“Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”.
(Mc 10, 22)

Bài Đọc I (Năm I): Hc 42, 15-26 (Hl 15-25)

“Các công trình của Chúa đầy ánh vinh quang của Người”.

Trích sách Huấn Ca.

Tôi sẽ ghi nhớ công trình của Chúa, và sẽ thuật lại những điều tôi đã thấy. Nhờ lời Chúa mà Chúa đã thực hiện những kỳ công. Mặt trời chiếu soi vạn vật, và công trình của Chúa đầy ánh vinh quang của Người.

Nào Chúa đã không ban cho các thánh được cao rao các việc kỳ diệu của Người, những việc mà Chúa toàn năng đã củng cố trong vinh quang của Người sao?

Người dò xét vực thẳm và lòng con người, thấu biết những mưu chước của họ, vì Chúa thấu suốt mọi sự và theo dõi những dấu thời đại, tuyên bố những gì thuộc về dĩ vãng và hậu lai, tỏ bày những dấu vết các việc ẩn kín. Không một tư tưởng nào mà Người không biết, không một lời nào có thể giấu được Người.

Người sắp đặt những kỳ công sự khôn ngoan của Người. Người có trước muôn đời và tồn tại muôn thuở, không thêm không bớt, không cần đến vị cố vấn nào. Mọi công trình của Người thực đáng quý chuộng, và như những ánh lửa người ta có thể ngắm nhìn. Mọi vật ấy đều sống động và tồn tại muôn đời, và vâng phục Người trong mọi hoàn cảnh. Tất cả đều có từng đôi và cái này đối diện với cái nọ, và Người không làm chi khuyết điểm. Vật này làm nổi bật vẻ đẹp cho vật kia. Và ai có thể nhàm chán nhìn xem vinh quang của Người?

Đáp Ca: Tv 32, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9

Đáp: Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành (c. 6a).

Xướng: Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. Hãy ca mừng Người bài ca mới, hát mừng Người với tiếng râm ran.

Xướng: Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng của Chúa. 

Xướng: Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng. 

Xướng: Toàn thể địa cầu hãy tôn sợ Chúa, mọi người sống trong vũ trụ hãy kính nể Người. Vì chính Người phán dạy mà chúng được tạo thành, chính Người ra lệnh mà chúng trở nên thực hữu. 

Bài Ðọc I (Năm II): 1 Pr 2, 2-5. 9-12

“Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện để rao giảng Ðấng đã gọi anh em”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, như trẻ sơ sinh, anh em hãy thèm khát sữa thiêng liêng trong sạch, để nhờ đó, anh em được lớn lên trong ơn cứu độ, nếu anh em nếm biết Chúa ngọt ngào dường nào.

Anh em hãy tiến đến viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng được Chúa tuyển chọn và tôn vinh. Anh em như những viên đá sống động, hãy để Chúa xây dựng anh em nên toà nhà thiêng liêng, nên chức vụ linh mục thánh, để hiến dâng những của lễ thiêng liêng xứng đáng được Thiên Chúa chấp nhận nhờ Ðức Giêsu Kitô.

Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Ðấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người. Anh em xưa kia không phải là dân của Thiên Chúa, nhưng nay là dân của Người; xưa kia anh em không được xót thương, nhưng nay được thương xót.

Anh em thân mến, tôi khuyên anh em: như những ngoại kiều, và khách trọ, hãy xa lánh những đam mê xác thịt hằng chống lại linh hồn. Anh em hãy sống lương thiện giữa dân ngoại, để dù người ta vu khống anh em như những người gian phi, nhưng khi thấy được việc lành của anh em, họ phải ngợi khen Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm.

Ðáp Ca: Tv 99, 2. 3. 4. 5

Ðáp: Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá (c. 2c).

Xướng: Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá.

Xướng: Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của Người.

Xướng: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi, hãy vào trụ quan nhà Người với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui, hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Người.

Xướng: Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn muôn thế hệ. 

Alleluia: Tv 144, 13cd

Alleluia, alleluia! – Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. – Alleluia.

Tin Mừng: Mc 10, 46-52

“Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Máccô.

Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ, và một đám đông, thì có con ông Timê tên là Bartimê, một người mù ăn xin đang ngồi ở vệ đường. Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi”. Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua Ðavít , xin thương xót tôi”.

Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”. Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh”? Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. Chúa Giêsu đáp: “Ðược, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

SUY NIỆM

A/ 5 Phút Lời Chúa

XIN CHO TÔI ĐƯỢC THẤY

Chúa Giêsu hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Xin cho tôi được thấy.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh.” (Mc 10,51-52)

Suy niệm: Có bịt mắt lại để sống trong cảnh mù loà thử một ngày, bạn mới hiểu nỗi khổ tâm của người bị mất ánh sáng, và mới hiểu nổi nỗi khao khát cháy bỏng của anh mù trong Phúc Âm thánh Máccô: ước mong được thấy. Anh cất tiếng kêu gào át cả tiếng ồn của đám đông: “Lạy ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin thương xót tôi.” Và khi nghe Chúa gọi, người hành khất mù loà vứt bỏ mọi sự, kể cả áo choàng là vật bất khả ly thân của anh từ bấy lâu nay, để chạy bổ về phía Chúa. Chúa hỏi anh muốn gì, anh đáp không do dự: “Xin cho tôi được sáng mắt.”
Quả thật lòng tin của anh đã cứu chữa anh. Không những anh được sáng cặp mắt thể lý mà còn được sáng cả cặp mắt linh hồn nữa, anh đã trở thành môn đệ của Người: “Anh được thấy và đi theo Người.”

Mời Bạn: Bạn có cảm nhận được nỗi bi đát khốn cùng của mình mỗi khi lâm một căn bệnh mù loà thiêng liêng chưa và bạn đã kêu cầu Ngài cứu chữa mình với tất cả nỗi lòng khao khát chưa? Hãy lắng nghe tiếng gọi của Chúa và mau mau đáp lời.

Chia sẻ: Có hay không sự mù loà thiêng liêng nơi một số người thời đại ngày nay? Phải làm gì để “xoá mù” thiêng liêng cho mình và cho người khác?
Sống Lời Chúa: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước” (Tv 118,105). Bạn chuyên cần đọc và suy niệm Lời Chúa hằng ngày để được soi sáng “xoá mù” trong đời sống thiêng liêng.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin mở cho con đôi mắt linh hồn để con biết Chúa, biết con, để con biết nhìn mình và nhìn anh em bằng con mắt của Chúa.

B/ Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng

“Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót con”.

Lời van xin này không chỉ là lời van xin riêng rẽ của một người hành khất có tên là Bartimê ngồi ăn xin bên vệ đường thành Giêricô. Nhưng có thể nói đây là lời van xin tiêu biểu cho cả một nhân loại đang lầm than trong cảnh mù loà tăm tối của tội lỗi, đang kêu gào xin được Thiên Chúa thương xót.

Hôm đó Chúa Giêsu đang dẫn đầu cả một đoàn người tiến về Giêrusalem. Họ theo Chúa với niềm phấn khởi và hy vọng, vì họ tin rằng chắc chắn lần này Chúa Giêsu sẽ về giải phóng Giêrusalem và sẽ làm vua, đem lại độc lập và tự do cho đất nước. Như vậy là cả cái đoàn người đang theo Chúa này, tất cả họ đều sáng mắt, nhưng lại chẳng ai nhận ra Chúa Giêsu là Đấng nào. Trong khi đó thì một người mù không trông thấy gì, nhưng đôi mắt tinh thần của anh lại sáng suốt, khiến anh nhìn thấy con người Đức Giêsu và nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế khi gọi Ngài là Con Vua Đavít. “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót con”.

Người ta càng cản ngăn anh thì anh càng kêu to. Và tiếng kêu của anh đã thấu đến tai Chúa, Ngài dừng lại, cho gọi anh tới. Và khi tiếng gọi của Chúa vừa tới tai anh, đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của con người lầm than này. Vì vừa nghe tiếng Chúa gọi, anh vội vất áo choàng, nhảy chồm dậy mà đến cùng Chúa Giêsu. Anh cởi tung áo choàng, vất sang một bên, một cử chỉ muốn cởi tung và vất bỏ cái số phận đen tối, chết chóc, vẫn bao trùm lên anh từ bấy lâu nay. Như vậy, khi Lời Chúa vừa tới tai anh thì dường như phép lạ đã xảy ra rồi. Lập tức anh thấy được và theo Chúa Giêsu lên đường.

Theo chúa Giêsu lên đường. Đó chính là điểm chính yếu của toàn bộ câu chuyện. Chúa chữa anh ta khỏi mù, không phải để anh ta thấy đường mà tiếp tục đi ăn xin, tiếp tục số kiếp lầm than. Nhưng chữa ta khỏi mù để thấy đường mà theo Chúa.

Tất cả chúng ta cũng đã từng sống trong cảnh mù loà tăm tối của tội lỗi. Nhưng điều quan trọng không phải là vui mừng vì được cứu rỗi, nhưng là hãy bắt chước anh mù Bartimê: Hãy chỗi dậy mà nhập vào đoàn người đi theo Chúa.

C/ Lm. Phaolô Phạm Công Phương

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật một anh mù tên là Bartimê, vì tin vào Chúa cứu thế mà anh được sáng mắt, còn đám đông dân chúng chẳng nhận ra Chúa. Vậy thì ai là người mù ? Anh Bartimê hay là đám đông dân chúng?

Người ta thường mù quáng với khuyết điểm của mình:

Tại sao vậy ? Vì thường người ta đều mang hai túi: một túi ở trước ngực và một túi sau lưng, và cả hai đều nhét đầy lỗi lầm. Tuy nhiên, túi trước đựng lỗi lầm của người, còn túi sau đựng lỗi của mình. Vì thế chúng ta thường mù quáng với tội lỗi khiếm khuyết của mình, song lại sáng mắt với lầm lỗi của người khác.

Anh Bartimê bị mù thì ai cũng biết và biết anh phải hổ nhục như thế nào khi phải ngồi ăn xin bên vệ đường. Còn Đức Giêsu người Nagiarét đang rao giảng Tin Mừng kia là ai thì chẳng mấy người nhận ra. Duy chỉ có anh mù này đã nhận ra Ngài là đấng Kitô cứu thế, vì thế anh đã không ngớt lên tiếng: “Hỡi ông Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót tôi !”. Anh mù đã gọi Đức Giêsu bằng danh hiệu là “Con vua Đavít”, nghĩa là anh muốn tuyên xưng Ngài là đấng Kitô mà Thiên Chúa đã hứa ban cho dân tộc Do Thái qua dòng dõi vua Đavít. Vua Đavít đã yên nghỉ cả ngàn năm rồi nhưng mãi đến bây giờ dòng dõi ấy mới sản sinh ra đấng Kitô để cứu nhân độ thế. Đám đông không tin nhận nên bảo anh câm miệng lại; còn Chúa Giêsu đã nhìn thấy đức tin của anh nên đã lên tiếng chữa lành: “Đức tin của anh đã chữa anh”. Như thế đấy, nhiều khi trong cuộc sống, chúng ta cũng không đủ can đảm như anh mù kia để nói lên xác tín của riêng mình nên đã hùa theo dư luận đám đông. Đó chẳng phải là một thứ mù loà hay sao ?

Mù mắt mà sáng hồn thì vẫn hạnh phúc hơn:

Mù loà thể xác thì ai cũng biết, nhưng mù loà tâm hồn thì không dễ nhận ra. Ngày nay người ta phát minh ra đủ mọi dụng cụ để cải thiện tầm nhìn thị giác của con người. Nào là kính cận thị, viễn thị và loạn thị; nhìn xa thì có kính viễn vọng, nhìn gần thì có kính hiển vi và nhìn tối thì có kính hồng ngoại; khám ngoài không thấy thì nội soi hoặc siêu âm. Chưa bao giờ mà con người nhìn thấy nhiều hơn và xa hơn như bây giờ. Thế mà thế giới vẫn đầy dãy những con người đau khổ vì người khác không nhìn ra hay nhìn sai, thậm chí còn khinh bỉ hoặc bóp méo sự thật. Nhiều người vẫn chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại sau lưng. Nhiều người chỉ biết sống theo lối thực dụng, bất cần tương lai và bất kể đời sau.

Bài Tin Mừng hôm nay có thể dạy chúng ta đôi điều:

-Muốn được sáng hồn như anh mù Bartimê kia, chúng ta phải cầu xin Chúa Kitô như anh ta đã khẩn nài Chúa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy !”. Chúng ta cũng phải bắt chước anh mù Bartimê là vứt bỏ áo choàng lại để chạy đến với Chúa. “Áo choàng” đây là tất cả những gì chúng ta cậy dựa, công đức cũng như tội lỗi, bởi vì trước mắt Chúa, chúng ta thật nghèo nàn. Chúng ta cố mặc cho mình những bộ áo sang trọng để mang lấy dáng vẻ khoẻ mạnh nào đó để cho người ta thấy. Tuy nhiên, bệnh nhân đến trước thầy thuốc thì phải cởi bỏ những bộ quần áo đó đi. Cũng thế, Thiên Chúa không thể đổ đầy hồng ân nếu chúng ta cứ khư khư chất đầy những cái xấu trong người.

-Muốn sáng hồn cần phải tập có cái nhìn bao dung của Chúa. Tập nhìn ra và chỉ dừng lại ở những cái tốt cái hay của người khác, và hãy nhìn kỹ những khiếm khuyết tội lỗi của mình để mà sửa đổi. Xét mình chứ đừng xét người thì chúng ta sẽ không bị Thiên Chúa phán xét. Không ai thấy được cái mặt và cái lưng của mình ra sao, nên tốt hơn hết hãy chấp nhận cho người ‘vạch mặt sửa lưng’ thì biết đâu mình sẽ đẹp từ trong ra ngoài, cả trước lẫn sau.

Xin Chúa mở mắt và mở lòng mỗi người chúng ta như lời thánh Augustinô: “Xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con !”.

D/ Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist

XIN CHO CON THẤY ĐƯỢC

Để có thể hiểu sâu sắc bài Tin mừng hôm nay, chúng ta nên đặt vào bối cảnh của nó. Thánh Máccô đã viết đoạn Tin mừng này, sau khi Đức Giêsu loan báo cuộc thương khó của Người lần thứ ba. Người đang dẫn đầu các môn đệ tiến về Giêrusalem, nhưng dường như các môn đệ vẫn chưa hiểu được con đường cứu độ của Chúa, các ông vẫn tính toán theo kiểu thế gian: xin cho được ngồi bên tả bên hữu. Trong bối cảnh đó thánh Máccô kể câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành anh mù Batimê trong thành Giêrikhô. Ngang qua đó, Thánh Máccô muốn nói với các môn đệ của Chúa khi xưa, cũng như với chúng ta những môn đệ hôm nay rằng: như anh mù đã tha thiết nài xin Chúa mở mắt cho mình, thì các môn đệ cũng cần được mở mắt đức tin để có thể nhìn thấy, nhận ra và hiểu được rằng: con đường cứu độ là con đường thập giá – chết – phục sinh. Đó là con đường Chúa đã đi và hết thảy những ai muốn làm môn đệ của Chúa cũng phải trải qua.

Thực sự con đường thập giá là điềm báo trước tương lai của người môn đệ, bởi vì khi nhận được Chúa Thánh Thần các môn đệ đã dám hân hoan chịu đau khổ, hiến dâng mạng sống chứng tỏ tình yêu trung tín của mình nơi Đức Kitô. Ngày nay, cũng có biết bao kitô hữu can đảm tuyên xưng niềm tin vào Chúa, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần trong những hoàn cảnh khó khăn ngặt nghèo, đau khổ, bách hại. Chẳng hạn các kitô hữu tại Iran, Trung quốc, và ngay tại nhiều nơi trên đất nước chúng ta.

Diễn tiến phép lạ Chúa Giêsu chữa lành anh mù Batimê, giúp chúng ta hình dung được diễn tiến việc tiếp nhận Tin mừng, trải qua bốn giai đoạn:

Thứ nhất: Nghe và làm theo tiếng lương tâm thúc đẩy, vượt lên trên những phản kháng của môi trường, văn hóa, xã hội của mình. Giống như anh mù khi nghe có Chúa đi ngang qua, anh đã kêu van, mặc dù anh bị người xung quanh phản đối, la rầy, đe dọa; anh lại càng lớn tiếng kêu xin thống thiết hơn.

Thứa hai: Mau mắn lao về hướng Chúa gọi, và vâng theo lời Ngài. Tựa như anh mù khi biết Chúa đang gọi mình, anh liền nhảy chồm lên mà đến với Chúa; “nhảy chồm lên” biểu lộ một niềm vui sướng không còn tiếc nuối cái chỗ ngồi ăn xin, anh quyết tâm chạy đến với nguồn sáng, nguồn  tình yêu và sự sống viên mãn.

Thứ ba: Người muốn làm môn đệ Chúa cần tâm tình hiến thân trọn vẹn cho Chúa qua hành vi sám hối, như anh mù: đoạn tuyệt với con người cũ – con người khốn khổ ăn xin, để trở nên con người mới – con người hạnh phúc vì có Chúa làm gia nghiệp, được biểu lộ qua hành động: đứng phắt dậy, vất bỏ áo choàng mà đi theo Chúa trên con đường Ngài đi.

Cuối cùng: Liên kết khăng khít với Chúa mọi giây phút, mọi hoạt động trong cuộc sống thường ngày, như cuộc đối thoại thân thiết giữa Chúa Giêsu và anh mù: “Con muốn Ta làm gì?” –  “Lạy Thầy xin cho con được thấy”.

Ước gì chúng ta có tâm tình tha thiết của anh mù: “Lạy Thầy xin cho con được thấy”. Bởi vì giữa dòng đời, chúng ta bị lôi cuốn giữa hai chyều nước xoáy: một đàng là những quyến rũ của thế gian và con đường xác thịt; một đàng là những thực tại thiêng liêng những đòi buộc của Tin Mừng, của con cái Thiên Chúa.

Thế mà, những quyến rũ của trần gian lại sờ sờ trước mắt, lắm hấp dẫn, ngọt ngào lôi cuốn chúng ta. Còn những huấn giáo của Chúa và những giá trị Tin Mừng, chỉ nhìn được, hiểu được, bằng đôi mắt đức tin mà thôi.

Lạy Chúa xin cho chúng con đôi mắt đức tin luôn rực sáng để thấy Chúa là tất cả, thấy mọi người là anh em và được thấy mình được yêu thương trong tay của Chúa. Amen

E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

NGƯỜI MÙ THÀNH GIÊRICÔ 

Thánh Marcô thuật lại cho chúng ta việc Đức Giêsu chữa người mù từ mới sinh tại cổng thành Giêricô. Lời kêu van của người mù: “Lạy Con vua Đavít, xin thương xót tôi”, cho thấy dân chúng tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng khôi phục và giải phóng dân tộc. Nhưng khi Đức Giêsu chữa lành cho người mù được sáng mắt, Ngài muốn hướng người ta về sứ mạng đích thực của Ngài là cứu độ muôn dân. Ngài đến để giải thoát nhân loại khỏi đau khổ và tối tăm của sự dữ. Như thế, tin vào Đức Giêsu, con người mới được ánh sáng, được giải phóng và được tự do làm con Thiên Chúa.

Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Nhờ cặp mắt chúng ta có thể nhận biết và tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chúng ta có thể nhìn thấy mọi người, mọi vật. Có những người mù từ thuở mới sinh, hay bị mù do tai nạn, bệnh tật. Họ giống như ngọn đèn bị tắt, suốt đời phải chịu lần mò trong bóng tối, không còn được hưởng ánh sáng mặt trời và những vẻ đẹp của thế tới sự sáng, họ phải buồn phiền khổ cực biết bao. Vì thế, anh mù thành Giêricô hôm nay đang phải ở trong tình trạng đó, anh đau khổ nên anh đã phải tha thiết xin Chúa giúp đỡ: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương xót tôi”.

Hôm nay, nghe biết Đức Giêsu đi qua, anh mù kêu xin Chúa cứu chữa, người ta cấm anh, anh càng kêu lớn hơn. Anh không xin tiền, xin gạo, xin bánh như mọi khi, nhưng xin được xem thấy. Khi nghe tiếng Đức Giêsu gọi, anh vội vàng vứt áo choàng, nhảy chồm về phía Chúa. Lời kêu xin và thái độ của anh chứng tỏ anh tin tưởng sâu xa mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa, chính vì niềm tin này Đức Giêsu đã cứu chữa anh, và khi được sáng mắt anh đã đi theo Chúa.

Mắt là cảm hứng cho thi sĩ làm thơ, cho nhạc sĩ viết nên cung nhạc. Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc. Có người nhìn đôi mắt như mùa thu. Có người nhìn đôi mắt như dòng sông. Trong văn chương và nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng đẹp. Trái lại khi nói về mắt, Phúc âm lại nói về đôi mắt mù. Mù đôi mắt thân xác đã bất hạnh, còn mù đôi mắt tâm hồn lại là một bất hạnh lớn. Mù đôi mắt tâm hồn là “mù” mà không chấp nhận mình “mù”, vì nghĩ rằng mình vẫn sáng suốt để nhìn ra Chúa. Nhưng đâu ngờ, đàng sau đôi mắt ấy, có thể chỉ là một màn đêm lạnh lẽo. Một tâm hồn trống trải, buồn tênh. Chẳng buồn nghe và thực thi Lời Chúa nữa (Hosanna).

Ngày nay trên thế giới số người mù về thể xác có lẽ suy giảm đi đôi chút, nhưng ai dám nói số người mù về tinh thần đã giảm đi? Số người “thấy mà xem chẳng thấy” (kinh cám ơn rước lễ xưa) thì rất nhiều. Người ta biết mọi cái trên thế giới, kể cả cung trăng, một số hành tinh và một vài vì sao, nhưng có cái gần nhất người ta lại không thấy, đó là cái “tôi” của mình, là con người của mình, là bản thân mình.

Nói chi đến thực tại siêu nhiên, người ta mù tịt trước những vấn đề thiêng liêng. Anh mù Bartimê đã nhìn ra Đức Giêsu là ai, là Đấng Cứu Thế trong khi đám đông chưa nhìn ra con người thật của Ngài. Họ có con mắt sáng, nhưng lòng họ vẫn còn u tối. Họ cần được Chúa soi sáng cho họ để họ nhìn ra chân lý.

Còn chúng ta, những người sáng mắt thì sao? Không những chúng ta phải cảm tạ Chúa, phải quí trọng giữ gìn, bảo vệ tâm hồn nữa. Nếu chúng ta đã lỡ để cho tâm hồn không còn trong sáng vì nhìn xem những hình ảnh xấu… thì chúng ta hãy bắt chước anh Bartimê cương quyết, can đảm và dứt khoát ném áo choàng, đến với Chúa Giêsu trong phép Giải tội để xin Ngài chữa lành, lấy lại ánh sáng tươi đẹp cho đôi mắt.

TruyệnChiếc đèn lồng

Có một người mù, một đêm kia đến thăm người bạn thân. Hai người trò chuyện thân mật với nhau cả mấy tiếng đồng hồ. Trời đã khuya, khi chia tay nhau, người bạn sáng mắt tặng anh một chiếc đèn lồng để đi đường cho an toàn. Nhưng người mù nói:

– Tôi không cần đèn. Đối với tôi, tối và sáng như nhau.

Người bạn trả lời:

– Tôi biết anh không cần đèn để soi đường, nhưng nếu anh không cầm một cái đèn thì trời tối người ta có thể đụng phải anh, nguy hiểm lắm, anh nên cầm đi.

Nghe hợp lý, anh mù ra về với chiếc đèn lồng trong tay. Đi được một quãng đường, đột nhiên anh bị một người đụng phải anh. Với vẻ tức giận, anh mù nói:

– Người nào kỳ vậy, đui hay sao mà không thấy đèn của tôi?

Người kia đáp:

– Xin lỗi anh, đèn của anh tắt rồi nên tôi không trông thấy. Mong anh thông cảm.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy anh mù tưởng mình “thấy”, còn người kia không thấy đèn. Nhưng ngược lại, chính anh mù mới không thấy đèn mình tắt. Tác giả câu truyện kết luận: con người tưởng mình thấy nhiều chuyện, nhưng lại quên hay cố ý quên nhiều cái mình không thấy.

Nhiều khi cuộc đời chúng ta chỉ là chiếc lồng đèn bị tắt lửa không còn ánh sáng để soi chiếu cho người khác, chúng ta bắt chước anh mù Bartimê mà kêu lên: “Lạy Chúa, xin thương xót con”.