu của các giám mục, việc viết một bản dự thảo mới cho
văn kiện về Giáo hội. Các giám mục Hà Lan cũng rất ngập ngừng. Nhà thần học Hà Lan Edward
Schillebeeckx đã viết một lời bình mang tính phê phán nặng nề sau khi đọc các văn bản chuẩn bị.
Về phía các giám mục Pháp, cũng đã có những tiếng nói mạnh mẽ. Nhưng tất cả đó không tạo ra
một tiếng nói đa số, và còn lâu mới đạt đến đa số. Phải biết đến sức nặng của các giám mục Ý,
mà tất cả vốn ngả theo lập trường của Giáo triều. Ngoại trừ Đức Montini của Milan, và Đức
Lercaro của Bologne… Nhưng chừng đó cũng chưa đủ để lật ngược thế cờ.
Một vài giám mục Pháp đã đưa ra ý kiến là Công đồng nên bắt đầu bằng việc ngỏ lời với thế
giới. Linh mục dòng Đa Minh Marie-Dominique Chenu đã soạn thảo một văn bản khởi đầu, Linh
mục Yves Congar ủng hộ việc này và đã đề nghị với vài giám mục để tiến hành vụ việc. Đức
Hồng y Liénart, Giáo phận Lille đã chấp nhận, cũng như Đức Dopfner của Munich, và Đức
Alfrink của Utrecht. Bản thân Đức Suenens cũng đồng ý. Trước đó, ngài đã nghe hai Đức Hồng
y Frings và Dopfner bàn bạc với nhau về việc này. Đức Hồng y Confalonieri, người của Giáo
triều, hình như cũng ủng hộ việc này, và đây quả là một ngạc nhiên tốt.
Đức Hồng y Léon-Joseph Suenens cố gắng cầm lòng cầm trí để cầu nguyện mặc cho tiếng ồn ào
chung quanh. Ngài phó thác mình cho Đức Trinh nữ Maria. Còn có thể cầu nguyện với ai hay
hơn là với Đấng đã đón nhận Thánh Thần để cầu cho Thần Khí Chúa đến với công đồng và để
cho Tin Mừng lại được rao giảng cho thế giới ?
Nhưng rồi ngài nhanh chóng bị kéo ra khỏi sự chiêm niệm. Đức Thánh Cha đến, mọi người xô
nhau đứng lên. Đức Hồng y quan sát sự trầm tĩnh của Đức Giáo hoàng khi người ta mặc áo lễ
cho ngài. Nét mặt ngài nghiêm trang nhưng không biểu lộ một dấu hiệu âu lo nào. Ngài có vẻ
như rất nắm vững sự kiện sắp diễn ra. Nhìn ngài cũng đủ để cho sự trông cậy của ngài lan tỏa
đến mình. Sau khi dừng một lúc ở nguyện đường Pauline để hát bài Ave Maris Stella, dưới ánh
mắt của Thánh Phêrô và Phaolô, vốn rất sinh động dưới nét vẽ của Michel-Ange, đoàn rước
chuyển động chầm chậm về hướng Đền thờ, nơi 2.500 giám mục, quan sát viên, thần học gia và
khách mời quan trọng đã tề tựu. Cơn mưa buổi sáng sớm đã dứt. Nắng mai đổ tràn trên quãng
trường Thánh Phêrô, và những luồng ánh sáng bừng lên trong Đền thờ.
Đi trước Đức Giáo hoàng, đoàn các hồng y bước vào Đền thờ đã đầy ắp người. Cả một rừng mũ
gàu trắng đang đồng loạt nghiêng xuống chờ đợi vị giáo chủ đang là người cuối cùng của đoàn
rước tiến vào Đền thờ, quả là một hình ảnh vừa ấn tượng vừa ngoạn mục.
Đức Thánh Cha bước lên bàn thờ, quỳ gối và cất tiếng hát bài “Cầu xin Chúa Thánh Thần”. Các
ca đoàn của nguyện đường Sixtine hòa giọng theo. Và Đức Hồng y Tisserant, với tư cách là niên
trưởng Hồng y đoàn, đã cử hành thánh lễ kính Chúa Thánh Thần.
Tiếp đó, sách Phúc Âm được mang đến. Đức Giuseppe Siri được phân công cầu nguyện để xin
cho sự hiện diện của Lời Chúa giữa đại hội đồng công đồng giúp cho mỗi người trong bổn phận
hàng đầu của mình, bổn phận phục vụ Chúa. Non nobis domine, đó là câu khẩu hiệu, “Lạy Chúa,
không vì vinh quang của chúng con, mà vì vinh quang của Danh Chúa”.
Đức Giáo hoàng, một mình, quỳ gối đọc lời tuyên xưng đức tin, có Đức Giám mục Felici, giọng
lạc đi vì xúc động, lập lại các lời tuyên xưng thay mặt cho toàn thể các Nghị phụ công đồng. Sau
đó là nghi thức vâng phục, lần lượt các hồng y đến quỳ gối và hôn tay Đức Thánh Cha. Một số
giám mục và tổng giám mục cũng được chọn để thay mặt các đồng sự lên hôn đầu gối Đức Giáo
hoàng. Và, để kết thúc, bề trên các dòng tu lớn lên hôn chân ngài.
Cuối cùng Đức Giáo hoàng đã đọc một diễn văn khá dài bằng tiếng la tinh; Đức Hồng y Siri đã
thú nhận là ngài không hiểu hết được nội dung bài diễn văn. Đã một giờ trưa, cuộc lễ đã kéo dài
tới 5 giờ đồng hồ.
Đức Hồng y Achille Liénart – Đền thờ Thánh Phêrô – ngày 13-10-1962
Bước xuống từ những chiếc xe ca to nối đuôi nhau thành hàng dài, các Nghị phụ công đồng hối
hả nấp vào dưới những hàng cột của kiến trúc sư Bernin ở Quảng trường Thánh Phêrô. Hai ngày
trước đây, các ngài đã tham dự lễ khai mạc công đồng do Đức Giáo hoàng chủ sự với phẩm phục
đại trào, đầu đội mũ gầu. Hôm nay, dưới cơn mưa to, các ngài chỉ mặc áo chùng đơn sơ, khoác
thêm chiếc áo trắng rộng tay dài tới đầu gối, cùng miếng vải choàng màu tím cho các giám mục,
đỏ cho các hồng y, còn các bề trên dòng thì đen, trắng hay xám tùy theo dòng. Đây là phiên họp
“thực sự” đầu tiên của công đồng.
Và giống như mọi buổi sáng của Công đồng, đúng 9 giờ, các Nghị phụ bắt đầu bằng thánh lễ.
Sáng hôm nay, thánh lễ do Đức Giám mục Florit, Tổng giám mục giáo phận Florence, chủ
tế. Và thêm một lần nữa, các nghị phụ chọn lễ kính Chúa Thánh Thần, nhưng là một thánh lễ
được cử hành theo nghi thức đối đáp bình thường.
Trên bàn chủ tọa, Đức Hồng y Achille ngồi giữa 10 Hồng y của Chủ tịch đoàn của Công đồng.
Cũng nên kể ra đây danh sách các hồng y để thấy tính chất quốc tế của Đoàn Chủ tịch : Eugène
Tisserant, gốc Pháp, niên trưởng Hồng y đoàn, nổi bật với bộ râu rậm; Gabriel Tappouni,
Thượng phụ của Antioche; Norman Gilroy, của Sydney; Francis Spellman, của New York;
Enrique Pla y Deniel, của Tolède; Ernesto Ruffini, của Palerme; Antonio Caggiano, của Buenos
Aires; Joseph Frings, của Cologne; và cuối cùng, vị trẻ nhất, là Bernard Alfrink, của Utrecht, 62
tuổi. Trong buổi sáng đầu tiên này, theo thứ tự, chắc chắn Đức Hồng y Tisserant sẽ điều khiển
phiên họp.
Trước khi bước vào phần thảo luận các văn kiện, đại hội đồng Công đồng phải làm một số thủ
tục mà bắt đầu là chọn ra các đại diện cho các ban chuyên môn chính có nhiệm vụ xem lại và sửa
chữa các văn kiện theo ý muốn của các Nghị phụ. Thực tế, tất cả các Nghị phụ có thể có ý kiến
công khai về các văn kiện đã được soạn thảo, và căn cứ trên các ý kiến đó, các ban chuyên môn
có nhiệm vụ ghi nhận các ý kiến này và đưa vào các văn kiện để các văn kiện này có thể được
thông qua trong các phiên họp khoáng đại bằng các lá phiếu của các Nghị phụ với đa số quá 2/3.
Đức Hồng y Tisserant đã nhường lời cho Đức Giám mục Felici, Tổng thư ký của Công đồng,
hướng dẫn cho các giám mục phải điền vào các mẫu phiếu đề cử đã được phát cho các ngài. Vì
có tới 10 ban, nên các ngài phải điền 10 danh sách đề cử, mỗi danh sách 16 tên. Đức Felici cũng
nói rõ là số lượng đầy đủ của mỗi ban là 24 thành viên, nhưng các giám mục chỉ đề cử 16 người
thôi, số 8 thành viên còn lại cho mỗi ban sẽ do Đức Giáo hoàng chỉ định.
Trên bàn chủ tọa, Đức Achille Liénart biết rằng, đối với ngài, thời điểm đã đến. Ngài nghiêng
người về phía Đức Hồng y Tisserant phía bên trái để xin phép phát biểu. Đức Tisserant lắc đầu :
phải để các giám mục bỏ phiếu một cách yên tĩnh, đây không phải là lúc quấy rầy họ. Quả thực,
nhiều giám mục đã cắm cúi vào các phiếu đề cử như những học sinh ngoan ngoãn. Để giúp các
ngài chọn lựa, các ngài được cung cấp cuốn niên giám đầy đủ và mới nhất về tất cả các giám
mục và bề trên dòng hiện diện tại Công đồng, và danh sách, theo từng ban, của những vị đã tham
gia vào các công việc chuẩn bị Công đồng. Đức Hồng y Liénart lại ra dấu, và người ngồi cạnh
bên trái vẫn ra dấu không đồng ý. Vị hồng y người Pháp vò tấm giấy trên đó ngài đã ghi lại văn
bản bằng tiếng la tinh mà Đức Giám mục Garrone, vị Tổng giám mục trẻ của Toulouse, và Đức
Giám mục Ancel, giám mục phụ tá Lyon, cả hai đều giỏi tiếng la tinh hơn ngài, đã soạn ra. Sáng
nay, trên chiếc xe con (đây là một đặc ân của các hồng y, trong khi các giám mục thì được đưa
đón bằng xe buýt), ngài còn nhẩm lui nhẩm tới. Bây giờ thì ngài không cần phải nhẩm nữa, ngài
đã thuộc nằm lòng. Thế thì, phải xông lên thôi ! Ngài đứng dậy, cầm lấy chiếc micro đang để
trước mặt và, bằng một giọng sang sảng vang dội trong bầu khí yên lặng như trong lớp học của
Đền thờ, ngài nói rằng, theo ngài, lúc này có lẽ còn quá sớm để tiến hành bầu cử các thành viên
của các ban. Các giám mục mới đến Rôma có ba ngày, phải có thời gian cho các ngài hiểu biết
nhau. Đây là một việc quan trọng, vì thế cần có thời gian để tìm hiểu. Ngài nói thêm là bản thân
ngài cũng chưa có thời gian để thu thập thông tin cho mình, và nên để ra ba, bốn ngày để làm
việc này. Trong đại hội trường, các giám mục đã ngửng đầu lên. Rồi các ngài quay sang nhau.
Và tiếng vỗ tay nổ ra, lúc đầu còn rời rạc, ngập ngừng, rồi càng lúc càng nhiều, dứt khoát. Đức
Liénart lên tiếng tiếp. Ngài đề nghị là mỗi hội đồng giám mục làm ra một danh sách để đưa cho
các hội đồng giám mục khác, và như thế mọi người có thời gian để gặp gỡ nhau, hiểu biết nhau,
tin cậy nhau, giữa các giám mục cùng một quốc gia, cũng như giữa các giám mục trên toàn thế
giới. Ngài ngồi xuống giữa tiếng vỗ tay như sấm rền. Đức Hồng y Frings, trên bàn chủ tọa, cũng
đứng lên. Cầm lấy chiếc micro để bên cạnh, ngài tuyên bố đồng ý với đề nghị của Đức Liénart,
và cho biết các Đức Hồng y Dopfner và Konig cũng đồng ý như vậy. Ngài cũng được vỗ tay
hoan hô nhiệt liệt. Đến đây thì các giám mục đã bỏ giấy bút xuống và im lặng chờ đợi. Trên bàn
chủ tọa, các hồng y quay sang nhau hội ý. Và thời gian chờ đợi không dài quá ít phút. Các hồng
y ra dấu cho Đức Giám mục Felici lên tiếng và ngài đã tuyên bố là đề nghị được chấp thuận.
Phiên họp bầu cử các ban sẽ diễn ra vào ngày 16-10. Và ngài cũng tranh thủ để xác định là các
hồng y cũng có thể được bầu vào các ban.
10 giờ sáng, dưới những cặp mắt sửng sốt của hơn một ngàn nhà báo đang chờ ở Quãng trường
Thánh Phêrô để được Đức Thánh Cha tiếp kiến, các giám mục bước ra khỏi Đền thờ sớm hơn
khoảng hai tiếng rưỡi theo dự định. Các ngài đang trong tình trạng hồ hởi mạnh mẽ. Đó là ngạc
nhiên to lớn mà công đồng, mà nhiều người đã lo sợ là sẽ như một thứ nghi lễ soạn sẵn và là một
nơi phát ra những ghi âm các văn kiện do các cơ quan ở Rôma soạn ra, đã làm được ngay từ giờ
phút đầu tiên.
Các nhà báo đã không bỏ qua một sự kiện bất ngờ như thế này, và trong tâm trạng hồ hởi của
nhiều Nghị phụ, mặc dù có nguyên tắc chung cho các giám mục là phải giữ “bí mật” những gì
diễn ra bên trong Công đồng, các nhà báo cũng không khó khăn gì mấy trong việc tái hiện lại các
sự kiện. Đàng khác, truyền hình đã ghi lại những hình ảnh không có âm thanh về phiên họp, tuy
là phim câm nhưng lại rất có tính thuyết phục. Đặc biệt người xem thấy ở đó vẻ bực tức và cử
chỉ giận dữ của Đức Hồng y Ottaviani.
Trước Đền thờ, trong khi chờ xe buýt đến đón, một nhóm giám mục Pháp bao quanh và chúc
mừng Đức Hồng y Liénart. Việc biểu lộ niềm vui có hơi hướm quốc gia này không thoát được sự
chú ý của Đức Cha Balic; với một âm điệu nửa Ý, nửa Croatia, ngài đã phán một câu mỉa mai
với nhóm giáo sĩ người Pháp : “Ah, Allons enfants de la patrie, le jour de gloire est arrivé !”
(nhại lại lời bài quốc ca của Pháp – Hãy tiến lên những người con của tổ quốc, ngày vinh quang
đã đến!).
Trong số các giám mục Pháp, có một người yên lặng tận hưởng không phải là vinh quang của
mình mà là chiến thắng “của mình”. Đức Giám mục Garrone, Tổng giám mục Toulouse, đã
không phí thời gian vào mùa hè vừa qua khi nghiên cứu kỹ luật lệ của Công đồng. Từ sớm, ngài
đã nhận ra rằng việc bầu chọn thành viên của các ban của công đồng có thể là một trong những
thời điểm chiến lược để làm cho đại hội đồng công đồng thoát khỏi ảnh hưởng của Giáo triều
Rôma. Rõ ràng là mọi việc đã được thực hiện để các Nghị phụ công đồng giữ lại các ban chuẩn
bị công đồng. Chỉ cần nhìn vào các phương tiện đã được phân phát cho các Nghị phụ : tiêu biểu
là khuôn khổ và hình thức các phiếu bầu và khuôn khổ, hình thức các danh sách các thành viên
của các ban chuẩn bị Công đồng là giống nhau. Thông điệp ở đây là rõ ràng : quý vị chỉ cần chép
lại thôi. Nhưng phát biểu của Đức Hồng y Liénart làm cho các giám mục suy nghĩ và đề cử với
các giám mục khác danh sách những người mà mình đặt tin tưởng vào. 160 thành viên được
chọn ra theo cách đó (16 thành viên cho mỗi ban, và có cả thảy 10 ban) có thể thực sự là những
người năng nổ nhất trong công việc của công đồng. Cũng là bình thường khi tính chất đa dạng
của đại hội đồng công đồng được thể hiện qua các ban này.
8-12-1965 : CÔNG ĐỒNG VATICAN II BẾ MẠC, DẤU ẤN LỊCH SỬ KHÔNG DỪNG
LẠI
Hội trường Công đồng – Ngày 7-12-1965
Sáng hôm ấy, khi bước vào Đền thờ Thánh Phêrô, các nghị phụ có cảm giác lẫn lộn giữa nhẹ
nhõm, vui mừng, và có cả nhớ nhung. Nhiều vị đưa mắt nhìn cái khung cảnh đã trở nên quen
thuộc và, khi hạ chiếc ghế nhung mà các vị đã ngồi biết bao buổi sáng từ ba năm nay, trong suốt
bốn khóa họp, đã có một cử chỉ âu yếm như vuốt ve một con thú nuôi già nua và trung thành
trong nhà. Đó là lần thứ 169 mà các nghị phụ tụ họp lại dưới những mái trần vòm của Đền thờ,
các ngài đã làm việc 520 giờ đồng hồ, đã nghe hơn 1.500 phát biểu. Cái bàn quỳ xếp dưới chân
đã nâng đỡ đầu gối của các ngài biết bao lần, khi các ngài quỳ khẩn cầu Chúa gởi Thần Khí Chúa
xuống trên công đồng để xua tan những yếu đuối con người, hỗ trợ cho trí thông minh, uốn nắn
những xơ cứng của các ngài.
Nơi đây, trong khung cảnh hoành tráng này, đã diễn ra một cuộc phiêu lưu vĩ đại của con người,
vừa về trí thức, vừa về đạo đức. Đôi khi, các ngài bị bối rối, vị sốc, bị làm phiền. Các ngài đã trải
qua sự giận dữ và niềm vui, và, cũng phải thú nhận, cả phiền nhiễu. Và sáng hôm nay sẽ là lần
cuối cùng… Ai có thể tránh được việc thả hồn mơ màng một lúc trước khi hoàn toàn bị cuốn
theo một hành động của ân sủng vì những gì đã được thực hiện… đôi khi trong đau đớn, nhưng
đã đến nơi đến chốn, và sắp hoàn tất ?
Tổng cộng, 16 văn kiện đã được hoàn chỉnh. Hai trong khóa họp đầu tiên, ba trong khóa họp thứ
ba, và 11 trong khóa họp cuối này.
Người ta đã làm việc này trong nhiều lần. Năm văn kiện đã được ban hành ngày 28-10. Ngày 18-
11, hai văn kiện mới đã được dứt khoát thông qua và được Đức Giáo hoàng công bố. Đó là Hiến
chế Dei Verbum, về vấn đề Mạc khải, một văn kiện đã gây nhiều bất đồng trong khóa họp thứ
nhất nhưng cuối cùng đã có được sự đồng thuận của tất cả mọi người, hay gần như thế, và Sắc
lệnh Apostolicam Actuositatem về tông đồ giáo dân; đây thực sự là việc khai sinh ơn gọi của
người giáo dân và về trách nhiệm của họ trong Giáo hội. Bốn văn kiện cuối cùng phải chờ cho
đến phiên họp cuối cùng, tức là chính vào ngày hôm nay.
Để đi đến kết quả này, các máy kiểm phiếu đã chạy hơn 500 lần, trong số đó một nửa là trong
khóa họp cuối cùng.
Nếu tất cả các Nghị phụ và tất cả các chuyên viên có được những con số này trong đầu, thì các
ngài có thể hiểu được tại sao, về mặt tình cảm, cái cảm giác mạnh nhất nơi các ngài là một sự
mệt mỏi to lớn.
Đối với nhiều người, đó là một sự mệt mỏi hạnh phúc, một thứ mệt mỏi có được khi, với tư cách
là một người thợ giỏi và trung tín, nhìn lại tác phẩm của đôi tay mình. Tuy nhiên, đối với một số
người, sự mệt mỏi này trở nên như một sự kiệt lực thực sự. Đó là trường hợp, trong nhiều trường
hợp khác, của Đức Hồng y Lercaro, người vừa phải trải qua những cơn khó chịu kéo dài, và của
Đức Giám mục Guano, đến nay vẫn còn phải nghỉ dưỡng sức. Còn đối với các chuyên viên,
những “thợ hầm lò” của công đồng, những con người đã phải xử lý và giải mã hàng chục ngàn
trang bản sửa đổi văn kiện phần lớn viết bằng tay, những người đã chọn lựa, cắt xén, ráp nối, và
đã được biết đến như những con ong dũng cảm cần mẫn hút mật, chính trong số họ mà đã nổi
lên những anh hùng trong bóng tối, trong đó một số người thực sự đi đến mức tử đạo. Chẳng
hạn, Đức Giám mục Philips đã quay về nhà ở Bỉ để nghỉ ngơi hơn cả tháng vì bị một cơn đau
tim; còn đối với Yves Congar thì ngày càng yếu sức.
Tất cả các giám mục, các hồng y bây giờ đã vào chỗ ngồi, cũng như tất cả các chuyên viên, các
quan sát viên, các giáo dân dự thính viên, và cả rất đông nhà ngoại giao và nhiều nhân vật khác
đã có được một giấy phép tham dự phiên họp cuối cùng này. Có thể nói là Đền thờ đầy ắp người
như muốn vỡ tung ra và trên các bục ghế, người ta không có khoảng trống để thở.
Lúc 9 giờ, Đức Giáo hoàng bước vào, theo sau có 24 vị đồng tế. Như mỗi buổi sáng, sách Tin
Mừng được rước vào, như một dấu hiệu cho thấy là Giáo hội đang sống sung mãn, như Hiến
chế Dei Verbum đã đổi mới xác tín về điều này, “dưới Lời của Chúa”.
Lần cuối cùng, người ta hát bài Adsumus vốn được cất lên đều đặc hằng ngày trước khi các Nghị
phụ bắt đầu làm việc, rồi tiếp đó là kinh Veni Creator, lời cầu khẩn tha thiết xin Chúa Thánh
Thần ngự đến.
Thế là, cùng với Thần Khí Chúa, bây giờ mọi người đã có mặt ở đây, Đức Hồng y Pericle Felici
nghĩ thế. Vị tổng thư ký của Công đồng luôn luôn chực chờ cơ hội để nói một câu vui đùa nào
đó. Nhưng sáng nay, mặc cho có tiếng là thích khôi hài, bầu khí long trọng của lúc này làm ngài
không dám nói to điều mình nghĩ.
Tuy nhiên, ngài cũng phải định thần lại để ngỏ lời giới thiệu bốn văn kiện được đề nghị đưa ra
cho các Nghị phụ thông qua lần cuối cách long trọng trước khi Đức Thánh Cha tuyên bố ban
hành.
Theo thứ tự, đó là bản Tuyên bố về tự do tín ngưỡng, Dignitatis Humanae, vốn là đối tượng của
biết bao tranh cãi và cho tới ngày cuối cùng còn làm dậy lên phản ứng dữ dội của một nhóm
chống đối không khoan nhượng. Hồi tháng Chín, trong lần bỏ phiếu đầu tiên, nhóm này là 250
vị, và tiếp đến, lần bỏ phiếu cách đây mấy ngày cái văn kiện đã được sửa sang lại này, con số
vẫn là 250 Nghị phụ mà có vẻ sẽ không có gì làm cho các vị nhượng bộ nếu không phải là phải
rút văn kiện này lại hay phải viết lại văn kiện từ đầu đến cuối.
Tiếp đến là Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội, Ad Gentes, rồi Sắc lệnh về các chức
thánh và về đời sống linh mục, Presbyterorum Ordinis, và cuối cùng là văn kiện đã là mối quan
tâm lớn của khóa họp cuối cùng này và đã trải qua những giai đoạn bi thảm, đó là lược đồ XVII,
sau đó trở thành lược đồ XIII, “Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay”, cho dù
được khai sinh trong đau đớn nhưng lại được đặt tên là Gaudium et Spes, “Vui mừng và Hy
vọng”.
Đức Hồng y Suenens cho rằng nội cái tên của Hiến chế này thôi cũng có thể làm cho tâm hồn
Đức Gioan XXIII vui lên. Có rất nhiều Nghị phụ xác tín rằng vị giáo hoàng quá cố là một trong
những người thiết kế nên công đồng khi triệu tập nó, vì thế mà, sau khi từ trần, trong niềm hiệp
thông các thánh thông công, ngài đã không ngừng xin Chúa can thiệp để cho công trình ngài đã
xúc tiến có được một kết quả tốt đẹp. Đã có rất đông người muốn Đức cố Gioan XXIII được
tuyên bố là “thánh” bằng cách vỗ tay tung hô, như vẫn thường làm trong những thời kỳ đầu của
Giáo hội. Nhưng Đức Phaolô VI đã quyết định cách khác. Ngài tuyên bố là việc phong thánh cho
Đức Gioan XXIII sẽ được xem xét và theo những tiến trình thông thường. Quyết định này đã tạo
nên một sự thất vọng lớn lao, và càng trầm trọng hơn bởi việc Đức Phaolô VI, như thể muốn
dung hòa tất cả các luồng ý kiến, đã tuyên bố cũng trong thời gian đó việc mở án phong thánh
cho Đức Piô XII.
Đức Léon-Joseph Suenens đã chứng kiến người bạn rất thân và rất nhạy cảm của mình, Đức
Dom Helder, phản ứng. Không phải vì Đức Dom có điều gì phiền trách Đức Piô XII; ngài có một
sự vâng lời và một lòng trung thành mạnh mẽ, nhưng khuôn mặt của ngài thì không hề biết che
giấu những biến động trong lòng của một con người mà Đức Gioan và Đức Piô không phải là
một. Vị tiên tri người Braxin nhỏ bé – nhỏ về vóc dáng, đã có một sự khâm phục rất lớn đối với
Đức Gioan XXIII. Ngài nhìn thấy nơi con người này công việc của Chúa làm. Và ngài ca tụng
Đấng Tạo hóa. Đức Suenens mỉm cười vì thấy con người của giáo phận Recife thật tuyệt vời. Đó
là một con người được biến hình theo nghĩa bóng. Sự khiêm nhường của ngài là sự khiêm
nhường của các thánh, và cũng không nghi ngờ gì, ngài đã là một vị thánh. Cầu Chúa cho ngài
sống lâu bởi vì lời ngài nói có sức làm biến đổi tâm hồn con người. Sẽ có một ngày ngài có mặt
trong số các thánh mà Giáo hội tôn vinh và trở thành một tấm gương cho các thế hệ tương lai.
Đức Felici đã cử hành xong thánh lễ, các Nghị phụ bắt đầu cúi xuống trên các lá phiếu để tiến
hành bốn cuộc bỏ phiếu cuối cùng. Cuộc bỏ phiếu chót hết để thông qua Hiến chế Gaudium et
Spes, là lần thứ 544. Quả là một cuộc chạy đua đường dài !
Trong lúc mọi người bỏ phiếu, Đức Felici, người thường có thói quen lấp thời gian trống bằng
cách kể cho các Nghị phụ những câu chuyện vui, luôn luôn bằng một thứ tiếng la tinh xuôi chảy
và sang trọng, đã không bỏ lỡ cơ hội này. Ngài nhân danh các Nghị phụ để cám ơn Đức Thánh
Cha vì đã tặng cho các Nghị phụ những chiếc nhẫn và ngài đã được hưởng ứng nhiệt liệt bằng
những tràng pháo tay vang dội.
Những ai có cặp mắt tinh tế có thể để ý thấy rằng, xung quanh họ, rất nhiều giám mục đã mang
chiếc nhẫn đó như là chiếc nhẫn giám mục. Đức Hồng y Suenens nhìn tay Đức Giáo hoàng.
Vâng, hình như cả Đức Giáo hoàng ngày hôm đó cũng chọn cùng chiếc nhẫn đó để mang.
Lúc này, con người mà ông đã bầu làm giáo hoàng và đã nhận một nhiệm vụ quá nặng nề là
người đồng hành với công đồng cho đến khi hoàn thành kia đang nghĩ gì ? Đức Suenens đã bị
phân chia. Một mặt ông có một tinh huynh đệ thực sự với Đức Phaolô, hơn thế, thường xuyên
hơn, ông nhớ đến Đức Phaolô và cầu nguyện cho ngài với cách gọi “người anh em Phaolô”.
Nhưng cũng thường khi, ông cũng dậy lên lòng thương cảm trước gánh nặng mà vị chủ nhân
tầng ba của lâu đài giáo hoàng phải mang. Ông thực sự buồn phiền về sự cô đơn mà Đức giáo
hoàng nghĩ là mình phải chịu. Đức Suenens không bao giờ có ý định làm giáo hoàng thay thế
cho Đức Giáo hoàng, cũng như không bao giờ là một “giáo hoàng trong bóng tối” qua những lời
khuyên của mình. Nhưng trước những thách đố mà hiện tại và tương lai đặt ra, quả là một sự
điên rồ khi để một gánh nặng như thế lên vai của một con người duy nhất, dù người đó có được
sự giúp sức của Chúa Thánh Thần.
Vị tổng giám mục của Bruxelles và Malines là một trong những người đã ủng hộ việc làm sao để
bên cạnh vị giáo hoàng có một hội đồng, một nghị viện các giám mục của toàn thế giới. Đức
Phaolô, vào tháng chín, đã thành lập một thượng hội đồng tư vấn mà ngài có thể triệu tập theo ý
mình. Người ta đã thấy rõ là trước một việc như thế thì Giáo triều đã biểu lộ thái độ cảnh giác
như thế nào, vì Giáo triều sợ là sau công đồng các giám mục của toàn thế giới sẽ vẫn còn chen
vào công việc của Giáo triều Rôma.
Về vấn đề Giáo triều, kể từ khi được bầu lên, Đức Giáo hoàng đã nhượng bộ nhiều trong ý định
cải tổ. Tuy nhiên một điều quan trọng vừa mới được điều chỉnh.
Thánh Bộ (Saint-Office), còn gọi là Bộ Tối cao, vừa được đổi thành “Bộ Giáo lý Đức tin”. Sự
thay đổi này không phải là nhỏ, và không chỉ trong việc cái tên. Chắc hẳn đó là việc “bảo vệ giáo
lý Đức tin và những phong hóa chống lại các sai lạc” nhưng nó cũng cỏn bao gồm việc xem xét
“những học thuyết và quan điểm mới […] và thúc đẩy những nghiên cứu về vấn đề này”. Điều
đó có nghĩa những gì mới không nhất thiết là sai hay xấu. Tự bản thân điều này đã là một tiến bộ
đáng kể.
Đức Hồng y Suenens đưa mắt nhìn Đức Hồng y Ottaviani. Con sư tử già, đôi mắt khép hờ, có vẻ
như thiu thiu ngủ. Nhưng chắc chắn là ngài đang cầu nguyện. Đức Suenens có sự kính phục đối
với con người không ngừng là một đối thủ mạnh của mình này. Không biết ngài đang nghĩ gì về
tất cả những điều đó, “Người Lính sen đầm”, như cách ngài tự gọi mình hồi mùa thu trong một
cuộc trao đổi ngài dành cho báo Corriere della Sera ?
Đức Suenens đã rất ấn tượng khi đọc những ý kiến của Đức Ottaviani:
“Trong suốt 73 năm, tôi đã là người canh gác kho tàng đức tin, như một người lính sen đầm,
đang trong tuần canh của mình. Nhưng nếu chính Giáo hội xem xét lại, đào sâu lại các vấn đề,
nếu Giáo hội nói một ngôn ngữ khác để phục vụ cho một cách hiện hữu khác, thì Chúa sẽ ban
cho tôi cái ơn là ngày hôm nay cũng sẽ trung thành với Giáo hội như ngày hôm qua. Tôi phục vụ
Giáo hội một cách mù quáng, như bản thân tôi là một người mù.”
Thực sự thì đôi mắt của Đức Ottaviani đã gần như mù, và ngài đã dùng điều đó như một ẩn dụ để
minh họa cho thái độ và lòng trung thành của ngài. Về điều này thì Đức Suenens có thể khâm
phục ngài… và cũng cảnh giác ngài nữa; con chó vẫn chưa mất răng!
Nhưng Giáo hội không chỉ cần những người canh gác, mà còn cần những người ra khơi, và cả
những con người phiêu lưu. Lòng trung thành thực sự, đó là có những đôi mắt chăm chú vào
Đức Kitô. Không có ai khác ngoài Ngài có những lời hằng sống. Hơn nữa những lời này không
phải được nói ra để tấn công ai nhưng để bước vào cuộc đối thoại.
Đó đúng là điều mà công đồng, với sự thúc đẩy của Đức Gioan XXIII, đã cố gắng để làm : bước
vào cuộc đối thoại với thế giới. Nhưng đấy cũng không phải là một đổi thay dễ dàng đối với
nhiều giáo sĩ vốn đã được đào tạo trong sự ngờ vực đối với thế giới và đối với tính hiện đại.
Ở đây cũng phải biết ơn các nhà thần học đã làm việc không tính toán trong các ban, trong việc
phân loại các ý kiến bổ sung và biên tập vô số câu chữ vốn cần thiết để hoàn chỉnh các văn kiện.
Hai văn kiện được đưa ra thông qua sáng nay là những bằng chứng, Sắc lệnh Dignitatis
Humanae về tự do tín ngưỡng, và Hiến chế Gaudium et Spes vốn đã gây ra biết bao khó khăn và
gần như đã làm nản lòng những người tiếp tục soạn thảo nó. Đàng khác, cách chung, tất cả các
văn kiện đều có mang những vết tích của một sự khai sinh xuất phát từ một tình thế chẳng đặng
đừng, thể hiện qua những dấu vết của một cách suy nghĩ và cách trình bày cũ kỹ các vấn đề bên
cạnh cách suy nghĩ và trình bày mới. Thực chất, có lẽ cũng không nên lo lắng về thực tế này. Bề
dày thời gian là một sự phong phú nếu nó không cản trở chúng ta tiến về phía trước. Nó làm cho
chúng ta trở thành những người thừa kế. Và Giáo hội của Vatican II không phải là một đứa bé sơ
sinh, mà là một người thừa kế.
Các nghị phụ đã hoàn tất việc bỏ phiếu, chương trình nghị sự được tiếp tục với một sự kiện trước
đây hoàn toàn không thể tin được, nếu không muốn nói là không thể trông chờ.
Khi đứng dậy để bước lên bục đọc sách, Đức Giám mục Jan Willebrands đã thú nhận là ngài
đang rung lên vì những cảm xúc dâng lên trong lòng. Có một lúc, dù còn trẻ và tình trạng sức
khỏe tốt, ngài như bị lảo đảo. Ngài là người đã ủng hộ Đức Gioan XXIII trong việc thúc đẩy và
hỗ trợ công cuộc đại kết. Ai đã có thể tưởng tượng được, mới 7 năm trước đây, trong những ngày
tiếp theo sau việc bầu Đức Angelo Roncalli vào ngai Thánh Phêrô, những người công giáo dấn
thân cho công cuộc đại kết còn bị trù dập nặng nề, mà nay những điều như những gì ngài sắp có
vinh dự đọc lên lại có thể vang vọng trong Đền thờ Thánh Phêrô tại Rôma ?
Đây là lần đầu tiên ngài lên tiếng trong đại hội trường của công đồng. Ngài chỉ là giám mục và
mới là Nghị phụ công đồng từ năm 1964, và công việc của ngài ở Văn phòng hợp nhất đã hoàn
toàn thu hút ngài. Ai cũng biết ngài đã hoàn thành trách nhiệm của mình với một sự điêu luyện
tuyệt vời, nhờ biết dung hòa giữa sự kín đáo, tính kiên trì và sự thận trọng. Và ngày hôm nay,
ngài nhận được phần thưởng gấp trăm lần.
Ngài phải tằng hắng lấy giọng vì cảm động rồi đọc bằng tiếng Pháp bản Tuyên bố chung của
Đức Giáo hoàng Phaolô VI và Đức Thượng phụ Athénagoras về việc giải vạ tuyệt thông năm
1054. Cùng lúc này, tại Istambul, trước sự hiện diện của những giáo phẩm đại diện cho Đức
Phaolô VI, bản Tuyên bố này cũng được đọc trong Vương cung thánh đường Phanar, trước mặt
vị Thượng phụ Chính thống giáo Athénagoras.
Trong bản tuyên bố lịch sử này, hai vị nói “lấy làm tiếc vì những lời lẽ xúc phạm, những kết án
không có cơ sở, và những cử chỉ đáng lên án đã, cách này hay cách khác, dẫn đến hay làm nặng
nề thêm những sự kiện đáng buồn của thời đó; và cũng lấy làm tiếc và xóa bỏ khỏi ký ức và môi
trường của Giáo hội những lời lẽ ra vạ tuyệt thông diễn ra sau đó và đã kéo dài cho đến ngày nay
như một trở ngại cho việc xích lại gần nhau trong tình bác ái, và đưa chúng vào quên lãng”.
Khi ngài đọc xong, Đức Giáo hoàng và Đức Giáo phụ Méliton, đặc phái viên của Đức Thượng
phụ Athénagoras, cùng đứng lên và, để đánh dấu việc hòa giải, đã trao cho nhau một nụ hôn bình
an. Cùng lúc đó, cử chỉ này cũng diễn ra tại Istanbul.
Đền thờ Thánh Phêrô như rung lên giữa những tràng vỗ tay kéo dài và vang mạnh như sấm,
nhiều người đã chẳng thấy xấu hổ vì những giọt nước mắt vui mừng trào lên khóe mắt.
10 giờ 20, thánh lễ bắt đầu. Trong bài giảng, Đức Phaolô VI đã cho thấy ngài hoàn toàn tán
thành những đường hướng của Hiến chế Gaudium et Spes tới mức nào: Vâng, việc con người là
đối tượng chính của sự quan tâm của Giáo hội cũng như của suy tư thần học thì không phải là
“chống lại Thiên Chúa”, do bị tác động bởi chủ nghĩa nhân bản hay để chạy theo thời cuộc,
nhưng bởi vì chính Thiên Chúa đã quan tâm đến con người. Ngài đã có những câu tuyên bố
mạnh mẽ : “Đạo công giáo là vì nhân loại; theo một nghĩa nào đó, đạo công giáo là sự sống của
nhân loại.” Ngài đã không ngần ngại bày tỏ cảm xúc khi nói về sự tự do và hạnh phúc thật mà
Giáo hội, qua tiếng nói của công đồng, dâng tặng cho con người ngày nay.
Cho dù có một sự kính trọng to lớn dành cho người kế vị Thánh Phêrô, nhưng Đức Hồng y Siri
không thể không cảm thấy tim mình như thắt lại. Nỗi lo âu càng gậm nhấm thì ngài càng cầu
nguyện. Ngài biết rằng Chúa không bỏ rơi Giáo hội của Chúa, rằng những lời hứa của Chúa
không thể mất đi, nhưng ngài vẫn ở trong một nỗi sợ hãi rất kinh khủng trước những nguy hiểm
mà ngài cho là đang rình rập Giáo hội. Ngài run sợ trước những lời lẽ trên kia mà đối với ngài là
mang màu sắc chủ nghĩa lạc quan, dung hòa với tội lỗi. Dĩ nhiên niềm trông cậy của chúng ta là
trọn vẹn, nhưng đó là một niềm trông cậy vào lòng thương xót vô cùng của Chúa đối với sự yếu
đuối của chúng ta chứ không phải một niềm trông cậy vào con người. Làm sao để biết là sự lạc
quan này không phải là một trong những mặt nạ mà dưới vỏ bọc đó ẩn dấu lòng kiêu ngạo và nó
không phải do ma quỷ thúc đẩy. Xác tín chắc chắn như thế, Đức Hồng y Siri càng chìm sâu trong
cầu nguyện.
Đức Giáo hoàng đã kết thúc bài giảng. Sau khi tái khẳng định quyền uy của Giáo hội thể hiện
qua công đồng và thẩm quyền giáo huấn của các văn kiện, vốn cố gắng diễn tả để “được con
người nghe và hiểu”, ngài tuyên bố Giáo hội “phục vụ nhân loại” và bình giải : “Công đồng, cuối
cùng, đã chẳng phải mang đến cho chúng ta một giáo huấn đơn sơ, mới mẻ và long trọng để học
yêu con người nhằm yêu mến Thiên Chúa đó sao ?”
Cũng như nhiều Nghị phụ công đồng “bình thường”, hàng trăm con người vô danh này của công
đồng đã nghe, đã suy niệm, đã nghiên cứu, đã cầu nguyện và cuối cùng bỏ phiếu, cha Norbert
Calmels, bề trên tổng quyền dòng Prémontrés, gật gù tán thưởng những gì ngài mới nghe. Quả
thực đó là một giáo huấn mới như Tin Mừng, mới như giới răn mới mà Chúa đã đưa ra gần hai
ngàn năm trước đây và không ngừng đổi mới Giáo hội, làm cho Giáo hội luôn luôn trung tín hơn
và bám chắc vào nền tảng xây dựng nên Giáo hội : “Này đây Thầy ban cho anh em một giới răn
mới, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”
Sau thánh lễ mà trong đó Kinh Lạy Cha được mọi người đọc to lên như việc cải tổ phụng vụ
đang được áp dụng, kết quả kiểm phiếu được công bố. Cả bốn văn kiện được thông qua với tỷ lệ
phiếu thuận cao. Dẫn chứng qua một vài con số : 2400 Nghị phụ đã bỏ phiếu. Những phiếu
chống Sắc lệnh Dignitatis Humanae về tự do tín ngưỡng là 70, và chống Hiến chế Gaudium et
Spes là 75.
Đức Giáo hoàng ngay sau đó đã công bố các văn kiện bằng cách sử dụng công thức mà từ đó trở
nên khá phổ biến : “Ta, trong sự hiệp thông với các Nghị phụ đáng kính…”
Trước khi cất tiếng hát bài Te Deum kết thúc, còn một nghi thức phải làm. Đó là Đức Hồng y
Bea đọc văn bản long trọng xác nhận việc xóa vạ tuyệt thông năm 1054. Trong ngày hân hoan
này, những ai đã mắc vạ thì đã được tôn vinh. Ai cũng biết cái ý chí sắt đá ẩn náu trong trong cái
hình hài con người lưng khòm kia. Đức Augustin Bea lúc này đã 84 tuổi. Và từ khi Đức Gioan
XXIII thành lập Văn phòng hợp nhất và giao cho ngài phụ trách năm 1959, ngài đã nhiều lần đi
khắp thế giới. Ngài đã là con bồ câu hòa bình và hòa giải vừa giúp cho sự tiến bộ nhanh chóng
của tinh thần đại kết trong Giáo hội công giáo và của việc công bố Thông điệp Nostra Aetate về
các tôn giáo ngoài Kitô giáo, và đặc biệt là Do Thái giáo. Như thường lệ, khuôn mặt đầy nếp
nhăn của ngài không diễn tả một cảm xúc nào khác hơn là một vẻ nhân hậu bình thản. Nhưng
nếu ai biết ngài đã phải chiến đấu như thế nào, thì chắc cũng có thể biết được trái tim ngài đang
reo vui như thế nào. Nhưng chắc chắn là ngài có một trái tim mạnh mẽ bởi vì ngài đã đón nhận
một cách khiêm nhường tiếng vỗ tay mà cả đại hội đồng công đồng dành cho ngài.
Tiếng vỗ tay kéo dài. Các Nghị phụ có dư thời gian, các ngài đang thưởng thức sự hài lòng của
mình. Các ngài chẳng có gì vội để phải rời khỏi Đền thờ.
Nhưng cũng chưa hoàn toàn kết thúc. Trước khi khép lại khóa họp, còn phải cầu nguyện để xin
tha thứ những xúc phạm đã xảy ra trong thời gian họp công đồng. Vâng, đã có những cuộc chiến
đấu dữ dội mà trong đó không phải lúc nào cũng có đủ tình bác ái cần thiết. Mỗi người có thể tự
vấn lương tâm. Đã có một lúc thinh lặng, cũng rất ấn tượng, và mọi người lại đọc chung thêm
một Kinh Lạy Cha, tiếp đó Đức Thánh Cha làm nghi thức xá tội và tất cả mọi người trao cho
những người bên cạnh mình những nụ hôn bình an.
Bây giờ thì thực sự là kết thúc. Kinh Te Deum vang lên. Đoàn rước bắt đầu đi ra. Đức Giáo
hoàng đi trước, trên lối đi trung tâm giữa các bậc thềm, trong tiếng hoan hô của các Nghị phụ
đang đứng vỗ tay để tự chúc mừng mình cũng như để chúc mừng Đức Giáo hoàng. Rồi, từ từ,
Đền thờ bắt đầu vắng dần nhưng Quảng trường Thánh Phêrô lại đầy ắp các mũ gầu đi đứng tứ
tung, vui vẻ. Cảnh tượng này chẳng có gì giống với cảnh tượng xếp hàng nghiêm chỉnh như
duyệt binh ngày 11-10-1962, khi các Nghị phụ, với đầy cảm xúc và ấn tượng, bước vào Đền thờ.
Ba năm đã trôi qua, ba năm đã thay đổi các ngài một cách sâu sắc và cũng đã thay đổi Giáo hội.
Nhưng “thế giới hôm nay” và những con người ở trên thế giới này cũng đã thay đổi nhiều.
Những gì các ngài đã làm có đủ chưa ? Các ngài đã có đủ táo bạo chưa ? Hay đã quá táo bạo ?
Không ai có thể trả lời những điều này. Nhưng điều chắc chắn, đó là không thể giản lược công
đồng vào những văn kiện mà công công đồng đã công bố, dù ưu điểm hay khuyết điểm của
những văn kiện này có như thế nào đi nữa. Công đồng, trước hết, là một sự kiện mà toàn thế giới
đã chứng kiến và đã dự phần vào nhờ các phương tiện truyền thông. Công đồng này mang rõ nét
đại kết, để dành cho “tất cả cư dân địa cầu”. Và nhiều cuộc tranh luận đã thu hút sự quan tâm của
toàn thế giới.
Vâng, thế giới đã là vị khách mời bất ngờ của công đồng này. Và điều đó không ai đã có thể thấy
trước, khi Đức Gioan XXIII, ngày 25-1-1959 chia sẻ ý định triệu tập công đồng của ngài với 17
vị hồng y đứng há hốc miệng khi nghe tin này.
Hồi kết
Ngày 8-12-1965, trên Quảng trường Thánh Phêrô, giữa cái lạnh giá làm rùng mình 300 ngàn
người đang hiện diện, trước những phương tiện truyền thông của toàn thế giới, Đức Giáo hoàng
cử hành thánh lễ kết thúc công đồng và đọc sắc lệnh bế mạc.
Một lễ đài khổng lồ đã được dựng lên trên quảng trường, trên đó đặt chiếc ngai giáo hoàng. Đức
Giáo hoàng đến với tất cả những vinh quang dành cho ngôi vị giáo chủ, ngồi trên kiệu. Có các
người cầm quạt hầu đi theo. Ngài cử hành thánh lễ một mình, có vị linh mục linh hướng và vị
giáo sĩ lo về phụng tự, cả hai đều là thành viên của Giáo triều, phụ lễ. Các hồng y và các giám
mục ngồi xa xa trên các bục gỗ, như những khán giả. Không có những Điều phối viên hay các
thành viên của Chủ tịch đoàn của công đồng được mời đồng tế cùng Đức Giáo hoàng, nếu có là
sau lễ, lên để đọc các thông điệp của công đồng gởi cho các nhà lãnh đạo trên thế giới, cho người
vô thần, cho tín đồ các tôn giáo khác, cho các nhà khoa học, cho các nghệ sĩ, cho giới phụ nữ,
cho người nghèo, cho người lao động, cho giới trẻ, cho các bệnh nhân. Vì thiếu thời gian hay vì
không nghĩ đến, các thông điệp này đã được soạn bởi các cộng tác viên của Đức Giáo hoàng, chứ
không có một Nghị phụ công đồng nào đã tham gia vào.
Trong sự khác biệt về cung giọng giữa nghi thức của ngày 7-12 trong Đền thờ và nghi thức của
ngày 8-12 trên Quảng trường Thánh Phêrô, người ta đã có thể thấy được tất cả khó khăn của thời
sau công đồng.
CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Tổng hợp giáo huấn
Vatican II là Công Đồng lớn nhất trong lịch sử Giáo Hội, quy tụ hàng Giám mục của
cả thế giới. Đây là lần đầu tiên đại diện của các Giáo Hội thuộc đủ mọi chủng tộc,
màu da, văn hóa, khuynh hướng … nói lên tiếng nói của mình trong tinh thần hiệp
nhất của Giáo Hội Công Giáo. Cũng chưa có một Công Đồng nào trước đây cần đến
một đội ngũ chuyên viên hùng hậu, sử dụng các kỹ thuật và phương tiện truyền
thông dồi dào như vậy.
Sau bốn kỳ họp kéo dài từ năm 1962 đến năm 1965, Công Đồng đã mang lại kết quả
cụ thể –ngoài những kết quả khác– là 16 văn kiện, gồm 4 Hiến chế, 9 Sắc lệnh và 3
Tuyên ngôn. Nếu phải tổng hợp kết quả này trong một câu vắn gọn, tương xứng với
thực tại, thiết tưởng không gì hơn là lặp lại chính lời của Đức Gioan XXIII, trong bài
Diễn văn truyền thanh phát đi một tháng trước ngày khai mạc Công Đồng. Được hỏi
nên đặt tựa đề cho bài Diễn văn này như thế nào, ngài đã trả lời : Ecclesia Christi,
Lumen gentium (Giáo Hội Chúa Kitô, Ánh sáng muôn dân). Tất cả Vatican II là như
thế.
Vài nét về các văn kiện của Công Đồng
Có thể sắp xếp 16 văn kiện của Vatican II theo ba thứ tự : pháp lý, thời gian và thần
học:
1.Thứ tự pháp lý : đi từ những văn kiện có tầm quan trọng hơn.
a) Bốn Hiến chế (Constitutions)
– Hiến chế tín lý về Mạc Khải (Dei Verbum) : xác định uy tín bất khả ngộ của Lời
Chúa, mà giáo huấn của Giáo Hội phải dựa vào ;
– Hiến chế tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) : mô tả định chế Giáo Hội với
những yếu tố chủ chốt. Đây là văn kiện quan trọng nhất của Công Đồng ;
– Hiến chế kỷ luật về Phụng vụ thánh (Sacrosanctum Concilium) : cho biết
Phụng vụ là nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Giáo Hội, và những canh tân
phải thực hiện ;
– Hiến chế mục vụ Giáo Hội trong thế giới hôm nay (Gaudium et Spes) : cho
thấy một Giáo Hội dấn thân phục vụ con người, đưa họ về với Thiên Chúa.
b) Chín Sắc lệnh (Décrets) : bao gồm những chỉ dẫn khác nhau liên hệ đến tông-
đồ-vụ của Giáo Hội hôm nay :
– Sắc lệnh về Hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hội (Ad Gentes) ;
– Sắc lệnh về sự Hiệp Nhất của các Giáo Hội Kitô (Unitatis Redintegratio) :
– Sắc lệnh về các Giáo Hội Đông phương Công Giáo (Orientalium Ecclesiarum) ;
– Sắc lệnh về Nhiệm vụ muc vụ của các Giám Mục (Christus Dominus) : Chúa
Kitô trao quyền lãnh đạo Giáo Hội cho các Tông Đồ và các người kế vị ;
– Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống của các Linh Mục (Presbyterorum Ordinis)
: những cộng-tác-viên gần gũi của Giám mục, cùng với Giám mục chu toàn sứ
mệnh của Chúa Kitô và của các Tông Đồ ;
– Sắc lệnh về việc Đào Tạo Linh Mục (Optatam Totius) : nhằm chuẩn bị cho Giáo
Hội tương lai một mẫu linh mục mới, theo những đòi hỏi hiện nay của Dân Chúa ;
– Sắc lệnh về việc Canh tân đời sống Dòng Tu (Perfectae Caritatis) : nhằm giúp
cho đời sống này thích nghi với thế giới hiện đại;
– Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem) : nói lên sứ mệnh
của người giáo dân giữa lòng đời ;
– Sắc lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông xã hội (Inter Mirifica).
c) Ba Tuyên ngôn (Déclarations) : nói lên một số thái độ và quan điểm của Giáo
Hội về ba điểm liên hệ đặc biệt với con người ngày nay :
– Tuyên ngôn về Giáo Dục Kitô-giáo (Gravissimum Educationis) ;
– Tuyên ngôn về những liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo Ngoài Kitô-
giáo (Nostra Aetate).
– Tuyên ngôn về Tự Do tôn giáo (Dignitatis Humanae).
2.Thứ tự thời gian
Các văn kiện được công bố dần dần qua những kỳ họp. Chúng là kết quả của những
suy nghĩ, bàn cãi, tiến triển trong tâm thực của các Nghị Phụ từ năm này đến năm
khác, thậm chí ngay trong một kỳ họp. Thế nên phải đặt mỗi văn kiện trong bối cảnh
lịch sử của nó cũng như trong mối liên hệ của nó với toàn bộ văn kiện Công Đồng.
Việc các văn kiện được công bố cách xa nhau cũng cho ta thấy Vatican II làm việc
nghiêm túc, theo phương pháp khoa học, do những chuyên viên thực sự. Trừ những
văn kiện cuối cùng được công bố ở kỳ họp thứ tư do cấp bách, nói chung Công Đồng
đã để cho mọi vấn đề có thời gian chín mùi.
Trong kỳ họp thứ nhất, tuy không có một văn kiện nào được công bố, nhưng các Nghị
Phụ đã có thời gian để gặp gỡ, trao đổi, nghiên cứu, làm việc theo nhóm, nhờ đó đã
tạo nên một não trạng chung. Dù có tranh luận, kể cả đối kháng nhau, các ngài vẫn
xích lại gần nhau trong cùng một đức tin. Nhờ đó mà cuối kỳ họp, các ngài đã có thể
đồng ý với nhau về những nguyên tắc của Phụng Vụ.
Vào cuối kỳ họp thứ hai, Hiến chế về Phụng Vụ thánh được công bố, nhắc nhớ cho
Giáo Hội ơn gọi cơ bản của mình là tôn vinh Thiên Chúa, để đáp lại công trình cứu độ
của Người. Sắc lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông xã hội cũng được công bố
trong kỳ này. Tuy còn nhiều thiếu sót, Sắc lệnh cũng cho thấy ý muốn của Giáo Hội
là sử dụng những kỹ thuật hiện đại nhất để phục vụ Tin Mừng.
Ở kỳ họp thứ ba, mặc dù có những tranh luận sôi nổi vào những ngày cuối, Công
Đồng cũng đã công bố được văn kiện quan trọng nhất về mầu nhiệm Giáo Hội. Ngoài
ra, còn Sắc lệnh về Hiệp Nhất, chính thức ghi dấu sự tham gia của Giáo Hội Rôma
vào phong trào đại kết ; Sắc lệnh về các Giáo Hội Đông Phương công giáo giúp cho
các Giáo Hội này cũng như Giáo Hội Tây Phương cảm thấy liên kết chặt chẽ với nhau
hơn trong cùng một Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô, cho dù có những khác biệt.
Trong kỳ họp thứ tư, một loạt các văn kiện còn lại được công bố, cho thấy một vụ
mùa thật phong phú. Ngày 28 tháng 10 năm 1965 :năm văn kiện về nhiệm vụ mục
vụ của các Giám Mục, về việc canh tân đời sống Dòng Tu, về việc Đào Tạo linh mục,
về Giáo Dục Kitô-giáo, về liên lạc giữa Giáo Hội công giáo và các tôn giáo Ngoài Kitô-
giáo. Ngày 18 tháng 11 : Hiến chế tín lý về Mạc Khải và Sắc lệnh về Tông Đồ giáo
dân. Ngày 07 tháng 12, trong phiên họp cuối cùng : Tuyên ngôn về Tự Do tôn giáo,
Sắc lệnh về hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hội, Sắc lệnh về chức vụ và đời sống
của các Linh Mục, nhất là Hiến chế Mục Vụ, một Hiến chế hoàn tất cho mọi công trình
của Vatican II, một Hiến chế được rất nhiều người chờ đợi.
3.Thứ tự thần học
Thứ tự pháp lý cho phép chúng ta đánh giá tầm quan trọng của các văn kiện theo
bậc thang giá trị của chúng.
Thứ tự thời gian cho phép ta nhận thấy rõ hơn, qua từng kỳ họp, quá trình làm việc
và sự tiến triển trong cách suy nghĩ,
Thứ tự thần học dựa vào hai cách xếp đặt trên đây để cố gắng đưa ra những phân
tích về phương diện giáo lý, nhằm giúp chúng ta đào sâu các bản văn Công Đồng,
nhất là có một cái nhìn tổng hợp, nắm bắt những quan điểm chủ chốt của Kitô-giáo.
Có thể trình bày thứ tự này như sau :
Dẫn nhập : Hiến chế tín lý về Mạc Khải
GIÁO HỘI “AD INTRA“
A. Khía cạnh tín lý
· Hiến chế tín lý về Giáo Hội : 1/ Mầu nhiệm Giáo Hội – 2/ Dân Thiên Chúa – 3/ Phẩm
trật của Giáo Hội – 4/ Giáo dân – 5/ Lời mời gọi mọi người nên thánh – 6/ Tu sĩ – 7/ Đặc
tính cánh chung của Giáo Hội – 8/ Đức Maria trong mầu nhiệm Giáo Hội.
B. Khía cạnh mục vụ
· Hiến chế về Phụng vụ thánh
· Sắc lệnh về các Giáo Hội Đông Phương công giáo
· Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của các Giám Mục
· Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống của các Linh Mục
· Sắc lệnh về việc Đào Tạo Linh Mục
· Sắc lệnh về việc canh tân đời sống Dòng Tu
· Sắc lệnh về Tông Đồ giáo dân
· Tuyên ngôn về Giáo Dục Kitô-giáo.
C. Khía cạnh đại kết
· Sắc lệnh về Hiệp Nhất
GIÁO HỘI “AD EXTRA“
· Sắc lệnh về hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hội
· Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo Ngoài Kitô-giáo
· Tuyên ngôn về Tự Do tôn giáo
· Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới hôm nay
· Sắc lệnh về các phương tiện Truyền Thông Xã Hội.
Dựa theo thứ tự thần học trên đây, chúng ta tóm lược những chủ đề chính rút ra từ
các văn kiện Công Đồng.
Dẫn nhập : MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA.
Hiến chế tín lý về Mạc Khải được coi như cửa dẫn vào toà nhà Giáo Hội. Bản văn của
Hiến chế là nền tảng cho mọi công trình của Vatican II. Chỉ nhờ ánh sáng của Mạc
Khải, được diễn tả trong Lời Chúa, người ta mới có thể lấy đức tin đi vào các mầu
nhiệm Kitô-giáo. Lời Chúa giúp ta đi sâu vào mầu nhiệm Giáo Hội, soi sáng mọi khía
cạnh của Giáo Hội. Do có những quan-sát-viên Tin-lành hiện diện, và nhất là để đáp
ứng với chính bản tính các sự việc, giáo huấn của Vatican II luôn dựa vào những dữ
kiện chắc chắn của Kinh Thánh. Công Đồng lập ra một tiểu ban đặc biệt gồm những
nhà chú giải có uy tín. Tiểu ban này có nhiệm vụ thường xuyên xem xét mọi bản văn
Kinh Thánh được sử dụng trong các văn kiện Công Đồng.
Vì coi Mạc Khải là nền tảng, nên tất cả những văn kiện do Vatican II công bố, cũng
như tất cả những văn kiện của Huấn Quyền, đều dựa vào Lời Chúa và vào Truyền
Thống sống động chuyển đạt Lời Chúa. Một trong những quan tâm hàng đầu của các
Uy vụ Công Đồng là trích dẫn chính xác Kinh Thánh.
Chống lại một quan niệm quá thuần lý và trừu tượng về Mạc Khải, Công Đồng đã cố
ý trình bày Mạc Khải như là cuộc đối thoại yêu thương giữa Thiên Chúa và con người,
để đưa chúng ta vào “hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu-Kitô “(1 Ga 1,2-3 ;
MK 1), tức là với từng Ngôi Vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Như vậy, ngay từ bước đầu
đi vào mầu nhiệm Giáo Hội, chúng ta đã gặp gỡ Ba Ngôi, nhờ Đức Giêsu-Kitô, “Đấng
Trung Gian và là sự viên mãn của Mạc Khải” (MK 2).
Quả thực, chính qua Kinh Thánh mà Công Đồng giúp ta khám phá ra khuôn mặt của
Giáo Hội Chúa Kitô.
Phần I : GIÁO HỘI “AD INTRA“
Mầu nhiệm Giáo Hội đi theo hai viễn tượng lớn bổ sung cho nhau. Viễn tượng “ad intra”,
xem xét Giáo Hội trong chính bản tính thâm sâu của Giáo Hội, trong các chỉ
dẫn mục vụ, các định hướng đại kết. Viễn tượng này chi phối những kỳ họp đầu của
Công Đồng. Nhưng rồi, qua những ý kiến, tranh luận và suy tư, cũng như do sức ép
của dư luận thế giới, viễn tượng “ad extra” được đặt ra, trong đó Giáo Hội xác định sứ
mệnh riêng của mình đối với thế giới, sự hiện hữu của Giáo Hội giữa lòng nhân loại
phải đượng đầu với những vấn đề lớn lao cấp bách của xã hội hiện thời.
Để thấy rõ sự duy nhất hữu cơ trong tổng hợp văn kiện của Công Đồng, cần lưu ý là
cũng chính một Giáo Hội, đã được xem xét trong viễn tượng “ad intra”, thực hiện sứ
mệnh “ad extra” của mình, không phải trong tư thế đối diện với thế giới, nhưng là đi
vào giữa lòng con người và các vấn đề của nhân loại. Tổng hợp này chỉ đầy đủ và có
tầm vóc vào những ngày cuối cùng, khi Công Đồng công bố Hiến chế Mục Vụ về Giáo
Hội trong thế giới hôm nay.
Về viễn tượng “ad intra”, có ba khía cạnh phải xem xét: tín lý, mục vụ và đại kết.
Khía cạnh đầu tiên là mầu nhiệm Giáo Hội. Chúng ta đi vào tận thâm sâu bản tính
của Giáo Hội, với sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi hữu thể và hoạt động của
Giáo Hội, đi vào đời sống của Dân Chúa đang tiến về Đất Hứa. Tiên vàn phải lưu ý
đến những yếu tố làm nền tảng tín lý cho mầu nhiệm Giáo Hội : Thiên Chúa Ba Ngôi
cư ngụ bên trong Giáo Hội, hướng dẫn Giáo Hội nhờ Thần Khí Tình Yêu của Ngài;
Đức Kitô, Đấng thiết lập Giáo Hội, Thủ Lãnh vô hình của Giáo Hội nhưng luôn hiện
diện và hoạt động; Dân Thiên Chúa, được Thiên Chúa tuyển chọn, phát triển trong
lịch sử, đang hướng về Thành thánh trên trời dưới sự hướng dẫn của các vị thủ lãnh
tinh thần, phục vụ mọi người để làm thành một đại gia đình nhân loại có Thiên Chúa
là Cha, Đức Kitô là Người Anh Cả và Thủ Lãnh, Đức Maria là Mẹ, mọi người là anh chị
em với nhau. Tổng hợp trên đây về mầu nhiệm Giáo Hội được Hiến chế tín lý về Giáo
Hội trình bày bằng một hình thức sống động, hiện sinh, lịch sử và năng động, dựa
vào kế hoạch của Thiên Chúa và diễn tiến của Lịch-sử cứu độ.
Khía cạnh mục vụ và đại kết được xem xét dựa vào những nền tảng tín lý kể trên.
Một loạt các sắc lệnh được ban hành liên hệ đến đời sống mục vụ, tông đồ và thiêng
liêng của các thành phần trong Giáo Hội. Đó là những chỉ dẫn mục vụ quý giá. Cuối
cùng, Sắc lệnh về Hiệp Nhất đề ra những định hướng đại kết, nhằm đưa mọi tín hữu
vào sống trong một Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô.
Đoạn I : KHÍA CẠNH TÍN LÝ
Khía cạnh tín lý được trình bày chủ yếu trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội. Có hai ý
tưởng nổi bật : về phía Thiên Chúa, Giáo Hội là Giáo Hội của Thiên Chúa Ba Ngôi ; về
phía con người, Giáo Hội là sự quy tụ của Dân Thiên Chúa.
I. GIÁO HỘI CỦA THIÊN CHÚA BA NGÔI (ch. I)
Thay vì xét Giáo Hội từ dưới, từ ý niệm về một xã hội hữu hình và phẩm trật, theo
nhãn quan cổ điển của một thần học có tính chất hộ giáo và quy nhân, có từ thời
Chống–Cải-cách, Vatican II xét Giáo Hội từ trên, theo một nhãn quan quy thần hơn
về mầu nhiệm Giáo Hội. Từ khởi điểm, Giáo Hội là Giáo Hội của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Khai sinh từ ý định tự do của Chúa Cha hằng hữu (GH 2), ý định này được thực hiện
qua sứ mệnh của Chúa Con (GH 3), dưới sự tác động không ngừng của Chúa Thánh
Thần (GH 4).
Nhờ xem xét mầu nhiệm Giáo Hội từ mầu nhiệm Ba Ngôi, chúng ta khám phá ra
nguyên lý tối thượng của sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Giáo Hội Chúa Kitô là một
mạch nước vọt ra từ lòng Chúa Cha, tuôn tràn ơn cứu độ trong Chúa Con, nhờ thần
lực của Chúa Thánh Thần. Cùng một sự sống của Thiên Chúa lưu chuyển qua các
định chế của Giáo Hội, các hoạt động của Giáo Hội và các bí tích được ban phát.
Cách trình bày đầu tiên về mầu nhiệm Giáo Hội, trong ba đoạn liên tiếp (GH 2-4) nói
về vai trò của từng Ngôi trong Ba Ngôi liên hệ với mầu nhiệm này, kết thúc bằng câu
nói của thánh Cyprianô, cho thấy Giáo Hội như là sự phóng xuất ra bên ngoài sự hiệp
nhất nội tại của Ba Ngôi : Giáo Hội phổ quát xuất hiện “như một Dân có được sự hiệp
nhất nhờ sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
II. DÂN THIÊN CHÚA (ch. II)
Sau khi đã tìm hiểu mầu nhiệm Giáo Hội dưới ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi,
Vatican II hướng về phía con người. Công Đồng coi Giáo Hội tiên vàn như một Dân
Thiên Chúa đang tiến về Thành Đô vĩnh cửu. Chương II của Hiến chế, tuy không được
tiên liệu trước, nhưng đã trở thành một chương cơ bản.
– Trong số 80 hình ảnh và hình bóng Thánh Kinh mạc khải những khía cạnh khác
nhau của mầu nhiệm Giáo Hội, Công Đồng dùng một hình ảnh làm nòng cốt để trình
bày mầu nhiệm này. Trước đây, Giáo Hội được trình bày chủ yếu như là “Nhiệm Thể
Chúa Kitô” (Vatican I và Đức Piô XII). Với Vatican II, hình ảnh cơ bản là hình ảnh một
“Dân Thiên Chúa”. Như vậy, Công Đồng trở lại với những dữ kiện đầu tiên của Kinh
Thánh. Giáo Hội là dân mới của Thiên Chúa, tiếp nối và hoàn tất dân cũ mà Thiên
Chúa đã tuyển chọn.
Tổng hợp về mầu nhiệm Giáo Hội xoay quanh ý niệm “Dân Thiên Chúa”. Tuy nhiên,
Công Đồng cũng sử dụng thêm những hình ảnh khác và không quên khai triển hình
ảnh “Thân Thể Chúa Kitô” khi cần. Quả thực, Công Đồng đã lưu ý đến sự tiến triển
trong cảm tính, suy tư và mối quan tâm của con người thời nay. “Dân” là từ hay được
nói đến và đề cao, đặc biệt trong các quốc gia trẻ hay kém phát triển. Nhờ Thần Khí
soi sáng, Công Đồng đã khám phá trong ý niệm này một sức mạnh dính kết và tổng
hợp các giáo huấn chính của mình. Chúng ta hiểu vì sao Hiến chế đã chấp nhận ý
niệm này như nền tảng để trình bày mầu nhiệm Giáo Hội.
– Chương II của Hiến chế chứa đựng mọi nguyên lý nền tảng dùng để trình bày
mầu nhiệm Giáo Hội theo cách thức mới.
Khác với quan niệm thông thường về Giáo Hội quá nhấn mạnh khía cạnh phẩm trật,
Công Đồng mạnh mẽ nhắc lại sự bình đẳng cơ bản của mọi thành phần trong Dân
Chúa. Mức độ thuộc về Giáo Hội tiên vàn căn cứ vào mức độ bác ái và vâng phục
Thần Khí. Trên hết là địa vị làm con cái Thiên Chúa. Phẩm trật là một hình thức phục
vụ, giúp cho mọi người được triển nở đầy đủ trong sự tự do của các con cái Thiên
Chúa.
Cho dù chưa được hoàn hảo, chương II này cũng đã làm nổi bật địa vị cao cả của mỗi
thành phần trong Dân Chúa : có Đức Kitô làm Thủ Lãnh ; có địa vị là con cái Thiên
Chúa, theo hình ảnh của Chúa Con ; có Phúc Âm là luật tối thượng ; có sứ mệnh là
đưa dẫn mọi người về với Thiên Chúa (GH 9).
Nhờ ân sủng mà trở nên con cái Chúa, mỗi thành phần trong Dân, tùy theo địa vị của
mình, được mời gọi tham dự vào ba sứ mệnh của Chúa Kitô.
Dân này là dân thiên sai, dân tư tế, ngôn sứ và vương giả, một Dân Thánh, được
tuyển chọn để làm chứng về Thiên Chúa giữa các dân tộc. Chính đó là tất cả ơn gọi
của Giáo Hội. chức tư tế vương giả nơi các phần tử của Giáo Hội làm cho mọi hành vi
trong đời sống của họ trở thành như một phụng vụ thánh, mà lúc ưu đãi là lúc dâng
hiến đời sống kết hợp với hy tế của Đức Kitô (GH 10-11).
III. CÁC VỊ LÃNH ĐẠO DÂN THIÊN CHÚA (ch. III)
Chỉ sau khi đã cho thấy sự bình đẳng nền tảng của mọi thành phần trong Dân Chúa,
Vatican II mới xét đến quyền hành của phẩm trật, trong chiều hướng phục vụ mọi
người, nhất là những người nghèo khổ, yếu đuối.
Trong một nhãn quan toàn vẹn về phẩm trật, không thể không ghi nhận hành động
tiên khởi của Ba Ngôi trong thế giới, cũng như ảnh hưởng vô hình nhưng phổ quát và
bền bỉ của nhân tính Đức Kitô nơi Nhiệm Thể.
1. Thiên Chúa Ba Ngôi và Chúa Kitô
Trên chóp đỉnh của phẩm trật là Thiên Chúa Ba Ngôi và nhân tính của Đức Kitô, Thủ
lãnh Giáo Hội.
– Ba Ngôi là Nguồn Mạch tối thượng, sáng tạo và thực hiện mọi sự lành. Ngôi Lời là
ánh sáng soi chiếu thế gian. Chúa Thánh Thần, linh hồn của Giáo Hội, thúc đẩy mọi
hoạt động. “Giáo Hội ở đâu thì Thần Khí ở đó”. Ba Ngôi là tất cả trong Giáo Hội, là
Nguyên-do đầu tiên, Nguyên-mẫu hoàn hảo, Cùng-đích tối hậu của Giáo Hội, lôi kéo
mọi sự bằng quyền năng và lòng nhân từ vô biên của mình. Giáo Hội của Chúa Kitô
thực sự là Giáo Hội của Thiên Chúa, Giáo Hội của Ba Ngôi.
– Chúa Kitô được Chúa Cha trao ban mọi quyền năng trên trời dưới đất (Mt 28,18)
để thiết lập Giáo Hội. Ngài là “Đá Góc”, trên đó Giáo Hội được xây dựng. Trong Lời
Mở Đầu, Hiến chế đã khẳng định là “ánh sáng của Ngài phản chiếu trên dung nhan
Giáo Hội” (GH 1).
Mọi sự trong Giáo Hội đều phát xuất từ Chúa Kitô. Chỉ mình Ngài là Thủ Lãnh của
Giáo Hội, tuy vô hình nhưng luôn hiện diện và hoạt động, như lời Ngài đã hứa : “Thầy
sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (x. Mt 28,20). Một tổng hợp thần học
về Giáo Hội không thể không nhấn mạnh khía cạnh trên đây. Chúa Kitô là “mọi sự
cho mọi người”, nơi từng phần tử, từng hành động. Ngài hiện diện nơi ta hơn chính
ta, nhờ Thần Khí của Ngài. Ngài hành động nơi ta hơn chính ta, trong các quyết định
của ta.
Nhiều bản văn Công Đồng nhắc nhở ta phải đi từ sự hiện diện của Chúa Kitô trong
Giáo Hội để có thể hiểu về mầu nhiệm phẩm trật. Không phải vô lý khi mà, khởi đầu
chương III bàn về phẩm trật, Hiến chế nhắc ngay đến Chúa Kitô :”Để chăn dắt và
phát triển Dân Thiên Chúa luôn mãi, Chúa Kitô đã thiết lập các thừa tác vụ khác nhau
trong Giáo Hội, nhằm mưu ích cho toàn Thân” [Christus Dominus, ad Populum Dei
pascendum … (GH 18)].
Thế nên, để trình bày về phẩm trật, phải luôn bắt đầu bằng Chúa Kitô. Phải dựa vào
phần dẫn nhập Hiến chế (GH 1) trong đó Chúa Kitô là trọng tâm và chóp đỉnh, để
xem xét các cấp bậc khác nhau trong phẩm trật Giáo Hội. Giáo Hoàng (GH 18), các
Giám Mục (GH 19-27), Linh Mục (GH 28), Phó Tế (GH 29) chỉ là những thừa tác viên
của Chúa Kitô, tham dự vào sự hiến thánh của Ngài, sứ mệnh riêng của Ngài, trong
đó Ngài là “Thừa-tác-viên chính” vô hình, là Thượng Tế duy nhất, là Vua tối cao, là
“Đấng Trung Gian duy nhất” giữa Thiên Chúa và con người.
Nguồn gốc của mọi quyền bính trong phẩm trật là ở trong bí tích Truyền Chức Thánh,
qua đó mỗi thừa tác viên lãnh nhận quyền từ chính Chúa Kitô, qua trung gian của
Giám mục phong chức. Giám mục không phải là nguồn mạch, nhưng chỉ là dụng cụ
chuyển đạt quyền bính của Đức Kitô cho người khác. Một cái nhìn trung thực và đầy
đủ về phẩm trật trong Giáo Hội phải nhận ra những yếu tố đó. Các thừa tác viên lãnh
nhận quyền từ Thiên Chúa Ba Ngôi, qua trung gian của Đức Kitô, các Tông Đồ và các
người kế vị.
Khi phân tích kỹ lưỡng các bản văn Công Đồng, chúng ta thấy có sự tiến triển trong
cách trình bày về chức tư tế trong Giáo Hội, chẳng hạn về tính bí tích của chức Giám
Mục, tính tập đoàn của Hàng Giám Mục, hoặc về sự chuyển đạt quyền hành và nhiệm
vụ phục vụ dân Chúa. Thần học về chức Giáo Hoàng, Giám Mục và Linh Mục sẽ dựa
vào cái nhìn mới mẻ này.
2. Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, Linh Mục và Phó Tế
– Đức Giáo Hoàng lãnh nhận trực tiếp từ Chúa Kitô, tuy một cách vô hình, quyền
lãnh đạo Giáo Hội toàn cầu. “Do nhiệm vụ của mình, là Đại Diện Chúa Kitô và Chủ
Chăn của toàn thể Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng Rôma có một quyền bính trọn vẹn, tối
cao, phổ quát trên Giáo Hội, và bao giờ ngài cũng được tự do thi hành quyền bính ấy”
(GH 22). Ngài không phải là Đấng Kế-vị nhưng là Vị Đại Diện của Đức Kitô, là mục tử
hữu hình tối cao của Dân Thiên Chúa. Lời Chúa nói với Phêrô được áp dụng cho Đấng
Kế-vị : “Con là Phêrô, nghĩa là tảng đá, và trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh
của Thầy” (Mt 16,18). Giáo Hội là Giáo Hội của Chúa Kitô, nhưng được xây trên Phêrô
và các Đấng Kế-vị, và Chúa Kitô luôn là “Đá Góc” của tòa nhà Giáo Hội.
Tiếp theo Vatican I, Công Đồng tái xác nhận quyền tối thượng và bất khả ngộ của
Đức Giáo Hoàng (GH 18). Tuy nhiên một vài nét được Hiến chế gợi ra không đủ nói
lên giáo lý của Công Đồng về quyền Giáo Hoàng. Cần bổ túc bằng những văn kiện
khác, qua đó chúng ta thấy phải xem xét quyền này liên hệ với Giám-mục-đoàn và
Thượng Hội Đồng Giám Mục là cơ chế do Công Đồng đặt ra để giúp Đức Giáo Hoàng
trong việc lãnh đạo toàn thể Giáo Hội. Sắc lệnh về Giám Mục xác định những tương
quan giữa Đức Giáo Hoàng và Hàng Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo. Như vậy, Đức
Giáo Hoàng không phải là người duy nhất chịu trách nhiệm về Giáo Hội và về vận
mệnh thế giới. Ngài là một trong Nhóm Mười Hai, người thứ nhất như Phêrô, là thủ
lãnh có quyền tối thượng, nhưng thi hành nhiệm vụ cùng với mọi Gám mục trên toàn
thế giới.
– Các Giám mục là những người Kế-vị Nhóm Mười Hai và, giống như nhóm này,
chịu trách nhiệm tập thể về ơn cứu độ của thế giới. Vatican II đã ý thức về chân lý
nền tảng đó, và điều này đã làm thay đổi những viễn tượng về chức Giám Mục. Chức
Giám Mục không được xét từ dưới, tức là giáo phận, nhưng được xét từ trên, tức từ
Tông-đồ-đoàn, hiệp thông phẩm trật với Đức Giáo Hoàng và các Giám mục trên toàn
thế giới. Công Đồng khởi đi từ sự chuyển đạt quyền bính của Chúa Kitô cho các Tông
Đồ để mô tả sứ mệnh và nhiệm vụ của Giám Mục. Giám Mục giảng dạy, thánh hóa
và lãnh đạo dân Chúa, nhưng hoàn toàn tùy thuộc vào Đức Giáo Hoàng và liên kết
với ngài. Giám-mục-đoàn không phải là một tổ chức đơn thuần, nhưng là một sự hiệp
thông phẩm trật, giúp cho Hàng Giám Mục, hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, nắm trọn
quyền của Chúa Kitô được thông ban cho Giáo Hội.
“Giám-mục-đoàn kế vị cộng đoàn Tông Đồ trong việc giáo huấn và chăn dắt. Chính
trong Giám-mục-đoàn mà cộng đoàn Tông Đồ được trường tồn. Hiệp nhất với Thủ
lãnh, tức Giáo Hoàng Rôma, và không bao giờ tách rời khỏi Thủ lãnh ấy, Giám-mục-
đoàn cũng có quyền bính trọn vẹn và tối cao trên toàn thể Giáo Hội, nhưng chỉ có thể
thi hành quyền này khi có sự ưng thuận của Giáo Hoàng Rôma” (GH 22). Bản văn
này rất quan trọng và phải được giải thích liên hệ với “chú thích sơ khởi” do Đức
Phaolô VI thêm vào. Chú thích này nhắc nhở cần phải có một sự xác định thêm của
giáo luật cho việc thi hành nhiệm vụ Giám Mục, tuy vẫn thừa nhận nhiệm vụ này có
một giá trị “hữu thể học” qua bí tích Truyền Chức Thánh.
Khi phục vụ một giáo phận, Giám mục phải nỗ lực xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô,
luôn nhìn tới Giáo Hội toàn cầu. Trong giáo phận của mình, Giám mục không phải là
đại diện của Giáo Hoàng, nhưng là Đại-diện của Chúa Kitô, có quyền thông thường và
trực tiếp trên giáo phận (GH 27) do chính ý muốn của Chúa, tuy vậy lệ thuộc quyền
bính tối cao trong việc thi hành các quyền của của mình (ibid.). Giám mục làm cho
Chúa Kitô hiện diện trong giáo phận của mình. Ngài phải là dấu chỉ của Chúa Kitô,
Đấng thiết lập Giáo Hội.
– Linh mục cũng là thừa tác viên của Chúa Kitô, làm cho Ngài hiện diện nơi các tâm
hồn và trong Giáo Hội. Linh mục được xem xét không phải trong tương quan với
Giám mục nhưng là với Chúa Kitô (GH 28). Nguồn gốc của chức Linh Mục không phải
ở nơi Giám mục nhưng là nơi Chúa Kitô. Vào lúc phong chức, chính Chúa Kitô, Thừa-
tác-viên chính, cho linh mục dự phần vào sự hiến thánh và sứ vụ của mình, vào ba
nhiệm vụ giáo huấn, thánh hóa và lãnh đạo của mình. Như vậy, Linh mục cũng tham
dự, tuy một cách hạn chế, vào chính nhiệm vụ của Giám mục trong vai trò là mục tử.
Cũng như Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục, nhưng ở trong một mức độ thấp hơn và
do sự ủy nhiệm, Linh mục hành động với tư cách của Đức Kitô Thủ Lãnh Dân Chúa
(in persona Christi Capitis), thực sự tham dự vào quyền bính và ân sủng của Đầu. Ý
tưởng này được lấy lại và khai triển thêm trong Sắc lệnh về chức vụ và đời sống Linh
Mục, số 2.
Xét theo sự hình thành đức tin và chuẩn bị dân Chúa, thì rao giảng Tin Mừng là
nhiệm vụ hàng đầu của Linh mục (LM 4), nhưng xét theo thứ tự hữu thể học của các
giá trị, thì nhiệm vụ cao quý nhất lại là cử hành hy tế. Hiến chế về Phụng Vụ thánh
đã nhấn mạnh điều này : Thánh lễ là nguồn mạch và tột đỉnh của mọi hoạt động
trong Giáo Hội. Thế nên nó phải có địa vị ưu tiên trong thừa tác vụ và đời sống Linh
mục (cũng như Giám mục). Nhiều bản văn khác của Công Đồng cũng nhắc nhở như
vậy (vd : LM 2 ; LM 5 ; PV 7).
Cũng như Giám mục, Linh mục tiên vàn là tư tế cho Thiên Chúa. Tất cả việc rao
giảng Tin Mừng đều hướng tới chỗ quy tụ dân Chúa quanh Đức Kitô nơi bàn thánh.
– Phó Tế : phải hiểu sứ vụ và các nhiệm vụ của Phó tế trong sự nối dài các viễn
tượng bí tích trên đây. Nơi các Phó tế, quyền bính thuộc lãnh vực tế tự. Phó tế không
phải là Linh mục, nhưng giúp Linh mục và Giám mục trong cử hành Thánh Thể,
chuẩn bị cho các tín hữu tham dự Thánh Thể qua việc ban phép Rữa Tội, qua thừa
tác vụ Lời Chúa, qua hành vi bác ái thực hiện trong Dân Chúa.
Ơn gọi Phó tế bao hàm một nhiệm vụ thánh mà giáo dân không có, đòi hỏi nơi đương
sự một sự thánh thiện vượt trên sự thánh thiện ngay cả của các hình thức đời sống tu
trì. Phó tế cũng là “thừa tác viên của Chúa Kitô”, của bàn thờ và Tin Mừng, để phục
vụ Dân Chúa, trong sự hiệp thông với Giám mục và Linh-mục-đoàn (GH 29).
IV. GIÁO DÂN (ch. IV)
Sau khi bàn về phẩm trật, Vatican II nói về thành phần đông đảo nhất làm nên Dân
Thiên Chúa. Đó là giáo dân. Trước đây ít có khảo luận nào về Giáo Hội đề cập bậc
giáo dân. Quả là điều thiếu sót, nhưng ta có thể hiểu lý do : những khảo luận ấy nằm
trong viễn tượng hộ giáo của thời Chống-Cải-cách đề cao giáo sĩ và quyền của giáo
sĩ. Với Công Đồng, vai trò của giáo dân được phục hồi. Giáo dân được đề cập như
một yếu tố chủ chốt của mầu nhiệm Giáo Hội. Có thể nói, nếu coi Vatican II như một
Công Đồng hướng về Giám-mục-đoàn thì đồng thời cũng là một Công Đồng thăng
tiến giáo dân.
Điều quan trọng là phải khám phá sứ mệnh và sự cao cả của bậc giáo dân dựa vào
chính sự thánh hiến của họ trong phép Rửa Tội và Thêm Sức. Mọi kitô-hữu đều có ơn
gọi làm tông đồ, do sự kêu gọi trực tiếp và cá nhân của chính Chúa Kitô. Công Đồng
viết : “Các chủ chăn biết rõ giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo Hội. các
ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt các ngài lên để một mình lãnh lấy tất cả sứ vụ
cứu độ của Giáo Hội đối với thế giới. Nhưng nhiệm vụ cao cả của các ngài là chăn dắt
tín hữu và nhận biết các phận sự và đoàn sủng nơi họ, để mọi người cùng góp phần
vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của mình” (GH 30). Cả hàng giáo phẩm lẫn
giáo dân đều được mời gọi xây dựng Nước Chúa.
Tiếp theo, Công Đồng xác nhận chân tính và sứ mệnh của giáo dân : “đã được tháp
nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đã trở nên Dân Thiên Chúa, và
tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của
mình, giáo dân là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô-giáo trong
Giáo Hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình” (GH 31).
Ơn gọi riêng của giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa, đặc biệt bằng cách làm các
việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. “Tính cách trần thế là tính cách
riêng biệt và đặc thù của giáo dân” (ibid.). Họ sống giữa thế giới, dấn thân vào mọi
bổn phận và trách nhiệm, trong điều kiện bình thường của đời sống gia đình và xã
hội. “Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như
men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của
mình ; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là bằng chứng từ đời
sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác” (ibid.).
Sau khi nói đến sự cao cả của giáo dân trong tư cách là con cái Thiên Chúa, Công
Đồng cho biết họ tham dự thế nào vào ba chức vụ của Đức Kitô, qua các hoạt động
của họ trên thế giới. Hoạt động tông đồ không phải là độc quyền của hàng giáo
phẩm, nhưng là ơn gọi của mọi kitô-hữu. “Chúa Kitô chu toàn chức vụ tiên tri (kể cả
tư tế và vương giả) không những nhờ hàng giáo phẩm … nhưng cũng nhờ các giáo
dân. Sở dĩ Ngài đã đặt họ làm chứng nhân, đồng thời ban cho họ cảm thức đức tin và
ơn dùng ngôn ngữ, chính là để sức mạnh Phúc Âm sáng ngời trong đời sống thường
ngày, trong gia đình và ngoài xã hội” (GH 35).
Chương bàn về giáo dân, một trong những bản văn Công Đồng hay nhất, kết thúc
bằng lời khuyên nhủ : “Trước mặt nhân loại, mỗi giáo dân phải là chứng nhân của sự
Phục Sinh và sự sống của Chúa Giêsu, đồng thời là dấu chỉ của Thiên Chúa hằng
sống … Tóm lại, ‘người kitô-hữu hãy làm cho thế giới sống như linh hồn làm cho thân
xác sống’” (GH 38).
V. LỜI KÊU GỌI NÊN THÁNH (ch. V)
Với lời kêu gọi nên thánh trong Giáo Hội, chúng ta đi vào những viễn tượng mới. Ít
người nhận thức được khía cạnh mới mẻ này, một khía cạnh chủ yếu có tính cách
thiêng liêng của mầu nhiệm Giáo Hội.
Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Vatican II đã khám phá ra hai cơ cấu nền tảng
của Giáo Hội : một cơ cấu phẩm trật và một cơ cấu khác có nguồn gốc Phúc Âm, do
chính Chúa Kitô thiết lập. Cơ cấu này không thuộc phẩm trật, nhưng có tính chất
đoàn sủng và Thần Khí. Đây là một cơ cấu thực sự, gắn liền với mầu nhiệm yếu tính,
đời sống và cứu cánh của Giáo Hội, một cơ cấu thuộc sự thánh thiện.
Trong Giáo Hội, tuy chỉ có một sự thánh thiện, nhưng lại có hai con đường khác
nhau. Một con đường chung cho mọi người trong việc thực hành các nhân đức Kitô-
giáo theo tinh thần Bát Phúc. Một con đường của những người sống đời tận hiến đặc
biệt cho Chúa qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm.
Trong cách trình bày này, Công Đồng muốn cho thấy một cơ cấu nền tảng của Dân
Chúa là “dân thánh”. Giao Ước Sinai đã làm cho Dân Chúa thành một “dân được hiến
thánh”, một “dân tư tế và vương giả”, được kêu gọi sống thánh. Thời Tân Ước, dân
này không những phải sống thánh, mà còn phải sống thánh một cách cao hơn, tự
hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa trong việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm qua một
hình thức cam kết. Trong bài diễn từ kết thúc kỳ họp thứ ba của Công Đồng, sau khi
ca ngợi những thành quả tốt đẹp liên hệ đến việc trình bày cơ cấu phẩm trật của
Giáo Hội, Đức Phaolô VI nói tiếp : “Quả thực, tất cả thực tại của mầu nhiệm Giáo Hội
không được chứa đựng trong cơ cấu phẩm trật, không phải trong phụng vụ hay các
bí tích, cũng không phải trong các quyết định luật pháp. Phải tìm kiếm yếu tính thâm
sâu của Giáo Hội, nguồn mạch chính yếu của hiệu năng thánh hóa của Giáo Hội,
trong chính sự kết hợp nhiệm mầu của Giáo Hội với Đức Kitô”. Ngoài phẩm trật
quyền bính còn có phẩm trật tình yêu. Vượt lên trên cơ cấu phẩm trật các nhiệm vụ,
còn có những cơ cấu của sự thánh thiện. Những cơ cấu này hữu hiệu hơn trong việc
thánh hóa các linh hồn do sự kết hợp sống động với Đức Kitô.
Do đó, những gì bàn về sự thánh thiện, là cứu cánh riêng và sự tinh túy của mầu
nhiệm Giáo Hội, đều rất quan trọng. Có thể coi đây là tột đỉnh của mầu nhiệm Giáo
Hội.
Phải xem xét một trật hai chương V và VI, không được tách rời chúng. Chương VI
không có phần mào đầu vì đã được nói trong phần dẫn nhập chương V. Phần này làm
chúng ta nhớ đến điều chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính : “Tôi tin Giáo Hội …
thánh thiện”. Nó cũng cho ta thấy một tổng hợp vắn tắt về sự thánh thiện của Giáo
Hội, phát xuất từ sự thánh thiện của Ba Ngôi, bao trùm toàn Nhiệm Thể, với nhiều
hình thức khác nhau, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tùy theo ơn gọi của mỗi
người, và đạt tới tột đỉnh trong việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm.
Chương V chia thành ba đoạn, bàn về : ơn gọi của mọi người là nên thánh (số 40) ;
những khía cạnh khác nhau của sự thánh thiện Kitô-giáo (số 41) ; yếu tính của sự
thánh thiện là yêu mến và thực hành các nhân đức (số 42).
1. Lời mời gọi nên thánh
Khi trình bày về sự thánh thiện, một nhà tu đức hẳn sẽ định nghĩa sự thánh thiện và
xác định những hình thức thánh thiện Kitô-giáo. Vatican II không làm như vậy,
nhưng đứng trên bình diện mục vụ và hiện sinh để kêu gọi mọi người sống thánh, đi
theo con đường của các ngôn sứ trong Cựu Ước là những người không ngừng nhắc
nhở cho dân lệnh truyền của Giavê : “Hãy sống thánh vì Ta là Đấng Thánh”.
Công Đồng đã nhấn mạnh lời của chính Đức Giêsu kêu gọi dân mới : “Hãy nên hoàn
thiện như Cha các ngươi trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Có hai lý do : vì
Chúa Thánh Thần được sai đến với các tâm hồn và vì phép Rửa Tội đòi phải sống
thánh. “Tất cả các kitô-hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi
tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô-giáo và đến sự trọn lành của đức ái” (GH 40).
Tất cả các con cái Chúa, do phép Rửa Tội và Thêm Sức, đều đi vào cùng một sự
thánh thiệu, đều được mời gọi sống thánh ở mức độ cao nhất. Chỉ có phương thế đạt
tới đó thì khác nhau, tùy theo ơn gọi của mỗi người.
2. Những hình thức khác nhau của sự thánh thiện
Trước hết, Công Đồng nhắc cho mỗi hạng người trong Giáo Hội về ơn gọi nên thánh
của họ, đặc biệt là các Giám mục, vì do nhiệm vụ của mình, các ngài được mời gọi tới
hình thức cao nhất của sự thánh thiện, “theo hình ảnh của Đức Kitô, Thượng Tế vĩnh
cửu, Mục Tử và Giám Mục của mọi linh hồn” (GH 41).
Tiếp đến là những hình thức thánh thiện chính khác : của linh mục, phó tế, các thừa
tác viên cấp dưới ; rồi của giáo dân, những người cộng tác vào tông-đồ-vụ của hàng
giáo phẩm, gồm các bậc vợ chồng và cha mẹ, những người góa bụa và độc thân,
những công nhân lao động, những người bị áp bức, những người chịu đau khổ vì
phần rỗi thế gian, những người nghèo đói, bệnh tật, chịu thử thách… (GH 41). Trong
cuộc sống hằng ngày, ai nấy đều cố gắng vươn tới sự hoàn thiện cao nhất, nhờ biết
phó thác hoàn toàn theo ý Chúa.
3. Bản chất của sự thánh thiện
Số cuối chương V bàn về những con đường và những phương tiện nên thánh, tuy vắn
tắt nhưng cho thấy yếu tính của sự thánh thiện Kitô-giáo, đó là : sự ưu tiên của bác
ái và sự thực hành mọi nhân đức Kitô-giáo, mỗi người thi hành tùy theo bậc mình.
Một đoạn vắn mô tả những con đường và phương tiện nên thánh, dựa trên động lực
là bác ái, cốt tủy của Tin Mừng và của sự thánh thiện : “Đức ái làm cho chúng ta yêi
mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân vì Ngài. Nhưng để đức ái, tựa
như hạt giống tốt, lớn lên trong tâm hồn và kết sinh hoa trái, mỗi người tín hữu phải
sẵn lòng lo lắng nghe Lời Chúa, và, với ơn Ngài, thực hành thánh ý Ngài ; phải năng
lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, năng tham dự các nghi lễ phụng vụ,
chuyên cần cầu nguyện, từ bỏ mình, nhiệt thành phục vụ anh em và chuyên cần
luyện tập các nhân đức. Thực thế, đức ái là mối dây liên kết của sự trọn lành, là sự
viên mãn của lề luật (x. Cl 3,14 ; Rm 13,10) nên đức ái chi phối mọi phương thế nên
thánh, làm cho chúng hình thành và đạt được cùng đích. Vì thế đức ái đối với Thiên
Chúa và tha nhân là dấu chỉ người môn đệ chân chính của Chúa Kitô” (GH 42).
Để kết thúc chương này, Công Đồng cho thấy ba trường hợp trổi vượt của sự thánh
thiện : tử đạo, đồng trinh và đời sống tu trì.
VI. ĐỜI SỐNG TU TRÌ (ch. VI)
Đời sống tu trì được coi như chóp đỉnh của đời sống Kitô-giáo, phát huy tất cả tiềm
năng của phép Rửa Tội. Việc thiết lập trong Giáo Hội một con đường đặc biệt để nên
thánh bằng việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm, là dựa trên chính lời nói và
gương mẫu của Chúa (GH 43).
Đây là một bậc sống ổn định nhờ các lời khấn. Số 44 rất quan trọng, nói lên bản chất
và những đặc điểm của đời sống tu trì. Công Đồng nhấn mạnh năm khía cạnh :
– Khía cạnh quy thần : tu sĩ tận hiến cho Thiên Chúa tất cả con người và hành
động như một của lễ tình yêu. Đó là yếu tính của mọi đời sống tu trì : “Người môn đệ
Chúa Kitô tự buộc mình tuân giữ ba lời khuyên Phúc Âm bằng lời khấn hoặc bằng
những ràng buộc thánh khác … Nhờ đó họ hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa chí
ái, để phụng sự và làm vinh danh Ngài với một danh hiệu mới mẻ đặc biệt”.
Từ khía cạnh quy thần trên, đời sống tu trì cho thấy bốn đặc điểm chủ yếu trên các
bình diện tu đức, tông đồ, minh giáo và cánh chung.
– Khía cạnh tu đức : “đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô”, muốn theo gương Ngài
sát hơn để tìm vinh danh Thiên Chúa và sự cứu rỗi các linh hồn.
– Khía cạnh tông đồ cho thấy sự phong phú thiêng liêng của đời sống này trên toàn
thể Giáo Hội.
– Khía cạnh minh giáo cho thấy đời sống tận hiến là một đời sống làm chứng cho
Thiên Chúa và cho sự thánh thiện của Giáo Hội.
– Khía cạnh cánh chung : việc từ bỏ của cải trần gian là dấu chỉ tiên báo đời sống
mai hậu, đời sống vĩnh cửu, trong đó chỉ còn việc chiếm hữu một mình Thiên Chúa.
Kết thúc số 44, Hiến chế nói rõ : “Bậc sống được thiết lập do việc tuyên các khuyên
Phúc Âm, tuy không liên quan đến cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, nhưng gắn chặt
với đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội”. Giáo quyền có vai trò phê chuẩn, bảo
trợ, nhận lời khấn của mọi hình thức tu trì (GH 45).
Đời sống tu trì thật cao cả và tuyệt vời vì : biểu dương Chúa Kitô một cách đặc biệt ;
làm triển nở đích thực nhân cách của con người khi nó thực hiện những điều kiện
bình thường của sự phát triển, nếu không, nó có nguy cơ làm cho tu sĩ trở thành ấu
trĩ ; sự hiện diện tinh thần giữa thế giới qua các hoạt động tông đồ hay chiêm niệm,
giúp cho tâm hồn tu sĩ hiện diện trong trái tim Đức Kitô và giữa lòng Giáo Hội (GH
46).
Để kết luận, Công Đồng kêu mời tu sĩ bền đỗ trong ơn gọi, không ngừng tiến bộ “để
làm cho sự thánh thiện của Giáo Hội thêm phong phú hơn và sự vinh hiển của Thiên
Chúa Ba Ngôi duy nhất và bất phân thêm cao cả hơn ; Ba Ngôi chính là Nguồn Mạch
và Nguồn Gốc của sự thánh thiện, trong và nhờ Chúa Kitô” (GH 47).
VII. GIÁO HỘI LỮ HÀNH VÀ GIÁO HỘI VĨNH CỬU (ch. VII)
Được đức tin hướng dẫn và trong đức cậy, Giáo Hội tiến về ngày của Đức Kitô, ngày
ghi dấu chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa lúc thời gian kết thúc. Hơn bất cứ một
Công Đồng chung nào trước đây, Vatican II đã nhận ra một cách sắc bén đặc tính
mau qua của thế giới này. Giáo Hội lữ hành trên trần gian, tiến về quê hương vĩnh
cửu để được sống trong vinh quang của Thiên Chúa.
Đức Gioan XXIII đã minh nhiên ước muốn có chương bàn về Giáo Hội vinh thắng này,
để cho mọi người thấy những chiều kích đích thực của Giáo Hội, những chiều kích
không giới hạn trong không gian và thời gian. Ý nghĩa cánh chung của Giáo Hội đã
từng được nói đến trong những khảo luận mới nhất về mầu nhiệm Kitô-giáo, nay
được đưa vào trong các bản văn Công Đồng. Giáo Hội lữ hành và chiến đấu chỉ là
một phần của Giáo Hội của Chúa, siêu việt trên lịch sử nhân loại, được mời gọi tham
dự vào sự vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Trong cuộc lữ hành tại thế, dù mò mẫm trong sự mờ tối của đức tin, Giáo Hội đã thực
sự hiệp thông với những anh chị em đã đi trước. Chỉ có một Giáo Hội duy nhất với ba
thành phần, tách biệt nhau nhưng liên kết với nhau nhờ Thần Khí, trong mầu nhiệm
các thánh thông công. “Có những người còn đang hành trình nơi trần gian, có những
người đã kết thúc cuộc đời này và đang được tinh luyện, và có những người được
hiển vinh và đang chiêm ngưỡng Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi” (GH 49). Tất cả
những ai thuộc về Đức Kitô và nhận lãnh Thánh Thần của Ngài, đều họp thành một
Giáo Hội duy nhất và liên kết với nhau trong Ngài (x. Ep 4,16).
Để kết thúc cả chương này, Công Đồng khẳng định : “Khi hiệp thông với nhau trong
tình bác ái và trong việc đồng thanh ca tụng Thiên Chúa, chúng ta được tham dự và
cảm nếm trước phụng vụ vinh hiển toàn hảo” (GH 51,b), tức là đã bắt đầu cuộc sống
vinh quang.
VIII. ĐỨC MARIA TRONG MẦU NHIỆM CHÚA KITÔ VÀ GIÁO HỘI (ch. VIII)
Phần trình bày mầu nhiệm Giáo Hội kết thúc bằng một tổng hợp về mầu nhiệm Đức
Maria, được coi như chóp đỉnh và hoàn tất cho mầu nhiệm Giáo Hội, như chính Đức
Phaolô VI nói. Trong bài diễn từ bế mạc kỳ họp thứ ba, ngài ghi nhận rằng đây là lần
đầu tiên một Công Đồng chung “đưa ra một tổng hợp lớn của giáo lý công giáo về
chỗ đứng của Đức Maria trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội”.
Vatican II đã chuyển mầu nhiệm Đức Maria từ bình diện sùng kính sang bình diện lịch
sử cứu độ. Mầu nhiệm này gắn liền với mầu nhiệm Chúa Kitô nên cũng gắn liền với
nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa. Chưa bao giờ cái nhìn của Giáo Hội về mầu nhiệm
này lại phong phú như vậy. Từ đây, thần học về Đức Maria đều phải dựa vào đó.
Trong lịch sử, nếu Êphêsô được coi là Công Đồng đề cao tư cách của Đức Maria là Mẹ
Thiên Chúa, thì Vatican II mãi mãi sẽ là Công Đồng đề cao tư cách của Người là Mẹ
thiêng liêng. Giữa việc định tín tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa” và việc long trọng công bố
tước hiệu “Mẹ Giáo Hội”, có sự liên tục và duy nhất. Đức Maria là Mẹ Giáo Hội vì là
Mẹ Thiên Chúa. Người là Mẹ của Đầu thì cũng là Mẹ của Thân Thể.
1. Đức Maria trong nhiệm cục cứu độ
Để nói về mầu nhiệm Đức Maria, Vatican II đã chọn phương pháp khách quan nhất,
dễ được mọi người chấp nhận nhất, đó là dựa trên kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa,
theo viễn tượng Kinh Thánh, vì chính Kinh Thánh mạc khải ý tưởng trung thực nhất
của Thiên Chúa, với điều kiện phải đọc Kinh Thánh theo sự hướng dẫn của Giáo Hội.
“Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, và Thánh Truyền đáng kính, trình bày ngày
một sáng tỏ hơn vai trò của Mẹ Đấng Cứu Thế trong nhiệm cục cứu độ và đưa vai trò
ấy ra cho chúng ta chiêm ngắm. Thực vậy, các sách Cựu Ước thuật lại lịch sử cứu độ,
trong đó ngày Chúa Kitô xuất hiện trên thế giới được chuẩn bị cách tiệm tiến. Các tài
liệu tiên khởi này, như Giáo Hội vẫn đọc và về sau hiểu theo ánh sáng mạc khải trọn
vẹn, dần dần cho thấy rõ ràng hơn hình ảnh của người nữ, Mẹ Đấng Cứu Thế” (GH
55). Phần trình bày về mầu nhiệm Đức Maria chính là áp dụng phương pháp cơ bản
trên đây.
Dựa vào Kinh Thánh, Công Đồng cho thấy Đức Maria đã được tiên báo qua hình ảnh
người Đàn Bà chiến thắng Satan nói trong sách Sáng Thế (3,15). Đoạn văn “tiền
Phúc Âm” (protévangile) này xác định vị trí của Đức Maria trong bối cảnh toàn thể
nhân loại sa ngã và nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa. Đây là cách tốt nhất dẫn vào
mầu nhiệm Đức Maria. Công Đồng cũng gợi lại hình ảnh người phụ nữ sinh con trong
Is 7,14 và Mk 5,2.
Quả thực, Đức Maria, người thiếu nữ tuyệt với của Sion, được coi như tột đỉnh của
niềm mong đợi Đấng Cứu Thế, được Thiên Chúa tuyển chọn để bảo đảm sự chuyển
tiếp giữa Cựu Ước và Tân Ước “sau đêm dài mong đợi lời hứa được thực hiện”, khi
“nhiệm cục mới được thiết lập, lúc mà Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính nhân loại nơi
Người để giải thoát con người khỏi tội lỗi nhờ mầu nhiệm của xác thịt Chúa” (GH 55).
Công Đồng đề cập mầu nhiệm Đức Maria trong hai khía cạnh : khía cạnh tín điều nói
lên những tương quan của Người với Chúa Giêsu (GH 55-59) và với Giáo Hội (GH 60-
65) ; khía cạnh phụng vụ và đạo đức về việc tôn sùng Người (GH 66-68).
a) Đức Maria và Chúa Kitô
Đây là phần quan trọng nhất, cho ta thấy Đức Maria liên kết với tất cả các mầu
nhiệm của Chúa Kitô, nhất là với ba thời điểm lớn của lịch sử cứu độ là Nhập Thể,
Cứu Chuộc và Hiện Xuống.
Trung thành với truyền thống giáo phụ, Công Đồng nhấn mạnh lúc Ngôi Lời Nhập Thể
cũng như tầm quan trọng phổ quát của lời thưa “Xin Vâng” trong sự hoàn tất mầu
nhiệm Cứu Chuộc. Quả thực, theo ý định của Thiên Chúa, việc cứu độ thế giới gắn
liền với lời thưa này của Đức Maria. “Như thế, Đức Maria, con cháu Ađam, vì chấp
nhận lời Thiên Chúa, đã trở nên Mẹ Chúa Giêsu. Hết lòng đón lấy ý định cứu rỗi của
Thiên Chúa … Đức Maria đã tự hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thế và sự
nghiệp của Con Ngài, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng, phục vụ mầu nhiệm
cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con Ngài. Bởi vậy, các thánh Giáo Phụ đã nghĩ rất
đúng rằng : Đức Maria không phải là một dụng cụ thuần túy thụ động trong bàn tay
Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài tự do cộng tác vào công việc cứu rỗi
nhân loại, nhờ lòng tin và sự vâng phục của Ngài” (GH 56).
Công Đồng còn cho thấy vai trò của Đức Maria trong cuộc đời thơ ấu và công khai
của Chúa, nhưng nhất là hình ảnh của Đức Maria dưới chân Thập Giá “nơi mà theo ý
Thiên Chúa, Ngài đã đứng ở đó, đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình và dự
phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ
vật do lòng mình sinh ra. Và cuối cùng, chính Chúa Giêsu-Kitô khi hấp hối trên Thập
Giá đã trối Ngài làm Mẹ của môn đệ qua lời này : Thưa Bà, này là con Bà ! “ (GH 58).
Sau cùng là hình ảnh của Đức Maria sau khi Chúa sống lại và lên trời, cùng với các
Tông Đồ cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần. Và khi chấm dứt cuộc đời trần gian,
Đức Maria “được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, được Thiên Chúa
tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các
chúa, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (GH 59).
b) Đức Maria và Giáo Hội
Tiếp theo tương quan với Chúa Kitô là tương quan với Giáo Hội. Thực ra, tương quan
này chỉ thuần túy nối dài tương quan với Chúa Kitô, do sự duy nhất bất khả phân
chia của Chúa Kitô toàn thể.
Trong Giáo Hội, Đức Maria tiên vàn là một người Mẹ. “Từ muôn đời, Đức Nữ Trinh đã
được tiền định làm Mẹ Thiên Chúa cùng một lúc với việc nhập thể của Ngôi Lời Thiên
Chúa … Đức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế…,
để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng, Ngài
thật là Mẹ chúng ta” (GH 61).
Nền tảng của mẫu tính thiêng liêng này chính là tư cách làm Mẹ Thiên Chúa và vai
trò là người cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa Kitô. Chưa bao giờ có một tài
liệu Huấn Quyền nào đã minh nhiên và mạnh mẽ nói lên nguyên lý liên kết này.
Mẫu tính thiêng liêng này, Đức Maria vẫn không ngừng tiếp tục thi hành : “Sau khi về
trời, vai trò của Ngài trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục cầu
bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời. Với
tình từ mẫu, Ngài chăm sóc những anh em của Con Ngài đang lữ hành trên dương
thế và đang gặp bao nguy hiểm, thử thách, cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê
trời” (GH 62).
Không những là Mẹ Giáo Hội, Đức Maria còn là “khuôn mẫu của Giáo Hội”, theo kiểu
nói của thánh Ambrôsiô được Công Đồng trích dẫn. Cũng như Đức Maria và theo
gương Người, Giáo Hội vừa là trinh nữ vừa là mẹ. Đức Maria còn là một tấm gương lý
tưởng, một kiểu mẫu nhân đức cho Giáo Hội.
2. Việc tôn kính Đức Maria
Phần II của chương VIII bàn về việc tôn kính Đức Maria. Vatican II cho thấy bản
chất, nền tảng, tinh thần của việc tôn kính này (GH 66), đưa ra những chỉ dẫn thực
hành giúp cho việc học hỏi và giảng thuyết về Đức Maria, sao cho tâm hồn các tín
hữu vẫn hướng về Chúa Kitô.
Việc tôn kính đích thực trước hết phải dựa trên tư cách của Đức Maria là Mẹ Thiên
Chúa, trên các đặc ân Thiên Chúa ban cho Người ; không dựa trên tình cảm, nhưng
trên ánh sáng đức tin. Phải tránh mọi hình thức thái quá hoặc bất cập.
Đoạn II : KHÍA CẠNH MỤC VỤ
Sau khi bàn về khía cạnh tín lý của mầu nhiệm Giáo Hội, Vatican II đưa ra những chỉ
dẫn mục vụ dựa vào khía cạnh ấy. Tín lý chi phối luân lý và những áp dụng thực
hành. Nhãn quan mới của Công Đồng về Giáo Hội lôi kéo theo một loạt những Sắc
Lệnh và Tuyên Ngôn nhằm hướng dẫn đời sống cụ thể hằng ngày của Giáo Hội trong
thế giới hôm nay, vừa giúp canh tân dân Chúa (ad intra), vừa tạo điều kiện đối thoại
với mọi người (ad extra).
I. PHỤNG VỤ CỦA DÂN CHÚA
Công Đồng quả có lý khi ban hành văn kiện đầu tiên là Hiến chế về Phụng Vụ Thánh,
bởi không gì có thể diễn tả tốt hơn cho thế giới bản tính thâm sâu và sứ mạng đầu
tiên của Giáo Hội là tôn vinh Thiên Chúa, đưa dẫn người ta đến với Chúa Kitô, bằng
sự thông hiệp vào mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài. Ngay từ đầu, Công Đồng đã mạnh
mẽ nhắc nhở rằng đời sống Kitô-giáo tiên vàn là ở chỗ đồng hình với Đức Kitô Tử Nạn
và Phục Sinh.
Nhưng tại sao Công Đồng lại khởi sự công trình canh tân Giáo Hội từ bên trong bằng
phụng vụ ? Có nhiều lý do lịch sử. Đặc biệt phong trào phụng vụ trước Công Đồng
cùng với những nghiên cứu, hội nghị và kinh nghiệm mục vụ đã làm cho tiến trình
được chín mùi. Hiến chế về Phụng Vụ Thánh hoàn tất cho tiến trình này.
Tuy vậy, còn có một lý do sâu xa hơn. Trong Giáo Hội, phụng vụ là công trình tuyệt
hảo của Thiên Chúa, trong đó Thiên Chúa được tôn vinh nhất và con người được
thánh hóa nhất. Trong bài Diễn từ bế mạc kỳ họp thứ hai, Đức Phaolô VI đã nhấn
mạnh địa vị tối cao của phụng vụ trong đời sống Giáo Hội cũng như trong bậc thang
các giá trị : Thiên Chúa phải trên hết ; cầu nguyện là bổn phận đầu tiên của chúng ta
; phụng vụ là nguồn mạch đầu tiên của cuộc trao đổi qua đó sự sống Thiên Chúa
được ban cho ta ; phụng vụ là trường huấn luyện đời sống thiêng liêng ; phụng vụ là
ân huệ đầu tiên được ban cho dân Chúa ; phụng vụ là lời mời gọi đầu tiên được gửi
đến cho con người …
Được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Công Đồng đã bắt tay ngay vào công trình chính
yếu của Giáo Hội : tôn vinh Chúa Cha và Ba Ngôi bằng mầu nhiệm Vượt Qua được cử
hành đặc biệt trong hy tế Thánh Thể là chóp đỉnh của đời sống Giáo Hội và trung tâm
của phụng tự Kitô-giáo.
Hy tế của Đức Kitô là hành động cao cả nhất mà Giáo Hội có thể cử hành. Ở đây,
chúng ta đạt tới chóp đỉnh của bậc thang các giá trị. “Vì là công việc của Chúa Kitô
Tư Tế và của Thân Thể Người là Giáo Hội, mọi cử hành phụng vụ đều là hành động
thiêng thánh, và không một hành vi nào khác của Giáo Hội có hiệu lực bằng, xét cả
về danh hiệu lẫn đẳng cấp” (PV 7). Vatican II cũng đã phục hồi địa vị trung tâm của
mầu nhiệm Vượt Qua trong nhiệm cục cứu độ. Trong hiến tế tạ ơn, “tất cả công cuộc
cứu chuộc chúng ta được thực hiện” (PV 2), vì hiến tế này đem lại cho con người
những ơn ích của việc cứu chuộc.
Công Đồng còn khẳng định thêm : “Phụng vụ là tột đỉnh (culmen) quy hướng mọi
hoạt động của Giáo Hội, đồng thời là nguồn mạch (fons) tuôn trào mọi năng lực của
Giáo Hội… Phụng vụ, nhất là Lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch chảy tràn ân sủng vào
trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô một cách hữu
hiệu, đồng thời Thiên Chúa được vô cùng tôn vinh ; đó là điều mà mọi công việc khác
của Giáo Hội đều phải quy hướng về như là cứu cánh” (PV 10).
Dựa vào thông điệp Đấng Trung Gian (Mediator Dei) của Đức Piô XII, Vatican II đã
định nghĩa phụng vụ như là sự thực hành chức tư tế của Đức Kitô qua thừa tác vụ
của Giáo Hội. “Phụng vụ đáng được coi là việc thực thi chức tư tế của chính Chúa
Kitô, trong đó, nhờ những dấu chỉ khả giác, sự thánh hóa con người được biểu thị và
được thể hiện cách khác nhau theo từng dấu chỉ, và việc phụng tự công toàn vẹn
được thực thi nhờ Nhiệm Thể Chúa Kitô, nghĩa là gồm cả Đầu cùng các chi thể của
Người” (PV 7).
Qua các nghi thức và biểu tượng, mọi thành phần trong dân Chúa, dù là linh mục, tu
sĩ hay giáo dân, phải ưu tiên làm lộ ra sự hiện diện của Chúa Kitô trong cộng đoàn
phụng vụ. Mọi canh tân và thích nghi trong phụng vụ đều nhằm giúp cho dân Chúa
có thể tham dự phụng vụ cách hành động, tích cực và hữu hiệu.
Chắc chắn, phụng vụ không làm trọn mọi hoạt động của Giáo Hội (PV 9), nhưng nó là
thành phần cao cả và phong phú nhất.
Bởi vậy, trước khi bàn về bản chất thâm sâu cũng như hoạt động tông đồ của Giáo
Hội, Vatican II đã ưu tiên bàn về phụng vụ, dạy Giáo Hội cầu nguyện. Qua đó, Công
Đồng đã thực hiện nhiệm vụ cấp bách nhất của công cuộc canh tân là đặt con người
đối diện với Thiên Chúa trong kinh nguyện.
II. GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG VÀ TÂY PHƯƠNG
Đối với nhiều Nghị Phụ, một trong những khám phá lớn ở Vatican II là sự hiện diện
của Giáo Hội Đông Phương công giáo. Tuy chỉ có số tín hữu ít ỏi, nhưng đây là một
Giáo Hội rất đáng kính do nguồn gốc, truyền thống và tập tục. Công Đồng đã dành
riêng cho Giáo Hội này một Sắc lệnh, nhằm giúp cho Tây Phương hiểu hơn mầu
nhiệm Giáo Hội, một mầu nhiệm vừa duy nhất vừa đa diện, đồng thời cũng giúp tiếp
cận dễ dàng hơn với các Giáo Hội Đông Phương ly khai.
Trong Lời mở đầu và đoạn I của Sắc Lệnh, Công Đồng nhấn mạnh sự duy nhất của
một Giáo Hội Chúa Kitô. Sắc lệnh mở đầu bằng những lời lẽ đầy tình huynh đệ :
“Giáo Hội công giáo rất mực tôn trọng những nghi lễ phụng vụ, truyền thống giáo
thuyết và quy luật của đời sống Kitô-giáo nơi các Giáo Hội Đông Phương công giáo.
Thật vậy, truyền thống từ các Tông Đồ qua các Giáo Phụ vẫn được sáng tỏ nơi các
Giáo Hội vốn nổi danh nhờ sự cổ kính đáng mộ mến ấy. Chính Truyền-thống này tạo
nên một phần mạc khải của Thiên Chúa và một phần gia sản nguyên tuyền của toàn
thể Giáo Hội. vì thế, trong niềm ưu ái đối với các Giáo Hội Đông Phương là những
chứng tá sống động của Truyền-thống trên, Thánh Công Đồng này ước mong các
Giáo Hội ấy được thịnh vượng và biết chu toàn phận vụ đã được trao phó với tinh
thần tông đồ hăng say mới mẻ” (ÐP 1).
Tiếp đến, trong sáu đoạn, Công Đồng nói về :
– Bản chất và vai trò của các Giáo Hội địa phương giữa lòng Giáo Hội phổ quát, đặc
biệt sứ mệnh của các Giáo Hội Đông Phương, “dưới quyền cai quản mục vụ của Giáo
Hoàng Rôma” (ÐP 3).
– ”Giáo Hội Đông Phương cũng như Tây Phương đều có quyền lợi và bổn phận tuân
theo những quy luật riêng của mình, vì những quy luật này có giá trị nhờ ở đặc tính
cổ kính đáng quý trọng, phù hợp hơn với các tập tục của các tín hữu và xem ra có
thể mưu ích cho các linh hồn cách hữu hiệu hơn” (ÐP 5).
– ”vì thể chế Thượng Phụ là hình thức cai trị cổ truyền nơi các Giáo Hội Đông
Phương, nên Thánh Công Đồng Chung hết sức mong ước thiết lập thêm những Tòa
Thượng Phụ khi cần. Việc thiết lập này được dành cho Công Đồng Chung hay Giáo
Hoàng Rôma” (ÐP 11).
Hai đoạn kế tiếp xác định kỷ luật mới về bí tích (ÐP 12-18) và về việc cử hành phụng
tự thánh (ÐP 19-25).
Đoạn cuối cùng cho thấy tinh thần đại kết của Vatican II, khi hướng các Giáo Hội
Đông Phương công giáo nhìn tới các Giáo Hội Chính-thống ly khai.
III. NHIỆM VỤ MỤC VỤ CỦA CÁC GIÁM MỤC
Mối quan tâm chính của Vatican II là canh tân cơ cấu Hàng Giám Mục và tinh thần
Phúc Âm của các thủ lãnh Dân Chúa. Nói chung, Hàng Giám Mục thực sự xứng đáng
với ơn gọi của mình, cho dù trong lịch sử, từng nơi và từng thời, không phải tất cả
đều tốt đẹp.
Là những người kế vị các Tông Đồ, quy tụ quanh Đức Giáo Hoàng, các Giám mục có
sứ mệnh cùng nhau hoạt động cho ơn cứu độ của mọi người. Để làm công việc này,
các ngài phải tương trợ lẫn nhau về tinh thần cũng như về vật chất. Vatican II đã
khơi dậy nơi các ngài ý thức trách nhiệm tập thể về Giáo Hội toàn cầu, mở ra một
viễn ảnh về nhiều việc có thể làm trong tương lai.
Lần đầu tiên trong lịch sử các Công Đồng, sứ mệnh phục vụ Giáo Hội toàn cầu chiếm
vị trí hàng đầu trong nhiệm vụ mục vụ của Giám mục. Đó là điều được nói ngay
trong Lời mở đầu và chương I : “Các Giám mục, những người chia sẻ sự quan tâm
của tất cả các Giáo Hội, thi hành nhiệm vụ mà các ngài đã lãnh nhận do việc tấn
phong Giám mục, trong sự hiệp thông và dưới quyền Đức Giáo Hoàng, đối với những
gì thuộc quyền giáo huấn và quyền cai quản mục vụ ; tất cả các ngài họp thành
Giám-mục-đoàn đối với toàn thể Giáo Hội Chúa” (GM 3). “Từng Giám mục thi hành
nhiệm vụ ấy trên phần đoàn chiên Chúa đã được chỉ định cho mình, mỗi vị coi sóc
một Giáo Hội địa phương được ủy thác cho mình hoặc đôi khi vài vị cùng nhau lo cho
một số nhu cầu chung của nhiều Giáo Hội khác nhau” (ibid.).
Sự phân biệt giữa việc thi hành “cách tập-đoàn” và “cách cá nhân” rất quan trọng.
Giám mục thi hành quyền bính “cách tập-đoàn” trên toàn thể Giáo Hội và “cách trọng
thể trong Công Đồng Chung” (GM 4). “Các Giám mục trên khắp thế giới, hiệp thông
với Đức Giáo Hoàng, còn có thể thi hành quyền tập-đoàn ấy, khi Thủ lãnh Giám-mục-
đoàn mời gọi các ngài hành động cách tập-đoàn, hay ít ra khi ngài ưng thuận hoặc tự
do chấp nhận hành động chung của các Giám mục rải rác để làm cho nó trở thành
một hành động thực sự có tính cách tập-đoàn” (ibid.). Ngoài ra, còn có thể chế
Thượng hội đồng Giám mục quy tụ một số Giám mục được tuyển chọn, “đóng vai trò
của toàn thể Hàng Giám Mục công giáo, đồng thời nói lên rằng tất cả các Giám mục,
trong sự hiệp thông phẩm trật, cùng chia sẻ mối quan tâm của toàn thể Giáo Hội”
(GM 5).
Như vậy, viễn tượng mới về chức Giám mục cho thấy : các ngài “là những người kế vị
hợp pháp các Tông Đồ và là thành viên của Giám-mục-đoàn, liên kết với nhau, cùng
nhau lo lắng cho tất cả Giáo Hội, mỗi vị, cùng với các Giám mục khác, phải là người
có trách nhiệm với cả Giáo Hội” (GM 6).
Trong giáo phận của mình, “dưới quyền Đức Giáo Hoàng”, Giám mục là Thủ lãnh Dân
Chúa, là nguyên lý của sự liên kết và hợp nhất, là Mục tử riêng, thông thường và trực
tiếp, có nhiệm vụ giáo huấn, thánh hóa và lãnh đạo.
Xét theo khía cạnh nguyên ủy của đức tin thì nhiệm vụ hàng đầu của Giám mục là
rao giảng Tin Mừng. Các ngài có sứ mệnh trình bày cho con người “mầu nhiệm toàn
vẹn của Đức Kitô” (GM 12) và chiếu ánh sáng của Giáo Hội trên mọi vấn đề của con
người (ibid.).
Nhưng trên tất cả, Giám mục là Thượng Tế “được chọn giữa loài người … để dâng
của lễ và lễ vật hy sinh đền tội” (GM 15), “là những người phân phát chủ yếu các
mầu nhiệm của Thiên Chúa và là những vị điều hành, cổ võ, bảo vệ toàn thể đời sống
phụng vụ trong Giáo Hội đã được trao phó” (ibid.), “lo cho các tín hữu thấu hiểu và
sống sâu xa hơn mầu nhiệm Vượt Qua” (ibid.). “Là những người có nhiệm vụ giúp
người khác nên trọn lành, các Giám mục phải nhiệt thành thúc đẩy các giáo sĩ, tu sĩ
và giáo dân của mình sống thánh thiện … hết sức cổ võ ơn gọi làm linh mục hay tu
sĩ, nhất là lưu tâm đến ơn gọi truyền giáo” (ibid.).
Trong vai trò là người cha và chủ chăn, Giám mục sống giữa dân như là người phục
vụ, như người chủ chăn hiền từ biết các chiên, như người cha đích thực tỏ lòng yêu
thương và lo cho các con cái ; yêu mến các linh mục, coi họ như những người con,
người bạn. Sự quan tâm mục vụ của ngài phải hướng tới cả những người không tin và
mọi người khác (GM 16).
Giám mục “phải thích nghi đúng mức các hình thức hoạt động tông đồ với những nhu
cầu hiện đại, quan tâm tới những hoàn cảnh của con người, không những về điều
kiện tinh thần và luân lý, mà cả hoàn cảnh xã hội, dân số và kinh tế nữa” (GM 17).
Để bảo đảm hiệu quả tối đa cho việc tông đồ, các Hội Đồng Giám Mục cần nghiên
cứu những vấn đề cấp bách nhất (GM 18) và hành động hài hòa với nhau trong một
mục vụ toàn bộ.
Các cơ cấu giáo phận và giáo phủ cần được duyệt lại không những theo chiều hướng
hành chánh mà tiên vàn theo chiều hướng tông đồ, phối hợp các linh mục triều cũng
như dòng trong một Linh-mục-đoàn duy nhất và trong tình bằng hữu huynh đệ.
Có điều lạ là Sắc lệnh không dành một phần đặc biệt nào để xác định mối tương
quan giữa Giám mục và giáo dân, đang khi giáo dân chiếm tới 99% Dân Chúa. Có
những vấn đề cơ bản về cơ cấu và cộng tác tông đồ mà thời kỳ hậu-Công Đồng
không thể không lưu ý, vì tương lai của Giáo Hội tùy thuộc vào đó. Tuy vậy, xét toàn
bộ, phải nhận rằng Vatican II đã dành một vị trí cho giáo dân.
IV. THỪA TÁC VỤ VÀ ĐỜI SỐNG LINH MỤC
Chỉ một mình Đức Giáo Hoàng không thể đáp ứng mọi nhu cầu của cả Giáo Hội. Cần
có sự cộng tác của Hàng Giám Mục trên toàn thế giới. Cũng vậy, một Giám mục
không thể tự mình chu toàn nhiệm vụ mục vụ trong cả giáo phận. Cần có sự cộng tác
của hàng linh mục. Hơn bao giờ hết, vai trò của các linh mục là thiết yếu trong Giáo
Hội.
Vatican II đã thấy rõ điều đó. Bởi vậy, để bù đắp vào phần nhỏ nhoi nói về linh mục
trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Công Đồng đã soạn thảo riêng một Sắc lệnh trình
bày chức Linh Mục trong những tương quan cơ bản với Đức Kitô, với Giám mục, với
Linh-mục-đoàn và với các tín hữu khác trong Dân Chúa.
Các Nghị Phụ đã hiểu vai trò của các linh mục như những cộng-tác-viên bất khả thay
thế, giúp các ngài chu toàn nhiệm vụ. Thế nên, vào tháng 10.1964, các ngài đã
không chấp nhận một lược đồ quá sơ sài về thừa tác vụ và đời sống linh mục. Ủy vụ
chuyên trách đã phải làm việc lại, nhờ đó mới có được bản văn Sắc lệnh như hiện có,
giống như một hiến chương mới về chức Linh Mục, hài hòa với Hiến chế về Giáo Hội,
nêu lên một giáo thuyết sâu sắc và minh nhiên phù hợp với những đòi hỏi của thực tế
và hoạt động của linh mục hôm nay. Có những yếu tố nền tảng của thần học về chức
Linh mục thừa tác, làm nổi bật vai trò của linh mục trong Giáo Hội.
Có thể quy giáo huấn của Công Đồng về ba viễn tượng sau đây, bổ túc cho nhau,
tương ứng với ba chương của Sắc lệnh :
– Sứ mệnh của linh mục trong Giáo Hội, tiếp nối sứ mệnh của Đức Kitô và các
Tông Đồ.
– Thừa tác vụ của linh mục trong Giáo Hội, nối dài thừa tác vụ của Đức Kitô, các
Tông Đồ và các Giám mục, nhờ thi hành cùng những nhiệm vụ ngôn sứ, tư tế và
vương giả, để dẫn đưa mọi người đến cùng Thiên Chúa.
– Sự thánh thiện của linh mục, noi gương Đức Kitô là Thầy, Linh Mục và Vua.
Cần suy đi ngẫm lại Sắc lệnh này để thấy rõ lý tưởng cao vời của chức Linh Mục. “Thi
hành chức vụ của Chúa Kitô là Đầu và là Chủ Chăn theo phận vụ mình, các linh mục
nhân danh Giám mục tụ họp gia đình Thiên Chúa như một cộng đoàn huynh đệ duy
nhất, và nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần, các ngài dẫn đưa họ đến cùng Chúa
Cha” (LM 6).
Sứ mệnh của linh mục không chỉ liên hệ tới từng người, nhưng tới tất cả cơ cấu xã
hội, trong mọi lãnh vực, cả quốc gia lẫn quốc tế : “Nhiệm vụ của chủ chăn không
phải chỉ thu hẹp trong việc coi sóc từng cá nhân tín hữu, nhưng còn lan rộng tới việc
huấn luyện một cộng đoàn kitô-hữu đích thực. Muốn thế, tinh thần cộng đoàn đích
thực này phải bao gồm không những Giáo Hội địa phương mà cả Giáo Hội phổ quát
nữa. Vì thế, cộng đoàn địa phương không những phải lưu tâm đến việc chăm sóc các
tín hữu của mình, nhưng một khi đã thấm nhuần nhiệt tâm truyền giáo, còn phải dọn
đường cho mọi người đến với Chúa Kitô” (ibid.).
Linh mục không chỉ dành cho một giáo xứ hay một giáo phận, mà còn cho toàn thế
giới. Phải phân biệt việc nhập tịch vào một giáo phận với sứ mệnh hướng tới sự cứu
độ toàn thế giới, theo cái nhìn của Đức Kitô. “Ân huệ thiêng liêng mà các linh mục đã
nhận lãnh trong khi chịu chức, chuẩn bị cho các ngài không phải cho một sứ mệnh
giới hạn và thu hẹp nào đó, nhưng cho một sứ mệnh cứu rỗi rất rộng lớn và bao quát
‘đến tận cùng trái đất’ (Cv 1,8), vì bất cứ thừa tác vụ linh mục nào cũng đều tham
gia vào sứ mệnh rộng lớn và bao quát mà Chúa Kitô đã trao phó cho các Tông Đồ.
Thực vậy, chức Linh Mục của Chúa Kitô mà các linh mục được tham dự, cần phải
hướng về mọi dân nước và mọi thời đại, không bị hạn chế bởi một ranh giới, một dân
tộc hay một thời đại nào … Linh mục phải để tâm lo lắng cho tất cả các Giáo Hội”
(LM 10).
Trên đây là những nét cơ bản. Xoay quanh đó là những viễn tượng bổ túc : điều kiện
sống của các linh mục giữa thế gian (LM 3), sự hiệp thông huynh đệ và công tác giữa
các linh mục (LM 8), tương quan với giáo dân (LM 9), việc phân phối các linh mục
(LM 10), sự quan tâm của linh mục về các ơn gọi linh mục (LM 11), những đòi hỏi về
thiêng liêng và trí thức (LM 15-19), thù lao cân xứng (LM 20), quỹ hỗ trợ các linh
mục (LM 21).
Có thể nói, Vatican II đã quan tâm xem xét thừa tác vụ và đời sống linh mục trong
tất cả những đòi hỏi tinh thần và vật chất, trên bình diện cá nhân cũng như xã hội,
với một ý thức thực tiễn về các điều kiện cụ thể của chức Linh Mục trong thế giới
hôm nay.
V. ĐÀO TẠO LINH MỤC TƯƠNG LAI
Giá trị của một linh mục tùy thuộc vào việc đào tạo linh mục ấy. Đức Kitô đã dành
một phần lớn cuộc đời công khai để đào tạo các Tông Đồ. Sau hai mươi thế kỷ, Giáo
Hội thấy tầm quan trọng hàng đầu của những năm tháng chuẩn bị cho những tông
đồ mới của Đức Kitô. Tiếp nối truyền thống các Công Đồng trong quá khứ, từ những
câu đầu tiên của Sắc lệnh về Đào tạo linh mục, Vatican II đã muốn nhắc lại một chân
lý thuộc kinh nghiệm như sau : “Mọi người mong ước canh tân toàn thể Giáo Hội,
Thánh Công Đồng ý thức rõ như thế, và công cuộc canh tân này phần lớn tùy thuộc
việc thi hành chức vụ linh mục đã được Thần Linh Chúa Kitô thúc đẩy, do đó Thánh
Công Đồng tuyên bố việc đào tạo linh mục là việc vô cùng quan trọng và nêu ra một
vài nguyên tắc căn bản : các nguyên tắc này xác quyết những quy luật đã được kinh
nghiệm ngàn đời chấp nhận và thêm vào đó những nguyên tắc mới cho hợp với các
Hiến chế và Sắc lệnh của Thánh Công Đồng này, cũng như với những biến chuyển
của thời đại” (Lời mở đầu).
Nguyên tắc hướng dẫn việc chuẩn bị cho đời sống linh mục là sự đào tạo toàn vẹn
người linh mục, không chỉ trong các khoa học thánh và lòng đạo đức như trước đây,
mà cả trong lãnh vực tông đồ và mục vụ, nhằm xây dựng một mẫu linh mục mới của
Đức Kitô. “Việc giáo dục toàn diện chủng sinh (trong các Đại chủng viện) phải nhằm
huấn luyện cho họ thực sự trở thành những vị chăn dắt các linh hồn, theo gương
Chúa Giêsu-Kitô là Thầy, là Linh Mục và là Chủ Chăn” (ÐT 4).
Những linh mục tương lai phải được chuẩn bị cho ba nhiệm vụ của một chủ chăn :
rao giảng Lời Chúa, thánh hóa, lãnh đạo. Cũng như các Giám mục và cùng với các
ngài, linh mục là thủ lãnh của dân Chúa, là mục tử của các linh hồn theo hình ảnh
của Đức Kitô. Như vậy, mọi khía cạnh của việc huấn luyện tu đức, trí thức, kỷ luật
đều quy hướng về mục đích mục vụ (ibid.).
Việc huấn luyện tu đức phải liên kết chặt chẽ với việc trau dồi học vấn và huấn luyện
mục vụ “sao cho các chủng sinh tập biết luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa Cha,
nhờ Chúa Giêsu-Kitô Con của Người và trong Chúa Thánh Thần. Vì do phép Truyền
Chức Thánh mà họ phải là hiện thân của Chúa Kitô Linh Mục, lại nữa bởi cùng chia sẻ
một cuộc sống của Người nên họ phải quen sống kết hợp với Người như bạn hữu. Họ
phải sống mầu nhiệm Vượt Qua của Người thế nào để biết khai sáng mầu nhiệm ấy
cho đoàn chiên sẽ được giao phó” (ÐT 8).
Tất cả những giáo huấn của Công Đồng đều nhằm giúp cho chủng sinh trở nên đồng
hình đồng dạng với Đức Kitô Chủ Chăn. Do tính chất đa dạng và những nhu cầu khác
nhau của các Giáo Hội và các quốc gia, Công Đồng đã để cho các Hội Đồng Giám Mục
được nhiều quyền trong sáng kiến và tổ chức (ÐT 1), nhưng cũng đòi hỏi những tiêu
chuẩn nghiêm túc nơi các nhà giáo dục và các ứng viên (ÐT 6). Phải huấn luyện
chủng sinh về mặt đạo đức (ÐT 8), giúp cho họ có cảm thức về Giáo Hội (ÐT 9), về
sự độc thân được thánh hiến để phục vụ Chúa Kitô và các linh hồn (ÐT 10), giúp họ
đạt mức trưởng thành đã được kiểm nghiệm, sử dụng sự tự do cách khôn ngoan (ÐT
11). Cần có những thời kỳ huấn luyện tu đức sâu rộng hơn, và những khóa thực tập
mục vụ (ÐT 12).
Về học vấn, cơ bản trong bước đầu là phải có một nền giáo dục về nhân bản và khoa
học sao cho đủ, có lớp nhập môn về lịch sử cứu độ và mầu nhiệm Chúa Kitô, để ngay
từ đầu, chủng sinh có được một nhãn quan Kitô-giáo về thế giới (x. ÐT 13-14).
Các môn triết học phải dựa vào “di sản triết học có giá trị ngàn đời” (ÐT 15), giúp
cho các linh mục tương lai hiểu đúng “não trạng thời đại để đối thoại được với người
đương thời” (ibid.).
Các môn thần học, dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội, đưa họ vào các mầu nhiệm Kitô-
giáo (x. ĐT 16). Kinh Thánh phải là “linh hồn của toàn thể khoa thần học” (ibid.).
Phải “cho các chủng sinh thấy các Giáo Phụ Đông và Tây phương cũng như diễn tiến
lịch sử tín điều đã đóng góp gì trong việc trung thành lưu truyền và minh giải từng
chân lý mạc khải…”, giúp họ “đào sâu và nhận thức được mối liên hệ giữa các mầu
nhiệm cứu độ, nhờ phương pháp suy luận theo đường lối của thánh Tôma” (ibid.).
Không phải là thứ học thuyết Tôma cứng ngắc và lỗi thời, nhưng là một học thuyết
Tôma sống động, hấp thụ những chân lý mới theo tinh thần sáng tạo của Thánh Tiến
Sĩ.
Các bộ môn thần học khác cũng cần được canh tân “nhờ tiếp xúc linh động hơn với
mầu nhiệm Chúa Kitô và lịch sử cứu độ” (ibid.), cải thiện môn thần học luân lý “với
lối trình bày có khoa học và thấm nhuần giáo lý Thánh Kinh nhiều hơn” (ibid.), trình
bày môn Giáo Luật và Giáo Sử “cho liên lạc với mầu nhiệm Giáo Hội, theo Hiến chế
tín lý về Giáo Hội” (ibid.). Môn Phụng vụ không giới hạn ở việc học chữ đỏ, nhưng
phải giúp chủng sinh hiệp thông sâu xa hơn với mầu nhiệm Vượt Qua. “Môn Phụng Vụ
phải được coi là nguồn mạch thiết yếu số một của tinh thần Kitô-giáo đích
thực” (ibid.). Các chủng sinh cũng “phải được hướng dẫn để hiểu biết đầy đủ hơn về
những Giáo Hội và Cộng đồng Giáo Hội ly khai” (ibid.).
Tiếp theo là những định hướng mới về việc huấn luyện mục vụ đích danh : huấn giáo
và giảng thuyết, việc phụng tự và ban phát các bí tích, công cuộc từ thiện, nghĩa vụ
tìm các chiên lạc và đến với người vô tín, những công tác mục vụ khác, nghệ thuật
hướng dẫn các tâm hồn, giúp đỡ các tu sĩ nam nữ (x. ÐT 19), sử dụng những phương
thế mà khoa sư phạm, tâm lý, xã hội cung ứng (x. ÐT 20), học nghệ thuật tông đồ
trên lý thuyết và trong thực hành, dưới sự hướng dẫn của các chuyên viên (x. ÐT
21).
Ngoài ra còn có việc huấn luyện bổ túc sau khi đã mãn trường.
Mẫu linh mục mới sau Công Đồng Vatican II phải là như thế.
VI. CANH TÂN ĐỜI SỐNG TU TRÌ
Công Đồng Vatican II đã định vị đời sống tu trì trong toàn bộ mầu nhiệm Giáo Hội
không phải trên bình diện phẩm trật, nhưng trên bình diện đặc sủng và thần khí.
Cuộc canh tân Giáo Hội không thể không có sự góp phần của những người tuyên
khấn các lời khuyên Phúc Âm. Do đó mà có Sắc lệnh về đời sống tu trì, quy định
“những nguyên tắc tổng quát nhằm thích nghi canh tân đời sống và kỷ luật các dòng”
(DT 1) cho phù hợp với nhu cầu hiện nay.
Những lời đầu tiên của Sắc lệnh nhắc lại mục đích và những phương tiện chủ yếu của
đời sống tu trì : theo đuổi đức mến trọn hảo bằng việc thực hành các lời khuyên Phúc
Âm, bắt nguồn từ giáo lý và mẫu gương của Thầy Chí Tôn (ibid.).
Văn kiện này là nền tảng của mọi cuộc canh tân đời sống tu trì. Nó được coi như một
lời mời gọi hướng tới những đỉnh cao nhất của sự trọn hảo theo tinh thần Phúc Âm,
dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.
– Các số từ 2 đến 6 chứa đựng những chỉ dẫn tổng quát của việc canh tân. Điều nói
ở số 2 là quan trọng nhất : trên hết và trước hết là theo Chúa Kitô như Phúc Âm dạy.
Đây là tiêu chuẩn tối hậu của đời sống tu trì, là quy luật tối thượng ; trung thành
nhận thức và noi giữ tinh thần và ý hướng đặc biệt của đấng Sáng Lập. Tinh thần và
ý hướng này làm nên tính chất và sứ mệnh riêng của mỗi hội dòng. Tất cả nhằm mưu
ích cho Giáo Hội. Nhìn tới nhu cầu của Giáo Hội hôm nay ; tìm hiểu hiện trạng của
thế giới và con người hôm nay ; canh tân về tu đức là yếu tố có địa vị then chốt.
Những ý hướng cơ bản trên đây chi phối những việc canh tân cụ thể : thích nghi với
những điều kiện thể lý, tâm lý của các tu sĩ, những điều kiện cá nhân, xã hội và tông
đồ ; điều chỉnh hệ thống lãnh đạo sao cho thích ứng với nhu cầu hiện tại ; duyệt lại
Hiến pháp, nội quy, sách Kinh …, loại bỏ những quy luật lỗi thời (DT 3).
Mọi tu sĩ đều cộng tác vào việc canh tân này, nhưng quyết định là thuộc thẩm quyền
hữu trách (DT 4).
Số 5 nhắc lại những mục đích cao cả của đời sống tu trì. Đây là một ơn gọi nhằm đạt
tới sự trọn lành của đức ái bằng việc tuyên các lời khuyên Phúc Âm, sống cho một
mình Thiên Chúa, phục vụ Ngài, trong một sự thánh hiến hoàn toàn, bám rễ trong sự
thánh hiến của phép Rửa và biểu lộ sự thánh hiến này cách trọn hảo hơn. Tâm hồn tu
sĩ phải là một tâm hồn thánh hiến, một tâm hồn thánh, dành trọn cho Đức Kitô, chỉ
tìm một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự, bằng việc chiêm niệm liên kết với hoạt
động và với sự nhiệt thành tông đồ.
Số 6 nhấn mạnh sự ưu tiên của đời sống thiêng liêng, là điều kiện hàng đầu của tất
cả việc canh tân đời sống tu trì, một đời sống âm thầm với Đức Kitô trong Thiên
Chúa, vì phần rỗi nhân loại và xây dựng Giáo Hội, trong tinh thần cầu nguyện và với
sự “cảm thức về Giáo Hội”.
– Sau phần nói về những quy tắc tổng quát của việc canh tân, Sắc lệnh mô tả
những hình thức khác nhau của đời sống tu trì : chiêm niệm, hoạt động tông đồ, thể
chế đan viện, tu hội đời (DT 7-10).
Ba số 12-14 rất quan trọng, xác định những điều kiện hiện thời cho việc tuân giữ các
lời khuyên Phúc Âm về khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, mà vẫn tôn trọng phẩm
giá của con người và địa vị cao cả của các con cái Thiên Chúa.
Đời sống huynh đệ và việc huấn luyện tu sĩ cũng được chú trọng (DT 15 và 18).
– Cuối cùng là một số vấn đề có tính cách thời sự : Nội vi của các nữ đan sĩ ; tu
phục ; thành lập những hội dòng mới, duy trì – thích nghi hay loại bỏ những việc
riêng của hội dòng ; sát nhập hay liên kết giữa các hội dòng ; hội nghị những Bề trên
cao cấp ; cổ võ ơn gọi tu trì (DT 16-24).
Từ mấy chục năm qua, hầu hết các hội dòng đã khởi xướng hoặc thực hiện việc canh
tân sâu rộng dựa vào những chỉ thị của Công Đồng.
VII. VIỆC TÔNG ĐỒ CỦA GIÁO DÂN
Sắc lệnh Tông đồ giáo dân, công bố ngày 18.11.1965, rất quan trọng, có một ý nghĩa
lịch sử to lớn. Những chỉ dẫn mục vụ trong đó đem lại những cơ sở mới mẻ cho việc
định hướng tông-đồ-vụ giáo dân trong Giáo Hội hôm nay và ngày mai.
Ngay từ đầu, Vatican II đã thấy rõ vai trò quan trọng của giáo dân trong hoạt động
tông đồ của Giáo Hội. Nhiều văn kiện của Công Đồng ít nhiều đề cập đến giáo dân.
Đặc biệt Hiến chế tín lý về Giáo Hội đã khẳng định địa vị nền tảng của mọi thành
phần dân Chúa,tất cả đều nhờ ân sủng mà trở nên con cái Thiên Chúa (GH 9). Hiến
chế còn nói rõ : giáo dân được tham dự vào ba chức vụ tiên tri, tư tế và vương giả
của chính Đức Kitô (GH 31).
Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân nhắc lại những nền tảng giáo lý trên đây trong những
công thức còn phong phú hơn nhiều, cho thấy cứu cánh và sứ mệnh của giáo dân
trong Giáo Hội : “Trong Giáo Hội, có nhiều nhiệm vụ khác nhau nhưng đều cùng
chung một sứ mệnh … Phần giáo dân, vì họ tham dự thực sự vào quyền tư tế, tiên tri
và vương giả của Chúa Kitô, nên họ chu toàn phần việc của mình trong sứ mệnh của
toàn dân Thiên Chúa trong Giáo Hội và ở giữa trần gian” (TĐ 2).
Sắc lệnh đã tổng hợp những khía cạnh khác nhau của tông-đồ-vụ giáo dân.
Trước hết, Sắc lệnh nói đến bản chất và nền tảng của việc mọi người, trong đó có
giáo dân, tham dự vào sứ mệnh của Giáo Hội (các số 2-3), những nguyên tắc đặc
biệt của một linh đạo giáo dân : “Nguyên lý đời sống thiêng liêng của mỗi giáo dân
phải mang sắc thái đặc biệt tùy theo điều kiện sinh sống : đời sống hôn nhân và gia
đình, đời sống độc thân hay góa bụa, tình trạng đau yếu, sinh hoạt nghề nghiệp và
xã hội” (TÐ 4). Mọi hình thức sống thánh theo Phúc Âm đều dựa vào trục cơ bản này
là trung thành thực thi các nhân đức đối thần và luân lý, để tiến tới sự trọn lành dưới
tác động của Chúa Thánh Thần. Tuy vậy, mỗi kiểu mẫu thánh thiện phản ánh một
cung cách đặc biệt theo gương Đức Kitô.
Tiếp theo, Sắc lệnh đề cập những khía cạnh của tông-đồ-vụ giáo dân :
– Những mục tiêu chính : Phúc-âm-hóa và thánh hóa con người, làm cho trật tự
trần thế được tốt đẹp, bằng dấu ấn bác ái là dấu chỉ phân biệt người môn đệ Đức Kitô
(TÐ 6-8).
– Những môi trường hoạt động tông đồ khác nhau phù hợp với thời gian và không
gian : giáo xứ, giáo phận và Giáo Hội toàn cầu, gia đình, giới trẻ, các môi trường xã
hội, trên bình diện quốc gia và quốc tế (TÐ 10-14). Đặc biệt phải chú ý tới sự liên đới
giữa các quốc gia, dân tộc, sự liên đới nhân loại trong mọi vấn đề quốc tế. Người
công giáo được kêu gọi cộng tác huynh đệ với mọi người trên thế giới (TÐ 14).
– Các phương thức hoạt động tông đồ : phương thức cá nhân và phương thức xã
hội.
Công Đồng quả có lý khi nhấn mạnh lời mời gọi mọi người tham gia vào việc tông đồ
do những đòi hỏi của phép Rửa Tội và Thêm Sức. Đó chính là lời mời gọi trực tiếp, cá
nhân của Đức Kitô gửi tới mỗi chi thể của Nhiệm Thể. “Việc tông đồ cá nhân này rất
hiệu quả ở bất cứ nơi nào và thời nào. Hơn nữa, trong một số hoàn cảnh, chỉ có hoạt
động tông đồ này mới thích hợp và mới có thể thực thiện được. Mọi người giáo dân,
dù thuộc thành phần nào đi nữa, dù không có cơ hội hay khả năng để cộng tác trong
các hội đoàn, đều được kêu gọi và hơn nữa phải làm việc tông đồ cá nhân” (TÐ 16).
Mỗi giáo dân đều chịu trách nhiệm về thế giới và toàn thể Giáo Hội. Phép Rửa Tội và
Thêm Sức liên kết họ với mọi chi thể của Nhiệm Thể và thôi thúc họ hướng tới mọi
người.
Tuy vậy, hoạt động tông đồ tập thể vẫn có giá trị hàng đầu trong một thế giới dành
ưu tiên cho những yếu tố xã hội và quốc tế. Phương thức sinh hoạt này sử dụng
những kỹ thuật truyền thông mau lẹ, có sức mạnh tác động rất lớn tới đại chúng.
Hoạt động tông đồ tập thể có tổ chức được thực hiện trong các hội đoàn. “Những hội
đoàn được thành lập nhằm hoạt động tông đồ tập thể, nâng đỡ và huấn luyện các hội
viên làm tông đồ, phối hợp và hướng dẫn hoạt động tông đồ của họ, để có thể hy
vọng nơi họ những kết quả phong phú hơn là nếu từng người hoạt động riêng rẽ” (TÐ
18).
Những hình thức khác nhau của Công-giáo-tiến-hành, “cộng tác chặt chẽ với hàng
giáo phẩm” (TÐ 20), có một vị trí ưu đãi trong tông-đồ-vụ của Giáo Hội. “Thánh Công
Đồng ân cần giới thiệu những tổ chức này, vì chắc chắn chúng đáp ứng đúng những
đòi hỏi của việc tông đồ của Giáo Hội trong nhiều quốc gia. Thánh Công Đồng cũng
kêu mời các linh mục hoặc giáo dân đang tham gia các hoạt động trên … hãy luôn
lấy tình huynh đệ mà cộng tác với các hình thức tông đồ khác trong Giáo Hội” (ibid.).
Ngoài ra, “việc tông đồ của giáo dân, cá nhân hay tập thể, phải được đặt vào đúng
chỗ trong công cuộc tông đồ của toàn thể Giáo Hội … liên kết với những người đã
được Chúa Thánh Thần đặt lên cai trị Giáo Hội của Thiên Chúa” (TÐ 23). Nếu như
giáo quyền phải cổ võ và bảo vệ những sáng kiến hợp pháp của giáo dân, thì về phần
mình, giáo dân cũng phải có tinh thần cộng tác với giáo quyền. Các tổ chức tông đồ
không những cần cộng tác với nhau mà còn phải được giáo quyền điều hành thích
đáng (ibid.). Giáo quyền không điều hành kiểu cha chú, độc đoán. Giáo dân cũng
không hành động theo ý riêng. Tất cả biểu lộ một sự phối hợp và tương trợ. Mọi
người cùng hoạt động như những anh em trong Đức Kitô, thuộc về cùng một gia đình
của Thiên Chúa. “Các Giám mục, các cha xứ, các linh mục dòng triều phải nhớ rằng
quyền và bổn phận làm tông đồ là việc chung cho tất cả mọi tín hữu, không phân
biệt giáo sĩ hay giáo dân, và trong việc xây dựng Giáo Hội, giáo dân cũng có phần
riêng của họ. Vì thế các ngài phải cùng với giáo dân làm việc trong Giáo Hội và cho
Giáo Hội với tình huynh đệ, cũng như phải đặc biệt để tâm lo cho giáo dân trong khi
họ làm việc tông đồ” (TÐ 25).
Ơn gọi tông đồ của giáo dân đòi hỏi một sự huấn luyện vững chắc, thích hợp với
những nhu cầu của thế giới hôm nay. Phải nói rằng, nhiều giáo dân không được huấn
luyện về tu đức, giáo lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và việc tông đồ. Giáo Hội cần đầu tư
nhiều cho công tác này, cung ứng phương thế như “những khóa học tập, những kỳ
đại hội, những cuộc tĩnh tâm, những buổi họp mặt thường xuyên, những buổi thuyết
trình, những sách báo … giúp họ trau dồi thêm kiến thức về thiêng liêng cũng như
giúp họ hiểu biết những hoàn cảnh sống của thế giới, để khám phá và sử dụng những
phương pháp thích hợp nhất” (TÐ 32).
Nếu Giáo Hội trung thánh với những gợi ý được Chúa Thánh Thần soi sáng của
Vatican II, chắc hẳn giáo dân được mời gọi nắm giữ vai trò chủ chốt trong việc Phúc-
âm-hóa thế giới. Đây chính là thời của giáo dân. Và quả thực, trong nhiều quốc gia,
vận mệnh của Giáo Hội tùy thuộc rất nhiều vào giáo dân.
VIII. GIÁO DỤC KITÔ-GIÁO
Vatican II đặc biệt quan tâm tới trẻ em và thanh thiếu niên. Giáo Hội biết rằng tương
lai của Giáo Hội và thế giới nằm trong tay những con người này. Mối quan tâm ấy
được nói lên trong mấy từ mở đầu Tuyên ngôn về giáo dục Kitô-giáo : “Gravissimum
educa-tionis momentum” (Vai trò vô cùng quan trọng của việc giáo dục). Thực vậy,
Công Đồng ý thức rằng giáo dục có “tầm quan trọng rất lớn trong đời sống con người,
và ảnh hưởng của nó luôn gia tăng trên đà tiến triển của xã hội hiện nay” (Lời mở
đầu).
Quyền được giáo dục dựa trên phẩm giá của con người. Việc giáo dục này có mục
đích là “đào tạo con người nhằm đạt tới cùng đích của mình” (GD 1), tức là đi vào đối
thoại và hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa. Ai nấy đều có quyền được giáo dục, nhờ
đó nhân cách được phát triển đầy đủ. Người kitô-hữu, đã được tái sinh bởi nước và
Thánh Thần và trở nên con cái Thiên Chúa, càng có quyền ấy hơn nữa, nhất là quyền
được giáo dục theo Kitô-giáo (x. GD 6-7). Đây là quyền cơ bản, được Giáo Hội luôn
quan tâm bảo vệ và cổ võ, cho dù trên thực tế, nó không được tôn trọng ở một số
quốc gia. Vatican II lưu ý tới việc giáo dục cả nhân bản lẫn Kitô-giáo, nhằm làm phát
triển con người toàn diện.
Về việc giáo dục này, Công Đồng nhấn mạnh vai trò hàng đầu và không thể thay thế
của gia đình : “Vì là người truyền thông sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn
phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng, và vì thế họ được coi là những nhà giáo
dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu
thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được… Gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức
tính xã hội cần thiết cho mọi đoàn thể” (GD 3).
Cộng tác với gia đình trong việc giáo dục là bổn phận của toàn thể xã hội và cả Giáo
Hội nữa. “Với một danh nghĩa đặc biệt, Giáo Hội có trách nhiệm giáo dục, không
những vì Giáo Hội cũng là một xã hội trần gian, phải được thừa nhận có khả năng
giáo dục, hơn nữa vì Giáo Hội có nhiệm vụ loan truyền cho mọi người biết con đường
cứu rỗi, cũng như thông ban sự sống của Chúa Kitô cho các tín hữu và luôn lo lắng
giúp đỡ họ đạt tới sự viên mãn của đời sống ấy” (ibid.).
Trong tất cả các phương tiện giáo dục thì nhà trường giữ một vai trò quan trọng
nhất. Giáo Hội cũng hiện diện trong môi trường này, nhất là qua các trường công
giáo (GH 8). Trong số những trường công giáo, các trường Cao Đẳng, các Viện Đại
học công giáo được Giáo Hội đặc biệt quan tâm (GD 10). Giáo Hội muốn đào tạo
những con người có trình độ cao, có khả năng trở thành những tông đồ của đức tin,
những người dẫn đạo cho anh chị em đồng loại.
Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô-giáo kết luận bằng lời khuyên các người trẻ “ý thức
nhiệm vụ cao cả của việc giáo dục”, cố gắng làm việc để “không những đẩy mạnh
cuộc canh tân bên trong Giáo Hội”, mà còn, trong tinh thần đối thoại và tương trợ,
“phát huy thêm sự hiện diện hữu ích của Giáo Hội trong thế giới hôm nay, nhất là
trong giới trí thức”.
Đoạn III : KHÍA CẠNH ĐẠI KẾT
SỰ HIỆP NHẤT CỦA CÁC KITÔ-HỮU
Chắc chắn một trong những mối bận tâm hàng đầu của Vatican II là sự hiệp nhất các
kitô-hữu trong sự duy nhất của Giáo Hội Chúa Kitô. Lúc Công Đồng được triệu tập là
lúc bầu không khí đại kết đang ngày càng tốt đẹp. Sự chia rẽ đã làm tổn hại cho sự
phát triển của một Giáo Hội truyền giáo. Người ta đang hy vọng một ngày nào đó nó
sẽ chấm dứt. Các Giáo Hội đang xích lại gần nhau. Về phía Giáo Hội công giáo, việc
Công Đồng công bố Sắc lệnh về Hiệp Nhất (21.11.1964) rõ ràng cho thấy ý muốn
tìm lại sự hiệp nhất. Rôma không còn giữ thái độ nghi kỵ và xa cách trước đây đối với
phong trào Đại-kết của các Giáo Hội ly khai, hoặc với nỗ lực truyền giáo của Cộng
đồng Giáo Hội Tin-lành.
Sắc lệnh có màu sắc chủ yếu là mục vụ, kêu gọi mọi người công giáo đi vào phong
trào hiệp nhất, với thái độ thận trọng nhưng cương quyết. Bản văn của Sắc lệnh
tránh mọi hình thức lên án hay hộ giáo. Công Đồng hiểu rằng, trong sự ly khai này,
cả hai bên đều có lỗi. Đây là lúc phải tha thứ cho nhau để, giống như hai môn đệ
Emmaus, cùng nhau lắng nghe Chúa Kitô và tiến gần đến Ngài.
Sắc lệnh gồm ba chương, bàn về : các nguyên tắc công giáo về hiệp nhất ; cách
tham dự phong trào Hiệp Nhất ; cái nhìn mới về các Giáo Hội và Cộng đồng Giáo Hội
ly khai.
Điều kiện cơ bản của phong trào hiệp nhất là cùng nhau tìm tới chân lý. Không phải
là thứ xu thời sai lệch (irénisme). Thế nên ngay từ đầu, Giáo Hội công giáo đã cho
thấy rõ những quan điểm nền tảng, những cấu tố của quan niệm về sự hiệp nhất. Đó
là : Thần tính của Đức Kitô ; Sự thiết lập Thánh Thể, như biểu tượng và thực hiện sự
hiệp nhất ; Vai trò kết hợp của Chúa Thánh Thần ; Sự thiết lập một phẩm trật trong
Nhóm Mười Hai và các người Kế-vị, trong sự duy nhất của một đức tin, một phụng tự,
một sự lãnh đạo phục vụ mọi người. “Đó là mầu nhiệm thánh của sự hiệp nhất Giáo
Hội trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần trong
nhiều thừa tác vụ khác nhau”, một sự hiệp nhất có “mẫu mực tối cao và nguyên lý là
sự hiệp nhất trong Ba Ngôi của một Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con và Thánh
Thần” (HN 2).
Cả chương II nêu ra những chỉ dẫn cho việc tham dự của cả Giáo Hội vào phong trào
hiệp nhất : không ngừng canh tân Giáo Hội ; hoán cải ; cầu nguyện chung ; hiểu biết
lẫn nhau trong tình huynh đệ ; huấn luyện về việc đại kết ; trình bày và diễn tả các
mầu nhiệm đức tin cho phù hợp ; thường xuyên cộng tác với các anh em ly khai, “nỗ
lực áp dụng Phúc Âm vào đời sống xã hội” (HN 12).
Chương III của Sắc lệnh kêu gọi người công giáo có một cái nhìn thiện cảm về các
giá trị tôn giáo nơi hai khối ly khai chính là Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và
Giáo Hội Cải Cách.
Các Giáo Hội Đông Phương từ lâu vẫn liên kết với Giáo Hội Tây Phương “trong tình
huynh đệ nhờ hiệp thông trong đức tin và đời sống bí tích”, trong “những tín điều căn
bản về đức tin Kitô-giáo như Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập thể
trong lòng Đức Trinh Nữ Maria” (HN 14). Ở Đông Phương, truyền thống phụng vụ và
tu đức rất phong phú (HN 15), kể cả kỷ luật Giáo Hội và thần học (HN 16-17). “Toàn
bộ di sản tu đức và phụng vụ, kỷ luật và thần học trong các truyền thống ấy, thuộc
về đặc tính công giáo và tông truyền trọn vẹn của Giáo Hội” (HN 17).
Còn về phía các người Cải Cách, mặc dù có những dị biệt quan trọng với Giáo Hội
công giáo “chẳng những về phương diện lịch sử, xã hội, tâm lý, văn hóa, mà nhất là
về cách giải thích chân lý mạc khải” (HN 19), vẫn phải “cố gắng thiết lập cuộc đối
thoại hiệp nhất”, dựa vào một số điểm “có thể và phải là nền tảng và yếu tố thúc đẩy
cho cuộc đối thoại ấy” (ibid.) : niềm tin vào Đức Kitô, nguồn mạch và trung tâm của
sự hiệp thông Giáo Hội (HN 20) ; lòng yêu mến, kính trọng và học hỏi Kinh Thánh
(HN 21) ; đời sống bí tích (HN 22) ; đời sống trong Đức Kitô (HN 23).
Cho dù sự hiệp nhất “vượt quá sức lực và khả năng loài người”, Công Đồng vẫn “đặt
hết hy vọng vào lời Chúa Kitô cầu xin cho sự hiệp nhất của Giáo Hội, vào tình thương
của Chúa Cha và vào quyền năng của Chúa Thánh Thần” (HN 24).
Phần II : GIÁO HỘI ”AD EXTRA”
Nỗ lực chính của Vatican II là canh tân Giáo Hội từ bên trong về hiệp nhất các kitô-
hữu. Tuy vậy, ngay từ đầu, như Sứ điệp của Công Đồng gửi đến thế giới cho thấy,
Công Đồng cũng nhìn về con người hôm nay. Mối quan tâm Phúc-âm-hóa thế giới nổi
bật trong giai đoạn thứ hai của Công Đồng, đạt tới tột đỉnh trong việc công bố Hiến
chế Mục vụ Giáo Hội trong thế giới hôm nay (07.12.1965). Đây là văn kiện cuối cùng
tổng hợp những khát vọng tông đồ của Công Đồng.
I. HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI
Cùng một Giáo Hội vừa tự canh tân mình vừa muốn chu toàn sứ mệnh cứu độ nơi con
người.
Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo cho thấy rõ nhất ý thức ấy về hai khía cạnh của
mầu nhiệm Giáo Hội. Sắc lệnh khởi đi từ chóp đỉnh của mầu nhiệm Ba Ngôi, sứ mệnh
của từng Ngôi, để rồi hướng tới dân ngoại là những người chưa nhận được sứ điệp
của Đức Kitô. Giáo Hội truyền giáo thực sự là Giáo Hội hướng tới thế giới để cứu thế
giới.
Viễn tượng Ba Ngôi về mầu nhiệm Giáo Hội nói trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội được
lặp lại trong Sắc lệnh về Truyền giáo và Hiến chế Mục vụ, nhưng dưới hình thức năng
động hơn. Đây là một Giáo Hội được Ba Ngôi soi sáng cả trong đời sống bên trong lẫn
trong hoạt động truyền giáo bên ngoài.
Trong Sắc lệnh, người ta thấy rõ nguồn gốc, ý định, đà tiến, cứu cánh và nguyên lý
hiệp nhất của việc truyền giáo đều được tìm thấy nơi mầu nhiệm Ba Ngôi. Việc
truyền giáo khởi sự từ Ba Ngôi và hướng tới Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, dưới tác động
của Chúa Thánh Thần. “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo
Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Thiên
Chúa Cha” (TG 2). Thiên Chúa yêu thương đã muốn quy tụ mọi người trên mặt đất
vào sống trong đại gia đình của Ngài. Chính vì thế mà “Giáo Hội có bổn phận truyền
bá đức tin và ơn cứu rỗi của Đức Kitô” (TG 5). “Mục đích riêng của hoạt động truyền
giáo này là rao giảng Phúc Âm và trồng Giáo Hội vào các dân tộc hay những nhóm
người mà Giáo Hội còn chưa bén rễ” (TG 6).
Tất cả Sắc lệnh được khai triển theo một lược đồ như sau : bản chất sâu xa của hoạt
động truyền giáo là nối dài sứ mệnh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để làm vinh
danh Chúa Cha ; toàn thể nhân loại được mời gọi làm thành một Dân duy nhất của
Thiên Chúa (ch. I). Công cuộc truyền giáo và những giai đoạn xây dựng Giáo Hội (ch.
II) ; quy chế các Giáo Hội địa phương (ch. III) ; các nhà truyền giáo : ơn gọi, việc
huấn luyện, linh đạo truyền giáo (ch. IV) ; tổ chức hoạt động truyền giáo (ch. V) ; sự
cộng tác của cả Giáo Hội vào công cuộc truyền giáo (ch. VI).
Như vậy, Công Đồng xem xét vấn đề truyền giáo trong mọi khía cạnh, đồng thời đưa
ra những nguyên tắc giải quyết về hoạt động này trong các chỉ dẫn mục vụ.
II. GIÁO HỘI VÀ CÁC TÔN GIÁO NGOÀI KITÔ-GIÁO
Cũng do ý hướng muốn mở ra trước thế giới để cứu thế giới, Công Đồng đưa ra bản
tuyên ngôn về những liên hệ của Giáo Hội với các tôn giáo Ngoài Kitô-giáo, công bố
ngày 28.10.1965. Quả thực, Giáo Hội của Vatican II là một Giáo Hội muốn đối thoại
với mọi người. Giáo Hội không muốn tiên vàn nhìn đến những gì gây chia rẽ, nhưng
quan tâm đến những yếu tố chung của nhân loại. Cùng một vận mệnh liên kết mọi
người. Cùng những vấn nạn đặt ra cho mọi người : “Con người là gì ? Đời người có
mục đích và ý nghĩa nào ? Sự thiện và tội lỗi là gì ? Đâu là nguyên nhân và mục đích
của đau khổ ? Đâu là con đường dẫn tới hạnh phúc bất diệt ? Cái chết, sự phán xét
và thưởng phạt sau khi chết có ý nghĩa ra sao ? Sau cùng, cái huyền nhiệm tối hậu
khôn tả vẫn bao trùm cuộc sống của chúng ta là chi, chúng ta phát xuất từ đâu và
chúng ta hướng về đâu ?” (NK 1).
Những vấn nạn cơ bản này đặt ra cho con người ở bất cứ thời nào. Nhưng giải đáp lại
khác nhau tùy theo văn hóa, văn minh và tôn giáo. Đặc biệt các tôn giáo có vai trò
quan trọng trong những giải đáp này. Do đó mà có Tuyên ngôn của Công Đồng, như
một đáp ứng mục vụ của một Giáo Hội đối thoại nhằm đưa mọi người về với Đức
Kitô.
Chúng ta có thể thấy thái độ cởi mở của Giáo Hội với Ấn-giáo, Phật-giáo và những
tôn giáo khác (NK 2), đặc biệt với Hồi-giáo vì “cùng thờ phượng một Thiên Chúa duy
nhất, hằng sống và hằng hữu, từ bi và toàn năng, Đấng tạo thành trời đất” (NK 3),
đặc biệt hơn nữa là với Do-thái-giáo, vì do nguồn gốc của mình, Kitô-giáo có mối dây
liên kết thiêng liêng với tôn giáo này. “Giáo Hội Chúa Kitô công nhận rằng khởi điểm
của đức tin và việc Chúa chọn mình được tìm thấy nơi các Tổ Phụ, Môsê và các Tiên
Tri, theo như mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa … Giáo Hội không thể quên rằng
nhờ dân đó, dân mà Chúa đã thương bằng tình thương xót khôn tả của Người trong
Giao ước xưa, Giáo Hội đã nhận được mạc khải Cựu Ước” (NK 4). Hơn nữa, Đức Kitô,
Đức Trinh Nữ Maria, “các Tông Đồ, nền móng và cột trụ Giáo Hội, cũng như rất nhiều
môn đệ đầu tiên của các ngài, những người loan báo Phúc Âm Chúa Kitô cho trần
gian, đã được sinh ra từ dân tộc Do-thái” (ibid.).
Giáo Hội mong muốn sống tình huynh đệ đại đồng với hết mọi người, không phân
biệt chủng tộc, tôn giáo…, vì tất cả đều là con cái của một Cha trên trời (NK 5).
III. TỰ DO TÔN GIÁO
Công Đồng còn đi xa hơn trong tinh thần đối thoại khi tuyên bố Tự do tôn giáo, vì tôn
trọng phẩm giá con người. Ai nấy đều có quyền chọn theo tôn giáo nào tùy ý.
Quan điểm này lúc đầu không làm hài lòng một số người, nhất là vì nó đụng chạm
đến một số quốc gia chọn công giáo làm quốc giáo. Nhưng rồi vấn đề được chuyển
sang khía cạnh nhân phẩm, như ta thấy ở hai từ đầu tiên của Tuyên ngôn :
“Dignitatis humanae” (Phẩm giá con người). Không chấp nhận hình thức thờ ơ tôn
giáo, không hạ giá chân lý tôn giáo, không tạo nên nền tảng hợp pháp cho sự sai lầm
và vô luân, bản văn Công Đồng, sau nhiều lần sửa chữa, đã dung hòa những điều
kiện xã hội phức tạp ngày nay với những đòi hỏi của Tin Mừng.
Ngay phần Mở đầu, Tuyên ngôn khẳng định đạo công giáo là đạo thật và “mọi người
đều có nhiệm vụ tìm kiếm chân lý, nhất là những chân lý có liên quan đến Thiên
Chúa và Giáo Hội Người, và khi nhận biết rồi, họ phải tin theo và tuân giữ” (TD 1).
Ngay cả tựa đề phụ của Tuyên ngôn cũng xác định ý nghĩa của sự tự do tôn giáo này.
Không có vấn đề tin và thực hành một học thuyết luân lý theo sở thích của mình,
nhưng ở đây nói về “quyền của cá nhân và đoàn thể có được sự tự do xã hội và dân
sự trong vấn đề tôn giáo”.
Công Đồng đã cẩn thận xác định đối tượng và nền tảng của tự do tôn giáo như sau :
“Quyền tự do này hệ tại ở chỗ con người không bị lệ thuộc vào áp lực của cá nhân,
đoàn thể xã hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào khác. Với ý nghĩa đó, trong
lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai
bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, cho dù đó là hành động riêng tư hay công
khai, một mình hay cùng với người khác” (TD 2). Và Công Đồng còn thêm : “Quyền
tự do tôn giáo được ây dựng trên chính phẩm giá con người, một phẩm giá đúng như
Lời Thiên Chúa mạc khải và chính lý trí cho biết. Quyền tự do tôn giáo này của con
người trong trật tự pháp lý của xã hội phải được công nhận như một quyền dân sự”
(ibid.).
Những Nghị Phụ sống trong các nước Đông Âu là những người đầu tiên đòi tự do tôn
giáo cho Giáo Hội và mọi người. Các Giám mục Mỹ-châu và dư luận thế giới cũng đều
đồng tình.
Tuyên ngôn của Công Đồng ghi dấu một bước tiến mới của sự tự do và hiểu biết lẫn
nhau trong những mối tương quan xã hội giữa Giáo Hội và thế giới hôm nay.
IV. GIÁO HỘI TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY
Hiến chế Mục vụ là văn kiện cuối cùng được ban hành, đồng thời cũng là văn kiện cho
thấy rõ nhất não trạng của Vatican II. Nó phản chiếu cái nhìn đích thực của Giáo Hội
: vừa hướng về Thiên Chúa vừa hướng về con người để giúp đưa con người về với
Thiên Chúa. Không một văn kiện nào khiến cho dư luận thế giới quan tâm như vậy,
đặc biệt vì văn kiện này nhằm gửi tới mọi người.
Văn kiện được hoàn thành nhờ sự đóng góp của rất nhiều chuyên viên, giáo sĩ cũng
như giáo dân, nhờ nỗ lực miệt mài của các Ủy ban và Tiểu ban, qua những sửa chữa
liên tục. Nhờ đó, nó có được sự duy nhất sâu xa, với trọng tâm xoay quanh vấn đề
lớn của thế giới hôm nay, đó là : sự thăng tiến và bảo vệ phẩm giá con người trên
mọi bình diện. Ngay trong Lời mở đầu, văn kiện đã xác định rõ mục tiêu : “Việc phải
làm là cứu rỗi con người và canh tân xã hội loài người. Do đó, con người – dĩ nhiên là
con người xét trong sự duy nhất và toàn thể của nó, với thể xác và linh hồn, tâm hồn
và lương tri, trí khôn và ý chí –, sẽ là then chốt tất cả phần trình bày của chúng tôi”
(MV 3).
Để trả lời cho những thắc mắc tại sao Vatican II lại quan tâm đến vấn đề con người
như vậy, Đức Giáo-hoàng Phaolô VI, trong Diễn văn Bế mạc Công Đồng, 07.12.1965,
đã nói : “ Quả thực, Vatican II có một ý nghĩa tôn giáo”. Kể từ thời Phục Hưng, con
người ngày càng xa rời Thiên Chúa. Thế nên Giáo Hội phải đi tìm kiếm con người, để
đưa họ về lại với Thiên Chúa.
Con người đuợc Công Đồng xem xét không phải là con người chung chung, nhưng là
con người thời nay, con người hướng về mình, con người vô thần muốn xây dựng một
chủ tuyết nhân bản mới không có Thiên Chúa. Sứ mệnh cấp bách của Giáo Hội là giải
thoát con người khỏi chính họ bằng cách đưa họ lại gần Thiên Chúa, đối thoại với họ
để giúp họ khám phá ra phẩm giá của họ là hình ảnh của Thiên Chúa.
Sau Lời mở đầu là phần Nhập đề khá dài nói về những thay đổi sâu xa trên thế giới
có ảnh hưởng tới thân phận con người. “Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai
đoạn mới trong lịch sử của mình, đó là giai đoạn chất chứa những thay đổi sâu xa và
mau chóng đang dần dần lan rộng tới tất cả hoàn cầu … Chúng ta có thể nói đến
một sự biến đổi đích thực về xã hội cũng như về văn hóa, một sự biến đổi cũng có
tác động trên đời sống tôn giáo” (MV 4).
Tiếp theo phần Nhập đề là hai phần chính.
Phần I bàn về con người dưới ánh sáng đức tin, trình bày thiên chức của con người
trên bình diện cá nhân (ch. I) và xã hội (ch. II), ý nghĩa hoạt động của con người
trên thế giới (ch. III), sứ mệnh thần linh của Giáo Hội giữa con người (ch. IV)
Tựa đề của chương I gói ghém đề tài cơ bản của cả Hiến chế : Phẩm giá con người.
Đây không chỉ là những quyền của con người. Những quyền này đã được thừa nhận
trong hầu hết các pháp chế dân sự, nhưng bi vi phạm nghiêm trọng làm phương hại
đến phẩm giá của con người. Chính phẩm giá này phải được quan tâm trên mọi bình
diện cá nhân, gia đình, xã hội và qua những hoạt động khác nhau của con người. Đó
là nội dung của phần I.
Trong phần II, Hiến chế nêu ra một số khía cạnh cụ thể cấp bách liên hệ đến phẩm
giá tối cao này. Do đó có năm chương bàn về : phẩm giá của hôn nhân (ch. I) ;
quyền của mỗi người được hưởng một văn hóa cao nhất (ch. II) ; sự bảo đảm cho
mỗi người trong đời sống kinh tế xã hội (ch. III) ; cộng đồng chính trị (ch. IV) ; sự cổ
võ hòa bình và xây dựng cộng đồng các dân tộc (ch. V).
Để kết thúc Hiến chế, Công Đồng ước mong mọi người, đặc biệt các kitô-hữu, góp
phần với người khác cùng nhau xây dựng một thế giới mới và đưa tới cùng đích của
nó.
1. Điều kiện con người trong thế giới hôm nay
“Thay đổi” là từ chủ chốt, cho thấy rõ tình trạng hiện thời của thế giới. “Nhân loại
ngày nay đang sống vào một giai đoạn mới trong lịch sử của mình. Đó là giai đoạn
chất chứa những thay đổi sâu xa và mau chóng đang dần dần lan rộng tới tất cả
hoàn cầu” (MV 4). “Sự giao động tâm trí hiện nay và sự thay đổi các điều kiện sống
gắn liền với một sự biến chuyển rộng lớn hơn. trong phạm vi trí dục, sự biến chuyển
này làm cho toán học, các khoa học tự nhiên và nhân văn ngày càng thêm ưu thế,
còn trong phạm vi hoạt động, thì kỹ thuật, con đẻ của khoa học cũng vậy” (MV 5).
Sự thay đổi trên đây tác động trên mọi lãnh vực : xã hội, tâm lý, luân lý và tôn giáo.
Một xã hội mới theo kiểu mẫu công nghiệp dần dần bành trướng, “đưa một số quốc
gia tới mức thịnh vượng kinh tế và làm thay đổi tận gốc rễ những quan niệm và
những điều kiện sống đã cố định lâu đời trong xã hội” (MV 6). Những điều kiện vật
chất của cuộc sống lôi kéo theo những thay đổi sâu xa trên bình diện tâm lý và luân
lý. “Những biến chuyển tâm thức và cơ cấu thường làm cho con người bất đồng ý
kiến về những giá trị đã được chấp nhận, nhất là nơi những người trẻ” (MV 7). “Các
định chế, luật pháp, những lối suy tư và cảm nghĩ của người xưa truyền lại hình như
không phải lúc nào cũng phù hợp với tình thế hiện tại, do đó, có sự xáo trộn trầm
trọng trong phương thức và trong chính các tiêu chuẩn hành động” (ibid.).
Những điều kiện sống mới mẻ cũng gây ra những hệ quả nghiêm trọng về mặt thiêng
liêng. Những vấn đề đô thị và lao động thường chi phối sự thực hành tôn giáo.
Thuyết nhân bản vô thần phần nhiều là kết quả của một văn minh kỹ thuật, trong đó
người ta chỉ biết tìm kiếm những tiện nghi tức thời. Những bất bình đẳng về xã hội,
kinh tế và chủng tộc đè nặng trên lương tâm nhiều người trong thái độ của họ đối với
Thiên Chúa. “Khác với thời xưa, sự từ chối hoặc tránh né đề cập tới Thiên Chúa hay
tôn giáo không còn là một hành vi dị thường và cá nhân nữa, vì ngày nay, biết bao
người coi đó như một đòi hỏi của tiến bộ khoa học hay của nền nhân bản mới. Tại
nhiều nơi, quan niệm này không những được diễn tả trong các trường phái triết học,
mà còn ảnh hưởng rất nhiều tới văn chương, nghệ thuật, việc giải thích của các khoa
học nhân văn và sử học, cũng như ảnh hưởng tới cả dân luật khiến cho nhiều người
hoang mang” (ibid.).
Do đó, không lạ khi thấy có sự mất quân bình trong phạm vi cá nhân, gia đình, nghề
nghiệp, quốc gia và quốc tế.
Dầu vậy, “trước sự tiến hóa hiện nay của thế giới, ngày càng có nhiều người đặt vấn
đề hoặc nhận thức một cách sâu sắc mới mẻ về những vấn đề hết sức căn bản như :
Con người là gì ? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ, sự chết ? Sao chúng còn tiếp tục
tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ ? Bao chiến thắng đạt được với một giá đắt ấy
có ích gì ? Con người có thể đem lại gì cho xã hội và trông đợi gì ở xã hội ? Cái gì sẽ
tiếp sau cuộc sống trần gian này “ (MV 10).
Giáo Hội của Vatican II muốn đem lại một giải đáp cho tất cả những vấn nạn này.
“Giáo Hội tin rằng Chúa Kitô, Đấng đã chết và sống lại cho mọi người, nhờ Thần Khí
của Người mà ban cho con người ánh sáng và sức mạnh, để con người có thể đáp lại
ơn gọi cao cả của mình. Giáo Hội tin rằng dưới bầu trời này chẳng có danh hiệu nào
khác được ban cho loài người, để loài người phải nhờ đó mà được cứu rỗi. Cũng thế,
Giáo Hội tin rằng đầu mối, trung tâm và cùng đích của tất cả lịch sử nhân loại đều ở
trong Đức Kitô là Chúa và là Thầy của Giáo Hội. Hơn nữa, Giáo Hội còn xác nhận rằng
qua mọi thay đổi, có nhiều điều vẫn không đổi thay, vì nền tảng cuối cùng của những
điều không đổi thay này là Đức Kitô, Đấng hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một.
Vậy dưới ánh sáng của Đức Kitô … Công Đồng muốn nói với mọi người, để làm sáng
tỏ mầu nhiệm con người và để cùng nhau tìm giải đáp cho những vấn đề chính yếu
của thời đại chúng ta” (ibid.).
2. Giáo Hội và thiên chức con người (phần I)
Phần này quan trọng nhất, bàn về thiên chức con người nói chung, cho thấy nhãn
quan nhân học Kitô-giáo về con người trên bình diện cá nhân (ss. 11-22) và xã hội
(ss. 23-32), dưới những hình thức sinh hoạt khác nhau (ss. 33-39). Sau khi xem xét
các khía cạnh của thiên chức con người, Giáo Hội cho biết sứ mệnh của mình là phục
vụ con người, và do đó biện minh cho hành động của mình can thiệp vào đời sống
của con người. Chương IV (ss. 40-45) nói về sứ mệnh này, là cao điểm của cả Hiến
chế.
a) Phẩm giá con người
Hiến chế Mục vụ đặt trọng tâm nơi con người. Công Đồng không có ý phân tích đời
sống con người theo kiểu hiện-tượng-luận, nhưng sử dụng những thủ đắc của các
khoa sinh-vật-học và tâm-lý-học, cũng như dựa vào mạc khải, để nói về con người.
Công Đồng đã cố ý đặt tựa đề của chương I là “Về phẩm giá con người”. Đây là
chương cơ bản nhất của cả Hiến chế. Các chương khác chỉ nhằm trình bày hoặc bảo
vệ một khía cạnh đặc biệt nào đó liên hệ tới phẩm giá này.
Con người là một tổng hợp sống động các phẩm chất thuộc thể xác và tinh thần, các
ân huệ tự nhiên và siêu nhiên, theo như “ơn gọi toàn vẹn của nó” (MV 11), ơn gọi “là
con cái trong người Con” (MV 22). Công Đồng đã cẩn thận phân tích từng yếu tố này.
Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người là tạo vật hoàn hảo nhất của thế
giới hữu hình, quy tụ nơi mình, như nơi một tiểu vũ trụ, tất cả mọi giá trị vật chất và
tinh thần của vũ trụ. “Mọi vật trên địa cầu phải được quy hướng về con người như là
trung tâm và tột đỉnh của chúng” (MV 12). Nơi con người, thân xác phục vụ cho “một
linh hồn thiêng liêng và bất tử” (MV 14) trong sự duy nhất bất khả phân chia của một
bản tính.
Nhờ trí khôn, con người “dự phần vào ánh sáng của trí tuệ Thiên Chúa” (MV 15). Nhờ
lương tâm, con người “có lề luật được Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn” (MV 16).
Sự tự do đích thực của con người là “dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa nơi
con người” (MV 17).
Thế nhưng, con người cũng là một tạo vật bị tổn thương vì tội lỗi (MV 13) và phải đối
diện với sự chết. “Trước sự chết, bí ẩn về thân phận con người đạt tới tột đỉnh” (MV
18). Tuy vậy, mạc khải đã soi sáng mầu nhiệm của thế giới bên kia. Đó là : “Thiên
Chúa đã và đang kêu gọi con người đem toàn thân kết hợp với Ngài trong sự thông
hiệp vĩnh viễn vào sự sống bất diệt của Thiên Chúa” (MV 18).
Con người được tạo thành là để hướng về Thiên Chúa. “Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm
giá con người là con người được kêu gọi tới hiệp thông với Thiên Chúa” (MV 19). Bởi
vậy, người nào phủ nhận Thiên Chúa sẽ trở nên nghèo nàn, mất đi cái chủ yếu. Chối
từ Thiên Chúa sẽ làm cho nhân vị què quặt. Do mối quan tâm mục vụ muốn giải
thoát con người khỏi những hình thức khác nhau của chủ thuyết vô thần hiện đại,
Vatican II đã công bố một bản văn rất quan trọng – một bản văn là kết quả của
nhiều lần tranh luận và điều chỉnh – về những hình thức và mầm mống của chủ
thuyết vô thần, cũng như về thái độ của Giáo Hội trước chủ thuyết này. Bản văn cho
thấy tai họa lớn nhất của thời đại chúng ta : một nhân loại không có Đức Kitô, không
có Thiên Chúa. Giáo Hội không kết án vô thần, nhưng cảnh báo về các nguyên nhân
của nó. Trong số những nguyên nhân này, “phải kể đến phản ứng chỉ trích chống lại
tôn giáo, hơn nữa ở một vài nơi, còn chống lại cả Kitô-giáo” (MV 19). Người công giáo
nào không trung thành với những đòi hỏi của đức tin chính là người đầu tiên chịu
trách nhiệm về việc này. Công Đồng đã không ngần ngại nói thẳng : “Các tín hữu có
thể chịu phần trách nhiệm không phải là nhỏ trong việc khai sinh vô thần, hoặc bởi
xao lãng việc giáo dục đức tin, hoặc bởi trình bày sai lạc về giáo lý, hoặc do những
thiếu sót trong đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội. Phải nói rằng họ che giấu hơn là
bày tỏ bộ mặt đích thực của Thiên Chúa và tôn giáo” (MV 19). Đừng trình bày cho
người khác một bộ mặt méo mó của Thiên Chúa.
Để kết thúc chương quan trọng này, Vatican II hướng chúng ta tới Chúa Kitô, là phản
ánh đích thực của Thiên Chúa và của con người. Giáo Hội của Vatican II luôn luôn
dựa vào ánh sáng của Chúa Kitô để khám phá con người. Công Đồng nói : “Mầu
nhiệm con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể” (MV
22). “Đó là tính chất và sự cao cả của mầu nhiệm con người, mầu nhiệm được Mạc
Khải Kitô-giáo soi sáng cho các tín hữu. Chính nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, bí
ẩn về đau khổ và sự chết được sáng tỏ, bí ẩn đó đè bẹp chúng ta nếu chúng ta không
biết đến Phúc Âm. Chúa Kitô đã sống lại, đã hủy diệt sự chết bằng cái chết của mình,
và đã ban cho ta dồi dào sự sống, để với tư cách là con cái trong Chúa Con, chúng ta
kêu lên trong Thần Khí : Abba, Cha ơi ! “ (MV 22).
b) Cộng đồng nhân loại
Con người không sống một mình, nhưng sống trong một xã hội. Xã hội cần thiết để
nhân vị triển nở. Ơn gọi sống cộng đồng được ghi khắc trong bản tính nhân loại.
Nhiều văn kiện của Huấn Quyền ban hành trước Công Đồng nói rất nhiều về đề tài cơ
bản này. Đặc biệt hai thông điệp “Mẹ và Thầy” (1961) và “Hòa bình trên trái đất”
(1963) của Đức Gioan XXIII đưa ra một tổng hợp về học thuyết xã hội Kitô-giáo.
Vatican II đã dựa vào những văn kiện ấy để trình bày “một ít chân lý chính yếu” (MV
23) nhằm đáp ứng những nhu cầu của thời đại chúng ta.
“Thiên Chúa đã muốn rằng tất cả mọi người phải làm thành một gia đình và đối xử
với nhau bằng tình huynh đệ” (MV 24). Hơn nữa, “sự hiệp thông giữa các nhân vị”
(MV 23), là mục đích của mọi xã hội nhân loại, phải được hoàn tất trong sự hiệp
thông với Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là giáo huấn của Mạc Khải. Dựa vào lời cầu nguyện
của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha xin cho mọi người nên một, có thể thấy “một sự
tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của các con
cái Chúa trong chân lý và bác ái” (MV 24). Sự hiệp nhất của Ba Ngôi là nguyên mẫu
(prototype) của sự hiệp nhất giữa con người với nhau.
Con người và xã hội lệ thuộc lẫn nhau. Sự thăng tiến và phát triển giữa hai bên cũng
lệ thuộc nhau. Trong xã hội mà con người sống, mọi sinh hoạt và tổ chức đều phải
nhằm phục vụ con người, vì “con người là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh
của mọi định chế xã hội” (MV 25), kể cả các định chế của Giáo Hội. Nguyên tắc trên
chi phối mọi việc. Chính “nhờ trao đổi với người khác, nhờ phục vụ lẫn nhau và nhờ
đối thoại với các anh em, con người được tăng triển trong mọi khả năng của mình và
có thể đáp lại ơn gọi của mình” (ibid.).
Hiện tượng xã-hội-hóa (và bây giờ là toàn cầu hóa), nếu đi đúng hướng, giúp ích rất
nhiều cho sự phát triển con người, vì con người được mời gọi sử dụng mọi thiện ích
vật chất cũng như tinh thần trên mặt đất này, để làm cho mình được phong phú.
Nhưng Công Đồng không quên cảnh báo rằng : “Nếu đời sống xã hội giúp nhiều cho
con người chu toàn sứ mệnh của mình, kể cả sứ mệnh tôn giáo, thì ta cũng không
thể phủ nhận rằng con người, do những bối cảnh xã hội họ đang sống và đã ngụp lặn
trong đó từ thuở thiếu thời, thường xa lánh không làm điều thiện và bị lôi kéo làm
điều ác” (ibid.).
Sự liên đới với điêu thiện và điều ác ngày càng liên kết con người với nhau. Do các
phương tiện truyền thông xã hội tiến bộ mau chóng, cuộc sống của một người có liên
hệ với cuộc sống của nhiều người khác. Do đó những viễn tượng về đời sống con
người nói chung đã thay đổi. Từ nay, các quyền lợi và nghĩa vụ của con người có một
chiều kích toàn cầu. Bởi vậy, “bất cứ tập thể nào cũng phải tôn trọng nhu cầu và
những nguyện vọng chính đáng của các tập thể khác, hơn thế nữa, phải tôn trọng
công ích của toàn thể gia đình nhân loại” (MV 26).
Việc đề cao phẩm giá con người làm phát sinh những hệ quả rất thực tế. Vatican II
đưa ra một số hệ quả như sau : “Cần phải cho con người tât cả những gì thiết yếu
mà con người phải có, để thực sự sống cho ra con người, như của ăn, áo quần, chỗ ở,
quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền
làm việc, quyền được bảo tồn danh thơm tiếng tốt, quyền được tôn trọng, quyền
được thông tin xứng hợp, quyền hành động theo quy tắc đúng đắn của lương tâm,
quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng, kể cả trong phạm vi tôn giáo”
(ibid.).
Tuy không ra vạ tuyệt thông, Công Đồng vẫn mạnh mẽ tố giác những điều sau đây
xúc phạm tới phẩm giá con người : “Tất cả những gì đi ngược với chính sự sống như
giết người dưới bất cứ hình thức nào, diệt chủng, phá thai, giết chết cách êm dịu, tự
tử cố ý ; tất cả những gì xâm phạm sự toàn vẹn của con người, như cắt bỏ một phần
thân xác, hành hạ thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lý ; tất cả những gì xúc
phạm đến nhân phẩm, như những điều kiện sống dưới mức con người, giam cầm tùy
tiện, lưu đày, nô lệ, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em ; cũng phải kể đến những
điều kiện lao động nhục nhã khiến cho công nhân hoàn toàn trở thành dụng cụ cho
lợi nhuận, chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm : tất cả những
điều nói trên và những điều tương tự đều thực sự ô nhục” (MV 27). Chưa kể chúng
còn làm hư hoại văn minh, bôi nhọ chính kẻ chủ động và xúc phạm Đấng Tạo Hóa
(ibid.).
Một điểm khác, rất thời sự, là việc Công Đồng đấu tranh cho sự bình đẳng giữa mọi
người. “Dĩ nhiên mọi người không bằng nhau vì không có khả năng thể chất như
nhau, cũng không có năng lực trí tuệ và tinh thần như nhau. Tuy nhiên phải vượt lên
trên và loại bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, hoặc
trong phạm vi xã hội hoặc trong phạm vi văn hóa, kỳ thị vì phái tính, chủng tộc, màu
da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa”
(MV 29).
Công Đồng đau buồn nói lên thực trạng này : “Những chênh lệch quá đáng về kinh tế
và xã hội giữa những thành phần hay giữa những dân tộc trong cùng một gia đình
nhân loại thực là những gương xấu và đi ngược với sự công bằng xã hội, lẽ phải,
nhân phẩm và nền hòa bình xã hội cũng như quốc tế (ibid.).
Vậy cần phải thay đổi não trạng. Người kitô-hữu phải là người đầu tiên nêu gương
bằng cách ra khỏi lối sống của một thứ luân lý cá nhân chủ nghĩa, tiến tới một luân lý
có tính chất liên đới xã hội và toàn cầu. “Cần có những con người thực sự mới và là
những người kiến tạo một nhân loại mới” (MV 30).
Lãnh vực ân sủng không phá hủy lãnh vực tự nhiên, nhưng hoàn tất nó. “Chính Ngôi
Lời nhập thể đã muốn chia sẻ tình liên đới nhân loại” (MV 32). Ngài đã thiết lập “giữa
tất cả những kẻ lấy lòng tin và lòng mến đón nhận Ngài một sự hiệp thônghuynh đệ
mới trong Thân Thể Ngài là Giáo Hội” (ibid.). “Sự liên đới này cần phải không ngừng
gia tăng cho tới ngày nó được hoàn tất ; ngày đó, loài người được ân sủng cứu thoát,
giống như một gia đình được Thiên Chúa và Chúa Kitô là Anh yêu thương, sẽ dâng
lên Thiên Chúa lời tôn vinh hoàn hảo” (ibid.).
c) Hoạt động của con người trong vũ trụ
Sự tiến bộ khoa học hiện nay cho thấy nhờ lao động và tài trí của mình, “nhất là với
sự trợ giúp của khoa học và kỹ thuật, con người đã và đang nới rộng sự thống trị của
mình trên hầu như tất cả thiên nhiên … Do đó ngày nay con người đã dùng sức cần
lao tự cung ứng nhiều thiện ích mà xưa kia họ mong đợi trước nhất từ các mãnh lực
cao hơn” (MV 33).
Thế nhưng, “đâu là ý nghĩa và giá trị của hoạt động cần cù ấy ? Phải sử dụng các sự
ấy ra sao ? Những cố gắng của cá nhân cũng như tập thể hướng tới mục đích nào ?”
(ibid.).
Đối với người kitô-hữu, hoạt động của con người đáp lại ý định của Thiên Chúa (MV
34). Con người thể hiện được chính mình chỉ nhờ hoạt động. Hơn nữa, nhờ lao động
mà con người trở thành cộng tác viên của Thiên Chúa. Điều này đúng không chỉ đối
với những công việc lớn, mà còn đúng cả đối với những công việc nhỏ thực hiện hằng
ngày. “Thực vậy, trong khi mưu sinh cho mình và cho gia đình, những người nam
cũng như người nữ hoạt động để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu, đều có lý để tin
rằng, nhờ lao động của mình, họ tiếp nối công trình của Đấng Tạo Hóa, phục vụ các
anh em, và bằng nỗ lực của mình góp phần hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong
lịch sử” (ibid.).
Nơi các môn đệ chân chính của Đức Kitô, đức tin và đức ái làm biến đổi mọi sự.
Không có đời sống tầm thường cho người kitô-hữu. Mỗi cử chỉ hành động của họ đều
góp phần xây dựng Thành Trì của Thiên Chúa. Mọi hành vi nhân linh đều có một giá
trị vĩnh cửu.
Công Đồng thừa nhận rằng các thực tại trần thế có một sự tự trị nào đó. “Nếu sự tự
trị của các thực tại trần thế có nghĩa là các tạo vật và các xã hội đều có những định
luật và những giá trị riêng mà con người phải khám phá dần dần, sử dụng và điều
hòa, thì đòi hỏi một sự tự trị như thế là một việc hoàn toàn chính đáng : đó là điều
không những người thời nay đòi hỏi, mà còn phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo Hóa”
(MV 36). Nhưng tự trị không phải là độc lập. Thực tại trần gian phải đưa tới thực tại
vĩnh cửu. Người thời nay không thể sử dụng tạo vật mà không quy hướng về Thiên
Chúa. “Việc quên lãng Thiên Chúa làm cho chính tạo vật trở nên mờ tối” (ibid.).
Hoạt động của con người chỉ có ý nghĩa đích thực và hoàn tất trong Mầu nhiệm Vượt
Qua. Trong Đức Kitô, mọi hoạt động, dù bên ngoài xem ra vô ích, vẫn có giá trị cứu
độ nếu phục vụ người khác, và góp phần xây dựng trời mới đất mới. Thời gian chuẩn
bị cho vĩnh cửu. D đó hành vi nào của chúng ta cũng có một giá trị vô biên. “Những
giá trị về nhân phẩm, về sự hiệp thông huynh đệ, về sự tự do, nghĩa là mọi thành
quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người mang lại, mà chúng ta đã phổ biến
trên trái đất theo lệnh của Chúa Kitô và trong Thánh Thần, thì chúng ta sẽ gặp lại
chúng sau này, nhưng là gặp lại sau khi chúng đã được thanh tẩy khỏi mọi tỳ ố, được
chiếu sáng và biến đổi, khi Chúa Kitô giao hoàn lại cho Chúa Cha vương quốc vĩnh
cửu và đại đồng, ‘Vương quốc của sự thật và sự sống, Vương quốc thánh thiện và
diễm phúc, Vương quốc công bình, yêu thương và bình an’. Vương quốc ấy đã hiện
diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến” (MV 39).
d) Vai trò của Giáo Hội trong thế giới hôm nay
– Giáo Hội của Vatican II hiểu rằng, đối với người thời nay, con người trở thành một
vấn đề lớn, là trung tâm của mọi sự. Thế nên Giáo Hội đối thoại với thế giới về chính
con người, về phẩm giá của ho, ơn gọi và hoạt động của họ. Giáo Hội phải cho con
người thời nay biết ý nghĩa sứ mệnh của mình và quan điểm của mình về những vấn
đề của họ. Chương IV của phần I này là cao điểm của Hiến chế Mục vụ soi sáng cho
cả hai phần của Hiến chế.
Với tư cách là Dân thiên sai, Dân tiên tri, tư tế và vương giả, đáp lại ơn gọi thừa sai
của mình, Giáo Hội hướng tới mọi người, loan báo cho họ sứ điệp cứu độ. Đây chính
là cơ hội độc nhất giúp cho người ta nhận ra khuôn mặt đích thực của Giáo Hội. Là vì
Giáo Hội cũng ở trong thế giới, “cùng sống và cùng hoạt động với thế giới ấy” (MV
40), cùng với mọi người đi vào một cộng đồng sinh mệnh.
Trong văn kiện cuối cùng này của Công Đồng, Giáo Hội dùng một thứ ngôn ngữ dẫ
hiểu và đơn sơ để nói cho thế giới về nguồn gốc thần linh của mình, ơn gọi của mình,
cũng như nhiệm vụ hiện thời của mình giữa con người, sự hiện diện hoạt động của
mình giữa các thực tại trần thế, để nhờ đức tin soi dẫn mà biến đổi chúng, hướng
chúng tới vĩnh cửu.
Dựa vào những văn kiện đã có trước, Giáo Hội cho thấy mình phát xuất từ Thiên
Chúa Ba Ngôi, theo đuổi một mục đích cứu độ và siêu việt, nhưng mục đích ấy chỉ
đạt được ở thế giới mai sau. Và trong cuộc lữ hành trần thế, Giáo Hội nỗ lực thâu họp
mọi người như là những anh chị em thuộc cùng một gia đình nhân loại và thần linh.
Nói khác đi, Giáo Hội được trình bày cho mọi người dưới ba khía cạnh : Ba Ngôi, cánh
chung và lịch sử. Hiến chế viết : “Phát sinh từ tình yêu của Chúa hằng hữu, do Chúa
Kitô là Đấng Cứu Chuộc thiết lập trong thời gian, được quy tụ trong Chúa Thánh
Thần, Giáo Hội có mục đích cứu rỗi và cánh chung. Mục đích này chỉ có thể thành tựu
trọn vẹn trong thời kỳ sẽ đến. Nhưng giờ đây Giáo Hội đã hiện diện trên trái đất,
được quy tụ gồm những con người là phần tử của xã hội trần gian. Họ được kêu gọi
để hợp thành gia đình các con cái Thiên Chúa ngay trong lịch sử nhân loại, ngõ hầu
tăng trưởng luôn mãi cho tời khi Chúa đến. Hiệp nhất để nhằm đạt những thiện ích
thiêng liêng và trở nên giầu có vì những thiện ích ấy, gia đình này “như một xã hội
được thiết lập quy củ trên trần gian” bởi Chúa Kitô, được trang bị “các phương tiện
thích hợp để kết hợp thành một xã hội hữu hình”. Như thế, là “một đoàn thể hữu
hình và cộng đồng thiêng liêng”, Giáo Hội đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng
nhau chia sẻ một vận mệnh trần gian với thế giới ; Giáo Hội như men và hồn của xã
hội loài người, một xã hội sẽ được đổi mới trong Chúa Kitô và biến thành gia đình của
Thiên Chúa” (MV 40).
– Cách trình bày trên đây có thể cho ta hiểu sứ mệnh của Giáo Hội như thế nào. Đó
là sứ mệnh liên hệ đến từng người, đến xã hội nhân loại, đến các hoạt động của nhân
loại. Ba số 41-43 khai triển cách chuyên biệt hơn vai trò của Giáo Hội về những gì đã
nói trong ba chương trước.
Đối với từng người, Giáo Hội “bày tỏ cho biết ý nghĩa của cuộc đời con người, tức là
sự thật thâm sâu về con người” (MV 41). Con người muốn biết cuộc sống, hoạt động
và cái chết của mình có ý nghĩa gì, thì “chính sự hiện diện của Giáo Hội nhắc nhở cho
con người nhớ đến những vấn đề ấy”, và giúp con người hiểu rằng “chỉ có Thiên
Chúa, Đấng tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài và cứu thoát con người khỏi tội
lỗi, mới giải đáp đầy đủ về các vấn đề ấy” (ibid.). Giáo Hội cũng giúp cho người ta
thấy rằng “không một luật lệ nào có thể bảo đảm phẩm giá và sự tự do của con
người cách thích đáng bằng Phúc Âm Chúa Kitô đã được trao phó cho Giáo Hội”
(ibid.). Giáo Hội “dựa và Phúc Âm … mà công bố những quyền lợi của con người,
nhìn nhận và tôn trọng sự năng động của thời nay đang cổ võ những quyền lợi ất
khắp nơi” (ibid.), với điều kiện nó phải thấm nhuần tinh thần Phúc Âm. Tất cả đều
nhằm bảo vệ phẩm giá cao cả của con người.
Đối với xã hội nhân loại, Giáo Hội giúp thiết lập và củng cố theo Lề Luật của Thiên
Chúa, nhất là “cổ võ sự hiệp nhất” (MV 42). Sứ mệnh này phù hợp với bản tính của
Giáo Hội, vì Giáo Hội “ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết
hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” (ibid.). Sự hiệp
nhất trong xã hội phải dựa trên đức tin và đức mến, do Giáo Hội chuyển thông, chứ
không phải do thế lực bên ngoài nào. Ngoài ra, Giáo Hội còn “là một mối dây liên kết
hết sức chặt chẽ giữa các cộng đồng nhân loại và các quốc gia khác nhau”, trợ giúp
và cổ võ những tổ chức thực hiện những gì tốt đẹp và chính đáng (ibid.).
Đối với các hoạt động nhân loại, Giáo Hội nhờ vào sự trợ giúp của các tín hữu con cái
mình. Giáo Hội khuyến khích các tín hữu “nỗ lực chu toàn cách trung thành những
bổn phận trần thế của họ” (MV 43). Chính đức tin đòi buộc họ như vậy, vì “xao lãng
bổn phận trần thế là xao lãng bổn phận đối với người lân cận và, hơn nữa, đối với
chính Thiên Chúa” (ibid.). Đàng khác, khi dấn thân vào những công việc trần thế thì
việc dấn thân này không được gây phương hại cho đời sống tôn giáo. “Sự phân ly
giữa đức tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải được
kể vào số những sai lầm nghiêm trọng nhất của thời đại chúng ta” (ibid.).
Hành vi góp phần vào hoạt động của nhân loại thuộc cả giáo dân lẫn giáo sĩ. Giáo
dân được nhấn mạnh hơn, vì “những phận vụ và sinh hoạt trần thế thuộc lãnh vực
riêng của họ” (ibid.). Khi hoạt động, cá nhân hay đoàn thể, họ phải “đem luật Chúa
thấm nhập cuộc sống của xã hội trần gian” và “làm chứng cho Chúa Kitô trong mọi
hoàn cảnh” (ibid.). Phần các Giám mục và linh mục, các ngài phải “rao giảng sứ điệp
của Chúa Kitô sao cho mọi hoạt động trần thế của các tín hữu thấm nhuần ánh sáng
Phúc Âm”, làm sao cho người ta thấy rằng, “nguyên bằng sự hiện diện và kho tàng
ân huệ của mình, Giáo Hội là nguồn vô tận của những mãnh lực mà thế giới ngày nay
rất cần” (ibid.). Các Giám mục phải “chuyên cần học hỏi sao cho có thể đóng trọn vai
trò trách nhiệm của mình trong việc đối thoại với thế giới và với những người thuộc
bất cứ lập trường nào”. Các linh mục được Công Đồng đặc biệt nhắc nhở là “phải loại
trừ mọi mầm mống chia rẽ” (ibid.).
Tiếp theo sau Đức Phaolô VI, Giáo Hội khiêm tốn thừa nhận những thiếu sót của các
con cái mình, qua dòng lịch sử cũng như trong thời hiện tại. Do đó, Giáo Hội thúc
giục các con cái “ý thức và mạnh mẽ khử trừ những thiếu sót”, “thanh tẩy và canh
tân” (ibid.).
Chính nhờ sứ mệnh của Giáo Hội và dưới ánh sáng đức tin mà phẩm giá con người có
những chiều kích vô biên. “Người nào càng theo Chúa Kitô là Con Người hoàn hảo, thì
càng trở nên người hơn” (MV 44). Xã hội nào càng để cho tinh thần Phúc Âm thấm
nhập, thì xã hội đó càng có khả năng đào tạo những con người có ích cho mọi người.
Người tín hữu nào càng biết chu toàn nhiệm vụ của mình với lòng yêu mến, người đó
càng thực hiện ơn gọi làm người của mình là phục vụ các anh chị em.
– Khi thực hiện sứ mệnh của mình là phục vụ con người và thế giới, Giáo Hội cũng
không quên ghi nhận rằng mình đã nhận lại được rất nhiều từ lịch sử và sự tiến hóa
của cuộc sống nhân loại. “Kinh nghiệm của những thế kỷ đã qua, tiến bộ của khoa
học, các kho tàng ẩn giấu trong những hình thức văn hóa nhân loại khác nhau…, tất
cả đều hữu ích cho Giáo Hội” (MV 44). “Nhất là trong thời đại chúng ta, thời mà sự
việc biến đổi rất nhanh và lối suy tư rất nhiều khác biệt, Giáo Hội đặc biệt cần đến sự
đóng góp của những người sống trong thế giới và biết rõ các tổ chức và bộ môn khác
nhau” (ibid.). Cơ cấu xã hội hữu hình của Giáo Hội được phong phú thêm nhờ cơ cấu
xã hội nhân loại. Cả cộng đoàn cũng như từng người trong Giáo Hội được nhiều người
thuộc mọi giai cấp giúp đỡ. Thậm chí những kẻ chống đối Giáo Hội cũng có thể giúp
ích cho Giáo Hội.
Qua sự giúp đỡ hỗ tương giữa hai bên, tức giữa Giáo Hội và thế giới, Giáo Hội chỉ
nhằm một mục đích là “làm cho Nước Chúa trị đến và toàn thể nhân loại được cứu
rỗi…, bày tỏ và thực hiện mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa đối với con ng” (MV
45), hướng mọi sự về Chúa Kitô là Alpha và Omega, là “cùng đích của lịch sử nhân
loại, điểm quy tụ mọi ước vọng của lịch sử và văn minh, trung tâm của nhân loại,
niềm vui của tâm hồn, sự đáp ứng mọi khát vọng” (ibid.).
3. Một số vấn đề cấp bách
Sau phần trình bày về thiên chức con người, cả trên bình diện cá nhân lẫn trên bình
diện xã hội, cũng như cho thấy ý nghĩa của hoạt động nhân loại, Công Đồng đi vào
một số vấn đề lớn và cấp bách, có liên hệ đến phẩm giá con người và vận mệnh nhân
loại. Những vấn đề này được bàn “dựa vào ánh sáng Phúc Âm và kinh nghiệm nhân
loại” (MV 46). Có năm vấn đề được trình bày, mà chúng ta chỉ ghi nhận những nét
chính.
a) Phẩm giá của hôn nhân và gia đình
Phải nhìn nhận rằng ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều yếu tố và hoàn cảnh đã làm cho
phẩm giá của hôn nhân và gia đình bị lu mờ, tình yêu hôn nhân bị hoen ố, gia đình bị
xáo trộn trầm trọng. Chính vì vậy mà Công Đồng, “bằng cách làm sáng tỏ một vài
điểm trong giáo lý của Giáo Hội, muốn soi sáng và khích lệ người kitô-hữu cũng như
mọi người tđang cố gắng bảo toàn và cổ võ phẩm giá tự nhiên cũng như giá trị thiêng
liêng cao cả của đời sống hôn nhân” (MV 47).
Trước hết, hôn nhân và gia đình có sự thánh thiện vì do chính Thiên Chúa thiết lập và
ban cho những định luật riêng. Giữa vợ chồng có sợi dây liên kết thiêng thánh không
lệ thuộc sở thích riêng của con người. Đối với vợ chồng kitô-hữu, họ còn “được củng
cố và như được thánh hiến bằng một bí tích đặc biệt – bí tích Hôn Phối – để đảm
đương các bổn phận và phẩm giá của bậc mình” (MV 48).
Hôn nhân và gia đình được xây dựng trên tình yêu. Tình yêu vợ chồng “có đặc tính
cao cả”, hơn nữa “còn được Chúa chữa trị, cải thiện và nâng cao”. Như vậy, nó kết
hợp yếu tố nhân loại và yếu tố thần linh. Tình yêu này “phải thấm nhuần cả đời sống
và hướng dẫn vợ chồng biết tự do trao hiến cho nhau”. Nó vượt xa xu hướng nhục
dục thuần túy, đòi hỏi sự trung thành bất khả phân ly, không chấp nhận sự chia sẻ
(MV 49).
“Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính, quy hướng về sự sinh sản và giáo dục
con cái” (MV 50). Sinh sản và giáo dục con cái là những hành vi đặc biệt cộng tác
vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, cộng tác với tình yêu của Ngài. Phải coi
những việc trên đây là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Họ phải “chu toàn những
bổn phận này với trách nhiệm của con người và của người kitô-hữu” (ibid.).
Một vấn đề nóng bỏng được Công Đồng đề cập : Làm thế nào để hòa hợp tình yêu vợ
chồng với việc tôn trọng sự sống con người ? Vấn đề chính ở đây là việc hạn chế sinh
sản và các phương pháp được sử dụng. Công Đồng chỉ nói một cách đại cương : phải
loại trừ phương pháp xấu xa như phá thai, sát nhi, những phương pháp mà Huấn
Quyền bác bỏ khi giải thích luật Chúa. Công Đồng cũng nêu lên một nguyên tắc tổng
quát : “Khi cần hòa hợp tình vợ chồng với việc truyền sinh trong một tinh thần trách
nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý muốn
thành thực và cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn
khách quan, suy diễn từ bản tính của nhân vị và của hành động nơi nhân vị” (MV
51). Công Đồng không quên khuyến khích vun trồng đức khiết tịnh trong bậc vợ
chồng.
Cuối cùng là lời kêu gọi mọi người, chính quyền và các tập thể xã hội, các nhà khoa
học, các linh mục, cách riêng là chính đôi vợ chồng cộng tác vào việc thăng tiến hôn
nhân và gia đình (MV 52).
c) Phát triển văn hóa
Nhân vị chỉ được phát triển đích thực và trọn vẹn nhờ văn hóa, tức là “nhờ việc trau
dồi những ưu phẩm và giá trị của bản tính” (MV 53). Những ưu phẩm và giá trị này
thuộc mọi bình diện : thể lý và thân xác, trí khôn, nghề nghiệp, mỹ thuật, cá nhân và
xã hội, luân lý và tôn giáo. Nhân vị là một toàn bộ không thể phân chia, được thể
hiện theo một bậc thang hài hòa các giá trị.
Nhưng văn hóa là gì ? Công Đồng đưa ra một khái niệm khá chi tiết : “Theo định
nghĩa tổng quát, chữ ‘văn hóa’ chỉ tất cả những gì con người dùng để trau dồi và phát
triển các năng khiếu đa diện của tâm hồn và thể xác ; cố gắng chế ngự cả trái đất
bằng trí thức và vao động ; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như đời
sống chính trị trở thành nhân đạo hơn, nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế ;
sau hết, diễn tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình những kinh
nghiệm tinh thần và khát vọng lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và
toàn thể nhân loại tiến bộ hơn” (ibid.).
Công Đồng rất ý thức về sự đa nguyên văn hóa, dựa theo lịch sử và xã hội, cũng như
dựa theo xã-hội-học và dân-tộc-học. Tuy chấp nhận mọi kiểu mẫu văn hóa, nhưng
Công Đồng nhấn mạnh đến một kiểu mẫu văn hóa mới như mở ra “một kỷ nguyên
mới của lịch sử” (MV 54), một kiểu mẫu văn hóa có chiều kích toàn cầu, đặc biệt do
sự mau lẹ của các phương tiện truyền thông xã hội. Do đó mà Công Đồng nói :
“Chúng ta là chứng nhân của sự khai sinh một nền nhân bản mới trong đó con người
được định nghĩa trước hết tùy theo trách nhiệm của mình đối với anh em và đối với
lịch sử” (MV 55).
Ý thức về trách nhiệm mục vụ của mình, Công Đồng đã quả quyết bằng một thứ
tuyên ngôn rất quan trọng, là mọi người đều có quyền được hưởng một văn hóa căn
bản không thể thiếu, để có thể đáp ứng với mọi khó khăn của cuộc sống, tùy hoàn
cảnh và khả năng, họ còn có quyền được hưởng một văn hóa cao hơn. Cần đọc đi
đọc lại số 60 của Hiến chế : “Bổn phận thích đáng nhất của thời đại này, nhất là đối
với các kitô-hữu … là đem hết nỗ lực để khẳng định những nguyên tắc căn bản bắt
buộc mọi người phải thừa nhận và thực thi quyền của mọi người trên toàn thế giới
được hưởng văn hóa, vì đó là quyền phù hợp với phẩm giá con người… Do đó, phải
làm sao cho mỗi người có được một số vốn liếng đủ về văn hóa, nhất là văn hóa căn
bản, để một số lớn nhân loại không còn vì mù chữ hay thiếu sáng kiến mà không thể
cộng tác vào lợi ích chung đúng với danh nghĩa con người” (MV 60). “Bởi thế, phải
gắng sức làm cho những người có khả năng có thể theo học các bậc cao đẳng ; và
nếu có thể được, liệu cho họ đạt được những chức vụ và giữ những vai trò mà họ có
thể phục vụ trong xã hội tùy theo sở trường và năng khiếu họ đã thâu thập được.
Như thế mọi người và mọi tầng lớp xã hội thuộc mọi dân tộc đều có thể phát triển
trọn vẹn đời sống văn hóa phù hợp với tài năng và truyền thống của họ” (ibid.).
Để kết thúc mục này, trong số 62 của Hiến chế, Công Đồng nói đến thái độ mà Giáo
Hội muốn có đối với tất cả những biểu hiện của văn hóa, chẳng hạn trong lãnh vực
thần học, văn chương và nghệ thuật. Đó là thái độ thiện cảm biết khám phá những
giá trị tích cực trong văn hóa ; thái độ muốn dự phần và hiểu biết để nhận ra những
khía cạnh văn hóa thích hợp với giáo lý ; thái độ đối thoại trong bầu khí tự do đối với
những ai chuyên môn về nghiên cứu, đặc biệt trong lãnh vực thần học.
d) Đời sống kinh tế xã hội
Những nhu cầu về thân xác và tinh thần của con người, sự phát triển nhân vị : đó là
điều mà mọi sinh hoạt, trong đó có sinh hoạt kinh tế xã hội phải nhắm tới. “Con
người là tác giả, là tâm điểm, là cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội” (MV
63). Đời sống hay sinh hoạt này ngày càng phát triển, nhưng không thiếu lý do để lo
lắng, nhất là vì có những bất bình đẳng, chênh lệch giữa các nghề nghiệp, trong các
địa phương, các quốc gia. Thế nên nó đòi phải được canh tân.
Dựa vào giáo huấn mà Đức Gioan XXIII đã vạch ra trong thông điệp Mẹ và
Thầy (Mater et Magistra, 1961), nhưng nhằm cho những áp dụng mới, Vatican II đã
nêu lên những đường nét chủ lực về sự phát triển kinh tế cùng với cứu cánh của nó,
vai trò và trách nhiệm của con người, yêu cầu tiến bộ phù hợp sự phát triển kinh tế,
sao cho mọi thành phần trong xã hội đều góp phần vào sinh hoạt này và đều được
hưởng những thành quả của nó (x. MV 64-66).
Tiếp theo, Công Đồng nhắc lại những nguyên tắc hướng dẫn toàn bộ đời sống kinh tế
xã hội, với hai vấn đề chính được nêu ra : vấn đề lao động và vấn đề tư hữu.
Lao động là cách diễn tả chính con người, “có giá trị hơn các yếu tố khác của đời sống
kinh tế, vì những yếu tố này chỉ có giá trị như dụng cụ” (MV 67). Người ta không
những có bổn phận lao động, mà còn có quyền lao động.
Có ba khía cạnh được Công Đồng lưu ý hơn trong việc tổ chức lao động : tham gia
vào việc quản trị xí nghiệp, tùy theo nhiệm vụ của mỗi người ; công nhân được
quyền tự do lập nghiệp đoàn, vì nghiệp đoàn có thể thực sự đại diện cho họ và góp
phần vào việc tổ chức đời sống kinh tế một cách tốt đẹp” (MV 68) ; quyền đình công
khi có những tranh chấp về kinh tế xã hội và giải pháp đối thoại, điều đình không đạt
được kết quả. “Đình công, tuy là phương tiện cuối cùng, nhưng là phương tiện cần
thiết để bênh vực những quyền lợi riêng và thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng của
công nhân” (ibid.).
Vấn đề tư hữu chắc hẳn là vấn đề mới mẻ nhất của chương này. Trong nhiều điểm,
người ta có thể thấy một sự tiến bộ quan trọng về học thuyết. “Thiên Chúa đã đặt
định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền sử dụng của mọi người và mọi dân
tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho mọi người cách hợp
lý theo luật công bằng, là luật đi liền với bác ái … Khi sử dụng của cải, con người phải
coi của cải vật chất mà mình làm chủ một cách chính đáng không chỉ như của riêng
mình, nhưng còn là của chung nữa” (MV 69). Trong số 71 của Hiến chế, Công Đồng
nhắc lại những lý do làm cho quyền tư hữu trở thành chính đáng. Tuy nhiên nó cũng
có những hạn chế khi cản trở những hình thức khác nhau của quyền sở hữu cộng
cộng.
Với tinh thần nghèo khó của Phúc Âm, nhưng đồng thời mạnh mẽ dấn thân vào đời
sống kinh tế xã hội, người kitô-hữu góp phần vào sự thịnh vượng của nhân loại.
d) Đời sống cộng đồng chính trị
Ngày nay, cộng đồng chính trị đóng một vai trò quyết định trong đời sống các dân
tộc. Do đó nó cũng quan trọng trên bình diện tôn giáo.
Kiểu nói “cộng đồng chính trị” không được hiểu theo nghĩa hẹp là đảng phái chính trị,
nhưng thiểu theo nghĩa rộng, bao gồm hoạt động của mọi guồng máy xã hội nhằm
phục vụ công ích. Ở đây, chữ “chính trị” đưa về ngữ nguyên của nó là “polis” : nhằm
thiện ích của đô thị. “Cá nhân, gia đình và tập thể, tức là mọi thành phần của cộng
đồng công dân, đều ý thức rằng, tự sức mình, không một thành phần nào có thể xây
dựng được một đời sống thực sự nhân bản, và đều nhận thấy cần phải có một cộng
đồng rộng lớn hơn, trong đó tất cả mọi người hằng ngày hợp lực để mưu cầu công ích
mỗi lúc một tốt đẹp hơn … Chính công ích là lý do tồn tại, là ý nghĩa và là căn bản
pháp lý của cộng đồng chính trị” (MV 74).
Như vậy, mọi công dân đều có trách nhiệm về công ích này. Tùy theo khả năng, họ
phải tham gia vào đời sống chính trị, “tham gia cách tự do và tích cực vào việc thiết
lập nền tảng pháp lý của cộng đồng chính trị, tham gia vào việc điều hành quốc gia
và xác định mục tiêu cũng như phạm vi của những cơ quan khác nhau, tham gia vào
việc lựa chọn người cầm quyền” (MV 75). Họ có những bổn phận công dân phải thi
hành, trong đó có việc tuân thủ lề luật “theo lương tâm” (MV 74) và phải có tinh thần
ái quốc. Bù lại, họ phải được bảo đảm về quyền cá nhân trong đời sống cộng đồng,
như quyền tự do hội họp và lập hội, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo… Việc bảo đảm
này còn là “điều kiện thiết yếu để người công dân, với tư cách cá nhân hay đoàn thể,
có thể tham gia cách tích cực vào đời sống và guồng máy quốc gia” (MV 73). Cũng
để mọi người có thể tham gia hữu hiệu vào cộng đồng chính trị, “cần hết sức quan
tâm đến việc giáo dục cả về công dân lẫn về chính trị” (MV 75).
Những điều nói chung cho mọi công dân còn được áp dụng cách đặc biệt hơn cho
người kitô-hữu. “Mọi kitô-hữu phải ý thức về vai trò đặc biệt và riêng trong cộng
đồng chính trị. Họ phải nêu gương bằng cách phát triển ý thức trách nhiệm nơi chính
mình và tận tâm phục vụ công ích … làm sao dung hòa được quyền bính với tự do,
sáng kiến cá nhân với sự liên đới và với những đòi hỏi của toàn thể xã hội, sự hiệp
nhất sinh ích với những dị biệt phong phú…, nhìn nhận những quan điểm chính đáng
dầu đối chọi nhau, tôn trọng các công dân khác … Không được đặt quyền lợi riêng
trên công ích” (ibid.). Người kitô-hữu vừa là công dân của đô thị trần gian vừa thuộc
về thành đô thiên quốc. Qua đô thị trần gian, họ phải giúp mọi người là anh em đạt
tới thành đô thiên quốc.
Công Đồng cũng khẳng định rằng : “Cộng đoàn chính trị và Giáo Hội, mỗi bên với
lãnh vực riêng của mình, đều độc lập và tự trị”. Nếu có được sự cộng tác lành mạnh
giữa hai bên thì lợi ích của con người càng được phục vụ hữu hiệu hơn (x. MV 76).
e) Cổ võ hòa bình và thăng tiến cộng đồng các dân tộc
Với đề tài cuối cùng này, liên hệ đến chiến tranh hay hòa bình và cộng đồng các dân
tộc, Vatican II đụng chạm một vấn đề lớn chi phối vận mệnh của con người ngày
mai. Bản văn về vấn đề này đã được điều chỉnh và sửa chữa nhiều lần, gồm một
nhập đề nhắc lại ý niệm truyền thống về hòa bình (MV 77-78) và phần trình bày về
việc tránh chiến tranh (MV 79-82) và xây dựng cộng đồng quốc tế (MV 83-90).
“Toàn thể gia đình nhân loại trong tiến trình trưởng thành đã bước vào một giai đoạn
hết sức quyết định” (MV 77). Nếu xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử thì quả là
một thảm họa đe dọa phá hủy hầu như toàn thể nhân loại. Vậy phải cổ võ hòa bình
bằng mọi giá, chuẩn bị các phương tiện xây dựng hòa bình và củng cố nền hòa bình
đích thực.
Nhưng hòa bình đích thực là gì ? – “Hòa bình không phải là thuần túy vắng bóng
chiến tranh, cũng không chỉ giản lược vào sự cân bằng giữa các lực lượng đối kháng,
cũng không phát xuất do một sự thống trị chuyên chế” (MV 78). Hòa bình đích thực
không chỉ có khía cạnh tiêu cực, nhưng tiên vàn là một sự xây dựng tích cực đòi hỏi
thiện chí của mọi người. Hòa bình là “công trình của công bằng” (Is 32,7), hội tụ mọi
yếu tố cấu tạo của một trật tự xã hội ổn định theo một bậc thang hợp lý các giá trị.
Augustinô định nghĩa hòa bình là “sự yên hàn của trật tự”. Điều này đúng cả trên
bình diện cá nhân (bình an trong tâm hồn) lẫn trong lãnh vực xã hội và quốc tế. Một
cách sâu xa hơn, Công Đồng nêu ra những điều kiện của hòa bình : “Hòa bình chỉ có
được trên trần gian, nếu giá trị của từng cá nhân được bảo đảm và mọi người tin
tưởng cũng như tự nguyện san sẻ cho nhau những của cải tinh thần và tài năng của
họ. Ý chí cương quyết muốn tôn trọng người khác, những dân tộc khác cũng như
phẩm giá của họ và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện thiết yếu để
xây dựng hòa bình. Như thế hòa bình cũng là kết quả của tình yêu, một tình yêu vượt
xa những gì công bằng có thể mang lại” (ibid.).
Mối bận tâm ưu tiên và cụ thể của Giáo Hội là tránh chiến tranh. Công Đồng gợi ra
những điều rất cụ thể : giảm thiểu sự vô nhân đạo của chiến tranh, đặc biệt tội ác
của chiến tranh diệt chủng (MV 79) ; tránh chiến tranh toàn diện, tiêu diệt bừa bãi
nguyên cả một thành phố hay những vùng rộng lớn cùng với dân cư ở đó (MV 80) ;
ngừng thi đua võ trang, vì cuộc thi đua này “không phải là một con đường an toàn để
duy trì hòa bình cách vững chắc”, cũng như “là một tai họa hết sức nghiêm trọng cho
nhân loại và xúc phạm đến người nghèo một cách không thể tha thứ” (MV 81) ; phối
hợp hoạt động với tầm mức quốc tế nhằm ngăn chặn và chấm dứt chiến tranh, cổ võ
những nỗ lực nhằm ngăn chặn những nguy cơ xung đột, những hiệp ước vững chắc
bảo đảm cho một nền hòa bình đại đồng (MV 82). Công Đồng cũng không quên nhắc
rằng xây dựng hòa bình là công việc của mọi người, và “phải nhớ rằng việc gieo rắc
trong đầu óc mọi người những tư tưởng mới về hòa bình là một bổn phận nặng nề
nhất” (ibid.).
“Để xây dựng hòa bình, trước hết cần phải tận diệt những nguyên nhân bất hòa giữa
con người với nhau” (MV 83). Đó là những bất công, những chênh lệc thái quá trong
địa hạt kinh tế, não trạng muốn thống trị, lòng tham lam, nghi kỵ, kiêu căng và
những đam mê ích kỷ. Cần có những tổ chức hợp tác quốc tế để hủy bỏ những
nguyên nhân này, đặc biệt trong lãnh vực kinh tế. Là vì, “mặc dù hầu hết các dân tộc
đã được độc lập về chính trị, nhưng còn lâu họ mới thoát khỏi những chênh lệch thái
quá và mọi hình thức lệ thuộc quá đáng cũng như tránh được mọi nguy cơ trầm trọng
từ những khó khăn bên trong” (MV 85).
Sự hợp tác quốc tế không những để xây dựng hòa bình mà còn giúp xây dựng cộng
đồng nhân loại nói chung. Trong MV 86, Công Đồng đưa ra một số quy tắc hướng
dẫn cho sự hợp tác này. Ngoài lãnh vực kinh tế, có một vấn đề rất quan trọng trong
thời đại này cần sự hợp tác của cả thế giới, đó là vấn đề gia tăng dân số. Dân số gia
tăng quá nhanh khiến cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con người và phát triển nhân vị
trở nên khó khăn. Công Đồng không chấp nhận biện pháp làm giảm dân số của một
số quốc gia bằng những cách thức đi ngược lại luật luân lý (MV 87).
Trong sự hợp tác để xây dựng cộng đồng nhân loại, Giáo Hội và từng người kitô-hữu
có phần đóng góp của mình, bằng sự hiện diện, lên tiếng, lạc quyên, viện trợ, phục
vụ, tham gia vào những tổ chức quốc tế (MV 88-89).
Trong Hiến chế cuối cùng này của Công Đồng Vatican II, ta có thể thấy nỗ lực mục
vụ của toàn thể Giáo Hội hôm nay và ngày mai. Chưa bao giờ Giáo Hội có dịp đối
diện với những vấn đề lớn của cả nhân loại như lần này. Do ơn gọi thần linh của
mình, Giáo Hội có nhiệm vụ dựa vào Phúc Âm để soi sáng những vấn đề có liên hệ
đến vận mệnh trần gian và vĩnh cửu của con người hôm nay. Giáo Hội biết rằng thực
hiện một chương trình như thế là vượt quá sức nhân loại của mình, nhưng Giáo Hội
dựa vào sự trợ giúp của Thần Khí Thiên Chúa, vì Người vẫn ở giữa Giáo Hội cho đến
tận thế.
V. GIÁO HỘI VÀ CÁC KỸ THUẬT TRUYỀN THÔNG HIỆN ĐẠI
Ngay từ đầu và qua những tuyên bố minh nhiên cũng như qua hoạt động hằng ngày,
Công Đồng thừa nhận giá trị của những tiến bộ dưới mọi hình thức trong nhân loại,
trong đó có sự tiến bộ của các kỹ thuật truyền thông hiện đại. Đó là ý nghĩa của Sắc
lệnh về Các phương tiện Truyền Thông xã hội, một văn kiện mới mẻ và bao quát đầu
tiên thuộc loại này, được ban hành đồng thời với Hiến chế về Phụng Vụ (08.12.1963).
Không những ca ngợi những kỹ thuật kỳ diệu này, Giáo Hội còn muốn sử dụng chúng
để loan truyền Tin Mừng đến khắp nơi, giúp mọi người bắt gặp được tiếng nói của
Thiên Chúa.
THAY LỜI KẾT
Ngay thời Giáo Hội khai sinh, Công Đồng Giêrusalem đã giúp cho Giáo Hội tránh được
những gánh nặng của truyền thống và tục lệ Môsê. Đó là không đặt lên vai những
người tân tòng một gánh nặng nào khác (ám chỉ việc cắt bì) ngoài những điều cần
thiết. Quyết định này có sự hợp tác của Chúa Thánh Thần (x. Cv 15,28).
Công Đồng Vatican II cũng ở trong một tình huống tương tự. Giáo Hội phải loan
truyền sứ điệp Phúc Âm cho mọi người, trong đó đa phần là những người chưa được
biết Chúa. Hơn nữa, trong thời đại mới này, Giáo Hội còn phải đương đầu với những
thách đố của một thế giới tiến bộ không ngừng và mau lẹ nhưng ngày càng xa rời
hoặc không muốn biết Thiên Chúa. Trước nguy cơ này, Đức Gioan XXIII đã triệu tập
Công Đồng gồm các Nghị Phụ đến từ khắp thế giới, họp tại Vương Cung Thánh
Đường thánh Phêrô như trong “Nhà Tiệc Ly mới”, để nói lên rằng Giáo Hội được Chúa
Thánh Thần thúc đẩy, muốn lại ra đi với một tinh thần mới để hoán cải thế giới. Đây
thực sự là một “lễ Hiện Xuống mới”, theo cách nói của Đức Gioan XXIII và Phaolô VI,
hai vị Giáo Hoàng của Công Đồng.
Thời kỳ sau Công Đồng, cả Giáo Hội đã đi vào học hỏi, áp dụng và sống những văn
kiện mà Công Đồng đã công bố, theo ba mục tiêu chính : canh tân nội bộ Giáo Hội,
hiệp nhất với các anh em kitô-hữu ly khai, đối thoại với thế giới. Công việc này vẫn
còn đang được thực hiện. Thần Khí đã hỗ trợ Công Đồng, cũng hỗ trợ chúng ta bằng
ánh sáng và sức mạnh của Người. Mỗi người chúng ta, tùy vai trò của mình trong
Giáo Hội, hãy để cho Thần Khí và Giáo Hội hướng dẫn cộng tác vào việc thực hiện
giáo huấn mà Công Đồng đã vạch ra, cũng như giáo huấn tiếp tục đường lối của
Công Đồng mà Huấn Quyền đã, đang và sẽ ban hành.
SỨ ÐIỆP CỦA CÔNG ÐỒNG
GỬI ÐẾN TẤT CẢ MỌI NGƯỜI
(20-10-1962)
Chúng tôi muốn gửi sứ điệp cứu độ, tình yêu và hòa bình đến tất cả mọi người, đến
mọi dân tộc, sứ điệp đã được Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đem đến
cho thế giới và giao phó cho Giáo Hội Người.
Chính vì mục đích đó, theo lời mời gọi của Ðức Giáo Hoàng khả kính Gioan XXIII và
“đồng tâm nhất trí trong kinh nguyện cùng với Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu”, chúng
tôi, những người kế vị các Sứ Ðồ, đã qui tụ nơi đây trong sự hiệp nhất của một Ðoàn
Thể Sứ Ðồ mà người đứng đầu là Ðấng kế vị Thánh Phêrô.
Ước gì khuôn mặt của Ðức Giêsu Kitô tỏa chiếu!
Trong Nghị Hội Công Ðồng này, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chúng tôi
quyết tìm cách canh tân chính mình chúng tôi để “càng ngày chúng tôi càng nên
trung thành hơn với Phúc Âm của Ðức Kitô”. Chúng tôi sẽ chuyên tâm trình bày chân
lý của Thiên Chúa cho con người thời đại, một chân lý toàn vẹn và thuần khiết để họ
có thể hiểu được dễ dàng và nhiệt tâm gắn bó với chân lý đó.
Ý thức trách nhiệm chủ chăn, chúng tôi muốn đáp ứng những nhu cầu của mọi người
tìm kiếm Chúa, “đang mò mẫm cố tìm với hy vọng khám phá ra được Ngài và quả
thực Ngài không xa cách mỗi người chúng ta” (Cv 17,27).
Chính vì thế, vâng theo ý định của Ðức Kitô Ðấng đã nộp mình chịu chết “hầu tự hiến
cho mình một Giáo Hội không vết nhơ hay nét nhăn… nhưng thánh thiện và tinh
tuyền” (Ep 5,27), chúng tôi sẵn sàng hiến trọn con người chúng tôi cho công cuộc
canh tân tinh thần này để Giáo Hội, từ các thủ lãnh cho đến các phần tử, chứng tỏ
cho thế giới thấy khuôn mặt đáng yêu của Ðức Kitô tỏa chiếu trong tâm hồn chúng ta
“để làm rạng ngời vinh quang của Thiên Chúa” (2 Cr 4,6).
Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian.
Chúng tôi tin rằng Chúa Cha đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con mình hầu
cứu rỗi thế gian, giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi, “giao hòa cả vạn vật với
Cha Người, thiết lập hòa bình nhờ bửu huyết đổ ra nơi thập giá Người”, nhờ đó chúng
ta trở thành “con của Thiên Chúa, theo danh hiệu cũng như thực sự là thế”. Người đã
sai đến cho chúng ta Thánh Thần Người từ nơi Cha, để cho chúng ta sống bằng chính
cuộc sống thần linh của Người trong tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với những
người anh em chúng ta khiến tất cả nên một trong Ðức Kitô.
Nhưng thay vì làm chúng ta quay lưng lại với những nghĩa vụ trần thế, việc chúng ta
gắn bó với Ðức Kitô trong Ðức Tin, Ðức Cậy và Ðức Ái lại khiến chúng ta dấn toàn
thân vào việc phục vụ những người anh em chúng ta, theo gương Thầy đáng kính
“Ðấng không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ” (Mt 20,28). Chính vì thế, Giáo
Hội được thiết lập không để cai trị nhưng để phục vụ. “Người đã trao ban mạng sống
mình vì chúng ta và chúng ta cũng phải giao phó mạng sống chúng ta vì anh em” (1
Ga 3,16).
Ngoài ra, khi hy vọng những công việc của Công Ðồng làm cho ánh sáng đức tin trở
nên rực rỡ hơn sống động hơn, chúng tôi ước mong tạo được một sự canh tân tinh
thần và từ đó đem lại một niềm hứng khởi lý thú làm phong phú gia tài nhân loại
trong những phát minh khoa học, tiến bộ kỹ thuật và phổ biến văn hóa.
Tình yêu Ðức Kitô thúc đẩy chúng tôi.
Từ khắp mọi dân tộc trên mặt đất chúng tôi đến đây mang theo với mình những nỗi
khốn quẫn về vật chất cũng như tinh thần, những khổ đau và khát vọng của các dân
tộc đã được giao phó cho chúng tôi. Chúng tôi hằng chú ý đến những vấn đề đang
bao vây họ. Trước tiên chúng tôi muốn đem sự săn sóc ân cần đến tận những người
hèn mọn nhất, bần cùng nhất và yếu kém nhất. Theo gương Ðức Kitô, chúng tôi
thương xót đám đông dân chúng đang phải khổ đau vì đói kém, vì khốn cùng, vì dốt
nát. Chúng tôi hằng nhìn đến tất cả những người, vì thiếu sự trợ giúp đầy đủ, hiện
chưa thể đạt tới mức sống xứng hợp với con người.
Vì thế, khi bắt tay vào việc, chúng tôi sẽ rất chú trọng đến tất cả những gì có liên
quan đến phẩm giá con người, những gì góp phần vào sự hiệp thông thực sự giữa các
dân tộc. “Tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy chúng tôi” (2 Cr 5,14) “Nếu ai thấy người anh
em mình lâm cơn túng thiếu mà lại khép kín cửa lòng với người anh em, thì làm gì
còn tình yêu của Thiên Chúa nơi mình ?” (1 Ga 3,17).
Hai vấn đề chính yếu.
Trong sứ điệp truyền thanh ngày 21-09-1962, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã đặc
biệt nhấn mạnh đến hai điểm :
Ðiểm thứ nhất là vấn đề hòa bình giữa các dân tộc. Ai lại không gớm ghét chiến
tranh ? Ai lại không hết sức khao khát hòa bình ? Giáo Hội cũng vậy và còn hơn hết
mọi người vì Giáo Hội là mẹ tất cả mọi người. Qua tiếng nói của các Giáo Hoàng, Giáo
Hội không ngừng tuyên bố lòng yêu mến hòa bình, thiện chí xây dựng hòa bình và
hết lòng cộng tác vào mọi nỗ lực chân thành nhằm kiến tạo hòa bình. Giáo Hội hết
sức làm việc để các dân tộc xích lại gần nhau, hiểu biết nhau và kính trọng lẫn nhau.
Chính Công Ðồng này, với những dị biệt kỳ lạ về chủng tộc, về quốc gia và về ngôn
ngữ lại không phải là chứng từ sống động, là dấu chỉ hữu hình cho một cộng đoàn
yêu thương huynh đệ hay sao ? Chúng tôi khẳng quyết rằng tất cả mọi người đều là
anh em dù thuộc bất cứ chủng tộc hay quốc gia nào.
Ðiểm thứ hai, Ðức Giáo Hoàng chú trọng đến công bằng xã hội. Giáo thuyết được
trình bày trong thông điệp Mẹ và Thầy chứng tỏ rõ ràng hơn bao giờ hết Giáo Hội trở
thành cần thiết cho thế giới hiện đại để tố giác những bất công và những bất bình
đẳng trắng trợn, để tái tạo một bậc thang đúng đắn cho các giá trị, làm cho đời sống
trở thành nhân bản hơn theo những nguyên tắc của Phúc Âm.
Sức mạnh của Thánh Thần.
Chắc hẳn chúng tôi không có những phương tiện kinh tế cũng như không có thế lực
trần gian, nhưng chúng tôi đặt niềm tin tưởng nơi sức mạnh của Thánh Thần mà
Chúa Giêsu Kitô đã hứa ban cho Giáo Hội. Vì thế, với lòng khiêm cung và nhiệt thành,
chúng tôi kêu mời không phải chỉ những anh em mà chúng tôi đang phục vụ với tư
cách chủ chăn nhưng cũng kêu mời tất cả những anh em tin vào Ðức Kitô và tất cả
mọi người thiện chí “mà Thiên Chúa muốn cứu thoát và đưa dẫn tới chỗ nhận biết
chân lý” (1Tim 2,4). Ước gì tất cả đều kết hiệp với chúng tôi trong công cuộc xây
dựng ngay tại trần gian này một xã hội công bằng hơn và huynh đệ hơn. Bởi vì ý
định của Thiên Chúa là muốn nước của mình chiếu tỏa phần nào trên mặt đất nhờ
đức ái như một hình bóng của vương quốc vĩnh cửu.
Giữa một thế giới còn đang quá xa cách hòa bình mình mong đợi, còn đang lo âu
trước những đe dọa đè nặng bởi những tiến bộ kỹ thuật tự chúng rất đáng khâm
phục nhưng cũng nguy hại bao lâu chúng không qui chiếu vào một lề luật luân lý cao
hơn, ước gì bừng lên ánh sáng của niềm hy vọng lớn lao vào Ðức Giêsu Kitô, Vị Cứu
Tinh duy nhất của con người chúng ta.
SỨ ÐIỆP CỦA CÔNG ÐỒNG NHÂN DỊP BẾ MẠC
(8-12-1965)
NHẬP ÐỀ
Ð.G.H. Phaolô VI tuyên đọc
Chư huynh đáng kính,
Giờ lên đường, giờ giải tán đã điểm. Lát nữa, Chư huynh sẽ từ giã nghị hội Công
Ðồng để trở về gặp gỡ nhân loại, mang về cho nhân loại tin vui của Phúc Âm Ðức
Kitô và của việc canh tân Giáo Hội mà chúng ta đã làm từ bốn năm nay.
Ðây là giờ phút độc nhất, giờ phút đầy ý nghĩa và phong phú vô cùng! Trong cuộc đại
hội hoàn cầu, ở một thời gian và một địa điểm đặc biệt này, chúng ta thấy qui tụ lại
tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Quá khứ vì ở đây tụ họp lại toàn thể Giáo Hội
Ðức Kitô, với truyền thống lịch sử của mình với các Công Ðồng, các Tiến Sĩ, và các
Thánh của mình. Hiện tại : vì chúng ta đang từ giã nhau để đi về gặp gỡ thế giới
ngày nay, một thế giới với các khốn cùng, đau thương và tội lỗi của nó nhưng cũng
có giá trị và nhân đức của mình. Sau cùng, tương lai : với tiếng gọi khẩn cấp của các
dân tộc đang mong mỏi công bình, với ý chí muốn xây dựng hòa bình và với khát
vọng ý thức hay vô ý thức về một đời sống cao đẹp hơn, đời sống mà chính Giáo Hội
Chúa Kitô hiện có thể và đang muốn mang lại cho họ.
Chúng tôi thấy như từ khắp nơi trên thế giới đang vọng về tiếng xôn xao tuy mơ hồ
nhưng lớn lao của tất cả những người hướng nhìn về Công Ðồng và lo lắng hỏi chúng
ta : các ngài lại không nói lời nào với chúng tôi sao… ? Vâng chúng tôi đây là những
nhà cầm quyền, những nhà trí thức, những người lao động, những nhà nghệ sĩ… ?
Chúng tôi, những phụ nữ, những thanh niên, những người đau ốm và nghèo khổ, các
ngài không có lời nào cho chúng tôi sao ?
Những tiếng gọi thiết tha ấy phải được đáp lại. Chính vì tất cả mọi tầng lớp nhân loại
mà Công Ðồng làm việc từ bốn năm nay ; chính vì muốn dành cho họ nên “Hiến chế
về Giáo Hội trong thế giới ngày nay” đã được soạn thảo và hôm qua chúng tôi đã ban
hành giữa những tiếng hoan hô nhiệt liệt của Chư Huynh.
Từ cuộc suy niệm lâu dài của chúng ta về Chúa Kitô và về Giáo Hội Người, giờ đây
phải thốt lên tiếng nói đầu tiên, loan báo nền hòa bình và sự cứu độ cho bao đám
đông đang mong đợi. Trước khi từ biệt, Công Ðồng muốn hoàn thành chức vụ tiên tri
này. Công Ðồng muốn diễn tả “Tin Mừng” mà Công Ðồng mang đến cho toàn thế giới
bằng những sứ điệp vắn và trong một ngôn ngữ mọi người có thể hiểu dễ dàng. Tin
mừng này sẽ được một vài Vị trong những phát ngôn viên có thẩm quyền của Công
Ðồng nhân danh Chư Huynh nói chuyện với toàn thể nhân loại.
GỬI CÁC NHÀ CẦM QUYỀN
Hồng Y A. Liénart tuyên đọc :
Trong giờ phút long trọng này, chúng tôi, những Nghị Phụ trong Công Ðồng thứ 21
của Giáo Hội Công Giáo sắp sửa từ giã nhau sau bốn năm cầu nguyện và làm việc, ý
thức trọn vẹn về sứ mạng của mình đối với nhân loại, chúng tôi trân trọng và tín cẩn
ngỏ lời với những vị hiện đang cầm trong tay vận mệnh của mọi người trên địa cầu,
cùng hết mọi người đang cầm quyền bính trên trần gian.
Chúng tôi lớn tiếng tuyên bố : chúng tôi kính trọng quyền hành và chủ quyền của quí
vị, chúng tôi tôn trọng chức vụ của quý vị. Chúng tôi nhìn nhận những pháp luật
chính đáng của quí vị, chúng tôi quí chuộng người làm ra cũng như người áp dụng
những luật ấy. Nhưng chúng tôi có một lời chí thánh để nói với quí vị, đó là : chỉ một
mình Thiên Chúa là cao cả. Chỉ một mình Thiên Chúa là nguyên thủy và là cứu cánh.
Chỉ một mình Thiên Chúa là nguồn gốc của quyền bính và là nền tảng các luật lệ của
quí vị.
Chính quí vị có nhiệm vụ phải cổ võ cho nền trật tự và hòa bình giữa mọi người trên
trái đất. Nhưng xin đừng quên : Thiên Chúa chân thực và hằng sống là Cha mọi
người. Và chính Chúa Kitô, người Con vĩnh cửu của Thiên Chúa đã đến nói cho chúng
ta biết điều ấy và dạy cho chúng ta biết tất cả đều là anh em với nhau. Chính Người
là thợ cao cả của trật tự và hòa bình thế giới vì chính Người hướng dẫn lịch sử nhân
loại và chỉ một mình Người mới có thể khiến các tâm hồn từ khước những dục vọng
xấu xa, mầm mống phát sinh ra chiến tranh và đau khổ. Chính Người là Ðấng chúc
lành cho cơm bánh của nhân loại, thánh hóa việc làm và những vất vả của nhân loại,
mang lại cho nhân loại những niềm vui mà quí vị không thể mang lại cũng như làm
cho họ vũng mạnh lại trong những đau thương mà quí vị không thể an ủi được.
Trong xã hội thế trần và hữu hạn của quí vị, Chúa Kitô xây dựng cách nhiệm mầu xã
hội tinh thần và vĩnh cửu của Người tức là Giáo Hội của Người, vậy Giáo Hội mong
muốn gì ở quí vị, sau hai ngàn năm biến chuyển thăng trầm về mọi phương diện
trong mối bang giao với quí vị, những người nắm quyền lực trần gian ? Ngày nay
Giáo Hội cầu mong gì ở quí vị ? Giáo Hội đã nói nguyện vọng ấy cho quí vị trong một
bản văn quan trọng của Công Ðồng : Giáo Hội chỉ yêu cầu quí vị để tự do : tự do tin
và rao giảng niềm tin của mình, tự do yêu mến Thiên Chúa và phụng sự Ngài, tự do
sống và mang đến cho mọi người sứ điệp về sự sống. Xin đừng kiêng sợ Giáo Hội :
Giáo Hội theo gương chủ mình nên hoạt động mầu nhiệm của Giáo Hội không dẫm
chân lên những đặc quyền của quí vị nhưng để cứu nhân loại khỏi sự tàn tạ oan
nghiệt, biến đổi nó, đổ đầy niềm hy vọng, chân lý và vẻ đẹp.
Xin hãy để Chúa Kitô thi hành công việc tinh luyện xã hội này! Xin đừng đóng đinh
Người lại một lần nữa : việc đó là phạm thánh vì Người là Con Thiên Chúa ; đó cũng
là tự sát vì Ngài là Con Người. Xin để yên chúng tôi, những thừa tác viên khiêm tốn
của Người, đừng cản trở chúng tôi trong việc gieo rắc khắp nơi “tin mừng” của Phúc
Âm hòa bình, tin mừng đã được chúng tôi nghiền ngẫm trong suốt thời kỳ Công
Ðồng. Dân chúng của quí vị sẽ là những người đầu tiên được hưởng ơn ích tin mừng
hòa bình này vì Giáo Hội nhằm đào tạo cho quí vị những người công dân liêm chính
biết yêu chuộng hòa bình và tiến bộ.
Trong ngày long trọng bế mạc các phiên hội của Công Ðồng Chung lần thứ 21 này,
Giáo Hội, qua tiếng nói của chúng tôi, xin gửi tới quí vị tình thân hữu, ý chí phục vụ
và những năng lực tinh thần cũng như đạo đức của mình. Giáo Hội xin gửi đến tất cả
quí vị sứ điệp cứu độ và chúc lành. Xin hãy tiếp nhận sứ điệp ấy trong cùng một tinh
thần như đã được gửi đi, nghĩa là với một tấm lòng hoan hỉ, chân thành và xin quí vị
cũng chuyển tới tất cả dân chúng của quí vị.
GỬI GIỚI TRÍ THỨC
Hồng Y P. Léger tuyên đọc :
Công Ðồng đặc biệt gửi lời chào kính tới những người kiếm tìm chân lý, những nhà tư
tưởng và khoa học, những nhà thám hiểm vũ trụ, lịch sử và con người. Xin chào
thăm tất cả quí vị, những người lữ hành đang tiến về ánh sáng, cả những người đã
đứng lại dọc đường vì mệt mỏi hoặc thất vọng vì tìm không thấy.
Tại sao chúng tôi lại chào kính đặc biệt quí vị ? Bởi vì tất cả chúng tôi đây, những
giám mục, Nghị Phụ Công Ðồng, chúng tôi cũng đang ngóng tìm chân lý. Nỗ lực của
chúng tôi trong bốn năm qua là gì, nếu không phải là một cuộc tìm kiếm chú ý hơn
và đào sâu sứ điệp chân lý đã được giao phó cho Giáo Hội, một nỗ lực lắng nghe
thuần thục và chăm chú hơn trước tiếng nói của Thần Chân Lý ?
Vì thế chúng tôi không thể không gặp gỡ quí vị. Con đường quí vị cũng là con đường
của chúng tôi. Ðường lối quí vị cũng không bao giờ xa lạ với những đường lối chúng
tôi. Chúng tôi là những người bạn đồng hành cùng được kêu gọi để tìm kiếm như quí
vị, cùng chia sẻ mệt nhọc với quí vị, cùng chung tiếng thán phục những thành quả
của quí vị, và nếu cần, có thể khích lệ khi quí vị nản chí và thất bại.
Vì thế chúng tôi có một sứ điệp gửi tới quí vị. Sứ điệp ấy như sau : xin hãy tiếp tục
tìm kiếm và đừng bao giờ nản chí, thất vọng vì không tìm được chân lý! Xin hãy nhớ
tới lời người bạn thân thiết của quí vị là Thánh Augustinô : “Hãy tìm kiếm với ước
muốn gặp thấy, và gặp thấy với ước muốn kiếm thêm mãi”! hạnh phúc cho những ai
đã gặp thấy chân lý nhưng vẫn còn kiếm tìm thêm mãi để đổi mới, để đào sâu chân
lý và mang chân lý tới cho người khác. Hạnh phúc cho những ai dù chưa gặp gỡ chân
lý, nhưng vẫn thành tâm tiến tới chân lý : mong họ tìm ánh sáng ngày mai nhờ ánh
sáng hôm nay, cho đến lúc chan hòa ánh sáng.
Xin cũng đừng quên : suy nghĩ là một việc cao cả, nhưng trước hết là một nhiệm vụ.
Bất hạnh thay cho những người cố tình nhắm mắt trước ánh sáng! Suy nghĩ còn là
một trách nhiệm : bất hạnh thay cho những người làm tinh thần mờ tối bằng trăm
ngàn thủ đoạn khiến họ chán nản, kiêu căng, lầm lẫn và sai lệch! Nguyên tắc căn
bản của những nhà khoa học là gì nếu không phải là : cố gắng suy nghĩ đúng ?
Ðể giúp suy nghĩ đúng, chúng tôi đến cống hiến quí vị ánh sáng của cây đèn mầu
nhiệm là đức tin, không phải để làm quẩn chân hay làm chói mắt quí vị. Ðấng trao
gởi ánh sáng đức tin cho chúng tôi là vị tôn sư của tư tưởng và chúng tôi là những đệ
tử khiêm tốn của Người, chỉ một mình Người đã nói và có quyền nói : “Ta là ánh sáng
thế gian. Ta là đường, là sự thật và là sự sống”.
Lời nói trên đây có liên hệ đến quí vị. Nhờ ơn Thiên Chúa, cái khả năng hòa đồng sâu
xa giữa khoa học chân chính và đức tin chân chính có lẽ không bao giờ lại hiện rõ hơn
ngày hôm nay vì cả hai điều phục vụ cho chân lý duy nhất. Xin đừng ngăn cản cuộc
gặp gỡ quí báu này! Xin hãy tín nhiệm đức tin, vốn là người bạn thân của trí tuệ! Xin
hãy để ánh sáng đức tin soi sáng quý vị ngõ hầu nắm được chân lý, toàn thể chân lý.
Ðó là lời cầu chúc, sự khích lệ và hy vọng mà các Nghị Phụ trên khắp thế giới họp
Công Ðồng tại Roma gửi tới quí vị trước giờ phút chia tay.
GỬI GIỚI VĂN NGHỆ SĨ
Hồng Y L. Suénens tuyên đọc :
Giờ đây, chúng tôi xin ngỏ lời với quí vị văn nghệ sĩ, những người say mê và phục vụ
cái đẹp : quí vị là những thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, điều khắc gia, kiến trúc sư, nhạc sĩ,
diễn viên cũng như chuyên viên kịch nghệ và điện ảnh… Qua tiếng nói của chúng tôi,
Công Ðồng Giáo Hội xin ngỏ lời với toàn thể quí vị : nếu yêu chuộng nghệ thuật chân
chính thì quí vị là bạn hữu của chúng tôi.
Ðã từ lâu, Giáo Hội liên kết với quí vị. Quí vị đã xây dựng và trang hoàng những đền
thờ, suy tôn các tín điều, làm giàu cho phụng vụ của Giáo Hội. Quí vị đã giúp đỡ Giáo
Hội diễn tả sứ điệp thánh của mình ra ngôn ngữ hình thể và sắc thái, khiến cho thế
giới vô hình có thể được cảm nhận.
Ngày nay cũng như trong quá khứ, Giáo Hội vẫn cần đến quí vị và hướng về quí vị.
Qua tiếng nói của chúng tôi, Giáo Hội ngỏ lời cùng quí vị : xin đừng để tan vỡ mối
liên kết phong phú tột bực. Xin đừng chối từ đem tài năng ra phụng sự chân lý Thiên
Chúa. Xin đừng đóng cửa tinh thần quí vị trước hơi thở của Thánh Thần Chúa!
Thế giới chúng ta sống ngày nay đang cần đến cái đẹp để khỏi chìm đắm vào thất
vọng. Cái đẹp, cũng như sự thật mang lại niềm vui cho tâm hồn con người, đó chính
là những hoa trái quí giá không tàn úa vì thời gian nhưng nối kết các thế hệ lại và
làm cho họ thông cảm nhau khi thán phục nhau. Công trình ấy là do bàn tay của quí
vị…
Ước mong những bàn tay ấy được thanh sạch, vô vị lợi! Xin hãy nhớ rằng quí vị là
những người bảo vệ cái đẹp trong thế giới : mong rằng chỉ điều đó cũng đủ khiến quí
vị vượt qua những thị hiếu phù du không có giá trị đích thức, đủ khiến quí vị tránh
tìm những lối diễn tả dị kỳ và bất nhã.
Ước chi lúc nào và chỗ nào quí vị cũng vẫn xứng đáng với lý tưởng mình để rồi sẽ
xứng đáng với Giáo Hội, mà ngày hôm nay qua tiếng nói của chúng tôi, xin gửi đến
quí vị sứ điệp thân hữu, cứu độ, ân phúc và chúc lành.
GỬI CÁC PHỤ NỮ
Hồng Y L. Duval tuyên đọc :
Giờ đây chúng tôi xin ngỏ lời với nữ giới thuộc hết mọi thành phần : các thiếu nữ, các
người vợ, người mẹ, các quả phụ, cả những người đồng trinh đã dâng mình cho Chúa
và các người ở độc thân : tất cả quí vị chiếm một nửa đại gia đình nhân loại.
Như quý bà và chị em đã biết, qua các thời đại, Giáo Hội hãnh diện vì đã làm vẻ vang
và giải phóng người phụ nữ, đã làm nổi bật trong sự khác biệt phái tính sự bình đẳng
căn bản của Nữ giới với Nam giới.
Nhưng bây giờ đã đến lúc sứ mệnh người nữ được thể hiện hoàn toàn. Ðây là lúc
người phụ nữ có một ảnh hưởng, một sự phát huy và một quyền lực từ trước đến nay
chưa từng có trong xã hội.
Vì thế, trong khi nhân loại đang trải qua một biến động sâu xa như lúc này, những
phụ nữ thấm nhuần tinh thần Phúc Âm có thể giúp đỡ rất nhiều cho nhân loại thoát
khỏi sự suy đồi.
Quý bà và chị em bao giờ cũng góp phần bảo vệ gia đình, tuôn chảy nguồn yêu
thương và dưỡng dục trẻ thơ. Quý bà và chị em hiện diện lúc mầu nhiệm sự sống bắt
đầu và ủi an trong giờ cuộc đời chấm dứt. Nền kỹ thuật của chúng ta có thể trở nên
vô nhân đạo nên xin quý bà và chị em hãy hòa giải con người với sự sống. Nhất là
chúng tôi tha thiết thỉnh cầu quý bà và chị em hãy săn sóc đến tương lai của giống
nòi chúng ta. Hãy giữ tay người đàn ông lại nếu trong một phút điên cuồng họ muốn
tiêu hủy nền văn minh nhân loại.
Hỡi các người vợ, người mẹ gia đình, là những nhà giáo dục đầu tiên của nhân loại
trong lòng tổ ấm gia đình, xin truyền thụ cho con trai con gái quý bà những truyền
thống của cha ông chúng ta, đồng thời chuẩn bị cho chúng một tương lai xa vời. Các
bà hãy luôn nhớ là nhờ con cái nên người mẹ góp phần vào tương lai, một tương lai
có lẽ mắt quý bà sẽ không được nhìn thấy.
Cả những chị em ở độc thân nữa, xin ý thức rằng chị em có thể chu toàn trọn vẹn sứ
mệnh phục vụ của mình. Xã hội khắp nơi đang kêu gọi chị em, ngay các gia đình
cũng không thể sinh hoạt nếu gạt bỏ sự trợ giúp của những người không lập gia đình.
Nhất là những người đồng trinh đã dâng mình cho Chúa trong một thế giới mà chủ
nghĩa ích kỷ và sự ham tìm khoái lạc muốn trở nên qui luật sống, chị em hãy duy trì
đức trong sạch, lòng vô vị lợi và tinh thần đạo đức. Chúa Giêsu, Ðấng đã ban cho
tình yêu vợ chồng trọn vẹn ý nghĩa của nó cũng đã đề cao sự từ khước tình yêu nhân
loại này khi nó hướng về tình yêu vô biên và nhằm phục vụ mọi người.
Sau cùng, hỡi những người đang bị thử thách, quý bà và chị em đang đứng thẳng
dưới chân thánh giá như Ðức Maria, biết bao lần trong lịch sử, quý bà và anh chị em
đã mang lại cho người đàn ông sức mạnh để chiến đấu tới cùng, đã giúp họ làm
chứng nhân ngay cả tử vì đạo, một lần nữa xin hãy giúp họ can đảm làm những công
cuộc lớn, đồng thời biết kiên nhẫn và biết bắt đầu bằng những công việc nhỏ.
Hỡi tất cả phụ nữ, quý bà và chị em biết cách làm cho chân lý trở nên êm ái, dịu
dàng, dễ hiểu, xin hãy chuyên chú làm cho tinh thần Công Ðồng được thấm nhập vào
cơ cấu, trường học, gia đình và đời sống hằng ngày.
Hỡi các phụ nữ trên toàn thế giới thuộc Kitô giáo hay vô tín ngưỡng, sự sống đã được
giao phó cho quý vị trong phút giây lịch sử nghiêm trọng này, quý bà và chị em có
nhiệm vụ cứu vãn nền hòa bình thế giới.
GỬI GIỚI LAO ÐỘNG
Hồng Y P. Zoungrana tuyên đọc :
Trong suốt Công Ðồng này, chúng tôi, các Giám Mục Công Giáo khắp năm châu, đã
cùng nhau suy nghĩ những vấn đề nghiêm trọng trong số bao nhiêu đề tài khác đặt
ra trước lương tâm nhân loại do những điều kiện kinh tế xã hội của thế giới ngày nay,
vấn đề sống chung giữa các quốc gia, vấn đề võ trang, chiến tranh và hòa bình.
Chúng tôi hoàn toàn ý thức rằng cách thức giải quyết những vấn đề này có thể ảnh
hưởng đến đời sống cụ thể của nam nữ công nhân trên khắp thế giới. Vì thế, sau
những phiên thảo luận, chúng tôi mong ước gửi đến tất cả anh em lao động một sứ
điệp tín cẩn, hòa bình và thân hữu.
Hỡi những người con rất thân mến, thoạt tiên xin hãy yên trí rằng Giáo Hội hiểu biết
những nỗi thống khổ, cuộc tranh đấu, niềm hy vọng của anh em. Giáo Hội rất khâm
phục những đức tính làm cho tâm hồn anh em nên cao đẹp, đó là lòng can đảm, sự
tận tụy, lương tâm nghề nghiệp, lòng yêu chuộng công bình. Giáo Hội nhìn nhận đầy
đủ những sự phục vụ lớn lao anh em đã mang lại cho xã hội khi mỗi người ở địa vị
mình, và đôi khi trong những địa vị khiêm tốn nhất, bị khinh rẽ nhất, Giáo Hội rất hài
lòng và xin cảm tạ anh em qua tiếng nói của chúng tôi.
Trong những năm vừa qua, Giáo Hội không ngừng lưu tâm đến những vấn đề càng
ngày càng phức tạp của thế giới lao động. Tiếng vọng từ trong hàng ngũ lao động đối
với những thông điệp vừa qua của các Ðức Giáo Hoàng đã chứng tỏ tâm hồn người
lao động ngày nay hòa hợp mật thiết với các vị lãnh đạo tinh thần cao cả nhất của
mình.
Ðức Gioan XXIII, Ðấng làm giàu cho gia tài Giáo Hội bằng những sứ điệp trứ danh,
đã tìm ra được ngôn ngữ thấu đến tâm hồn anh em. Nơi con người của ngài, ngài đã
làm sáng tỏ tất cả tình yêu của Giáo Hội đối với người lao động cũng như đối với chân
lý, công bình, tự do, bác ái, là những nền tảng xây dựng hòa bình thế giới.
Cũng trong tinh thần ấy, chúng tôi cũng muốn được tỏ bày lòng yêu mến của Giáo
Hội đối với anh em, những người lao động, và với tất cả lòng xác tín chân thành,
chúng tôi xin nói với anh em rằng : Giáo Hội là bạn của anh em. Xin hãy tín cẩn vào
Giáo Hội! Trong quá khứ, những hiểu lầm đáng tiếc đã kéo dài quá lâu sự nghi kỵ và
sự bất đồng giữa chúng ta ; Giáo Hội và giới thợ thuyền đều phải đau khổ vì việc đó.
Ngày nay, giờ hòa giải đã điểm, và nhờ tinh thần của Công Ðồng Giáo Hội mời gọi
anh em hoan hỉ cử hành giờ đó với tất cả sự tin tưởng thành thực.
Giáo Hội luôn luôn cố tìm để hiểu rõ anh em hơn. Nhưng anh em cũng phải tìm hiểu
Giáo Hội là gì đối với anh em, những người lao động, những tay thợ chính yếu đang
thực hiện các biến đổi lạ lùng cho thế giới ngày nay. Anh em quá biết rằng : nếu một
luồng linh khí mãnh liệt không phổ vào những biến đổi này, chúng ta sẽ trở thành tai
họa cho nhân loại thay vì mang lại hạnh phúc cho họ. Không phải hận thù sẽ cứu vớt
thế giới! Không phải chỉ có cơm bánh trần gian có thể làm no thỏa cơn đói của con
người!
Vì thế, hãy đón nhận sứ điệp của Giáo Hội. Hãy đón nhận đức tin được Giáo Hội hiến
dâng cho anh em để soi đường dẫn lối. Ðó là đức tin của vị kế nghiệp Thánh Phêrô và
của hai ngàn Giám Mục họp lại nơi Công Ðồng, đó là đức tin của toàn dân Chúa.
Mong Ðức Tin ấy soi sáng cho anh em, dẫn lối cho anh em, làm cho anh em hiểu biết
Chúa Giêsu, bạn đồng lao với anh em, là Thầy và là Ðấng Cứu Ðộ của toàn thể nhân
loại.
GỬI NGƯỜI NGHÈO, BỆNH TẬT VÀ ÐAU KHỔ
Hồng Y P. Méouchi tuyên đọc :
Ðối với tất cả các bạn, những anh em đang bị thử thách, đang bị đau khổ dày vò dưới
muôn hình vạn trạng. Công Ðồng xin gửi đến một sứ điệp đặc biệt.
Công Ðồng cảm thấy anh em đang ngóng nhìn về mình với những con mắt cầu khẩn,
sáng rực vì cơn sốt hoặc đờ đẫn vì mệt nhọc, những cái nhìn dò hỏi đang vô vọng tìm
hiểu tại sao con người lại đau khổ hay đang lo âu tự hỏi xem bao giờ và tự đâu sẽ có
nâng đỡ.
Anh em rất thân mến, chúng tôi cảm thấy rất sâu đậm những lời rên siết và than thở
của anh em đang vang lên trong lòng những người cha và chủ chăn của chúng tôi,
chúng tôi càng buồn sầu khi nghĩ rằng mình không thể mang lại sức khỏe thể xác
cũng như sự thuyên giảm đau đớn bên ngoài cho anh em như các bác sĩ, y tá và tất
cả những người săn sóc bệnh nhân đang cố gắng tận tình cứu chữa.
Nhưng chúng tôi có một cái gì sâu xa hơn, quí giá hơn để mến tặng anh em, một
chân lý duy nhất có thể trả lời cho mầu nhiệm đau khổ và mang lại cho anh em sự an
ủi chân thật : đó là đức tin và sự kết hiệp với con người đau khổ là Chúa Kitô, Con
Thiên Chúa, Ðấng bị đóng đinh vì tội lỗi cũng như để cứu rỗi chúng ta.
Chúa Kitô đã không diệt trừ đau khổ. Người cũng không muốn vén lên hoàn toàn
chiếc màn mầu nhiệm của đau khổ cho chúng ta :Người lại nhận đau khổ cho mình và
vì thế đã quá đủ cho chúng ta hiểu rõ giá trị của đau khổ.
Hỡi tất cả anh em, những người đang cảm thấy thập giá đè nặng, những người nghèo
túng, bị bỏ rơi, những người đang khóc lóc, đang bị bách hại vì sự công chính, những
người không được ai nói đến, những người đau khổ vô danh, xin hãy lấy lại can đảm.
Anh em là những người được ưu đãi trong nước Chúa, nước có hy vọng, hạnh phúc
và sự sống. Anh em là những người em của Chúa Kitô đau khổ và nếu anh em muốn,
anh em cùng cứu vớt thế gian với Người.
Ðó là học thuyết Kitô giáo về đau khổ, học thuyết duy nhất mang lại bình an. Xin biết
chắc chắn rằng anh em không cô độc, không bị loại trừ, bị bỏ rơi hoặc bị coi là vô
dụng. Trái lại anh em là những người được Chúa Kitô kêu gọi, là hình ảnh sống động
và trong suốt của Chúa. Nhân danh Chúa, Công Ðồng âu yếm chào thăm anh em,
cảm ơn và đoan chắc với anh em về tình thân hữu, về sự giúp đỡ của Giáo Hội và
chúc phúc lành cho anh em.
GỬI GIỚI TRẺ
Hồng Y G. Agagianian tuyên đọc :
Sau hết Công Ðồng muốn gửi cho các bạn thanh niên và thiếu nữ toàn thế giới bức
sứ điệp sau cùng vì chính các bạn sắp được nhận lấy ngọn đuốc từ tay phụ huynh và
sẽ sống trong thế giới vào lúc diễn ra những biến đổi vĩ đại nhất của lịch sử. Chính
các bạn, trong khi thừa hưởng phần tốt nhất của gương sáng và giáo huấn nơi cha
mẹ cũng như thầy dạy, các bạn đang tiến tới việc kiến tạo xã hội ngày mai : các bạn
sẽ tự cứu được mình hay sẽ bị tiêu diệt cùng với xã hội ấy.
Ròng rã bốn năm qua, Giáo Hội đã làm việc để làm trẻ lại khuôn mặt mình, sao cho
mỗi ngày một phù hợp với ý định của Ðấng sáng lập, Ðấng Hằng Sống Cao Cả là
Chúa Kitô muôn đời trẻ trung. Vào phút chót cuộc “duyệt lại đời sống” quan trọng
này, Giáo Hội hướng về các bạn. Chính cho những người trẻ các bạn, phải, đặc biệt
cho các bạn mà Giáo Hội qua Công Ðồng vừa thắp lên một ánh sáng : ánh sáng soi
cho tương lai, tương lai đời các bạn.
Giáo Hội lưu tâm muốn cho xã hội các bạn sắp thiết lập biết tôn trọng phẩm giá, tự
do, quyền lợi của con người, cũng là chính con người các bạn.
Giáo Hội đặc biệt lưu tâm làm sao cho xã hội này sẽ để cho cái kho tàng luôn luôn cổ
kính và luôn luôn mới mẻ là đức tin được nảy nở, và sao cho tâm hồn các bạn có thể
tự do tắm gội trong ánh sáng tốt lành của nó. Giáo Hội tin tưởng rằng : các bạn sẽ
gặp được một sức mạnh và một niềm vui lớn lao đến độ các bạn sẽ không bị quyến
rũ như một số đàn anh, buông mình theo những triết thuyết ích kỷ và khoái lạc, thất
vọng và hư vô, đồng thời đứng trước chủ nghĩa vô thần, hiện tượng của suy nhực và
già cỗi, các bạn có thể củng cố lòng mình tin tưởng ở đời và tin chân lý làm cho đời
sống có một ý hướng : đó là xác tín có một Thiên Chúa công bình và tốt lành.
Chính nhân danh Thiên Chúa và Con Ngài là Chúa Giêsu, chúng tôi khuyên các bạn
hãy mở rộng tâm hồn ra tới mọi chiều hướng của thế giới, lắng nghe tiếng gọi của
các anh em và đem những nghị lực trẻ trung ra phục vụ cho họ.
Hãy chiến đấu chống mọi ích kỷ. Hãy chống lại, đừng tự buông thả theo các bản
năng hung bạo và hận thù, là mầm mống gây nên chiến tranh và biết bao điều khốc
hại khác. Xin hãy đại độ, trong sạch, kính cẩn và chân thành. Xin hãy đem nhiệt
huyết ra xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn cái thế giới của đàn anh các bạn!
Giáo Hội nhìn đến các bạn với lòng đầy tín cẩn và yêu thương. Vốn mang một dĩ vãng
lâu dài và hằng sống động trong mình đồng thời luôn luôn đi tới sự hoàn thiện nhân
loại qua thời gian cũng như vừa tiến tới những chân trời sau cùng của lịch sử và sự
sống. Giáo Hôi là sự trẻ trung đích thực của thế giới. Giáo Hội mang vốn liếng làm
nên sức mạnh và vẻ đẹp của tuổi trẻ : đó là khả năng biết hoan hỉ trước những gì
mới bắt đầu, biết cho đi mà không mong trả lại, biết tự đổi mới và ra đi tìm những
chinh phục mới. Xin hãy nhìn Giáo Hội và các bạn sẽ khám phá ra khuôn mặt Chúa
Kitô, vị anh hùng chân chính, khiêm tốn và khôn ngoan, vị ngôn sứ của chân lý và
tình yêu, là bạn đường và bạn thân của người trẻ. Nhân danh chính Chúa Kitô chúng
tôi chào thăm, khuyên nhủ và chúc lành cho các bạn.
Tác giả CHRISTINE PEDOTTI
Hướng Phương chuyển ngữ
Trích từ cuốn La Bataille du Vatican, 1959-1965, của tác giả Christine Pedotti, Nhà xuất bản
PLON, năm 2012.







