CHƯƠNG I: SỰ CHUYỂN ĐỔI SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI 

19. Việc Phúc Âm hóa tuân theo mệnh lệnh truyền giáo của Đức Giêsu : “ Vậy anh em hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20a). Những câu này trình thuật giây phút Đấng Phục sinh sai các môn đệ của Người rao giảng Tin Mừng trong mọi nơi, mọi lúc, để đức tin vào Người được loan truyền trên khắp cùng trái đất.  

      5. Một Giáo hội  “bước ra ngoài” / “khởi đi”

20. Lời Chúa luôn đưa ra động lực về việc “bước ra” mà Chúa muốn gợi lên cho các tín hữu. Trước tiên ông Abraham chấp nhận lời kêu gọi ra đi, đến một mãnh đất mới (x.St 12,1-3). Ong Môisen lắng nghe tiếng Chúa gọi : “Hãy đi, Ta sai ngươi” (Xh 3,10) và đưa dân Do Thái đến đất hứa (x.Xh 3,17). Chúa nói với ngôn sứ Giêrêmia : “Nơi nào Ta sai ngươi, ngươi phải đi đến đó !”(Gr 1,7). Ngày nay, tiếng gọi “Hãy đi”của Đức Giêsu đều hiện diện trong tất cả mọi hoàn cảnh và thách đố luôn mới mẽ nơi sứ vụ truyền giáo của Giáo hội; tất cả chúng ta được kêu gọi cho việc “xuất hành” truyền giáo mới này. Mọi người Kitô hữu và tất cả cộng đoàn phải trao đổi về con đường mà Chúa đòi hỏi;  tất cả chúng ta đều được mời gọi để chấp nhận lời mời này : ra khỏi sự yên vững riêng tư của mình và can đảm đi đến những nơi cần đến ánh sáng của Tin Mừng.

21. Niềm vui từ Tin Mừng tràn ngập đời sống cộng đoàn các môn đệ là một niềm vui truyền giáo. Bảy mươi người môn đệ đều có kinh nghiệm này, những con người trở về sau sứ vụ thật vui vẻ (x.Lc 10,17). Đức Giêsu cảm nghiệm điều đó, chính Người rất phấn khởi trong niềm vui của Thánh Thần và ca tụng Cha vì mạc khải của Cha dành cho người nghèo và kẻ bé nhỏ nhất (x.Lc 10,21). Những người đầu tiên trở lại, cũng cảm nghiệm điều này, họ tràn đầy kinh ngạc, khi lắng nghe lời rao giảng của các Tông đồ “mỗi người nghe theo ngôn ngữ của mình” (Cv 2,6) vào ngày lễ Hiện Xuống. Niềm vui này là một dấu chỉ cho thấy một khi Tin Mừng được rao giảng sẽ đem lại kết quả. Nhưng niềm vui này luôn có được động năng của cuộc xuất hành và của quà tặng, của việc bước ra khỏi bản thân, của việc bước đi và luôn gieo cách mới mẽ, càng ngày càng xa. Chúa nói : “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mc 1,38). Khi hạt giống được gieo trong một nơi nào đó, Đức Giêsu không dừng lại nơi đó nữa để giải thích thêm hay để làm những dấu lạ, ngược lại Thánh Thần hướng dẫn Người đi đến các làng khác.

22. Lời Chúa mang nơi mình một khả năng mà chúng ta không thể thấy trước được. Tin Mừng nói về hạt giống, một khi được gieo, sẽ lớn lên ngay cả lúc người nông phu đang ngủ (x.Mc 4,26-29). Giáo hội phải chấp nhận sự tự do không tiên liệu được của Lời, sẽ đem lại kết quả theo nhiều cách thức khác nhau, vượt khỏi suy nghĩ của chúng ta và tung vở các kế hoạch của  chúng ta.

23. Sự liên kết mật thiết của Giáo hội với Đức Giêsu là một sự mật thiết truyền giáo, và cộng đoàn “tỏ hiện một cách cơ bản là một cộng đoàn truyền giáo” [20]. Trung thành theo mẫu của Thầy, điều quan trọng sống còn là Giáo hội phải bước ra ngoài để rao giảng Tin Mừng cho mọi người, trong mọi hoàn cảnh, không do dự, không âu lo, không sợ sệt. Niềm vui của Tin Mừng được dành cho toàn dân, không ai bị loại ra bên ngoài. Đấy là điều thiên thần loan báo cho các mục đồng tại Bethlehem : “Anh em đừngsợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân” (Lc 2,10). Sách Khải Huyền nói về “Một Tin Mừng vĩnh cửu để loan báo cho các người ở trên mặt đất, cho mọi dân, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ và mọi nước” (Kh 14,6).    

2. Khởi hành, dấn bước, đồng hành, mang lại hoa trái và ăn mừng

24. Giáo hội “bước ra ngoài” là cộng đoàn các môn đệ truyền giáo, xuất phát, dấn thân, đồng hành, mang lại hoa trái và ăn mừng. “Primerear- đón nhận khởi điểm” : Tôi xin lỗi vì thuật ngữ mới lạ này. Cộng đoàn truyền giáo cảm nghiệm rằng chính Chúa nhận lấy khởi điểm, Người tiến bước trước trong tình yêu (x. 1 Ga 4,10) và vì lý do này, cộng đoàn biết tiến lên trước, nhận lấy khởi điểm không chút sự hãi, đi để gặp gỡ, tìm những người ở xa và đến các ngả tư đường phố để mời những ai bị loại. Để có thể cảm nghiệm được lòng nhân từ của Cha và sức mạnh lan tỏa, cộng đoàn sống một sự khao khát bất tận để hiến dâng lòng nhân từ. Chúng ta hãy cố thêm một chút nữa để khởi đầu ! Tiếp đến, Giáo hội biết “dấn thân”. Đức Giêsu đã lau chân cho các môn đệ. Chúa dấn thân và giúp cho môn đệ của Người biết dấn thân, khi quì gối xuống trước kẻ khác để lau chân cho họ. Nhưng tiếp đó, Người nói với các môn đệ: “Phúc cho anh em, nếu anh em làm điều này” (Ga 13, 17). Cộng đoàn truyền giáo, qua hành động và các cử chỉ,  tự đặt mình vào cuộc sống hằng ngày của kẻ khác, thu ngắn khoảng cách, tự hạ cho đến khiêm tốn nếu cấn thiết, và đón nhận cuộc sống nhân bản, đụng chạm đến thân xác khổ đau của Đức Kitô trong dân chúng. Các nhà truyền giáo cũng thế, phải “có mùi của con chiên” và các con chiên nghe tiếng họ. Tiếp đến, cộng đoàn truyền giáo sẵn sàng để “đồng hành”. Cộng đoàn đồng hành với nhân loại trong mọi tiến trình, dù khó khăn và kéo dài đến đâu đi nữa. Cộng đoàn nhận thức sự mong chờ và kiên nhẫn mang tính Tông đồ. Việc Phúc Âm hóa đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và tránh việc xác định giới hạn. Trung thành với ân huệ của Chúa, cộng đoàn hiểu thế nào là “mang lại hoa trái”. Cộng đoàn truyền giáo luôn chú ý đến hoa trái, chỉ vì Chúa muốn cộng đoàn phải sung mãn. Cộng đoàn phải chú ý đến hạt giống và không để mất bình tĩnh vì cỏ lùng. Người gieo giống, khi thấy cỏ lùng nẩy mầm giữa hạt giống, không được có những phản ứng than vãn, cũng như  hoảng loạn. Ong phải tìm phương pháp để Lời thấm nhập vào một hoàn cảnh cụ thể và đem lại hoa trái cho đời sống mới, dù bên ngoài xem ra bất toàn và chưa trọn. Người môn đệ biết dâng trót mạng sống mình, như một dấu chứng cho Đức Giêsu Kitô dù phải tử đạo ; ước mong của họ không phải là có nhiều kẻ thù, nhưng đúng hơn là mong cho Lời được đón nhận và bộc lộ sức mạnh giải phóng và canh tân. Cuối cùng, cộng đoàn truyền giáo, vui tươi, và luôn biết “ăn mừng”. Cộng đoàn cử hành và ăn mừng mỗi một chiến thắng nhỏ nhoi, mỗi một bước tiến trong việc Phúc Âm hóa. Truyền giáo cách vui tươi sẽ tạo vẻ đẹp trong phụng vụ, trong đòi hỏi hằng ngày để làm cho điều thiện được gia tăng. Giáo hội truyền giáo và tự truyền giáo cho mình nhờ vẻ đẹp của phụng vụ, phụng vụ cũng là việc cử hành hoạt động truyền giáo và là nguồn của một sự thúc đẩy được canh tân để tự hiến bản thân mình.

      6. Chuyển đổi mục vụ

25. Tôi biết rất rõ rằng ngày nay những tài liệu không gợi lên cùng một sự quan tâm như trong các thời đại khác và sớm bị lãng quên. Dù vậy, điều muốn nhấn mạnh ở đây là tôi cố ý nói lên một định hướng kế hoạch và những hệ luận quan trọng. Tôi hy vọng rằng tất cả các cộng đoàn sẽ thực hiện bằng những phương thế cần thiết để tiến đến việc trao đổi mục vụ và truyền giáo, không thể để mọi sự như hiện nay. Đây không phải chỉ là “một cách quản trị thuần túy” [21] mà chúng ta cần đến. Chúng ta phải thiết đặt trên mọi miền thế giới một “tình trạng truyền giáo thường trực” [22].

26. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đòi buộc phải nới rộng việc canh tân, để nhấn mạnh, không phải chỉ hướng đến từng cá nhân, nhưng là trọn Giáo hội. Chúng ta nhớ lại bản văn cần suy nghĩ này để không đánh mất sức mạnh mời gọi : “Đây là lúc, Giáo hội phải đào sâu ý thức về chính mình, suy nghĩ về mầu nhiệm của mình […] Từ ý thức được soi sáng và đánh động đưa đến một đòi hỏi đột xuất, để nhìn lại hình ảnh lý tưởng của Giáo hội như Đức Kitô đã nhìn, đã muốn và đã yêu, như vị Hôn Thể thánh thiện, vô tì vết của Người (x. Ep 5,27), gương mặt đích thực mà Giáo hội phải trình diện hôm nay. […] Từ đó, nảy sinh một khao khát quảng đại và không còn kiên nhẫn nữa cho cuộc canh tân, có nghĩa là sữa sai các lỗi lầm, mà ý thức này thấy được dưới ánh sáng mẫu gương của Đức Kitô đã để lại cho chúng ta, cần phải tố cáo và loại bỏ” [23].

Công Đồng Vaticanô II trình bày đường hướng mới của Giáo hội như khai mở một cuộc canh tân bản thân cách thường trực vì trung thành với Đức Giêsu Kitô : “Mọi canh tân của Giáo hội trên cơ bản phải nằm trong việc phát triển sự trung thành sâu xa hơn với ơn gọi […]. Giáo hội, trên bước đường lử hành, được Đức Kitô kêu gọi để luôn canh tân mà Giáo hội, như là cơ chế nhân bản và trần tục, cần thiết đến.” [24].

Có nhiều cơ chế của Giáo hội có thể tạo được sự năng động truyền giáo ; cũng vậy, những cơ chế tốt rất hữu ích khi một cuộc sống được kích động, nâng đỡ và hướng dẫn. Không có cuộc sống mới và một tinh thần truyền giáo đích thực, sẽ không có sự “trung thành của Giáo hội đối với chính ơn gọi” của mình, tất cả cơ chế mới sẽ đổ sụp trong một thời gian ngắn.  

Một cuộc canh tân Giáo hội không thể lẫn tránh được 

27. Tôi mơ đến một sự chọn lựa truyền giáo có khả năng chuyển đổi tất cả mọi sự, để những thói quen, những phong cách, những thời biểu, ngôn ngữ và mọi cơ cấu giáo hội trở thành một con kênh thích ứng cho việc Phúc Âm hóa thế giới hiện tại, hơn là tự bảo tồn mình. Canh tân các cơ cấu, đòi buộc một sự chuyển đổi mục vụ, chỉ có thể trong nghĩa : lo lắng để các cơ cấu mang tính chất truyền giáo nhiều hơn, để mục vụ bình thường trong mọi hoàn cảnh được rộng mở và bung ra, giúp cho những người làm mục vụ luôn có thái độ “bung ra” và thích ứng với câu trả lời tích cực cho tất cả những người mà Đức Giêsu đem tình bạn của Người đến. Như Đức Giáo Hoàng Gioan-Phalô II nói với các Giám Mục châu Đại Dương, “mọi cuộc canh tân trong Giáo hội phải có mục đích truyền giáo, để khỏi rơi vào nguy cơ của một một Giáo hội chỉ biết tập trung vào chính mình” [25].

28. Giáo xứ không phải là một cơ chế già cỗi ; đúng hơn giáo xứ có một cơ chế thật uyển chuyển, có thể mang nhiều hình thức, đòi hỏi sự thuần dưỡng và năng động truyền giáo của vị mục tử và của cộng đoàn. Chắc chắn, giáo xứ không  là cơ chế truyền giáo duy nhất, nếu như có khả năng canh tân và thích ứng thường xuyên, giáo xứ tiếp tục là “Giáo hội sống giữa gia đình của con cái” [26], Điều này đòi buộc giáo xứ phải tiếp xúc với các gia đình và đời sống của dân chúng và không trở thành cơ chế rườm rà, xa cách quần chúng, hay một nhóm người ưu tuyển chỉ biết nhìn nhau. Giáo xứ hiện diện trên mãnh đất, nơi lắng nghe Lời, phát triển cuộc sống Kitô hữu, nơi đối thoại, loan báo, bác ái quảng đại, thờ phượng và cử hành [27]. Qua tất cả hoạt động của mình, giáo xứ động viên và tạo các chi thể của mình để trở thành những người đi truyền giáo [28]. Giáo xứ là cộng đoàn của các cộng đoàn, cung thánh cho những kẻ đang khát có thể đến uống, để có thể tiếp tục đi tới, là trung tâm được sai đi truyền giáo. Nhưng cũng phải biết rằng, lời mời gọi nhìn lại và canh tân các giáo xứ vẫn chưa mang lại đầy đủ hoa trái, để có thể gần gũi hơn với những nhóm sống động và chiasẻ, hoàn toàn nhắm hướng vào truyền giáo.  

29. Các cơ chế khác của giáo hội, các cộng đoàn cơ bản và các cộng đoàn nhỏ, các phong trào và những hình thức hiệp hội, là một sự phong phú của Giáo hội mà Thánh Thần gợi lên để Phúc Âm hóa mọi nơi và mọi vùng. Thường các cơ chế này mang theo một lòng nhiệt thành mới mẽ để Phúc Âm hóa và một khả năng đối thoại với thế giới, điều này sẽ canh tân Giáo hội. Nhưng sẽ rất hữu ích nếu chúng không mất đi sự liên lạc với thực tế phong phú của giáo xứ địa phương, và hội nhập một cách tự nguyện vào cơ chế giáo xứ của Giáo hội đặc biệt. [29]. Sự hội nhập này tránh việc chúng trở thành một phần của Phúc Âm và của Giáo hội, hay sẽ trở thành một nhóm du mục không gốc rể.   

30. Mỗi Giáo hội địa phương là một phần của Giáo hội công giáo dưới sự lãnh đạo của Giám Mục của mình ; Giáo hội này cũng được kêu gọi để chuyển đổi trong sứ vụ truyền giáo. Giáo hội này sẽ là chủ thể của việc Phúc Âm hóa [30] như là cách biểu lộ cụ thể của Giáo hội duy nhất trong một vị trí trên thế giới;  Giáo hội này là “Giáo hội đích thực của Chúa Kitô, duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, hiện diện và hoạt động” [31]. Giáo hội này nhập thể trong một không gian xác định, có đầy đủ phương tiện cứu độ được Chúa Kitô ban cho, nhưng có một gương mặt địa phương. Niềm vui khi giới thiệu Đức Giêsu Kitô, biểu lộ trong việc lo lắng loan báo trong những nơi khác còn cần thiết, luôn “bước ra”, hướng đến những vùng địa dư hay hướng đến các môi trường xã hội và văn hóa mới  [32]. Giáo hội này phải hiện diện nơi thiếu vắng ánh sáng và sự sống của Đấng Phục sinh [33]. Để sự thúc bách truyền giáo luôn mạnh mẽ, quảng đại và phong phú, tôi khuyến khích mỗi Giáo hội địa phương bước vào một tiến trình phân định, thanh luyện và canh tân.

31. Vị Giám Mục phải tạo điều kiện cho cộng đoàn truyền giáo trong Giáo hội địa phương theo đuổi lý tưởng của các cộng đoàn tiên khởi Kitô hữu, nơi đó các tín hữu “chỉ có một lòng, một ý” (Cv 4,32). Vì thế, ngài phải đứng ra, vạch con đường và nâng đỡ hy vọng của dân, nhiều khi ngài xuất hiện giữa mọi người trong một sự gần gũi đơn sơ và nhân ái, và trong một số hoàn cảnh, ngài phải theo sau dân chúng, để giúp những ai còn sót lại phía sau và – nhất là – chỉ vì đàn chiên có một khứu giác đặc biệt để tìm những con đường mới. Trong sứ vụ tạo điều kiện cho một cộng đoàn năng động, cởi mở và truyền giáo, ngài phải khuyến khích sự trưởng thành tổ chức chia sẻ theo đề nghị của Bộ Giáo Luật [34] và những hình thức khác để đối thoại mục vụ, với khao khát lắng nghe mọi người, không phải với một vài người, luôn sẵn sàng đề cao ngài. Mục đích của tiến trình chia sẻ không chỉ nguyên là tổ chức của giáo hội, nhưng đó là giấc mơ truyền giáo đến với mọi người.   

32. Vì được gọi để sống cho những điều mà tôi yêu cầu nơi kẻ khác, tôi phải suy nghĩ đến việc thay đổi vai trò Giáo Hoàng. Trách nhiệm của tôi là Giám Mục Rôma, nên tôi phải lắng nghe các đề nghị về việc thực hành sứ vụ của tôi cách trung tín hơn theo nghĩa mà Đức Giêsu Kitô muốn trao cho, đối với những nhu cầu thực tại của việc Phúc Âm hóa.  Đức Giáo Hoàng Gioan-Phalô II yêu cầu được trợ giúp để tìm “một hình thức thực hành thượng quyền cởi mở cho một hoàn cảnh mới, nhưng không từ bỏ bất cứ điều gì thiết yếu của sứ vụ ngài” [35]. Theo nghĩa này, chúng ta không đạt được nhiều kết quả. Cả ngôi Giáo Hoàng và các cơ cấu trung tâm của Giáo hội hoàn vũ, cũng cần phải lắng nghe tiếng gọi cho một sự thay đổi mục vụ. Công Đồng Vaticanô II xác quyết, tương tự như trong các Giáo hội cổ thời các giáo phụ, các Hội nghị Giám Mục có thể “đóng góp cách hữu ích cho tính tập đoàn được thực hiện cách cụ thể” [36]. Nhưng ước vọng này không được thực hiện cách tròn đầy, chỉ vì chưa có một cơ chế Hội Đồng Giám Mục đầy đủ, xem các ngài như chủ thể có những năng quyền cụ thể, bao gồm cả quyền giáo lý chính thống [37]. Một việc tập trung quá đáng, thay vì trợ giúp, sẽ gây khó khăn cho đời sống Giáo hội và sức năng động truyền giáo. 

33. Mục vụ trên danh nghĩa truyền giáo đòi buộc phải rời xa tiêu chuẩn mục vụ thoải mái của “lúc nào người ta cũng làm như thế”. Tôi mời gọi từng người phải gan dạ và sáng tạo trong trách nhiệm suy nghĩ lại các đối tượng, các cơ cấu, phong cách và phương thức truyền giáo của cộng đoàn mình. Sự đồng nhất với các mục đích mà không cùng nhau tìm kiếm các phương thức thích hợp để đạt tới, đều bị xem như một thứ ảo tưởng thuần túy. Tôi khuyến khích mọi người áp dụng một cách quang đại và cam đảm các định hướng của tài liệu này, không một hạn chế cũng không chút sợ hãi. Điều quan trọng là không đi một mình, nhưng luôn với các bạn và đặc biệt dưới sự hướng dẫn của các vị Giám Mục, theo một mục vụ khôn ngoan và thực tiển. 

      3. Xuất phát từ trung tâm Tin Mừng 

34. Nếu chúng ta đặt tất cả dưới quan điểm truyền giáo, thì phải hiểu đó là cách chúng ta truyền đạt sứ điệp. Trong thế giới ngày nay, với sự nhanh nhạy của thông tin và chọn lựa theo sở thích nội dung do phương tiện truyền thông cung cấp, nếu sứ điệp chúng ta công bố bị rút gọn lại, sẽ có nguy cơ bị cắt xén và đúc kết vào vài điểm thứ yếu. Như thế, một số vấn  đề thuộc luân lý của Giáo hội vượt ra ngoài bản văn, đáng lý phải đem lại ý nghĩa cho chúng. Nguy cơ lớn nhất là khi sứ điệp chúng ta rao giảng, bị xem ra như đồng hóa với  phương diện thứ yếu, dù có quan trọng, nhưng không bộc lộ được trọng tâm sứ điệp của Đức Giêsu Kitô. Vậy, cần phải thực tế và đừng nghĩ rằng người đối thoại hiểu được tất cả những điều chúng ta nói hay họ có thể nối kết lời phát biểu của chúng ta với trọng tâm cơ bản của Tin Mừng, đáng lý đem lại cho họ ý nghĩa, sự tốt đẹp và hấp dẫn.  

35. Mục vụ theo nghĩa truyền giáo không bị ám ảnh phải truyền đạt thật nhiều tín lý một cách chi tiết mà người ta cố gắng áp đặt. Khi nhận mục đích mục vụ và một cách thức truyền giáo, chúng ta có thể đến với tất cả mọi người, không loại trừ ai, việc rao giảng tập trung vào điều cơ bản, điều đẹp nhất, vĩ đại nhất, lôi kéo nhất và đồng thời cần thiết nhất. Lời nói phải đơn sơ, nhưng không đánh mất chiều sâu và chân lý, thật sự có tính thuyết phục và rõ ràng.

36. Tất cả chân lý mạc khải phát xuất từ một nguồn gốc thần linh và được xác tín cùng một niềm tin, nhưng một số trong đó quan trọng hơn để diễn tả trực tiếp trọng tâm của Tin Mừng. Trong trọng tâm cơ bản này, vẻ đẹp tình yêu cứu độ của Chúa, tỏ lộ trong cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, phải được làm nổi bật. Theo nghĩa này, Công Đồng Vaticanô II xác quyết “ có một trật tự hay phẩm trật các chân lý tín điều công giáo, dựa theo liên hệ khác nhau với nền tảng đức tin công giáo” [38]. Điều này cũng có giá trị đối với các tín điều của đức tin cũng như các giáo huấn của Giáo hội, gồm cả giáo huấn về luân lý.  

37. Thánh Thomas Aquinô dạy rằng, ngay trong sứ điệp luân lý của Giáo hội cũng có phẩm trật, trong các nhân đức cũng như trong các hoạt động xuất phát từ đó [39]. Ở đây, điều quan trọng trước hết là “đức tin hoạt động nhờ đức ái” (Gl 5,6). Các hoạt động tình yêu đối với tha nhân là cách biểu lộ ra bên ngoài tốt đẹp nhất ân sủng nội tại của Giáo hội : “Yếu tố chính yếu của luật mới đó là ân sủng của Chúa Thánh Thần, ân sủng được diễn tả trong đức tin được đức ái tác động” [40]. Từ đó, ngài xác quyết rằng, vì cách thế hoạt động bên ngoài, lòng nhân từ là điều lớn lao nhất giữa các nhân đức : “Tự tại, lòng nhân từ là nhân đức lớn nhất. Lòng nhân từ tuôn trào đến các nhân đức khác, và – còn hơn thế nữa – nâng đỡ những thiếu sót của các nhân đức khác. Đấy là điều làm cho lòng nhân từ vượt trổi hơn các nhân đức khác. Sự nhân từ được xem như dấu chứng bản chất của Thiên Chúa, qua đó quyền năng tối cao của Người được biểu lộ” [41].

38, Điều quan trọng là rút những hệ luận mục vụ của giáo huấn Công Đồng, giáo huấn này cũng đón nhận một xác tín của Giáo hội. Trước tiên phải nói rằng trong việc loan báo Tin Mừng, cần phải giữ mức độ thích hợp. Điều này có thể được nhận ra qua việc thường xuyên ghi nhận một số đề tài được nhấn mạnh trong các bài giảng. Tỉ như, nếu một cha sở, trong một năm phụng vụ nói mười lần về sự điều độ nhưng chỉ có hai ba lần về bác ái hay công bằng, sẽ đưa đến một sự chênh lệch, qua đó những nhân đức này, đáng lý ra phải có trong các bài giảng và trong các buổi giáo lý, sẽ bị làm lu mờ. Cũng xảy ra như thế, khi người ta nói nhiều về luật lệ hơn là ân sủng, về Giáo hội nhiều hơn là nói về Đức Giêsu Kitô, về Đức Giáo Hoàng hơn là Lời Chúa.  

39. Cũng thế, đặc tính cơ chế giữa các nhân đức không cho phép loại một trong chúng khỏi lý tưởng Kitô giáo, không một chân lý nào bị phủ nhận. Không được phép cắt xén tính trọn vẹn của sứ điệp Tin Mừng. Ngoài ra, mỗi chân lý sẽ được rõ ràng hơn nếu được đặt vào trong tổng thể hòa hợp của sứ điệp Kitô giáo. Khi bài giảng trung thành với Phúc Am, việc tập trung một số chân lý sẽ bộc lộ rõ ràng và người ta cũng nhận thấy lời rao giảng luân lý Kitô giáo không phải là thứ đạo đức Stoa, đấy không phải là một thứ khổ hạnh, cũng không phải là một thứ triết lý thực hành, cũng không phải là bảng kê khai tội lỗi và sai lạc. Phúc Âm trước tiên mời gọi mọi người đáp lại Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta, cứu độ chúng ta, nhận ra Người trong những kẻ khác và bước ra khỏi chúng ta để đi tìm điều thiện hảo cho mọi người. Lời mời gọi này không được làm lu mờ trong bất cứ hoàn cảnh nào ! Tất cả mọi nhân đức là để phục vụ cho câu đáp trả tình yêu. Nếu lời mời gọi này không chiếu tỏa được sức mạnh và hấp dẫn, cả cơ đồ luân lý của Giáo hội sẽ gặp nguy hiểm trở thành lâu đài cát, trong đó chúng ta sẽ gặp nguy hiểm xấu nhất. Bấy giờ thì không phải là Phúc Âm đích thực mà người ta rao giảng, nhưng chỉ là những điểm nhấn về tín lý hay luân lý dựa vào ý kiến theo ý thức hệ xác định. Sứ điệp sẽ gặp nguy hiểm, bị mất đi sự tươi mát và không còn “hương thơm của Tin Mừng”    

      4. Sứ vụ hội nhập vào các ranh giới nhân bản

40. Là môn đệ truyền giáo, Giáo hội cần phải phát triển trong việc giải thích Lời mạc khải và trong hiểu biết của mình về chân lý. Trách nhiệm của các nhà chú giải và các nhà thần học giúp “phán đoán của Giáo hội được vươn xa”[42]. Các môn học khác cũng phải thực hiện như thế. Khi tiếp xúc với các môn khoa học xã hội, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II nói rằng Giáo hội phải lắng nghe đóng góp của chúng “để rút ra những chỉ dẫn cụ thể giúp Giáo hội chu toàn sứ vụ huấn giáo của mình” [43]. Ngoài ra, ngay giữa lòng Giáo hội, còn biết bao nhiêu vấn nạn còn phải tìm hiểu và suy nghĩ một cách rất tự do. Những dòng tư tưởng triết học, thần học và mục vụ khác nhau, nếu nhờ Thánh Thần hòa hợp với nhau trong sự tôn trọng và tình yêu, có thể giúp Giáo hội phát triển trong việc làm rõ nét kho tàng phong phú của Lời Chúa. Đối với những người mơ ước một bộ tín lý được bảo toàn nguyên khối, không một giải thích tinh tế, điều này xem ra bất toàn và phân tán. Thực tế vẫn phải nhận sự thay đổi, giúp biểu lộ và triển khai nhiều phương diện phong phú vô tận của Tin Mừng [44].   

41. Đồng thời, những sự thay đổi lớn lao và nhanh chóng về mặt văn hóa buộc chúng ta phải chú ý để tìm cách diễn tả chân lý trong một ngôn ngữ giúp nhận ra tính chất mới mẽ thường xuyên của chân lý. Vì, trong kho tàng giáo lý Kitô giáo “có một điều thuộc bản chất […] và một điều khác là cách diễn tả” [45]. Đôi khi, người tín hữu phải lắng nghe một thứ ngôn ngữ chính thống, nhưng không còn thích hợp với ngôn ngữ họ đang sử dụng và hiểu, có thể điều họ nghe, không đáp ứng đúng với Tin Mừng đích thực của Đức Giêsu Kitô. Với ý hướng tốt đẹp là truyền đạt chân lý về Thiên Chúa và về con người, trong một vài trường hợp, chúng ta lại đưa cho họ một Thiên Chúa sai lệch hay một lý tưởng nhân bản không thuộc về Kitô giáo. Với cách này,  có lẽ chúng ta trung thành với công thức nhưng không truyền đạt điều cơ bản. Đây là nguy hiểm trầm trọng nhất. Hãy nhớ rằng “cách diễn tả chân lý có thể có nhiều hình thức, và việc canh tân các diễn tả cũng cần thiết để truyền đạt cho người ngày nay sứ điệp Tin Mừng trong một ý nghĩa bất biến” [46].

42. Điều này rất quan trọng trong việc loan báo Tin Mừng, nếu tâm tư chúng ta thật sự muốn nhận thức vẻ đẹp của Tin Mừng và giúp cho mọi người đón nhận. Dù vậy, chúng ta không thể giúp cho các giáo huấn của Giáo hội thành một điều gì dễ hiểu và mọi người vui mừng đón nhận. Niềm tin luôn chứa chất một phương diện của thập giá, giữ một điều gì mờ ảo nhưng không làm mất đi sự vững vàng để gắn bó. Có nhiều điều phải từ việc gắn bó này mới có thể hiểu được và xác tín đó là chị em của tình yêu, vượt ra ngoài sự trong sáng, mà với sự trong sáng này người ta mới có thể nắm bắt lý lẽ và lý luận. Vì thế phải nhắc lại rằng mọi sự giảng dạy giáo lý phải được đặt vào thái độ truyền giáo, mới gợi  lên được sự gắn bó vào trọng tâm với sự gần gũi, tình yêu và chứng tá.

43. Trong việc phân định liên tục, Giáo hội có thể nhận ra thói quen riêng của mình trong trực tiếp liên kết với trọng tâm của Tin Mừng. Ngày nay, một số thói quen, rút ra từ dòng lịch sử, từ nay không còn được chú giải cùng một cách và các sứ điệp khó được nhìn ra. Chúng có thể đẹp, nhưng hiện tại không còn khả năng phục vụ cho việc truyền đạt Tin Mừng. Đừng sợ phải xét lại. Cũng thế, có nhiều qui luật hay qui định thuộc Giáo hội đã không còn hữu hiệu như trong các thời đại khác, nhưng không còn đủ sức giáo dục như  con kênh chảy vào cuộc sống. Thánh Thomas Aquinô nhấn mạnh, các giáo huấn được Đức Kitô và các Tông đồ ban ra cho Dân Chúa “rất ít”[47]. Thánh Augustinô ghi nhận, các qui định được Giáo hội thêm vào sau này “không được làm cho đời sống của Kitô hữu ra nặng nề” và biến tôn giáo của chúng ta trở thành một thứ nô lệ, trong khi “lòng nhân từ của Thiên Chúa muốn nó được tự do” [48]. Lời cảnh báo này vẫn có giá trị hiện thực, dù đã dóng lên từ bao thế kỷ. Nó phải trở thành một trong những tiêu chuẩn cần suy nghĩ để canh tân Giáo hội và các bài giảng để có thể đến với mọi người. 

44. Mặt khác, biết bao vị mục tử cũng như tín hữu đồng hành với anh em mình trong đức tin hay trên con đường khai mở cho Thiên Chúa, không được quên quyển Giáo Lý của Hội thánh công giáo với nhiều nét rõ ràng : “Việc quy lỗi và trách nhiệm về một hành động có thể được giảm bớt hay xóa bỏ do thiếu hiểu biết, sơ suất, do áp lực, sợ hãi, do thói quen, do tâm lý bất ổn, do các nhân tố tâm lý hay xã hội” [49].  

Do đó, để không làm giảm giá trị của lý tưởng Phúc Am, phải đồng hành với một sự nhân từ và kiên nhẫn các giai đoạn tương đối trong việc phát triển cá nhân từng ngày [50]. Tôi xin nhắc các linh mục, tòa giải tội không được trở thành phòng hành hạ nhưng là nơi lòng nhân từ của Thiên Chúa kích thích chúng ta làm việc thiện theo khả năng chúng ta. Một bước nhỏ, giữa ranh giới rộng rãi nhân bản, có giá trị cho Thiên Chúa hơn là đời sống xem ra đúng đắn bề ngoài mà không phải đối mặt với những khó khăn quan trọng. Sự an ủi và khích lệ của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, hoạt động cách mầu nhiệm trong mọi người, đến với từng người, vượt trên mọi lỗi lầm và sa ngã.

45. Như thế, chúng ta thấy sự dấn thân của người rao giảng Tin Mừng phải nằm trong ranh giới ngôn ngữ và hoàn cảnh. Người ấy phải luôn tìm cách để truyền đạt chân lý Tin Mừng trong một bối cảnh xác định, mà không từ bỏ chân lý, sự thiện và ánh sáng mà họ có thể đem đến dù không được hoàn hảo mấy. Một tâm hồn truyền giáo phải ý thức những ranh giới này và “trở thành yếu đuối với người yếu […] trở thành tất cả cho mọi người” (1 Cr 9,22). Không bao giờ người ấy tự khép kín mình, không bao giờ thu mình vào những điểm an toàn cho chính mình, không bao giờ tìm cách chỉ bảo vệ cho chính mình. Người ấy biết, chính họ phải tìm cách gia tăng sự hiểu biết Tin Mừng và phân định trên các nẽo đường của Thánh Thần, và bấy giờ họ không được từ chối thực hiện điều thiện hảo theo khả năng, dù gặp phải nguy cơ bị lấm lem trên đường đi.  

      5. Một người mẹ với tấm lòng rộng mở

46. Giáo hội “bước ra ngoài” là một Giáo hội đứng nơi những cánh cửa mở rộng. Bước ra để hướng đến kẻ khác, đến tận ngoại vi nhân bản, điều này không muốn nói là phải chạy theo thế giới không định hướng và vô nghĩa. Thường phải chậm bước trở lại, để âu lo qua một bên, mà nhìn trong ánh mắt, trong lắng nghe, hay từ chối những điều an toàn để đồng hành với những người đang đứng bên lề đường. Đôi khi phải như người cha xử sự với đứa con đi hoang. Luôn mở rộng cửa, để đứa con đi hoang có thể bước vào, mà không gặp một chút khó khăn khi anh trở lại.

47. Giáo hội được kêu gọi phải luôn luôn là ngôi nhà rộng cửa của Cha. Một dấu chứng cụ thể của việc mở rộng này là mọi nơi đều phải có những nhà thờ cửa luôn mở rộng. Nếu có ai muốn theo tác động của Thánh Thần, họ có thể bước vào để tìm đến Thiên Chúa, họ sẽ không phải gặp một sự lạnh nhạt của cánh cửa nhà thờ bị đóng. Cũng có những cánh cửa khác không được phép đóng. Mọi người đều có thể tham gia vào đời sống Giáo hội, mọi người đều có thể thuộc vào cộng đoàn, ngay cả những cánh cửa của bí tích không được phép đóng vì bất cứ lý do gì. Nhất là với bí tích Thánh Tẩy, được xem như “cửa ngỏ”. Bí tích Thánh Thể, sự viên mãn của đời sống bí tích, cũng không phải chỉ để dành cho những người thánh thiện, nhưng phải là phương dược và lương thực cho kẻ yếu đuối [51]. Những xác tín này là những hệ luận mục vụ mà chúng ta được kêu gọi để cân nhắc cẩn thận và can đảm. Thường chúng ta xử sự như những kẻ canh gát ân sủng chứ không phải là những người tạo điều kiện dễ dàng. Nhưng Giáo hội không phải là sở thuế vụ, nhưng là nhà cha, có đủ chỗ cho mọi người với cuộc đời khó khăn của họ.

48. Nếu toàn thể Giáo hội đón nhận sức năng động truyền giáo này, Giáo hội phải đến với tất cả mọi người, không trừ ai. Nhưng ai sẽ là những người ưu tiên ? Nếu đọc Phúc Am, chúng ta sẽ tìm được định hướng rõ ràng : không phải là bạn bè hay những người lân cận giàu sang, nhưng là những người nghèo, những kẻ tàn tật, những người bị khi dễ và bị lãng quên, “những người không có gì để đáp trả lại anh” (Lc 14,14). Không có gì phải nghi ngờ, cũng không có giải thích nào giảm bớt đi sứ điệp quá rõ ràng này. Ngày nay và mãi mãi, “những người nghèo sẽ là những người ưu tiên được nhận Tin Mừng” [52]. Và việc Phúc Âm hóa hoàn toàn dành cho họ, đó chính là dấu chỉ của Nước Trời mà Đức Giêsu đã mang đến. Phải xác quyết, có một sợi dây nối kết chặt chẽ được giữa đức tin và người nghèo. Chúng ta không bao giờ được để họ cô đơn.

49. Chúng ta hãy bước ra, bước ra để dâng hiến sự sống của Đức Giêsu Kitô cho tất cả mọi người. Tôi xin lập lại nơi đây với toàn thể Giáo hội, điều tôi lập lại nhiều lần cho linh mục và giáo dân ở Buenos Aires : tôi thích một Giáo hội bị tai nạn, bị thương tích và dơ bẩn vì bước ra đường phố, hơn là một Giáo hội bệnh tật vì đóng kín và an toàn bám víu vào những thứ bảo đảm cho mình. Tôi không muốn có một Giáo hội chỉ lo lắng để trở thành trung tâm và cuối cùng chết cứng với những khối ý tưởng và tranh luận. Nếu có điều gì chúng ta phải ưu tư vi làm xao xuyến lương tâm của chúng ta, đó là có biết bao nhiêu anh em sống không có sức lực, ánh sáng và an ủi nhờ tình bạn của Đức Giêsu Kitô, không có một cộng đoàn đức tin đón nhận họ, không một chân trời ý nghĩa và sự sống. Tôi hy vọng, thà phạm một sai lầm hơn là sợ sệt, nếu động lực thúc đẩy chúng ta là điều sợ sệt làm chúng ta tự đóng khung vào các cơ cấu, thì chỉ đem lại cho chúng ta một sự bảo vệ sai lệch, trong những định lệ biến chúng ta thành những vị thẩm phán không biết xúc động, trong các thói quen mà chúng ta nghĩ rằng sẽ được an thân, bấy giờ, bên ngoài sẽ có một rừng người đói kém và Đức Giêsu phải luôn lập lại với chúng ta : “Chính anh em phải cho họ ăn” (Mc 6,37).