I. NHẬP(Dẫn vào Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng)
1. Chào:
– Thân chào quý bạn trẻ, Thân chào tất cả các bạn đang có mặt tại khuôn viên nhà thờ Don Bosco để cử hành lễ lá 2015 đây ! Chắc tôi, các bạn ít biết, bởi lý do đơn giản là tôi ít xuất hiện với các bạn trẻ. Nhưng tạ ơn Chúa cho chúng ta hôm nay gặp nhau trong bối cảnh lễ lá, cũng là ngày hội của giới trẻ nhờ vào sáng kiến và quyết định của ĐTC Gioan Phaolô II kể từ 30 năm nay (từ 1984).
2. Đoạn Phúc Âm Chúa Giêsu khải hoàn vào Giêrusalem:
– Phúc Âm theo thánh Luca khai mạc rước kiệu Lễ Lá, có một chi tiết khá là thú vị như sau : Khi những người Biệt phái nói với Đức Giêsu : “Xin ông bảo các môn đệ của ông im đi, đừng ồn ào tung hô Hosannah, Vạn tuế, Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến nữa”, thì Đức Giêsu trả lời họ : “Tôi bảo các ông, nếu họ mà làm thinh, thì những hòn đá này sẽ reo lên”.
– Còn Phúc Âm Matthêu thì kể : Khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau : “Ông này là ai vậy ?”. Dân chúng trả lời : “Ngôn sứ Giêsu, người Nazareth, xứ Galilê đấy”.
– Chúng ta thấy đấy : Cả thành náo động về Đức Giêsu ; người ta kháo láo với nhau, và toàn thể dân chúng cùng lên tiếng loan báo đó là ngôn sứ Giêsu, người Nazareth. Còn chính Đức Giêsu thì quả quyết mạnh hơn : “Họ mà làm thinh, thì cả sỏi đá cũng sẽ reo lên”.
3. Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng”: “LBTM ngập tràn niềm vui”
– Chúng ta bắt gặp ý tưởng tương tự của ĐTC Phanxicô trong Tông Huấn “Niềm vui Tin Mừng” ở ngay chương đầu và ngay số đầu tiên. Ngài viết thế này : “Tôi mong muốn và tôi khích lệ các tín hữu hãy đi vào một chương mới của công cuộc loan báo Tin Mừng ngập tràn niềm vui”. Chúng ta ghi nhớ và lập lại : “Loan báo Tin Mừng ngập tràn niềm vui”. Đầy đủ hơn : “Một chương mới của công cuộc loan báo Tin Mừng ngập tràn niềm vui”.
– Mong muốn này được ngài diễn giải ra sao ? Đây số 27 của Tông Huấn…
II. MỘT HỘI THÁNH TRUYỀN GIÁO:
1. “Tôi mơ ước, Tôi thà, Tôi không muốn, Tôi mong rằng” :
Số 27 :
“Tôi mơ ước một ‘chọn lựa truyền giáo’, hơn là cứ bận tâm lo bảo tồn Hội Thánh”.
Số 49 :
“Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm giập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình.
Tôi không muốn một Hội Thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục. Nếu có cái gì khiến chúng ta phải trăn trở và áy náy lương tâm, thì đó chính là sự kiện nhiều anh chị em chúng ta đang sống mà không có sức mạnh, ánh sáng và niềm an ủi phát sinh từ tình bạn với Đức Giêsu Kitô, không tìm thấy ý nghĩa và mục tiêu trong đời.
Tôi mong rằng, thay vì sợ đi lạc, chúng ta nên sợ bị giam hãm trong những cơ cấu làm cho chúng ta có một cảm giác an toàn giả tạo, trong những qui tắc biến chúng ta thành những quan tòa tàn nhẫn, với những thói quen làm chúng ta cảm thấy an thân, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói và Đức Giêsu không ngừng thúc giục chúng ta : “Anh em hãy cho họ ăn đi” (Mc 6,37).
Mơ ước của ĐTC tha thiết và rất đẹp đấy chứ, các bạn trẻ ?!
2. Một Giáo Hội phải “đi ra” loan báo niềm tin phục sinh :
“Giáo Hội phải đi ra, đi ra để cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Giêsu Kitô” (số 49). Nhưng không thể cống hiến, hay có cống hiến người ta cũng không bị thu hút, nếu mặt mũi của chúng ta buồn sầu ảm đạm, hay nói như ĐTC Phanxicô, khi người Kitô hữu “sống đời mình như chỉ có mùa chay, mà không có mùa phục sinh” (số 6).
Trong khi chỉ người Kitô hữu chúng ta mới có niềm tin phục sinh, mới có chân trời phục sinh, chân trời của sự sống vô biên, hạnh phúc, vượt trên sự chết, bởi là kết quả của một “Tình yêu mạnh hơn sự chết”. “Tình yêu mạnh hơn sự chết”, đây chính là câu chuyện Giáo Hội kể cho chúng ta nghe trong tuần thánh này, và cũng tha thiết mời gọi chúng ta đi vào mặc lấy “Tình yêu mạnh hơn sự chết” này.
3. “Dứt khoát mang tính truyền giáo” :
Nếu chúng ta chưa xác tín, còn chần chừ, thì hãy nghe ĐTC tiếp tục ở số 15 :
“Truyền giáo là nhiệm vụ hàng đầu của Giáo Hội. Chúng ta không thể thụ động và thản nhiên ngồi đợi trong các nhà thờ của chúng ta ; chúng ta cần chuyển đổi ‘từ một nền mục vụ thuần túy bảo tồn’ sang một mục vụ ‘dứt khoát mang tính truyền giáo’. Và nhiệm vụ này sẽ tiếp tục là nguồn vui vô biên cho Hội Thánh, vì ‘một người tội lỗi hoán cải sẽ làm cho trên trời vui mừng hơn là 99 người công chính không cần hoán cải’ [Lc 15,7]”.
4. Khởi nguồn : Mệnh lệnh truyền giáo
Tại sao Đức thánh cha dứt khoát và nói mạnh như vậy ? Thưa bởi vì chính Đức Kitô phục sinh đã ban hành mệnh lệnh truyền giáo một cách rất rõ ràng ngay từ ban đầu trong Phúc Âm (số 19) :
“Anh em hãy đi khắp muôn dân thâu nạp môn đồ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).
5. Một Hội Thánh truyền giáo là một Hội Thánh “mở cửa” :
Đấy ! Đức Kitô phục sinh muốn một Hội Thánh “đi ra”, chứ không phải ngồi đó chờ người ta đến. Một Hội Thánh “đi ra” là một Hội Thánh “mở cửa”. Cửa nhà thờ phải luôn mở, để nếu có ai được Chúa Thánh Thần thúc đẩy đến đó tìm Thiên Chúa thì không thấy cửa đóng đã vậy, mà các cửa khác của Giáo Hội, thí dụ các cửa bí tích cũng không được đóng bất cứ vì lý do gì (số 47). Trong cái nhìn của ĐTC, chúng ta mạnh dạn gợi ý về việc mở các cửa bí tích :
– Rửa tội : Trường hợp con ngoại hôn (mẹ không có chồng), có nhận cho rửa tội không ?
Xin vắn tắt thưa thế này : (Nên tận dụng cơ hội mà nhắc nhở mẹ của em, hay cả cha mẹ của em và tạo điều kiện hợp thức hóa hôn phối. Nếu không hợp thức hóa được, cũng phải lo liệu rửa tội cho em).
– Giải tội : Các linh mục có được giải tội phá thai và tha vạ phá thai không ?
(Thưa trên nguyên tắc, các linh mục giải tội có thể tha vạ phá thai, nhưng phải buộc hối nhân trong vòng một tháng thượng cầu lên bề trên có thẩm quyền. Riêng giáo phận Đà Lạt, Đức Cha giáo phận đã ban năng quyền tha vạ này cho các cha giải tội, mà không phải thượng cầu theo luật chung, miễn là ra việc đền tội thích đáng và đã có những lời khuyên thích hợp).
– Xức dầu và an táng : Người tự tử có thể được an táng theo nghi thức Giáo Hội không ?
(Thưa : Người tự tử không bị cấm an táng theo nghi thức Giáo Hội, trừ khi lúc còn sống họ đã minh nhiên bày tỏ ý định không muốn được an táng như vậy.
Tại sao trước đây luật Giáo Hội cấm, bây giờ lại minh nhiên bãi bỏ luật cấm này ? Thưa vì đã có thay đổi quan trọng trong quan niệm về người tự tử. Sách GLCHTCG đón nhận những khám phá của các khoa tâm lý, xã hội, nhân văn hiện đại nói rằng : Những rối loạn trầm trọng, lo âu hay quá sợ hãi trước một thử thách, đau khổ hay cực hình, có thể làm giảm thiểu trách nhiệm của người tự tử. Và do đó Hội Thánh cầu nguyện cho họ [SGLHTCG, số 2282-2283] ).
– Thánh Thể : Vợ chồng ly thân, ly dị tòa đời có được rước lễ không ?
(Ngày xưa, hễ ly thân là đương nhiên không được xưng tội rước lễ. Luật mới bây giờ không ngăn cấm những người ly thân lãnh nhận các bí tích, đặc biệt bên bị phân ly, tức bên vô tội, vì tình trạng của họ vẫn còn công bố giá trị bất khả phân ly của hôn nhân –
Trường hợp đã ra Tòa đời ly dị, cần phân biệt người đơn thuần chỉ là nạn nhân với người là nguyên nhân gây ra cuộc ly dị :
Nếu là nạn nhân, “việc lãnh nhận các bí tích không bị ngăn trở gì, nếu việc ly dị dân sự [cả khi phải đứng đơn] là cách thức duy nhất khả dĩ bảo đảm những quyền lợi chính đáng, như sự an toàn về tinh thần hay thể xác cho bản thân, việc chăm sóc con cái, quyền thừa kế v.v… ;
Trường hợp là nguyên nhân : khi họ ý thức mình đã có lỗi vì là nguyên nhân, và mình vẫn bị ràng buộc bởi dây hôn phối và hiện nay sống ly thân vì có lý do chính đáng, thí dụ do đã quá ác cảm với nhau, thì họ có thể xưng tội rước lễ. –
Chỉ trường hợp ly dị và tái hôn : họ không thể được chấp nhận cho rước lễ, do tình trạng của họ, một cách khách quan, vừa đi ngược với đòi hỏi hoán cải của bí tích sám hối, vừa trái ngược với tính bất khả phân ly của dây hôn phối đã thành sự. Tuy nhiên, cấm rước lễ không có nghĩa là cấm dự lễ hay tham gia vào đời sống Giáo Hội.
(Dù sao, cần lưu ý : Thánh Thể không phải là phần thưởng cho người hoàn hảo, nhưng là phương thuốc và lương thực cho người yếu đuối. Thế mà nhiều khi chúng ta xử sự như người ban phát ân sủng, hơn là tạo điều kiện cho ân sủng. Hội Thánh phải là “nhà Cha”, có chỗ cho tất cả mọi người, với tất cả những vấn đề của họ).
6. Loan báo điều gì ?
– Chúng ta đã đi đến điểm này là : Hội Thánh phải đi ra, phải mở cửa. Thế nhưng, đâu là động lực sâu xa nhất của việc Giáo Hội đi ra, Giáo Hội mở cửa ? (số 21)
Thưa để loan báo Tin Mừng.
– Nhưng loan báo gì ?
Thì loan báo Tin Mừng.
– Hỏi Tin Mừng gì ? (số 36)
Thưa, Tin Mừng rằng : Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Người biết đích danh, chăm sóc, và tìm kiếm từng người chúng ta. Tình yêu thương ấy Người đã bày tỏ một cách sung mãn, đến cùng nơi Đức Giêsu Kitô chịu chết và phục sinh.
– Đây là lúc chúng ta hãy nhìn lên Thập Giá, biểu tượng của Đức Giêsu Kitô chết và sống lại, nơi rực chiếu mầu nhiệm Tình yêu chiến thắng sự chết, như lời của chính Đức Giêsu tuyên bố : “Khi nào Ta bị giương lên cao khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”.
III. HỘI THÁNH THỰC HIỆN VIỆC TRUYỀN GIÁO, YÊU THƯƠNG PHỤC VỤ, KHÔNG DỬNG DƯNG
1. Hội Thánh với sứ mạng yêu thương phục vụ :
a. Ta có thể tóm lại (x. số 39) :
– Thiên Chúa đã không dửng dưng, trái lại, yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình.
– Người Con ấy đã tự nguyện thể hiện Tình Yêu ấy suốt cuộc đời mình, nhất là trên thập giá.
– Giáo Hội có nhiệm vụ trao tặng tình thương ấy cho mọi người bằng cách loan báo và làm chứng.
b. Phải đã kinh nghiệm trước :
– Nhưng làm sao loan báo và làm chứng tá cho Tình yêu thương của Thiên Chúa nếu trước đó chúng ta đã không có cảm nghiệm ?
– Phụng vụ thứ năm tuần thánh nhắc điều đó rất rõ qua nghi thức rửa chân. Phêrô không muốn Chúa rửa chân cho ông (thì phải thôi, làm sao Thầy lại rửa chân trò !!). Nhưng rồi ông hiểu ra Chúa Giêsu không chỉ muốn làm gương để chúng ta biết rửa chân phục vụ nhau, mà vấn đề còn là “dự phần” với Ngài (Ga 13,8). Đức Giêsu là nguyên ủy, là người tiên phong, người đi bước trước rửa chân phục vụ chúng ta. Bản thân Ngài là Tình yêu phục vụ. Ngài có rửa chân phục vụ chúng ta trước, thì chúng ta mới được “dự phần” với Ngài vào công việc rửa chân phục vụ này.
– Trong suốt mùa chay và trong mọi ngày, chúng ta được Chúa Giêsu phục vụ khi chúng ta lắng nghe Lời Chúa, khi chúng ta lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, trong đó ăn Mình Thánh Chúa chúng ta lại được trở nên chính Thân Mình Ngài. Không có chỗ cho sự dửng dưng.
c. Chúng ta lập lại :
– Ăn Mình Thánh Chúa, chúng ta trở nên chính Thân Mình Chúa. Không thể khác được, không có chỗ cho sự dửng dưng.
– Ăn Chúa, ta trở nên Thân Mình Chúa. Tất cả cùng ăn Chúa, cùng chia sẻ một tấm bánh, thì tất cả chúng ta trở nên và cùng thuộc về Thân Mình Chúa. Chúng ta không thể dửng dưng đối với nhau. Thánh Phaolô viết trong thư I Corinthô : “Vì thế một chi thể đau, tất cả các chi thể cùng đau chung ; và một chi thể được vinh dự, tất cả các chi thể khác cùng chung niềm vinh dự” (1 C 12,26).
2. Hội Thánh thực hiện sứ mạng truyền giáo, yêu thương phục vụ :
Đến đây, chúng ta thấy được cốt lõi của mầu nhiệm Giáo Hội :
a. Giáo Hội toàn cầu :
– Giáo Hội là cộng đồng “hiệp thông các thánh” và “hiệp thông các sự thánh”.
– Hiệp thông các sự thánh là gì ? = là những sự thánh, ân sủng, các bí tích v.v…, tất cả là của chung, không ai sở hữu riêng cho mình. Tất cả đều có, nhưng có là để cho tất cả. Tất cả cùng hưởng dùng. – Và vì cùng hiệp thông liên kết trong Chúa, chúng ta có thể làm được cái gì đó cho cả những người ở “rất xa” mà tự sức riêng chúng ta không bao giờ có thể đạt tới họ.
b. Giáo Hội địa phương, Giáo xứ :
Chúng ta áp dụng vào phạm vi giáo phận, giáo xứ, thí dụ :
– Tại giáo sở Don Bosco này, trong cộng đoàn quý cha quý thầy Don Bosco Đà Lạt này, trong buổi tụ họp giới trẻ này, chúng ta có làm cho mọi người cảm nghiệm được họ là thành phần của một Thân Mình duy nhất không ? Mỗi người chúng ta có cố gắng cảm nghiệm và sống kinh nghiệm “thuộc về” này không ? Chúng ta thuộc về một Thân Mình.
– Thân mình này, cộng đoàn này có biết chăm sóc những phần tử yếu đuối nhất, nghèo khổ và bé nhỏ nhất không ? Chúng ta có quên không để ý người nghèo Lazarô đang ngồi ngay trước cánh cửa khép kín nhà mình hay không ?
– Lại một mơ ước của ĐTC Phanxicô : “Tôi mơ ước các giáo xứ và các cộng đoàn Kitô chúng ta hãy trở thành những hải đảo của lòng thương xót giữa lòng biển cả dửng dưng” (Sứ điệp mùa chay, số 2 cuối).
c. Cá nhân người tín hữu :
– Còn với tính cách cá nhân từng tín hữu, chúng ta bị cám dỗ dửng dưng trước những tin tức kinh hoàng và bể khổ nhân loại, vì chúng ta biết làm gì, bất lực ?!
– ĐTC chỉ bảo : Chúng ta có thể liên đới hiệp thông với toàn thể Giáo Hội trần thế cũng như trên trời để cầu nguyện. Đừng bao giờ coi nhẹ sức mạnh cầu nguyện của bao người cùng kết hợp với nhau → “Sáng kiến 24 giờ cho Chúa”.
– Chúng ta có thể làm việc bác ái cho những người ở gần cũng như ở xa. Mùa chay là dịp để chứng tỏ sự quan tâm đến tha nhân qua những cử chỉ nhỏ bé, nhưng cụ thể, thiết thực.
– Mỗi người chúng ta có thể chia sẻ những kinh nghiệm hay những sáng kiến thực hiện việc bác ái, phục vụ cụ thể, những nỗ lực ngược dòng dửng dưng (số 76).
– Phần tôi, trước hết xin kể cho các bạn gương của Đức Cha Cassaigne.
IV. NHỮNG TẤM GƯƠNG CỤ THỂ LBTM
1. Đức Cha Jean Casssaigne(x. Kỷ yếu Giáo phận Đà Lạt, tr. 25.29) :
– Năm 1927, Đức Cha Dumortier thiết lập giáo xứ thứ 2 ở vùng cao nguyên Lâm Đồng là giáo xứ Djiring, và đặt cha Cassaigne làm cha xứ tiên khởi với nhiệm vụ đặc biệt truyền giáo cho người bản địa, tức anh chị em dân tộc (Giáo xứ thứ nhất là giáo xứ Chánh Tòa Đà Lạt, do Đức Cha Quinton, vào khoảng tháng 4.1920).
– Về sống ở Djiring, cha Cassaigne lúc đó thấy có nhiều người dân tộc bị cùi và tình trạng của họ rất bi đát. Khi bệnh phát nặng và không còn làm gì được, họ lại bị thân quyến ruồng rẫy, xua đuổi ra rừng vằng và chết dần chết mòn vì đói và lạnh, có khi bị cọp ăn thịt. Cảm kích trước số phận hẩm hiu của họ, cha Cassaigne phát phần ăn cho những ai tìm đến với ngài.
– Năm sau, đi thăm một làng dân tộc ở xa về, một mình băng giữa đường rừng vắng vẻ, ngài bỗng gặp một đoàn người cùi kêu gào thảm thiết, rồi sụp lạy và van xin ngài cứu giúp. Ngài lập tức nhận ra việc mình phải làm. Chỉ vài ngày sau, ngài lập làng cùi để đưa họ về và chăm sóc, lúc đầu ở một khoảng đất trống dưới chân đồi cách nhà xứ Djiring không đầy một cây số. Con số lúc đầu là 21 người. 24 năm sau (5.1.1952) làng được dời lên đồi hiện nay, với nhà thờ và tháp chuông do kỹ sư người Pháp vẽ kiểu.
– Rồi sao nữa ? 14 năm sau, ngài về Sàigòn làm giám mục. Và lại 14 năm sau nữa, ngài phát hiện chính mình cũng bị bệnh cùi. Ngài xin hưu và về sống tại làng cùi với con cái mình cho đến khi qua đời ngày 31.10.1973 và được chôn cất cạnh nhà thờ, gần tháp chuông, giữa đoàn con đáng thương của mình, đúng theo nguyện vọng của ngài lúc còn sống.
– Chúng ta thấy : tấm lòng của một linh mục, một giám mục đã bị cuốn hút đi theo những đau đớn và đau khổ của những con người rất xa lạ, để rồi không những đồng hành, mà còn trở nên một người anh em đồng phận, đồng khổ và đồng an nghỉ giữa họ, như một người cùi giữa những người cùi.
Phải chăng ngài không phản ảnh Tình yêu thương của Thiên Chúa thể hiện cách rạng ngời nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trên thập giá đây ?! Một Tình yêu dám quên mình, hy sinh cả mạng sống, không chút dửng dưng trước những đau khổ của tha nhân, ngay cả tha nhân đó là chính những kẻ đóng đinh mình.
– Đó là tấm gương của một con người. Đà Lạt chúng ta còn có những cơ sở thể hiện tình thương, không dửng dưng.
2. Những cơ sở bác ái :
Người ta nói đến (x. Kỷ yếu Đà Lạt, tr.31-37) :
– Phòng khám bệnh từ thiện Vạn Thành
– Trạm xá Phú Sơn
– Nhà dưỡng lão Lộc Phát
– Trường khiếm thính Lộc Phát
– Mái ấm khiếm thị Đà Lạt ở…
– Nhà khuyết tật Lộc Phát
– Nhà nuôi trẻ mồ côi Tà Nung
– Nhà nuôi trẻ suy dinh dưỡng Tà Nung
– Nhà nội trú Phú Sơn và Đinh Văn (Lâm Hà)
– Nhà nội trú Hoa rừng
– Trung tâm dạy nghề Tân Tiến, ở Tân Hà, do các cha các thầy SDB điều hành
– Lớp học tình thương do hai Dòng SDB và Nữ Tử Bác ái tổ chức cho trẻ em nghèo Đà Lạt
– Chương trình khuyến học
– Tủ thuốc gia đình
– Chương trình sửa nhà cho người nghèo
– Chương trình chén cơm người già neo đơn
– Quỹ tín dụng giúp người nghèo
– Nồi cháo tình thương
– Nhóm Cải Sanh
– Nhóm Camilo Lộc phát
Chúng ta thấy : Tiền, cơm, cháo, thuốc, học hành, người già, trẻ em, người khuyết tật, khiếm thị, khiếm thính. Tất cả đều có thể khiến người môn đệ của Đức Kitô quan tâm và lăn xả…
3. Tiếp theo, xin kể truyện truyền giáo phục vụ của một giáo xứ miền Tây
Giáo xứ Thới Thạnh thuộc giáo phận Cần Thơ có sáng kiến tổ chức “bữa ăn sáng cho người bán vé số” : Tiền lấy ở Quỹ Bác ái thu được từ lễ kính lòng Chúa thương xót… Một tuần ba buổi, cả giáo xứ tham gia tổ chức “bữa ăn sáng cho những người bán vé số : thứ ba Nhóm Sinh viên phụ trách ; thứ năm giao cho Nhóm Giáo lý viên và Huynh trưởng TNTT ; thứ bảy giao cho Hội Con Đức Mẹ của các Dì Nữ Tử Bác ái Vinh Sơn, hôm phở gà, hôm phở bò v.v…
Hầu hết người đến ăn sáng là bên lương, hiếm hoi mới có một người đạo Chúa, có hôm có một chị tự giới thiệu là Tin Lành. Chị cho biết đã ba lần đến ăn ở “nhà thờ của ông Cố”, và thấy vui vì đã phân biệt được “ông cố bên đây” với ông mục sư bên chị ở điểm nào rồi.
Cha Sở cho biết thêm : người ta lui tới Nhà Thờ ăn sáng nhiều lần, thấy ông cha bà phước tử tế, thấy mấy đứa nhỏ lễ phép dễ thương, trong bụng họ ưng lắm, bớt dần mặc cảm là đi ăn đồ… bố thí phát chẩn từ thiện. Nhiều người ăn xong, trước khi đi bán còn ghé sang đài Đức Mẹ lâm râm cầu nguyện…
Tình thương gói ghém một lời loan báo Tin Mừng thật nhẹ nhàng, “mưa lâu thấm đất”…
Cuối cùng xin kể cho các bạn một vụ xử án “còn hơn cả sự công minh”.
4. Một vụ xử án còn hơn cả sự công minh
Trong phòng xử án, chủ tọa trầm ngâm suy nghĩ trước những cáo buộc của các công tố viên đối với một cụ bà vì tội ăn cắp sắn. Bà bị buộc phải bồi thường 1 triệu Rupiah. Bà bào chữa về lý do ăn cắp là vì gia đình bà rất nghèo, đứa con trai bị bệnh, đứa cháu thì suy dinh dưỡng vì đói. Nhưng ông chủ quản lý khu vườn trồng sắn nói bà ta cần phải bị xử tội nghiêm minh như những người khác.
Thẩm phán thở dài và nói : “Thưa bà, bà thật đáng thương…”. Ông ngưng giây lát, nhìn bà cụ đói khổ, rồi tiếp : “Nhưng pháp luật là pháp luật, tôi là người đại diện của Pháp luật nên phải xử nghiêm minh. Nay tôi tuyên phạt bà bồi thường 1 triệu Rupiah cho chủ vườn sắn. Nếu bà không có tiền bồi thường, bà buộc phải ngồi tù 2 năm rưỡi.”
Bà cụ run run, rướm nước mắt, bà đi tù rồi thì con cháu ở nhà ai chăm lo.
Rồi ông thẩm phán lại nói tiếp : “Nhưng tôi cũng là người đại diện của công lý. Tôi tuyên bố phạt tất cả những công dân nào có mặt trong phiên toàn này 50.000 Rupiah vì sống trong một thành phố văn minh, giàu có này mà lại để cho một cụ bà ăn cắp vì cháu mình bị đói và bệnh tật”. Nói xong, ông bỏ mũ của mình ra và đưa cho cô thư ký : “Cô hãy đưa mũ này truyền đi khắp phòng, và tiền thu được hãy đưa cho bị cáo”.
Cuối cùng, bà cụ đã nhận được 3,5 triệu Rupiah tiền quyên góp, trong đó có cả 50.000 Rupiah từ các công tố viên buộc tội bà, một số nhà hảo tâm khác còn trả giúp 1 triệu Rupiah mà bà phải bồi thường, bà lão run run vì vui sướng. Thẩm phán gõ búa kết thúc phiên toà trong hạnh phúc của tất cả mọi người.
Quả là một phiên Tòa còn hơn cả sự công minh, và thật cảm động. Nó cho thấy tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm với cuộc sống xung quanh chúng ta. Vị thẩm phán đã không chỉ dùng luật pháp, mà còn dùng cả trái tim để phán xét.
Một phiên tòa đời tại Inđônêsia còn đánh động được con tim con người như thế. Các Kitô hữu chúng ta đã bị đánh động bởi Tình Thương của Thiên Chúa thể hiện cách sung mãn nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trên thập giá thì sao ? Không là một thách đố nhức nhối và hết sức cấp thiết sao ?! (x. số 15).
KẾT
Sau khi đọc Tông Huấn NVTM và sứ điệp Mùa Chay của ĐTC Phanxicô, thôi thúc chúng ta “loan báo Tin Mừng ngập tràn niềm vui”, đi “ngược dòng dửng dưng” của con người thời đại, rồi nhắc đến những gương sáng “không dửng dưng”, biết cảm kích trước những đau khổ, nhu cầu, thiếu thốn của người khác và thể hiện tình thương với họ, chúng ta biết kết thúc thế nào cho tốt nhất, nếu không là đặt tay trên ngực, chân chuẩn bị bước, mắt nhìn lên Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, và miệng đọc lời van xin tha thiết : “Lạy Chúa Giêsu, xin uốn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa”.
AMEN.
Lm Đaminh Nguyễn Văn Mạnh









