CHƯƠNG III: VIỆC CÔNG BỐ TIN MỪNG

110. Sau khi xem xét một số thách đố trong thực tế hiện tại, bây giờ, tôi muốn nhắc lại trách nhiệm thúc bách chúng ta trong bất cứ thời gian nào cũng như ở bất cứ nơi nào, chỉ vì “sẽ không có việc Phúc Âm hóa đích thực nếu không công bố rõ ràng Đức Giêsu là Chúa”, vì không có gì “ưu tiên cho bằng việc công bố Đức Giêsu Kitô trong mọi hoạt động Phúc Âm hóa” [77]. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đón nhận các quan tâm của các Giám Mục Á Châu, đã xác quyết rằng : “Khi Giáo hội Á Châu chu toàn trách vụ đã được Chúa quan phòng giao phó, thì việc Phúc Âm hóa chính là việc công bố thật vui tươi, kiên nhẫn và là việc loan báo tiếp nối công trình cứu độ của cái chết và phục sinh của Đức Giêsu Kitô, điều này phải là công việc ưu tiên tuyệt đối của chư huynh” [78]. Điều này cũng có giá trị đối với tất cả chúng ta.    

1. Toàn dân Chúa loan báo Tin Mừng 

111. Loan báo Tin Mừng là trách nhiệm của Giáo hội. Nhưng chủ thể của việc loan báo Tin Mừng, vượt trên cơ chế có hệ thống và phẩm trật, chính là toàn dân đang tiến về Thiên Chúa. Chắc chắn đây là một mầu nhiệm, cắm rể sâu nơi Ba Ngôi Thiên Chúa, nhưng mang đặc tính lịch sử cụ thể trong một dân lữ hành và truyền giáo, vượt trên mọi cách diễn tả theo cơ chế cho dù cần thiết. Tôi muốn dừng lại về cách hiểu Giáo hội, có nền tảng tối thượng trong sáng kiến tự do và nhưng không của Thiên Chúa.  

Một dân cho tất cả mọi dân

112. Ơn cứu độ mà Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta, là công trình lòng thương xót của Người. Không có hoạt động nào của con người, dù tốt đẹp cách mấy đi nữa, giúp chúng ta nên xứng đáng cho hồng ân cao cả này của Thiên Chúa. Thiên Chúa dùng ân sủng lôi kéo chúng ta đến kết hợp với Người [79]. Người sai Thánh Thần đến trong tâm hồn để biến chúng ta thành con cái của Người, để biến đổi chúng ta và để chúng ta có thể đáp trả tình yêu của Người bằng chính cuộc sống của chúng ta. Giáo hội được Đức Giêsu Kitô sai đến như bí tích cứu độ được Thiên Chúa ban tặng [80]. Qua các hoạt động truyền giáo, Giáo hội cộng tác như khí cụ ân sủng thần linh, luôn khai mở một cái nhìn siêu vượt. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã diễn tả rõ ràng khi nêu những suy tư của Thượng Hội Đồng : “Điều quan trọng là nhận biết khởi điểm đích thực, hoạt động đích thực đến từ Thiên Chúa và chỉ khi hội nhập vào sáng kiến của Thiên Chúa,  chúng ta mới có thể trở thành những người rao giảng Tin Mừng – với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa” [81]. Nguyên tắc về sự ưu việt của ân sủng phải luôn là đèn soi cho các suy tư của chúng ta về việc rao giảng Tin Mừng.   

113. Ơn cứu độ do Thiên Chúa thực hiện và giáo hội vui mừng công bố, được dành cho tất cả mọi người [82] và Thiên Chúa tạo một con đường để kết hợp mỗi người trong mọi thời đại, Người đã chọn để qui tụ họ thành một dân, chứ không phải là những cá nhân đơn độc [83]. Con người là một cá nhân đơn độc, không thể do sức riêng, tự cứu mình được. Thiên Chúa lôi kéo chúng ta qua những nối kết liên vị, nâng đỡ cuộc sống chúng ta trong cộng đoàn nhân loại. Thiên Chúa đã chọn dân này và qui tụ thành Giáo hội. Đức Giêsu không muốn các Tông đồ tạo thành một nhóm riêng biệt, một nhóm ưu tuyển. Người nói : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Thánh Phaolô xác quyết rằng giữa dân Thiên Chúa, trong Giáo hội, “không còn người Do Thái hay Hy Lạp… vì tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3,28). Tôi muốn nói với tất cả những ai cảm thấy xa lìa Thiên Chúa, xa lìa Giáo hội, với những ai lo sợ và dửng dưng : Chúa gọi anh, gọi chị chia sẻ vào dân của Người và Người làm điều này với một sự tôn trọng và tình thương!

114. Thuộc về Giáo hội cũng là thuộc về dân Thiên Chúa, liên hệ đến dự án lớn lao của tình yêu Thiên Chúa. Điều này kêu gọi chúng ta phải trở thành men của Thiên Chúa giữa nhân loại. Điều này muốn nói đến việc chúng ta phải loan báo và mang ơn cứu độ của Người vào trong thế giới – một thế giới thường tự đánh mất mình, cần đến những lời giải đáp mang lại sự can đảm và hy vọng – trong đó mọi người cảm thấy được đón nhận, được yêu thương, được tha thứ và động viên để sống tốt đẹp căn cứ vào Tin Mừng.    

Một dân có nhiều gương mặt

115. Dân Thiên Chúa hội nhập vào các dân tộc trên thế giới; mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng. Văn hóa là một công cụ hữu ích để hiểu những cách diễn tả khác biệt về đời sống Kitô hữu hiện diện trong dân Thiên Chúa. Đó là cách sống của một xã hội cụ thể, một sự đặc thù giữa những chi thể nối kết nhau, liên hệ với những thụ tạo khác và với Thiên Chúa. Nếu hiểu như thế, văn hóa bao trùm toàn bộ đời sống một dân tộc [84]. Mỗi dân tộc, với quá trình tiến hóa trong lịch sử, phát triển nền văn hóa đặc thù của mình với một sự tự chủ hợp pháp [85]. Điều này phải hiểu rằng con người nhân bản “tự bản chất, cần đến một đời sống xã hội” [86] và nó sẽ luôn qui chiếu vào xã hội, nơi nó có một liên hệ cụ thể với thực tại. Con người luôn mang tính chất văn hóa : “bản tính và văn hóa liên kết với nhau hết sức chặt chẽ” [87]. An sủng đặt văn hóa đi trước, và hồng ân Thiên Chúa hội nhập vào văn hóa của người lãnh nhận.    

116. Trong hai ngàn năm Kitô giáo, biết bao dân tộc đã lãnh nhận hồng ân đức tin, làm cho đời sống hằng ngày được phong phú và truyền đạt hồng ân này theo cách thức văn hóa riêng của họ. Khi một cộng đoàn đón nhận lời công bố ơn cứu độ, Thánh Thần Chúa sẽ làm phong phú văn hóa của họ với sức lực truyền đạt của Tin Mừng. Do đó, như chúng ta có thể thấy trong Lịch sử giáo hội, Kitô giáo không có một mô mẫu văn hóa duy nhất, nhưng “vẫn hoàn toàn là chính mình, trong sự trung tín với việc công bố Tin Mừng và truyền thống Giáo hội; Kitô giáo mang gương mặt nhiều nền văn hóa của biết bao dân tộc, nơi Kitô giáo được đón nhận và cắm rễ sâu” [88]. Nơi những dân tộc khác nhau, biết diễn đạt hồng ân của Thiên Chúa dựa theo văn hóa của riêng mình, Giáo hội diễn tả đặc tính công giáo đích thực và cho thấy “ vẻ đẹp của gương mặt đa dạng này” [89]. Trong những cách diễn tả Kitô giáo của một dân tộc đã được Phúc Âm hóa, Thánh Thần sẽ làm đẹp giáo hội, trong Giáo hội này, Người cho thấy những phương diện mới của Mạc khải và  ban cho một gương mặt mới. Qua việc hội nhập văn hóa, Giáo hội “hướng dẫn các dân tộc với văn hóa của họ vào trong chính cộng đoàn của riêng họ.”[90] chỉ vì “mọi nền văn hóa đem đến các giá trị và mô mẫu tích cực có thể tạo sự phong phú cho cách Tin Mừng được rao giảng, được hiểu và được sống” [91]. Như thế “Giáo hội, khi đón nhận các nền văn hóa khác nhau, trở thành “sponsa ornata monilibus suis” – vị hôn thể trang điểm bằng các trang sức của mình” (x. Is 61,10)”[92].

117. Nếu hiểu rõ, sự khác biệt của các nền văn hóa không gây nguy hại cho sự duy nhất của giáo hội. Chính Thánh Thần được Chúa Cha và Chúa Con sai đến, Đấng biến đổi tâm hồn chúng ta và giúp chúng ta có khả năng bước vào sự hiệp thông trọn vẹn của Ba Ngôi Thiên Chúa, chính nơi đó tất cả mới tìm được sự duy nhất của mình. Chúa Thánh Thần xây dựng sự hiệp thông và hòa hợp của dân Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần chính là sự hài hòa, cũng như Người là dây tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con [93]. Chính Người tạo biết bao ân sủng thật đa dạng và phong phú, đồng thời xây dựng sự duy nhất, nhưng không bao giờ đồng nhất, nhưng hài hòa qua nhiều hình thức lôi kéo mọi người. Việc Phúc Âm hóa với niềm vui công nhận sự phong phú mà Thánh Thần đã tác sinh trong Giáo hội. Thật bất công khi cho rằng vì phải hội nhập nên Kitô giáo chỉ có một văn hóa và một sự hòa hợp. Thật sự trong vài nền văn hóa gắn kết với việc rao giảng Tin Mừng và triển khai một tư tưởng Kitô giáo, sứ điệp mạc khải không đồng nhất với bất cứ nền văn hóa nào trong chúng và có một nội dung siêu văn hóa. Vì thế, khi rao giảng Tin Mừng cho các nền văn hóa mới hay những nền văn hóa không đón nhận lời rao giảng Kitô giáo, không được áp đặt một hình thức văn hóa đặc biệt, dù có tốt đẹp và cổ xưa đến đâu, cùng với đề nghị của Tin Mừng. Sứ điệp chúng ta rao giảng, phải luôn có màu áo văn hóa, nhưng đôi khi trong Giáo hội chúng ta lại rơi vào một thứ thần thánh hóa giả trá nền văn hóa của chúng ta, với thứ văn hóa này chúng ta có thể biểu lộ sự cuồng tín hơn là lòng nhiệt thành đích thực mang tính chất truyền giáo.  

118. Các Giám Mục của Châu Đại Dương yêu cầu Giáo hội “cố gắng hiểu và trình bày chân lý của Đức Kitô dựa vào truyền thống và văn hóa của vùng này” và các ngài ước mong “tất cả vị truyền giáo hoạt động hài hòa với các Kitô hữu bản xứ để tạo niềm tin và đời sống Giáo hội được diễn tả dựa theo các hình thức hợp lý đã được công nhận trong từng nền văn hóa” [94]. Chúng ta không thể đề nghị mọi dân tộc của các châu lục, khi diễn tả niềm tin công giáo, phải bắt chước các thể thức của dân Au Châu thuộc vào một thời điểm nhất định của lịch sử họ, vì đức tin không thể bị ràng buộc vào những ranh giới hiểu biết và diễn tả của một văn hóa đặc biệt [95]. Một nền văn hóa duy nhất có thể làm suy giảm mầu nhiệm cứu độ của Đức Kitô. 

Tất cả chúng ta đều là những môn đệ đi truyền giáo 

119. Sức mạnh thánh hóa của Chúa Thánh Thần tác động trong tất cả những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, từ người đầu tiên cho đến kẻ cuối cùng, Đấng thúc bách chúng ta đi rao giảng Tin Mừng. Dân Chúa là thánh chỉ vì việc xức dầu này làm cho họ không sai lầm trong đức tin  (in credendo infaillibile). Điều này có nghĩa là khi người Kitô hữu tin, họ sẽ không lầm, cho dù không tìm được cách để diễn tả niềm tin. Thánh Thần sẽ hướng dẫn họ trong chân lý và đưa đến ơn cứu độ [96]. Như khi thực hiện mầu nhiệm tình yêu cho nhân loại, Thiên Chúa đã phú ban cho toàn thể tín hữu cảm thức đức tin – sensus fidei – giúp họ phân biệt điều gì đến từ Thiên Chúa. Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần ban cho các Kitô hữu một thứ đồng bản thể với các thực tại thần linh và một sự khôn ngoan giúp họ hiểu được cách trực giác, ngay cả khi họ không có những phương tiện thích hợp để diễn tả cách xác tín. 

120. Nhờ lãnh nhận Bí tích Rửa tội, mỗi thành phần dân Chúa trở thành môn đệ truyền giáo (x.Mt 28,19). Mỗi người đã được rửa tội, không lệ thuộc vào phận vụ trong Giáo hội cũng như trình độ được giáo dục trong đức tin, là chủ thể năng động của việc truyền giáo, và thật thiếu sót khi nghĩ đến một lược đồ truyền giáo áp dụng cho các tác nhân danh giá, các tín hữu còn lại chỉ dành để chúc lành cho hoạt động của họ. Cuộc truyền giáo mới phải có một cách hiểu mới về vai trò của từng Kitô hữu. Xác tín này tự chuyển đổi thành một lời kêu gọi đến từng Kitô hữu, để không còn ai từ chối sự dấn thân để truyền giáo, vì khi có được một kinh nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa, Đấng cứu độ họ, họ không cần phải nhiều thời gian chuẩn bị để ra đi rao giảng, không cần phải chờ đón nhận nhiều bài học hay chỉ thị dài dòng. Mọi người Kitô hữu đều là nhà truyền giáo trong mức độ họ đã gặp được tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô ; không cần nói nhiều, chúng ta là “môn đệ” và là “nhà truyền giáo”, nhưng chúng ta luôn luôn là “những môn đệ truyền giáo”. Nếu chưa được thuyết phục, chúng ta hãy nhìn các tín hữu tiên khởi, sau khi nhận được cái nhìn của Đức Giêsu, lập tức đi rao giảng với tràn đầy niềm vui :  “Chúng tôi đã gặp Đấng Messias” (Ga 1,41). Bà Samaritana, vừa chấm dứt cuộc đối thoại với Đức Giêsu,  lập tức trở thành nhà truyền giáo, và nhiều người Samaria tin vào Đức Giêsu “vì lời của người đàn bà này” (Ga 4,39). Thánh Phaolô cũng thế, khi gặp được Đức Giêsu Kitô “lập tức bắt đầu rao giảng về Đức Giêsu” (Cv 9,20). Và chúng ta, chúng ta còn chờ đợi gì ?      

121. Chắc chắn tất cả chúng ta đều được mời gọi trưởng thành như các nhà truyền giáo. Đồng thời, chúng ta cần đến việc đào tạo tốt hơn, đào sâu tình yêu của chúng ta và một chứng cứ rõ ràng cho Tin Mừng. Theo nghĩa này, chúng ta chấp nhận rằng các người khác cũng kiên trì rao giảng Tin Mừng cho chúng ta ; nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta từ chối sứ vụ truyền giáo, nhưng phải tìm cách hiệp thông với Đức Giêsu, Đấng thích hợp với hoàn cảnh chúng ta đang sống. Trong mọi trường hợp, chúng ta được mời gọi để đem đến cho kẻ khác chứng cứ rõ ràng về tình thương cứu độ của Chúa, Đấng, vượt lên trên mọi sự bất toàn của chúng ta, vẫn ban cho chúng ta sự gần gũi, Lời, sức lực của Người và ban ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta. Tâm hồn anh em biết rằng, nếu không có Người, cuộc sống không phải như thế, bấy giờ điều anh khám phá, sẽ giúp anh sống và ban cho anh tia hy vọng, chính điều này mà anh phải hiệp thông với những người khác. Sự bất toàn của chúng ta không phải là một lời thối thoát ; ngược lại, sứ vụ là một sự động viên kiên trì để đừng rơi vào sự tầm thường, nhưng để trưởng thành hơn.  Mọi Kitô hữu đều được mời gọi để đem chứng cứ, điều này giúp cho thấy xác quyết của thánh Phaolô : “Nói thế, không phải là tôi đã đoạt giải, hay đã nên hoàn thiện đâu ; nhưng tôi cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt… và tôi lao đích đến” (Pl 3,12-13).

Sức mạnh truyền giáo của lòng đạo đức bình dân

122. Tương tự như thế, chúng ta có thể nghĩ rằng các dân tộc khác đã được Tin Mừng tạo nền văn hóa, là những tập thể hoạt động tích cực, những người phục vụ cho việc truyền giáo. Điều này được minh chứng chỉ vì mỗi dân tộc là người sáng tạo ra nền văn hóa và diễn viên chính lịch sử của họ. Văn hóa là một sự gì năng động mà dân tộc luôn tiếp tục xây dựng, và mỗi thế hệ tiếp tục truyền đạt một tổng thể các thái độ tương đối trước những hoàn cảnh hiện sinh, và phải xây dựng cách mới mẽ khi đối diện với những thách thức riêng của mình. Hữu thể nhân bản “vừa là con vừa là cha của nền văn hóa mà họ đang hội nhập” [97]. Khi một dân tộc đã được Tin Mừng tạo nền văn hóa, trong tiến trình truyền đạt văn hóa, cũng sẽ truyền đạt niềm tin theo cách mới, từ đó có thể hiểu việc truyền giáo cũng quan trọng như việc hội nhập văn hóa. Mỗi thành phần dân Chúa, khi đã biểu lộ hồng ân Thiên Chúa ngay trong đời sống dựa vào tinh thần riêng của mình, sẽ làm chứng cho đức tin đã được lãnh nhận và làm phong phú theo những cách diễn tả thật lôi cuốn. Người ta có thể nói rằng “dân này tiếp tục Phúc Âm hóa chính mình”[98]. Từ đó chúng ta mới thấy tầm quan trọng của lòng đạo đức bình dân, đó là cách diễn tả chính thức của hoạt động truyền giáo đột xuất của dân Chúa. Đó là một thực tại luôn được Thánh Thần triển khai vì chính Người là tác nhân tiên khởi [99].

123. Trong đạo đức bình dân, người ta có thể hiểu làm thế nào đức tin đã được đón nhận, hội nhập vào một nền văn hóa và tiếp tục truyền đạt. Sau một thời gian bị nghi ngờ, lòng đạo đức này được đánh giá lại trong những thập niên sau Công Đồng. Chính Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, trong Tông Huấn Evangelii Nuntiandi, đã đem lại một động lực quyết định trong vấn đề này. Ngài đã giải thích rằng “lòng đạo đức bình dân “diễn tả một sự khao khát Thiên Chúa mà chỉ những kẻ đơn sơ và nghèo nàn mới có thể nhận ra được” [100] và “nó giúp lòng quảng đại và hy sinh đến mức độ anh hùng, khi nói về việc biểu lộ đức tin” [101]. Gần chúng ta hơn, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, nói về châu Mỹ Latinh, lòng đạo đức bình dân là “kho tàng quí giá của Giáo hội công giáo” và trong lòng đạo đức này “người ta thấy được tâm hồn của các dân tộc Mỹ-Latinh” [102].   

124. Những sự phong phú được Chúa Thánh Thần triển khai trong đạo đức bình dân với những sáng kiến nhưng không của Người, được trình bày trong tập tài liệu Aparecida. Trong lục địa đáng yêu này, nơi một số đông Kitô hữu diễn tả niềm tin của mình trong lòng đạo đức bình dân, các vị Giám Mục cũng gọi là “linh đạo bình dân” hay “thần bí bình dân” [103]. Đó là một “linh đạo đích thực hội nhập vào nền văn hóa của những kẻ đơn sơ” [104]. Lòng đạo đức này có nội dung, nhưng bộc lộ và diễn tả thường theo lối biểu trưng hơn là sử dụng lý trí, và trong hoạt động đức tin, nhấn mạnh điều credere in Deum (Tin vào Thiên Chúa) hơn là credere Deum  (Tin Thiên Chúa) [105]. “Đó là một cách sống đức tin hợp pháp, một cách thức cảm nhận mình là thành phần thuộc về Giáo hội, một cách thức là nhà truyền giáo”  [106]; lòng đạo đức này mang nơi mình ân sủng của sứ vụ, bước ra khỏi bản thân và trở thành kẻ lữ hành : “Sự kiện cùng bước đến các thánh điện, chia sẻ những cách biểu lộ lòng đạo đức bình dân khác, cùng mang theo những đứa bé hay mời gọi các kẻ khác, tự tại là một hành động truyền giáo” [107]. Đừng ép buộc cũng đừng muốn kiểm soát sức lực truyền giáo này !

125. Để có thể hiểu được thực tế này, phải tiếp cận thật gần gũi với cái nhìn của Vị Mục Tử Tốt Lành, Đấng không tìm phán đoán nhưng chỉ yêu thương. Xuất phát từ chiều kích tự nhiên do tình yêu đem đến, chúng ta mới có thể xác định đời sống thần học hiện diện trong lòng đạo đức bình dân của dân Kitô giáo, đặc biệt trong các người nghèo. Tôi nghĩ đến niềm tin vững chắc của các bà mẹ nơi giường của đứa con bệnh tật, tay cầm xâu chuỗi Mân Côi dù không đọc lên những câu tuyên xưng của kinh Credo ; hay lúc tràn đầy hy vọng biểu lộ qua ánh nến mà người ta đốt lên trong một tổ ấm nhỏ bé để van xin sự trợ giúp của Maria, hay nơi những ánh mắt tình yêu sâu xa hướng đến Đức Kitô chịu đóng đinh.  Ai đã yêu đám dân thánh thiện trung tín của Thiên Chúa thì không thể nhìn các hành động này như một sự tìm kiếm thật tự nhiên về thần linh. Đó là những biểu lộ của một đời sống thần học được Thánh Thần tác động, Đấng tuôn đổ vào trong tâm hồn chúng ta (x.Rm 5,5).

126. Sự đạo đức bình dân là hoa trái của Tin Mừng đã được gieo rắc, nơi đó có một sức mạnh truyền giáo thật năng động mà chúng ta không thể đánh giá thấp được : như thế là không công nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần. Thật sự chúng ta được mời gọi để động viên và củng cố để đào sâu tiến trình hội nhập văn hóa, đang là một thực tế chưa chấm dứt. Những cách diễn tả lòng đạo đức bình dân có nhiều điều để dạy chúng ta, và đối với người biết nhận ra chúng, chúng là vị trí thần học mà chúng ta phải chú tâm, đặc biệt ngay lúc chúng ta nghĩ đến việc tân Phúc Âm hóa.

Từ con người đến con người 

127. Giờ đây, khi muốn thực hiện một cuộc tái truyền giáo thật sâu xa, Giáo hội phải rao giảng về tất cả những gì chúng ta sống như trách nhiệm hằng ngày. Đó là đem Tin Mừng đến với những người thật gần gũi với chúng ta, cũng như những ai chưa quen biết. Đó là việc rao giảng mà chúng ta có thể thực hiện trong cuộc đối thoại, cũng như một nhà truyền giáo khi họ thăm viếng một gia đình. Là môn đệ tức là luôn ở trong trạng thái để mang tình yêu của Đức Giêsu đến với những người khác, điều này có thể diễn ra thật đột xuất ở tất cả mọi nơi : trên đường phố, nơi công trường, nơi làm việc, trên đường đi. 

128. Việc rao giảng phải luôn tôn trọng và lịch sự với mọi người, nên việc đầu tiên trong cuộc  đối thoại cá nhân, phải để cho người kia cởi mở, chia sẻ niềm vui, hy vọng, ưu tư cho những người thân thiết của họ và nhiều điều còn mang nặng trong tâm tư. Chỉ sau cuộc đàm thoại này, mới có thể trình bày Lời, có thể đọc một đoạn Thánh Kinh hay theo cách kể chuyện, nhưng luôn luôn phải nhắc lại việc công bố nền tảng : tình yêu của Thiên Chúa, Đấng hóa thành người, bị trao nộp vì chúng ta, Người đang sống, vẫn trao ban ơn cứu độ và tình bạn cho con người. Việc công bố được chia sẻ với thái độ khiêm tốn, đầy chứng từ, của một con người luôn học hỏi, với ý thức sứ điệp rất phong phú và sâu thẳm luôn vượt xa chúng ta. Đôi khi, sứ điệp được diễn tả cách trực tiếp, lần khác với chứng cứ cá nhân, một trình thuật, một cử chỉ, hay dưới hình thức mà Chúa Thánh Thần tạo nên trong một hoàn cảnh cụ thể. Nếu cần phải cẩn trọng và nếu được hội tụ các điều kiện, cuộc gặp gỡ huynh đệ và truyền giáo được kết thúc bằng một lời kinh ngắn kết nối với những ưu tư mà người này nói lên. Như thế, người này cảm thấy rõ ràng họ được lắng nghe và hiểu rõ rằng tình trạng của họ đã được đặt vào tay Thiên Chúa, và họ nhận ra Lời Chúa thật sự nói  thẳng vào hiện sinh của họ.     

129. Đừng nghĩ rằng việc loan báo Tin Mừng phải luôn truyền đạt bằng những công thức xác định và bất biến, hay với những lời chính xác diễn tả một nội dung tuyệt đối không thay đổi. Nó được truyền đạt dưới nhiều hình thức khác nhau không thể diễn tả hay xếp loại, mà dân Chúa, với vô số cử chỉ và dấu hiệu, là chủ thể chung với nhau. Do đó, nếu Tin Mừng hội nhập vào một nền văn hóa, nó không chỉ truyền đạt qua việc công bố từ người này sang người khác. Điều này giúp chúng ta nghĩ rằng, trong những xứ sở mà khối Kitô hữu thuộc thiểu số, càng phải động viên từng người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội phải loan báo Tin Mừng, các Giáo hội đặc biệt phải triển khai một cách tích cực các hình thức, ít nhất là lúc bắt đầu, về hội nhập văn hóa. Điều này dứt khoát phải hướng đến việc việc rao giảng Tin Mừng, được diễn tả qua các phạm trù riêng của văn hóa nơi được rao giảng, đưa đến một tổng hợp mới mẽ với nền văn hóa này. Cho dù tiến trình này luôn chậm chạp, đôi khi xơ cứng vì sợ sệt. Nếu chúng ta cứ để cho các nghi ngờ và sợ sệt bóp nghẹt lòng can đảm của chúng ta, vẫn có thể còn một vị trí để sáng tạo, chúng ta sẽ giữ bình tĩnh không gợi lên bất cứ tiến triển nào, và trong trường hợp này, chúng ta không phải là những người bình thản tham gia vào tiến trình lịch sử này bằng sự cộng tác của mình, nhưng chúng ta chỉ là những người chứng kiến một tình trạng tồi tệ của Giáo hội.  

Các đặc sủng để phục vụ cho cộng đoàn rao giảng Tin Mừng 

130. Chúa Thánh Thần ban tặng thật phong phú các đặc sủng cho Giáo hội truyền giáo. Đó là những hồng ân để canh tân và củng cố Giáo hội [108]. Chúng không phải là gia sản đóng kín, chỉ dành một nhóm gìn giữ chúng ; thật sự đó là những quà tặng của Chúa Thánh Thần thấm nhuần thân thể giáo hội, được lôi kéo đến trung tâm là Đức Kitô., từ đó họ ra đi trong sự thúc đẩy truyền giáo. Một dấu rõ ràng về tính xác thực của đặc sủng là tính chất thuộc về Giáo hội, khả năng hội nhập cách hài hòa vào trong đời sống dân thánh, để tạo thiện ích cho tất cả. Một sự mới mẽ đích thực được Thánh Thần khơi dậy không cần che đậy trước các linh đạo và hồng ân khác để tự xác định mình. Đặc sủng càng hướng về trọng tâm của Tin Mừng, thì thực hành càng thuộc về Giáo hội. Cộng đoàn phải là nơi một đặc sủng tự minh chứng tính đích thực và nhiệm mầu cách sung mãn. Nếu phải đối mặt với thách thức này, Giáo hội có thể trở thành mô mẫu cho hòa bình thế giới.   

131. Sự khác biệt giữa con người và cộng đoàn đôi khi không thuận lợi, nhưng Chúa Thánh Thần, Đấng tạo nên sự khác biệt, có thể từ đó rút ra điều tốt đẹp, và chuyển biến nó thành một năng động truyền giáo, tạo sự lôi cuốn. Sự khác biệt phải được trợ giúp của Chúa Thánh Thần nối kết lại ; chỉ có Người mới có thể tạo nên sự khác biệt, sự đa dang, sự nhân rộng và đồng thời cũng tạo nên sự hợp nhất. Ngược lại, khi chúng ta tạo nên sự khác biệt và tự đóng kín mình lại trong chủ thuyết đặc thù, trong chủ thuyết độc quyền, chúng ta gây nên sự chia rẽ ; mặt khác, khi chúng ta muốn xây dựng sự hợp nhất bằng các chương trình nhân bản của chúng ta, chúng ta lại kết thúc bằng phương thức độc đoán và phê chuẩn của chúng ta. Điều này không giúp ích gì cho sứ vụ của Giáo hội.

Văn hóa, tư tưởng và giáo dục  

132. Rao giảng cho thế giới văn hóa đòi buộc phải có việc rao giảng cho các nghành văn hóa mang tính chuyên nghiệp, khoa học và trí thức. Đây là việc gặp gỡ giữa đức tin, lý trí và các môn khoa học, nhắm vào việc triển khai một một cuộc đối thoại mới về sự đáng tin, một thứ hộ giáo nguyên thủy [109], giúp tạo ra những tiền đề để mọi người có thể lắng nghe Tin Mừng. Khi một số phạm trù lý trí và các khoa học được đón nhận vào việc công bố sứ điệp, những phạm trù này sẽ trở thành những công cụ cho việc truyền giáo ; đó là lúc nước biến thành rượu. Và điều gì một khi đã được đón nhận, thì không những được cứu, nhưng còn trở thành công cụ của Chúa Thánh Thần để soi sáng và canh tân thế giới.  

133. Ưu tư của nhà truyền giáo để đi đến với mọi người và một thực tế là, việc rao giảng Tin Mừng đi đến với tất cả mọi nền văn hóa, đều có mức độ của nó. Vì thế, khi đối thoại với các môn khoa học khác và kinh nghiệm con người, thần học và – không chỉ thần học mục vụ – cần phải suy nghĩ làm thế nào để cho đề nghị Tin Mừng có thể đến với nhiều bối cảnh văn hóa và người nhận khác nhau [110]. Giáo hội đã dấn thân vào việc rao giảng Tin Mừng, xác định và khuyến khích đặc sủng của các nhà thần học và các cố gắng của họ để khảo cứu cách thế để đạt được việc đối thoại với thế giới văn hóa và khoa học. Tôi kêu gọi các nhà thần học phải chu toàn công tác này như một phần sứ vụ cứu độ của Giáo hội. Nhưng để đạt được mục đích này, họ cần phải chú tâm vào mục đích rao giảng Tin Mừng của Giáo hội và của thần học, và họ không nên hài lòng với thứ thần học bàn giấy. 

134. Các đại học là môi trường ưu tuyển để suy nghĩ và triển khai sự dấn thân cho việc rao giảng Tin Mừng qua việc liên kết mọi môn học và hội nhập tất cả vào nhau. Các trường công giáo cũng được đề nghị chia sẻ vào trách nhiệm giáo dục với việc loan báo Tin Mừng, tạo thành sự trợ giúp có giá trị cho việc Phúc Âm hóa các nền văn hóa, cũng như trong đất nước và các thành thị, nơi không có hoàn cảnh thích hợp, động viên chúng ta đưa ra những chứng cứ thật sáng tạo để tìm những con đường tương xứng [111].

2. Bài giảng

135. Bây giờ chúng ta nhìn đến bài giảng trong phụng vụ, cần một sự đánh giá thận trọng về phía mục tử.  Tôi đặc biệt chú ý đến bài giảng và việc chuẩn bị bài giảng, vì nhiều lời ta thán về phận vụ quan trọng này, và chúng ta không thể bịt tai lại được. Bài giảng là viên đá thử thách để đánh giá việc gần gũi của mục tử với giáo dân. Thực sự, chúng ta biết rằng giáo dân đánh giá cao vị mục tử của mình, và họ, như các thừa tác viên có thánh chức, thường rất đau khổ, người này vì lắng nghe, người khác vì phải giảng. Như thế thật đáng buồn. Bài giảng thực sự phải là một kinh nghiệm sâu xa và hạnh phúc về Chúa Thánh Thần, một sự gặp gỡ động viên với Lời, một nguồn luôn tuôn trào sự canh tân và phát triển.  

136. Chúng ta phải phục hồi sự tin tưởng của chúng ta trong bài giảng, cắm rể sâu trong xác tín rằng chính Thiên Chúa muốn đến với mọi người ngang qua vị rao giảng, và Người triển khai quyền năng của Người ngang qua lời của con người. Thánh Phaolô nói một cách mạnh mẽ về sự cần thiết của việc rao giảng, vì Chúa cũng muốn tiếp cận với kẻ khác qua lời của chúng ta (x. Rm 10, 14-17). Nhờ lời, Chúa đã thu hút tâm hồn mọi người. Từ khắp nơi, họ đến để lắng nghe lời Người (x. Mc 1, 45). Họ kinh ngạc, uống lấy các lời giảng dạy của Người (x. Mc 6,2). Họ cảm nghiệm Người nói với chính họ như một người có thẩm quyền (x. Mc 1,27). Với lời, các Tông đồ mà Người đã thiết đặt, “để trở thành những người đồng hành và sai họ đi rao giảng” (Mc 3,14), lôi kéo mọi dân tộc vào trong Giáo hội (x.Mc 16, 15.20). 

Bối cảnh phụng vụ    

137. Bây giờ phải nhắc lại rằng “việc công bố Lời Chúa trong phụng vụ, nhất là trong khung cảnh cử hành Thánh lễ; đây không phải là lúc suy niệm hay dạy giáo lý nhưng là cuộc đối thoại của Thiên Chúa với dân Người, cuộc đối thoại để công bố các mầu nhiệm cứu độ và những đòi hỏi liên tục của Giao Ước” [112]. Bài giảng có một giá trị đặc biệt, xuất phát từ liên hệ với Bí tích Thánh Thể, vượt qua các bài giáo lý, vì  đây là giây phút cao trọng nhất trong cuộc đối thoại của Thiên Chúa với dân Người, trước lúc hiệp lễ. Bài giảng lập lại cuộc đối thoại đã được Chúa khai mở cho dân Người. Người rao giảng phải biết rõ tâm hồn của cộng đoàn  để tìm đâu là nơi họ khao khát hướng về Thiên Chúa cách nhiệt thành và sống động nhất, và cũng phải biết điểm nào làm cho cuộc đối thoại, đáng lý thật ngọt ngào, lại bị chết nghẹt vì không mang lại hoa trái nào. 

138. Bài giảng không thể mang hình thức hoạt náo, như cách trình bày của các phương tiện truyền thông, nhưng phải đem lại lòng nhiệt thành và ý nghĩa cho việc cử hành. Đây là  một thể loại đặc biệt, chỉ vì đây là một lời rao giảng trong khung cử hành phụng vụ ; do đó, phải ngắn gọn và tránh trở thành một cuộc hội thảo hay buổi học. Vị rao giảng phải có khả năng nắm được các chú tâm của cộng đoàn trong vòng một tiếng đồng hồ, như thế lời của ngài mới thật quan trọng hơn là cử hành đức tin. Nếu bài giảng quá dài, sẽ có hại cho hai đặc điểm của việc cử hành phụng vụ : sự hòa hợp giữa các phần phụng vụ và nhịp điệu của phụng vụ. Khi bài giảng được thực hiện trong bối cảnh phụng vụ, nó phải hội nhập như một phần lễ vật dâng lên Chúa Cha và như việc suy niệm về ân sủng mà Đức Kitô trao ban trong lúc cử hành. Khung cảnh này đòi buộc bài giảng phải định hướng vào cộng đoàn , và cả vị rao giảng cũng phải hướng đến sự hiệp thông với Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể, bí tích này sẽ biến đổi đời sống. Điều này đòi buộc, lời của vị rao giảng không chiếm lấy vị trí quá đáng, để thấy Chúa tỏa sáng hơn là vị thừa tác.   

Cuộc trao đổi của một người mẹ

139. Chúng ta đã nói nhờ tác động liên lĩ của Chúa Thánh Thần, dân Chúa phải luôn rao giảng Tin Mừng. Xác tín này đòi buộc vị rao giảng phải như thế nào ? Điều này nhắc nhớ cho chúng ta Giáo hội là mẹ và rao giảng cho dân như một người mẹ nói với con cái mình, khi biết rằng con mình tin tưởng vào tất cả những gì người mẹ dạy, vì mẹ chỉ muốn điều tốt lành cho mình và biết rõ mẹ yêu mến mình. Hơn nữa, người mẹ nhận biết tất cả những gì Thiên Chúa đã gieo trong lòng con cái mình, bà lắng nghe những sự quan tâm của con cái và học hỏi từ đó. Tinh thần yêu thương tràn đầy trong gia đình, sẽ hướng dẫn người mẹ lẫn con cái trong cuộc trao đổi, nơi đó người ta học hỏi và dạy dỗ, nơi đó người ta tự sửa sai và xác định những điều tốt lành. Điều này cũng diễn ra trong bài giảng. Chúa Thánh Thần, Đấng linh hứng trong các Phúc Âm và hoạt động trong dân Chúa, cũng linh hứng cách người ta lắng nghe niềm tin của dân chúng, và cách thế người ta phải rao giảng trong mỗi Thánh Lễ. Vì thế, lời rao giảng Kitô giáo gặp được ngay nơi trung tâm nền văn hóa của dân một nguồn nước sống, nhờ đó bài giảng có thể gặp được cách thế thích hợp để diễn tả. Người ta thích kẻ khác nói với chúng ta trong ngôn ngữ thân thuộc, cũng thế, trong đức tin, chúng ta yêu thích người ta nói với chúng ta bằng những thuật ngữ của “văn hóa người mẹ”, với những thuật ngữ trong ngôn ngữ của mẹ (x. 2 Mcb 21, 27) và tâm tình sẽ giúp chúng ta sẵn sàng lắng nghe hơn. Ngôn ngữ này là âm thanh truyền đạt can đảm, hứng khởi, sức mạnh và động viên.  

140. Môi trường mẫu từ và giáo hội, nơi đó diễn ra cuộc đối thoại của Thiên Chúa với dân Người, phải được vị rao giảng tạo thuận lợi và chăm sóc, nhất là phải thật gần gũi ngay trong tâm hồn vị rao giảng, sự nồng ấm trong âm thanh phát biểu, sự êm dịu trong cách diễn tả câu cú, niềm vui trong cử chỉ. Ngay trong trường hợp, bài giảng có một chút buồn chán, nếu tinh thần mẫu từ và giáo hội được nhận thức, sẽ luôn đem lại kết quả, như các lời khuyên bảo buồn chán của một người mẹ dịu dàng, theo thời gian, cũng sinh hoa trái trong tâm hồn con cái mình.

141. Chúng ta phải kinh ngạc trước những phương tiện Chúa sử dụng để đối thoại với dân Người, để đánh thức mầu nhiệm của Người cho tất cả, để nắm bắt  kẻ đơn sơ với những lời huấn dạy cao siêu và thật đòi hỏi. Tôi tin rằng điều bí mật ẩn giấu trong đôi mắt của Đức Giêsu hướng về dân chúng, vượt trên sự yếu đuối và sa ngã của dân : “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12,32) ; Đức Giêsu rao giảng với tinh thần này. Được tràn đầy niềm vui của Thánh Thần, Đức Giêsu ca tụng Thiên Chúa Cha, Đấng đã lôi kéo những kẻ bé mọn : “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn” (Lc 10,21). Chúa vui lòng đối thoại với dân Người, và vị rao giảng cũng phải giúp cho dân nhận ra niềm vui của Chúa.     

Những lời đốt cháy lòng người 

142. Một cuộc đối thoại còn nhiều hơn là một cuộc trao đổi về chân lý.  Nó được thực hiện do niềm vui vì được phát biểu và điều tốt đẹp cụ thể được trao đổi giữa những người thân thiết nhờ lời nói. Đấy là một điều thiện hảo không nằm nơi sự vật, nhưng trong những con người trao đổi với nhau qua cuộc đối thoại. Một bài giảng thuần túy mang tính chất luân lý hay giáo điều, sẽ biến thành một giáo trình Thánh Kinh, thu hẹp sự hiệp thông giữa các con tim, diễn ra trong bài giảng, mang tính chất gần như là bí tích : “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm 10,17). Trong bài giảng, chân lý đi kèm sự đẹp đẻ và thiện ích. Đây không phải là những chân lý trừu tượng hay những lý luận lạnh lùng, nhưng để chia sẻ nét đẹp của các hình ảnh mà Chúa sử dụng để động viện thực hiện điều lành. Ký ức của dân trung tín, cũng giống như ký ức của Đức Maria, phải tuôn trào từ những kỳ công của Thiên Chúa. Tâm hồn họ mở ra cho hy vọng về việc thực hiện hạnh phúc của tình yêu đã được loan báo cho họ, sẽ cảm thấy mỗi lời Kinh Thánh trước hết là một hồng ân, trước khi là một đòi hỏi.  

143. Thách đố của một bài giảng được thấm nhuần văn hóa nằm ở chỗ truyền đạt tổng hợp sứ điệp Tin Mừng, chứ không phải là những tư tưởng hay những giá trị rời rạc. Nơi nào có sự tổng hợp của anh, nơi đó có trọn tâm hồn của anh. Sự khác biệt giữa ánh sáng chiếu tỏa trên tổng hợp và ánh sáng trên những tư tưởng rời rạc cũng giống như ánh sáng giữa sự buồn chán với sự nhiệt thành của tâm hồn. Vị rao giảng có sứ vụ đẹp đẽ cũng như khó khăn nhất để kết hợp các tâm hồn yêu thương nhau : tâm hồn của Chúa và tâm hồn của dân Người. Cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Người còn củng cố thêm Giao Ước giữa họ và siết chặt mối dây bác ái. Trong thời gian giảng dạy, tâm hồn các tín hữu thật yên lặng và để cho Người nói với họ. Chúa và dân Người nói trực tiếp với nhau qua nhiều cách, không cần trung gian. Dù vậy, trong bài giảng, họ muốn có ai đó trở thành khí cụ để diễn tả tình cảm của họ, để rồi tiếp theo, mỗi người có thể chọn cách tiếp nối cuộc trao đổi. Lời nói cơ bản mang tính trung gian và đòi hỏi không những cả hai người đối thoại, nhưng cả người rao giảng được xem như ở giữa trong sự xác tín rằng : “Chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Kitô Giêsu là Chúa ; còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em, vì Đức Giêsu” ( 2 Cr 4,5).    

144. Nói với cả tâm hồn đòi buộc phải nói một cách nồng nhiệt, nhưng còn phải soi sáng sự hội nhập vào Mạc khải và qua con đường mà Lời này đang lưu chuyển trong tâm hồn của Giáo hội và trong dân trung tín suốt dòng lịch sử. Căn tính Kitô giáo, qua dấu ấn rửa tội mà Chúa Cha đã ban cho chúng ta khi chúng ta còn là trẻ thơ, giúp chúng ta khao khát mãnh liệt, như những đứa con hoang đàng – nhưng vẫn được hưởng sự yêu thương nơi Đức Maria – nhận được một dấu ấn khác, đó là dấu ấn của Cha nhân từ, vẫn chờ đợi chúng ta trong vinh quang. Hãy lưu tâm để cho dân chúng cảm nghiệm được hai dấu ấn này, đó là trách nhiệm khó khăn nhưng đẹp đẽ của người rao giảng Tin Mừng.    

3. Việc chuẩn bị bài giảng

145. Việc chuẩn bị bài giảng là một trách nhiệm hết sức quan trọng đến độ phải dành thời gian dài học tập, cầu nguyện, suy tư và sáng tạo mục vụ. Trong tình bạn chân thành, tôi muốn đề nghị một con đường cho việc chuẫn bị bài giảng. Đó là những hướng dẫn có thể xem ra đương nhiên, nhưng tôi yêu cầu các nhà giảng thuyết nên dành thời gian cần thiết cho tác vụ quí báu này. Một số cha sở thường cho rằng điều này không thể được vì có quá nhiều trách nhiệm phải làm ; dù vậy, tôi chỉ dám yêu cầu mỗi tuần, nên dành một thời gian cá nhân hay tập thể thật cần thiết cho trách nhiệm này, cho dù phải bỏ ít thời giờ hơn cho các việc khác, dù thật quan trọng. Việc tín thác vào Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trong bài giảng, không phải với một thái độ thụ động, nhưng tích cực và sáng tạo. Nó đòi hỏi vị giảng thuyết trở thành khí cụ (x.Rm 12,1) với tất cả khả năng của mình, để chúng có thể được Thiên Chúa sử dụng. Một vị giảng thuyết không chuẩn bị thì không thuộc “tinh thần”, không nghiêm chĩnh và không có trách nhiệm gì với các ân huệ mà ngài đã lãnh nhận .

Việc phục vụ chân lý

146. Sau khi khẩn cầu Chúa Thánh Thần, bước đầu tiên phải chú ý đến bản văn Kinh Thánh, bản văn này sẽ là nền tảng cho bài giảng. Khi dừng lại và tìm cách hiểu sứ điệp của bản văn, chúng ta đang thực hiện việc “phục vụ chân lý”[113]. Với sự khiêm tốn của tâm hồn, chấp nhận Lời Thiên Chúa luôn vượt trên chúng ta, mà chúng ta “không phải là thầy, là chủ quản, nhưng chỉ là người gìn giữ, người loan tin và phục vụ” [114]. Thái độ cung kính khiêm nhường và kinh ngạc đối với Lời Chúa được diễn tả bằng thời gian học tập thật chú tâm và với sự lo sợ thánh thiện có thể giảng Lời Chúa sai lệch. Để có thể chú giải một bản văn Kinh Thánh, phải kiên nhẫn, loại bỏ tất cả âu lo và dành thời gian, sự quan tâm và nhiệt thành. Phải để qua một bên tất cả mọi thứ ưu tư có thể đẩy chúng ta sang một lãnh vực khác, làm chúng ta mất tập trung. Thật sự cũng không nên đọc một bản văn Thánh Kinh để tìm kết quả thật nhanh, thật dễ dàng hay trực tiếp. Vì thế, việc chuẩn bi bài giảng đòi hỏi phải có tình yêu. Người ta hy sinh một thời gian, không vội vã nhắm vào những sự vật hay những người mà chúng ta yêu mến ; đây nói về yêu mến Chúa, Đấng muốn nói với chúng ta. Xuất phát từ tình yêu này, người ta có thể hy sinh thời gian cần thiết, với thái độ của một người môn đệ : “Lạy Chúa ! xin hãy nói vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe” (1 Sm 3,9).

147. Trước tiên chúng ta phải chắc chắn hiểu được ý nghĩa thích hợp của những lời mà chúng ta đọc. Tôi muốn nhấn mạnh vài điều xem ra thật đương nhiên nhưng không phải lúc nào cũng tin tưởng : bản văn Thánh Kinh mà chúng ta học, đã có hai ba nghìn năm, ngôn ngữ của Sách Thánh cũng rất khác với ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng hôm nay. Xem ra chúng ta hiểu  lời này vì được dịch ra bằng ngôn ngữ của chúng ta, điều này không có nghĩa là chúng ta hiểu đúng những gì mà tác giả thánh muốn diễn đạt. Chúng ta cũng biết đến những phương tiện khác mà việc phân tích văn chương đem lại cho chúng ta : hãy chú ý đến những từ ngữ được lập đi lập lại nhiều lần hay được làm nổi bật, nhận ra cấu trúc và động năng riêng của bản văn, nhận định vị trí mà các nhân vật hoạt động, vv… Nhưng mục đích không phải nhắm vào việc hiểu biết tất cả chi tiết nhỏ nhất của một bản văn, việc quan trọng nhất là khám phá sứ điệp chính yếu, cấu thành bản văn và đem lại cho bản văn sự thống nhất. Nếu vị rao giảng không thực hiện sự cố gắng này, có thể bài giảng sẽ thiếu sự thống nhất và trật tự ; bài diễn thuyết của ngài chỉ là một tổng hợp một số ý tưởng thay đổi không có liên hệ giữa tư tưởng này với tư tưởng khác, không tập hợp để động viên thính giả. Sứ điệp trung tâm là sứ điệp mà vị rao giảng muốn truyền đạt trước tiên, không những giúp nhận ra một ý tưởng, nhưng cả hiệu quả mà tác giả muốn đưa đến. Nếu một bản văn được viết để an ủi, thì không được sử dụng để sửa sai các lầm lỗi ; nếu được viết để động viên, thì không được sử dụng để dạy dỗ ; nếu được viết để giảng dạy một điều gì về Thiên Chúa, thì không được sử dụng để giải thích những sự khác biệt của các tư tưởng thần học ; nếu được viết để động viện việc ca tụng hay trách nhiệm truyền giáo, thì chúng ta không được sử dụng để thông báo các tin tức thời sự. 

148. Đương nhiên, để hiểu được ý nghĩa sứ điệp chính yếu của một bản văn cách thích hợp, cần phải đặt nó vào trong liên hệ với lời giáo huấn của trọn Thánh Kinh, được Giáo hội truyền đạt. Đấy là một nguyên tắc quan trọng cho việc chú giải Thánh Kinh, xác tín rằng Chúa Thánh Thần không chỉ linh hứng một phần, nhưng là trọn bộ Thánh Kinh, và trong một số vấn  đề, dân chúng đã được lớn dậy trong sự hiểu biết ý muốn của Thiên Chúa dựa vào kinh nghiệm sống. Từ cách đó, người ta có thể tránh những cách chú giải sai lầm và hay cục bộ, nghịch lại với giáo huấn của chính Thánh Kinh. Nhưng điều này không làm yếu đi điểm nhấn riêng biệt và đặc thù của bản văn mà dựa vào đó người ta phải rao giảng. Một trong những thiết sót của bài giảng khô khan và không hiệu quả, chính là không đủ khả năng để truyền đạt sức lực đặc thù của bản văn được công bố.

Việc liên hệ cá nhân với Lời

149. Vị giảng thuyết “trước tiên phải có được một sự thân mật lớn lao với Lời. Đối với ngài, sự hiểu biết về phương diện ngôn ngữ hay chú giải thật ra không đủ, dù điều này cần thiết. Ngài phải đón nhận Lời Chúa với một tâm hồn ngoan hiền và cầu nguyện, để Lời đi sâu vào tư tưởng và tình cảm của ngài và đem đến cho ngài một tinh thần mới” [115]. Điều này thật tốt cho chúng ta nếu chúng ta cứ lập lại từng ngày, từ Chúa nhật, lòng nhiệt thành của chúng ta khi chuẩn bị bài giảng, và kiểm chứng tình yêu của Lời mà chúng ta rao giảng, lớn dậy trong chúng ta. Đừng quên rằng “sự thánh thiện nhiều hay ít nơi thừa tác viên có một ảnh hưởng rõ ràng  trên cách công bố Lời” [116]. Như thánh Phaolô xác nhận, “chúng tôi rao giảng, không phải để làm vừa lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng thử luyện tâm hồn chúng tôi” (1 Tx 2,4). Nếu trong tâm hồn chúng ta có một sự khao khát mãnh liệt là người đầu tiên lắng nghe Lời mà chúng ta phải rao giảng, Lời sẽ được truyền đạt cách này hay cách khác cho dân Chúa : “Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Mt 12, 34). Các bài đọc ngày Chúa Nhật vang lên trong lòng dân Chúa với tất cả sự chói sáng của chúng, nếu chúng được vang dội đầu tiên trong tâm hồn vị mục tử. 

150. Đức Giêsu nổi giận trước những người tự cho là thầy dạy Lời Chúa, đòi hỏi kẻ khác thật nhiều, nhưng chính mình lại không để cho Lời Chúa soi sáng bản thân : “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23,4). Thánh Giacôbê khuyên : “Đừng có nhiều người trong anh em ham làm thầy thiên hạ, vì anh em biết rằng chúng ta sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn” (Gc 3,1). Ai muốn rao giảng, phải sẵn sàng để Lời đụng chạm đến và làm cho Lời hình thành cụ thể trong đời sống của mình. Từ cách đó, bài giảng nằm trong sức sống động, thật mãnh liệt, đó là “truyền đạt cho kẻ khác điều người ta chiêm ngắm” [117]. Để đạt được như thế, trước khi chuẩn bị cụ thể điều phải nói trong bài giảng, người ta phải chấp nhận các thương tích do chính Lời, sẽ xuyên thấu kẻ khác, chỉ vì đó là Lời sống động và đầy hiệu năng, như một lưỡi gươm “xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người “ (Dt 4,12). Điều này rất quan trọng về mặt mục vụ. Trong thời đại chúng ta, dân chúng thích nghe các chứng nhân : “họ khao khát tính đích thực … Thế giới đòi hỏi các vị truyền giáo nói với họ về một Thiên Chúa mà họ quen biết và thường tiếp xúc như thể họ thấy được Đấng vô hình” [118].

151. Chúng ta không bị đòi buộc phải hoàn toàn thanh khiết, chỉ vì chúng ta luôn phát triển, chúng ta sống trong sự khao khát sâu xa tiến mãi trên con đường của Tin Mừng và đừng bao giờ mất can đảm. Điều tất yếu là nhà giảng thuyết phải xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương mình, Đức Giêsu Kitô đã cứu thoát mình, tình yêu của Người là tiếng nói cuối cùng. Trước bao vẻ đẹp, nhiều lần ngài cảm thấy cuộc sống không làm cho Người được vinh quang, nhưng thành thật khao khát đáp lại tình yêu vĩ đại. Nhưng nếu ngài không dừng lại để lắng nghe Lời với một sự cỡi mở chân thành, nếu ngài không để cho Lời đụng chạm đến cuộc sống của mình, chất vấn mình, khuyến khích mình, lay động mình, nếu như ngài không dành đủ thời giờ để cầu nguyện cùng với Lời, bấy giờ, ngài sẽ là một tiên tri giả, một kẻ lường gạt hay người giả mạo. Trong mọi trường hợp, xuất phát từ nhận thức về sự nghèo hèn của mình, với sự khao khát dấn thân nhiều hơn nữa, ngài có thể trao ban Đức Giêsu Kitô, như thánh Phêrô đã nói : “Vàng bạc thì tôi không có ; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây” (Cv 3,6). Chúa muốn sử dụng chúng ta như những con người sống động, tự do và sáng tạo, hoàn toàn để cho Lời Người thâm nhập chúng ta, trước khi chúng ta truyền đạt Lời này ; sứ điệp của Người phải đi con đường ngang qua vị giảng thuyết, không những ngang qua lý lẽ của ngài, nhưng chiếm hữu trọn vẹn hiện sinh của ngài. Chúa Thánh Thần, Đấng linh hứng Lời, là Đấng “ngày hôm nay cũng như ngay lúc khởi đầu Giáo hội, hoạt động trong mỗi vị truyền giảng, khi họ để cho Người chiếm hữu và hướng dẫn mình, Thánh Thần sẽ đặt vào miệng lưỡi họ những lời mà họ không thể nào sáng tác ra được” [119].   

Việc đọc sách thiêng liêng

152. Có một phương cách cụ thể để lắng nghe điều Chúa muốn nói với chúng ta trong Lời của Người và để cho Thánh Thần biến đổi chúng ta. Đó là điều mà chúng ta gọi là Lectio divina. Điều này gồm tóm trong việc đọc Lời Chúa giữa thời gian cầu nguyện, để Người soi sáng và canh tân chúng ta. Cách đọc Thánh Kinh theo lối cầu nguyện này không được tách khỏi việc học vấn mà vị giảng thuyết phải chu toàn để tìm sứ điệp trung tâm của bản văn ; ngược lại, ngài phải xuất phát từ đấy, để tìm cách khám phá điều sứ điệp muốn nói với chính cuộc đời của ngài. Việc đọc sách thiêng liêng một bản văn phải đi từ ý nghĩa văn chương. Nếu không, chúng ta dễ dàng gán cho bản văn những gì thích hợp để xác nhận những quyết định riêng của mình, thích ứng với những lược đồ lý trí của mình. Dứt khoát, điều này cho thấy việc sử dụng điều linh thánh cho tư lợi riêng của mình và truyền đạt sự mơ hồ cho dân Chúa. Đừng quên rằng đôi khi, “chính Satan cũng đội lốt thiên thần sáng láng” (2 Cr 11,14).   

153. Trước mặt Thiên Chúa, khi bình tĩnh đọc một bản văn, sẽ là một điều tốt đẹp nếu chúng ta tự hỏi, tỉ như : “Lạy Chúa! bản văn này muốn nói gì với con ? Với sứ điệp này, Chúa muốn thay đổi gì trong cuộc sống của con ? điều gì làm cho con buồn chán trong bản văn này : tại sao bản văn này không gây thích thú gì cho con ?” hay là : “Điều gì làm cho tôi vui thích ? điều gì đánh động tôi trong bản văn này ? Điều gì lôi kéo tôi ? tại sao lại lôi kéo tôi ? Khi chúng ta tìm cách để lắng nghe tiếng Chúa, thường chúng ta hay gặp các cơn cám dỗ. Một trong các cám dỗ này là cảm thấy khó chịu hay bị áp bức, và tự khép kín mình lại ; cơn cám dỗ khác rất thường xảy ra là bắt đầu suy nghĩ điều bản văn nói với kẻ khác để tránh áp dụng vào chính đời sống mình. Đôi khi cũng xảy ra, khi người ta bắt đầu tìm những cách thối thoát, làm yếu đi sứ điệp đặc biệt của một bản văn. Nhiều lần khác, người ta cho rằng Thiên Chúa đòi buộc chúng ta một quyết định thật quan trọng, mà chúng ta chưa sẵn sàng để thực hiện. Điều này làm cho nhiều người mất đi niềm vui trong việc gặp gỡ với Lời, nhưng điều này cho thấy không ai kiên nhẫn như Thiên Chúa Cha, không ai hiểu và biết kiên nhẫn chờ đợi như Người. Người luôn mời gọi thực hiện thêm một bước nữa, nhưng không đòi hỏi một câu trả lời trọn vẹn nếu chúng ta chưa rão qua con đường giúp cho câu trả lời này thành khả thi. Người chỉ muốn chúng ta nhìn một cách trung thực vào hiện sinh của chúng ta và trình diện đời sống này trước mắt Người, chúng ta sẵn sàng để lớn dậy, và van xin Người điều chúng ta chưa thành công để đạt được.   

Biết lắng nghe dân chúng

154. Vị giảng thuyết phải chú tâm lắng nghe dân chúng, để khám phá điều gì họ cần được nghe.  Vị giảng thuyết vừa là nhà chiêm niệm Lời Chúa, vừa chăm chú vào giáo dân. Với cách thức đó, ngài khám phá “những khao khát, những sự phong phú và ranh giới, cách thức cầu nguyện, yêu thương, nhìn ngắm cuộc đời và thế giới phân biệt cách này hay cách khác mang tính đặc thù cho một nhóm người xác định”, chú tâm đến “dân chúng cụ thể với tất cả dấu hiệu và biểu trưng, đáp ứng các vấn  đề họ đặt ra” [120]. Đó là việc nối kết sứ điệp của bản văn Thánh Kinh với hoàn cảnh cụ thể của con người, với những gì họ sống, với kinh nghiệm họ cần đến ánh sáng của Lời Chúa. Mối quan tâm này không thể đáp ứng bằng một thái độ tùy theo cơ hội hay ngoại giao, nhưng phải mang đặc tính tôn giáo sâu xa và có tính mục vụ. Tự thâm tâm, “hãy có sự nhạy cảm thiêng liêng để đọc sứ điệp của Thiên Chúa trong các biến cố” [121], điều này quan trọng hơn là đi tìm điều thích thú để thuyết giảng. Cần phải khám phá “điều Chúa muốn nói trong chính hoàn cảnh này” [122]. Như thế, việc chuẩn bị bài giảng sẽ chuyển thành một sự thực tập về sự phân định theo Tin Mừng, trong đó, dưới ánh sáng của Thánh Thần – chúng ta phải tìm để nhận thức “một lời mời gọi mà Chúa đã làm vang lên trong hoàn cảnh lịch sử ; cũng như trong và nhờ lời mời gọi này – Chúa kêu gọi người tín hữu” [123]. 

155. Trong việc tìm kiếm này, có thể sử dụng một số kinh nghiệm thông thường của con người, như niềm vui của một cuộc gặp gỡ mới mẽ, những lần thất vọng, âu lo trước cô đơn, chia sẻ đau khổ của kẻ khác, bất an trước tương lai, quan tâm đến một người mình thương mến… ; dù vậy, cần phải có một sự nhạy cảm cao độ hơn để nhận ra điều quan tâm trong cuộc sống của họ. Hãy nhớ rằng người ta không cần đến câu trả lời của chúng ta cho các vấn nạn mà người ta nêu lên ; cũng không cần thiết đưa bản tường trình về hoạt động để gợi lên thích thú của họ ; về điều này đã có những chương trình thời sự rồi. Dù vậy cũng có thể đi từ một sự kiện để Lời Chúa có thể vang lên với sức lực trong lời mời gọi sám hối, thờ phượng, những thái độ cụ thể về tình huynh đệ và phục vụ…, vì một số người vẫn thích nghe bài giảng bình luận về thực tại, nhưng đừng nói theo cá nhân mình.

Các phương tiện giáo dục

156. Một số người tin rằng họ có thể trở thành những nhà giảng thuyết tốt vì họ biết điều phải nói, nhưng lại chễnh mãn về cách phải nói như thế nào, cách cụ thể để triển khai một bài giảng. Họ than trách khi  người khác đã không lắng nghe họ hay không đánh giá họ cao, nhưng có thể họ đã không chú tâm để tìm cách trình bày sứ điệp. Chúng ta nên nhớ rằng “ý nghĩa hiển nhiên của nội dung cũng không được che khuất ý nghĩa những con đường và phương tiện của nó”[124]. Sự quan tâm về cách rao giảng cũng là một thái độ tinh thần sâu xa. Điều này có nghĩa, để đáp trả tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta phải dành tất cả khả năng và sự sáng tạo của chúng ta vào trách nhiệm được trao phó ; nhưng đó cũng là một sự thực tập tình yêu tế nhị cho người thân cận, vì không ai muốn trao cho kẻ khác một điều gì kém phẩm chất. Chúng ta gặp lời khuyên trong Thánh Kinh để chuẩn bị bài giảng bảo đảm có chất lượng đúng đắn : “Hãy nói cho gọn, ít lời, nhiều ý” (Hc 32,8).

157. Để nêu vài tỉ dụ, chúng ta hãy nhớ lại những phương thế thực hành có thể làm phong phú một bài giảng và thêm lôi kéo. Một trong những cố gắng cần thiết nhất là hãy học sử dụng các hình ảnh trong bài giảng, có nghĩ là nói với các hình ảnh. Đôi khi, người ta sử dụng những thí dụ để cho một điều gì mà chúng ta muốn giải thích được dễ hiểu hơn, nhưng các tỉ dụ này phải nhắm vào lý luận ; ngược lại, những hình ảnh giúp đánh giá và chấp nhận sứ điệp mà chúng ta muốn truyền đạt. Một hình ảnh hấp dẫn sẽ giúp cho sứ điệp được cảm nghiệm thật thân thuộc, thật gần gũi, có thể thực hiện ngay trong cuộc sống. Một hình ảnh thành công có thể dẫn đến việc thưởng thức sứ điệp mà chúng ta muốn truyền đạt, đánh thức một sự khao khát và động viên ý chí theo hướng Tin Mừng. Như vị thầy già đã nói với tôi, một bài giảng tốt phải chứa đựng “một tư tưởng, một tình cảm, một hình ảnh”.  

158. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói : “Cộng đoàn tín hữu đang qui tụ… mong chờ và lãnh nhận rất nhiều từ bải giảng ; bài giảng phải đơn sơ, trong sáng, trực tiếp, nhắm vào con người” [125]. Sự đơn sơ phải được nhìn thấy trong ngôn từ được sử dụng. Đó là ngôn từ mà người nhận có thể hiểu được, để đừng rơi vào tình trạng nói trong trống vắng. Điều thường xảy ra là các vị giảng thuyết dùng những ngôn từ trong thời học vấn và trong những môi trường được xác định, nhưng không phải là ngôn từ thông dụng của người nghe. Đó là những thuật ngữ đặc thù của thần học hay của giáo lý, nhưng phần đông tín hữu  không thể nào hiểu được. Nguy hiểm lớn nhất đối với vị giảng thuyết quen thuộc với ngôn ngữ riêng của mình và nghĩ rằng mọi người khác cũng sử dụng như thế và dễ hiểu. Nếu các ngài muốn thích nghi với ngôn ngữ của kẻ khác để họ có  thể tiếp xúc Lời Chúa, các ngài phải lắng nghe thật nhiều, phải chia sẻ đời sống của họ và chú tâm nhiều đến họ. Đơn sơ và rõ ràng là hai điều khác nhau. Ngôn ngữ có thể đơn sơ, nhưng bài giảng lại ít rõ ràng. Nó có thể trở nên khó hiểu vì sự lộn xộn, thiếu lý luận, hay vì trong một thời gian ngắn lại trình bày quá nhiều đề tài. Vì thế, một trách nhiệm cần thiết khác là phải  làm cho bài giảng có một đề tài thống nhất, một trình tự rõ ràng và liên hệ giữa các câu cú, để người ta có thể dõi theo vị giảng thuyết cách dễ dàng và lãnh nhận được lý luận mà ngài nói.

159. Một đặc tính khác là ngôn từ phải có tính tích cực. Đừng nói nhiều về điều không nên làm, nhưng đề nghị điều người ta có thể làm tốt hơn. Trong mọi trường hợp, nếu phải nêu một điều gì tiêu cực, thì cũng phải tìm trưng ra một điều tích cực hay một giá trị tích cực có thể lôi kéo người ta, để khỏi dừng lại trong sự than trách, phê phán hay ăn năn. Ngoài ra, một bài giảng tích cực thường mang đến hy vọng, định hướng vào tương lai, không để cho chúng ta bị đóng khung trong điều tiêu cực. Thật tốt đẹp khi các linh mục, phó tế và giáo dân họp mặt với nhau theo định kỳ để cùng nhau tìm những công cụ làm cho bài giảng được hấp dẫn thêm.   

4. Một việc Phúc Âm hóa để đào sâu Kerygma (bài giảng tiên khởi)

160. Mệnh lệnh truyền giáo của Chúa bao gồm cả lời mời trưởng thành trong đức tin, khi Người chỉ dẫn : “Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,20). Như thế, rõ ràng lời công bố tiên khởi được ban, phải đưa đến việc đào tạo và trưởng thành. Việc truyền giáo tìm cách để phát triển, điều này đòi buộc phải chú tâm đến từng người và dự định của Chúa trên con người đó.  Mỗi người đều cần đến Đức Kitô, và việc truyền giáo không phải chỉ đón nhận một ai đó vì đã ưng thuật một ít, nhưng họ có thể nói rõ ràng : “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2,20).

161. Thật không đúng khi giải thích lời mời gọi tăng trưởng trọn vẹn hay ưu tiên như là việc đào tạo tín lý. Điều này nhắm đến việc “tuân giữ” điều Chúa chỉ dạy, như lời đáp lại tình yêu của Người, từ đó đưa đến điều răn mới, cùng với tất cả các nhân đức, là điều tiên khởi, lớn lao hơn cả, điều giúp chúng ta trở thành môn đệ tốt nhất : “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Đương nhiên, khi các tác giả Tân Ước muốn đúc kết vào tổng hợp cuối cùng, căn bản nhất, sứ điệp luân lý Kitô giáo, các ngài trình bày sự đòi buộc dứt khoát về việc yêu thương tha nhân : “Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật … Yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy”(Rm 13,8.10). Như thế, đối với thánh Phaolô, mệnh lệnh yêu thương không những tóm kết Lề Luật, nhưng là trọng tâm và là lý do hiện hữu : “Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gl 5,14). Và ngài đã trình bày cho các cộng đoàn của ngài đời sống Kitô hữu như con đường tăng trưởng trong tình yêu : “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết” (1 Tx 3,12). Cũng như thánh Giacôbê động viên để các Kitô hữu phải chu toàn “Lề Luật chính yếu được Kinh Thánh đưa lên hàng đầu : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gc 2,8) mà không bỏ qua mệnh lệnh nào.

162. Mặt khác, hồng ân phải đi trước con đường đáp trả và tăng trưởng, vì trước đó còn có một đòi hỏi khác của Chúa : “Hãy làm phép rửa cho họ nhân danh…” (Mt 28,19). Chính Chúa Cha ban tặng nhưng không việc đón nhận làm nghĩa tử và khởi đầu cho ân sủng của Người (x. Ep 2,8-9 ; 1 Cr 4,7), đó là điều kiện để thực hiện việc thánh hóa trường kỳ, là điều đẹp lòng Thiên Chúa và đem lại vinh quang cho Người. Điều này dạy chúng ta phải biến đổi trong Đức Kitô bằng một đời sống tiến triển “theo Thánh Thần” (Rm 8,5).

 Một thứ giáo lý mang đặc tính bài giảng tiên khởi (kerygmatique) và hướng theo các mầu nhiệm (mystagogique)

163. Giáo dục và giáo lý phục vụ cho việc tăng triển này.  Chúng ta đã sử dụng một chuỗi bản văn và tài liệu giáo lý của Huấn quyền và của các Hội Đồng Giám Mục khác. Tôi chỉ xin nhắc lại Tông Huấn Catechesi tradendae (1979), Bản hướng dẫn chung cho giáo lý (1997) và các tài liệu khác không cần phải nhắc lại ở đây các nội dung hiện hành. Tôi chỉ muốn dừng lại một vài suy tư, đối với tôi xem ra cần phải nhấn mạnh.

164. Chúng ta đã tái khám phá, trong giáo lý cũng thế, bài giảng tiên khởi được gọi là Kerygma, có một vị trí nền tảng, nó phải là trọng tâm các hoạt động truyền giáo và phải luôn luôn được canh tân trong Giáo hội. Kerygma mang đặc tính của tín điều Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là lửa của Chúa Thánh Thần được ban dưới hình thức ngôn ngữ và giúp chúng ta tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng nhờ cái chết và sự Phục sinh của Người nâng đỡ chúng ta và cho chúng ta hiệp thông vào lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa Cha. Lời giảng tiên khởi luôn gắn trên môi miệng của người dạy giáo lý : “Đức Giêsu Kitô yêu thương anh ; Người đã hiến dâng mạng sống của mình để cứu anh, và hiện tại mỗi ngày Người hằng sống cận kề bên anh để soi sáng cho anh, củng cố anh, giải thoát anh”. Khi chúng ta đọc thấy rằng lời công bố này là “đầu tiên”, điều này không muốn nói, nó nằm ở lúc khởi đầu và sau đó, bị quên lãng hay bị thay thế bằng những nội dung khác vượt lên trên nội dung cũ của nó. Nó là tiên khởi về phẩm chất, chỉ vì nó là lời rao giảng “chính yếu”, điều mà người ta phải luôn được nghe dưới nhiều cách khác nhau và phải luôn công bố cách mới mẽ khi dạy giáo lý dưới hình thức này hay hình thức khác trong mỗi giai đoạn, mỗi thời đoạn [126]. Để thực hiện điều này, “vị linh mục, cũng như cả Giáo hội, phải ý thức đến sự cần thiết để lời rao giảng này phải được luôn công bố” [127}.

165. Chúng ta đừng nghĩ rằng trong môn giáo lý, Kerygma (bài giảng tiên khởi) đã bị loại bỏ vì đã có một xác quyết “vững vàng” hơn. Không có gì vững chắc hơn cả, sâu xa hơn cả, chắc chắn hơn cả, kiên vững và khôn ngoan hơn lời loan báo này. Tất cả sự đào luyện Kitô giáo trước tiên là phải đào sâu kerygma này, luôn luôn hiện diện và luôn luôn tốt đẹp hơn cả, không bao giờ bỏ qua việc soi sáng sự dấn thân về mặt giáo lý, sẽ giúp hiểu cách thích hợp bất cứ đề tài nào mà người ta trình bày trong giáo lý. Đấy là lời công bố đáp ứng sự khao khát bất tận hiện diện trong tâm hồn mỗi con người. Vị trí trung tâm kerygma đòi buộc một số đăc tính cho việc công bố ngày nay cần thiết trong mọi nơi mọi lúc : nó phải làm nổi bật tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, đi trước mọi trách nhiệm luân lý và tôn giáo, nó không áp đặt chân lý nhưng kêu gọi đến tự do, mang nét vui tươi, động viên, sống động và một tổng hợp hài hòa, nhưng không thu hẹp bài giảng vào vài điểm tín lý, đôi khi lại đầy triết lý hơn cả Phúc Am. Điều này đòi buộc vị giảng thuyết có những thái độ xác định giúp cho người nghe dễ đón nhận lời công bố : sự gần gũi, cởi mở trong đối thoại, kiên nhẫn, đón nhận thật thân thiết, nhưng không kết án.  

166. Một đặc tính khác nữa của việc dạy giáo lý, được triển khai trong những thập niêm cuối này, đó là hướng dẫn người nghe đi vào các mầu nhiệm (mystagogique) [128] ; trên căn bản điều này gồm hai điều : việc phát triển cần thiết về mặt kinh nghiệm giáo dục mà cả cộng đoàn đều tham gia và việc tái canh tân các dấu chỉ phụng vụ trong việc khai tâm Kitô giáo. Nhiều thủ bản và cũng nhiều chương trình vẫn chưa nêu lên sự cần thiết một sự canh tân Giáo lý mầu nhiệm, có thể có những hình thức rất khác nhau cho phù hợp với từng cộng đoàn  giáo dục. Việc học tập giáo lý là một sự loan báo Lời và phải tập trung vào Lời, nhưng Lời cũng cần có một môi trường thích hợp và một động lực lôi kéo, việc sử dụng các biểu trưng đầy ý nghĩa, việc hội nhập vào một tiến trình phát triển rộng rãi và thấm nhập vào mọi chiều kích con người trong môi trường chung của cộng đoàn biết lắng nghe và đáp trả.

167. Thật tốt đẹp, nếu như mỗi bài giáo lý để ý đặc biệt đến “con đường của sự đẹp đẻ” (Via pulchritudinis) [129]. Loan báo Đức Kitô là muốn cho thấy rằng tin vào Người và bước theo Người không phải chỉ là điều chân thật và chính đáng, nhưng còn là điều đẹp đẻ, có khả năng bao trùm cuộc sống bằng một vẻ sáng chói mới mẽ và một niềm vui sâu xa, ngay cả trong các thử thách. Trong viễn cảnh này, tất cả những cách diễn tả vẻ đẹp đích thực có thể được nhận như con đường dẫn đến viêc gặp gỡ Chúa Giêsu. Điều này không để cổ võ cho một thuyết tương đối về mặt thẩm mỹ [130], có thể làm mờ đi sợi dây liên kết bền vững giữa chân, thiện, mỹ, nhưng để đánh giá lại vẻ đẹp có thể chạm đến tâm hồn con người, và rọi sáng trong tâm hồn này chân lý và lòng nhân từ của Đấng Phục sinh. Nếu, như thánh Augustinô xác nhận, chúng ta chỉ yêu những gì đẹp đẻ [131] thì Chúa Con được sinh ra làm người, là mạc khải vẻ đẹp tuyệt đối, đáng yêu tuyệt đối, lôi kéo chúng ta đến với Người bởi những dây tình yêu. Vì thế, việc đào tạo theo con đường đẹp đẻ (via pulchritudinis) phải gắn kết với việc truyền đạt đức tin. Ước gì mỗi Giáo hội địa phương cố gắng sử dụng các nghệ thuật trong công tác Phúc Âm hóa, tiếp nối với sự phong phú của qúa khứ, nhưng với cả những cách diễn tả thông dụng thật phong phú, với mục đích truyền đạt đức tin trong một “ngôn ngữ ẩn dụ” mới [132]. Phải can đảm tìm những dấu chỉ mới, những biểu tượng mới, một xác thể mới để truyền đạt Lời những hình thức khác nhau của sự đẹp đẻ biểu lộ trong các môi trường văn hóa khác biệt, bao gồm cả những mẫu thức không theo quy ước của vẻ đẹp, không nhiều ý nghĩa mấy đối với vị truyền giáo, nhưng lại lôi cuốn các kẻ khác. 

168. Về việc trình bày luân lý trong bài giáo lý, để mời gọi tăng triển trong sự trung tín về cách sống Tin Mừng, cần phải luôn cho thấy điều thiện đáng khao khát, đề nghị cách sống, để trưởng thành, thực hiện, chu toàn, sung mãn, dưới ánh sáng mà người ta hiểu được, sự phủ nhận mọi thứ xấu xa có thể làm đen tối cách sống đó. Thật đáng mừng nếu người ta không nhìn chúng ta như những nhà chuyên môn về dự báo khải huyền hay những thẩm phán đen tối, cảm nghiệm được từng nguy hiểm hay lạc lối, nhưng như các sứ giả hân hoan đề nghị những giải pháp cao cả, những người bảo quản điều thiện hảo và vẻ đẹp chiếu tỏa trong một cuộc sống trung tín với Tin Mừng. 

Việc đồng hành cá nhân trong tiến trình trưởng thành

169. Trong một nền văn minh thật nghịch lý vì đụng phải sự nặc danh, đồng thời bị ám ảnh về những chi tiết đời sống của kẻ khác, một thứ tò mò bệnh hoạn, Giáo hội cần đến một cái nhìn gần gũi để quan sát, cảm thông và dừng lại mỗi lần nếu cần. Trong thế giới này, các vị thừa tác viên có thánh chức và những người làm mục vụ có thể làm nổi bật hương thơm của sự hiện diện gần gũi và cái nhìn cá nhân của Đức Giêsu.  Giáo hội phải hướng dẫn các thành viên của mình – linh mục, tu sĩ và giáo dân – về “nghệ thuật đồng hành”, để tất cả mọi người luôn cởi giày mình ra trước đất thánh của kẻ khác (x.Xh 3,5). Chúng ta phải đem lại cho đường đi của chúng ta nhịp điệu cứu độ về sự gần gũi, với cái nhìn tôn trọng và đầy thông cảm, nhưng đồng thời chữa lành, giải thoát và động viên để làm cho đời sống Kitô hữu phát triển.

170. Mặc dù điều này xem như đương nhiên, việc đồng hành tinh thần phải luôn hướng đến Thiên Chúa, chính trong Người chúng ta mới đạt được sự tự do đích thực. Nhiều người tin rằng mình được tự do khi tách ra khỏi Thiên Chúa, không cảm thấy mình thật mồ côi, không nơi nương tựa, không một chỗ trú mà mỗi ngày có thể trở về. Họ không còn là kẻ lữ hành, khi chỉ biết quay về chính mình không mục đích. Việc đồng hành sẽ phản tác dụng nếu nó trở thành một thứ chữa bệnh, củng cố cho việc tự khép kín cá nhân, và chấm dứt cuộc lữ hành với Đức Kitô hướng về Chúa Cha.

171. Hơn bao giờ hết chúng ta cần đến nhiều người nam cũng như nữ, dựa vào kinh nghiệm đồng hành của họ, biết cách dẫn dắt, cũng như khả năng khôn ngoan, hiểu biết, nghệ thuật chờ đợi, dễ dàng để Thánh Thần hướng dẫn, để che chỡ tất cả đoàn chiên đang trông cậy vào chúng ta khỏi những con sói muốn làm tan tác cả đoàn. Chúng ta cần đến nghệ thuật lắng nghe, hơn là bắt người khác lắng nghe. Trong sự hiệp thông với kẻ khác, điều đầu tiên là khả năng của con tim giúp chúng ta gần gũi mà không có điều này sẽ không có cuộc gặp gỡ tinh thần đích thực. Việc lắng nghe giúp chúng ta khám phá các cử chỉ và lời nói cần thiết lay động tình trạng bình thản của khán giả. Chỉ từ việc lắng nghe cách tôn trọng này và khả năng thông cảm, mà  người ta có thể tìm ra những con đường phát triển đích thực, người ta có thể đánh thức khao khát lý tưởng Kitô giáo, sự kiên nhẫn để đáp trả trọn vẹn cho tình yêu Thiên Chúa và sự khao khát triển khai điều tốt đẹp mà Thiên Chúa đã gieo trong đời sống của họ. Ai đã nghe lời thánh Thomas thành Aquinô dạy, cũng phải biết luôn kiên nhẫn : một người nào đó có thể có ân sủng và bác ái, nhưng đã không thực hiện các nhân đức này “vì những xu hướng nghịch lại” luôn tồn tại [133]. Nói cách khác : đặc tính cơ cấu của các nhân đức phải luôn hiện diện và cần thiết “in habitu”, cho dù các điều kiện có thể gây khó khăn trong việc thực hành các thói quen đạo đức. Do đó, cần phải có một “phương pháp sư phạm hướng con người từng bước một, hoàn toàn hướng đến mầu nhiệm” [134]. Để đạt được sự trưởng thành, có nghĩa là những người này đạt được khả năng quyết định thật tự do với ý thức trách nhiệm, cần phải có nhiều thời gian, với một sự kiên nhẫn vô cùng, như chân phước Phêrô Fabre nói : “Thời gian là sứ giả của Thiên Chúa”  

172. Ai đồng hành sẽ biết nhận ra hoàn cảnh của từng người trước mặt Thiên Chúa và đời sống ân sủng là một mầu nhiệm mà người ta khó nhận ra một cách trọn vẹn dựa theo bề ngoài. Tin Mừng đề nghị chúng ta sửa sai và giúp phát triển một con người bắt đầu từ việc nhận thức tâm tính xấu khách quan những hành động của người đó (x.Mt 18,15), nhưng không kết án về trách nhiệm và lỗi lầm của họ (x.Mt 7,1 ; Lc 6,37). Trong mọi trường hợp, một người đồng hành tốt không dựa theo thuyết định mệnh hay sự rụt rè. Ngài phải luôn mời gọi để người đó tự chăm sóc, tự đứng lên, mang lấy thập giá, bỏ đi tất cả, phải luôn bước ra để loan báo Tin Mừng. Kinh nghiệm cá nhân khi chúng ta để kẻ khác đồng hành và chăm sóc mình, chúng ta thành công khi trình bày một cách thành thật trước người đồng hành, sẽ giúp chúng ta kiên nhẫn và hiểu biết người khác và biết nhận ra những cách gợi dậy nơi họ sự tin tưởng, cởi mở và sẵn sàng để phát triển. 

173. Việc đồng hành tinh thần đích thực luôn bắt đầu và phát triển trong lãnh vực phục vụ cho sứ vụ truyền giáo. Sự liên hệ giữa thánh Phaolô với Timôthê và Titô là một mẫu gương cho việc đồng hành và đào tạo này trong suốt hoạt động thập giá. Khi ủy thác cho các vị này sứ vụ dừng lại trong mỗi thành phố để “hoàn tất việc tổ chức” (Tt 1,5 ; x. 1 Tm 1,3-5), ngài đưa cho họ những tiêu chuẩn cho đời sống cá nhân và cho hoạt động mục vụ. Tất cả điều này khác biệt một cách rõ ràng với một mẫu đồng hành tự mãn, tự thực hiện bản thân cách đơn độc. Các môn đệ truyền giáo đồng hành với các môn đệ truyền giáo. 

Định hướng vào Lời Chúa 

174. Không phải chỉ có bài giảng mới được dưỡng nuôi bằng Lời Chúa. Tất cả việc Phúc Âm hóa cũng đều đặt nền tảng trên Lời, lắng nghe, suy niệm, sống, cử hành và làm chứng. Thánh Kinh là nguồn của việc Phúc Âm hóa.Vì thế, chúng ta phải luôn được đào luyện để lắng nghe Lời. Giáo hội sẽ không Phúc Âm hóa nếu không liên tục để mình được Phúc Âm hóa. Điều tất yếu là Lời Chúa “ phải luôn trở thành trọng tâm tất cả hoạt động của Giáo hội” [135]. Lời Chúa được lắng nghe và cử hành, nhất là trong Thánh Lễ, nuôi sống và củng cố nội tâm các Kitô hữu và giúp họ có khả năng trở thành chứng nhân Tin Mừng trong đời sống hằng ngày. Chúng ta đã vượt qua sự đối kháng giữa Lời và Bí tích. Lời được công bố, có sức sống động và đầy hiệu năng, chuẩn bị cho việc đón nhận bí tích và trong bí tích, Lời này đạt được hiệu quả cao độ nhất.        

175. Việc học hỏi Thánh Kinh phải là cánh cửa mở ra cho mọi tín hữu [136]. Điều căn bản là Lời mạc khải làm phong phú giáo lý cách triệt để và tất cả mọi cố gắng để truyền đạt đức tin [137]. Việc Phúc Âm hóa đòi buộc sự tin tưởng vào Lời Chúa và điều này đòi buộc các địa phận, giáo xứ và mọi nhóm công giáo đề ra một cuộc học tập Thánh Kinh nghiêm túc và trường kỳ, cũng như thúc đẩy việc đọc để cầu nguyện cho từng cá nhân cũng như cộng đoàn [138]. Chúng ta không lần mò trong đêm tối và cũng không phải chờ đợi rằng Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta bằng Lời, chỉ vì thực sự “Thiên Chúa đã nói, Người không phải là Đấng không ai biết, nhưng Người tự tỏ mình” [139]. Chúng ta hãy đón nhận kho tàng quí giá của Lời mạc khải.