CHƯƠNG II: TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA DẤN THÂN TẬP THỂ

50. Trước khi nói về một số vấn đề cơ bản tương đối cho hoạt động truyền giáo, cũng nên nhắc lại cách ngắn ngủi bối cảnh chúng ta đang sống và hoạt động. Ngày nay, người ta có thói quen nói đến “một sự chuẩn đoán” không kèm theo những đề nghị có thể áp dụng. Mặt khác, một cái nhìn về xã hội học với ý định gói trọn thực tế theo phương thức suy luận cách giả thiết chung chung và không dính dáng gì đến con người, điều này cũng không giúp gì cho chúng ta. Điều tôi muốn đề nghị nằm trong đường hướng của một thứ phân định theo truyền giáo. Đó là cái nhìn của người môn đệ truyền giáo “được Thánh Thần soi sáng và củng cố” [53].

51. Đức Giáo Hoàng không có trách nhiệm trình bày một phân tích chi tiết và trọn vẹn về thực tại ngày nay, nhưng tôi khuyến khích mọi cộng đoàn có “ý hướng kiên trì tĩnh thức trước dấu chỉ thời đại” [54]. Đó là trách nhiệm quan trọng, vì một số thực tế của thời đại hiện hành, nếu chúng không tìm được những cách giải quyết tốt đẹp, có thể rơi vào một tiến trình vô nhân, rất khó quay trở lại. Cần phải làm rõ điều gì có thể là hoa trái của Nước Trời và điều gì gây nguy hại cho chương trình của Thiên Chúa. Điều này đòi hỏi phải nhận ra và giải thích những tác động của thần khí tốt và thần khí xấu, nhưng – đây là điều quyết định – phải chọn những tác động của thần khí tốt và đẩy lui các tác động của thần khí xấu. Tôi trưng ra những phân tích khác nhau mà các tài liệu của Huấn quyền thế giới đề nghị, cũng như các tài liệu của các Hội Đồng Giám Mục miền và quốc gia đề nghị. Trong Tông Huấn này, tôi xin dừng lại với một cái nhìn mục vụ, trên một số phương diện về thực tại, có thể ngăn cản hay làm yếu đi sức năng động việc canh tân truyền giáo của Giáo hội, có thể ảnh hưởng đến cuộc sống và phẩm giá của dân Thiên Chúa, chúng cũng có thể có ảnh hưởng đến những thành phần thuộc cơ chế giáo hội và chu toàn các phận vụ truyền giáo.   

1. Vài thách đố của thế giới hiện tại

52. Ngay lúc này, nhân loại đang sống trong một cuộc chuyển đổi lịch sử mà chúng ta có thể thấy trước trong các tiến bộ diễn ra trong nhiều lãnh vực. Người ta phải khen các thành công đóng góp vào cuộc sống thoải mái của con người, tỉ như  trong lãnh vực y tế, giáo dục và truyền thông. Nhưng chúng ta cũng không nên quên phần đông con người nam cũng như nữ trong thời đại của chúng ta phải sống trong sự bất ổn hằng ngày vì những hậu quả đen tối. Một số bệnh tật gia tăng. Sự sợ hãi và mất hy vọng xâm chiếm tâm hồn của nhiều người, ngay cả trong những nước được xem là giàu có. Nhiều khi, niềm vui sống bị tắt ngấm, sự thiếu tôn trọng và bạo lực gia tăng, sự chênh lệch xã hội xem như tất yếu. Người ta phải chiến đấu để sống còn và chỉ sống với một ít nhân phẩm. Sự thay đổi của thời đại bị gây nên do những bước nhảy vọt lớn lao, về mặt phẩm chất, số lượng, nhanh nhạy và tích lũy, được biểu lộ qua sự phát triển khoa học, thay đổi kỷ thuật và áp dụng nhanh nhẹn vào nhiều lãnh vực khác nhau của tự nhiên và cuộc sống. Chúng ta đang sống trong thế kỷ kiến thức và thông tin, đó là nguồn gốc các hình thức mới của một quyền lực thường là vô danh.  

Nói không với một nền kinh tế “loại trừ” (économie de l’exclusion – Wirtschaft der Ausschliessung)

53. Cũng như giới răn “chớ giết người” đưa ra một ranh giới bảo đảm giá trị sự sống của con người, ngày nay, chúng ta cũng phải nói không “với một nền kinh tế loại trừ và bất bình đẳng xã hội”. Một nền kinh tế như thế cũng giết người. Không thể tin được rằng một cụ già buộc phải sống ngoài đường phố, chết cóng, lại không phải là một tin tức, trong khi chứng khoáng bị hạ xuống hai điểm lại là một tin tức. Đó là loại trừ ! Cũng không thể chấp nhận sự kiện lương thực bị quăng đi, trong khi biết bao người phải chết đói. Đó là sự chênh lệch xã hội. Ngày nay, mọi người đều xử sự theo tiêu chuẩn cạnh tranh và luật của kẻ mạnh, trong đó người mạnh nuốt chửng kẻ yếu. Hệ luận của hoàn cảnh này là có một khối đông dân chúng tự xem mình như bị loại và bị quăng ra lề đường : không công ăn việc làm, không viễn cảnh, không lối thoát. Người ta nhìn con người như một món hàng tiêu thụ, người ta có thể sử dụng và sau đó quăng đi. Chúng ta đưa ra một thứ “văn hóa loại bỏ” (la culture du déchet – Wegwerfkultur), hơn nữa còn đòi hỏi như thế. Không còn là hiện tượng bóc lột và áp bức, nhưng là một điều gì mới : với việc loại bỏ là việc thuộc về một xã hội trong đó người ta không ở tầng thấp kém, bên lề hay không có chút quyền lực nào, nhưng thực sự là ở bên ngoài xã hội. Những người bị loại không phải là những người bị bóc lột, nhưng là rác rưởi.  

54. Trong bối cảnh này, nhiều người vẫn còn bênh vực những lý thuyết “tái phát thích ứng” (trickle-down Theorie – Uberlauf-Theorie – les théories de la “rechute favorable”)  họ đưa giả thuyết, mỗi cuộc tăng trưởng kinh tế, do thị trường tự do tạo nên, sẽ đưa đến một sự bình đẳng lớn lao và tạo sự liên kết xã hội trong thế giới. Ý kiến này chưa bao giờ được biện minh, mà chỉ đưa ra một sự tin tưởng thô thiển và ngây thơ dựa vào lòng tốt của những kẻ nắm quyền kinh tế và dựa vào những phương thức máy móc được thần thánh hóa của một hệ thống kinh tế thống trị. Cùng lúc đó, những kẻ bị loại vẫn tiếp tục chờ đợi. Để có thể bảo vệ lối sống loại bỏ kẻ khác, hay có thể say mê với lý tưởng ích kỷ, người ta triển khai một việc toàn cầu hóa của sự dửng dưng. Gần như không thể nhận ra được hiện tình như thế, nên chúng ta gần như bất lực để cảm nhận tiếng kêu đau khổ của kẻ khác, chúng ta còn không thể khóc trước bi kịch của kẻ khác, không còn chú tâm đến họ, hình như có một trách nhiệm nào đó, nhưng không dính dáng gì đến chúng ta. Nền văn hóa của đời sống thoải mái đã bỏ thuốc mê cho chúng ta rồi và chúng ta mất bình tĩnh nếu thị trường đưa ra một thứ gì mà chúng ta chưa mua được, trong khi những cuộc sống tang thương thiếu những khả năng để sống, đối với chúng ta cũng chỉ là một cảnh tượng không đánh động gì đến chúng ta.   

Nói không với ngẫu tượng mới của tiền bạc

55. Một trong những nguyên nhân của hoàn cảnh này nằm trong liên hệ do chính chúng ta tạo ra  với tiền bạc, chỉ vì chúng ta quá dễ dàng chấp nhận sự thống trị của nó trên chúng ta và cả xã hội của chúng ta. Cuộc khủng hoảng tài chính mà chúng ta đang trải qua, làm chúng ta quên đi nó có nguồn gốc trong một cơn khủng hoảng sâu xa trong nhân học : đó là việc phủ nhận tính ưu việt của con người ! Chúng ta đã tạo những thần tượng mới. Việc thờ phượng con bò vàng trong quá khứ (x.Xh 32,1-35) đã tìm một cách diễn tả mới thật kinh tởm trong việc tôn thờ tiền bạc và trong sự độc tài  của kinh tế đa diện, không một mục đích nhân bản. Cơn khủng hoảng thế giới bao trùm tài chính và kinh tế bộc lộ qua những thế mất cân bằng và, vượt trên tất cả, thiếu vắng trầm trọng một định hướng nhân bản, chỉ biết đút kết con người thành một trong các nhu cầu của họ : tiêu thụ!

56. Trong khi thu nhập của một nhóm nhỏ gia tăng theo cấp lũy thừa, thì những người thuộc đại đa số phải xa rời đời sống thoải mái của nhóm nhỏ hạnh phúc này. Sự chênh lệch này xuất phát từ  ý thức hệ bảo vệ tính độc lập tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính. Vì thế, chúng phủ nhận quyền kiểm soát của Nhà Nước, có trách nhiệm phải gìn giữ thiện ích chung. Một thứ độc tài vô hình xuất hiện thiết đặt luật lệ và qui định của nó một cách độc đoán và không thể thay thế được. Hơn nữa, số nợ và lợi nhuận của chúng làm cho nhiều nước không còn khả năng thực hành nền kinh tế và công dân không còn quyền mua bán với giá thật. Thêm vào đó là một sự hũy hoại tinh tế và một sự tràn lan tham nhủng thật ích kỷ, đạt đến tầm thế giới. Khao khát quyền lực và chiếm hữu không biết đến ranh giới. Trong hệ thống này hướng đến việc hút máu tất cả, chỉ vì một mục đích gia tăng lợi nhuận, tất cả những gì mong manh, như môi trường, không thể bảo vệ trước những liên hệ của lợi nhuận thị trường được thần thánh hóa, được chuyển đổi thành qui luật tuyệt đối. 

Nói không với tiền bạc chỉ biết thống trị, chứ không biết phục vụ

57. Đứng sau thái độ này, là việc phủ nhận đạo đức và từ chối Thiên Chúa. Thường người ta nhìn đạo đức như một thứ khinh bĩ có tính châm biếm. Người ta nhìn nó như một thứ ngăn cản sự phát triển và quá nhân bản, vì nó tương đối hóa tiền bạc và quyền lực. Người ta nhìn nó như thứ hăm dọa, vì nó kết án sự thao túng và hạ giá con người. Cuối cùng, đạo đức hướng đến một Thiên Chúa chờ đợi một lời đòi hỏi, đứng bên ngoài các thứ thị trường. Nếu các thị trường này được tuyệt đối hóa, Thiên Chúa sẽ không kiểm soát được, không thể thao túng, xem ra nguy hiểm, chỉ vì Người kêu gọi con người đạt tới sự hiện thực tròn đầy của mình và độc lập khỏi mọi thứ nô lệ. Đạo đức – đạo đức không bị ý thức hóa – cho phép tạo một sự cân bằng và một trật tự xã hội nhân bản hơn. Theo nghĩa này, tôi khuyến khích các nhà chuyên môn về tài chính và những nhà lãnh đạo các nước khác nhau, suy nghĩ lời nói của một người khôn ngoan trong quá khứ : “Việc không chia sẻ của cải cho người nghèo, có nghĩa là ăn cướp và cất đi cuộc sống của họ. Đó không phải là của cải mà chúng ta đang cầm giữ, nhưng là của họ.” [55].

58. Một cuộc cải tổ tài chính mà không biết đến đạo đức, cần có sự thay đổi quyết liệt thái độ về phần  người lãnh đạo chính trị, tôi khuyến khích họ phải đối đầu với thách thức đó với một sự dứt khoát và tầm nhìn xa, đương nhiên không thể bỏ qua tính đặc thù của bối cảnh. Tiền bạc phải phục vụ chứ không phải lãnh đạo ! Giáo hoàng yêu mến tất cả mọi người, giàu cũng như nghèo, nhân danh Đức Kitô nhắc cho những kẻ giàu phải có bổn phận giúp đỡ, tôn trọng và động viên kẻ nghèo. Tôi khuyến khích tất cả phải liên đới vô vị lợi và trở lại một nền kinh tế và tài chính với một nền đạo đức vì con người.   

Nói không với sự bất bình đẳng, từ đó nảy sinh bạo lực

59. Ngày nay, khắp mọi nơi Thiên Chúa đòi hỏi một sự bảo đảm lớn lao hơn. Nhưng bao lâu còn có sự loại trừ và chênh lệch xã hội, trong xã hội và giữa các dân tộc khác nhau, không thể nào nhổ tận gốc bạo lực. Người ta kết án các người nghèo và dân chúng bần cùng về tội bạo lực, nhưng nếu không có sự bình đẳng, các hình thức gây hấn và chiến tranh sẽ tìm được mảnh đất màu mở sớm muộn gì cũng sẽ nổ tung. Khi xã hội – địa phương, quốc gia hay thế giới – loại bỏ một phần xã hội ra bên lề, sẽ không có chương trình chính trị, không có sức mạnh trật tự và lý trí có thể bảo đảm được sự bình an. Điều này không thể xảy ra chỉ vì sự chênh lệch xã hội gây nên phản ứng bạo lực của những kẻ bị loại ra khỏi hệ thống, đó là vì hệ thống xã hội và kinh tế đã bất công từ gốc rể của chúng. Cũng như sự thiện hảo hướng đến việc chia sẻ, thì điều xấu mà người ta thỏa thuận, có nghĩa là điều bất công, hướng đến việc gieo rắc sức mạnh hũy diệt và làm yếu đi một cách âm thầm nền tảng mọi hệ thống chính trị, dù có vững chắc. Nếu mọi hoạt động đều có những hệ luận, một điều xấu nằm ngay trong những cơ cấu một xã hội sẽ luôn chứa chất một khả năng làm tan rã và cái chết. Điều xấu kết tinh trong những cơ cấu xã hội bất công, người ta không thể mong chờ từ đó một tương lai đẹp đẻ được. Chúng ta còn xa điều mà người ta gọi là “điểm kết thúc lịch sử”, chỉ vì các điều kiện cho một sự phát triển lâu bền và an bình chưa được nẩy mầm và hiện thực.

60. Các phương pháp máy móc của nền kinh tế hiện hành đưa đến việc tiêu thụ quá mức, một thứ tinh thần tiêu thụ không phanh, kết hợp với sự bất bình đẳng trong xã hội, làm cho cơ cấu xã hội bị tuột dốc gấp đôi. Với cách này, bất bình đẳng trong xã hội sớm muộn cũng gây nên bạo lực, mà cuộc chạy đua vũ trang không giải quyết được và cũng không bao giờ giải quyết được. Nó chỉ tìm cách dối gạt những người đòi hỏi an ninh bảo đảm hơn, gần như ngày nay chúng ta chỉ biết các khí giới và đàn áp tàn hại; thay vì đem đến những cách giải quyết, lại tạo thêm những xung khắc mới còn tệ hại hơn. Một số người chỉ muốn kết án người nghèo và những nước nghèo từ những khổ đau của họ, đưa ra những giải pháp đại cương như tìm cách giải quyết trong một thứ “giáo dục” bảo đảm, để biến họ thành những người dễ dạy và ngoan hiền. Điều này còn tàn tệ hơn nữa, khi những kẻ bị loại thấy loại ung thư xã hội – một thứ hũy hoại bắt nguồn sâu xa trong nhiều nước –, ngay trong chính quyền, trong các cơ chế và doanh nghiệp hoàn toàn không lệ thuộc vào ý thức hệ chính trị của chính quyền. 

Vài thách thức về mặt văn hóa

61. Chúng ta rao giảng Tin Mừng ngay khi phải đối mặt với những khó khăn thách đố có thể xuất hiện [56]. Đôi khi, các thách đố này xuất hiện trong các cuộc tấn công chống lại tự do tôn giáo hay trong hoàn cảnh các Kitô hữu bị bách hại nơi một số quốc gia, đã đến mức báo động do hận thù và bạo lực. Trong nhiều vùng, có thể đó là một sự dửng dưng đã lan rộng do sự thất vọng và khủng hoảng các ý thức hệ, như một thứ phản ứng chống lại tất cả những gì bị coi là  chuyên chế. Điều này không những gây hại cho Giáo hội, nhưng cho cả xã hội nói cách chung. Chúng ta phải công nhận có một thứ văn hóa mà mỗi người công nhận chân lý của riêng mình, sẽ gây khó khăn cho các công dân khác muốn tham gia vào các dự án vượt trên mọi tư lợi và khao khát cá nhân.

62. Trong thứ văn hóa thống trị, những gì bề ngoài, trực tiếp, có thể thấy được, nhanh gọn, tạm thời … đều được đặt vào vị trí ưu tiên. Điều thực chỉ được nhìn theo mặt ngoài. Trong nhiều quốc gia, việc toàn cầu hóa kéo theo sự thâm nhập nhanh chóng những xu hướng từ các nền văn hóa khác, phát triển về mặt kinh tế, nhưng đạo đức lại rất yếu kém, làm lung lay nền tảng văn hóa địa phương. Điều này đã được các Hội Đồng Giám Mục nhiều châu lục khác nhau nói đến. Tỉ như các Giám Mục Phi Châu, vài năm trước, học hỏi thông điệp Sollicitudo rei socialis, đã báo động rằng người ta muốn biến các nước Phi châu trở thành “những đinh ốc của một nguồn máy, những bộ phận của một công xưởng vĩ đại. Điều này được thấy rõ trong lãnh vực các phương tiện truyền thông xã hội, do các trung tâm điều khiển từ Bắc bán cầu, không chú tâm đến những gì ưu tiên cũng như các vấn đề của đất nước này, cũng như không tôn trọng văn hóa địa phương” [57]. Tương tự như thế, các Giám Mục Á châu cũng nhấn mạnh “ảnh hưởng bên ngoài đè nặng trên các nền văn hóa Á Châu. Những cách hành xử mới mẽ như  hậu quả của việc sử dụng quá độ các phương tiện truyền thông… Từ đó, đưa đến việc những phương diện tiêu cực của các phương tiện truyền thông và kỷ nghệ giải trí, gây nguy hiểm cho các giá trị truyền thống”[58].

63. Niềm tin Kitô giáo nơi nhiều dân tộc ngày nay đang gặp thử thách trước việc truyền bá các phong trào mới mang tính tôn giáo, một số theo xu hướng “cơ bản – Fundamentalismus”, số khác đề nghị một thứ linh đạo không cần Thiên Chúa. Điều này, một mặt là kết quả của phản ứng nhân bản trước xã hội tiêu thụ, duy vật, cá nhân chủ nghĩa và mặt khác, là sự kiện lợi dụng hoàn cảnh bi đát của dân chúng sống ngoại vi và các khu ổ chuột, tồn tại giữa muôn ngàn đau khổ của con người và là những người tìm những cách giải quyết tức thời cho những nhu cầu của họ. Các phong trào tôn giáo này được biểu trưng qua việc thâm nhập tinh tế, đến lấp đầy, giữa thứ cá nhân chủ nghĩa thống trị, một khoảng trống do thuyết Duy lý để lại, đã tục hóa họ. Hơn nữa, cũng phải nhận rằng, một số người đã được rửa tội nhưng lại không có cảm nghiệm thuộc về Giáo hội, điều này có lẽ do một số cơ cấu nào đó và một môi trường lạnh nhạt nơi một số người trong giáo xứ và các cộng đoàn, hoặc là thái độ bàn giấy để trả lời các vấn  đề đơn sơ hay phức tạp, về cuộc sống của dân chúng. Nhiều nơi, phương diện hành chính vượt trổi hơn phương diện mục vụ, cũng như việc trao ban bí tích mà không có những hình thức nào khác để rao giảng Tin Mừng.   

64. Tiến trình tục hóa đã đẩy niềm tin và Giáo hội vào lãnh vực cá nhân riêng tư và thầm kín. Hơn nữa, với việc phủ nhận tất cả chiều kích siêu vượt, tạo ra những sai lệch về mặt đạo đức, làm suy yếu ý nghĩa về tội cá nhân và xã hội, âm thầm gia tăng thuyết tương đối, đưa đến một sự mất định hướng cách chung, đặc biệt là trong giai đoạn vị thành niên và tuổi trẻ, là nhóm người rất dễ bị chao đảo trước những thay đổi như thế. Các vị Giám Mục Hoa Kỳ đã nhận thấy điều này; Giáo hội nhấn mạnh các quy tắc luân lý khách quan, có giá trị đối với tất cả mọi người, nhưng “có nhiều người lại cho các giáo huấn này thật bất công, nghịch với quyền nền tảng của con người. Các lý luận này cách chung xuất phát từ một hình thức của thuyết tương đối về mặt luân lý, nối kết – với nhiều nghịch lý nội tại – với một sự tin tưởng trong các quyền tuyệt đối của cá nhân. Dựa theo ý kiến này, người ta nhận thấy Giáo hội hình như đã có thiên kiến đặc biệt và can thiệp vào sự tự do cá nhân” [59]. Chúng ta sống trong một xã hội thông tin, tràn ngập những dữ kiện không có chút phân biệt, tất cả đều cùng một tầm mức, tạo sự dửng dưng nguy hiểm ngay lúc phải tiếp cận các vấn  đề luân lý. Do đó, cần phải có một sự giáo dục giúp suy nghĩ chính chắn và đưa ra một đường hướng trưởng thành trong các giá trị.

65. Mặc cho trào lưu tục hóa tràn ngập xã hội, trong nhiều quốc gia – ngay cả nơi Kitô giáo chỉ là thiểu số –  theo ý kiến chung, Giáo hội công giáo vẫn là một cơ chế đáng tin cậy, nhất là trong lãnh vực liên đới và quan tâm đến những người cần giúp đỡ nhất. Trong những vấn  đề này, Giáo hội phục vụ như người trung gian để tạo thuận lợi cho cách giải quyết những vấn  đề về hòa bình, hòa hợp, môi trường, bảo vệ sự sống, quyền con người và xã hội, vân vân… Nhất là sự đóng góp lớn lao của các trường học, đại học công giáo trên toàn cầu ! Điều này thật tích cực. Nhưng khi chúng ta nêu lên những vấn  đề khác, thì không được công chúng đón nhận mấy. Chúng ta phải trả giá để cho thấy rằng chúng ta thực hiện như thế vì trung thành với những xác quyết về phẩm giá con người và thiện ích chung.

66. Gia đình đang trải qua một cuộc khủng hoảng sâu xa về mặt văn hóa, tương tự như các cộng đoàn và các mối dây xã hội. Trong vấn  đề gia đình, vì đó là tế bào căn bản của xã hội, nơi người ta học để sống chung với nhau trong sự khác biệt và thuộc về nhau và là nơi cha mẹ truyền đạt niềm tin cho con cái, ngày nay các mối liên hệ này bị lỏng lẽo cách trầm trọng. Hôn nhân có xu hướng bị đánh giá như một hình thức đơn thuần thỏa mãn tình cảm mà người ta có thể xây dựng bất cứ cách thức nào và có thể thay đổi dựa theo cảm nhận của từng người. Nhưng sự đóng góp tất yếu của hôn nhân vượt qua tầm mức cảm xúc và những nhu cầu bất ngờ của đôi bạn. Như giáo huấn của các vị Giám Mục Pháp nhấn mạnh, hôn nhân không “phát sinh từ tình cảm yêu đương, như định nghĩa thật hời hợt, nhưng từ việc dấn thân sâu xa của đôi bạn, chấp nhận bước vào một cuộc sống kết hợp trọn vẹn” [60].

67. Chủ nghĩa cá nhân thời hậu hiện đại và toàn cầu hóa dung túng một lối sống làm suy yếu sự phát triển và bền vững của các mối dây liên hệ giữa người, phá vỡ bản chất các liên hệ gia đình. Hoạt động mục vụ phải làm nổi bật mối dây liên hệ với Thiên Chúa, đòi buộc và động viên một sự hiệp thông lành mạnh, tạo điều kiện và củng cố các mối liên hệ giữa con người. Trong khi thế giới, đặc biệt trong một số nước, lại xuất hiện nhiều hình thức chiến tranh và xung đột khác nhau; là Kitô hữu, chúng ta đề nghị mọi người chấp nhận nhau, chăm sóc các vết thương, xây dựng các mối nối,  siết chặt các liên hệ, giúp đỡ cùng “mang gánh nặng cho nhau” (Gl 6,2). Mặt khác, ngày nay, phát sinh nhiều hình thức hiệp hội đa dạng để bảo vệ quyền lợi và đạt được nhiều mục đích xứng đáng. Với cách thức này, người ta thấy vẫn có nhiều người khao khát chia sẻ để xây dựng tiến bộ xã hội và văn hóa.

Các thách thức về việc hội nhập văn hóa của đức tin

68. Nền tảng Kitô giáo nơi một số dân tộc – nhất là ở Phương Tây – là một thực tại sống động. Nơi đây, chúng ta gặp, nhất là nơi một số người cùng khổ, còn bảo tồn các giá trị luân lý của chủ thuyết nhân bản Kitô giáo. Một cái nhìn đức tin trên thực tế có thể không nhận ra những gì chính Chúa Thánh Thần đã gieo rắc. Điều này có nghĩa là chúng ta không tin tưởng vào hoạt động tự do và quảng đại của Người, vì nghĩ rằng đã không còn giá trị đích thực công giáo nơi một phần lớn dân chúng đã lãnh nhận bí tích Rửa tội và diễn tả niềm tin và tình liên đới huynh đệ qua nhiều cách thế. Phải nhận ra nơi đây còn có nhiều “hạt giống của Lời”, khi nói về một niềm tin công giáo chính thống với nhiều cách diễn tả riêng và thuộc về Giáo hội. Đừng bỏ qua ý nghĩa quyết định, mà một nền văn hóa được đánh dấu bằng đức tin, chỉ vì nền văn hóa này đã được Phúc Âm hóa, vượt qua ranh giới của nó, còn rất nhiều khả năng hơn là một tổng hợp đơn sơ các tín hữu bị đặt trước những cuộc tấn công của việc tục hóa hiện hành. Một nền văn hóa phổ biến được Phúc Âm hóa chứa đựng nhiều giá trị đức tin và tình liên đới, có thể gợi lên việc xây dựng một xã hội công bằng và đáng tin cậy hơn, và khôn ngoan nhận thức được sự biết ơn. 

69. Rất cần thiết để Phúc Âm hóa các nền văn hóa, để hội nhập Tin Mừng. Trong các nước theo truyền thống công giáo, phải đồng hành, chăm sóc và củng cố sự phong phú đã có, và trong các nước theo những truyền thống tôn giáo khác hay đã tục hóa nặng nề, phải tạo điều kiện cho có tiến trình Phúc Âm hóa văn hóa, cho dù phải có những dự án thực lâu dài. Dù vậy, chúng ta không được quên rằng, luôn luôn phải có một lời kêu gọi để phát động. Mỗi một nền văn hóa và mỗi nhóm xã hội cần được thanh luyện và trưởng thành. Trong trường hợp của nền văn hóa công giáo phổ biến, chúng ta phải nhận ra một số yếu kém cần phải được Phúc Âm chữa khỏi : sự quá khích, nghiện ngập, bạo lực gia đình, tham gia hời hợt vào Thánh lễ, các tín hữu theo thuyết định mệnh hay dị đoan, chạy theo phù thủy và bùa phép, vân vân… Nhưng thực sự đó là thứ đạo đức bình dân, cũng là điểm tích cực để chữa lành và giải phóng cho họ.

70. Thật sự, đôi khi điểm nhấn nằm ở những hình thức bên ngoài các truyền thống của một vài nhóm hay dựa vào giả thuyết mạc khải tự coi như không cần tranh luận, hơn là việc thúc đẩy lòng đạo đức Kitô giáo. Hiện có một thứ Kitô giáo dựa vào thực hành đạo đức, một cách sống đức tin cá nhân và ủy mị, nhưng thực tế lại không đáp ứng được lòng “đạo đức công khai”. Một số người khuyến khích cách diễn tả này mà không màn đến việc quan tâm xã hội và đào tạo giáo dân; trong vài trường hợp, họ làm như thế để được nhiều lợi lộc kinh tế hay vài quyền hành trên kẻ khác. Chúng ta không được quên rằng, trong những thập niên cuối này, đã xảy ra cuộc đổ vỡ việc truyền đạt đức tin Kitô giáo giữa các thế hệ người công giáo. Phải công nhận, có nhiều người cảm thấy thất vọng và không còn nằm trong truyền thống công giáo, nhiều cha mẹ không còn xin rửa tội cho con cái và không dạy cho con cái biết cầu nguyện, một số người gia nhập vào những cộng đoàn đức tin khác. Một số nguyên nhân của sự đổ vỡ này là : thiếu vắng không gian đối thoại trong gia đình, ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông, thuyết chủ quan tương đối, tinh thần tiêu thụ thả giàn do thị trường kích động, thiếu sự đồng hành mục vụ nơi những người nghèo, thiếu sự đón nhận nồng nhiệt trong các tổ chức của chúng ta; chúng ta gặp khó khăn để tạo lại sự gắn bó với mầu nhiệm đức tin trong  môi trường đa tôn giáo. 

Những thách thức của nền văn hóa đô thị

71. Thành Giêrusalem mới, Thành Thánh (Kh 21,2-4) là đích đến của toàn thể nhân loại đang hướng tới. Thật thú vị khi mạc khải nói với chúng ta rằng sự viên mãn của nhân loại và của lịch sử lại được thực hiện trong thành này. Chúng ta cần phải nhận thức thành này từ một cái nhìn chiêm ngắm, có nghĩa là một cái nhìn đức tin giúp khám phá Thiên Chúa đang ngự trong các ngôi nhà, trên các đường phố, trên các công trường của thành này. Sự hiện diện của Thiên Chúa đồng hành với cuộc tìm kiếm chân thành của những con người và các nhóm đang tìm một chỗ nương tựa, một ý nghĩa cho cuộc sống của họ. Thiên Chúa đang sống giữa các thị dân đang cố gắng đi tìm sự liên đới, tình huynh đệ, khao khát điều thiện hảo, điều chân thật, điều công bằng. Sự hiện diện này không được xếp đặt, nhưng cần được khám phá, được bộc lộ. Thiên Chúa không tự ẩn kín trước những người đang tìm kiếm Người, dù họ có mò mẫm, bằng nhiều cách bất định và lẫn lộn. 

72. Trong thành phố, phương diện tôn giáo chỉ biểu lộ qua trung gian nhiều cách sống khác nhau, những thói quen dựa vào một ý nghĩa thời đại, của mãnh đất và các liên hệ khác biệt cách sống của dân quê. Trong đời sống hằng ngày, dân thành thị phải luôn chiến đấu để sống còn và, trong cuộc chiến này, có một ý nghĩa sâu xa của hiện sinh cũng thường bao gồm cả ý nghĩa sâu xa về tôn giáo. Chúng ta phải chú ý để có được một cuộc đối thoại như cuộc đối thoại của Chúa với bà Samaritana, kề bên giếng nước, nơi chị muốn làm dịu cơn khát của mình  (x. Ga 4,7-26).

73. Nhiều nền văn hóa mới tiếp tục phát sinh trong vùng địa lý rộng lớn, nơi người Kitô hữu không còn được coi là những người đòi hỏi và sáng tạo ý nghĩa, nhưng lại lãnh nhận từ ngôn ngữ khác, các biểu trưng, sứ điệp và các mô mẫu đưa ra những định hướng mới cho cuộc sống, thường là xung khắc với Tin Mừng của Đức Giêsu. Một nền văn hóa mới bùng nổ trong thành phố. Thượng Hội đồng đã xác nhận rằng ngày nay việc chuyển đổi các khu vực rộng lớn và văn hóa biểu trưng, là môi trường thích hợp cho việc Phúc Âm hóa mới mẽ [61]. Điều này đòi hỏi phải nghĩ đến những không gian cầu nguyện và hiệp thông với  đặc tính sáng tạo, có sức thu hút và đầy ý nghĩa với dân thành phố. Những vùng nông thôn, vì ảnh hưởng các phương tiện truyền thông đại chúng, không còn xa lạ với những chuyển đổi văn hóa, cũng tạo nên nhiều thay đổi  đầy ý nghĩa cho cách sống của họ.

74. Cần phải có một việc Phúc Âm hóa giúp soi rọi nhiều cách thế để liên lạc với Thiên Chúa, với kẻ khác và với môi trường, và gợi lên các giá trị căn bản. Điều tất yếu phải đạt tới nơi xuất hiện những trình thuật và mô mẫu mới, cùng với lời Chúa phải đạt tới những yếu tố nền tảng sâu xa nhất của trung tâm thành phố. Đừng quên rằng thành phố là nơi đa văn hóa. Trong các thành phố lớn, người ta có thể nhìn thấy chuỗi liên kết nơi nhiều nhóm người chia sẻ những mơ ước cho cuộc sống và các thế giới mơ tưởng, nơi đó hình thành nhiều nhóm người mới, trong môi trường văn hóa, trong các thành phố vô hình. Nhiều hình thức văn hóa đổi thay liên kết với nhau trong thực tế, nhưng thường xuất hiện các thực hành phân loại và bạo lực. Giáo hội được mời gọi để thực hiện một cuộc đối thoại khó khăn. Mặt khác, nhiều thị dân có các phương tiện tương đối để phát triển đời sống cá nhân và gia đình của mình, nhưng cũng có một số đông thuộc thành phần “không phải là thị dân”, “thứ thị dân nửa vời” hay “vẫn còn quê mùa”. Thành phố sản sinh một thứ mâu thuẩn thường trực, chỉ vì, trong khi thành phố đem đến cho thị dân biết bao khả năng vô tận, nhưng còn rất nhiều khó khăn xuất hiện cho việc phát triển cuộc sống của nhiều người. Những nghịch lý này gây đau khổ xé nát tâm can. Trong nhiều vùng trên thế giới, các thành phố là sân khấu cho những cuộc biểu tình của dân chúng, nơi đó có biết bao  người đòi hỏi tự do, chia sẻ, công bằng và nhiều quyền lợi khác, nếu không được giải quyết thích hợp, thì không thể dùng bạo lực bắt họ phải thinh lặng.

75. Chúng ta không được quên rằng trong các thành phố, việc buôn bán ma túy, buôn người, lạm dụng và bóc lột các trẻ em, bỏ rơi các người già lão và bệnh tật, những hình thức sa đọa và tội phạm gia tăng thật dễ dàng.  Đồng thời, đáng lý thành phố có thể trở thành không gian quí báu cho việc gặp gỡ và liên đới, có thể trở thành nơi đầy hoa trái và tin tưởng lẫn nhau. Nhà cửa và khu phố được xây dựng thay vì nối kết và hội nhập, lại cô lập và tự bảo vệ. Việc công bố Tin Mừng sẽ là một nền tảng để tái lập lại phẩm giá đời sống con người trong các hoàn cảnh này, chỉ vì Đức Giêsu muốn gieo rắc tràn đầy sức sống trong các thành phố này (x.Ga 10,10). Ý nghĩa độc nhất và tròn đầy cuộc sống con người mà Tin Mừng đề nghị là phương thuốc tốt nhất cho những khổ đau của thành phố, nhưng chúng ta lại có một chương trình và một phương cách đồng nhất và cứng ngắt để Phúc Âm hóa không thích hợp với thực tế. Việc sống thật trọn vẹn cho những gì là nhân bản và hội nhập vào trọng tâm các thách đố như hạt giống chứng tá, trong bất cứ văn hóa nào, trong bất cứ thành phố nào, điều đó sẽ kiện toàn người Kitô hữu và làm cho thành phố thêm phong phú.

2. Các cơn cám dỗ cho những người thực hành mục vụ

76. Tôi thành thật biết ơn tất cả những người dấn thân hoạt động trong Giáo hội. Ngay lúc này, tôi không trình bày các hoạt động của việc mục vụ đa dạng, của các vị Giám Mục cho đến những người khiêm tốn và âm thầm trong các phục vụ của Giáo hội. Thay vào đó, tôi muốn suy nghĩ về những thách đố, mà họ phải đối mặt với một thứ văn hóa toàn cầu hiện hành. Dù vậy, trước tiên và thật công bằng, tôi phải công nhận rằng, Giáo hội đã đóng góp rất nhiều cho thế giới ngày nay. Các nỗi đau khổ và xấu hỗ của chúng ta vì tội lỗi của một số thành phần giáo hội, và cả của chúng ta nữa, không làm cho chúng ta quên rằng mọi Kitô hữu phải dâng hiến mạng sống mình vì tình yêu : họ đã giúp đỡ nhiều người, chăm sóc và chết thật bình an trong các bệnh viện đầy thiếu thốn, đồng hành với những người trở thành nô lệ nghiện ngập trong những nơi nghèo khổ nhất trên thế giới, dấn thân trong việc giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên, chăm sóc những người già lão bị mọi người bỏ rơi, tìm cách truyền đạt các giá trị trong những vùng thù nghịch, hiến thân bằng nhiều cách để cho mọi người thấy tình yêu bao la cho nhân loại mà Thiên Chúa làm người gợi hứng cho chúng ta. Tôi cảm ơn tấm gương thật đẹp của biết bao Kitô hữu dâng hiến cuộc sống và thời gian với niềm vui. Chứng cứ này tạo cho tôi nhiều điều thiện hảo, nâng đỡ những khao khát cá nhân của tôi vượt lên tính ích kỷ để tôi dâng hiến nhiều hơn.

77. Dù sao đi nữa, chúng ta như những người con của thời đại này, mọi người đều chịu ảnh hưởng cách này hay cách khác của nền văn hóa hiện tại được toàn cầu hóa, nền văn hóa này, dù có mang đến cho chúng ta những giá trị và những khả năng mới, cũng có thể hạn hẹp chúng ta lại, đặt điều kiện với chúng ta và có thể làm cho chúng ta thành bệnh hoạn. Tôi cho rằng chúng ta cần tạo ra những không gian thích hợp để động viên, khuyến khích những người hoạt động mục vụ, “những nơi mà niềm tin vào Đức Giêsu chịu đóng đinh và đã phục sinh, nơi các vấn  đề sâu xa nhất và những quan tâm hằng ngày được chia sẻ, nơi người ta có thể đánh giá cách sâu xa cuộc sống và những kinh nghiệm nhờ ánh sáng của Tin Mừng, hầu có thể định hướng đến điều thiện và sự tốt đẹp của những chọn lựa cá nhân và xã hội” [62]. Đồng thời, tôi muốn gây chú ý đến các cám dỗ đặc biệt tấn công những kẻ đang thực hành mục vụ. 

Đồng ý với thách thức về một linh đạo truyền giáo 

78. Ngày nay, người ta có thể gặp nơi nhiều vị đang làm mục vụ, cả những người đã được thánh hiến, một sự quan tâm quá đáng về những không gian tự do và thư giản cá nhân, khiến họ thực hiện trách nhiệm của mình như một thứ phụ thuộc đơn giản trong cuộc đời, làm như các trách nhiệm này không là thành phần căn tính của họ. Đồng thời, đời sống tinh thần lẫn lộn với những thời gian tôn giáo đưa đến một thứ an ủi nào đó, nhưng không giúp tăng trưởng việc gặp gỡ kẻ khác, sự dấn thân trong thế giới, lòng nhiệt thành với việc truyền giáo. Như thế, người ta dễ gặp nơi những vị truyền giáo, dù các ngài có cầu nguyện, một dấu ấn của chủ nghĩa cá nhân, một sự khủng hoảng căn tính và một sự chết dần lòng nhiệt thành. Ba cái xấu này liên hệ vào nhau.  

79. Nền văn hóa truyền thông và vài môi trường trí thức đôi khi truyền đạt một sự nghi ngờ với sứ điệp của Giáo hội, và một sự vỡ mộng. Như hậu quả, nhiều người làm mục vụ, dù họ có cầu nguyện, vẫn thấy có một thứ mặc cảm tự tin, đưa đến việc tương đối hóa hay che giấu căn tính Kitô hữu và các xác quyết của mình. Như thế sẽ xuất hiện một vòng ma quái, chỉ vì họ không được hạnh phúc trong cách sống cũng như trong việc làm, không cảm nhận được sự đồng nhất với sứ vụ Phúc Âm hóa, điều này làm giảm bớt sự dấn thân của họ. Họ bóp nghẹt niềm vui của sứ vụ bằng một định kiến phải trở thành như mọi người và có được những gì người khác có. Từ đó, trách nhiệm Phúc Âm hóa bị áp lực vì họ đã không dành nhiều cố gắng và một thời gian thích hợp lâu dài. 

80. Ngoài cách sống tinh thần hay luồng tư tưởng đặc biệt mà họ có, còn một điều nguy hiểm nữa là thuyết tương đối về mặt tín lý đang hình thành nơi những vị làm mục vụ. Nó liên hệ đến cách chọn lựa sâu xa và thành thực, xác định một lối sống. Chủ thuyết tương đối này đưa đến các hoạt động gần như không có Thiên Chúa, những quyết định xem người nghèo như không hiện hữu, tha nhân cũng không hiện diện và làm việc như tất cả mọi người đã lãnh nhận lời rao giảng. Cho dù các vị này, xem ra đã có những quyết tâm vững chắc về mặt giáo lý lẫn tinh thần, nhưng phải thấy rằng họ thường rơi vào một lối sống chỉ gắn bó với những thứ bảo đảm về mặt kinh tế, quyền hành và vinh quang bản thân, mà họ đã tạo nên bằng bất cứ cách thức nào, thay vì hiến dâng cuộc sống cho kẻ khác trong sứ vụ. Đừng để cho lòng nhiệt thành truyền giáo tan biến đi !

Nói không với sự lười biếng ích kỷ

81. Khi chúng ta cần nhiều năng lực truyền giáo để đem muối và ánh sáng vào thế giới, nhiều giáo dân lo sợ có ai đó khuyên bảo họ thực hiện một trách nhiệm tông đồ, và họ tìm cách trốn chạy trước mọi cam kết vì điều này có thể làm mất nhiều thời gian tự do của họ. Tỉ như ngày nay, rất khó tìm các giáo lý viên đã được đào tạo cho xứ đạo và kiên trì sứ vụ của họ trong nhiều năm. Một điều tương tự như thế cũng xảy ra nơi các linh mục, vì họ quá chú tâm vào thời gian cá nhân của họ. Điều này thường xảy ra vì những vị này quá chú trọng đến không gian độc lập của họ ; gần như dấn thân vào việc Phúc Âm hóa như một chất độc nguy hiểm thay vì đáp lại cách phấn khởi cho tình yêu của Thiên Chúa, Đấng triệu tập chúng ta lại cho sứ vụ, giúp chúng ta hoàn thiện và phong phú. Một số người hoàn toàn chống lại niềm vui của sứ vụ và bị nhận chìm trong sự ươn lười xơ cứng.

82. Vấn  đề không phải luôn luôn qúa tải vì hoạt động, nhưng chỉ là những hoạt động tồi tệ, không động lực xứng đáng, không một linh đạo thấm nhuần hoạt động và làm cho hoạt động đáng mong ước. Từ đó kéo theo những hoạt động làm rã rời, đôi khi đưa đến bệnh hoạn. Đấy không phải là một sự mệt mõi thanh thản, nhưng căng thẳng, khó nhọc, không thỏa mãn và dứt khoát không thể chấp nhận. Sự lười biếng trong mục vụ có thể có những nguyên nhân khác. Một số vị rơi vào sự lười biếng này chỉ vì chạy theo những dự án bất khả thi và không thích sống với những gì có thể giúp họ được bình yên. Những vị khác, vì không chấp nhận tiến trình khó khăn và chỉ ao ước tất cả từ trời rơi xuống. Các vị khác, chỉ vì gắn bó với những dự án và những giấc mơ thành công từ sự khoa trương của họ. Những vị vì đã mất liên hệ cụ thể với người khác, trong một thứ mục vụ bàn giấy, chỉ chú tâm vào tổ chức hơn là con người, cho dù “bản dự thảo” giúp họ thỏa mãn hơn là chính tiến trình. Những vị khác rơi vào sự ươn lười vì không biết chờ đợi, chỉ muốn chế ngự nhịp sống. Sự thiếu kiên nhẫn phổ biến trong hiện tại chỉ mong những hiệu quả tức thời, làm cho các vị thực hành mục vụ không chấp nhận dễ dàng ý nghĩa của một số xung khắc, một sự thất bại bên ngoài, một phê phán, một thập giá. 

83. Từ đó hình thành sự đe dọa lớn nhất, “đó là chủ nghĩa thực dụng đáng buồn trong cuộc sống hằng ngày của Giáo hội, trong đó tất cả xem ra diễn biến bình thường, trong khi thực tế, niềm tin yếu dần và rơi vào sự tầm thường” [63]. Từ đó phát sinh một thứ tâm lý nhà mồ dần dần biến các Kitô hữu thành những xác ướp. Thất vọng trước thực tế, do chính Giáo hội hay do chính mình,  họ thường bị rơi vào một thứ u buồn êm dịu, không chút hy vọng, tràn ngập tâm hồn họ như một thứ “rượu quí giá của ma quỉ” [64]. Được kêu gọi để soi sáng và thông ban sự sống, cuối cùng họ  tự để cho những thứ chỉ đưa đến u tối và mệt mõi nội tâm, làm yếu đi sức năng động Tông đồ. Đối với tất cả những điều này, tôi muốn nhấn mạnh : đừng để cho niềm vui của việc Phúc Âm hóa tan biến đi !

Nói không với thuyết bi quan cằn cỗi

84. Niềm vui của Tin Mừng là niềm vui không có gì và không ai có thể cướp mất được (x. Ga 16,22).  Những điều xấu của thế giới chúng ta – và của Giáo hội – không bao giờ là những lời chạy tội để giảm bớt các dấn thân và lòng nhiệt thành của chúng ta. Chúng ta hãy đón nhận chúng như những thách đố để phát triển. Ngoài ra, cái nhìn về niềm tin có khả năng giúp nhận ra ánh sáng của Chúa Thánh Thần luôn chiếu tỏa trong bóng tối, không quên rằng “ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Niềm tin của chúng ta được mời gọi để nhìn nước có thể hóa thành rượu, và khám phá hạt giống lớn lên ngay giữa đám cỏ lùng. Năm mươi năm kể từ Công Đồng Vaticanô II, dù những yếu đuối của thời đại có làm chúng ta đau khổ và chưa được lạc quan cách ngây thơ, thì thực tại cũng không thể nói là chúng ta ít tin tưởng vào Chúa Thánh Thần và cũng ít lòng quảng đại. Theo ý hướng này, chúng ta nên nghe lại lời đáng ghi nhớ của Chân phước Giáo Hoàng Gioan XXIII trong ngày 11 tháng 10 năm 1962 :  “Đôi khi tai chúng ta phải nghe tiếng nói của một số người, đầy lòng nhiệt thành tôn giáo, nhưng thiếu chín chắn trong việc phán đoán trong cách nhìn mọi sự. Trong hoàn cảnh xã hội hiện tại, họ chỉ nhìn thấy đổ vỡ và tai ương… Cần phải nói rằng chúng ta không đồng ý với các ngôn sứ chỉ biết rao giảng tai họa, làm như thế giới sắp chấm dứt. Trong trật tự hiện hành của thế giới, sự quan phòng của Thiên Chúa dẫn chúng ta đi vào một trật tự mới trong liên hệ giữa con người. Chương trình này sẽ hoàn tất qua hoạt động của con người và vượt quá sự mong chờ theo chương trình của con người; chương trình của Chúa Quan Phòng, cao hơn những suy nghĩ của con người. Và tất cả, ngay khi có những ý kiến khác biệt giữa con người phục vụ cho sự thiện hão lớn lao của Giáo hội” [65]

85. Một trong những cơn cám dỗ nghiêm trọng nhất làm dập tắt lòng nhiệt thành và sự can đảm là ý nghĩa của thất vọng, biến chúng ta thành những con người bi quan bất mãn với gương mặt thật ưu sầu. Không ai dám bước vào chiến tranh nếu trước đó không hy vọng tràn đầy đến chiến thắng. Ai bắt đầu mà không có chút tin tưởng, đã mất đi phân nửa trận chiến và chôn vùi tài năng của mình. Nếu như đó là một ý thức đau khổ về giới hạn riêng mình, phải tiến lên nhưng không để bị đánh bại, và nhớ lại lời Chúa đã nói với thánh Phaolô : “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Chiến thắng mang tính Kitô giáo luôn luôn là thập tự, nhưng thập giá đồng thời cũng là lá cờ chiến thắng, người ta cầm với một sự dịu dàng đối kháng với các cuộc tấn công của cái xấu. Thần xấu của thất bại là bạn của cám dỗ, muốn sớm tách hạt giống ra khỏi đám cỏ lùng, và đó là sản phẩm của lo lắng ích kỷ.

86. Đương nhiên đã có những vùng “hoang hóa” về mặt tinh thần, sản phẩm của những xã hội muốn tự xây dựng không cần đến Thiên Chúa hay muốn tàn phá các gốc rễ Kitô giáo. Nơi đó “thế giới Kitô giáo bị khô cằn, suy yếu như mảnh đất bị khai thác quá mức, trở thành cát đá” [66]. Trong những nước khác, bạo lực chống đối Kitô giáo đòi hỏi Kitô hữu sống niềm tin của mình gần như lẫn tránh trong các vùng mà họ yêu mến. Đó là một hình thức khác rất đau đớn của hoang mạc. Ngay cả trong gia đình hay trong nơi làm việc của mình cũng có thể là môi trường khô cằn mà người ta phải gìn giữ đức tin và tìm cách truyền bá. Nhưng “ngay chính trong cảm nghiệm về sa mạc này, về sự trống rổng, mà chúng ta phải tái khám phá niềm vui của đức tin, đó là sự quan trọng sống động cho chúng ta, cho người nam cũng như người nữ. Trong sa mạc này, người ta khám phá giá trị điều gì tất yếu cho cuộc sống, các dấu chỉ khao khát Thiên Chúa ngay trong thế giới hiện tại, ý nghĩa tối thượng cho cuộc sống, những giá trị này rất nhiều dù được biểu lộ cách ẩn kín hay tiêu cực. Và, trong sa mạc này, những con người của niềm tin, theo gương sống của mình, vạch con đường hướng đến Đất Hứa và luôn tĩnh thức trong hy vọng” [67]. Trong mọi trường hợp, trong những hoàn cảnh tương tự, chúng ta được mời gọi trở thành những con người bình nước (personnes-amphores) để cho kẻ khát uống. Đôi khi, bình nước biến thành thập giá nạng nề, nhưng chính trên thập giá này mà Chúa bị đâm thâu, tự ban mình như nguồn nước sống. Chúng ta đừng để hy vọng tan biến ! 

Hãy đồng ý với những liên hệ mới được phát sinh từ Đức Giêsu Kitô 

87. Ngày nay, các mạng và các dụng cụ truyền thông của con người đạt tới một tầm phát triển vượt bực, chúng ta cảm thấy cần phải khám phá và chuyển đạt “huyền nhiệm” của cách sống chung, hòa trộn với kẻ khác, gặp gỡ nhau, cùng nắm tay nhau, nâng đỡ nhau, tham gia vào cơn sóng có vẻ lộn xộn có thể chuyển biến thành một kinh nghiệm huynh đệ đích thực, trong một đoàn người liên đới, một cuộc lữ hành thánh thiện. Như thế, những khả năng truyền thông lớn nhất có thể chuyển biến thành nhiều khả năng cho việc gặp gỡ và liên đới giữa chúng ta. Sẽ thật tốt đẹp, nếu chúng ta đi theo con đường sinh động, rất tự do, tràn đầy hy vọng ! Ra khỏi con người mình để kết hợp với kẻ khác làm điều thiện. Tự khép kín chính mình có nghĩa là ngậm nhấm mật đắng của vô tận, và tất cả chọn lựa ích kỷ mà chúng ta thực hiện, sẽ đặt nhân loại nằm bên dưới.

88. Lý tưởng Kitô giáo luôn mời gọi chúng ta vượt qua nghi ngờ, thiếu vắng sự tin tưởng thường trực, bị sợ sệt xâm chiếm, những thái độ tự vệ mà thế giới hiện tại lập trình cho chúng ta. Nhiều người cố trốn chạy trước kẻ khác để có được một cuộc sống riêng tư thuận tiện, hay để chọn vòng nhỏ bé của những người thân thiết nhất, và từ chối thực tại chiều kích xã hội của Tin Mừng. Cũng thế, một số người chỉ muốn có một Đức Kitô hoàn toàn thiêng liêng, không xác thể không thập tự, cũng thế họ nhắm liên hệ giữa con người ngang qua các thiết bị máy móc, qua màn ảnh và hệ thống, mà người ta có thể tắt mở theo mệnh lệnh. Trong khi Tin Mừng luôn mời gọi chúng ta chấp nhận nguy hiểm để gặp con người bằng mặt, với sự hiện diện thể lý, điều này đòi hỏi chúng ta, với cả sự đau khổ và dằn vật, với niềm vui trong sự gặp gỡ thường xuyên về mặt thể lý. Niềm tin đích thực trong Con Thiên Chúa làm người không thể tách biệt với việc hiến dâng chính bản thân mình, với việc thuộc về cộng đoàn, với phục vụ, với giao hòa thể lý với kẻ khác. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Con Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến cuộc cách mạnh của tình yêu thân thiết.  

89. Sự tách biệt, là một hình thức của chủ thuyết nội tại (Immanentismus), có thể được diễn tả như một sự độc lập sai lệch, loại bỏ Thiên Chúa, dù vậy, cũng có thể gặp trong tôn giáo một hình thức tinh thần tiêu thụ trong tầm chủ thuyết duy ngã bệnh hoạn. Việc quay về với linh thánh và việc tìm lại tinh thần ghi dấu ấn cho thời đại chúng ta, là những hiện tượng hàm hồ. Nhưng còn hơn các thuyết vô thần, ngày nay chúng ta phải đối diện với thách thức phải trả lời tương xứng cho việc khao khát Thiên Chúa của nhiều người, để họ không gặp phải những câu trả lời sai lệch hay với một Đức Giêsu Kitô vô ảnh, không một chút dấn thân cho kẻ khác. Nếu như họ không tìm được trong Giáo hội một linh đạo có thể chữa lành họ, giải thoát họ, đem lại tràn đầy sự sống và bình an, và đồng thời mời gọi họ hiệp thông liên đới và truyền giáo phong phú, cuối cùng họ cảm thấy bị dối gạt bằng những đề nghị không mang tính nhân bản, cũng không tôn vinh Thiên Chúa.  

90. Những hình thức đặc thù của đạo đức bình dân được phát triển, chỉ vì chúng phát sinh từ việc hội nhập niềm tin Kitô giáo vào trong văn hóa phổ thông. Vì thế, chúng đưa đến một liên hệ cá nhân, không phải với những năng lực hài hòa, nhưng với Thiên Chúa, với Đức Giêsu Kitô, với Mẹ Maria, với một vị thánh. Các Ngài có thể xác, có gương mặt. Các hình thức đặt thù cho đạo đức bình dân được thích ứng để nuôi dưỡng những khả năng liên hệ chứ không phải lẫn tránh vào cá nhân. Trong những lãnh vực khác của xã hội chúng ta, nảy sinh nhiều hình thức “linh đạo thoải mái” (Spiritualitãt des Wohlbefindens) không cần đến cộng đoàn, một thứ “thần học thịnh vượng” không cần dấn thân huynh đệ, hay những kinh nghiệm chủ quan không định hình được, chỉ đúc kết vào một sự tìm tòi nội tâm.

91. Một thách đố quan trọng cho thấy, giải pháp không bao giờ là cuộc trốn lánh một liên hệ cá nhân và dấn thân với Thiên Chúa, đồng thời cũng giúp chúng ta dấn thân cho kẻ khác. Điều diễn ra trong ngày nay khi các tín hữu có thái độ như trốn lánh trước cái nhìn của kẻ khác, khi họ trốn chạy từ nơi này sang nơi khác hay từ trách nhiệm này sang trách nhiệm khác, mà không tạo những dây liên hệ sâu xa và vững bền : “Imaginatio locorum et mutatio multos fefellit” [68]. Đó chỉ là một phương thuốc sai lầm, chỉ gây bệnh tật cho trái tim và đôi khi cho cả thân xác. Cần phải giúp đỡ họ nhận ra con đường duy nhất chỉ nằm trong việc học hỏi để biết gặp gỡ kẻ khác khi thu thập thái độ chính trực, khi nhận ra và chấp nhận như bạn đồng hành, không chút đối kháng từ nội tâm. Hơn nữa, phải học khám phá Đức Giêsu trong gương mặt các kẻ khác, trong tiếng nói của họ, trong những yêu cầu của họ. Như thế cũng học biết khổ đau khi ôm lấy Đức Giêsu chịu đóng đinh, khi chúng ta đón nhận những tấn công bất nghĩa và sự vô ơn, mà không bao giờ bỏ qua tình huynh đệ [69]. 

92. Nơi đó cũng có sự chữa bệnh đích thực, ngay lúc thái độ của chúng ta liên hệ với kẻ khác, chúng ta sẽ tự chữa lành thật sự thay vì trở thành bệnh hoạn, đó là tình huynh đệ huyền nhiệm , chiêm niệm, giúp chúng ta biết nhìn sự lớn lao linh thánh của người thân cận, khám phá Thiên Chúa nơi từng con người, biết chịu đựng những khó chịu để sống chung khi biết bám vào tình yêu của Thiên Chúa, biết mở rộng tâm hồn cho tình yêu thần linh để tìm hạnh phúc cho kẻ khác như Thiên Chúa nhân lành đã làm. Ngay chính thời gian này và chỉ nơi đó mới có “đàn chiên nhỏ bé”(Lc 12,32), những môn đệ của Chúa được mời gọi sống như một cộng đoàn. Là muối đất, là ánh sáng trần gian (x. Mt 5,13-16), họ được mời gọi làm chứng một cách mới mẽ cho việc thuộc về thành phần truyền giáo  [70]. Chúng ta đừng để cho cộng đoàn phải tan biến đi !

Nói không với tinh thần thế tục

93. Tính thế tục tinh thần, ẩn kín sau những bộ dạng mang tính tôn giáo, ngay cả của tình yêu Giáo hội, nhấn mạnh đến việc tìm vinh quang của con người thay vì vinh quang của Thiên Chúa và sự thoải mái cá nhân. Đó là điều Chúa trách cứ nhóm Pharisêu :”Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được ?” (Ga 5,44). Đó là một cách tinh tế để tìm “lợi ích cho mình, chứ không tìm lợi ích cho Đức Kitô-Giêsu” (Pl 2,21). Cách tinh tế này mang nhiều hình thức, theo mẫu cá nhân và hoàn cảnh trong đó nó thâm nhập vào. Ngay lúc nó liên kết với bộ dang bề ngoài, nó không luôn đồng hành với các tội công khai, nhưng bề ngoài tất cả xem ra thật đúng đắn, nhưng nếu  nó tràn ngập trong Giáo hội, “nó sẽ tàn phá khủng khiếp hơn là tính thế tục mang chiều kích luân lý” [71].

94. Tính thế tục này có thể được nuôi dưỡng bằng hai cách đặc biệt gắn kết với nhau. Một là sức lôi kéo của thuyết Ngộ Đạo (Gnostizismus), một niềm tin bị đóng kín trong thuyết Duy ngã (Subjektivismus) chỉ dựa vào kinh nghiệm xác định hay một chuỗi lý luận và nhận thức, mà người ta xem như được củng cố và soi sáng, nhưng cũng là nơi chủ thể dứt khoát bị đóng kín trong lý lẽ và cảm xúc riêng của mình. Hai là thuyết Tân Pelagius tự mãn và mang tính phản loạn (prometheus) của những ai dứt khoát tin tưởng vào sức lực riêng mình và cảm nghĩ mình luôn vượt trên mọi người khác, chỉ vì tuân phục những điều lệ được xác định hay vì hoàn toàn trung thành một cách sống công giáo thuộc về quá khứ. Đó là một thứ đảm bảo tiên thiên về tín lý hay kỷ luật, đưa đến một thứ ưu tuyển cho bản thân mình và độc đoán; thay vì rao giảng Tin Mừng, người ta phân tích và phân loại người khác và thay vì tạo điều kiện dễ dàng cho ân sủng, các sức năng động được sử dụng để kiểm soát. Trong cả hai trường hợp, người ta không quan tâm đến Đức Giêsu Kitô cũng như kẻ khác. Đó là những cách thế biểu lộ chủ thuyết nội tại nhân bản. Không thể tượng tượng được rằng từ những hình thức đúc kết cả Kitô giáo, không thể nào có thể xuất hiện những nhà truyền giáo thực năng động.

95. Tính thế tục tăm tối này biểu lộ qua các thái độ xem ra chống đối, nhưng với một ý dịnh “thống trị không gian của Giáo hội”. Một số trong chúng, người ta ghi nhận một sự lo lắng phô trương về phụng vụ, về tín lý hay thế giá của Giáo hội, trong thực tế lại không chú tâm vào việc hội nhập Tin Mừng vào trong dân chúng và trong các nhu cầu cụ thể của lịch sử. Cũng với cách thức này, đời sống Giáo hội trở thành một góc bảo tàng, hay trở thành tài sản của một số người. Nơi một số người khác, cũng chính tính thế tục tinh thần ẩn kín đàng sau việc say mê quyền lực biểu lộ qua việc chinh phục về mặt xã hội và chính trị, hay trong một thứ vinh quang hư ảo gắn kết với việc quản lý các công việc thực tiễn, hay trong sự hấp dẫn của việc tự đánh giá cao và tự hiện thực chính mình. Nó có thể biểu lộ qua nhiều cách cho thấy mình đã chú tâm  dấn thân vào đời sống xã hội, phải thực hành nhiều chuyến du lịch, hội họp, tiệc tùng, tiếp tân. Hay nó được triển khai qua chủ trương tác vụ quản lý, đầy thống kê, dự án, đánh giá, trong đó người thụ hưởng chính yếu không phải là Dân Chúa, cũng không phải là Giáo hội như một tổ chức. Trong tất cả những trường hợp này, nó thiếu vắng dấu ấn của Đức Kitô nhập thể, chịu đóng đinh và đã phục sinh, nó chỉ gói trọn trong một số người ưu tú, thực sự không đi tìm những người ở xa, cũng không phải là số đông vô kể đang khao khát Đức Kitô. Nó không còn lòng sốt sắng của Tin Mừng, nhưng chỉ là sự hưởng thụ sai lệch của một thứ tự mãn.    

96. Trong bối cảnh này, chỉ nuôi dưỡng vinh quang giả trá của những kẻ tự thỏa mãn với vài quyền hành và thích làm tướng, lãnh đạo quân bại trận hơn là các anh lính đơn sơ của một  đội ngũ vẫn tiếp tục chiến đấu. Biết bao lần chúng ta mơ ước đến các chương trình Tông đồ, truyền giáo sâu rộng, tĩ mĩ và minh bạch, đặc biệt cho các vị tướng bại trận ! Như thế là chúng ta phủ nhận lịch sử giáo hội, thật vinh quang cho dù là một lịch sử với đầy hy sinh, hy vọng, chiến đấu từng ngày, một đời sống hao mòn vì phục vụ, bền bĩ trong công tác nặng nề, chỉ vì mọi công việc được chu toàn với “mồ hôi đầy trán của chúng ta”. Thay vào đó, chúng ta sẽ xử sự như những kẻ kiêu ngạo, chỉ biết nói điều “người ta phải làm” – đó là tội “người ta phải làm” – như những thầy linh đạo và các chuyên gia về mục vụ, đưa ra những chỉ thị, nhưng hoàn toàn đứng bên ngoài. Chúng ta sẽ trao đổi bất tận về sự tưởng tượng của chúng ta và chúng ta đánh mất sự gặp gỡ với thực tại khổ đau của các tín hữu.

97. Ai đã rơi vào tính thế tục, sẽ nhìn từ trên cao và nhìn từ xa, từ chối lời tiên báo của anh em, sẽ loại bỏ kẻ nào dám đưa ra yêu cầu cho họ, luôn nêu các sai lầm của kẻ khác và bị ám ảnh vì vẻ bên ngoài. Họ thu hẹp chất vấn của tâm hồn vào khung trời đóng kín của nội tại và tư lợi của mình, vì thế, họ không tìm hiểu về tội lỗi của mình và không thành thực mở rộng tâm hồn để tha thứ. Đó là một sự hư hoại kinh khủng dưới vẻ thánh thiện bên ngoài. Phải tránh xa sự hư hoại này, khi giúp Giáo hội bước ra khỏi bản thân mình, với sứ vụ tập trung vào Đức Giêsu Kitô, dấn thân cho người nghèo. Xin Thiên Chúa giải thoát chúng ta khỏi một giáo hội thế tục dưới những lá cờ tinh thần và mục vụ ! Tính thế tục ngột ngạt này chỉ được chữa lành khi tiếp xúc không khí trong lành của Chúa Thánh Thần, sẽ giải thoát chúng ta khỏi tập trung vào chính mình, ẩn kín sau vẻ tôn giáo trống rổng. Chúng ta đừng để cho Tin Mừng tan biến đi !   

Nói không với trận chiến giữa chúng ta 

98. Giữa dân Thiên Chúa và trong nhiều cộng đoàn khác nhau, có biết bao cuộc chiến ! Trong khu xóm, nơi sở làm, biết bao cuộc chiến vì ham muốn và ganh tị, và giữa cả những người Kitô hữu ! Tinh thần thế tục đưa một số Kitô hữu đến chiến tranh chống các Kitô hữu khác, bị xem như cản bước họ đi tìm quyền lực, thế giá, thỏa mãn hay bảo đảm kinh tế. Hơn nữa, không ngừng tìm cách gắn bó với Giáo hội để nuôi dưỡng tinh thần chống đối. Thay vì thuộc giáo hội hoàn vũ, với sự phong phú đa dạng, họ lại thuộc về nhóm này hay nhóm khác, tự xem như mình khác biệt hay đặc thù.

99. Thế giới bị xé toạt vì chiến tranh và bạo lực, hay bị thương tích do chủ nghĩa cá nhân mơ hồ, phân rẽ con người và làm cho người này chống đối người kia trong lúc chạy theo tư lợi riêng của mình. Trong nhiều nước, có nhiều xung khắc và chia rẽ xa xưa mà người ta có thể thấy trong một phần quá khứ. Tôi yêu cầu cách đặc biệt, với các Kitô hữu trong mọi cộng đoàn trên thế giới, một chứng từ về sự hiệp thông huynh đệ, có sức lôi kéo và rạng ngời. Ước gì mọi người có thể nhìn thấy làm thế nào anh em chăm sóc cho nhau, làm thế nào anh em động viên nhau và đồng hành với nhau  : “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy : là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Điều mà Đức Giêsu van xin Cha Người trong lời cầu nguyện khẩn thiết : “Xin cho họ nên một trong Chúng ta, để thế gian tin” (Ga 17,21) Hãy chú ý đến cơn cám dỗ ganh tị ! Chúng ta cùng hội cùng thuyền và chúng ta cùng tiến về cùng một cảng như nhau ! Hãy xin Thiên Chúa cho chúng ta được hưởng hoa trái của kẻ khác, vì chúng thuộc về tất cả chúng ta. 

100. Với tất cả những ai bị thương tích vì những cuộc chia rẽ xa xưa, họ khó chấp nhận việc chúng ta khuyến khích họ tha thứ và giao hòa, chỉ vì họ nghĩ rằng chúng ta không biết đến đau khổ của họ hay chúng ta chú tâm làm cho họ quên đi ký ức và các lý tưởng của họ. Nhưng nếu như họ nhìn ra chứng cứ của các cộng đoàn đích thực huynh đệ và giao hòa, điều này luôn luôn là tia sáng lôi kéo họ. Vì thế, điều làm cho tôi đau lòng là làm thế nào, trong một số cộng đoàn Kitô hữu, và ngay giữa những người đã được thánh hiến, người ta vẫn còn dành chỗ cho nhiều hình thức hận thù, chia rẽ, mạ lỵ, vu khống, trả thù, ganh tị, khao khát áp đặt các ý tưởng riêng của mình bằng bất cứ giá nào, đến độ đi đến bách hại giống như cuộc xua đuổi các phù thủy. Ai lại muốn Phúc Âm hóa với những thái độ như thế ? 

101. Hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu được lề luật tình yêu. Thật diễm phúc khi có được lề luật này. Lề luật này tốt biết bao khi giúp chúng ta yêu thương nhau vượt lên trên tất cả ! Vâng, vượt lên trên tất cả ! Lời khuyến khích của thánh Phaolô hướng đến từng người chúng ta : “Đừng để sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12,21) Và cũng thế : “Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí !” (Gl 6,9). Tất cả chúng ta đều có những thiện cảm và ác cảm, cũng có thể là ngay lúc này chúng ta đang giận một người nào đó. Ít ra chúng ta hãy thưa với Chúa : “Chúa ơi ! con đang giận người này, chị kia. Con xin Chúa cho anh ấy, cho chị ấy”. Cầu nguyện cho người nào làm chúng ta giận, là một bước tốt đẹp hướng đến tình yêu và là một hành động truyền giáo ! Hãy làm ngay trong ngày nay ! Đừng để cho lý tưởng về tình yêu huynh đệ tan biến đi !

Những thách đố khác thuộc Giáo hội 

102. Giáo dân là thành phần đông đảo nhất trong dân Chúa. Chỉ có một thành phần bé nhỏ phục vụ họ : các thừa tác viên có thánh chức.  Ý thức về căn tính và sứ vụ của người giáo dân trong Giáo hội càng ngày càng gia tăng. Chúng ta sử dụng một số đông giáo dân, dù chưa đủ, với một ý thức gắn bó với cộng đồng và một sự trung tín vào việc dấn thân cho bác ái, giáo lý, cử hành đức tin. Việc đón nhận ý thức trách nhiệm này của giáo dân xuất phát từ Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức không cùng biểu lộ chung một cách nơi chúng ta. Trong vài trường hợp chỉ vì họ không được đào tạo để đón nhận những trách nhiệm quan trọng, trong những trường hợp khác họ không tìm được môi trường trong giáo hội đặc biệt của họ, để có quyền nói lên tiếng nói của họ và hoạt động, chỉ vì một thứ giáo sĩ trị quá đáng, đẩy họ ra bên lề các quyết định. Cũng thế, cho dù công nhận một số đông tham gia vào các tác vụ giáo dân, việc dấn thân này chưa phản ánh được việc thâm nhập các giá trị Kitô giáo vào trong thế giới xã hội, chính trị lẫn kinh tế. Nhiều khi có sự giới hạn vào những trách vụ nội bộ của Giáo hội mà không có sự dấn thân áp dụng Tin Mừng nhằm biến đổi xã hội. Việc đào tạo giáo dân và Phúc Âm hóa các phạm trù chuyên nghiệp và trí thức, là một thách đố quan trọng cho việc mục vụ.  

103. Giáo hội công nhận sự giúp đỡ tất yếu của phụ nữ vào xã hội, nhờ sự tinh tế, nhạy cảm và một số khả năng riêng thuộc về phụ nữ hơn cả người nam. Tỉ như, sự chú tâm đặc biệt của phụ nữ đối với kẻ khác, được diễn tả cách đặc biệt ngay trong tình mẫu tử. Tôi thật vui mừng khi thấy nhiều phụ nữ tham gia vào trách nhiệm mục vụ cùng với các linh mục, góp phần đồng hành với nhiều người, nhiều gia đình và đem sức cố gắng mới mẽ vào việc suy tư thần học. Cần phải nới rộng không gian cho sự hiện diện của phụ nữ trong Giáo hội. Chỉ vì “thiên tài phụ nữ cần thiết cho mọi cách diễn tả đời sống xã hội ; vì thế, sự hiện diện của phụ nữ trong các cơ sở lao động cũng phải được bảo đảm” [72] và trong nhiều lãnh vực khác nhau, cần có những quyết định quan trong, ngay cả trong Giáo hội cũng như trong các cơ cấu xã hội. 

104. Những đòi hỏi các quyền chính đáng của phụ nữ, xuất phát từ xác tín đàn ông cũng như đàn bà đều có cùng phẩm giá, đặt ra những vấn  đề thách thức sâu xa cho Giáo hội và không thể hời hợt tránh né. Chức linh mục dành cho nam giới, như dấu chỉ Đức Giêsu là vị Hôn Phu tự hiến trong bí tích Thánh Thể, là một vấn  đề không thể tranh luận, nhưng có thể trở thành một cớ xung khắc đặc biệt, nếu người ta đồng hóa quyền năng bí tích với quyền hành. Đừng quên rằng khi chúng ta nói tới quyền linh mục, “chúng ta nói theo quan niệm phận vụ, chứ không phải phẩm giá và sự thánh thiện” [74]. Chức linh mục thừa tác là một trong những phương tiện mà Đức Giêsu sử dụng để phục vụ cho dân của Người, nhưng phẩm giá cao trọng xuất phát từ Bí tích Rửa tội, mà mọi người có thể lãnh nhận. Sự đồng hình đồng dạng của linh mục với Đức Giêsu là Đầu – có nghĩa là nguồn chính yếu của ân sủng – không tôn vinh một người lên trên tất cả mọi người. Trong Giáo hội, các phận vụ “không xác nhận quyền trên trước của người này trên người kia” [74].Thực sự, một phụ nữ là Đức Maria còn quan trọng hơn các vị Giám Mục. Ngay cả khi  quan niệm phận vụ của linh mục thừa tác như “phẩm trật”, nhưng cũng phải nhận định “chức vụ này được ban vì sự thánh thiện các chi thể của Đức Kitô” [75]. Điểm cốt lõi không phải là quyền hành được hiểu như thống trị, nhưng là năng lực thừa tác để cử hành Bí tích Thánh Thể ; từ đó xuất phát thẩm quyền của ngài, luôn là một sự phục vụ dân. Đó cũng là một thách đố lớn cho các vị mục tử cũng như cho các nhà thần học, họ có thể giúp hiểu biết nhiều hơn điều liên quan đến vai trò khả thi của phụ nữ, khi đưa ra những quyết định quan trọng, trong những lãnh vực khác nhau của Giáo hội.

105. Mục vụ giới trẻ, như chúng ta thường triển khai, phải chịu cú sốc vì những thay đổi xã hội. Giới trẻ thường không còn tìm được những câu giải đáp cho các âu lo, nhu cầu, vấn nạn và các thương tích của họ trong các cơ cấu thông thường. Những người trưởng thành đòi hỏi chúng ta phải lắng nghe họ cách kiên nhẫn, hiểu được những lo lắng cũng như yêu cầu của họ. Và học hỏi để nói chuyện với họ trong ngôn ngữ mà họ đang sử dụng. Cũng vì lý do này, những đề nghị về mặt giáo dục không đem lại những kết qủa như được mong ước. Sự gia tăng và phát triển các hiệp hội và phong trào căn bản của giới trẻ có thể được giải thích như hoạt độpng của Chúa Thánh Thần, khai mở những con đường mới để đáp ứng những sự chờ đợi và kiếm tìm một linh đạo sâu xa và một ý nghĩa thuộc về Giáo hội thật cụ thể. Dù vậy, cần phải củng cố việc tham gia của các nhóm này vào việc mục vụ chung của Giáo hội [76].

106. Dù không phải luôn dễ dàng để tiếp xúc với giới trẻ, nhưng có thể nhắm đến sự tiến triển trong hai lãnh vực : ý thức rằng tất cả cộng đoàn sẽ Phúc Âm hóa và giáo dục họ, và điều khẩn thiết chính là họ phải cảm nhận. Phải công nhận rằng, trong cơn khủng hoảng hiện tại về việc dấn thân và những liên hệ cộng đồng, nhiều giới trẻ cống hiến sự trợ giúp liên đới của họ chống lại cái xấu của thế giới và nhận những hình thức khác nhau để đấu tranh và tình nguyện. Một số tham gia vào đời sống Giáo hội, tham gia tích cực vào các nhóm phục vụ và khởi điểm khác nhau trong việc truyền giáo nơi giáo phận của họ hay ở những nơi khác. Thật là đẹp khi giới trẻ trở thành “những người lữ hành đức tin”, hạnh phúc khi mang Đức Giêsu vào trong mỗi đường phố, trên những công trường, trong mỗi góc nhỏ của thế giới.   

107. Nhiều nơi thật sự thiếu vắng ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến. Trong những cộng đoàn, điều này thường xảy đến vì thiếu tinh thần Tông đồ sốt sắng nhiệt thành, và vì lý do đó các ơn gọi không gây thích thú cũng không lôi kéo. Nơi nào có sự sống, lòng nhiệt thành khao khát mang Đức Kitô đến cho kẻ khác, sẽ nảy sinh những ơn gọi đích thực. Ngay trong các giáo xứ, nơi các linh mục không dấn thân và vui vẻ, thì cuộc sống huynh đệ, sốt sắng của cộng đoàn, sẽ đánh thức sự khao khát tận hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa và truyền giáo, nhất là cộng đoàn sống động này cầu nguyện thật nhiệt thành cho ơn gọi và sự can đảm đề nghị cho giới trẻ một con đường tận hiến đặc biệt.  Mặt khác, dù có thiếu vắng ơn gọi, ngày nay chúng ta cũng ý thức rõ ràng hơn về sự cần thiết phải tuyển chọn các ứng sinh vào chức vụ linh mục. Người ta không thể lấp đầy chủng viện vì bất cứ động lực nào, cũng không thể gắn kết vào một sự bất toàn hay đi tìm những hình thức quyền lực, vinh quang con người hay thoải mái về mặt kinh tế.  

108. Như đã nói, tôi không muốn đưa ra một phân tích trọn vẹn, nhưng chỉ mời các cộng đoàn bổ túc và đóng góp cho những tầm nhìn này từ ý thức các thách đố của riêng mình và của các cộng đoàn gần gũi. Khi các cộng đoàn thực hiện điều này, tôi hy vọng mỗi lần tìm cách đọc các dấu chỉ thời đại trong thực tế hiện hành, chúng ta cần lắng nghe giới trẻ và giới lão thành. Cả hai nhóm đều là hy vọng của dân chúng. Các vị lão thành đóng góp ký ức và kinh nghiệm khôn ngoan, giúp đừng tái hiện các sai lệch cách ngây thơ như trong quá khứ. Giới trẻ kêu gọi chúng ta thức tĩnh và giúp hy vọng được tròn đầy, chỉ vì họ mang trong tâm hồn các xu hướng mới của nhân loại và khai mở tương lai cho chúng ta, đến độ chúng ta không được phép luyến tiếc các cơ cấu và thói quen, đã không còn mang sức sống cho thế giới hiện tại.

109. Các thách đố hiện diện để được cất đi. Chúng ta hãy sống thực tế, nhưng đừng đánh mất niềm vui, sự can đảm và dấn thân đầy hy vọng ! Chúng ta đừng để sức mạnh truyền giáo tan biến đi !