CHƯƠNG IV: CHIỀU KÍCH XÃ HỘI CỦA VIỆC PHÚC ÂM HÓA
- Phúc Âm hóa chính là làm cho Vương quốc của Thiên Chúa hiện diện trong thế giới. Nhưng “không có bất cứ định nghĩa từng phần hay vụn vặt có thể đưa ra lý do cho thực tế phong phú, phức tạp và năng động để có thể hiểu Phúc Âm hóa là gì, nếu như không gặp nguy hiểm làm nghèo đi và làm què quặt nó” [140]. Ngay đây, tôi muốn chia sẻ các ưu tư của tôi về đề tài chiều kích xã hội trong việc Phúc Âm hóa một cách chính xác, vì, nếu chiều kích này không được làm sáng tỏ rõ ràng, người ta sẽ gặp nguy cơ làm sai lệch ý nghĩa đích thực và trọn vẹn của sứ vụ rao giảng Tin Mừng.
1. Hiệu quả cộng đồng và xã hội của kerygma (bài giảng tiên khởi)
- Kérygma chứa chất một nội dung xã hội tất yếu : ngay trung tâm Tin Mừng, có một đời sống cộng đoàn và sự dấn thân với kẻ khác. Nội dung của bài giảng tiên khởi loan báo có hiệu quả luân lý trực tiếp mà trung tâm của nó là tình yêu.
Tuyên xưng đức tin và dấn thân xã hội
- Tuyên xưng một Người Cha vô cùng yêu thương từng con người, đòi buộc phải khám phá rằng “qua tình yêu này, Người ban cho họ một phẩm giá vô hạn” [141]. Tuyên xưng Con Thiên Chúa đón nhận xác phàm của chúng ta, điều này có nghĩa rằng mỗi con người đã được nâng lên đến tận con tim của Thiên Chúa. Tuyên xưng Đức Giêsu đã ban máu thánh Người cho chúng ta để chúng ta không còn nghi ngờ về tình yêu vô hạn của Người, nâng con người lên thành quí giá. On cứu độ của Người mang một ý nghĩa xã hội, vì “trong Đức Kitô, Thiên Chúa không những cứu chuộc từng cá nhân nhưng tất cả liên hệ xã hội giữa con người” [142]. Tuyên xưng Chúa Thánh Thần luôn hoạt động giúp cho thấy Người tìm cách thâm nhập vào trong hoàn cảnh con người cũng như trong mọi liên hệ xã hội : “Chúa Thánh Thần có một trí tưởng tượng vô hạn ; Chúa Thánh Thần biết cách giải tỏa các nút thắt dù có phức tạp và khôn thấu của lịch sử nhân loại” [143]. Việc Phúc Âm hóa tìm cách cộng tác với hoạt động giải thoát của Thánh Thần. Mầu nhiệm Ba Ngôi nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta được tạo dựng giống hình ảnh của sự hiệp thông thần linh, vì thế chúng ta không thể tự thực hiện chính mình và tự cứu độ chính mình được. Xuất phát từ trung tâm Tin Mừng, chúng ta nhận biết liên hệ mật thiết giữa việc Phúc Âm hóa và thăng tiến con người, cần phải được diễn tả và triển khai trong tất cả hoạt động rao giảng Tin Mừng. Việc chấp nhận lời công bố tiên khởi, mời gọi để cho Thiên Chúa yêu thương chúng ta và chúng ta yêu Người với tình yêu mà Người hiệp thông với chúng ta, gợi lên trong đời sống và trong các hoạt động của con người phản ứng đầu tiên và sâu xa : khao khát, tìm kiếm và quan tâm đến điều thiện hảo cho kẻ khác.
- Sợi dây kết chặt giữa việc đón nhận lời công bố cứu độ và tình hynh đệ hữu hiệu được diễn tả trong nhiều đoạn Sách Thánh, cần suy nghĩ và suy niệm chăm chú để rút ra tất cả những hệ luận. Đó là một sứ điệp mà chúng ta thường sử dụng, lặp đi lặp lại gần như máy móc, mà không nêu lên rõ ràng rằng nó tạo ảnh hưởng trong đời sống cũng như cộng đoàn của chúng ta. Thói quen này thật nguy hiểm và có hại, làm cho chúng ta mất cảnh giác, kinh ngạc và nhiệt tình để sống Tin Mừng về tình huynh đệ và công bằng ! Lời Chúa dạy rằng từng người trong chúng ta đều là việc nối dài xuyên suốt của mầu nhiệm Nhập Thể : “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tất cả những gì chúng ta làm cho kẻ khác đều có một chiều kích siêu vượt : “Vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy” (Mt 7,2) ; điều này đáp ứng với lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta : “ Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại… Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6, 36-38). Điều mà các bản văn này muốn nói chính là sự ưu tiên tuyệt đối của việc “bước ra khỏi bản thân để đến với anh em”, như một của hai điều răn chính làm nền cho toàn bộ luân lý và là dấu chỉ rõ ràng nhất để phân biệt con đường tăng trưởng về mặt tinh thần, đáp lại ơn tuyệt đối nhưng không của Thiên Chúa. Như thế, “việc phục vụ bác ái cũng chính là một chiều kích kiến tạo cho sứ vụ của Giáo hội và tạo thành một cách diễn tả bản chất của mình” [144]. Tự bản chất, Giáo hội mang đặc tính truyền giáo, như thế tất yếu phải xuất phát từ sự bác ái đầy hiệu năng, sự hiểu biết, cảm thông và động viên đối với tha nhân.
Vương quốc mời gọi chúng ta
- Khi đọc Thánh Kinh, rõ ràng lời mời của Tin Mừng không chỉ nhắm vào liên hệ cá nhân với Thiên Chúa. Và lời đáp trả tình yêu của chúng ta không được hiểu như tổng thể đơn thuần những cử chỉ nho nhỏ của cá nhân chúng ta đối với một người nào đó trong lúc cần thiết, điều này có thể tạo thành một thứ “bác ái theo danh mục thức ăn – à la carte”, một chuỗi hành động để trấn an lương tâm. Lời mời gọi này chính là Vương quốc của Thiên Chúa (Lc 4,43), nhắm vào việc yêu mến Thiên Chúa, Đấng cai quản vũ trụ. Trong mức độ Người thống trị giữa chúng ta, đời sống xã hội là một không gian của tình huynh đệ, công bằng, hòa bình, nhân phẩm cho mọi người. Như thế việc loan báo cũng hướng đến kinh nghiệm Kitô giáo là giải quyết các hệ quả xã hội. Chúng ta hãy tìm vương quốc của Thiên Chúa : “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Dự định của Đức Giêsu là thiết lập vương quốc của Cha Người ; Người đòi hỏi các môn đệ : “Hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần” (Mt 10,7).
- Vương quốc, đã đến trước chúng ta và đang phát triển, đụng chạm đến tất cả mọi người và nhắc nhớ chúng ta nguyên tắc phân biệt mà Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nêu lên khi nói về sự phát triển đích thực : “Tất cả mọi người và từng người một –tous les hommes et tout l’homme” [145]. Chúng ta biết rằng “việc Phúc Âm hóa sẽ chưa trọn vẹn nếu không nhắm đến các liên hệ cụ thể và thường trực hiện diện giữa Tin Mừng và cuộc sống cụ thể của con người như là cá nhân đơn độc và là thành viên của một cộng đoàn” [146]. Đây là tiêu chuẩn phổ quát, đặc thù cho động năng của Tin Mừng, ngay lúc Thiên Chúa Cha muốn cho tất cả mọi người được cứu độ và ý định cứu độ của Người nằm ở chỗ qui tụ vạn vật, trên trời dưới đất, dưới quyền một Chúa là Đức Kitô (x.Ep 1,10). Trách nhiệm nói rõ : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15), chỉ vì “muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người” (Rm 8,19). Toàn thể sáng tạo cũng có nghĩa là mọi phương diện bản chất nhân bản, đến độ “sứ vụ loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô có một chiều kích phổ quát. Mệnh lệnh bác ái của Người bao trùm mọi chiều kích hiện sinh, tất cả mọi người, tất cả mọi lãnh vực đời sống xã hội và mọi dân tộc. Không có gì thuộc con người lại xa lạ với mệnh lệnh này” [147]. Hy vọng đích thực Kitô giáo, chính là tìm Vương quốc cánh chung, luôn làm phát sinh lịch sử.
Giáo huấn của Giáo hội về các vấn đề xã hội
- Các giáo huấn của Giáo hội về hoàn cảnh thế tục là những chủ đề thật quan trọng, cần triển khai mới mẽ và có thể trở thành đối tượng tranh luận, nhưng cũng phải thật cụ thể – dù không cố ý đi vào tiểu tiết – để những nguyên tắc chính yếu không trở thành những hướng dẫn chung chung, không kêu gọi được ai. Cần rút tỉa những hệ quả thực hành để “chúng có thể thực sự ảnh hưởng trên những hoàn cảnh phức tạp hiện tại” [148]. Các vị mục tử, có thể đón nhận những trợ lực từ những khoa học khác nhau, có quyền đưa ra ý kiến về tất cả những gì liên quan đến đời sống con người, vì trách nhiệm Phúc Âm hóa nối kết và đòi buộc trọn vẹn của từng người. Người ta không còn có thể cho rằng tôn giáo phải hạn hẹp vào lãnh vực riêng tư và hiện diện chỉ để chuẩn bị các linh hồn được lên thiên đàng. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa muốn cho con cái Người được hạnh phúc, ngay chính trên mặt đất này, dù họ được mời gọi tiến đến sự viên mãn vĩnh cửu, chỉ vì Người sáng tạo tất cả “cho chúng ta hưởng dùng” (1 Tm 6,17), để cho mọi người có thể vui hưởng. Từ đó, việc hoán cải của chúng ta đòi buộc phải nhận định lại “một cách đặc biệt tất cả những gì liên hệ đến trật tự xã hội và thực hiện ích chung” [149].
- Vì thế, không ai có thể đòi hỏi chúng ta phải giới hạn tôn giáo vào trong lãnh vực nội tâm của con người, không gây ảnh hưởng gì trên đời sống xã hội và quốc gia, không chú tâm vào sự lành mạnh của các tổ chức xã hội dân sự, không bày tỏ ý kiến về những biến cố liên quan đến công dân. Ai dám đóng khung sứ điệp của thánh Phanxicô Assisi và của chân phước Têrêsa thành Calcutta vào trong một ngôi đền thờ và cấm không cho rao giảng ? Họ không thể làm như thế. Một niềm tin đích thực – không bao giờ thuận lợi và hoàn toàn cá nhân – luôn bao gồm một sự khao khát sâu xa để thay đổi thế giới, truyền đạt các giá trị, để lại một điều gì đó tốt lành sau khi chúng ta đã đi qua thế giới. Chúng ta yêu hành tinh xinh đẹp này, nơi Thiên Chúa đã đặt để chúng ta, và chúng ta yêu cả nhân loại đang sống trong đó, với tất cả bi kịch và mệt mõi, với những ước vọng và hy vọng, với các giá trị và sự mong manh của nó. Trái đất là nhà chung của chúng ta và tất cả chúng ta đều là anh em với nhau. Dù “trật tự công bình của xã hội, của quốc gia là một trách nhiệm tất yếu của chính trị”, Giáo hội “không thể và không được phép đứng bên ngoài cuộc đấu tranh cho công bằng” [150]. Tất cả mọi Kitô hữu, và các vị mục tử, được kêu gọi để lo lắng cho việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Điều này là tất nhiên, chỉ vì tư tưởng xã hội của Giáo hội trước tiên mang tính chất tích cực và đưa ra những đề nghị, định hướng cho một hành động chuyển đổi, theo nghĩa này, sẽ không ngừng là một dấu chỉ hy vọng phát xuất từ trái tim tràn đầy yêu thương của Đức Giêsu Kitô. Đồng thời, Giáo hội kết hợp “mọi cố gắng với điều mà các Giáo hội khác và các cộng đoàn thuộc giáo hội cố gắng thực hiện trong lãnh vực suy tư cũng như thực hành trong lãnh vực xã hội” [151].
- Đây không phải là lúc triển khai mọi vấn đề quan trọng của xã hội, mà thế giới hiện nay đang gặp phải, mà tôi đã bắt đầu triển khai một số trong chương hai. Đây không phải là một tài liệu xã hội, và để suy nghĩ về những đề tài khác nhau, chúng ta đã có được một công cụ rất thích hợp trong Sách toát yếu giáo lý xã hội của Giáo hội, mà tôi hết sức khuyến khích sử dụng và học hỏi. Ngoài ra, không có Giáo hoàng nào hay Giáo hội nào có độc quyền được giải thích thực trạng xã hội hay đề nghị các cách giải quyết các vấn đề hiện tại. Ở đây tôi chỉ muốn lập lại điều mà Đức Giáo Hoàng Phaolô VI hướng dẫn một cách rõ ràng : “Đối mặt với những hoàn cảnh quá thay đổi, thực khó cho chúng ta để nói lên một lời duy nhất, như đề nghị một cách giải quyết có giá trị phổ quát. Đấy không phải là ước muốn của chúng tôi và cũng không phải là sứ vụ của chúng tôi. Điều này đòi buộc các cộng đoàn Kitô hữu phải phân tích thật khách quan hoàn cảnh riêng của đất nước họ.” [152].
- Tiếp đây, tôi sẽ cố tập trung vào hai vấn đề lớn, đối với tôi thật căn bản trong thời điểm lịch sử này. Tôi sẽ triển khai chúng một cách rộng rãi, vì tôi tin rằng chúng sẽ xác định tương lai của nhân loại. Trước tiên, đó là sự hội nhập xã hội của người nghèo và thứ đến, là hoà bình và đối thoại xã hội.
2. Việc hội nhập xã hội của người nghèo
- Từ niềm tin vào Đức Kitô, Đấng hóa thành nghèo hèn, và luôn gần gũi người nghèo và những người bị loại bỏ, phát sinh mối quan tâm để triển khai trọn vẹn cho những người bị xã hội bỏ rơi nhất.
Cùng với Thiên Chúa, chúng ta nghe được một tiếng kêu than
- Mỗi Kitô hữu và mỗi cộng đoàn được mời gọi trở thành khí cụ cho Thiên Chúa để giải phóng và thăng tiến người nghèo, để họ có thể hội nhập trọn vẹn vào xã hội ; điều này đòi buộc chúng ta phải chân thành chú tâm lắng nghe tiếng kêu gào của người nghèo và chạy đến giúp đỡ. Việc đọc Sách Thánh cũng đủ giúp chúng ta khám phá Thiên Chúa tốt lành muốn lắng nghe tiếng than van của người nghèo : “ Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi khổ đau của chúng. Ta xuống giải thoát chúng… Bây giờ, ngươi hãy đi ! Ta sai ngươi…” (Xh 3, 7-8.10) và đã lo lắng cho những nhu cầu của họ : “Bấy giờ con cái Israel kêu lên Đức Chúa, Đức Chúa liền cho xuất hiện một vị cứu tinh cho họ” (Tl 3,15). Nếu chúng ta giả điếc trước tiếng kêu này, khi phải là khí cụ của Thiên Chúa để lắng nghe người nghèo, thì chúng ta bước ra khỏi ý muốn của Thiên Chúa và dự định của Người, chỉ vì người nghèo này “sẽ kêu lên Đức Chúa tố cáo anh và anh sẽ mang tội” (Đnl 15,9). Việc thiếu sót tình liên đới đối với những nhu cầu, ảnh hưởng đến sự liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa : “ Ai cay đắng trong lòng mà nguyền rủa con, thì Đấng tạo thành ra nó sẽ nghe lời nó thỉnh nguyện” (Hc 4,6). Vấn nạn xa xưa vẫn luôn đáo lại : “ Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được ?” (1 Ga 3,17). Chúng ta nhớ lại thánh Giacôbê, với một sự triệt để, đã lấy lại hình ảnh tiếng kêu của những kẻ bị áp bức : “Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những người thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các người, và tiếng kêu của những người thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh” (Gc 5,4).
- Giáo hội nhận biết nhu cầu phải lắng nghe tiếng kêu này xuất phát từ công trình giải thoát của ân sủng trong từng người chúng ta ; đây không phải là sứ vụ riêng cho vài người : “Được Tin Mừng của lòng từ bi và tình yêu cho con người hướng dẫn, Giáo hội lắng nghe tiếng kêu gào đòi công bình và muốn đáp trả tiếng kêu này bằng tất cả sức lực của mình” [153]. Trong hoàn cảnh này, người ta hiểu được lời đòi hỏi của Đức Giêsu đối với các môn đệ của Người : “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Mc 6,37); điều này buộc phải có sự cộng tác để giải quyết các nguyên nhân thuộc cơ cấu của sự nghèo đói và thúc đẩy sự phát triển toàn diện những kẻ nghèo, như những hành động đơn sơ và thường nhật của tình liên đới trước nỗi khổ rất cụ thể mà chúng ta gặp. Thuật ngữ “liên đới” có lẽ đã được sử dụng thường quá và người ta giải thích không đúng mấy, nhưng từ này muốn chỉ đến nhiều hơn là những hành động quảng đại được thực hiện một đôi khi. Nó đòi hỏi phải tạo nên một não trạng mới với những ý niệm cộng đồng, sự ưu tiên đời sống của mọi người hơn là việc đánh giá con người dựa trên tài sản của họ.
- Tình liên đới là một phản ứng tức thời của người nhận ra phận vụ xã hội về tài sản và sự đánh giá phổ quát về tài sản như thực tại có trước tài sản riêng. Việc sở hữu tài sản riêng cho phép họ gìn giữ và làm gia tăng theo cách thức họ phục vụ công ích cách tốt hơn, vì thế tình liên đới được xem như quyết định trả lại cho người nghèo những gì thuộc về họ. Các xác tín và thực hành tình liên đới, một khi thành hiện thực, mở ra con đường cho những thay đổi về mặt cơ cấu và biến chúng thành khả thi. Một việc thay đổi cơ cấu không đưa đến những xác tín và thái độ khác, sẽ đưa các cơ cấu như thế sớm muộn gì cũng sẽ đổ vỡ, nặng nề và vô hiệu.
- Đôi khi, cần phải lắng nghe tiếng than vãn của tất cả dân chúng, những dân tộc nghèo nhất trên thế giới, chỉ vì “hòa bình không chỉ được xây dựng trên sự tôn trọng các quyền lợi của con người, nhưng còn phải tôn trọng quyền lợi của các dân tộc”[154]. Thật đáng buồn, khi quyền con người có thể bị sử dụng để biện minh cho một sự bảo vệ quá đáng các quyền lợi cá nhân hay quyền lợi của các dân tộc giàu hơn. Khi tôn trọng sự độc lập và văn hóa của từng quốc gia, phải luôn nhớ rằng hành tinh này thuộc về toàn nhân loại và dành cho cả nhân loại, và chỉ sự kiện được sinh ra trong một nơi với ít tài nguyên hay ít phát triển thì đó không phải là lý do để liệt những người này ít phẩm giá hơn. Phải nhắc lại rằng “những người may mắn hơn phải biết từ bỏ một số quyền lợi của họ, với một sự tự do có thể sử dụng tài sản của mình để phục vụ kẻ khác” [155]. Để có thể nói cách đúng đắn về quyền lợi của chúng ta, phải khơi rộng tầm nhìn và mở rộng đôi tai trước tiếng kêu của những dân tộc khác và những vùng khác trên đất nước của chúng ta. Chúng ta phải trưởng thành trong tình liên đới, nhờ đó “cho phép tất cả mọi dân tộc trở thành những người tác động vào định mệnh của họ”[156] cũng như “mỗi người được kêu gọi để tự phát triển chính mình” [157].
- Trong mọi nơi và mọi hoàn cảnh, Kitô hữu được các vị mục tử động viên, được kêu gọi để lắng nghe tiếng kêu của những người nghèo khổ, như các vị Giám Mục Brasil đã diễn tả rõ ràng : “Mỗi ngày chúng tôi muốn đón nhận như của chính chúng tôi tất cả niềm vui và hy vọng, âu lo và buồn sầu của dân Brasil, đặc biệt là dân chúng sống trong vùng ngoại ô và các vùng nông thôn – không một mảnh đất, không một mái nhà, không lương thực, không có đủ sức khỏe – quyền lợi của họ bị vi phạm. Khi nhìn đến những nỗi khổ của họ, lắng nghe tiếng kêu than của họ và nhận biết khổ đau của họ, chúng tôi thật phẩn uất vì biết rằng có đủ lương thực cho tất cả mọi người, nhưng cái đói đã xảy ra chỉ vì sự phân phối của cải và lợi tức không đồng đều. Vấn đề lại trầm trọng thêm vì sự phung phí lại diễn ra khắp nơi” [158].
- Chúng tôi khao khát nhiều hơn nữa và ước mơ của chúng tôi còn phải đi xa hơn. Chúng tôi không chỉ nói đến việc bảo đảm lương thực cho mọi người, hay một “sự chăm sóc xứng với con người”, nhưng tất cả mọi người đều biết “sự sung túc có nhiều phương diện” [159]. Điều này đòi hỏi việc giáo dục, tiếp cận sự chăm sóc y tế, nhất là công ăn việc làm, chỉ vì trong lao động tự do, sáng tạo, chia sẻ và liên đới, chính con người bộc lộ và phát triển phẩm giá của đời sống. Đồng lương chính đáng cho phép tiếp cận tương đối với các những điều thiện hảo khác, được dành cho mọi người sử dụng.
Trung thành với Tin Mừng để không chạy một cách vô ích
- Mệnh lệnh phải lắng nghe tiếng kêu than của những người nghèo phải được chúng ta thực hiện khi chúng ta bị đánh động một cách sâu xa trước đau khổ của kẻ khác. Chúng ta đọc lại vài giáo huấn của Lời Chúa về lòng thương xót, vì chúng vang đội cách mãnh liệt trong đời sống Giáo hội. Phúc Âm công bố : “ Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7) Thánh Giacôbê dạy rằng lòng thương xót đối với kẻ khác có thể giúp chúng ta tránh được bản án của Thiên Chúa : “Anh em hãy nói năng và hành động như những người sẽ bị xét xử theo luật tự do. Vì Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn ai thương xót, thì chẳng quan tâm đến việc xét xử” (Gc 2,12-13). Trong bản văn này thánh Giacôbê tỏ ra mình là người thừa kế gia sản quí báu nhất của Do Thái sau thời lưu đày, đã xem lòng thương xót có một giá trị cứu độ đặc biệt : “ Hãy giải tỏa tội lỗi của ngươi bằng các hành động công bằng và các âu lo của ngươi khi thể hiện lòng thương xót đối với kẻ nghèo, để ngươi được bảo đảm lâu dài” (Đn 4,24). Cũng trong cái nhìn này, văn chương Khôn ngoan nói về việc bố thí như thực hành cụ thể lòng thương xót đối với kẻ khác đang cần sự giúp đỡ : “Việc bố thí cứu cho khỏi chết và tẩy sạch mọi tội lỗi “ (Tb 12,9) Sách Huấn Ca diễn tả điều này cách gợi hình hơn : “Nước dập tắt lửa hồng, bố thí đền bù tội lỗi” (Hc 3,30). Đề tài cũng được lập lại trong Tân Ước : “ Anh em hãy hết tình yêu thương nhau, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi” (1 Pr 4,8). Chân lý này ăn sâu vào não trạng các giáo phụ và gây ra một sự đề kháng mang tính ngôn sứ, như một thứ văn hóa khác, chống lại chủ thuyết tôn thờ cá nhân. Chúng ta chỉ cần một tỉ dụ thôi : “ Như trong nguy cơ lửa cháy, chúng ta chạy tìm nước để dập tắt… cũng thế, nếu như cọng rơm của chúng ta làm cho lửa tội lỗi bùng cháy và vì thế chúng ta bất an, nhưng khi chúng ta có dịp thực hành một công tác của lòng thươngxót, chúng ta sẽ vui mừng vì hành động đó vì nó như nguồn nước được đưa đến để chúng ta có thể dập tắt đám cháy” [160].
- Một sứ điệp quá rõ ràng, quá trực tiếp, quá đơn sơ và hùng hồn mà bất cứ bài giảng dạy nào của Giáo hội cũng không được phép tương đối hóa nó. Suy tư của Giáo hội trên những bản văn này không được phép làm mờ đi, cũng như không được làm suy yếu đi ý nghĩa khuyến khích, nhưng phải giúp đón nhận chúng cách can đản và nhiệt thành. Tại sao lại làm cho điều đơn sơ thành rắc rối ? Những công cụ ý niệm được tạo nên để dễ dàng tiếp xúc với thực tế, mà người ta muốn giải thích, chứ không phải làm cho chúng ta xa cách. Điều này đặc biệt được áp dụng cho những lời khuyên Thánh Kinh, mời gọi, với nhiều khẳng định, đến với tình huynh đệ, để phục vụ một cách khiêm tốn và quảng đại, cho sự công bằng, lòng thương xót đối với những người nghèo. Đức Giêsu đã dạy chúng ta con đường đón nhận kẻ khác qua lời và cử chỉ của Người. Tại sao lại làm mờ điều thật trong sáng ? Chúng ta đừng qúa lo lắng phải rơi vào các sai lầm tín lý, nhưng phải trung thành trên con đường chói sáng sự sống và khôn ngoan này. Vì “với những kẻ bảo vệ tính chính thống”, người ta thường trách cứ về sự thụ động, khoan dung và đồng lõa với những hoàn cảnh của bất công không thể chấp nhận được và của những chế độ chính trị duy trì những hoàn cảnh này” [161]
- Khi thánh Phaolô đến cùng các Tông đồ tại Giêrusalem, để làm rõ xem ngài đã cố gắng như thế nào hay cố gắng một cách vô ích (x.Gl 2,2), tiêu chuẩn rõ ràng mà các Tông đồ đưa ra cho ngài là đừng quên những người nghèo (x.Gl 2,10). Tiêu chuẩn lớn lao này, để các cộng đoàn do thánh Phaolô thành lập không bị xâu xé do cách sống cá nhân của người ngoại, đó là một hoạt động vĩ đại trong bối cảnh hiện tại, trong đó đang có xu hướng phát triển một thứ ngoại giáo mới mang tính cá nhân. Chúng ta không thể nào luôn biểu lộ sự đẹp đẽ của Tin Mừng, nhưng chúng ta phải luôn luôn bộc lộ dấu chỉ này : chọn những người cuối cùng, những người bị xã hội bỏ rơi, đặt ra bên lề.
- Đôi khi chúng ta thật cứng lòng và chay đá, chúng ta quên, chúng ta thỏa mãn với chính mình, chúng ta sung sướng với việc tiêu thụ và tiêu khiển vô hạn do xã hội đem đến. Như thế sẽ phát sinh một thứ vong thân, ảnh hưởng trên tất cả chúng ta, chỉ vì “một xã hội bị vong thân trong những hình thức của tổ chức xã hội, của sản xuất, của tiêu thụ, sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện sự dấn thân và xây dựng tình liên đới giữa con người” [162]
Vị trí ưu tiên của người nghèo trong dân Chúa
- Những người nghèo có một vị trí được chọn trong trái tim Thiên Chúa, đến độ chính “Người hóa thành nghèo” (2 Cr 8,9). Tất cả con đường cứu độ của chúng ta đều được đánh dấu bằng những người nghèo. Ơn cứu độ đến với chúng ta ngang qua tiếng thưa Vâng của một thiếu nữ nghèo hèn trong một làng xa xôi ẩn khuất trong vùng ngoại vị của đế quốc lớn lao. Đấng cứu độ được sinh ra trong một máng cõ, giữa bầy súc vật, điều này cũng xảy ra với các em bé thật nghèo : Người được dâng trong Đền thờ với hai con bồ câu, lễ vật của những người không có khả năng để mua một con chiên con (x.Lc 2,24 ; Lv 5,7) ; Người đã lớn lên trong một ngôi nhà đơn sơ của những người lao động và đã làm việc bằng chính bàn tay của mình để có thể mua lương thực. Khi Người bắt đầu rao giảng về Vương Quốc, những đám dân bị bóc lột đi theo Người và như thế đã biểu lộ được điều Người đã nói : “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,18). Đối với những kẻ gánh chịu đau khổ, nghèo đói, Người bảo đảm rằng Thiên Chúa sẽ ôm lấy họ trong con tim của mình : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em” (Lc 6,20) ; Người tự đồng hóa với họ : “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn” (Mt 25,35) ; Người dạy rằng lòng thương xót đối với họ là chìa khóa cửa thiên đàng.
- Đối với Giáo hội, việc định hướng đứng về phía người nghèo là một đặc thù thần học trước khi thuộc về văn hóa, xã hội, chính trị hay triết học. Thiên Chúa bảo đảm cho họ “lòng ưu ái đầu tiên của Người” [163]. Tình ưu ái của Thiên Chúa có những hệ luận trong đời sống đức tin của mọi Kitô hữu, được gọi “có cùng một tâm tình với Đức Kitô” (Pl 2,5). Được tình ưu ái này linh hứng, Giáo hội đã chọn đứng về phía người nghèo, được hiểu như một “động lực đặc biệt như ưu tiên trong việc thực hành bác ái Kitô giáo mà cả truyền thống Giáo hội đã làm chứng” [164]. Định hướng này – theo lời Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI – “nằm sâu kín trong đức tin Kitô giáo vào Thiên Chúa, Đấng hóa thành nghèo vì chúng ta, để làm cho chúng ta được phong phú nhờ cái nghèo của Người” [165]. Vì lý do đó, tôi muốn có một Giáo hội nghèo cho người nghèo. Họ có nhiều điều để dạy dỗ chúng ta. Hơn nữa, để chia sẻ vào sensus fidei – cảm thức đức tin, qua những đau khổ của họ, chúng ta nhận biết Đức Kitô khổ đau. Tất cả mọi người chúng ta cần phải để họ rao giảng Tin Mừng cho chúng ta. Việc tân Phúc Âm hóa là một lời mời để nhận ra sức mạnh cứu độ của sự hiện sinh của họ, và đặt chúng vào trung tâm con đường của Giáo hội. Chúng ta được mời gọi khám phá Đức Kitô trong họ, giao cho họ tiếng nói của chúng ta để nói lên những nguyên nhân của họ, nhưng đồng thời chúng ta cũng là những người bạn thân thiết của họ, lắng nghe họ, hiểu họ và đón nhận sự khôn ngoan mầu nhiệm mà Thiên Chúa muốn chia sẻ cho chúng ta qua họ.
- Việc dấn thân của chúng ta không chỉ nằm trong các hoạt động hay những chương trình cổ động hay hỗ trợ ; điều Chúa Thánh Thần gợi lên không phải là một thứ Duy hành động thái quá, nhưng trước tiên là một chú ý đến kẻ khác đến độ “trở thành một với người ấy”[166]. Sự chú tâm trìu mến này là khởi đầu một sự quan tâm đích thực về con người, để từ nền tảng đó tôi tìm cách thực hiện điều tốt lành có hiệu quả cho họ. Điều này đòi buộc phải đánh giá người nghèo trong giá trị đặc biệt của họ, trong hiện sinh của họ, với văn hóa của họ, với cách sống đức tin của họ. Tình yêu đích thực luôn mang tính chất chiêm ngắm, cho phép chúng ta phục vụ kẻ kháck không vì cần thiết cũng không phải vì khoe khoang, nhưng vì tốt đẹp, vượt ra khỏi vẻ bề ngoài : “Vì yêu mến một người, người ta tặng nhiều quà cho họ” [167] Người nghèo, một khi được yêu mến, “được đánh giá cao” [168]và điều này phân biệt định kiến rõ ràng đối với người nghèo không do một ý thức hệ nào, từ một ý thức sử dụng kẻ nghèo để phục vụ cho những điều quan tâm riêng của mình hay của chính trị. Chính từ việc gần gũi thực sự và chân tình mà chúng ta có thể đồng hành với họ trên con đường giải phóng cho họ. Chỉ điều này mới có thể làm cho “những người nghèo cảm thấy như đang ở trong ngôi nhà của họ ngay giữa các cộng đoàn Kitô hữu”. Đây không phải là cách chúng ta trình bày hữu hiệu nhất và có hiệu quả nhất Tin Mừng của Nước Trời sao ?” [169]. Nếu không có sự lựa chọn đặc biệt đối với những người thật nghèo, “việc loan báo Tin Mừng, đầu tiên vẫn là hành động bác ái, sẽ không được hiểu hay bị chết đuối giữa đại dương đầy lời nói mà xã hội truyền thông hiện tại vẫn trình bày hằng ngày cho chúng ta” [170].
- Sau khi khẳng định, Tông Huấn này được gởi đến các thành phần trong Giáo hội công giáo, tôi thật đau lòng mà nói rằng sự kỳ thị tồi tệ mà người nghèo phải gánh chịu, đó là thiếu sự quan tâm về mặt tinh thần. Đại đa số người nghèo luôn mở rộng cho niềm tin, họ cần đến Thiên Chúa và chúng ta không được chễnh mãn để đem đến cho họ tình thân của Người, lời chúc lành của Người, Lời Người, việc cử hành Bí tích và đề nghị một con đường phát triển và trưởng thành trong đức tin. Việc chọn lựa ưu tiên đối với người nghèo phải được diễn dịch cách chính yếu bằng một sự quan tâm mang tính tôn giáo, đặc quyền và tiên quyết.
- Không ai có thể nói rằng họ đứng xa khỏi những người nghèo vì sự lựa chọn đời sống của mình phải quan tâm nhiều phận vụ khác. Đấy chỉ là lời bàu chữa thường xuất hiện trong những môi trường khoa giới, kinh doanh hay nghề nghiệp, ngay cả trong Giáo hội. Dù cách chung người ta có thể nói, ơn gọi và sứ vụ riêng của người giáo dân là việc chuyển đổi nhiều thực tại khác nhau để các hoạt động nhân bản được Tin Mừng thay đổi [171], nhưng không ai có thể cảm thấy được miễn quan tâm đối với người nghèo và đối với công bằng xã hội : “Tất cả mọi người đều bị đòi hỏi phải có sự hoán cải tinh thần, việc gia tăng tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, lòng nhiệt thành với sự công bằng và hòa bình, ý nghĩa xuất phát từ Tin Mừng đối với người nghèo và sự nghèo nàn” [172]. Tôi sợ rằng những lời này có thể trở thành đối tượng cho những cách chú giải không đưa tới những hiệu quả thực hành. Dù vậy, tôi tin tưởng vào việc cởi mở và những thái độ căn bản tốt đẹp của các Kitô hữu, và tôi xin anh em chung nhau cố tìm những con đường mới để đón nhận đề nghị được canh tân này.
Kinh tế và phân phối lợi tức
- Việc cần phải giải quyết các nguyên nhân cơ cấu của sự nghèo đói không thể chờ đợi được nữa, không những chỉ vì một sự đòi hỏi thực tế để đạt được kết quả và lập lại trật tự cho xã hội, nhưng để chữa lành một bệnh tật làm cho xã hội suy yếu và bất xứng, và chỉ đưa đến những cuộc khủng hoảng khác. Những chương trình hỗ trợ cho một vài điều khẩn cấp chỉ được xem như những câu trả lời tạm thời. Bao lâu những vấn đề của người nghèo không được giải quyết cách triệt để, bằng cách từ bỏ sự độc lập tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính và tấn công vào những nguyên nhân cơ cấu gây nên sự bất bình đẳng [173], các vấn đề của thế giới không được giải quyết, cuối cùng chẳng giải quyết được vấn đề nào. Sự bất bình đẳng xã hội là nguồn gốc các điều xấu của xã hội.
- Phẩm giá của từng cá nhân và thiện ích chung là những vấn đề tạo thành cơ cấu cho tất cả chính trị kinh tế, hay đôi khi chúng chỉ là những phần phụ thuộc được thêm vào từ bên ngoài để bổ túc cho một diễn văn chính trị không một viễn ảnh lẫn dự án cho một sự phát triển toàn diện. Biết bao lời gây khó khăn cho hệ thống này ! Thật bực mình khi phải nói về đạo đức, bực mình khi phải nói về sự liên đới toàn cầu, bực mình khi nói về sự phân phối lợi tức, bực mình khi nói tới việc bảo vệ chỗ làm, bực mình khi nói về phẩm giá của những người yếu đuối, bực mình khi nói về một Thiên Chúa, đòi buộc con người phải dấn thân cho công bằng. Đôi khi, các lời này trở thành đề tài bị bóp méo để làm mất giá trị của chúng. Sự dửng dưng dễ dàng trước những vấn đề này làm cho đời sống cũng như những lời nói của chúng ta trở thành trống rỗng. Hoạt động của một doanh nhân là một công việc cao quí, nhưng phải luôn bị chất vấn về một ý nghĩa rộng lớn hơn của cuộc sống ; điều này giúp họ thực sự phục vụ thiện ích chung, nhờ sức cố gắng để gia tăng của cải thế giới và giúp cho mọi người được hưởng nhờ.
- Chúng ta đừng tin tưởng vào quyền lực mù quáng và bàn tay vô hình của thị trường. Việc phát triển công bằng đòi buộc nhiều hơn là việc phát triển kinh tế, dù có bao hàm điều này ; nó đòi hỏi những quyết định, những chương trình, thiết chế máy móc và những dự án đặc biệt nhắm vào việc phân phối lợi tức tốt đẹp hơn, tạo công ăn việc làm, một sự phát triển trọn vẹn cho người nghèo vượt trên hệ thống hỗ trợ xã hội. Tôi không đề nghị một chủ thuyết dân sinh vô trách nhiệm, nền kinh tế cũng không cung ứng phương thuốc hỗ trợ, thường lại trở thành chất độc mới, khi người ta cố ý gia tăng lợi nhuận bằng cách hạn chế công ăn việc làm, đồng thời tạo thêm những người bị loại.
- Tôi cầu xin Chúa cho có nhiều nhà chính trị có khả năng bước vào một cuộc đối thoại đích thực, để có thể trị tận căn những nguyên nhân sâu xa các tệ nạn trên thế giới, chứ không chỉ chữa ở bên ngoài. Dù chính trị bị nhiều người chê trách, nhưng vẫn là một ơn gọi thật cao quí ; nó là một trong những hình thức quí giá nhất của lòng bác ái, vì nó tìm điều thiện hảo cho mọi người [174]. Chúng ta phải tin rằng bác ái “là nguyên tắc không những cho những liên hệ nhỏ : liên hệ bạn bè, gia đình, nhóm nhỏ, nhưng đồng thời cũng cho những liên hệ lớn lao : liên hệ xã hội, kinh tế, chính trị” [175] Tôi cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta nhiều chính trị gia hơn nữa, những người có tâm hồn biết lo lắng cho xã hội, cho dân chúng, đời sống kẻ nghèo ! Điều cơ bản là các nhà chức trách và cơ quan tài chính biết ngước mắt lên, khơi rộng tầm nhìn, để có thể giúp tất cả công dân có công ăn việc làm xứng đáng, có thể tiếp cận với nền giáo dục và y tế dự phòng. Và tại sao không chạy đến với Thiên Chúa để Người linh hứng cho các dự án của họ ? Tôi tin rằng xuất phát từ việc mở lòng cho chiều kích siêu việt, có thể đưa đến một não trạng chính trị mới cũng như kinh tế, sẽ giúp các nhà chính trị vượt qua phân cách tuyệt đối giữa kinh tế và công ích xã hội.
- Kinh tế – l’économie do tiếng Hy Lạp oikonomia – phải trở thành nghệ thuật đạt được việc quản lý thích ứng của một ngôi nhà chung, đó là toàn thể thế giới. Mọi hoạt động kinh tế của một tầm hoạt động, được thực hiện trên một phần hành tinh, sẽ tác động đến toàn thể ; vì thế, không có chính quyền nào có thể hoạt động bên ngoài trách nhiệm chung. Thực tế, điều này rất khó để tìm cách giải quyết theo tầm địa phương trước các nghịch lý ở toàn cầu, vì thế chính trị địa phương cũng có nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Nếu chúng ta muốn có một thứ kinh tế toàn cầu lành mạnh, trong giai đoạn lịch sử này, cần có một cách can thiệp có hiệu quả hơn, dù vẫn tôn trọng chủ quyền các quốc gia, bảo đảm phúc lợi kinh tế cho mọi nước chứ không phải chỉ cho vài nước.
- Cộng đoàn nào của Giáo hội chỉ muốn bình yên, không quan tâm cũng không cộng tác tích cực để người nghèo có thể sống đúng phẩm giá và không bị loại; cộng đoàn đó sẽ gặp nguy cơ tan rã, dù họ có nói đến những đề tài xã hội hay phê phán chính quyền. Cộng đoàn đó sẽ bị chìm vào tinh thần thế tục, dù có núp bóng dưới các thực hành tôn giáo, với những buổi hội họp vô bỗ hay những bài diễn văn trống rỗng.
- Nếu ai cảm thấy bị xúc phạm vì lời nói của tôi, tôi xin thưa rằng tôi nói những lời này với tình yêu và thiện cảm, không chút lợi lộc cá nhân hay ý thức hệ chính trị. Lời nói của tôi không phải là lời nói của kẻ thù hay người chống đối. Tôi chỉ quan tâm đến việc giúp những người trở thành nô lệ vì một não trạng cá nhân, dửng dưng và ích kỷ, có thể tự giải thoát khỏi những dây ràng buộc bất xứng và chọn một cách sống và suy nghĩ nhân bản hơn, cao thượng hơn, phong phú hơn, đem lại nhân phẩm cho hành trình của họ trên trái đất này.
Chăm sóc kẻ yếu
- Đức Giêsu, Đấng rao giảng Tin Mừng tuyệt vời và Người chính là Tin Mừng, tự đồng hóa mình với những kẻ nhỏ nhất (x.Mt 25, 40). Điều này nhắc nhớ rằng, là Kitô hữu, tất cả chúng ta được mời gọi để chăm sóc những người yếu kém nhất trên trần thế. Nhưng trong mẫu hiện tại của “thành công” và “luật cá nhân”, hình như không còn ý nghĩa mấy để đầu tư giúp cho những người đứng cuối, những kẻ yếu kém hay ít tài năng có được con đường sống.
- Tất nhiên chúng ta phải chú tâm đến những hình thức mới của sự nghèo đói và yếu kém, qua đó chúng ta được mời gọi để nhận ra Đức Kitô đang đau khổ, dù bề ngoài, điều này không đem cho chúng ta những lợi lộc hữu hình và trực tiếp : những người vô gia cư, những người nghiện ngập, những người di tản, các thổ dân, những người già lão luôn cô độc và bị bỏ rơi… Những người di tản đặt cho tôi một thách thức đặc biệt vì tôi là Chủ chăn một Giáo hội không biên giới, luôn cảm thấy là mẹ của mọi người. Vì thế, tôi kêu gọi các nước nên quảng đại mở rộng cửa, thay vì lo sợ căn tính địa phương bị hũy hoại, nên tạo những tổng hợp văn hóa mới. Thật tốt đẹp khi các thành phố vượt qua sự ngờ vực bệnh hoạn và hội nhập những người khác, và từ sự hội nhập này tạo nên một yếu tố mới cho sự phát triển ! Thật tốt đẹp, khi các thành phố, ngay trong dự án kiến trúc của mình, dành nhiều không gian để nối kết, tạo liên hệ và tạo thuận lợi để công nhận kẻ khác !
- Tôi thật đau buồn vì hoàn cảnh của nhiều người là nạn nhân của những vụ buôn người. Tôi muốn chúng ta nghe tiếng gọi của Thiên Chúa chất vấn tất cả chúng ta : “Em ngươi ở đâu ?” (St 4,9). Em ngươi đang làm nô lệ ở đâu ? Người mà ngươi đang tay giết từng ngày trong xưởng thợ chui đang ở đâu, trong mạng mại dâm, những đứa bé mà ngươi sử dụng để đi ăn xin, những người phải làm chui, vì không có giấy tờ ? Đừng làm như không có điều gì xảy ra. Còn có rất nhiều người đồng phạm. Câu hỏi được đặt cho toàn thế giới ! Tội ác có hệ thống Mafia và bỉ ổi này đã nảy mầm trong các thành phố của chúng ta, rất nhiều người đã có bàn tay vấy máu vì một sự đồng phạm thuận lợi và âm thầm.
- Phụ nữ còn nghèo gấp đôi, họ đau khổ vì những hoàn cảnh bị trục xuất, xử tệ và bạo lực, chỉ vì không có khả năng để bảo vệ quyền lợi của mình. Dù vậy, lúc nào chúng ta cũng gặp được nơi họ những cử chỉ thật anh hùng, hằng ngày bảo vệ và chăm sóc những sự đổ vỡ trong gia đình họ.
- Giữa những kẻ yếu đuối mà Giáo hội muốn chăm sóc với trọn tình yêu mến, còn có các em không được sinh ra ; các em không có một chút bảo vệ và hoàn toàn vô tội hơn tất cả mọi người, mà ngày nay người ta lại muốn phủ nhận cả nhân phẩm, để muốn làm gì thì làm, bằng cách tước đoạt sự sống của các em và đưa ra những luật lệ mà không ai được ngăn cản. Thường để chế nhạo việc bảo vệ sự sống của các em chưa được sinh ra, người ta cho lập trường của Giáo hội như gắn với ý thức hệ, mù mờ và bảo thủ. Dù vậy, việc bảo vệ sự sống cho các em không được sinh ra gắn liền với việc bảo vệ tất cả quyền con người. Điều này dựa trên xác tín rằng mỗi con người đều mang tính chất linh thiêng và bất khả xâm phạm, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào. Nó có một mục đích tự tại, và không bao giờ là một phương tiện để giải quyết những khó khăn khác. Nếu xác tín này bị mất đi, thì không còn nền tảng vững chắc và thường trực để bảo vệ quyền con người, chúng sẽ trở thành một thứ hữu dụng đột xuất cho những quyền lực hiện hành. Lý do duy nhất đủ để nhận ra giá trị bất khả xâm phạm của mỗi sự sống con người, từ niềm tin chúng ta thấy “tất cả những vi phạm vào phẩm giá con người đòi hỏi phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa và trở thành một sự xúc phạm đến Đấng Sáng Tạo con người” [176].
- Đây là một vấn đề liên quan nội tại với sứ điệp của chúng ta về giá trị con người ; đừng mong chờ Giáo hội có thể thay đổi lập trường về vấn đề này. Tôi muốn thành thực nói rõ như thế. Vấn đề này không lệ thuộc vào những cuộc cải cách hay “hiện đại hóa”. Đây không phải là một bước tiến để giải quyết những vấn đề này khi phải loại bỏ một sự sống con người. Nhưng phải thú nhận rằng chúng ta đã thiếu sự đồng hành cần thiết đối với những phụ nữ đang gặp những hoàn cảnh thật khó khăn, mà việc phá thai xem như cách giải quyết nhanh chóng các âu lo sâu xa của họ, đặc biệt lúc sự sống đang lớn dần trong họ, và đó là hậu quả của một cuộc hiếp dâm hay trong một hoàn cảnh nghèo đói cùng cực. Có ai lại không hiểu được những hoàn cảnh quá đau khổ như thế ?
- Vẫn còn có những vật thể khác yếu đuối, không được bảo vệ, thường bị đặt vào lợi ích kinh tế hay bị sử dụng bừa bải. Tôi muốn nói đến toàn thể sáng tạo. Là con người, chúng ta không phải chỉ là những kẻ hưởng lợi, nhưng là những người chăm sóc các tạo vật khác. Nhờ có thân xác, chúng ta được Thiên Chúa kết nối cách chặt chẽ với thế giới vây quanh chúng ta, mà sự hoang hóa mặt đất bị xem như bệnh tật cho từng người chúng ta ; chúng ta có thể than trách sự tuyệt chủng của một giống loài như đó là một sự cắt bỏ một phần thân xác chúng ta. Đừng để xảy ra những dấu vết tàn phá và chết chóc, đã làm hại đời sống chúng ta và đời sống của các thế hệ tương lai trên con đường của chúng ta [177]. Theo nghĩa này, tôi xem lời than van đẹp đẻ mang tính ngôn sứ của các Giám Mục Philippin đã nói cách đây nhiều năm như là của chính tôi : “Biết bao côn trùng sống trong rừng và chúng được trao những trách nhiệm cho từng loại… Những con chim bay trên bầu trời, những bộ lông đẹp và những tiếng hót khác nhau thêm vào màu sắc và giai điệu cho màu xanh của rừng thẳm… Thiên Chúa muốn ban thế giới này cho chúng ta, những tạo vật đặc biệt của Người, nhưng không phải để chúng ta tàn phá và biến trái đất này thành hoang mạc…Chỉ sau một trận mưa ban đêm, hãy nhìn xem những con sông mang màu nâu Sô-cô-la trong vùng, và hãy nhớ rằng chúng mang sự sống của đất đai ra biển… Làm thế nào cá có thể bơi trong cống rãnh như con sông Pasig, và biết bao nhiêu sông mà chúng ta đã đầu độc chúng ? Ai đã làm biến đổi thế giới biển khơi trở thành nghĩa địa dưới đại dương bị tước mất sự sống và màu sắc ?” [178].
- Như thánh Phanxicô Assisi nói, tất cả chúng ta là Kitô hữu, nhỏ bé nhưng mạnh mẽ trong tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi để chăm sóc sự yếu đuối của dân chúng và của thế giới, trong đó chúng ta đang sống.
3. Công ích và ổn định xã hội
- Chúng ta đã nói nhiều về niềm vui và tình yêu, nhưng Lời Chúa cũng đề cập đến hoa trái của bình an (x. Gl 5,22).
- An bình xã hội không thể được hiểu như là một cách thế hòa giải hay chỉ là một sự vắng bóng các bạo lực do việc áp đặt của một phe nhóm xã hội trên các nhóm khác. Đó chỉ là một thứ bình an giả tạo được sử dụng để biện minh cho một tổ chức xã hội, bắt những người nghèo khổ hơn phải câm miệng hay phải lặng thinh, để cho một số người hưởng lợi lớn lao hơn, có thể tiếp tục sống thoải mái và những kẻ khác có thể tồn tại trong khả năng của họ. Nhu cầu xã hội có một liên hệ với việc phân phối lợi tức, sự hội nhập xã hội của những người nghèo và các nhân quyền không thể bị bóp nghẹt dưới chiêu đề xây dựng một sự đồng thuận bàn giấy hay một sự bình an phù du, để một số nhỏ được hạnh phúc. Phẩm giá con người và công ích phải vượt lên trên sự dửng dưng của vài người, những người không muốn từ chối đặc quyền của họ. Khi các giá trị này bị đụng chạm đến, cần có một tiếng nói mang tính ngôn sứ.
- Hòa bình “không thể bị giảm thiểu vào việc vắng bóng chiến tranh, như là kết quả việc cân bằng thật bấp bênh của các lực lượng. Hòa bình chỉ được xây dựng từng ngày một, để theo đuổi một trật tự, do Thiên Chúa muốn, bao gồm một sự công bằng hoàn hảo giữa con người” [179]. Cuối cùng, hòa bình không phải là kết quả một sự phát triển của tất cả, không có tương lai, như thế sẽ luôn là hạt giống cho những xung khắc mới và của các hình thức bạo lực khác.
- Trong mỗi quốc gia, dân chúng triển khai chiều kích xã hội đời sống của họ, khi họ là những công dân mang trách nhiệm giữa dân tộc của mình, chứ không phải là một khối bị các quyền lực thống trị áp đảo. Chúng ta hãy nhớ rằng “việc thực sự đón nhận trách nhiệm là một nhân đức và tham gia vào đời sống chính trị là một trách nhiệm luân lý” [180]. Nhưng để trở thành một dân còn đòi hỏi nhiều hơn nữa. Đó là một tiến trình mà mỗi thế hệ phải tham gia vào. Đó là một công tác lâu dài và khó khăn đòi buộc chúng ta phải sẵn sàng lăn xả vào và phải học biết triển khai một thứ văn hóa gặp gỡ dưới nhiều hình thức hòa hợp.
- Để có thể xây dựng một dân tộc trong hòa bình, công bằng và huynh đệ, có bốn nguyên tắc liên kết với sự căng thẳng của hai cực luôn hiện diện trong mỗi thực tại xã hội. Chúng phát xuất từ nền tảng căn bản của học thuyết xã hội công giáo (nhân phẩm, công ích, bỗ trợ, liên đới), được xem như là “tiêu chuẩn đầu tiên và căn bản để giải thích và đánh giá các hiện tượng xã hội” [181]. Dưới ánh sáng của những điều này, bây giờ tôi muốn đề nghị bốn nguyên tắc có thể định hướng cách đặc biệt để phát triển đời sống chung xã hội và xây dựng một dân tộc, nơi các điều khác biệt có thể hòa hợp với nhau trong một dự án chung. Tôi tin rằng việc áp dụng các nguyên tắc này có thể sẽ là con đường dẫn đến hòa bình trong từng quốc gia và trên cả thế giới.
Thời gian quan trọng hơn là không gian
- Có một sự căng thẳng giữa hai cực viên mãn và ranh giới. Sự viên mãn gợi lên ý chí chiếm hữu tất cả và ranh giới như một bức tường đặt trước mặt chúng ta. “Thời gian, được nhìn theo nghĩa rộng nhất, gợi sự viên mãn như thuật ngữ nói về chân trời rộng mở trước mắt chúng ta và thời đoạn là một cách diễn tả ranh giới được xem như không gian bị hạn hẹp. Dân chúng sống trong sự căng thẳng giữa thời đoạn và ánh sáng thời gian, từ một chân trời rộng hơn, từ ảo tưởng mở cho chúng ta tương lai như nhân tố cuối cùng lôi kéo chúng ta. Từ đó xuất hiện nguyên tắc thứ nhất đẩy mạnh việc xây dựng một dân tộc : thời gian quan trọng hơn là không gian.
- Nguyên tắc này cho phép chúng ta làm việc lâu dài mà không bị ám ảnh bởi những thành công tức thời. Nó giúp kiên nhẫn chịu đựng những hoàn cảnh khó khăn và bất ổn, hay những thay đổi các dự án vì sự năng động của thực tế đòi hỏi. Đây là lời mời để đón nhận sự căng thẳng giữa viên mãn và giới hạn, khi đặt thời gian lên hàng ưu tiên. Một trong những lỗi lầm xuất hiện trong hoạt động chính trị xã hội đó là việc đưa không gian quyền lực lên trên thời gian của tiến trình. Đưa không gian lên hàng ưu tiên sẽ đưa đến sự lệch lạc để giai quyết tất cả trong thời đoạn của tiến trình, để cố gắng chiếm hữu tất cả không gian quyền lực và tự khẳng định mình. Đó là cách làm đông cứng tiến trình và tự cho mình định đoạt. Đưa thời gian lên ưu tiên tức là quan tâm đến tiến trình hơn là chiếm lấy các không gian. Thời gian sắp đặt các không gian, soi sáng và chuyển đổi chúng thành những mẫu nhỏ của một chuỗi tăng trưởng vững bền, không có con đường trở lại. Đó là việc đặt các hành động lên hàng ưu tiên để sản sinh các năng động mới trong xã hội và giúp con người cũng như các nhóm khác triển khai chúng cho đến khi chúng sinh hoa kết quả trong các biến cố quan trọng của lịch sử. Không phải lo lắng, nhưng với những xác tín rõ ràng và dứt khoát.
- Đôi khi tôi tự hỏi, ai là người trong thế giới hiện tại thực sư lo lắng đến việc tạo ra những tiến trình xây dựng một dân tộc, hơn là đạt được những thành công tức thời, sinh ra một thứ lợi thế chính trị dễ dàng, nhanh gọn và phù du, nhưng không xây dựng sự viên mãn cho nhân loại. Lịch sử sẽ phán xét họ có lẽ theo tiêu chuẩn mà Romano Guardini đã đề ra : “Mẫu duy nhất để đánh giá đúng đắn một thời đại là câu hỏi, trong thời đại đó, dựa theo cách thức và khả thể của nó, sự phong phú của hiện sinh con người đã được triển khai và đạt tới ý nghĩa đích thực đến mức độ nào” [182].
- Tiêu chuẩn này cũng thích ứng với việc truyền giáo ; việc này đòi hỏi chúng ta có một chân trời ngay trước mắt và chấp nhận những tiến trình thích hợp và những con đường dài. Chính Chúa trong đời sống trần thế đã nhiều lần giúp cho môn đệ hiểu rằng có nhiều điều mà ngay bây giờ họ không thể hiểu được và họ cần phải chờ đợi Chúa Thánh Thần (x. Ga 16, 12-13). Dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng lúa (x.Mt 13, 24-30) diễn tả một phương diện quan trọng trong việc truyền giáo, cho thấy kẻ thù có thể chiếm không gian Nước Trời và gây thiệt hại với cỏ lùng, nhưng nó bị sự tốt lành của hạt giống đánh bại, đó là điều sẽ diễn ra trong thời gian của nó.
Sự hiệp nhất có giá trị hơn sự xung khắc
- Chúng ta không được quên hay che giấu sự xung khắc. Chúng ta phải đối mặt với nó. Nhưng nếu bị vướng vào đó, chúng ta sẽ mất phương hướng, các chân trời bị hạn hẹp và thực tế bị xé thành những mảnh nhỏ. Nếu dừng lại trong một hoàn cảnh xung khắc, chúng ta sẽ đánh mất ý nghĩa sự duy nhất sâu xa của thực tại.
- Đối mặt với xung khắc, một số người sẽ nhìn nó cách đơn sơ và bước đi như không có điều gì xảy ra, họ rửa tay để tiếp tục cuộc sống của mình. Một số khác tiếp cận sự xung khắc đến độ trở thành nô lệ, mất cả viễn cảnh, phê bình các cơ cấu bằng những lầm lẫn và bất mãn của riêng họ, đến độ không còn có thể tạo được sự hiệp nhất. Nhưng còn có con đường thứ ba tốt đẹp hơn, đó là đối mặt với xung khắc. Đó là sẵn sàng chấp nhận xung khắc, giải quyết và biến nó thành lối thoát cho một tiến trình mới. “Phúc thay ai xây dựng hòa bình !” (Mt 5,9).
- Với cách này, từ một sự xung khắc chúng ta có thể triển khai một sự hiệp thông. Điều này có thể thực hiện nhờ nhiều người cao thượng, có can đảm vượt trên sự xung khắc và nhìn kẻ khác với phẩm giá của họ một cách sâu xa. Để đạt được điều này cần phải có một nguyên tắc mới có thể xây dựng tình bạn mang tính xã hội, điều đó là : sự hiệp nhất vượt trên sự xung khắc. Tình liên đới, được hiểu theo ý nghĩa sâu xa nhất và như một thách thức, sẽ trở thành một cách thế tạo lịch sử, một lãnh vực sống động mà các sự xung khắc, các sự căng thẳng và những sự chống đối có thể đưa tới sự hiệp nhất thật đa dạng, sự hiệp nhất phát sinh một đời sống mới, Đây không nhắm vào chủ nghĩa hổn hợp cũng không phải hòa trộn người này với kẻ kia, nhưng nhắm vào cách giải quyết với một chương trình cao độ hơn mà tự tại vẫn giữ được các khả năng cao quí của những cực đối kháng.
- Tiêu chuẩn Tin Mừng này gợi cho chúng ta nhớ rằng Đức Kitô đã hợp nhất tất cả lại trong Người : trời và đất, Thiên Chúa và con người, thời gian và vĩnh cửu, thân xác và tinh thần, cá nhân và xã hội. Bình an chính là dấu phân định của sự hiệp nhất và hòa giải tất cả trong Người : Đức Kitô “là sự bình an của chúng ta” (Ep 2,14). Việc công bố Tin Mừng luôn bắt đầu với lời chào bình an, và trong mọi thời điểm, bình an nâng cao và kết chặt mối liên hệ giữa các môn đệ. Thế giới có thể nhận được sự bình an vì Chúa đã thắng thế gian, với những xung khắc triền miên của nó, Người tạo sự “bình an bằng máu đổ ra trên thập tự” (Cl 1,20). Nếu đào sâu các bản văn Kinh Thánh, chúng ta sẽ khám phá lãnh vực đầu tiên mà chúng ta được gọi để chiếm lĩnh là sự ổn định giữa những điều khác biệt, đó là tâm tư riêng của chúng ta, đời sống của chúng ta luôn bị sự phân tán biện chứng đe dọa [183]. Với những con tim, bị tan vỡ thành trăm mãnh, thật khó để xây dựng sự bình an đích thực cho xã hội.
- Sứ điệp bình an không phải là một thứ bình an do giao dịch nhưng là một xác tín rằng sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần hòa hợp tất cả mọi thứ khác biệt. Nó vượt trên mọi xung khắc trong một tổng hợp mới và đầy hứa hẹn. Sự khác biệt thật đẹp khi chấp nhận luôn bước vào một tiến trình hòa giải, cho đến khi ký kết được một loại hòa ước văn hóa, làm phát sinh “một sự khác biệt được giao hòa” như các Giám Mục xứ Congo đã dạy : “Sự khác biệt các chủng tộc của chúng tôi là một sự phong phú… Chỉ trong sự hiệp nhất, qua việc hoán cải tâm hồn và hòa giải, chúng tôi mới có thể làm cho đất nước của chúng tôi tiến lên” [184].
Thực tế quan trọng hơn là tư tưởng
- Còn có một sự căng thẳng giữa hai cực tư tưởng và thực tế. Thực tế là một điều gì hiện hữu ; tư tưởng phải tự xây đấp cho mình. Giữa cả hai phải tạo một cuộc đối thoại trường kỳ, tránh để tư tưởng chấm dứt vì bị tách khỏi thực tế. Thật nguy hiểm khi phải sống trong bầu khí của lời nói, của hình ảnh, của ngụy biện. Từ đó đưa đến nguyên tắc thứ ba : thực tế quan trọng hơn là tư tưởng. Điều này muốn nói, phải tránh nhiều cách thế che đậy thực tế : sự thanh sạch như thiên thần, các cách độc tài của thuyết tương đối, những thứ thuyết duy danh qua những cách giải thích, những dự án quá công thức hơn thực tại, những chủ thuyết cơ bản phản lịch sử, các thứ đạo đức không có điều tốt lành, các chủ thuyết trí thức mà không có chút khôn ngoan.
- Tư tưởng – những việc lý luận bằng quan niệm – có nhiệm vụ nhận định, hiểu biết và hướng dẫn thực tế. Tư tưởng bị tách rời khỏi thực tế là nguồn gốc của những chủ thuyết lý tưởng và những thứ duy danh không hiệu quả, chỉ tốt để phân loại và định nghĩa, nhưng không thể gợi lên sự dấn thân cá nhân. Chỉ có thực tế được lý trí soi sáng mới có thể áp đặt. Phải đi từ thuyết duy danh hình thức sang tính khách quan hòa hợp. Nói cách khác, người ta khuynh đảo chân lý cũng như cách thay thể dục bằng mỹ phẩm [185]. Có nhiều nhà chính trị – bao gồm cả những vị lãnh đạo tôn giáo – tự hỏi tại sao dân chúng không hiểu họ cũng như không theo họ, dù những đề nghị của họ rất hợp lý và trong sáng. Có lẽ họ chìm đắm trong bầu khí của tư tưởng thuần túy và đúc kết chính trị hay niềm tin vào sự hùng biện. Những người khác quên sự đơn sơ và chỉ đưa vào những lý luận xa lạ đối với mọi người.
- Thực tế quan trọng hơn tư tưởng. Tiêu chuẩn này liên kết với việc nhập thể của Lời và đưa Lời ra thực hành : “Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa : thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa” (1 Ga 4,2). Tiêu chuẩn thực tại của một lời đã nhập thể và luôn tìm cách hội nhập, thì cơ bản cho việc loan báo Tin Mừng. Một mặt nó giúp chúng ta đánh giá lịch sử Giáo hội như là lịch sử cứu độ, để giúp chúng ta nhớ đến chư thánh đã hội nhập Tin Mừng vào trong đời sống dân tộc của chúng ta, để đón nhận truyền thống phong phú hai ngàn năm của Giáo hội, mà không cố ý sáng tạo một tư tưởng tách rời khỏi kho tàng này, xem như chính chúng ta chế tác ra Tin Mừng. Mặt khác, tiêu chuẩn này thúc đẩy chúng ta đưa Lời ra thực hành, thực hiện các công trình công bằng và bác ái trong đó Lời sẽ rất phong phú. Nếu không đem ra thực hành nếu không hội nhập Lời vào thực tế, tức là xây nhà trên cát, chỉ ở trong tư tưởng thuần túy và rơi vào chủ thuyết nội tâm hóa và thuyết Thông tri, không đem lại hoa trái nào, làm đông cứng sức lực năng động của mình.
Tổng thể đứng trên từng phần
- Một sự căng thẳng xuất hiện giữa việc toàn cầu hóa và địa phương hóa. Phải chú ý đến chiều kích tổng thể để đừng rơi vào chuyện nhỏ hằng ngày. Đồng thời, đừng rời mắt khỏi điều ở địa phương, đó là điều giúp chúng ta bước bằng đôi chân mình trên mặt đất. Sự kết hợp cả hai điều này ngăn chúng ta đừng rơi vào một trong hai cực : cực thứ nhất, dân chúng sống trong một phổ quát hóa trừu tượng và được toàn cầu hóa, giống như những người đi du lịch ngồi ở toa cuối, há hốc miệng và vổ tay theo chương trình, chiêm ngắm pháo hoa của thế giới, pháo hoa của người khác. Cực khác, họ tự biến thành một bảo tàng mang tính dân gian của các ẩn sĩ bị chôn chặt ở địa phương, bị kết án cứ mỗi ngày phải lập lại cùng một chuyện, không có khả năng để những gì khác biệt với mình chất vấn, không thể chiêm ngắm vẻ đẹp mà Thiên Chúa đã tung rải bên ngoài ranh giới của họ.
- Tổng thể có giá trị hơn là từng phần, và hơn cả tổng hợp đơn thuần của những phần này. Vì thế, đừng để cho các vấn nạn hẹp hòi và đặc thù ám ảnh. Phải luôn khơi rộng tầm nhìn để nhận ra điều thiện hảo lớn lao hơn mà mọi người có thể thụ hưởng. Phải thực hiện, đừng tránh né cũng đừng mất gốc. Phải cắm rể sâu vào trong đất phì nhiêu và trong lịch sử của vị trí riêng, đó là một hồng ân của Thiên Chúa. Người ta làm việc dựa trên điều nhỏ, thật gần gũi, nhưng với một viễn cảnh thật xa. Cũng cách thức đó, khi một ai nhận ra sự đặc thù cá nhân của mình và không che giấu căn tính, sẽ hội nhập một cách thân thiện trong một cộng đoàn, người đó không tự tan biến, nhưng luôn lãnh nhận những động lực mới cho sự tăng triển cá nhân. Không có môi trường toàn cầu nào huỹ diệt, cũng không có sự đặc thù lẽ loi nào lại không sinh hoa kết quả.
- Mô mẫu không phải là hòn bi, trỗi vượt hơn tất cả mọi thành phần, nơi mà mỗi điểm cùng một mức độ xa trung tâm và cũng không có sự khác biệt giữa điểm này với điểm kia. Mô mẫu là hình đa diện, phản ảnh sự hội tụ của tất cả mọi thành phần, trong đó, gìn giữ được tính độc đáo của chúng. Hoạt động mục vụ cũng như hoạt động chính trị đều tìm cách thu thập trong hình đa diện này điều gì tốt đẹp cho mình. Người nghèo cùng với văn hóa của họ, các kế hoạch của họ, khả năng của họ đều bước vào hình đa diện này. Ngay cả những người có thể bị chỉ trích vì các sai lầm của họ, cũng có thể đem đến một điều gì không thể mất được. Đó là sự kết hợp các dân tộc, trong trật tự phổ quát, vẫn gìn giữ được tính độc đáo riêng của mình ; đó là sự tổng hợp những con người, trong một xã hội đi tìm công ích, cố gắng hội nhập tất cả mọi người vào trong chân lý.
- Đối với chúng ta là Kitô hữu, nguyên tắc này cũng nói lên tính tổng thể hay tính trọn vẹn của Tin Mừng mà Giáo hội truyền đạt cho chúng ta và sai chúng ta đi rao giảng. Sự phong phú trọn vẹn hội nhập người trí thức cũng như người lao động, các doanh nhận cũng như nghệ sĩ, tất cả mọi người. Sự “thần bí bình dân” theo cách thức của mình đón nhận trọn Tin Mừng và nhập thể Tin Mừng này dưới hình thức cầu nguyện, tình huynh đệ, sự công bằng, chiến đấu và lễ lạc. Tin Mừng là niềm vui của một Người Cha, Đấng không muốn cho người nhỏ nhất của Người bị mất đi. Từ đó niềm vui của Vị Mục Tử nhân lành tuôn trào ra, Đấng đã tìm được con chiên đi lạc và đưa nó về đoàn của Người. Tin Mừng là chất men làm dậy cả khối, thành phố chói lọi từ trên núi cao soi sáng muôn dân. Tin Mừng chứa chất một tiêu chuẩn tổng thể nội tại : nó không bao giờ ngưng là Tin Mừng khi không được loan báo cho tất cả mọi người, khi nó không sinh hoa kết quả và không chữa lành mọi chiều kích của con người, khi nó không qui tụ tất cả mọi người vào bàn Tiệc Vương Quốc. Tổng thể vượt trên từng phần.
4. Đối thoại xã hội như một sự đóng góp vào hoà bình
- Việc Phúc Âm hóa cũng được hiểu như con đường đối thoại. Đặc biệt, đối với Giáo hội, hiện tại có ba bình diện đối thoại mà Giáo hội phải hiện diện để chu toàn việc phục vụ, để phát triển trọn vẹn con người và tạo nên công ích : đối thoại với các quốc gia, với xã hội – bao gồm cuộc đối thoại với các nền văn hóa và khoa học – với những tín hữu khác chưa thuộc về Giáo hội công giáo. Trong tất cả mọi trường hợp, “Giáo hội nói từ ánh sáng đem lại cho mình niềm tin” [186], Giáo hội đem kinh nghiêm hai ngàn năm, và luôn giữ trong ký ức đời sống và khổ đau của con người. Điều này vượt trên lý trí của con người nhưng cũng chứa chất một ý nghĩa có thể làm phong phú cho những ai chưa tin, và mời lý trí khơi rộng viễn cảnh của mình.
- Giáo hội công bố “Tin Mừng bình an” (Ep 6,15) và mở rộng sự cộng tác với tất cả các thẩm quyền quốc gia và quốc tế để chăm sóc điều thiện hảo phổ quát lớn lao. Khi rao giảng Đức Giêsu Kitô, Đấng là sự bình an trong chính bản thân Người (x.Ep 2,14), việc truyền giáo mới mời gọi tất cả những ai đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội trở thành khí cụ kiến tạo bình an và chứng nhân đáng tin cho cuộc sống được giao hòa [187]. Đây là lúc để hiểu, làm thế nào trong một nền văn hóa đặc quyền, đối thoại xem như là hình thức gặp gỡ, hướng đến việc tìm kiếm sự đồng thuận và hòa hợp, nhưng không tách nó ra khỏi những ưu tư của một xã hội công bằng, có khả năng nhớ lại và không loại trừ ai. Tác giả chính yếu, chủ thể lịch sử của tiến trình này, là dân chúng và văn hóa của họ, chứ không phải là giai cấp, một nhóm nhỏ, một số ưu tuyển. Chúng ta không cần đến dự án của một số người nào dành cho một số khác, hay một thiểu số đại diện tự cho mình có nhận định tập thể. Đó là một thỏa thuận sống chung, một hiệp ước xã hội và văn hóa.
- Nhà nước phải chăm sóc và giúp phát triển công ích của xã hội [188]. Trên nền tảng của các nguyên tắc bỗ trợ và đoàn kết, trong một cố gắng hết sức trong việc đối thoại chính trị và tạo đồng thuận, nhà nước giữ một vai trò căn bản, không thể ủy nhiệm, trong việc tìm cách phát triển trọn vẹn cho tất cả mọi người. Trách nhiệm này, trong những hoàn cảnh hiện tại, đòi hỏi phải có một sự khiêm tốn sâu xa về mặt xã hội.
- Trong cuộc đối thoại với Nhà Nước và với xã hội, Giáo hội không có những cách giải quyết cho tất cả vấn đề đặc biệt. Nhưng, cùng với các sức lực xã hội khác, Giáo hội cùng với sức mạnh của nhiều cộng đoàn, tiếp sức cho các đề nghị có giải đáp tốt đẹp cho nhân phẩm và công ích. Khi thực hành như thế, Giáo hội luôn đề nghị rõ ràng những giá trị căn bản cho hiện sinh con người, để truyền đạt các xác tín, tiếp đó có thể diễn dịch ra bằng các hoạt động chính trị.
Cuộc đối thoại giữa đức tin, lý trí và các khoa học
- Cuộc đối thoại giữa khoa học và đức tin cũng là một phần của hoạt động truyền giáo để phục vụ hòa bình [189]. Chủ nghĩa khoa học và chủ nghĩa thực chứng không coi những “loại kiến thức khác là có giá trị so với những kiến thức của khoa học tích cực” [190]. Giáo hội đề nghị một con đường khác, đòi hỏi một tổng hợp giữa việc áp dụng một cách có trách nhiệm những phương pháp riêng của khoa học thực nghiệm, và những kiến thức khác như triết học, thần học và niềm tin, là những môn nâng cao con người đi đến mầu nhiệm, vượt qua tự nhiên và lý trí con người. Niềm tin không sợ lý trí ; ngược lại đức tin tìm lý trí và tin tưởng vào lý trí, vì “ánh sáng của lý trí và ánh sáng của đức tin cả hai cùng đến từ Thiên Chúa” [191], vì thế không có mâu thuẩn giữa nhau được. Phúc Âm hóa chú ý đến những tiến bộ khoa học để soi sáng chúng bằng ánh sáng đức tin và luật tự nhiên, theo cách chúng luôn tôn trọng trung tâm và giá trị tối cao của con người trong mọi giai đoạn của cuộc sống hiện sinh. Mọi xã hội sẽ được phong phú nhờ cuộc đối thoại này, được khai mở vào những chân trời mới cho suy tư và gia tăng những khả năng cho lý trí. Đó cũng là con đường hòa hợp và hòa bình.
- Giáo hội không muốn ngăn cản sự phát triển đáng kinh ngạc của các môn khoa học. Ngược lại, Giáo hội vui mừng và được hưởng lợi, khi biết ơn khả năng vĩ đại mà Thiên Chúa ban cho tâm trí con người. Sự phát triển của các môn khoa học, khi nằm trong sự kiểm soát chặt chẽ của lý trí trong lĩnh vực đối tượng đặc thù của mình, đưa đến một kết luận xác định mà lý trí không thể phủ nhận được, đức tin không nói gì nghịch lại. Các tín hữu không thể đòi hỏi, một ý kiến khoa học mà họ có thể chấp nhận, nhưng chưa được chứng minh đủ, có giá trị như một tín điều được. Nhưng, trong vài trường hợp, một số nhà khoa học vượt qua đối tượng khách thể của môn học, chia sẻ những xác quyết khoa học hay những kết luận vượt quá phạm vi khoa học đúng nghĩa. Trong trường hợp này, đó không phải là lý trí mà người ta đề nghị, nhưng là ý thức hệ xác định, ngăn chận con đường đối thoại đích thực, thân thiện và phong phú.
Đối thoại đại kết
- Việc dấn thân cho đại kết đáp lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu; Người đã xin “Ước gì tất cả nên một” (Ga 17, 21). Sự khả tín của lời công bố Kitô giáo sẽ còn lớn lao hơn nữa nếu như các Kitô hữu vượt qua sự chia rẽ và nếu Giáo hội thực hiện “tính công giáo một cách tràn đầy là điều đặc thù giữa con cái họ, thật sự, những người con này thuộc về Giáo hội nhờ Bí tích Rửa tội, nhưng vẫn cảm thấy chia rẽ trong sự hiệp lễ trọn vẹn” [192]. Chúng ta phải luôn nhắc nhớ rằng chúng ta là những kẻ lữ hành, và cùng đi với nhau trên một con đường. Để được như thế, chúng ta phải tin tưởng tâm hồn của bạn đồng hành, không lo sợ, không nghi ngờ và nhất là phải nhắm tới điều chúng ta đang tìm kiếm : đó là sự bình an trên gương mặt của Thiên Chúa duy nhất. Tin tưởng vào kẻ khác là một “điều gì đó do chúng ta cố gắng làm ra” ; bình an sẽ tự tạo. Đức Giêsu đã nói với chúng ta : “Phúc thay ai xây dựng hòa bình” (Mt 5,9). Qua việc dấn thân, lời tiên tri xa xưa sẽ được ứng nghiệm giữa chúng ta : “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày” (Is 2,4).
- Dựa theo ánh sáng này, đại kết là một cố gắng đem lại sự hiệp nhất giữa gia đình nhân loại. Sự hiện diện của Thượng Phụ Giáo chủ, Đức Bartholomãus I và Đức Tổng Giám Mục Canterbury, Rowan Douglas Williams, ở Thượng Hội Đồng Giám Mục [193] là một hồng ân đích thực của Thiên Chúa và là một chứng cứ quí giá của Kitô giáo.
- Tính chất trầm trọng của việc phản chứng do sự chia rẽ giữa các Kitô hữu, đặc biệt ở Á Châu và Phi Châu, làm cho việc tìm con đường hiệp nhất trở thành khẩn cấp. Các nhà truyền giáo trên các lục địa này không ngừng lập lại các lời phê bình, phàn nàn và nhạo cười mà họ nhận được vì sự vấp phạm do sự chia rẽ các Kitô hữu. Nếu chúng ta tập trung vào các xác tín giúp kết hợp chúng ta lại và nhắc nhớ đến nguyên tắc phẩm trật các chân lý, chúng ta có thể tiến đến những cách diễn tả chung của việc công bố, của phục vụ và của việc làm chứng. Một số đông bao la chưa nhận được lời loan báo về Đức Giêsu Kitô không thể làm cho chúng ta dửng dưng được. Do đó, việc dấn thân cho sự hiệp nhất tạo sự dễ dàng để đón nhận Đức Giêsu Kitô không phải chỉ thuần túy là ngoại giao, cũng không phải là việc chu toàn trong sự ép buộc, để chuyển sang một con đường không đụng chạm đến để truyền giáo. Các dấu chỉ chia rẽ giữa các Kitô hữu trong những nước bị tan nát vì bạo lực, gia tăng thêm các sự xung khắc về phía của những người đáng lý phải là men hòa bình ! Nếu thật sự chúng ta tin vào hòa bình và hoạt động quảng đại của Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể học hỏi biết bao điều giữa người này với người khác. Đây không muốn nói là nhận định về người khác để có thể hiểu rõ họ hơn, nhưng là đón nhận điều mà Chúa Thánh Thần đã gieo rắc nơi họ như hồng ân ban cho chúng ta. Chỉ cần một tỉ dụ, trong cuộc đối thoại giữa anh em chính thống, chúng ta là những người công giáo, chúng ta có thể học hỏi thêm vài điều về ý nghĩa tính tập đoàn của các Giám Mục và về kinh nghiệm Thượng Hội Đồng Giám Mục. Qua việc trao đổi các hồng ân này, Chúa Thánh Thần sẽ luôn dẫn chúng ta đến gần chân lý và điều thiện nhiều hơn.
Những liên hệ với Do Thái giáo
- Một cái nhìn đặc biệt hướng đến dân Do Thái, mà Giao Ước của họ với Thiên Chúa không bao giờ bị thu hồi, chỉ vì “khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý” (Rm 11,29). Giáo hội chia sẻ với Do Thái giáo một phần quan trọng của Sách Thánh, nhìn dân Giao Ước và đức tin của họ như nguồn gốc thánh của chính căn tính Kitô giáo (x.Rm 11,16-18). Chúng ta là Kitô hữu, không thể coi Do Thái giáo như một tôn giáo xa lạ, cũng không liệt người Do Thái vào giữa những người được gọi rời bỏ các ngẫu tượng để quay về với Thiên Chúa (x. 1 Tx 1,9). Chúng ta cùng tin một Thiên Chúa duy nhất, Đấng hoạt động trong lịch sử và cùng với họ chúng ta cùng đón nhận Lời mạc khải chung.
- Cuộc đối thoại và tình bạn với con cái Israel tạo thành một phần đời sống môn đệ của Đức Giêsu. Tình thân thiết đang được phát triển, làm cho chúng ta đau xót một cách thành thật và cay đắng vì những cuộc bách hại kinh khủng mà họ là đối tượng, đặc biệt là những cuộc bách hại do các Kitô hữu.
- Thiên Chúa tiếp tục hoạt động trong dân Cựu Ước và làm nảy sinh các kho tàng khôn ngoan từ cuộc gặp gỡ với Lời thần linh. Vì thế, Giáo hội cũng được làm cho phong phú khi lãnh nhận các giá trị của Do Thái giáo. Dù có một số xác tín của Kitô giáo không được Do Thái giáo chấp nhận, và Giáo hội không thể ngừng loan báo Đức Giêsu như là Chúa và là Đấng Messias.. Còn rất nhiều phương pháp cho phép chúng ta cùng đọc các bản văn Thánh Kinh Hipri và hỗ trợ nhau đào sâu sự phong phú của Lời, cũng như chia sẻ nhiều xác tín về mặt luân lý cũng như quan tâm chung về công bằng và sự phát triển các dân tộc.
Cuộc đối thoại liên tôn
- Một thái độ cởi mở cho chân lý và trong tình yêu phải là đặc điểm cho cuộc đối thoại với tín hữu các tôn giáo không phải là Kitô giáo, cho dù các trở ngại và khó khăn, đặc biệt là chủ thuyết cơ bản của hai phía. Cuộc đối thoại liên tôn là một điều kiện cần thiết cho hòa bình thế giới, và do đó là một trách nhiệm cho các Kitô hữu, cũng như đối với các cộng đoàn tôn giáo khác. Trước tiên, cuộc đối thoại này là cuộc trao đổi về đời sống con người, hay đơn sơ hơn, như các Giám Mục An Độ đề nghị, một “thái độ cởi mở giữa nhau, chia sẻ niềm vui và nỗi khổ của nhau” [194]. Như thế, chúng ta học đón nhận kẻ khác với sự khác biệt trong cách sống, suy nghĩ và diễn tả. Từ cách thức này, chúng ta có thể bảo đảm cùng tiếp nhận tránh nhiệm phục vụ công lý và hòa bình, đó là điều sẽ trở thành tiêu chuẩn nền tảng của tất cả những cuộc trao đổi. Một cuộc đối thoại, trong đó người ta tìm sự bình ổn xã hội và công lý, vượt trên phương diện mô mẫu thuần túy, một sự dấn thân đạo đức tạo nên những điều kiện xã hội mới, ngang qua việc lắng nghe kẻ khác, cả hai thành phần sẽ tìm được sự thanh tẩy và phong phú. Do đó, những cố gắng này có thể có ý nghĩa tình yêu đối với chân lý.
- Cuộc đối thoại này phải luôn diễn ra một cách thân thiện và niềm nở; không được bỏ qua liên hệ căn bản giữa đối thoại và rao giảng mà Giáo hội mang đến, phải tuân giữ đúng đắn và tăng cường liên hệ giữa những người chưa phải là Kitô hữu [195] Một chủ nghĩa hòa giải có thể sẽ là nền tảng cho một chủ nghĩa chuyên chế của những người, dù muốn hòa giải, nhưng không nhìn đến các giá trị, muốn vượt lên trên và họ không phải là chủ nhân của chúng. Sự cởi mở chân thành cần nắm vững căn tính trong xác tín sâu xa nhất, nhưng cũng phải cởi mở để có thể hiểu người khác, “trong ý thức, cuộc đối thoại sẽ làm phong phú cho cả đôi bên”[196]. Một sự cởi mở theo hình thức ngoại giáo, tất cả đều đồng ý, nhưng lại phủ nhận mọi vấn đề, không đem lại ích lợi gì cả, vì cách này hay cách khác sẽ lừa dối người kia và điều thiện hảo vẫn giữ lại cho mình , mà người khác không được lãnh nhận gì. Việc Phúc Âm hóa và đối thoại liên tôn không phải như thế, không phải chống đối nhau, nhưng là nâng dỡ nhau và bồi dưỡng cho nhau [197].
- Sự liên hệ với các tín đồ Hồi giáo là điều rất quan trong cho thời đại hôm nay. Đặc biệt, ngày nay họ có mặt trong nhiều nước theo truyền thống Kitô giáo, nơi họ có thể tự do cử hành văn hóa và sống trọn vẹn trong xã hội. Nhưng đừng bao giờ quên rằng “họ tuyên xưng niềm tin của ông Abraham, cùng với chúng ta tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, nhân từ, vị thẩm phán tương lai của loài người trong ngày sau hết”[198]. Sách Thánh của Hồi giáo vẫn giữ một phần quan trọng các giáo huấn của Kitô giáo ; Đức Giêsu Kitô và Đức Maria được tôn kính sâu xa ; thật kinh ngạc khi thấy người trẻ, người già, đàn ông, đàn bà của Hồi Giáo có thể dành nhiều thời gian trong ngày để cầu nguyện, trung thành tham dự các nghi thức tôn giáo. Đồng thời, nhiều người trong họ xác tin sâu xa rằng trọn cả cuộc đời họ đều do Thiên Chúa và hoàn toàn dành cho Người. Họ cũng nhận biết cần thiết phải đáp trả Thiên Chúa bằng một sự dấn thân đạo đức và thực hiện lòng nhân từ đối với những người nghèo nhất.
- Để có thể đối thoại với Hồi giáo, người trao đổi cần phải được huấn luyện tương xứng, không những họ phải thân thiện và kiên vững với căn tính riêng của mình, nhưng phải có khả năng nhận ra những giá trị của kẻ khác, hiểu được những ưu tư nằm sâu trong các đòi hỏi, và nêu lên rõ ràng các xác tín chung. Là Kitô hữu, chúng ta phải thân thiện và tôn trọng đón nhận những người Hồi giáo di tản đến đất nước của chúng ta, cùng một cách chúng ta hy vọng và đòi hỏi cũng được đón nhận và tôn trọng chúng ta trong các nước theo truyền thống Hồi giáo. Tôi khiêm tốn yêu cầu các nước này để cho các Kitô hữu được tự do cử hành phương tự và sống niềm tin của họ, cũng như các tín đồ Hồi giáo cũng được hưởng tự do trong các nước Tây Phương. Đối mặt với những giai đoạn của chủ thuyết cơ bản đầy bạo lực làm cho chúng ta lo sợ, sự thiện cảm đối với các tín đồ chân chính Hồi giáo sẽ giúp chúng ta tránh được sự hận thù khái quát, chỉ vì Hồi giáo chân chính và một cách chú giải kinh Koran chống lại với mọi thứ bạo lực.
- Những người không thuộc Kitô giáo, nhờ sáng kiến hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa và trung thành với lương tâm của họ, có thể sống “thật công chính nhờ ân sủng của Thiên Chúa” [199] và “được hội nhập vào mầu nhiệm phục sinh của Đức Giêsu Kitô” [200]. Nhưng dựa vào chiều kích bí tích của ân sủng thánh hóa, hoạt động của Thiên Chúa nơi họ gợi lên các dấu chỉ, nghi thức, các cách diễn tả phụng tự, và nhờ đó, họ tiếp cận những kẻ khác bằng một kinh nghiệm cộng đồng trên con đường hướng đến Thiên Chúa [201]. Các điều trên không có ý nghĩa cũng như hiệu quả của Bí tích do Đức Kitô thiết lập, nhưng có thể là con đường của Thánh Thần tạo nên để giải thoát các người không thuộc Kitô giáo thoát khỏi tính nội tại vô thần hay những kinh nghiệm tôn giáo hoàn toàn cá nhân. Cũng chính Chúa Thánh Thần gợi lên nhiều hình thức của sự khôn ngoan thực tiển, giúp nâng đỡ các thiếu sót của hiện sinh và sống thật bình an và hòa hợp. Còn chúng ta là các Kitô hữu, chúng ta có thể hưởng sự phong phú trải qua bao thế kỷ, có thể giúp chúng ta sống tốt đẹp hơn các xác tín riêng của chúng ta.
Đối thoại xã hội trong bối cảnh tự do tôn giáo
- Các Nghị phụ của Thượng Hội Đồng Giám Mục nhắc đến tính chất quan trọng của việc tôn trọng tự do tôn giáo như một quyền căn bản của con người [202]. Quyền này bao gồm “tự do chọn lựa tôn giáo mà người ta đánh giá là chân thật và được bộc lộ công khai niềm tin riêng của mình”[203]. Một chủ nghĩa đa nguyên lành mạnh, thực sự tôn trọng những sự khác biệt và các giá trị, không đòi hỏi một thứ tư nhân hóa tôn giáo, với dự định thúc ép các tôn giáo phải thinh lặng, hạn hẹp lương tâm của từng người vào nội tâm hay khóa kín các thánh đường Kitô giáo, Hội đường Do Thái và các đền thờ Hồi giáo. Dứt khoát, đó là một hình thức mới của kỳ thị và độc tài. Việc tôn trọng dành cho những thiểu số bất khả tri và vô tín ngưỡng, không thể nào áp đặt cách tự tiện bắt số đông phải câm miệng với các xác tín của họ cũng không chấp nhận sự phong phú các truyền thống tôn giáo. Nếu điều này cứ kéo dài, sẽ gây bất mãn thay vì khoan dung và hòa bình.
- Khi đặt vấn đề về ảnh hưởng phổ quát của tôn giáo, phải phân biệt nhiều cách sống tôn giáo khác nhau. Các nhà trí thức cũng như các bài bình luận của báo chí thường rơi vào một thứ tổng quát thô bạo và không được trí thức mấy, khi nói về lỗi lầm của các tôn giáo và thường họ không có khả năng để phân biệt không phải tất cả các tín hữu – cũng như không phải tất cả các thẩm quyền tôn giáo – đều giống nhau. Một số nhà chính trị lợi dung sự lẫn lộn này để biện minh các hành động kỳ thị. Nhiều lần, một số tác phẩm bị đánh giá thấp, chỉ vì phát sinh từ một sự chứng minh niềm tin, khi họ quên rằng các tác phẩm cổ điển của tôn giáo có thể đem đến ý nghĩa cho mọi thời đại, và có một động lực chuyển biến, mở ra nhiều chân trời mới, kích thích tư tưởng và giúp phát triển trí khôn và cảm nghiệm. Chúng bị coi thường vì sự hẹp hòi của một não trạng duy lý. Thực sự có hợp lý và thông minh hay không khi đưa các tác phẩm nào vào trong bóng tối vì chúng xuất phát từ một bối cảnh của niềm tin tôn giáo ? Chúng chứa đựng các nguyên tắc cơ bản đầy chất nhân văn, có một giá trị hợp lý, dù chúng đưa vào các biểu trưng và giáo lý tôn giáo.
- Là tín hữu, chúng ta cảm nhận thật gần gũi với những người không nắm truyền thống tôn giáo nào, thành thật đi tìm chân, thiện, mỹ; đối với chúng ta, họ đã có những cách diễn tả tròn đầy và nguồn gốc nơi Thiên Chúa. Chúng ta nhìn họ như những đồng minh quí giá trong việc dấn thân bảo vệ nhân phẩm con người, xây dựng việc chung sống hòa bình giữa các dân và bảo vệ các tạo vật. Một không gian đặc biệt có thể gọi như các Aréopage mới, như “tiền đình của người ngoại giáo – Vorhof der Heiden”, nơi người tin cũng như kẻ không tin có thể trao đổi với nhau về những đề tài căn bản của đạo đức, của nghệ thuật, khoa học và về việc tìm kiếm chiều kích siêu vượt” [204]. Đây cũng là con đường hòa bình cho thế giới đầy thương tích của chúng ta.
- Từ vài đề tài xã hội quan trọng đối với tương lai nhân loại, một lần nữa, tôi cố gắng giải thích chiều kích xã hội không thể tránh được của việc loan báo Tin Mừng, để động viên tất cả mọi Kitô hữu trình bày Tin Mừng này bằng lời nói, thái độ và hoạt động của họ.







